Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 8

Sức dội của thắng xe quá gấp làm tôi tỉnh dậy. Tai mơ hồ nghe tiếng nói:

– Ngủ gì, như chết! Xe chạy suốt mấy trăm cây số, không tỉnh!

Một tiếng nói khác:

– Chắc ông ấy mệt! Sức yếu quá!

Có bàn tay lay mạnh vào người:

– Ê, dậy đi ông, đến nơi rồi!

Tôi mở mắt, nhìn đờ đẫn như trong giấc mơ.

Những hình bóng xung quanh như khỏa lấp bởi một màn sương mờ ảo! Tôi cố mở to mắt rồi nhoài người về phía cuối xe! Cổ họng ngứa ngáy, tôi cúi xuống nôn thốc tháo, không sao kềm hãm nổi. Toàn thân rủ liệt, mệt không thể tả. Tôi nôn cả mật xanh, mật vàng cùng rãi rớt. Anh em đã xuống hết. Thấy tôi như vậy, một anh đỡ xuống, một anh kéo túi đồ ra khỏi lòng xe. Tôi nghe tiếng tên quản giáo:

– Ơ, anh kia con ngồi “nàm” gì đấy ? Mang đồ vào Trại! Mau “nên”!

Tôi vẫn ngồi im không nhúc nhích. Túi đồ của tôi nằm lăn dưới gầm xe. Chiếc xe nổ máy, vụt đi!

Tôi cố gắng đứng dậy. Đôi chân lảo đảo, mắt hoa lên. Nhưng tôi vận dụng tất cả khả năng còn lại để đến bên túi đồ, cầm chiếc quai định đeo lên vai, nhung không có cách nào làm nổi! Anh em đã đi xa, không ai nhìn lại, cả tên quản giáo lẫn cảnh vệ.

Chiếc Trại mới với hàng rào tre cao ngất, quét vôi trắng tinh, cách xa khoảng 100 thước, sao lúc này đối với tôi nó xa lắc!… Những chiếc áo vàng qua lại nhộn nhịp. Tuy mệt, tôi cũng còn chút ý thức để phân biệt, cơ sở này thuộc Công An. Dùng tàn lực, tôi kéo túi đồ lê xềnh xệch dưới đất, từng bước một để thu ngắn đoạn đường. Sau cùng, tôi cũng lết tới cổng Trại. Vừa đi, vừa nghĩ tại sao mình không chết với 48 viên độc dược? Một con heo 100kí, chỉ 5 viên Chloroquine cũng đủ giết nó dễ dàng! Sao tôi, sau hơn 2 năm cải tạo, qua 5 nhà tù, từ 62 kí-lô, nay chỉ còn khoảng trên dưới 40 mà số lượng độc dược nhiều gấp 9 lần vì đâu không chết! Đây là định mệnh chăng, hay một phép lạ, hoặc tôi đã chết mà cảnh tượng hiện thấy thuộc thế giới bên kia?…·

Nhưng thực tế là thực tế. Tôi vẫn còn sống, đang cùng các nguời khác đứng nghiêm chỉnh nghe tên quản giáo đọc tên và hô “có mặt”, để giao tù cho tên Công An đứng ngay đó! Sau khi bàn giao xong, tên quản giáo cười, nụ cười đểu giả. Chính nó đã tịch thu tất cả những gì cần thiết cho đời sống của một người tù, chúng tôi không còn gì kể cả chiếc muỗng nhỏ để dùng!

Những người tù cũ đứng xa xa nhìn. Lát sau chúng tôi được cho ăn bát chè nóng. Đây coi như “bát chè tiếp tân” gây thiện cảm ! Nhờ ăn bát chè đậu xanh, trong người thấy tỉnh táo. Chúng tôi được tên Công An hướng dẫn vô buồng. Căn buồng tuy bằng lá nhưng khá sạch sẽ. Mỗi người nằm một chiếu, bề ngang khoảng 80 phân. Trên đầu giường có để sẵn một chiếc mền, một bánh xà-bông, một ống kem và chiếc bàn chải đánh răng. Tuy mệt, nhưng hồi tưởng, thấy lời tên quản giáo nói có phần đúng.

