This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trời bắt đầu lạnh gắt. Thỉnh thoảng lại mưa phùn làm con đường nhơ nhớp. Khu làm đất lầy lội, mỗi lần bước chân xuống, mỗi lần rùng minh. Vì mưa rét, nên ai cũng ngại lao động, nhất là cơn đói hành hạ liên miên. Suốt ngày chỉ nghĩ đến miếng ăn. Càng “ăn kiểu hàm thụ” càng đói, do đó, bất cứ con gì nhúc nhích từ cóc nhái, thằn lằn, rắn rết, cào cào, châu chấu đều bị tù tìm cách “bắt gọn” cho ngay vào lò lửa. Chỉ trong mấy phút chúng đã hóa kiếp biến vào dạ dầy. Nhưng người đói qua nhiều, các giống côn trùng ăn được lại ít, nên “thực phẩm trời cho” càng ngày càng khan hiếm. Từ các Linh Mục đến các thầy Tuyên Úy đáng kính, trước cái đói, đều giống nhau. Các vị đó còn “hăng say săn đuổi” hơn kẻ trần tục.
Tôi đã chứng kiến một vị Linh Mục trẻ, chiều nào trước khi vô “chuồng” cũng đi bách bộ vòng quanh sân, hay khoanh tay trước ngục, mắt ngước lên trời, lâm râm đọc kinh, săn đuổi một con rắn nhỏ bằng ngón tay út. Sau khi đập chết con rắn, chẳng cần lột da, cho ngay vào bếp lửa nướng, thân con rắn cong queo như chiếc lò-xo đen thui. Vị Linh Mục trẻ đưa vô miệng nhai ngon lành như ăn khúc xúc-xích!
Cũng như tôi được chứng kiến ông thầy Tuyên Úy đói quá, đã ăn cỏ! Thầy cắt những mảnh cỏ non, mọc ở hai bên lề đường hoặc quanh nơi lao động, rửa sạch thái nhỏ, cho vào gô, đút vô bếp nấu nước, đun thật lâu, như ninh bánh chưng. Ninh xong, thầy ngồi trong tư thế nhập thiền rồi lùa từng muỗng cỏ vô miệng. Vừa ăn, thầy vừa nói liên hồi như tụng kinh: Trâu bò ăn được, người ăn được!
Thật đau đớn!Con người một khi không trấn áp nổi dục vọng dù Linh Mục hay Đại Đức cũng vậy thôi, nhiều khi còn dữ đội hơn người thường. Có thầy thèm ăn quá, suốt ngày lải nhải nói về tưong, chao, và những bữa cơm chay trong các ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan! Nhưng vẫn ăn thịt trâu, thịt heo, thịt ngựa như điên! Có vị còn phạm giới và có hành động mà người thường vì danh dự không làm! Nhưng không phải mọi Linh Mục và Đại Đức đều có hành động như vậy. Có nhiều vị rất thánh thiện, rất thanh thoát! Thà chết chứ không chịu làm mất uy ín của Tôn giáo mình thờ phụng!
Một vài anh em, mang theo hạt giống rau cải, rau diếp, rau dền đã chịu khó cuốc những mảnh đất nhỏ, gieo trồng, nhưng phải chờ một thời gian mới có ăn! Trong thời gian chờ đợi, họ còn phải vất vả vì đói. Ở Trại nay, ăn bánh mì luộc dài dài, bột mì của Gia Nã Đại tặng cho nhân dân Việt Nam. Sao họ tặng nhiều thế, mấy trăm ngàn tù ăn hoài chưa hết, ấy chưa kể Nhà Nước và nhân dân. Ai cũng thèm cơm. Bữa nào được chén cơm, mừng húm, tuy chỉ được chia trên một “chén tầu thủy” mỗi bữa!
Sau hơn một tuần khi đến Trại, chúng tôi được gửi thư về nhà có kèm theo “phiếu quà” do Trại cấp, để ăn Tết sắp đến, nay thấp thoáng quà đã tới. Trong buồng tôi, có mười người nhận được. Trong những gói quà đó, ngoài đường thẻ, sữa, đồ mặn, bột Bích Chi, mì ăn liền, thế nào cũng có một vài bánh thuốc lào “3 số 8”. Anh nào biết hút, không nói làm gì. Có những người không biết hút, gói quà cũng có thuốc lào dùng để đổi chác, vì tiền ở đây không có giá trị. Những ai trót đa mang với “làn khói tương tư” mỗi lần thấy ai hút, hoặc ngửi hương thơm quen thuộc của khói thuốc ngon, trong người tự nhiên rạo rực! Một chén cơm đổi lấy 5 “bi” thuốc lào, mỗi ‘bi” to bằng hạt ngô. Tội nghiệp có nhiều anh chưa nhận được quà, thèm thuốc quá đành nhịn đói mang cơm đổi thuốc hút. Trường hợp này làm tôi nhớ đến Lê Huy Linh Vũ ở Nghĩa Lộ! Cơm đã thiếu, còn thiếu hơn ở Trại do Bộ Đội quản lý mà phải hy sinh phần cơm để đổi lấy 5 bi thuốc, sau 5 lần kéo pháo, tiêu tan! Hút có hà tiện lắm, cũng chỉ nửa buổi là hết. Nhưng dù sống hay chết, ai đã ghiền, đều để dành một điếu “3 số 8” cho buổi sáng, khi thức dậy! Điếu thuốc đầu tiên, buổi sáng sớm, có giá trị vô song. Nó làm tâm hồn bay bổng, quên đi được một vài phút đau khổ cuộc đời! Cho đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng chữ này trong Trại Tỵ nạn Sungei Besi, tôi không thể hiểu nổi, tại sao con người lại có thể bóc lột nhau một cách tàn ác đến như vậy, trong khi cùng chung cảnh ngộ? Những kẻ bóc lột đó, đau thay, trước kia đều giữ chưc vụ khá quan trọng như Phó Tỉnh Bình Dương, Chánh sự vụ v.v…
Tôi đã hút thuốc lào từ lâu, và hút nặng, mỗi ngày năm, bẩy chục “bi”. Nhưng từ ngày vượt biên, bỏ lại chiếc điếu cầy và mấy bịch thuốc “3 số 8” nơi “bãi đáp”. Trong những ngày đầu, tôi cảm thấy hơi khổ sở, rồi mãi cũng quen, nhất là xung quanh không ai hút! Nhưng, nếu có một người hút, chắc không sao nhịn được, tôi cũng phải mang tất cả những gì mình có để đổi lấy thuốc lào!
Gần cuối năm, tiết trời càng u ám. Từng cơn gió bấc thổi buốt ruột, như cắt da cắt thịt. Mỗi buổi sáng sương mù giăng đầy trời. Toán dắt trâu đạp đất vô “chuồng” kéo trâu ra. Con trâu to lớn với hai chiếc sừng cong veo nhọn hoắt, lừ lừ đi theo chân người dắt, nhưng khi vừa nhìn thấy bãi đất mà nó có nhiệm vụ phải quần cho nát như mọi ngày, đột nhiên nó vùng chạy. Anh dắt trâu cố ghì dây, nhưng không còn sức để giữ nó lâu! Một anh khác cầm roi quất vào mông trâu dồn nó xuống bãi. Nhưng nó chồm lên làm anh dắt trâu ngã sấp xuống, con trâu vùng chạy! Tôi vừa đạp đất vừa nhìn con trâu phóng qua dòng suối nhỏ, chạy mất hút vào lùm cây dưới chân đồi trà.
– Đù mẹ, trâu còn sợ lao động, nữa người! Mùa này cỏ ít, ăn không đủ no, lại làm nhiều, giống vật cũng không kham nổi!
Người bạn tù cùng đạp đất với tôi, nói bằng giọng vừa buồn vừa uất hận :
– Trâu trốn được đó, tụi mình trốn, là bỏ cha!
Gió thổi từng cơn vật vã. Từ sớm, tôi chỉ được ăn 2 khúc sắn, mỗi khúc dài 3 phân, khẩu phần ăn lót lòng 50gram đã tan biến từ lâu. Lúc này cơ thể tôi vì nhu cầu sinh tồn nó tự ăn, nghĩa là nó rút tỉa từng chút, từng chút mỗi ngày làm cho thân xác mỏi mòn, người cứ gầy rạc đi vì thế! Hơi nóng trong người dồn xuống đôi chân, hơi lạnh của đất hút hết, nó lại dồn xuống. Cứ như thế, ngày nối ngày, giữa mùa lạnh khắc nghiệt! Tên Kỳ, Công An quản lý, vô cùng tàn nhẫn, nó xông xáo luôn luôn có mặt để kiểm soát, sỉ nhục, càng làm tinh thần chúng tôi căng thẳng.
Nhưng cảnh tù ở nơi đây cũng không hoàn toàn khô khan. Có Trại nữ tù ở cách Trại Trung Ươngkhoảng 2 cây số. Mỗi sáng họ đi làm ngược chiều. Vì đường lội mọi người phải xắn cao quần cho khỏi lấm. Tôi nhìn những bắp chân trắng nõn đi thoăn thoắt trên đường cả đàn, cả lũ. Có nhiều nữ tù trông cũng khá xinh. Nhiều cô trông dữ dằn không thua đàn ông du đảng. Chiếc xe bò chở gốc rau muống đi trồng, cao đầy như trái núi. Một cô kéo trước, hai người đẩy sau cố gắng lên dốc. Cô gái tóc ngắn đi bên cạnh, cằn nhằn, lèm bèm chửi cô kéo càng. Cô này đang kéo, buông tay. Chiếc xe mất thăng bằng dốc ngược, gốc rau đổ đầy đường. Thấy vậy, cô tóc ngắn đi bên, chắc Đội Trưởng, chẳng nói gì, tiến đến vươn tay túm tóc cô kéo càng, đấm đá túi bụi. Lần thứ nhất, tôi nhìn thấy hai người đàn bà uýnh lộn. Họ quần thảo cũng dữ dội lắm. Nào loi, nào đá, nào kêu, nào chửi, nào gào thét tùm lum. Tên nữ Công An từ phía xa đi lại. Người mập lùn, chiếc đuôi sam đong đưa qua lại, chiếc “cối vàng” úp sụp che gần hết khuôn mặt. Khẩu súng đeo bên hông lúc lắc theo nhịp đi. Khi đến gần nơi uýnh lộn, cô ta chống hai tay vào hông nhìn. Cuộc quần thảo giữa hai nữ tù vẫn tiếp diễn, người nào cũng lấm bê bết. Nhiều người đứng xem, không ai dám can. Hai nữ tù, chắc quá mệt cùng lăn xuống mặt bùn. Tên nữ Công An lúc ấy mới hét:
– Sâm, buông nó ra! Lát nữa về Trại sẽ xử!
Cô tóc ngắn, tên Sâm, đang nằm đè lên đối thủ, nghe lệnh buông ra, đứng lên, mặt đỏ bừng bừng như vừa uống xong ly rượu. Người nữ tù kia ngồi dậy, dòng tóc đen nhánh dính đầy bùn đất đỏ, vừa cho tay quấn tóc vừa chửi. Chiếc áo tuột khuy để lộ một mảng ngực trắng nõn!
Cô tóc ngắn, chỉ tay vào mặt cô kia:
– Trưa nay, mày biết tay tao!
Anh em tù chính trị, đều ngưng làm, nhìn chăm chú hoạt cảnh vừa qua. Một vài tiếng cười nổi lên đây đó!
mạnh hải flickr
Vì sống mãi, quen nhìn, nên thứ gì cũng trở nên nhàm chán. Mỗi sáng dù có đoàn nữ tù đi qua, cũng chỉ là vui mắt chút ít. Có cô vừa đi vừa hát nghêu ngao: “Ngày mai em quyết băng ngàn, vượt suối đi tìm tình yêu!” Tình yêu chắc cô đã tìm thấy nơi một người trong bọn tôi, nên mỗi sáng anh ta vừa làm vừa nhìn ra phía lộ, chờ cô ta đi qua, anh mỉm cười gật đầu. Cô móc cạp quần nhìn nhanh xung quanh rồi ném chiếc bánh mì luộc vào lùm cây! Chờ đoàn nữ tù đi khuất, và ngó tên Công An quản giáo xem nó đứng ở đâu, tìm cơ hội ra nhặt chiếc bánh giấu ngay vào túi. Chả biết mối tình này có đi đến đâu không, nhưng chắc chắn anh bạn tù có bánh ăn mỗi ngày đỡ đói. Còn cô gái đa tình kia, chắc cũng phải có cách nào đó, để khỏi đói.
Buổi nay, tôi thấy Linh Mục Hoạt, tay ôm một bó dầy rau muống xuống khu đất gần chỗ làm. Vị Linh Mục này rất khéo tay, có nghề sửa đồng hồ, nên không phải lao động, chỉ ngồi sửa đồng hồ cho tụi Công An, toàn loại đồng hồ cà tàng từ hồi Pháp thuộc. Tên Công An Kỳ, có buổi vui miệng nói với Linh Mục Hoạt:
– Chúng tôi khổ lắm. Lương có mấy chục đồng, trừ tiền ăn còn lại khoảng 20 đồng một tháng. Năm nào, muốn mua chiếc đồng hồ phải hoản việc nghỉ phép về thăm nhà. Muốn về, khỏi mua đồng hồ. Còn “đài” và xe đạp coi như vấn đề lý tưởng, chỉ mơ ước thôi, suốt đời không hy vọng thực hiện!
– Vào ngành Công An, có khó không, cán bộ?
– Phải 3 đời bần cố, lý lịch tốt. Không có liên hệ và họ hàng với địa chủ, phong kiến, với Tây, với Nhật thuở trước. Bây giờ là “Mỹ Ngụy”. Vào Công An khó hơn đi Bộ Đội nhiều!
Tôi vừa đạp đất vừa nhìn Linh Mục Hoạt cuốc đất làm luống trồng rau muống. Tôi hỏi:
– Ông lấy giống ở đâu vậy?
– Có một bà Phước bị giam ở đây từ năm 54, bả mới quẳng sáng nay đấy! Trồng ít rau để cải thiện. Châu chấu, cào cào hết nhẵn rồi.
Nói xong ông cười, nụ cười rất hồn nhiên. Cách đây mấy hôm, không hiểu có chuyện gì với Tướng Cao, vị Linh Mục Tuyên Úy này đã có thái độ quyết liệt, nói thẳng:
– Tại sao, ông lại xuyên tạc sự thật? Ông báo cáo với cán bộ những điều tôi không làm, không nói?
Tướng Cao trả lời lạnh lùng:
– Ở đây, ai cũng có quyền báo cáo, chả riêng gì tôi!
– Đúng, báo cáo là quyền của ông, nhưng tôi chỉ mong ông đừng xuyên tạc sự thực là được. Chúng ta ở đây, mọi người đều là tù, không có Tướng Tá gì hết. Cách Mạng đã ghi trong nội quy như vậy. Ông muốn về sớm hơn anh em, ông có quyền làm tất cả những gì thuộc riêng ông thôi, đừng hại anh em, để được tha trước.
Nói xong, vị Linh Mục trẻ nay quay về phía anh em nói to:
– Phải lôi rắn ra khỏi hang mà đánh!
Câu chuyện đó rồi cũng qua đi, nhưng mọi người vẫn thắc mắc, không hiểu sao, chuyện gì xẩy ra trong buồng, tên Công An Kỳ đều biết. Mỗi sáng, khi anh em lao động ở “hiện trường”, tên Kỳ vô nói chuyện riêng với Tướng Cao nơi nhà ăn, nằm riêng biệt trên mô đất cao. Tướng Cao và một người nữa được tên Kỳ cho ở nhà, làm vệ sinh: đổ phân, quét dọn nhà tiêu, nhà ở và trông nom vườn hoa, khiêng cáng đồ ăn v v…
Tôi không có ý kiến gì, vì dù sao ông Tướng này cũng là vị chỉ huy cao cấp trong ngành tôi phục vụ. Nhưng tôi nghĩ, giá ở cương vị ông, tôi xung phong xin đi lao động dù có phải vất vả dầm mưa, dãi năng, còn hơn ở nhà làm việc nhẹ như quét dọn, bốc cứt, tuy có nhàn một chút nhưng mang tiếng.
Một buổi sáng, tôi phải đi sửa đường cùng với anh em. Quảng đường bị nước mưa ứ đọng, xe qua lại quá nhiều nên hư hỏng. Trong giờ nghỉ giải lao, tôi bỗng thấy một nữ tù trông có vẻ “trí thức” đang ngồi hái rau muống gần đó. Những lọn tóc đen lánh rũ xuống đôi vai thuôn thuôn. Chiếc áo nâu non làm tăng thêm sắc da trắng xanh, do thiếu ăn. Đôi mắt to đen nhìn sắc sảo. Mũi ngón tay thon nhỏ, thoăn thoắt bẻ những ngọn rau xếp thành từng bó. Tôi ngỏ ý xin. Cô nhìn tôi, rồi ngó xung quanh, nói khẽ:
– Không được đâu anh, con Đội Trưởng nó đứng kia kìa. Nó ác lắm, cho anh, nhỡ nó thấy, báo cáo với cán bộ, thì em chết. Nó đánh và nhốt vào phòng tối, khổ lắm!
Nghe vậy, tôi bỏ ý định xin rau, hỏi khẽ:
– Vì sao, bị đi cải tạo?
Cô gái cắm cúi vặt rau, nhưng vẫn trả lời:
– Khổ lắm, em đưoc điều vào làm ở Tòa Đại Sứ Ba Lan, nước bạn Xã Hội Chủ Nghiã anh em, vì biết Ăng Lê. Em trót yêu một sĩ quan tùy viên thuộc cơ sở đó. Em xin phép Đảng và Nhà Nước cho kết hôn. Vị sĩ quan kia cũng xin với thủ trưởng của họ như vậy. Nhưng kết quả, em bị cho nghỉ việc và bị đưa đi cải tạo, còn anh kia bị gọi về nước.
Tôi cuốc từng nhát uể oải, hình ảnh người nữ tù vì yêu bị đưa đi cải tạo, chập chờn trong đầu. Khi tôi ngưng tay cuốc nhìn về phía vườn rau, cô đã ôm bó rau xanh ngắt đầy ngực, đi đến phía cuối vườn. Tôi chợt thấy một bó nhỏ bên lề đường, chỗ tôi vừa ngồi nghỉ. Tôi biết bó rau đó, cô có nhã ý cho tôi. Gần hết giờ lao động, tôi bỏ chiếc mũ xuống, đến nhặt lên nhét vội vào, kẹp nách, làm ra vẻ tự nhiên chờ kẻng đi về!
Vì thiếu ăn và trời rét qua, tôi bị đau, khai bệnh.
Tôi và 5 nguời khác ôm sổ xuống bệnh xá ở gần nhà bếp. Chúng tôi ngồi chờ ở ngoài sân từ sớm. Gió thổi cắt ruột. Mặt mũi ngươi nào cũng xanh lè. Một tên “tu-bíp” của mình trước 75, mặt lạnh lùng nhìn chúng tôi. Hắn nhìn sổ bệnh, tưởng gọi vào khám, ai ngờ hắn không nói gì. Lát sau, có một tên béo tốt, chiếc ống nghe đeo lòng thòng trước ngực ra dáng bác sĩ. Tôi nghe anh em nói, nó là y tá, tên Mìn, tù hình sự, đã ăn cắp thuốc của Nhà Nước đem bán nên bị bắt. Nó được tụi Công An tín nhiệm giao việc khám bệnh cho tù. Và Hiệp, Bác sĩ quân y ở Cần Thơ phụ tá cho nó. Vừa nhìn thấy chúng tôi, nó trừng mắt:
– Khám bệnh gì mà đông như đi chợ thế này, ông lại cho đi lao động hết bây giờ!
Nói xong nó đi thẳng vô nhà khám bệnh. Chúng tôi uất ức lắm, nhưng không làm gì được, trong khi đó Hiệp lăng xăng, khúm núm “Thưa bác sĩ” ngon ơ! Tên Mìn cho lệnh Hiệp chích cho người này, cho người kia uống thuốc như nó là bác sĩ chính cống và Hiệp là Y tá. Trường hợp này tôi nhớ đến “tu-bíp” Tín ở Long Giao trong những ngày đầu cải tạo, nhưng Tín “tư cách” hơn nhiều!
Tôi được nghỉ một ngày và lãnh 4 viên thuốc cảm. Nhìn anh em khác, có người buổi chiều phải đi lao động! Cái cảnh khám bệnh như vậy nó khốn nạn quá, mất nhân phẩm quá, nên cùng lắm mới khai bệnh.
Sau khi tự tử không chết, thân xác tôi mỏi mòn dần, lại thiếu dinh dưỡng, lao động khổ sai, nên dễ nhuốm bịnh. Tuy không muốn, nhưng tôi vẫn phải đi khám, vì không cách nào khác hơn. Tên Công An Kỳ xuống tận phong khám bệnh hỏi về bệnh trạng của tôi. Một hôm Hiệp cho biết:
– Anh khám bệnh, nghỉ nhiều qua, cán bộ buồng đã lưu ý chúng tôi và cả anh nữa, lần sau sẽ khám kỹ và vấn đề cho nghỉ lao động hay không tùy cán bộ buồng!
Tôi cãi lại:
– Ông nói hay nhỉ! Tôi đau mới phải đi khám bệnh chứ? Tôi có bệnh hay không, ông là chuyên môn phải biết, chứ can hệ gì đến cán bộ buồng?
– Tôi chỉ nhận được lệnh như thế, nên cho anh biết để dè chừng.
Sức dội của thắng xe quá gấp làm tôi tỉnh dậy. Tai mơ hồ nghe tiếng nói:
– Ngủ gì, như chết! Xe chạy suốt mấy trăm cây số, không tỉnh!
Một tiếng nói khác:
– Chắc ông ấy mệt! Sức yếu quá!
Có bàn tay lay mạnh vào người:
– Ê, dậy đi ông, đến nơi rồi!
Tôi mở mắt, nhìn đờ đẫn như trong giấc mơ.
Những hình bóng xung quanh như khỏa lấp bởi một màn sương mờ ảo! Tôi cố mở to mắt rồi nhoài người về phía cuối xe! Cổ họng ngứa ngáy, tôi cúi xuống nôn thốc tháo, không sao kềm hãm nổi. Toàn thân rủ liệt, mệt không thể tả. Tôi nôn cả mật xanh, mật vàng cùng rãi rớt. Anh em đã xuống hết. Thấy tôi như vậy, một anh đỡ xuống, một anh kéo túi đồ ra khỏi lòng xe. Tôi nghe tiếng tên quản giáo:
– Ơ, anh kia con ngồi “nàm” gì đấy ? Mang đồ vào Trại! Mau “nên”!
Tôi vẫn ngồi im không nhúc nhích. Túi đồ của tôi nằm lăn dưới gầm xe. Chiếc xe nổ máy, vụt đi!
Tôi cố gắng đứng dậy. Đôi chân lảo đảo, mắt hoa lên. Nhưng tôi vận dụng tất cả khả năng còn lại để đến bên túi đồ, cầm chiếc quai định đeo lên vai, nhung không có cách nào làm nổi! Anh em đã đi xa, không ai nhìn lại, cả tên quản giáo lẫn cảnh vệ.
Chiếc Trại mới với hàng rào tre cao ngất, quét vôi trắng tinh, cách xa khoảng 100 thước, sao lúc này đối với tôi nó xa lắc!… Những chiếc áo vàng qua lại nhộn nhịp. Tuy mệt, tôi cũng còn chút ý thức để phân biệt, cơ sở này thuộc Công An. Dùng tàn lực, tôi kéo túi đồ lê xềnh xệch dưới đất, từng bước một để thu ngắn đoạn đường. Sau cùng, tôi cũng lết tới cổng Trại. Vừa đi, vừa nghĩ tại sao mình không chết với 48 viên độc dược? Một con heo 100kí, chỉ 5 viên Chloroquine cũng đủ giết nó dễ dàng! Sao tôi, sau hơn 2 năm cải tạo, qua 5 nhà tù, từ 62 kí-lô, nay chỉ còn khoảng trên dưới 40 mà số lượng độc dược nhiều gấp 9 lần vì đâu không chết! Đây là định mệnh chăng, hay một phép lạ, hoặc tôi đã chết mà cảnh tượng hiện thấy thuộc thế giới bên kia?…·
Nhưng thực tế là thực tế. Tôi vẫn còn sống, đang cùng các nguời khác đứng nghiêm chỉnh nghe tên quản giáo đọc tên và hô “có mặt”, để giao tù cho tên Công An đứng ngay đó! Sau khi bàn giao xong, tên quản giáo cười, nụ cười đểu giả. Chính nó đã tịch thu tất cả những gì cần thiết cho đời sống của một người tù, chúng tôi không còn gì kể cả chiếc muỗng nhỏ để dùng!
Những người tù cũ đứng xa xa nhìn. Lát sau chúng tôi được cho ăn bát chè nóng. Đây coi như “bát chè tiếp tân” gây thiện cảm ! Nhờ ăn bát chè đậu xanh, trong người thấy tỉnh táo. Chúng tôi được tên Công An hướng dẫn vô buồng. Căn buồng tuy bằng lá nhưng khá sạch sẽ. Mỗi người nằm một chiếu, bề ngang khoảng 80 phân. Trên đầu giường có để sẵn một chiếc mền, một bánh xà-bông, một ống kem và chiếc bàn chải đánh răng. Tuy mệt, nhưng hồi tưởng, thấy lời tên quản giáo nói có phần đúng.
Sau khi nhận chỗ nằm xong, chúng tôi ra sân tìm nước rửa mặt, tay chân. Chiếc bể lớn chứa đầy nước tha hồ dùng. Sau khi rửa ráy, mặt mũi người nào trông cũng tươi lên. Một anh bạn cùng chuyến, tên Trai, nói nhỏ:
– Lúc xe di chuyển từ Nghĩa Lộ lên đây, chắc Bác mệt lắm, tôi nhìn thấy chiếc đầu cứ lắc la lắc lư, tưởng gẫy cổ rồi chứ? Bác yếu quá, sao chịu nổi?
Tôi nhìn Trai, ông ta lớn hơn tôi một tuổi, người gầy ốm, hàng râu mép lưa thưa, nhưng lúc này còn mạnh, vì ông đâu có dùng 48 viên độc dược như tôi?
– Tôi bệnh lâu rồi, Bác ơi! Đây là đâu?
– Lào Cai ! Trại này do Công An quản lý. Tôi nghe nói, tối họ khóa cửa.
– Thế đêm hôm đái iả ra sao?
– Có cầu tiêu trong buồng!
– Chết cha, hôi thối sao chiu nổi!
Chúng tôi đang nói chuyện, bỗng có tiếng còi thổi vang. Đằng, trung tá Dù được chỉ định làm Trưởng Toán, kêu anh em tập họp. Tên Công An, tay cầm xâu chìa khóa, đứng trên thềm cao nói:
– Các anh ngồi xuống!
Tất cả ngồi chồm hỗm trên nền đất. Tên Công An tiếp:
– Trước hết, tôi xin giới thiệu với mấy anh, đây là “nhà tù của Xã Hội Chủ Nghĩa”
Ai nấy đều sửng sốt qua nét mặt, nhưng không ai thốt ra lời nào. Riêng tôi, lần thứ hai, chính tai nghe. Lần thứ nhất, trong đêm đầu ở Suối Máu! Vì tự nhận diện mình nên trong cuốn sách, tôi hay dừng chữ “tù” thay cho chữ “cải tạo”. Nhưng tụi Cộng Sản cấp cao, thường cấm mọi người nói đến chữ “tù”, chỉ được dùng chữ Cải tạo viên hay Trại viên, mỗi lần cần xưng hô! Đồ giả đối!
Nói xong câu đó, tên Công An dừng lại một phút, rồi nói thêm về cách ăn, ở trong buồng:
– Ban đêm, cửa sẽ khóa từ 6giờ rưỡi chiều đến 6giờ rưỡi sáng hôm sau. Kẻng báo ra, sau kẻng báo thức! Các anh phải cắt phiên trực để làm vệ sinh, đổ thùng phân, quét dọn cầu tiêu, buồng ngủ cho sạch sẽ, mền chiếu xếp gọn gàng đúng chỗ quy định. Các anh nghe rõ chứ?
– Rõ!
Chúng tôi xếp hàng hai đi vô buồng. Tên Công An đếm số người. Sau khi vô hết, cửa đóng tiếp theo tiếng dập khóa khô khan. Từ phút này, chúng tôi hoàn toàn cách biệt với sinh hoạt bên ngoài.
Vì quá mệt, tôi nằm lăn ra chỗ ngủ. Mùi chiếu ẩm mốc bốc lên. Tôi trải chiếc mền cho đỡ phải ngửi cái mùi khó thương đó. Tôi ngửa mặt, cố nhớ lại những gì mình đã làm, đã trải qua trong mười mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Lúc tôi uống thuốc vào khoảng 5 giờ sáng. Sau 10 phút, ngất đi. Suốt từ đó tới khi đến Lào Cai, vào lúc xế chiều, như vậy, tôi hôn mê khoảng 12 tiếng đồng hồ liên tiếp. Từ phút này, tôi bắt đầu sợ định mệnh! Khi còn ở Suối Máu, tôi nhờ Vọng, một bạn tù giỏi Tử Vi lấy hộ lá số. Vọng cho biết tôi sống đến ngoài 80 tuổi và sẽ mất tại nước ngoài! Tôi cười nói:
– Ông ơi, cuộc đời tàn rồi, sống thêm ngày nào nhục ngày đó. Ham gì đâu mà sống? Còn chết ở nước ngoài, ai cho đi, làm sao đi được để chết?
– Lá số ông sao, tôi nói vậy, còn tin hay không, tùy!
Nay hồi tưởng, chuyện chết ở nước ngoài chưa biết, nhung sau lần tự tử hụt này, tôi biết mình khó chết.
Từ đó, tôi phó mặc đời sống cho định mệnh, chấp nhận mọi việc dù tốt, dù xấu!
Tôi đau ốm liên miên, người gầy rạc hẳn đi, chỉ còn da bọc xương. Lúc đi khám bệnh cân lại, đúng 35 kí-lô. Từ 62 còn 35, mất đi 27 kí-lô! Vì quá yếu, tôi không phải đi lao động, mỗi ngày được chích và uống thuốc! Tôi giấu kín việc tự tử. Cơm nước ở đây tương đối khá hơn ở Trại “cối xanh” quản lý, nhưng vẫn không đủ no. Chúng tôi thỉnh thoảng được ăn thịt trâu hoặc ngựa. Một buổi gần tới giờ cơm, xuống nhà bếp xin nước uống thuốc, tôi bất chợt nhìn thấy một anh trong Tổ làm bếp đang ngồi gặm đầu ngựa, đặt trong lòng chiếc chậu săt. Chiếc đầu ngựa trắng hếu với hàm răng nhe ra như cười, anh ta ghé miệng vào chiếc sọ cạp từng miếng thịt còn dính lại, gỡ chưa hết! Trông ghê quá!
Cái cảnh khám xét của Công An kỹ hơn bộ đội nhiều. Họ tịch thu lần nữa. Tôi lại mất luôn một số đồ. Khám xong tên Công An cho lệnh Đội Trưởng khám người. Cũng lần lưng, bóp túi, nắn gấu áo, cạp quần đủ thứ, nhưng dù sao anh em khám cũng đỡ hơn Công An. Những đồ tịch thu như dây dù, dây nịt, thuốc men, quẹt máy đều được chuyển ra ngoài Trại ngay lập tức. Thuốc, tôi không còn nhưng tôi mất sợi dây dù dài khoảng 20 thước để căng võng và sợi dây lưng quân đội, nhưng vẫn giữ được chiếc Zippo. Vì có chiếc bật lửa này, mỗi sáng khi tôi vừa thức dậy hút thuốc, đã có một anh ngồi chờ xin lửa! Lửa ở đây quá hiếm!
mạnh hải flickr
Sau đó một hôm, chúng tôi học tập nội quy ở Hội Trường. Buổi học tập nội quy rất nghiêm chỉnh, mọi vấn đề đều được trình bầy đầy đủ trên lý thuyết. Hậu cần nói về ăn uống. Mỗi tháng tù được ăn bao nhiều cân gạo, bao nhiêu lạng thịt cá, bao nhiêu lạng rau v.v… Hàng tháng, còn được Nhà Nước cho thêm 3 đồng tiêu vặt, nhưng số tiền này sẽ được Trại thực hiện bằng thuốc lá, thuốc lào, kem đánh răng, xà-bông v.v… Cuối cùng, tên cán bộ giáo dục nói về hoàn cảnh đích thực của chúng tôi.
– Các anh như những con người sắp ra khỏi bóng tối. Lúc này đã 3 giờ sáng, chỉ còn mấy tiếng nữa, các anh sẽ nhìn thấy mặt trời. Cố lên, chớ làm điều gì để ân hận về sau!
Lời nói vừa tử tế vừa hàm ý đe dọa. Bản nội quy gồm nhiều điều ngăn cấm hơn bên bộ đội. Sau đó, chúng tôi mỗi người lại phải tự khai lý lịch và làm một bản liệt kê đã học tập những gì, ở đâu, nội dung ra sao?
Hôm sau nữa, chúng tôi phải đóng đấu chữ CẢI TẠO vô áo quần mặc, từ xà-lỏn tới áo thung. Những đồ nào không đóng dấu, không được dùng, phải gói lại cất vào kho riêng do Công An giữ chìa khóa. Có người không muốn gửi, đóng dấu tùm lum.
Căn buồng tôi ở sát ngay chiếc loa phóng thanh. Mỗi tối đài Hà-nội léo nhéo từ 6 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Một tối,nghe thấy từ loa phóng ra câu: “Nói đến vô sản chuyên chính là nói cuộc đấu tranh sắt máu, không nhân nhượng, một sống, một chết với quân thù”! Qua câu đó, tôi biết ngay, Dương văn Minh là ông tướng không hiểu chính trị, nhất là không hiểu Cộng Sản, nên ngày 30-4-75, ông mới yêu cầu “người anh em bên kia” hãy ngừng bắn để điều đình với mục đích hòa hợp, hòa giải Dân tộc! Tôi biết Cộng Sản đã tha cho hai ông: Dương văn Minh và Vũ văn Mẫu không phải đi cải tạo để hứng chịu nhục nhằn, đói khổ. Có lẽ đó, một hình thức trả ơn!…
Nhưng tôi không ở Trại này lâu. Sau trên một tháng, chúng tôi và 32 người khác, tổng số 50, có tên chuyển Trại. Trong thời gian ở đây, tôi có gặp vài anh em cấp nhỏ cùng ngành, tuy không cùng buồng, nhưng thỉnh thoảng có dịp nói chuyện. Tôi có mang ơn một người bạn trẻ, Trung Úy ngành Quân Cụ, đã có sửa dùm tôi chiếc gọng kính bị gẫy. Không có kính, tôi như mù. Chiếc kính đó, tôi mang theo đến ngày vượt biên, bị cướp Thái Lan lấy mất. Nếu những dòng chữ này may mắn anh được đọc, xin nhận ở đây lời cảm ơn của người viết sách!
Cuộc chuyển Trại, được chuẩn bị từ sáng sớm, nhưng mãi đến 9 giờ mới khởi hành. Chúng tôi di chuyển theo đường bộ. Con lộ gập ghềnh lên xuống theo triền núi. Một dòng suối, nước chảy đen ngòm ngay dưới chân. Tôi đeo túi lên vai, lê những bước nặng nhọc vì sức khỏe mỗi ngày một suy yếu. Chúng tôi có gặp một toán di hành ngược chiều. Đây là việc hoán chuyển tù. Chúng tôi đi khoảng 3 cây số, mất tới 4 giờ. Một chiếc cổng lớn, cánh cửa sắt đóng im ỉm. Bức tường gạch cao ngất, nhẵn thín quay xung quanh, rất kiên cố. Trên nóc cổng có hàng chữ: Trại Cải Tạo Trung Ương số 1, tô mầu đen trên nền vôi trắng, trông gớm ghiếc.
