Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng
Phần 7
Mùa hạ miền Bắc vô cùng nóng bức, vùng rừng núi càng nóng. Vì làm gần suối, mỗi ngày tắm vài ba lần vẫn chưa đủ mát. Những cơn mưa lớn cũng bắt đầu. Mỗi lần mưa, rừng núi như chìm đắm trong thác nước khổng Iồ. Tiếng mưa gió luồn qua vách núi, kéo dài một điệp khúc bất tận! Dòng suối đang trong vắt nhìn thấu đáy, chỉ tiếng đồng hồ sau đã đỏ ngầu, nước cuốn cuồng nộ, như trận lụt hồng thủy. Dòng suối vốn hiền hòa sao lúc này hung hản như bầy thú dữ, lôi cuốn tất cả những gì cản đường trôi của nó. Căn lều nhỏ bé, run rẩy trước gió mưa! Mực nước dâng lên mỗi lúc mỗi cao. Chẳng mấy chốc, đã liếm đến chân lều. Những ngọn sóng đục ngầu chảy băng băng. Chúng tôi phải chạy trú trên đồi cao, ai nấy ướt như chuột. Những luống rau bị cơn mưa tàn phá nằm rạp xuống đất. Chúng tôi nhìn với con mắt lo sợ, rồi sau cơn mưa này, phải mất bao lâu mới gầy dựng lại được? Những luống rau muống ngập đầy nước. Theo tên quản giáo đánh giá, cứ “3 kí-lô rau muống bằng 1 kí-lô thịt bò!” Bây giờ cảnh vật trước mắt là những đổ vỡ, phá hoại! Ỏ triền núi, một cây cao mấy chục thước đổ xuống kéo theo đá lở ầm ầm. Căn lều nhỏ tự nhiên rã rời, trong nháy mắt, dòng nước đã cuốn nó đi mất hút. Cơn mưa cứ trút xối xả, sấm chớp liên hồi làm náo động khu rừng. Không ai nhìn thấy gì ngoài màn mưa đậm đặc. Cứ như vậy kéo dài. Tôi không biết mấy giờ, vì đồng hồ tay đã bị tịch thu. Trời tối sầm. Chúng tôi rủ nhau đội mưa đi về. Dốc núi trơn trợt, tôi té xuống. Đá như dao cứa rách áo quần. Tôi chắc máu chảy, nhưng không có thì giờ dừng lại để nhìn. Cố gượng dậy, tôi leo lên, leo dần từng bước. Những giọt mưa quất vào mặt ran rát. Khi leo tới đỉnh đồi, tiếng kẻng tan giờ lao động cũng vừa gõ.
Về đến Lán, thay quần áo xong tôi nhìn hai đầu gối có những vết xẻ dài như dao cứa, máu chảy dâm dấp, cánh tay cũng vậy. Tôi lau khô lấy thuốc đỏ bôi vô nhìn phát sợ! Ngủ qua đêm, sáng dậy, tôi lên cơn sốt, phải xin khám bệnh, được nghỉ lao động một ngày.
Sau cơn giông gió chiều qua, trời hôm nay rất cao và trong. Anh em đi lao động hết, ở nhà cũng buồn, chỉ ngồi hút thuốc lào vặt và nói chuyện với những người bệnh khác. Đến gần trưa, đã có nhiều người vác gỗ về. Trông họ lam lũ, bộ quần áo treillis bạc mầu, bết bê bùn đất. Mỗi người đều buộc con dao ngang hông. Nhìn họ, không ai có thể ngờ là những cấp chỉ huy đã tham dự nhiều trận đánh vang danh lịch sử: nào PIeime, Đồng Xoài, Cổ Thành Quảng Trị, Kontum và Bình Long, An Lộc! Trong số đó, tôi thấy một người nhỏ nhắn hảy còn trẻ, vác một cây gỗ to, dài khoảng 3 thước. Anh quẳng cây gỗ xuống cái “ầm”, xong cho tay phủi áo quần. Thấy khuôn mặt là lạ, tôi hỏi anh bạn ngồi gần:
– Ai đó?