Sau khi nhận chỗ nằm xong, chúng tôi ra sân tìm nước rửa mặt, tay chân. Chiếc bể lớn chứa đầy nước tha hồ dùng. Sau khi rửa ráy, mặt mũi người nào trông cũng tươi lên. Một anh bạn cùng chuyến, tên Trai, nói nhỏ:

– Lúc xe di chuyển từ Nghĩa Lộ lên đây, chắc Bác mệt lắm, tôi nhìn thấy chiếc đầu cứ lắc la lắc lư, tưởng gẫy cổ rồi chứ? Bác yếu quá, sao chịu nổi?

Tôi nhìn Trai, ông ta lớn hơn tôi một tuổi, người gầy ốm, hàng râu mép lưa thưa, nhưng lúc này còn mạnh, vì ông đâu có dùng 48 viên độc dược như tôi?

– Tôi bệnh lâu rồi, Bác ơi! Đây là đâu?

– Lào Cai ! Trại này do Công An quản lý. Tôi nghe nói, tối họ khóa cửa.

– Thế đêm hôm đái iả ra sao?

– Có cầu tiêu trong buồng!

– Chết cha, hôi thối sao chiu nổi!

Chúng tôi đang nói chuyện, bỗng có tiếng còi thổi vang. Đằng, trung tá Dù được chỉ định làm Trưởng Toán, kêu anh em tập họp. Tên Công An, tay cầm xâu chìa khóa, đứng trên thềm cao nói:

– Các anh ngồi xuống!

Tất cả ngồi chồm hỗm trên nền đất. Tên Công An tiếp:

– Trước hết, tôi xin giới thiệu với mấy anh, đây là “nhà tù của Xã Hội Chủ Nghĩa”

Ai nấy đều sửng sốt qua nét mặt, nhưng không ai thốt ra lời nào. Riêng tôi, lần thứ hai, chính tai nghe. Lần thứ nhất, trong đêm đầu ở Suối Máu! Vì tự nhận diện mình nên trong cuốn sách, tôi hay dừng chữ “tù” thay cho chữ “cải tạo”. Nhưng tụi Cộng Sản cấp cao, thường cấm mọi người nói đến chữ “tù”, chỉ được dùng chữ Cải tạo viên hay Trại viên, mỗi lần cần xưng hô! Đồ giả đối!

Nói xong câu đó, tên Công An dừng lại một phút, rồi nói thêm về cách ăn, ở trong buồng:

– Ban đêm, cửa sẽ khóa từ 6giờ rưỡi chiều đến 6giờ rưỡi sáng hôm sau. Kẻng báo ra, sau kẻng báo thức! Các anh phải cắt phiên trực để làm vệ sinh, đổ thùng phân, quét dọn cầu tiêu, buồng ngủ cho sạch sẽ, mền chiếu xếp gọn gàng đúng chỗ quy định. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

Chúng tôi xếp hàng hai đi vô buồng. Tên Công An đếm số người. Sau khi vô hết, cửa đóng tiếp theo tiếng dập khóa khô khan. Từ phút này, chúng tôi hoàn toàn cách biệt với sinh hoạt bên ngoài.

Vì quá mệt, tôi nằm lăn ra chỗ ngủ. Mùi chiếu ẩm mốc bốc lên. Tôi trải chiếc mền cho đỡ phải ngửi cái mùi khó thương đó. Tôi ngửa mặt, cố nhớ lại những gì mình đã làm, đã trải qua trong mười mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Lúc tôi uống thuốc vào khoảng 5 giờ sáng. Sau 10 phút, ngất đi. Suốt từ đó tới khi đến Lào Cai, vào lúc xế chiều, như vậy, tôi hôn mê khoảng 12 tiếng đồng hồ liên tiếp. Từ phút này, tôi bắt đầu sợ định mệnh! Khi còn ở Suối Máu, tôi nhờ Vọng, một bạn tù giỏi Tử Vi lấy hộ lá số. Vọng cho biết tôi sống đến ngoài 80 tuổi và sẽ mất tại nước ngoài! Tôi cười nói:

– Ông ơi, cuộc đời tàn rồi, sống thêm ngày nào nhục ngày đó. Ham gì đâu mà sống? Còn chết ở nước ngoài, ai cho đi, làm sao đi được để chết?

– Lá số ông sao, tôi nói vậy, còn tin hay không, tùy!

Nay hồi tưởng, chuyện chết ở nước ngoài chưa biết, nhung sau lần tự tử hụt này, tôi biết mình khó chết.

Từ đó, tôi phó mặc đời sống cho định mệnh, chấp nhận mọi việc dù tốt, dù xấu!