Mấy tên Công An vũ trang đeo AK trên vai, đi lại trên mô đất cao, đầu đội mũ biên phòng, một loại mũ ấm, bắt chước kiểu mũ của lính Nga, vì lúc này đã bắt đầu mùa lạnh. Tôi nghe nói, nơi đây xưa kia là nhà tù của Thực Dân Pháp giam giữ những nhà Cách Mạng Việt Nam.
Tên Công An giải tù cho lệnh, tất cả đứng chờ.
Hắn đẩy cửa sắt đi vô một lúc rồi trở ra. Cánh cửa được mở rộng. Một toán Công An từ trong ùa ra. Một tên cho lệnh chúng tôi ngồi xuống, xếp hàng hai! Đếm xong, hắn cho lệnh đi vào Trại, rồi quay người nói với tên Công An đứng bên:
– Tôi giao cho đồng chí Đội này!
Tên Công An được giao, cười gượng, ngụ ý như miễn cưỡng phải nhận.
Tên Công An quản lý dẫn chúng tôi trèo lên những bậc gạch cao chừng 2 thước đi sâu vào chiếc hành lang, hai bên có tường cao, mỗi bên có hai chiếc cửa ra vào, đối điện. Tất cả cánh cửa đều có then và chốt sắt bên ngoài. Tôi liếc nhìn vào một chiếc cổng mở, thấy có vườn hoa tươi tốt, những đóa hồng nở tung xen lẫn cúc vàng. Phia cuối, căn nhà gạch dài khoảng 20 thước.
Chúng tôi được dẫn tới chiếc cổng cuối. Cánh cửa mở rộng. Có hai người chờ sẵn ở đó: Tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục phó Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và Trung Tá Kính khi trước ở Cục Tiếp Vận 3. Cả hai người khúm núm chào tên Công An. Chúng tôi, 50 người được lệnh bỏ đồ xuống, nghe tên Công An nói vài câu lấy lệ, rồi giao cho Tướng Cao, nói cho anh em biết về cách ăn ở, sinh hoạt của buồng. Tên Công An đi ra. Chúng tôi ào vào giành chỗ nằm. Buồng có sạp gỗ hai bên, mỗi bên đều có gác, như vậy tương đối rộng.
Buổi trưa, nhà bếp mang cơm lên tận cổng. Tưóng Cao và anh Kính khiêng vô. Cánh cửa được đóng chặt, cài chốt bên ngoài. Tôi hỏi, mới biết, ở đây nhà bếp có nhiệm vụ khiêng cáng cơm đến mỗi buồng. Ăn xong, rửa nồi, chậu xếp vào cáng, xế trưa, nhà bếp lại lên lấy về. Mỗi ngày hai buổi như vậy. Nhà bếp có trách nhiệm đóng và mở cổng, mỗi lần đưa cơm. Nước cũng được phát hai thùng men, chứa khoảng 30 lít, sáng và trưa, trước giờ lao động.
Buổi chiều, hai tên CôngAn vô, cho lịnh điểm nghiệm. Một lần nữa, chúng tôi lại phải bầy đồ ra, đầy ứ chiếc sân toàn cát bụi đen ngòm. Tôi lại phải giấu bật lửa. Cuộc khám xét cũng mất vừa một buổi chiều, do hai tên Công An cùng khám.
Ăn cơm xong, chúng tôi nghe kẻng, ngồi xếp hàng tư giữa sân, chờ lệnh vô “chuồng”. Danh từ ”chuồng” bắt đầu được xử dụng từ đây!
Tên Công An Trực đi vô, tay cầm chùm chìa khóa lúc la, lúc lắc! Đội Trưởng đứng báo cáo số tù. Tên Công An giọng lạnh lùng:
– Cho vào! Hàng trái vô trước, xong đến hàng phải, cứ 2 người một.
Sau khi vô hết, tên Công An dập cửa, kéo chốt sắt khóa lại. Thế là xong! Hai ngọn đèn điện đỏ quạch tuy không đủ sáng nhưng còn hơn Trại B, nơi chúng tôi vừa rời khỏi. Nhịp chân đi ra phía cổng, có tiếng cài chốt phía ngoài. Chúng tôi bị khóa tới hai lần.
Vì một may mắn nào đó, tôi đang cần chiếc lon gô để đựng cơm, tôi nhìn ngay trên chiếc đà, chỗ nằm, có một chiếc. Tôi lấy xuống, thấy có khắc tên Thanh. Tôi chắc của anh nào đó, mới đi sáng nay, bỏ quên. Thôi, tôi cảm ơn chủ nhân chiếc gô, tuy không quen biết, nhưng cũng là cái duyên. Tôi không dùng nó, người khác cũng dùng. Tôi tự nói với mình như vậy để khi dùng được yên ổn trong lòng. Vì cùng cảnh ngộ, cái gô này rất cần cho người tù. Tôi mang theo nó suốt từ ngày ấy cho đến khi được tha về.
Hôm sau lại khai báo lý lich và học tập nội quy do tên đại úy Phó Trại “lên lớp”. Nhà tù nào cũng ngần ấy thủ tục trong những ngày đầu! Chúng tôi được thong thả trong hai ngày xong bắt đầu lao động.
Buổi lao động đầu tiên chúng tôi ngồi thu lu bên cạnh các đội khác. Đội tôi, mang danh hiệu Đội 8. Tôi ngồi đây, nhưng chưa hiểu phải làm gì, lao động ở đâu? Từ trong hàng, tôi liếc nhìn qua chiếc bàn, nơi tên Công An đứng gọi từng Đội đi lao động, thấy trên mô đất cao phía ngoài cổng, lố nhố đầy Công An vác AK trên vai.
Từng Đội được gọi đứng lên, đi ra khỏi cổng. Tên Công An quản giáo đi theo, ra khỏi cổng, tên Công An vũ trang, từ mô đất nhẩy xuống đi kèm. Đội đi thẳng, Đội quẹo trái, Đội quẹo phải lung tung. Sự gọi Đội, hình như theo công tác lao động chứ không theo thứ tự. Chúng tôi chờ lâu lắm, khi các Đội đi gần hết, chiếc sân rộng mênh mông vắng hoe, Đội tôi mới được gọi.
Chúng tôi đứng lên đi ra, tên quản giáo theo sau. Khỏi cổng, một tên Công An vũ trang từ mô đất cao nhẩy xuống, cầm AK bám sát. Chúng tôi được dẫn đi xa khoảng 1 cây số rồi dừng lại trước lò gạch. Đã có nhiều người đang lao động ở dưới thấp, cũng như trên cao. Con trâu to mập đang đi vòng quanh bãi đất lổn nhổn, do một người cầm dây dắt. Rải rác đó đây, có những ụ đất cao. Chiếc lò gạch đang nung, làn khói vươn cao. Mầu trời ảm đạm. Mùa lạnh bắt đầu. Tôi nhớ đến mùa lạnh năm ngoái, phát rùng mình. Ở đây còn cao hơn, chắc sẽ lạnh nhiều. Chúng tôi đang ở địa điểm cách Phố Lu 9 cây số, thuộc tỉnh lỵ Lào Cai.
Đội chúng tôi được phân tán thành nhiều toán, để học việc làm gạch ngói, do Đội 9 đã ở lâu, phụ trách chỉ dẫn.
Tên Công An quản lý luôn luôn có mặt chỗ này, chỗ kia, xem chúng tôi “học tập lao động” ra sao?
mạnh hải flickr
Tôi được điều vào toán đạp đất. Tôi đi vòng quanh quả đất đường kính khoảng 3 thước, cao chừng 1 thước. Năm, sáu người cứ đi vòng vòng, một người cầm chiếc kéo cắt đất, xén lần cho rơi xuống. Chiếc kéo cắt đất làm bằng một cây sắt uốn vòng cung, có sợi dây thắng xe đạp buộc vô hai đầu thật căng. Người cắt ấn xuống, sọi dây cắt đất phăng phăng, mau và gọn! Chúng tôi dẫm lên nhiều lần, đất mịn như tảng bột. Cứ như vậy, hai chân tôi mỏi nhừ. Dẫm chừng 2 giờ được nghỉ 15 phút hút thuốc, uống nước trà tươi, hái từ quả đồi trước mặt. Xung quanh chỗ làm việc, toan đồi trà cằn cỗi, chưa kịp phá đi trồng lại. Nhưng tuy vậy vẫn hái được lá để nấu nước, mỗi ngày 2 thùng. Bụng đói như cào, chân vẫn đạp đều đều trên đất ướt. Tuy mới buổi đầu, tôi đã cảm thấy cam go! Đất được dẫm kỹ, nhuyễn rồi, cho vào khuôn ép thành ngói hay gạch. Chiếc máy ép ngói hoạt động liên tục. Một người cho đất vào khuôn, một người kéo cần giật, một người lấy ra cắt xén, xong đưa vào giàn phơi, chờ khô cho vô lò. Còn gạch hoàn toàn làm bằng tay với chiếc khuôn gỗ, đóng xong có người mang phơi nắng cho ráo chờ nung. Có 2 chiếc lò, một nung ngói, một nung gạch. Vẫn cái kiểu lò cũ kỹ, tôi đã nhìn thấy từ hồi còn niên thiếu.
Từ đó, Đội chúng tôi gắn chặt vào công việc làm gạch ngói. Sau thời gian học tập, chúng tôi bắt đầu làm riêng.Tên Công An quản lý, chia công tác cho mỗi người. Toán làm gạch, toán làm ngói, toán đạp đất, toán giắt trâu dẫm đất và cuốc bãi!
Theo nguyên tắc, muốn có đất làm gạch, phải cuốc đất thành một bãi đất có hình tròn, đường kính khoảng từ 6 đến 8 thước. Sau khi cuốc sơ, đổ nước vô cho trâu dẫm nát. Buổi sáng trâu dẫm xong, buổi chiều người lấy lên đắp thành từng quả đất. Sáng hôm sau, hai người đạp một quả. Vừa đạp vừa cắt, sao cho nhuyễn mịn, không còn cục đất sượng nào mới được. Cắt đạp hai, ba lần mới xong, vừa đúng một buổi sáng. Nếu ai đạp khỏe còn có chút thì giò dư đi “cải thiện”, đun nấu. Nếu không, nhiều lúc đến giờ về, chưa kịp rửa tay chân. Đất đạp xong, đậy bằng tấm liếp che nắng cho khỏi khô và được toán khác đưa đến chỗ đóng gạch. Gạch đóng xong mang phơi.
Các “khâu” ấy, “khâu” nào cũng nặng như nhau, chỉ có Đội Trưởng được ngồi chơi, thỉnh thoảng chạy chỗ này một tí, chỗ kia một lát, đôn đốc anh em cho có việc, lại còn được tên Công An thỉnh thoảng cho khoai, sắn, mật, nấu chè riêng. Quyền lợi của Đội Trưởng như vậy ai cũng ham, nhưng cũng khó tránh vì một khi đã ngoạm được miếng ngon trong miệng, khó nhả ra. Do đó, anh em làm gì tụi Công An đều biết rất mau chóng!
Mùa hạ miền Bắc vô cùng nóng bức, vùng rừng núi càng nóng. Vì làm gần suối, mỗi ngày tắm vài ba lần vẫn chưa đủ mát. Những cơn mưa lớn cũng bắt đầu. Mỗi lần mưa, rừng núi như chìm đắm trong thác nước khổng Iồ. Tiếng mưa gió luồn qua vách núi, kéo dài một điệp khúc bất tận! Dòng suối đang trong vắt nhìn thấu đáy, chỉ tiếng đồng hồ sau đã đỏ ngầu, nước cuốn cuồng nộ, như trận lụt hồng thủy. Dòng suối vốn hiền hòa sao lúc này hung hản như bầy thú dữ, lôi cuốn tất cả những gì cản đường trôi của nó. Căn lều nhỏ bé, run rẩy trước gió mưa! Mực nước dâng lên mỗi lúc mỗi cao. Chẳng mấy chốc, đã liếm đến chân lều. Những ngọn sóng đục ngầu chảy băng băng. Chúng tôi phải chạy trú trên đồi cao, ai nấy ướt như chuột. Những luống rau bị cơn mưa tàn phá nằm rạp xuống đất. Chúng tôi nhìn với con mắt lo sợ, rồi sau cơn mưa này, phải mất bao lâu mới gầy dựng lại được? Những luống rau muống ngập đầy nước. Theo tên quản giáo đánh giá, cứ “3 kí-lô rau muống bằng 1 kí-lô thịt bò!” Bây giờ cảnh vật trước mắt là những đổ vỡ, phá hoại! Ỏ triền núi, một cây cao mấy chục thước đổ xuống kéo theo đá lở ầm ầm. Căn lều nhỏ tự nhiên rã rời, trong nháy mắt, dòng nước đã cuốn nó đi mất hút. Cơn mưa cứ trút xối xả, sấm chớp liên hồi làm náo động khu rừng. Không ai nhìn thấy gì ngoài màn mưa đậm đặc. Cứ như vậy kéo dài. Tôi không biết mấy giờ, vì đồng hồ tay đã bị tịch thu. Trời tối sầm. Chúng tôi rủ nhau đội mưa đi về. Dốc núi trơn trợt, tôi té xuống. Đá như dao cứa rách áo quần. Tôi chắc máu chảy, nhưng không có thì giờ dừng lại để nhìn. Cố gượng dậy, tôi leo lên, leo dần từng bước. Những giọt mưa quất vào mặt ran rát. Khi leo tới đỉnh đồi, tiếng kẻng tan giờ lao động cũng vừa gõ.
Về đến Lán, thay quần áo xong tôi nhìn hai đầu gối có những vết xẻ dài như dao cứa, máu chảy dâm dấp, cánh tay cũng vậy. Tôi lau khô lấy thuốc đỏ bôi vô nhìn phát sợ! Ngủ qua đêm, sáng dậy, tôi lên cơn sốt, phải xin khám bệnh, được nghỉ lao động một ngày.
Sau cơn giông gió chiều qua, trời hôm nay rất cao và trong. Anh em đi lao động hết, ở nhà cũng buồn, chỉ ngồi hút thuốc lào vặt và nói chuyện với những người bệnh khác. Đến gần trưa, đã có nhiều người vác gỗ về. Trông họ lam lũ, bộ quần áo treillis bạc mầu, bết bê bùn đất. Mỗi người đều buộc con dao ngang hông. Nhìn họ, không ai có thể ngờ là những cấp chỉ huy đã tham dự nhiều trận đánh vang danh lịch sử: nào PIeime, Đồng Xoài, Cổ Thành Quảng Trị, Kontum và Bình Long, An Lộc! Trong số đó, tôi thấy một người nhỏ nhắn hảy còn trẻ, vác một cây gỗ to, dài khoảng 3 thước. Anh quẳng cây gỗ xuống cái “ầm”, xong cho tay phủi áo quần. Thấy khuôn mặt là lạ, tôi hỏi anh bạn ngồi gần:
– Ai đó?
– Một trong 3 người “tù đặc biệt” đấy ! Hắn được lao động bình thường, chắc đã thành thực khai báo, còn hai người kia, hình như đưa về Hà-nội! Hôm nọ gặp, hỏi ra mới biết, các cậu trốn Trại ở Yên Bái, đi được 8 hôm. Đêm đi, ngày nghỉ, mãi chưa tới biên giới. Hết lương thực đói quá, mò đến khu dân ăn căp bắp, bị dân miệt núi bắt. Họ cho ăn uống tử tế. Sáng hôm sau giao cho bộ đội. Bộ đội giải đi, đến chỗ nào có dân dừng lại. Thế là ăn đòn hội chợ. Mỗi cú đấm, cú đá, lại kèm theo câu:
“Con ông chết ở Quảng Trị này!” “Con bà què chân ở Kontum này!” “Con tao bị gẫy tay ở Bình Long này!” “Cả họ nhà tao chết vì B52 này !”
Cứ thế chịu trận, có người còn vác gậy đập nữa. Tên cảnh vệ áp tải chờ cho dân đánh chán tay, mới giả vờ nói: Thôi xin đồng bào đừng đánh đập họ, việc gì đã có Đảng và Nhà Nước “no”!
Cứ như vậy, đi ba ngày mới đến Trại. Vì còn trẻ mới chịu đựng được, chứ như tụi mình, ngoẻo rồi
Tôi nhìn người tù đặc biệt với cảm tình nồng hậu ở trong lòng, lại sực nhớ tới Khắc. Không hiểu sao mỗi lần nghe có người trốn Trại, hình ảnh hắn lại sống động trong trí nhớ!
Từ trên cao nhìn xuống thấp, nơi có vọng gác, tôi thấy anh em lao động về, đứng dài để báo cáo và chịu sự khám xét của tên cảnh vệ trước khi vô Trại. Đội rau xanh đang mở túi, vén áo để khám. Vì quá đói, nên mọi người đều tìm cách giấu củ sắn hoặc ít lá rau, lén mang về để “cải thiện”. Nếu thoát, bữa ấy no, nếu vướng, coi như thua, bị làm kiểm điểm. Nói vậy, chứ không phải ai cũng làm được việc ấy, vì rau, sắn khó kiếm, hơn nữa, cần phải có “‘máu lạnh” bất chấp hậu quả!
Tù được nghỉ một tuần lễ để học tập chính trị. Ai cũng mừng khi thấy khẩu hiệu được viết trên băng vải: “Vì sao chúng ta phải đấu tranh giai cấp?”.
Nhưng sau khi “lên lớp” anh em mới té ngửa vì bài học toàn chửi Đế quốc và giai cấp bóc lột trong đó có mình!… Theo Cộng Sản:
“Đế Quốc Mỹ, tên xen đầm Quốc Tế, nhất định sẽ bị tiêu diệt, vì toàn thế giới hiện nay đang tiến hành 3 dòng thác Cách Mạng:
– Cách Mạng giải phóng dân tộc, – Cách Mạng giải phóng thế giới, – và Cách Mạng ngay trong lòng Đế quốc do công nhân phát động! “
Lại một lần nữa, chúng tôi chửi Đế quốc và tự chửi! Hơn nữa, có người sinh đẻ ở miền Nam, hăng say thảo luận đã kết án bố mẹ là địa chủ bóc lột nông dân đến xương tủy! Tôi chán ngấy, và không còn chút hy vọng ngày trở về, dù sau 3 năm!… ·
Tôi nhận được thư nhà trước ngay chuyển Trại gần hai tuần lễ. Trong thư vợ tôi “nói mánh” để hiểu, có gửi cho ít tiền giấu trong chiếc áo lạnh. Sáng chủ nhật, có thì giờ rảnh, tôi mở gói đồ, tìm tiền. Theo lời dặn, tôi moi ra được 50 đồng, tiền ngân. Số tiền này sự thực cũng không ích lợi gì vì ở giữa rừng không có chi để mua bán, hơn nữa, nội quy Trại cấm tù không được giữ tiền. Tuy có tiền, không được tiêu lại phải giữ kỹ như mèo giấu cứt!
Tin đồn, có một số sắp chuyển Trại được mọi người nhắc nhở mấy bữa nay, nhưng không biết những ai phải đi. Anh em vẫn lao động như thường lệ. Vì sức khỏe quá kém, tôi không còn lao động tại vườn rau mà được chỉ định phụ trách “nhà văn hóa” nơi có mấy tờ báo loe ngoe và chiếc radio cũ! Trong giờ anh em đi lao động, tôi nghỉ; giờ anh em nghỉ, tôi làm. “Nhà văn hóa” mở cửa buổi trưa, buổi tối đến 10 giờ đêm và những ngày nghỉ. Radio chỉ được mở nghe đài Hà-nội. Vì ở trên độ cao vưóng nhiều núi, nên khó bắt đài, pin lại yếu, nên ít khi nghe được tốt.
Một buổi chiều, tên trung úy Phó Trại, gọi tôi lên Ban Chỉ Huy hỏi:
– Tại sao anh nghe đài nước ngoài?
– Tôi đâu có nghe, cán bộ!
– Có người báo cáo cho tôi biết, anh “nén” nghe đài BBC?
– Chiếc đài đó làm sao nghe được? Nghe đài Hà-nội cán bộ thấy đó, nhiều khi bắt không nổi, nói gì BBC?
Tên Trại phó trước khi cho lệnh tôi về còn dọa:
– Anh “niệu”‘ đó, chúng tôi bắt được anh nghe đài ngoại “nà” cùm!…
Từ lúc đó tôi chán không muốn làm, có ý xin đi lao động lại. Buổi tối, nghĩ chuyện đó, tôi nằm hoài không ngủ được. Đêm đã khuya, bên ngoài trăng sáng lắm. Tôi muốn vùng dậy ra sân ngồi ngắm trăng giữa núi rừng, bỗng có tiếng nói:
– Cán bộ đi đái!
mạnh hải flickr
Giọng nói khác vọng lại:
– Anh kia, vừa nói gì đấy?
– Dạ, cán bộ đi đái, nội quy Trại đã ghi, trong đêm ai muốn ra ngoài đi tiêu hoặc tiểu phải báo cáo cán bộ cảnh vệ, tôi thi hành đúng, cán bộ!
Tiếng nói bên ngoài, có vẻ gắt gỏng:
– Anh đái hay tôi đái? Anh tưởng tôi không biết sao? Anh “nà” con người thiếu văn hóa!
Đây, lần thứ hai, tôi nghe thấy câu đó. Lần thứ nhất ở Long Giao. Anh kia không trả lời. Tên cảnh vệ tiếp:
– “Nần” này tôi tha, “nần” sau, cùm đó!
Rồi tất cả lại chìm vào vắng lặng!
Buổi chiều hôm sau, tên cán bộ hậu cần đi tất cả 6 Lán, hỏi một số người có gửi tiền Giải Phóng ở Yên Bái, để xác nhận xem có đúng không? Tôi có tên trong số được hỏi. Buổi tối, Đội Trưởng Lán 5 cho biết những ai có tên là “đi đó”. Cán bộ quản giáo Đội cho biết vậy! Dù bán tín bán nghi, tôi cũng dùng số tiền sẵn có, đi mua hai bánh thuốc lào “3 số 8” của một anh vừa nhận được quà. Sở dĩ anh bán, chẳng phải cần tiền nhưng sợ hút không kịp, để lâu thuốc mốc. Mỗi bánh 20 đồng, bằng 10.000$ tiền cũ. Tôi ôm chặt hai bánh thuốc lào cho chắc ăn, dù chuyển hay không, cũng vẫn cần nó !
Một tuần lễ trôi qua như thường lệ. Chiều nay, cơn mưa đổ xuống dữ dội, anh em đi lao động về ướt hết. Cơn mưa đến tối còn lai rai. Tin chuyển Trại đến dồn dập từ hồi sáng. Tôi chuẩn bị thu xếp hành trang, nếu có lệnh, đã sẵn sàng. Còn không, cũng chẳng mất gì! Tên quản giáo đi kiểm soát Lán, thấy tôi thu xếp, không nói gì, tôi càng tin mình có tên trong danh sách.
Buổi tối, sau khi cơm nước xong, anh em đang ngồi tán láo, bỗng có lệnh tập họp.
Một lũ cán bộ và cảnh vệ xách đèn đi vô cổng Trại.
Sau khi tập họp xong, tên Trại phó bảo tên cảnh vệ soi đèn lên cao. Trước khi đọc, hắn nói:
– Theo “nệnh” trên, hôm nay có một số anh sẽ được chuyển Trại, theo nhu cầu điều hành quân số. Các anh có tên trong danh sách sắp được đọc sau đây, nên phấn khởi, hồ hởi, vì các anh sắp được đưa đến một nơi “chính quy” hơn, có đầy đủ tiện nghi và phương tiện để các anh sinh hoạt học tập. Nhưng ‘người đi yên trí, người ở “nại” yên tâm’, ở đâu cũng vậy, chính sách của Đảng và Nhà Nước trước sau như một! Sau 3 năm “nà” về thôi!
Cái giọng sậm sựt rất khó nghe, dù xung quanh im lặng như tờ! Mưa vẫn rơi lắc rắc đủ ướt áo.
– Bây giờ, tôi đọc danh sách chuyển Trại. Anh nào có tên, đi vào thu xếp tư trang trong vòng 16 phút.
Tên tôi được gọi vào hàng thứ 5, trong số 18 người, có cả Kiếm – Lán Trưởng – và vài anh em khác cùng Lán! Tôi lặng lẽ đi vào. Vì đã chuẩn bị trước, nên chỉ còn mấy thứ lặt vặt chưa cho vô túi. Quần áo dư, đem gửi Hữu, nếu được về trước, mang dùm về trao lại cho gia đình tôi. Đi chuyến này, tôi không hy vọng được tha sớm .
Mấy phút sau, anh em đều trở về Lán. Mỗi người giúp tôi một chút để tỏ tình cảm lúc chia tay. Dưới ánh đèn mờ nhạt, tôi nhìn thấy sự hoan hỉ trên nét mặt mỗi người ở lại. Nhưng họ có biết đâu, kể từ ngày “18 vị anh hùng Lương Sơn Bạc” ra đi, trong vòng một tháng sau, họ cũng lần lượt rời Trại như những cánh chim lìa tổ. Mấy năm sau, tôi gặp lại vài anh chuyển về Trại Ba Sao, trong vùng núi Chinê nói cho biết lúc ấy, anh em đều nghĩ, 18 người chúng tôi có tội nặng với Cách Mạng nên được đưa đến một Trại đặc biệt để cải tạo!…
Mấy phút sau, tên quản giáo vào giục tôi lên đường. Trời tối và mưa, dốc đá trơn trợt. Hữu gánh dùm tôi qua đồi đến địa điểm tập họp. Khi sang đến đồi, chúng tôi được ăn cơm trắng với thịt heo kho muối, và còn được phát thêm nắm cơm vắt có nhân thịt, phần ăn ngày mai. Làm sao ăn trong hoàn cảnh này? Nhưng sợ di chuyển đêm sẽ đói, nên tôi cố nuốt. Sau bữa ăn, chúng tôi được lệnh mở đồ ra điểm nghiệm. Tên trung úy, quản giáo coi Lán 5, phụ trách khám xét. Hắn lục lọi từng thứ, thu hết ca coóng, muỗng, đũa, chén ăn cơm, dao kéo, bi-đông đựng nước, và thu lại một trong hai chiếc mền được cấp phát. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy sự tịch thu như vậy! Rồi mai đây, chúng tôi sẽ ăn và uống bằng cái gì ? Nhưng mất gì cũng được trừ lọ thuốc. Tôi nhanh tay giấu nó vào góc tối. Sau khi tịch thu và khám người, lần lưng móc túi xong, tên quản giáo nói:
– Nơi các anh sắp đến, có đầy đủ tiện nghi, không thiếu thứ gì. Ở đấy “chính quy” hơn đây nhiều. Họ “no” cho các anh từ đôi đũa, cái bát, chứ đâu để các anh thiếu thốn! 4 giờ sáng sẽ khởi hành! Các anh có thể ngủ một “nát”!
– Thưa cán bộ, cho anh em xin lại chiếc bi-đông để đựng nước uống.
– Các anh có 18 người, đây tôi trả cho các anh 9 cái gô, hai người dùng chung nhau một cái.
Nhưng hắn tìm mãi chỉ có 8 cái, những người nhanh tay giữ trước. Còn tôi và một người nữa chưa có. Suy nghĩ 1 phút, hắn đưa cho tôi chiếc bi-đông nhựa của quân đội. Chậm hóa may. Tôi nghe nói, tên trung úy này đã hoạt động ở Hậu Giang lâu, nên nó biết rõ sinh hoạt của miền Nam trước đây. Nó thường nói về các trận đánh giữa tụi nó và Quân đội ở vùng IV.
Tôi trải tấm nylon xuống nền đất nằm nghỉ. Đàn muỗi vo ve bên tai, tôi dùng chiếc khăn mặt đập loạn xạ. Biết có nằm cũng không ngủ được, tôi ngồi dậy suy nghĩ về những gì sắp xẩy tới cho riêng mình. Đến Trại mới, sẽ lại điểm nghiệm, khai báo, sẽ phải gánh chịu thêm bao nhiêu nhục nhằn, rồi cuối cùng sẽ đưa đến chỗ chết. Đằng nào trước sau cũng một lần. Tôi cầm chặt lọ thuốc trong tay, Trong đầu tôi, nổi hằn từng mủi nhọn. Nào gia đình vợ con, nào kẻ thân người thuộc, nào sách, nào tranh, nào kỷ niệm! Tất cả như a vào để cản trở ý định điên rồ của tôi lúc ấy. Nhưng sau cùng, tôi quyết định không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Tôi dự định, khi chiếc xe tiến vào thước rừng núi đầu tiên, tôi sẽ uống độc dược. Lúc ấy trời còn tối, tên quản giáo và tên cảnh vệ giải tù không ngờ ! Khi chúng biết, đã muộn ! 18 viên Chloroquine, 10 viên Nivaquine đủ để tiêu cuộc đời, nhưng sợ thuốc hành làm đau đớn tôi nuốt luôn 20 viên Valium để ngủ trước khi thuốc ngấm! Tôi đã quyết định như vậy không còn gì để suy nghĩ!
Đêm nay sao quá dài, chờ mãi không thấy tiếng động cơ nào vọng đến. Vài người dễ ngủ đã đánh một giấc ngon lành. Tôi kiểm điểm thành phần đi gồm các sĩ quan thuộc ngành Chiến Tranh Chính trị như Tâm Lý Chiến, An ninh Quân Đội, phòng 7, Phòng nhì, Tình Báo. Toàn ác ôn! Vì không có đồng hồ nên tôi không ước đoán chính xác được thời gian. Gà đã gáy dồn dập mấy lần, xe vẫn chưa đến. Nếu nó đến muộn, trời sáng, dự định của tôi chắc phải hủy bỏ!
Tên quản giáo ngủ ở đâu không biết, đã đến chỗ tôi, đánh thức:
– Các anh dậy, chuẩn bị đi, 3 giờ rồi!
Mọi người choàng tỉnh, đi lấy nước đổ đầy lon gô, sắp xếp lại hành trang.
Mỗi phút chờ đợi, sao lâu vậy? Khi tuổi nhỏ, mỗi lần chờ đợi người yêu, tôi đã cảm thấy lâu. Nhưng nay đang chờ đợi giây phút tự kết thúc đời mình còn lâu hơn nhiều. Có vài người đã mở cơm vắt ra ăn. Tôi thầm phục, vì họ dễ chấp nhận hoàn cảnh, do đó thời gian và không gian tù đầy chắc không làm họ e ngại!
Có tiếng máy xe dội lại từ xa. Mọi người đem đồ ra lề đường. Tên quản giáo mang quân hàm Trung Úy đỏ chói, đeo súng ngắn, tên cảnh vệ cầm AK chờ sẵn. Hai ngọn đèn pha, rọi thành một vệt ánh sáng dài xuyên qua bóng tối làm nổi bật từng viên đá, từng gốc cây. Tên quản giáo bật đèn pin ra hiệu! Chiếc xe hãm tốc lực, quẹo vào khu đất trống, quay đầu, rồi de lại đậu ngay trước mặt chúng tôi.
– Cho đồ “nên” trước, người sau.
Tên quản giáo ra lệnh. Chúng tôi làm theo. Lần di chuyển này, có ít người nên lòng xe rộng rãi , anh em ngồi thoải mái trên hai băng gỗ. Riêng tôi, ngồi xệp xuống sàn xe vì có ý riêng. Tên quản giáo ngồi một bên, tên cảnh vệ ngồi đối diện kẹp cây AK giữa bắp đùi.
Các Trại Cải Tạo đều nằm sâu trong những khu khuất nẻo, độc đạo, không ngờ! Con lộ chính như một thân cây, lối mòn là cành, tỏa sang hai bên. Thường thường Trại được thiết lập ở đầu các cành đó. Đi ngoài lộ không thấy gì, nhưng nếu tinh ý, nơi nào có hàng chữ “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do” thì cách đấy không xa, thế nào cũng có nhà tù.
mạnh hải flickr
Chiếc xe chuyển bánh, bắt đầu nuốt những cây số thứ nhất. Trời hãy còn tối. Sương mù buổi sớm giăng trắng xóa như sữa. Tôi nắm chặt lọ thuốc trong tay, chiếc bi-đông để bên cạnh, đăm đăm nhìn ra ngoài. Gió thổi vun vút, tôi kéo cổ áo đi mưa lên cao. Trong túi áo, tôi để tấm hình của vợ con ngay phía trái tim. Tôi muốn khi trút hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc sống tù đầy khốn nạn này có vợ con bên cạnh, dù thực tế, ngàn trùng xa cách!
Chiếc xe chạy vòng vèo, tiếng máy rú nặng nhọc. Vách núi lù lù chắn ngang tầm mắt. Tôi biết đã đến giờ quyết định, nếu trù trừ, trời sáng, thuốc chưa ngấm, tụi nó có thể cứu được, nếu biết ! Tôi không muốn được cứu vì khi được cứu sống, tội của tôi sẽ nặng thêm. Hôm nay, ngày 28-10-1977, trên đường di chuyển không biết đến nơi nào, tôi nhất định giã từ cuộc sống! Ai bảo tự tử là hèn? Không, không! tự tử rất khó! Phải can đảm lắm, quyết tâm lắm, thanh thoát lắm mới có gan nuốt độc dược để tự giải quyết đời mình! Con sâu, cái kiến con ham sống nữa huống gì con người! Không dám tự nhận mình can đảm, nhưng quả thực, tôi chẳng muốn kéo dài thêm những ngày tù tội chỉ chuốc lấy nhục nhã, đớn đau, và rồi đây đời tù với đói khổ, với rừng thiêng suối độc, sớm muộn gì cũng chết, một cái chết ô nhục nơi ven rừng, khe suối nào đó, chưa đoán biết!
Tôi bỏ từng vốc thuốc vô miệng, chiêu nước. Số thuốc bỏ chung trong một chiếc lọ, nên lúc này tôi cứ dốc ra tay chẳng biết mỗi lần nuốt bao nhiêu, nhưng sau 5 lần chiêu nước, chiếc lọ chẳng còn viên nào. Sớm nay, nhịn ăn, cho thuốc chóng ngấm, nên lúc này bụng thấy cồn cào, muốn nôn hết số thuốc vừa uống vào. Tôi cố giữ… Chiếc xe chạy vòng vèo theo đường núi càng làm ruột gan bồn chồn khó chịu. Hình ảnh bố mẹ, anh em, vợ con, bè bạn, thoáng hiện trong đầu lần cuối.Tôi lầm rầm xin lỗi và sám hối tất cả những gì đã gây ra từ lúc trẻ đến hôm nay đối với bố mẹ, vợ con, bè bạn! Khi tuổi niên thiếu, tôi không giúp ích cho bố mẹ, chỉ làm phiền chứ chưa đền ơn dưỡng dục! Còn vợ con, tôi đã không giữ tròn bổn phận làm chồng, làm cha! Bè bạn, kẻ ghét, người yêu! Sự nghiệp dang dở! Tôi ngất đi lúc nào không hay!…
“Không có nỗi ngây ngất nào rực rỡ như nỗi ngây ngất chiến tranh, phía sau có lửa, phía trước có máu của mình.” (Mùa xuân qua đèo – Y Uyên)
Trên tờ tuần báo Nghệ Thuật, số đầu tiên ra ngày 1-10-1965, Mai Thảo đã dựng lên tuyên ngôn của những người cầm bút (trong nhóm) về thái độ của nhà văn trước thực tế của đất nước, bằng một nhan đề rất kêu: “Văn học Nghệ thuật trong chiến tranh hiện tại và hoà bình tương lai” bằng thái độ chọn lựa rạch ròi, bằng trách nhiệm và bổn phận trước quốc gia, dân tộc, lịch sử mà nghe cứ như lời rao giảng ngày tận thế với cơn đại hồng thuỷ và chiếc thuyền của Noé: “Nói đến đời sống, cái chết, chiến tranh và hoà bình, lửa máu và nước mắt, nhân phẩm và danh dự, nói đến hạnh phúc, bất công áp bức, ý thức, thượng đế, thân phận con người, triết thuyết, hành động, thực tế và trí tuệ, cá nhân và toàn thể, nói ở đâu bằng ở Việt Nam không nói, nói ở đâu bằng Việt Nam đau khổ, nói ở đâu bằng Việt Nam treo căng trên từng từng bất hạnh, nói ở đâu bằng Việt Nam có quyền nói đến trước tiên? Văn học nghệ thuật chúng ta phải nói lên bằng được sự thực vĩ đại hiện hình trên Việt Nam quằn quại. Vai trò của Văn học nghệ thuật hiện nay do đó là phải đi vào thực tế chiến tranh, bởi thực tế ấy là một sự thực…” (Sđd). Một tuyên ngôn như vậy, trên một tờ báo văn nghệ như vậy, trong thời khắc chiến tranh bắt đầu loang nhanh như một vết dầu bẩn trên phần đất này một cách ồ ạt, khốc liệt có vẻ như thừa, như thiếu hơi, đuối sức?
Trước đó, trước khi nhóm Sáng Tạo hụt hơi trì kéo những trường phái siêu thực, hiện sinh vào văn học miền Nam Việt Nam, thì đã có rất nhiều người cầm bút đã chọn lựa một thái độ, một trách nhiệm trước cuộc chiến rồi; tác phẩm của họ ít nhiều đã vẽ lên bộ mặt xấu xa, kinh tởm của chiến tranh rồi! Và như vậy, các nhà văn, khi viết về chiến tranh Việt Nam, mỗi người chọn một đề tài khác nhau, bối cảnh khác nhau, các nhân vật khác nhau, không ai giống ai; muôn màu muôn vẻ để người đọc có thể nhìn thấy, một cách trọn vẹn, bộ mặt gớm ghiếc của cuộc chiến tranh phi nhân, phi nghĩa này. Một cuộc chiến khởi đi từ những mù quáng, căm thù… đẩy cả dân tộc vào thảm cảnh đau thương nhất trong lịch sử. Ở Tiền đồn, Thế Uyên nhìn chiến tranh như là một sự phi lý được khắc hoạ một cách kinh hoàng nhất, tởm lợm nhất qua thân xác của người phụ nữ bị kẹp giữa hai lằn ranh của thù hận: ban ngày là sự gần gũi vội vã của người chồng và ban đêm là sự “hì hục cuồng nhiệt” của anh du kích. Tất cả đều diễn ra trên thân xác của người phụ nữ như biểu tượng nhục nhằn của lịch sử, dân tộc. Chị không có sự chọn lựa nào khác giữa vùng xôi đậu này, ở đó Việt cộng và Quốc gia thay phiên nhau “cai trị” những người dân hớt hải chạy, hớt hải về. Nói cho đúng, chị không có quyền lựa chọn. Sự chọn lựa đã được sắp đặt sẵn, để thân xác chị luôn bị dày xéo một cách tàn nhẫn từ hai phía. Người đàn bà tên Ba, nhân vật chính trong Tiền đồn là biểu tượng của sự nhục nhã nhất mà cả dân tộc phải gánh chịu trên vai. Thật kinh khủng! Với Nhã Ca, bộ mặt chiến tranh cũng trở nên bi thảm không kém đối với những người dân sống “bình yên” trong thành phố. Họ còn trẻ, và là những trí thức đang đứng trước những chọn lựa, những thái độ phải bày tỏ bằng những hành vi cụ thể. Chất bi thảm của thế hệ trẻ là sự lắng nghe, nhìn thấy một cách mơ hồ chiến tranh đang diễn ra đâu đó ngoài rìa thành phố với những cảm giác đầy sợ hãi phập phồng trong Ðêm dậy thì, Ðêm nghe tiếng đại bác. Ðến Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư… thì chiến tranh là sự đụng mặt gần sát, là những cuộc hành quân, bao vây, phục kích, là súng nổ, người chết, dân lành gồng gánh trong nước mắt, hối hả chạy trên bờ ruộng hẹp, lo sợ những viên đạn cắm phập vào tim, nhưng không thể không ngoái nhìn lại căn nhà tranh vách đất chẳng đáng giá là bao (nhưng chứa đựng biết bao tình cảm thiêng liêng) đang bốc cháy ngùn ngụt phía sau. Chiến tranh trong tác phẩm của họ là sự nhìn thấy rõ ràng, rất cụ thể: súng nổ, người chết. Những người tham gia các trận đánh là những người bạn, người lính thân yêu bên cạnh mình, từ từ, lần lượt ngã xuống… Và không chỉ dùng súng đạn để đánh nhau, thậm chí họ còn sử dụng cả lời nói để hạ gục đối phương: “Staline của Nga chết, cha Tố Hữu của ngoài mầy làm thơ: ‘ông Staline ơi… ông Staline ơi… Thương cha thương một, thương ông thương mười.’ Anh Kennedy, Kennedy là Tổng thống thứ 35 của Mỹ, đẹp trai, con nhà giàu, giỏi, chết, mầy thấy có thằng làm báo miền Nam nào viết bài thơ khóc cái anh Kennedy này chưa? Và sau cùng hết, mầy chỉ làm được một việc này với tao thì tao gọi mầy là thánh tao chịu nghe hết lời của mầy, tao tin mầy là ‘dân chủ xã hội’. Bây giờ tao hô ‘đả đảo đế quốc tư bản Mỹ’, mầy hô: ‘đả đảo đế quốc Trung Hoa đỏ, đả đảo đế quốc Liên Sô’. Ðấy mầy và tao cùng hô một lần, tao đếm 1, 2, 3… thì bắt đầu. Tôi hô: 1, 2, 3… Nghe trong máy có tiếng rè rè của tần số bị phá…” (Phan Nhật Nam, Mùa hè đỏ lửa, trg 136, NXB Sáng Tạo, Sài Gòn 1972). Ðó là chưa kể nỗi xót xa, đau đớn đến tận cùng khi đồng đội bị thương, khó lòng vượt qua cái chết đang cận kề, đã van nài nhân vật xưng tôi (Trần Hoài Thư) “mày hãy bắn tao đi, mày hãy bắn chết tao đi!” Mà đâu chỉ có một mình Trần Hoài Thư mới chứng kiến cảnh đau lòng, xé nát tim gan anh như vây? Hầu hết các nhà văn quân đội khác tôi đã đọc tác phẩm của họ, ít nhiều đều ghi lại những cảnh hãi hùng đó! Những người trong cuộc lẫn những người dân vô tội đứng bên ngoài hay trong cuộc chiến tương tàn, đều chung một số phận bi hài như nhau. (Nhưng với Y Uyên thì khác, nói như Lê Văn Chính (SBT): “Trước ngày nhập ngũ, anh đã viết nhiều truyện thời chiến. Lúc đó anh còn là nhà giáo, nên truyện thường mang nặng tính chất tưởng tượng hoặc dựa theo những kinh nghiệm chiến tranh mà anh được nghe kể lại” (“Núi Tà Dôn” và “Dấu chân Uy”, đăng trong số này). Ðúng, khi đọc một tác phẩm ta có quyền lựa chọn, có quyền bình phẩm theo ý thích của riêng ta. Ðó là quyền của người đọc. Riêng với nhà văn, khi viết ta viết điều ta yêu thích, điều ta cảm, ta gần gũi, ta sống với nó, hít thở với nó, chứng kiến nó diễn ra hàng ngày, thậm chí ôm nó vào lòng lăn lộn với từng giấc ngủ đầy mộng mị hãi hùng. Y Uyên sống trong thời khắc cuộc chiến nổ ra ác liệt nhất, trên vùng đất kinh hoàng nhất. Ví dẫu rằng: nếu như anh chưa hề là nhà văn, chưa hề cầm bút thì hàng ngày anh không thể không nhìn thấy chiến tranh diễn ra ngay trước mắt anh, diễn ra một cách bình thường, lặng lẽ mà đau đớn đến nát tan cõi lòng. Với người cầm bút thì anh càng không thể đứng ngoài ngắm nhìn như kẻ bàng quang, kẻ ngoài cuộc, thậm chí là kẻ trốn chạy khỏi vòng vây chiến tranh. Tôi vẫn nhớ như in, hồi còn học Văn khoa Sài Gòn, GS Nguyễn Văn Trung luôn tự hào về giảng khoá cho đám sinh viên năm dự bị, với nhan đề “Nhà văn, người là ai, với ai?” Ông đã dựa vào những phát biểu trong bài diễn văn của nhà văn A. Camus đọc tại giảng đường Viện đại học Upsal, Thuỵ Ðiển nhân dịp nhận giải Nobel văn chương năm 1957, xoay quanh cái trục trách nhiệm và thái độ của nhà văn trước cuộc sống để rao giảng cho chúng tôi, những thanh niên mới bước chân vào cổng trường đại học, rằng “khi một nhà văn quyết định cầm bút viết văn tức là tự nhận lấy một chức vụ trong xã hội. Từ nay, người đó (ý nói nhà văn) ra khỏi đám đông, quần chúng vô danh, trở thành một nhân vật, được thiên hạ biết đến và sẽ được khen chê ủng hộ đả đảo tùy theo lối nhìn, thái độ của họ” (“Nhà văn, người là ai, với ai” – Nguyễn Văn Trung). Xin lạm nhắc lại chuyện xưa, để nhìn lại thái độ của Y Uyên và những tác phẩm của anh trước cuộc chiến khủng khiếp này! Những truyện anh viết về chiến tranh không bao giờ có súng đạn nổ chát chúa, không có cảnh quân hai bên giương súng bắn vào nhau, vây nhau tầng tầng lớp lớp như chọn lựa cách viết của Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư, Thảo Trường… mà lại là những điều, những thứ bị cuộc chiến xô đẩy tới bờ vực của đổ nát tan thương, của tiếng lòng dội xé. Ðó cũng là cách chọn lựa đề tài, nhân vật, bối cảnh của Dương Nghiễm Mậu, của Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ… Hầu hết những truyện anh viết và “đọc được” đều bắt nguồn từ khi anh dạy học ở Tuy Hoà, một thị xã nhỏ bé của duyên hải miền Trung giữa lúc chiến tranh đổ ập xuống nửa phần đất nước một cách khốc liệt nhất. Cái thị xã tí xíu mà anh và bạn bè anh đang sống, chẳng phải là một khu phi quân sự, một vòng đai an toàn mà là một lò lửa. Ðạn luôn nổ, người chết, nhà cháy, đồng khô, dân quê bồng bế nhau chạy trốn hòn tên mũi đạn, ngày Quốc gia, đêm Cộng sản giành giật nhau… Cuộc chiến rất kỳ cục, phi nhân ấy cứ thế mà diễn ra ngày này sang năm khác để người dân khốn đốn kêu lên “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy?” Cuộc chiến quái gở ấy không phải chỉ có anh và tôi đánh nhau, mà một bên là có sự trợ giúp công khai, một bên là lén lút nhận vũ khí, quân trang quân dụng để “giương cao ngọn cờ chính nghĩa” đã đẩy người dân vô tội xô dạt bên này hay bên nọ (cốt để tránh hòn tên mũi đạn). Không khí truyện của Y Uyên không “nhảy tọt” vào giữa chiến trường, bởi anh chưa hề là một chiến binh thực thụ, mà anh “chạy theo, áp sát vào” những xô dạt không chừng mực trong những lần chạy giặc dài ngắn để nghe, để thấy, để cảm và chia sẻ nỗi đau của họ. Những nhân vật của anh luôn là những nông dân nghèo, lam lũ, những người bình thường nhất đang sống ở vùng xôi đậu, đêm chạy trốn nơi an toàn, ngày mò về chắt mót từng hột lúa, củ khoai, là những thầy giáo, cô giáo, những đứa trẻ ngơ ngác. Anh yêu mến tất thảy bọn họ chẳng qua vì anh quá gần gũi với họ hàng ngày, hiểu được những trớ trêu của bọn họ. Tất cả các nhân vật nữ của Y Uyên không có ai như chị Ba trong “Tiền đồn”, như chị Tư trong “Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp” bị giày xéo, chà đạp đến tàn nhẫn, như là những biểu tượng tượng trưng cho thân phận của toàn thể mọi người dân ở phần đất bị bom đạn cày xới nát tan, phải ngửa mặt ra hứng lấy mọi tai họa. Cái chất dịu dàng, thong thả, nhẫn nhục của người phụ nữ, đa phần là dân quê, lánh nạn ra thị xã. Ðó là những người bình thường nhất trong xã hội được Y Uyên phác hoạ là những người trung thực, bị đẩy đưa do hoàn cảnh, chấp nhận sống trong hoàn cảnh bi đát ấy. Những Bích, những Hiền và chị Hiền là một phần của đất nước bị băm vằm bằng nhiều nhát dao oan nghiệt. Họ vì cuộc sống mà phải bỏ làng tản cư lên thị xã, phải nhắm mắt làm người phụ nữ “sạch sẽ” nhất trong thời loạn: “Một lần nghi Bích không tin mình, giấu tiền không cho mình vay, lúc hai người đang nằm ở giường, anh ta chợt nảy ý tưởng đòi khám Bích. Bích từ chối cầm chừng. Lúc trật hai chiếc xú-chiêng xuống nửa chừng, anh ta sững sờ một lát rồi ôm Bích thật chặt, hôn Bích như một sự đánh liều để cố quên mình đang có một cơ thể bị đòi hỏi hành hạ. Sau đó anh ta nói một câu kỳ quặc nhưng hơi mất bình tĩnh ‘Vú Bích sáng ngời, nóng và trơn thế mà từ lâu nay nào anh có hay’… Một nửa anh bị ám ảnh bởi bộ ngực của Bích, một nửa anh ngại, nếu tiến thêm, Bích sẽ nhoà đi như những người đàn bà anh đã gặp.” (“Bên ngoài khán đài”). Và dẫu không “dữ dội, bi thảm” như chị Ba, chị Tư của Thế Uyên, Thảo Trường nhưng những “người đàn bà có chồng lên núi mấy năm nay” của Y Uyên lại phải chịu đựng một cách khác, dơ dáy một cách khác, bi thảm một cách khác:
Ai đó? Giọng Bích cố thoát ra khỏi hai hàm răng. Một cánh tay vòng lấy lưng Bích chắc nịch. “Qua đây chớ ai.” Nghe có tiếng nói cất lên, Bích thấy đỡ sợ nhưng xúc động sợ hãi vẫn còn rung da thịt. Bích thấy kẻ ôm lưng mình là một bóng đen cao lớn đã chui vào mùng từ lúc nào. Vòng tay đó thắt chặt lại. Một tờ giấy được nhét vào tay Bích. Bích chắc là một tờ giấy bạc và thấy mình bị kéo xuống khỏi giường. Bích vùng đạp mạnh vào Hiền, cố giật người thoát ra khỏi vòng tay sau lưng. Hiền nhỏm dậy hỏi: “Chi đó?” Vòng tay tự nhiên nới rộng, mở ra. Hiền yên lặng đứng dậy, bước ra điềm nhiên: “Ông xã đó phải không?” Bích đã hết sợ, ngồi dựa vào góc tường, ngạc nhiên. “Ai ngủ với em trong đó?” Giọng người đàn ông hỏi uy quyền. “Bạn em đó.” Người đàn ông im lặng một lát rồi Bích thấy Hiền như bị ôm sát. “Bữa nay có bạn em…” “Bạn em thì sao?” Bích thấy Hiền bị nhấc bổng ra khỏi mùng, theo bước chân người đàn ông ra khỏi cửa. Một lát, bên giường chị Hiền có tiếng trở mình. Bích thấy chị rón rén bước sang giường mình. Bích hỏi: “Chuyện gì đó chị Hai?” Người chị Hiền ghé ngồi vào mùng, nhỏ giọng: “Còn chuyện chi nữa.” “Hiền nó đi với người đàn ông đến đâu?” “Ra ngoài hiên chớ đâu.” Bích ngạc nhiên: “Cha đó vào bằng lối nào kìa?” Mùi khế úng lại thoảng vào trong mùng. Bích nghe như có một giọng đáp từ xa: “Nhà này có khác chi nhà ông xã” (“Bên ngoài khán đài”).
Hình như ông xã của Y Uyên và tay du kích của Thế Uyên làm cho chiến tranh thêm đậm mùi hơn, cái “mùi khế úng” bay vào chỗ tận cùng của thánh thiện và dơ bẩn nhất của cuộc đời này? Ðó cũng là nỗi lo sợ vu vơ, những hoài nghi vu vơ ngay chính bản thân mình và cho người khác trước cuộc chiến ngày một lan rộng, dữ dội:
Chiêu hỏi: “Chừng nào anh vô lại Sài Gòn?” Mường ngạc nhiên: “Anh không có ý định đó.” Chiêu giận: “Anh giấu em.” (…) Chiêu quả quyết: “Có tin những điều anh nói không?” “Không.” “Thực may cho anh. Chính anh cũng không hiểu phải nói gì với Chiêu.” Chiêu bật khóc. “Anh khinh em”. Mường yên lặng thấy mình ngây ngô.” (“Gió cuối năm”).
Làm sao mà Chiêu không “bật khóc” và Mường không “ngây ngô” khi sự chờ đợi của người thiếu nữ là sự chờ đợi mỏi mòn và anh Mường mới giải ngũ không thể tự định đoạt nổi số phận chính mình, huống hồ đèo bòng “thứ tình yêu mới lớn của Chiêu”? Rồi những chị Bước (“Chiều trong làng”), Kiều (“Miền không vết chân người”) vẫn cứ nhẩn nha giữa những tai hoạ đang vây bủa chung quanh, giữa một vùng cát tị nạn ngui ngút những căn lều tạm bợ, ở đó hai vợ chồng một nông dân, một thợ dệt cứ lo ngay ngáy sao cho chiếc giường không kêu “rắc rắc” như chiếc giường của vợ chồng Hai Bát kê ngay bên cạnh. Ðó, chiến tranh dưới ngòi bút Y Uyên nó mò sát tới chân giường của đôi vợ chồng nghèo. Rõ ràng anh không hề tưởng tượng hay nghe kể lại, mà chính anh đã “tận mắt ngắm nhìn” một cách cẩn thận để chia sẻ! Bởi hàng ngày anh đụng mặt với nó, bởi những nhân vật kia là phụ huynh của những đứa trẻ anh đang dạy dỗ, là những hàng xóm trong khu nhà trọ, ông chủ quán nấu cơm tháng… Ðến như “Bão khô”, một trong số ít truyện ngắn được đánh giá là hay nhất của Y Uyên, thì không khí chiến tranh càng kinh hoàng, thê thảm hơn. Chiến tranh đang tiếp tục lởn vởn, bay nhảy trên thân thể anh lính lệch vai, trên chiếc khăn tang của người đàn bà, những tờ sấm truyền tụi học trò ngồi trong lều chợ buổi trưa, chép chuyền tay nhau, là chiếc xe đò Vạn Hưng bán đồ uống cho Mỹ, là người lính Mỹ ngủ gà gật bên thềm chợ, mấy người đàn ông ăn bánh tráng, bà chủ quán mặc áo dài đi chân đất, là hai người đàn ông mặc áo xanh của một giáo phái kỳ bí với “những lời sấm bọn học trò truyền nhau chép và họ dường như có một liên lạc vu vơ”… Những nhân vật ấy xoay quanh một ngôi chợ tồi tàn bên kia cầu, hằng ngày anh lên xuống bốn bận đi dạy học. Ðâu có súng nổ, đâu có bom rơi, đâu có cảnh quân hai bên xung phong xáp lá cà? Vậy mà nó, chiến tranh hiện ra một cách tàn nhẫn trên từng lời nói, cử chỉ, ngôn ngữ của bao nhiêu con người ấy. Nó làm cho ta quay quắt một nỗi đau không cùng. Và giả dụ như những kẻ cầm đầu cuộc chiến tương tàn này, đọc “Bão khô” (cùng những tác phẩm khác của những nhà văn khác), họ sẽ nghĩ gì? Sẽ đẩy cuộc chiến tới mức tồi tệ nào nữa? Với giọng văn rất bình thản, anh đi dần vào thế giới đau thương, tan tác đó bằng những tấm bảng hiệu “Laundry number one” trước hiên quán, hoặc “Refreshment” bên hông xe ba bánh, đến khi người lính lệch vai xuất hiện trên khu chợ, hỏi thăm chiếc xe đò Vạn Hưng phủ kín tấm màn màu đỏ sặc sỡ:
Người lính nhìn thằng bé lê trên mặt đất với cái mẹt trước mặt. “Mầy có biết mấy người con gái bán trong xe đó không?” Thằng bé lắc đầu chỉ cho người lính thấy vùng đất bên dưới dốc ngổn ngang những vệt bánh xe. “Làm sao thấy mà biết. Cửa xe có vải đỏ che kín, đậu dưới đó ai mà dám xuống.” “Con đĩ.” Tiếng người lính nguyền rủa giận dữ. Anh ta bỏ đi vào phía chợ”. (“Bão khô”).
Người đàn bà ấy là ai, đi đâu, làm gì?
“Nỗi sợ hãi thiệt không hình dạng. Ðột ngột như cái rùng mình của một cơn say. Anh không muốn hỏi, muốn nghĩ gì cả. Anh không muốn. Người đàn bà chết thảm đó không thể là vợ anh được. Nó đang giấu mặt trong trong chiếc xe đò Vạn Hưng đó… Anh gục xuống với nỗi sợ hãi chập chờn trước mặt. Cánh tay cổ tròn vạch lên tường ngày gà khởi ấp vẫn hợp với người đàn bà gánh lúa, gánh thóc lúc chồng vắng nhà hơn. Những lời đồn đãi về vợ anh, từ trước tới giờ cuối cùng anh vẫn thấy gần lòng tin nhất. Vợ anh ngồi sau tấm màn đỏ theo lời đồn và chết lúc gánh gạo theo trí tưởng tượng mơ hồ và có lý như nhau.” (Sđd)
Và người đàn bà thứ hai trong truyện này:
Từ dưới bãi cát người đàn bà khăn tang trở lên, hai ống quần ướt và quệt đầy bụi. Người lính hỏi bà chủ quán: “Chồng chết?” “Chết mìn hôm trước đó. Một cái xe Lam, một cái xe nhà binh, chết sáu mươi mấy người.” “Kiếm chi dưới đó?” “Cánh tay có mang cà rá của chồng. Lúc điên, lúc tỉnh, lúc dại, lúc khôn, biết sao mà tin.” Người lính lầm bầm chửi tục, trề môi: “Chồng chết lấy chồng khác, mắc mớ chi mà điên” (sđd).
Và kết thúc truyện:
“Bằng những bước đi dài và nhẹ, chị ta khom người từ từ vào sâu lòng chợ, nơi có một con chó không chạy vào lều, ngồi cúi đầu gậm một khúc xương. Người lính say mửa một hồi lại gục xuống mặt bàn, người như chúi về một phía. (…) Có một giọng đàn bà lẫn với tiếng gió ở sau tấm liếp như tiếng mẹ thằng bé. Nó nhìn lên mặt lộ. Trên con đường lổn nhổn đá xanh dẫn lên trên đó, người đàn bà có khăn tang nhẩy qua nhẩy lại, rượt theo một con chó ngậm trong mồm một khúc xương” (sđd).
Cái khúc xương mà con chó ngậm trong mồm có phải là cánh tay người chồng chị đàn bà mang khăn tang bị mìn nổ banh xác? Hay đó là khúc xương người phụ nữ có cổ tay tròn ghi ngày gà khởi ấp trên tường (cũng bị mìn nổ) chết đâu đó? Chị ta là nhân vật chỉ xuất hiện trong truyện qua những dòng suy nghĩ của anh lính lệch vai, chồng chị. Rõ ràng anh ta không mong chị chết, nếu đổi cái chết ấy với chuyện chị ngồi trong chiếc xe đò Vạn Hưng vẫn hơn. Nỗi nhục nhằn buộc phải chứng kiến cảnh nhớp nháp của vợ với những người lính ngoại quốc trong chiếc xe đò phủ vải đỏ sặc sỡ vẫn làm người lính yên lòng hơn là vợ anh chết thật sự, chết đâu đó mất xác như cái chết của chồng người đàn bà khăn tang kia! Trong lối ví von, so sánh Y Uyên đã đẩy tới tận cùng sự tan nát, đớn đau: thà làm đĩ, có nhơ nhuốc thật, nhưng còn sống vẫn hơn là chết bờ chết bụi?! Rồi chỉ với một khúc xương trong mồm con chó, Y Uyên đã vẽ ra một cảnh thê lương, hãi hùng của chiến tranh đang phủ chụp xuống, không chừa một ai: Nỗi đau chết trận và nỗi đau của mất mát, chịu đựng không cái nào nhẹ hơn, bởi một đằng là tức thì với cảnh banh ruột máu me đầm đìa, một đằng kéo dài âm ỉ đau, âm ỉ khổ nhục… Cả hai vẫn thế. Những người phụ nữ bình thường ở nông thôn, dưới ngòi bút Y Uyên luôn phải mang trên vai những gánh nặng khổ ải nhất trong thời chiến. Chiến tranh không nổ ra ngay tại những toà dinh thự lộng lẫy của các lãnh tụ hai phía, mà diễn ra khắp cùng các làng mạc ở nông thôn, xua đẩy những nông dân xác xơ chạy lánh nơi an toàn ở thị xã, thị trấn. Và như vậy, buộc họ phải coi trọng cái ăn. Những người đàn ông không thể về vùng quê xôi đậu để mang lúa lên sống chờ chiến tranh kết thúc, như anh Hai của Bình, mà là người vợ, chị Hai. Chuyến về lấy lúa ấy, chị mất tích luôn. Chị đi đâu? Làm gì? Sống chết? Toàn là những lời đồn đại không thể kiểm chứng:
… Bình lấy giọng bình thường bảo anh: “Anh giận hoài chị Hai, tội quá. Chị có chịu khổ như vậy cũng vì phải về lấy lúa lên sống.” “Không nói nữa, mệt quá. Nó nhơ nhuốc, độc ác như con cú mèo.” Bình phủi lớp bụi bám trên vai áo da, kiên nhẫn: “Anh chị dù sao cũng sống với nhau bảy tám năm rồi…” “Nó đi Nha Trang rồi…” “Anh gặp chị hồi nào hay chỉ nghe nói?” “Cả xã Ðại Tùng người ta biết nó. Nó bắt một đứa nhỏ mồ côi đi theo để ăn mày cho dễ (…) Ðầu nó bào nhẵn như đầu thầy chùa. Nó băng qua bãi cát mà ra biển. Tới gốc cây đại thọ nó mang thằng nhỏ vào cái hang rễ cây, cầm xương rồng khô đốt cháy mà trui mặt mũi, chân tay thằng nhỏ. Muôn đời nó không dám về cái xứ này nữa.” “Người ta bày đặt, anh chớ có tin… Anh gắng để ý kiếm chị một chút.” “Kiếm để ăn đạn, ăn mìn sao? Không nói nữa, mệt quá.” (“Mùa xuân mặc áo vàng”).
Ðó, chiến tranh đi qua truyện Y Uyên bằng thứ đạo đức xổ dốc, bằng những nhân cách lạnh lùng, bằng sự ích kỷ, sợ sệt bám riết theo các nhân vật. Họ có nhau, là của nhau, nhưng luôn chia lìa, xa cách trong những ý nghĩ hoang mang tột độ; hoang mang với bản thân và với chồng vợ. Hành động của anh Hai, chị Hai không thuộc về bản chất, nó thuộc về một thế giới khác, thế giới của hữu hình và vô hình trộn lẫn để đẩy con người ta vào hóc kẹt tối tăm làm người. Cái thế giới trộn lẫn ấy chính là điều Y Uyên muốn nói đến, nhắc đến, bởi hàng ngày anh đi qua, anh nhìn thấy, chứng kiến, sờ đụng… Chiến tranh cùng khắp, ồn ào và không ồn ào, nổ chát chúa và nổ bùm bụp trong cõi lòng. Nổ tung từ vùng nông thôn lan tận rìa thành phố, đâu đâu cũng là sự nhớp nháp của chiến tranh, đẩy con người từ già trẻ gái trai tụt dần xuống miệng hố đen ngòm. Trong hàng triệu con người nhếch nhác ấy, Y Uyên dựng lên một nhân vật có thật, nhếch nhác hơn thế: ông Mịch. Ông muốn bảo vệ cho thứ luân lý, đạo đức, trật tự có sẵn, ngay thẳng, trong sạch nhưng bị kết án là: “Ông già làm bộ giả điên để chửi tất cả cho sướng mồm.” (“Ðuốc sậy”). Ông Mịch ca ngợi Tán Thuật, gây sự với lính Ðại Hàn, chửi người lính già commando, theo đoàn người biểu tình chiếm Ty Tâm lý chiến, “ông kéo lùi chiếc xe díp của một thiếu tá, giữ lại cho mọi người chất vấn, ép phải hô lớn ‘Mẹ Việt Nam bất diệt! Tổ quốc Việt Nam muôn năm!’ Ông tiếp tục gây sự với mọi người và kêu gào mọi người hãy tham gia vào việc thiết lập trật tự đạo đức bị chà đạp, xuống cấp nghiêm trọng.
Ông túm lấy một người con gái đội mũ nan chóp nhọn, chỉ vào mặt: “Bọn mầy ở mấy cái xổng chở đĩ tới đây hồi hôm?” Người đàn ông lùi lại kêu lắp bắp: “Ông không có quyền…” (…) Ông Mịch lùi vào bức cửa sắt đóng kín, hai tay dang ngang, hét lớn “đồ đĩ, đồ đĩ của Mỹ. Tao phải giết hết.” Ông vỗ vào cánh tay, vén ống áo lên tới nách lúc tiến lúc lùi, thủ thế.” (ÐS).
Theo sát những hành động và những lời chửi bới điên khùng kia là cảnh: “Bọn người ở dưới làng lên ngủ nhờ bắt đầu đông. Họ vào nhà, cất nón cất xe, hỏi thăm Sương nhưng không ai lên lầu gặp ông Mịch. Họ ra trước cửa ngồi la liệt dưới mái hiên trên hè đường ồn ào nói chuyện.” Nhưng chạy đàng nào, đi ngủ nhờ đàng nào rồi họ cũng nhìn thấy: “Ðạn lửa đỏ rực lừng lững nối đuôi nhau, bay trên cánh đồng, ngang qua mặt quốc lộ ngoài kia.” Và rồi mọi chuyện cũng phải kết thúc bởi đạn bom không chừa một ai, ngay cả người hô hào sự công bằng, đạo đức, lên án mọi phi nghĩa đang bày ra nhan nhản trước mặt: “Những chiếc khăn trắng nhờ nhờ trải đầy trên mặt cát. Ông Mịch đã bỏ đi, đứng cách đó khá xa. Người ông cũng nhuộm màu mây đỏ. Sương thấy ông chậm rãi nằm úp tai xuống cát. Chiếc mũ sắt cắm vục xuống nom đen đủi, tròn bóng. Chắc ông lại nghe xem đoàn quân Tán Thuật lại gần hay chưa?” Những dòng cuối cùng để kết thúc truyện “Ðuốc sậy” là sự gãy gập đoạn trường bởi những biểu tượng cho lòng ngay thẳng, thanh tao, mọi giá trị nhân bản cũng đều gục ngã theo ông Mịch “người ông cũng nhuộm màu mây đỏ.” Từ những người nông dân chạy loạn, đến ông trí thức giả điên hay điên thật đều được phơi bày một cách trần trụi, bình thản như những tấm lưng cong oằn chịu đựng, như cơn giận bốc lên bất ngờ của ông Mịch. Nhưng những số phận heo hắt đó, đâu chỉ dành riêng cho những người “nhà quê”. Nó còn đè nặng và hơn hết là cảnh sống mỏi mòn chờ đợi của những công chức là các thầy giáo trong ngôi trường ở quận lỵ miền núi, ngày đến lớp, đêm cùng học trò ra trốn ở các lùm bụi rậm, chỉ cách thị xã không bao xa: “Những người dạy ở An Bình tuy cách thị xã cả ba bốn chục cây số, tuy rất dễ gặp một ổ phục kích, một trận đánh, một trái mìn giữa đường, nhưng đường về thị xã còn có thể đi lại được. Ở đây thì hoàn toàn cô lập” (“Những ngày cuối năm trên miền núi”). Bởi “đường bị cô lập,” nên những Huỳnh, Ngưỡng, Phan… vẫn còn kẹt tại nơi đèo heo hút gió này, ngóng đợi từng chuyến trực thăng bay về thị xã, với những tâm trạng nôn nao trong những ngày giáp tết để rồi ngày hai bữa vẫn phải ngồi vào bàn ăn: “Vẫn đĩa trứng thường xuyên, vẫn hai bát rau muống chẻ, một khúc cá và ba tô canh bầu hạt tổ bự.” Ngày ngày vẫn phải tới lớp, tối vẫn phải chui trốn với lũ học trò, vẫn phải chứng kiến cảnh: “…có đứa nghỉ hôm trước, hôm sau gửi cho thầy một lá thư đầy lỗi chính tả hẹn ngày “giải phóng” cho thầy.” Và một đứa học trò khác với Ngưỡng: “Thưa thầy em muốn xin rút lại hồ sơ… Em muốn xin thôi học lấy lại hồ sơ để… đi biệt kích” – “Ði biệt kích?” Ngưỡng lạ lùng. “Nhỏ như em làm sao đi lính?” Thằng bé tự tin: “Em đã hỏi cẩn thận rồi. Cứ lên gặp họ, nói không có chỗ trốn Việt cộng, họ nhận liền.” Hai đứa học trò bậc tiểu học, một đứa lấy lại hồ sơ để “giải phóng” cho thầy, đứa kia xin đi biệt kích, chỉ vì “không có chỗ trốn Việt cộng!”? Thử hỏi còn cảnh nào bi thương hơn? Chiến tranh là thứ gì mà nó bóp nát những quả tim bé thơ dưới ngòi bút Y Uyên đến vậy? Mối tình với cô giáo Diệu không thể nào xoá đi cảnh “bốn chiếc oanh tạc cơ bay thành hình bầu dục trên rặng núi trước cổng trường” trong buổi lễ cuối năm.
“Những chiếc máy bay sà xuống thật thấp, lao vút vào những cột khói đen sậm ở chân núi. Những trái rockets như những cái chầy bạc lấp lánh dưới nắng tới tấp phóng xuống trước nền rặng núi xanh đậm. Ðất rùng rùng từng đợt dữ dội. Bọn trẻ nhao hướng về phía đó.” (“Những ngày cuối năm trên miền núi”).
Các nhân vật “học trò” kia không rõ chúng có thực hiện điều mà chúng nói, viết thư cho thầy giáo Ngưỡng hay không, nhưng những toan tính buổi đầu của chúng là sự dã-man-đến-tận-cùng của chiến tranh. Nó không chừa một ai, không dung tha một ai. Tất cả đều bị cuốn hút vào guồng máy súng đạn khổng lồ, căm thù chất ngất, phi lý đến cùng cực, bởi nó không có hình thù, mặt mũi, chân tay mà lại có thể bất ngờ siết cổ họng anh đến ngạt thở, đưa tay moi móc ruột gan mọi người banh ra ngoài, chiến tranh không có giấc ngủ…: “Chiến tranh và nỗi khổ hỗn độn xung quanh như không trộn lẫn được những người công chức thị xã với người dân nạn nhân. Những đêm nghe bom, đại bác dội về rung cả cánh cửa, anh thấy chiến tranh không có giấc ngủ. Nhưng lúc nom những xác người nằm trong một căn nhà thương, anh lại thấy chiến tranh gồm toàn những giấc ngủ triền miên, anh chẳng thể hỏi han như hỏi han bà hàng vịt lộn” (“Bên ngoài khán đài”). Mới hôm nào anh còn là trí thức trên giảng đường đại học, ngoảnh một cái, anh chui tọt vào vòng xoáy chiến tranh, đánh mất tất cả mọi niềm tin: “Tôi chạy đến thì anh tôi đã bỏ đi. Một đám đông bu trước tiệm nước. Chiếc khăn bàn anh tôi ngồi rũ xuống một góc được giữ lại bằng một lưỡi dao ngập trên bàn” (“Có heo may Hà Nội”). Hành động của anh chàng đã từng “cắp nách những cuốn triết hoặc cần cù tô từng nét chữ Hán cho đậm nét” kia giờ đã là người lính bất đắc dĩ. Chuyện giận dữ vô cớ cắm lưỡi dao trên bàn, chuyện cãi nhau với mẹ, chuyện xin phép đơn vị về đám giỗ… chỉ là cái cớ để anh trút tất cả nỗi thất vọng, hoài nghi của thế hệ mình vào lớp trí thức sa lông như chú anh (chồng của cô ruột) vẫn cứ hăng hái nói về những lý tưởng, nhớ nhung quá khứ, những người thuộc thế hệ quá khứ đều là những anh hùng, sẽ cứu lấy đất nước rách nát, xác xơ này và nhìn ngắm lũ trẻ như là bọn vô tích sự. Và rồi bọn trẻ kia cũng đâu chịu lép vế, họ cũng vùng lên, phản kháng yếu ớt:
“Tao không chịu được những bộ mặt trí thức thất bại lộ ra cả trong việc theo vợ đi ăn giỗ, nói chuyện thời thế và Hà Nội. Họ khôn khéo ăn nói những thứ mọi người đang thích ăn thích nói để che lấp nỗi nhớ tiếc vốn là mầm sống của họ. Họ không nhớ một mình Hà Nội, cũng không nhớ Hà Nội như tình cảm của một chiến bại, hoặc cao hơn, một nỗi nhớ cần nhiều cố gắng thực tại để bù đắp sự thất bại còn dây dưa chưa biết đến bao giờ. Họ còn thương nhớ cả những nếp suy nghĩ của mình nữa. Trước tình thế này, họ nên khuất mắt, đừng lẩn quẩn bên chân những người vừa mới lớn lên đã phải nhào vào chống đỡ những sụp đổ do họ gây ra” (“Có heo may Hà Nội”).