– Một trong 3 người “tù đặc biệt” đấy ! Hắn được lao động bình thường, chắc đã thành thực khai báo, còn hai người kia, hình như đưa về Hà-nội! Hôm nọ gặp, hỏi ra mới biết, các cậu trốn Trại ở Yên Bái, đi được 8 hôm. Đêm đi, ngày nghỉ, mãi chưa tới biên giới. Hết lương thực đói quá, mò đến khu dân ăn căp bắp, bị dân miệt núi bắt. Họ cho ăn uống tử tế. Sáng hôm sau giao cho bộ đội. Bộ đội giải đi, đến chỗ nào có dân dừng lại. Thế là ăn đòn hội chợ. Mỗi cú đấm, cú đá, lại kèm theo câu:
“Con ông chết ở Quảng Trị này!”
“Con bà què chân ở Kontum này!”
“Con tao bị gẫy tay ở Bình Long này!”
“Cả họ nhà tao chết vì B52 này !”
Cứ thế chịu trận, có người còn vác gậy đập nữa. Tên cảnh vệ áp tải chờ cho dân đánh chán tay, mới giả vờ nói: Thôi xin đồng bào đừng đánh đập họ, việc gì đã có Đảng và Nhà Nước “no”!
Cứ như vậy, đi ba ngày mới đến Trại. Vì còn trẻ mới chịu đựng được, chứ như tụi mình, ngoẻo rồi
Tôi nhìn người tù đặc biệt với cảm tình nồng hậu ở trong lòng, lại sực nhớ tới Khắc. Không hiểu sao mỗi lần nghe có người trốn Trại, hình ảnh hắn lại sống động trong trí nhớ!
Từ trên cao nhìn xuống thấp, nơi có vọng gác, tôi thấy anh em lao động về, đứng dài để báo cáo và chịu sự khám xét của tên cảnh vệ trước khi vô Trại. Đội rau xanh đang mở túi, vén áo để khám. Vì quá đói, nên mọi người đều tìm cách giấu củ sắn hoặc ít lá rau, lén mang về để “cải thiện”. Nếu thoát, bữa ấy no, nếu vướng, coi như thua, bị làm kiểm điểm. Nói vậy, chứ không phải ai cũng làm được việc ấy, vì rau, sắn khó kiếm, hơn nữa, cần phải có “‘máu lạnh” bất chấp hậu quả!
Tù được nghỉ một tuần lễ để học tập chính trị. Ai cũng mừng khi thấy khẩu hiệu được viết trên băng vải: “Vì sao chúng ta phải đấu tranh giai cấp?”.
Nhưng sau khi “lên lớp” anh em mới té ngửa vì bài học toàn chửi Đế quốc và giai cấp bóc lột trong đó có mình!… Theo Cộng Sản:
“Đế Quốc Mỹ, tên xen đầm Quốc Tế, nhất định sẽ bị tiêu diệt, vì toàn thế giới hiện nay đang tiến hành 3 dòng thác Cách Mạng:
– Cách Mạng giải phóng dân tộc,
– Cách Mạng giải phóng thế giới,
– và Cách Mạng ngay trong lòng Đế quốc do công nhân phát động! “
Lại một lần nữa, chúng tôi chửi Đế quốc và tự chửi! Hơn nữa, có người sinh đẻ ở miền Nam, hăng say thảo luận đã kết án bố mẹ là địa chủ bóc lột nông dân đến xương tủy! Tôi chán ngấy, và không còn chút hy vọng ngày trở về, dù sau 3 năm!… ·
Tôi nhận được thư nhà trước ngay chuyển Trại gần hai tuần lễ. Trong thư vợ tôi “nói mánh” để hiểu, có gửi cho ít tiền giấu trong chiếc áo lạnh. Sáng chủ nhật, có thì giờ rảnh, tôi mở gói đồ, tìm tiền. Theo lời dặn, tôi moi ra được 50 đồng, tiền ngân. Số tiền này sự thực cũng không ích lợi gì vì ở giữa rừng không có chi để mua bán, hơn nữa, nội quy Trại cấm tù không được giữ tiền. Tuy có tiền, không được tiêu lại phải giữ kỹ như mèo giấu cứt!
