Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 9

Trời bắt đầu lạnh gắt. Thỉnh thoảng lại mưa phùn làm con đường nhơ nhớp. Khu làm đất lầy lội, mỗi lần bước chân xuống, mỗi lần rùng minh. Vì mưa rét, nên ai cũng ngại lao động, nhất là cơn đói hành hạ liên miên. Suốt ngày chỉ nghĩ đến miếng ăn. Càng “ăn kiểu hàm thụ” càng đói, do đó, bất cứ con gì nhúc nhích từ cóc nhái, thằn lằn, rắn rết, cào cào, châu chấu đều bị tù tìm cách “bắt gọn” cho ngay vào lò lửa. Chỉ trong mấy phút chúng đã hóa kiếp biến vào dạ dầy. Nhưng người đói qua nhiều, các giống côn trùng ăn được lại ít, nên “thực phẩm trời cho” càng ngày càng khan hiếm. Từ các Linh Mục đến các thầy Tuyên Úy đáng kính, trước cái đói, đều giống nhau. Các vị đó còn “hăng say săn đuổi” hơn kẻ trần tục.

Tôi đã chứng kiến một vị Linh Mục trẻ, chiều nào trước khi vô “chuồng” cũng đi bách bộ vòng quanh sân, hay khoanh tay trước ngục, mắt ngước lên trời, lâm râm đọc kinh, săn đuổi một con rắn nhỏ bằng ngón tay út. Sau khi đập chết con rắn, chẳng cần lột da, cho ngay vào bếp lửa nướng, thân con rắn cong queo như chiếc lò-xo đen thui. Vị Linh Mục trẻ đưa vô miệng nhai ngon lành như ăn khúc xúc-xích!

Cũng như tôi được chứng kiến ông thầy Tuyên Úy đói quá, đã ăn cỏ! Thầy cắt những mảnh cỏ non, mọc ở hai bên lề đường hoặc quanh nơi lao động, rửa sạch thái nhỏ, cho vào gô, đút vô bếp nấu nước, đun thật lâu, như ninh bánh chưng. Ninh xong, thầy ngồi trong tư thế nhập thiền rồi lùa từng muỗng cỏ vô miệng. Vừa ăn, thầy vừa nói liên hồi như tụng kinh: Trâu bò ăn được, người ăn được!

Thật đau đớn!Con người một khi không trấn áp nổi dục vọng dù Linh Mục hay Đại Đức cũng vậy thôi, nhiều khi còn dữ đội hơn người thường. Có thầy thèm ăn quá, suốt ngày lải nhải nói về tưong, chao, và những bữa cơm chay trong các ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan! Nhưng vẫn ăn thịt trâu, thịt heo, thịt ngựa như điên! Có vị còn phạm giới và có hành động mà người thường vì danh dự không làm! Nhưng không phải mọi Linh Mục và Đại Đức đều có hành động như vậy. Có nhiều vị rất thánh thiện, rất thanh thoát! Thà chết chứ không chịu làm mất uy ín của Tôn giáo mình thờ phụng!

Một vài anh em, mang theo hạt giống rau cải, rau diếp, rau dền đã chịu khó cuốc những mảnh đất nhỏ, gieo trồng, nhưng phải chờ một thời gian mới có ăn! Trong thời gian chờ đợi, họ còn phải vất vả vì đói. Ở Trại nay, ăn bánh mì luộc dài dài, bột mì của Gia Nã Đại tặng cho nhân dân Việt Nam. Sao họ tặng nhiều thế, mấy trăm ngàn tù ăn hoài chưa hết, ấy chưa kể Nhà Nước và nhân dân. Ai cũng thèm cơm. Bữa nào được chén cơm, mừng húm, tuy chỉ được chia trên một “chén tầu thủy” mỗi bữa!

