Noel nói chuyện không phải

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 21/12/2016 

Post by Sơn râu 19 May 2024

tuyết, cây thông, kinh cong chuông nhà thờ
máng cỏ, hang đá, chúa hài đồng
trẻ nhỏ mơ mòng viết thư gửi ông già nhân hậu
từ bắc cực hoang đường đánh xe đúng hẹn trao quà
giáng sinh phương này luôn ngần ấy hoạt cảnh
có đâu như berlin xe khủng đâm bổ vào đám đông
không bình yên dưới thế vì lắm kẻ chẳng thiện tâm
ai người ngoại đạo tin rằng chúa sẽ phạt?
allah akbar. bầy trinh nữ đang đợi cổng thiên đường

ở bên ấy trời không yên biển chẳng lặng
xả lũ đúng quy trình sơn tinh gạt lệ thua buồn thuỷ tinh
nha trang lênh láng sông liền ra tới huế
dân miền trung than thiên tai không bằng nhân tai
trâu bò gà vịt noi gương tôm cá đang sống chuyển sang từ trần
nước lên tới nóc dân tình chìm lóp ngóp
những chốn tôn nghiêm khô ráo tỉnh như ruồi
đại đức thích quang thạnh làm tổng thư ký
hội đồng điều hành học viện phật giáo đăng thông báo:
tuyển sinh thạc sĩ phật học với môn mác-lênin
ngôn rằng: đưa môn lý luận mác-lê vào
kỳ thi là tư duy tập thể (sic)
ui, sao chùa bà đanh hổng chịu gióng tiếng chuông ngân

tại hạ muốn dứt bỏ lòng trần xuống tóc đi tu
mà nghe thế lòng những muốn tham sân si cuồng loạn
ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói điều mạt pháp
bố láo, đời luôn là bể trầm luân
quay đầu là bờ ngờ đâu thấy biển
lũ lụt miền trung răng mãi lộng hành
không ai ra tay tế độ đại đức ơi
lòng từ bi sao lại để cho đấu tranh giai cấp phủ bạo lực
chiếc áo không làm nên thầy
đi với ma phải mặc áo chuyên chính vô sản chăng?

muà nô-en mà nhẫm a di đà phật e nghịch nhĩ
nước việt mình đâu phải lương sơn bạc mà lắm lỗ trí thâm
vất đao xuống có khi cũng thành phật
nhưng tụng kinh điển mác-lê thì ma quỷ sẽ đội mồ
dân đang úng thuỷ mà sư thầy cũng ám muội ngụp lặn
bài thánh ca đêm giáng sinh ai hát với nước mắt tuôn
hãy tát vào má phải đi, con sẵn lòng chìa má trái
người bảo cứ đưa tay gõ rồi có lúc cửa sẽ mở
ồ, lạy chúa con đây người ngoại đạo
nhưng tin có ngày bạo quyền sẽ về âm ti.
mô phật!

Hồ Đình Nghiêm

Đừng Tin Con Gái Mỹ Tho!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 19 May 2024

Nhỏ đưa anh mặt mài ủ dột

Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm.

xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh

nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn?! 

Chéo khăn, sao ngăn vài giọt lệ

“Xa anh rồi chẳng… dễ gì quên

nhỏ xa anh, ngọn đèn vàng võ

biếng châm dầu, lụi bấc, thâu đêm?!” 

Nhỏ viết thư, chục lần căn dặn:

“Sài Gòn! đèn ngọn đỏ, ngọn xanh

học hành nha, đừng mê bóng sắc.

Mặc ong ve, nhỏ vẫn chờ anh!?” 

Anh tin nhỏ, Mỹ Tho, thề hẹn

Cách mặt xa lòng, mới bốn năm;

lặng lẽ, nhỏ ôm cầm thuyền khác

nhỏ chờ anh, rốt cuộc, anh lầm!!

Anh về trường cũ, dạy môn văn*

từ chung thủy, băn khoăn, ai biết

“chung thủy gì? Phụ anh đi biệt!”

ngượng ngùng không? Khi nói trăm năm!

Chuyện tình ta đâu phải cải lương

sao nhỏ vai đào thương rất đạt?

Đã vong phụ vẫn còn vớt vát

tiếng ru buồn nhỏ hát bên song!

“Ngày đi lúa chửa đom bông

ngày về em đã con bồng con mang*”

đoàn xuân thu

* Giáo Nghĩa

*ca dao 

Nhớ Tony!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

July 14th, 2023

Post by Sơn râu 19 May 2024

Ý, đất nước hình chiếc ủng co chưn đá đít Sicily, một hòn đảo xinh đẹp trong Ðịa Trung Hải. Từ năm 1282, Sicily có một tổ chức yêu nước mang tên ‘Morte Alla Francia, Italia Avanti’, nghĩa là: “đuổi quân Pháp ra khỏi Italy”. Cái tên dài thòng khó nhớ nên được viết tắt là: ‘Mafia’.

Nó cũng giống như, người Việt ở Miền Nam theo Cộng sản là Việt Cộng; Mỹ gọi tắt là ‘Vi Xi’.

Mafia và Vi Xi có nhiều điểm tương đồng. Mới đầu, Mafia tuyên truyền vì lợi ích của người nghèo chống lại sự áp bức của người Pháp. Còn ‘Vi Xi’ len lỏi vô hàng ngũ Việt Minh tuyên truyền (bố láo) vì độc lập cho nước Việt Nam chống lại sự cai trị của thực dân Pháp.

Sau nầy, Mafia hiện nguyên hình là một tổ tội phạm. Chúng chuyên đe dọa các cơ sở kinh doanh để thu tiền bảo kê. Chúng chuyên cho vay nặng lãi, khủng bố nếu con nợ không trả. Mafia buôn lậu, buôn ma túy, đánh bạc, mại dâm. Mà khét tiếng nhứt là dân Sicily định cư ở thành phố New York, Hoa Kỳ qua cuốn tiểu thuyết ‘The Godfather’ của Mario Puzo năm 1969. Dịch giả tài hoa của chúng ta Ngọc Thứ Lang dịch là “Bố Già”. Năm 1972, đạo diễn Francis Ford Coppola dựng phim cùng tên với các   tài tử lừng danh: Marlon Brando, và Al Pacino…

Sau tháng Tư, năm 1975, đám ‘Vi Xi’ cướp chánh quyền, lập sân sau, cũng hành xử y chang như thế. Bọn đàn em của đảng là đại ca của xã hội đen, trùm băng đảng giang hồ Năm Cam, Sáu Quýt thầu hết cái vụ tứ đổ tường. Chịu hết xiết, bà con mình ùn ùn vượt biển.

Nhớ cách đây 30 năm, tui lơn tơn tới nhà con nhỏ em ở số 1 De Chene Parade, Coburg North, tá túc những ngày chân ướt chân ráo mới đặt chưn tới Úc. Coburg North cách thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Australia chừng 10 cây số. Nếu thằng Anh đặt tên thì tính từ chỉ hướng nằm phía trước như: East, West, North, South Melbourne (giống Ba Tàu). Nhưng Coburg North theo tên một thị trấn thuộc tiểu bang Bavaria bên Ðức thì từ chỉ hướng nằm phía sau (giống Việt Nam).

Ý dưới sự cai trị của tên độc tài phát xít Benito Mussolini (1883–1945) thua trận. Dân Ý bỏ nước qua Mỹ, qua Úc nhiều lắm. Vùng ngoại ô tên Ðức nhưng cư dân, đứa nào tên Tony, Anthony, cứ ‘I’ ngắn hoặc ‘Y’ dài đa phần dân gốc Ý, từ Sicily.

Tony tui quen, tía của ổng là dân Sicily đâm thuê chém mướn thứ thiệt. Tía là Mafia nhưng Tony hiền như cục đất (sét)!

Chuyện vầy nè: “Mới qua, tiếng Anh tui ẹ lắm. Mà tiếng Anh giọng Úc lại càng thấy ghê hơn. Nghe điếc; nói cà lăm. Chánh phủ Úc bao ăn ở; ngoài ra còn cho 510 giờ đi học tiếng Anh để chuẩn bị làm ‘cu li’ cho Úc. Sáng sáng băng qua công viên Coburg phía sau nhà, mùa Thu lá phong đỏ rơi đầy trên lối, tui co ro ra trạm cuối, đón xe tram Sydney Road, quay ngược ra ‘city’. Lớp học bắt đầu từ 9 giờ sáng tới 3 giờ chiều. Tuần học 20 tiếng. Còn biết bao nhiêu thời giờ rảnh. Ở không, tui chỉ biết trước sân anh thơ thẩn / đăm đăm trông nhạn về / mây chiều còn phiêu bạt; lang thang trên đồi quê. Tui nhớ con vợ tui. Tui nhớ hai thằng cu, con tui, vẫn còn kẹt bên kia trời lận đận. Ðang lúc buồn ráo riết, buồn tha thiết, buồn hết biết không biết làm gì để khuây khỏa nỗi xa quê thì Tony xuất hiện. Tony Úc gốc Sicily bên Ý là chủ nhà cho em tui mướn. Tony lùn tịt, già háp, chỉ thua Tía tui năm, ba tuổi. Chiều thứ Bảy, thấy y từ phía rẫy sau nhà ôm vô mớ rau đặt trước cửa sau. Tui tưởng nó tốt chớ. Ai dè không phải. Em gái tui nói: bên nầy mình mướn nhà là kể luôn đất vườn, đất rẫy. Rau, trái mình được quyền ăn chớ không phải nó. Mình cho nó trồng rau đem về nhà là mình tốt. Nó để cho mình một mớ là công bằng. Kẻ có công; người có của đấy thôi.

Tranh Bảo Huân

Thấy tui ngồi trước cửa nhìn mùa Thu lá bay mặt rầu như ai ăn hết của, Tony hỏi: “You mới qua hả?” Tui trả lời lễ phép theo truyền thống của ông bà mình dạy bảo: ‘Yes sir!’ Tony có vẻ khoái tui.

Nó nói ở với em ‘you’ trước sau gì cũng gây lộn nên tốt hơn tìm đường dông trước để giữ tình cảm tốt đẹp anh em hồi chung nhà ba má. Nếu ‘you’ chịu ký ‘contract’ mướn nhà của ‘me’ 10 năm, ‘me’ sẽ cất một căn nữa cho ‘you’ mướn.

Patty, cô giáo kêu tui học tiếng Anh phải có người để mình tập nghe, tập nói mới được. Hay em Patty muốn hò hẹn với chàng? Tui mơ chăng? Tui sợ tui ngã lòng trước vẻ thiên kiều bá mị của em Tàu lai Mã; rồi phụ nghĩa tào khang với con vợ bên nhà; nên tui đành nuốt nước miếng nghe cái ực, chọn Tony làm người thay thế. Tui ầu ơ ví dầu! Dẫu tui không cắn câu, nhưng chiều thứ Bảy ra rẫy hái mớ rau về cho con vợ nó lùn xịt, mập lù như cái lu, Tony thường rủ tui về nhà nó cách 3 phút xe để uống beer chơi. Nhà sàn của Tony tường gạch giả, nằm trên sườn đồi thoai thoải. Tony chui dưới sàn lấy ra hai chia ‘beer’ nút khoén sét hết trơn. Tony nói: ‘me’ uống xưa giờ có chết thằng Ý nào đâu?

Rượu vô lời ra, Tony kể chuyện mấy chục năm về trước, hồi mới qua, tụ bè tụ đảng mùa Ðông đi chơi núi Tuyết. Ðến nơi mướn phòng qua đêm, mỗi thằng quất cạn mỗi đứa một chai Jack Daniels 1 lít cho ấm. Ðứa leo lên giường nằm thẳng cẳng. Còn ‘me’ dẫu xỉn quắc cần câu, lại xách cần câu đi câu cá! Ði một đỗi, khoan một lỗ trên mặt băng, ‘me’ nghe từ trên cao: “Không có cá ở dưới đó đâu!”. ‘Me’ đi  thêm vài thước nữa và khoan một lỗ khác, ‘me’ lại nghe: “Không có cá ở dưới đó đâu!” Nghe vậy, ‘me’ đi xa khoảng 20 thước nữa và khoan một lỗ khác. Một lần nữa, giọng nói lại vang lên: “Không có cá ở dưới đó đâu!”

Vốn gốc Ý, nơi có Tòa Thánh Vatican; nên ‘me’ là con chiên ngoan đạo, ‘me’ hoảng hốt nhìn lên trời: “Oh My God!” Có phải là ‘Người’ đó hay không?”

“Không! Ðồ ngốc!” “Tao là thằng quản lý sân trượt băng đây!”

Tui nhớ Tony!

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

18 Tháng Mười Hai, 2020

Y Uyên

Post by Sơn râu 19 May 2024

Kỳ 12

Khói trên mặt nước

Về sáng, lúc đàn ngỗng kêu dáo dác, Dần thấy mẹ và em gái đã dậy sửa soạn thùng để hứng nước mưa. Giấc ngủ trong gian buồng bừa bộn đồ dùng con nít của Tấm, yên ổn không mộng mị. Trời đổ mưa. Dần ra ngoài giúp con Tấm đổ nước vào phuy. Một vài trái sáng cuối đêm nom rõ dù trong cột khói, rải rác, tản mát. Bóng tối đầy lại thực mau với cơn lạnh nhiều hơi nước trở vào, Dần hình dung căn nhà về sáng có Thục ướt át chuyển những thùng nước giúp mẹ. Chuông nhà thờ phía sông đổ hồi gọi con chiên buổi sớm. Dần hỏi mẹ: 
“Anh ấy đã có vợ con gì chưa?”

Mẹ Dần bật cười: 
“Hỏi ngớ ngẩn như Mán xuống núi. Vợ nó là con Cả Sán chứ ai”. 
Dần đột ngột thấy trí nhớ rung động trong sự tìm quen mờ mịt. Những cái tên riêng như lời hướng dẫn nửa chừng. Anh Tốt. Chỉ còn một cái tên đó soi rõ. Con Tấm ngồi thủ bọc trên giường bảo: 
“Có những cái chum của bà ngoại ở đây thì thích quá. 
Mẹ Dần hỏi như không định: 
“Bà ngoại có hỏi gì về tin tức dì Phong?” 
Dần lắc đầu: 
“Không thấy bà nhắc tới. Trừ lúc bà bảo “Mày giống dì Phong mày”. Con cũng giấu chuyện mẹ gặp dì ấy”. 
“Già rồi bà bắt đầu lẫn… Nói nói bữa nay về ăn giỗ Dần-anh mà không biết có thực không?” 
Mẹ Dần cười không rõ rệt. Con Tấm vặn máy thu thanh nho nhỏ nghe buổi đọc truyện về sáng. Truyện Chung Vô Diệm với tiếng kèn hát bội réo rắt bít kín thông cảm. Truyện đọc thực hay. Trong cảnh nửa tối nửa sáng, mẹ Dần có vẻ dạn dĩ trong ham thích nói về họ ngoại. Dần lười biếng để lòng mang về những đời sống không có ở đây. Giấc ngủ chưa dứt hẳn. Những điều nhớ về anh Tốt, những lời nghe mẹ nói mơ mơ như thoảng qua. Mẹ Dần tỏ ra ít khe khắt nghe bà ngoại nói Dần giống dì Phong. Trước giờ bà vẫn giận những ví von kiểu đó. Thực tình, bà không muốn con cái giống mẹ. Những người đã khuất bên họ ngoại còn được nhớ tới bây giờ thường có cái chết xanh xao của ý tưởng. Chén độc dược và bài thơ tự thuật trên mặt thành của một sĩ phu thủ tiết. Phát súng kê vào màng tang của một người Cần Vương với đám tàn quân không tìm được hướng để vọng bái anh quân trước khi tự kết liễu. Những bài vè ngạo cợt của một người áo dài khăn đóng dán lén ở cổng đình, cột chợ và vuông vải trắng trên cành cây vào mùa xuân đám trai gái đánh đu chạy ùa ra đầu làng đón quan công sứ. Người cậu ồn ào đòi hỏi và kết tội bừa bãi với cặp mắt mệt mỏi chậm rãi khép lại vĩnh viễn như một nhận thức về liên hệ xã hội vào phút chót. Giờ thì dì Phong bỏ đi như người cuối cùng của dòng lãng mạn. Những người đó đã sống và chết theo từng luồng tư tưởng mỗi thời. Họ không ăn nhằm gì vào buổi sớm nay. Như Chung Vô Diệm với tiếng kèn hát bội réo rắt. Buổi sáng nay không có chi đặc biệt. Ngoài tiếng ngỗng dáo dác, tiếng mưa và dự tính sẽ gặp anh Tốt coi xem mặt mũi anh có khác trước chút nào. 
Cơn mưa tạnh dần, trời hửng sáng. Mẹ và hai đứa nhỏ đi khỏi. Đàn ngỗng ra khỏi chuồng dẫn nhau về sân trước coi nhà. Dần thay quần áo đi về mạn bờ sông. Bên kia sông là khu chợ và vài con phố mới lập. Bà con Dần thực nhiều bên đó. Một cây cầu gẫy sập ở kế khúc quanh. Mặt trời mới, như nỗi náo nức quanh quẩn. Luồng nước sáng dần chảy chậm qua những vòm sắt cong queo. Dần nhớ những buổi sáng mấy anh em đi với mẹ ra đầu cầu sông Cái chờ cha. Một con đò sang ngang chở những người vận áo vải mới và mấy vòng hoa cho một đám ma bên nhà thờ. Dần nghĩ giá có Thục cùng đi. Thục vẫn che giấu bớt vẻ một mình lủi thủi của Dần. Những chiếc thuyền đang dời chỗ đậu mang theo những luồng khói trôi nổi trên mặt nước. Dần chào mấy người quen vội vã qua sông để vào thành phố làm thêm ngày Chủ nhật. Chủ nhật. Ngày mai sẽ gặp lại Thục dưới chân pho tượng đồng. 
Qua sông và một cánh đồng hẹp, tới khu phố chợ. Những dãy nhà tôn, nhà lá lẫn lộn. Những con đường ổ gà có bóng mát của hàng cây mới trồng, trên mười năm. Đám bà con không có gì đổi khác. Vẫn những ồn ào nằm gọn trong lòng cánh đồng phẳng lặng lại gần mới biết. Cuộc sống lao động không có nổi những nhát cuốc bổ trên mặt đất tự đánh dấu. Anh Tốt. Tiếng vang không gợi được hình sắt hiện sinh. Anh như một cái bóng trong truyện, đã lùi thực xa. Mồ côi từ nhỏ, khi hai tay ôm nổi cái chổi lá cau anh đã sống trên mảnh sân Bát Tràng nhà Dần. Vào những ngày loạn đến gần, anh bắt đầu vỡ tiếng và khoẻ như cái cối đá. Cha Dần mang mấy người con lớn đi những chuyến đò dọc lên Thái Nguyên. Còn lại mẹ Dần mang thai con Hài, anh Tốt và Dần ở nhà. Những buổi chiều rủ Dần ra đóng cổng, anh vỗ bụng tự xưng là cái hột mít. Tháng tám mưa trên nền nhà trồng rau cải. Ao hồ nước lên cao, bèo non nở kín dầy mặt nước. Đi trên đường làng đầy những hàng rào chướng ngại, anh Tốt tít mắt thấy Dần đồng lõa cho uống trộm một ngụm rượu mua về cho mẹ chữa bệnh. Anh làm bộ ngất ngưởng đá vung những đám lá dừa làm giật mình những con ếch chồm hỗm trên những cụm bèo dưới ao. Giọng vỡ tiếng nghe lạ như của một người say thực. Anh hát: “Giờ đây con với u đi tìm thầy, tìm thầy mấy tháng nay mà không thấy…”. Mẹ Dần bảo gở, cấm hát, nhưng anh không chừa. Anh kiếm đâu được chữ bí mật đem ra doạ Dần: “Tao còn biết nhiều bài bí mật nữa, khi nào thích mới hát. Nhiều đêm anh xin phép mẹ Dần cho đi công tác. Mờ sáng anh mò về thì thầm với Dần tối qua anh đi với thực nhiều người, đi thực xa. Dần thì cho là anh bắt đầu mê gái. Vào một buổi chiều Dần đang ngồi câu cá ở bờ ao, anh Tốt từ đâu về hớt hải nói giặc tới. Mẹ Dần sắp tới ngày sinh, tính với anh Tốt tìm nơi an toàn để ở yên một chỗ. Không có nơi nào ngoài quê ngoại của mẹ Dần ở trong vùng địch. Ba người sửa soạn thực mau. Ra tới đầu ngõ hai mẹ con Dần phải đứng chờ một hồi lâu anh Tốt mới đóng xong cổng, kiếm được một lối bí mật để ra ngoài. Buổi chiều mưa. Những đoàn người bỗng tụ bỗng tản mát trên những cánh đồng, những khu xóm lạ. Những chuyến đò qua hồ, qua mương với những người đàn ông cởi truồng, những đàn bà váy phùng mặt nước bơi theo. Nơi nào cũng như có súng giặc nổ chặn đường. Gần tối, đám người chạy những đoạn đường gần đã khuất vào các thôn xóm. Còn lại ba người. Hai đứa nhỏ rét lạnh và người đàn bà trên bờ đê đứt khúc bỡ ngỡ định hướng tìm quê ngoại. Khi tới nơi, mẹ con Dần được đón tiếp thực niềm nở. Anh Tốt và Dần ôm nhau ngủ trong căn buồng chứa khoai chứa củ. Một ngày trên đất lạ, Dần và anh Tốt làm mẹ Dần cũng nhớ nhà lây. Quê cũ của bà ngoại không làm mẹ Dần yên lòng. Dần nghe anh Tốt kể chuyện vào buổi sáng hai người rủ nhau ra vườn lánh những mặt lạ. Đứng rũ dưới cây khế ngọt, những lúc ngơ ngẩn, trí nhớ loãng, không bắt được một mẩu chuyện để an ủi Dần, anh hát “Giờ đây con với u đi tìm thầy…”. Ba người lại trở về vào buổi chiều. Nhá nhem tối chưa đi được nửa quãng đường tuy lần này không phải chạy xa tiếng súng. Những cây cầu cheo leo ngang sông, những vũng nước ngập đầu giữa đường và những xóm nhà xa không ánh đèn. Anh Tốt trỏ một ngôi chùa bị phá dở dang, nói đã có đêm cùng đoàn người xuống tận đây dỡ ngói. Anh tả suốt đêm phải khom lưng trên mái chùa muốn gẫy lưng. Dần chắc anh bịa nhưng thích nghe. Cuộc phiêu lưu của anh đầy những thế bò và mang mọi người lại gần, làm quen với những cảnh hoang sơ xa lạ. Về tới khu chợ, trời đã khuya. Những cây đa, cây đề um tùm bóng tối, những gian quán lợp ngói bỏ không, khúc rẽ của ma lợn, ngôi miễu ma trơi, chiếc võng trong rặng tre của một bà già mù xõa tóc kẽo kẹt trong đêm. Anh Tốt cắm đầu bước. Im bặt lời bịa đặt phiêu lưu. Nhà bà ngoại ở ngay đầu làng, mẹ Dần định sẽ vào ở đó chờ sáng sớm về. Tới cổng làng mới nghe tiếng anh Tốt. Đột ngột tiếng đứa trẻ đập tay vào cánh gỗ lim cùng tiếng gọi thảng thốt của một giọng khàn khàn vịt đực. Dần nghĩ ngày mai đón Thục dưới chân pho tượng đồng sẽ có thêm chuyện nói. Vào tới con đường đất đỏ chạy giữa hai dãy nhà, Dần gặp chị Lý. 
“Về hồi nào đó cậu?” 
“Được vài hôm”. 
Chị Lý đang ngồi chơi với đứa con trai dưới giàn hoa giấy. Hai mẹ con bỏ dở cuộc nô giỡn. Dần cầm bàn tay còn hai ngón của thằng bé dắt vào nhà. Chị Lý theo sau rối rít hỏi chuyện. Dần hỏi: 
“Chủ nhật ăn lương gấp rưỡi sao không đi làm?” 
“Làm mãi, chết xác để lấy tiền nuôi béo nó à?” 
Dần nhìn khắp nhà chắc chồng chị đi vắng. Dần cười với thằng bé trố mắt ngồi trên đùi. Nghe Dần nói sang gặp anh Tốt, chị bảo anh chắc quanh quẩn ở một bàn bạc nào đó. Từ bữa ở chi Chiêu Hồi được về, anh ở mỗi nhà mấy bữa, ăn no lại nằm. Chỉ có nhà chị là tệ, chị đi làm, chồng chị đi hút cho béo, anh Tốt ghé chơi có lệ. Dần hỏi: 
“Hai vợ chồng chắc đã lộn xộn?” 
Chị Lý kêu lớn nguyền rủa. Chị bảo thằng nghiện đó vẫn không ngớt nhắc tới quả pháo tống hồi tết. Tối qua, thằng chết đâm lại cuốn tóc chị đánh như đánh kẻ thù. Chị thấp giọng: 
“Nó vẫn còn tiếc những lóng ngón tay của thằng bé gói trong giấy bông đỏ vứt ngoài sông”. 
Dần hút một điếu Salem trong gói thuốc chị Lý. Căn phòng đầy những đồ Mỹ. Chị Lý khoe mới lên lương. “Phải giấu, không cho thằng chết đâm biết”. Răng chị nom lạ mắt. Lặp lại chuyện tối qua, chị vẫn muốn la hét với cái mồm mới cạo răng trắng. 
“Bao giờ cô Thục cho chị ăn cỗ?” 
Chị hỏi lúc Dần đứng dậy. Dần bảo: 
“Tối nay giỗ trăm ngày Dần-anh, hai mẹ con sang chơi”. 
Ngoài đường mưa rơi nhỏ. Dần đi thẳng tới nhà anh rể. Dưới mái tôn trước nhà, xe gắn máy để thành hàng. Chắc của đám đánh bạc. Ngày nghỉ không phải trực trong đồn, anh Kính vẫn mời mấy người làm sở Mỹ tới ăn uống, đánh bài để lấy xâu. Dần vào nhà, vợ chồng anh Kính có vẻ mừng. Dần chào mấy người ở bàn tổ tôm, có ý kiếm anh Tốt. 
“Nó vừa đi mua phở cho anh Thắng”. 
Anh Kính nói. Thắng ngồi ở bàn tổ tôm cười bảo Dần: 
“Bây giờ nom đồng chí già gấp hai tuổi cậu”. 
Dần hỏi Thắng: 
“Nghe anh sắp nạp đơn vào Quốc hội?” 
“Thì cũng mới định vậy. Anh em họ giục dữ quá”. 
Anh Kính hiền lành nhìn Thắng nói và cười phụ. Dần bảo anh: 
“Vợ con binh sĩ, công chức mỗi người được thêm hai trăm tiền gạo, cũng đỡ?” 
Anh Kính cười rộng thêm: 
“Thì cũng biết mừng vậy”. 
Cánh cửa đẩy hé cho một người bước vào. Dần gọi: 
“Anh Tốt”. 
Người đàn ông tay xách cái gà mèn bỏ nón, ngạc nhiên nhìn Dần. 
“Anh già quá, anh Tốt”. 
Anh Kính đón cái gà mèn chuyển vào bàn tổ tôm. Tốt cười: 
“Anh nom cũng lớn”. 
Dần bảo lại bàn uống nước nói chuyện, Tốt lấy trong túi áo bà ba một xấp giấy vuông nom như giấy lau đũa bát ở một tiệm ăn, nhón một tờ lau bộ mặt lởm chởm râu ướt nước. Anh Kính vứt cho hai người một gói thuốc thơm. Tốt kéo vài điếu nhô ra, mời Dần: 
“Vào tới đây cái gì cũng thấy lạ”. 
Bộ mặt Tốt vẫn tròn, mắt vẫn híp nhưng hai vai thực gầy. Dần hỏi: 
“Ở ngoài ấy có mấy con rồi?” 
Tốt cười híp mắt. Tiếng trả lời không rõ. Trong buồng, chị Kính ru con: “Làng Phù Đổng có một người. Sinh ra chẳng nói chẳng cười trơ trơ. Những ngờ oan trái bao giờ. Nào hay thần tướng đợi giờ ra quân…”. 
Dần nhìn ra ngoài trời, bảo Tốt ra kiếm la-de uống chơi. Hai người ra một cái quán gần cánh đồng. Tốt bắt đầu bỡ ngỡ. Anh cười nói dóc rằng, người đàn bà mặc váy cầm cái vồ đứng bên cái chuông bằng vỏ bom báo chí trong này đăng hình chính là vợ anh. Vẻ lù dù của mái tóc rậm và đôi vai so giảm bớt ở cái cười tinh quái thoáng có. Dần hỏi anh có dự định gì không. Anh bảo chắc Thắng sẽ giúp việc làm. Giờ tới ngày bầu cử, anh sẽ đi vận động cho Thắng. 
“Anh ấy bảo có muốn lấy vợ anh ấy giúp”. 
Tốt nói. Dần bật cười không tin: 
“Hắn lấy vợ cho hắn còn chưa xong, giúp được ai. Ở khu chợ này đám con gái già không đứa nào không chửi hắn. Hắn ứng cử vì hỏi vợ mãi không ai ưng”. 
Tốt hỏi: 
“Anh không ưa anh ấy?” 
“Dần-anh còn sống mấy lần suýt đập lộn với hắn. Dần-anh ghét hàng ria mép của Thắng”. 
Dần cười dài nắn nắn cánh tay xâm chằng chịt của Tốt, thấy hai người nói những chuyện trẻ con lúc nào không hay. Trỏ chữ tím thẫm trên da, Dần hỏi: 
“Xâm hồi nào đó?” 
Tốt tít mắt: 
“Làm ở chi Chiêu Hồi. Họ bảo đó là chữ Sát Cộng. Cái đầu rồng làm thêm ở ngực mới đẹp”. 
Dần đùa: 
“Nếu còn chỗ nên xâm thêm cái hình vợ anh đánh chuông”. 
Lúc trở về, mưa tạnh, nắng sáng trong, Dần gặp người chú tuyệt ngôn đội mũ nịt, để râu ba chòm, vận quần áo sồi mới rảo tới nhà anh Kính chầu rìa tổ tôm. Dần bảo Tốt: 
“Ghé nhà ông Cổn một chút”. 
Hai người rẽ vào một khu vườn nhỏ có mấy dãy nhà nuôi gà. Ông Cổn đang đứng bên cái máy ấp trứng. Thấy Dần, ông vỗ cái máy: 
“Mười ngàn đó. Cũ nhưng còn tốt”. 
Ông Cổn không mấy khi tỏ cảm tình lúc đột nhiên có một đứa con, đứa cháu trở về. Ông bảo tụi nó có mặt hay vắng mặt cũng thế thôi. Nhưng sau khi thằng con thứ tư – thằng Ơn – đi nốt, ông kêu khu phố chợ này đã hết con trai. 
“Tối nay chú sang ăn giỗ”. 
Dần nói. Ông Cổn nhìn Dần, nghiêm trang nghe ngóng. Ông gật: 
“À, một trăm ngày thằng Dần-anh”. 
Ông lại bàn uống nước. Dần hỏi: 
“Thím đâu chú?” 
“À, bà ấy vẫn quanh quẩn đâu đó”. 
Dáng to béo nặng nề của ông xoay trở trên ghế. Ông rót nước vào mấy cái tách, giọng lửng lơ: 
“Đã có đàn gà nuôi đôi vợ chồng già này”. 
Dần hỏi chuyện chăn nuôi để khỏi nghe những chuyện khác. Ông Cổn ồn ào kể và cười lớn. Trại gà, cái máy ấp trứng không để ông có chỗ sàm sỡ, thân mật một cách giả dối. Vẻ cười cười nói nói của ông vẫn bao ngoài nỗi xa cách với gia đình Dần. Những người ở đây cũng không khác. Từ hồi cha Dần mất, mối liên hệ hàng ngày chỉ còn với vài ba người quên được mẹ Dần là con quan. “Cái dòng họ dâm loạn vì giàu sang, chết cuồng vì chữ nghĩa”, có lần người ở đây đã chuyền nhau câu nói đó của ông Cổn. Giờ thì chỉ chị Kính và Dần-anh thực sự được họ hàng nhìn nhận. Chị Kính vì biết sống cho chồng con. Dần-anh thì không có cái chết giống mấy người bên họ ngoại. Hắn không kịp quay lại phát súng nổ phía sau. 
Ở nhà ông Cổn trở ra, Tốt bảo Dần ghé chơi chỗ ở của anh. Dần bảo trước giờ chưa vào nhà Thắng, để khi khác. Dần hẹn tối Tốt sang rồi trở về. Qua sông, nắng loáng trên mặt nước rộng. Dần nhìn bờ cỏ cao chạy trước mặt thấy như vừa chợt có nỗi cảm tình phí phạm, tào lao. Thục vẫn như ước muốn được tìm đến, gặp mặt kèm nỗi bâng khuâng hình dung được nơi chốn và nhan sắc.