Tin đồn, có một số sắp chuyển Trại được mọi người nhắc nhở mấy bữa nay, nhưng không biết những ai phải đi. Anh em vẫn lao động như thường lệ. Vì sức khỏe quá kém, tôi không còn lao động tại vườn rau mà được chỉ định phụ trách “nhà văn hóa” nơi có mấy tờ báo loe ngoe và chiếc radio cũ! Trong giờ anh em đi lao động, tôi nghỉ; giờ anh em nghỉ, tôi làm. “Nhà văn hóa” mở cửa buổi trưa, buổi tối đến 10 giờ đêm và những ngày nghỉ. Radio chỉ được mở nghe đài Hà-nội. Vì ở trên độ cao vưóng nhiều núi, nên khó bắt đài, pin lại yếu, nên ít khi nghe được tốt.
Một buổi chiều, tên trung úy Phó Trại, gọi tôi lên Ban Chỉ Huy hỏi:
– Tại sao anh nghe đài nước ngoài?
– Tôi đâu có nghe, cán bộ!
– Có người báo cáo cho tôi biết, anh “nén” nghe đài BBC?
– Chiếc đài đó làm sao nghe được? Nghe đài Hà-nội cán bộ thấy đó, nhiều khi bắt không nổi, nói gì BBC?
Tên Trại phó trước khi cho lệnh tôi về còn dọa:
– Anh “niệu”‘ đó, chúng tôi bắt được anh nghe đài ngoại “nà” cùm!…
Từ lúc đó tôi chán không muốn làm, có ý xin đi lao động lại. Buổi tối, nghĩ chuyện đó, tôi nằm hoài không ngủ được. Đêm đã khuya, bên ngoài trăng sáng lắm. Tôi muốn vùng dậy ra sân ngồi ngắm trăng giữa núi rừng, bỗng có tiếng nói:
– Cán bộ đi đái!

mạnh hải flickr
Giọng nói khác vọng lại:
– Anh kia, vừa nói gì đấy?
– Dạ, cán bộ đi đái, nội quy Trại đã ghi, trong đêm ai muốn ra ngoài đi tiêu hoặc tiểu phải báo cáo cán bộ cảnh vệ, tôi thi hành đúng, cán bộ!
Tiếng nói bên ngoài, có vẻ gắt gỏng:
– Anh đái hay tôi đái? Anh tưởng tôi không biết sao? Anh “nà” con người thiếu văn hóa!
Đây, lần thứ hai, tôi nghe thấy câu đó. Lần thứ nhất ở Long Giao. Anh kia không trả lời. Tên cảnh vệ tiếp:
– “Nần” này tôi tha, “nần” sau, cùm đó!
Rồi tất cả lại chìm vào vắng lặng!
Buổi chiều hôm sau, tên cán bộ hậu cần đi tất cả 6 Lán, hỏi một số người có gửi tiền Giải Phóng ở Yên Bái, để xác nhận xem có đúng không? Tôi có tên trong số được hỏi. Buổi tối, Đội Trưởng Lán 5 cho biết những ai có tên là “đi đó”. Cán bộ quản giáo Đội cho biết vậy! Dù bán tín bán nghi, tôi cũng dùng số tiền sẵn có, đi mua hai bánh thuốc lào “3 số 8” của một anh vừa nhận được quà. Sở dĩ anh bán, chẳng phải cần tiền nhưng sợ hút không kịp, để lâu thuốc mốc. Mỗi bánh 20 đồng, bằng 10.000$ tiền cũ. Tôi ôm chặt hai bánh thuốc lào cho chắc ăn, dù chuyển hay không, cũng vẫn cần nó !
Một tuần lễ trôi qua như thường lệ. Chiều nay, cơn mưa đổ xuống dữ dội, anh em đi lao động về ướt hết. Cơn mưa đến tối còn lai rai. Tin chuyển Trại đến dồn dập từ hồi sáng. Tôi chuẩn bị thu xếp hành trang, nếu có lệnh, đã sẵn sàng. Còn không, cũng chẳng mất gì! Tên quản giáo đi kiểm soát Lán, thấy tôi thu xếp, không nói gì, tôi càng tin mình có tên trong danh sách.
Buổi tối, sau khi cơm nước xong, anh em đang ngồi tán láo, bỗng có lệnh tập họp.