Người chú trí thức (chồng của bà cô ruột), người anh trí thức đang vào lính (anh của nhân vật xưng tôi), hai thế hệ khác nhau cùng sống trong một giai đoạn lịch sử đầy bất trắc, biến động và cùng có những ảo tưởng khác nhau về cuộc đời, số phận, về trách nhiệm, bổn phận… trước lịch sử, một lịch sử trong thời kỳ mọt rỗng, một đất nước trong thời kỳ mọt rỗng, một bên hiển hiện rõ ràng bằng máu và nước mắt, khăn tang, một bên là những hoài niệm về một thời vàng son của cả dân tộc cùng đứng lên kháng chiến:
“Những ảo tưởng về tương lai tuy chua xót, nhưng bao giờ cũng đáng phấn khởi hơn những ảo tưởng về những chuyện đã qua, dù đẹp nhưng tình và chết như bóng thím Hương trên bức tường hoa, bên nữnh trụ gạch dát hình rồng phượng bằng các mảnh sành mảnh sứ” (“Có heo may Hà Nội”).
Vâng, con rồng con phượng chỉ là hình tượng đẹp trong trí nhớ mọi người. Còn những mảnh sành sứ là có thật, là những mảnh vỡ được ghép lại! Chiến tranh đi qua tác phẩm Y Uyên thực không rõ ràng, không hình dạng, bị băm vằm ra từng mảnh. Khi đọc, ta gặp chỗ này một chút, chỗ kia một ít, nhưng khi gập sách lại, chắp nối các chi tiết tác giả đã mô tả, dẫn dắt, bày tỏ thì mới thấy hết phía sâu thẳm tận cùng, bên trong. Có lẽ đây là điều gây khó chịu cho người đọc, làm cho người đọc không thích truyện Y Uyên nhưng vẫn phải đọc, đọc để tìm ra điều tác giả gây khó chịu ấy. Ví như truyện dài Ngựa tía, những nhân vật Thừa, bốn Phây, Diễn, thằng Mạnh, Thu, Thương… xoay vòng vòng những tâm trạng thấp thỏm âu lo cho công việc, số phận: Thừa trở lại quê nhà tạm nghỉ để chờ chuyến đi tiếp chỉ có thể nhìn thấy cuộc chiến qua hình ảnh của người cha và con ngựa tía; như Thương, một thiếu nữ đầy bất hạnh mang lời ca để vỗ về những người cầm súng hôm qua ở bên kia, hôm nay ở bên này; như ông Phước Hải nuôi chim yến làm giàu và qua hình ảnh ông, người ta như nhìn thấy những kỷ niệm của chính mình do ông cất giữ như một cái bảo tàng, bảo tàng của kỷ niệm, bảo tàng của thứ tình cảm riêng tây?… cùng hàng loạt những nhân vật khác. Tất cả đều xoay vòng vòng đến khó chịu, như câu ca dao anh dẫn ra:
“Con ngựa tía ăn quanh đèo Cả Vầng nguyệt đêm rằm bóng ngả về đông…”
Trong Ngựa tía, chiến tranh đi qua đời sống mỗi nhân vật như một định mệnh oan khốc của chính mính, bắt đầu từ làng quê, vùng ngoại ô, rồi lan xuống thành phố vây chặt lấy số phận họ và từ lúc nào nó bùng vỡ ồ ạt mà không ai hay. Tất cả đều lạc lõng, đều bơ vơ trước một nghịch lý cay đắng nhất. Những người trẻ tuổi trong Ngựa tía như Thừa, Diễn… là những người có số phận buồn thảm nhất. Buồn thảm đến độ bi hài như chính lão chủ quán cơm:
“Ở quầy hàng, một người lính trẻ tuổi gây gổ với gã chủ tiệm vì gã bắt quân nhân phải đóng trước tiền nửa tháng cơm. Gã chủ tiệm một mắt méo mồm, vận bộ bà ba trắng mặt nhô sau quầy, như không phân giải, không cãi lý, chỉ căng rộng mồm kêu: “…trận núi Sầm vừa rồi, bảy người không trả tiền cơm, trận Ðồng Leo năm người, bữa mìn nổ ở cây số 3 cũng mất hai người nữa, tôi không thể dễ dãi hoài như vậy, tôi không thể dễ dãi, dễ dãi tôi chết cả nhà tôi, tôi không thể…, trận Long Biền mất bốn, trận…” (Ngựa tía, trang 55)
Ðọc đến dòng cuối cùng của trang cuối cùng, người đọc không hề tìm thấy chiến tranh nổ ra, quân hai bên đánh nhau khủng khiếp như những bài bút ký của Phan Nhật Nam, những truyện viết dưới hầm, bên trong lô cốt của Trần Hoài Thư… Vậy mà, sao nó cứ đeo bám nhùng nhằng trên vai mỗi người có mặt trong truyện? Phải chăng vì, như Thanh Tâm Tuyền đã nhận xét về anh: “Y Uyên đã hội đủ những điều kiện để trở thành một nhà văn: có một khung cảnh của riêng mình (như Dickens có Luân Ðôn, như Dostoievski có St. Pétersbourg), có những nhân vật mà mình yêu mến.” (Văn số 129). Những nhân vật của Y Uyên chẳng có gì xa lạ, họ không phải là chàng thanh niên và cô thôn nữ của Lê Xuyên ngồi nấp sau bờ ruộng chờ đợi nụ hôn, không phải là các bà mệnh phụ trong những căn phòng lộng lẫy, những thiếu nữ đài các than thở về mối tình sứt sẹo của bà Tùng Long, hay những trí thức sống trong tháp ngà của Mai Thảo…, mà là những con người rất đỗi tầm thường như Bước, như Phon, như Kiểm… Họ ngơ ngác nhìn tai hoạ đổ ập xuống bụi cỏ xác xơ, bụi tre làng cao ngọn lay lắt buồn thảm, những con đường làng trở nên vắng vẻ, âm u. Lúc nào và ở đâu cũng có thể nhìn thấy được chiến tranh, ngay cả trong giấc ngủ, ngay trong câu nói bâng quơ của người nông dân ít học, ít hiểu biết thời sự nhất:
“Trước, một buổi mai bán ở chợ dưới, hàng bán còn gấp đôi số hàng bán cả hai buổi bây giờ. Chợ chi mà chỉ có người bán. “Chiến tranh mà chị.” “Chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy.” (“Chiều trong làng”).
Họ, những người nông dân chất phác, quê mùa chẳng thể biết, hiểu được chiến tranh là cái gì. Nhưng nó, chiến tranh, cứ đeo bám bên hông họ, bên mẹt hàng của họ từ ngày này đến năm khác để phải bật ra tiếng kêu “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy”. Chính cái dây dưa cà cuống nhùng nhằng đó mới đẩy một ông Mịch trở thành kẻ điên, đẩy Bước thành một kẻ luôn lo sợ vu vơ, thành một ám ảnh, thành nỗi hoang mang vô cớ và thường trực trong đầu óc Bước:
“Thuở nhỏ Bước sợ ma quỷ bắt về âm phủ… Bây giờ từ miệng một người phu xe qua thôn, từ một thành phố Bước chỉ tin là có vì được nghe phát thanh chốc chốc nhắc lại “Ðây là tiếng nói nước Việt Nam phát thanh từ…” từ một ngôi nhà làng… đâu đâu cũng có lệnh cho Bước, ai ai cũng có thể ra lệnh cho Bước. Dẫu Bước không có một căn cứ cụ thể như có bụi cây để nghĩ ma quỷ lẩn quất ở đó là hợp lẽ, bây giờ Bước vẫn phải tin và tuân những lệnh đó và vẫn sợ những trừng phạt kèm theo.” (“Chiều trong làng”).
Nhắc lại rằng, trong hầu hết các tác phẩm của Y Uyên, các nhân vật không trực tiếp tham gia hay đối diện với những cái chết kinh hãi, của cảnh bom rơi đạn nổ kinh hoàng, nhưng giữa những đổ nát ấy, giữa cảnh máu đổ thịt rơi đang xảy ra đâu đó xa chỗ họ đứng, họ sống thì chiến tranh vẫn thường trực đè nặng lên người họ, tâm trí họ. Những nhân vật hiền lành như Nhưỡng, một giáo viên, như Diệu người yêu của anh ta, đang đi bên nhau vẫn nảy ra một cảm giác lo sợ vu vơ, bất an ngay trong ý nghĩ:
“Nghe tiếng lá khô loạt xoạt cọ vào nhau liên hồi, Ngưỡng vững lòng. Nếu có người bò trong đám mía, có vấp ngã, những tiếng loạt xoạt cũng át đi, khỏi sợ lộ.” (“Ngày về của bọn họ”).
Ðó cũng là tâm trạng của Hồ, anh cố vượt qua con đèo dài để kịp về xum họp với người thân yêu trong những ngày tết, nhưng anh vẫn cảm thấy như sự bất trắc của bom mìn vẫn chờ chực đâu đó, chờ bước chân anh đi qua, của đoàn người qua đèo mà nổ tung lên:
“Một nỗi hoảng sợ đến kinh dị chiếm lấy Hồ. Hồ cắm đầu chạy nhào đuổi theo đoàn người trước mặt. Lúc đã tới chân dốc, Hồ mới nhận ra vẻ hớt hải của mình.” (“Mùa xuân qua đèo”).
Truyện ngắn duy nhất mà Y Uyên vẽ ra khuôn mặt người lính là truyện “Tiếng hát của người gác cầu” trong tập truyện ngắn Tượng đá sườn non do Nhà xuất bản Thời Mới xuất bản năm 1966. Ðó là truyện ngắn có hình dạng, có chân dung của người lính hẳn hoi. Nhưng những người lính xuất hiện trong truyện không phải là những người anh hùng, không phải là những thiên thần, không có cấp bậc, không bao giờ biết ngồi lên xe “díp” là gì. Họ là những người nông dân, là những bè bạn trong làng vào lính và cầm súng. Chuyện vào lính của họ là đương nhiên, không thể cưỡng lại, đứng ngoài; còn cách cầm súng của họ không phải ra ngoài mặt trận bắn nhau, mà là để đứng gác trên chiếc cầu dài, mặt phải luôn nhìn xuống dòng nước lũ trôi qua gầm cầu, ở dưới đó sẽ có những bất trắc cho tính mạng chiếc cầu, tính mạng người lính và đám đông. Nhưng thỉnh thoảng người lính gác cầu cũng nhìn đoàn xe chạy vụt qua, nhìn chiếc bảng cấm ở đầu cầu xoay đi xoay lại như chính cuộc đời của bọn họ, những thanh niên nông dân, là bạn bè thân thiết nhau. Ðó là Nhựt, Thấu, Phon, Ðành… cùng vào nghĩa quân. Phon đứng gác trên cầu nhìn dòng nước lũ và nhìn những con bò, ngựa chết trôi sông và ao ước “có tụi nó ngồi nhậu”. Còn tụi nó, tức đám bạn thân của Phon là nghĩa quân ở xã, cũng nhớ Phon nay đã lên quận, đang ngồi nhậu thịt ngựa với rượu đế và nhớ lời ca ruột của bạn: “Cúc Hoa ơi nếu chúng ta còn cách xa nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn là kẻ bị đày ải đơn côi trong ngục thất của tâm hồn…” Ngày nào cũng như ngày nào, Phon cầm súng đứng trên cầu và nhìn xuống dòng sông đục ngầu, thỉnh thoảng nhìn tấm bảng xoay qua xoay lại và nhìn xuống dòng nước coi có xác con vật nào trôi qua? Cảnh nhàm chán ấy cứ lặp đi lặp lại mãi đến nỗi Phon cất tiếng hát bài ca của đứa bạn đã chết tên Xanh, như một thói quen nhớ bạn bè. Nỗi nhớ cuồn cuộn chảy dưới gầm cầu được Y Uyên miêu tả đến tận cùng sâu thẳm của tâm hồn Phon, phơi trần bản chất đặc sệt nông dân từ trong suy nghĩ đến hành động. Con người cùng khổ ấy chỉ có mỗi một ao ước cháy bỏng là được nhậu một bữa cho ra nhậu. Những giọt nước mưa bám trên mặt mũi anh cũng gợi một sự liên tưởng, như một nỗi ám ảnh không nguôi: “Phon ước những giọt nước mưa trên môi mình là rượu. Phon vuốt mặt, nhô ra khỏi cây sắt.” Sự ám ảnh ấy còn dính chặt tầm mắt Phon theo xác con vật trôi trên sông:
Con vật trôi mau. Tựa bụng vào thành cầu, Phon cúi xuống nhìn. Chiếc đầu với hai cái sừng nhô lên một lần nữa. Con vật chắc mới chết. Lúc Phon ra gác cầu, trận đánh mạn trên sông mới bắt đầu. Phon chắc nó cũng trúng đạn như con bò tuần trước trôi qua đây (…) Phon bứt rứt lắng tai xem có tiếng động nào chứng tỏ con vật còn đang ở dưới chân cầu. Chỉ có tiếng nước xoáy. “Nó đã bị kẹt vào dây kẽm gai.”
Cái nhìn thấy, sự suy nghĩ của người lính dưới ngòi bút Y Uyên vẫn nguyên hình là của những anh nông dân chất phác, thật thà, không chỉ riêng mỗi một nhân vật Phon mà còn cả những nhân vật khác, bạn thân của Phon, đang là lính nghĩa quân dưới làng: “Không phải thịt con ngựa hồi hôm đâu anh Năm. Lòng ngựa xổ cả đống lẫn lộn với lòng Cai Bốn, ai mà dám ăn.” Những người lính nông dân đi cầm súng chỉ để cầm súng, chỉ để ước ao điều mình chưa đạt tới “ngồi trên xe thiết giáp chạy qua bên kia quận” như cách rong chơi chứ không phải đi đánh nhau, và hơn hết: “Một đùi thịt bò còn nóng máu, một xị rượu lúc đã thay quần áo khô, có lẽ không còn điều gì đáng ước ao hơn thế. Tay Phon nhiều lúc đặt trên cán dao bên thắt lưng. Một đùi bò, một xị rượu…” Bóng dáng chiến tranh trong hầu hết các truyện ngắn của Y Uyên là sự chập chờn qua dòng suy nghĩ, là lời kể lại, là nhìn thấy một sự khôi hài rất khôi hài, ví như chính trong truyện này, anh đã mô tả lại cảnh cãi nhau giữa hai thiếu uý ngồi trên xe “díp” và những người ngồi trên chiếc M113 ở giữa cầu, để anh lính gác cầu là: “Phon ngẩn ngơ nhìn theo, nghĩ thầm: Mỗi ngày gặp một vụ như vậy có khi đỡ sầu.” Người lính gác cầu buồn vì xa làng, xa bạn, xa những cuộc nhậu, đêm ngày chỉ quanh quẩn bên chiếc cầu dài hun hút, nhìn tấm bảng quay qua, quay lại, nhìn đoàn người xe qua lại một chiều như thể khắc trong đầu anh nỗi buồn thật sự. Ðó là những tai ách làm anh và đám bạn anh phải xa nhau, phải buồn. Và rất hiếm hoi, anh mới có chút hăm hở để thấy mình thật sự là mình như từ trước khi vào nghĩa quân:
“Nắng lộ dần trên các vòm cầu. Cánh cửa đóng im ỉm ở đầu nhà ga bật mở. Người con gái sang ngủ ngày với Trưởng đồn nắm chiếc khăn tay đi ra, bước lên một chiếc xe Lam-bét-ta. Phon nắm một con dao, bước xuống bờ sông.” (“Tiếng hát của người gác cầu”).
Mấy dòng cuối cùng của truyện “Tiếng hát của người gác cầu” này khép lại một cách lạnh lùng, bình thản như chiến tranh bình thản đi qua trên mỗi số phận, mỗi cuộc đời. Và rồi khi Ðành ở lại xã, đôi bạn nghĩa quân nhớ nhau, Ðành đã lên quận tìm Phon đang đứng gác dưới mưa. Mẩu đối thoại giữa đôi bạn thân thật ra không có gì đặc biệt đáng lưu tâm, nó vô vị nhạt nhẽo như nhận xét của nhiều người, đôi lúc có cảm tưởng như anh cố tình kéo dài ra lấp đầy trang. Mẩu đối thoại không đâu vào đâu, không ăn nhập gì tới sự nhớ thương nhau cả:
Phon giơ tay vẫy, chân bước sang mạn cầu bên kia chờ bạn. Ðành hất mặt lên cười với bộ mặt bóng nước. Hắn đạp xe lên, dừng trước mặt Phon, chân phải đặt trên đường dành cho bộ hành. “Mạnh giỏi mầy?” “Mạnh. Có chuyện chi đó?” “Có chuyện chi đâu.” “Rảnh chuyện vậy na.” “Ờ, tụi tao mà.” Phon sờ vào chiếc áo lụng thụng của bạn: “Tụi mầy xếp thiệt.” Ðành liếm nước quanh môi, nghe những tiếng súng từ vùng núi đầu sông vọng xuống. “Vậy là đỡ rồi. Chỉ còn có hai tháng nữa mầy đã có lương.” “Bữa đó tao gắng xin về gặp tụi mầy. Nghe nói sau bữa tao đi thằng Năm có chuyện với tụi mầy.” “Nó thông cảm rồi. Bữa thằng con nó chết nó cũng mời tụi tao lại nhậu. Con nó chết được hơn tháng.” “Thiệt tội.” “Thằng Thấu nói hay quá nó cũng đỡ sầu.” “Ờ Thấu…” Một chiếc xe ríp phóng vụt qua, Phon quay mặt ra thành cầu “Cấm nói chuyện trên cầu?” “Cấm.” Ðành ngó trước ngó sau rồi vòng xe trở lại: “Vậy tao về.” Phon dựa lưng vào thành cầu: “Tao có lời thăm Thấu.” (“Tiếng hát của người gác cầu”).
Chịu khó đọc lại mẩu đối thoại trên lần nữa, ta thấy dường cái vô vị nhạt nhẽo dần dần trôi ra khỏi trí óc khi Ðành nói “Vậy tao về.” Bình thường, giản dị, cứ y như ta nghe hai người nói chuyện ngoài đời chứ không phải nói trong văn chương. Vậy mà Y Uyên bê vào nguyên xi, để ta cảm được cái tầm thường của những người nông dân, ngoài chuyện nghĩ đến ăn nhậu, miếng cơm manh áo, chuyện lo sợ nơm nớp tai hoạ của chiến tranh đổ xuống, nó còn toát lên cái tình, tình bạn chân thành, không giấu giếm, úp mở, khách sáo… và một sự chịu đựng ghê gớm của tầng lớp nông dân đang chạy loạn ở miền duyên hải Trung phần. “Vậy tao về” rõ ràng không phải là sự hờn dỗi. Câu nói tầm thường này là cả một sự dàn trải về lòng nhẫn nại, cam chịu, nhịn nhục xuyên suốt toàn bộ cốt truyện. Cái khó chịu trong phong cách sử dụng chữ nghĩa của Y Uyên là chỗ đó, đồng thời nó tạo cho anh có một bút pháp riêng biệt, không giống ai. Nói như nhà văn Võ Phiến, thì: “Giữa một văn đàn náo nhiệt, Y Uyên, kẻ nhỏ tuổi nhất, lại nhỏ nhẹ, bình tĩnh, kín đáo. Y Uyên như thể không bao giờ chịu nói hết lời. Chỉ có chuyện băng ngang qua một quãng đồng dưới nắng rồi ngồi lại duỗi cẳng cho con bú, chỉ có xách Solex đi thăm cô bạn cũ một ngày mưa mù, chuyện vãn lai rai rồi chiều lại xách xe về, vậy mà người đọc đọc xong, buông cuốn sách xuống, ngồi lặng lờ, thấy nhạt cả mồm, thấy ngao ngán. Ðời không là thành sầu bể khổ gì ráo, đời không phi lý không hữu lý gì cả, không làm ai buồn nôn lợm giọng gì cả… Nhưng cuộc sống sao mà… nhếch nhác một cách… “tự nhiên”, làm ta rùng mình. Một nỗi buồn nhẹ nhàng cứ lặng lẽ thấm dần, liếm dần vào hồn ta như mưa bụi lặng lẽ thấm ướt cảnh vật một chỗ quận lỵ. Truyện để lại một âm vang xúc động tựa như thơ. Cái ma lực của một phong cách văn chương. Ghê thật.” (Võ Phiến, Văn học miền Nam, trang 1856, NXB Văn Nghệ, Hoa Kỳ 1999) 26 tuổi với 7 tác phẩm đã được đón nhận như một nhà văn có cá tính, chân tài đã gây xúc động cho biết bao độc giả yêu mến anh, bạn bè anh, người thân khi anh nằm xuống bên dòng suối dưới chân núi Tà Dôn. Và, 35 năm sau, kể từ ngày anh bỏ bạn bè, rong chơi ở cõi vĩnh hằng, đọc lại những truyện anh viết về một thời loạn lạc, tôi vẫn thấy sự loạn lạc ấy chưa hề chấm dứt như điều anh từng ước mơ “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy?” Vâng, Quê nhà anh vẫn chưa thật bình yên, mọi người ở quê nhà vẫn là hình bóng con Ngựa tía của anh… l’ Aveyron, tháng 11-2004
Bây giờ, thú thật, tôi không còn nhớ nổi những liên lạc đầu tiên giữa Y Uyên và tôi. Có điều chắc chắn đó là, ít nhất trong giai đoạn khởi đầu, mối liên lạc bình thường giữa một thư ký tòa soạn và một nhà văn trẻ có nhiều triển vọng.
Một trong những chủ trương của VĂN, ngay từ những số đầu tiên, là quy tụ, hướng dẫn và khám phá những cây bút trẻ. Nếu việc “bắt liên lạc” với Thế Uyên là do anh Nguyễn Mạnh Côn, thì việc tìm tới Y-Uyên hẳn do anh Võ Phiến. (Tôi không nhớ rõ, vì lỡ để lạc đâu đó những thư từ liên lạc với Y-Uyên).
Y-Uyên có mặt trong VĂN số 6, tuyển tập đầu tiên giới thiệu những cây bút trẻ. Đăng truyện Bấm đốt ngón tay rồi, tôi có gửi cho Y-Uyên một lá thư. Thư này dường như làm cho anh không hài lòng, nên mãi lâu lắm về sau, tới số 18, VĂN mới lại đăng truyện Sương rơi ngoài vườn. Cùng với bưu phiếu nhuận bút, lại có một cánh thư dài của tòa soạn. Mặc dù thư được viết rất khéo léo, nhưng chắc chắn cũng đã không làm cho người nhận vui lòng. Gần tết Ất Tỵ, nhận được bài mới của Y-Uyên, tôi biết là anh buồn mà không giận (truyện Vết chân thần thoại đăng trong VĂN số 28).
Tới đây ghi dấu giai đoạn “căng thẳng” quan trọng trong mối giao tình giữa Y-Uyên và tòa soạn VĂN. Những bài anh gửi về, liên tiếp bị chúng tôi gửi trả lại anh, kèm theo những lá thư luôn luôn thúc giục đòi hỏi nơi văn tài anh một cái gì “khác hơn thế nữa, mới hơn thế nữa.” Tôi nhớ, vào dạo đó, có một lần tôi viết gửi anh đại ý “cậu có cố chẻ sợi tóc làm tư đi nữa thì giỏi lắm cậu cũng chỉ bằng được Võ Phiến là cùng; hãy viết khác đi, hãy dời bỏ những thăm dò ngược về quá khứ, hãy xông vào cuộc đời trước mặt, chất liệu truyện hãy lấy ngay từ cuộc sống thường nhật, cuộc sống của một thầy giáo dạy trường làng miền Trung đang chìm trong khói lửa…”
Thiết tưởng tôi cũng cần mở một dấu ngoặc để nói rõ thêm về sự “trả lại bài” của các cộng tác viên. Chúng tôi làm việc đó chỉ vì mong muốn các bạn mình sẽ đi xa, đi nhanh hơn. Nếu các bạn đó đưa bài gì chúng tôi cũng cứ thế mà đăng thì, chao ôi, yên ổn quá. Sẽ chẳng làm gì có chuyện mất lòng mất bề với bất cứ ai… Cùng lúc với Y-Uyên, chúng tôi còn trả lại bài của nhiều anh em khác. Có người, giận, không bao giờ đưa bài cho VĂN nữa, nay đã trở thành một tác giả có sách bán chạy. Một tác giả khác, bạn thân của Y-Uyên, đưa chúng tôi ba truyện, chúng tôi đăng một, hoàn lại hai. Anh bạn này giận, không cho truyện nào khác. Ít lâu sau, gặp chúng tôi, anh kêu “Nhất, truyện Bão khô của Y Uyên là nhất.” Chúng tôi chỉ còn biết cười buồn, vì biết làm sao hơn với người tự bằng lòng đứng giậm chân một chỗ!
Khác với mấy bạn vừa kể, Y-Uyên lẳng lặng viết, có phần nào nghe theo ý kiến của các anh em trong tòa soạn VĂN. Truyện ngắn Tượng đá sườn non đăng trong VĂN số 40, tôi còn nhớ đã gửi cho Y-Uyên hai bưu phiếu, một bưu phiếu nhuận bút và một “để cậu đi nhậu với một vài người bạn ngoài đó, coi như đi nhậu với anh em trong này, để ghi dấu ngày cậu bắt đầu viết khác…”
Truyện đăng trong VĂN số 42 (cái nhan đề do tòa soạn đặt: Có heo may Hà Nội) là một trường hợp ngoại lệ, cho hợp vớì chủ đề số báo.
Truyện Tiếng hát của người gác cầu đăng trong VĂN số 46, ngoài bưu phiếu nhuận bút, tôi có gửi Y-Uyên hai lá thư. Một thư viết trên giấy mang tiêu đề của nhà xuất bản Giao Điểm, hẹn sẽ in một tập truyện của anh, gồm một số truyện do tôi lựa chọn. Thư sau, tôi còn nhớ đã viết trong một buổi tối kẹt mưa phải ngồi lại tòa soạn tới khuya, thư viết dài tới bốn trang giấy pelure. Trong thư này tôi thuật lại trường hợp đặc biệt của đoản tác Thư từ Tuy Hòa (của Cảnh Cửu, đăng trong VĂN số 45): đọc bài này, tôi thích quá, không chuyển cho Ban Tuyển Đọc tác phẩm như những bài lai cảo khác, tự ý cho đăng ngay vào trong một số không phải là tuyển tập thơ văn (số 45 là số giới thiệu Françoise Sagan). Bài đăng rồi, anh em “chịu” tôi là tinh, và đồng ý nên khuyến khích tác giả. (Đáng tiếc thay, tác giả này đã làm chúng tôi thất vọng. Mặc dù sau đó chúng tôi đã cố vớt, cố đăng thêm một hai đoản thiên nữa của anh, nhưng anh đã không không thể đi đựọc xa hơn). Tôi lưu ý Y-Uyên về cái “không khí đặc biệt Tuy Hòa” trong đoản tác vừa kể. Tôi còn dẫn Camus (on ne pense que par des images), dẫn thêm nhiều kinh nghiệm khác rút trong cuốn Esquisse d’un roman, v.v., và dặn cậu có thể rời bỏ những nhân vật thầy giáo, cô giáo rồi đó.
Truyện Những ngày cuối năm trên miền núi đăng trong VĂN số Xuân Bính Ngọ; truyện Bên ngoài khán đài đăng trong VĂN số 52, ngoài bưu phiếu nhuận bút, tôi không viết gì. Điều ấy dường như làm cho Y-Uyên thấp thỏm, Uy viết gửi tôi, rào đón, ngần ngại. Tôi trả lời: được rồi, cứ tiếp tục, tôi sẽ in những truyện đó trong tập truyện đã dự trù.
Đầu tháng 8/1966, nhận được truyện Bão khô, tôi vội viết ngay cho Y-Uyên: tới rồi, cố giữ lối viết đó, không khí đó, cái souffle đó. Trong thư, tôi kể tên sáu truyện đã chọn và đề nghị đặt nhan tập truyện là Bão khô, nhà Giao-điểm sẽ lo ngay việc xuất bản. Bão khô đăng trong VĂN số 58 rồi, tôi viết gửi Uy, đại ý nói: từ nay, cậu gửi bài về, tôi không đọc lại nữa, cứ thể cho xếp chữ in ngay. Ít lâu sau, tôi nhận được thư Uy, có vẻ xúc động trước lời ngợi khen biểu lộ qua sự tin cậy của tôi, nhưng lúng túng vì nhà Thời Mới đã lấy trước mất hai truyện tôi chọn để in thành sách (Mùa Xuân qua đèo và Tiếng hát của người gác cầu), Uy đề nghị tôi thay thế bằng hai truyện khác: Ngoài khán đài (VĂN sô 52) và Cái cối xay dưới đồng bằng (Nghệ Thuật số 51). Tôi trả lời Uy đại ý không tiếc vì hai truyện đã bị “phỗng tay trên”, nhưng chỉ tiếc là nếu nhà Thời Mới in hai truyện đó với những truyện Uy viết trước Tượng đá sườn non thì hơi uổng, vì sách sẽ không được “nhất trí”. Tôi cũng tiếc Bão khô không được là tác phẩm đầu tay của Uy.
Đoản văn Trong ánh sánh lân tinh là trích đoạn truyện dài. Uy yêu cầu tôi đăng để “có trớn viết tiếp”, và Uy cũng hỏi han tôi nhiều về sự khác biệt giữa truyện ngắn và truyện dài. Tô thu thập ý kiến của nhiều anh em và đã trả lời Uy trong một thư khá dài.
Truyện Kiểm diện đăng trong VĂN số 66, Uy đã viết vội để cuốn Bão khô có đủ số trang.
Những đoản tác đăng sau đó trên VĂN, hoặc là trích đoạn truyện dài, hoặc là đoản thiên, đều không có gì đặc sắc (Gió cuối năm, VĂN số 71; Dáng thú, số Xuân Đinh-Mùi; Cái xương lá mục số 87; Pho tượng đứng đó, số 92; Có mùa hoa nào lấy vợ, số 97), nhưng tôi không nói gì với Uy về những nhận xét của riêng tôi hoặc của anh em, bởi lẽ tôi biết Uy đã hoàn thành những sáng tác đó trong một nỗi ám ảnh nặng nề: ám ảnh bị gọi lính. Sau lần vào quân trường mấy ngày rồi lại được về vì “thặng dư tài nguyên”, Uy có than thở với tôi “rã rời, hết muốn viết, anh ạ.”
Truyện dài Ngựa tía, thật ra, nhà Giao-điểm in. Sau khi đọc một vài trích đoạn, tôi có viết thư cho Uy, trình bày những nhận xét cùng đề nghị của riêng tôi. Uy không trả lời thư này và cũng không thấy gửi bản thảo cho tôi, tuy là cách đó ít lâu Uy nói “sắp viết xong những trang cuối.” Tôi còn đang đinh ninh là Uy còn đang sửa, viết lại không chừng, thì một hôm anh Võ Phiến đến đưa cho tôi tập bản thảo Ngựa tía, nói “ông in đi, tôi đi khắp cả mà không nhà in nào dám nhận, vì tác giả viết chữ nhỏ quá, khít quá, thợ sắp chữ không nổi.” Tôi nhận tập bản thảo rồi viết gửi Uy. Trả lời: tôi biết là anh không thích, nhưng nếu có thể thì anh in giùm, tôi sắp đi lính, v.v.
Từ Tuy-Hòa, Y-Uyên vào Sài-gòn, lấy khoản tác quyền Ngựa tía để “đi thanh toán một chuyện tình cảm vướng mắc đã từ lâu, mong là lần này nó sẽ dứt khoát.” Dứt khoát rồi, anh chàng buồn, đòi tôi dẫn đi uống rượu say mèm, đêm khuya tôi phải chở về nhà; ít bữa sau anh chàng trở ra Tuy-Hòa, quên cả ghé nhà in ký tên trước lên cahier đầu sách. (Chuyến về này, Y-Uyên đem biếu thân phụ tôi một chai rượu sâm Cao-ly. Chai rượu nay mới vơi có phân nửa, mà người cho rượu đã ra người thiên cổ!)
Thời gian sau đó và suốt cả thời gian sống trong quân trường Thủ-đức, Uy không viết được gì. Mãn khóa, ngay sau khi trở lại miền Trung, Uy gửi về đoản tác Cao nhất, một vài ghi chép đầu tên cho một thiên truyện dài sẽ được khởi viết “trong những ngày không phải xuống đồ dẫn lính đi lấy nước.” (trích thư 4-10-1968).
Thư 3-10-68 (có bản kẽm chụp trang thứ nhất, in đầu số VĂN này) Y-Uyên nhờ tôi hai việc:
Việc thứ nhất: “có một thằng bạn văn vừa mới chết một cách thê thảm, để gián tiếp báo tin cho một số bạn bè và coi như thắp cho nó một nén hương, nhờ anh đăng cho ít lời chia buồn (đính kèm)…”
Việc thứ hai: “…nếu anh thấy có thể in giúp đước tập “Đuốc sậy” mà không phiền lòng anh Võ Phiến, nhờ anh in cho một tập nữa…”
Việc thứ nhất, tôi đã cho đăng mẩu “chia buồn”, ngay trong VĂN số 118. Việc thứ hai, hôm mới đây, gặp Võ Phiến, tôi nói: “Nếu ông không in Đuốc sậy, ông có thể chuyển nó cho tôi. Tôi sẽ in, mặc dù hai lần in sách của Y-Uyên rồi, lần nào tôi cũng bị lỗ khá nặng…” Võ Phiến xem thư Y Uyên, rồi ít bữa sau, anh đưa tập bản thảo Đuốc sậy tới giao cho tôi. Chúng tô dự định tập hợp tất cả những truyện ngắn khác chưa in thành sách của Y-Uyên, phân loại lại, rồi sẽ in, có lẽ thành hai hoặc ba tập.
(Nhân đây, xin được thưa thêm một chuyện: Chúng tôi được biết, trước ngày nhập ngũ, hồi còn ở ngoài Trung, Y-Uyên có viết được một số đoản tác, giao cho những anh em có ý định ra báo, in tuyển tập, nội san, v.v. Chúng tôi rất mong những anh chị em nào còn giữ được những bản thảo chưa in của Y-Uyên vui lòng gửi cho chúng tôi, để việc xuất bản được thêm phần đầy đủ. Trường hợp anh chị đã cho in những sáng tác đó trong những ấn bản phổ biến hạn chế tại địa phương, cũng xin vui lòng gửi cho chúng tôi một bản. Muôn vàn cảm tạ.)