° ° °

Ông Cổn nói cười nhiều nhất. Ông nói chuyện đám con ông và mỉa mai Thắng. Thanh niên khu phố chợ đã đi hết. Thắng mà trúng cử chắc không còn nhận ra họ hàng. Thắng mà được một đứa gái già bỏ phiếu thì chắc hết loạn. Giờ hắn không cưỡi vespa, rà rà đi tán gái nữa. Mỗi buổi chiều, đám con gái thường thấy hắn mượn xe của viên Ty trưởng già, tập lái trong khu phố. Hắn để đầu mượt và ngậm Hav-A-Tampa. Đã có mấy con chó bị cán chết. Ông Cổn kết luận: 
“Cũng may, thanh niên đi hết, đường phố vắng vẻ xe cộ”. 
Trời tối mau. Không thấy dì Phong về. Ông Cổn và mấy người nữa sợ mưa, ăn trước rồi về. Đám trẻ nhỏ được chị Kính nom cho ăn uống ở đi-văng cười la ồn ồn. Tốt và anh Kính từ ngoài giàn mướp trước nhà đi vào. Cả hai áo đều bỏ trong quần nom tươm tất. Anh Kính nói vào Địa phương quân, ở gần nhà cũng đỡ, chỉ kẹt không biết bao giờ giải ngũ. Tốt nói nếu sang năm phải đi quân dịch, chắc phải nhờ Thắng xin cho vào Nghĩa quân. Chị Lý đang bày bàn ăn đùa anh Kính: 
“Đầu óc mấy người giờ chỉ có một thứ phải gió đó”. 
Anh Kính đùa lại: 
“Còn chị thì hết chết đâm đến phải gió. Hết phải gió đến chết đâm. Tôi mà là anh ấy, tôi cũng biết khện”. 
Người chú tuyệt ngôn ngồi trước mấy đĩa ăn chay, theo dõi hai người đối đáp và cười. Mẹ Dần mệt đã vào nhà trong nằm, anh Kính trở nên vui chuyện. Anh bảo chị Lý: 
“Lâu lắm mới được ngồi ăn với bà chị. Có dám say một bữa không?” 
Chị Lý cười lớn: 
“Bữa tiễn thằng Ke Nơn về nước, mấy thằng phải gió lén đổ huýt-ky vào la-de, người ta vẫn cười nói như thường. Chưa biết rồi đứa nào say, đừng có thách”. 
Mọi người quây quanh bàn ăn. Người chú tuyệt ngôn ngồi riêng một góc. Dần rót cho ông một ly la-de: 
“Bữa nay chú uống nhiều một chút cho vui”. 
Chị Lý so đũa cho ông: 
“Chú cứ uống cho say. Nếu say quá, cháu trở về gọi thím thuê ghe sang chở chú về”. 
Trời bắt đầu mưa. Con Tấm đi lùa ngỗng về vào nhà gọi Hài mang đèn ra cổng lượm một mớ truyền đơn đả đảo bầu cử mang xuống bếp đốt. Anh Kính, chị Lý không ngớt thách đố nhau. Tốt, Dần, người chú tuyệt ngôn bị nài, uống theo cũng nhiều. Hai gò má cao từ hồi người chồng nghiện bắt đầu đỏ óng. Chị Lý cười, nói lớn như đã thực sự quên có hồi chị thực đẹp. Anh Kính đã dám quát lúc mấy đứa con bu quanh “Mẹ bảo bố đừng say”, “Mẹ bảo bố đừng say”. Tốt thầm thì bên tai Dần: “Không phải người đàn bà nào cũng cầm vồ nện vào vỏ bom báo động”. Giọng Tốt nhỏ, còn tỉnh, như rời xa bộ mặt nạ, gồ ghề và yên tĩnh. Anh ta lấy ra xấp giấy lau bát đũa ở tiệm ăn đưa mỗi người vài tờ lau miệng, rồi bảo Dần: 
“Cứ mưa này, la-de này mãi, bụt cũng phải nhớ vợ nhớ con”. 
Tốt không say. Những ly la-de chỉ tạo một hứng khởi nửa chừng, chưa đủ làm Tốt thành ồn ào. Người chú tuyệt ngôn thiêm thiếp giữa những khua động ly chén, bát đũa và tiếng cười không mỏi. Ngoài Tốt, không ai quen được chất rượu. Những chai la-de mẹ Dần khuyên uống từ trước tới giờ vẫn như một liều thuốc có chút ít chếnh choáng. Dần ngả đầu, bỏ tay đũa, ngậm một điếu thuốc dường như đã tắt, không còn muốn cựa quậy. Dì Phong không về. Mẹ Dần từ nhà trong ra như vừa qua một lúc chợp mắt. Bà có vẻ lạ, thấy vẫn còn người ăn và tiếng ồn ào dưới ngọn đèn thu nhỏ ánh sáng ngôi nhà. Bà không lại gần nhưng có ý kiếm Dần xem có còn ngồi đó? Bà lại phía bàn thờ thổi tắt nốt mẩu nến đã ngả bấc. Bức hình Dần-anh ngồi vắt chân ngửa cổ hút thuốc trong lòng chiếc ghế sa-lông nhà một người bạn nào đó bớt vẻ ngỗ nghịch. Bà thắp thêm vài nén nhang. Dần chợt nhớ buổi chiều tắm bãi Trời Trồng với đám học trò và đêm gió to mang người đàn bà có đôi tay đen đủi về giấu trong nhà bà ngoại. Thấy khó chịu, Dần ngồi thẳng dậy châm điếu thuốc đã tắt. Chiếc mũ bịt đầu, mấy chòm râu, tấm áo sồi tươi màu của người chú tuyệt ngôn khiến Dần chợt bỡ ngỡ như vừa mới chợp mắt. Dần bỏ vào nhà trong nằm. Trong lúc chập chờn, Dần nghe như mọi người ra về giữa lúc còn mưa lớn. Dần mơ nằm chung với Thục. Thục cười bảo anh gối đầu ê cả cánh tay em. Em vừa mơ thấy hai đứa qua sông. Vì anh cấm thoa phấn nên lúc đó mặt em thực tái. Vì anh gối đầu lên cánh tay nên lúc đó em chỉ thấy còn mỗi một cánh tay. Dần tỉnh dậy mưa đã im. Dì Phong không về thực. Dần ra ngoài kiếm nước uống. Một ngọn đèn bóng sơn đỏ thắp ở bàn thờ Dần-anh. Mẹ Dần đã buông mùng đi nằm. Con Tấm kể lại lúc về Tốt phải cõng người chú tuyệt ngôn. Hai chị em nó chưa ngủ. Hai đứa nói còn sớm, trời mưa nên tưởng đã khuya. Chúng đang ngồi trên ghế áp mặt lên bàn vặn ra-dô nho nhỏ nghe với nhau chương trình “Gia đình”. Có tiếng một đám trẻ nhỏ nô giỡn reo cười ở đâu đó như từ trong bầu trời mông lung những làn sóng điện.

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

11 Tháng Mười Hai, 2020

Y Uyên

Post by Sơn râu 19 May 2024

Kỳ 11

Giọt nước

Sau ngày Dần-anh chết ít lâu, Dần lại trở ra ở với bà ngoại ít ngày. Trước khi nhập ngũ Dần tự dưng muốn đi xa một chuyến. Dần nghĩ tới căn nhà bà ngoại và những năm hai anh em Dần học ở đó. Trong số bảy anh em, ngoài Dần, Dần-anh cũng có nhiều liên lạc với đám bà con bên ngoại Dần và Dần-anh coi nhà bà ngoại như một chỗ ở thứ hai. Dần-anh chết, Dần tự dưng hết còn muốn ở nhà. Dần nói mình ít sức chịu đựng. Nhất là hồi này ở nhà đang mùa mưa, không đi được tới đâu. Những buổi sáng dậy muộn, mẹ và hai em gái không còn ở nhà, Dần thường bày cờ giải một mình. Buổi chiều thì bắt đầu mưa và thường thường kéo luôn tới khuya hoặc sáng hôm sau. Dần tập đánh bài với chú Bách nhưng cũng mau nản. Chú Bách là cư sĩ, hồi này lại tuyệt ngôn nên Dần rất dễ buồn ngủ khi ngồi với chú. Dần thường chờ những bữa cơm chiều ngồi uống với mẹ ít ly rượu cẩm trong lúc chờ con Hài đi học về hay chờ con Tấm choàng áo tơi ra bãi cỏ trước nhà xua đàn ngỗng loáng quáng chạy về chuồng. Những chiếc ghế thửa trước đây, dành riêng cho mấy người con trai đã không còn gợi được chuyện họp mặt. Chúng yên lặng như một vài điều mẹ Dần có thể nhờ nhất định về mỗi người. Những ồn ào làm nên đời sống anh em Dần đã thực sự tản mát. Những âm thanh Dần-anh mang theo cũng đã tắt ngấm sau một tiếng nổ. Dần đi sau hôm ông lão thầy tướng tới từ biệt mẹ Dần để xuống đò về một tỉnh miền ngoài. Mẹ Dần có những câu mờ hồ như gởi gấm những chuyến đi của Dần sắp tới cho ông. Dần thấy tội cho mẹ, chỉ cười. Ông lão thấy tướng đã quá già. Đi phải chống gậy và có đứa cháu kèm bên. Hồi sinh Dần-anh và Dần, mẹ Dần kể lại, có mời ông lão tới. Giờ nghe lặp lại. Ông lão thều thào: “Từ đó tới giờ, tôi ăn trộm tuổi trời”. Ông lão đã thay cho Dần để đặt ra hai cái tên Dần-anh, Dần-em. Mẹ Dần nói hôm đặt tên, chẳng có gì đãi ông. Chỉ có mấy miếng đậu nướng và một con chuột cho ông nhắm rượu. Ngay từ hồi đó ông đã già lắm. Râu ông chạm ngực. Ông khom gập lưng xuống mâm rượu, vén râu, cầm đậu, cầm chuột bón vào miệng. Từ hôm Dần-anh chết, mấy lần gặp ông, thấy ông ngắm nghía mình, Dần chắc ông muốn hình dung mặt mũi Dần-anh. Mẹ Dần ở nhà khóc nhiều ngày mắt sưng đỏ. Ông tới an ủi thường ngồi lại cả buổi. Dần bỏ đi chơi có khi về gần tới nhà vẫn nghe tiếng mẹ Dần ấm ức lớn tiếng tiếp chuyện khách. Như lời lảm nhảm một mình. “Dạ, tôi nhớ. Bà ấy độc địa quá quắt. Không có cụ tới cúng, biết bao giờ trời mới cho bà ấy nhắm mắt”. “Một năm mà bốc được hai mươi mốt ngôi mộ cũng là giỏi lắm rồi. Cụ còn nhớ cái đám ông Hào? Bữa đó đi nhặt xương về, cụ dựa vào cây cột lim vừa kể cho tôi nghe vừa véo xôi ăn cụ còn nhớ không? Cụ nói cốt ông ấy thực tốt. Đầy ắp một cái tiểu sành, đỏ đòng đọc”. Mẹ Dần như đang vuốt ve những cái tiểu sành chứa xương cốt liệu bà có thấy được gần gũi Dần-anh thêm chút nào? Sau hôm ông lão trở ra miền ngoài, Dần dẫn con Hài, em Tấm đi may mỗi đứa một cái áo soie Thái Lan rồi sửa soạn hành lý. Buổi tối gặp Thục ở cầu thang lên sân thượng nhà nàng, Dần giải thích: 
“Không phải anh ưa lang bang. Xa Thục anh thật buồn”.

Đã hết mùa hè, trời ít còn nóng nhưng khu trường Dần đi qua hàng ngày vẫn chưa có học trò. Dần ra tới nhà bà ngoại thì nhận được thư của Dần-anh. Bức thư để trong cái hộc tủ của cậu Dư trước kia. Dần mở thư ra thấy Dần-anh nhờ mình chuyển cho con nhỏ láng giềng bà ngoại mấy tấm hình hắn chụp lúc ra trường. Dần đưa bà ngoại coi, bà cụ bảo: 
“Nhờ có chính phủ đánh dấu nó, bằng không ai mà phân biệt được hai đứa mày”. 
Dần vứt mấy tấm hình vào hộc tủ, nghĩ đưa cho con nhỏ lúc này thực vô ích. Hồi còn sống, còn ở ngoài này, đã nhiều lần hắn xiêu lòng muốn trốn đi với con bé. Cậu Hiền gọi mắng, hắn cười bảo con nhỏ đó quyến rũ chứ hắn thì không có lòng dạ nào. Thấy hắn rắc rối, Dần cũng bảo hắn: “Con gái người ta nuôi nấng mười lăm, mười sáu năm, giờ bỗng chốc chạy tới xúi nó đi trốn, mất dạy hết chỗ”. Dần-anh dở giọng tâm sự: “Tao đâu có ý đó. Chừng nào gặp được người như dì Phong tao mới phải tính”. Hôm nghe tin Dần-anh chết, con bé bỏ đi đâu mất một hôm. Nó nằng nặc đòi Dần cho theo về đưa đám, Dần nổi giận nó mới chịu im. Thấy Dần trở ra, nó mừng rỡ không nén nổi. Có con bé xinh xắn như nó ngồi nói chuyện cho bớt thì giờ, Dần cũng đỡ chán. Dần bảo: 
“Đừng nói chuyện Dần-anh nữa”. 
Nó nói: 
“Không nói chuyện ảnh, biết nói chuyện ai bây giờ?” 
Dần trỏ mình: 
“Nói chuyện tôi đây. Khỏi bịnh rồi, tôi cũng đi lính nữa”. 
Buổi tối xuống ngồi nhà cậu Hiền ăn bánh bèo, Dần rủ con bé cùng đi, nó từ chối. Cậu Hiền bảo Dần: “Qua cái tang thằng Dần-anh, mày cũng nên lấy vợ thì vừa. Đùa dai mãi có hồi ế vợ”. Dần cũng trả lời, giọng đùa: “Cháu cũng định vậy. Nhưng nói ra trước khi cậu nói, sợ cậu nghi”. Câu chuyện lấy vợ thành một điều để mọi người nói vui suốt tối hôm đó trên mảnh sân thượng mốc những tảng rêu đã khô. Cậu Hiền khoe với bà ngoại có trà Hồng Kông. Dần uống mấy bình liền. Lúc hai bà cháu mò mẫm bước xuống cái cầu thang tối thui, khuất trăng, Dần mới thấy nặng bụng. Đã lách ra ngoài cái cửa sắt ở mặt hàng dưới nhà, Dần còn đem chuyện lấy vợ ra trêu bà ngoại. Về nhà, hai bà cháu vừa lượm những chiếc vỏ trứng lăn dưới sân phát sinh trở lại các đầu lá cây dứa làm cảnh vừa bàn về một người con gái Dần mới bày đặt trong trí. 
“Lấy vợ đi rồi bà cho cái nhà lấy chỗ mà ở”. 
Bà cụ nói. Khi đưa bà về phòng, bật đèn cho bà, quay trở ra Dần ngẫm nghĩ rồi bảo: 
“Cháu tính đi lính rồi mới cưới vợ”. 
Dần trở về phòng mình, nghe bà thở dài và tên dì Phong sau lưng. Mỗi lần nghe Dần có dự tính bà vẫn có thói quen nhắc tới dì Phong. Bà gọi dì và Dần, bọn lười biếng chúng mày. Dần thực tình không hiểu. Vì dì Phong trước sau vẫn khó hiểu đối với Dần. Dì sống hiếu thảo và uể oải với riêng mình. Lòng hiếu thảo và tính uể oải thì không bao giờ để một người con gái như dì phải đột ngột xa nhà, phải bỏ cuốn tiểu thuyết của Mai Thảo đang đọc dở dang. Trước sau, dì vẫn không là người có nhiều chuyện đáng nhớ. Những điều giúp dì có dịp để nói nhiều một chút quanh quẩn là những điều nói về cậu Dư. Cậu ấy chết rồi thì những tin mới nhất về cậu là mấy cái hộc tủ đầy nhóc thư từ của bạn bè cậu, bỏ xuống bếp để dì Phong mồi lửa và có cái mà đọc những bữa nấu cơm. 
Bà ngoại Dần đã đi ngủ. Con bé láng giềng vẫn ngồi nói chuyện. 
“Từ hồi anh Dần-anh chết, tôi muốn được nói chuyện tối ngày. May mà anh ra chơi… Con bé bỏ lửng nhìn Dần. Dần nhìn thân thể xinh xắn hết lớn thêm của nó nghĩ không biết đang nghe một người lớn hay một đứa trẻ con. Con bé cười, nói tiếp. Nó nhắc lại chuyện tình của nó với Dần-anh. Đây là lần đầu nó nói chuyện đó với Dần. Nó muốn sống lại những kỷ niệm vặt. Dần nhớ những lần nó nôn nả chờ đi trốn với Dần-anh. Nó con nít khi ngỡ lấy chồng là một cuộc đi chơi xa với ít nhiều hồi hộp. Nhưng nó thực đàn bà khi liều lĩnh hối thúc Dần-anh bất kể đêm ngày. Dần-anh vừa thương vừa sợ nó. Đã có hồi hắn không dám quyết mình hay nó, ai lớn ai trẻ con. Dần bảo hắn: “Cả hai đều con nít hơn”. Dần-anh nổi giận: “Mày không yêu con Thục sao mà dám lên mặt chê tụi tao con nít?” 
“Khuya rồi đó, về đi”. 
Dần bảo con bé lúc bắt đầu nản. 
“Giờ mà đã khuya”. 
Con bé nói, nhìn Dần, ngạc nhiên. 
“Không khuya nhưng nói mãi chuyện Dần-anh nghe nản lắm”. 
Con bé thực sự im lặng. Người nó thu nhỏ, Dần an ủi: 
“Không phải tôi ghét chuyện của hắn…” 
“Ai nói anh ghét Dần-anh”. 
Con bé nói. Và chợt kêu trong hình dạng thu nhỏ của nó. 
“Nhưng sao anh không muốn nghe? Anh Dần-anh đâu có vậy”. 
Dần bực mình: 
“Tôi không là Dần-anh”. 
Con bé đứng dậy, nhìn Dần rồi cúi đầu bước ra cửa: 
“Tôi về nghe anh Dần”. 
Giọng nó nhỏ trở lại, nghe buồn bã. 
Dần vận quần áo ra phố. Trời úa, mặt trăng mỏng non choẹt muốn mưa. Những ngày khô sắp qua. Dần nhớ những cơn mưa nhỏ đầu mùa ở đây. những đêm những ngày gió nam lốc bụi sắp hết. Ngày tháng thành một thứ trang trí bó buộc vô ích. Dần nhớ Thục như mọi lần vừa xa thành phố. Kỳ này về, buổi tối đứng ở cầu thang lên sân thượng nom Thục ốm đi nhưng đẹp ra. Thục cười bảo: “Có nhiều đứa nhỏ mười sáu, mười bảy đã lấy vợ lấy chồng. Bọn mình thì vớ vẩn mãi, chẳng ai biết lo”. Dần đùa: “Anh thì có hai tên Dần mà vẫn chưa nên cái hình dạng gì”. Thục kêu: “Anh đùa nghe gớm chết. Đừng nhận vơ nữa, để Dần-anh được yên”. Dần-anh đã thực sự không bị quấy rối. Nhưng hắn mất, Dần vẫn thấy ở đâu đó, trong tiết nào đó, vẫn còn những người mặt mũi hệt mình, Dần nhớ tới những người anh còn lại. Những người đó chỉ muốn Dần và Thục cưới nhau cho xong. Dần viết những thư mù mờ trả lời: “Tụi tôi còn yêu nhau thì cưới nhau thế quái nào được”. 
Dần vào một tiệm nước, tiệm nước đó, trong đêm gió to hôm nào Dần vào với người đàn bà mang tên giả. Một quân nhân thấy Dần hỏi lớn: 
“Ra đây hồi nào đó?” 
Dần đưa tay bắt, ngồi xuống bàn anh ta. 
“Uống gì?” 
“Soda chanh, về ngủ cho tiêu”. 
Dần đón điếu thuốc anh ta mời, cười hỏi: 
“Giờ đóng ở đâu?” 
“Cách quận Biên Xuân ba chục cây”. 
“Ngán không?” 
“Giờ thì quen rồi. Lúc đầu, nghe súng là ỉa đái đầy quần”. 
Hắn hỏi Dần: 
“Lấy vợ chưa?” 
“Vợ đâu mà lấy”. 
“Lông bông hoài vậy sao?” 
Dần gật, thấy ngượng như vừa làm dáng. Người lính than phiền vài điều vặt vãnh, dài dòng. Dần yên lặng nghe, cố nhớ xem đã gặp anh ta ở đâu. 
“Đ.m., nhiều lúc chỉ muốn giết hết. Ê, uống thêm băm ba, con trai gì mà yếu thế?” Dần bảo uống thêm cũng chẳng sao. Người lính đã có vẻ ngất ngư, mỗi lúc thêm ít nói. Thỉnh thoảng như nhớ có Dần trước mặt, anh ta ngửng lên nhìn chằm chằm rồi cười vu vơ hoặc đột ngột hỏi Dần một câu tục tĩu về trai gái. Lúc ra khỏi quán, Dần hỏi: 
“Còn ở đây lâu không?” 
“Còn tùy”. 
“Tôi vẫn ở chỗ cũ”. 
Dần nói mù mờ. Anh ta gật đầu: 
“Ờ chỗ cũ… chỗ cũ là chỗ nào?” 
Dần tả sơ qua nhà mình. Anh ta cúi đầu nghe nặng nhọc. 
“Ờ hiểu rồi. Lúc nào rảnh sẽ ghé chơi”. 
Anh ta nhảy lên một chiếc xích lô sau cái siết tay thực mạnh… 
“Thôi… bai bai…” 
Dần ghé vào nhà cậu Hiền kêu bọn nhỏ mở cửa lên sân thượng xin cậu uống trà. Hai cậu cháu ngồi giữa chiếc ghế bố căng mùng ồn những tiếng ngáy. Dần ngại về vào lúc có cảm tưởng con nhỏ láng giềng chưa đi ngủ. Đã hai lần nó ở lùm cây trước cổng chạy ra quấn quít hỏi Dần sao về khuya vậy? Nếu còn Dần-anh để nói về nó, chắc hắn lại kêu nó quá cô đơn. Mặt trăng như ở cuối con đường rộng vắng người dưới kia, sau dãy đèn néon trắng xanh, Dần cố nhớ xem đã gặp người lính ở đâu vẫn không nhớ nổi. Hay anh ta đã lộn Dần với Dần-anh? Có lẽ vậy. Dần phỏng đoán để khỏi phải nghĩ tiếp. Dù quen anh ta hay không, câu chuyện cũng chỉ có bấy nhiêu. Ở trong một cửa tiệm, một bến xe, một phòng hội… cùng lúc, có thể có nhiều người cùng nói tay đôi, tay ba cùng một câu chuyện đó. Dần muốn giờ này ngồi với Thục trên cái sân thượng cao ngất đó. Dù chỉ im lặng, dù chỉ nói những câu có thể nói với bất cứ ai như với người lính vừa rồi. 
Dần trở về, cậu Hiền tự mình xuống dưới nhà mở cửa. Tới ngõ, Dần tự dưng, nhìn ngay về phía lùm cây trước cổng. Thấy có bóng con bé nhô ra. Nhưng lần này nó có vẻ lẩn lút và chạy ngay về nhà nó. Dần không hiểu nổi nó nữa dù vừa nghe những mẩu chuyện tục tĩu của người lính. Dù có nhớ tới Dần-anh mà nói nó quá cô đơn. 
Dần trở ra chỗ để những cái chum múc nước rửa mặt. Trời kín mây. Mờ mờ trước thêm nhà bên kia, con bé đang ngồi tựa cột nghêu ngao hát. Bóng tối đậm dần trên mảnh sân nhà nó. Nó hát nhưng mặt hất cao, như nhìn trời, như đang có một mảnh trời trăng sao trong đầu, như không còn ai để rủ đi trốn. 
Dần vục đầu vào thau nước, muốn không có hình ảnh nào về nó. Từ đêm giấu người đàn bà mang tên giả trong nhà, Dần thực sự thấy trí tưởng mình bỏ không. Đời sống thường ngày như hết còn khêu gợi hợp lý. Chiến tranh như không còn gợi cảnh bom đạn, kẻ thù không còn gợi những sắc diện dã man… Dần chỉ còn những hình ảnh dị kỳ tràn ngập, kết hợp với nhau một cách vô lối. Hôm đó, người đàn bà lấy ngón tay trỏ đen đủi trỏ vào trang sách dì Phong đánh dấu bằng mụn vải vàng, làm bộ e thẹn nói: “Em cũng thích tiểu thuyết ông Mai Thảo”. Trang sách, mụn vải giờ đâu có còn gợi riêng dì Phong những lúc ngừng đọc, lại trước gương bầu dục, cột lại tóc, đi sửa soạn bữa ăn? Khuôn mặt âm thầm, mê mải của dì lúc nằm đọc giờ hiện cùng lúc với mấy lóng tay trỏ đen đủi ở từng trang sách. 
Dần vào nhà, vừa bật đèn đã thấy con nhỏ bước sang. 
“Chắc anh phiền tôi lắm?” 
Nó hỏi, muốn ẩn bóng vào những hàng cột. 
“Xin lỗi anh”. 
Nó xúc động. Dần lại gần nó thấy nó chỉ bằng con Hài ở nhà. 
“Cô rắc rối lắm”. 
Dần như nói với em mình. Con nhỏ ngồi xuống mép ghế, có dáng e sợ. 
“Tôi biết làm phiền anh nhưng cũng không biết cách nào hơn, anh bỏ lỗi cho. Thương anh Dần-anh thực tình nhưng má tôi, mọi người chẳng ai chịu tin. Má tôi nói tôi còn nhỏ, nay khác mai, mai khác mốt, chớ có thương liều. Tôi thì biết tôi thương ảnh như hết còn ai khác để thương. Tôi khôn lớn là vì thương ảnh, anh tin tôi đi”. 
Dần ngắt ngang: 
“Giờ Dần-anh chết rồi, nói lại làm gì”. 
Con nhỏ bối rối, giọng cố gắng: 
“Anh có nhìn mặt ảnh lúc cuối không?” 
“Hắn chết thực rồi”. 
Dần nói ngô nghê và hoang mang như muốn ói. Dần lấy một điếu thuốc châm hút. Con nhỏ trước mặt như thực sáng suốt, thực tình như ở một thế giới nào khác. Nó như một người đồng bóng. Dần ái ngại: 
“Dần-anh chết thực rồi, cô tin chứ?” 
Nó gật: 
“Tin. Có tin tôi mới bỏ đi một ngày. Lúc đó tôi nghĩ anh Dần-anh cũng đi lính như mọi người. Nhưng từ bữa anh ra, tôi thấy có điều khác. Ở nhà tôi nhìn sang, thấy anh đi ra đi vô, tôi nghĩ ảnh chưa chết. Tôi buồn như bị phụ tình”. 
Con nhỏ không có giọng cố tình. Dần có cảm giác nó gần gũi mình. Trang sách của dì Phong và những lông tay đen đủi bỏ đó. Dần giục nó về. 
Lúc này tốt hơn hết là nghĩ đến lời má cô. Cô còn nhỏ, nay khác mai, mai khác… Nó oà lên khóc. Dần đứng yên vuốt nhẹ trên tóc nó. Ở những bụi cây dưới sân, bụi cuốn xoay tròn, bốc cao. Hai người như ở một thế giới mộng du.

° ° °

Dần dời xứ này đột ngột như lúc tới. Ở đây Dần-anh không sống, không chết hẳn, nhưng không ngớt ám ảnh. Con nhỏ hàng xóm làm bực mình như tiếng than vãn hàng ngày của đám trai gái trong máy thâu thanh. Nhớ lại mấy câu thơ của dì Phong, trước hôm đi, Dần cười bảo con nhỏ những ngày còn lại của mùa khô này là mùa thu. Những buổi sáng dậy muộn, trời cao và mát. Đi ăn sáng vào giờ mọi người đã ở trong sở làm. Gặp một vài người ngờ ngợ như người lính không rõ liên hệ bữa trước. Gió còn lớn lắm. Những cục đá, thanh sắt buộc lủng lẳng dưới những tấm màn che nắng trước các cửa tiệm thành những thứ đánh lén người đi trên vỉa hè. Con đường có nhiều tiệm ăn biến thành một con sông cát, màu vàng nhờ nhờ. Người cảnh binh chỉ đường trên các bục tròn nhiều lúc khom người, hai bàn tay bưng mắt. Mấy cậu nhỏ chở từng tảng nước đá, nước ròng ròng phải nhảy khỏi xe đạp khom lưng đẩy ngược gió. Con nhỏ đưa Dần lên hãng hàng không, nói như với Dần-anh hồi nào: 
“Vô Thủ Đức anh nhớ viết thư về ngay”. 
Dần bảo nó: 
“Nhưng nếu có trễ cũng đừng có trách, đừng chờ mất công”. 
Dần không muốn nói dối nó. Muốn nó sớm quên được mọi chuyện. Muốn quên nó. Muốn xa hẳn những người còn nhìn Dần như Dần-anh. Nhưng Dần biết mình không đi xa được. Dần đã thực sự thua kém dì Phong. Sự vắng mặt của Dần có chăng chỉ để trống thêm một chiếc ghế thửa trong bữa cơm với mẹ, các em. 
Dần về nhà, mẹ Dần mừng như đã lâu không gặp. Bà bảo Dần nói chuyện cho bà nghe. Dần nói qua loa. Bà ngoại vẫn vậy. Gia đình cậu Hiền vẫn vậy v.v. Dần nghĩ tới việc gặp Thục, rủ Thục đi sắm vài thứ và nếu buổi sáng không mưa sẽ đi thăm mộ Dần-anh. Chập tối, trời mưa, uống của mẹ mấy ly rượu cẩm, Dần vào nhà sau nằm ngủ. Nằm trên giường, Dần thấy mỏi ê ẩm. Gian phòng nhỏ, như của riêng con Tấm. Từ hồi đi hướng đạo, nó cứng cỏi như con trai. Một tủ thuốc nhỏ treo trên tường sơn quét vụng về. Một bó cọng sắt để làm sacoche với đôi giầy nom nặng nề đặt trên một chiếc bàn thấp. Trên cái giá gỗ sát tường, mũ chóp nhọn, dây da, còi, hộp đồ thêu v.v. để gọn mắt. Một bức hình cỡ lớn treo ngay chỗ đầu giường có cảnh một đoàn hướng đạo bắc một cây cầu gỗ. Một câu khẩu hiệu ghép bằng các đoạn dây màu treo dọc theo sợi dây thép giữa phòng “ĐƯỜNG ĐI KHÓ, KHÔNG KHÓ VÌ NGĂN SÔNG, CÁCH NÚI…”. Dần chợp mắt một lát, tỉnh dậy thấy đồng hồ trên bàn mới hơn tám giờ. Ngọn đèn được vặn nhỏ từ hồi nào. Cơn mưa đã tạnh. Dần kéo câu khẩu hiệu, sửa cho các chữ cách đều nhau rồi ra nhà ngoài. Mẹ Dần đang viết biên nhận cho những người chơi hụi. Con Hai đang ủi quần áo, con Tấm đang cặm cụi sửa chiếc máy ra-dô. Ngồi nói chuyện với mẹ một lúc, Dần thay quần áo, đến nhà Thục. Ghé vào nhà người bạn mượn chiếc xe, Dần đi thẳng Sài Gòn. Trời tối thẫm, hơi nước lạnh. Qua vùng ánh sáng những phố lớn, Dần tới vùng xưởng máy tối thui nhà Thục. Thục xuống lưng chừng cầu thang thì gặp Dần. Hai người đứng đó nhìn xuống những khu phố phía dưới, nói chuyện. Thục bảo: 
“Đừng nói chuyện Dần-anh nữa, anh”. 
Dần cười trong miệng: 
“Thục không nói mau, anh đã rủ Thục đi thăm mộ hắn”. 
Thục kêu: 
“Đi thăm mộ Dần-anh?” 
“Có đi ngay bây giờ đâu mà Thục phát hoảng lên thế”. 
“Ban ngày em cũng không đi. Em sợ thực tình rồi đó”. 
Dần hỏi ngớ ngẩn: 
“Sợ gì?” 
Thục quay đầu ra ngoài cầu thang nhìn xuống vùng tối phía dưới, giọng nói như giọng người mẹ ru con: 
“Đừng nói tới Dần-anh nữa. Anh còn đó… thì đừng bao giờ nói tới Dần-anh nữa

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

6 Tháng Mười Hai, 2020

Y Uyên

Post by Sơn râu 19 May 2024

Kỳ 10

Pho tượng đứng đó

Xuống tới bãi trời trống, đám người bước mau hơn. Một thanh niên hỏi Dần: 
“Vụ đó tới đâu rồi?” 
Dần chắc anh ta muốn hỏi về Yến, cười gượng: 
“Chẳng đi tới đâu”.

Người thanh niên nhìn Dần lộ một chút ngạc nhiên để thay thế một câu hỏi khác chắc Dần sẽ không ưa. Dần ngại phải nhiều lời, nói tiếp: 
“Lúc mấy cậu tới tôi đã định giữ lại để cô ấy thấy đông, về cho sớm. Từ tối hôm đó, cũng không thấy tới nữa”. 
Trước mặt đám người, vùng nước rộng quanh eo, cuồn cuộn đất màu. Giờ là mùa khô. Nước nguồn như vậy là hung dữ. Người học trò từ miền ngoài vào thi bàng hoàng nhìn mặt trời xuống chếch chói mắt, nhảy ùm xuống luồng nước lạ. Dần đứng tần ngần nhìn mọi người xuống tắm. Nước lạnh lẽo như mang nhiều xác lá mục. Dần hối đã nhận lời rủ của đám học sinh, chần chờ cởi quần áo. Chân vừa ngập nước, Dần rùng mình nổi da gà rồi liều lĩnh nhào bừa ra luồng nước bỏ cho thân thể chìm xuống giữa đà cuốn băng băng… Những đốm vàng loá trước mắt có ánh xanh xanh lạnh lẽo. Dần thấy giả chết cũng có vẻ ngộ nghĩnh và mơ hồ thấy mình cười với một khuôn mặt không rõ chìm dưới lớp đất vẩn như phù sa. 
“Chịu hết nổi rồi”. 
Dần nhoái lên nói và ngơ ngác tìm kiếm bọn kia. Họ ở thực xa, nom nhỏ li li. Dần ngơng theo đà nước, giạt người vào một bờ cỏ bị xói lở. Ngâm mình một lát, Dần tìm cách lên bờ, nằm dài ra thở. Mặt trời vàng cả những mây sa thấp. Dần nghĩ: kiếm lấy một vài điều để viết cho Thục. Dần nhớ là Yến đã đến lúc lá thư vừa mới phóng mấy chữ quen thuộc: “Nhà bà ngoại, ngày… tháng… 1967”. “Yến nó xấu, nó tục đến sốt ruột”. Dần nghĩ lúc đưa Yến ra ngõ. “Vậy mà nó vẫn nói lảng lúc mình đòi cưới”. Dần chắc vẫn chưa dứt khoát thoát khỏi những ngày bị bịnh trở lại, lơ đãng nghe tiếng bọn kia ấm ới và tiếng nước. Trong những giấc mơ, dường như cũng có lúc Dần đòi cưới một người nào đó. Dần ghê sợ đôi bàn tay của người y tá mỗi lúc nghĩ vẫn chưa thoát khỏi ông ta. Hai bàn tay thực run, nhớp nháp mồ hôi tối nào cũng cử động có bấy nhiêu: chích nín thở, nhón của Dần một điếu thuốc và chìa ra cho Dần bắt. Dần bật cười. Cũng may, nếu mình là con gái chắc cũng mơ đòi cưới cha ấy. Thục nghĩ sao nếu biết những chuyện Dần ở đây? Thục thì chẳng bao giờ làm ồn. Bữa mua xổ số, Thục có vẻ không thích nhưng vẫn không nói. Dần lựa hai tấm, một giữ, một đưa cho Thục: “Nếu hai tấm cùng trúng, chúng mình không lấy được nhau”. Thục yên lặng nghe Dần, đưa tấm vé số lên trước mặt giả làm gương soi vuốt lại những lọn tóc bỏ trên vai. 
Gã học trò tỉnh ngoài đã lên nằm dài bên đống quần áo. Gã là thi sĩ, chiều nay thi xong môn cuối gã sợ rớt cuống cuồng. Gã đang kêu “con nước”, “hoàng hôn”, “ráng chiều” gì đó. Dần che mắt nhìn những tia chói vàng trong vùng mây như nối liền với khoảng mù ở đầu nguồn. Những âm thanh ở phía gã học trò thực khó nghe. Lúc để ý, chỉ có cảm tưởng gã nằm ngửa mặt bên mép nước mồm la không ngớt. Dần nằm nghe ngóng – chẳng hiểu mình nghe ngóng gì – tới lúc nghe bọn kia lao xao gọi về. Giữa đường, gió nổi lớn, bụi cát quấn quít đầu tóc chưa khô. Nhưng Dần thấy mình như vậy là đã quá sạch. Vào phố, Dần chia tay đám học sinh. Thấy chưa tới giờ đi ăn cưới, Dần đi uống một chai la-de. Mùa nóng, gió ồn ào mà khô nhăn da. Dần kiếm một tiệm có hàng rào cây xanh ngăn bụi. Đặt chiếc ghế vào sát thân dừa lấy chỗ tựa, dần ngắm xung quanh thấy mình như ngồi trong một khu vườn. Dần uống chậm cho tiêu thời giờ. Dần nhớ tới tiếng ve trong những chòm cây bắt đầu tối ở bãi cỏ trước nhà, chiếc bàn kê dài ra sân ăn bữa cơm muộn, những chiếc ghế thực chắc mẹ Dần sắm riêng cho mấy đứa con trai lớn ưa ngồi ngả nghiêng. Giờ thì không còn một tên ở nhà. Mẹ Dần đỡ mệt nhưng chắc buồn. Riêng với Dần, bà vẫn tiếc không được giàu có để ở gần săn sóc Dần. Bà chỉ còn cách gởi thư khuyên Dần mỗi khi bớt bịnh, nên kiếm la-de uống trước mỗi bữa ăn. 
Dần ghé qua về nhà thay quần áo và rũ lại tóc. Vào ngõ, Dần mới nhớ ra tối nay có cái hẹn với một người đàn bà có cái tên giả thực khó nhớ. Kiều Bích. Bà ngoại Dần không có nhà. Hai hàng lài tây dẫn vào trong sân nở đầy bông. Những chiếc vỏ trứng vịt úp trên các ngọn lá cây dừa lớn làm cảnh ở trước nhà có gió rung chập chờn. Dần ra đầu nhà chỗ đặt một dãy chum lớn múc nước mưa uống và rửa mặt. Dần bắt chước một người anh Dần huýt sáo cho bớt vắng vẻ. Thấy con nhỏ nhà bên cạnh đang ủi đồ trên hiên, Dần băng lối sau vườn sang nhờ nó ủi chiếc khăn tay. Con bé rực rỡ đẹp trong một thân thể hết lớn thêm. Nó cười cười bỡn cợt Dần về Yến và tò mò hỏi Dần đi ăn cưới ai. Dần bảo: 
“Ủi đi cô. Lúc về tôi lấy trộm cho mớ confettei với vài miếng bánh, gắng thức mà chờ”. 
“Tôi chờ thực đó”. 
Nó nói và cặm cụi ủi, mồ hôi nhỏ giọt. Dần nhìn mớ đồ quen mắt bao lâu nay. Nhưng chiếc ny-lon hoa lá nhỏ nhắn, mấy cái bandeau đủ màu, hai núm “xú chiêng” nhỏ bé, tội nghiệp. Dần nhớ tới người anh có tiếng huýt sáo những lúc chạy rông. Hắn thương nó lâu quá. Ra trường rồi hắn trở về đây không chừng. Bà ngoại đã bảo: “Thằng Dần-anh bị con bé nó cột chân tay rồi”. 
“Anh Dần-anh đổi ra đây đó”. 
Dần nói đùa. Con bé lườm Dần. 
“Ảnh ra, ăn nhằm gì tới tôi”. 
Dần bật cười, cầm khăn về nhà. Con bé vọng theo: 
“Tôi chờ thực đó”. 
Ngôi nhà ngói có hành lang bốn phía nom thấp, tối. Dần bật đèn, soi gương vận quần áo và nghĩ qua loa về Kiều Bích. Bà ngoại Dần vẫn chưa về. Mấy con chuột đã quen thói bắt đầu cắn nhau chí chóe trên bàn trang điểm của dì Phong ở phòng sau nhà. Dần để đèn sáng, đóng cửa, ra sân nói vọng sang nhà con nhỏ: 
“Coi nhà giùm tôi. Có ai tới, nói cỡ tám giờ tôi về”. 
Dần đi như chạy bụi. Phố đông người, nhiều thí sinh chọc ghẹo gái qua đường. Đám cưới của người bạn thực đơn giản, rất hợp với Dần. Sau khi dùng nước ở nhà, hơn ba chục người kéo nhau ra tiệm. Con gái chiếm già nửa. Khi được sắp xếp ngồi đối diện, họ có vẻ ngượng. Bên đàn ông khơi mào ồn ào. Dần xin chỗ để ngồi với Lan. Tiếng vỗ tay khuyến khích. Lan mắc cỡ nhìn xuống ly Coca tối màu. Dần đã có mấy hơi Black and white uống lấy được, tự dưng hào hùng. Anh bạn tổ chức mỗi năm phút lại yêu cầu Dần cho kết quả. Khi Lan đã chịu nói, anh bạn tổ chức cho riêng hai người vài kiểu hình. Lần lượt những giọng say được Dần mời đứng lên bày tỏ cảm tưởng về cô dâu chú rể mới. Dần rắc lên phần bánh flan của Lan ít confetti màu áo cô dâu và mời Lan. Lan cười không từ chối. Dần uống thêm và thấy cám ơn Lan thực tình. Lan đầu và vai đầy confetti như có vẻ đẹp cô dâu từ khi chưa biết nghĩ chuyện vợ chồng. Dần cũng lấy cái hồn nhiên của người bạn đang uống thực vui bên vợ mới cưới, thấy mình cũng có vẻ chú rể. Nhưng không có cô dâu nào cho Dần. Dù nhiều lần đòi cưới, chưa bao giờ Dần hình dung được một hạnh phúc chồng vợ quen thuộc với mình. Dần nhớ tới Thắng hôm hắn đột nhiên có mặt ở đây. Hắn nói đã cưới vợ, có con và lấy làm tiếc. “Tao đang ăn khách”, hắn than thở. Hắn mò về đây cũng không ngoài mục đích để được xa vợ con ít ngày, kiếm lại một vài tình nhân cũ. Dần mệt cái ồn ào của hắn, nói bịnh để khỏi đi cặp với hắn lang thang kiếm gái và tìm người bán lại khẩu colt 12. Một buổi trưa, bà ngoại Dần đi vắng, hắn dẫn Kiều Bích về phòng Dần. Dần bỏ xuống phòng dì Phong loay hoay kê lại tấm gương bầu dục ở bàn trang điểm cho dì được chừng mười lăm phút thì thấy hắn ra sau đi tiểu ghé vào bảo Dần: “Em vẫn như xưa”. Sau đó, hắn đi giao súng cho một người bạn cũ, nói nửa giờ sẽ về. Dần lên thấy Kiều Bích đang nằm quạt, vận bộ đồ đen của Thắng. Kiều Bích nhỏm dậy, nom hiền thục, khiêm tốn. Nàng nói: “Em là em gái anh Thắng. Nghe anh Thắng nhắc tới anh đã lâu, giờ mới được gặp, em thực mừng”. 
Dần ra khỏi tiệm ăn mới thấy nôn nao khó chịu. Dần vừa đi vừa rũ confetti trên tóc để có những cử động làm quên phần nào cơn say. Về tới nhà, Dần thấy người y tá hút thuốc chờ ở trên hiên. Ông ta đưa tay bắt lúc Dần bước lên mấy bực thềm. Dần nắm chặt bàn tay nhớp nháp của ông ta và mửa thốc tháo. 
“Nguy quá, rượu say lại đi gió”. 
Tiếng ông ta kêu vang ngôi nhà vắng. Dần quỳ xuống thềm chống tay vào cột nôn không còn muốn đứng dậy. Người y tá chặn ngực và lưng cho Dần rồi dìu vào nhà. Dần nằm thẳng cẳng nghe ông ta loay hoay ở một chỗ đâu đó như tìm kiếm vật gì. Giá có một trong những người Dần đòi cưới gỡ giùm chiếc cà vạt. Tiếng động do người y tá gây nên đi xa hơn. Dường như ông ta đang lục lọi cùng mấy con chuột ở trên bàn trang điểm của dì Phong. Một lát, lòng bàn tay và gan bàn chân Dần được bôi mát. Dần giựt mình hỏi: 
“Ông bôi thứ gì đó?” 
“Vôi của bà già đó mà. Vôi cũng như chanh, giải say”. 
Dần mở rộng hai bàn tay, thở thiêm thiếp. Hai bàn tay, hai chân Dần như thoa đầy kem thoa mặt của dì Phong. 
“Bữa nay nghỉ chích một buổi, ông có thể về. Cám ơn ông”. 
Dần nói lên khoảng không. Người y tá lại rờ rà trên người Dần, nói khôi hài làm Dần cười như ngủ mơ rồi chào ra về. Dần nghĩ tới người học trò từ miền ngoài vào thi bàng hoàng nhìn mặt trời xuống chếch chói mắt nhảy ùm xuống luồng nước lạ. Buổi chiều thấy xa như ký ức về tiếng gọi nhau ấm ới của bọn đi tắm và tiếng nước. Dần vẫn nhắm mắt, đưa lòng bàn tay xòe rộng lên mặt ngửi xem có phải mùi kem trong cái hộp bám bụi trên bàn trang điểm của dì Phong. Hôm dì đi, cuốn tiểu thuyết của Mai Thảo vẫn còn đánh dấu bằng mụn vải vàng non ở nửa phần cuối, Kiều Bích ưa đọc Mai Thảo. Dần cho là Kiều Bích nói dối. Nhưng khuôn mặt Kiều Bích thực vẫn hiền thục, giọng nói vẫn khiêm tốn dễ thương. Dần nhỏm dậy ra khép cánh cửa phập phành. Sao giờ này Kiều Bích chưa tới? Dần thiu thiu ngủ, mơ gặp một cái thực bất ngờ: Reita Faria, hoa hậu Ấn Độ. Lúc tỉnh dậy Dần thấy nhức đầu, thấy có hương thơm và ánh trăng. Một người đàn bà quần áo trắng ngồi băn khoăn ở chiếc ghế cạnh giường. 
“Kiều Bích”. 
Dần nhỏm dậy buột mồm kêu cái tên giả của cô ta. Dần coi đồng hồ: 
“Cũng may tôi mới chợp mắt có một lát”. 
“Em đã định về”. 
Kiều Bích nói dịu dàng. Giọng cô ta như giọng con gái. Dần nói vừa đi ăn cưới về, bảo Kiều Bích ra ngoài chum nước rửa mặt. “Reita Faria”, Dần như cầu một điều lành rồi bật cười như vừa có được một vật dụng mới. Đồng hồ trong nhà gõ chín giờ. Dần nhớ ra đã quên lời hứa với con bé nhà hàng xóm. Gió bắt đầu lớn. Dần quay vào thoáng chút ngạc nhiên lúc hai người nhìn nhau. Hồi nãy mặt Kiều Bích như không thoa kem. Giờ thì nom rõ thực vẻ khờ khờ của những nét tinh nhanh bị lấp kín. Kiều Bích thành một khối trắng dịu dàng với ít điều che giấu. 
“Nhà anh thực lắm chuột”. 
Kiều Bích nói. Dần nói đùa: 
“Có vài con thôi nhưng đêm nào chúng cũng ồn ào trang điểm”. 
Kiều Bích kéo xích chiếc ghế ngồi lùi ra sau lúc Dần ngồi lại gần. Vẫn dáng khoan thai, vẫn tấm áo không cổ ba nút gài bằng vải sau lưng và chuỗi hột đen huyền. Hai tấm áo dài nối đang may vẫn chưa tới ngày lấy. Khuôn mặt trong mớ tóc ôm kín gáy vẫn mơ hồ gợi chút xúc động. Dần ngồi nói dông dài, không nhắc tới chuyện đưa Kiều Bích đi thăm người bạn như đã hứa. Dần nghĩ tới Thắng lúc hắn đi tiểu. Đêm nay Dần lén bà ngoại giấu người đàn bà trong nhà này chắc cũng được. Cùng lắm, để Kiều Bích trong phòng dì Phong, chẳng bao giờ bà cụ ngờ tới. 
“Thứ hai tới em vô lại Sài Gòn”. 
Kiều Bích nói. 
“Tôi không định về. Chờ tôi cùng đi cho vui chịu không?” 
“Chừng nào anh về?” 
Dần nhiệt thành với một câu mơ hồ: 
“Ờ… tôi cố gắng sao để cùng về với Kiều Bích”. 
Kiều Bích cười một mình. Dần nhìn hai bàn tay đặt trên mép áo thấy già và đen đủi, khác hẳn khuôn mặt. Người bạn Kiều Bích định tới thăm cho Dần biết hồi trước Kiều Bích thực khá. Sau ngày đẻ đứa con đầu lòng, đào ngũ, người đàn bà này sa sút hẳn. Từ đó tuy không bỏ hẳn đây, nhưng rất ít ai hiểu người đàn bà này sống ra sao. Dần không cần biết những chuyện đó. Trước Dần chỉ có người đàn bà có thể là còn trẻ, dịu dàng ngấm ngầm thôi thúc Dần bằng một ước muốn lạ. Dần thích thú vẻ thuần hậu đáng nghi hoặc của người đàn bà. Đêm nay, chắc Dần sẽ nắm lấy bàn tay đen đủi. Dần sẽ tuốt ống tay áo nàng lên cao để coi lớp da thịt thực tình bên trong. 
Dần lặp lại: 
“Chị ấy là vợ người bạn thân của tôi, không có gì phiền”. 
Đồng hồ trên cổ tay Kiều Bích chỉ gần mười giờ. Dần thả chuỗi hột xuống ngực người đàn bà, đứng dậy thay quần áo. Kiều Bích tránh thực giỏi. Chuỗi hột vừa dìu khuôn mặt nàng lại gần mặt Dần, nàng chợt kêu tới tên người bạn gái cũ, cái hẹn. 
Con đường tới nhà người bạn vắng và bụi. Bóng Kiều Bích gãy trên mặt đường đất nom đẹp như dáng một nữ sinh của nét vẽ Duy Liêm. Hai người đi như một cặp vợ chồng. Một đám thí sinh lùng đánh giám thị ùa từ ngoài phố vào tản mát chạy trốn. Dần thấy nhẹ người giữa gió. Dần hỏi người đàn bà đào ngũ có biết những con ve sầu? Kiều Bích tả sai hết. Dần đành nói về Thắng và tỏ ý tiếc đã không có nàng chụp hình lúc hắn sắp đi. Khẩu colt 12 của hắn đổi được chiếc canon và hai chục đôn. Buổi sáng hắn đi, hắn đánh thức Dần dậy thật sớm. Hai người quanh quẩn trước sân chụp lẫn cho nhau hết cuộn phim vẫn ngờ ngợ không được một tấm ra hồn. Người đàn bà hỏi: 
“Ảnh có nói gì tới em không?” 
Dần cười: 
“Có. Anh ấy lặp lặp lại những lời Kiều Bích kêu tôi lộn xộn”. 
“Ảnh bày đặt”. 
Kiều Bích nói tiếp: 
“Ảnh coi em như em gái, đối với em hết sức tự nhiên. Bữa ảnh bắt vận đồ của ảnh cho khỏi nhàu áo dài, em mắc cỡ muốn chết”. 
Dần không rõ chủ đích câu nói của người đàn bà. Cô ta luẩn quẩn che đậy một cách vô ích như một loài gậm nhấm càm lá phủ lên người. Những ngày tháng của cô ta thì bừa bộn trong trí nhớ nhiều e ngại vì tội đào ngũ. Nhưng cách ăn nói thì đơn giản như một cố gắng thu gọn trước mắt người khác. Cô ta có một đời sống bình thường, rõ rệt, có thể nói cho người khác nghe. Cô ta muốn Dần, có khi cả cô ta, hình dung những lời thêu dệt đó. Cô muốn mượn một đời của người khác để trở lại với mọi người. Cô như không còn gì, có gì, kể cả những trang tiểu thuyết của Mai Thảo. Dần cũng chẳng hơn gì. Tấm vé số mua cho Thục, bãi Trời Trống, gã học trò la bai bải, Yến, Lan, bàn tay người y tá, những cái vỏ trứng úp đầu đám lá dứa, ước muốn tuốt ống tay áo Kiều Bích… không ăn nhập gì tới nhau nhưng như có sự hoà hợp liên tục tốt đẹp tạo nên Dần bây giờ với những bước chân chắc chắn bên một người như vợ mình mới cưới. Buổi chiều như một cuộc chạy đuổi vô cớ. Dần như không nhập vào đời sống. Dần sống phút này với một bàn tay của người không ngờ Dần để ý tới, phút khác với vài đốm confetti màu trên một góc bánh flan. Dần nói chuyện với những vật vô tri như từ trước vẫn sống luẩn quấn bên gian phòng dì Phong vắng mặt. 
“Giá bây giờ tôi xin cưới Kiều Bích có cho là tôi nói giỡn?” 
Dần hỏi đột ngột. Kiều Bích né xa dần, lùi lại, kêu nhỏ: 
“Anh ăn nói kỳ cục”. 
Dần bước chậm chờ người đàn bà: 
“Đó là tôi thí dụ”. 
“Thí dụ gì mà nghe nhột nhạt…” 
Tiếng cười hai người nhỏ nhưng thực rõ giọng thẹn thùng của người đàn bà. Dần nghĩ lúc vuốt ngược ống tay áo người đàn bà chẳng còn bao lâu. 
“Cùng vô với anh, chị Hiên cười chết”. 
Kiều Bích nói lúc vào ngõ nhà người bạn, Dần yên lặng đi trước dẫn lối. Ngõ hẹp và tối. Trăng khuất trên những mái nhà cao cổ kính. Người đàn bà dường như kêu lên những tiếng nhỏ và chân vẫn bước. Cô ta có vẻ muốn được dỗ dành. 
Người bạn Dần đi trực đêm. Hiên còn thức, tỏ vẻ mừng rỡ nhận ra Kiều Bích. Hai người đàn bà làm ồn mấy đứa nhỏ ngủ trong mùng. Họ phải dỗ cho chúng ngủ lại rồi nhỏ giọng rủ nhau ra mãi giữa sân, kê ghế ngồi nói chuyện. Dần nằm trên cái võng dưới hiên, hút thuốc. Khi nào cưới Thục chắc Dần cũng dẫn vợ tới nhà các bạn. Nhưng Thục chắc ít nói hơn. Trong sân khuất gió không bụi, trăng có vẻ sáng. Dần lấy trong túi mấy mẫu vải áo dài Thục gởi ra tẩn mẩn coi lại màu. Bữa đó, chở Thục về tới cổng, Thục bảo: “Anh cho em coi lại cái số của anh”. Dần lục túi, đưa cho Thục. Thục chập hai tấm vé số xé vụn vứt lả tả rồi chạy vào nhà. Bức thư đầu, gửi về, Dần trách: “Như vậy chẳng bao giờ chúng mình giàu”. 
Hai người đàn bà ngồi giữa sân nom nhỏ nhắn. Có lúc chợt để ý, Dần nghe thì cười như con nít, kẻ thì nói những lời khó hiểu. Họ nhỏ giọng những lúc chợt quay vào nhà, nơi có Dần và mấy đứa trẻ con ngủ yên. Dần biết họ nói chuyện hồi còn nhỏ, muốn nghe thử nhưng ít chú ý được lâu. Vào lúc họ đấm nhau thùm thụp và cười sặc sụa thì phía ngoài đường có tiếng người kêu cháy ở chợ. Phía đó hửng đỏ. 
“Cháy ở chợ, anh Dần?” 
Một người đàn bà vọng vào: 
“Chắc vậy”. 
Dần nói. Hai người đàn bà nín thinh một lát rồi nhỏ giọng với những tiếng khúc khích không kìm được. Dần nhớ tới đám cháy có đứa nhỏ bị đốt đen thui cách đây không lâu. Lúc lửa ở mấy thùng dầu bít lối vào cửa, nó nắm lấy mấy cái chấn song ở cửa sổ nhảy như choi choi. Nó được xách ra để cạnh bờ giếng, nằm sấp mặt, chân tay co quắp như chực bơi. Bữa đó, về nhà tắm rửa xong, Dần bệnh trở lại. Sau này, có đêm Dần chợt mơ thấy nó như chợt mơ thấy tên Reita Faria. Nó đen đủi và đảo qua đảo lại nhảy nhót sau những chấn song. Nhìn phía trời nín thinh đỏ ửng thấy lửa có vẻ lớn mạnh, Dần coi đồng hồ, kiên nhẫn để hai người đàn bà nói chuyện, coi lại mấy mẫu vải và nhớ lại đứa nhỏ. Gần hai giờ đồng hồ, Dần không hề nghĩ cách để ngủ với Kiều Bích đêm nay. Kiều Bích bên Dần bỗng trở thành một điều hết sức tự nhiên, không cần phải lo tính. Người này cảm thấy người kia ở bên cạnh, yên lòng, nghĩ tới những chuyện tận đâu. 
Ở nhà người bạn về, trời đã khuya, dọc đường có những chiếc xe ba bánh chở hàng ở chợ về nhà. Người ta nói thiệt hại lớn. Bọn cướp đồ dữ hơn cả lửa. Có người chạy hàng ra ngoài gặp cướp lại ôm cả đống vải vứt vào lửa. Những xương cốt lâu ngày dưới nền chợ đã tới lúc gây tai hoạ. Người đàn bà kêu thấy sợ hãi vẩn vơ. Hai người đi trong một không khí hư hư thực thực như nhìn từ một con bệnh vừa khỏi. Tới một bụi tre khuất trăng, Kiều Bích bỗng dừng lại giục Dần đi trước. Dần hỏi, Kiều Bích chỉ nói: 
“Em sợ”. 
Dần nắm tay Kiều Bích: 
“Có tôi, sợ gì”. 
Kiều Bích vội giật tay lùi lại: 
“Anh để em đi tự nhiên”. 
“Sợ thì chỉ còn nước ngồi thụp xuống, đi làm sao được mà nói tự nhiên”. 
Dần nắm chặt hơn cái cổ tay vùng vẫy; trừ mảnh vải trắng của quần áo người đàn bà, Dần không còn nom rõ chút gì nơi Kiều Bích. Nhưng cái cổ tay cô ta bỗng đột ngột làm thức các giác quan. Dần như đang giằng co với thằng nhỏ đen đủi nhảy nhót sau những chấn song sắt. Lòng bàn tay Dần bị thúc lia lịa bằng các đầu xương khô. Dần thả cổ tay Kiều Bích, thở nhẹ nhõm như bắt chước hơi thở của cô ta trước mặt. Cô ta kêu: 
“Anh thực kỳ”. 
Dần cười thành tiếng để khỏi phải hút một điếu thuốc. 
“Thôi về”. 
Dần giục và bước đi. Dần muốn nghĩ dông dài chút ít để khỏi dừng lại ý nghĩ mình chưa được khoẻ sau lúc bôi vôi lòng bàn tay. Nghĩ tiếp chắc lại có cảm giác lúc nắm lấy bàn tay người thầy chích đứng trên hiên. Dần nghĩ về Thục, về những mẫu vải. Dần nghĩ về những bàn tay mình không thể đón lấy một cách bình thường. Dần cũng nghĩ những người con gái, đàn bà Dần đòi cưới như một trò đùa bậy bạ. Dần chợt nhớ tới người chú họ ăn chay lâu ngày ngửi thấy thịt bò là nôn ọe. Lần đầu khám phá ra điều này chú ấy ngẩn ngơ nhìn vợ con và mớ thực phẩm hằng ngày. Không lẽ Dần cũng có chỗ giống chú. Mọi người quanh Dần đâu chỉ có mùi thịt và xương. Trí nhớ Dần đâu chỉ có thằng nhỏ đó. Giấc ngủ Dần đâu có thể mơ mãi thấy cái tên Ấn Độ Reita Faria. Nhưng tới giờ, Dần vẫn sống quanh quẩn với mấy thứ đó. Người đàn bà đào ngũ như không còn xác thịt, chỉ còn những lời nói dối. Đứa nhỏ vẫn dẫn đường cho mọi liên tưởng. Và Reita Faria với những miếng phù hiệu bằng kim khí nhọn trên đầu không gợi nhớ tới những binh chủng Mỹ cô ta gặp trên các vùng đất đổ bộ mà như một điều chắc chắn sẽ gặp lại ở mỗi cái chợp mắt. Dần sao rồi đây? 
“Kiều Bích, Kiều Bích, ra phố uống nước nhân tiện coi chợ cháy một thể?” 
“Em sợ”. 
Tiếng người đàn bà sau lưng thực yếu trong lớp cát gió vừa cuốn ào tới. Dần ra khỏi rặng tre, quay lại chờ. Giữa những luồng bụi mù mịt, người đàn bà một tay lấy vạt áo trắng che mặt, một tay như quờ quạng tìm cách lại bên Dần. Dần đứng im cứng nhắc, cảm giác thực rõ từng lớp đất cát đang bồi quanh da thịt, bít kín tai, mũi, biến mình thành một pho tượng đất ngắm trăng. Có hồi dì Phong làm thơ: 
Trời đang vào thu 
Pho tượng đứng đó 
Chờ cơn mưa bụi 
Những chiếc lá vàng… 
Chợ cháy nên coi như không có giờ giới nghiêm. Các quán ăn, tiệm nước để cửa muộn. Đường phố đầy người dạo chơi. Vẻ khuya khoắt ở các ngõ ngách không còn lúc hai người ra tới vùng ánh sáng quanh chợ. Họ vào một tiệm có nhiều nhạc cũ và rải rác những thí sinh uống-cà-phê-suy-tư. Kiều Bích tự dưng nhận uống “33” với Dần. Cô ta nói thêm: 
“Nhưng uống bằng ly, có nhiều đá chớ không tu chai”. 
“Ăn chút gì để ngủ cho no bụng?” 
Dần hỏi. Thấy đói, Kiều Bích bảo Kiều Bích muốn ăn, sợ nặng bụng, mơ nhiều. Dần kêu phần ăn riêng mình rồi lơ đãng nghe nhạc, hút thuốc nhìn Kiều Bích vớt đá trong ly la-de đưa mình chùi mặt. Lúc đứa bồi bàn kéo cánh cửa sắt, hai người mới trở ra. Phố đã vắng thực sự. Kiều Bích lại kêu sợ lúc qua chợ nghe có tiếng đàn bà khóc khuya. 
Dần đưa tay ra vu vơ, lần này Kiều Bích để yên. Có thể cô ta đã mệt không muốn kéo dài thêm với Dần ảo tưởng về mình. Có thể trời đã khuya, uống đã ngây ngất, cô ta lại muốn trở về đời sống hỗn độn cố muốn quên đi của mình. Cô vẫn thực ngoan lúc Dần ve vuốt, dìu về nhà. Đường rộng thênh thang, hai người đi thực chậm. Dần thấy cái rùng mình cực nóng của người đàn bà trong vòng tay lúc đột ngột có tiếng chó sủa. Trước mặt họ, một người lính cao lòng khòng vai đeo súng, ôm cái mền trước bụng, quay lại đạp chân thình thịch dậm doạ con chó dai dẳng sủa cắn phía sau. Trăng sáng chênh chếch, Dần muốn nhớ thêm ít câu thơ của dì Phong mà không được. 
Tới lùm cây trước nhà rào rào như chở bão, Dần dừng lại ôm sát lấy người đàn bà. Người đàn bà lúng túng điều gì, lùi lại yếu ớt. Bóng những cành cây loáng qua quật qua quật lại, cô ta như nép trong một bóng tối yên ổn. Dần nắm cổ tay cô ta như giỡn, Dần kéo cao ống áo. Cô ta cười gượng gạo khó hiểu. Dần trỏ về phía cổng nói nhỏ: 
“Cổng khép, bà ngoại chắc đã về ngủ”. 
Hai người nín lặng lách qua cổng. Dần mở cửa đưa Kiều Bích vào phòng. Phòng tối mò, Dần kiếm một lát mới ra chỗ bật điện. Dần lấy quần áo mát của mình đưa cho Kiều Bích bảo thay cho khỏi nhàu áo dài. Kiều Bích ngồi ở mép giường đón lấy mớ quần áo nhưng không nhúc nhích. 
“Sao thế?” 
Dần hỏi, thấy mình ngớ ngẩn như ước muốn được vuốt cao ống tay áo người đàn bà. 
“Anh tắt đèn, ra ngoài cho em thay đồ”. 
Kiều Bích nhỏ nhẹ. Dần làm theo, trở ra hiên trước. Hoa lài tây rụng nhiều trên lối đi. Những chiếc vỏ trứng úp trên cây dứa lăn long lóc trên mặt sân đất. Dần vòng ra phía những chum nước rửa mặt. 
“Dần-em về rồi đó à?” 
Tiếng bà ngoại Dần hỏi ở sau nhà. Dần “Dạ” rồi vục đầu vào chiếc thau. Thấy mát mẻ, Dần sẵn đà vào phòng tắm xối nước ào ào. Lúc trở ra, Dần vòng về phía sau nhà, miệng huýt sáo bắt chước người bạn. Bà ngoại Dần nằm ở trên hiên bên những nén hương đuổi muỗi cắm trong cái lon sữa bỏ cát. Dần đẩy xích cái lon có những đầu than đỏ rung rung, ngồi xuống cạnh bà. 
“Đi đâu mà về muộn thế?” 
Bà hỏi. 
“Cháu lại nhà người bạn”. 
Hiên sau khuất gió, Dần bỗng thấy khoẻ khoắn dễ chịu. 
“Có ghé lại chợ không? Đời bà chưa bao giờ cảm thấy đám cháy lớn như vậy”. 
“Cháu có đi qua”. 
Dần nói và nghĩ chắc người đàn bà đã thay xong quần áo và đã nằm nghỉ. Dần cắm lại mấy que hương đổ nghiêng, bắt gặp bà ngoại đang ngắm nghía những đốm than đỏ. Bà bảo Dần: 
“Bà ao ước được ăn một đám giỗ có đủ mặt mấy anh em con như hồi còn ở ngoài đó”. 
Dần bật cười: 
“Mẹ cháu vẫn bảo anh em cháu không một ai cắm được nắm hương nên thân”. 
Bà cụ cũng bật cười: 
“Cô ấy đầu đã hai thứ tóc rồi còn ưa nói ngoa”. 
Dần châm một điếu thuốc, tựa cột nhìn về phía căn phòng dì Phong. “Trời đang vào thu, pho tượng đứng đó, chờ cơn mưa bụi, những chiếc lá vàng…” Dần ngâm nga như giọng bà ngoại vẫn ngâm Lục Vân Tiên. Lúc này Dần đã hiểu tại sao Thắng mau chán người đàn bà. Vẻ đen đủi của cô ta như len đến tận những chân tóc. Da thịt cô ta quả thực sa sút, tới độ mềm nhẽo, cô ta chẳng còn gì. 
“Thôi, cháu đi ngủ trước”. 
Dần nói, dời khỏi mái hiên, vòng về trước nhà. Những chiếc vỏ trứng vẫn lăn long lóc trên sân. Căn phòng Dần vẫn tối om. Dần gõ nhẹ cửa như chẳng thể chán ghét đứa nhỏ đen đủi trong trí nhớ và Reita Faria trong giấc ngủ sắp tới. Dần nghĩ sẽ ôm người đàn bà trong lòng suốt đêm dù mắt có mở lớn vì những lùm cây reo ào ào như chở bão quanh nhà.

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 6

Sáng mùng 1 Tết, mọi người đều ngủ trưa. Bên ngoài trời rét khan. Nằm trong chăn ấm ai cũng ngại dậy. Tôi phải cố gắng, lấy hết can đảm tung mền ngồi lên, cuộn mùng. Sau khi thu dọn chỗ nằm gọn ghẽ theo đúng quy định, tôi bước chân ra cửa. Sắc mây bàng bạc trải dài rộng khắp vùng trời.

Mầu núi xanh biếc. Mầu xanh đẹp như nhung, phơi phới tưởng bay lên được. Cũng như Trại Cải Tạo ở Yên Bái, Trại này cũng được rào kín bằng tre vạt nhọn đầu. Chiếc rào mới được thực hiện hồi trong Tết, chỉ để chừa một chiếc cửa có cánh đóng mở. Cũng vì chiếc hàng rào này, một anh suýt chết đuối, vì khi mang tre qua suối, buộc không kỹ, ra đến giữa dòng, nước chảy siết, đập vào đá, bó tre tung ra, trôi mỗi nơi một cây, quần áo anh để trên bó tre cũng trôi đi tuốt luốt. Dòng nước đã cuốn anh đi khá xa, cũng may biết bơi, nên lựa chiều bơi vào khe đá hẹp nước cạn, mới lên được bờ. Lúc về Trại, anh chỉ còn độc chiếc xi-líp. Tên cảnh vệ gác cổng không cho vô, anh phải năn nỉ mãi mới xong. Về đến Lán, anh thay vội quần áo, lại ra đi nữa, vì không muốn chịu kỹ luật. Đến chiều tối, sau khi anh em đã ăn xong, anh mới ôm được bó tre về.

Tôi nhìn chiếc hàng rào với con mắt thù hận. Sự thực muốn qua rào không phải chuyện khó, chỉ cần con dao nhỏ cắt vài đoạn lạt, gạt mấy cây tre qua một bên, tạo thành khe hở, dễ dàng chui qua, nhưng chui ra rồi, đi đâu? Cái đó mới quan trọng! Nếu chỉ cần chui qua để nhìn chơi thì không nên, vì nhỡ tụi cảnh vệ bắt được, bị ghép ngay vào tội trốn Trại chắc chắn sẽ bị giam vào hầm đá và cùm chân.

Chiếc hầm và chiếc cùm tôi đã nhìn thấy. Hầm giam là một lõm sâu, đục ngầm dưới chân núi, đào kiểu hàm ếch như hầm trú ẩn tránh bom. Ba bề là vách đá, còn mặt chính, cắm cây rừng đường kính khoảng 15 phân, ken sát bên nhau. Một chiếc cửa cũng bằng cây rừng, thân nhỏ hơn, có buộc sợi dây xích vào ống khóa to. Bên trong có chiếc giường tre, kê cao hơn mặt đất chừng một tấc. Những giọt nước từ trên núi thấm suốt, nhỏ tí tách suốt ngày đêm. Bên cạnh chiếc giường có đặt chiếc cùm làm bằng những cây gỗ thật chắc. Người bị phạt, ngồi vào lòng chiếc cùm, hai chân duỗi ra phía trước, có đục sẵn hai lỗ. Khúc trên nhắc lên, hạ xuống được do hai con chốt bằng sắt kềm hai đầu. Người bị phạt, tự mình nhắc khúc gỗ lên, cho chân vào đúng lỗ, xong hạ xuống rồi tự mình khóa lại. Chiếc khóa và sợi dây xích gắn sẵn ở đó. Phía sau chiếc cùm, có lưng tựa nghiêng nghiêng. Do đó, người bị cùm không nằm được chỉ ngồi dựa lưng vào những đống gỗ gồ ghề, khó lòng chịu nổi lâu. Tôi trông nó giống chiếc cùm thời Trung Cổ.

Tên quản giáo cho biết, chỉ tội nào nặng lắm mới thi hành kỹ luật cùm loại này. Còn thường ra, chỉ cùm một chân và được nằm trên sạp nứa.

Từ khi làm xong hầm giam và cùm, chưa thấy ai phạm trọng tội! Không biết chuồng cọp ở Côn Sơn và hầm giam loại này, cái nào tàn bạo hơn?

Cả ngày mồng 1 Tết, trời rất đẹp. Như thường lệ, anh em sau khi ăn sáng xong, chúc Tết nhau:

– Chúc bạn, năm nay được sớm sum họp với gia đình.

– Tôi cũng chúc bạn như vậy!

Ai ai cũng nói câu đó, nghe mãi thành mỉa mai!

Nếu nhà nước Cộng Sản giữ đúng lời hứa 3 năm, chúng tôi đã đi được nửa đường gian khổ. Nhưng ngày này qua ngay khác vẫn không có điều gì khích lệ! Mấy ngày Tết qua đi rất nhanh sau những bữa cơm có thịt, tương đối no nên anh em ai cũng phởn phơ, sẵn sàng tích cực lao động. Vườn rau của Đội tôi, trước ngày Tết, thu hoạch được một số lượng lớn, dùng không hết, phải bán đi cả ngàn kilô. Tiền bán ra, chúng tôi không được hưởng, chẳng biết nó biến vào đâu, không ai dám hỏi. Ngay cả số lượng rau khi chưa làm, tên quản giáo nói, nếu trồng được rau, các anh ăn tha hồ. Nhưng thực tế, khi thu hoạch xong, mang lên nộp kho hậu cần, chúng tôi cũng chỉ được ăn theo đúng tiêu chuẩn nhà nước ấn định. Qua thực tế đó, rồi đây mấy chục mẫu sắn và bắp, làm sao chúng tôi có thể ăn thoải mái được?

Luôn luôn chúng tôi bị mắc lừa, tụi Cộng Sấn vờn chúng tôi như mèo vờn chuột.

Căn nhà hội rộng lớn làm chưa xong, anh em vẫn phải đi lên rừng đẵn cây làm tiếp và hạ cả những cây thật lớn để đóng bàn ghế, giường nằm cho tụi cán bộ và cả cảnh vệ nữa. Đội cưa xẻ được thành hình gồm những người trẻ có sức khỏe. Tổ “xẻ” được ăn bồi dưỡng trên tiêu chuẩn, trong đó có một Đại Úy, sĩ quan tùy viên của một ông Tướng đã di tản, hắn kẹt lại. Xưởng xẻ được thiết lập ở nhiều địa điểm, nơi tiện đặt cây to! Gần vườn rau, sát bên suối, cũng có một xưởng. Trong lúc rảnh rỗi, tôi nhìn họ kéo cây cưa to tổ bố đưa lên hạ xuống suốt giờ lao động. Tuy mưa lạnh, áo họ cũng ưót đẫm mồ hôi! Họ được giao khoán công việc, không bị kiểm soát gắt gao như các Đội khác.

Qua Giêng, Trại thu hoạch số rau còn lại để cung cấp cho tù. Số lượng rau chẳng kéo dài được bao lâu cũng hết. Bây giờ đến mùa trồng rau dền và rau muống. Nhưng cả hai thứ rau đó, muốn ăn được cũng phải chờ từ 1 tháng rưỡi đến 2 tháng. Tên quản giáo phụ trách Đội rau tỏ ra nóng nảy trong thòi gian chờ đợi này. Hắn luôn luôn cau có, vì Trại thiếu rau trầm trọng. Cơm lúc nay phải độn thêm bột mì, tù ăn quá thiếu chỉ trông vào ít rau để đỡ đói. Nay rau không có, cơm không đủ, chắc chắn tù sẽ đuối sức và đau ốm nhiều, trách nhiệm đó Ban Chỉ huy Trại phải chịu. Cộng Sản chủ trương hành hạ, chứ không giết. Ăn đói cũng nằm trong chính sách. Tất cả chúng tôi, ăn không đủ no, đói không đủ chết, cứ sống lây lất, vật vờ như lũ ma đói, luôn luôn bị ám ảnh bởi miếng cơm, củ sắn! Số lượng cơm cứ sụt mức dần vì tên cán bộ hậu cần cân thiếu. Mức ăn tù 18 kí sụt xuống 15, lại bị ăn cắp nữa thì còn gì?

Một hôm, tên Trại Trưởng xuống bếp tham quan việc ăn uống của tù. Sau khi xem xét những chậu cơm quá ít chia cho 10 người, hắn bảo Bếp trưởng có quyền được xem cân lượng có đúng theo tiêu chuẩn không?

Hôm sau, Bếp trưởng tuân lời, trèo lên bục để xem cân. Tên cán bộ hậu cần, quắc mắt hét: Xuống! Thế là anh nhảy tót xuống cái một, mặt mũi tiu nghỉu. Trong thời gian này, tôi phục vụ trong nhà bếp với nhiệm vụ chuyên đun 6 chảo nước uống cho anh em, mỗi ngày phát 3 lần và phụ gánh thực phẩm, chia cơm, canh mỗi buổi.

Làm nhà bếp cũng không sung sưóng gì. Phải thức dậy từ 4 giờ sáng. Trời mùa lạnh, mưa phùn gió bấc ra giếng kéo nước, trong lúc bụng đói cật rét, nhiều lúc tôi muốn xỉu. Làm bếp tuy không phải lên rừng xuống núi, tuy không phải gánh phân, băm phân mỗi ngày, tuy không phải mỗi ngày lên xuống 4 lần trên con dốc cao bằng căn nhà 10 từng lầu, lởm chởm đá vô ý là chảy máu, tuy không phải mỗi ngày xách hàng trăm “ô zoa” (Arrosoir: Việt Cộng gọi là Ô-zoa) nước tưới rau nhưng nó cũng có những nỗi khổ khác. Nào củi ướt, nhóm cả giờ chưa lên lửa, khói hun làm nước mắt chảy ràn rụa và còn nghe anh em chửi lên, chửi xuống vì nước chưa sôi hoặc phát thiếu! Còn lúc phụ chia cơm, phải rửa chậu, xếp chậu, khiêng các chậu đã chia để vào từng ô dành cho mỗi Đội, để khi anh em đi lao động về, vấn đề phân phối được thứ tự. Nhưng có điều an ủi, làm bếp được ăn vụng, ăn cơm cháy, nên phần nào đỡ đói. Một buổi, Trại cho ăn thịt heo, tôi được chỉ định chia. Trong lúc chia, tôi nhìn những miếng thịt nóng hổi ngon lành quá, không kềm chế được sự thèm khát, tôi ăn vụng, nhưng khi vừa cho miếng thịt vô miệng, một tên cán bộ xộc vô kiểm soát. Hoảng quá, không kịp nhai, tôi nuốt vội. Miếng thịt nóng không chịu trôi xuống dạ dầy lại nằm ngay cuống họng. Tôi phải đứng dậy, giả vờ đi ra ngoài như định tìm kiếm cái gì đó, nhằm mục đích nuốt miếng thịt cho xong. Cuối cùng, nó cũng trôi xuống, nhưng không ngon. Có thể nói, tất cả toán làm bếp đều ăn vụng, nếu ai nói không, tức nói dối, không thành thực. Cũng như những ai đi cải tạo từ Thủ Tướng trở xuống, nếu nói, chưa “bốc cứt” tức nói láo! Nói đến Cộng Sản là nói đến phân, vì phân là yếu tố căn bản để nuôi sống con người. Tất cả mùa màng hoa mầu tươi tốt, thu hoạch vượt chỉ tiêu, vượt mức kế hoạch là do phân cả. Vì mùa lạnh vừa qua quá khắc nghiệt nên công việc canh tác xúc tiến chậm.

mạnh hải flickr

Tôi được gọi lên để phục vụ Liên Trại một thời gian vì có chuyên môn. Ngày nào tôi cũng phải đi hai lần sáng và chiều. Liên Trại ở cách xa Trại khoảng 3 cây số thuộc khu vực Nông Trường Trần Phú chuyên sản xuất trà. Nơi đây, cơ sở chỉ huy tối cao toàn khu, gồm 6 Trại Cải Tạo. Mỗi ngày tôi đi như vậy khoảng 12 cây số, dù nắng hay mưa. Tôi đã nhìn thấy những người đàn bà kéo bừa thay trâu. Mùa rét vừa qua, trâu bò chết nhiều, vả lại, cũng tùy vùng, tùy nơi có nhiều, có ít! Đã mấy chục năm, mắt tôi mới lại nhìn thấy cảnh này. Dưới lớp mưa phùn dầy đặc, hai người đàn bà đội nón lá, mình khoác tấm nylon mầu, cúi gập người xuống, trên vai đeo sợi dây buộc vào chiếc bừa, cố kéo, phía sau cách 5 thước, người đàn bà khác cầm bừa. Họ làm từ lúc sáng tôi đi, đến trưa về còn thấy. Trông thật tội nghiệp! Có khi tôi thấy cả tụi sĩ quan đeo quân hàm, cũng bừa như vậy vì nghe nói, theo chính sách của Đảng và Nhà Nước, mỗi năm họ phải tự túc lương thực 3 tháng. Sự tự túc này, không phải thi hành trong một thời gian liên tục, nhưng rải rác mỗi tháng vài ngày, hoặc hình thức này, hình thức nọ. Nói cho đúng, tụi bộ đội coi tù không bao giờ chịu đói, họ lao động hình thức, để làm gương cho thuộc hạ vì chắc chắn họ là Đảng viên trung kiên của Đảng.

Trong thời gian này, tôi phụ trách kẽ những sơ đồ thành tích của Liên Trại. Nội dung sơ đồ, chắc chắn có sự khuếch đại về công tác huấn luyện, công tác sản xuất cũng như văn nghệ v.v….

Vì tình cờ, tôi gặp Hùng, Trung úy Dù và rất nhiều anh em ở các Trại khác đến đây làm công tác xây dựng một hội trường lớn cho Liên Trại. Tuy chưa biết nhau trước, nhưng bạn tù dễ quen:

– Bố ơi! con tự tử hai lần, không chết đó! Lần thứ nhất cắt mạch máu cổ tay, khi máu chảy nhiều, con ngất đi, không hiểu sao chúng nó cứu được. Lần thứ nhì, cách đó ít lâu, con dùng lưỡi dao cạo mổ bụng, tụi nó lại cứu sống. Đây bố xem.

Hùng chìa cổ tay, một vết sẹo ngay “ven” chính, rồi vạch áo cho tôi thấy đường khâu ngay trên rốn, dài khoảng 2 tấc! Đã hai lần tự tử không chết, sau gần 2 năm cải tạo, Hùng vẫn to lớn, vạm vỡ .

– Chán quá, bố ơi! thế nào con cũng trốn Trại, sống không nổi, nhục quá! Sự thua trận này lỗi không phải ở chúng con mà do cấp lãnh đạo từ chính trị đến quân sự, bết quá, hèn quá, chưa chi đã chạy!

Nói xong Hùng mở trừng mắt nhìn đăm đăm về phía núi. Đôi chân mày rậm xếch ngược như chứng tỏ sự uất ức trong lòng! Qua hình ảnh của Hùng, tôi thấy xấu hổ, chẳng phải riêng mình, còn cho biết bao cấp chỉ huy lớn nhỏ khi lâm vòng tù tội, không giữ nổi nhân cách để kẻ thù khinh khi, đánh giá rất thấp.

Trong thời gian làm việc ở Liên Trại, tôi đói lắm, vì đi mỗi ngày 12 cây số, mỗi bữa chưa được hai chén cơm nhỏ độn bột mì và sắn, anh em gọi là cơm 3 tầng. Vì công việc khá nhiều nên có thêm hai người nữa cùng làm: Sử đã cùng với tôi ở Suối Máu và Phương, có khả năng viết chữ.

Xung quanh Liên Trại, các khu trồng sắn đã xanh um, cao ngất. Chúng tôi cùng đói như nhau nên bàn tính mưu kế lấy trộm sắn. Vì sắn do tù trồng chứ đâu phải do công lao động của tụi Cộng Sản? Sau vài ngày suy tính, chúng tôi quyết định sẽ lấy sắn ngay tại khu vực chỉ huy, vì chúng không ngờ tù dám đến đó. Vì lần đầu, chưa có kinh nghiệm nhổ sắn, chúng tôi cứ nhổ nguyên cây. Khu trồng sắn lá dầy san sát, nhổ một cây, tự nhiên đám lá xung quanh lay động, trong lúc toàn khu đứng im. Sử hoảng quá khi nhìn thấy hiện tượng đó. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhổ được một gốc, có chừng dăm củ bằng cổ tay, bỏ vào chiếc túi vải, mang xuống suối rửa sạch, đốt lửa nướng ăn. Bữa đó, tương đối đỡ đói.

Nơi làm việc của chúng tôi xa cơ sở Liên Trại. Nó là căn nhà chứa xác chết của tù. Bất cứ ai chết ở Trại nào đều mang quàn tại đấy, trước khi chôn. Nghe nói, ít nhất 10 anh em Cải Tạo còn trẻ, đã nằm xuống. Có người chết vì đói quá ăn trái cây rừng, trúng độc, bị cấm khẩu và chết sau 24 giờ quằn quại. Có người chết vì bệnh sốt rét cấp tính, và thương hàn! Căn nhà xác ở xa đường, sát dòng suối lớn, nên ít ai qua lại.

Tuy đói đứt ruột, nhưng chúng tôi không dám lấy sắn luôn vì sợ lộ. Qua kinh nghiệm lần trước, các lần sau trước khi nhổ gốc, chúng tôi bẻ ngang thân cây. Thân sắn vốn dòn, dễ gẫy. Từ đó việc lấy sắn an toàn, có sự canh gác và hiệu lệnh báo nguy, nếu có gì bất thường xảy tới! Nhưng một hôm, khi chúng tôi đang luộc sắn trong lon ghi-gô, bỗng thấy toán cảnh vệ từ trên lộ đi xuống. Sử cầm vội chiếc lon lao thẳng vào bụi cây rậm gần đấy, còn tôi đổ nước vào đống lửa. Sau tiếng xèo xèo, lửa tắt ngấm. Làn khói mỏng vươn lên tản nhanh vào không khí.

Chúng tôi giả vờ cặm cụi làm việc. Toán cảnh vệ xộc vô, tên chỉ huy hỏi:

– Mấy anh “nàm” gì ở đây?

Tôi trả lời, làm công tác của Liên Trại.

– Sao “nại” có đống củi, dùng “nàm” gì?

– Dạ chúng tôi đun nước uống, vì làm thông tầm.

Tên chỉ huy không hỏi thêm, cho lệnh khám chung quanh.

Cả 3 chúng tôi đều hồi hộp, tim muốn ngưng đập.

Sau một hồi lục lọi các lùm cây, chúng tiến thẳng ra phía suối.

Về sau, tôi mới biết, toán này thuộc bộ phận an ninh đặc biệt, có nhiệm vụ canh phòng tù trốn Trại.

Sử đi nhặt lại chiếc gô cùng những mẩu sắn đem rửa rồi luộc lại. Từ hôm đó, chúng tôi hết dám lấy sắn. Cơn đói lại dài dài.

Một buổi chiều trên đường về, chúng tôi gặp một nông dân đã có tuổi vừa đi vừa chửi:

– Đéo mẹ cả “nàng” chúng mày. Ông sợ “nà” sợ chính sách của Đảng, của Nhà Nước, chứ ông đâu sợ chúng mày! Ông nghèo quá, có căn nhà muốn bán đi để ăn, chúng mày không chịu đóng dấu chứng nhận. Tiên sư cha cả họ chúng mày, ông đây từng “nà” chiến sĩ Điện Biên, đã chiến đấu chống Pháp khi tụi mày chưa sạch máu đầu, mà nay ông chỉ xin một con dấu, tụi mày không cho. Cha tiên sư bố, tổ tiên sư cha chúng mày nhé!

Tôi nhìn ông ta, những nếp nhăn chạy phủ kín hết khuôn mặt hồng hồng như vừa uống rượu.

Bộ râu thưa mọc lởm chởm trên mép và cằm, nhiều sợi đã bạc, ông ta quay mặt nói với chúng tôi:

– Này các chú, chớ có theo tôi chửi tụi nó nhá! Tôi chửi được, vì tôi ở miền Bắc, còn các chú đi cải tạo, nếu chửi, nó cùm đó!

Chúng tôi không dám bắt chuyện sợ nhỡ vạ lây. Ông ta chửi mỏi mồm, nghỉ một lát, chửi tiếp, cứ như vậy suốt 3 cây số. Khi ông ta đi qua khu nhà tụi quản giáo ở, một tên đứng đó thấy vậy, kéo ông vô nhà mờì hút thuốc, ông vẫn chửi! Chúng tôi cắm cúi đi, coi như không biết chuyện gì xẩy ra!

Mỗi tối, chúng tôi bắt buộc phải sinh hoạt bằng cách đọc báo 30 phút. Ai tốt giọng đọc cho anh em nghe. Nói đúng, tuy ngồi nghiêm chỉnh nhưng ít ai nghe, vì nghe làm gì những tin tức Phái đoàn các nước Cộng Sản anh em viếng thăm Việt Nam; chỗ này vượt chỉ tiêu, chỗ kia vượt kế hoạch, trong khi chúng tôi vẫn đói như điên. Sau 1/2 giờ đọc báo, anh em lại quây quần tán dóc, có lẽ do sự thiếu thốn quá lâu, nên mặc cảm làm cho thèm khát hơn mức mình tưởng. Có nhiều người chịu khó chép cả cuốn sách dầy dạy về cách làm các món ăn, các loại bánh. Mỗi tối, lại đem ra đọc từ vật liệu đến cách làm, coi như món đó đã làm xong, mời anh em nếm thử. Cứ kể ra cái kiểu “ăn hàm thụ” như thế cũng vui vui. Nào món nộm sứa, nào xôi chiên phồng, nào bánh khoai môn, nào chả giò, nào ốc xào, ốc nấu ba ba, món nào cũng hấp dẫn. Có người ước, được làm chồng bà Quốc Việt! Nếu có bà làm vợ lúc này đỡ khổ. Bà sẽ thăm nuôi gửi quà bánh cho ăn thoải mái. Tôi chỉ ngồi nghe và cười, vì có được hân hạnh biết bà từ trước!

Ngoài ra, mỗi tuần lại còn có một buổi tối bình bầu chọn lao động xuất sắc. Đây, một trò hề. Trước anh em còn tin tưởng nên hăng say lao động, để có tên trong danh sách, mong sớm được tha về. Sau biết, chẳng ăn thua gì, có làm lắm chỉ khổ vào thân, nên bảo nhau không để Cộng Sản đánh lừa mãi. Từ đó về sau, mỗi tuần, tuy cũng bình bầu, nhưng mọi người đồng ý luân phiên, mỗi tuần hai người. Tên quản giáo biết, nhưng cũng chẳng có ý kiến, vì trong thâm tâm hắn thừa biết, xuất sắc hay không cũng vậy thôi!

Mùa lạnh đã phai dần. Ánh nắng bắt đầu chiếu rọi mỗi ngày làm cảnh rừng núi bớt phần âm u. Một sáng vừa thức dậy, nghe tin có người trốn Trại đêm qua đã bị bắt lại. Người trốn Trại, sĩ quan thuộc binh chủng Biệt Động Quân. Cả ngày hôm ấy, anh em không ngớt bàn tán về chuyện này và thầm tiếc cho người vượt ngục không gặp may mắn! Nhưng đến chiều, đi lao động về được tin anh đã được tha, vì tội đói quá, phá rào hồi 8 giờ sáng, qua bên kia đồi sắn, để ăn cắp, chẳng may bị cảnh vệ bắt!

mạnh hải flickr

Buổi tối sinh hoạt, tên tuổi anh được phổ biến để làm gương cho những ai có ý định đó. Tên quản giáo Đội tôi lên giọng:

– Đó, các anh xem, Đảng và Nhà Nước đâu để các anh đói, mà các anh phải ăn cắp của công. Sắn do công “nao” của các anh trồng, đúng! Nhưng ai nuôi và cho các anh hom sắn? nếu không phải nhân dân và Cách Mạng? “Nuôn nuôn” các anh kêu đói, thế chúng tôi không đói sao? Mức ăn của chúng tôi chỉ hơn các anh có 2 “kí nô” mỗi tháng, như vậy có đáng “nà” bao? Tôi đảm bảo, các anh không đói, chỉ ăn thiếu thôi! Mà thiếu thì cả nước đều thiếu, chứ riêng gì các anh? Đế quốc Mỹ và chính các anh đã gây ra thảm họa ngày hôm nay. Mỗi thước đất ăn một trái bom hay một viên đạn đại pháo “nàm” sao mà trồng trọt hoa mầu? Ấy “nà” chưa nói đến thuốc khai quang phá hoại bao nhiêu triệu mẫu rừng!

Hắn nói, như quất vào mặt chúng tôi những ngọn roi thật mạnh, nhưng hắn quên không nói đến quân đội giải phóng từ miền Bắc vô Nam đã giết bao nhiêu dân lành, đã phá bao nhiêu cầu cống, đã ăn bao nhiêu cân rau, cân gạo của tù, ăn bao nhiều bột, sắn của tù, ăn bao nhiêu thịt heo, thịt trâu của tù, hỏi làm sao tụi quản giáo cũng như cảnh vệ đói được?

Buổi sáng, chúng tôi thương và cảm phục anh phá rào bao nhiêu, tối nay chúng tôi oán trách anh bấy nhiêu!

Câu chuyện đó rồi cũng qua đi, không ai nhắc nữa, vì nghe đồn anh phải nhận tội ăn cắp để tránh tội trốn Trại, mong anh em thông cảm.

Vào một buổi chiều, tên cán bộ hậu cần mua về con trâu mang bầu, định làm thịt, nhưng có lẽ vì kiêng cử hay lý do nào đấy, chưa làm. Anh em nhìn thấy trâu chắc mẩm được ăn, nhưng chờ mãi chưa có lệnh giết, cũng buồn. Mấy hôm sau, tên hậu cần lại mang về con nữa, cũng không làm thịt. Tổ mộc được lệnh làm chuồng trâu. Có tin đồn, cải tạo viên phải làm ruộng để tự túc, vì nhà nước không còn đủ khả năng nuôi tù. Nói đến chữ “tù” tôi nhớ tới viên đại úy Truởng Trại. Mỗi sáng thứ hai, có sinh hoạt nửa giờ, trước khi anh em đi lao động. Hắn là người Nùng, nói tiếng Việt chưa sõi. Hắn được điều đến thay viên Đại Úy Trại Trưởng cũ “hiền” quá, “thương tù”, mỗi lần trời sắp đổ mưa, cho lệnh toàn Trại nghỉ lao động. Hắn khẳng định, các anh “nà” Cải tạo viên, không phải “nà” tù, tôi cấm không ai được nói chữ “tù”, nếu tôi nghe được, sẽ thi hành kỷ “nuật”! Nghe, có vẻ ngon nhưng thực tế, chúng tôi đúng là những người tù đang thi hành bản án khổ sai, không hơn, không kém!

Hôm nay, cũng sáng thứ hai. Không khí buổi sinh hoạt có vẻ gì khang khác. Ở giữa khe hở cách hai Lán, đều có cảnh vệ võ trang đứng gác. Tên Trại Trưởng sắc mặt nghiêm túc, lù lù nhìn các Đội đứng xếp hàng ngay ngắn trước mặt. Sau khi nói vài câu thông thường, hắn sửa giọng gay gắt:

– Với tư cách Trại Trưởng hôm nay, tôi báo cáo cho mấy anh rõ, nhân dân ta vừa bắt được ba tên trốn Trại! Những tên khốn kiếp đó đã được giải về đây giam giữ và họ sẽ chịu thi hành kỷ “nuật” nghiêm ngặt! Trốn không nổi đâu, vì nhân dân “nà” tai mắt của Đảng và Nhà Nước mà! Còn chính sách thì rất rõ ràng, minh bạch. Ai chịu cải tạo sẽ được cứu xét cho về, ai không chịu, nghiêm trị. Cái đó đúng qúá, phải không?

Nghe đến đây, tôi chợt hình dung đến căn hầm giam và chiếc cùm thời Trung Cổ. Từ lúc đó, tai tôi ù, không còn nghe rõ tên Trại Trưởng nói gì?

Sau khi tan hàng để chuẩn bị lao động, tôi như người mộng du, đi những bước chơi vơi theo sau anh em như chiếc bóng.

Buổi chiều, Bếp Trưởng cho biết, anh em toàn Trại phải bớt phần ăn, để nuôi ba người “tù đặc biệt” này. 300 người bớt phần ăn, nuôi ba người, quả thực chẳng ảnh hưởng gì cả, nhưng chứng tỏ Cộng Sản đã bất nhân, cắt khẩu phần của ba người trốn Trại, bắt tù phải nuôi tù!

Tôi còn được biết, họ không phải nhốt ở căn hầm đặc biệt, mà được giam tại một căn nhà hẻo lánh trên đồi, xung quanh rào kín, ngoài có cảnh vệ gác, mỗi bữa nhà bếp đưa cơm tới.

Công việc Liên Trại đã xong. Tôi trở về với công việc băm phân, gánh phân và tưới rau.

Một buổi, tôi phải gánh rau từ đưới suối lên kho hậu cần, vô tình tôi nhìn thấy ba người “tù đặc biệt” đang bị thẩm vấn trong căn nhà nhỏ giống như chiếc chuồng chim. Trại có tất cả 4 chiếc “chuồng” như vậy. Tôi cũng đã được gọi lên “làm việc” ở đây một lần, để hỏi về lý lịch. Tên cán bộ an ninh hạch tôi mãi về việc có gia nhập đảng Cần Lao của ông Diệm – Nhu hoặc đảng Dân Chủ của Nguyễn văn Thiệu không? Nếu không, sao tôi lại được mang cấp Trung Tá và nắm guồng máy tuyên truyền của “Ngụy quân”? Tôi không nhận đã ở trong đảng phái nào cả. Hỏi mãi cũng vậy, hắn quay sang vấn đề khác! Tại sao các anh lại vẽ Cộng Sản có đuôi? Tại sao các anh lại xuyên tạc chữ Việt Cộng là cộng vợ, cộng chồng, cộng tài sản? Tôi chối dài, hắn chán quá cho về lao động! Nay cũng trong cái chuồng đó, ba người “tù đặc biệt” đang ngồi để “làm việc” cùng tên cán bộ an ninh. Tôi chắc họ bị “quay” dữ lắm. Ở xa, tôi không nhìn rõ nhưng chắc họ còn trẻ, vì cái dáng điệu bề ngoài cho tôi đoán thấy. Trong lòng tôi dâng lên mối xót thương vô hạn!

Một đêm đang ngủ, có tiếng trâu kêu inh ỏi. Tên cán bộ quản giáo xách đèn lồng đi vô Lán kêu Đội Trưởng và người giữ trâu. Hắn cho biết trâu sắp đẻ. Đội Trưởng và anh giữ trâu tên Phúc cũng dậy, theo tên quản giáo đi xuống chuồng trâu đỡ đẻ, đến gần sáng mới về. Phúc được giữ trâu vì anh có bệnh đau dạ dầy, quá ốm yếu. Mỗi ngày, anh dắt trâu đi ăn cỏ, khi no cho về, thế là xong công tác! Bây giờ trâu đẻ, không dắt đi ăn được, anh phải cắt cỏ nuôi trâu, công việc khá khó nhọc đối với sức anh. Nhưng khi suớng cũng có lúc cực, anh vẫn chăn con trâu đực và cắt cỏ nuôi con trâu đẻ. Nhưng sự vất vả cũng không lâu. Chừng nửa tháng sau, anh dắt cả mẹ lẫn con đi ăn ở những bãi gần. Đã non 3 tháng, toàn Trại chưa ăn thịt, tên hậu cần quyết định cho làm thịt con trâu mẹ, khi thấy con nghé đã khá lớn. Việc hạ thịt, do Nhược, Đội phó đội rau xanh phụ trách. Nhược tuy già nhưng có sức khỏe hơn người, nên được tên quản giáo giao trách nhiệm. Hắn cầm cây búa tạ theo trâu. Phúc dẫn trâu đi theo lối cũ, men xuống chân đồi, chỗ bờ suối gần vườn rau. Lạ thay, giống vật cũng có linh tính hay sao, sáng nay nó nhất định không chịu xuống đồi. Phúc phải kéo mạnh dây, gần đứt mũi, phía sau có người cầm roi quật liên tục. Nó lừ lừ bước xuống, mắt tuôn hai dòng lệ đầm đìa! Con nghé vô tư chạy lon ton bên cạnh mẹ. Khi đến nơi, Phúc buộc trâu vào cây cột tre đã được đóng sẵn từ chiều hôm trước. Giờ hành quyết đã tới. Nhược cởi áo, cầm chặt cây búa trong tay lấy thế. Bắp thịt nổi lên cuồn cuộn. Nhanh như chớp, hắn phang vào đầu một búa, nhưng nhát búa chưa đúng chỗ phạm, trâu chưa quỵ! Đau quá, nó lồng lên đứt dây mũi, quần nát cả mấy luống rau. Mọi người có mặt chạy tán loạn. Vô phúc, ai đón đầu, chắc chắn ăn sừng. Tên quản giáo đứng gần đó, rút khẩu súng lục, nhắm con trâu nổ mấy phát liền. Con trâu lảo đảo quỵ xuống. Con nghé không hiểu gì cứ chạy theo, lúc mẹ nó nằm xuống, máu chảy đầm đìa, nó cứ rúc đầu vào bụng để bú! Tự nhiên mắt tôi cay xè! Mọi người chạy ùa đến nơi trâu ngã, dùng dây trói chân cho chắc ăn, sợ nhỡ nó còn sức vùng dậy. Không ăn được thịt trâu, nhưng cũng vì nhìn thấy cảnh đó, tôi đâm ghét cả những ai ăn thịt con trâu đó! Con nghé từ ngày mất mẹ, nó bỏ ăn, cho cỏ non cũng chê, cứ đứng kêu gào suốt ba ngày mới thôi! Tôi nghĩ súc vật còn có tình nghĩa hơn nhiều con người tự nhận có lương tri, học vấn…

Từ buổi mất mẹ, nó mến Phúc, mỗi khi có tiếng kẻng báo giờ lao động, Phúc chưa kịp ra, nó đi thẳng vào chỗ Phúc ngủ, kêu nghè nghẹ như tiếng gọi!

Hôm nay tôi được gọi lên Ban chỉ Huy để lãnh gói quà đầu tiên của gia đình, cùng với nhiều anh em khác. Tôi vô cùng xúc động khi đứng chờ đến lượt mình được gọi. Tên cán bộ phụ trách việc phân phối nét mặt lầm lầm như chó ăn vụng bột. Tôi thầm mong gia đình gửi cho ít đường thẻ, bột Bích Chi, lọ mắm ruốc, thật quý hóa!. Thư viết về nhà để xin quần áo lạnh, nhưng mùa lạnh qua rồi, vả lại, tôi cũng đã được cấp phát thêm tấm mền Trung Cộng đỏ chói và chiếc áo trấn thủ loại phế thải, cũ mèm, chắc còn lại từ trận đánh Điện Biên Phủ! Chúng tôi còn sợ đó là những chiếc áo được lột từ các xác chết ngoài mặt trận!

mạnh hải flickr

Đến lượt tôi được gọi tên. Bước lên thềm cao, nhìn thấy gói quà khá to. Tôi khấp khởi mừng thầm. Tên cán bộ tay cầm con dao nhỏ cắt từng dây buộc để khám. Gói quà được mở. Tôi vô cùng thất vọng khi thấy đống quần áo lạnh cùng gói nhỏ mứt bí đã chảy nước, lên men mốc xanh, và một bịch trà. Chắc vợ tôi nghĩ, mặc quần áo ấm ngồi uống trà, ăn mứt bí trong Trại Cải Tạo, giữa ngày Tết miền Bắc là nhất rồi. Sau khi khám xong, tôi ôm gói quần áo lê từng bước chân nặng nề xuống dốc. Tôi thấy nhiều gói quà không có mảnh vải nào, chỉ toàn đường thẻ và đồ mặn! Tôi thầm trách vợ con đã quá thật thà, không linh động trong vấn đề này, thư viết sao làm vậy! Vợ tôi có biết đâu, nếu viết thẳng xin đồ ăn, khi tụi quản giáo kiểm duyệt, chắc chắn thư sẽ không được gửi đi, còn bị làm kiểm điểm nữa! Thôi, vợ dại đành chiu, biết trách ai?

Vứt mạnh gói mứt bí xuống dòng suối, tôi nhìn dòng nước cuốn nó đi một đoạn rồi mắc kẹt trong hốc đá. Khi về đến Lán, anh em hỏi nhận được gì? Tôi quăng gói đồ xuống chỗ nằm, nói:

– Ai thiếu áo lạnh, tôi biếu!

Anh em cười ồ:

– Ngày nào chuyển Trại, ông tha hồ vác nhé!

Tuy nhiên, tôi vẫn phải gói cẩn thận, cất vào nơi chứa đồ, vì quần áo gửi, không thuộc loại quần áo lao động!

Sáng hôm sau, đi lao động tôi mang theo bịch trà. Tôi múc nước suối vào chiếc lon sữa, đun sôi, pha trà. Tôi ngồi bên dòng suối, nước chảy dạt dào, thưởng thức từng ngụm trà. Cơn giận hôm qua tan biến theo chất nước thơm ngát, cổ họng ngon ngọt hưởng vị đặc biệt của loại trà ngon.

Tôi vừa uống xong, có tiếng ồn aò phía ngoài vườn rau. Tôi ngước nhìn. Nam, Tổ Trưởng tay cầm con rắn dài khoảng 6 tấc, to bằng ngón tay cái, khoang trắng khoang đen. Anh tìm sợi dây, buộc đầu con rắn cạp nong treo lên cành cây, rồi dùng lưỡi dao nhỏ cứa xung quanh cổ rắn. Con rắn lắc lư, lắc lư như chiếc que. Tôi không hiểu bằng cách nào, Nam lột da con rắn nhanh như vậy? Da rắn vứt xuống suối, dòng nước cuốn đi trong nháy mắt. Nam hạ con rắn xuống mổ ruột, rửa nước suối rồi xắt ra từng khúc, bỏ vào lon ghi-gô, cho chút bột cà-ri mà lúc nào anh cũng mang theo, đổ chút nước, thêm ít muối rồi cho lên bếp lửa. Lát sau, hạ xuống, anh trịnh trọng ngồi trên tảng đá sát dòng suối, ăn hết con rắn một cách ngon lành. Sự đun nấu dưới vườn rau, bị cấm triệt để, nhưng chúng tôi vẫn đun lén được vì lấy cớ cần lửa hút thuốc, bật lửa đã bị thu.

Sống trong Trại Cải Tạo, không phải lúc nào cũng bình thản và để mặc dòng thời gian đẩy đưa, mọi người có thể “nín thở qua sông một cách bình yên!” Câu “nín thở qua sông” này như in sâu vào trí nhớ, khi tên cán bộ giáo dục Liên Trại đã lên lớp chúng tôi hai ngày học tập về chính sách 3 năm Cải Tạo của Đảng và Nhà Nước.

– Các anh, những người có tội. Chính sách 3 năm Cải Tạo đề ra, nhưng nó không phải là cái mốc nhất định cho tất cả mọi người! Các anh đừng có giả vờ “nín thở qua sông” để cho hết 3 năm thì về! Tôi nói thẳng cho các anh biết, có thể 3 năm cũng có thể 15 hay 20 năm đó!

Giọng nói trọ trẹ miệt Hà Tĩnh của tên cán bộ giáo dục nghe rất khó chịu, nhưng may mắn tên này không nói ngọng. Sự thực, muốn “nín thở qua sông” cũng không phải chuyện dễ, như trường hợp mấy anh nuôi heo và hồ cá!

Không hiểu vì đâu, đàn heo đang ăn uống ầm ầm, trong đó có mấy con heo nái sắp đẻ, tự dưng bỏ ăn một, hai ngày lăn đùng ra chết. Trong vòng mấy hôm, heo chết cả bầy chỉ còn lại ít con ngất ngư! Bỗng dưng chúng tôi được ăn heo. Vì ăn theo đúng tiêu chuẩn đã ấn định, nên dù heo chết, tụi hậu cần đem ướp muối, phát dần, chứ không cho tù ăn thả dàn. Những người phụ trách như Mậu, Tổ Trưởng Tổ nuôi heo và bốn anh khác bị gọi lên, gọi xuống thẩm vấn trong chiếc “chuồng chim”! Tên cán bộ an ninh và tên quản giáo thay phiên nhau cật vấn :

– Các anh cứ khai thực đi, vì thèm ăn thịt, nên thuốc cho heo chết. Vậy các anh cho chúng tôi biết, đã dùng thuốc gì trộn vào thúc ăn của heo?

Cứ như vậy, ngày nào cũng trả lời câu hỏi đó và lý lịch ba đời. Mọi người đều phủ nhận tội thuốc heo, đổ lỗi cho thời tiết, nhưng tụi Cộng Sản nhất định không nghe. Công việc thẩm vấn kéo dài cả tháng làm các “anh nuôi” heo gầy rạc hẳn đi, mặt mũi người nào cũng bơ phờ như qua cơn đau nặng. Tất cả Tổ heo được lệnh nghỉ việc. Còn Tổ nuôi cá cũng vậy. Tuy cá không chết cả bầy nhưng tụi cảnh vệ bắt được một anh trong Tổ nuôi cá, vớt cá nướng ăn. Tội này nhẹ nên chỉ bị xỉ vả và đe đọa nghiêm trị nếu tái phạm!

Tổ nuôi heo được thay thế bằng số người lấy trong Tổ rau xanh. Tôi có mặt trong đó. Chúng tôi ai nấy đều sợ, vì còn lại mấy con heo bệnh, nhỡ nó lăn đùng ra bất tử thì chết cha! Tôi được phân công cắt rau khoai và bẹ chuối mang về băm nhỏ, nấu với khoai lang và cơm cháy do nhà bếp cung cấp. Việc nấu nướng, đích thân Tổ Trưởng phụ trách. Tên quản giáo ra vô chuồng heo sùng sục. May mắn sao, công việc chúng tôi làm, một tuần lễ trôi qua, không con nào chết. Chẳng những thế con heo nái còn “động đực” nữa.

Cơn nguy hiểm đã qua, nhưng chúng tôi vẫn đói dài dài. Tôi nhìn những củ khoai lang ngon lành trong chảo đồ ăn nấu cho heo thèm rỏ dãi. Cuối cùng không chịu nổi cơn đói, tôi và Ngữ bàn nhau, vớt khoai ra ăn, vì sự sống của con người cần hơn. Heo dù có gầy đi chút ít, nhưng không chết là được! Chúng tôi ăn khoai ngon lành ngay trong chuồng, vứt vỏ cho heo. Tiếng ủn ỉn của đàn heo ngửi thấy đồ ăn nghe sốt ruột. Mùi phân heo xông lên hôi nồng nặc, nhưng cơn đói làm chúng tôi quên hết. Sau một tuần, hết khoai, chúng tôi ăn bớt cơm cháy, tuy không ngon bằng khoai.

Tôi chỉ làm công tác này chừng ba tuần rồi lại trở về vườn rau. Sau hai tuần ăn bớt cơm heo tương đối no, nay lại bắt đầu những ngày vất vả!

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 19 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 5

Lần thứ nhất, từ khi ra Bắc, chúng tôi được viết thư về gia đình để yêu cầu gửi áo ấm ra, vì Nhà Nước chưa cấp phát. Miền Bắc đã bắt đầu vào mùa lạnh. Chúng tôi đã được Trại cấp một bộ đồ Dù để lao động. Mỗi lần mặc, tôi thấy tủi cho Binh Chủng Dù, một Binh Chủng bách chiến bách thắng. Cũng những bộ đồ hoa đó khi xưa uy dũng chừng nào, nay nó dùng để chứa nào măng rừng, nào rau tầu bay, nào sắn, nào khoai, lấy được từ đâu chẳng biết!

Hàng ngày đi lao động về, phần đông trút ra đủ thứ. Nhưng cũng còn một số người, dù hoàn cảnh nào cũng vẫn giữ được nhân cách.

Mỗi sáng chúng tôi đi lao động dưới vườn rau, sát dòng suối lớn. Sương mù dầy đặc, mặt trời nhô lên đã khá cao trên dẫy núi, sáng loáng như chiếc đĩa ngọc, nhìn rất đẹp giống cảnh trong mơ. Bây giờ đã giữa tháng 11 ta, chỉ còn hơn một tháng nữa đến Tết. Mùa này nước cạn, nhưng con suối khá lớn nên lúc nào nước cũng chảy dào dạt, miên tục. Làm từ sáng đến trưa, nào băm phân, tưới cây, lúc về lại leo con dốc cao bằng tòa nhà 10 tầng, để ăn chén cơm. Chiều lại xuống, lên như vậy. Nhưng được cái thú tắm suối. Chiều nào, trước khi về, anh em đều tắm giặt thoải mái. Nhưng cái thú nay cũng chẳng hưởng được bao lâu vì thời tiết tự nhiên lạnh giá. Ai nấy co ro, có cái gì khoác vào người cái ấy cho ấm. Cơn lạnh kéo dài, mỗi ngày tăng cường độ. Nhưng nhờ nước suối ấm, nên mỗi tuần chúng tôi đều tắm giặt vì sợ ghẻ.

Buổi sớm nay, trời xám nặng, gió thổi rần rật từng cơn như rứt thịt. Chúng tôi khom khom người đi dưới cơn gió. Những giọt mưa nhỏ bắt đầu rơi đến trưa mới ngớt hạt. Vì mưa gió nên được nghỉ lao động. Chúng tôi quây quần ngồi trong chiếc lều dựng sơ sài bằng những cành khô, mái lợp cỏ gianh. Căn lều này để tránh nắng chứ không phải trú mưa, nên có ngồi dưới lều cũng như không. Chỗ nào cũng ướt nhẹp. Trong khi anh em đang ngồi tán dóc, có tên Trung Úy hậu cần tới. Nam, Tổ Trưởng Tổ gieo giống, vốn láu lỉnh, nói chuyện với tên này về chính sách 3 năm của Nhà Nước. Sau một hồi nói vòng ngoài, Nam đi vào câu hỏi:

– Thưa, cán bộ, theo đúng chính sách của Nhà Nước, những ai học tập tốt, lao động tốt được cứu xét cho về sớm phải không cán bộ?

– Ơ, anh này nói lạ nhỉ! Cái đó còn tùy tình hình chính trị nữa chứ! Tha các anh về sớm, để các anh nói xấu chế độ à?

Nói xong, hắn bỏ đi. Chúng tôi nhìn nhau ngán ngẫm. Nhìn thấy Kiếm, Đội Trưởng ngồi gần đấy, có người nói bâng quơ:

– Đù mẹ, hăng say cho lắm vào. Nào kỹ thuật, nào kỷ luật, nào năng xuất… Mai về rồi đó!

Kiếm không nói gì, không phải hắn sợ người nói, chỉ vì hắn mới phạm một lỗi lớn đối với anh em. Nguyên do, mỗi sáng thức dậy, mọi người phải ra sân tập thể dục 5 phút, hắn lùa anh em ra hết, mình hắn ở lại Lán, lục đồ của anh em để ăn cắp. Bị mất mấy lần, An, người bị mất, rình bắt quả tang. Trong buổi sinh hoạt tối qua, hắn phải xin lỗi An cùng toàn thể anh em và hứa không bao giờ tái phạm !

Trại mấy bữa nay, hết gạo, phải ăn bánh mì luộc. Không hiểu sao chiếc bánh cứ nhỏ dần lại, đã đói, càng đói! An vì làm bếp, chắc ăn vụng no, nên mới có bánh để đành, chứ ăn không đủ, lấy đâu cất?

Vấn đề thuốc lào, thuốc lá cũng “căng” lắm. Thuốc “3 số 8” coi như tuyệt bóng, anh em bây giờ chỉ hút Thống Nhất hoặc An Thái do Trại phát. Thuốc nhạt phèo không đủ “đô” làm những ai sành thuốc cảm thấy luôn luôn thiếu thốn.

Thuốc lá cũng hiếm. Trời lạnh, có điếu thuốc cũng ấm thêm, nên đã có người nhịn cơm đổi lấy thuốc như trường hợp Lê Huy Linh Vũ. Mỗi ngày Vũ chỉ ăn một bữa, còn bữa kia do tên trung tá Truyền Tin lấy, mỗi ngày hắn phát cho Vũ hai điếu thuốc Điện Biên hoặc SaPa. Vì thiếu cơm nên Vũ phải ăn rau tầu bay trừ bữa. Rau cũng không dễ kiếm, Vũ cú gầy rạc đi trông như xác ma!

Trời mỗi ngày mỗi lạnh hơn, quá lạnh! Đã mấy chục năm xa miền Bắc, nay quay lại gặp ngay vụ rét quá mức. Mạ gieo hai lần, không mọc. Chắc chắn sẽ mất mùa chiêm. Bát nước để ngoài sân, sáng hôm sau, mặt nước đã đóng váng. Nghe nói vùng biên giới, có tuyết!

Cuộc sinh hoạt mỗi tối, theo thường lệ, để phê bình rút ưu khuyết điểm trại tù nào cũng vậy. Ở đây, có đặc điểm thỉnh thoảng đêm khuya, mở mùng rọi đèn pin vào mặt, điểm số. Có khi, bị gọi ra sân giữa cơn mưa phùn gió bấc tập họp, rồi từng ngời hô to con số của mình trước khi vô Lán. Đó là hình thức điểm tù, sợ tù trốn. Mỗi sáng thứ hai, trước giờ lao động, tên đại úy Trại Trưởng đã dọa nạt đủ thứ, nào cùm, nào hầm tối để nản lòng những ai có ý định trốn Trại.

Theo sự phân công tối qua, Đội tôi phải đi Ba Khe lấy bột mì cùng các Đội khác. Ba Khe ở cách Trại khoảng 10 cây số. Mỗi người phải vác 20 kiIô. Đi Ba Khe ai cũng ngán.

Sau khi tan hàng, vô Lán, anh em ai có túi đeo lưng bỏ quần áo ra để ngày mai đựng bột mì; ai không có, lấy chiếc quần xanh có may nẹp trắng dành riêng cho tù, mới được cấp phát, buộc túm 2 ống quần để đựng. Bộ áo quần may kiểu này để phân biệt, khi đi lao động bắt buộc mọi người phải mặc nó, hoặc đồ Dù. Còn các quần áo mang từ nhà đi, phải gởi kỹ, cất một chỗ, không được dùng, do Đội Trưởng trách nhiệm. Những quần áo ấm, mặc vào trong. Cho đến giây phút này, tôi chưa thấy hiện tượng nào chứng tỏ có ai muốn trốn Trại. Sự canh gác của tụi “cối xanh” không khe khắt lắm. Mỗi tối tập họp ra công tác, chỉ tiêu, ai muốn đi xa, đi gần tùy ý, miễn sao đạt được chỉ tiêu, sớm nghỉ sớm, muộn nghỉ muộn!

Từ sáng anh em đã lãnh bánh để đi Ba Khe. Vì đi xa, mỗi Đội đều có quản giáo đeo súng ngắn và tên cảnh vệ mang A.K. đi kèm. Chúng tôi đi lần theo những sườn đồi, qua nhiều chiếc cầu gỗ bắc ngang bằng một thân cây trên dòng suối sâu thẳm. Tuyệt nhiên không có nhà cửa.

Chúng tôi đi qua một khu trồng toàn bắp, rộng mênh mông. Khu này do anh em thuộc Lán 3 và 4 trồng. Theo lời tên quản giáo, “anh em trồng, anh em ăn”, nhưng theo kinh nghiệm , trước khi được ăn, đã chuyển Trại! Đi chừng 6 cây số đến con lộ trải nhựa. Đi khoảng trên 2 cây số nữa có nhà và trường Tiểu Học. Khi đoàn người ăn mặc đặc biệt đi qua, những đứa trẻ bỏ lớp ào ra coi. Cô giáo trẻ đứng nơi bậc cửa, hét to:

– Mấy em đi vào ngay! Các em xem họ có ích gì không?

Tuy cô giáo hét như vậy, đám trẻ vẫn không chịu vào, cứ đứng trơ trơ nhìn chúng tôi như nhìn lũ quái vật. Tôi liếc mắt, ngó vào ngôi trường. Trên bức tường quét vôi vàng, tôi thoáng đọc được nhiều dòng chữ viết bằng than, ngòng ngoèo toàn lời tục tỉu trong đó có câu: “L… cô giáo to quá”, kèm theo hình vẽ! Không ngờ, quả thực tôi không ngờ, học sinh dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa lại quá mất dạy như vậy! Tên quản giáo và tên cảnh vệ đi sau nói chuyện to nhỏ:

– Đéo mẹ, mình tới đó uống tí “nước cay” cho vui! Thèm bỏ cha!

À ra, dưới chế độ này nói và viết bậy đều là chuyện thường! Từ trẻ con đến người lớn như nhau.

Chúng tôi cứ đi theo con lộ tráng nhựa, bỗng gặp cây cầu xi-măng khá to và kiên cố? Bên dưới, dòng nước chảy cuồn cuộn. Tôi nhìn ra xa, có 3 nhánh nước rẽ ra 3 chiều, có lẽ do đó, địa phương gọi: Ba Khe! Qua chiếc cầu, đi khoảng 500 thước tới ngả ba, có nhà Bưu Điện, có Ngân Hàng Tiết Kiệm để đân chúng gửi tiền. Cơ sở này là căn nhà lá, nằm sát mé lộ. Tôi nghĩ đến những nhà Ngân Hàng to lớn, cao năm, mười tầng của Sàigòn với những chiếc tủ sắt, những hầm chứa tiền xây bằng xi-măng cốt sắt có năm, bảy lần cửa và luôn luôn có cảnh sát vũ trang đứng gác. Những dẫy xe hơi đủ kiểu bóng lộn đổ dài dài!

mạnh hải flickr

Ba Khe là một Huyện, nên sinh hoạt không có vẻ tấp nập. Hai bên lề đường, dưới bóng rợp của tàn soan tây, hàng quà bánh bình dân, bầy bán kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo bột, chuối, mía v.v… và nước trà tươi. Nhìn thấy lọ kẹo lạc, tôi thèm ứa nước miếng. Từ bữa Đàm cho cục đường đến nay, tôi chưa có thêm miếng đường nào vô miệng. Có người thèm đường quá, gặp dịp có bệnh được đi nằm Bệnh xá nhất định xin ăn nhạt, để mỗi bữa có nửa chén đường khoảng gần 100 gram. Trong Lán tôi ở, một anh có lọ đường nhỏ bằng ngón tay cái, sau mỗi bữa ăn, anh chấm chiếc tăm vào lọ đường đưa vô miệng, mút chùn chụt, cứ như vậy độ dăm lần, anh đậy nắp cất đi. Anh chấm như vậy cả tháng trời, lọ đường chưa hao hụt bao nhiêu!

Chúng tôi đã tới kho lãnh bột mì. Đây là cơ sở Hợp Tác Xã. Trên một mảng tường có dán khẩu hiệu: “Ai bán cho Hợp Tác Xã một con lợn, được cấp một phiếu mua xe đạp!” Tôi hỏi mới biết dân chúng nuôi heo cho Nhà Nước được quyền giữ lại một phần để tùy ý bán theo giá thương lượng, tức giá tự do, cao hơn giá chính thức nhiều. Cũng như xe đạp nếu mua theo phiếu rẻ bằng 1/5 giá tự do. Do đó, mới có khẩu hiệu trên. Tuy vậy, nhưng cũng ít có ai bán heo theo giá chính thức cho Hợp Tác Xã vì có phiếu rồi, nhiều khi chờ cả năm chưa mua nổi chiếc xe, nên dân chúng chi tiêu theo lối mua bán tự do cho nhanh chóng! Ai muốn ăn thịt heo, có tiền cứ mua tự do. Xe đạp cũng vậy, khỏi phải chờ đợi mất công!

Cái sân nhà kho rộng mênh mông, đông nghẹt người. Không phải chỉ có Trại tôi đi lãnh, còn nhiều Trại khác thuộc khu vực Ba Khe đều phải lãnh ở đây. Tôi nhìn những người tù trẻ, lòng se lại. Vì cái tuổi của họ, đáng lẽ không phải gánh chịu sự nhục nhã này. Họ phải có quyền được xử dụng tất cả khả năng và tiềm lực tuổi trẻ vào một cái gì có ích và kiêu hãnh hơn là phải cúi đầu chấp nhận hoàn cảnh khốn khổ, mà giá trị con người được coi ngang hàng với súc vật.

Chờ đến chiều, sau khi lãnh xong, chúng tôi đeo trên vai một khối nặng 20 kilô. Tôi vắt chiếc quần đựng bột mì lên vai, theo đường cũ trở về. Những hàng quà buổi sáng không còn nhìn thấy ở hai bên lộ! Đường phố vắng ngắt. Một tên Công An đứng ngay nơi ngả ba để kiểm soát. Chiếc nón cối và bộ đồ vàng tạo cho hắn một hình thức khác hẳn, nổi bật giữa mầu nâu tối và mầu chàm của núi rừng.

Cái lộ trình này, tôi còn phải qua lại hai lần nữa: 1 lần lấy mền đắp và 1 lần lấy gạo, trước khi chuyển Trại. Còn các Đội khác vẫn đi đều hàng tháng!

Chúng tôi về đến Trại, trời vừa tối. Mọi người đi thẳng vào kho hậu cần, nằm ở con đồi chênh chếch với Trại, để nộp bột. Tôi tháo mép quần đổ bột vào bao tải. Tôi nắm hai ống quần, đồng thời nắm chặt chút bột trong đó, nhằm mục đích bớt lại để chống đói. Tôi cầm chiếc quần còn sót độ 100gram bột đi về Trại. Vào đến Lán, tôi trải tấm nylon, giũ bột ra, được một “chén tầu thủy”. Tôi nghĩ, ngày mai mang xuống vườn rau, nhồi làm bánh, ít ra cũng no được một ngày! Nhưng vì nhiều người lấy, hao hụt số cân quá lớn, nên các chuyến sau, tụi nó kiểm soát rất kỹ, chính tụi quản giáo giũ bao quần và túi đeo lưng.

Hôm nay, chúng tôi được ăn thịt trâu. Nói cho đúng, từ ngày đến Trại, thỉnh thoảng vẫn được ăn thịt heo hoặc trâu. Heo ít thôi nhưng trâu mỗi lần làm thịt, ăn 2 ngày liền. Ngày đầu ăn thịt, hôm sau ăn da. Da trâu ninh kỹ, ăn như “côn phoóc”. Bữa nào có trâu, tương đối, anh em đuợc no đôi chút, vì mỗi người cũng được lưng chén thịt.

Trời tháng chạp lạnh buốt. Cả tuần không thấy ánh mặt trời. Vòm mây nặng như khối chì vĩ đại, hình như lúc nào cũng muốn úp chụp xuống trái đất.

Khu trồng rau đã tươi tốt. Những luống cải xanh um sắp thu hoạch được. Những luống su hào, cải bắp mơn mởn. Hàng ngày tôi ngồi băm phân bên bờ suối. Tiếng nước chảy róc rách như khúc nhạc trầm trầm không thay đổi âm giai. Mầu trời như sơn bằng lớp ngân nhũ. Từng cơn gió thổi gay gắt. Tôi có cảm tưởng đang sống trong hầm nước đá. Tôi choàng thêm chiếc áo mưa để tránh gió. Tiếng hót của con khướu trong vòm cây xa nào đó vọng lại, nghe lảnh lót. Tiếng hót như mời gọi, quyến rủ! Chim rừng không thiếu nhưng chẳng con chim nào hót hay bằng con khướu. Tôi đang ngồi lắng nghe tiếng hót, bỗng có đàn chim rừng cả ngàn con sà xuống, đậu kín trên ngọn cây mọc gần suối. Đàn chim như đám mây đen, trừ một con có bộ lông đỏ như son. Từ trên cao nó lao xuống như mũi tên lửa, khuất vào tàn lá. Lúc sau, đàn chim lại bay vút lên. Tôi nhìn theo, con chim đỏ bay xuyên vào giữa đàn chim rồi mất hút sau triền núi. Quả thực, chưa bao giờ tôi được nhìn một hình ảnh vừa đẹp, vừa lạ như vậy.

Trong những đêm khó ngủ, tôi nghe thấy nhiều tiếng động của núi rừng, con chim “bắt cô trói cột” kêu hoài từ tối đến sáng. Con Từ Quy cứ từng hồi khắc khoải và tiếng rú thê thảm mơ hồ từ rừng sâu vọng đến, tôi chẳng phân biệt được tiếng của loài thú nào. Tôi đã nhìn thấy con rắn dài hơn 2 thước, to bằng bắp tay, trườn mình bắt mồi. Chiếc cổ cất cao, thân hình uốn lượn nhẹ nhàng, nó vồ hụt con gà rừng đang ngủ trên chạc cây. Con gà vỗ cánh bay loạn xạ, mầu lông sắc hoả hoàng nổi bật giữa mầu lá rừng bát ngát!

Mùa đông lê thê, buồn thảm. Vì không đủ ăn, nên ai cũng gầy. Có nhiều người ốm. Trung Tá Nguyệt khi trước, có thời gian phụ trách xưởng may cắt, đã chết ở đây. Tôi nghe nói, mộ anh ở sau con đồi, phía trước Trại. Chưa có dịp đến thăm vì không lao động bên đó.

Kế hoạch trồng sắn được phát động. Trừ Đội làm rau và Tổ chuyên môn, các Đội khác phải đi lấy hom sắn tại khu nhà dân, cách xa hàng chục cây số!

Tên quản giáo phụ trách kế hoạch này, có nói:

– Trại biết, các anh không đói, nhưng ăn chưa đủ no, bay giờ muốn khắc phục, ta phải lao động để có của cải vật chất. Các anh trồng hôm nay, ngày mai các anh tha hồ ăn, khỏi “no” đói. Nhất Trí không?

– Nhất trí!

Tuy nói vậy, nhưng ai nấy đều nghi ngờ vì Cộng Sản nói là một chuyện, còn làm lại chuyện khác! Công việc trồng sắn được thực hiện cấp tốc, chỉ trong vòng một tháng đã trồng được mấy chục mẫu. Ở tù, công việc nào cũng vậy. Không làm việc này, làm việc khác, Cộng Sản chẳng cho ai ở không, nên trồng sắn hay lên rừng lấy gỗ cũng vậy thôi!

Trại đã hết bột mì phải ăn độn bắp. Chỉ tội cho những người già và những ai thiếu răng không cách nào ăn được vì nó cứng như đá, dù nhà bếp đã ngâm vôi suốt đêm, hôm sau mới nấu. Thời gian nấu bắp lâu gấp đôi thời gian nấu cơm hay bột. Nhưng mọi người cũng được ăn độn 1/3 chén cơm. Tôi thuộc loại thiếu răng, nên mang đổi 2 chén bắp lấy 1/3 chén cơm, như vậy mỗi bữa, tôi ăn chưa đầy một chén cơm. Cơn đói hành hạ, thân xác teo dần!…

Vì quá đói, tôi phải lén lấy su hào, những củ su hào non ăn sống. Mỗi lần ăn, phải chui vào bụi rậm, nuốt vội vàng cho xong vì để quản giáo bắt được khó sống đã đành, mà anh em thấy cũng không yên. Nhưng ăn gì, cũng vẫn không bằng cơm. Thiếu cơm, thiếu tất cả.

Tết đã đến. Thời tiết càng lạnh. Toàn Trại sửa soạn ăn Tết. Đây, cái Tết thứ hai trong tù, cái Tết thứ nhất ở Suối Máu. Trại đã mua hai con heo, lo gạo nếp, đậu và hành để gói bánh chưng. Toán nhà bếp được tăng cường. Thực đơn ngày Tết được cải tiến gồm 7 món: Thịt luộc, thịt ram, thịt kho, thịt xào su hào, dưa hành, canh bún tầu và nước chấm. Anh em lao động đến hết ngày 28. Sáng 30 là vệ sinh doanh trại, chiều nghỉ ăn Tết. Anh em có được phát thuốc lào và thuốc lá Sapa hoặc Điện Biên để hút phì phèo cho vui.

Tết ở đây được ăn 3 bữa chính. Chiều 30, trưa mùng 1 và chiều mùng 2. Sau đó, lại trở về như cũ. Trong 3 ngày Tết được ăn cơm trắng, thay vì bắp.

Những tờ bích báo mừng Xuân mới, do mỗi Đội thực hiện, được treo trong nhà Văn Hóa. Tuy gọi, nhà Văn Hoá nhưng sự thực bên trong chỉ có vài tờ báo Nhân Dân, Quân đội Nhân Dân, Tuần báo khoa học phổ thông và Báo Ảnh Liên xô giống như tờ Thế Giới Tự do của cơ quan Thông Tin Mỹ phát hành, tuy khuôn khổ to hơn, ấn loát công phu hơn. Nó nhằm mục đích tuyên truyền.

Buổi chiều cuối năm, tôi ngồi trên gốc cây nơi cuối Trại để hồi tưởng. Đã hai cái Tết xa nhà, xa tất cả những gì thân mến nhất, một mình ngồi trong một góc nhỏ bé của Trại Cải Tạo, gửi hồn mình về chốn cũ. Không thể đoán biết những chuyện gì đã xảy đến cho gia đình trong thời gian qua, nhưng tôi tin, nó không tốt đẹp! Cái guồng máy cai trị bạo tàn của Cộng Sản không dễ gì buông tha cho những ai đã chống lại họ trong quá khứ. Nhưng dù cho sự nghi ngờ của tôi có phong phú đến chừng nào nữa, vấn đề cũng ở ngoài tầm tay !

Sương núi bốc ra phủ mờ cảnh vật. Rặng núi phía trước không còn phô những nét sắc sảo, nó mờ nhạt, ẩn khuất xa vời trước mắt tôi như tấm ảnh “halo”!

mạnh hải flickr

Cơm đã được phát. Từng món đã chia xong. Tuy đói, sao tôi chưa muốn ăn! Bữa cơm tất niên, có thịt, có canh ngon lành như thế, tôi có cảm tưởng như có vị chát bên trong. Tôi chợt nghĩ đến anh bạn cùng tù, ở sát lán tôi, tháng trước vì quá thèm mỡ, anh không ngần ngại thè lười ra liếm chiếc đĩa đựng thịt để duới đất sau khi chia xong, dù anh em cho biết, chiếc đĩa đó chó đã liếm rồi. Anh thản nhiên :

– Chó liếm chưa kỹ, người liếm lại đã sao?

Tôi thấy chua xót trong lòng, thầm phục tụi Cộng Sản đã dùng kỹ thuật “bóp bao tử” để kềm chế, hạ phẩm giá con người. Cũng do chuyện ấy, tôi thông cảm với mấy anh đi lượm những vỏ hộp thịt, do tụi cảnh vệ ăn xong, vứt ở lề đường, đem về cho chút cơm trộn vô để lấy hơi thịt. Một bữa, tôi nhìn thấy hai anh đuổi đánh con chó để giành cục xương heo. Con chó cùng đường, phải nhả cục xương nhe răng chống cự, nhưng người không đánh chó, chỉ cần lấy khúc xương. Hai anh dừng lao lao động đập vỡ nát chia nhau mút tủy! Cái sự thực 100% này đã làm tâm hồn tôi nhức nhối, mỗi lần hồi tưởng!

Số thịt heo và trâu do Trại cấp phát, tuy không đủ, nhưng chẳng phải hoàn toàn không có. Người tù luôn luôn cảm thấy thiếu thốn, thèm muốn, do đó, nếu không có nghị lực để chống đỡ, con người dễ sa ngã và trở thành thú vật trước sự đánh giá của kẻ thù qua miếng ăn, thức uống! Tôi cũng yếu đuối, cũng sa ngã và cái đói đã làm tôi đôi khi trở thành con người khác. Kẻ thù đã đẩy phe thua trận vào lối hẹp. Muốn sinh tồn, không có cách nào hơn phải mưu toan để tồn tại. Tới phút này, những giây phút cuối của một năm, tôi thấy hổ thẹn khi nhớ lại từng sự việc đã qua. Nhưng quả thực tôi cũng không dám đoan quyết còn giữ được sự hổ thẹn này tới bao lâu?

Trong những ngày trước Tết, có nhiều tin đồn sẽ có môt số được tha. Ai cũng hy vọng có tên tuy không nói, nhưng hôm nay đã 30 Tết, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ việc ấy xẩy ra. Tiếng đồn chìm dần vào không khí rộn ràng của ngày Tết, dù Tết trong tù! Chiều nay có vài người cởi quần áo ngồi bắt rận dưới nắng, . Cảnh tượng này trông thật thê thảm. Có người đã tắm gội xong mặc quần áo mới giặt, trông sáng sủa, gọn gàng. Để chuẩn bị cho bữa cơm chiều 30 Tết, nhiều anh em đã sửa soạn chén bát để đựng thức ăn, dù sao nó cũng khá hơn ngày thường nhiều.

Hai con heo làm thịt trong dịp Tết không phải chỉ dành riêng cho tù mà cho tất cả tụi bộ đội từ cán bộ đến cảnh vệ đều hưởng. Do đó, những miếng nào ngon lành cùng hai bộ lòng tụi nó chia nhau, tù chẳng được miếng nào. Ngoài phần thịt anh em còn được phát chiếc bánh chưng to bằng bàn tay. Tuy thèm, chưa ai dám ăn, phải để dành cho bữa sáng mùng 1.

Bữa cơm tất niên, mọi người đều vui, ít nhất cũng bề ngoài. Phần nhiều nhắc đến kỷ niệm những mùa xuân tự do đã qua và của ngon vật lạ đã ăn trong dịp Tết. Trời lất phất mưa, những hạt mưa như rây bụi trắng xóa không gian làm nhớ nhà vô cùng. Gió thổi giật từng cơn lạnh buốt. Từ ngọn đồi của Ban Chỉ Huy, tiếng pháo nổ vọng lại. A, tụi nó đốt pháo, vui ghê! Từ phía xa, nơi khu nhà dân, tiếng pháo cũng nổ lẻ tẻ. Giờ này, giờ sum họp gia đình, những kẻ vì mưu sinh đi làm ăn xa, mỗi dịp Tết, cũng cố trở về để hưởng từng giây phút thiêng liêng, ấm cúng dưới mái nhà thân yêu, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng. Tất cả hình ảnh đó nhảy múa trong đầu tôi như những con múa rối, làm choáng váng như vừa uống xong ly rượu mạnh.

Trời bắt đầu tối hẳn. Những giọt gianh tí tách nhỏ ngoài thềm. Hai ngọn đèn dầu cháy le lói giữa bóng tối mênh mông buồn vô hạn! Tiếng điếu cầy rít ren réc. Chiếc điếu chuyền tay nhau, làm không gian nơi đây đỡ cô quạnh trong đêm 30 Tết.

Những cái gì qua, sẽ qua. Một vài anh em thức khuya để đón giao thừa, vừa uống nước, hút thuốc, vừa kể lể tâm sự đủ cho nhau nghe. Họ là những anh em cùng đơn vị hoặc cùng khóa quân trường khi trước.

Tôi cuộn mình trong chiếc mền cũ, tuy mắt nhắm nhưng tai vẫn nghe rõ từng tiếng động xung quanh!

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 19 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 4

Đêm thứ nhất trôi qua trong trại mới bình an vì mọi người đều mệt, qua cuộc di chuyển 7 cây số đường rừng, vác nặng!

Sau khi ăn sáng bằng nửa chén bắp cứng hơn đá, chúng tôi được lệnh mang hành trang ra điểm nghiệm. Tên cán bộ quản giáo đã đứng ngay trước cửa. Không ai kịp giấu thứ gì. Mặt người nào cũng ngẩn ra như bị bắt quả tang ăn vụng. Luôn luôn, chúng tôi mắc lừa Cộng Sản, từ việc to đến việc nhỏ. Vì không ước đoán được ý đồ của họ, nên luôn luôn chúng tôi như những cô gái ngây thơ trước con điếm quá nhiều kinh nghiệm trong nghề!

Các vật dụng cá nhân được bầy hàng trước mặt mọi người, như mọi cuộc điểm nghiệm khác. Tên cán bộ quản giáo, đầu đội cối, lưng dắt súng ngắn, đứng dạng chân, hai tay chắp phía sau.

– Bữa nay điểm nghiệm, tôi yêu cầu các anh phải thành thực trình bầy tất cả tư trang của mình, không được giấu diếm. Mỗi anh phải làm một tờ kê khai, nộp cho tôi, ai có bật lửa phải trình ngay vì trại tuyệt đối cấm các cải tạo viên dùng. Ngoài ra, còn thuốc tây, ai có cũng phải nộp. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

Thế là chúng tôi, mỗi người cắm cúi ghi tất cả những thứ mình có vào tờ giấy, nộp cho tên quản giáo. Tôi có chiếc bật lửa Zippo còn mới, loay hoay tìm chỗ giấu cùng với lọ thuốc. Chiếc sân rất trống trải, xung quanh không có chỗ nào kín khả dĩ cất giấu, hơn nữa, tên quản giáo đứng lù lù, nhìn chăm chăm vào chỗ điểm nghiệm, làm sao giấu? Sau, tôi đánh liều, không nộp, chờ dịp. Tôi liếc mắt sang Lán bên, cũng vậy!

Cuộc điểm nghiệm bắt đầu. Tên quản giáo kiểm hàng đầu, từ trái qua phải. Hắn khám cũng không đến nổi khắt khe lắm. Có nhiều người đưa nộp bật lửa, kể cả bật lửa ga Ronson hoặc Dunhill rất đẹp. Tôi nghĩ, họ nộp cũng phải, vì lấy đâu ‘ga” mà dùng? Lợi dụng lúc tên quản giáo đang khám, tôi cầm chiếc bật lửa thẩy xà mặt đất, như trẻ con chơi ném thia lia, xong đến lọ thuốc. Tôi liếc nhìn theo. Lọ thuốc lăn vô một lùm cỏ, còn chiếc Zippo phơi mình trắng xóa dưới ánh nắng giữa nền đất nâu xám! Tôi hoảng hồn, nhưng chẳng biết sao hơn, nếu tên quản giáo nhìn thấy, đành mất!

Công việc điểm nghiệm cũng mất khá nhiều thì giờ. Sau khi soát xong, tên quản giáo cầm trong tay một nắm bật lửa. Tuy làm ra vẻ không có gì khuất tất, nhưng trong lòng như có lửa đốt vì chỉ cái nhìn tình cờ nào đó, chiếc Zippo của tôi sẽ cùng chung số phận với những chiếc khác. Nhưng may mắn, hắn quay đi sau khi nhắc nhở, chiều nay học nội quy. Thế là thoát!

Chờ cho tên quản giáo đi khuất sau chiếc Lán, tôi đi ra nhặt lọ thuốc và chiếc Zippo, nhưng dù có nó trong tay, từ nay tôi cũng không dám dùng công khai, vì đã có lệnh cấm, chắc họ sợ chúng tôi dùng bật lửa để làm ám hiệu cũng như trốn trại!

Đời sống trong trại tù nào cũng vậy, vẫn ngần ấy công việc phải làm: ăn uống, tập họp và lao động!Sau những công việc thường lệ ấy, anh em lại bàn tán về chính sách, và thời hạn được tha. Cái yếu của chúng tôi là luôn luôn nghĩ thuận cho mình. Không ai nghĩ, hoặc nói đến những gì bất lợi. Thản hoặc, có người dám nhìn thẳng vào sự thực cũng không để lộ vì sẽ bị chỉ trích là bi quan, xuyên tạc chính sách của Nhà Nước!

Những ngày đầu qua đi, buồn nản vì phải thi hành một số thủ tục. Tôi nhìn những anh em cũ đi lao động từ sáng đến chiều, vác về những cây gỗ to để làm nhà, phát ớn! Trông họ thật thê thảm, quần áo tả tơi, lấm như vùi, mặt mày hốc hác! Rồi mai đây, đến lưọt chúng tôi, cũng phải lao động như mọi người vì đã ăn chén cơm của Cộng Sản, mà Cộng Sản không chấp nhận việc “ăn bám” tuy họ là “vua bóc lột”!

Mỗi buổi tối, đều có sinh hoạt do tên quản giáo phụ trách.

Công tác hôm sau, được quyết định từ tối hôm trước. Ngày mai, Đội tôi phải đi lấy nứa. Chỉ tiêu đề ra mỗi người 12 cây, dài tối thiểu 6 thước, đường kính 5 phân. Đi thông tầm, lãnh phần ăn sáng và trưa mang theo. Chắc chắn phải đi xa, nên mọi người đều lo sửa soạn từ tối hôm trước: nào áo quần lao động, dây nhợ, gô đựng cơm, bi-đông nước! Mọi người đi ngủ sớm để lấy sức. Tôi vốn khó ngủ, nên trằn trọc hoài giữa tiếng ngáy đều đều của Hữu và Đàm.

Tôi thức dậy trước tiếng kẻng, đi xuống nhà bếp xin nước. Những lò lửa đỏ rực, anh em làm bếp cởi trần trùng trục, mồ hôi nhễ nhại. Những chảo cơm bốc hơi nghi ngút. Hàng chậu men xếp ngay ngắn, để việc phân chia có thứ tự. Tuy không phải đi lao động leo đèo, trèo núi nhưng công việc làm bếp cho trên 300 miệng ăn cũng khá vất vả vì chỉ có 10 người. Như vậy, 1 người phục vụ 30 người. Ở đây, nấu ăn bằng nước giếng, nên anh em đỡ lo phần nào về bệnh sốt rét.

Trời sáng dần sau dẫy núi bao quanh Trại. Tiêng hô lãnh cơm từ nhà bếp vọng lên. Không khí sinh động toàn Trại bắt đầu. Vấn đề lãnh cơm và chia cơm do người Trực luân phiên phụ trách. Sự chia chác lúc đầu cũng không đến nổi gay go, vì dù sao anh em cũng còn coi nặng tình nghĩa hơn miếng ăn. Mỗi bữa, trung bình được “2 chén tầu thủy”, như vậy là thiếu, ngay cả đối với những ai ăn yếu. Do đó, anh em đi lao động trên núi về, đều mang theo túi măng tươi hoặc rau tầu bay để độn thêm cho đỡ đói. Rau tầu bay là loại rau trong thời gian kháng chiến chống Pháp, bộ đội thường ăn trừ cơm trong những ngày chưa nhận được tiếp tế, nhưng ăn nhiều bị mất máu.

Chúng tôi đi theo tên cán bộ quản giáo ra khỏi Trại, quẹo về phía trái, men theo sườn đồi. Đi chừng non cây số, gặp khu dân ở. Những căn nhà lụp sụp, mái lá, vách đất xiêu vẹo như bao cảnh nghèo nàn miền Bắc, tôi đã thấy từ mấy chục năm trước. Cái “mùi nhà quê” do rơm rạ, phân trâu, bò, lợn, gà tạo nên. Những đứa con nít cởi truồng, bụng ỏng, đít von vì thiếu dinh dưỡng, dòng nước mũi xanh lè chảy dài xuống mồm, mấy con ruồi nhặng bu quanh! Dòng người lội bì bõm qua những vũng nước, bùn đen ngập lưng bụng chân, mùi hôi xông lên nhức nhối. Không hiểu sao, sau mấy chục năm mà trình độ hiểu biết của dân chúng về vấn đề vệ sinh công cộng chưa được cải tiến? Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa thường huênh hoang là chiếc nôi của loài người tiến bộ, là tiền đồn của Cộng Sản Quốc Tế, đã từng đánh gục quân Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1963, đã làm tan rã 1 triệu mốt quân đội miền Nam với sự tham chiến của hàng trăm ngàn quân Mỹ và 5 Quốc gia Đồng Minh của Mỹ nữa, mà sao con người Việt Nam nói chung tại miền Bắc, vẫn sống trong nghèo khổ, lạc hậu? Ánh sáng văn minh hình như chẳng bao giờ chiếu rọi đến những vùng đất thiếu may mắn này!

Đoàn người bắt đầu leo dốc, con dốc không cao nhưng kéo dài men quanh sườn núi. Đôi chỗ, gặp con dốc cao, có thể nhìn bao quát quanh vùng. Ánh nắng sớm mai chiếu chênh chếch làm cảnh vật có chiều sâu và rực rỡ. Mầu xanh chỗ đậm chỗ nhạt, tạo nên sinh động không ngừng theo triền núi chạy dài trước tầm nhìn. Đi chừng hơn một tiếng, dòng người ra khỏi dẫy núi, gặp con lộ đá trải nhựa khá rộng. Môt chiếc xe hơi chở khách chạy băng qua để lại đám bụi mù mịt. Tên cán bộ quản giáo cho lệnh đoàn người băng qua lộ, đi thẳng vào dẫy núi trước mặt. Một con suối khá rộng chắn ngang. Tên quản giáo cúi xuống xắn cao quần, lội dọc theo. Con dao rừng, hắn đeo sau lưng đung đưa, lưỡi dao sáng loáng.

Mọi người làm như hắn. Nước suối trong vắt, lạnh buốt. Đoàn người ngược dòng, càng vào sâu càng tối, như đi trong chiếc hang do lá cây rừng từ trên cao rủ xuống, che khuất ánh mặt trời. Nước suối làm hai chân tôi tê dại bước dò dẫm trên những tảng đá ngầm và lá mục trơn trợt. Lội chừng 2 cây số, tên quản giáo tạt lên bờ, rồi dẫn chúng tôi vào một khe núi nhỏ, cho lệnh mọi người leo lên tìm nứa. Tôi bám vách đá leo, con dao lủng lẳng bên hông, thỉnh thoảng va vào đá kêu leng keng. Khi lên cao, tôi nhìn thấy một vùng ánh sáng rộng lớn chảy tràn trề trên vùng thung lũng

mạnh hải flickr

Những gốc nứa đâm tua tủa như nhửng lưỡi dao sắc bén, nếu vô ý, sẽ cưa đứt chân như không. Khu này, chắc những người đến trước đã lấy nứa, nên bây giờ không còn. Muốn lấy, phải vào sâu nữa, qua sườn núi bên kia. Tôi rủ Đàm và Hữu cùng đi. Chúng tôi len lách dưới những lùm cây, chui qua nhiều vòm dây leo đan kết lâu ngày thành những chiếc cổng thiên nhiên. Hữu đi sau tôi, bỗng kêu:

– Vắt nó đeo đầy ống chân ông đó!

Tôi đứng lại, ngoái nhìn hai con vắt bám vào bắp chân như hai chiếc lá tre khô. Tôi nhổ nước miếng vào tay gỡ ra vứt ngay vào bụi.

– Hôm nay, trời nắng đấy, nếu mưa, vắt nó bám đầy mình, khó lòng gỡ!

Qua đến bên kia triền núi, tôi chặt 8 cây nứa thay vì 12 cây theo chỉ tiêu, vì nghĩ sức mình không vác nổi!

Tôi kiếm dây rừng bó chặt. Còn thừa, khoanh tròn buộc ngang hông, phòng hờ lúc dây đứt thì có để thay. Tôi gọi Hữu và Đàm cùng về. Tôi nhìn thấy hai người đang buộc 2 bó to, họ lấy đủ chỉ tiêu! Chúng tôi cùng xuống dốc, men theo lối cũ. Lượt về hơi khó đi vì vướng bó nứa dài thượt. Khi xuống đến chỗ tên cán bộ ngồi đợi, tôi thấy hắn đã chẻ được bó lạt to. Có lẽ, do thói quen, tụi lính Cộng Sản cố tìm ra việc để làm trong lúc rảnh rỗi. Hắn rút trong túi cây còi thổi ren réc. Tiếng còi “thu quân”. Chờ mọi người tập họp đông đủ, hắn cho lệnh đi về. Chúng tôi lội ra. Nước suối vẫn lạnh tê. Tới con lộ đá, tên quản giáo cho lệnh mọi người bỏ nứa xuống để kiểm chỉ tiêu và chất lượng. Tất cả đều đạt chỉ tiêu, trừ tôi. Vẫn như hồi ở Yên Bái, tôi lại nại cớ “Lao động tùy sức” Tên quản giáo nghiêm mặt, nói:

– Anh”nà” bầy nhầy “nắm”! Chúng tôi đã nói nhiều “nần”, “nao” động cần có kỹ thuật, có kỹ “nuật” và đạt năng xuất! Anh chẳng đạt được yêu cầu nào. Kỹ thuật không có, ai “nại” chặt để cho vỡ nát cả thân nứa thế này, kỹ “nuật” gì mà không buộc như mọi người, dây nhợ chẳng chịt, năng xuất không đạt! “Niệu”đấy. Về sớm hay muộn, tùy anh!

Tôi đứng im chịu trận, rồi cũng qua!

Lúc đó đã quá trưa. Tên quản giáo cho mọi người ngồi nghỉ ngay ở ven lộ để ăn cơm. Tôi cúi xuống toan thả ống quần, bỗng vô cùng kinh ngạc khi thấy hai ống chân không con sợi lông nào. Tôi tưởng mình nhìn nhầm, quay sang chỗ Đàm và Hữu. Họ cũng như tôi, sửng sốt khi thấy chân mình trắng hếu! Đã từ lâu, tôi đã nghe nói ở miền thượng du Bắc Việt, có những dòng suối độc, ai vô ý lội qua, lông chân rụng hết, nay quả như vậy! Tôi chưa tin hẳn, hỏi vài người khác khi vén ống quần lên, y nhau! Ăn trưa xong, mọi người vác nứa lên vai trở về.

Lúc đi bao nhiêu con dốc, lúc về như vậy, chỉ đổi chiều thôi.Vác nặng quá, tôi để bó nứa xuống, dùng sợi dây thừng phòng hờ, một đầu buộc vào bó nứa, một đầu thắt thòng lọng, đeo vào vai như kiểu kéo thuyền, cứ thế bó nứa đi theo tôi hết đoạn đường núi. Khi gần đến xóm nhà dân, tôi vác lên vai, bó nứa đã dập hết, mềm nhũn, nhún nhẩy theo mỗi bước chân. Về đến trại, quẳng bó nứa từ trên vai xuống như quăng bó lạt lớn!

Công tác lấy nứa được thi hành trong một tuần lễ liền. Nứa đã chất đầy một góc sân. Tuần kế tiếp, ở nhà đập dập chẻ làm tranh lợp nhà. Trại đang xây cất thêm căn nhà Văn Hóa và Hội Trường lớn chứa khoảng ba, bốn trăm người dùng làm nơi học tập. Những ai có nghề mộc đều xung vào Tổ làm nhà. Những ai có nghề đan rổ, rá, thúng mủng, xung vào Tổ đan. Còn lại, leo núi, đốn cây rừng làm kèo, cột!

Một chiều, có lệnh, trại thành lập đội rau xanh, gồm những người già yếu không đủ sức lao động, lên núi vào rừng! Mỗi Đội ghi tên theo tiêu chuẩn ấn định. Tôi được chuyển sang đội rau ngày hôm sau, do Kiếm, trước ở ngành An ninh Quân Đội làm Đội Trưởng. Đội Phó là Nhược, cựu sĩ quan Dù đã giải ngũ. Tôi chẳng hiểu Kiếm và Nhược khi trước, trong Quân Lực Cộng Hòa, họ làm ăn ra sao, nhưng chỉ biết hôm nay, họ phục tùng lệnh của tên quản giáo quá mức. Họ đôn đốc và ép anh em làm như bầy nô lệ. Một buổi, chẳng biết tên Nhược có điều gì không bằng lòng với một bạn tù, hắn nói to cho tên quản giáo đứng gần đấy nghe:

– Anh chống đối lao động, tức là chống đối Cách Mạng, anh hiểu chưa? Đến giờ này, anh còn ngoan cố phản động!

Anh kia trả lời:

– Anh đừng có chụp mũ, vì sức yếu, không làm nổi, nên tôi mới được qua Đội rau!

Tên quản giáo chỉ nhìn, không nói gì. Tên Nhược hầm hầm bắt anh kia đi gánh phân! Đó, trước kia là chiến hữu, nay chỉ vì một bất đồng nhỏ nhặt nào đó, lại có thể chụp mũ, giết nhau bằng lời nói ác độc. Cũng như có lần, tôi nghe thấy anh Trung Tá Truyền Tin xích mích với một anh khác, đã nói với tên bộ đội:

– Thưa cán bộ, anh này là sĩ quan Chiến Tranh Tâm Lý, nên nói hay lắm!

Câu này nói có ác ý, để mách cho tên Cộng Sản để ý đến công việc của anh kia làm khi trước, vì tụi Cộng Sản rất ghét ngành Chiến Tranh Tâm Lý. Với tinh thần như thế làm gì kẻ thù không đánh giá thấp Quân đội miền Nam?

The Tears of My Soul

 1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 19 May 2024

Chương 3
Ngay trong tuần lễ đó, chúng tôi được chở đến Ký túc xá Quân sự Kesong, ở đây đợt tập huấn của chúng tôi bắt đầu một cách nghiêm túc. Ngay những bó buộc ngặt nghèo mà tôi đã trải qua trong kỳ học quân sự của chỉ là điều nhỏ nhặt so với những gì tiếp diễn ở đây.
Kesong nằm ở một thung lũng không thể đến gần nổi tại chân núi Ipbul, cách thế giới văn minh hàng trăm dặm. Chỉ có vài làng nhỏ nằm rải rác trong vùng lân cận. Trại được dựng trên một diện tích khá lớn vì người ta đào tạo hàng ngàn học sinh ở đây. Các điệp viên được huấn luyện tại một thung lũng bí mật, tách rời khỏi toàn thể ký túc xá. Chúng tôi được phân chỗ ở trong một căn nhà nhỏ, trước kia từng có nhà bếp, buồng giặt và thư viện. Chúng tôi được nhận một thời gian biểu nghiêm ngặt mà không bao giờ chúng tôi được chệch đi:
07.30-08.30 Nghiên cứu triết học và những công lao của Kim Nhật Thành
08.30-13.00 Học buổi sáng
13.00-16.00 Ăn trưa và nghỉ ngơi
16.00-17.30 Học buổi chiều
17.30-19.00 Thể dục
19.00-20.00 Ăn tối
20.00-21.00 Võ thuật
21.00-22.00 Hành quân tối
22.00-23.00 Học
23.00 Đi ngủ
Chúng tôi bị bắt ép học tập đến kiệt sức, người ta đo xem cơ thể và tinh thần chúng tôi có sức chịu đựng đến mức nào. Chúng tôi được học ngắm bắn một cách thiện xạ với đủ các loại vũ khí. Chúng tôi ở ngoài trời nhiều ngày, ngủ trong hang cáo. Nhân sinh nhật của Kim Nhật Thành, chúng tôi hành quân một trăm dặm (160 cây số) trong vòng ba ngày; người ta gọi đây là Cuộc hành quân Trung thành. Chúng tôi học lái xe với vận tốc lớn, rửa phim trong phòng tối được làm vội vã. Và trong suốt khoảng thời gian đó chúng tôi đọc các trước tác của Kim Nhật Thành.
Chúng tôi được dạy các môn võ thuật. Người ta yêu cầu phụ nữ phải chiến thắng hai, ba đàn ông cùng một lúc. Chưa bao giờ trong đời tôi lại tự tin như lúc đó. Chúng tôi còn học cận chiến với dao găm. Chúng tôi luyện tập bằng những chiếc dao nhựa dài 25 phân.
Không chỉ tập ngắm bắn mà thôi, chúng tôi còn phải học cách tháo và lắp đủ mọi thứ vũ khí, phải biết cách sửa chữa súng ống nữa. Chúng tôi bắn vào những tấm bia nhỏ xíu cách khoảng chín mục mét và tôi trúng đích đến 90 phần trăm.
Hàng tuần, chúng tôi được xem phim gián điệp hai lần, các phim đó hoặc tuyên truyền sự suy đồi của xã hội phương Tây, hoặc về những chiến tích của các siêu điệp viên ngày xưa.
Chỉ Chủ nhật chúng tôi mới được tự do nhưng khi ấy chúng tôi mệt mỏi rã rời đến mức không buồn ra khỏi giường.
Cô giáo dạy chúng tôi tiếng Nhật là Heinhe, chúng tôi rất thân với cô. Tôi được bà đầu bếp cho biết câu chuyện bi thảm của cô Heinhe. Cô vốn người Tokyo, tại đây cô tốt nghiệp phổ thông rồi lấy chồng. Cô có một trai và một gái, sau đó ít lâu vợ chồng cô chia tay nhau. Một ngày kia, khi cô chơi đùa cùng các con ngoài bãi biển, các điệp viên Bắc Triều Tiên bắt cóc họ và đưa vào trại tù binh. Trong trại, cô ốm năng tưởng không qua khỏi. Tuy nhiên rồi cô khỏi bệnh, khi đó cô không chịu ăn uống gì và suốt ngày cô chỉ kể cô nhớ hai đứa con biết nhường nào. Nhưng các nhân viên Bắc Hàn rất kiên nhẫn. Họ khiến Heinhe tin rằng rồi một ngày cô có thể được tự do nếu cô chịu tuân lệnh họ. Rốt cục, không còn cách nào khác, cô đành yên phận trong cuộc sống mới.
Tuy thương cô Heinhen vì số phận cô phải chịu nhưng tôi vẫn cho rằng hy sinh một phụ nữ Nhật duy nhất cho sự nghiệp của Bắc Hàn là một việc hoàn toàn chính nghĩa, nhất là nếu ta nghĩ đến chuyện nước Nhật đã nô lệ hóa và sau đó, đã áp bức Triều Tiên trong suốt bốn chục năm trời. Giờ đây, nhìn lại, tôi cảm thấy hổ thẹn vì ý nghĩ đó. Sự việc đáng tiếc này cũng chứng tỏ sự dã man vô lương tâm của chính phủ Bắc Triều Tiên và các nhân viên của họ.
Vì quá bất hạnh nên Heinhe hay uống rượu đến say xỉn và khi đó, đôi lúc cô cư xử khá khó chịu. Dù vậy, cô là một giáo viên xuất sắc và càng ngày tôi càng quý mến cô. Cô thường kể chuyện về các con và về Tokyo, cô hy vọng chẳng bao lâu nữa cô có thể được về Nhật. Tôi không biết cô có được về nhà không.
Chúng tôi kết bạn với cô, tin tưởng nhau, lúc nào cô cũng mong được gặp gỡ chúng tôi. Nhiệm vụ của cô không nhỏ: phải biến tôi thành một phụ nữ Nhật để khi tôi được cử đi hoạt động, không ai có thể đoán được tôi là người Bắc Hàn.
Có một làng bản cách nơi chúng tôi ở chừng một, hai dặm và tất nhiên là chúng tôi bị cấm tới đó. Nhưng một tối Chủ nhật nọ, Heinhe cứ nài chúng tôi hãy cùng cô đến làng vì chưa bao giờ cô được gặp người dân Bắc Triều Tiên bình thường. Chúng tôi thấy một vài ngôi nhà xiêu vẹo, những đứa trẻ con bẩn thỉu chạy nhảy trên đường phố. Tôi thấy hổ thẹn và muốn đưa Heinhe đi. Nhưng cô vẫn ngắm nghía lũ trẻ, mắt tràn lệ. Chúng làm thức tỉnh bản năng người mẹ trong cô.
– Đây là thế giới đẹp đẽ của các cô ư, Okhva? – cô nói, vẻ giễu cợt không giấu giếm. – Tôi thương hại các cô.
Trong trại chúng tôi còn có một người bạn tốt khác: bà đầu bếp Vulchi, một phụ nữ khoảng bốn mươi lăm tuổi, cũng từng trải qua một cuộc đời bi thảm. Năm mười mấy tuổi, bà yêu một người thợ tiện nhưng mẹ bà bắt bà phải làm vợ một thợ mỏ. Hai người sống cực khổ tại một làng nhỏ heo hút tên là Samchuon và Vulchi phải chịu đựng rất nhiều vì chồng bà thường xuyên bội bạc bà.
Một ngày kia, ông chồng bị một chiếc xe goòng cán chết. Trong lễ tang, Vulchi gặp lại người tình thời thanh niên của bà, ông ta vẫn yêu bà nhưng đã có gia đình. Họ không thể làm gì được.
Về sau, Vulchi hướng dẫn khóa học nấu ăn trong một trường học rồi bà được phân việc trong trại. Bà thích vẻ cô quạnh của Kesong vì như bà thường nói một cách bông đùa, ở đây ít ai quấy nhiễu bà. Trong khu nhà, bà đóng vai trò “người mẹ”, chúng tôi phải báo cáo cho bà biết nếu muốn đi dạo hoặc muốn ra khỏi vùng. Nhưng Vulchi là một phụ nữ cao thượng và bà hay cho phép chúng tôi làm những gì chúng tôi muốn.
*
Trong những năm sau, đôi khi tôi được phép về thăm gia đình nhưng đây là những dịp buồn bã. Cha mẹ tôi không bao giờ sẵn lòng để tôi đi và lúc đó tôi lại xấu hổ vì họ quyến luyến tôi đến mức ấy, bởi lẽ mọi người dân Bắc Triều Tiên “có óc suy nghĩ thích hợp” đều phải làm như thế. Sự quyến luyến với thân nhân không thuộc vào số những bổn phận yêu nước và tôi thì đã hoàn toàn bị ngấm vai trò mới: vai trò một kẻ tập nghề gián điệp. Thời ấy chúng tôi được biết đứa em trai nhỏ nhất của tôi, Bam So, bị ung thư da và các bác sĩ đã chịu bó tay.
Mẹ tôi biểu lộ nỗi ưu phiền vì tôi phải xa nhà một cách thẳng thừng và to tiếng, nhưng tôi biết cha tôi cũng nhớ tôi, ít ra là như thế. Cha tôi rất gắn bó với tôi từ thuở tôi còn nhỏ, ông luôn gọi tôi là quận chúa. Trên nhiều phương diện, cha tôi là một người bí ẩn. Tôi biết ông tự hào về tôi và tôi cũng biết trên cương vị một cán bộ đảng, ông thuộc tầng lớp người được ưu đãi nhất ở Bắc Hàn, vậy mà vẫn có một cái gì đó nhắn nhủ tôi rằng trong đáy sâu tâm hồn ông, ông phẫn nộ vì chính phủ đã bắt tôi phải ra đi.
Đó là tình thương, đáng tiếc không có mặt trong cương lĩnh quốc gia của Kim Chính Nhật.