Một lũ cán bộ và cảnh vệ xách đèn đi vô cổng Trại.
Sau khi tập họp xong, tên Trại phó bảo tên cảnh vệ soi đèn lên cao. Trước khi đọc, hắn nói:
– Theo “nệnh” trên, hôm nay có một số anh sẽ được chuyển Trại, theo nhu cầu điều hành quân số. Các anh có tên trong danh sách sắp được đọc sau đây, nên phấn khởi, hồ hởi, vì các anh sắp được đưa đến một nơi “chính quy” hơn, có đầy đủ tiện nghi và phương tiện để các anh sinh hoạt học tập. Nhưng ‘người đi yên trí, người ở “nại” yên tâm’, ở đâu cũng vậy, chính sách của Đảng và Nhà Nước trước sau như một! Sau 3 năm “nà” về thôi!
Cái giọng sậm sựt rất khó nghe, dù xung quanh im lặng như tờ! Mưa vẫn rơi lắc rắc đủ ướt áo.
– Bây giờ, tôi đọc danh sách chuyển Trại. Anh nào có tên, đi vào thu xếp tư trang trong vòng 16 phút.
Tên tôi được gọi vào hàng thứ 5, trong số 18 người, có cả Kiếm – Lán Trưởng – và vài anh em khác cùng Lán! Tôi lặng lẽ đi vào. Vì đã chuẩn bị trước, nên chỉ còn mấy thứ lặt vặt chưa cho vô túi. Quần áo dư, đem gửi Hữu, nếu được về trước, mang dùm về trao lại cho gia đình tôi. Đi chuyến này, tôi không hy vọng được tha sớm .
Mấy phút sau, anh em đều trở về Lán. Mỗi người giúp tôi một chút để tỏ tình cảm lúc chia tay. Dưới ánh đèn mờ nhạt, tôi nhìn thấy sự hoan hỉ trên nét mặt mỗi người ở lại. Nhưng họ có biết đâu, kể từ ngày “18 vị anh hùng Lương Sơn Bạc” ra đi, trong vòng một tháng sau, họ cũng lần lượt rời Trại như những cánh chim lìa tổ. Mấy năm sau, tôi gặp lại vài anh chuyển về Trại Ba Sao, trong vùng núi Chinê nói cho biết lúc ấy, anh em đều nghĩ, 18 người chúng tôi có tội nặng với Cách Mạng nên được đưa đến một Trại đặc biệt để cải tạo!…
Mấy phút sau, tên quản giáo vào giục tôi lên đường. Trời tối và mưa, dốc đá trơn trợt. Hữu gánh dùm tôi qua đồi đến địa điểm tập họp. Khi sang đến đồi, chúng tôi được ăn cơm trắng với thịt heo kho muối, và còn được phát thêm nắm cơm vắt có nhân thịt, phần ăn ngày mai. Làm sao ăn trong hoàn cảnh này? Nhưng sợ di chuyển đêm sẽ đói, nên tôi cố nuốt. Sau bữa ăn, chúng tôi được lệnh mở đồ ra điểm nghiệm. Tên trung úy, quản giáo coi Lán 5, phụ trách khám xét. Hắn lục lọi từng thứ, thu hết ca coóng, muỗng, đũa, chén ăn cơm, dao kéo, bi-đông đựng nước, và thu lại một trong hai chiếc mền được cấp phát. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy sự tịch thu như vậy! Rồi mai đây, chúng tôi sẽ ăn và uống bằng cái gì ? Nhưng mất gì cũng được trừ lọ thuốc. Tôi nhanh tay giấu nó vào góc tối. Sau khi tịch thu và khám người, lần lưng móc túi xong, tên quản giáo nói:
– Nơi các anh sắp đến, có đầy đủ tiện nghi, không thiếu thứ gì. Ở đấy “chính quy” hơn đây nhiều. Họ “no” cho các anh từ đôi đũa, cái bát, chứ đâu để các anh thiếu thốn! 4 giờ sáng sẽ khởi hành! Các anh có thể ngủ một “nát”!
– Thưa cán bộ, cho anh em xin lại chiếc bi-đông để đựng nước uống.