Trên đây chúng tôi đã ôn lại mối giao tình giữa Y-Uyên, tác giả và chúng tôi, thư ký tòa sọan VĂN.
Nhắc lại những kỷ niệm về Y-Uyên thì thật không có gì đáng nhớ. Tìm trong xấp thư cũ, thấy một vài điểm mà các bạn khác, trong những bài đăng cùng số này, chưa nói tới, tôi lục chép ra đây, nghĩ cũng là để “soi sáng” thêm về cuộc sống của Y-Uyên.
“…Trong đó anh kêu “thảm lắm!” thì ngoài này cũng kêu “bực lắm!”. Suốt từ đầu niên học tới giờ, làm hiệu t rưởng một cái trường toàn đàn bà với ông già, tinh thần như chỉ còn một chất công văn, chỉ thị. Ngoài một truyện gửi về cho Nghệ-thuật số gần đây vì dịp hè có hứa với anh Viên Linh, không còn viết được gì. Đầu óc lởn vởn toàn chuyện bỏ nghề mà không quyết định vì thấy kém thực tế. Nhận thư anh, mừng vì có phút được kéo khỏi những lo toan thường trực vụn vặt, nhưng cũng ngại không có bài gửi về anh kịp thời. Dù sao cũng phải gắng như từ trước tới giờ vẫn gắng nghe theo lời anh. Nhất là tại nghe anh nói “một tuyển tập lạ lắm”, thấy hấp dẫn không ít. Về… muốn hỏi ý kiến anh trước…”
(Trích thư Tuy-hòa, 15-10-1966)
Thì ra cu cậu cũng có lần tính bỏ nghề. Không phải vì sợ bị “sa lầy” trong nghề dạy học, mà vì thấy “kém thực tế” – ôi, cái thực tế đã làm thui chột biết bao tài năng ở đất nước ta!
“…Ở ngoài này cháy đều đều – mùa lạnh, cần lửa mà. Lại vừa gặp một “cú” tình cảm nên bỗng dưng thấy mình không còn là một tên viết lách mà là một nhân vật tiểu thuyết của bà Tùng-Long, – cái đó mới ly kỳ…”
(Trích thư Tuy-hòa, 15-12-1967)
(Lửa ở thư trên là lửa đam mê của thú đánh bài; cháy là cháy túi. Thư còn yêu cầu gửi một số VĂN trong đó có đăng bài của Uy tặng một cô gái ở đường Duy Tân, An-cựu, Huế)
Cô gái Huế này tôi không rõ là ai (báo nhờ gửi cho một người đàn ông, cạy chuyển lại), nhưng khi nghe Y-Uyên hỏi ý trong chuyến về Sài-gòn, tôi có lèm nhèm, đại ý “gái Huế, ái tình lăng nhăng thì được, còn cái mục xây dựng thì đừng, ấy là dựa theo kinh nghiệm bản thân của một vài anh em có vợ Huế khác.” Y-Uyên gật gù. Không biết trong “vụ” này, cu cậu đã làm nhân vật tiểu thuyết đến đâu, được bao lâu?
“Hồi này đã hết sức tu thân, không hiểu các anh ở nhà có còn tiếp tục cái chuyện “coi như cho ăn mày…”
(Trích thư Tuy-hòa, 17-4-1967)
Hắn đến tòa soạn và đòi đưa đi chơi. Chơi cái gì? Đang hẹn đến NĐT làm canh xì còm đây. Nghe thấy chữ “xì”, mắt hắn sáng hẳn lên. Gặp đông đảo anh em quanh chiếu bạc, hắn mừng ra mặt. “Mòng đây, mòng mới từ Tuy-hòa về đây. Tây tẩy xì, đi hai chục.” Anh em nhao nhao: “Hai chục rẻ quá, coi như cho ăn mày…” hắn thích thú lối nói đó. Ra tới Tuy-hòa còn tiếc cái không khí đó, cái không khí không thể nào có ở bất cứ một nơi nào khác, với anh em bạn bè nào khác…
“Nhận được thư anh giữa lúc đang bịnh, lo bài gửi về sẽ không kịp đúng kỳ hạn quá. Bây giờ viết hết được dòng cuối mới thấy mừng. Mừng như thoát nợ. Mừng hơn hết mọi lần khác. mấy hôm trước cứ ân hận không biết rõ ngày số Nắng Hè ra nên mới lâm vào cảnh “cuối cùng vẫn phải viết”. Ngày hôm qua vừa đi mổ cái nhọt, từ nay mỗi sáng phải lên bệnh xá một lần, như vậy không mong gì tính chuyện về Sài-gòn. Lá thư vừa rồi của anh có điều gì bất thường, đọc đi đọc lại vẫn không có được một giải thích hợp lý. Ở nhà có điều gì “kẹt” bất ngờ chăng? Đã định viết hỏi anh ngay hôm nhận được thư nhưng lại nghĩ phải viết bài trước đã, hậu tính. Giờ thì có thể nghỉ ngơi, mướn chưởng về đọc và chờ thư anh…” (Trích thư Tuy-hòa, 3.5.1967)
Mới đây nhận được bài của anh Trần Huiền Ân, tôi đã phì cười khi thấy anh nhắc lại chuyện đã làm cho Y-Uyên thắc mắc trong thư dẫn trên. Tôi phì cười cũng như Y-Uyên nói “buồn cười”. Số Nắng Hè tôi có ý định đăng bài của những anh em có mặt trên chiếu bạc nhà NĐT hôm Y-Uyên về chơi. Góp bài không đủ. Trong số người vắng mặt, có cả Y-Uyên, mặc dù hắn bị đau (phải đi mổ nhọt) vẫn cố viết bài gửi về mà không kịp kỳ báo. Cu cậu cố viết bài tuy đau, có phải tại vì đã “sợ” lời “đe dọa” của tôi? Nếu đúng thế, nghĩ thật tội nghiệp, tội nghiệp vì chuyện chỉ đáng “buồn cười”!…
“Lộ xỉ, lộ hầu, tướng đi không chắc bước… tay này chết yểu”, một nhà văn lão thành đã nói bâng quơ như thế, khi cụ nhìn theo Y-Uyên lúc đó mới vừa bước ra khỏi cửa tòa soạn.
Nghe lời vị túc nho cao niên nọ nói mà tôi bỗng rùng mình. Lúc đó Y-Uyên đang thụ huấn trong quân trường. Tôi có nói với một vài chỗ quen biết nhờ lưu ý kéo cho hắn đi ngành. Tôi được trả lời là cứ yên chí. Vốn tính cả tin, tôi yên chí mãi. Mãi cho tới hôm hắn mãn khóa, về chơi nhà tôi, ngật ngưỡng nốc cạn ly cognac, chậm rãi ngả lưng vào thành ghế bành, rối mới khặc khừ “em đi địa phương quân anh ạ”. Tôi bảo hắn, nếu được chọn, chọn ngày vùng I cho tôi nhờ. Ít bữa sau, hắn ghé báo quán, cho biết đâu hắn được đi Côn-lôn, nhưng hắn tình nguyện xin đi Bình-thuận. Tôi xố ghế đứng lên, nói như quát: “cậu quên lời tôi dặn rồi à?” Hắn nhìn tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, tia nhìn mới thanh thản và trong sáng làm sao, và hắn ấp úng: “tôi… tôi có duyên nợ với vùng duyên hải Trung-phần lắm mà anh…” Bữa đó tôi giận lắm, giận hắn, giận những người tôi cậy nhờ, giận tôi, giận tất cả, nên tôi để mặc hắn ra về mà không buồn dẫn hắn đi nhậu một bữa tiễn hành như đã dự trù từ trước. Duyên nợ? Hừ, duyên nợ cái mốc xì! Dại gái, hầu hết nếu không muốn nói tất cả những thằng con trai mới lớn đều dại gái. Tôi đã nghĩ về Y-Uyên như vậy khi nhìn theo hắn leo lên chiếc xe “lam” ngừng bên mé đường bên kia rước khách…
Ít tuần sau, nhận được thư hắn báo tin nơi đóng đồn cũng nhàn, lại có an ninh, viết lách được nhiều, tôi cũng thấy nguôi ngoai.
Ít lâu sau, chúng tôi được biết quân đội đã chiếu cố tới hắn. Một bưu điệp đã được gửi ra tiểu khu nơi hắn trú đóng, cho hắn nộp đơn xin thuyên chuyển về Sài-gòn.
Chờ lâu chưa thấy hắn về, một nhà văn bạn lại xin với thượng cấp cho hắn được đặc cách thuyên chuyển về Sài-gòn.
Tôi được tin văn hữu nọ đã lo xong mọi thủ tục cần thiết, (việc gọi Y-Uyên về Sài-gòn chỉ còn là việc thu xếp trong vòng vài ngày), ngay sau lúc một cú điện thoại khác báo tin Y-Uyên đã từ trần, chiều hôm trước, tại Phan-thiết. Trả lời anh bạn văn tôi cố lấy giọng bình tĩnh: “Cám ơn anh. Có điều muộn mất rồi vì Y-Uyên đã tử trận.” Đầu dây bên kia, anh bạn văng tục và nói cao giọng: “Này, ông đừng hòng qua mặt tôi bằng lối đùa cợt bậy bạ đó…” Như mọi người, anh không tin là Y-Uyên đã chết. Anh chỉ tin điều đó vào buổi sáng hôm sau, khi anh, mặc quân phục vào, cùng mấy quân nhân khác đặt tay vào sợi dây chão, từ từ thả chiếc quan tài bọc xác Uy xuống sâu trong lòng đất lạnh.
TTY, xin cho tôi được cám ơn anh lần nữa. Con người ta sống, chết, riêng tôi tin là có mệnh số. Riêng anh, anh đã lo lắng giùm Uy nhiều hơn là lo cho một bạn văn không thân thiết, với trọn vẹn tấm lòng thẳng thắn và đôn hậu. Tấm lòng đó đã làm anh khác hẳn với những người khác, – những người miệng đã nói với chúng tôi nhiều điều nhân nghĩa, nhưng rút cục chỉ toàn là “đánh trống bỏ dùi”…
Mặc dù tin nhắn thân nhân phải ra ngay nhận xác, nếu không sẽ không kịp; mặc dù tôi đã gạt hết mọi công việc, lao xe như bay lên Gò-vập, báo tin cho gia đình Uy; mặc dù nước mắt đã ứa ra… chính tôi, tôi vẫn chưa kịp tin là Uy đã chết. Chết. Tại sao lại chết, trong lúc biết bao người chăm lo cho mạng sống của Uy? biết bao nhiêu người chạy theo kim đồng hồ, cố kéo Uy về chốn an toàn?
Kỷ niệm của tôi về U-Uyên thật ít (một vài lần dẫn nhau đi ăn nhậu, đánh bài, du hí; một vài lần hắn đi phép ghé nhà tôi “tắm một cái rồi thay đồ, vào trường cho khỏe”… có đáng gọi chăng là kỷ niệm?) nhưng tôi thật tình quý mến Y-Uyên.
Tôi coi Y-Uyên như em. Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm cho Y-Uyên nhà văn, Y-Uyên chuẩn úy. Việc làm của tôi có thể không có kết quả, hoặc kết quả chỉ đến quá muộn màng, quá chậm. Giờ đây, tất cả những gì tôi còn có thể làm cho hắn, ấy là tôi nghĩ thế, là thu nhặt những gì hắn đã viết rải rác đem in thành sách. Những cuốn sách đó có chịu đựng được sự thử thách của thời gian không, đó là một việc. Đối với riêng tôi, việc in chúng ra là việc cần làm. Tôi sẽ làm. Và tôi thiết tha mong mỏi anh chị em khắp nơi sẽ để tâm giúp đỡ tôi trong công việc đó. Không phải vì tôi, hẳn thế. Mà vì bạn của chúng ta, vì Y-Uyên…
Ảnh: nhà văn Y Uyên – trước hầm trú ẩn ở đồn Nora, vùng núi Tà Dôn, Bình Thuận. 1969. Nguồn Thư quán Bản thảo số tháng 2/2005
(Trích: Tuyển tập Lê Mai Lĩnh 2015)
TÁC GIẢ, ĐÔI LỜI…
Ba mươi sáu năm về trước, nói rõ hơn, đúng vào ngày mồng một tháng Năm năm 1969, sau khi nhà văn Y UYÊN chết, trên tạp chí VĂN của Ông Trần Phong Giao, số tưởng niệm nhà văn Y UYÊN, Lê Mai Lĩnh tôi, dưới bút hiệu khai sinh Lê Văn Chính, đã có một bài viết, về cái chết của một người huynh trưởng, Y UYÊN, anh khóa 27, tôi khóa 1/68, trường Bộ Binh Thủ Đức, bài này nằm giữa, trước là Võ Phiến, sau là Thanh Tâm Tuyền. Điều rất vui là tôi nằm giữa, những bậc đàn anh, bậc thầy.
Bài viết, như một kỷ niệm, tưởng chừng như đã chết.
Nhưng. Không ngờ. Không dự báo trước. Nhà văn Phạm Văn Nhàn cùng nhà văn Trần Hoài Thư, trong tổ hợp xuất bản Thư Quán Bản Thảo trong nỗ lực thực hiện một ấn bản tưởng niệm nhà văn Y UYÊN, hai anh đã vận động được những bạn bè trong nước, những người cầm bút trước 1975, còn sa cơ lỡ vận trong Địa ngục trần gian Việt Cộng, tìm kiếm tài liệu, vận dụng trí nhớ và tình yêu đối với Nhà văn Y UYÊN để có bài và viết bài cho số báo đặc biệt. Nhà thơ Nguyễn Lệ Uyên, dù đang cuốc đất, cày ruộng tại Tuy Hòa, cũng đã tìm được số báo VĂN tưởng niệm Y UYÊN (số 129), trong đó có một bài viết, đã trải qua 36 năm, nhưng còn Nóng Hổi chất “Văn Học, Tính Người và Nhân Bản’’ của người lính, Chuẩn úy Lê Văn Chính năm 27 tuổi: ‘’Núi Tà Dôn và Dấu Chân Uy’’. Lê Mai Lĩnh nhận được bài nầy từ Phạm Văn Nhàn, qua bưu điện vào lúc 11 giờ 30 ngày 1 tháng 12 năm 2004.
Lê Mai Lĩnh, đọc lại bài viết, sau khi đã uống xong 5 chai Heineken, hắn sung sướng và hắn khóc. Hắn không ngờ, 36 năm về trước, hắn thông minh, tài hoa và láu cá đến như thế.
Cho đăng lại một bài viết, tưởng chừng như không còn tồn tại trên cõi đời nầy, để quý độc giả chia sẻ niềm hạnh phúc với người thanh niên 27 tuổi vào năm 1969, cũng là người lính, người cầm bút, cũng là một kẻ rong chơi trong cõi ta bà Thế Giới, là tôi: LÊ MAI LĨNH.
01/12/2005
Đêm 8.1.69
Tôi nghĩ là hắn. Đúng là hắn. Chẳng thế nào là ai khác, ngoài hắn. Tôi biết hắn đóng ở Nora. Tôi biết ngay khi đến đây, hai tháng sau ngày hắn đến. Trình diện phòng I, hỏi thăm, được biết hắn đang ở Nora, tôi thú thật: tôi thất vọng. Thất vọng vì người ta không dùng hắn như một nhà văn có tài (26 tuổi với 4 tác phẩm vững vàng, phong phú biết bao). Người ta dùng hắn như một chuẩn uý, trung đội trưởng địa phương quân. Nhớ đến thơ Luân Hoán: Tôi là một sĩ quan mù, chỉ huy một trung đội điếc… Lúc này, nếu gặp Uy, tôi ắt hỏi: mày có mù, lính có điếc? Hỡi Uy!
Tôi nghĩ đến hắn. Tôi nghĩ ngay Uy như thế khi người lính truyền tin ở yếu khu Phú Long nói cho tôi biết, có một Chuẩn Uý ở đồn Nora đã mất tích!
Đêm nay đến phiên tôi dẫn lính giữ cầu Phú Long, ngủ dưới gầm cầu. Tôi nghĩ là Uy không thể chết. Chỉ những viên đạn vô tình thì mới không phân biệt được, còn như nếu bị bắt, Uy không thể chết. Việt cộng có thể không coi trọng Uy như một nhà văn. Nhưng biết đâu chúng chẳng dẫn Uy ra Bắc rồi tuyên truyền ầm ĩ là chính Uy đã ‘’trở về với nhân dân’’. Rồi Uy sẽ được dẫn đi khắp nơi, sẽ lên tiếng ở đài phát thanh, sẽ kêu gọi bạn bè của anh trong ban biên tập nguyệt san Bộ Binh…
hãy ‘’quay súng về với nhân dân’’. Rồi Uy sẽ được một thiếu nữ xinh đẹp, ngon lành nhất Hà Nội ôm hôn và choàng hoa. Có thể nữa, Uy sẽ làm tờ chối từ những tác phẩm của anh. Rồi Uy sẽ bắt đầu lại từ đầu, trong sự dẫn đường ‘’của Bác và Đảng’’. Tôi nghĩ đến Uy trong một cuộc đời mới. Tôi cũng định tâm từ nay theo dõi đài Hà Nội, để chờ nghe hắn lên tiếng. Tôi không một mảy may nghĩ rằng hắn sẽ chết. Tôi không nghĩ là hắn sẽ chết nếu bị rơi vào tay Việt cộng, nhưng tôi tin hắn sẽ thoát xác một cách chóng vánh và tức cười.
Ngồi trên thành cầu đến khuya, tôi nhìn về phía ngọn núi Tà Dôn và tôi nghĩ, lúc này có lẽ hắn đang bị trói tay, cũng có thể không bị trói tay nếu gặp được những đứa Việt cộng biết trọng nhân tài, và đoàn người có Uy đang di chuyển trong đêm lấy núi làm chuẩn.
Ngày 9.1.69
Đến nhà Nguyễn Hiếu Học lúc 1giờ 30, tôi gặp Thái Phi Kích. Và bây giờ tin Uy tử trận đã rõ ràng. Chúng tôi lặng người. Trước mọi cái chết, sự lên tiếng, dù thế nào cũng đều lố bịch – nhất là trước những cái chết của những trường hợp như Uy, những người hiếm hoi như Uy.
Học nói cho tôi biết về những giấy tờ do đâu đó làm chậm trễ, gây nên cái chết của Uy, chứ đáng ra Uy đã được về Cục CTCT. Lúc đó hình như tôi có chửi đổng một câu. Cũng không mấy tin tưởng là tin Uy tử trận sẽ sớm được thông báo cho gia đình Uy nên chúng tôi chia tay nhau đi nhờ gọi điện thoại vào Sài Gòn, tới hai nơi mà chúng tôi tin là có người biết nhà của Uy, tòa soạn Bách Khoa và Văn. Buổi chiều hôm đó, Thái Phi Kích đã nói chuyện được với Sài Gòn. Chúng tôi tạm yên tâm là hôm sau thế nào cũng có thân nhân của Uy ra.
Chúng tôi lên Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch thì tin xác Uy chưa được chở về.
Tôi để Học và Kích lại nhà, rồi lên đồn, trong ý định xin Đại Đội Trưởng về nhà một đêm để tiếp tay các bạn. Tôi vừa lên đồn – lúc đó khoảng 6 giờ chiều – thì nhận được lệnh cùng với đại đội trưởng đi hành quân mở đường khoảng Phú Long – Tuy Hòa cho đoàn công voa chở xác Uy về.
Khi đến Ba Cây, tôi gặp chiếc xe Hồng Thập Tự. Người tài xế cho biết ông chuẩn uý nằm trên băng ca, còn dưới sàn xe là hai người lính. Lúc đó, tôi vạch tấm vải làm cửa xe và tôi chỉ kịp nắm bàn chân Uy vừa khi chiếc xe rồ máy chạy. Trở về đồn đã hơn 7 giờ, tôi phải ở lại đồn, chẳng giúp gì cho Học và Kích đêm đó.
Uy ra trường trước tôi một tháng. Ngày còn ở trong trường Thủ Đức chúng tôi thường gặp nhau vào chiều thứ sáu mỗi tuần. Ngày bàn giao ban biên tập, chính nhờ Y Uyên mà chúng tôi, trong số đó có các anh Dương Kiền, Lê Tất Điều… được ăn một chầu hột vịt lộn, nhậu bia 33..
Đến khi về Phan Thiết, tôi được tin anh đóng đồn ở Nora, thỉnh thoảng mới có dịp xuống phố. Vài lần anh tìm đến thăm tôi, nhưng không gặp. Mấy lần nghe tin anh về, tôi tìm thăm, nhưng anh đi vắng.
Chiều nay, bên lề đường, tôi nắm chân anh trong lúc giữ phần an ninh lộ trình cho chuyến xe chở xác. Lúc trở về đồn, tôi không thể ngăn mình suy nghĩ mông lung. Mọi người sinh ra, mọi người phải chết. Mọi người, với tư cách công dân, phải góp phần cho sự trường tồn của Tổ Quốc. Nhưng mỗi người thực sự chết có nghĩa lý khi y được xử dụng đúng. Trường hợp của Uy, cái chết dưới chân núi Tà Dôn, năm 26 tuổi, là một cái chết uổng…
Chiều đến, tôi chở Kích và Học lên nhà xác Quân Y Viện. Đó là một đỉnh cát trắng, trông ra biển cả. Những ngọn gió quất tứ tung vào mặt, thổi cát lấp lên lá cờ vàng ba sọc phủ trên áo quan. Nắm cơm và bọc nước cam vàng trong túi nylon cùng với điếu thuốc do người chị đốt cháy mời gọi Uy trở dậy, sao em tôi nằm đây, em tôi không cần tổ quốc ghi ơn, Uy ơi là Uy… Tất cả, thực sự để làm gì? Để đổi lấy những cái chết, để chứng kiến những cái chết, để đợi chờ những cái chết. Can đảm, sáng suốt, hiên ngang cách mấy, trước buổi chiều đó, trước cái chết đó, trước cảnh thê lương ảm đạm của cái cảnh bạn bè nằm xuống đó, người ta cũng nghẹn ngào, tức tối. Trong chúng tôi những thằng bạn cũ của Uy đứng đó, đều thấy rằng, khi ta còn sống, còn lên mặt trận, ta còn được bọc quanh mình bằng những gian trá, bằng những lừa dối. Nhưng khi ta chết đi, điển hình là Y Uyên nằm đó, trong quạnh hiu, buổi chiều nay, trên đồi cát này, có ai làm được cái gì hơn là cho một làn kẽm để bọc, một lá cờ vải để che. Một làn kẽm để bọc. Còn như ngại đường xa, thêm một làn kẽm nữa, tang gia phải trả thêm ba ngàn đồng phí tổn.
10.1.69
Sáng nay chúng tôi được tiếp chuyện trung úy Q., người chỉ huy trận đánh và cũng là đại đội trưởng của Uy. Theo anh thì Uy chết ngay loạt đạn đầu tiên vì bị phục kích. Việt cộng đào hầm độn thổ từ trước, có đến cỡ tiểu đoàn. Chúng chờ phục kích đoàn công voa của tỉnh từ Sông Mao về. Trung đội của Uy phát giác một phần của lực lượng địch nằm dưới hầm bắn lên. Với gia đình, bè bạn của Uy, với văn học Việt Nam, anh chết là một mất mát lớn lao. Còn như đối với chính quyền Phan Thiết, với đại đội 784 Địa phương quân thì đây là một chiến thắng: địch để lại trên 40 xác chết; bên ta chỉ có một chuẩn uý và hai binh sĩ hy sinh.
11.1.69
Tôi nghĩ Uy sẽ không bị chết nếu bị bắt, nếu Uy biết cách nói cho những người ở phía bên kia biết Uy là một nhà văn. Tôi cũng nghĩ đến trường hợp sau khi bị bắt, Uy sẽ được ra Hà Nội, và guồng máy tuyên truyền phía bên kia sẽ khai thác nhà văn của chúng ta. Nhưng tất cả những điều tôi tưởng tượng đều trái ngược với thực tế, một thực tế phũ phàng, tàn nhẫn: Y Uyên sau khi chết rồi còn bị bắn bồi mấy phát súng ở mắt, tai và đâm bồi thêm mấy nhát dao ở hai cánh tay và hai bên hông.
Tôi không có mặt khi bạn hữu tẩm liệm chàng, nhưng Học nói lại những nhận định như thế khi quan sát xác chết với những đầu đạn, dấu dao trên mình chàng. Có những dấu đạn người ta biết được là từ đâu, như thế nào, và người ta cũng biết được nhũng dấu đạn nào là vô ích, là của hận thù. Trên thân xác của Uy, khi chở anh về quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, thì không thể làm sao tìm ra lý do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân hình một người đã chết.
Từ những dấu đạn, vết dao đó, tôi có một nhận định về những người ở bên kia chiến tuyến. Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, dòng dã hơn hai mươi năm này, những người lãnh đạo cộng sản đã dạy cho binh lính của họ như thế nào để lòng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất hợp lý – Ừ, thì cứ cho là hợp lý.
Những viên đạn bắn bồi, nhũng nhát dao đâm thêm trên một xác thân đã chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người cộng sản Việt Nam đã làm những điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận, từ sự cuồng tín. Từ đó chúng ta có một nhận thức mới, họ mù quáng trong khi chiến đấu, họ không mảy may hiểu về những căn nguyên cuộc chiến tương tàn này.
12.1.69
Tôi có đọc Y Uyên, nhưng anh không phải là một nhà văn tôi thích. Người ta chỉ chọn thích một số nào đó thôi trong những tác giả mình đọc. Tôi thì không thích Y Uyên vì văn anh khô và khó quá.. Không thích, nhưng tôi không thể không đọc anh vì anh là một trong số nhà văn có chân tài. Ngay từ những tác phẩm đầu – Những tác phẩm dù không toàn bích – Bút pháp của anh đã khiến người ta chú ý và tin tưởng. Hai mươi sáu tuổi, bốn tác phẩm đã in (hầu hết, do những nhà xuất bản đứng đắn,có uy tín ấn hành), điều đó thiết nghĩ đã đủ để chứng tỏ anh không phải là một tác giả có thể xem thường và sự thành công của anh không phải chỉ là một may mắn, tình cờ, như một vài trường hợp khác.
Trước ngày nhập ngũ, anh đã viết nhiều chuyện thời chiến, lúc đó anh còn là nhà giáo, nên chuyện thường mang nặng tính chất tưởng tượng hoặc dựa theo những kinh nghiệm chiến tranh mà anh được nghe kể lại.
Nhưng nay, anh lại là lính chiến, thứ lính chiến của một chiến trường thường xuyên sôi động là Bình Thuận – nơi mà Cộng Sản đã có cơ sở từ năm 1954 – hẳn nhiên anh phải thường xuyên mở to đôi mắt, lắng đôi tai để đối đầu. Trong chờ đợi, trong tham dự, hẳn anh quan sát được nhiều. Từ đó, chúng ta đủ tin rằng, nếu anh sống, biết đâu từ anh, văn học Việt Nam sẽ chẳng có những tác phẩm viết về chiến tranh bình tĩnh sâu sắc và lớn lao.
Nhà văn Việt Nam, trong chiến tranh Việt Nam, đã thiếu thốn quá nhiều thứ. Hoàn cảnh để sống, phương tiện để viết và nhất là, họ thiếu sự rõ ràng của chính nghĩa để phụng thờ, để làm sáng tỏ. Nhà văn Việt Nam, sống trong sự mù mờ, dường như đã thiếu tin tưởng ở những lẽ phải để phụng dưỡng, nuôi nấng. Từ một hoàn cảnh như thế, một tâm trạng như thế, nói ra những nhận định của mình, nhất là nói ra một cách bộc trực, sợ dễ dàng sai lạc và không chừng lại đắc tội với lịch sử.
Giờ đây, một trong những nhà văn trẻ của chúng ta, một trong những cây bút sống, lớn và viết về cuộc sống đang tàn phá chúng ta, đã nằm xuống – hay nói theo kiểu một nhà thơ trẻ khác – đã ‘’về trời’’. Chỗ anh ta nhắm mắt là dưới chân núi Tà Dôn, nơi nổi tiếng từ những ngày chiến tranh Việt Nam (trong chiến trường Phan Thiết, núi được xem là đích cho những lần hành quân và bố phòng).
Sau ngày anh ta mất đi, những chiến hữu của anh sống trong sôi bỏng của chiến trường Bình Thuận, nhìn về núi Tà Dôn như một ám ảnh của Định Mệnh. Họ thầm nghĩ,một mai, một ngày nào đó, chẳng biết rồi sẽ tới phiên ai trong bọn họ ? Rồi họ sẽ quay đầu hay quay chân về phía núi để cố thu lấy những hình ảnh cuối cùng của cuộc đời trước khi nhắm mắt ? Vì rằng, như một nhận thức, gần như thế trong cuộc chiến dai dẳng này, cái chết là một cái vốn mà ai cũng nắm dễ dàng trong tay, còn như số lời thì đã trở nên hiếm hoi lắm lắm.
1.3.69
Uy ơi, anh bỏ đi thế mà đã hơn hai tháng. Nay tôi thuyên chuyển về đồn Sara, cách chỗ xưa anh đóng khoảng 4 cây số, cách chỗ xưa anh chết khoảng 3 cây số.
Mới hơn hai tháng trời, mà nay nhắc tới anh đã như nhắc chuyện ‘’ngày xưa..’’. Có phải tôi say? Không biết nữa, chỉ biết mỗi lần nhớ đến anh là mắt tôi lại rưng rưng muốn khóc. Mà không phải chỉ khóc cho anh.
Tôi về gần rồi đó, chỗ xưa anh nhắm mắt và ngọn Tà Dôn như tôi chỉ với một tay là tới đỉnh. Mỗi ngày tôi mở mắt cùng với tiếng la om sòm của những chiếc xe đò lui tới, và ban đêm tôi nhắm mắt lại cùng với tiếng chim te te. Và bao giờ, và ở đâu, cái chết của anh dưới chân Tà Dôn này cũng là điều làm tôi nhớ, nhớ hoài hoài không thôi. Tôi định một ngày rất gần, sẽ dắt lính lên vùng trận địa anh ngã, thăm lại con suối anh chúi xuống để chết. Hình như cỏ ở đó xanh hơn mọi ngày, và một bóng Ngựa Tía chờn vờn mỗi đêm trên ngọn Tà Dôn – ngọn Tà Dôn, vùng đất Quê Nhà của anh rồi đó – quẩn quanh bên những Tượng Đá Sườn Non. Nhưng tất cả, phải còn gì nữa chứ? Chẳng lẽ như thế rồi hết! Tôi không tin đâu. Qua cơn Bão Khô này .. những gì còn lại … hơn là những dấu chân anh …
7. Chương 6 Sau bất cứ một chuyến công tác ngoại quốc nào, các điệp viên mật cũng phải theo học một khóa về ý thức hệ để củng cố lòng tin vào lý tưởng XHCN. Bất ngờ là, ít nhất đối với tôi, tôi không thể lên án hoàn toàn các xã hội phương Tây đang ăn sung mặc sướng một cách vô tư lự. Tôi luôn nhớ lại cảnh những cửa hiệu đầy hàng hóa, và những con người ăn vận đẹp đẽ. Sukhi ghen tị với tôi về chuyến đi này, nhưng cô vui khi gặp lại tôi. Chẳng mấy chốc, chúng tôi lại là đôi bạn tốt và tôi cũng mừng là lại được ở với cô. Lẽ ra tôi không được kể với bất cứ ai về chuyến đi, nhưng tôi cảm thấy không thể đừng được: ít nhất tôi cũng phải kể mình đã đi những đâu. Tôi bắt đầu học cả tiếng Trung, vì người ta đưa vào một chương trình mới, theo đó tất cả các điệp viên mật đều phải thạo ít nhất ba thứ tiếng. Nhiều tháng sau, Sukhi và tôi được cử đi Quảng Châu để học thật giỏi tiếng Trung, sau đó đến nửa năm ở Macao. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi ngày lên đường, và càng vui mừng hơn nữa vì được cùng nhau đi. Tại Quảng Châu, chúng tôi ở nhà điệp viên Pak Changri, ông ta giúp chúng tôi học thổ ngữ Quảng Châu và những kiến thức về xã hội Trung Quốc. Trời nóng khủng khiếp, 38 độ, và đường phố thì chật ních người. Cứ thứ bảy, Changri lại đánh giá công việc trong tuần của chúng tôi, để tâm sao cho chúng tôi phát triển ở mức độ cần thiết. Năm ấy với tôi là một thời kỳ đẹp đẽ. Chúng tôi có một khoảng tự do cá nhân khá lớn, ông chủ nhà thì dễ chịu và rất quan tâm đến chúng tôi, và chúng tôi có nhiều dịp để gặp gỡ những con người thú vị. Lần đầu tiên, chúng tôi thực sự được tự lập. Tôi thực sự gần gũi với Sukhi, chúng tôi có dịp tâm sự với nhau về đường đời của hai đứa, cởi mở hơn nhiều so với những gì mà thượng cấp của chúng tôi cho phép. Sukhi muốn được lấy chồng. Bản thân tôi thì nghĩ dến điều này với tâm trạng khác nhau, tôi cũng không ngẫm nghĩ nhiều về nó vì đối với tôi, đảng luôn đứng ở vị trí đầu. Cố nhiên, tôi cũng thăng tiến nhanh hơn Sukhi trên con đường sự nghiệp. Sukhi là một cô gái thông minh, nhưng không thật có tài và cô được tuyển làm điệp viên trước nhất vì sắc đẹp. Cô cũng có suy nghĩ thiên về gia đình hơn tôi, mong muốn có nhiều con, được làm người nội trợ và có nhà cửa. Và cô khá hay phê phán Bắc Hàn một cách công khai. – Ngay Trung Quốc người ta cũng sống khá hơn nhà mình – một buổi tối, cô phàn nàn khi chúng tôi đã lên giường, đầm đìa mồ hội vì nóng. – Châu Âu thì thế nào, Okhva? Cậu kể tớ nghe đi! – Cậu biết là không được phép mà. – Thôi đi cậu, có ai biết đâu!? Tôi lưỡng lự một lúc. – Thế này cậu ạ, Phương Tây cũng không hoàn thiện, không có chuyện ấy đâu. Tại đó, có những điều mà ở Bắc Triều Tiên chúng mình không thể có: mại dâm, cướp bóc, giết người, ăn xin trên đường phố… Tuy nhiên, tớ vẫn thấy nhớ những nơi đã được tới. Có điều, nói về nó làm gì, vô nghĩa! Chúng mình phải ở lại quê hương. – Nếu được cử sang Châu Âu vào một lúc nào đó, tớ sẽ ở lại – Sukhi tuyên bố. Tôi ngạc nhiên. – Sukhi! – Tớ nói nghiêm chỉnh đấy. Tớ đã nghe bao chuyện về Châu Âu rồi, Okhva ạ. Ở đó, thực phẩm gấp chục lần nước mình, ai cũng có xe hơi và mỗi người có thể chọn cho mình một công việc mà họ muốn. Tôi bối rối, hơi giận Sukhi và không biết phải nói gì. Điều cô nói là đúng, nhưng nếu tôi hưởng ứng thì sẽ là sự ngu xuẩn. – Tớ muốn lấy chồng châu Âu, nếu được một chàng tóc vàng thì tốt. Tớ muốn có nhà riêng. Không cần phải giàu có, nhung tớ chỉ muốn một điều… được tự do! Tôi sững sờ trước lời bộc bạch của Sukhi và lo lắng cho cô bạn. – Sukhi, vấn đề là bọn mình sống ở một đất nước mà hiện giờ mới đang phát triển. Một ngày nào đó, Bắc Triều Tiên cũng sẽ có tất cả những gì mà Châu Âu có, nhưng chia đều cho mọi người, Không chỉ những kẻ giàu có được hưởng thụ cái hay, cái đẹp. Ngoài ra, tốt nhất là bọn mình đừng nói về những chuyện này. Nếu lọt đến tai một cán bộ đảng, cậu sẽ không thoát được đâu.
Dù học hỏi được gì ở Trung Quốc đi nữa, chúng tôi cũng vẫn lạ lẫm ở Macao. Tại Macao, trên thực tế, chúng tôi phải sống tự lập trong xã hội tư bản. Chúng tôi có nhà và tài khoản ngân hàng. Chúng tôi trả hóa đơn và mua bán. Đêm đêm, chúng tôi đến những tụ điểm giải trí để làm quen với văn hóa địa phương. Tất cả đều quá mới – hơn nữa, đều quá hấp dẫn – đối với chúng tôi, khiến chúng tôi phải chóng mặt. Lần đầu chỉ qua Macao ít ngày, tôi chả biết gì mấy về mảnh đất này, nhưng lần này tôi nhanh chóng hòa nhập vào đời sống thường nhật ở đây. Chúng tôi không kết bạn vì chỉ thị được đưa ra là phải sống cách biệt. Chúng tôi ở đó không với tư cách của các du khách: nhiệm vụ của chúng tôi là phải luyện thổ âm Quảng Châu và tập làm sao để thật thành thạo trong vai trò các phụ nữ người Hoa. Chúng tôi thường xuyên phải cảnh giác, vì có thể tính đên việc các điệp viên Bắc Hàn khác cũng theo dõi chúng tôi. Có điều, nhiệm vụ này đòi hỏi chúng tôi phải thật tự giác và không phải bao giờ chúng tôi cũng hội tụ đủ điều đó. Tại các nơi giải trí, Sukhi giành đa số thời gian để khiêu vũ với các thương gia địa phương, thi thoảng tôi phải kéo cô bạn ra về. Tôi cũng thường xuyên bị tán tỉnh và tôi không biết phải phản úng ra sao, vì bản tính tôi rất hay ngượng ngập. Một tối nọ, tôi khiêu vũ với một nhà tài chính Hồng Công giàu có, ông này không giấu ý định muốn làm quen với tôi. Có lẽ ông ta gần ngưỡng tứ tuần, ăn vận Âu phục lịch sự và đặt cho tôi những câu hỏi thường lệ: tôi sinh ở đâu, làm nghề gì và đại loại như thế. Tôi không biết phải trả lời ra sao. Như một phản xạ, tôi kéo tay Sukhi – lúc đó đang khiêu vũ rất bạo dạn với một người da trắng – và lôi cô ta khỏi quán bar đó. – Cậu làm gì vậy? – Sukhi bực bội gào lên với tôi, khi hai đứa dã ra ngoài phố và giằng khỏi tay tôi. – Sukhi, tớ không chịu được nữa rồi! Làm sao có thể nhập vai với dân ở đây… khi chúng mình… không thể ở lại với họ?! – Ô, Okhva! – Sukhi kinh ngạc. – Bất ngờ quá, cậu mà cũng nói thế à? Cậu là cô gái cả đời ngoan ngoãn kia mà. – Ở đây mọi thứ đều khác cả. Tớ không biết nói sao với những người đàn ông ấy. – Cứ nói tự nhiên thôi: “Anh yêu, cưới em đi và đưa em khỏi nơi đây”. Nếu tớ có thể ở thêm vài tháng nữa với tay người Áo này, tớ muốn được y như thế. Tôi sửng sốt nhìn Sukhi, nhất là vì… tôi cũng có cảm giác giống như thế. – Cậu nói nghiêm túc đấy chứ? Sukhi lấy bao thuốc lá ra. Nhũng tuần gần đây, cô đã quen hút thuốc; cô châm lửa rồi rít một hơi. – Giận tớ cũng được, Okhva ạ. Cố nhiên, chả có gì diễn ra từ những cuộc gặp gỡ như thế, mặc dầu tôi cảm thấy ngày càng bị cuốn hút bởi thứ văn hóa tư bản năng động. Có lẽ may mắn cho tôi là chẳng bao lâu sau, chúng tôi bị gọi về Bình Nhưỡng. Về đến nơi, tôi được phép về thăm gia đình. Tôi mua cho cậu em trai Bamso một chiếc đài cầm tay, và vài món quà cho mọi người. Nhưng về đến nhà, tôi thấy cả gia đình đang thẫn thờ. Bamso chết rồi! Khi mẹ tôi nói tin này, tôi làm rơi chiếc đài và òa lên nức nở. Tôi nhào đến ôm mẹ vào lòng. Bamso, cậu em trai khốn khổ của tôi! Nó là đứa em tuyệt vời, luôn lạc quan và vui vẻ. Nọ bị ung thư da và ra đi khi mới 15 tuổi. Cha mẹ tôi đã tính trước được là nó sẽ qua đời, vậy mà họ vẫn đau khổ ghê gớm. Trong thời gian tôi về thăm nhà, cha tôi tránh mặt tôi, như thể ông giận tôi. Vê sau tôi mới hiểu điều này. Gần hai năm tôi không được về nhà. Giữa chừng, em gái tôi, Hyonok đã kết hôn với một hướng dẫn viên thuộc Tổng cục Du lịch. Tôi cảm thấy mẹ tôi buồn vì tôi không phải là đứa con gái đầu đi lấy chồng. Tôi cũng nhận thấy càng ngày, tôi càng xa cách gia đình. Không được kể về thời gian huấn luyện cũng như nhiệm vụ mà tôi được giao, tôi luôn căng thẳng vì không có gì để nói. Chao ôi, chúng tôi muốn trò chuyện tâm sự biết chừng nào! vậy mà, càng ngày, chúng tôi càng rời xa nhau… Tuy nhiên, tất cả những điều này vẫn khiến tôi bất ngờ trước cử chỉ của cha tôi khi điệp viên Chang đến đón tôi. Mẹ tôi mở cửa và khi Chang bước vào nhà, cha tôi lập tức tiến đến gần ông ta, nắm cổ áo và đẩy ông ta vào chân tường. – Khi nào chúng mày mới trả lại con gái cho tao? – cha tôi hét to, nước mắt ròng ròng. – Lũ khốn nạn! Khi nào? – Bố ơi! – tôi hoảng hốt kêu lên. Tôi biết là phải ngăn chặn cha tôi bằng mọi giá. – Bố thả đồng chí ấy ra đi! – Một hành vi như thế có thể khiến cả gia đình tôi bị tử hình như bỡn! Cha tôi thả điệp viên Chang ra. Chang bối rối và ấp úng bảo tôi: “Tôi sẽ chờ đồng chí ngoài xe”. – Bố ơi?! – tôi nghẹn ngào. – Cút đi! – ông hét lên và đẩy tôi ra cửa. – mày không còn là con tao nữa! Mày đã thuộc về chúng nó rồi! Thế thì cút đi! Về lại với chúng nó ấy!
6. Chương 5 Trong những năm từ khi tôi được tuyển làm điệp viên đến vụ đặt bom máy bay, tôi được nhận hai nhiệm vụ lớn mà mục đích là để thử thách những khả năng của tôi trong vai trò một gián điệp quốc tế. Tháng Bảy năm 1984, khi tôi đã rất thành thạo sử dụng vũ khí và võ thuật tay không, một buổi sáng sớm, điệp viên đặc biệt Chang đi Mercedes đến tìm gặp tôi. Đó là một ngày Chủ nhật, tôi được nghỉ và đúng vào lúc tôi đang ngồi thư viện đọc tập 26 của bộ “Tuyển tập Kim Nhật Thành”, thì Vulchi đưa Chang vào gặp tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy ông ta, đến nỗi nhảy dựng lên, không nói được câu nào. – Nữ đồng chí Okhva – ông ta niềm nở bắt tay tôi. – Rất vui được gặp lại cô. Tôi nghe rằng cô vừa đạt kết quả thi rất tốt. – Cám ơn đồng chí – tôi siết chặt tay ông ta. – Đồng chí cố gắng thu xếp đồ đạc trong vòng 15 phút – Chang nói tiếp. – Chi cần mang chút quần áo thôi, ngoài ra không cần gì cả. Xong thì chúng ta gặp nhau ở ngoài kia. – Vâng, tôi xong ngay đây ạ – tôi đáp và tìm cách giấu sự ngạc nhiên và cả cảm giác bất an. – Tôi sẽ ra ngay ạ. Chỉ một lát sau, chúng tôi đã đi trên chiếc Mercedes trên con đường núi. Chang đặt vài câu hỏi lịch sự về sức khỏe của tôi, nhưng ông ta không hề nói chúng tôi đi đâu và làm gì. Tôi không thể biết, phải chăng tôi bị tống khỏi trại, hay bị đưa đi đày ải – nếu một người dân Bắc Hàn tự nhiên bị một cán bộ đảng cao cấp đến gặp, không thể tính trước được điều gì. Chang im lặng, như coí thể thấy ông ta trong tâm trạng vui vẻ, nên tôi hy vọng có lẽ không phải mình bị bắt. Chúng tôi đên trung tâm quân báo và được đưa vào phòng của ông Kwang, trưởng phòng. Kwang còn trẻ, người cao ráo, nhưng tóc đã sớm hói và mặc dù ở trong phòng, ông ta vẫn đeo kính râm. Trong phòng, còn có một người đàn ông già và thấp, bộ tóc dài đã bạc, da mặt nhàu nhĩ như da thú. Khi chúng tôi bước vào, cả hai đều đứng lên chào. Ông già cử động có vẻ khó khăn. Kwang giới thiệu ông ta với tôi. – Đây là đồng chí Kim Song Ir, điệp viên xuất sắc nhất trong lịch sử quân báo của chúng ta. Okhva, cô hãy coi đồng chí ấy như ông của cô! hai ông cháu sẽ có nhiều thời gian với nhau đấy. Chúng tôi ngồi xuống và Kwang bắt đầu nói về lý do của cuộc gặp gỡ. – Đồng chí Kim, nữ đồng chí Kim, tháng sau, cũng vào khoảng này, các đồng chí sẽ được cử ra nước ngoài. Đối với Okhva, đồng chí sẽ có nhiệm vụ thu thập kinh nghiệm trong môi trường ngoại quốc. Các đồng chí sẽ qua nhiều thành phố Âu, Á, và tôi muốn Okhva sẽ có kinh nghiệm lai vãng bí mật từ nước này sang nước khác. Đây cũng là khoảng thời gian đồng chí có dịp gặp gỡ những nền văn hóa khác và tôi muốn trong chuyến đi, đồng chí sẽ ghi chép kỹ lưỡng lại mọi thứ. Okhva, đây là cơ hội lý tưởng cho đồng chí, để đồng chí có thể chứng tỏ được rằng trong tương lai, chúng tôi có thể giao cho đồng chí cả những nhiệm vụ bí mật nhất! Trong chuyến đi này, hai đồng chí sẽ đóng vai cha và con gái. Cả hai đồng chí đều nói thạo tiếng Nhật và ở Châu Âu, vỏ bọc hoàn thiện nhất là các đồng chí sẽ là hai du khách. Các đồng chí sẽ qua Moscow, Budapest, Vienna, Copenhague, Frankfurt, Zurich, Geneva, Paris, Macao, Quảng Châu và Bắc Kinh. Ở các nước cộng sản, các đồng chí sẽ dùng hộ chiếu ngoại giao Bắc Triều Tiên, nhưng ở Phương Tây các đồng chí sẽ có hộ chiếu giả Nhật Bản mang tên Shinichi và Mayumi. Shachini sẽ là phó chủ tịch hãng Ohoi Transporttation, còn Mayumi là sinh viên tốt nghiệp Trường Nữ sinh Yaoyama, đã có bằng về nội trợ. Các đồng chí sẽ tìm hiểu thêm các thông tin chi tiết trong tập hồ sơ này, nhưng đây là điều căn bản. Tôi cũng phải nói thêm rằng chặng cuối cùng của chuyến đi, Okhva sẽ phải đi một mình. Khi từ Châu Âu qua Trung Quốc, Song Ir còn phải ở lại một mình trong một ngày để thực hiện nhiệm vụ của đồng chí, và bay một mình đi Hán Thành và ở đó, đồng chí cũng có một nhiệm vụ riêng. Chuyến bay qua Trung Quốc của Okhva, một phần để đánh lạc hướng sự chú ý nhằm vào hai đồng chí, phần nữa, để chúng tôi thử xem có thể tin vào đồng chí hay không, nếu đồng chí đi một mình. Càng nghe Kwang, tôi càng cảm thấy hồi hộp. Rốt cục thì, sau những năm tháng kéo dài tưởng chừng vô tận của quá trình huấn luyện, tôi cũng được cử đi hoạt động! Ở Kesong, có những điệp viên thạo nghề còn phải chờ 10-15 năm để có nhiệm vụ đầu tiên, vậy mà tôi chỉ phải chờ 4 năm! Tuy nhiên, không cần phải nói là tôi cảm thấy sợ hãi và lo âu vì phải nhận một trọng trách như thế. Lần cuối cùng, và cũng là lần duy nhất ra nước ngoài, là khi tôi ở Cuba, và đại đa số dân Bắc Hàn, trong đời, không bao giờ được đặt chân khỏi quê hương. Tôi cảm thấy, những khái niệm như phi trường, khách sạn, đổi ngoại tệ… đều vượt quá khả năng của tôi. Đấy là còn chưa nói đến chuyện chúng tôi phải nhập cảnh các quốc gia Phương Tây một cách bất hợp pháp, như những điệp viên thù địch.
Vài tuần trôi qua, trong thời gian ấy, người ta chuẩn bị cho chuyến đi của chúng tôi; tôi thì tranh thủ đọc những tờ tạp chí thời trang Nhật Bản và xem phim ảnh để có được cách ăn mặc, trang điểm và cư xử “giống thật”. Tôi cũng còn phải đọc rất nhiều sáng vở hướng dẫn đi lại của nước ngoài. Tôi học thuộc lòng rất nhiều kiến thức mới, và thấy tự tin và khôn khéo hơn. Tôi cảm thấy mình sẽ trở thành điệp viên thượng hạng, nhưng các điệp viên huyền thoại của Bắc Hàn và KGB mà chúng tôi xem trong phim. Tôi thấy tự hào khôn tả! Trong khi đa số những thanh nữ cùng độ tuổi với tôi chỉ dám mong muốn là người nội trợ, thì tôi sẽ được đi cả thế giới. Tôi đâu có đoán được điều gì thực sự sẽ chờ tôi trong tương lai. Thời gian tạt qua Châu Âu trong chuyến đi ấy, giờ đây, đã nhạt nhòa trong tâm tưởng của tôi. Những cảm tưởng đầu tiên của tôi về các nước tư bản ư? Tôi sững sờ vì các đô thị đa phần đều sạch sẽ, ở đâu sự phục vụ cũng tốt. Cố nhiên, tôi ngạc nhiên nhất là hàng hóa tràn ngập các cửa hiệu. Nhưng thứ đồ xa xỉ như đồ trang sức, đối với tôi là hoàn toàn xa lạ, nhưng tôi thấy đặc biệt nhất là sao có nhiều loại thực phẩm đến thế? Biết bao thứ để ăn! Nhưng tôi phải thành thật thừa nhận rằng, niềm tin được nuôi dưỡng trong tôi không bị suy suyển, theo đó, các đô thị Phương Tây thật hư hỏng, đồi trụy và hạ đẳng. Ở Copenhague và Paris, tôi phẫn nộ khi thấy nhiều cửa hiệu bán đồ khiêu dâm, cũng như trước sự hiện diện của gái mại dâm. Ở Thụy Sĩ, tôi công phẫn trước cách sống của giới thượng lưu với áo lông thú, xe hơi Limousine Daimler, vòng tai kim cương… Hai mươi hai năm ròng, tôi được giáo dục để tin tưởng một cách vững chắc rằng mọi thứ ở Phương Tây đều là ác quỷ, vì thế, tôi nhìn thế giới mới này theo con mắt đã được “lập trình”. Ngoài ra, tôi cũng không thể nhận xét được các thành phố vì cứ phải luôn luôn để tâm đến cái vỏ bọc của mình. Đi lại ở nước ngoài đã là việc lạ lẫm và khó chịu, nhưng trong cả khoảng thời gian ấy, tệ nhất là tôi cứ phải nhập vai một ai đó, không phải là tôi. Cùng Song Ir, chúng tôi đã thăm viếng tất cả những thắng cảnh du lịch quan trọng nhất, đây là việc cần thiết để tạo ra vỏ bọc du khách, nhưng hễ cứ thoáng thấy cảnh sát là tôi lại hoảng hốt. Tôi đặc biệt mất bình tĩnh khi gặp du khách Nhật, nhất là nếu họ tim cách bắt chuyện với chúng tôi. Bởi vậy, trong cả chuyến đi, tôi luôn bị căng thẳng. Chúng tôi được nhận 10 ngàn USD để chi trả mọi chi phí trong chuyến đi và người ta chờ đợi chúng tôi mua quà cáp cho thượng cấp và đồng chí chủ tịch. Như tôi được biết, các điệp viên hoạt động ở nước ngoài phải bày tỏ lòng biết ơn như thế cho người cử họ đi ngoại quốc. Theo thước đo của Phương Tây thì đó đều là những món quà nhỏ nhặt: những mặt hàng thực tiễn như bút bi, hay bật lửa, ở Bắc Hàn đều là thứ quý hiếm. Trong thực tế, chúng tôi hầu như không tiêu gì cho riêng mình, chúng tôi chỉ chi nhũng khoản thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, nhưng đồng chí Kim cũng “tự thưởng’ cho bản thân một chiếc đồng hồ đeo tay mạ vàng đắt đỏ. Ở Bắc Hàn, đồng hồ đeo tay có giá trị vô cùng lớn, và ai có đồng hồ, người ấy được kính trọng lắm. Về sau, Kim nói với tôi rằng gia đình ông coi chiếc đồng hồ vàng là “phi vụ” thành công nhất của ông, kể từ khi được tuyển chọn làm điệp viên. Bản thân tôi muốn mua một pho tượng nàng tiên cá nho nhỏ ở Genava, có điều nàng tiên ấy… khỏa thân nên tôi biết không làm sao mang về Bình Nhưỡng được. Thế là tôi mua một vòng đeo cổ kèm chiếc thánh giá bằng vàng. Biểu tượng ấy đối với tôi không có ý nghĩa gì cả, nhưng Song Ir mắt sáng lên khi thấy tôi đeo trên cổ. Thú vị là khi tôi về nước, Kwang lập tức khen ngợi tôi; theo ông ta, chiếc thánh giá đã khiến phi vụ giấu mặt của chúng tôi hoàn thiện hơn. Cố nhiên, tôi cũng không nói rằng tôi mua nó chỉ cho vui…
Phải thừa nhận rằng “chuyên ngành” điệp viên của tôi – nếu có cái thứ như vậy – đã không mấy thành công ở Thụy Sĩ. Phong cảnh ở đây quá tuyệt vời khiến tôi không muốn rời nó! Tại Paris, Kim và tôi đi riêng, nhưng chúng tôi cũng cùng nhau giả làm du khách trong vài ngày. Ở thành phố này, tôi thích rất nhiều thứ, nhất là vẻ lịch thiệp của phụ nữ. Tôi sững sờ nhận thấy phụ nữ ở lứa tuổi tứ tuần cũng ăn vận táo bạo như các cô gái đôi mươi. Vẻ đẹp vương giả của những tòa nhà cổ kính cũng thu hút tôi. Tuy nhiên, tôi đã quên đi những niềm vui này khi một tên cướp phóng xe máy trên đường giật chiếc xắc của tôi, hoặc khi một tài-xế taxi – lợi dụng chúng tôi ngơ ngác – đã lừa chúng tôi khá đau! Suốt chuyến đi, Song Ir đã tỏ ra là một người đàn ông rất đứng đắn. Chúng tôi ngủ cùng phòng, nhưng không bao giờ ông nói một câu nào “mờ ám”. Trước khi lên đường, tôi có phần lo ngại về điều này và quyết định rằng chỉ cần ông tỏ ra “có vấn đề” một chút là tôi sẽ trổ tài võ thuật để cho ông một trận nên thân. Song Ir là một điệp viên cựu trào, nhưng ông đã có tuổi và tôi không nghi ngờ vì về chuyện nếu cần, tôi có thể đối phó với ông. Nhưng, trái với những gi tôi lo ngại, tôi cư xử với tôi hệt như cha con. Trong chuyến đi đầu tiên, được làm việc cùng một điệp viên khả kính và giàu kinh nghiệm thật yên lòng: Song Ir có thể khiến tôi yên tâm mỗi khi tôi lo lắng làm sao để nhập vai giống như thật. Ông đã sang Châu Âu nhiều lần và đã có trong người sự tự tin mà chỉ những ai thật giàu kinh nghiệm mới có được. Cho dù chúng tôi được dặn dò nghiêm khắc rằng không được kể cho nhau nghe về cuộc đời riêng tư, nhưng không sao tránh được việc chúng tôi biết chút này khác về nhau. Song Ir có gia đình, các con ông đã lớn cả và ông theo nghề điệp viên từ lâu đến nỗi chính ông cũng không nhớ là từ bao giờ. Trong những dịp nhận nhiệm vụ đầu tiên trong đời, ông đã đi khắp thế giới, sang cả Mỹ. Tôi cảm thấy với vẻ bề ngoài mảnh dẻ và từng trải, về căn bản ông là người lịch thiệp, mặc dù tôi chắc rằng trong đời, khi chiến đấu để bảo vệ chủ nghĩa cộng sản, ông đã giết nhiều người. Ông đã gần ngưỡng thất thập, lúc nào cũng phàn nàn vì đau dạ dày. Tôi tin rằng sau một thời gian, chúng tôi gắn bó với nhau không chỉ vì nhiệm vụ. Ít nhất, chúng tôi cũng quan tâm đến số phận của nhau như hai thân nhân. Đã đến lúc tôi phải đi khỏi Paris, Kim tiễn tôi ra phi trường De Gaulle, từ đó tôi phải đi Macao. Mặc dù sợ phải đi một mình, tôi vẫn cố gắng không để lộ tâm trạng đó. Tôi không muốn khi về lại Bắc Hàn, Kim sẽ viết trong báo cáo rằng tôi đơn thuần chỉ là một cô gái mè nheo. – Okhva, cẩn thận cô nhé – Kim nói với tôi tại điểm kiểm tra, ông không thể tiễn tôi tiếp được nữa. – Điệp viên Chang sẽ chờ cô tại Macao, ông ta sẽ giúp cô đến Quảng Châu. Hãy bảo ông ra rằng ngày 26 tháng Chín tôi sẽ gặp ông ấy. – Song Ir, chúc bác may mắn! – tôi ôm chầm lấy ông. – Bác cháu mình còn gặp nhau nữa không? Ông cười. – Có lẽ tôi về hưu – ông nói. – Nhưng tôi vẫn hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau. Cố nhiên, về sau chúng tôi lại cùng hoạt động với nhau, với nhũng hậu quả thảm khốc hơn nhiều! Sau này, khi nhiều năm đã trôi qua, tôi mới biết sau khi chúng tôi chia tay nhau, chỉ thiếu chút nữa là Kim Song Ir không bảo toàn tính mạng và về lại được Bắc Hàn. Tại Hán Thành, chỉ ít phút trước khi gặp gỡ một điệp viên khác, suýt nữa ông này bị tóm. Các điệp viên Nam Hàn truy đuổi người này, cô ta chạy trốn vào một thẩm mỹ viện và tự sát bằng súng ở đó trước khi bị bắt. Cố nhiên, Song Ir phải chuồn ngay khỏi Hán Thành, nhung phải rất khó khăn ông mới ra được khỏi thành phố vì tất cả các trục đường chính đều bị chặn. Nam Hàn có vẻ đã biết về Song Ir và ở Bình Nhưỡng, mọi người xôn xao vì chắc chắn là có kẻ phản bội trong số các điệp viên được cử ra nước ngoài. Có điều, khi đó, ở Macao, tôi đâu có biết gì. Tôi chỉ tập trung thực hiện nhiệm vụ được giao. Điệp viên Chang chờ tôi tại sân bay và trong vài ngày, ông đã bỏ thời gian giới thiệu hòn đảo này cho tôi. Chang nhắc rằng, có thể về sau tôi sẽ được cử đi thường trú ở Macao, do đó tôi phải để ý thật kỹ xứ sở này. Như Hồng Kông, Macao cũng là một “thánh địa” của chủ nghĩa tư bản, nhưng vì là dân châu Á, tại đây tôi không thấy lạ lẫm bằng khi ở Châu Âu. Tôi chỉ thực sự bắt đầu thấy lo lắng khi Chang đưa tôi ra tàu đi Quảng Châu. Tuần lễ sau đó, thực sự tôi đã phải hoạt động một mình! Tuy nhiên, may mắn là Trung Quốc không đến nỗi xa lạ như tôi từng lo âu. Dầu sao đi nữa thì đất nước này cũng là láng giềng của Bắc Triều Tiên và cũng là một quốc gia cộng sản. Tôi có dịp để ý đến cuộc sống của thường dân ở đây, điều đó thật thú vị và cùng một lúc, tôi phát hiện ra rằng họ sống sung túc hơn dân Bắc Hàn. Cảm giác ấy vừa động viên tôi, vừa khiến tôi thấy ngột ngạt. Tôi bắt đầu có cảm giác Bắc Hàn là quốc gia nghèo nhất thế giới! Ở Trung Quốc, ít nhất các cửa hiệu còn có đầy ắp hàng hóa, những tiệm ăn ngon lành thì lại rất rẻ. Tôi ở Quảng Châu hai ngày trước khi đi tiếp lên Bắc Kinh. Đó là một thành phố đông đúc, phương tiện giao thông chính là xe đạp. Có nhiều triệu xe đạp ở đó. Tôi lại có dịp để tâm đến mức sống ở đây, tuy thấp hơn so với Châu Âu, nhưng vẫn cao hơn Bình Nhưỡng. Thực phẩm rất đầy đủ và ngoài chợ đen, còn có thể mua được vài thứ đồ xa xỉ nho nhỏ. Tôi thấy hổ thẹn cho quê hương mình! Khi rời Bắc Kinh, tại cửa hàng miễn thuế ngoài ga xe lửa, tôi mua quà cho các thượng cấp ở Bình Nhưỡng: 5 lọ thuốc thảo dược, hai chai rượu mạnh, một hộp bút chì. Một cách nghiêm túc, tôi có cảm giác mình sống ở một đất nước thật kỳ lạ. Đặc trưng nhất có lẽ là sự đánh giá của tôi về chuyến di mà tôi phải nộp cho cấp trên; đến giờ, nhìn lại, tôi thấy nó thật phi lý: Chuyến đi của tôi tại các nước tư bản Châu Âu càng khiến tôi thấy rõ những gì tôi được học đều đúng đắn. Chỉ một nhóm nhỏ sống sung sướng, số còn lại vô cùng cực khổ – điều này đúng từng từ một! Đó là một địa ngục! Sau những con phố lấp lánh ánh điện nê-ông là những ngõ nhỏ tối tăm, nơi con người phải sống như thú vật. Tôi thấy những hàng quán sặc sỡ mà lũ lợn tư bản thường đến ăn, đó là những kẻ hút máu và nước mặt đồng loại. Chó của chúng còn được ăn vận hơn người dân bình thường, cảnh ấy phản ánh một cách buồn bã và ghê tởm cái xã hội dãy chết của chúng. Tôi rất tự hào vì công dân Bắc Triều Tiên được cùng sống, lao động và học tập, và không phải lo lắng vì những nhu cầu thường nhật. Giờ đây, tôi càng thấy phải quyết tâm để hiến dâng đời mình cho tương lai XHCN, và bảo vệ nó trước kẻ thù. Được phục vụ Lãnh tụ Vĩ đại của chúng ta là niềm vinh dự và đặc ân thật lớn lao, và tôi sẽ đời đời hàm ơn vì đã may mắn được chào đời tại tổ quốc Bắc Triều Tiên! Tôi cũng phải viết báo cáo về hoạt động của tôi và của Song Ir. Người ta chờ đợi các điệp viên phải theo dõi nhau thật kỹ lưỡng, ít nhất cũng phải như khi quan sát thực địa, và không thể viết báo cáo mà không buông những lời tự phê, và phê bình Song Ir! Không cần phải nói, tôi đã khó khăn thế nào khi tìm từ ngữ!
Chương 4 Khi tham dự kỳ thi được gọi là tốt nghiệp để đánh giá xem tôi học hỏi được những gì, tôi đã sống trong trại được ba năm. Đây là thời gian mệt mỏi nhất và hại thần kinh hơn cả trong suốt kỳ tập huấn của tôi, vì thí sinh nào bị đánh hỏng hai lần trong kỳ thi sẽ bị khai trừ khỏi đảng và phải sống nhục nhã trong suốt phần đời còn lại của họ. Kỳ thi kéo dài tròn một tuần và gồm có ba phần: thi thể lực, thi viết và thi trắc nghiệm thực hành. Mỗi phần đầu được đánh giá một cách kỹ lưỡng trên thang điểm một trăm. Những ai đạt được ít nhất chín mươi điểm trong mỗi phần của kỳ thi sẽ được cho đậu. Cũng như các thí sinh khác, từ nhiều tuần trước kỳ thi tôi đã sống trong nỗi hồi hộp thường xuyên. Giờ đây những gì chúng tôi vật lộn trong vòng ba năm sẽ được đem ra đánh giá. Người ta bảo thường thường chỉ một phần ba số thí sinh vượt qua nổi kỳ thi. Như vậy, đảng chỉ giữ những phần tử ưu tú nhất trong đội ngũ cán bộ của mình. Sáng hôm đầu đi thi, trời lạnh lẽo và xám xịt. Lúc đó là tháng Chín, mặt đất đã có những hạt băng đọng cho thấy một mùa đông sắp đến. Tôi dạy từ sáu giờ đúng như yêu cầu, trong bụng chỉ có một viên mì bọc bột. Tôi vận bộ đồ thể thao và cố gắng ăn sáng, nhưng tay tôi run rẩy đến mức tôi không và nổi cơm vào miệng. Hơn thế nữa, sự căng thẳng làm cổ tôi nghẹt thở khiến hầu như tôi không thể nuốt trôi thức ăn. Sukhi phải thi cùng tôi và cô cũng căng thẳng chả kém gì tôi. Trong bữa sáng, chúng tôi chẳng nói chuyện gì mấy, cả hai đứa đều cố gắng xua đi nỗi lo âu bằng cách riêng của mình. Tôi tìm cách nhớ lại một vài dịp khi tôi tham gia buổi thiền định siêu việt: tôi thử lặp đi lặp lại câu thần chú “Úm ma ni bát ni hồng”. Có điều sự chú ý của tôi luôn luôn bị lạc đề, tôi mất bình tĩnh, run rẩy và không cảm thấy trong người khá hơn chút nào cả. Sáu rưỡi sáng, một hồi còi vang lên từ phía ngoài báo hiệu kỳ thi bắt đầu, chúng tôi xếp hàng ở ngoài sân. Chúng tôi có khoảng mười lăm người, một phần ba là nữ. Ở một bên, có hai huấn luyện viên một nam một nữ, ăn mặc quân phục chiến đấu và đội mũ lính màu xanh. Khi tất cả chúng tôi đã tập họp đầy đủ, người sĩ quan huấn luyện – một thanh niên tên là Ri Hong, vóc người cao, vẻ can trường – vỗ tay ra hiệu cho chúng tôi chú ý: – Các đồng chí! – anh thét lên và có thể thấy hơi thở của anh ta trong bầu không khí lạnh lẽo. – Chúng ta đã sẵn sàng để bắt đầu phần một của kỳ thi. Khởi đầu bằng cuộc chạy mười lăm cây số quanh trại, một phần thông qua các đường mòn trong núi. Tuyến đường được đánh dấu bằng những lá cờ vàng và cùng với nữ đồng chí My Ong – anh ta chỉ vào nữ huấn luyện viên -, tôi sẽ chạy cùng để theo dõi các anh chị. Tại đích ở đầu kia của trại, các sĩ quan huấn luyện khác đang đợi các anh chị, họ sẽ ghi lại kết quả của các anh chị. Càng mất ít thời gian bao nhiêu, các anh chị càng được nhiều điểm bấy nhiêu. Ai không chạy được hết cự ly, người đó sẽ không được điểm và không được tham dự kỳ thi. Rõ chưa? – Thưa, rõ! – chúng tôi đồng thanh gào lên. – Chuẩn bị! – anh ta thét lên và quay về phía con đường đã được đánh dấu. Khi tất cả chúng tôi đã ở tư thế chuẩn bị, anh ta vụt chạy và chúng tôi theo anh ta. Anh ta chạy quá nhanh đối với tôi. Tôi cũng không cố gắng theo kịp anh ta, tôi tập trung để chạy với nhịp độ đều đặn thì hơn. Như điều thường xảy ra tại các cuộc thi, vài kẻ khởi đầu với một tốc độ khiến ta có thể biết rằng họ không thể duy trì được lâu cái nhịp điệu này. Tôi cố gắng không để tâm đến họ và chỉ tập trung đến kết quả của bản thân. Dù sao đi nữa cũng không được bỏ cuộc và tôi quyết chí thà ngất đi chứ không dừng lại. Cây số đầu tiên là cả một khổ hình. Các suy nghĩ của tôi lạc đi đâu hết, chúng lôi cuốn tôi hãy bỏ thi đi, ngồi xuống mà nghỉ ngơi đã! Tôi không muốn nghĩ đến điều này, tốt hơn cả là phải để tâm đến một cái gì khác: cuộc trò chuyện tối hôm trước với Sukhi hay một bài đọc nào đó của tôi. Như thế, tôi mới có thể vượt qua được cây số đầu tiên rồi hòa vào cái nhịp chạy thong thả, nhẹ nhàng. Cố nhiên tuyến đường dẫn vào núi non và càng làm chúng tôi khó nhọc hơn. Dưới chúng tôi là một thung lũng tuyệt vời vào thủa chớm thu với biết bao sắc màu. Những quả núi hiền hòa và yên tĩnh, xa xa chim chóc lên tiếng hót. Dần dần tôi cứ nóng lên, chẳng mấy chốc mồ hôi tôi đã tuôn ra như tắm. Cuộc thi càng tiếp diễn thì những người dự thi càng cách biệt. Một số người bị tụt hậu, số khác bỏ xa chúng tôi. Hầu như suốt khoảng thời gian thi, tôi chạy cùng với Sukhi, thỉnh thoảng chúng tôi còn hổn hển những lời lẽ khích lệ nhau. Sau hai phần ba quãng đường, con đường bắt đầu dốc thoai thoải và như thế, chúng tôi dễ giữ nhịp chạy hơn nhiều. Có điều sau khi qua mười cây số, chân tôi bắt đầu đau. Nhưng không phải điều này khiến tôi phải bận tâm thực sự. Quan trọng nhất là tôi phải hít thở đều đặn, cứ bốn bước một lần. Tôi biết nếu bị mất nhịp, tôi sẽ không thể chạy được đến cùng. Đến gần cuối cuộc thi, chúng tôi phát hiện ra một số kẻ bị thương. Ở những điểm khác nhau trên đường, có một người đàn ông rồi một phụ nữ nằm và khóc nức nở không gì an ủi được. Tôi thấy thương họ nhưng không thể làm gì để giúp họ. Tôi thầm cầu nguyện để ít nhất họ cũng thi đậu vào kỳ sau. Trong hai cây số cuối, phổi tôi như cháy bỏng và tôi phải lấy không khí ba, rồi hai bước một. Bên cạnh tôi, Sukhi vấp ngã liên tục, vẻ quyết tâm ảm đạm hiện rõ trên gương mặt cô, cô nhìn trừng trừng lên phía trước xem cái đích ở đâu. Cô thở đứt quãng, khó nhọc và tôi gào lên với cô: – Cố lên Sukhi! Bọn mình sắp đến đích rồi! Chỉ còn một tí thôi! Cô liếc mắt nhìn trời nhưng tôi biết câu nói khích lệ của tôi đã giúp cô. Không ai trong số chúng tôi biết chính xác cái đích ở đâu và điều này càng làm tăng sự chật vật của cuộc thi: chúng tôi không biết đích. Nhưng cuối cùng, vào lúc tôi cảm thấy như không thể chịu nổi, tôi nhìn thấy một nhóm các thí sinh đã đến đích và đang nói chuyện với sĩ quan huấn luyện Ri Hong. Các sĩ quan khác cũng đứng ở đó, tay cầm đồng hồ bấm giây. Tôi bước qua đích và lập tức ngã vật ra cạnh Sukhi. – Hai nữ đồng chí Okhva và Sukhi chạy mất hai giờ bốn phút hai mươi bảy giây! – một sĩ quan thét lên và nhận xét. – Kết quả tuyệt vời, hai nữ đồng chí ạ, các cô được chín mươi ba điểm rưỡi! – Trời đất! – Sukhi thở gấp. – Okhva ạ, nếu không có cậu bên cạnh, hẳn không bao giờ mình chạy được đến cùng. Mình đã dở sống dở chết rồi. – Mình cũng thế – tôi vẫn thở gấp, đứt quãng. Nằm ngửa, tôi ngắm nhìn bầu trời giờ đã chuyển sang màu xanh sẫm. Đầu tôi giần giật, choáng váng. Tôi tưởng tôi sẽ lịm đi ngay tức khắc. Khi đó Ri Hong bước đến và vực tôi dậy. – Cố đi lại một chút cô ạ – anh ta nói. – Những lúc như thế này nằm là tệ nhất. Có hại cho tim của cô. Cứ đi lại là cô sẽ thấy đỡ ngay thôi. Tôi gật đầu và đứng dậy đi đi lại lại. Sáu người – năm nam một nữ – về đích trước chúng tôi; Sukhi và tôi là người thứ bảy và thứ tám. Trong nửa giờ đồng hồ tiếp đó, những kẻ khác cũng lảo đảo về đến đích, chỉ có ba người bị loại hẳn. Mới chưa đến chín giờ sáng và chúng tôi còn vô số bài tập. Ri Hong hạ lệnh cho chúng tôi đi tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ và đến mười giờ phải có mặt tại trung tâm thể thao, kỳ thi sẽ tiếp tục ở đó. Tôi ngạc nhiên nhìn Ri Hong. Anh cũng chạy hết mười lăm cây số mà chẳng hề hổn hển. (*) Câu chân ngôn (thần chú) Phạn ngữ quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng, có nghĩa là “ngọc quý trong hoa sen”, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát. (N.D.)