Sau hơn một tuần khi đến Trại, chúng tôi được gửi thư về nhà có kèm theo “phiếu quà” do Trại cấp, để ăn Tết sắp đến, nay thấp thoáng quà đã tới. Trong buồng tôi, có mười người nhận được. Trong những gói quà đó, ngoài đường thẻ, sữa, đồ mặn, bột Bích Chi, mì ăn liền, thế nào cũng có một vài bánh thuốc lào “3 số 8”. Anh nào biết hút, không nói làm gì. Có những người không biết hút, gói quà cũng có thuốc lào dùng để đổi chác, vì tiền ở đây không có giá trị. Những ai trót đa mang với “làn khói tương tư” mỗi lần thấy ai hút, hoặc ngửi hương thơm quen thuộc của khói thuốc ngon, trong người tự nhiên rạo rực! Một chén cơm đổi lấy 5 “bi” thuốc lào, mỗi ‘bi” to bằng hạt ngô. Tội nghiệp có nhiều anh chưa nhận được quà, thèm thuốc quá đành nhịn đói mang cơm đổi thuốc hút. Trường hợp này làm tôi nhớ đến Lê Huy Linh Vũ ở Nghĩa Lộ! Cơm đã thiếu, còn thiếu hơn ở Trại do Bộ Đội quản lý mà phải hy sinh phần cơm để đổi lấy 5 bi thuốc, sau 5 lần kéo pháo, tiêu tan! Hút có hà tiện lắm, cũng chỉ nửa buổi là hết. Nhưng dù sống hay chết, ai đã ghiền, đều để dành một điếu “3 số 8” cho buổi sáng, khi thức dậy! Điếu thuốc đầu tiên, buổi sáng sớm, có giá trị vô song. Nó làm tâm hồn bay bổng, quên đi được một vài phút đau khổ cuộc đời! Cho đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng chữ này trong Trại Tỵ nạn Sungei Besi, tôi không thể hiểu nổi, tại sao con người lại có thể bóc lột nhau một cách tàn ác đến như vậy, trong khi cùng chung cảnh ngộ? Những kẻ bóc lột đó, đau thay, trước kia đều giữ chưc vụ khá quan trọng như Phó Tỉnh Bình Dương, Chánh sự vụ v.v…

Tôi đã hút thuốc lào từ lâu, và hút nặng, mỗi ngày năm, bẩy chục “bi”. Nhưng từ ngày vượt biên, bỏ lại chiếc điếu cầy và mấy bịch thuốc “3 số 8” nơi “bãi đáp”. Trong những ngày đầu, tôi cảm thấy hơi khổ sở, rồi mãi cũng quen, nhất là xung quanh không ai hút! Nhưng, nếu có một người hút, chắc không sao nhịn được, tôi cũng phải mang tất cả những gì mình có để đổi lấy thuốc lào!

Gần cuối năm, tiết trời càng u ám. Từng cơn gió bấc thổi buốt ruột, như cắt da cắt thịt. Mỗi buổi sáng sương mù giăng đầy trời. Toán dắt trâu đạp đất vô “chuồng” kéo trâu ra. Con trâu to lớn với hai chiếc sừng cong veo nhọn hoắt, lừ lừ đi theo chân người dắt, nhưng khi vừa nhìn thấy bãi đất mà nó có nhiệm vụ phải quần cho nát như mọi ngày, đột nhiên nó vùng chạy. Anh dắt trâu cố ghì dây, nhưng không còn sức để giữ nó lâu! Một anh khác cầm roi quất vào mông trâu dồn nó xuống bãi. Nhưng nó chồm lên làm anh dắt trâu ngã sấp xuống, con trâu vùng chạy! Tôi vừa đạp đất vừa nhìn con trâu phóng qua dòng suối nhỏ, chạy mất hút vào lùm cây dưới chân đồi trà.

– Đù mẹ, trâu còn sợ lao động, nữa người! Mùa này cỏ ít, ăn không đủ no, lại làm nhiều, giống vật cũng không kham nổi!

Người bạn tù cùng đạp đất với tôi, nói bằng giọng vừa buồn vừa uất hận :

– Trâu trốn được đó, tụi mình trốn, là bỏ cha!

Gió thổi từng cơn vật vã. Từ sớm, tôi chỉ được ăn 2 khúc sắn, mỗi khúc dài 3 phân, khẩu phần ăn lót lòng 50gram đã tan biến từ lâu. Lúc này cơ thể tôi vì nhu cầu sinh tồn nó tự ăn, nghĩa là nó rút tỉa từng chút, từng chút mỗi ngày làm cho thân xác mỏi mòn, người cứ gầy rạc đi vì thế! Hơi nóng trong người dồn xuống đôi chân, hơi lạnh của đất hút hết, nó lại dồn xuống. Cứ như thế, ngày nối ngày, giữa mùa lạnh khắc nghiệt! Tên Kỳ, Công An quản lý, vô cùng tàn nhẫn, nó xông xáo luôn luôn có mặt để kiểm soát, sỉ nhục, càng làm tinh thần chúng tôi căng thẳng.

Nhưng cảnh tù ở nơi đây cũng không hoàn toàn khô khan. Có Trại nữ tù ở cách Trại Trung Ươngkhoảng 2 cây số. Mỗi sáng họ đi làm ngược chiều. Vì đường lội mọi người phải xắn cao quần cho khỏi lấm. Tôi nhìn những bắp chân trắng nõn đi thoăn thoắt trên đường cả đàn, cả lũ. Có nhiều nữ tù trông cũng khá xinh. Nhiều cô trông dữ dằn không thua đàn ông du đảng. Chiếc xe bò chở gốc rau muống đi trồng, cao đầy như trái núi. Một cô kéo trước, hai người đẩy sau cố gắng lên dốc. Cô gái tóc ngắn đi bên cạnh, cằn nhằn, lèm bèm chửi cô kéo càng. Cô này đang kéo, buông tay. Chiếc xe mất thăng bằng dốc ngược, gốc rau đổ đầy đường. Thấy vậy, cô tóc ngắn đi bên, chắc Đội Trưởng, chẳng nói gì, tiến đến vươn tay túm tóc cô kéo càng, đấm đá túi bụi. Lần thứ nhất, tôi nhìn thấy hai người đàn bà uýnh lộn. Họ quần thảo cũng dữ dội lắm. Nào loi, nào đá, nào kêu, nào chửi, nào gào thét tùm lum. Tên nữ Công An từ phía xa đi lại. Người mập lùn, chiếc đuôi sam đong đưa qua lại, chiếc “cối vàng” úp sụp che gần hết khuôn mặt. Khẩu súng đeo bên hông lúc lắc theo nhịp đi. Khi đến gần nơi uýnh lộn, cô ta chống hai tay vào hông nhìn. Cuộc quần thảo giữa hai nữ tù vẫn tiếp diễn, người nào cũng lấm bê bết. Nhiều người đứng xem, không ai dám can. Hai nữ tù, chắc quá mệt cùng lăn xuống mặt bùn. Tên nữ Công An lúc ấy mới hét:

– Sâm, buông nó ra! Lát nữa về Trại sẽ xử!

Cô tóc ngắn, tên Sâm, đang nằm đè lên đối thủ, nghe lệnh buông ra, đứng lên, mặt đỏ bừng bừng như vừa uống xong ly rượu. Người nữ tù kia ngồi dậy, dòng tóc đen nhánh dính đầy bùn đất đỏ, vừa cho tay quấn tóc vừa chửi. Chiếc áo tuột khuy để lộ một mảng ngực trắng nõn!

Cô tóc ngắn, chỉ tay vào mặt cô kia:

– Trưa nay, mày biết tay tao!

Anh em tù chính trị, đều ngưng làm, nhìn chăm chú hoạt cảnh vừa qua. Một vài tiếng cười nổi lên đây đó!

mạnh hải flickr

Vì sống mãi, quen nhìn, nên thứ gì cũng trở nên nhàm chán. Mỗi sáng dù có đoàn nữ tù đi qua, cũng chỉ là vui mắt chút ít. Có cô vừa đi vừa hát nghêu ngao: “Ngày mai em quyết băng ngàn, vượt suối đi tìm tình yêu!” Tình yêu chắc cô đã tìm thấy nơi một người trong bọn tôi, nên mỗi sáng anh ta vừa làm vừa nhìn ra phía lộ, chờ cô ta đi qua, anh mỉm cười gật đầu. Cô móc cạp quần nhìn nhanh xung quanh rồi ném chiếc bánh mì luộc vào lùm cây! Chờ đoàn nữ tù đi khuất, và ngó tên Công An quản giáo xem nó đứng ở đâu, tìm cơ hội ra nhặt chiếc bánh giấu ngay vào túi. Chả biết mối tình này có đi đến đâu không, nhưng chắc chắn anh bạn tù có bánh ăn mỗi ngày đỡ đói. Còn cô gái đa tình kia, chắc cũng phải có cách nào đó, để khỏi đói.

Buổi nay, tôi thấy Linh Mục Hoạt, tay ôm một bó dầy rau muống xuống khu đất gần chỗ làm. Vị Linh Mục này rất khéo tay, có nghề sửa đồng hồ, nên không phải lao động, chỉ ngồi sửa đồng hồ cho tụi Công An, toàn loại đồng hồ cà tàng từ hồi Pháp thuộc. Tên Công An Kỳ, có buổi vui miệng nói với Linh Mục Hoạt:

– Chúng tôi khổ lắm. Lương có mấy chục đồng, trừ tiền ăn còn lại khoảng 20 đồng một tháng. Năm nào, muốn mua chiếc đồng hồ phải hoản việc nghỉ phép về thăm nhà. Muốn về, khỏi mua đồng hồ. Còn “đài” và xe đạp coi như vấn đề lý tưởng, chỉ mơ ước thôi, suốt đời không hy vọng thực hiện!