– Các anh có 18 người, đây tôi trả cho các anh 9 cái gô, hai người dùng chung nhau một cái.
Nhưng hắn tìm mãi chỉ có 8 cái, những người nhanh tay giữ trước. Còn tôi và một người nữa chưa có. Suy nghĩ 1 phút, hắn đưa cho tôi chiếc bi-đông nhựa của quân đội. Chậm hóa may. Tôi nghe nói, tên trung úy này đã hoạt động ở Hậu Giang lâu, nên nó biết rõ sinh hoạt của miền Nam trước đây. Nó thường nói về các trận đánh giữa tụi nó và Quân đội ở vùng IV.
Tôi trải tấm nylon xuống nền đất nằm nghỉ. Đàn muỗi vo ve bên tai, tôi dùng chiếc khăn mặt đập loạn xạ. Biết có nằm cũng không ngủ được, tôi ngồi dậy suy nghĩ về những gì sắp xẩy tới cho riêng mình. Đến Trại mới, sẽ lại điểm nghiệm, khai báo, sẽ phải gánh chịu thêm bao nhiêu nhục nhằn, rồi cuối cùng sẽ đưa đến chỗ chết. Đằng nào trước sau cũng một lần. Tôi cầm chặt lọ thuốc trong tay, Trong đầu tôi, nổi hằn từng mủi nhọn. Nào gia đình vợ con, nào kẻ thân người thuộc, nào sách, nào tranh, nào kỷ niệm! Tất cả như a vào để cản trở ý định điên rồ của tôi lúc ấy. Nhưng sau cùng, tôi quyết định không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Tôi dự định, khi chiếc xe tiến vào thước rừng núi đầu tiên, tôi sẽ uống độc dược. Lúc ấy trời còn tối, tên quản giáo và tên cảnh vệ giải tù không ngờ ! Khi chúng biết, đã muộn ! 18 viên Chloroquine, 10 viên Nivaquine đủ để tiêu cuộc đời, nhưng sợ thuốc hành làm đau đớn tôi nuốt luôn 20 viên Valium để ngủ trước khi thuốc ngấm! Tôi đã quyết định như vậy không còn gì để suy nghĩ!
Đêm nay sao quá dài, chờ mãi không thấy tiếng động cơ nào vọng đến. Vài người dễ ngủ đã đánh một giấc ngon lành. Tôi kiểm điểm thành phần đi gồm các sĩ quan thuộc ngành Chiến Tranh Chính trị như Tâm Lý Chiến, An ninh Quân Đội, phòng 7, Phòng nhì, Tình Báo. Toàn ác ôn! Vì không có đồng hồ nên tôi không ước đoán chính xác được thời gian. Gà đã gáy dồn dập mấy lần, xe vẫn chưa đến. Nếu nó đến muộn, trời sáng, dự định của tôi chắc phải hủy bỏ!
Tên quản giáo ngủ ở đâu không biết, đã đến chỗ tôi, đánh thức:
– Các anh dậy, chuẩn bị đi, 3 giờ rồi!
Mọi người choàng tỉnh, đi lấy nước đổ đầy lon gô, sắp xếp lại hành trang.
Mỗi phút chờ đợi, sao lâu vậy? Khi tuổi nhỏ, mỗi lần chờ đợi người yêu, tôi đã cảm thấy lâu. Nhưng nay đang chờ đợi giây phút tự kết thúc đời mình còn lâu hơn nhiều. Có vài người đã mở cơm vắt ra ăn. Tôi thầm phục, vì họ dễ chấp nhận hoàn cảnh, do đó thời gian và không gian tù đầy chắc không làm họ e ngại!
Có tiếng máy xe dội lại từ xa. Mọi người đem đồ ra lề đường. Tên quản giáo mang quân hàm Trung Úy đỏ chói, đeo súng ngắn, tên cảnh vệ cầm AK chờ sẵn. Hai ngọn đèn pha, rọi thành một vệt ánh sáng dài xuyên qua bóng tối làm nổi bật từng viên đá, từng gốc cây. Tên quản giáo bật đèn pin ra hiệu! Chiếc xe hãm tốc lực, quẹo vào khu đất trống, quay đầu, rồi de lại đậu ngay trước mặt chúng tôi.
– Cho đồ “nên” trước, người sau.
Tên quản giáo ra lệnh. Chúng tôi làm theo. Lần di chuyển này, có ít người nên lòng xe rộng rãi , anh em ngồi thoải mái trên hai băng gỗ. Riêng tôi, ngồi xệp xuống sàn xe vì có ý riêng. Tên quản giáo ngồi một bên, tên cảnh vệ ngồi đối diện kẹp cây AK giữa bắp đùi.
Các Trại Cải Tạo đều nằm sâu trong những khu khuất nẻo, độc đạo, không ngờ! Con lộ chính như một thân cây, lối mòn là cành, tỏa sang hai bên. Thường thường Trại được thiết lập ở đầu các cành đó. Đi ngoài lộ không thấy gì, nhưng nếu tinh ý, nơi nào có hàng chữ “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do” thì cách đấy không xa, thế nào cũng có nhà tù.

mạnh hải flickr
Chiếc xe chuyển bánh, bắt đầu nuốt những cây số thứ nhất. Trời hãy còn tối. Sương mù buổi sớm giăng trắng xóa như sữa. Tôi nắm chặt lọ thuốc trong tay, chiếc bi-đông để bên cạnh, đăm đăm nhìn ra ngoài. Gió thổi vun vút, tôi kéo cổ áo đi mưa lên cao. Trong túi áo, tôi để tấm hình của vợ con ngay phía trái tim. Tôi muốn khi trút hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc sống tù đầy khốn nạn này có vợ con bên cạnh, dù thực tế, ngàn trùng xa cách!
Chiếc xe chạy vòng vèo, tiếng máy rú nặng nhọc. Vách núi lù lù chắn ngang tầm mắt. Tôi biết đã đến giờ quyết định, nếu trù trừ, trời sáng, thuốc chưa ngấm, tụi nó có thể cứu được, nếu biết ! Tôi không muốn được cứu vì khi được cứu sống, tội của tôi sẽ nặng thêm. Hôm nay, ngày 28-10-1977, trên đường di chuyển không biết đến nơi nào, tôi nhất định giã từ cuộc sống! Ai bảo tự tử là hèn? Không, không! tự tử rất khó! Phải can đảm lắm, quyết tâm lắm, thanh thoát lắm mới có gan nuốt độc dược để tự giải quyết đời mình! Con sâu, cái kiến con ham sống nữa huống gì con người! Không dám tự nhận mình can đảm, nhưng quả thực, tôi chẳng muốn kéo dài thêm những ngày tù tội chỉ chuốc lấy nhục nhã, đớn đau, và rồi đây đời tù với đói khổ, với rừng thiêng suối độc, sớm muộn gì cũng chết, một cái chết ô nhục nơi ven rừng, khe suối nào đó, chưa đoán biết!
Tôi bỏ từng vốc thuốc vô miệng, chiêu nước. Số thuốc bỏ chung trong một chiếc lọ, nên lúc này tôi cứ dốc ra tay chẳng biết mỗi lần nuốt bao nhiêu, nhưng sau 5 lần chiêu nước, chiếc lọ chẳng còn viên nào. Sớm nay, nhịn ăn, cho thuốc chóng ngấm, nên lúc này bụng thấy cồn cào, muốn nôn hết số thuốc vừa uống vào. Tôi cố giữ… Chiếc xe chạy vòng vèo theo đường núi càng làm ruột gan bồn chồn khó chịu. Hình ảnh bố mẹ, anh em, vợ con, bè bạn, thoáng hiện trong đầu lần cuối.Tôi lầm rầm xin lỗi và sám hối tất cả những gì đã gây ra từ lúc trẻ đến hôm nay đối với bố mẹ, vợ con, bè bạn! Khi tuổi niên thiếu, tôi không giúp ích cho bố mẹ, chỉ làm phiền chứ chưa đền ơn dưỡng dục! Còn vợ con, tôi đã không giữ tròn bổn phận làm chồng, làm cha! Bè bạn, kẻ ghét, người yêu! Sự nghiệp dang dở! Tôi ngất đi lúc nào không hay!…
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.