Tôi đau ốm liên miên, người gầy rạc hẳn đi, chỉ còn da bọc xương. Lúc đi khám bệnh cân lại, đúng 35 kí-lô. Từ 62 còn 35, mất đi 27 kí-lô! Vì quá yếu, tôi không phải đi lao động, mỗi ngày được chích và uống thuốc! Tôi giấu kín việc tự tử. Cơm nước ở đây tương đối khá hơn ở Trại “cối xanh” quản lý, nhưng vẫn không đủ no. Chúng tôi thỉnh thoảng được ăn thịt trâu hoặc ngựa. Một buổi gần tới giờ cơm, xuống nhà bếp xin nước uống thuốc, tôi bất chợt nhìn thấy một anh trong Tổ làm bếp đang ngồi gặm đầu ngựa, đặt trong lòng chiếc chậu săt. Chiếc đầu ngựa trắng hếu với hàm răng nhe ra như cười, anh ta ghé miệng vào chiếc sọ cạp từng miếng thịt còn dính lại, gỡ chưa hết! Trông ghê quá!

Cái cảnh khám xét của Công An kỹ hơn bộ đội nhiều. Họ tịch thu lần nữa. Tôi lại mất luôn một số đồ. Khám xong tên Công An cho lệnh Đội Trưởng khám người. Cũng lần lưng, bóp túi, nắn gấu áo, cạp quần đủ thứ, nhưng dù sao anh em khám cũng đỡ hơn Công An. Những đồ tịch thu như dây dù, dây nịt, thuốc men, quẹt máy đều được chuyển ra ngoài Trại ngay lập tức. Thuốc, tôi không còn nhưng tôi mất sợi dây dù dài khoảng 20 thước để căng võng và sợi dây lưng quân đội, nhưng vẫn giữ được chiếc Zippo. Vì có chiếc bật lửa này, mỗi sáng khi tôi vừa thức dậy hút thuốc, đã có một anh ngồi chờ xin lửa! Lửa ở đây quá hiếm!

mạnh hải flickr

Sau đó một hôm, chúng tôi học tập nội quy ở Hội Trường. Buổi học tập nội quy rất nghiêm chỉnh, mọi vấn đề đều được trình bầy đầy đủ trên lý thuyết. Hậu cần nói về ăn uống. Mỗi tháng tù được ăn bao nhiều cân gạo, bao nhiêu lạng thịt cá, bao nhiêu lạng rau v.v… Hàng tháng, còn được Nhà Nước cho thêm 3 đồng tiêu vặt, nhưng số tiền này sẽ được Trại thực hiện bằng thuốc lá, thuốc lào, kem đánh răng, xà-bông v.v… Cuối cùng, tên cán bộ giáo dục nói về hoàn cảnh đích thực của chúng tôi.

– Các anh như những con người sắp ra khỏi bóng tối. Lúc này đã 3 giờ sáng, chỉ còn mấy tiếng nữa, các anh sẽ nhìn thấy mặt trời. Cố lên, chớ làm điều gì để ân hận về sau!

Lời nói vừa tử tế vừa hàm ý đe dọa. Bản nội quy gồm nhiều điều ngăn cấm hơn bên bộ đội. Sau đó, chúng tôi mỗi người lại phải tự khai lý lịch và làm một bản liệt kê đã học tập những gì, ở đâu, nội dung ra sao?

Hôm sau nữa, chúng tôi phải đóng đấu chữ CẢI TẠO vô áo quần mặc, từ xà-lỏn tới áo thung. Những đồ nào không đóng dấu, không được dùng, phải gói lại cất vào kho riêng do Công An giữ chìa khóa. Có người không muốn gửi, đóng dấu tùm lum.

Căn buồng tôi ở sát ngay chiếc loa phóng thanh. Mỗi tối đài Hà-nội léo nhéo từ 6 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Một tối,nghe thấy từ loa phóng ra câu: “Nói đến vô sản chuyên chính là nói cuộc đấu tranh sắt máu, không nhân nhượng, một sống, một chết với quân thù”! Qua câu đó, tôi biết ngay, Dương văn Minh là ông tướng không hiểu chính trị, nhất là không hiểu Cộng Sản, nên ngày 30-4-75, ông mới yêu cầu “người anh em bên kia” hãy ngừng bắn để điều đình với mục đích hòa hợp, hòa giải Dân tộc! Tôi biết Cộng Sản đã tha cho hai ông: Dương văn Minh và Vũ văn Mẫu không phải đi cải tạo để hứng chịu nhục nhằn, đói khổ. Có lẽ đó, một hình thức trả ơn!…

Nhưng tôi không ở Trại này lâu. Sau trên một tháng, chúng tôi và 32 người khác, tổng số 50, có tên chuyển Trại. Trong thời gian ở đây, tôi có gặp vài anh em cấp nhỏ cùng ngành, tuy không cùng buồng, nhưng thỉnh thoảng có dịp nói chuyện. Tôi có mang ơn một người bạn trẻ, Trung Úy ngành Quân Cụ, đã có sửa dùm tôi chiếc gọng kính bị gẫy. Không có kính, tôi như mù. Chiếc kính đó, tôi mang theo đến ngày vượt biên, bị cướp Thái Lan lấy mất. Nếu những dòng chữ này may mắn anh được đọc, xin nhận ở đây lời cảm ơn của người viết sách!

Cuộc chuyển Trại, được chuẩn bị từ sáng sớm, nhưng mãi đến 9 giờ mới khởi hành. Chúng tôi di chuyển theo đường bộ. Con lộ gập ghềnh lên xuống theo triền núi. Một dòng suối, nước chảy đen ngòm ngay dưới chân. Tôi đeo túi lên vai, lê những bước nặng nhọc vì sức khỏe mỗi ngày một suy yếu. Chúng tôi có gặp một toán di hành ngược chiều. Đây là việc hoán chuyển tù. Chúng tôi đi khoảng 3 cây số, mất tới 4 giờ. Một chiếc cổng lớn, cánh cửa sắt đóng im ỉm. Bức tường gạch cao ngất, nhẵn thín quay xung quanh, rất kiên cố. Trên nóc cổng có hàng chữ: Trại Cải Tạo Trung Ương số 1, tô mầu đen trên nền vôi trắng, trông gớm ghiếc.

Mấy tên Công An vũ trang đeo AK trên vai, đi lại trên mô đất cao, đầu đội mũ biên phòng, một loại mũ ấm, bắt chước kiểu mũ của lính Nga, vì lúc này đã bắt đầu mùa lạnh. Tôi nghe nói, nơi đây xưa kia là nhà tù của Thực Dân Pháp giam giữ những nhà Cách Mạng Việt Nam.

Tên Công An giải tù cho lệnh, tất cả đứng chờ.

Hắn đẩy cửa sắt đi vô một lúc rồi trở ra. Cánh cửa được mở rộng. Một toán Công An từ trong ùa ra. Một tên cho lệnh chúng tôi ngồi xuống, xếp hàng hai! Đếm xong, hắn cho lệnh đi vào Trại, rồi quay người nói với tên Công An đứng bên:

– Tôi giao cho đồng chí Đội này!

Tên Công An được giao, cười gượng, ngụ ý như miễn cưỡng phải nhận.

Tên Công An quản lý dẫn chúng tôi trèo lên những bậc gạch cao chừng 2 thước đi sâu vào chiếc hành lang, hai bên có tường cao, mỗi bên có hai chiếc cửa ra vào, đối điện. Tất cả cánh cửa đều có then và chốt sắt bên ngoài. Tôi liếc nhìn vào một chiếc cổng mở, thấy có vườn hoa tươi tốt, những đóa hồng nở tung xen lẫn cúc vàng. Phia cuối, căn nhà gạch dài khoảng 20 thước.

Chúng tôi được dẫn tới chiếc cổng cuối. Cánh cửa mở rộng. Có hai người chờ sẵn ở đó: Tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục phó Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và Trung Tá Kính khi trước ở Cục Tiếp Vận 3. Cả hai người khúm núm chào tên Công An. Chúng tôi, 50 người được lệnh bỏ đồ xuống, nghe tên Công An nói vài câu lấy lệ, rồi giao cho Tướng Cao, nói cho anh em biết về cách ăn ở, sinh hoạt của buồng. Tên Công An đi ra. Chúng tôi ào vào giành chỗ nằm. Buồng có sạp gỗ hai bên, mỗi bên đều có gác, như vậy tương đối rộng.

Buổi trưa, nhà bếp mang cơm lên tận cổng. Tưóng Cao và anh Kính khiêng vô. Cánh cửa được đóng chặt, cài chốt bên ngoài. Tôi hỏi, mới biết, ở đây nhà bếp có nhiệm vụ khiêng cáng cơm đến mỗi buồng. Ăn xong, rửa nồi, chậu xếp vào cáng, xế trưa, nhà bếp lại lên lấy về. Mỗi ngày hai buổi như vậy. Nhà bếp có trách nhiệm đóng và mở cổng, mỗi lần đưa cơm. Nước cũng được phát hai thùng men, chứa khoảng 30 lít, sáng và trưa, trước giờ lao động.

Buổi chiều, hai tên CôngAn vô, cho lịnh điểm nghiệm. Một lần nữa, chúng tôi lại phải bầy đồ ra, đầy ứ chiếc sân toàn cát bụi đen ngòm. Tôi lại phải giấu bật lửa. Cuộc khám xét cũng mất vừa một buổi chiều, do hai tên Công An cùng khám.

Ăn cơm xong, chúng tôi nghe kẻng, ngồi xếp hàng tư giữa sân, chờ lệnh vô “chuồng”. Danh từ ”chuồng” bắt đầu được xử dụng từ đây!

Tên Công An Trực đi vô, tay cầm chùm chìa khóa lúc la, lúc lắc! Đội Trưởng đứng báo cáo số tù. Tên Công An giọng lạnh lùng:

– Cho vào! Hàng trái vô trước, xong đến hàng phải, cứ 2 người một.

Sau khi vô hết, tên Công An dập cửa, kéo chốt sắt khóa lại. Thế là xong! Hai ngọn đèn điện đỏ quạch tuy không đủ sáng nhưng còn hơn Trại B, nơi chúng tôi vừa rời khỏi. Nhịp chân đi ra phía cổng, có tiếng cài chốt phía ngoài. Chúng tôi bị khóa tới hai lần.

Vì một may mắn nào đó, tôi đang cần chiếc lon gô để đựng cơm, tôi nhìn ngay trên chiếc đà, chỗ nằm, có một chiếc. Tôi lấy xuống, thấy có khắc tên Thanh. Tôi chắc của anh nào đó, mới đi sáng nay, bỏ quên. Thôi, tôi cảm ơn chủ nhân chiếc gô, tuy không quen biết, nhưng cũng là cái duyên. Tôi không dùng nó, người khác cũng dùng. Tôi tự nói với mình như vậy để khi dùng được yên ổn trong lòng. Vì cùng cảnh ngộ, cái gô này rất cần cho người tù. Tôi mang theo nó suốt từ ngày ấy cho đến khi được tha về.

Hôm sau lại khai báo lý lich và học tập nội quy do tên đại úy Phó Trại “lên lớp”. Nhà tù nào cũng ngần ấy thủ tục trong những ngày đầu! Chúng tôi được thong thả trong hai ngày xong bắt đầu lao động.

Buổi lao động đầu tiên chúng tôi ngồi thu lu bên cạnh các đội khác. Đội tôi, mang danh hiệu Đội 8. Tôi ngồi đây, nhưng chưa hiểu phải làm gì, lao động ở đâu? Từ trong hàng, tôi liếc nhìn qua chiếc bàn, nơi tên Công An đứng gọi từng Đội đi lao động, thấy trên mô đất cao phía ngoài cổng, lố nhố đầy Công An vác AK trên vai.

Từng Đội được gọi đứng lên, đi ra khỏi cổng. Tên Công An quản giáo đi theo, ra khỏi cổng, tên Công An vũ trang, từ mô đất nhẩy xuống đi kèm. Đội đi thẳng, Đội quẹo trái, Đội quẹo phải lung tung. Sự gọi Đội, hình như theo công tác lao động chứ không theo thứ tự. Chúng tôi chờ lâu lắm, khi các Đội đi gần hết, chiếc sân rộng mênh mông vắng hoe, Đội tôi mới được gọi.

Chúng tôi đứng lên đi ra, tên quản giáo theo sau. Khỏi cổng, một tên Công An vũ trang từ mô đất cao nhẩy xuống, cầm AK bám sát. Chúng tôi được dẫn đi xa khoảng 1 cây số rồi dừng lại trước lò gạch. Đã có nhiều người đang lao động ở dưới thấp, cũng như trên cao. Con trâu to mập đang đi vòng quanh bãi đất lổn nhổn, do một người cầm dây dắt. Rải rác đó đây, có những ụ đất cao. Chiếc lò gạch đang nung, làn khói vươn cao. Mầu trời ảm đạm. Mùa lạnh bắt đầu. Tôi nhớ đến mùa lạnh năm ngoái, phát rùng mình. Ở đây còn cao hơn, chắc sẽ lạnh nhiều. Chúng tôi đang ở địa điểm cách Phố Lu 9 cây số, thuộc tỉnh lỵ Lào Cai.

Đội chúng tôi được phân tán thành nhiều toán, để học việc làm gạch ngói, do Đội 9 đã ở lâu, phụ trách chỉ dẫn.

Tên Công An quản lý luôn luôn có mặt chỗ này, chỗ kia, xem chúng tôi “học tập lao động” ra sao?

mạnh hải flickr

Tôi được điều vào toán đạp đất. Tôi đi vòng quanh quả đất đường kính khoảng 3 thước, cao chừng 1 thước. Năm, sáu người cứ đi vòng vòng, một người cầm chiếc kéo cắt đất, xén lần cho rơi xuống. Chiếc kéo cắt đất làm bằng một cây sắt uốn vòng cung, có sợi dây thắng xe đạp buộc vô hai đầu thật căng. Người cắt ấn xuống, sọi dây cắt đất phăng phăng, mau và gọn! Chúng tôi dẫm lên nhiều lần, đất mịn như tảng bột. Cứ như vậy, hai chân tôi mỏi nhừ. Dẫm chừng 2 giờ được nghỉ 15 phút hút thuốc, uống nước trà tươi, hái từ quả đồi trước mặt. Xung quanh chỗ làm việc, toan đồi trà cằn cỗi, chưa kịp phá đi trồng lại. Nhưng tuy vậy vẫn hái được lá để nấu nước, mỗi ngày 2 thùng. Bụng đói như cào, chân vẫn đạp đều đều trên đất ướt. Tuy mới buổi đầu, tôi đã cảm thấy cam go! Đất được dẫm kỹ, nhuyễn rồi, cho vào khuôn ép thành ngói hay gạch. Chiếc máy ép ngói hoạt động liên tục. Một người cho đất vào khuôn, một người kéo cần giật, một người lấy ra cắt xén, xong đưa vào giàn phơi, chờ khô cho vô lò. Còn gạch hoàn toàn làm bằng tay với chiếc khuôn gỗ, đóng xong có người mang phơi nắng cho ráo chờ nung. Có 2 chiếc lò, một nung ngói, một nung gạch. Vẫn cái kiểu lò cũ kỹ, tôi đã nhìn thấy từ hồi còn niên thiếu.

Từ đó, Đội chúng tôi gắn chặt vào công việc làm gạch ngói. Sau thời gian học tập, chúng tôi bắt đầu làm riêng.Tên Công An quản lý, chia công tác cho mỗi người. Toán làm gạch, toán làm ngói, toán đạp đất, toán giắt trâu dẫm đất và cuốc bãi!

Theo nguyên tắc, muốn có đất làm gạch, phải cuốc đất thành một bãi đất có hình tròn, đường kính khoảng từ 6 đến 8 thước. Sau khi cuốc sơ, đổ nước vô cho trâu dẫm nát. Buổi sáng trâu dẫm xong, buổi chiều người lấy lên đắp thành từng quả đất. Sáng hôm sau, hai người đạp một quả. Vừa đạp vừa cắt, sao cho nhuyễn mịn, không còn cục đất sượng nào mới được. Cắt đạp hai, ba lần mới xong, vừa đúng một buổi sáng. Nếu ai đạp khỏe còn có chút thì giò dư đi “cải thiện”, đun nấu. Nếu không, nhiều lúc đến giờ về, chưa kịp rửa tay chân. Đất đạp xong, đậy bằng tấm liếp che nắng cho khỏi khô và được toán khác đưa đến chỗ đóng gạch. Gạch đóng xong mang phơi.

Các “khâu” ấy, “khâu” nào cũng nặng như nhau, chỉ có Đội Trưởng được ngồi chơi, thỉnh thoảng chạy chỗ này một tí, chỗ kia một lát, đôn đốc anh em cho có việc, lại còn được tên Công An thỉnh thoảng cho khoai, sắn, mật, nấu chè riêng. Quyền lợi của Đội Trưởng như vậy ai cũng ham, nhưng cũng khó tránh vì một khi đã ngoạm được miếng ngon trong miệng, khó nhả ra. Do đó, anh em làm gì tụi Công An đều biết rất mau chóng!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply