Bảy ngàn chữ

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post on Jan 21, 2018

Post by Sơn râu 15 Jul 2026

ĐẠI NỘI, HUẾ – Photo by Raynald Savard (Quebec, Canada)

Tôi từng có dịp thất thần lên núi, từng có khi về đứng choáng ngộp trước biển. Bầu trời ở hai chốn đó mang vẻ lạ lẫm khác nhau, nhưng tựu trung chúng váng vất chút hoang dã, mênh mang chút hăm doạ.

Vuông trời trong Đại nội thì khác hẳn, mây bay ngang tự dưng vấn vương sắc tím; trời đang lững lờ xanh trong không dưng phải chịu phủ dụ, tráng lên đó một tí vàng vua chúa một tí lục của rong rêu. Thứ sắc màu trông cũ kỹ, nửa ấm áp nửa kia là thoáng rợn da. Khái niệm sáng trưa chiều luôn bị đánh lừa, thời gian nhích qua đây làm người ta ngờ vực về một vó câu luôn hăm hở trôi bên ngoài cảnh giới. Trôi đi trôi đi, để lại sự hoài cổ lay động trên cây ngô đồng đứng trầm mặc giữa cổng Hiển Nhơn nối tới điện Thái Hoà.

Tôi chở o đi và vô trong nội là mệnh lệnh o ưa truyền đạt. Huế nhỏ, đồng ý, nhưng không vì thế mà người ta bức đầu vò tóc nghĩ chẳng ra một đích tới. Bộ hết chỗ chơi hay răng? Tôi có cảm tình với o và làm mất lòng kẻ khác là điều chẳng ai muốn. O mang tên một loài hoa và tôi hơi choáng khi nó trùng tên với mạ tôi. Chỉ khác họ, kỳ dư chữ lót cùng hương sắc của hoa thì y trang. Và nói có trời chứng giám, tôi là đứa con rất mực hiếu thảo chưa từng làm mạ phật lòng. Đồ con quỉ! Mạ tôi có khi ngầy ngà, nhưng tôi tin đó là lời mắng yêu. Quỉ sứ! Đôi khi o rủa xả và tôi nhăn răng cười nghe hạnh phúc lẫn khuất sát bên lưng. Thú thật, tôi đành làm đứa bất hiếu để giữ vững lập trường, ấy là nhan sắc của mạ tôi chẳng thể sánh cùng o được. Tôi mang cái ý nghĩ, chả biết đúng không, là càng sinh sau đẻ muộn chừng nào thì con người càng sáng lạng đẹp đẽ hơn tiền bối. Xem ảnh xưa, đọ ảnh mới thì phát hiện người trong ảnh hiện đại ngó mát con mắt hơn. Văn minh đã tác động, đã biến đổi thân phận chúng sinh. Nhưng ngược lại văn minh cũng tước đoạt đi phần nào đức hạnh có đầy trong lòng phụ nữ thế hệ mạ tôi. Nhiều khi thấy o làm đày làm láo, nói cạnh nói khoé thì e rằng o mà gặp phải mạ tôi thì sẽ bị bà cụ sửa lưng cho. Tôi mà sửa lưng thì o la lên: Quỉ sứ, làm người ta nhột bắt chết! Thiệt dị òm!

Đại nội buổi chiều luôn êm ả. Chim chóc hiếm quý về ẩn mặt trên cây cao hót vang rân lời tình ca thanh cao mát như chè đậu ngự thơm như chè hột sen. O sẽ làm chúng thôi hát hò khi dùng một vật nhọn để khắc tên vào thân cây mưng mủ. O ra đề và tôi không cách gì giải được bài toán đố dễ ợt ấy: Bao nhiêu cây khắc tên hai đứa và bao nhiêu cây có trái tim thành sẹo? Có khi vì muốn chôn dấu niềm bí mật, o đã cả gan leo lên một thân cây nhiều nhánh hí hoáy ghi tháng ngày lưu niệm. Tôi đứng bên dưới đám cỏ rạp mình với tư thế và nhiệm vụ của Thường Sơn Triệu Tử Long liều mình cứu ấu chúa. Tôi ngó mông đít của o và cầu trời cho o làm trái sầu riêng rụng sau hè để tôi ôm lấy, để tôi làm sáng tỏ vấn nạn rất mực hồi hộp: giữa hai đứa ai là kẻ bể đầu u trán, rách áo sút quần.

O mặc đồ bộ, áo quần tự cắt may không cần chuẩn không cần chỉnh. Vải chim cò mua ngoài chợ chẳng cần hỏi ý thằng quân sư theo hầu. Thứ y phục kia rõ là dùng để diện trong nhà, để mặc ngủ. Để ngầm thanh minh thanh nga: Bậy nà, mô có, đi chơi với bồ răng lại cẩu thả tới mức nớ. Đừng vu oan giá hoạ! Bộ đồ đó có khi o mặc để đi ra thị tại môn tiền náo cấp bách mua đường sữa diêm quẹt thuốc lá. Khôn, đến chốn lao xao; dại, tìm nơi vắng vẻ. Khôn hay dại đều phục sức tuềnh toàn nhất y độc quỡn, ngó quen con mắt. O ở với anh chị, nhà họ khá rộng, ngăn phân nửa mặt tiền dùng bán cà phê. Tiệm họ có khách, đông đảo buổi sáng, thưa thớt ban trưa, chộn rộn giấc tối. Khách đủ hạng bậc, đa phần là công chức, sinh viên học sinh, lèo tèo đôi ba ông lính xa nhà, vì công vụ phải mang thân ra trấn nhậm tuyến đầu, áo phong sương va vấp gió Lào bụi bặm Cổ thành bùn lầy sông Thạch Hãn. O và người chị đã có một con vô tình là đích nhắm của bọn khách lai tạp vui chân lân la kéo ghế. Quán có treo bức tranh xấu vụng thuở đầu đời của tôi, nhưng cái bảng hiệu tôi kẽ sơn sắc lẻm thì chín người hết chục đều trầm trồ tán dương. Mạnh miệng nhất là o: Suốt cả cuộc đời, tui dám cá, không có ai viết tên tui đẹp ác ôn như ri cả! Bắt buộc rồi, tôi nói thầm, bởi mấy khi mà được viết tên mạ mình ra, trịnh trọng với màu sắc từng qua bao đắn đo, to đùng, dĩ nhiên tôi phải le lưỡi ra mà nắn nót. Làm môn bài dựng bảng hiệu cho người dưng hạ hồi phân giải, trước mắt thấy công việc có nhuốm mùi linh thiêng. “Mạ ơi chớ đánh con đau, để con bắt ốc hái rau mạ nhờ”, nghĩ lại quả là chuyện nhỏ, bì chi lại với chuyện phục vụ thẩm mỹ, treo lên, ngó sáng rỡ cả khúc đường luôn ủ ê bóng tối.

Tôi thường ngồi đồng ở quán ấy, ngồi thế thôi, tựa một kẻ nhác chơi chứ không mang tà ý được thủ vai vế một cây si đang hồn lìa khỏi xác. Người đàn ông chủ quán ngờ vực tôi mê mệt vợ anh ta, có lẽ. Ông ta đánh ra một hư chiêu bằng cách biểu cô em tới cà khịa. Hai bà Trưng, chị ngồi rung đùi xem em hí lộng dương oai điệu võ. Mi phải thắng vì chiến trường này thuộc đất ta, lại nữa sau lưng mi có cả một hậu phương hùng mạnh vững chắc. Ta sẽ đích thân mang đao ra trận tiền hồi nào mi thân bại danh liệt. Lộng ngôn cho oai phong lẫm liệt chứ bản mặt cái thằng uống ly cà phê đá nhỏ chút xíu mà phải mất ba giờ đồng hồ mới xong kia coi bộ cũng sáng láng, trầm ngâm như táo bón chứ đâu lộ vẻ nham hiểm thủ đoạn gì cho cam. Mình bán buôn, họ là khách quen, mi nhớ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. O là gái Huế trời bắt đẹp, o không phải gái Bình Định cầm thương cỡi ngựa múa roi vung quyền nên phút đầu ra quân o xuội lơ ngồi xuống ghế bàn giao vũ khí tự nguyện ký kết hiệp ước hoà bình.

Sau này kể lại sự tình, o ta thán: Răng tui hiền khô rứa không biết! Rồi hoành đao: Nhưng tuyệt đối hắn không dễ bị ăn hiếp. Rất cứng rắn để phân định đâu là lý đâu là tình. O tâm sự, ba mạ tui vẽ đường cho hươu chạy: Thứ nhất bác sĩ thứ nhì kỹ sư thứ ba chuyên gia kinh tế. Tui định hướng về đường một chiều: Thứ nhất văn sĩ thứ nhì nhạc sĩ thứ ba hoạ sĩ. Nghe bồ học Mỹ thuật tướng tá nghệ sĩ nên… có nói năng chi cũng thừa. Tôi la lên trong lòng, hoan hô đồ bất hiếu, nhờ em mà thế giới này bớt chật chội bớt ngột ngạt bớt nhung nhúc những bác sĩ kỹ sư.

Chúng tôi đi trong không gian vua chúa cận thần ngày cũ lùng sục một chỗ ngồi xét thấy bình yên, thoáng đãng. Giữa những dãy tường thành kiên cố vây bọc luôn lai vãng một hương mùi có vẻ không thực, thoạt biến thoạt hiện. Không chính xác là mùi long não, nó gần với thứ mùi luôn ngự dưới đáy rương. Nó cất giữ những cổ vật để khi nhìn thấy nét tàn phai, điều khiến bạn mềm lòng chính là thứ mùi ẩm mốc, nó đi qua bao thời gian trong câm nín và nó đang tan rã vào hư không. Nó lưu trong khứu giác bạn lời hờn trách nhẹ, xa vắng về cái vô tâm mà bạn lỡ phải lựa chọn khi tiến bấp bênh tới trước.

Tôi ngắt cho o một cành hoa dại run lên giữa đám cỏ mọc đầy hoa mắc cỡ trong khi o trải khăn và bày thức ăn ra. Căn cước bọc nhựa, thẻ sinh viên trong túi quần là thứ vật bất ly thân, hầu như tôi luôn moi ra để trình cho nhân viên công lực khi họ làm nút chặn rà soát an ninh thành phố. Vậy mà tôi không nhìn thuộc ngày tháng năm sinh. O nói, hôm nay o dậy lúc năm giờ sáng để thong thả tự làm bánh nậm, rửa lá chuối, khuấy bột, làm nhân tôm thịt, gói rồi hấp trong nồi nước chưng cách thuỷ. Hơi phá lệ, hơi cầu kỳ bởi giản dị hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Tôi đứng yên một khoảnh khắc vì bất ngờ, vì cảm động rồi như do ma quỉ xúi dục tôi dang rộng vòng tay để ôm chặt lấy o. Tôi gọi thầm tên o cũng là tên mạ tôi nhiều lần trong tâm. Nếu là hoàng thượng tôi sẽ cởi long bào, ném xuống đất cho được thong dong, rồi bồng o mang đặt lên ngai vàng. O anh minh như thế thì những oan trái khuất lấp của dân sẽ được mắt xanh ngó ngàng tới, hỏi han, ân cần để gia ơn.

O mang theo đủ đầy bộ sậu để chu toàn buổi picnic đầy bất ngờ. Bánh o làm muôn năm sẽ không dở bởi ngoài những nhu liệu căn bản để làm nên bánh còn được o pha trộn lòng thương yêu vào, kín đáo, ý tứ, dịu dàng. Tôi hỏi, tại sao Huế có thành ngữ “con yêu bánh nậm”? Yêu tinh hay yêu thương? O nói o không biết, ngay cả đó là lời tuyên án hay mỹ từ dùng để tán dương. Khi nghe ai quở “đồ con yêu bánh nậm” thì chắc là ẩn chứa sự chê bai, ác ý. Tôi nói, trong các thứ bánh, tôi yêu bánh nậm nhất. Mỏng lét, ít nhân nhuỵ, rác ngập đầu mà bụng vẫn chưa no, có thể buồn miệng ăn luôn cả người dậy sớm để làm ra nó. Thay vì mắng quỉ sứ như thường nhật, o hát nhỏ bài Happy birthday. Đôi khi chim không về, chim thôi hót bởi vì dưới mặt đất kia vừa có ai ngân nga một cung bậc trong vắt, sóng sánh làm chao lòng người. “Chim xa rừng thương cây nhớ cội, người xa người tội lắm người ơi”. Chim thôi hót cũng do lẽ chim biết dự báo một hoạn nạn sắp đổ về qua tiếng vọng của bom đạn tự rừng sâu. Chim lặng lẽ bay, người lặng lẽ dấu kín những nỗi niềm.

Chiến tranh lan rộng làm thu hẹp vùng đất đặt chân, và ứng xử duy nhất buộc phải xảy đến là người ta mang mạng sống mỗi cá nhân vắt giò lên cổ làm cuộc Nam tiến. Ba chân bốn cẳng mà vượt đèo cao núi lớn. Tiệm cà phê chưa thực sự cửa khoá then cài nhưng tên quán, tên o, tên mạ tôi tuồng như có suy suyển chợt vẹt hư hao móp méo thôi phát hào quang. O giữ tôi lại, biến tôi làm một thành viên tham dự phiên họp kín. Anh chị o quyết định bồng con dại vào Đà Nẵng, trở ngại họ gặp phải là o không chịu đi. Lý do vững chải o đưa ra, đi cũng đồng nghĩa là chịu mất cái quán này. Cam tâm không? Đi, đành lòng qua cầu rút ván, hay đi còn mong ngóng một trở về? Không ai trả lời được câu hỏi sáng suốt kia. Và tôi, vô tình làm đứa để cho anh chị o đặt để niềm tin. Họ trao cho tôi một bao vải, thứ dùng đựng cát để che chắn đạn pháo, họ bảo số tiền chứa trong này không nhỏ, có thể cầm cự sống thở nguyên tháng, hãy chăm sóc bảo vệ lấy o, sống chết có nhau đồng kham cọng khổ. Người chị o nhìn tôi như muốn xác tín lại lần chót một hy vọng không trông nhầm người. Giao trứng cho ác là điều bất khả. Vào thắp nhang bàn thờ ôn mệ mà khấn cầu. Anh rể bắt tay tôi, người chị ôm siết o, đứa bé ngủ mê mệt trên tay bà giúp việc. Và tối đó một chiếc xe nhà binh ghé lại, mang họ xuôi Nam. Mái tóc rối bung của người chị bay ra ngoài ô cửa ngoái nhìn, đêm nội thành sương xuống pha màu sữa đục. Tất cả lặng câm, kể cả động cơ gắn ở chiếc xe màu cứt ngựa đang vụt biến kia.

O khoá chặt cửa nẻo, trước sau. O không tắt đèn, để minh định nhà vẫn còn người sống thở bên trong. O sợ bóng tối, trong muôn một, nó là đồng minh của cô đơn và ở một mặt nào đó, nó xúi dục người ta làm chuyện rồ dại, trao vào lòng ta sự can đảm đến mù quáng. Trai đơn thân gái lẻ bóng, khi có dịp kề cận trong gang tấc, muôn đời họ ưa lẫn vào bóng tối, ước ao bóng tối phủ chụp lên xác thân, nhưng bây giờ chưa phải là thời khắc đó. O biểu tôi giả làm người khách cuối cùng ngồi yên trên ghế để o đóng vai cô hàng nước pha cà phê mang ra. Chúng tôi là hai diễn viên tồi tệ chẳng biết cách nhập vai. Sau cùng, hết hoang mang o mang ra một gói thuốc, ngồi ghế đối diện và chúng tôi cùng thở khói chung một điếu chuyền tay. Mắt o đen láy, khói thuốc như biết làm cho nhãn tuyến kia ướt át, sâu thẳm. Đang chuột sa hũ nếp, đang rơi vào kho thực phẩm phồn thịnh nhưng chúng tôi thích san sẻ, uống chung tách cà phê đen, làm ngắn cụt mau bề dài điếu thuốc. Thảng hoặc o ho lên, tiếng khô, thảng hoặc o vén tóc nhét bên tai, thảng hoặc o ngắm lên bức tranh tôi vẽ, thảng hoặc o lắng nghe một tiếng động vụt qua bên ngoài cánh cửa ngăn chia. Nhưng trong ngần ấy thời khắc của canh khuya o tuyệt không nhìn vào mặt tôi. Xúc giác chúng tôi nhìn nhận ra chỉ là khoảnh ngắn khi chuyền tay điếu thuốc. Khói la đà váng vất trên vuông bàn như ý nghĩ tôi dật dờ sẽ làm gì đêm nay.

Tôi nói đến phiên tôi làm chủ o làm khách và tôi sẽ thực thi châm ngôn của người nước ngoài: Khách là thượng đế. O oải, hết hứng thú, nhác chơi. O bảo, đi theo o để chỉ bày một vài nơi chốn. Đây là chỗ tắm rửa, đằng sau tấm màn là chỗ tiêu tiểu. Đây là bếp. Đây là chỗ tui ngủ ngáy. Giường này của anh chị tui. Bồ sẽ ngủ ở đây.

Trên vách có treo tấm ảnh chụp lấy hai vợ chồng, có lẽ trước ngày cưới. Cạnh đó máng cái đồng hồ mặt tròn và kim chỉ giờ đang rơi tới số 4. Có thể nó đã chết, đã rối giây tóc. Hai cây kim thôi xê dịch, thời khắc sững yên. Nếu nó sống thì bốn giờ sáng không phải là lúc hối thúc người ta đi ngủ. Bình thường, đó là khoảnh khắc mà người ta đang chìm trong mộng đẹp, người ta hưởng thụ điều không thực đó, nướng thân trên chăn ấm nệm êm cho đến khi gà trống rướn cổ lên gáy sau vườn nhá nhem. Mặt trời lên, người ta bần thần ngồi dậy, ngác ngơ trong mùng tối để hiểu vỏn vẹn một điều, mình còn sống, mình chưa thầm lặng ra đi trong đêm. Một kiếp người, có được bao nhiêu đêm người ta an lòng sống trong giấc mộng? Tôi không ngủ, tôi đang tỉnh thức, có nghĩa là tôi biết tôi đang thực sự chìm vào một cơn mơ. Tôi ở gần o quá, dưới một mái nhà và chỉ có o và tôi. Tôi chưa bao giờ có điều kiện để tâm sự cùng o, ít ra là nói cho o nghe niềm bí bật: Tên o mang trùng hợp với tên mạ tôi, người tôi yêu quí suốt đời, thuỷ chung, bất biến. Hơn cả đường mía lau, hơn cả nước trong nguồn chảy ra, hơn cả trời biển.

O bảo, o đi tắm khi đến bên tủ lục soạn áo quần. Này quần lót, này áo nịt ngực lần lượt ló dạng trên tay. Tôi ngó thấy, cắc cớ nghĩ, sao con gái họ khổ thân đến thế? Ngay cả khi ngủ họ cũng phải trang bị bao nhiêu khê là vật cản trở, máu huyết làm sao lưu thông vận hành êm đẹp? Họ trần như nhộng có phải là da dẻ được mượt mà thông thoáng hơn không? Chưa kể là lỗ chân lông có điều kiện xả bớt những bức bối suốt ngày bị giam giữ. Cơ thể họ thơm tho hơn và họ có thể phát hiện những đổi thay trên da thịt mình. Và… và…

O đóng kín cửa phòng tắm. Nghe được cái móc sắt vừa gạt qua ngấc an toàn. Một khẩu súng e cũng tựa thế, bóp cò không được khi bị khoá chốt. Đạn sẽ vãi ra khỏi nòng hồi nào anh mở khoá, buồn tay anh gạt nó qua ngấc tự động, 15 viên bay ra trong tích tắc để hậu quả ghi nhận có biết bao kẻ từ chết tới bị thương… Tôi ngồi xuống chiếc giường được chỉ định, suốt đời tôi chưa bao giờ được ngả lưng xuống cái mênh mông tựa thế. Tôi quen ngủ giường cá nhân chật chội mình ên không thể xâm phạm. Giường này dành cho hai người, một đôi vợ chồng. Con nít thì ngủ nôi nên chắc chiếu chẳng ngấm mùi nước tiểu. Hai chiếc gối căng phồng và tôi lựa chiếc gối sát vách để kê đầu. Thường, nam nhi đại trượng phu vẫn nằm ngoài để che chắn bảo vệ. So ra tôi thích chỗ nằm của người nữ hơn, chưa kể người nữ ấy là chị ruột của o. Nếu o thơm như múi mít thì người chị phải sở hữu mùi sầu riêng. Nếu o là lê thì chí ít chị o phải là lựu bởi giản dị chị o từng là đèn mà o từng là trăng. Tôi úp mặt xuống gối ngửi lấy thứ hương mùi bồ kết vương vấn. Mái tóc dài kia đã bay tới ngang đâu? Đá Bạc? Đèo Phước Tượng? Cầu Hai? Xe leo lên Hải Vân với biển gào dưới núi?

Lơ mơ tôi nghe bước chân o rón rén vào chỗ nằm. Cách lắm vật cản trở nhưng với khoảng cách đó người nằm bên kia sẽ nghe rõ mồm một những gì thằng người nằm bên này ú ớ mê sảng. Tôi hỏi vọng qua, chương trình ngày mai của tụi mình sẽ như thế nào? Có vào Đại nội đè mấy cây trinh nguyên mà khắc ghi? Quỉ sứ. O pháo kích qua. Mình đâu có thể nhận biết tin tức của họ, hỉ? Chẳng rõ họ vào Đà Nẵng có bình an không?

Tôi đổi thế nằm, đâu mặt qua bên kia biên giới. Bây giờ giống như thể đường một chiều, tin nhắn chỉ phát ra từ đây thôi. Ai cũng tìm cách đi vào chứ có ai mà đi lộn lui. Khoảng yên lặng phủ chụp xuống, ngay cả ngọn đèn vàng sáng loá giữa phòng cũng đang thao thức. Ngủ nghê gì được, vấn đề là tôi không biết o đang nằm với tư thế nào? O nhắm mắt hay mở rộng hai hàng mi? Tôi chép miệng, không hiểu sao đâm nhớ và thèm ăn bánh nậm kinh khủng! Bên kia có tiếng vật mình, trăn trở. Có nhớ câu hỏi “con yêu bánh nậm” là gì không? Nói bá vơ, nói tầm bậy tầm bạ chứ có thể bánh nậm nhằm ám chỉ cái vật ấy đó. Cái vật gì? Quỉ sứ, đừng giả bộ ngây thơ cụ. Không biết thì tự tra khảo lấy một mình đi.

Và rồi Huế chết. Chúng tôi thoi thóp trong nhà nên nhà không bị hôi của phá cho tan hoang. Cảnh vật thay đổi hoàn toàn như thể chúng tôi bạc tình ngoảnh mặt húp xong chén cháo lú. Huế lạ mặt và Huế thù hận, điều ấy kéo chúng tôi lại gần hơn, ôm ấp nhau để vơi bớt tuyệt vọng. Phượng ra hoa nhưng hoa nhường sắc đỏ cho cờ xí giăng mắc, phủ ngộp. Màu đỏ tượng trưng cho sức mạnh của cách mạng và màu đỏ là màu có khả năng đốt cháy hết dưỡng khí. Người ta đâm kiệt quệ, người ta đâm nghi ngờ lẫn nhau và người ta bán đi những vật thiết thân quý giá kể cả đạo đức. Chúng tôi sống mỏi mòn từng ngày ngóng đợi tin tức vợ chồng anh chị của o gửi về nhưng bặt tăm.

Một đêm rằm, sau khi tắm gội xong, o bày trái cây hoa quả lên bàn thờ, pha trà rót nước lọc rồi đứng thành khẩn cúi đầu với tay khum ôm giữ ba cây nhang. O thì thầm o lâm râm o khấn nguyện rồi o vẫy tay biểu tôi đứng sát bên o. Tôi sẽ tái lập những động tác o đi tiên phuông, bắt chước đừng sai trật.

Biết hôm nay là ngày chi không? Ngày rằm. Ừ, chỉ đúng có phân nửa. Nửa kia là ngày sinh nhật tui. Tôi nuốt nước miếng, không có bánh nậm để ăn mừng hè? Thắp đuốc tìm không ra! O ngó sâu vào mắt tôi, mí mắt không máy động, như thể một kẻ đang theo học thuật thôi miên. Trước bàn thờ ông bà ấm áp hương đèn o nhón chân quàng tay vào cổ tôi để ghì giữ uỷ thác một nụ hôn. Mùi hoa sen thơm ngọt, thanh khiết thực ra phát xuất từ nụ hôn vĩnh cửu nọ. O ở gần đống bùn là tôi mà người o vẫn thanh cao, vẫn vẹn toàn một hương sắc.

Ưa ăn bánh nậm không? Một câu hỏi, chỉ vỏn vẹn năm chữ mà nó làm thay đổi được hai số phận. Chúng tôi làm tình trên chiếc giường có sẵn hai gối, dưới lưng trần chúng tôi là chiếc chiếu có nhuộm phẩm hình long phụng quấn quýt vây bọc chữ song hỷ. Chiếu cũ, đã nhạt màu nhưng chính o vừa bôi đỏ lại cái chữ trừu tượng đó. Đỏ, là màu cách mạng. Đỏ, cũng là màu máu trinh nguyên thoát ra từ một cửa mình chưa từng bị xâm phạm. Một đàng là dùng bạo lực để san bằng mọi rào cản hòng chiếm đoạt mục tiêu trong mù quáng. Một đàng là tự nguyện dâng hiến, sắt son một lòng tin yêu của tình nghĩa vợ chồng. Tôi dùng lưỡi liếm cạn những giọt nước mắt của o. Tôi không đủ tỉnh táo để truy nguyên nước mắt ứa ra do hoan lạc hay do một đớn đau chẳng thể bày tỏ. Vị mặn của giọt lệ kia gần tượng hình là hạt muối. Và chẳng phải vô cớ mà ông bà mình rêu rao: Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Tôi ôm o, hạnh phúc như đứa trắng tay ôm được rương bảo vật. Và cái ý nghĩ sẽ mọc lên trong đầu thằng người ấy là gì? Nếu không phải là nó sẽ dùng mọi biện pháp để bảo vệ thứ tài sản hiếm hoi kia. Chữ “tôi yêu em” sẽ chẳng có giá trị, bởi rơi vào trường hợp của tôi, bạn sẽ bất lực không biết dùng từ gì để diễn đạt. Ngày cũ, tôi có đọc báo Phổ Thông, trong mục tìm tòi thú vị, họ đăng tải: Theo sự bỏ công tra cứu của những nhà khoa học, cái kết quả đưa ra có thể gây mất lòng một số quý bà, đó là trung bình đàn ông họ sử dụng 7000 chữ trong một ngày, trong khi đàn bà thì lên tới 20.000 chữ.

Tôi thương o ở thêm cái khoản o rất mực ít nói. Hai đứa chúng tôi cọng lại, bình quân mỗi ngày nói khoảng 5000 chữ. Bạn phải nên chúc mừng chúng tôi, vô can không ưa ngồi lê đôi mách. Hay bạn lại mắng mỏ chúng tôi: Chế độ này chỉ có đảng viên hoặc bọn dư luận viên mới mang tật già mồm. Mẹ nó chứ, hai đứa bây biết đéo gì mà nói. Tập câm họng là hơn, con ạ! Cẩn tắc vô ưu.

Chúng tôi cẩn tắc. Chúng tôi rón rén. Chúng tôi dọ dẫm. Chúng tôi biết lễ độ. Chúng tôi tập ứng xử, tập thích nghi. Nhưng mà ưu phiền như mạng nhện bủa vây, không tha cho, không bỏ sót. Vợ chồng anh chị o do hồng phúc được định cư tại Mỹ. Họ có chụp ảnh gửi về nhưng tiếc là o bạc phận chẳng được ngắm lấy để xuýt xoa. Tôi viết thư hồi âm, dự định xả oá dùng hơn 7000 chữ để tả tình tả cảnh, để minh hoạ một tình huống, một cảnh sống, một trường hợp éo le. Tôi le lưỡi phong kín phong thư. Keo ngọt lơ lớ mà nhớ vị mặn giọt nước mắt ai. Thư mỏng tang đem ký gửi cho con rùa bưu điện. Tôi chỉ đủ sức mạnh để viết được 7 chữ ngay ngắn: Vợ tôi đã chết. Bị xe đụng.

Tôi lập trang thờ cho o, tươm tất. Phía sau, để trám bức vách rạn vỡ gạch vôi, tôi treo tấm bảng hiệu quán cà phê ngày cũ án che. Ngày ba bữa thắp nhang tôi đều thấy mạ mình đứng đó han hỏi chuyện trò tâm đắc cùng o. Hai người đàn bà tôi yêu thương nhất trần đời. Nhưng, họ sống ở cảnh giới khác, xa cách tôi. Đó là bi kịch. Dẫu càm ràm tới bảy triệu chữ, cũng còn thiếu khi khô hơi bể phổi đi than van, trần tình.

Hồ Đình Nghiêm 

Tháng 1.2018

Tán gẫu về một người làm thơ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 15 Jul 2026

Có một thời, vào khoảng thập niên 60, tạp chí Bách Khoa ưu tiên dành đất cho các nhà thơ trẻ miền Trung, nhất là những ‘chàng’ được sinh từ xứ Quảng. Số Bách Khoa nào cũng thấy người của ‘ê kíp’ này thay phiên nhau chiếm lĩnh đất thơ. Thái Tú Hạp, Phan Nhự Thức, Hoàng Lộc, Đynh Hoàng Sa, Hà Nguyên Thạch, Hoàng Quy, Chu Tân, Lê Đình Phạm Phú, Tần Hoài Dạ Vũ, Thành Tôn, Hoàng Thị Bích Ni, Phương Tấn, Nguyễn Nho Sa Mạc, Đông Trình, Luân Hoán… Còn nhiều tên tuổi lừng danh khác nữa, trong một lúc tôi không thể nào nhớ hết. Một ‘tập đoàn’ thơ đông đảo như thế mà giành dân chiếm đất Bách Khoa thì còn chỗ đâu cho thiên hạ cắm dùi?

          Tôi lúc đó chỉ đứng bên lề quan sát những nhà thơ xứ Quảng làm mưa làm gió trên một tạp chí xuất bản tại Sài Gòn (từ miền Trung mà vươn cái vòi bạch tuộc khuynh loát tới miền Nam, hơi dài đấy!).

Trong ‘tập đoàn’ làm mưa làm gió này, tôi đặc biệt chú ý một chàng có chiêu thức… thơ là lạ. Đó là Luân Hoán. Làm thơ như nói đùa. Làm thơ như chuyện giỡn chơi. Nhưng đã đọc vài câu thì tò mò phải đọc hết bài để coi Luân Hoán giỡn… chơi tới cỡ nào:

          “hằng ngày qua chợ Cây Me/ hình như tôi vẫn được nghe em cười/ khúc kha khúc khích thật vui/ em cười lừng lựng hay cười diễu ai?/ cặp chân tôi có hơi dài/ nhưng sao quắn quíu bước hoài chẳng xa/ không chừng nhà nọ có ma/ có hương ký ảo khiến ta khác thường/ mặt mày ngây dại dễ thương/ mà trong lòng đã bất lương đâm cành/ cây me Hoàng Diệu quá xanh/ mỗi ngày đành phải loanh quanh mấy vòng/ tinh ranh lá hỏi viễn vông:/ này anh bạn trẻ phải lòng ai chăng?/ giật mình ta hỏi ta rằng/ đã mê con bé khểnh răng hay cười?/ từ thơ bén đến văn xuôi/ thất tình từ thuở mô rồi chẳng hay/ lá me bay lá me bay/ cái chợ chồm hổm vẫn lầy lội mưa/ nghĩ hoài không nhớ chuyện xưa/ cái hồi kết thúc đẩy đưa thế nào/ hình như chỉ tội dòng thơ/ còn chàng và ả lẳng lơ kia thì…”

          Thì sao? Luân Hoán chấm ba dấu (…) một cách rất ỡm ờ. Ai muốn hiểu sao cũng được. Mấy mươi năm làm thơ vẫn vậy. Không khác chút nào. Nói rằng yêu, rằng thất tình nhưng lại diễn tả bằng thái độ bỡn cợt. Tất cả đều như thế, đều bình thường không có gì quan trọng lớn lối. Nhiều khi sự việc được nhìn dưới con mắt khôi hài, nhưng vô cùng sống động:

          “đêm nào tôi cũng nằm mơ/ không mơ, chắc chắn xác xơ, bất thường/ mơ em nằm ngủ ở truồng/ hai bàn chân nhốt phấn hương mượt mà/ còn tôi, ngồi ngắm cuống hoa…”

          Chẳng biết theo quan niệm của Luân Hoán, cái cuống hoa nằm ở chỗ nào trên thân thể của người đàn bà? Chứ riêng tôi, chưa chi đã nghĩ bậy rồi. Kể cả khi nói về quê hương, bè bạn, cuộc đời, Luân Hoán cũng không giấu được nụ cười ở phía sau lưng. Tôi tưởng tượng một hình ảnh Luân Hoán vui nhộn, đầy tính tiếu lâm, hiếu động.

Năm 1966, lần đầu tiên tôi gặp Luân Hoán trong quân trường Thủ Đức. Cao Thoại Châu giới thiệu một anh chàng rụt rè như con gái, bảo đấy là nhà thơ Luân Hoán. Tôi hơi ngỡ ngàng trước một Luân Hoán hoàn toàn khác với tưởng tượng của tôi. Thời gian đã xa lắm rồi, tôi không nhớ chúng tôi đã nói những gì trong lần gặp đó. Vài lần sau, tôi đến chơi với người bạn cùng đại đội với Luân Hoán. Thấy tôi, anh mỉm cười thay thế một lời chào. Chỉ vậy thôi, không quấn quít ba hoa chích choè. Cuối tuần, anh em văn nghệ hay lên phòng chiến tranh chính trị họp bàn về tờ nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức. Luân Hoán ít khi xuất hiện ở đây. Tôi ham vui, cũng léng phéng tới chơi nhưng không biết nói gì, nên ra đứng ngoài hiên hút thuốc. Có lẽ thấy cái mặt têu tếu của tôi phù họp với giọng thơ Luân Hoán nên có người lầm tưởng. Nhà thơ Nguyên Sa theo ra ngoài vỗ vai tôi (một cử chỉ thân mật của bậc đàn anh ưu ái dành cho bọn đàn em) và hỏi, cậu là Luân Hoán đấy à? Thơ cậu có sắc thái đặc biệt lắm đấy. Người ta chỉ biết danh Luân Hoán, không ai biết đến tên tôi. Trong một lúc bốc đồng, tôi cũng muốn mạo nhận mình là Luân Hoán cho thiên hạ nể. Nhưng ở quân trường tới lui qua lại hoài, có ngày cũng bị lật tẩy thì chỉ còn có nước độn thổ. Tôi đành nói thật, tôi không phải Luân Hoán. Tôi là Lâm Chương. Nghe tên tôi, Nguyên Sa có vẻ thất vọng nói, à… thế à? Rồi mỉm cười bỏ đi. À… thế à là thế nào? Rõ ràng là nói cho có nói vậy thôi, chứ không muốn bắt chuyện. Tôi đứng hụt hẫng và… buồn 5 phút! Cái danh lợi hại thật. Người ta có cảm tình hay không cũng vì cái danh. Vô danh mà muốn chơi trội, khó lắm. Mạo nhận lại càng nguy hiểm.

          Suốt 9 tháng quân trường, chúng tôi không có nhiều kỷ niệm với nhau. Luân Hoán luôn luôn khép kín. Ngày ra trường, anh em văn nghệ ngồi lại uống cà phê trong hội quán sinh viên ở khu dân sinh trước khi chia tay. Thiếu Luân Hoán. Có người chạy đi tìm nhưng không gặp. Không biết nhà thơ đi ta bà thế giới ở đâu. Bữa đó thật vui. Ngoài đề tài văn nghệ, chúng tôi còn lan man tán gẫu về người lính mang cái lon chuẩn úy mới ra lò. Có người bảo, lũ chúng ta ngồi đây sớm muộn gì cũng có vài thằng gục ngã ngoài trận địa. Vậy hãy thử nghĩ ra cách tống táng theo ý muốn của mình. Người muốn địa táng theo kiểu thường tình. Người muốn hoả táng cho xong một đời vô nghĩa. Người muốn thủy táng theo kiểu Hải Quân, quăng xác xuống nước làm mồi cho cá. Người muốn điểu táng theo kiểu Tây Tạng, bằm xác cho kên kên ăn. Tống táng theo kiểu nào cũng rùng rợn. Tôi bảo tôi muốn ướp xác. Anh em bảo ướp xác vừa khó, lại vừa tốn kém quá nhiều. Tôi nói, vậy hãy đem tôi bỏ trên miền giá băng bắc cực coi như ướp lạnh, ngàn năm sau tim gan phèo phổi vẫn còn tươi rói. Dù là nói chơi với nhau, nhưng tử trận là có thật. Sáu tháng sau ngày ra trường, được tin Thiên Trường (chuyên viết khảo luận) là người đầu tiên trong số có mặt hôm đó, bỏ mình trong trận chiến Tết Mậu Thân.

          Phần lớn những người không là con ông cháu cha, không có cổ thụ làm bóng mát che đầu, khi rời quân trường thường vác ba lô đi thẳng ra chiến trường. Nghe anh em văn nghệ nói Luân Hoán về Sư Đoàn 2 làm trung đội trưởng tác chiến. Nhà thơ mà vác súng đi lơ ngơ vào vùng sấm sét, e rằng không khá được. Tham dự vào guồng máy chiến tranh ác liệt với tâm hồn mơ mộng viễn vông, đầu óc mãi tìm thi hứng thì dễ bị trò chơi súng đạn làm tổn thương. Luân Hoán, Chu Tân và Phan Xuân Sinh ở trong trường hợp này (lại cũng dân xứ Quảng nữa. Sao chỗ nào cũng thấy các anh hết vậy?). Khả năng các anh thuộc về lãnh vực khác. Đã có một chỗ ngon lành trên chiếc chiếu văn nghệ rồi, làm người hùng chiến trường không được đâu.

          Tôi cũng có một thời mon men muốn ngồi vào chiếc chiếu dành cho các nhà thơ. Hằng đêm mất ngủ, bóp trán làm thơ. Có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ, nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc. Làm thơ thật vô cùng vất vả, phải kiên trì lắm mới được bài thơ cho ra hồn. Tôi vốn ù lì cục mịch, thiếu tính kiên nhẫn, lại không có năng khiếu đặc biệt về thơ thì làm sao có thể ngồi chung chiếu với những bậc thầy của chữ nghĩa mà tác phẩm của họ là tinh túy của ngôn ngữ? Biết mình không thể làm thi sĩ, tôi chọn làm chiến sĩ . Danh phận nào có chữ sĩ (viết dấu ngã) đi kèm cũng tốt. Mười năm lăn lóc chiến trường, đạn không bén đến da tôi. Có thể tôi gặp thằng xạ thủ bắn tồi, cũng có thể tôi né đạn giỏi. Nhiều người bảo phần số tôi may mắn. Tôi bảo không phải vậy, và đọc thơ Nguyễn Du: xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. Bởi không làm thi sĩ nên khi qua những làng mạc, tôi biết đề phòng du kích bắn sẻ. Bởi không làm thi sĩ nên khi vào những khu rừng hắc ám, tôi biết đặt mình trong tư thế sẵn sàng nổ súng vào bất cứ con gì nhúc nhích trước mặt (bắn chậm thì chết). Bởi không làm thi sĩ nên khi đi trên những con đường mòn, tôi biết quan sát mìn bẩy và coi chừng bị phục kích. Bởi không làm thi sĩ nên khi vượt qua một chiếc cầu, tôi biết phải làm sao để tránh bị làm bia bắn. Tóm lại, bởi không làm thi sĩ nên khi đi giữa làn tên mũi đạn, tôi không hề mơ mộng viễn vông. Còn Luân Hoán thì sao? Hỏi tức là trả lời. Khó mà kiêm luôn một lúc hai cái danh hiệu có chữ sĩ đi kèm mà bản chất hoàn toàn đối nghịch nhau. Thi sĩ là người làm đẹp cuộc đời bằng thơ. Chiến sĩ là kẻ xung sát hủy diệt sự sống làm cuộc đời vốn đã đau khổ càng thêm đẫm máu. Luân Hoán thuộc dạng thứ nhất. Tôi thuộc dạng thứ hai.

          Tôi quen nhiều người làm thơ. Xem ra phần đông là dân xứ Quảng. Hình như khí thiêng sông núi hội tụ lại ở khúc giữa của dải đất Việt Nam nên sản sinh ra lắm người làm thơ. Và đặc biệt khi nói về quê hương, anh nào cũng hết lời ca tụng. Ca tụng bằng miệng chưa đủ. Ca tụng luôn trên báo chí sách vở. Ca tụng đến nỗi không còn chỗ ký tên. Bởi vậy, những địa danh của Quảng Nam đã đi vào văn học. Có nhiều tỉnh bắt đầu bằng chữ Quảng như: Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Nhưng hễ nói xứ Quảng là người ta nghĩ ngay đến Quảng Nam, chứ không phải Quảng nào khác. Đó là do người Quảng Nam đi đâu cũng xưng mình là dân xứ Quảng. Một tiếng duy nhất chỉ quê hương. Trong sâu xa, ý muốn độc chiếm chữ Quảng cho riêng mình mà thôi. Thảo nào nơi đây, và thời nào cũng có người làm cách mạng. Một điều lạ nữa, chơi với Quảng Nam lâu ngày, đến một lúc nào đó ta bất chợt thấy mình bị biến thành người Quảng hồi nào không hay. Một lối đồng hoá âm thầm tiệm tiến, nhưng chắc chắn. Một lối ‘cải tạo’ êm đềm nhưng từ từ sẽ biến chất. Tôi bây giờ là Quảng lai căng.

          Người Quảng ca tụng quê hương mình bằng nhiều cách. Chẳng hạn, với Hoàng Lộc thì qua bài ‘Câu cá sông Hàn’, cho rằng con cá ở sông Hàn ngon hơn cùng một loại cá bắt lên ở nơi khác. Và qua bài ‘Mì Quảng’, sợi mì phải pha chế bằng thứ nghệ trồng ở địa phương mình thì màu sắc mới đẹp, thơm ngon mới đúng điệu. Với Phan Xuân Sinh, mì Quảng hương vị đậm đà hơn bất cứ thứ mì gì trên thế giới. Phan Xuân Sinh còn khoe cả bánh bèo, bánh tráng rất đặc biệt ở quê mình, không ở đâu làm giống được như thế. Với Trần Trung Đạo, hột muối Quảng Nam cũng có cái vị mặn mà thanh tao hơn muối của bất cứ tỉnh nào (tôi gọi anh ta là ông thần nước mặn). Nổ dữ tới cỡ đó thì người sinh giữa kho đạn là Lê Mai Lĩnh (Quảng Trị) cũng chào thua. Tôi ít tiếp cận với Luân Hoán, không được nghe ‘nhà thơ ta’ ca tụng miếng ăn. Nhưng thử giở bất cứ tập thơ nào của Luân Hoán ra coi, đầy những địa danh xứ Quảng! Đã sinh trên mảnh đất được mệnh danh là ngũ phụng tề phi (chẳng biết có thiệt hay không), chắc hẳn anh nào truyền thống cũng giống nhau. Nam đã thế, nữ cũng chẳng vừa gì. Trước kia, tôi có quen với một cô bạn người Quảng. Cô hay nói về những danh nhân, sông núi, đất đai, cây trái, đặc sản quê cô. Đề tài nào quanh co một hồi rồi cũng dẫn tới Quảng Nam (làm như đường nào cũng dẫn về La Mã vậy). Cô rất sính thơ, khoe mãi về các nhà thơ đương thời xứ Quảng, dĩ nhiên không thiếu Luân Hoán. Cô thuộc nhiều thơ của ‘chàng’, và nhận xét Luân Hoán làm thơ tự nhiên mà yêu chết bỏ, đơn giản mà thấm đẫm tình tự quê hương. Nghe cô ca tụng Luân Hoán, tôi ngẫu hứng cũng làm thơ tặng cô:

bởi thương cái giọng miền Trung

tôi cũng liều theo em về xứ Quảng

ăn thử cá mòi muối mặn quê em

uống hết nước Thu Bồn chưa đã khát

buổi trưa trưa em đội nón lá Kim Bồng

dẫn tôi đi dạo vòng quanh phố Hội

nắng như nung rát bỏng da người

mà em bảo quê em vùng nắng ấm

gió Hạ Lào mở mắt không ra

em lại bảo gió Trường Sơn về thơm phố biển…

          Bài thơ tôi viết chưa xong, cô bạn trừng mắt bảo phải ngừng ngay, bởi câu nào cũng có tính cách châm biếm. Hơn nữa, thơ không có niêm luật vần điệu chi cả. Vậy mà cũng bày đặt làm thơ. Ghê chưa? Đùa một chút cũng không được. Đối với cô, Quảng Nam là số 1, là đất linh thiêng. Khi nói đến Quảng Nam phải đàng hoàng nghiêm túc.

Hơn ba mươi năm sau ngày ra trường Thủ Đức, tôi gặp lại Luân Hoán ở Canada. Mừng thấy anh vẫn khỏe, vẫn làm thơ đều đều. Mừng hơn nữa, anh còn làm được bài thơ ‘Cỡi Ngựa’ vững vàng đầy phong độ: dẫu mòm mõi qua trăm đường lối cũ/ vó ngựa ta còn thở vẫn còn phi/ mông em nở và cặp chân rất điệu/ khép càn khôn vào giữa nhụy xuân thì/ nhịp móng sắt từ ngàn xưa lóc cóc/ lối đi quen không phải lối đi buồn/ vẫn đường cũ mà mỗi lần qua lại/ hương trong lòng vẫn đổi mới luôn luôn/ em kiều diễm dẫu không ngừng sáng tạo/ thế trên yên giông bão tuyệt như nhau/ tay cương chùng theo vận tốc chậm mau/ và ta nữa, khi thong dong nước kiệu/ lắng sâu lòng hôn ngọn cỏ nhậm sương/ khi tung vó điên cuồng phi bán mạng/ hồng thủy trào dập tắt lửa kim cương. Tôi không có ý bình thơ Luân Hoán, nhưng qua đó tôi thấy bạn tôi, một chàng kỵ mã phi như bay trong thơ và thời gian.

Luân Hoán ơi,

Chiến trường tha tội chết cho bạn, nhưng phải cúng lại một bàn chân ngoài trận mạc. Trong vận rủi vẫn còn có cái may. Chẳng phải ngày nào khi mới từ giã KBC 4100, bạn tự nói với chính minh: hãy nắm chặt giây cương này, Luân Hoán, ra khỏi nơi này sẽ gặp nghĩa trang hay sao? Chúng ta đã đi qua một thời kỳ khủng khiếp, nhìn lại mới biết ớn lạnh. Một đoạn đường gai lửa, tử thần rình rập theo mỗi bước chân. Vậy mà ta xách súng đi lơ ngơ như đi bắn chim. Hành quân vào rừng như đi picnic. Nhỡn nhơ trên chiến trường như chốn rong chơi. Tàn cuộc, ta vẫn còn sống. Lạ thật! Tuổi đời càng cao, đời người càng lún xuống. Đất đã lên tới ngực rồi, nhưng với nền y khoa tân tiến bây giờ, bọn mình còn lâu mới bắt đầu xây kim tỉnh. Và ông Bùi Gioáng cũng còn lâu mới gặp bọn mình. Hãy làm thơ, làm thơ và… làm thơ nữa đi.

Lâm Chương

Boston, 19 tháng 5/04

Xuân về nghe nỗi nhớ trở mình

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 15 Jul 2026

Mỗi năm xuân đều trở lại, vậy mà hổng hiểu sao, cứ hễ trời vừa chuyển mình đổi gió là lòng tôi lại nôn nao như đứa nhỏ chờ đợi điều gì đẹp đẽ sắp xảy đến. Mới hôm qua cây còn trơ cành, vậy mà sáng nay lá non đã mở ra, hoa khoe sắc thắm. Chỉ cần nắng chạm nhẹ là cả dải đất như bừng tỉnh. Mùa xuân luôn có cách khiến người ta chẳng cần tưởng tượng gì thêm, bởi mọi sự tươi mới đều đã bày ra trước mắt.

Tôi bước ra khỏi nhà, đi vào khu rừng nhỏ gần đó. Cây cối đang thay áo mới. Những con chim tránh đông mấy tháng nay im tiếng, giờ cũng đã quay về. Chúng chuyền qua từng ngọn cây, kêu vang như muốn báo cho cả xóm làng biết mình đã trở lại. Tiếng chim hót bù lại những ngày dài vắng mặt, hòa cùng tiếng gió lùa qua tán lá non thành một bản nhạc chào xuân nghe mát rượi tâm hồn.

Cái lạnh cuối đông cố níu lại chút hơi thở sau cùng, nhưng rồi cũng chịu thua khi nắng lên. Tôi hít một hơi thật sâu, cảm nhận trong gió có mùi đất mới, mùi nhựa cây, mùi lá non… cái mùi của sự sống đang cựa mình thức giấc.

Mùa xuân không chỉ thay đổi cảnh vật mà còn đánh thức những điều tưởng chừng đã ngủ quên trong lòng. Có những hy vọng cũ kỹ bỗng nhiên sáng lên rực rỡ sau một đêm dài, và theo đó, nỗi nhớ quê hương cũng dâng đầy.

Tôi có vài người bạn sống ở nước ngoài lâu năm. Nói cho tôi biết, họ không còn ý định về thăm lại Việt Nam vì “chẳng còn gì để về” hoặc “không thấy cần thiết”. Tôi thì khác. Lúc còn trẻ hay lúc đã già, trong tâm khảm tôi lúc nào cũng đau đáu ngày về, mặc dù ba má và anh chị em không còn ai bên đó hết.

Tôi nhớ những ngày còn làm ngư phủ trong vùng vịnh Thái Lan, mỗi khi chờ con nước, neo ghe cặp kè nhau bên một bãi cạn hay bên hòn đảo nào đó ngoài khơi rồi bày rượu đế ra nhậu với mực khô, cá khô và râm ran bàn chuyện con nước… Nhớ nhất là cái không khí miệt Cà Mau lúc nào cũng xôm tụ tiếng đờn ca vọng cổ, tiếng động cơ ghe đánh cá và tiếng kèn xe náo nhiệt. Nhớ cả cái mùi nồng nồng, khai khai đặc trưng ở những con mương nhỏ.

Những lần về Việt Nam, tôi hay ngồi “cà kê dê ngỗng” ở những quán cóc ven đường, nhâm nhi ly bia với khô mực, khô cá đuối. Với tôi, chỉ có nơi này mới giữ được hương vị quê hương của trước cái thời tôi rời xa đất nước. Thú thật, nhiều món bún, lẩu, phở giờ đã lai căng ít nhiều, chỉ riêng món lẩu mắm, dù tôi không hảo món này lắm, nhưng ăn qua thấy nó vẫn còn hương vị cũ. Nhưng tôi vẫn ghiền cái cảnh được ngồi giữa những người đồng hương bình dân, vừa ăn vừa nghe họ nói chuyện ào ào… Hình như, tất cả những điều bình dị đó gom lại tạo thành hai tiếng gọi thân thương: “Quê hương”. Chớ hổng phải “quê hương là chùm khế ngọt”.

Người ta hay nói xuân là mùa của khởi đầu. Với tôi, xuân giống như một lời nhắc nhẹ: mọi thứ đều có thể đổi thay, và cái đẹp đôi khi đến nhanh đến mức mình chưa kịp chuẩn bị nhưng vẫn đủ sức làm mình xúc động. Nhìn những cánh lá mở ra, tôi cũng mở lòng thêm rộng ra. Nghe tiếng chim gọi nhau, tôi muốn nói điều gì đó chân thành hơn. Cảm nhận được hơi ấm của nắng, tôi lại muốn sống chậm lại để khỏi bỏ lỡ những điều tuy nhỏ nhoi mà quý giá.

Có lẽ vì vậy mà mỗi độ xuân về, tôi lại muốn viết. Không phải để ghi lại cảnh sắc vốn thay đổi từng ngày, mà để giữ lại cảm giác được chạm vào sự sống đang lớn lên, được đứng giữa khoảnh khắc giao mùa mà lòng nhẹ như mây. Viết để nhắc mình rằng dù cuộc sống bận rộn đến đâu, vẫn nên dành một khoảng trống nhỏ để lắng nghe thiên nhiên thì thầm, để nhớ rằng hy vọng luôn hiện hữu, chỉ là đôi khi mình quên nhìn lại mà thôi.

Xuân đến… và tôi thấy mình lại trẻ ra mà đầy đủ. Đủ để cảm nhận, để thương và để chờ đợi. Đủ để tin rằng mỗi sáng mở cửa ra, sẽ có điều gì đó mới mẻ đang đợi mình ngoài kia: một chiếc lá vừa hé, một bông hoa vừa nở, hay đơn giản là một cơn gió mang theo dấu hơi thở của nỗi nhớ quê và niềm hy vọng sáng ngời.

Dronten, 31/3/2026

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 Jul 2026

Mùa thu mang vẻ đẹp dịu dàng nhưng buồn bã đã đi vào thơ và nhạc, nhưng có lẽ mùa thu buồn, lạnh lẽo cũng làm người ta nhớ tới cái chết và cõi âm. Không vì thế thì sao ngày Halloween lại rơi vào lúc thu tới, và bằng chứng là Đinh Hùng đã chợt hỏi:

“Trời cuối thu rồi em ở đâu?

Nằm trong huyệt lạnh chắc em sầu.

Thu ơi đánh thức hồn ma dậy

Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu”.

Chúng ta vẫn thường nghe nói, người là thế giới của cuộc sống, ma là linh hồn trong cõi chết. Cái thế giới sau này thường âm u, mờ mịt hay có chăng ánh sáng cũng lập lòe như đốm lửa gọi là ma trơi. Nhất là vùng đất của người chết là cái nghĩa địa đầy những mồ mả, thấp thoáng bia mộ, thì ngày còn bé, ngay cả ban ngày, mỗi lần có việc phải đi ngang đó, lúc nào tôi cũng cắm đầu chạy một mạch, khi qua khỏi mới dừng lại thở hổn hển. Hầu hết, đã là con người, chúng ta ai cũng sợ ma nhưng lại tò mò thích nghe chuyện ma, nghe rồi có đứa trẻ thà đái trong quần còn hơn bước ra sau hè để đi tiểu đêm. Từ chuyện ma Hời rút ruột, ma rà kéo chân người đi tắm, ma ru em trên cây gạo đầu làng, ma bắt nguời đem vào bụi tre, ma nhập vào người …

Cái thế giới u u, minh minh, mù mù, mịt mịt ấy không chắc mọi người đều biết rõ, cũng có người đã gặp ma, nhưng có người cả đời chưa thấy ma. Chuyện ma trở thành những chuyện hoang đường đầy thêu dệt, nên người ta nói vẽ ma dễ hơn vẽ người. Ma là linh hồn chưa siêu thoát. như bóng ma nàng ca kỹ Đạm Tiên, mờ mờ ảo ảo, chân đi không chạm đất mà cụ Nguyễn Du đã tả:“sương in mặt, tuyết pha thân; sen vàng lãng đãng như gần như xa”. Nhiều người thích chuyện ma, ma văn chương bên Tàu thì có truyện “Liêu Trai Chí Dị”của Bồ Tùng Linh là một kiệt tác, ma Việt Nam thời đại mới thì có “Con Ma Vú Dài” và “Con Ma Nhà Họ Hứa” đăng “nhựt trình” Saigon cũng bán chạy như tôm tươi. Như vậy, sợ ma thì có sợ, mà nghe chuyện ma ai cũng thích.

Người ta nói ông Khổng Tử “không tin có quỷ thần nhưng cũng không dám bảo không có quỷ thần”. Vì vậy, ông cũng không bài bác mà nói rằng “kính trọng, nhưng nên đứng xa ra … ” (kính quỷ thần nhi viễn chi …) đừng tin, đừng cầu xin gì cả. Đối với văn hóa Việt Nam thì ma quỷ không có chỗ đứng quan trọng. Trong từ đường, nơi đình miếu, thì dành thờ linh hồn ông bà, tổ tiên. Ma quỷ ở cây đa cây đề thì phải sợ mà thắp nhang khấn vái, cầu cho yên ổn, đừng phá phách mà thôi, như người ta đã xếp hạng “nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Những vật cần và tránh xa, kiêng kỵ như con cú (nhòm nhà ma), con dơi, mạng nhện (nhện sa), tấm kính bể … Mảnh ván hòm, bia mộ, cây thánh giá ngoài nghĩa địa cũng chẳng ai muốn đem vào nhà. Cái đầu lâu, bộ xương người … mới thấy đã sợ, vì thuộc vào thế giới của người chết, thế giới người ta gọi là “bên kia”, như câu nói buồn “về bên kia thế giới khi tiễn đưa một người quen. Sở dĩ tôi phải nói “vòng vo Tam Quốc” như thế để nói rằng cái lễ Halloween ma quỷ quái đản ở Mỹ này nó chẳng hợp chút nào với đầu óc và tâm hồn người đông Phương. Câu nói “laissez les morts tranquilles” của phương Tây chắc chắn có nghĩa là đừng phê phán, chỉ trích người đã chết rồi, cho họ yên nghỉ, nhưng cũng xin hiểu thêm vào cái nghĩa đừng đào mồ đào mả họ lên, dựng đứng các thây ma vào đêm 31 tháng mười nữa. Ở đây, chúng ta không nhắc lại cội nguồn của cái lễ quái đản này mà nước Mỹ đã đem vào làm một trò chơi quốc gia cho các cửa hàng tạp hóa bán thêm một mớ áo quần, mặt nạ, mạng nhện, đầu lâu và xương xẩu từ bao năm nay. Ngày nay nước Mỹ không còn là một nơi thanh bình, yên ổn nữa. Chiến tranh và khói lửa đã đến ngay trên bầu trời New York, thây ma đã lềnh bềnh trên đường phố New Orleans, quan tài đã được chở về hằng ngày từ những vùng đất xa xôi như Iraq. Dựng lại những bia mộ giả trong vườn, treo đầu lâu, mạng nhện trước cửa nhà, tạo những âm thanh kêu rú ma quái hay đốt những đóm lửa lập lòe giữa đêm … là gợi thêm những nỗi đau vì chết chóc tai ương của người khác.

Trên thế giới này có thiếu gì mặt nạ đeo vào để che bộ mặt thật, kẻ giả nhân nghĩa đạo đức, kẻ nhân danh độc lập tự do để phục vụ cho tham vọng riêng của mình, chúng ta đã quen mặt loại phù thủy răng nanh vấy máu. Thế giới hôm nay hừng hực bởi ngọn lửa trong lò sát sinh, mỗi ngày mỗi đêm sinh linh đang bị nướng trong lửa hận thù thì địa ngục là đâu nữa? Còn chúng ta, từ một đất nước chiến tranh, đầy tai ương đến đây, chúng ta không còn lạ gì với đầu lâu, xương trắng Mậu Thân, với xác người chồng chất trên Đại Lộ Kinh Hoàng, trên Liên Tỉnh Lộ 7B Phú Bổn- Khánh Hòa … Như nhiều người nói, chúng ta đi từ một thế giới ma quỷ đến đây, trốn từ địa ngục đến đây, đâu còn lạ lùng gì với thế giới của Halloween. Xin đừng đem những hiện tượng của ma quái, chết chóc, địa ngục, mộ chí vào đời sống của chúng ta nữa. Cầu xin cho con cháu chúng ta và thế giới một đêm yên bình không bom đạn, không chết chóc, không có bầy dơi chập choạng, không có tiếng rú của loài yêu quái, không có bộ mặt của những tên đại phù thủy quen mặt của loài người.

Năm nay, người ta ước tính nước Mỹ đã bỏ ra 3.3 tỷ đô la để mua sắm và để chơi các trò chơi Halloween. Giám Đốc một hãng thống kê đã cho rằng, người lớn cũng muốn tham gia lễ hội Ma Quỷ của trẻ em để giảm bớt các căng thẳng trong cuộc sống hằng ngày. Điều lo lắng nhất của nước Mỹ hiện nay là chiến tranh và thiên tai, bạn có tin rằng mộ bia và sọ người cùng bóng dáng ma quỷ có thể làm cho người ta bớt căng thẳng thần kinh khi chết chóc, kinh hoàng đã bao trùm đời sống hằng ngày hôm nay không?

Phần tôi, tôi không tin như thế!

Gói thuốc Hoa Mai

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 14 Jul 2026

Gần bảy năm đày ải

Anh được trả tự do

Trại cho ít tiền xe

Để anh làm lộ phí

Ôi nhất nhất tại tù

Mà thiên thu tại ngoại

Hai ngàn năm trăm ngày

Biết bao nhiêu thế kỷ

Nhớ những ngày lao động

Cuốc đất hay đào mương

Dưới cái nắng chang chang

Nung xác thân còm cõi

Vài người dân lén lút

Dúi cho vài củ khoai

Có khi bao thuốc lá

Hay bánh ít lá gai

Ăn vội trong nước mắt

Ăn trong nỗi uất hờn

Ăn mà tim đau thắt

Đời thằng lính miền Nam

Gần bảy năm lao cải

Còn sống nhờ ơn trên

Anh lê xác thân gầy

Đón xe về phố biển

Những tháng năm hậu chiến

Thành phố buồn chơi vơi

Đâu cũng thấy mặt người

Lo âu và lặng lẽ

Ngày xưa ghiền thuốc lá

Nhờ cải tạo lâu năm

Không có tiền mua hút

Nên đành bỏ cho xong

Chiều thẩn thơ đi dạo

Trên đường Nguyễn Hoàng xưa

Bất chợt gặp tủ thuốc

Một cô em bên đường

Anh ghé vào mua thuốc

Nhớ mùi Capstan xưa

Cô bán thuốc xinh xắn

Mắt lườm lườm nhìn anh

Anh là tù cải tạo

Được tha về đàng hoàng

Phải du đãng xì ke

Mà nhìn anh căm ghét

Em liếc nhìn đôi dép

Anh mang ở dưới chân

Trại cho khi khoan hồng

À thì ra là vậy

Khi biết anh cải tạo

Và mới được tha về

Em lấy gói Hoa Mai

Và nói rằng em tặng

Anh trả tiền gói thuốc

Em lắc đầu xua tay

Anh cầm theo mà hút

Em chỉ có tấm lòng

Bây giờ thời buổi khó

Không còn loại thuốc thơm

Em không có gì hơn

Tặng cho anh lấy thảo

Tiền nong em không nhận

Em thương lính các anh

Trãi qua bao khổ ải

Lao tù sau chiến tranh

Anh nghe tim thắt lại

Nói lời xin lỗi em

Phận người lính không tròn

Nên làm thân chiến bại

Tháng ngày theo nhau mãi

Em bây giờ nơi đâu

Nhớ chuyện xưa dàu dàu

Anh không nợ em bao thuốc

Mà nợ em một nghĩa tình

Nợ một cuộc đời

Anh còn nợ nhiều lắm

Chẳng bao giờ trả xong.

Bất tận cuộc đời hung hãn đó

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Jul 2026

Nhạc dạo ban đầu nhịp điệu dìu dặt, chậm rãi mang danh hiệu Trần Tế Xương khởi xướng:

“lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
đứa thì mua tước, đứa mua quan
phen này ông quyết đi buôn lọng
vừa bán vừa la cũng đắt hàng”.

Ánh sáng vẫn nhá nhem, khuất sau cánh gà vọng tiếng ai hò, gửi ra sân khấu:

“Bán đi những thứ dãi dầu mua về những thứ rặt mầu nhà quê”.
Một bóng đèn đỏ chợt thắp cùng lần với giọng nữ cất tiếng, âm vực Hồ Xuân Hương, pha chút giễu cợt:

“Năm ba thằng ngọng đứng xem chuông
nó bảo nhau rằng ấy ái uông”.

Có cô tự nhận con cháu bà, ngứa cổ: Qua truông nhà hồ ắt gặp vở opera đầy chim muông!

Sân khấu sáng thêm nhờ tia màu xanh quét vội, xanh của thủ phận như “Cách Ở Đời” mà Nguyễn Công Trứ từng cắn răng:

“Nghe như chọc ruột, tai làm điếc
Giận đã căm gan, miệng mỉm cười”.

Trên cao, từ bốn góc, những ngọn đèn cùng thắp, chao đảo chiếu xuống, trôi mơ hồ tiếng ai vừa đọc hai câu của Bùi Giáng:

“Hãy mang tôi tới giậu rào
Cho tôi ngó vịt thì thào với chim”.

Có bóng người thất thểu lê chân ra sân khấu, micro chẳng cầm tay nên nghe như lời thì thầm, cho tôi được đọc bài Giã từ thành phố HCM của Nguyễn Đức Sơn:

“Mai tôi về núi em ơi!
Quẩn quanh thành phố ma chơi quỷ đùa
Thời công nghiệp, dạo sân chùa
Tên siêu đảng tử cỡi rùa trong mơ
Ba năm ví bỏ làm thơ
Ba ngàn năm nữa… ai rờ tan toang
Bên này đèn điện sáng choang
Bên kia vách mộ nắng loang tắt rồi”.

Một đứa bé gái xuất hiện đứng kề, ánh đèn tập trung chiếu vào hình nhân gầy yếu, đọng một đốm sáng, lạc loài. Đứa bé lên tiếng, giọng phân trần:

“Ông nội em sống tới tuổi 99 thì chết. Làng xóm đều bảo, cha nội này sống dai thật, còm cỏi tong teo gầy rạc là thế mà vẫn trường kỳ an phận với đời. Bà nội em kêu, tiếc gì mà chả hổng làm thêm 365 ngày nữa, hưởng thọ 100 tuổi có phải bảnh hơn không! Mộ ông nội em có người dựng đặt tấm bia: Đặc Khu, cấm người Việt lu bu bước vô”.

Đèn mờ dần khi đứa bé rút lui. Người đàn ông đứng cạnh nó nhìn theo, sửa giọng Bùi Giáng:

“Sông ơi em bỏ sa mù
Đi thiêm thiếp cõi quân thù gọi nhau”.

Xây mặt lại phía những hàng ghế trống bên dưới:

“Đánh cho Mỹ cút Nguỵ nhào
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam”.

Trong vũng tối thẳm chiếm ngự không gian mênh mông ngoài sân khấu nổi lên tiếng trầm đục, giọng đọc mà tựa như đang hát bè: Đó có phải là văn chương cách mạng như Nguyễn Đức Sơn từng ca cẩm:

“Văn chương
cách mạng
lựu đạn
cầm tay
nện ngay
chủ nghĩa
súng tỉa
từng thằng
nhào lăn
trên giấy”.

Người đứng trên sân khấu nói vọng xuống: E cũng nên tin là vậy, xin được bổ sung thêm:

“Anh đi cách mạng bao năm
Từ rừng đến phố dao găm chưa xài
Vẫn chưa dứt điểm sòng bài
Khiến thân ê ẩm khuya dài đau sao
Cứ yêu tha thiết đồng bào
Tuy nhiên hễ thấy máu trào thì ngưng”.

Một tràng ho kéo dài, ho tựa ho lao, may thay chưa nhìn ra máu trào. Phông màn phía sau chuyển cảnh, lại đọc tiếp cho hợp với thứ sắc màu minh hoạ nhá nhem:

“Xe ba gác đã đến rồi
mau mau bàn ghế chảo nồi cất lên
vợ chồng được mấy tấm phên
những đêm hạnh phúc nhà bên khó dòm
giờ này còn cãi om sòm
nhựa nhôm cũng món tiền còm mang theo
đừng quên cái khoản cứt heo
gửi về quê giúp ruộng nghèo đói phân”.

Hí viện bỗng dưng bị ngắt điện, tối như hũ nút. Cửa bật mở, đột ngột mang luồng sáng gắt gao ngoài cảnh đời thực ùa vô, kèm theo bụi bặm, kèm theo hai “chú” bộ dạng có vẻ bà con với “bác”. Hai chú công tác ở Bộ ở Cục gì đó, mặt mày không thể gọi là cục vắt thành hòn, học vị chừng tiến sĩ là chí ít. Một chú la: Phàm đã là đại trượng phu thì chớ nên làm việc mờ ám. Một chú khác tiếp lời: Bởi không ưa mờ ám nên bọn tớ bèn cắt cầu giao cho bỏ ghét, điện nước không đầy đủ đố mầy làm nên. Khai mau, đang dàn dựng kịch bản gì thế? Ơn Đền Oán Trả hay Hận Đời Đen Bạc? Hôm kia đã dẹp yên tụ điểm âm mưu diễn tuồng Đồi Thông Hai Mộ ở phường Bến Nghé rồi. Cứ được tài mượn đầu heo nấu cháo mãi, nói nặng nói nhẹ nhọc công răn đe mãi mà chả nghe bao giờ.

Tan đàn sẩy nghé. Thượng bất chính thì hạ tất loạn. Bầu đoàn thê tử đành dắt díu nhau đi tìm ánh sáng cuối đường hầm. Đầy tớ nhân dân bao giờ cũng có thế giá, người còn chút trí khôn chẳng ai dại “tự té” hoặc thúc thủ đón nhận trường hợp “vô tình có hơi mạnh tay dẫn đến tử vong”.

“Đời sau người có thương ta
Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi
Đường xa xin chớ bồi hồi
Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha”.

Cũng may nhà thơ Nguyễn Đức Sơn còn sống để góp cho đời một tiếng “càm ràm”. Và đời bất hạnh mạt pháp này ít ai còn tưởng tới bài kệ Mettika:

“Dẫu ta có đau đớn
Sức yếu, tuổi trẻ qua
Dựa trên gậy, ta đi
Ta leo lên đỉnh núi
Với đại y vắt ngang
Với bình bát lộn ngược
Ta ngồi trên tảng đá
Tâm ta được giải thoát
Ba minh chứng đạt được
Thành tựu lời Phật dạy”.

Tagore có hấp thụ lời Phật dạy để sớm khai nhãn?

“Cái chết không dập tắt ánh sáng, nó chỉ là việc tắt đèn đi vì bình minh đã tới”. Phương Đông ẩn mật là thế, sao phương Tây mãi rềnh rang tiếng chì tiếng bấc tựa như cảm nhận của thi nhân Charles Simic:

“Lịch sử là một cuốn sách dạy nấu ăn.
Bạo chúa làm đầu bếp.
Triết gia viết thực đơn.
Tu sĩ làm hầu bàn.
Quân nhân đứng canh cửa.
Tiếng hát mãi vọng ra là âm thanh các
nhà thơ đang rửa chén.”

Diễn viên nghiệp dư nối đuôi nhau men theo bờ lề sát một chốn bán bia ôm đang chộn rộn, gặp Nguyễn Thanh Văn giải thích “sự cố”:

“trong quán rượu hai nhà thơ cãi lộn
rớt ví tiền và vãi cả thơ
có cô nàng say thơ như điếu đổ
lật đật nhặt tiền dẫm cả lên thơ”.

Kế bên là nhà hàng đặc sản bày bàn ghế trên sân thượng hình như năm 1992 Nguyễn Đức Sơn từng lò dò bước chân lên:

“Cố nhân này cố nhân ơi
Sợ gì bội thực cuối đời đấu tranh
Yêu cầu nhậu tiếp đi anh
Mặc tôi ngồi ngó trời xanh ngập ngừng
Ngày xưa từ chối vô bưng
Tôi đi lỡ thẳng cái lưng quen rồi
Thơ văn không kỵ chảo nồi
Cám ơn gặp gỡ bồi hồi bắt tay
May mà còn có chiều nay
Bánh mì tôi gặm, mây bay anh nhìn”.

Bùi Giáng không nhìn mây bay, đi ngoài đường gầm đầu đếm bước:

“Tháng năm dòng nước trôi xa
Người qua, người sẽ đi qua những người
Tôi qua không một hẹn lời
Hẹn hò chi bấy? Bước dời về đâu?

Tặng đời đoá đoá hoa sầu
Nhớ nhau từ đoá mộng đầu rã đôi
Giọt nước theo giọt mưa rơi
Mỗi mùa mưa đến tôi ngồi chắp tay”.

Dễ chịu. Rất mực nhẹ nhàng của người luôn đối diện, vật vã với những mộng ước khó bề thành tựu, trong câm nín.

“Hỏi rằng: Người ở quê đâu
Thưa rằng: Tôi ở rất lâu quê nhà”.

Quê nhà có Trần Vàng Sao một đời theo cách mạng đã có hôm dụi mắt ra đường thiệt vàng không sợ lửa:

“đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
….
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây”.

Anh biểu chúng chết, chết sao đặng. Chết được chúng chết đã lắm khi. Đó là nói theo khẩu khí của Nguyễn Công Trứ hoặc Trần Tế Xương, toàn những vị sanh bất phùng thời.

Đường dẫn về Thủ Thiêm dân oan đang đổ ra lộ, mặt méo mó. Họ than, họ mất đất đai trên chính đất nước mình, đau hơn bị giặc Tàu đô hộ. Hai mươi năm qua biết bao lời hứa hẹn, Quyết Tâm ơi! Nói chi lời muối xát vào lòng dân. Đừng đau xót, ngừng xin lỗi, day dứt gì khi người Thủ Thiêm ăn bụi ngủ bờ. Đã khô giọng gào đã mất hết điền sản, còn chiếc dép này đành giải phóng buộc ném đi (trúng ai ráng chịu). Nguyễn Thiện Nhân bí thư chừng bất thiện, thiện tâm đâu? Nước mắt dân tuôn cùng máu đổ oan trào, chưa khô.

Anh em dừng lại mường tượng ra con số 1500 tỷ lớn bao dường. Suốt đoạn đường nghe bà con tấu bản giao hưởng hoành tráng hơn khúc đoạn trường. Nguyễn Du có sống dậy cũng bất lực trước thời cuộc, văn hoa chải chuốt ngậm ngùi cung đàn lạc điệu, nhân nghĩa lễ trí tín không ăn thua được với cường hào ác bá. Bóng ai như Tô Thuỳ Yên đổ xuống, chợt về ngang:

“đau khổ riêng gì nơi gió cát
hè nhà bụi chuối thức thâu đêm…
đất trời ủ lứa chiêm bao khác
dâu biển làm mưa nắng lạ đi
bụi rác mỗi thời một dạng loại…
lịch sử qua đường đã cải trang”.

Kịch sĩ cải trang, đào đang trét phấn, thằng hề thì muôn đời bôi mặt; mà lãnh đạo, nhân thân họ khó lường, có thể viết thành ba kịch bản khác nhau. Anh Ba, anh Năm, chú Sáu. Mỗi anh mỗi chú có riêng một chân dung khó đụng hàng, tựu trung là dạng loại bụi rác thời nay thật khó ngửi, gây ô nhiễm không cứ là mặt trận Thủ Thiêm.

Hồ Đình Nghiêm

Sóc Con Trăng

Lâm Chương

Post by Sơn râu 14 Jul 2026

Sóc Con Trăng. Cái địa danh lạ lùng, nằm về phía Tây Nam, sát biên giới Việt Miên. Nếu so với ngàn xanh mênh mông, Sóc Con Trăng chỉ là một trảng trống rất nhỏ giữa rừng già, thuộc mật khu Dương Minh Châu. Nhìn vào bản đồ quân sự, nơi đây có những vòng cao độ màu nâu thưa thớt, biểu thị một ngọn đồi thoai thoải. Ước hiệu bản đồ còn cho thấy, có chừng vài mươi nóc nhà nằm rải rác trong khu vực. Nhưng hiện tại, Sóc Con Trăng hoàn toàn hoang dã. Những nền nhà cũ của một thời xa xăm, đã mất dấu.
Sớm mai. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng. Sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, như dải lụa bạch vây quanh chân đồi, che lấp cây xanh. Khi mặt trời vừa lên, sương tan rất vội. Phút chốc, cảnh vật hiện ra rõ nét, biến đổi không ngờ. Rồi sương chiều lại tụ, lúc mặt trời chìm khuất sau rừng cây yên ả. Cái yên ả đìu hiu giả tạm bề ngoài. Trời vừa chạng vạng, chim rừng thôi líu ríu trên cây. Mặt đất bắt đầu nhá nhem bóng tối thì từ trên đồi có những người đi xuống, xâm nhập vào rừng cây. Và ở một nơi bí mật nào đó, cũng có những kẻ âm thầm len lỏi, tiến sát về Sóc Con Trăng. Tất cả, họ là loài săn mồi ban đêm. Trong im lặng của rừng già, ẩn giấu biết bao điều hiểm nguy bất trắc. Những đôi mắt mở trừng không xuyên qua được bóng tối, họ vận dụng khả năng thính giác. Gióng lỗ tai nghe ngóng. Tiếng vỗ cánh của con chim đớp muỗi, cũng làm họ chú tâm lo lắng. Tiếng gãy đổ một cành cây khô, cũng làm họ giật mình hồi hộp. Súng luôn mở khóa an toàn, trong tư thế sẵn sàng khai hỏa. Tử thần không bao giờ nhân nhượng cho kẻ vô ý để mình bị đối phương phát hiện trước. Khó có cơ hội rút kinh nghiệm bản thân để sửa sai, sau lần đầu tiên lầm lỗi. Xác suất sống còn rất ít, khi đứng trước tầm đạn địch.
Một ngày giữa tháng Chạp. Tiểu đoàn được trực thăng vận vào vùng đất ấy. Vùng đất mà thời bình không ai thèm bén mảng. Nhưng trong thời chiến, đó là một yếu điểm, các nhà quân sự muốn chiếm lấy ưu thế, chận họng đối phương. Và đối phương lúc nào cũng cảm thấy khó chịu. Họ muốn móc cái xương vướng mắc trong cổ, để khai thông huyệt đạo từ Quảng Ðức, Phước Long, Bình Long xuống Tây Ninh, và từ Kampuchia vào mật khu Dương Minh Châu. Thế là Sóc Con Trăng trở thành chiến địa. Hai bên đổ máu, giành nhau từng thước đất trên ngọn đồi khô, đầy những cỏ dại phất phơ bông trắng. Dưới chân đồi cũng chẳng có gì hơn, ngoài loại cỏ tranh cao ngang bụng, trải dài ra tận bìa rừng.
Ngày đầu tiểu đoàn đến đây. Tình hình còn rất yên tĩnh. Có thể đối phương chưa kịp chuẩn bị để làm một cuộc tấn công. Nhưng vẫn phải đề phòng bị đánh úp bất ngờ lúc tiểu đoàn đang chân ướt chân ráo. Các toán tiền đồn, và tuần tiễu an ninh chung quanh khu vực, hoạt động ráo riết. Số còn lại, lo ổn định vị trí, bắt tay vào việc đào công sự phòng thủ. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng trên đỉnh đồi, ngay trung tâm cái mỏ ác của những vòng cao độ. Từ đó, có thể nhìn bao quát được các đại đội nằm bao quanh dưới lưng chừng đồi.
Mọi người trong tiểu đoàn đều biết, nhảy vào Sóc Con Trăng là một thử thách lớn đối với địch quân, đông hơn nhiều lần. Hai công trường 7 và 9 của quân Bắc Việt đang áp sát biên giới, phía bên kia phần đất Kampuchia. Theo cái công ước quỷ quái gì đó, cam kết hai nước không xâm phạm biên giới lẫn nhau. Quân Bắc Việt lợi dụng lãnh địa an toàn này, làm căn cứ hậu cần vững chắc. Ðưa quân sang biên giới đánh đấm. Xong, rút về bên kia dưỡng quân. Tiểu đoàn bị ngăn cấm tuyệt đối, không được nã pháo qua Kampuchia. Không có cuộc chiến nào quy định những điều bất lợi lạ lùng như thế. Chịu thiệt thòi để giữ cái tình giao hảo của hai quốc gia. Thằng nào tức thì cứ chửi đổng, nhưng lệnh vẫn phải thi hành. Tòa án quân sự đang chờ đợi những ai vi phạm quân kỷ ngoài mặt trận, để tống vào quân lao. Tên nào cũng ớn!
Không qua được biên giới, người ta thả tiểu đoàn xuống Sóc Con Trăng, làm miếng mồi nhỏ, nhử đàn kiến lớn bu lại để tiêu diệt. Nhưng tiêu diệt bằng cách nào, chỉ có mấy ông tướng tư lệnh quân đoàn, sư đoàn biết. Anh em lo ngại, không khéo cả đơn vị sẽ phơi thây trên ngọn đồi này, nếu đối phương quyết tâm áp dụng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung. Trong pho chiến sử đã từng ghi lại các trận đánh đẫm máu, lấy mười đổi một, chỉ với mục đích làm bàn thắng, gây tiếng vang và mặc cả trên bàn hội nghị. Sóc Con Trăng có quan trọng đến mức đối phương phải trả cái giá quá đắt như thế hay không? Ðâu ai biết. Dù gì đi nữa, một khi đã vào tử địa, không có con đường lựa chọn nào khác hơn là tử thủ, quyết liệt chiến đấu. Ai cũng muốn còn cái mạng trở về. “Giành sự sống trong nỗi chết”. Câu nói hồi còn trong quân trường là châm ngôn duy nhất để giữ mạng mà thôi.
Tôi là trung đội trưởng. Một chức vụ nhỏ trong guồng máy lớn. Chỉ huy hơn hai mươi tay súng. Nằm tuyến đầu, trước mũi đạn. Chịu cái gian nguy của một khinh binh. Lại đèo thêm nhiệm vụ làm gạch nối từ đại đội trưởng xuống anh em binh sĩ. Sức ép của cả hai bên dồn lại, trung đội trưởng chịu đủ tiếng chì tiếng bấc. Anh em binh sĩ bê bối, đại đội trưởng khiển trách trung đội trưởng. Công tác cực nhọc, hành quân không có lúc nghỉ, anh em cằn nhằn văng tục, trung đội trưởng nghe. Những khi rỗi việc ngồi tán gẫu, bạn bè nói đùa ám chỉ trung đội trưởng là cầm cặc chó đái. Dù nói đùa, nhưng không phải không đúng. Làm trung đội trưởng, chẳng ăn được cái giải gì, chỉ khổ thân. Con nhiều cha, tụ về một mối. Mỗi người ương ngạnh một kiểu khác nhau. Không dễ chỉ huy. Hai năm làm trung đội trưởng, cho tôi nhiều kinh nghiệm đắng cay. Mềm quá, bị coi thường lờn mặt. Cứng quá, gây bất mãn. Tốt nhất là hòa mình cùng anh em đồng đội, nhưng có lúc cũng phải mượn kỷ luật làm răn đe những anh ba gai, hoặc tắc trách trong nhiệm vụ.
Hoàn cảnh gia đình để lại sau lưng, về đây làm những đứa con trung đội, chịu chung một tình huống. Bỏ đi những tị hiềm dị biệt. Nương tựa vào nhau mà sống. Tương trợ nhau mà đi qua những cơn lửa đạn. Không ruột thịt cũng thành thân thiết. Ðêm chiến hào, khum đầu trong nón sắt, chia nhau từng hơi khói thuốc. Rủ rỉ kể cho nhau nghe nỗi niềm tâm sự. Cha mẹ, vợ con, người yêu bé nhỏ đang chờ đợi nơi phố thị đông người, hay một miền quê nghèo nàn hẻo lánh nào đó.
Hồi chiều, lúc đang đào công sự phòng thủ, thằng Công hỏi: “Thiếu úy ơi. Con đào của tôi, nó hẹn về đi chợ tết. Tiểu đoàn mình, có ra khỏi cái nơi hắc ám này, trước tết không?”
Tôi nói: “Hẹn lại tết năm sau đi.”
“Như vậy là mình ăn tết ở đây?”
“Ăn tết hả? Mày hỏi mấy con khỉ đột trong rừng, nó có chịu để yên cho mày hay không?”
“Ðánh đấm hoài, chán bỏ mẹ! Hết rừng núi, lại sình lầy. Không biết ngày nào hết khổ.”
Nó than, như chính tôi là người làm cho nó khổ. Tôi bảo: “Lính nào cũng khổ. Chỉ có lính kiểng là sướng thôi, con ạ!”
Thằng Công im lặng, khi vị đại đội trưởng đi tới, đôn đốc và kiểm soát các trung đội đào hố cá nhân dọc theo phòng tuyến. Ông dặn, đào hố phải làm nóc kiên cố. Tình hình căng thẳng lắm. Nếu địch quân tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay trên đầu. Thằng nào lười biếng, không làm nóc, là tự mình khai tử. Ông nhai lại điều này nhiều lần. Anh em phát bực.
Ðại đội trưởng đi khỏi, thằng Nhân nói: “Ðù mẹ! Chết sống có số. Khi đã tới số, thì chạy đàng trời cũng không khỏi nắng.”
Thằng Tứ Ách, chống cán xẻng, phanh ngực áo, quạt phành phạch, cũng phụ họa: “Những thằng ở thành phố, đang nằm trên bụng vợ, bỗng ngã lăn ra chết vì thượng mã phong. Số trời đấy.”
Lại một thằng nữa, tiếp theo: “Thế là sướng tới hơi thở cuối cùng. Tao thà chịu chết vì thượng mã phong, chứ không muốn ở đây chết chung với bọn mày.”
Nhiều tiếng cười hô hố sau câu nói.
Tiểu đội trưởng, tên Nẫm, đang hì hục đào hố, ngẩng lên nhìn: “Chỉ lo tán dóc và cười. Cả buổi, mà quào cái hố chưa bằng cái lỗ đĩ. Khi đụng trận, thằng nào chạy qua hố tao núp ké, tao đạp văng ra ngoài.”
“Ðất cứng quá, trung sĩ ơi.”
“Lúc nào cũng rên. Muốn đi đầu thai sớm thì vất xẻng, khỏi cần đào hố.”
Tôi đi dọc theo phòng tuyến, quan sát phần trách nhiệm trung đội. Giữa tháng Chạp, nhưng nắng của buổi xế chiều ở đây, vẫn còn gay gắt lắm. Ai cũng tháo mồ hôi. Ðào một cái hố cá nhân trên thế đất đồi khô cứng, không là chuyện dễ.
Biết vậy, nhưng tôi vẫn nói: “Khi mặt trời lặn, thằng nào chưa xong tao tống ra nằm tiền đồn.”
Có tiếng đáp lại của Ðiền Ðô: “Dọa ai thì dọa. Chứ thằng này là dân chơi thứ thiệt, không ngán đâu. Ðừng dọa.”
“Mày bảo tao dọa hả? Ðù mẹ! Có ngon thì ngồi hút thuốc, làm thơ đi con. Tối nay sẽ biết đá vàng.”
Ðiền Ðô im lặng. Nó biết tôi không đùa.
Tiền đồn cho một đơn vị là toán quân báo động, nằm ngoài tuyến phòng thủ. Do đó, toán tiền đồn thường đặt ở những nơi tiên liệu địch quân có thể xâm nhập áp sát đơn vị. Tiền đồn là toán chạm địch đầu tiên. Muốn tấn công một đơn vị, địch quân phải tiêu diệt cho được những toán tiền đồn chung quanh phòng tuyến, từ ngoài xa. Và như thế, đơn vị phòng thủ kịp thời chuẩn bị tác chiến, trước khi địch quân tiến đến gần kháng tuyến chính. Trong trận mạc, người ta chấp nhận hy sinh một số nhỏ, để bảo toàn lực lượng lớn. Ðóng quân ở những vùng bị áp lực địch nặng nề, dù là thằng to gan nhưng tới phiên vác ba lô, xách súng đạn đi làm tiền đồn cũng lạnh cẳng.
Anh em trong đơn vị, thường nói năng lỗ mãng, tưởng có thể ghét bỏ hại chết đời nhau. Nhưng thật ra, đó lại là điều thể hiện sự gần gũi thân tình của những thằng đi trận. Ðặt cho nhau những cái biệt danh quái gở để cười vui. Dần dần biệt danh trở thành quen thuộc, không còn gọi bằng nhau bằng tên chính thức nữa. Thằng Công khinh binh, biệt hiệu Công Ngủ. Thằng Ðức mang súng phóng lựu M79, gọi Ðức Cạp. Thằng Ðiền tiểu đội phó là Ðiền Ðô. Thằng Mai phụ xạ thủ đại liên, những lần về phép hay la cà nơi các động mãi dâm, anh em đặt Mai Ghế. Thằng Ty vác đại liên, thường khoe con cu của nó là một vưu vật lý tưởng trên đời, nên được tặng danh hiệu Ty Cai Dù. Những biệt danh này, được hiểu theo nghĩa nói lái. Còn có những biệt danh, chỉ đặc tính. Như thằng Minh mang máy truyền tin, hay đánh tráo bài ba lá, gọi Minh Ðiếm Chảy. Thằng Nhân cấp bậc hạ sĩ, viết thư về cho vợ, chưa gởi đi, bị anh em coi lén, thấy nó thay chữ ký bằng bốn con bài cơ rô chuồn bích. Từ đó, anh em gọi nó là Nhân Tứ Ách, để phân biệt với Nhân súng cối. Thằng này hay chửi thề nên có hỗn danh Nhân Ðù. Thượng sĩ trung đội phó, trước kia thuộc Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, sau đổi qua Biệt Ðộng, mang danh Mai Chò Gãi. Mới đầu, tôi không hiểu ý nghĩa của cái tên kỳ lạ này. Anh em giải thích, “mai chò gãi” là tiếng lóng của dân bụi đời, chỉ con số 25.
Ðêm Sóc Con Trăng. Trời se lạnh. Trăng mù sương ẩm đục màu sữa. Không gian chìm lắng. Tiếng côn trùng sầu não bãi tha ma. Thỉnh thoảng, nghe khoen dây súng khua lách cách của đốc canh đi kiểm soát lính canh dọc tuyến phòng ngự. Những anh em khác, cuộn mình trong tấm poncho, ngủ mê mệt sau một ngày vất vả.
Nửa khuya. Tiểu đoàn báo động giả, tập phản ứng cho quen với vị trí phòng thủ mới. Hỏa châu cháy rực bầu trời, chói lòa xuống mặt đất, soi rõ từng bông cỏ dại trên đồi. Chúng tôi ngồi dưới hố cá nhân. Ðầu đội nón sắt, mình mang dây ba chạc đeo túi đạn, tay súng trong thế tác chiến. Bên ngoài vòng đai, đạn pháo nổ quanh chân đồi như sấm sét. Tưởng khó có một ai vượt qua lằn ranh đạn pháo mà còn toàn vẹn. Ðưa tiểu đoàn vào đây, người ta đã dự trù một trận đánh lớn. Nằm trong cái thế bị tấn công bất cứ lúc nào, tiểu đoàn được ưu tiên hỏa lực pháo binh. Tất cả những căn cứ trọng pháo trong tầm tác xạ, lúc nào cũng hướng súng về Sóc Con Trăng, sẵn sáng yểm trợ.
Khi chấm dứt báo động, mọi người đều tỉnh táo, khó dỗ giấc ngủ trở lại. Tôi và thằng Minh Ðiếm Chảy, ngồi chung trong cái hố đôi.
Nó cằn nhằn: “Thà địch kéo tới, đánh nhầu một trận cho xong. Chờ đợi và báo động hoài, còn ngủ nghê gì được.”
“Mày là thằng chết đến đít, vẫn còn ham ăn ham ngủ.”
“Thức khuya lạt miệng. Thiếu úy, cho xin điếu thuốc.” Nó chép miệng.
Tôi nói: “Hút thuốc ban đêm. Coi chừng bị bắn bể sọ dừa.”
“Không sao đâu. Em che trong nón sắt.”
“Từ hồi chiều đến giờ, mày xin thuốc mấy lần rồi? Hút ghiền, thì phải lo thủ sẵn chứ. Tao đâu phải cái kho phát thuốc cho mày.”
Nó cười giả lả, chìa tay ra: “Ðiếu thuốc giá đáng chi, mà nói những câu mắc mỏ. Thiếu úy?”
“Ðiếu này là điếu chót nghe mậy. Hút xong, ráng treo mỏ. Ðừng xin tao nữa.”
Tôi rút một điếu cho nó. Nó khum đầu, xòe lửa trong nón sắt, hút vài hơi rồi trao cho tôi.
“Hút chung một điếu đi. Ðỡ hao.”
Tôi rít một hơi dài, rồi nhìn mặt nó. Trong ánh trăng nhòa nhạt của đêm mù sương, mặt nó khắc khổ đăm chiêu.
Một lúc sau, nó nói nhỏ: “Buồn quá.”
“Sao mày rên rỉ hoài vậy?”
“Con vợ của em…”
“Lại nữa. Mày nói chuyện này hằng trăm lần rồi. Nó bỏ mày đi lấy thằng khác chứ gì? Tao không muốn nghe.”
“Nhưng nó còn nói xấu, rằng em mê cờ bạc.”
“Cũng đúng thôi. Kỳ lương nào, mày cũng nướng hết vào sòng bạc. Ði phép, xách cái đít không, về nhà với bộ mặt đưa đám. Bảo sao nó không chán?”
“Nhiều khi tức, muốn trả thù.”
“Ðừng có điên. Ở tù đấy, con ạ! Cứ bình tĩnh, rà rê kiếm con vợ khác. Làm lại cuộc đời.”
“Không dễ. Ðàn bà con gái, đâu phải muốn chộp bắt lúc nào cũng được?”
Tôi an ủi: “Mày là thằng đẹp trai số một của trung đội. Lo gì?”
Nghĩ ngợi một hồi, nó nói: “Phải chi em được như thằng Ty Cai Dù, thì ngon quá.”
“Ngon thế nào?”
“Nó bảo nhờ “cai dù” mà nó được cơm no bò cỡi.”
Tôi gạt ngang: “Thôi. Bỏ chuyện bá láp đó đi. Lo ngủ. Mai còn công tác.”
Nói xong, tôi lên khỏi hố. Nằm co, trùm bằng tấm poncho lạnh ngắt.
Ngày nào tiểu đoàn cũng mở những cuộc hành quân cấp đại đội quanh khu vực Sóc Con Trăng, và dọc theo biên giới. Chẳng thấy bóng đối phương. Nhưng ngày nào tiểu đoàn cũng bị pháo kích hai, ba lần. Nhất là những khi có chuyến không vận tiếp tế vào Sóc Con Trăng. Trực thăng vừa chạm mặt đất, pháo rót tới liền. Quân tiền sát của địch vẫn bám sát đâu đây. Rừng rậm quá, khó phát hiện được vài ba tên tiền sát ẩn núp giữa ngàn xanh. Mỗi lần, pháo chừng năm bảy quả. Súng cối 82 ly từ bên kia biên giới bắn sang. Tiểu đoàn vô phương phản pháo. Tuyệt đối tuân hành cái lệnh không xâm phạm biên giới giữa hai nước. Ðành ôm đầu máu, chịu trận. Kampuchia là nước trung lập, nhưng lại chứa chấp mấy sư đoàn quân Bắc Việt. Thật chó má! Anh em gào cái tên Sihanouk mà chửi.
Ban ngày là thế. Ban đêm cũng chẳng yên. Vài đêm lại có đụng độ ngoài các toán tiền đồn. Nhiều khi địch len lỏi qua khỏi tiền đồn, bắn vào vị trí phòng thủ. Tình trạng báo động liên miên. Nón sắt, và súng đạn đeo dính bên người. Hỏa châu soi sáng, và pháo yểm ầm vang một góc trời.
Tinh thần anh em sa sút trầm trọng. Mệt mỏi. Chán chường. Ba ngày tết của năm 1969, trôi qua trong quên lãng giữa rừng già. Dù chỉ mới có những cuộc chạm súng lẻ tẻ, nhưng tiểu đoàn đã tổn thất khá nhiều do pháo kích. Tiểu đoàn trưởng gọi về Bộ Tư Lệnh, xin ra khỏi vùng hành quân Sóc Con Trăng. Ðược trả lời rằng, chưa cần thiết tiểu đoàn có mặt ở những nơi khác. Nghe thế, mọi người đều bất mãn. Càng bất mãn càng chửi thề. Trung đội tôi, bây giờ, thằng nào cũng bắt chước Nhân Ðù. Mở miệng ra là có đù mẹ, đéo bà. Nghe mãi thành nhàm tai.
Sau một tháng trời ở đây, quân số tiểu đoàn hao hụt. Lớp chết, lớp bị thương. Bổ sung tân binh, mặt thằng nào cũng ngơ ngáo. Chưa quen chiến trường, mỗi lần bị pháo những tân binh quýnh quáng đến tội nghiệp.
Một buổi chiều. Tôi đi kiểm soát, thấy thằng Ngô tân binh gác ngoài phòng tuyến. Súng đặt ngang đùi. Nó ngồi bất động, nhìn ra bìa rừng. Rừng chiều, sương xuống âm u một màu ảm đạm. Tôi nhẹ nhàng lần đến sau lưng. Nó không hay biết. Tôi vỗ vai. Nó giật mình, quay lại nhìn tôi. Tôi thấy hai hàng nước mắt của nó chảy dài xuống gò má. Nó đang thổn thức. Nó quẹt nước mắt, cười gượng.
Tôi ngồi kế bên: “Tại sao mày khóc?”
Nó làm bộ ngạc nhiên: “Em có khóc đâu?”
“Mày đừng chối. Có ai hiếp đáp, bắt chẹt gì mày không?”
“Không.” Nó lắc đầu.
“Thế sao mày chảy nước mắt?”
Nó ngó mông ra rừng. Không trả lời.
Tôi giục: “Nói thật đi. Thằng nào chèn ép mày?”
“Em chỉ buồn.”
“Ở đây, tao cũng buồn như mày. Chịu đựng một thời gian, rồi tiểu đoàn mình sẽ chuyển đi vùng khác, đỡ hơn. Nhưng, tại sao mày chọn binh chủng này?”
“Thấy mấy anh lính đội bê rê, mặc đồ hoa về thành phố, trông rất oai hùng. Em thích, và tình nguyện về binh chủng. Mãn khóa, em chưa được về thăm nhà. Người ta bốc thẳng từ quân trường, thảy xuống đây. Hồi trước, em đâu ngờ đời lính gian khổ, hiểm nguy thế này. Em không tưởng tượng nổi…”
“Ðừng buồn nữa. Ngày nào ra khỏi Sóc Con Trăng, tao đề nghị cho mày đi phép về thăm nhà.”
Nó mừng: “Thật hả, thiếu úy?”
“Tao nói thật. Dù tao biết mày về là đào ngũ luôn. Tao chỉ giữ thằng nào ở lại thôi.”
“Không đâu. Em sẽ trở lại.”
“Nếu mày kể cho má mày nghe cảnh này, dù mày muốn trở lại, bả cũng níu áo không cho mày đi.”
“Em không đào ngũ, vì thương những người trong trung đội mình.” Nó kể bằng chân tình. “Hôm trước, bị pháo kích. Chạy về hố không kịp, em chui đại xuống hố trung sĩ Nẫm, tiểu đội trưởng của em. Cái nón sắt em bị văng mất. Anh Nẫm chụp cái nón sắt của ảnh lên đầu em, đè em nằm xuống. Còn ảnh đầu trần, ngồi phía ngoài. Trong trung đội, ai cũng lo cho em. Mọi người đều có tình. Em không nỡ đi luôn.”
“Mày biết thương anh em là được rồi. Ðời lính không phải khổ mãi thế này đâu. Mày về đơn vị nhằm lúc tiểu đoàn đang ở cái chốn khỉ ho cò gáy, nên cảm thấy buồn. Ráng một thời gian nữa thôi, rồi tiểu đoàn sẽ được chuyển vùng hành quân.”
“Một thời gian nữa, là bao lâu?”
“Tao không biết. Còn phải chờ…”
Khi nói câu đó, tôi nghĩ đến một trận đánh lớn. Ngày nào chưa xảy ra một trận thư hùng, thì tiểu đoàn còn phải ở đây, để thực hiện cái kế hoạch làm mồi nhử đàn kiến.
Trận đánh lớn, trước sau gì cũng không tránh khỏi. Mới đầu, mọi người còn lo âu. Nhưng thời gian thấp thỏm đợi chờ với những cơn mưa pháo hàng ngày, những đụng độ lẻ tẻ về đêm làm anh em mệt mỏi nên đâm liều. Muốn đánh nhầu một trận cho xong, ra sao thì ra. Không có gì khổ cho bằng chờ đợi trong tinh thần căng thẳng. Pháo bắn vòng cầu, từ trên trời rơi xuống. Rớt trúng cái hố nào, người trong hố đó vong mạng. Chui rúc trong hang cũng cảm thấy không an toàn. Mỗi lần nghe bên kia biên giới, có tiếng vọng um, um, um… của súng cối, chúng tôi chạy vội về vị trí của mình, nhảy xuống hố ngồi nín thở. Cũng vừa kịp lúc đạn pháo nổ ầm, ầm, ầm…, vang động cả vùng đồi Sóc Con Trăng. Những lần núp pháo như thế, tôi thường trấn an bằng điếu thuốc. Phó mặc đời cho may rủi.
Ðể tránh bớt thiệt hại vì pháo, tiểu đoàn giảm quân số phòng thủ trên đồi. Ban ngày tung các đại đội ra hoạt động chung quanh. Ban đêm rút quân về, chừa lại một đại đội đóng quân lưu động trong rừng. Kế hoạch này có cái lợi, nếu địch tấn công mạnh vào tiểu đoàn, thì đại đội lưu động sẽ đánh bọc hậu đối phương.
Vòng đai phòng thủ, bây giờ thưa hơn, chỉ có ba đại đội. Nhưng bù lại, đạn dược dự trữ được tăng cường tối đa. Mỗi hố cá nhân, chứa sẵn một thùng hai mươi bốn quả lựu đạn, và hai thùng đạn nhỏ một ngàn viên. Với số đạn này, có thể bắn suốt đêm không lo bị thiếu. Các sĩ quan trong tiểu đoàn được dặn dò nhắc nhở anh em binh sĩ phải hết sức đề phòng. Ý định của đối phương là quần cho tiểu đoàn mệt mỏi, rồi sinh ra lơ là chểnh mảng. Ðến một lúc nào đó, sẽ bất ngờ đánh úp, diệt gọn tiểu đoàn. Lời dặn dò này, không có tác dụng gì cả. Anh em chỉ mong sớm rời khỏi Sóc Con Trăng.
Ngoài những người thương tích do những cuộc chạm súng lẻ tẻ, hoặc bị pháo kích, đã có năm ba vụ tự hủy hoại thân thể. Sống trong tinh thần căng thẳng ngày đêm không ngớt, anh em cảm thấy quá khổ sở, và dám làm những điều bất chấp hậu quả.
Trưa hôm qua. Toán tuần tiễu của trung đội tôi, báo cáo có người bị thương. Tôi vội đưa toán khác ra thay thế, cho toán cũ khiêng thương binh về. Thằng bị thương là binh nhất. Khi tôi đến, nó không nhìn mặt tôi. Nó là thằng dễ thương của trung đội, sốt sắng trong mọi công tác. Lúc y tá lau chùi sát trùng vết thương, tôi thấy xương bàn chân nó bị bể, ngón cái và ngón kế bay mất. Vết thương không nguy hiểm, nhưng sẽ bị tật sau này. Y tá băng bó xong. Nó nằm nghiêng trên chiếc brancard, quay lưng về phía tôi.
Lúc chờ trực thăng tải thương dưới chân đồi, tôi hỏi: “Tiểu đội trưởng báo cáo, mày bị thương do giẫm phải bom bi. Ðúng không?”
Nó vẫn không nhìn tôi, trả lời: “Ðúng.”
“Mày có thể qua mặt tiểu đội trưởng, nhưng không qua mặt tao được.”
Nó im lặng.
“Mày hủy hoại thân thể.”
“Không. Em đạp phải bom bi.”
Tôi cười mũi: “Tao xem vết thương, biết chắc mày rút ngòi nổ ra khỏi quả lựu đạn, kẹp ngòi nổ giữa hai ngón chân, và cho kích hỏa.”
Nó vẫn nói: “Không. Em đạp phải bom bi.”
Tôi dọa: “Thôi được. Tao sẽ báo cáo, để sau khi trị thương, mày ra trước tòa án quân sự mà hối.”
Nó quay lại. Ðôi mắt khẩn thiết nhìn tôi, van nài: “Thiếu úy ơi…”
“Không có thiếu úy con mẹ gì nữa hết. Mày muốn qua mặt tao.”
“Em lỡ dại…” Nó khóc thút thít. “Em không chịu nổi cảnh này.”
“Ừ. Thà rằng mày nói thẳng với tao như thế, còn nghe được. Nếu trước đây, mày cho tao biết ý định, tao sẽ chỉ cách cho mày. Gởi thư về, bảo người nhà đánh cái điện tín, báo cha đau mẹ chết gì đó. Rồi tao sẽ đề nghị cấp giấy phép, mày về thăm nhà. Nhân cơ hội đó, mày đào ngũ luôn. Như thế, có phải an toàn không? Còn mày hủy hoại thế này, cái chân sẽ mang tật suốt đời.”
“Thiếu úy ơi… Trong lúc quẫn trí, em làm chuyện điên rồ…” Nó nói trong nước mắt.
Tôi thông cảm với nó. Chính tôi, lúc bất mãn cũng muốn đào ngũ. Nhưng bất mãn ai? Tất cả chúng tôi đều là nạn nhân, cớ gì mà bất mãn nhau? Những kẻ mưu đồ thế lực gây nên chiến tranh, không có mặt ở nơi này. Nguyền rủa ư? Thì cứ nguyền rủa, nhưng thằng nào tự tách mình ra khỏi cái guồng máy chiến tranh khốn nạn, ắt phải thân tàn ma dại như thằng em của trung đội tôi đang nằm đây nhức nhối.
Khi trực thăng tải thương đáp xuống, nó nói: “Em đi. Thiếu úy và anh em ở lại bình yên.”
Tôi nói: “Ðược rồi. Mày về yên trí. Tao không hại mày đâu. Mày sẽ giải ngũ, và được lãnh tiền do bị thương ngoài mặt trận.”
Một đêm, cuối tháng Giêng.
Trời đất lờ mờ. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng, chỉ thấy viền cây tối ám, chắn dưới chân trời mù đục âm u. Mọi người giật mình choàng tỉnh. Ðơn vị bị pháo dữ dội. Không phải bằng súng cối 82 ly, mà bằng nhiều khẩu đại pháo từ bên kia biên giới bắn sang. Ðồng thời các toán tiền đồn báo cáo, trong rừng có nhiều tiếng động bất thường. Tiểu đoàn ra lệnh thu hồi gấp rút tiền đồn trở về, tăng cường thêm quân số phòng thủ.
Ðây là lần đầu tiên, địch pháo kích ban đêm. Cường độ pháo thật khủng khiếp, nhưng một nửa đạn pháo lọt ra ngoài kháng tuyến. Tuy thế, mặt phòng thủ phía đông cũng tan nát, gần như tê liệt. Nhiều người chết và bị thương. Tiểu đoàn cho trung đội trừ bị từ đỉnh đồi, xuống trám ngay lỗ hổng phòng tuyến. Hỏa châu sáng rực bầu trời, cùng lúc với pháo yểm cho tiểu đoàn, vây một hàng rào sấm sét quanh chân đồi. Dưới ánh sáng hỏa châu, lớp lớp địch quân liều chết xông qua lằn ranh đạn pháo, và gãy gục khi chưa tới được phòng tuyến. Một trận thư hùng chờ đợi bấy lâu, có phải là đây? Tôi bắn liên thanh, rà đạn sát đất. Lựu đạn ném ra, cản bớt lớp người xông tới. Mùi thuốc súng nồng lên mũi. Tôi thở hổn hển. Tinh thần căng thẳng cùng tột. Hai bàn tay run lẩy bẩy mỗi lần rút chốt lựu đạn. Trước khí thế cường địch, tôi mất bình tĩnh. Tôi nghe nhiều tiếng la “Xung phong… G…i…ế…t” Tiếng “giết” kéo dài đẫm mùi máu, làm rợn xương sống. Giờ phút này, không bỏ chạy đi đâu được. Thằng nào phóng lên khỏi hố cá nhân, là tự phơi thân cho địch bắn. Chết sống gì cũng phải nằm lại đây. Và bắn. Và tung lựu đạn. Dọc theo công sự phòng thủ, nhiều chỗ bị B40 phá tanh banh bao cát chắn đạn. Nếu cứ cái đà xung phong ồ ạt này tiếp diễn mãi, địch quân sẽ tràn ngập vị trí.
Sau mấy đợt xung phong, không chọc thủng được phòng tuyến, đối phương ngừng tấn công, chỉnh đốn lại hàng ngũ. Trong khi đó, chúng tôi chịu thêm trận pháo thứ hai của địch, từ bên kia biên giới rót sang, khốc liệt hơn. Lần này, đối phương điều chỉnh lại tọa độ thật chính xác. Pháo rớt ngay đỉnh đồi. Bộ chỉ huy tiểu đoàn lãnh đủ. Tôi bò đi kiểm soát từng hố cá nhân, dọc theo phòng tuyến trung đội. Những người tử thương được lôi ra khỏi hố cá nhân, tôi điều động anh em khác thế vào. Những thương binh, phải tự băng bó vết thương của mình. Y tá trung đội đang quằn quại trên vũng máu. Thằng Ngô tân binh, nó đang hấp tấp nạp thêm đạn vào các băng trống.
Tôi hỏi: “Trung sĩ Nẫm bỏ phòng tuyến đi đâu rồi?”
Nó không trả lời, đưa ngón tay chỉ qua hố bên cạnh. Một cái xác úp mặt, nằm nửa trên nửa dưới hố cá nhân.
Tôi trấn an: “Mày đừng di chuyển khỏi chỗ này. Cứ ngồi đây. Không sao đâu.”
Nó nói như van: “Thiếu úy ở đây với em.”
Tôi làm bộ không nghe, tiếp tục bò đi kiểm soát trung đội.
Gặp tiểu đội phó, tôi dặn: “Trung sĩ Nẫm tiêu tùng rồi, mày ráng lo cho anh em tiểu đội.”
Tôi chưa kịp quay về vị trí, đối phương mở cuộc tấn công lần thứ hai. Tôi nhào xuống cái hố của một thương binh. Thằng này không còn đủ sức chiến đấu nữa. Tôi giật cây súng, đẩy nó ngã lăn ra phía sau lưng. Bị chạm vết thương, nó đau đớn kêu trời. Tôi không còn thì giờ quan tâm đến nó. Trước kháng tuyến, từng đợt, từng đợt xung phong. Tôi bắn như điên khùng. Lựu đạn nổ sát phòng tuyến. Lớp này gục xuống, lại thấy lớp khác tràn lên. Sau lần thứ nhất bị tấn công, nhiều người trong đơn vị bị loại khỏi vòng chiến. Quân số khiển dụng còn lại ít hơn. Khả năng phòng thủ cũng yếu hơn. Tôi lo phòng tuyến bị vỡ. Theo kế hoạch dự trù, khi đối phương tràn ngập vị trí, pháo binh sẽ bắn nổ chụp ngay trên đầu, đạn nổ cao, cách mặt đất mười lăm thước. Miểng pháo tạt xuống. Mà miểng pháo thì đâu có phân biệt bạn thù. Và như thế, hai bên cùng chết. Không biết phía bên kia đồi, phòng tuyến bị vỡ hay chưa? Ðơn vị còn cầm cự được bao lâu? Trước sau gì, cũng bỏ mạng trên ngọn đồi này. Mồ hôi tôi ướt mặt. Bị đẩy tới đường cùng rồi. Tôi bắn, Tôi ném lựu đạn. Tôi thở dồn dập. Tôi cắn răng. Hình như tôi có gào thét những tiếng vô nghĩa gì đó. Tao chết, thì mày cũng phải chết. Thiên địa đêm nay nhập lại. Bạn thù chung cuộc tử sinh.
Ðang trong tình trạng tuyệt vọng, bỗng có tiếng phản lực cơ gầm rú trên không. Lẫn trong tiếng súng, tôi nghe nhiều tiếng la mừng rỡ của anh em đồng đội. Trái bom napan đầu tiên trải một thảm lửa dưới chân đồi. Ðối phương núng thế thấy rõ. Chúng tôi lên tinh thần. Chiến đấu bình tĩnh, và có hiệu quả hơn. Trước phòng tuyến, địch quân dội ngược. Những trái bom tiếp theo làm thành vòng đai lửa sát bìa rừng, quanh đồi Sóc Con Trăng. Phi tuần phản lực vừa dứt, thì trực thăng vào vùng. Rocket và đại liên nã xuống những luồng đạn lửa. Phòng không của địch bắn lên. Ðạn lửa vẽ lên bầu trời những lằn đỏ đan chéo vào nhau. Tôi thấy nhiều địch quân quay lưng, chạy tháo lui. Họ không còn cơ hội thoát thân nữa. Tất cả đều ngã xuống trước tầm hỏa lực từ phòng tuyến bắn ra, trực thăng bắn xuống. Ðối phương đang lo chống trả với những con diều hâu hung dữ, không còn áp đảo tiểu đoàn. Súng phòng không hướng lên trời. Hỏa tiễn AT3 nổ lùm bùm trên không như pháo bông ngày lễ. Ðã có hai chiếc trực thăng trúng đạn phòng không, chúi đầu xuống phía rừng xa xa.
Từ máy truyền tin, tôi nghe ông tiểu đoàn trưởng điều động đại đội đang nằm trong rừng, dàn quân làm nút chặn, ngăn đường rút lui của địch.
Từ giờ phút ấy trở đi, truy địch là nhiệm vụ của Không Quân. Nhiều phi tuần phản lực lên vùng oanh kích. Tôi nghe tiếng bom gầm càng lúc càng xa dần, về phía biên giới.
Sáng ra. Khi đang bận rộn sắp xếp việc tải thương, tôi chợt nghĩ đến thằng Ngô tân binh. Ngó
quanh, không thấy. Tôi hỏi tiểu đội phó của nó: “Thằng Ngô đâu rồi?”
Tiểu đội phó chỉ vào tấm poncho đậy tử thi. Nó không chờ cái giấy phép mà tôi đã hứa cho về thăm nhà, sau khi rời khỏi Sóc Con Trăng. Nó đi trước, bằng con đường khác.
Mặt trời lên cao. Những chuyến trực thăng tải thương đã hoàn tất. Quang cảnh trên đồi, trông điêu tàn thê thảm. Công sự phòng thủ bị phá vỡ nhiều nơi. Poncho, nón sắt, quần áo vấy máu còn bỏ rải rác, chẳng ai buồn dọn dẹp. Người nào cũng xác xơ tơi tả, mệt mỏi bơ phờ.
Trời đứng bóng, phái đoàn của những ông lớn xuống Sóc Con Trăng, thị sát chiến trường. Họ mặc đồ nhà binh ủi hồ thẳng nếp, mắt đeo kính râm, tay cầm ba toong, đi dọc theo phòng tuyến. Họ chỉ trỏ, bàn tán với nhau. Không hỏi han hoặc nói chuyện với anh em chúng tôi. Họ cho ông tiểu đoàn trưởng biết, theo tin tình báo, địch đem ba tiểu đoàn công hãm Sóc Con Trăng. Giờ này, biết điều đó cũng vô ích. Tin tình báo, bao giờ cũng là tin trễ. Các ông lớn rất chú ý đến con số thương vong của địch bỏ lại ngoài vòng đai, và một số khác bỏ thây trong rừng chưa kiểm được. Còn tổn thất của tiểu đoàn, họ không mấy quan tâm.
Lúc họ đi khỏi, thì trực thăng “đại lực sĩ ngựa trời” câu hai chiếc xe ủi đất màu vàng, đem đến Sóc Con Trăng. Một chiếc ủi những cái hố dài, sát bìa rừng. Chiếc khác, ủi xác người hất xuống hố. Họ rải lên xác một lớp bột sát trùng màu trắng, và lấp lại. Hai chiếc xe ủi chạy tới chạy lui, nện bằng mặt đất. Thời gian sẽ làm cỏ tranh mọc cao lên trên những nấm mồ tập thể. Như những cái nền nhà cũ của một thời xa xăm, đã hoàn toàn mất dấu.
Sớm mai. Ðứng trên đồi nhìn ra bìa rừng. Vẫn thấy sương mù kéo một vệt dài trắng xóa, che khuất ngàn cây. Mặt trời lên. Sương tan. Cảnh vật hiện ra rõ nét. Một vạt rừng bị cháy nám. Nhiều nơi cây cối xác xơ gãy đổ. Thiên nhiên bao giờ cũng im lìm, và tự làm lành những vết thương. Chỉ có con người, khi đã mất mát thì không thể nào tìm lại được sự bù đắp.
Những ngày sau trận đánh.
Chiều chiều. Ông thượng sĩ già trung đội phó Mai Chò Gãi thường đứng bâng khuâng trên đồi Sóc Con Trăng. Ông là người Nùng Việt Bắc di cư.
Tôi hỏi: “Có phải ông đang nhớ về rừng núi Lai Châu?”
Ông cười buồn, hỏi lại tôi câu khác: “Thiếu úy tin con người có linh hồn không?”
Tôi nói: “Tôi tin.”
“Tôi cũng tin thế. Những chiếc nón sắt bỏ lại của người ra đi, hình như còn phảng phất linh hồn của anh em vấn vương chiếc nón.” Ông đưa ngón tay chỉ. “Thử chú tâm nhìn cái nón sắt lật ngửa, đằng kia.”
“Nhìn nó, tôi nghĩ đến người ra đi.”
“Không cảm nhận được gì khác?”
“Không.” Tôi lắc đầu.
Ông bảo: “Tôi có cảm giác rất mơ hồ rằng, linh hồn anh em vẫn còn quanh đây, trên ngọn đồi này.”
Sau một hồi trầm ngâm tư lự, ông nói: “Hồi trẻ, tôi tưởng điều gì cũng biết. Khi về già, thấy rằng có những điều mình không thể hiểu.”
“Ông muốn nói vấn đề gì nữa đây?”
“Bao nhiêu năm đi lính, sát phạt đã nhiều. Những người chưa từng quen biết, không hề ân oán, vừa chạm mặt là ra tay bắn giết nhau. Nghĩ cũng lạ! Chẳng biết phía bên kia, họ có thù mình không?”
Tôi nói: “Ông thắc mắc những vấn đề kỳ cục. Cứ hãy tưởng tượng vào thời trung cổ, người ta đưa hai tên giác đấu lên đài. Với điều kiện, sau trận đấu, chỉ còn một tên được quyền sống sót. Ðặt mình vào hoàn cảnh tên giác đấu, ông phải làm sao?”
Thượng sĩ Mai Chò Gãi khẳng định: “Giết đối thủ.”
“Ðấy. Những thằng đi trận của cả hai phe, đều ở vào cái thế của tên giác đấu. Mình không giết nó, nó giết mình. Ðâu cần chi phải hận thù?”

Lâm Chương

Vượt Đại Tây Dương

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 14 Jul 2026

Sáng sớm vừa vẹt màn cửa sổ, một quang cảnh tuyệt vời liền ập vào mắt tôi. Ngoài khung cửa kiếng, những con tàu đậu bên kè đá còn lờ mờ trong ánh sáng mai và chơn trời Đông nhuộm màu than cháy. Tôi vội quay ngang lấy chiếc điện thoại thông minh trên bàn, bấm phần camera, mở cửa đi nhanh ra sau lái, đưa máy nhắm về chơn trời Đông hực màu ráng đỏ và bấm liền vài ba tấm. Chụp xong tôi mới phát hiện chim nhàn bay rợp không gian và đậu trắng trên bến cảng, tiếng kêu chót chét om xòm trời đất nghe không hay ho gì hết, trong thơ ca các vị thi sĩ nhạc sĩ gọi chim nhàn là Hải Âu và họ chỉ tả về sắc trắng duyên dáng của loài chim gắn liền với biển trời nhưng không có ai diễn tả về tiếng kêu, có lẽ tiếng kêu của loài Hải Âu quá tệ nên trong thơ ca không nhắc tới. Tôi đưa máy lên chụp bầy chim lớp bay lớp đậu giữa lúc trời còn tranh tối tranh sáng. Khi thấy chim nhàn tụ về đất liền đông đảo, người mang nghiệp sông nước biết liền đó là báo hiệu ngoài khơi có gió to sóng lớn. Trời vừa sáng trắng thì mây đen lại kéo về chuẩn bị cho cơn mưa, thời tiết thay đổi thất thường làm tôi tưởng nhớ tới quê hương, lạ thật, lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác nhớ quê. Quê hương tôi hướng mặt ra biển, thường vào những buổi chiều đẹp, phía trời Tây nhuộm đỏ một màu, đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy ráng đỏ lúc bình minh và trời chuyển cơn mưa sáng gợi cho tôi nhớ lại đầu mùa gió nam và cũng là mùa tôm bạc rại. Nỗi nhớ nhung chỉ thoáng qua tâm trí nhưng nó đã khiến lòng tôi xôn xao và lưu luyến buổi sáng tuyệt vời.

Trời bắt đầu mưa lắc rắc và cũng đã tới giờ làm việc, tôi trở vào phòng cất máy, vô buồng tắm đánh răng, rửa mặt, thay quần áo và bắt đầu công việc hàng ngày của một đầu biếp tàu viễn dương. Trong lúc sửa soạn cho buổi ăn sáng, thuyền trưởng tới nói với tôi:

– Ông xem lại thực phẩm, nếu còn thiếu gì thì mua thêm tại đây, sang Nam Mỹ không mua được đâu.

– Yes sir!

Tàu khởi hành từ cảng Rotterdam Hòa Lan, sau đó sang Anwerpen bên Bỉ, xuống thêm hàng rồi qua Bilbao vùng cực bắc Tây Ban Nha, nơi đây họ xuống thêm containers, đây là cảng cuối cùng ở Âu Châu. Khuya nay tàu sẽ khởi hành qua Nam Mỹ, qua đó còn ghé nhiều cảng lên hàng và xuống hàng, chưa biết bao lâu mới trở về Âu Châu. Thuyền trưởng nói bên Nam Mỹ đồ ăn chất lượng kém và nhiều chứng bịnh truyền nhiễm vùng nhiệt đới nên không phải cảng nào cũng được phép mua thức ăn. Chuyện này thiệt tình tôi không hiểu nổi, nhiều năm trước, mỗi lần sang Nam Mỹ hay trên những tuyến đường đường xa, trên tàu hết rau cải, trái cây tươi và trứng, thuyền trưởng đưa tiền cho tôi lên chợ mua thêm. Bây giờ bày ra chuyện an toàn thực phẩm cho có vẻ nhân đạo một chút, nhưng dù gì đi nữa thì đây cũng là một cái cớ cho công ty tiết kiệm được một khoản tiền.

Tôi lấy đơn nhận hàng hôm ở Rotterdam xem lại mới phát hiện thiếu muối và dấm. Cho chắc ăn, tôi xuống kho kiểm lại thực thẩm lần nữa, những thứ cần thiết như ngũ cốc, đồ đông đá, đồ khô, đồ hộp đầy đủ trên hai tháng. Rau, củ và trái cây tươi ăn từ Rotterdam qua đây có hao hụt chút đỉnh nhưng không sao, dù gì đi nữa đồ ăn tươi cũng không giữ được lâu hơn một tháng, trên tàu ăn rau cải đông đá là chuyện thường. Dấm thiếu thì có thể châm chế được, cần lắm thì lấy chanh hoặc lấy dấm ngâm dưa chua thay thế, muối coi vậy mà thiếu nó thì nấu nướng còn có ra gì. Tôi sắp xếp công việc buổi sáng gọn gàng để giấc trưa dư nhiều thời gian có thể lên chợ mua thêm mớ đồ dùng cá nhân và vài ký lô muối.

Sau cơn mưa ngày dứt, tôi rời tàu, đi theo con đường dưới chơn núi và hướng về trung tâm khu phố nhỏ gần bến cảng. Bilbao là một thành phố lớn của tỉnh Biscay miền bắc Tây Ban Nha, thuộc xứ Basque có bãi biển nối dài liền qua nhiều tỉnh trong vịnh Biscay, hướng ra phía Bắc Đại Tây Dương, nước sâu và lạnh nên khách du lịch tới đây tắm biển không đông. Tuy nhiên nơi đây rất lý tưởng cho những du thuyền đến nghỉ ngơi và ngoạn cảnh. Những con đường ven biển của vương quốc Tây Ban Nha thiết kế gần giống nhau, một con đường rộng lót gạch sạch sẽ, dành cho người đi bộ, lề trong con đường trồng cây thốt nốt ngay hàng thẳng lối, từng khoảng trống dưới gốc có đặt những băng đá dành cho người đi bộ nghỉ chưn, bên ngoài con đường là một bờ biển dài có bến đậu cho những chiếc du thuyền. Bây giờ là mùa thu, không thích hợp cho khách đi thuyền, nên nhiều chiếc đã xếp buồm đậu san sát nhau chung một bến.

Thả tà tà một lát đã tới ngã quẹo vào công viên khu chợ. Tôi lưỡng lự, không biết nên vô siêu thị trước hay đi dạo phố trước? Suy đi tính lại, thời gian nghỉ trưa của tôi còn lâu, mua đồ xách theo vướng bận tay chưn. Lâu lắm rồi tôi mới trở lại cảng Bilbao thì cũng nên đi dạo chơi và xem lại những con đường, những quán nước và xem hoa lá cành trong khu phố nhỏ. Khỏi nghĩ ngợi lôi thôi tôi quẹo vô khu phố, vừa tới đầu đường cạnh công viên, liền nghe tiếng đờn ghi ta rộn rã. Dưới gốc cây thốt nốt, một anh ca hát dạo ngồi trên chiếc xe lăn, tay ôm cây ghi ta vừa đờn vừa hát. Tôi dừng lại móc bóp mở ngăn tiền lẻ bước tới trút hết số tiền cắc vô chiếc bao đờn lật ngửa trước mặt và đứng xem anh hát. Văn hoá Tây Ban Nha và Nam Mỹ mật thiết với nhau, cho nên loại nhạc vui vẻ này tôi cũng thường nghe ở nhiều quốc gia bên Nam Mỹ.

Thưởng thức xong bản nhạc tôi tiếp tục đi, anh nhạc sĩ vẫn chăm chú vô bản nhạc kế tiếp như chỉ có mình anh và trời đất chung quanh. Mưa lại rỉ rả làm cây cỏ lá hoa ướt mèm. Trong khí trời lành lạnh, người đi phố thưa thớt, tiệm, quán và phố xá không nhộn nhịp như những ngày hè. Tôi vô một quán nước vắng người, mua một ly bia, ngồi nhâm nhi ly bia lạnh, tự dưng trong dạ bồn chồn nhớ tới già Luis, quê hương già cũng ở trong vịnh Biscay này. Nhiều năm về trước, tôi với già thường la cà thâu đêm trong những quán nhậu bên góc phố kia, cũng trong quán đó, tôi đụng phải mấy tên lại cái, nếu không có già can thiệp chắc bọn chúng đập tôi một trận nhừ tử và móc sạch túi. Nhớ tới già tôi liên tưởng tới một con người kỳ dị, mình đầy lông và râu phủ gần hết khuôn mặt, đi tới xứ nóng già bận quần jeans cắt ống ngang đầu gối tua tủa, phơi lưng trần và lúc nào bên hông cũng mang con dao găm, con cá chuồn nào xấu số bay đáp nhằm boong tàu, nhảy lạch bạch trước mặt già, lập tức một tay già thộp con cá, một tay móc dao găm ra và đè con cá lên thành tàu, cắt cổ lóc thịt bỏ vô miệng xơi tái ngay. Thời gian tôi còn trẻ và ông còn khoẻ, chúng tôi thường hải hành sang Nam Mỹ, vùng này nhiều quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha, ghé cảng nào chúng tôi cũng đi chơi chung, nhờ có già thông dịch, tôi khỏi phải huơ tay ra dấu mỗi khi tiếp chuyện với người bản xứ, nói chung già lúc nào cũng muốn giúp đỡ và che chở tôi. Ấy vậy mà tôi thường có thái độ bất kính với già, có khi chưởi già không ra gì, được cái là dù cãi nhau ầm ĩ, có khi muốn đánh nhau, nhưng qua rồi thì già vẫn vui vẻ chia xẻ và chỉ dẫn tôi kinh nghiệm sống. Cũng tại thị trấn ven biển này, già giới thiệu món Pintxo của Bilbao, được xiên lại bằng cọng tăm tre, cầm tay ăn không cần dao, nĩa. Pintxo nhậu rượu nho hoặc bia rất bắt.

Năm trước già nghỉ hưu, lúc chia tay già tới ôm tôi nghẹn ngào nói:

– Tao không còn cơ hội đi nữa, mày tiếp tục đi cho thiệt tốt, thiệt tốt… giữ gìn sức khoẻ…

Đi cho thiệt tốt nghĩa là sao? Già vừa khóc vừa nói chẳng ra đầu ra đuôi làm tôi hổng hiểu gì ráo. Nhìn nước mắt già ràn rụa, tôi không nói được lời nào, bèn cúi xuống xách phụ già chiếc va li rồi tiễn chưn già lên bến.

Khuya nay tàu khởi hành, thủy thủ đoàn toàn là ma mới, sóng lên thì đã có người ói mửa. Chuyến này sang Nam Mỹ, hổng có già tôi thiếu đi một bạn đồng hành. Nhìn ngoài trời mưa rơi, tôi bỗng thấy mình đơn độc, hớp một hớp bia, bia gì mà đắng nghét.

Ra khơi

Mấy hôm đầu tàu còn trong vịnh Biscay mưa ngập trời, gió cấp sáu, cấp bảy quật con tàu dài một trăm hai chục thước, trọng tải trên mười ngàn tấn vừa lắc vừa nhồi làm Jurre, thằng nhỏ sinh viên theo thực tập, và đám thủy thủ In Đô ngóc đầu không nổi. Trong đời làm thủy thủ, thỉnh thoảng tôi gặp một vài người mỗi khi gió lên, say sóng, sợ hãi, nhớ nhà, kể lể khóc than, đây là lần đầu tiên tôi thấy cả đám thủy thủ say sóng nằm la liệt và ói mửa tùm lum. Thuyền trưởng, thuyền phó, phụ thuyền phó, thợ máy chánh, phụ máy và tôi đã gắn liền với đại dương lâu năm nên vật vã với sóng to gió lớn có hơi mệt mỏi nhưng không đáng ngại.

Mấy ngày qua tôi chỉ nấu được món stampot, stampot là món ăn truyền thống của người Hòa Lan, trên tàu nó rất thuận tiện cho những ngày biển động. Thực hiện món stampot chỉ cần gọt vỏ khoai tây và luộc khoai cho mềm dầm cho nhuyễn trộn chung với cải soắn (boerenkool) hoặc bắp cải trắng chua (zuurkool) gia vị thêm nootmuskaat, sữa, bơ, muối… Nếu đem khoai dầm trộn với cà rốt luộc mềm và củ hành xắt nhỏ xào cho thơm trộn chung thì stampot được gọi là hutspot, tuy nhiên hutspot hay stampot cũng ăn chung với dồi ung khói (rookworst) hâm nóng và thịt ba chỉ cắt lát mỏng chiên dòn. Sáng nay gió cấp ba, gió mùa thu, dậy lên những con sóng đủ đẩy đưa con tàu bồng bềnh. Tôi bước ra boong khi biển còn tối om và sao trên trời chỉ còn vài mống. Tàu trực chỉ về hướng Tây Nam, từ hải cảng Bilbao sang Cuba nếu biển im thì hải hành mất mười lăm ngày, biển động lâu hơn. Từ hôm rời Bilbao tới nay đã năm ngày trôi qua và tàu cũng đã đi qua hai múi giờ. Giông gió đã qua rồi, thủy thủ đoàn tuy còn mệt mỏi nhưng cũng phải làm việc, làm để lấy lại sức. Thằng Idnul to con nhưng hơi lười biếng và làm việc thì hay càu nhàu, được phân công lau chùi trong tàu, nó vừa bò vừa lết quọt quẹt được một lát thì đã nằm dài trên băng, nùi giẻ một nơi, cây chổi một nẻo, sô nước lật đổ tùm lum. Thuyền phó kêu nó dậy làm việc. Nó nói:

– Chừng nào ông làm cho biển im thì tui sẽ làm việc.

Thuyền phó chửi thề và day qua tôi chỉ tay ra khung cửa kiếng, nói:

– Ông coi, biển như vậy mà nó nói biển động.

Tôi cười và gật gật đầu nói:

– Biển không động, nhưng trong đầu nó động.

Tuy miệng thì càu nhàu nhưng Idnul cũng rán sức bò dậy cầm nùi giẻ lau sàn tàu. Thấy thằng nhỏ thê thảm quá, tôi tới lấy cái sô nằm lăn lóc trong góc và giúp nó lau khô chỗ nước đổ. Giọng Idnul yếu ớt như đàn bà mới đẻ:

– Chú có say sóng không?

Tôi nói:

– Tao nghĩ, hổng nhiều thì ít người nào cũng say.

– Sao thấy chú tỉnh bơ vậy?

– Mấy ngày đầu tao cũng mệt nhưng vì việc làm phải rán chịu cho qua.

– Hồi mới bắt đầu làm thủy thủ chú có say sóng không?

– Có chớ, ói tới mật xanh luôn.

– Vậy có cách nào hết say không chú?

– Chỉ có cách làm việc cho quên.

Tôi vô bếp lấy ra đưa nó một gói bánh mì dòn và dặn:

– Mầy ra ngoài boong tìm việc gì đó làm đi, tôi chỉ tay xuống sàn còn tèm lem vết bẩn nói, chỗ này để tao giúp cho, mày có ói thì cứ ói, ói xong thì ăn vô, uống nước ít lại, đừng nằm lì riết rồi thành quen.

Idnul cầm bọc bánh, cám ơn rồi đi ra ngoài.

Suốt mấy ngày nay mây bạc phủ khắp bầu trời, mặt trời ẩn sau đám mây trắng tỏa ra ánh sáng chói loà làm lợt lạt màu xanh của nền trời, những tia nắng bạc chen theo kẽ mây xám chiếu xuống mặt biển như những ngọn đèn pha, biển dạt dào sóng và con tàu thì vẫn cứ lắc lư. Thủy thủ đã lấy lại được thăng bằng và trở lại ăn, uống bình thường, nghĩa là ăn rất nhiều. Thuyền trưởng khó chịu về cách ăn uống mấy người Nga và Ucraina, ông kêu riêng tôi lên phòng và đưa ra quy định, một tuần mỗi người được bốn trứng gà; mật ong, mứt trái cây, sô cô la mỗi thứ một keo, mỗi keo bốn trăm năm mươi gram; nước trái cây mỗi ngày một lít nước táo, một lít nước cam, một lít nước trái cây hỗn hợp và một lít sữa. Buổi trưa mỗi đầu người một trăm gram thịt, buổi sáng, buổi chiều ăn bánh mì, thịt nguội và phó mát, không được nấu thêm món gì khác.

Tôi biết viên thuyền trưởng hồi ông còn làm thuyền phó, lúc đó còn trẻ, khoẻ mạnh ông ăn uống rất bạo và nhiều lần ông cãi cọ với thuyền trưởng về chuyện ăn uống, có lần vô bếp cự nự làm đầu bếp tức giận phang cho cái tách xém chút lỗ đầu. Từ khi ông lên thuyền trưởng, ngồi chỉ tay năm ngón nhiều hơn vận động, sợ béo phì ông ăn ít lại và không muốn người khác ăn nhiều hơn ông. Thiệt ra thì ăn nhiều là thói thường của thủy thủ trẻ còn sung sức, dù là người của bất cứ nước nào, chớ hổng riêng gì người Nga hay Ucraina. Tôi thấy cách tính toán của ông hổng ổn, mới đề nghị:

– Buổi sáng, buổi trưa thì tạm được, buổi chiều ông phải cho thêm một món gì nữa, ông cho ăn kiểu này trong vòng một tháng thịt nguội và phó mát sẽ hết sạch.

Thấy ông nhìn xuống lưỡng lự, tôi tưởng ông đồng ý cho thêm, nào ngờ ông ngước lên nói:

– Ông dọn phó mát thì không thịt nguội, thịt nguội thì không phó mát.

Rồi ông gạt tay dứt khoát:

– Thằng nào ọ ẹ ông cho tôi biết.

Chuyện thức ăn trên tàu thừa mứa, ăn không hết, đổ bỏ tôi đã ý thức được từ khi còn là thủy thủ. Khi tôi làm bếp, muốn tránh phung phí, chỉ còn cách chịu khó học hỏi cách bảo quản thức ăn và chú ý những thực đơn được nhiều người ưa chuộng. Hơn nữa thực phẩm trên tàu thường là những thứ gần hết hạn, chuyến nào đi chung thuyền trưởng như ông, mỗi khi tụi kiểm tra thực phẩm xuống kiểm, những thứ hết hạn bị liệng bỏ trông mà xót ruột. Tôi nói:

– Ọ ẹ thì hổng có đâu, dù sao đồ ăn cũ cũng còn nhiều, ông hổng cho người ta ăn, lần nào tụi kiểm tra thực phẩm xuống kiểm, bắt gặp đồ ăn quá hạn phải đổ bỏ.

Ông lạnh lùng biểu môi, nhún vai, nói:

– Bỏ thì bỏ.

Trước kia gặp chuyện bất bình tôi hay cãi lại hoặc ra mặt thách thức, mặt dù ông lạm quyền cho thoả mãn lòng ganh tị cá nhân, nhưng thuyền trưởng là cha mẹ mà, mích lòng ông không tốt lắm đâu. Hơn nữa, tôi đã từng chứng kiến biết bao nghịch cảnh lớn lao trong đời thì ba cái chuyện ăn uống có đáng gì đâu. Đời mà, cá ăn kiến thì có ngày kiến cũng ăn cá, người Nga cũng đâu phải hiền.  Tôi đã từng chứng kiến người Hòa Lan sang Nga bị đánh sưng mặt hoài. Cho nên thuyền trưởng nói cái gì tôi cũng “yes sir”, rồi sau đó tôi vẫn làm việc bình thường. Ông ta nói cho bỏ ghét thôi chớ đời nào xách cân xuống bếp cân từng miếng thịt, miếng cá. Còn thức ăn nguội như dăm bông, phó mát có thiếu cũng không sao. Mứt và sô cô la trong keo khi nào tôi thấy gần hết thì châm thêm cho đủ ăn trong tuần. Thiệt tình mà nói thì người Nga và Ucraina họ ăn không mấy gọn gàng, lấy phần ăn lúc nào cũng dư ăn không hết đổ bỏ. Người Hòa Lan ăn uống gọn gàng hơn và lấy phần ăn lúc nào cũng vừa đủ, họ ăn xong cái dĩa sạch trơn, ngoại trừ những tên hổng bình thường ra, không khi nào thấy họ bỏ thức ăn. Người Hòa Lan phần đông uống bia, nhiều thuyền trưởng có thể ngồi uống từ mười hai giờ trưa cho tới bốn năm giờ chiều, thuyền trưởng uống thì nguyên cả nhóm officers cùng uống, uống bia trừ cơm và khỏi làm việc.Trong khi đó vài người Nga có tật uống rượu say hay quậy phá hoặc bỏ bê công việc thì bị cấm, mấy năm sau này trên tàu không chứa rượu mạnh nữa, nhưng bia thì lúc nào cũng đầy đủ. Sau hai tuần hải hành, chỉ thấy xa xa vài biểu hiện tàu lấm chấm trên màn ra đa, tuyệt nhiên không thấy bóng một chiếc tàu nào chạy cùng tuyến. Càng tiến dần qua Nam Mỹ khí trời càng ấm áp. Đêm trăng soi lung linh, dìu dịu man mác, ngày nắng nóng.

Sáng nay tàu vô hải phận Caribbean, nghe mùi hăng hăng của đất liền người nào cũng thức sớm, vô phòng ăn rót cà phê rồi bưng ra boong ngong ngóng trời mây, chỉ có vậy thôi mà người nào cũng háo hức và có người bỏ luôn bữa ăn sáng. Nam Mỹ cách Âu Châu năm giờ trừ, vậy là tàu đi được mười bốn ngày rồi. Thuyền trưởng ăn sáng xong ghé mặt vô phòng bếp nói:

– Còn ba ngày nữa tàu sẽ tới Curaçao:

– Vậy à.

Thuyền trưởng đi rồi, Jurre hấp tấp đi vô kéo tay tôi:

– Ông qua đây.

– Cái gì vậy mậy?

Hỏi vậy thôi nhưng tôi cũng bước theo, chưa tới cửa phòng ăn đã nghe từ bên trong vang vang tiếng nhạc, vừa bước vô phòng đã thấy mấy chai bia mới khui để trên bàn và hai thằng In Đô và hai thằng Nga đứng lắc theo tiếng nhạc. Jurre buông tay tôi ra và nhào vô vừa lắc lắc giựt giựt vừa hấp tấp nói:

– Bắt được radio từ đất liền rồi.

– Ồ, hèn chi…

Nhạc Nam Mỹ thường rộn rã, vui tươi nhưng không ồn, hễ nghe trổi lên tức thì con gái lắc lắc cái mông, con trai cẳng chưn giựt giựt, nhứt là bản Lambada lúc nào nghe cũng nhộn nhip. Aryadi ngưng lắc cầm chai bia đưa qua tôi. Tôi cũng giựt giựt theo mấy cái và nói:

– Mới tảng sáng mà sung vậy sao?

– Hôm nay Chủ Nhựt mà.

Tôi khoác tay:

– Tụi mày chơi đi, tao còn phải làm việc.

Thật ra trên tàu tôi không dùng bia rượu với lại tôi còn phải ướp mấy con gà, Chủ Nhựt trên tàu thường ăn gà đút lò.

Tới giờ cà phê chỉ có Slovan, thợ máy người Ucraina tới rót một tách và lấy bánh ngọt đi ra ngoài. Tôi cũng lấy miếng bánh ngọt và tách cà phê rồi cũng đi ra ngoài, trong tàu có máy điều hoà không khí, vừa mở cửa ra, không khí miền nhiệt đới hắt vào mặt. Tôi hô:

– Nóng quá.

Slovan đương đứng nhâm nhi cà phê và nhìn trời nhìn mây sau lái thấy tôi bước ra hắn day lại nói:

– Ba mươi tám độ C.

– Nóng, nhưng biển đẹp quá.

Tôi đi tới đứng cạnh Slovan nhìn mặt biển im lìm, trong không khí thoang thoảng mùi hăng hăng của đất liền, xa xa vài hải đảo in đậm trên mặt nước xanh và bầu trời trong vắt.

Slovan hỏi tôi:

– Ông thường qua Nam Mỹ, ông thấy thế nào?

Câu hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một lát, tôi hỏi lại:

– Ông muốn hỏi về chuyện gì?

– Đời sống và con người.

– Nói hết ra thì nhiều lắm, nhưng tóm lại thì những nước bên Nam Mỹ còn nghèo nhưng con người lúc nào cũng vui vẻ và con gái bên đó rất chịu chơi.

– Nghe nói bên Nam Mỹ mấy cô gái chơi hổng lấy tiền.

Phần đông người Nga ít khi vô ba uống bia và tới chỗ nào cũng tìm mua đồ giá rẻ và vô hội quán có uống rượu thì cũng uống mình ên, có ngồi chung thì mạnh ai nấy trả tiền. Slovan nhỏ hơn tôi vài tuổi, trước khi sang Âu Châu làm việc hắn làm giàn khoan dầu ở Việt Nam. Lần đầu gặp tôi hắn đưa tôi cái USB trong có đựng mấy video bài bản cổ nhạc và hỏi tôi có loại nhạc này thu mp3 không thì sang cho hắn. Tôi đem sang mấy bài tân cổ, một số bài bản như: xàng xê, xuân tình, nam ai, tứ đại oán và vài điệu lý. Từ đó tới nay ghé bến hắn thường đi chung với tôi và vô quán ăn nhậu cũng biết có qua có lại, cho nên nói chuyện với hắn tôi không cần dè dặt nữa. Tôi nhìn Slovan cười và nói:

– Chơi mà sợ tốn tiền thì cắt cu bỏ cho rồi.

Slovan khoát tay lia lịa:

– No… no… Tui nghe nói mới hỏi thôi.

– Nói chơi thôi, thật ra thì tuổi tui và ông còn gái gộc gì nữa.

Slovan định nói thêm gì đó chợt Donald từ ngoài boong phía trước đi vô, thấy tôi nó liền đi lại đứng trước mặt và nói:

– Nghe chú nói vùng này cá chuồn bay lên tàu nhiều lắm, nhưng mấy hôm nay sáng nào con cũng đi rảo quanh tàu tìm mà hổng thấy con nào hết.

À, thì ra hổm nay tôi hay nói về cá chuồn và thường nhắc tới chuyện ăn cá sống của già Luis làm thằng nhỏ khoái quá, sáng nào cũng đi ra tìm cá chuồn. Tôi nhớ có lần tàu tới vùng biển Caribbean, và cũng trong không gian yên ả như sáng nay. Tôi với già Luis đứng sau lái tàu, hôm đó không thấy già xách sô đi lượm cá chuồn, tôi hỏi già:

– Sao lần này không thấy cá chuồn?

Già chỉ tay lên khoảng không sau lái nói:

– Khi nào mày thấy trên trời hổng bóng có chim thì đưới nước cũng không có tăm cá.

– À, tôi hiểu rồi, vậy thì chim hổng có mồi để đớp và ông cũng hổng có cá chuồn tươi sống để ăn.

– Dỉ nhiên, đâu phải lúc nào cũng có cá chuồn.

Tôi lước mắt nhìn khoảng trời xanh bao la và những đám mây trắng đứng yên giữa trời không động, nhưng không thấy một bóng chim nào hết. Tôi day lại, một tay câu vai Donald một tay chỉ ra khoảng không gian sau lái, bắt chước câu nói của già Luis:

– Khi nào mày thấy trên trời hổng bóng có chim thì dưới nước cũng không có tăm cá.

Slovan chen vào nói:

– Tao nghĩ tháng này cá chuồn qua bên quần đảo In Đô tụi mày hết rồi.

Tôi nói tiếp:

– Nếu tao nhớ không lầm thì tháng Ba tháng Tư nơi đây mới là mùa cá chuồn. Vậy thì mày phải chờ tới mùa xuân mới ăn được cá chuồn tươi sống.

– Không không, con không bao giờ ăn cá sống.

Dolnald lắc đầu, le lưỡi, dùn mình một cái và vừa nói vừa day lưng định đi vô trong. Chợt bốn đứa ở trong phòng, nãy giờ nhảy nhót đã rồi, mỗi đứa tay cầm chai bia, đi ra đứng sau lái tàu và tiếp tục uống. Jurre xách theo máy chụp hình, vừa uống bia vừa nhắm ống kính chụp hải đảo và trời mây…

Nếu hôm nay nhằm mùa cá chuồn thì người xách sô đi lượm cá, người đốt lửa, rồi xúm nhau góp bia rượu ra bày tiệc, cá chuồn đem tới cứ thảy nguyên con, nguyên cánh lên lò. Cá chuồn tươi nướng bay mùi rất thơm, ăn thịt rất ngọt và rất bùi, người nào hổng thích ăn cá nướng thì cứ việc mổ cá ra lóc thịt xơi tái liền tại chỗ. Thấy mọi người cao hứng uống bia khan, tôi vô trong cắt một dĩa phó mát và kèm theo một muỗng mù tạt bưng ra để lên đầu cột trụ và nói:

– Rất tiếc, mùa này hổng có cá chuồn tươi để nhậu, vậy thì mời mọi người nhậu đỡ phó mát vậy.

Tất cả hô lên:

– Thank you… thank you…

Slovan kêu Donald vô lấy thêm bia. Nó liền đi vô bưng ra nguyên thùng bia,  khui mời mọi người rồi vui vẻ và đưa chai lên cụng…

Biết rằng tàu viễn dương hiện đại, ít gặp hiểm nguy, có đi qua biển lớn rồi cũng tới bến an toàn. Nhưng trên đại dương mênh mông, suốt hai tuần lễ tuyệt nhiên không một chiếc tàu đi cùng tuyến, làm người thủy thủ cảm thấy bé nhỏ, cô đơn và bơ vơ giữa trời nước bao la. Cho nên vừa thấy hải đảo, nghe tín hiệu ra dô và mùi vị của đất liền thoảng trong không khí thì trên mặt người nào cũng lộ rõ nét vui mừng và hớn hở nhảy nhót hát ca..

Caribbean 15-07-2015

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 14 Jul 2026

Tôi còn nhớ một câu chuyện cách đây đã gần ba mươi năm. Một ngày giá rét ở núi rừng thượng du Bắc Việt, chúng tôi một nhóm tù gồm mấy anh em đang lang thang dọc bờ suối để chặt cho đủ chỉ tiêu một bó nứa hai mươi cây. Khi đi ngang qua một ngôi nhà sàn của đồng bào thiểu số, chúng tôi nghe một bài hát vẳng lại. Đó là một bài hát quen thuộc khá bình dân, rất phổ biến ở miền Nam là bài “Một Trăm Phần Trăm” do Hùng Cường và Mai Lệ Huyền hát. Hồi ấy đã là cuối năm 1977, có lẽ đây là một cuốn băng cassette “chiến lợi phẩm” do một anh “bộ đội” dân tộc nào đó mang về cho gia đình. Bỗng dưng không ai nói ai, chúng tôi cùng chậm chân lại, rồi đứng hẳn, cùng im lặng lắng nghe. Giờ phút đó, phải nói chúng tôi uống từng lời hát, nuốt từng âm điệu, sung sướng như chưa bao giờ được nghe một bản nhạc hay như thế trong suốt cuộc đời mình. Phần tôi, trong những “ngày xưa ấy”, tôi cũng không tâm đắc gì với hai giọng hát trên và cũng không mặn nồng gì với những ca khúc tương tự. Nhưng giờ đây, đó là những điều đã mất, đó là cái gì thuộc về máu thịt của miền Nam, đó là cái gì thuộc về dĩ vãng, thuộc về kỷ niệm. Vì hiện tại là chúng tôi, những thằng tù đã mất tất cả, đang cầm mỗi đứa một con dao “tông”, đứng bên bờ suối, dưới một cái nhà sàn, thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, xa Saigon tới 1200 cây số đường chim bay. Mỗi năm Tết đến, bọn tù chúng tôi sau một buổi cơm chiều ba mươi, có bát cơm trắng và miếng thịt mỡ, ai cũng hân hoan và phấn khích thức ngủ đón Giao Thừa. Bài hát mà chúng tôi năm nào, giờ Giao Thừa cũng hát đi hát lại hằng chục lần là bài “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương. Sở dĩ bài này không thuộc loại “nhạc vàng” hay cấm kỵ, là vì bài hát có những câu “mừng anh nông phu vui lúa thơm”, người công nhân ấm no”, thì đúng đường lối cách mạng rồi. Với lại còn có thêm “mẹ già đợi con, từ lâu mong con mắt rưng rưng lệ nhòa, ngày ấy quê hương yên vui, đón anh về”, thì đã là con người, anh bộ đội hay chúng tôi thì cũng mủi lòng như nhau, ai đó cũng khóc thầm mà ai biết cho ai. Chúng tôi quây quần bên nhau cùng hát, biết hát và chưa hề hát, hát với tất cả tấm lòng, hát say sưa như chưa bao giờ hát say sưa như thế. Hát như thế là chúng tôi để cho mình trôi về dĩ vãng, như mới hôm qua, hôm kia đây. Hát để nhớ về Saigon, hát để “nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà”.

Sau này trở lại miền Nam, về với gia đình, mỗi năm bài “Ly Rượu Mừng” trong nhà hay đâu đó lại vang lên, giữa khói pháo mịt mù, lại thấy mắt mình cay vì khói pháo hay vì những giọt lệ dưới khóe mắt. Nhớ lại những ngày tháng cũ, nhớ bạn bè xa khuất hay nhớ tới thân phận mình? Phải chăng, bây giờ chúng ta ở đây có những bản nhạc, những ca khúc đã nghe từ nửa thế kỷ, vẫn rộn ràng gây xúc động biết bao cho chúng ta. Mỗi lần cuối năm Âm Lịch, những bản nhạc Xuân lại vang lên, gợi lại cho chúng ta bao nhiêu nỗi nhớ, bao nhiêu kỷ niệm. Những bản nhạc ấy chúng ta nghe đã hằng trăm lần, đã thuộc từng câu, nhớ từng nốt nhạc, nó làm chúng xúc động hơn nghìn lần một bản nhạc mới ra đời hay mới nghe đâu đây một đôi lần …

Mỗi bài hát, của riêng mỗi người đều mang theo những màu sắc, âm thanh của một ngày tháng cũ xa xưa nào đó, cho nên đối với người này bản nhạc có thể có ý nghĩa, quay quắt tuyệt vời, với người kia là tầm thường vô vị. Những ca khúc được hát lên trong một đoạn đời nào đó, sẽ được nhắc lại, vẽ lại bây giờ, đó là giai điệu của một mối tình, một hình ảnh, một tháng, một ngày, một phút giây. Khi tiếng hát được cất lên, chúng ta không nhìn ra người hát, không nhớ tới người viết. Nó là nỗi niềm riêng của mỗi người, là châu báu không thể ban cho ai. Chính những giòng nhạc đó đã tiềm ẩn sẵn đâu đó trong vùng sâu kín của tâm hồn, đang trổi dậy gọi chúng ta về với những ngày tháng cũ.

Cũng vì như thế, những tiếng hát ngày xưa mà chúng ta đã nghe quen, giờ đây tưởng chừng như tiếng thì thầm, ngọt bùi thân ái như tiếng nói của một người quen thân. Cũng vì như thế, bây giờ có những giọng hát trẻ trung, có thể “so bề tài sắc lại là phần hơn”, nhưng đối với chúng ta đó vẫn là một điều gì còn mới mẻ và hãy còn xa lạ vì thiếu một đoạn thời gian, một đoạn đường đi chung, có hạnh phúc mà cũng có khổ đau. Còn gì quí hơn một bài hát cũ, một giọng hát xưa, gợi lại những tháng ngày đã mất. Đó là một người bạn cũ, một người tri kỷ mà chúng ta có thể gởi gắm vào đó những điều thầm kín nhất của lòng mình. Mùa Xuân tha hương của những người đã bỏ xứ ra đi, của đàn chim phiêu bạt bên chân trời trong chiều nay lạnh giá. Bên những cành hoa đào, những khóm thược dược hay những chậu hoa lan, bên những khay mứt kẹo, cùng với những mâm bánh chưng bánh tét để đón những năm Tết tha hương, quả thật chúng ta không thể thiếu những dòng nhạc Xuân rộn ràng mừng Xuân đón Tết. Khi mà những ca khúc đã đi vào lòng người thì không ai có thể xóa bỏ đi. Trong những xứ mà chế độ còn hà khắc, có những bài hát người ta có thể cấm những ca sĩ hát ở nơi công cộng, người ta có thể cho những người trình diễn hát bài này hay bỏ bài kia, nhưng không ai cấm cản nỗi người ta nuôi trong lòng những ca khúc mà người ta đã có nhiều kỷ niệm, đã mang trong lòng một thời. Những ca khúc được nghe, chúng ta đâu có cần tới một lý lịch dọc- ngang hay vuông- tròn của tác giả, có ai buồn nghĩ tới tác giả đang ở trong hay ở ngoài đất nước hay tổ quốc. Nghe tới những điều cấm kỵ như “bỏ tổ quốc ra đi, chống lại cách mạng” như là những luận điệu để lên án một người mang tội phản quốc, không đủ lý lịch hoàn hảo để cho tác phẩm của họ được trình diễn trước công chúng.

Ngày xưa chúng ta đã hát Văn Cao, đã yêu Đoàn Chuẩn – Từ Linh, đã ngậm ngùi theo Doãn Mẫn, đã từng hát những ca khúc của Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Văn Thương, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Tý … và đến cả Lưu Hữu Phước. Nào chúng ta có nhớ ai Bắc, ai Nam, ai bên nớ, bên ni. Nhưng những gì còn mãi lại trong lòng người mới đáng quí, còn cung điện kia, tượng đài nọ, lăng miếu hay mộ bia cũng như nghìn thứ huân chương, tước vị đều là những thứ rất dễ phôi phai, đổ nát.

Rừng im lặng

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 13 Jul 2026

Trăm vòng kẽm gai nơi trận địa

Giăng như tơ nhện giăng hố sâu

Mắt lính đỏ ngầu đêm thiếu ngủ

Thi gan thức trắng cùng trời sao

Ngày đi hành quân rừng ngập nước

Sình lầy ngang bụng đĩa bám lưng

Nước tanh tưỡi mùi như mùi máu

Bạn ta vừa trúng đạn chết đêm qua

Thì thôi gian khổ vương đời lính

Những tuổi hai mưới bỗng rất già

Nghiến răng bước tới rừng thăm thẳm

Ngón tay cò súng đạn lên nòng

Mẹ sinh ta thằng con bất hiếu

Bỏ quê biền biệt chẳng trở về

Hành quân ngâm khẽ câu Túy ngọa

Sa trường hồ dễ đáo chinh nhân

Thì thôi gian khổ vương đời lính

Những tuổi hai mươi bỗng rất già

Nghiến răng bước tới rừng thăm thẳm

Ngón tay cò súng đạn lên nòng

Mẹ sinh ta thằng con bất hiếu

Bỏ quê biền biệt chẳng trở về

Hành quân ngâm khẽ câu túy ngọa

Sa trường hồ dễ đáo chinh nhân

Hành quân ngâm khẽ câu túy ngọa

Sa trường hồ dễ đáo chinh nhân