Tôi cùng Sukhi loạng choạng về căn nhà của chúng tôi và rũ bỏ quần áo. Tôi để Sukhi đi tắm, tôi ngồi vào bồn nước nóng bỏng và phần thì tươi tỉnh, phần thì mệt rũ vì nó. Tôi thay bộ quần áo thể thao sạch sẽ và uống một cốc nước cam to, rồi lững thững đi đến trung tâm thể thao. Đó là một tòa nhà dài và thấp với hai phòng thể thao, một phòng tập tạ, một bể bơi và một phòng to hình vuông, chứa toàn gương, tại đây chúng tôi từng luyện tập võ thuật. Các sĩ quan ở trong phòng tập tạ và, vì còn vài phút nữa mới đến mười giờ, tôi thư giãn đôi chút cùng mọi người, tất cả đều chờ kỳ thi tiếp tục. – Phải lắm! – đúng mười giờ, Ri Hong nói. – Ta tiếp tục nhé. Khởi đầu trong phòng tập tạ, ở đây mọi người nâng tạ theo khả năng trong tư thế nằm. Sau đó, mọi người lên xà theo khả năng. Nữ đồng chí Okhva, cô bắt đầu. Tôi lo lắng đứng lên và tiến đến chiếc ghế dài, ở đó đã có hai người đàn ông vạm vỡ chờ đợi để giúp tôi. Thường thường tôi hay tập luyện với quả tạ 50 cân. – Tôi thử bảy nhăm cân – tôi ngồi xuống chiếc ghế. Hai người đàn ông đặt những vòng tạ lên trục rồi đặt trục lên cái giá. Tôi nằm dưới giá đỡ. Bảy mươi lăm cân là kết quả rất tốt đối với một phụ nữ có thể chất như tôi. Chưa bao giờ tôi nâng từng ấy – kết quả khá nhất của tôi cho đến nay là 70 cân -, và cuộc thi chạy đã khiến tôi mệt mỏi. Nhưng tôi biết nếu không thành công, tôi còn có một cơ hội nữa, vậy tại sao lại không thử nhỉ? Tôi hít liền nhiều hơi nhanh và sâu để có thật nhiều dưỡng khí trong máu. Cầm trục tạ, tôi lấy hết sức bình sinh để nhấc nó lên. Hét thật to, tôi nhấc tạ và khối nặng được nâng lên chầm chậm. Trục tạ hơi bị lạng đi, tôi cố gắng đưa nó về vị trí thăng bằng. Tôi lại tập trung hết sức lực, thở hắt ra và đẩy trục tạ lên. Nó dừng lại ở giữa đường. Tôi thét lên, mặt méo đi và càng đẩy mạnh hơn nữa. Thật lạ lùng, nhưng tôi cũng duỗi thẳng được cánh tay và kết thúc bài tập. Hai người đàn ông đỡ trục tạ từ tay tôi và đặt lại lên giá đỡ. Những người ngồi ngoài hò reo cổ vũ tôi. Hơi ngơ ngẩn, tôi đứng dậy khỏi chiếc ghế băng và về chỗ ngồi. – Tuyệt vời! – Ri Hong nói, giọng sang sảng. – Nữ đồng chí Okhva được chín mươi sáu điểm! Cô có muốn thử thêm một lần nữa không? – Không, hoàn toàn không! – tôi đáp. – Thôi được. Người tiếp tục! Khi đến lượt, Sukhi nâng được 65 cân. Cô được 92 điểm vì kết quả tốt đó. Một người đàn ông cơ bắp cuồn cuộn tên là Kim Bong đạt được kết quả xuất sắc nhất: trong cơn hồn xiêu phách lạc, anh ta nghiến răng nghiến lợi nâng 200 cân và được thưởng 10 điểm, nghĩa là anh được cả thảy 110 điểm. Bây giờ đến môn lên xà. Trong ba năm trở lại đây, ngày nào tôi cũng luyện môn này, thường tôi làm được mười lăm lần. Ngày hôm đó tôi được mười bảy lần và được 94 điểm. Sukhi làm được mười sáu lần, Kim Bong lại trở thành người chiến thắng với bốn mươi sáu lần lên xà. – Chúng ta sang phòng khác! – My Ong điều khiển sau khi chúng tôi đã kết thúc ở phòng tập tạ. Bây giờ người ta muốn biết vận tốc của chúng tôi. Trong căn phòng dài chừng 50 mét, chúng tôi phải chạy từ tường này sang tường kia và quay lại. Chúng tôi có thể thử nghiệm ba lần. Tôi không sợ cú thử này. So với chiều cao của mình, tôi khá nhanh và sau ba năm dốc hết sức lực để tập luyện, trên cơ thể tôi không có một chút trọng lượng thừa nào. Tôi chạy mất 19,4 giây. Đây là một kết quả không tồi vì khi quay lại, chúng tôi phải chạm vào thành tường và lúc đó bị chậm đi. Sukhi còn nhanh hơn tôi, cô chỉ mất 19,1 giây. Cô được 95 điểm vì kết quả đó, tôi được 94,8. Lúc đó đã là trưa và nhóm người mệt lử được phép đi ăn trưa. Hôm ấy chúng tôi được suất ăn đúp nhưng khi ăn xong tôi vẫn cảm thấy đói. Chương trình tiếp tới bắt đầu vào hồi 13.00 giờ, thành thử tôi và Sukhi còn có hai mươi phút nằm khểnh trên giường để hồi sức chút đỉnh. – Thật đáng kinh ngạc là người ta hành hạ bọn mình biết chừng nào! – Sukhi xoa bóp bắp chân cô. – Mà nào đã hết! – tôi đáp. – Nhưng mình không phàn nàn; bọn mình tiến bộ rất nhiều từ hồi mười tám tuổi, khi bắt đầu tập luyện. Lúc đó một cây số mình cũng chạy cũng khó khăn lắm. – Mình thì đi cũng chẳng được – Sukhi cười phá lên.
13.00 giờ, chúng tôi lại có mặt tại trung tâm thể thao, lần này ở dojo, phòng tập võ thuật. Chúng tôi phải mặc trang phục màu trắng như kiểu pi-gia-ma, gọi là ghi. Chúng tôi chỉ học các môn võ thuật có nguồn gốc Triều Tiên dù chúng thuộc nhiều trường phái: tekwando, tangsudo và hapkido. Từ những môn hơi giống nhau, nhưng vẫn mang tính đặc thù này, người ta tổng hợp thành một môn võ thuật độc đáo dành cho các điệp viên. Màu đai nối tiếp nhau như sau: người mới nhập môn đeo đai trắng, sau đó đến đai vàng, xanh da trời, xanh lá cây, đỏ, nâu, cuối cùng là màu đen dành cho người đã lên đến bậc mười. Có rất ít môn sinh đạt được huyền đai trong bất kỳ môn võ thuật nào, nhưng thày dạy chúng tôi, Kai Chon được ngũ đẳng huyền đai ở cả ba môn võ thuật Cao Ly. Trong quá trình tập luyện ba năm, tất cả chúng tôi đều đạt được cấp bậc đầu, nhưng sau đó muốn được bậc tiếp theo thì phải mất nhiều năm. Kai có hai phụ tá, cả hai đều là tam đẳng huyền đai, tên là Yang Lui và Kang Khil. Kai điều khiển quá trình khởi động, sau đó anh ngồi ở cuối phòng với cầm cuốn sổ ghi chép trong tay, cạnh anh là Kang Khil. Cách chúng tôi không xa là Yang Lui, rồi Ri Hong và My Ong, hai người này đều được nhị đẳng huyền đai. – Chúng ta bắt đầu bằng song đấu tay không – Ri Hong tuyên bố. – Mỗi đồng chí thử sức năm phút với Yang Lui. Vì chúng tôi phải chấm điểm một cách thật chính xác, các đồng chí không được dùng trang phục bảo vệ, cuộc đấu sẽ thuộc loại full contact. Nam giới có thể dùng bao che hạ bộ, nhưng ngoài ra thì không. Có thể dùng mọi ngón võ: được đá vào hạ bộ và lên đầu, được dùng mọi ngón quật và khóa, nhưng chúng tôi cũng đánh giá lòng tự chủ không kém gì sự khéo léo. Những đòn chừng mực, đưa ra một cách thuyết phục sẽ được điểm cao nhất. Ai cố tình làm gãy xương kẻ khác sẽ bị loại ngay lập tức. Các đồng chí rõ chưa? Tốt lắm. Ta bắt đầu. Tôi mừng vì tôi không phải là người đầu tiên. Chưa bao giờ tôi đấu với Yang Lui, vì thế ít nhất tôi còn có dịp xem phong cách của anh ta. Đó là một người cao, gân guốc, cước pháp và thủ pháp nhanh như chớp, có thế phóng ra những cú đá tuyệt vời nhất. Một lần tôi từng được chứng kiến cảnh anh ta bay lên không và phóng một cú đá ngược tuyệt hảo, gót chân điểm trúng giữa một mảnh xi-măng treo lửng lơ ở độ cao hai thước rưỡi và xẻ đôi nó. Một vài người thường có sở trường phản công nhưng Yang Lui là một võ sĩ thiên về tấn công, anh chủ động rất nhiều. Anh ra những đòn ảo tuyệt diệu, phóng những đòn tay lanh lẹ và khéo léo vào thí sinh đầu tiên khiến tôi thiếu tin tưởng. Tôi có thể làm gì với con người này? Sau năm phút, người thí sinh rời sàn tập, anh trúng nhiều đòn, người nhuốm máu nhưng vẫn được 90 điểm vì đã giữ được thể diện trước sư phụ. Trước tôi còn ba thí sinh. Tôi đứng dậy, tiến đến giữa sàn, cúi đầu thi lễ Yang Lui rồi cả hai chúng tôi cúi đầu trước các thày. Kai ra hiệu cho chúng tôi bắt đầu. Yang Lui lập tức tấn công ngay. Ở đây, phụ nữ không được ưu tiên. Phụ nữ cũng hay bị vỡ mũi, gãy xương sườn như nam giới. Những cú đá của Yang Lui dồn dập giáng vào tôi khiến tôi khó tránh nổi. Còn nói gì đến chuyện phản công! Tôi phải mừng vì vẫn còn trụ vững. Cuối cùng, Yang Lui cũng hơi lùi để chờ tôi tấn công. Vì tôi là kẻ có ngôi vị thấp hơn, là môn sinh, tôi phải ra đòn nhanh chóng, nếu không sẽ bị phạt vì tội chậm trễ. Tôi phóng vài cú đá nhanh vào mặt anh ta. Yang Lui giơ hai tay để đỡ, cùng lúc ấy tôi dùng chân trái khóa cổ chân anh ta và giật anh ngã. Anh ta đổ xuống sàn. Yang Lui bật dậy, đấm mạnh vào sườn tôi rồi ra đòn trúng vai tôi. Tôi phát hoảng, giận dữ và tuyệt vọng, cố nén nỗi đau, tôi bám lấy tay anh ta, kéo anh ta lại gần và giáng một cước nửa cung tròn vào vùng dạ dày anh ta. Yang Lui lảo đảo trong một khoảng khắc, tôi chụp lấy vai anh, bước ra sau lưng và quật anh ta xuống sàn. Tôi đã tính đến cú đá của anh ta. Tôi bắt được chân anh ta giữa chừng và tung ra một cước trúng hạ bộ anh ta. – Dừng! – Kai kêu lên. – Okhva thắng hiệp này. Yang Lui đã đứng lên. Bây giờ anh ta đã giận tôi và anh còn tấn công dữ tợn hơn, nhanh hơn. Anh ra một loạt đòn vào thành bụng tôi, tôi không đỡ nổi và gần như bị gục. Cuối cùng, tôi cũng hất được anh ta ngã, cùi tay tôi quật trúng xương ức anh ta, rồi tôi bám lấy chân anh ta và lại hạ anh ta xuống sàn. Yang Lui đáp lại một cách điêu luyện: trong nháy mát, anh phóng chân kia tạo thành một gọng kìm kẹp chặt hai chân tôi và kéo về phía anh. Hai chân anh siết chặt chân tôi, anh nhỏm dậy và chuẩn bị phóng một quyền vào mặt tôi. Tôi bắt lấy khuỷu tay anh, vặn và khóa tay anh khiến anh phải thả lỏng gọng kìm. – Dừng! – Ri Hong kêu lên. Hai chúng tôi đứng lên, cúi chào nhau rồi cúi đầu trước Kai. Tiếp đến một chút nghỉ ngơi, các thày tính toán kết quả. Tôi về chỗ ngồi và chờ đợi. – Kết quả của nữ đồng chí Okhva… chín mươi chín điểm! Vài người vỗ tay. Tôi kinh ngạc. Tôi giữ được thể diện trước một võ sĩ xuất sắc, mặc dù tôi biết tôi không phải là đối thủ xứng đáng của anh trong một cuộc đấu thực sự. Nhưng lần này tôi vẫn thắng được Yang Lui và tôi xấu hổ nhìn xuống đất, không dám ngẩng lên nhìn anh. Phong độ sút kém trong trận song đấu với tôi khiến Yang Lui nổi cáu, thành thử anh ra tay không thương tiếc với các đối thủ sau tôi. Sau những cú khóa đau đớn, các thí sinh gần như bay trên không để rồi làm mồi trước ngọn cước của anh. Khi đã đấu xong với tất cả mọi người, Yang Lui ngồi xuống và Kang Khil đứng dậy. – Bài thi tiếp tới – Kai nói – mọi thí sinh phải thi đấu với đồng chí Kang Khil, đồng chí sẽ dùng một con dao nhựa dài hai mươi nhăm phân. Các đồng chí có thể thử tước vũ khí ba lần, sau đó có thể sử dụng dao hoặc tìm cách thắng đồng chí ấy bằng cách khác. Có ai hỏi gì không? Không? Ta bắt đầu! Tôi là người thứ ba phải đấu với Kang Khil. Sau khi cúi đầu thi lễ, chúng tôi thận trọng tránh nhau. Lưỡi con dao nhựa tụt vào chuôi dao như chiếc lò xo, đánh dấu độ sâu mà lẽ ra nó có thể ngập vào cơ thể đối thủ. Kang Khil bắt đầu một đòn ảo, cặp mắt đen của anh nhìn chòng chọc vào tôi. Trong võ thuật ánh mắt có thể là một vũ khí hiệu quả, vì thế tôi tìm cách tập trung vào bàn tay cầm dao của anh ta. Đột nhiên, nhanh như một con mèo, anh ta nhảy xổ lên phía trước và chĩa dao vào bụng tôi. Tôi bị bất ngờ đến nỗi không kịp đưa tay đỡ. Kang Khil đâm dao vào dạ dày tôi và lưỡi dao tụt đến gốc vào chuôi dao. – Kang Khil thắng hiệp đầu! – Kai kêu lên. – Vào cuộc, Okhva! Chú ý vào! Tôi lại khổ sở đứng tấn, chúng tôi lại bắt đầu tránh nhau. Bây giờ tôi chú ý đôi mắt anh ta, hy vọng rồi cặp mắt sẽ để lộ dụng ý của anh. Kang Khil ném con dao từ tay này sang tay kia, anh ta mỉm cười vẻ thỏa mãn và đùa giỡn với tôi. Bị dẫn dắt bởi một sáng kiến đột ngột, tôi quay lại và phóng một cước hậu rất mạnh vào mặt anh. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi cú đá của tôi trúng đích. Kang Khil kêu lên và nhảy lùi về sau, anh đưa một tay lên ôm mặt. Vận hết sức lực, tôi tung hai quyền vào ức anh ta và nếu tỉnh táo hơn, tôi đã có thể hạ anh ta nhanh chóng. Nhưng thay vì lên gối trúng hạ bộ hay đấm dứ một cú vào cổ họng anh ta, khi đó thế nào các trọng tài cũng cho ngừng cuộc đấu, tôi lại cầm nã cánh tay cầm dao và dùng tay kia siết chặt khuỷu tay anh ta. Bị siết chặt, anh ta đành phải bỏ con dao và tôi vồ ngay lấy nó. Có điều trong lúc đó Kang Khil đã hoàn hồn và đúng lúc tôi cúi xuống, anh ta đá trúng ngực tôi từ chính diện. Ttúng phát cước, tôi bay phải đến năm mét và ngã dập mông xuống đất. Lập tức anh ta đã xuất hiện ở đó, nhưng ít nhất tôi cũng còn giữ được con dao. Khó khăn lắm tôi mới gượng dậy được và dùng dao đâm anh ta. Kang Khil khựng lại giữa chừng, luồn tránh cú đâm và xuống tấn. Chúng tôi lại dứ nhau, nhưng bây giờ lợi thế đã thuộc về tôi. Anh ta tiến đến gần tôi khiến tôi phải lùi, nhìn chân trước tôi biết anh chuẩn bị phóng cước. Kang Khil là một đối thủ tuyệt vời, anh sừng sững không gì lay chuyển nổi, tôi không mấy tin tưởng là tôi có thể làm anh ta mất cảnh giác. Thế là tôi dùng một mẹo khác. Tôi phóng con dao về phía anh, khiến anh phải ngửa đầu lên nhìn trong giây lát. Vào khoảng khắc không đáng kể ấy, tôi tung cước trúng hạ bộ và đấm trúng vai anh ta. Kang Khil ngã bịch, dập mông xuống sàn, mặt anh lộ vẻ kinh ngạc. – Dừng! – Kai kêu lên. – Okhva thắng! Tôi đỡ Kang Khil dậy, anh còn nửa mê nửa tỉnh. Sau khi cúi đầu chào, tôi về chỗ chờ kết quả. – Chín mươi tư điểm! – Ri Hong gào lên. Nhưng khi đó đã chập tối và ngày hôm ấy chúng tôi không phải làm thêm gì nữa. Tôi cùng Sukhi về nhà, 19.00 giờ chúng tôi đã lăn ra ngủ. Bản thân tôi cũng thấy ngạc nhiên về mình. Có lẽ tôi vẫn hợp với nghề điệp viên mật. Ngày hôm sau kém xa hôm đầu về mặt căng thẳng vì chủ yếu chúng tôi chỉ thi bắn súng. Thoạt đầu, chúng tôi ngắm bắn một tấm bia cách xa một trăm mét bằng súng loại nòng to. Chúng tôi bắn năm mươi phát đạn, tôi trúng bốn mươi bảy lần. Cũng như rất nhiều thí sinh khác, Sukhi trúng cả 50 lần và mọi người đều đạt được kết quả tốt. Sau đó chúng tôi dùng súng lục, nhưng lúc ấy tấm bia chỉ cách hai mươi lăm mét. Tôi bắn trúng bốn mươi sáu lần và Sukhi lại vượt tôi: cô trúng đích cả 50 lần. – Mình nghĩ rằng cậu đã hoàn hồn rồi đấy – tôi bảo cô trong giờ nghỉ trưa. – Mình lấy làm mừng vì rốt cục cũng có một môn mà mình thạo – cô đáp. – Hôm qua, lúc bị Yang Lui hạ đo ván, mình thấy khó ở quá. Và chân mình còn đau nhức nữa chứ! – Tớ cũng thế – tôi nhếch mép cười. Sáng nay khó khăn lắm tôi mới dậy được, toàn thân tôi đau như dần. Đấy là còn chưa nói đến những vết thương bầm dập khi tập các môn võ thuật. Phần còn lại của ngày, chúng tôi còn thi bắn cung, ném dao và lựu đạn. Nói chung tôi đạt được kết quả khả quan, trừ môn bắn cung tôi chỉ được 82 điểm. Nhưng điểm số thể lực tổng quát của tôi vượt chỉ số chín mươi khá nhiều, thành thử tôi không phải lo ngại gì. Chúng tôi còn phải thi lái xe nữa. Chúng tôi phải lái một chiếc xe hơi Mercedes với vận tốc lớn suốt dọc một sân có chướng ngại vật: cột xà, những đoạn đường đóng băng và những khúc ngoặt như trâm cài đầu đàn bà. Mỗi người được đi hai lần, thời gian được đo lường cẩn thận. Đối với tôi, lái xe luôn đem lại cảm giác hồi hộp vì xe cộ là thứ vô cùng hiếm hoi trong đời sống thường nhật Bắc Triều Tiên. Ở phương Tây mọi người đều có thể lái xe hàng ngày nhưng đối với chúng tôi, xe cộ là điều mới mẻ. Tuy vậy, trong ba năm thời kỳ tập huấn tôi cũng đã tập lái khá thạo và tôi được xếp thứ nhì trong số các thí sinh với 96 điểm. Sau khi chấm dứt hoàn toàn phần thi thể lực, tôi được 94,63 điểm. Chỉ có hai người có kết quả vượt tôi, nhưng chỉ có mười một trên tổng số mười lăm thí sinh được tiếp tục dự kỳ thi viết.
Trên nhiều phương diện, thi viết còn khó hơn thi thể lực nhiều. Trong hai ngày liền, chúng tôi phải thi hai lần, mỗi lần bốn tiếng liền, về đủ các môn học. Ngày đầu, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về triết học và cuộc đời Kim Nhật Thành. Chúng tôi được nhận hai trăm câu hỏi hoàn toàn đơn giản, phải trả lời đúng hoặc sai, rồi phải viết ba bài luận văn khá dài về chủ đề của chủ nghĩa xã hội Bắc Hàn. Bài luận này tạo điều kiện thuận lợi nhất để người ta có thể đánh giá được xem chúng tôi đã tiếp thu nền tuyên truyền chính thức đến mức nào, bởi lẽ có những câu hỏi đại loại như sau: “Trong một bài luận dưới mười trang, anh (chị) hãy giải thích tại sao chế độ Bắc Triều Tiên lại ưu việt hơn các chính thể tư sản.” Ngày thứ hai chúng tôi thi nhiều môn: toán, ngoại ngữ v.v… Chúng tôi còn nhận nhiều câu hỏi về các loại vũ khí khác nhau, ví dụ: “Loại vũ khí cầm tay được ưa chuộng nhất của KGB là gì, và có thể bắn mấy phát với nó?” hoặc “Hãy liệt kê toàn bộ các loại máy bay của quân đội Bắc Triều Tiên cùng những đặc điểm của chúng.” Tôi mất bình tĩnh từ đầu đến cuối và không trả lời được khá nhiều câu. Hơn nữa tôi còn không biết 90 điểm tối thiểu được hình thành như thế nào, vì chúng tôi không thể đoán được các thày đánh giá từng phần của kỳ thi viết theo cách nào. Cuối ngày thi viết thứ hai, tức là sau kỳ thi viết thứ tư, tôi hoàn toàn kiệt sức, cả về thể xác lẫn tinh thần. Trong tuần đi thi, chúng tôi được miễn mọi nhiệm vụ khác và tôi lăn ra ngủ một mạch hàng chục giờ. Sukhi cũng mệt mỏi bơ phờ như thế. Vì chỉ còn lại mười một thí sinh, kết quả các môn thi được chấm rất nhanh chóng. Ba người bị trượt, và trong số tám người thi đău, tôi xếp thứ nhì với điểm số trung bình 93. Sukhi được kết quả 92,18. Chúng tôi mừng rỡ. Chúng tôi đã qua hai phần thi, chỉ còn lại một. Có lẽ phần cuối cùng của kỳ thi tốt nghiệp là khó nhất. Người ta bảo ở phần này, mỗi bài tập đều hợp với từng cá nhân, phụ thuộc vào vai trò được dự định cho thí sinh trong quá trình thám thính. Về mặt cá nhân, mọi người đều được nhận một nhiệm vụ riêng tại các hiện trường khác nhau. Người ta gọi đây là kỳ thi địa hình vì mọi bài tập mà chúng tôi có thể gặp trong đời, trong một địa hình khi thực hiện công tác do thám đều được mô phỏng hóa ở mức chính xác nhất. Kỳ thi của tôi rơi vào ngày thứ sáu và Ri Hong thông báo về những việc tôi phải làm từ buổi sáng: – Nhiệm vụ của cô bắt đầu khi mặt trời lặn – anh nói. – Đảng đã cho xây một tòa nhà hai tầng cách trại ta khoảng mười cây số, bên kia núi Kesong và rừng thông, tòa nhà ấy được bày biện theo mẫu các sứ quán nước ngoài nên đơn giản, chúng tôi gọi nó là sứ quán. Cô sẽ được nhận bản đồ vùng lân cận và sơ đồ tòa nhà. Khu vực đó được một bức tường bao quanh và có các lính canh vũ trang đứng gác. Trên sơ đồ, cô sẽ thấy trong tòa nhà có một tủ sắt, trong đó có các tài liệu bằng tiếng Nhật. Nhiệm vụ của cô là đột nhập vào tòa nhà, học thuộc nội dung các tài liệu và đúng sáu giờ sáng hôm sau có mặt ở đây. Hầu như tất cả mọi thứ sẽ được làm giả một cách hoàn thiện. Trong các phòng ngủ sẽ có các điệp viên đóng vai trò các nhà ngoại giao. Đội lính gác sẽ không được biết thời điểm cô đến. Các điệp viên đóng vai lính gác và nhân viên ngoại giao sẽ đánh giá kết quả của cô. Tất cả sẽ xác thực đến mức có thể: cô phải để ý đến các thiết bị báo động khác nhau, các ca-mê-ra bí mật, các mi-crô và mọi thứ khác. Để thực hiện nhiệm vụ, cô được nhận các trang bị sau đây: hai khẩu súng lục, một khẩu AK-47 tự động, ba con dao, một bình đựng bọt xà-phòng, một sợi dây thừng có những nút bám, đèn pin bỏ túi, ống nghe khám bệnh, dao cắt kính, địa bàn, chìa khóa giả. Dao làm bằng nhựa, chúng tôi để trong súng thứ đạn bọc sơn, khi bắn ra tuy có gây đau đớn nhưng không để lại những vết thương. Các lính gác cũng có những vũ khí như thế. Nếu cô bị bắn trúng, viết đạn sẽ hằn lại trên người cô và nếu những bộ phận quan trọng sống còn của cô bị trúng đạn, người ta sẽ cho điểm tùy theo đó. Các vũ khí đều được lắp bộ phận giảm thanh, cô được tổng cộng tám băng đạn cho hai súng lúc và hai băng đạn cho súng máy. Vì đây cũng đồng thời là kỳ thi đối với các lính gác, trong trường hợp cần thiết cô có thể dùng võ thuật khiến họ bất tỉnh, nếu trước đó họ không chịu đầu hàng. Chúng tôi muốn mọi việc càng giống thật càng tốt. Sau khi đã lấy được các tài liệu, cô phải học thuộc nội dung của chúng trước khi đặt lại vị trí. Khi về lại đây, cô phải báo cáo về nội dung đó. Cô cần hỏi gì không? Thực ra tôi có vô số câu để hỏi, nhưng tôi chỉ sững sờ nhìn anh ta. Tôi không làm sao hiểu nổi tại sao người ta lại cử tôi đi làm nhiệm vụ ấy. Tôi vô cùng kinh ngạc trước sự tinh tế của các thày dạy tôi. Rốt cục, tôi mới lên tiếng nổi: – Thưa đồng chí, tôi nghĩ rằng các thí sinh khác cũng đã được nhận những nhiệm vụ tương tự. – Tất nhiên – anh ta đáp -, ít nhất là những nhiệm vụ rất giống nhau. Là những điệp viên hoạt động ngoài địa hình, các cô phải lường tới trước mọi khả năng, và chỉ những trắc nghiệm như thế mới có thể làm sáng tỏ xem thực sự ai là người thích hợp với công tác do thám. Vì thế, chúng tôi không tiếc tiền để duy trì tòa nhà – vô tích sự xét trên những mặt khác – đó. – Và điều gì cần thiết… – tôi cố gắng diễn đạt câu hỏi một cách càng ngây thơ càng tốt – tóm lại, điều gì cần thiết cho tôi vượt qua thử thách này? Tất cả ư? Ri Hong phá lên cười. – Điều đó thì tôi không thể nói được. Cô hãy tập trung để thực hiện toàn bộ nhiệm vụ. Ngoài địa hình, Okhva ạ, không có cái gọi là “yêu cầu tối thiểu”. Hoặc cô hoàn thành nhiệm vụ, hoặc không. Tôi gật đầu ra hiệu rằng tôi đã hiểu. Tôi không muốn biểu lộ sự hồi hộp của tôi, nhưng dạ dày tôi đau quặn vì “cuộc thi” này. Tôi hoàn toàn không có ý niệm là làm sao tôi có được lòng tự tin để lên đường. Nhưng tôi có thể làm gì khác được? Hay là tôi không nhận tất cả những trò này và tự khai trừ mình khỏi đảng? Không, phải nghiến răng làm, phải quyết tâm! Tôi phải làm tất cả những gì có thể. Ri Hong đứng lên. – Thôi, nếu cô không có câu hỏi gì thì chiều nay tôi sẽ để cô một mình. Trong vòng vài giờ đồng hồ tôi sẽ mang lại cho cô mọi thứ: trang bị, quần áo và mọi thứ khác. Khoảng 18.00 giờ tôi sẽ trở lại để chính thức cho cô lên đường. Đến khi ấy, tốt nhất là hãy nghỉ ngơi. Và đừng nói về tất cả những điều này cho ai nhé! Hiểu chưa? Tôi lại gật đầu và Ri Hong ra đi. Tôi trở về buồng ngủ và nằm xoài trên giường. Giá có muốn ngủ cũng không được. Tôi bồn chồn đến nỗi toàn thân tôi run như cầy sấy, cả hàm răng tôi cũng đánh vào nhau lập cập. Tôi thu mình dưới chăn và run cầm cập mấy giờ liền, tôi hoảng sợ chờ hoàng hôn. Chút tự tin tôi có được trong vài ngày trở lại đây, giờ tan tành như mây khói. Toàn bộ tương lai trong đảng của tôi phụ thuộc vào đêm nay, tôi sợ tôi sẽ thất bại. Suốt chiều Sukhi không về nhà và điều này có lẽ tốt đối với cô. Tôi nghĩ rằng tôi không thể giữ nỗi sợ hãi trong người, chắc hẳn tôi đã kể cho cô nghe tất cả nếu cô ở nhà. Có thể đúng lúc ấy cô đi làm nhiệm vụ của mình. Tôi chỉ dám hy vọng rằng cô sẽ thành công. Tôi chỉ chìm vào giấc ngủ chập chờn được vài phút, rồi tỉnh giấc vào lúc 17.30 giờ. Ra phòng ngoài, tôi thấy một chiếc va-li khá to. Trong đó có đủ thứ cần thiết: vũ khí, quần áo, các trang bị. Tôi thở dài và mang quần áo vào phòng ngủ và mặc chúng vào người. Tôi được nhận một bộ trang phục áo liền quần màu đen, giày đen và mặt nạ đen, chỉ để hở cặp mắt. Trông tôi như những người ninja. Tôi đeo một khẩu súng lục lên vai, khẩu kia lủng lẳng bên hông. Dao găm, đèn pin và các băng đạn được tôi cài ở thắt lưng. Trong ba-lô, tôi tống cuộn dây, ống nghe khám bệnh, đạn dự trữ và bình bọt xà-phòng để vô hiệu hóa các ca-mê-ra bí mật. Đúng 18.00 giờ, tôi đã hoàn toàn sẵn sàng khởi hành và Ri Hong đến để cử tôi đi. Anh ta nhìn tôi một lượt, vẻ hài lòng và nhận xét: đáng tiếc là anh không mang theo máy ảnh. Tôi không còn tâm trí đâu để bông đùa. Bộ trang phục khá thoải mái, nhưng tôi thấy mình nực cười trong chiếc mặt nạ với khẩu AK-47 trên vai. – Nào, nữ đồng chí Okhva, cô có mười hai tiếng để hoàn thành nhiệm vụ – Ri Hong liếc nhìn đồng hồ. – Chúc cô thành công! – Cám ơn đồng chí – tôi lẩm nhẩm dưới chiếc mặt nạ và khởi hành. Đó là một tối đẹp trời, không trăng, những hình bóng đã đổ dài. Tôi bước những bước vội vã theo hướng đã định về phía con đường mòn qua dãy núi Kesong và phía rừng thông. Tôi đã nhớ như in con đường tới tòa đại sứ, nhưng để chắc chắn, tôi mang theo mình cả hai tấm bản đồ. Qua bản đồ án tòa nhà, tôi đã phát hiện ra cái tủ sách nằm trong thư viện. Trong rừng mọi vật tối tăm, tôi chỉ biết dò đường bằng địa bàn. Tôi lắng nghe những tiếng lào xào quen thuộc của khu rừng chập tối: lũ sáo sậu đã chấm dứt dàn đồng ca của chúng, những loài vật nhỏ len lỏi đi kiếm mồi. Tôi còn phải tính đến những bước chân nặng nề của đàn hổ nữa: chúng cũng không phải thứ hiếm ở vùng này. Trời đã tối hoàn toàn. Tôi bước nhẹ không tiếng động, hầu như tôi dám quả quyết rằng có một thủ hạ của Ri Hong đang rón rén đâu đó quanh tôi, để ý xem tôi làm gì và làm ra sao. Đôi khi, tôi có thể dùng đèn pin nhưng tôi luôn lấy tay che ánh sáng của nó. Cánh rừng chìm đắm trong màn đêm tĩnh mịch. Tôi cứ tiến như thế và có cảm giác như thời gian là vô cùng tận. Bầu không khí yên lặng ma quái ngự trị trong cánh rừng, chỉ đôi lúc có một làn gió nhẹ vút qua giữa các ngọn cây. Tất cả tạo nên một ấn tượng khá ghê rợn. Tôi biết phần này của trận thử thách chủ yếu là đánh vào tâm lý: ngay việc đi trọn quãng đường dài như vậy trong rừng, vào ban đêm, cũng đã là một thành tích khá rồi. Tôi hay nảy ra ý nghĩ: hay là bỏ chạy? Nhưng chạy đi đâu cơ chứ? Không đâu có chỗ ẩn náu cho tôi cả. Cùng lắm tôi có thể quay lại. Nhưng tôi cũng chưa đến mức thần hồn nát thần tính như thế. Đột nhiên, tôi chợt liếc thấy ánh sáng từ đằng xa. Tôi tắt và cài lại chiếc đèn pin vào thắt lưng. Tôi cất địa bàn, tiếp tục rón rén nhẹ nhàng từ gốc cây này sang gốc cây khác. Đi như thế được chừng mươi mét thì đến lề rừng. Tôi đã thấy cổng chính của tòa đại sứ. Cả hai bên cửa đều có những ngọn đèn tỏa sáng chìm trong tường, cả hai bên đều có lính canh. Cạnh đó là một trạm gác nho nhỏ, bên trong cũng sáng điện. Một bức tường trắng cao khoảng bốn thước rưỡi bao quanh khu vực này. Sau bức tường, nếu tôi nhớ không nhầm khi xem bản đồ, có vài khoảng đất trồng hoa, rồi một thảm cỏ dốc dẫn thẳng đến tòa nhà. Nhìn từ cổng ra vào, đã có thể thấy tòa nhà đó. Tôi theo dõi đám lính canh một lúc. Ngoài hai người lính trực, dường như trong trạm gác cũng có một người và chắc hẳn trạm này được nối với tòa đại sứ bởi một đường dây điện thoại. Một chút sau, một tổ tuần tiễu gồm ba người đi ngang qua đám lính canh, họ vừa trò chuyện vừa vẫy những kẻ trực chiến. Tôi tụt lại trong rừng và đi về hướng phải, hơi rời xa cái cổng. Tôi mò đến được góc tường và tiếp tục đi theo bờ tường bên kia về phía tòa nhà. Lại một tổ tuần tra nữa đi qua, tôi nằm bẹp giữa những lùm cây cho đến khi họ mất hút. Buộc lưỡi móc vào sợi dây, tôi vội vã ra khỏi cánh rừng và ném sợi dây qua tường. Lưỡi móc mắc vào tường. Tôi trèo lên thành tường, ngồi ở đó và kéo theo sợi dây, chỉ sau đó tôi mới nhảy xuống phía trong. Tôi thấy mình ở trên thảm cỏ tòa đại sứ, cách tòa nhà chừng ba mươi-ba lăm mét và cách cổng ra vào một khoảng gấp đôi từng ấy. Tôi cũng thấy một toán lính đi tuần xung quanh tòa nhà, nhưng đúng lúc đó họ rời xa tôi. Dán mình vào bờ tường, đột ngột tôi vắt chân lên cổ chạy và cuối cùng, tôi đã ở cùng một hàng với tòa nhà. Tòa nhà được xây theo trường phái tân cổ điển, phía trước có những kèo cột kiểu Hy Lạp và một sân thượng rộng rãi. Từ bức tường vào đến nhà, tôi còn phải vượt qua chừng mười lăm mét trên địa hình trống trải. Ngó qua cửa sổ, tôi tìm thấy cái thư viện được rọi sáng rất rõ. Khi đó, tôi ngồi sụp xuống trong bóng tối và xem kỹ lại một lần nữa sơ đồ khu nhà. Trên thư viện là một sân thượng có hàng hiên bằng đá, một phòng khách hướng ra đó. Tôi ngửng lên nhìn và thấy trong căn phòng ngủ này không có điện. Nếu quả thực cái tủ sắt nằm trong thư viện, đột nhập theo đường này là thông minh nhất. Tôi lại ngó vào thư viện. Một người phục vụ bước vào và mời trà các vị khách. Tôi không biết họ có bao nhiêu người, một hay nhiều? Tôi tự hỏi: đợi cho đến khi không còn ai trong thư viện, hay cứ đột nhập vào tòa nhà ngay từ bây giờ và ẩn náu ở đó. Tôi quyết định đột nhập ngay tức khắc. Trời càng ngày càng lạnh, vả lại, có thể về sau phòng ngủ sẽ có người. Hơn nữa, chui thẳng vào thư viện, cho dù không có ai ở đó, cũng là điều ngu xuẩn vì gần như chắc chắn là người ta đã đặt máy thu hình trong đó. Nhưng làm sao lên được căn phòng đó? Tôi hơi bước ra xa, thận trọng để dừng dẫm phải thiết bị báo động, và nhận thấy một máng nước mưa ở góc tòa nhà. Tôi nhìn quanh: không một ai. Cúi đầu sát đất, nhanh như gió tôi lao qua thảm cỏ. Tôi dán mình vào tường và nhìn quanh xem có lính gác không? Một toán lính tuần tiễu đến gần cạnh trước của tòa nhà, đối diện nơi tôi đứng, tôi nghe thấy tiếng chân và câu chuyện cố kìm của họ. Bám lấy ống máng, từ từ tôi leo lên. Tôi nhào khỏi làn can đúng vào lúc đội tuần tra xuất hiện. Tim đập thình thịch, tôi ẩn người giữa những cây cột hoa lệ và chờ cho họ đi khỏi hẳn. Nếu chậm một thoáng nữa, hẳn họ đã phát hiện ra tôi. Tôi liếc nhìn cửa sổ buồng ngủ. Trong phòng vẫn tối om, vì vậy tôi trườn vào phòng, thận trọng để dưới thư viện người ta đừng nghe thấy tiếng chân tôi. Đến gần chiếc cửa sổ đầu tiên, tôi tìm cách mở nhưng nó bị khóa chặt. Tôi lẻn qua cửa ra vào, thử mở cửa sổ thứ hai. Nhưng nó cũng bị khóa kín. Cuối cùng tôi bước đến cửa ra vào. Chẳng những nó bị khóa mà trên đó, tôi còn nhận ra những sợi dây dẫn chứng tỏ thiết bị báo động bên trong. Như vậy, thử mở cửa ra vào không phải là việc làm thông minh. Tôi trườn về cửa sổ thứ nhất, hơi nằm về phía sau căn nhà. Tôi móc ba-lô lấy con dao cắt kính và khoét một lỗ kính, trên một chút so với cái điểm mà tôi nghi là có tay cầm. Bỏ mảnh kính ra, thò tay vào, tôi tìm thấy then cửa và rút một cái. Cánh cửa sổ được nâng lên, kêu nho nhỏ. Thế là tôi vào được nhà. Trườn vào phòng, tôi đóng cửa sổ. Tôi đặt lại miếng kính bị cắt vào vị trí của nó, rất khít. Sau đó, tôi bắt đầu áng chừng địa hình. Hầu như tôi không thấy gì khác ngoài việc chẳng có ai trong phòng ngủ. Cạnh một bên tường, có một cái giường kiểu sang trọng Baldacco và một lò sưởi chạm trổ lộng lẫy. Những bức trướng nhung rủ từ trần nhà. Tôi không xác định nổi là căn phòng này có người ở không. Phòng có ba cửa ra vào, một cửa hướng ra kho chứa quần áo, cửa kia dẫn ra nhà tắm, cửa thứ ba mở ra cầu thang. Cánh cửa này mở hờ khiến tôi có thể nhìn qua được. Hành lang tầng một ngập dưới ánh đèn sáng chói, kéo dài chừng 18-20 mét đến đầu kia của tòa nhà. Cầu thang nằm ở giữa hành lang. Tôi mở rộng cánh cửa chút xíu, cố gắng mường tượng trước mắt sơ đồ tòa nhà. Ngoài hành lang, ở cả hai phía phải có một cánh cửa phòng ngủ, rồi cách đó chừng sáu thước lại có hai cửa nữa. Rồi đến cầu thang và năm cánh cửa nữa, hai cửa ở hai bên và cửa thứ năm ở chính diện với tôi, cuối hành lang. Tôi đóng cửa, liếc nhìn đồng hồ. 22.00 giờ. Từ giờ đến nửa đêm, có lẽ ai nấy sẽ lên giường. Tôi không thể làm gì khác, chỉ biết chờ đợi. Tôi mở cánh cửa vào kho chứa quần áo, bật đèn pin. Nhà kho rộng rãi, chật cứng các bộ âu phục và quần áo dạ hội may kiểu phương Tây. Tôi chui vào sau kho, nấp sau một rèm cửa bằng một thứ vải dạ đắt tiền gì đó, và tắt đèn. Nếu phòng ngủ có người ở, tôi phải chờ đến khi họ ngủ say, lúc đó tôi mới có thể xuống tầng dưới được. Trước mắt, tôi không thể tìm được nơi trú ẩn nào tốt hơn vì nếu ra hành lang, hẳn tôi sẽ gặp nguy hiểm. Một giờ trôi qua. Tôi bắt đầu cảm thấy toàn bộ tình thế hơi vô nghĩa. Một phụ nữ ở độ tuổi hai mươi như tôi đang ngồi đây, kẻ đã bí mật đột nhập vào một tòa đại sứ trá hình để được làm gián điệp. Tất cả những điều này mới xa lạ làm sao với cuộc đời thường nhật, với những món ăn mẹ tôi thường nấu ở nhà, với hình ảnh cha tôi thiu thiu ngủ mỗi chiều, với cảnh các em tôi cãi cọ nhau? Chẳng biết giờ đây họ làm gì? Có lẽ họ cũng đang nghĩ đến tôi? Cửa phòng ngủ bật mở và điện được bật lên, làm gián đoạn luồng suy nghĩ của tôi. Tôi nghe tiếng chân và tiếng nói chuyện của một người đàn ông và một phụ nữ. Họ nói tiếng Nhật dù tôi không hiểu hoàn toàn. Toàn thân tôi căng lên, tim đập thình thịch, khẩu AK-47 chạm vào tường. Tiếng nói của người phụ nữ ngày càng to và đột nhiên, đèn bật sáng trong nhà kho. Ánh sáng xuyên quá đống quần áo, hắt vào cả mắt tôi. Người phụ nữ phá lên cười và buông một câu đại loại “sống ở Kairo nửa năm thật là kinh người”, nếu tôi hiểu đúng. Những chiếc móc áo trượt về phía tôi cùng các bộ quần áo treo trên đó. Người phụ nữ sột soạt cởi quần áo rồi treo lên móc. Sau đó, bà ta lấy gì đó từ một cái móc khác, thình lình tắt điện và tôi lại ở trong bóng tối. Tiếng bà ta xa dần. Tôi không biết người đàn ông có vào cùng bà ta không, nhưng nhiều phút trôi qua và tôi không thấy ông ta. Sau đó tôi thấy một cách mập mờ là người ta tắt điện ở phùng ngủ và vài phút sau, bầu không khí trở nên tĩnh lặng. Mạch tôi giần giật. Giờ đây, tôi phải chờ ít nhất hai tiếng cho đến khi họ ngủ. Tôi nhắm mắt, dựa đầu vào tường. Phải ứng khởi lập tức, tôi nghiền ngẫm, nhưng biết làm gì với một thời hạn ngắn ngủi như thế này? Tôi chỉ có thể cân nhắc đến chừng nào chưa phải hành động. Khi cảnh yên tĩnh đã kéo dài khá lâu, tôi thận trọng rẽ đóng áo quần và đứng lên. Cửa nhà kho hơi để mở. Tôi nghe ngóng rồi mở rộng thêm cánh cửa. Đột nhiên tôi để ý đến một tiếng lạo xạo. Tôi quay ngoắt lại và thấy người phụ nữ ngồi dậy trên giường. Nhưng đèn đã bật sáng và tôi phải chớp chớp mắt vì nhức. – Im mồm! – tôi thét lên bằng tiếng Nhật và rút súng lục tiến đến gần bà ta. Đó là một phụ nữ trung niên, đầu phi-dê lịch sự kiểu phương Tây. Bà ta mặc bộ đồ ngủ rất đắt tiền màu vàng nhạt. Miệng bà ta mở, tay ôm mặt. Khi tôi chỉ còn cách vài bước chân, đột nhiên người phụ nữ mỉm cười và thả tay xuống. – Được rồi – bà nói tiếng Triều Tiên. – Chúng tôi coi như đã tử trận, hoặc đã bất tỉnh nhân sự. Cô có thể bỏ qua chúng tôi rồi. Tôi lưỡng lự đứng lại. – Đừng lo lắng, Okhva ạ – bà ta an ủi tôi. – Trước sau chúng tôi cũng tính đến cô. Đặc biệt, tôi đánh giá cô vì cô đã không hạ thủ tôi. Tôi mỉm cười sau chiếc mặt nạ. – Hy vọng bà sẽ tắt điện và im tiếng. – Tất nhiên – người phụ nữ đáp. – Chúc cô may mắn. Người đàn ông ngáy trong suốt khoảng thời gian đó và không có dấu hiệu gì chứng tỏ ông ta nghe thấy một lời nào. Tôi hạ khẩu súng lục và tiến đến cánh cửa. Ngọn đèn tắt phựt. Tôi vù ra hành lang. Ở đó chỉ có một vài ngọn đèn đêm chiếu rọi. Tôi rón rén tiến đến cầu thang, dẫn xuống tầng một bằng một khúc lượn rộng. Tôi đi đôi giày đến cao su nên không gây ra tiếng động trên những bậc thang bằng đá cẩm thạch. Lăm lăm khẩu súc lục trong tay, tôi bước vào căn tiền sảnh rất rộng va suýt nữa tôi đâm sầm vào người lính gác ngồi bên chiếc bàn làm việc cạnh cửa ra vào. Chúng tôi nhận ra nhau cùng một lúc, nhưng trước khi người lính gác kịp trở tay, tôi đã hạ vài phát đạn vào người anh ta. Sơn bắn toe toét trên ngực áo và trên mặt trái anh ta, anh ta cười ruồi và nằm lăn gọn ghẽ ra sàn. Đứng trên bậc thang cuối, tôi nhìn quanh. Ở hai bên phải và trái, có những hành lang được chiếu sáng lờ mờ với những cánh cửa. Thư viện nằm ở cuối hành lang bên trái, cửa đóng then cài. Không thấy ánh điện ở dưới cánh cửa, vì vậy tôi có thể giả thiết là không có ai trong đó. Khi đó, tôi nhìn lên và thấy một chiếc máy ca-mê-ra đang từ từ quay về phía tôi. Lăp tức tôi nằm bẹp xuống để tránh góc nhìn của chiếc máy, và lăn đến giáp tường. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra con mắt điện tử ở trên tường, trên tôi đôi chút. Tim tôi lại đập thình thịch. Tôi chưa hành động theo phương pháp và sai lầm tiếp theo của tôi có thể là sai lầm cuối. Khi chiếc máy ca-mê-ra quay sang hướng khác, tôi đứng dậy và lao về phía thư viện. Cửa ta vào đóng kín. Tôi phải mất một phút mới móc được chiếc chìa khóa giả ra và mở được cánh cửa, tôi nhào vào phòng rồi khóa cửa lại. Tôi bật chiếc đèn pin. Chiếc tủ sắt phải nằm sau một bức họa ở gần cửa ra vào. Tôi rờ rẫm dọc tường rồi dừng lại ở một bức thủy họa có vẻ đáng ngờ. Tôi hạ bức tranh khỏi tường và quả thực là chiếc tủ sắt nằm sau nó. Tôi đặt chiếc ba-lô xuống, lấy chiếc ống nghe khám bệnh để mở tủ sắt. Tôi quay chiếc vòng, lắng nghe xem khi nào có tiếng khe khẽ. Chưa đày một phút và chiếc tủ sắt bật mở. Tôi thò tay vào tủ và tìm thấy một tờ giấy duy nhất. Tôi mở giấy ra xem: “Okhva” – tôi thấy dòng chữ viết bằng tiếng Nhật trên giấy – “cô đã đi được một nửa trên con đường đến đích! Buổi sáng, khi gặp lại sĩ quan huấn luyện Ri Hong, hãy nhắc lại điều này, càng chính xác càng tốt. Chúc cô may mắn.” Tôi bay bổng vì vui sướng khi đặt lại tờ giấy vào tủ, và tôi đóng, rồi khóa lại cánh cửa tủ. Tôi treo lại bức ảnh về vị trí của nó. Có lẽ tôi vẫn thực hiện được nhiệm vụ này chăng? Tôi để ý đến tiếng sỏi kêu ngoài đường và tôi thấy một chiếc xe Jeef quân sự phóng như bay về phía tòa đại sứ. Sửng sốt, tôi tắt đèn pin và nhào ra phía cửa sổ. Sao người ta biết nhanh thế? Khi đó tôi chợt nhận ra. Dù tôi có thoát khỏi “con mắt” của máy ca-mê-ra, nhưng thân hình “bất tỉnh” của người lính gác chắc chắn đã bị để ý đến. Chiếc xe Jeef phanh kít lại, hai người nhảy khỏi xe. Tôi nghe tiếng cánh cửa tòa nhà sịch mở, phải hành động thôi. Tôi phải thoát ra ngoài. Tôi nhìn nhanh những cánh cửa sổ. Chúng đều bị đóng, chỉ có thể phá cùng bộ khung gỗ của chúng. Không còn đường ra nào khác, ngoại trừ hành lang mà tôi đã đột nhập vào. Những bước chân đã dậm thình thịch ngoài hành lang và một thoáng sau, cánh cửa bật mở. Tôi ngồi sụp xuống, chờ đợi. Trong phòng tối tăm, người ta chưa thể nhìn thấy tôi. Tôi siết chặt khẩu súng lục, sẵn sàng nhả đạn. Đột ngột điện sáng bừng. Tôi lập tức nhả đạn và bắn trúng hai lính gác ngoài cửa. Họ quẳng vũ khí và nằm vật ra sàn nhà, người bị phủ đầy những vết sơn đỏ. Tôi bật dậy, vùng ra ngoài, trong khi chạy tôi nhồi thêm băng đạn mới vào khẩu súng. Tôi nhớ trong căn tiền sảnh có một con mắt điện tử, tôi tránh tầm hoạt động của nó nhưng bận tâm đến điều này là thừa. Chắc chắn hai người lính gác đã báo động cho mọi người trong nhà, vì tôi nghe thấy những bước chân ở tầng trên và những tiếng thét ngoài sân. Tôi lao ra ngoài cửa chính và chạy như bay trên sân thượng về phía thảm cỏ. Chắc hẳn cửa chính bây giờ cũng được canh phòng, như vậy tôi chỉ có thể chạy thoát theo con đường tôi đã chui vào: vượt tường. Nhưng vừa được mấy bước, tôi đã thấy một nhóm tuần tra gồm ba người quay vòng ở góc sân. Đám lính tuần nằm sấp xuống và chuẩn bị nhả đạn từ những khẩu súng tự động. Tôi nhảy ra sau một chiếc cột to và dày, những viên đạn bọc sơn lập tức bắn chi chít lên nền đá. Một tay cầm khẩu AK-47 và bắn một tràng vào người họ, tay kia tôi vẫn lăm lăm khẩu súng lục. Sau đó tôi chạy ào qua sân thượng và nổ súng liên hồi. Tôi nghe thấy một tiếng thét ngỡ ngàng và đau đớn. Chắc hẳn một người trong số họ đã trúng đạn của tôi. Ở rìa sân thượng, tôi nhào qua lan can và lao vút đi trên mặt cỏ. Hai lính gác ôm súng máy rượt nhanh theo tôi, những viên đạn cắm xuống mặt đất ngay bên hông tôi. Tôi quay lại và vừa chạy, tôi vừa nhả những viên đạn cuối cùng trong khẩu AK-47. Không trúng đích, nhưng họ phải nằm rạp xuống để tránh đạn và như thế, tôi có thêm thời gian. Tôi đã chạy đến bên bức tường đổ bóng xuống bãi cỏ và hy vọng cái bóng của nó sẽ khiến tôi ẩn náu được. Rồi tôi dừng lại và nạp thêm đạn vào khẩu AK-47. Lấy cuộn dây ra, tôi quẳng qua tường và kéo, nó mắc lại. Tôi choàng khẩu AK-47 và ba-lô lên vai. Đúng lúc ấy, bên tai tôi vang lên một tiếng động khiến tôi lạnh toát người: đó là một chuỗi những tiếng sủa của lũ chó săn đang giận dữ đên cùng cực! Họ đã đuổi gần kịp tôi, ngày càng gần! Tôi hoảng hốt trèo lên bức tường. Nỗi sợ hãi khiến tay tôi như không còn sức lực, chân tôi trượt lên nền đá. Một tiếng kêu chứng tỏ họ đã thấy tôi. Lũ chó ngày càng tiến đến gần tôi. Tôi tuyệt vọng bám vào bờ tường và ngã vật xuống nền đất ở phía bên kia. Chỉ một thoáng sau đó, lũ chó đã gào rú ở đúng chỗ mà trước đó một tẹo, tôi còn ở đấy! Tôi phải nghỉ một thoáng trước khi chạy tiếp về phía rừng thông. Tay phải tôi lăm lăm khẩu súng lục, chờ đọi xem khi nào xuất hiện lính canh. Chỉ còn cách góc phía Đông Nam độ mươi thước, tôi chạm trán một nhóm lính đi tuần. Miêng thét vang, tôi bắn liền 7-8 chuỗi và vẫn tiếp tục, không giảm tốc lực. Họ tìm cách bắn lại tôi, nhưng tôi nổ súng liên hồi cho đến khi hết đạn, và cuối cùng cả ba người lính gác đều phải nằm lăn dưới đất, người đầy vết sơn. – Giỏi lắm! – tôi nghe tiếng khen khi chạy ngang qua họ. Nhào vào rừng, tôi dùng tay còn lại lấy đèn pin và bật một chút. Tôi cảm thấy như tim sắp vỡ tung và tôi biết phải nghỉ, nhưng trước hết tôi muốn phải rời xa tòa đại sứ. Thực ra tôi không muốn dùng đèn, nhưng không làm sao khác được. Bằng không, chỉ trong nháy mắt, chắc chắn tôi sẽ đâm đầu vào một cây nào đó. Tôi dừng lại sau khi chạy được chừng trăm mét. Dựa lưng vào một gốc cây, tôi tắt đèn pin. Trong đời chưa bao giờ tôi nghẹt thở đến thế, tim tôi như bật ra khỏi lồng ngực. Mê mẩn, tôi nạp lại đạn vào súng lục, đầu thì nghĩ đến chuyện không biết bao giờ mới chạy tiếp được đây. Nhưng tôi không có thời gian để trầm tưởng. Từ xa xa, lại vọng lên tiếng chó sủa và tôi cho rằng họ lại dùng chó để săn tôi. Tôi nhỏm dậy và chạy tiếp. Lũ chó được bịt mõm dẫn đi và như thế, chúng không thể chạy nhanh hơn người dẫn chúng. Tôi loạng choạng trong rùng cây, lại phải bật đèn pin. Cũng phải mất vài phút nữa lũ chó mới đánh hơi thấy tôi và nếu khéo, tôi vẫn có thể thoát chúng. Chạy được chừng một trăm mét, tôi tới một con suối nhỏ, lòng suối chỉ rộng vài bước chân. Tôi nhảy xuống suối và đi ngược chiều nước chảy. Chân tôi như đóng băng dưới dòng nước lạnh như kem! Đi như thế vài trăm bước, rồi tôi vọt sang bờ bên kia và lao tiếp đi trong rừng. Lúc ấy, tôi tìm một cây để có thể trèo lên được, và may thay, rừng thông có khá nhiều cây như thế. Năm phút sau, tôi đã chễm chệ trên đỉnh một cây thông đỏ khổng lồ. Tôi nghe tiếng chó sủa từ xa, và thấy cả ánh đèn pin, nhưng cho dù những kẻ rượt theo tôi có thấy dấu vết tôi đi nữa thì dấu này đã mất ở bên suối. Tôi chờ để lấy lại sức, và rồi họ cũng quay trở lại tòa nhà, chấm dứt cuộc truy đuổi. Thở dài nhẹ nhõm, tôi đầm đìa nước mắt. Tôi hoàn toàn kiệt sức cả về tinh thần lẫn thể xác. Nhìn đồng hồ, tôi thấy đã 2 giờ 20. Vỏn vẹn trong 4 tiếng, tôi còn phải đi một quãng đường rất xa! Tụt xuống đất, tôi móc la bàn và đèn pin. Đã đến lúc phải tiếp tục hành trình. Chân nọ nối tiếp chân kia như một cái máy, mồ hôi tôi ròng ròng nhưng tôi run cầm cập trong đêm lạnh. Đầu tôi như trống rỗng, tôi cũng không còn cảm thấy phải rảo bước nữa, chả còn gì quan trọng. Tôi cứ đi, cứ đi và ttự nhủ trong lòng: sẽ có lúc về đến trại. Năm giờ sáng, tôi về đến con đường mòn ở núi Kesong. Chân tôi, nhất là đầu gối và gót, đau điếng và giật giật, tôi bắt đầu lên cơn sốt. Tôi lê bước tiếp xuống núi, rốt cục cũng về đến sân trại. Đến lúc ấy, tôi đã òa lên khóc nức nở và không còn nguyện vọng nào khác, ngoài việc chui vào giường và ngủ liền hai, ba ngày. Tôi mở cửa nhà và khập khiễng bước vào. Ri Hong và My Ong chờ tôi trong nhà, họ ngủ gà ngủ gật trên ghế đi-văng. Tất nhiên khi tôi vừa vào, họ đã tỉnh ngay vào nhìn tôi chờ đợi. Một ngày sau, khi phân tích các báo cáo, người ta đã chấm tôi 98 điểm và đây là một trong những kết quả xuất sắc nhất kể từ khi trại được mở. Tôi không được điểm tối đa chỉ vì tôi đã “hạ sát’ quá nhiều lính gác, và nói chung tôi làm mọi thứ quá ầm ĩ. Tuy nhiên, khi bước vào nhà, tôi chỉ còn sức nhắc lại như máy những câu nói mà trước đó mấy giờ, tôi đã ghi lòng tạc dạ: “Okhva, cô đã đi được một nửa trên con đường đến đích! Buổi sáng, khi gặp lại sĩ quan huấn luyện Ri Hong, hãy nhắc lại điều này, càng chính xác càng tốt. Chúc cô may mắn.” Trước khi ngã sóng xoài bất tỉnh trên mặt đất, tôi còn kịp nhìn thấy Ri Hong mỉm cười.
Bạn tôi không bỏ thuốc lá, một người tình chung. Bạn kiếm đâu ra câu nói mang tính nguỵ biện: Smoking kills, but if you don’t smoke, doesn’t mean you’ll never die! Bạn hút, chẳng nhiều và tự biết điều giản dị là sẽ chóng giũ áo phủi chân đi gặp tiền nhân. Đó là cách thu ngắn cuộc lữ rượi buồn này, sớm dẫm lên lằn mức cuối một phận người.
Bạn đọc văn của Hoàng Hải Thuỷ, gặp phải một ảnh hình, mà theo bạn là thơ mộng “tuyệt cú mèo”: Xe chạy ngang một cánh đồng có trồng dựng tấm bảng với lời chú thích: “Keep quiet. The Tobacco is sleeping!”. Chạy suốt, xuyên thâu bạt ngàn xanh màu phồn thịnh để cuối cùng đụng phải “Keep crying. The Tobacco is dead!” Bạn hút ít đi bởi vì ngày nay người ta đồng thanh tuyên chiến, khai tử thuốc lá. Cô em bạn, một hoạ sĩ ở Sài gòn, chia sẻ cảm xúc: Khi vẽ xong, em buông cọ xuống, lau tay vào tấm giẻ bẩn, lùi xa tấm tranh còn ướt màu sơn dầu, chẳng có gì sánh được khoảng hạnh phúc đó khi em đốt thắp một điếu thuốc, nheo mắt ngó với khói xanh, một vẻ đẹp lung linh huyền ảo chợt hiện. Thuốc lá, hiểu theo một nghĩa hạn hẹp nhất, nó vốn cần thiết cho những kẻ sáng tạo… Khóc đi em, thuốc lá đã chết!
Cái chết, nói về nó khó mà ngắn gọn được. Không cứ là anh nhắm mắt xuôi tay tim thôi đập thì chúng sinh sẽ làm giấy khai tử cho anh. Bên anh, giữa đời sống tha phương này đã có lắm kẻ tự bản thân họ ra thông báo: Tôi đã chết! Họ sống mà thiếu nhân cách thì khác gì họ trở chứng để đoạn lìa bè bạn? Họ vượt biển vì không muốn sống chung với lũ, họ chống cộng hăng say và một hôm “đẹp trời” họ làm lá rụng về cội, du lịch quê hương gấm vóc xếp hàng cả ngày vào thăm lăng Bác. Họ thoá mạ chủ nghĩa bất nhân và một ngày “trời yên biển lặng” nước chảy về nguồn họ chiêu hồi để hạ mình xin cho được tấm thẻ chứng minh nhân dân, vô tư sống đời lão hoá và mong mồ yên mả đẹp nơi sẵn chôn ông bà ông vãi họ.
Những thứ tin tức “đồng minh tháo chạy” kèm theo hình ảnh nọ bạn cóp nhặt được trên những trang báo mạng. Ôi chao! Tại sao lại báo mạng? Ồ, xin chỉnh sửa rằng đó là mấy trang báo điện tử truy cập vào internet. Mạng là màn lưới mạng nhện, hay mạng là định phận riêng biệt mỗi cá nhân? Có ổn không khi nói: Khu phố nọ có khoảng 200 mạng người cư ngụ. Nói thế này e dễ nghe hơn: Kết thúc trận giao tranh bên ta hoàn toàn vô sự, bên địch từ chết tới bị thương có khoảng 20 mạng. Sá gì danh lợi bọt bèo, mà đi thí mạng leo trèo cuộc chơi!
Một ví dụ khác: Xe bị đứt thắng khi đổ đèo, đâm trực diện vào vách đá, bốn người ngồi trên xe thảy qua đời, riêng lão tài xế chỉ bị trầy trụa chút đỉnh. Người đi đường chứng kiến tai nạn thảm sầu buột miệng than: Mạng thằng ấy lớn nhỉ? Mình ên vẫn sống nhăn! Theo em cho tới kỳ cùng, anh mang mạng sống ra dùng đổi trao. Ôi chao! Một mạng người. Nó cực to tát hay thậm nhỏ bé?
Một ông bố thương con gái mình non dại, đem cổ thi tận bên nước lạ ra khuyên bảo hũ mắm treo đầu giàn: Nhiên tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại. Cái chết chả ra làm sao cả, nhỏ nhít. Mất trinh, con ôi, tổn thất ấy lớn vô vàn! Cô con gái tuổi 16 mắt lá răm nheo lại, mày lá liễu nhíu nhăn. Bố nói sao khó nghe, lạc hậu như người ngoài hành tinh. Chớ có đấm ngực dậm cẳng than van đồ bất hiếu. Tụi bạn con chục đứa hết 12 đều sống chung kiểu vợ chồng mặt mày tươi rói phổng phao trong khi bố mẹ chúng nó chết thì khóc than y như sét đánh ngang tai đang sống chuyển sang từ trần. Buồn vô hậu!
Lục bát của Nguyễn Đức Sơn in ở Tân Văn số 11 tháng 3 năm 1969, bài Cánh hường hoang:
Cho ta ngủ giấc mộng dài Một đêm thành kính dưới đài hoa em Nương tay gỡ nhẹ ra xem Trong cơn đau đớn ta thèm chết ngay.
Chết, rõ là chuyện nhỏ, chẳng mấy khi làm bận lòng thi sĩ. Nghệ sĩ nói chung, họ sẵn lòng chết khi đi khám phá một vẻ đẹp tiềm ẩn, khuất lấp mà người đời chẳng thể nào phát hiện. Nhà văn Gabriel Garcia Marquez viết: The only regret I will have in dying is if it is not for Love. Tạm hiểu: Tôi chỉ có duy một niềm hối tiếc là nếu khi chết tôi chẳng được chết cho Tình Yêu. Tình yêu, muôn đời là vẻ đẹp trường cửu của loài người. Hãy ca tụng nó, nếu có thể, khi trái tim còn rung động , còn hấp hối chưa tắt nghỉn.
Thời gian gần đây, chúng ta đón nhận quá nhiều tin tức màu xám về những người lặng lẽ từ bỏ cuộc chơi. “Nhiên tử sanh bần thần, thất tiết sanh hoan lạc (hoặc loạn lạc)”. Cạo sửa câu nói cổ xưa ấy vì chứng cớ quá hiển nhiên. Có ai vui trước một cuộc lìa xa vĩnh viễn? Và đại gia, chẳng phải là họ luôn vung tiền ức triệu để lùng sục gái còn trinh, đoạt cái ngàn vàng nhằm giải hạn? Chuyện vui sau đây mang tới cho ta nhiều bợn lòng: Một đại gia mời một tu sĩ đi đánh gôn. Cú đánh đầu tiên không đúng mục tiêu. Đại gia la lên: Trời ơi, hụt! Vị tu sĩ liền nói: Chớ nên kêu trời như vậy, sẽ khiến Thiên lôi nổi giận. Đến phát thứ hai hụt, đại gia lại kêu lên: Trời ơi, hụt! Vị tu sĩ can gián lần nữa: Này, cứ quen miệng thế coi chừng bị sét đánh đấy. Phát thứ ba cũng hụt: Trời ơi, hụt! Đột nhiên có tiếng nổ rất to, mọi người quay lại thì thấy vị tu sĩ bị sét đánh cháy đen. Bỗng trên trời có tiếng nói rất to vọng xuống: Trời ơi, hụt!
Theo cách mần ăn sơ suất gà mờ của Mít-tơ Thiên Lôi, ta nghiệm ra đã có lắm kẻ hiền lương không đáng chết lại phải hứng chịu búa rìu hàm oan để hồn về chín suối. Chuyện đó ngẫm cũng bình thường, trong tiểu thuyết đầy rẫy bao nghịch cảnh mà nhà văn cố tình bày biện éo le khi dựng chuyện. Họ khai tử những nhân vật đang yêu đời ngồn ngộn sức sống hồn nhiên khiến người đọc cảm xúc dạ phân vân về sự ngắn ngủi của kiếp người. Họ cho những thằng cường hào ác bá sống lâu để gieo vào lòng độc giả sự căm giận, khi tới đỉnh điểm do cái ác tạo ra, tác giả mới tạo dựng một vụ tai nạn thảm khốc nhằm xoá sổ thằng đại gian giết người không gớm tay kia. Nhà văn xoa tay và người đọc xuýt xoa tấm tắc câu chuyện lâm li với lối dẫn dắt có hậu. Phim ảnh cũng thế, bao giờ cũng kết thúc bằng “phe mình” giết sạch “phe địch”. Thở phào, vỗ tay. Màn nhung khép đóng, đèn bật sáng và những xuất chiếu thường cháy vé. Lại trích lời của Marquez: A person doesn’t die when he should but when he can. Người ta không chết khi nên chết mà chết khi người ta có thể.
Rồi một ngày ảm đạm bạn tôi được xe hụ còi đưa vào nằm viện. Nhà thương trung ương xây trên đồi cao, kiên cố và cổ kính tựa một lâu đài ở thế kỷ 18. Gió luôn lai vãng làm những nụ hoa dại nghiêng ngả bên triền cỏ cắt tuỳ tiện như đầu tóc của một bệnh nhân bị xạ trị. Tôi đến nhà bạn vì vợ con bạn hứa sẽ dẫn dắt tôi cho khỏi lạc khi vào chốn mê hồn trận. Vợ bạn thay đổi xiêm y, con bạn thoa một lớp son môi cho khỏi bạc nhược trong khi tôi ra đứng ngoài vườn xác xơ màu cỏ úa để đốt thắp một điếu thuốc. Đó là bao thuốc lá bạn hút chưa kịp hết để trên bàn viết. Khi buồn tay nhặt nó lên, tôi đọc phải hàng chữ bạn dịch từ Pháp ngữ ra tiếng Việt câu văn của Gilbert Becaud: Tới lúc mà tôi sẽ lên đường làm cuộc viễn du, xa đến cuối trời thì van bạn chớ sầu khóc. Hãy nhấp môi vào cốc và bạn uống cạn giúp tôi, mừng tôi vừa tới cõi vĩnh hằng.
Tại sao lại uống rượu? Tôi sẽ hút hết bao thuốc thừa mứa dở dang của bạn vất lại. Được không? Keep Crying. The Tobacco is dead! Khói loãng tan, lòng tôi trống như căn nhà nhỏ đựng phế liệu đặt ở góc vườn. Có con chim lạ đậu trên mái, tiếng hót buồn tựa lời tụng niệm giữa chiều quạnh hiu.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.