– Vào ngành Công An, có khó không, cán bộ?

– Phải 3 đời bần cố, lý lịch tốt. Không có liên hệ và họ hàng với địa chủ, phong kiến, với Tây, với Nhật thuở trước. Bây giờ là “Mỹ Ngụy”. Vào Công An khó hơn đi Bộ Đội nhiều!

Tôi vừa đạp đất vừa nhìn Linh Mục Hoạt cuốc đất làm luống trồng rau muống. Tôi hỏi:

– Ông lấy giống ở đâu vậy?

– Có một bà Phước bị giam ở đây từ năm 54, bả mới quẳng sáng nay đấy! Trồng ít rau để cải thiện. Châu chấu, cào cào hết nhẵn rồi.

Nói xong ông cười, nụ cười rất hồn nhiên. Cách đây mấy hôm, không hiểu có chuyện gì với Tướng Cao, vị Linh Mục Tuyên Úy này đã có thái độ quyết liệt, nói thẳng:

– Tại sao, ông lại xuyên tạc sự thật? Ông báo cáo với cán bộ những điều tôi không làm, không nói?

Tướng Cao trả lời lạnh lùng:

– Ở đây, ai cũng có quyền báo cáo, chả riêng gì tôi!

– Đúng, báo cáo là quyền của ông, nhưng tôi chỉ mong ông đừng xuyên tạc sự thực là được. Chúng ta ở đây, mọi người đều là tù, không có Tướng Tá gì hết. Cách Mạng đã ghi trong nội quy như vậy. Ông muốn về sớm hơn anh em, ông có quyền làm tất cả những gì thuộc riêng ông thôi, đừng hại anh em, để được tha trước.

Nói xong, vị Linh Mục trẻ nay quay về phía anh em nói to:

– Phải lôi rắn ra khỏi hang mà đánh!

Câu chuyện đó rồi cũng qua đi, nhưng mọi người vẫn thắc mắc, không hiểu sao, chuyện gì xẩy ra trong buồng, tên Công An Kỳ đều biết. Mỗi sáng, khi anh em lao động ở “hiện trường”, tên Kỳ vô nói chuyện riêng với Tướng Cao nơi nhà ăn, nằm riêng biệt trên mô đất cao. Tướng Cao và một người nữa được tên Kỳ cho ở nhà, làm vệ sinh: đổ phân, quét dọn nhà tiêu, nhà ở và trông nom vườn hoa, khiêng cáng đồ ăn v v…

Tôi không có ý kiến gì, vì dù sao ông Tướng này cũng là vị chỉ huy cao cấp trong ngành tôi phục vụ. Nhưng tôi nghĩ, giá ở cương vị ông, tôi xung phong xin đi lao động dù có phải vất vả dầm mưa, dãi năng, còn hơn ở nhà làm việc nhẹ như quét dọn, bốc cứt, tuy có nhàn một chút nhưng mang tiếng.

Một buổi sáng, tôi phải đi sửa đường cùng với anh em. Quảng đường bị nước mưa ứ đọng, xe qua lại quá nhiều nên hư hỏng. Trong giờ nghỉ giải lao, tôi bỗng thấy một nữ tù trông có vẻ “trí thức” đang ngồi hái rau muống gần đó. Những lọn tóc đen lánh rũ xuống đôi vai thuôn thuôn. Chiếc áo nâu non làm tăng thêm sắc da trắng xanh, do thiếu ăn. Đôi mắt to đen nhìn sắc sảo. Mũi ngón tay thon nhỏ, thoăn thoắt bẻ những ngọn rau xếp thành từng bó. Tôi ngỏ ý xin. Cô nhìn tôi, rồi ngó xung quanh, nói khẽ:

– Không được đâu anh, con Đội Trưởng nó đứng kia kìa. Nó ác lắm, cho anh, nhỡ nó thấy, báo cáo với cán bộ, thì em chết. Nó đánh và nhốt vào phòng tối, khổ lắm!

Nghe vậy, tôi bỏ ý định xin rau, hỏi khẽ:

– Vì sao, bị đi cải tạo?

Cô gái cắm cúi vặt rau, nhưng vẫn trả lời:

– Khổ lắm, em đưoc điều vào làm ở Tòa Đại Sứ Ba Lan, nước bạn Xã Hội Chủ Nghiã anh em, vì biết Ăng Lê. Em trót yêu một sĩ quan tùy viên thuộc cơ sở đó. Em xin phép Đảng và Nhà Nước cho kết hôn. Vị sĩ quan kia cũng xin với thủ trưởng của họ như vậy. Nhưng kết quả, em bị cho nghỉ việc và bị đưa đi cải tạo, còn anh kia bị gọi về nước.

Tôi cuốc từng nhát uể oải, hình ảnh người nữ tù vì yêu bị đưa đi cải tạo, chập chờn trong đầu. Khi tôi ngưng tay cuốc nhìn về phía vườn rau, cô đã ôm bó rau xanh ngắt đầy ngực, đi đến phía cuối vườn. Tôi chợt thấy một bó nhỏ bên lề đường, chỗ tôi vừa ngồi nghỉ. Tôi biết bó rau đó, cô có nhã ý cho tôi. Gần hết giờ lao động, tôi bỏ chiếc mũ xuống, đến nhặt lên nhét vội vào, kẹp nách, làm ra vẻ tự nhiên chờ kẻng đi về!

Vì thiếu ăn và trời rét qua, tôi bị đau, khai bệnh.

Tôi và 5 nguời khác ôm sổ xuống bệnh xá ở gần nhà bếp. Chúng tôi ngồi chờ ở ngoài sân từ sớm. Gió thổi cắt ruột. Mặt mũi ngươi nào cũng xanh lè. Một tên “tu-bíp” của mình trước 75, mặt lạnh lùng nhìn chúng tôi. Hắn nhìn sổ bệnh, tưởng gọi vào khám, ai ngờ hắn không nói gì. Lát sau, có một tên béo tốt, chiếc ống nghe đeo lòng thòng trước ngực ra dáng bác sĩ. Tôi nghe anh em nói, nó là y tá, tên Mìn, tù hình sự, đã ăn cắp thuốc của Nhà Nước đem bán nên bị bắt. Nó được tụi Công An tín nhiệm giao việc khám bệnh cho tù. Và Hiệp, Bác sĩ quân y ở Cần Thơ phụ tá cho nó. Vừa nhìn thấy chúng tôi, nó trừng mắt:

– Khám bệnh gì mà đông như đi chợ thế này, ông lại cho đi lao động hết bây giờ!

Nói xong nó đi thẳng vô nhà khám bệnh. Chúng tôi uất ức lắm, nhưng không làm gì được, trong khi đó Hiệp lăng xăng, khúm núm “Thưa bác sĩ” ngon ơ! Tên Mìn cho lệnh Hiệp chích cho người này, cho người kia uống thuốc như nó là bác sĩ chính cống và Hiệp là Y tá. Trường hợp này tôi nhớ đến “tu-bíp” Tín ở Long Giao trong những ngày đầu cải tạo, nhưng Tín “tư cách” hơn nhiều!

Tôi được nghỉ một ngày và lãnh 4 viên thuốc cảm. Nhìn anh em khác, có người buổi chiều phải đi lao động! Cái cảnh khám bệnh như vậy nó khốn nạn quá, mất nhân phẩm quá, nên cùng lắm mới khai bệnh.

Sau khi tự tử không chết, thân xác tôi mỏi mòn dần, lại thiếu dinh dưỡng, lao động khổ sai, nên dễ nhuốm bịnh. Tuy không muốn, nhưng tôi vẫn phải đi khám, vì không cách nào khác hơn. Tên Công An Kỳ xuống tận phong khám bệnh hỏi về bệnh trạng của tôi. Một hôm Hiệp cho biết:

– Anh khám bệnh, nghỉ nhiều qua, cán bộ buồng đã lưu ý chúng tôi và cả anh nữa, lần sau sẽ khám kỹ và vấn đề cho nghỉ lao động hay không tùy cán bộ buồng!

Tôi cãi lại:

– Ông nói hay nhỉ! Tôi đau mới phải đi khám bệnh chứ? Tôi có bệnh hay không, ông là chuyên môn phải biết, chứ can hệ gì đến cán bộ buồng?

– Tôi chỉ nhận được lệnh như thế, nên cho anh biết để dè chừng.

Hiệp nói lạnh lùng. Tôi ngẫm nghĩ, rồi chửi thề:

– Đù mẹ, tinh thần như vậy làm đéo gì chẳng thua!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply