This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thanh Hóa là tỉnh lớn nằm về cực Bắc miền Trung Việt Nam, rộng hơn 11 ngàn cây số vuông, dân hơn 3.7 triệu, có núi, có rừng, có đồng bằng và có biển nên giàu tài nguyên: lâm sản, khoáng sản, nông sản và thủy sản. Có sông lớn như sông Mã, gầm lên khúc độc hành, qua bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, thời đánh Pháp.
Thanh Hóa còn nổi tiếng hơn nữa vì là quê của nhà thơ Hữu Loan, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Trong khi những nhà thơ nổi tiếng trước ông, thời tiền chiến, như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên ăn theo thuở ở theo thì, cam tâm quỳ… để kiếm chút danh thừa, lợi cặn… thì Hữu Loan lại kiên cường không chịu luồn cúi! Sau 75, ông vào Sài Gòn, tình cờ nghe một thương binh trên sân ga, chơi Bolero, bài: ‘Những đồi hoa Sim’ của Dzũng Chinh. Ông dừng chân, lắng nghe, vẻ xúc động, xong nói: “Tôi là tác giả của bài thơ đó!”
Hữu Loan kể: “Thi đậu Tú tài Tây, ông được mướn về làm gia sư cho một đứa học trò, Lê Ðỗ Thị Ninh, sau nầy là vợ ông. Cưới nhau xong, ông tiếp tục đi kháng chiến. Hôm đó là ngày 25 tháng Năm, âm lịch, năm 1948, em ra ngoài sông Chuồn, (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống) giặt áo. Vì muốn chụp lại tấm áo nên trượt chân, bị nước cuốn trôi đi, chết đuối.
“Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím.”
Năm 1955-1956, xuất hiện nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, chống lại cái chính sách độc tài, chống bọn bồi bút cam tâm lừa thầy, phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn, Hữu Loan có viết bài thơ: “Những thằng nịnh hót”.
Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp khốc liệt, Hữu Loan bị đi cải tạo.
Cải tạo xong, ông bỏ về quê vì: “Tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động…
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi.”
Người vợ sau của Hữu Loan là bà Phạm Thị Nhu, một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất năm 1954-1955. Song thân của bà Nhu bị đem ra đấu tố, rồi chôn sống xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong bọn chúng cho trâu kéo bừa đi qua đi lại trên 2 cái đầu đó, cho đến chết. Bà Nhu, lúc đó, chỉ là cô con gái 17 tuổi, được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ, rách. Tàn nhẫn hơn nữa, cán bộ còn ra lệnh cấm không cho ai được nuôi nấng hoặc thuê cô ấy làm công, cấm đoán dân chúng lấy con cái địa chủ làm vợ, làm chồng. Nhưng Hữu Loan bất chấp lệnh cấm vô nhân đạo nầy, vẫn cưới cô làm vợ. Hai người có tới 10 đứa con và nhà thơ Hữu Loan vẫn tiếp tục thồ đá đi bán để nuôi vợ, nuôi con. Uy vũ bất năng khuất!
Người thứ hai cũng làm Thanh Hóa trở nên nổi tiếng là nhà báo Phùng Gia Lộc với bút ký: “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”
Ðại để câu chuyện, có thật, là: “…Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề, mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Ðông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi.
… Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau…”
Trong khi vợ ông thì khổ quá, kêu: “Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời…”
…Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc.
“Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước”. Ðồng chí Bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế…
… Bọn chúng đạp lật nghiêng một cái. Nắp ván thiên bung ra, lúa chảy rào rào.
“Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Ðó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt!”
“Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!”
Nói rằng bài ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” đăng trên tuần báo Văn Nghệ ở Hà Nội năm 1987 của Phùng Gia Lộc đã đốn sụm bà chè tay lãnh chúa Thanh Hóa, Hà Trọng Hòa, hét ra lửa mửa ra khói… là nói quá.
Ðừng ngây thơ, bé cái lầm, tưởng ngòi bút trong tay mình mạnh bằng cả một sư đoàn như từng được xưng tụng mà “Viết lách như thế… bỏ cha có ngày!”
Chẳng qua là nội bộ bọn chúng, trâu cột ghét trâu ăn, tìm mọi cách chơi nhau cho rớt khỏi cái ghế ngồi béo bở để tới phiên tao leo lên ngồi và cũng ăn giống hịt vậy… mà coi chừng còn ăn bạo hơn nữa kìa.
Thân mẫu của nhà báo Phùng Gia Lộc (chắc đã mất, 30 năm rồi còn gì!) đã từng ước vọng: “Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi!” vẫn là nỗi tuyệt vọng khôn cùng của người dân Thanh Hóa từ thuở đó cho tới tận bây giờ. Tiếc thay nhà báo Phùng Gia Lộc, cũng đã không còn, để thấy không phải một Hà Trọng Hòa ăn thôi mà đứa nào leo lên được cái ghế nầy rồi cũng rứa!
Phùng Gia Lộc sẽ ‘ngộ’ ra và kết luận rằng: Guồng máy tỉnh đảng bộ CS Thanh Hóa, giống như một cái máy ‘photocopy’ vậy! Những gì nó in ra, giống hịt nhau không sai chút nào hết ráo. Ðể nhà báo Phùng Gia Lộc đừng bịt mồm Mẹ mình vì ‘ngu trung’ hay vì… sợ hãi?!
“Ối Ðảng ôi là Ðảng ôi! Chính phủ ôi… Trông xuống mà coi…
Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:– Mẹ! Mẹ không được la như thế! Ðây không phải Ðảng! Ðảng ta không làm thế. Ðảng không chủ trương thế này!”
Mới đây thôi, báo chí lề phải trong nước, được lịnh ngầm ở trên, kẻ tung người hứng, bèn chơi cái tựa “Tiền Ở Ðâu Ðể Cung Phụng ‘Bồ Nhí’?” trong loạt bài về ‘quan’ Thanh Hóa. Rằng ‘quan’ đã bỏ ra hàng chục tỉ đồng chạy chức, để leo lên ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen. Như các tỉnh và thành phố khác, ‘quan’ Thanh Hóa hành xử như một lãnh chúa cát cứ, thời Thập nhị Sứ quân.
Mang danh là Tiến sĩ về dâu tằm, nhưng ‘quan’ cũng thừa biết, trồng dâu nuôi tằm là húp nước mắm! Muốn gỡ lại vốn, rồi làm giàu nhanh chóng thì chỉ có đất đai, mỏ… để bán lại cho một số doanh nghiệp thân hữu với giá như bèo rồi được “thối lại” hàng ngàn tỉ đồng.
(Vậy mà có một em người mẫu đồ lót (tức nội y, tức quần ‘sì’) trong nước, tuyên bố rằng: “Lấy chồng nghèo cạp đất mà ăn”! Em đẹp nhưng ‘lờ khờ’ thiệt! Cạp đất mới có ăn chớ!)
Dĩ nhiên, ‘quan’ chối bai bải, ngúng nguẩy như đỉa phải vôi! ‘Quan’ đòi đi thưa mấy anh trên Bộ Công An, để ‘nhát’ lại kẻ đã chơi mình. Nhưng chạy thuốc thì tốn tiền lắm lắm! Công vơ vét bấy lâu, nay nó hù mình, rồi nó hốt hết ráo công sức của mình bấy lâu. Cốc mò cò xơi! Sao được? Thôi, tom góp vàng bạc, đô la rồi cuốn nóp dông luôn đi, cha nội!
Lại nhớ bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa trong cuốn tiểu thuyết ‘Trống Mái’ của Khái Hưng thời tiền chiến. Cũng một mối tình tan vỡ giữa Vọi, chàng thanh niên chài lưới chất phác, cùng Hiền, một thiếu nữ đài các, ở Hà Nội ngàn năm văn vật. Vọi yêu Hiền đơn phương trong câm lặng. Chỉ biết leo lên Hòn Trống mái, đục vào vách đá hai mẫu tự: VH – tên tắt của mình và người mình thầm yêu trộm nhớ. Rồi cuối cùng Vọi thả mảng ra khơi. Trời đẹp, biển êm. Sáng tinh sương, mảng đã ra xa. Vọi bỏ neo quăng lưới. Bỗng lưới mắc phải vật gì… Vọi nhảy xuống biển… “Trời ơi! Cá nhà táng!”
Vâng! Thanh Hóa vùng đất dấu yêu của Hữu Loan, của Phùng Gia Lộc và của Vọi bây giờ cá nhà táng không phải chỉ có ngoài biển Thanh Hóa để ăn thịt người. Cá nhà táng nằm ngay trong những căn nhà tráng lệ của quan chức trên bãi biển Ðồ Sơn.
Tôi sẽ đi thuê xe, bất kể hiệu gì, miễn là loại 4×4 thích hợp cho dốc đồi, sạn đạo hoặc suối khe bùn lầy. Nếu có gắn máy định vị hướng dẫn đường xá thì càng tốt. Laura nói: Phần tôi sẽ đi chợ mua các nhu yếu phẩm, những thứ mà người ta vẫn sắm sửa cho chuyến đi dã ngoại.
Ở phố mùa thu đến rụt rè, cây thưa nên chưa đủ lực để thắp nên màu vàng sẫm tựa chốn xa điệp trùng. Laura thích vẽ một bức tranh thu, cô có điện thoại hỏi thăm ông bố và đón nhận từ ngoại ô đầy gió một đáp trả chẳng mấy nồng ấm: Tuỳ mày. Bố Laura chưa nghỉ hưu, ông làm thứ công việc gần như một kẻ kiểm lâm và sau khi ly dị vợ ông mua được căn nhà nhỏ nằm kề cận bên bìa rừng. Laura cho hay, cảnh vật ở đó rất tuyệt, kể cả mùa đông; thiên nhiên luôn chung tình chứ không như những hình khối bê tông mãi đổi thay dị dạng ở phố phường. Sự khoáng đãng của nó khiến mình nhẹ người ra, phiêu hốt. Khi nói về người cha, Laura chỉ vắn tắc: Thì người già ấy mà, họ chướng theo cách của họ. Đừng ngại, chỉ tạm trú một hai hôm, bất quá thì chúng ta đi bụi. Nghe chữ bụi, một nửa tôi hơi ngán và nửa kia là cả một sự quyến rũ. Điều này cũng tựa như khi nghe Laura xúi tôi ngồi trước khung bố trắng. Để giải quyết, căn bản là mình chớ nên miễn cưỡng, bất kể việc gì, tôi đã nói với Laura như thế. Đi về miền hoang dã trong mùa thu, rõ là tôi chẳng miễn cưỡng chút nào khi nghe lời đề nghị. Một cánh rừng ngập lá vàng, nó luôn lưu giữ cái bí mật đáng yêu. Giữa tôi và Laura hiện lên thứ gì lớn hơn cả tình bạn và cô ấy chưa tiện cho tôi chiếc chìa khoá để chạm tay vén mở cánh cửa sau cùng. Cô đọc lên câu thành ngữ của Pháp: Hãy làm bạn với láng giềng nhưng đừng phá vỡ hàng rào. Đó là sự ví von đầy sai lạc, bởi muốn chứng minh về sức mạnh của tình yêu đã có lắm kẻ sẵn lòng đạp đổ bao chướng ngại. Tôi đã giải thích câu tiếng Việt ra cho Laura nghe: Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua. Tôi thuê xe để chở cô đi về chốn đèo heo hút gió là một bằng chứng.
Dò theo bản đồ, vùng quê hoang lạnh ấy cách phố chúng tôi ngụ dài hơn 100 cây số, ở hướng bắc. Vì đường xấu có thể sẽ mất hai tiếng, do vậy chúng tôi quyết định khởi hành vào ban trưa. Ra khỏi cây cầu luôn kẹt xe, xuống tới được xa lộ, một bên hông màu trời đã đổi sắc. Cụm rừng thưa ở đó như có mãnh lực để gom thu mọi nguồn sáng, trưa mà diết da thứ màu của bảng lãng bóng hoàng hôn. Thứ cu-lơ làm khó cho Laura khi nhúng cọ pha phách trên bảng màu. Laura không học mỹ thuật, vì đam mê nghệ thuật tạo hình cô tự mày mò lấy và những bước đi chập chững ban đầu tuồng như đã định hình ra những sãi bước thành tựu. Cô tạo được một thủ pháp riêng và cá nhân tôi, tôi thành thật khuyến khích cô. Đi vẽ phong cảnh hôm nay hoàn toàn không phải là một sự bốc đồng. Tôi đã mua tặng Laura hai tuýp sơn dầu, thứ do Hoà Lan sản xuất, một ống trắng và một ống màu vàng. Tôi nghĩ nó sẽ chóng hao hụt trước các ống màu khác.
Bố Laura gầy ốm nhưng đó là hình thể của kẻ chăm lao động, rắn chắc. Ông hôn trên trán Laura thay cho lời chào mừng và bắt tay tôi, hơi hờ hững. Ông nhắc lại một cột mốc quá khứ để tự ngờ vực là hai cha con đã xa nhau đến ngần ấy năm. Để dễ nhớ, dường như trong đầu ông vừa chợt hiện bóng hình người vợ cũ. Ông hỏi: Mẹ mày ra sao rồi? Laura nói, má vẫn vậy, mỗi cuối tuần con đều ghé thăm, trên vách vẫn treo đủ những tấm ảnh ngày cũ, bà tuồng như chẳng ghét bỏ những kỷ niệm. Khi về già chẳng biết con có được giống mẹ không, bởi ai khiến lòng ta đau thì ta nên loại bỏ ảnh hình người ấy, treo nó lên, nhìn thấy mỗi ngày thì chóng lão hoá mất. Cả Laura và ông bố đều hướng mắt tới tôi khi Laura nói xong. Và tôi thử quan sát bốn mặt vách vây quanh căn phòng này, tuyệt chẳng máng lên một khung ảnh, một bức tranh, một vật dùng để trang trí. Người đàn ông này chừng như ưa bầu bạn với cô đơn, tận cùng chữ trơ trọi. Đứa con gái cách biệt, ở xa về thăm cũng không khiến ông niềm nở vui thú.
Chúng tôi được dẫn xuống một cái demi sous-sol, nơi chất đầy củi và những thứ phế phẩm, tuy thế vẫn còn khoảng trống để kê chiếc giường nệm đầy bụi bám, một chiếc bàn, hai cái ghế và cái tủ gỗ lớn thuộc hàng cổ vật. Một đồng hồ quả lắc lên giây thiều đường bệ treo trên vách nhưng nó từ khước việc đếm thời gian, quả lắc to hơn cái bát đồng đứng yên trong tịch lặng. Mày mang hết đồ vào chất dưới đây, giường đó dành cho cậu này. Ông bố nói. Tao ngủ trên cái futon ở phòng khách, còn mày thì vào phòng tao mà ngã lưng. Tạm trú bao lâu? Hai ngày? Laura không trả lời. Cô bước lại phía có treo chiếc đồng hồ cổ điển đã chết với sự lạc hậu của nó, cô nhìn thấy bốn chai rượu chát nằm yên trên giá gỗ. Bố thích ăn món gì nào? Chiều này con sẽ đứng bếp làm bữa cơm đoàn tụ. Người đàn ông đặt chân lên những bậc cấp: Bày vẽ, một mình, tao đã quen với sự giản tiện, muốn nấu nướng mày phải cất công chạy ra siêu thị Métro mà mua sắm thịt thà rau quả.
Laura nhìn tôi, hỏi: Cùng đi chợ nhé? Lần này để tôi lái xe, tôi biết cái siêu thị đó nằm ở đâu. Laura từng mang tôi tới thăm người mẹ cô, bà thuê một căn hộ nhỏ sống trong chung cư toàn cả người đứng tuổi. Ở đó tôi đã nấu phở và làm chả giò cho vị thực khách dễ mến, bà nói một câu khiến tôi nhói lòng: Bạn tin không? Bạn là đứa đàn ông đáng yêu nhất mà tôi từng gặp phải trong đời sống. Nói nhỏ thôi, nên Laura không nghe thấy. Và tôi cũng nói thầm, nếu như ai cũng phát ngôn kiểu đó tôi nguyện sẽ vui thú xắn tay phục vụ thức ăn mỗi bữa. Tôi bất hiếu với song thân, chưa một lần tự mình nấu nướng cho ông bà ăn, bởi vì bố mẹ tôi mất khi tôi chưa kịp trưởng thành. Mẹ của Laura có thu giữ điều gì rất giống với mẹ tôi mặc dù chuyện gia đạo, song thân tôi luôn biết cách làm cho nó ấm êm. Khi đứng gần một người đàn bà bất hạnh, dĩ nhiên tôi bị bà ấy làm cho mình mềm lòng. Khi nhìn cái đồng hồ quả lắc bị bỏ quên dưới basement tự dưng tôi nhớ tới mẹ Laura, nhớ và gợn lên chút thương cảm làm chỗ đứng vốn lạnh càng tái tê hơn.
Tôi trao chìa khoá xe cho Laura, cô đeo đôi bông tai của mẹ tặng và tự dưng tôi muốn hôn cô. Mẹ tôi có đôi bông tai bằng vàng 24k nhận hạt ngọc trai, mẹ nói sẽ cho cô con dâu tương lai của mẹ nhưng đau buồn cho tôi khi đến tuổi nhi lập thì mẹ tôi chẳng còn tại thế. Tôi nghèo xác xơ ở tất cả mọi định nghĩa, một tấm lòng thành thì muốn biểu tỏ chừng như anh phải lệ thuộc vào một khởi động nào đó, ban đầu là một tặng phẩm, tôi đồ thế. Laura đứng yên cho tôi tìm ra chút hơi ấm, chẳng mấy lâu vì cô không muốn ông bố phát hiện. Ông đang đứng ở cánh cửa mở rộng, giữa vây bọc màu vàng của xác lá đôi mắt ông là hai hòn than âm ỉ cháy đỏ.
Vì trông ra những chai rượu vang còn nguyên vẹn, Laura quyết định làm món bíp-tếch dùng với khoai tây đút lò nướng. Mỗi người sẽ ăn cả ký thịt bò hạng A sản xuất tại bình nguyên đầy cỏ mượt phía cực tây Canada. Căn nhà sẽ ấm lên bởi những ngọn lửa gaz và người sẽ nóng lên do nồng độ từ chai rượu quyết khô giọt cuối. Không mấy khi, ông bố Laura nói thế, bữa ăn này có cần nêu một lý do không? Mày và cậu này quan hệ ra sao? Vào rừng để vẽ tranh à? Không chắc sẽ được êm xuôi vì hôm Halloween vừa qua đã xẩy ra một án mạng trong đó. Cảnh sát vẫn còn giăng ngang dọc những biển báo tránh đặt chân qua phạm vi gây án. Họ sẽ chận hỏi khi biết chúng mày là kẻ lạ mặt. Và gió, làm sao mày có thể dựng tấm bố rộng lên giá vẽ? Có quá nhiều bất tiện mày thấy không? Phụng sự cho nghệ thuật? Tao không nghĩ vậy khi mà oan hồn cô thiếu nữ bất hạnh kia vẫn còn lãng vãng trong cánh rừng hoang lạnh. Tao và đội kiểm lâm vẫn chưa yên thân với cánh điều tra tội phạm. Thấy gì? Biết gì? Nghi ngờ điều gì? Có ai xa lạ đi vào rừng? Cả trăm câu hỏi. Thôi, ăn uống no say đi, ngủ một giấc biết đâu ngày mai đã đổi khác. Nhớ chưa? Mày ngủ phòng tao và cậu này chui xuống dưới đó mà ngáy. Tha hồ ngáy.
Tôi nhớ là tôi chẳng ngáy. Tôi không ngủ tròn giấc vì hơi lạnh luôn chờn vờn. Mặc thêm áo ấm, phủ kín cái mền dùng cho bọn đi cắm trại vẫn cứ rét run. Có khi tai nghe tiếng vặn mình kẻo kẹt của những thanh gỗ lót nền tầng trên, có khi mơ hồ thấy có bóng trắng thoát ra từ cái tủ gỗ trông như một cổ mộ của Ai Cập. Tôi co thân, thu cả hai tay vào trong bắp đùi, nhắm nghiền đôi mắt rồi tự vẽ ra trong đầu tấm thân nuột nà của Laura. Cô giống mẹ nhiều hơn bố, giống ở cách ứng xử thật điềm đạm, dễ tủi thân và thích tự mình tìm lời giải ở mỗi vấn nạn; nghĩa là cô mang đủ tính chất đầy nữ tính và khi kề cận nó luôn khiến tôi han hỏi, quan tâm, ưa tìm hiểu. Cô giống mẹ cô cả ở thể hình, ngực Laura không lớn, chẳng mấy cao và mái tóc dài mượt mà như những thiếu nữ phương đông. Tôi mơ thấy những bước chân rón rén của Laura bước nhẹ xuống từng bậc cấp, cô lật mền ra và nằm ủ tôi trong cái máy sưởi thật diệu kỳ luôn phát nhiệt giữa tứ chi. Tôi thiếp đi.
Không biết đã mấy giờ, mặt trời chưa lên. Tăm tối vây bọc bốn phía, sáng nhờ nhợ là khuôn mặt cận kề của Laura. Cô lay tôi, đánh thức tôi dậy. Khuôn mặt Laura đẫm ướt như một kẻ vội vàng rửa mặt mà chưa dùng khăn lau. Đi, dậy đi nào, mau lên. Chút rượu nồng còn vướng trong hơi thở cấp bách của Laura. Tôi xỏ chân vào đôi giày, không kịp cột dây để một bàn tay chẳng cưỡng chống theo sức lôi quyết liệt của Laura. Như một cuộc liều thân vượt thoát chốn ngục tù, tôi chưa hoàn hồn khi ngồi vào trong xe. Sương xuống lạnh làm kính xe mù mịt. Chuyện gì đã xẩy ra? Hai kính gạt nước làm cảnh vật sáng tỏ dần nhưng hồ nghi trong lòng vẫn bưng bít. Chạy xe đi. Laura hối thúc. Một cuộc vượt ngục ra đi mạng không, tất thảy đồ đoàn phải chịu để lại. Sao kỳ cục thế? Xe dằn xóc trên con đường dần xa vũng tối, quận lỵ nhỏ bé nằm phía dưới kia nhấp nháy từng vụn sáng. Sẽ xuống tới, sẽ tấp vào, sẽ kiếm một cốc cà phê và sẽ hỏi cho ra lẽ.
Laura rấm rức, rồi tiếng khóc chẳng kềm giữ bật lên. Chẳng lớn, nhưng đủ chứng thực tâm trạng của một kẻ đang bấn lòng đớn đau. Tôi dừng xe, tôi tìm sợi dây an toàn để cài thân cô lại trên ghế, loay hoay tôi phát hiện cô quên không mặc áo nịt ngực. Ngực mềm đang thổn thức. Tôi vuốt tóc rối cho cô, da Laura lạnh. Tôi cởi chiếc áo ấm của mình ra để phủ đắp cho thân kia mãi run. Tôi hỏi nhưng đáp trả vẫn là những giọt nước nóng mãi đổ xuống. Tôi ngó chiếc quần dùng để mặc khi ngủ của Laura nhăn, có chỗ bị xé rách và tôi đã hiểu ra.
Tôi cho xe về lại thành phố trong bình minh nhọ mặt người. Một đôi khi người ta bị du vào cái thế chẳng muốn nhìn mặt nhau, bởi cả trăm lý do. Tôi chẳng còn lòng dạ nào ghé mua cà phê vì tiên quyết là Laura chẳng muốn gì cả, muốn bó thân chẳng cục cựa và về nhà sớm chừng nào hay chừng đó. Sẽ nhào vào phòng tắm, đứng kỳ cọ dưới vòi sen mà hơi nóng dâng đầy làm mờ tấm gương soi bắt đối diện.
Bảy giờ sáng, xe đỗ trước apt. Laura mướn. Cô nói trong cúi mặt, sẽ điện thoại lại sau. Và rồi lách người qua khung cửa ngập lá. Chưa bao giờ tôi đưa cô về nhà với thứ y phục cô mặc trên người tựa thế. Cũng chưa khi nào tôi thấy tôi vụng về như hôm nay. Một tấm kiếng đã rạn, tôi sợ thốt nên lời gì thì tự khắc tấm kiếng ấy sẽ vỡ vụn xuống, manh múm. Còn quá sớm, tôi chẳng biết cách để phung phá thời gian. Tôi đốt thắp một điếu thuốc rồi nhớ ngay ra đôi mắt thu giữ đốm lửa kỳ dị của ông bố Laura. Ở sát rừng, neo thân. Đã bao năm vắng bóng đàn bà. Tu gần hết chai rượu và đứa con gái nằm ngủ ngay trên chiếc giường quen thuộc của mình giữa khuya vắng tẻ…
Tôi lái xe tới căn hộ của người mẹ Laura. Không riêng bà, có khi tôi cũng nhìn ra chiếc bóng cô đơn mãi in vào vách của mình. Bà không biết điều hệ trọng, là cô con gái bà đã đánh rơi đôi bông tai bà tặng trên chiếc giường người chồng đã ly dị cả chục năm. Ông ta sẽ cất nó làm vật kỷ niệm và khi uống rượu say, có thể ông sẽ ngồi rung đùi thoáng nhớ về hai người đàn bà đã đi qua đời tôi.
Cửa mở không mấy lâu sau tiếng chuông. Mẹ Laura mặt tươi tỉnh: Người già thường ngủ ít, đâu có hề gì, bao giờ cậu tới thăm tôi đều hoan hỉ cả. Đứng vác mặt ra ô cửa sổ tôi đã trông thấy cậu xuống xe. Đi đâu sớm thế? Tôi cởi gày để đi vào ngồi trong căn bếp, bao giờ cũng vậy dù củi lửa nguội lạnh, chỗ ngồi kia, theo tôi, nó ấm áp nhất nhà. Hơn bao giờ hết tôi muốn được mẹ Laura pha mời tôi một cốc cà phê, dù đó là thứ bột hoà tan chẳng mấy hợp khẩu vị của tôi. Như vậy nè, con tính mượn chỗ bác để nấu một món gì đó và chúng ta cùng chung đũa. Bác sẽ gọi giúp con mời Laura tới dùng bữa thì vui thú hơn. Bác nghĩ sao? Khuôn mặt mẹ Laura giãn nở trông thấy: Tôi là người hạnh phúc, bởi con bé ấy đã quen được cậu. Tấm lòng cậu dành cho chúng tôi thật đáng quý. Uống cà phê xong cậu chở tôi đi chợ luôn thể, nhé. Tôi sẽ học cách tự mình nấu lấy những món đặc sản của xứ cậu.
Tôi bưng cốc cà phê cho ấm đôi bàn tay và đi nhìn vào từng khung ảnh treo đầy vách. Có một tấm đen trắng chụp người đàn ông đang bế trên tay một cô bé chừng tám, chín tuổi. Mặt người đàn ông tiềm ẩn nét gì ngó chẳng mấy thiện cảm trong khi cô gái mặc đầm trắng thì trông như một thiên thần. Người đàn ông kia chừng không muốn trao thiên thần cho tôi, hoặc trước khi sớt chia ông muốn tự mình làm hoen ố, cướp mất sự thánh thiện có ở thiên thần lạc loài ấy.
Như vậy, bức tranh thu như Laura dự tính thực hiện đã không thành. Đợi ngày lành tháng tốt tôi sẽ đề nghi Laura thay vì vẽ phong cảnh hãy đổi ra vẽ chân dung. Đề nghị mẹ Laura ngồi ở giữa mà tả hữu có đôi vợ chồng vụng dại đứng thiết thân. Cái đẹp có trong bức tranh sẽ phát quang, làm lu mờ và đánh đắm những bức ảnh kỷ niệm ngày xưa mãi treo chật chỗ này. Tôi mường tượng là mình nghe rõ những tiếng cười reo vui, tán đồng, hân hoan trôi trên tháng ngày buốt giá sắp về, phủ chụp.
Trước khi vào đệ tam Võ Tánh, hai thằng cùng học một lớp bên trường Văn Hóa. Năm đệ ngũ, niên học khai giảng hơn hai tuần thì cô Hương, giám thị, dẫn một người vào lớp. Mới đầu, từ cô Tùng Linh, giáo sư hướng dẫn, đến học trò, không ai nghĩ anh ta sẽ là học sinh vào lớp đệ ngũ này. Người cao lớn, vạm vỡ, đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, mặc một cái áo sơ mi sọc đậm, ngắn tay, xăn cao, quần sans-pli bó ống với cái nịt to bản và đôi giày da bóng đi kêu lộp cộp. Lại còn cái kính đen dắt trên dây nịt nữa chứ. Một cuốn tập cuốn tròn trong túi sau. Cả lớp tròn mắt ngạc nhiên khi nghe cô Hương giới thiệu anh ta là học trò mới, từ xa đến. Cái tên nghe cûng lå: LâmNi. (Sau này mới biết anh ta gốc tàu Chơ Lớn, cha Tàu mẹ Việt. Gia đình giàu có. Cha anh làm chủ một công ty xuất nhập cảng. Vì không kiểm soát được anh, nên gởi anh ra Nha Trang ở với ông cậu, là chỉ huy phó quân trường Đồng Đế. Ba má anh tin tưởng ông cậu nhà binh này sẽ đưa thằng con cưng của mình đi vào nề nếp. Cùng với không khí mát mẻ, hiền hòa của thành phố biển sẽ làm nó hiền lành ngoan ngoãn hơn). Cô Tùng Linh chỉ cho Lâm Ni vào ngồi chung bàn với tôi ở phía sau. Anh chào tôi bằng cái rờ đầu rất kẻ cả. Tuần đầu anh im lặng, ít nói chuyện với ai. Mà có lẽ cũng chẳng có ai muốn làm quen với anh ta, ngoại trừ Trần Bá Hòa, người vui tính mà nghịch ngợm nhất lớp. Nhưng chỉ một tuần lễ sau là không khí cả lớp thay đổi hẳn. Mấy nàng nữ sinh ngồi phía trước liên tục bị bắn giây thun từ phía sau lưng, thi nhau quay ra phía bàn tôi chửi rủa. Có lần cô Linh đang viết trên bảng đen bị lạc đạn, cả lớp phải nín thở. Một lần khi thầy Nguyễn Đức Nhơn đang gọi điểm danh, thình lình cả lớp như chợ vỡ, khi mấy người đẹp phát hiện một đám chuột con đỏ hỏn nằm dưới hộc bàn. Ai cũng biết tôi là thằng gốc nhà quê, hiền lành. Nhưng vì ngồi chung bàn với Lâm Ni nên “có chửi cùng chia, có cười cùng hưởng”. Nói vậy chứ chưa có bà chị nào quay xuống bàn tôi để nở nửa nụ cười, mà chỉ toàn là những cái liếc sắc như dao, và tiếng rủa lùng bùng trong miệng chưa kịp phát ra thành tiếng. Tôi bực mình anh ta nhưng không dám phản ứng. Có lần tôi nhìn anh ta tỏ ra bực dọc, liền bị một cái cú đầu. Dưới mắt anh, lúc nào tôi cũng là thằng nhóc con. Nghĩ thân phận nhược tiểu nên tôi đành im lặng chịu đựng bên cạnh một đại cường. Nhưng tới một ngày, chiến tranh cũng phải bùng nổ, khi anh ta mượn rồi làm mất luôn cuốn vở “kiểu mẫu” (mà sau khi ở trường về tôi phải ngồi hằng giờ cặm cụi viết lại, uốn nắn từng chữ bằng nhiều thứ màu mực), tôi đã ném vào người anh tất cả mấy cuốn sách mà tôi có trong tay, giữa đám học trò trong lớp. Kỳ lạ, lần này anh lại cười hiền khô, ôm tôi và bảo “xin lỗi toa nghe!”. Đã thế ngày hôm sau anh còn mang cho tôi một bịch mấy trái thanh long. Từ hôm đó hai thằng xích lại gần nhau hơn một chút.
Cả trường biết anh, và có lẽ chẳng có ai ưa anh – tôi đoán thế – vì anh chạy một chiếc xe gắn máy hiệu Gobel màu đen mới toanh, trên bình xăng có vẽ hình con ó xòe đôi cánh, cái ghi-đông thật dài, ống pô được tháo bỏ phần hãm thanh nên nổ inh ỏi. Nghe nói tối nào anh cũng đi học võ ở võ đường của thầy Trọng Đãi. Có lần chính anh kể với đám tụi tôi, anh vào Judo Club để học lấy đai đen thì lại gặp thầy Trần Thanh Lý, dạy toán, cũng đang học trong đó, anh bèn rút lui. Khi ấy thầy Lý còn trẻ, nhưng anh nể thầy lắm. Mặc dù thầy Lý chưa hề phạt anh, bởi trong tất cả các môn học, môn toán và anh văn là anh giỏi nhất. Có lần thầy Lý còn gọi đùa anh là Lâm Bưu. Lúc ấy nhiều thằng trong đám tụi tôi chưa biết Lâm Bưu là gã trời đất nào, cũng cười theo. Nghe Lâm Ni kể là ông già của anh ta có cái mũi rất thính trong thương trường. Ông tin chắc là Mỹ thế nào cũng đổ quân vào Việt nam, nên mướn thầy dạy kèm Anh văn cho con mình từ năm Lâm Ni mới vào đệ thất. Còn toán là nhờ cái thông minh và lanh lợi mà trời đã ban cho anh ta để bù vào mấy cái tật khác. Lâu lâu, bọn tôi nghe Trần Bá Hòa thông báo là Lâm Ni hẹn đấu “pạc-co” với băng Lò Heo, băng thằng Điền, hay băng thằng Liên nào đó ở Xóm Mới. Mấy lần đám tụi tôi cũng tò mò theo Trần Bá Hòa đi xem, mới biết Lâm Ni võ nghệ cao cường mà còn có tinh thần võ sĩ đạo kiểu Nhật Bản nữa. Lúc nào cũng nhường cho đối thủ tấn công trước, và khi đối thủ ngã xuống, anh không thèm tấn công, mà còn đỡ đứng dậy. Trong khi những tay này đã từng chơi xấu anh sát ván bao lần trước. Anh ở nhà ông cậu ruột, một biệt thự trên đường Yersin, nhưng bạn bè thường thấy anh chở đào chạy vòng vòng ngoài đường Duy Tân, bờ biển. Có khi còn thấy chiếc xe Gobel của anh dựng cả ngày trước Bar Thu Thủy ở đường HoàngTử Cảnh.
Sang năm đệ tứ, không hiểu là vì mọi người đã quá quen cảnh cũ người xưa , hay là chính anh ta thay đổi, bỗng dưng “lòng chợt từ bi bất ngờ”, không thèm phá phách nữa, nên một số bắt đầu làm thân với anh. Mấy bà chằn lúc trươc bây giờ cũng có nàng đã cười nửa miệng với anh ta. Tôi bây giờ lại là thằng thân nhất với Lâm Ni. Những ngày nghỉ cuối tuần hay ngày lễ, anh đến nhà trọ chở tôi lên Phú Vinh, thăm khu vườn nuôi gà của anh Khanh, trưởng lớp. Khi ấy anh Khanh đã có vợ hai con. Có lần anh ta còn dám lấy xe jeep của ông cậu tới chở bọn tôi đi lên Thành thăm cô bạn Tuyết Phượng ở bên kia cầu Phú Lộc, nhưng mới đến Mã Vòng bị quân cảnh chặn lại hỏi giấy. Cả đám phải vào ngồi trong đồn để chờ ông cậu của Lâm Ni cho người đến nhân xe và nhận người luôn.Có lẽ tôi có duyên nợ gì với Lâm Ni. Ngày thi trung học đệ nhất cấp, vì tên cùng vần N, nên tôi lại bị xếp ngồi bên cạnh anh ta. Tí nữa thì tôi khốn khổ. Môn toán và Anh văn, không cần nháp nhiết, anh ta làm một cái vèo, nộp bài ra trước nhất. Nhưng mấy môn khác, tôi làm chưa xong, thì anh thò tay qua chộp. Chút nữa là ông giám thị bắt đươc, tôi hú vía. Kỳ thi ấy cả hai thằng đều đậu. Từ hôm ấy, anh ta càng thân với tôi hơn. Cứ vài ngày là chạy xe lại nhà tôi, chở tôi đi xuống quán số 1 duới bờ biển ăn bò bảy món, đi Cầu Đá ăn phở gà trước khi tôi về quê nghỉ hè.
Quê tôi ở ngoài Vạn Giã, vào Nha-Trang tôi ở trọ nhà ông chú, một hiệu buôn, trước ở đường Độc Lập, bên rạp ci-né Moderne của ông Bác Ái, sau chuyển về đầu đường QL 1 trước Ty Thông Tin. Chú thím tôi hơi nghiêm khắc, nên không muốn bạn bè tôi lui tới nhiều. Hơn nữa ông bà chỉ có một đứa con gái rượu, xinh gái, gọi tôi bằng anh nhưng lớn hơn tôi hai tuổi và học trên tôi một lớp, bên trường Lê Quí Đôn, nên ông bà cũng muốn “kín cổng cao tường” một chút. Lần đầu tiên Lâm Ni tới tìm tôi, ông bà nhìn anh ta từ trên xuống dưới, rồi bảo là tôi không có ở nhà. Thực ra lúc ấy tôi đang ngồi phía trong phòng khách. Thấy Lâm Ni tới tôi định chạy ra, nhưng nghe ông bà bảo vậy tôi im luôn. Sau này tôi dặn Lâm Ni cứ dựng cái xe gắn máy phía trước ngồi chờ, thấy chiếc xe là tôi chạy ra. Về quê nghỉ hè chưa tròn một tháng, thì chú tôi nhắn ba tôi đưa tôi vào Nha Trang gặp ông có chuyện gấp. Vào đến nơi, vừa bước vào nhà tôi mới tá hỏa. Ông chú hò hét chửi tôi một trận xối xả, rồi bảo ba tôi tìm một chỗ khác cho tôi ở học sau mùa hè.
Không biết tài tán gái thế nào mà chưa đầy một tháng Lâm Ni đã cua được cô con gái cưng của ông chú tôi mà tôi chẳng hề hay biết. Tôi bực anh ta nhưng cũng phục anh ta sát đất. Mà cũng xui cho anh – phải nói xui cho chính tôi mới đúng- Ông chú tôi là dân Nha Trang chính hiệu nhưng chưa hề biết nước biển Nha Trang ngọt mặn ra sao. Tôi nghĩ có lẽ cái lý do chính là ông không muốn cho bất cứ ai nhìn thấy cái bụng phệ hơi quá khổ của ông. Vậy mà hôm đó, có mấy người bạn từ Sài-gòn ra bàn chuyện làm ăn. Nể tình, ông mới chiều khách đưa họ đi biển tắm. Bất ngờ khi bước vào Quán số 3 bên bờ biển thì ông thấy một cặp tình nhân đang ôm nhau say đắm. Ông giận đến không biết mình đang ăn món gì trong miệng khi khám phá đôi tình nhân kia là cô con gái cưng của ông và thằng bạn trời đánh của tôi. Tôi mất mẹ từ nhỏ, nên Ba tôi cưng lắm, chưa hề la tôi một tiếng. Vậy mà hôm đó ông la tôi một trận. Câu cách ngôn “gần mực thì đen gần đèn thì sáng” hồi xửa hồi xưa, cũ như trái đất, được ông đem ra giảng tới giảng lui mấy lần, măc dù tôi cố gắng hết sức để bào chữa cho Lâm Ni: nào anh ta là con nhà giàu và tử tế, bên ngoài như thế chứ học hành giỏi, nào là hiền lành và tốt bụng lắm. Nhưng tôi đành đứng chịu trận khi ông chú tôi lỡ nóng dại mồm dám xác nhận ngay trước mặt bà thím là chính ông ta gặp Lâm Ni mấy lần trong Bar Thu Thủy, và dưới Grand Hôtel. Tôi nghĩ tối hôm đó chắc ông cũng mệt với bà. Nói thì nói vậy, chứ gì thì ông chú cũng nể ông già tôi, và cũng cần tôi để làm cho ông mấy bài toán cộng trừ, tính lời lỗ mỗi ngày, nên sau khi ông hết giận, rồi đâu cũng vào đó. Bị chửi quá nên tôi cũng giận Lâm Ni, định bụng sau hè vào phải dũa cho chàng ta một trận và nhất định nghỉ chơi với anh ta để vào Võ Tánh yên ổn mà lo học hành.
Ngày nhập học, khi đang ngơ ngác tìm lớp, thì có người vỗ vai. Quay lại, thì đúng là Lâm Ni. Anh ta vào Tam B còn tôi vào Tam C. Gặp lại trong giờ ra chơi, tôi kéo Lâm Ni ra ngoài, thụi vào bụng mấy cái, kể lại chuyện tôi bị ông chú đuổi. Anh ta không thèm an ủi tôi một tiếng mà còn bảo tôi lên nhà ông cậu ở với anh ta. Thực ra chàng ta cũng là một thằng tốt bụng, nhưng tôi nghĩ thầm nếu tiếp tục quen với Lâm Ni sẽ còn gặp phiền phức nữa, nên kể từ hôm ấy tôi lánh mặt anh ta. Vào Võ Tánh, dường như Lâm Ni cũng thay đổi nhiều. Mặc đồng phục và cắt tóc tai đàng hoàng. Nhưng bây giờ đi học bằng chiếc Vespa mới toanh. Chắc là phần thưởng thi đậu của ông già. Lâu lâu tôi thấy anh đứng ngoài cửa sổ lớp Tam C của tôi trêu ghẹo mấy người đẹp ngồi trong lớp. Cái lớp Tam C của tôi sao hiền lành quá. Chắc là thiên hạ chuẩn bị để làm người lớn, hay là các bà chị trong lớp vừa đẹp vừa hiền như ma soeur nên không còn tên nào muốn làm ma quỷ nữa. Ba năm ở Võ Tánh trôi qua rất êm đềm, như mặt nước hồ thu, không còn lại trong tôi điều đặc biệt nào đáng nhớ. Ngày nhập học lớp Đệ Nhất, tôi có ý tìm nhưng không thấy bóng dáng của Lâm Ni. Tôi nghĩ chắc chàng ta rớt tú tài 1, nên sang trường khác học lại. Nhưng sau đó, tôi nghe mấy người học cùng lớp với Lâm Ni bảo là anh ta đậu kỳ hai, nhưng đã theo ông cậu thuyên chuyển đi nơi khác. Tôi thoáng một chút bùi ngùi, khi nghĩ là chẳng bao giờ còn gặp lại anh ta. Ba năm sau tôi vào quân trường Thủ Đức. Ra trường được chuyển ra một đơn vị tác chiến lưu động ở Ban Mê Thuột, (mà lính tụi tôi thường gọi là xứ Buồn Muôn Thuở, hay là Bụi Mù Trời) làm trung đội trưởng.
Trong một cuộc hành quân phối hợp, tiếp viện cho một chi đoàn thiết quân vận bị phục kích tại Quãng Nhiêu, sau khi giải tỏa tình hình, tiểu đoàn rút về, chỉ có trung đội tôi được lệnh ở lại tăng phái cho một đại đội Biệt Động Quân. Thấy tôi có vẻ lo âu khi trung đội phải ở lại một mình giữa chiến trường khói lửa chưa tan, ông tiểu đoàn trưởng bảo:
– Chú mày yên chí, đại đội BĐQ này khá lắm, thằng đại đội trưởng này đánh đấm có tiếng trong binh chủng mũ nâu đó. Khi dắt trung đội hơn hai chục thằng lính, nửa kinh nửa thượng, đến trình diện đại đội BĐQ, tôi sửng sốt khi nhận ra ông đại đội trưởng chính là Lâm Ni. Tôi đứng nghiêm đưa tay chào
– Tôi đem trung đội tới trình diện trung úy.
Lâm Ni nhận ra tôi ngay. Anh ta hét lên:
– Có phải mày là thằng Ninh không.? Đ.m. trung úy cái con khỉ, tao là Lâm Ni đây, mày không nhận ra sao? Rồi anh ta ôm tôi quay mấy vòng.
Giải toả tình hình xong, trung đội của tôi tiếp tục được đặt dưới quyền của Lâm Ni, nhận lệnh ở lại tìm kiếm một số chiến binh thất lạc và giữ an ninh cho quân cụ lên kéo mấy chiếc M 113 bị bắn cháy và hư hại về Ban Mê Thuột. Tối hôm ấy Lâm Ni giữ trung đội tôi đóng quân chung với ban chỉ huy đại đội của anh. Một điều chưa từng xảy ra cho một đơn vị tăng phái. Hai đưá uống hết bi đông rượu đế, nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn thời còn đi học. Anh nhớ từng tên thầy cô giáo và bạn bè lúc trước. Anh ân hận đã phá phách nghịch ngợm làm buồn lòng thầy, bạn. Anh bảo tôi, ngay sau khi rời Võ Tánh là anh đi lính ngay. Anh thích đời quân ngũ và hy vọng nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của một thằng nhà giàu vô tích sự như anh. Khi biết anh chọn BĐQ, cha mẹ anh giận và buồn lắm, nhờ ông cậu, bây giờ làm lớn trong Bộ TTM, rút anh về, nhưng anh nhất quyết chối từ. Trước khi đi ngủ, anh ta còn hỏi tôi:
– Con nhỏ em mày, con gái ông chú của mày ở Nha Trang đó, bây giờ theo thằng cốt đột nào rồi? – rồi cười ha hả.
Hai hôm sau chúng tôi có lệnh di chuyển vị trí, và phải bung rộng ra phòng thủ. Lâm Ni cho trung đội tôi xuống đóng trong một cái đồn bên chân cây cầu sắt (của một đơn vị địa phương quân bỏ lại) để giữ cây cầu khỏi bị phá hoại trước khi quân cụ lên kéo hết mấy chiếc thiết giáp bị hư. Cây cầu cách ngọn đồi, nơi đặt ban chỉ huy của Lâm Ni khoảng hai cây số.
Gần hai giờ sáng, trung đôi tôi bất ngờ bị tấn công. Địch áp dụng chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Sau mấy loạt 82 ly, chúng ào ạt tấn công. Trung đội tôi có vài người bị thương sau đợt pháo kích đầu tiên, nhưng tất cả đều chống trả mãnh liệt. Tôi chỉ kịp cầm ống liên hợp máy PRC 10 báo cáo với Lâm Ni là đơn vị tôi bị tấn công mạnh, cần ngay pháo binh và một lực lương tiếp ứng, đánh từ phía sau lưng địch. Lâm Ni bảo tôi cứ bình tĩnh yên tâm chiến đấu, anh ta sẽ gọi pháo binh và gởi ngay một bộ phận tiếp ứng. Không ngờ lực lượng địch khá đông. Chúng tôi bắn ngã tên này thì tên khác lại xông lên. Chúng đã dùng bêta phá mấy lớp rào bên ngoài rồi hô xung phong. Pháo binh ta cũng bắt đầu rót xuống bên ngoài. Lúc này tôi chiến đấu hoàn toàn như một khinh binh, Quả lưụ đạn cuối cùng tôi vừa mới ném ra, cũng là lúc một vài tên địch đã xâm nhập vào phía bên trong hàng rào phòng thủ. Khi đạn đã cạn, chúng tôi chuẩn bị đánh cận chiến, thì nghe được tiếng súng bạn khắp nơi bên ngoài và tiếng hò hét: Biệt Động sát! Địch vội vàng tháo chạy, hai tên đặc công vào bên trong bị chúng tôi bắt sống. Tạm thời kiểm tra đơn vị: 3 chết, 7 bị thương. Chưa kịp gọi máy báo cáo, thì toán biệt động quân đầu tiên vào bên trong, võng theo một thương binh. Nghe một sĩ quan BĐQ gọi máy xin trực thăng tản thương khẩn cấp vì “đại bàng bị thương nặng”, tôi giật mình chạy đến chiếc võng: Lâm Ni mặt đầy máu và thở rất nhẹ. Tôi lay anh ta:
– Lâm Ni ơi, có làm sao không? Ninh đây.
Dưới ánh đèn pin yếu ớt, gương mặt anh ta xanh xao, mở hé mắt nhìn tôi. Đôi môi rung động như muốn nói với tôi điều gì. Tôi đưa tay sờ lên môi anh, như là tôi đã hiểu những gì anh muốn nói.
Vị thiếu úy BĐQ vỗ vai tôi:
– Đúng ra đâu có phải nhiệm vụ của trung úy, tôi bảo ông nên ở lại, vì chúng tôi chỉ đi có một trung đội và toán thám báo, nhưng ông đã lệnh cho ông đại đội phó ở lại và ông trực tiếp dẫn đầu toán thám báo chạy bay tới đây, xông ngay vào sau lưng địch mà đánh. Tội nghiệp, chỉ có ông bị thương.
Trực thăng tản thương tới, tôi bế Lâm Ni lên, nắm chặt tay anh trước khi máy bay cất cánh. Tôi bùi ngùi lo lắng khi biết là anh đã vì tôi mà bị thương, cầu nguyện cho anh qua khỏi hiểm nghèo
Lần ấy anh còn sống, nhưng phải nằm điều trị ở QYV hết bốn tháng, còn để lại mấy vết sẹo trên cổ, và vì bị thương ở thanh quản, nên giọng nói của anh bị khàn đi. Sau đó đơn vị của anh có lệnh chuyển lên Pleime, Pleiku. Tôi có liên lạc thăm anh vài lần trên hệ thống vô tuyến.
Bẵng đi một thời gian, đầu mùa hè 72, đơn vị tôi đang hành quân ở An Khê thì có lệnh di chuyển về phi trường Pleiku để được không vận toàn bộ lên Kontum. Chiến trường đang tới hồi quyết liệt. Trong một lần chuyển quân hoán đổi vị trí phía bắc Kontum tôi bất ngờ gặp lại Lâm Ni. Lúc này anh đã mang lon Thiếu tá và nắm một tiểu đoàn BĐQ. Hai thằng chỉ kịp ôm nhau chửi thề vài câu. Chưa kịp nói lời chia tay, thì mỗi thằng đã mỗi ngả.
Cuối năm 1972, khi hiệp định Paris vừa ký xong, địch quân chưa trở cờ. Hai bên tạm thời hưu chiến kiểu da beo. Các đơn vị tham chiến được chuyển về các vị trí dưỡng quân. Tiểu Đoàn của Lâm Ni được về Hàm Rồng. Đơn vị tôi thì về Đồi Đức Mẹ, Pleiku.
Đêm tiểu đoàn Lâm Ni làm lễ tái xuất quân tại Hàm Rồng được tổ chức rất hùng tráng. Lâm Ni có mời tôi đến dự. Buổi tiệc ra quân kết thúc bằng một chương trình văn nghệ khá đặc sắc, do biệt đoàn văn nghệ trung ương từ Sài gòn ra, phối họp với các toán văn nghệ tâm lý chiến QĐ II đảm trách. Tôi ngồi hàng ghế đầu với Lâm Ni. Khi có một nữ ca sĩ từ Pleiku lên hát bài Chiều Trên Phá Tam Giang, Lâm Ni rất cảm động. Cô tên Giáng Vân, có khuôn mặt khá xinh, phảng phất buồn, và giọng hát trầm ấm thiết tha. Bài hát vừa chấm dứt, Lâm Ni bước lên nắm tay cô cám ơn và bất ngờ cởi tặng cô chiếc đồng hồ Longine mới toanh mà anh vừa mới mua từ Sài gòn, khi được bảy ngày phép về thăm cha mẹ.
Đêm đó tôi ở lại với Lâm Ni. Anh kể là cha mẹ anh cứ năn nỉ anh đổi về Saigòn. Ông bà sẽ lo cho anh về BTL Cảnh Sát hoặc bất cứ nơi nào ở Saigon anh muốn. Ông bà cũng đưa anh đến thăm gia đình một người Tàu, có cô con gái làm chủ một nhà hàng, mà ông bà định hỏi cưới cho anh. Ông bà nôn nóng có đứa cháu đích tôn nối dõi. Nhưng anh chỉ im lặng. Rồi khi bị hỏi quá, anh hứa cho Anh ba năm nữa. Anh bảo tôi, đời lính sống nay chết mai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng.
Đầu năm 73, tôi bị thương nặng, phải nằm điều trị hơn hai tháng ở QYV Pleiku.. Lâm Ni có ghé lại thăm tôi một lần vội vã, khi có dịp về Pleiku họp hành quân. Khi chia tay, anh rút từ túi quần sau ra một xấp tiền đưa cho tôi:
– Tiền ba tháng lương của tao, mày cầm lấy mà gởi cho vợ con mày. Mày đông con. Tao độc thân, suốt cả năm sống ở trong rừng, lỡ có chết tiền không ai xài uổng lắm.
– Tôi từ chối, nhưng anh nhét xấp tiền vào dưới chiếc gối tôi nằm.
Sau đó tôi được theo học một khóa tham mưu tại Long Bình. Mãn khóa, đuợc điều về Trung Tâm Hành Quân. Lâm Ni thì vẫn nay đây mai đó, nhưng chúng tôi thường liên lạc hỏi thăm tin tức nhau trên hệ thống vô tuyến. Một lần khi bay bao vùng, biết anh vừa lên trung tá, tôi đáp xuống thăm, và mang mừng anh ta chai Hennessy, loại rượu anh thích nhất. Anh bảo, BCH/BĐQ dự định đưa anh ra nắm một Liên Đoàn ngoài vùng 1 thay cho anh Liên Đoàn trưởng vừa tử trận, nhưng tình hình ở đây đang nguy ngập, nên anh chưa rời đơn vị được
Tháng 3/75, ngay sau khi Ban Mê Thuột mất, tôi may mắn được theo BTL Tiền Phương. Nói là Tiền Phương nhưng lại đóng ở Nha Trang và một đôi khi ở Khánh Dương.
Có lệnh bỏ Kontum và Pleiku. Tiểu Đoàn BĐQ của Lâm Ni là một trong những đơn vị được chỉ định đi đầu, mở đường cho đoàn quân di tản từ Pleiku xuống Tuy Hòa theo tỉnh lộ 7. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt nam, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam.
Tôi được chỉ định làm trưởng toán, dùng một hợp đoàn trực thăng bay đi liên lạc và hướng dẫn những toán quân thất lạc trong rừng. Ngày N+3, trong lúc chiến trường ác liệt và tồi tệ nhất, tôi may mắn liên lạc được Lâm Ni trên tần số không lục. Tôi tìm mấy bãi đáp tương đối an toàn, giục Lâm Ni đến đó để tôi bốc. Nhưng anh ta từ chối, bảo là mặc dù tiểu đoàn của anh bị tan tác, quân số chỉ còn gần một trung đội, nhưng anh không thể bỏ anh em vào lúc này.
Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi nghe giọng nói của Lâm Ni. Năm 1977, trong một trại tù cải tạo ở Lào Cai, tôi gặp lại một sĩ quan của Lâm Ni lúc trước. Anh ta là sĩ quan duy nhất trong đơn vị còn sống sót. Anh cho biết là khi bị địch vây và kêu buông súng đầu hàng, Lâm Ni đã bắn tới viên đạn cuối cùng. Anh tự sát bằng một quả lựu đạn loại tấn công, và đã chết chung với một đám địch quân định vây bắt anh.
Mùa hè năm ngoái, tôi có cô con gái út lấy chồng bên London. Cả nhà tôi sang đó dự tiệc cưới do nhà trai khoản đãi. Sau đám cưới, vợ chồng cô con gái đi Thái Lan hưởng tuần trăng mật. Chúng tôi muốn ở lại London ít hôm để xem vài thắng cảnh và đến thăm gia đình một người bạn học cũ của bà xã tôi ở thành phố Birmingham, cách London chừng ba giờ lái xe. Cậu rể nhờ một người bạn chí thân, một bác sĩ trẻ khá bảnh trai, và cũng là phụ rể trong đám cưới, làm tài xế và hướng dẫn viên cho chúng tôi. Hơn nữa nhà cậu ta cũng ở Birmingham.
Ngày cuối cùng, trước khi rời khỏi Birmingham, cậu ta mời chúng tôi ghé lại nhà để dùng một bữa cơm với gia đình. Nói là gia đình, nhưng thực ra chỉ có hai mẹ con thôi. Cậu bảo thế.
Trời nóng như lửa đốt, lại biết chúng tôi đang đói, cậu ta gọi cell- phone về nhà bảo bà mẹ chuẩn bị thức ăn sẵn. Về đến nhà, cậu ta vội vã đi lấy khăn, hướng dẫn chúng tôi vào phòng tắm rửa mặt, rồi chạy vào bếp phụ mẹ. Vào phòng ăn, khi chúng tôi kéo ghế ra chưa kịp ngồi thì bà mẹ bưng thức ăn ra vui vẻ chào, và xin lỗi vì bận tay nên không ra cổng đón được. Thấy người đàn bà này có nét giống một người nào đó mà tôi đã gặp, tôi cố gắng lục lọi ký ức, nhưng vẫn không nhớ ra.
Khi cơm nuớc xong, bà mời chúng tôi lên phòng khách uống nước và ăn tráng miệng. Nhìn một tấm ảnh phóng lớn treo trên vách. Lại là một người lính. Tôi tò mò bước lại xem và sững sờ khi người trong ảnh chính là Lâm Ni.
Sau một lúc hàn huyên, tôi mới nhận ra người đàn bà này chính là cô ca sĩ tâm lý chiến có tên Giáng Vân, trong đêm làm lễ tái xuất quân của đơn vị Lâm-Ni trên Hàm Rồng lúc trước. Một cô ca sĩ tâm lý chiến, mà ngày xưa nhiều kẻ đánh giá chẳng ra gì, chết chồng từ thuở mới 20, có nhan sắc, trải qua bao nhiêu khốn khổ, vậy mà không hề bước thêm một bước nào, ở vậy nuôi con học hành thành đạt, đức hạnh nên người. Điều bất ngờ hơn, cậu thanh niên dễ thương, tốt bụng, đón đưa chúng tôi mấy ngày hôm nay, cũng là người bạn chí thân của thằng rể chúng tôi, lại là giọt máu duy nhất của Lâm Ni còn lại trên thế gian này.
Tôi có hỏi về ông bà nội cháu, Giáng Vân cho biết là sau khi chạy từ Pleiku về, cô phải nằm bệnh viện cho đến mấy tháng sau ngày miền Nam thất thủ, nên đã phải sinh non, may mà mẹ tròn con vuông. Khi sanh cháu xong, chị có đi hỏi thăm cha mẹ Lâm Ni, nhưng được mấy người láng giềng cho biết là ông bà đã đi về Trung quốc.
Tôi bùi ngùi nghĩ tới Lâm Ni, người bạn học có nhiều duyên nợ với tôi, đã gây cho tôi một vài phiền muộn, nhưng cũng đã để lại trong tôi biết bao điều xúc động. Không hiểu, ở một nơi xa xăm nào đó, anh có biết là tôi đã bất ngờ gặp lại vợ con anh. Cũng có thể chính anh đã linh thiêng đưa tôi đến đây. Một nơi xa lạ, ngàn trùng cách biệt với quê hương, với Nha Trang. Nơi mà một thời, anh đã có biết bao kỷ niệm với thầy với bạn và nhất là với tôi, thằng bạn nhóc tì của anh ngày trước. Ông bà già của Lâm Ni chắc không ngờ là mình đang có một đứa cháu đích tôn trên thế gian này, mà trước đây ông bà đã từng mơ ước
Trước khi từ biệt vợ con Lâm Ni, tôi đứng lặng lẽ một mình trước tấm ảnh của anh, ôn lại bao nhiêu chuyện cũ rồi buột miệng thì thầm hai câu thơ quen thuộc:
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Từ trong tấm ảnh, dường như Lâm Ni đang nhìn tôi mĩm cười.
phạmtínanninh
(xin gởi đến chị Lâm Ni và cháu Lâm Bình như món quà muộn màng)
Tôi có một người bạn, mỗi buổi sáng thức dậy, anh tự
pha hai ly cà phê sữa, một cho mình và một cho vợ. Ly của
ông đậm cà phê hơn ly của bà và ít ngọt hơn. Câu chuyện này kéo dài hơn bốn mươi năm cho tới lúc anh ấy qua đời với một chứng bệnh nan y. Trước khi mất. lúc còn tỉnh táo, anh dặn cô em vợ hiện nay vẫn ở chung nhà, cách thức, cân lượng để pha một ly cà phê như thế cho vợ. Đó không phải là chuyện hình thức suông, hai ông bà ăn ở với nhau có tình có nghĩa cho tới lúc, một người phải ra đi trước để người kia ở lại trên cõi đời này. Cuộc tình đó, bạn bè thường nói đùa “thương nhau ai thấy cũng thèm”.
Trên cõi đời này, một số người đã không đi trọn cuộc tình. Lúc trẻ thương yêu nhau tha thiết, về già, phần bận bịu con cháu, phần cơ thể và sinh lý thay đổi, họ dần dần xa nhau. Lấy lý do bà cựa quậy khó ngủ, lấy lý do ông thường ngáy lớn ban đêm, hai người ra ngủ riêng hai chỗ, dần dà thành thói quen, hai người là hai cõi, từ dị sàng tới dị mộng không mấy xa. Ngày xưa họ gọi nhau bằng tiếng “anh-em”, “cưng-mình”, ngày nay họ gọi nhau bằng tiếng “ông- tui”, “ba nó-má nó”, gọi sao thì gọi, miễn là tấm lòng đối với nhau, như gừng càng già càng cay, rượu càng lâu men càng nồng, chứ đừng để cho thời gian làm tình yêu càng ngày càng phai nhạt. Tuổi già không cần phải “càng gãy chân chõng, càng sai chân giường” mà chỉ cần “già râu già tóc, lòng ai có già”. Ở đây chúng tôi không đám mạn phép bàn tới địa hạt sinh lý của người cao niên mà quí vị bác sĩ đã tốn quá nhiều giấy mực rồi, chỉ xin người đời nhẹ tay cho những mái đầu bạc khi họ đã sống, với một phương diện nào đó như những lúc còn trẻ. Thế gian đã có sẵn những “mỹ từ” tàn nhẫn như “già dịch”, “già dê”, “già lựu đạn” để tặng quí vị loạng quạng, vẫn còn níu kéo chút xuân xanh mà cuộc đời khắt khe không cho phép:
“Già thời bế cháu đỡ con
Già đâu lại ước cau non cuối mùa!
Ở đây chúng tôi chỉ nói tới chuyện tình già. Thuở son trẻ, xa nhau một ngày đã quay quắt, tới tuổi già hai người sống lặng lẽ, có cũng được, mà không cũng chẳng sao. Chúng ta vẫn thường thấy sinh hoạt người già các nước Âu Mỹ, những đôi vợ chồng cao niên vẫn có đời sống tình cảm rất gắn bó, họ khiêu vũ với nhau, âu yếm ngồi bên nhau trên bờ biển, đi du lịch cùng nhau, trao nhau những chiếc hôn, có lẽ không nồng cháy như xưa, nhưng nhẹ nhàng, âu yếm như một thứ tình yêu che chở, gắn bó chỉ sợ một ngày nào đó sẽ không còn bên nhau được nữa. Người Việt Nam, một phần vì văn hóa, tình cảm không bao giờ bộc lộ ra ngoài, không dám để lộ sự yêu thương vợ chồng trước mặt mọi người, dù là con cái của mình. Một phần họ không xem chuyện đó là quan trọng, một phần, dù có, cũng giữ gìn, sợ người ta cho “già mà không nên nết”. Cuối cùng, người phối ngẫu lúc về già, chỉ là cái bóng mờ nhạt. Có nhiều Ông Cụ Cố ngày xưa, chỉ thức với nhau để có một bầy con, chứ không bao giờ chịu ngủ chung với nhau cho đến cuối đời. Khi vợ ở cữ thì ba tháng mười ngày mới vào gặp vợ, trước khi ngủ với “vợ” thì thắp nhang trình vái ông bà, thực dụng và tàn nhẫn với người đàn bà đến thế là cùng. Trẻ đã vậy, nói chi đến tuổi già, ngày mà “lửa đã tắt, bình đã khô rượu”. Phải chăng tuổi già ngày nay không có những mối tình đẹp như mối tình Romeo- Juliet cổ điển của tuổi mới lớn ngày xưa. Ông già Ettore người Ý, 70 tuổi, đã ngồi suốt bốn tháng bên giường vợ, kể từ khi bà bị stroke và hôn mê.
Thời gian quá dài đã làm cho ông già tuyệt vọng, ông đã về nhà, vào garage đóng kín và tự tử bằng chất thán khí để “sống chết có nhau”. Chỉ hơn một ngày sau, bà Rossa hồi tỉnh, câu hỏi đầu tiên của bà là “ông ở đâu?” Khi biết rằng người bạn đời của mình đã không còn nữa, tuyệt vọng như Juliet khi thấy Romeo đã chết, bà Rossa đã tự sát để được chết theo ông.
Trong cộng đồng người Việt ở Úc có một đôi vợ chồng già thương yêu và sống với nhau đã hơn nửa thế kỷ sau hôn lễ. Đó là cụ ông Phạm Văn Thạch và cụ bà Đỗ Thị Sậu. Hai ông bà đã có 18 con và dâu rể, 64 cháu nội ngoại và 31 chắt. Vào tháng 8- 2005, cụ Thạch đã qua đời vào tuổi 87 và sau đó chỉ một ngày, cụ bà, 86 tuổi, cũng lặng lẽ ra đi một cách bình yên. Lúc sống họ không rời nhau nửa bước, bây giờ tại nhà thờ lớn ở Liverpool, quan tài của hai cụ đã để gần nhau, như 66 năm về trước, họ đã đứng cạnh nhau trong lễ thành hôn trước bàn thờ. Một người bạn từ xa về ghé ở lại nhà chơi vài hôm, lúc ra đi chúng ta còn thấy trong nhà trống vắng, huống gì một người bạn đời đã sống với chúng ta cùng bao nhiêu vui buồn trong vòng ba, năm mươi năm. Rồi ra, dù thương yêu nhau tới mức nào, tạo hóa cũng không bao giờ sắp xếp cho hai người cùng ra đi một lần. Sống với nhau hết lòng, thương yêu nhau cho trọn vẹn. Chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cảnh đời đen bạc, lúc sống chẳng ngó ngàng tới nhau, lúc chết mới “trình diễn” trước quan khách sự thương tiếc của mình với những lời kể lể dành cho vợ, cho chồng.
Nếu con người thật sự có linh hồn và quanh quẩn đâu đây, thì những lời giả dối của người phối ngẫu làm cho người chết tức giận, còn nếu người chồng thực lòng yêu thương, hối hận thì linh hồn người ra đi cũng thương cảm, bịn rịn. theo nhà Phật, cả hai điều đều không thể làm cho linh hồn siêu thoát. Người ta kể lại rằng, một người đàn bà nọ lúc sống đối với chồng chẳng ra gì, lúc chồng chết đã nằm trong quan tài, trước mặt họ hàng, người vợ khóc lóc, kêu gào, lăn xả vào chồng đòi được chết theo. Khi người ta đậy nắp quan tài, thì những sợi tóc của người vợ bị vướng vào. Trong cơn hoảng loạn, bà vợ nghĩ rằng chồng lôi kéo bà ta chết theo, nên bà bèn đổi giọng, hốt hoảng van xin: “mỗi người mỗi nghiệp, anh chết nếu có linh hiển, thì xin đừng bắt tôi theo!”đúng như câu thơ “Nào ai dễ có lòng chân thật, Ở thế tin gì miệng đãi bôi!”(NT)
Xin tặng những đôi vợ chồng già, những đứa con có cha mẹ gần đất xa trời, những bạn bè muôn thuở những dòng thơ sau đây, mà chúng tôi không rõ tên tác giả:
“So, if you love me, even a little bit
Please tell me now.
If you wait until I am sleeping,
Never to awaken
There will be death between us
And I won’t hear you then.”
Xin tạm dịch là:
“Nếu thật lòng đã yêu tôi
Xin anh bãy nói những lời hôm nay
Đừng để muộn … tới ngày mai
Khi tôi đã ngủ giấc dài mộ sâu
Lời anh nói – Tôi nghe đâu!”
Phải rồi, cho nhau ngày hôm nay, ngày mai chẳng có gì để phải hối hận.
Do một nguyên tắc tự đặt định từ khi bắt đầu cầm viết, 1968 và tuân thủ đến hôm nay: Không viết điều sai quấy, xúc phạm đến tính chất cá nhân người khác (cho dù đối với những nhân sự cầm quyền chính trị-quân sự thuộc phía đối phương cộng sản). Nhưng đến hôm nay, nhân ngày 20/7/2026, sáu mươi-hai năm sau lần ký kết Hiệp Định Đình Chiến Geneve/The Geneva Armistice, hiệp định ký kết do hai đại diện (cấp thứ trưởng Pháp-Việt Minh) ấn định lần chia cắt tạm thời hai miền đất nước – Là tiền đề chiến cuộc 1960-1975, gây nên hậu quả, hệ quả nguy hại sâu xa đối với vận mệnh Việt Nam-Toàn thể đất nước Việt Nam mãi đến hôm nay.
Và hôm nay, hơn 50 năm/nửa thế kỷ sau 1975, những thế hệ người Việt sinh sau 1975 trong và ngoài nước phần đông vẫn lập lại những “luận điệu tuyên truyền quần chúng” của đảng cộng sản Hà Nội chủ trương, thực hiện trong những thập niên 1950, 60, 70… và tiếp tục sau 1975! Hóa ra, thành phần thế hệ trẻ nầy đã KHÔNG THẤY/KHÔNG HIỂU ra được một phần căn bản: Cộng sản/Cộng sản Việt Nam là Ai? Như thế nào? cho dẫu họ đang sinh sống, học tập, làm việc tại các nước “tư bản” Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Mà phần đông (lại) không muốn trở về VN! Tại sao? Thế nên, bài viết phải được viết nên.
Dẫn Nhập:
Sinh hoạt nhân gian thông tục Miền Nam có phương cách gọi (theo) thứ bậc thai sinh: Anh Hai, Chị Ba… Không có “Anh/Chị Cả” cốt né tránh (kỵ, húy) thứ bậc “Cả” của Hoàng Tử Cảnh, “Con Cả” Chúa Nguyễn Ánh, nên gọi trại “Cảnh thành Kiểng – Chơi Kiểng, Đình Tân Kiểng, Kiểng chùa…”.
Nơi Miền Nam, giới nhà binh thuộc những thế hệ 1930, 40, 50… thêm thắt, điều chỉnh lối gọi trên bằng cách thêm vào tộc danh những nét/tính (độc đáo) của đối tượng (muốn) đề cập nhằm phân biệt người nầy, kẻ khác. Ví dụ: Ông “Minh Râu”/Tư Lệnh Không Quân (1967-1975) nhằm phân biệt với “Minh Bự”, người hai lần giữ chức quốc trưởng, lập nên thành tích đánh sập hai nền cộng hòa (1963, 1975), cũng để xác định không phải là ông “Minh Đờn”, Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa (1971-1973).
Trong tinh thần, với thuật dụng (bất thành văn) kể trên, thế hệ trẻ tuổi (trong, ngoài quân đội) miền Nam chế biến, bày đặt thêm hai tính từ/hình dung từ rất ấn tượng: Đĩ và Điếm. Phải nói ngay, đây không là hai tính chất, hình thái mang tính phủ định/chê trách; cũng không phải để mô tả về một “nghề/nghiệp” không mấy thiện lành của những người nữ (lỡ hoặc cố ý) sa vào cảnh đoạn trường tương tự Thúy Kiều; hoặc diễn dịch những tay quá quắt như gã Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Trong nhiều trường hợp (lại) là đánh giá cao (gián tiếp) những anh đàn ông “hình dung chải chuốc, áo khăn dịu dàng” như nhân vật Thúc Sinh trong Truyện Kiều, hoặc những tay chơi có thành tích ái tình lừng lẫy cỡ Don Juan, Casanova của văn học, xã hội cổ điển Tây Phương.
Nhưng “Đĩ/Điếm” không chỉ là nét đan thanh thông tục của sinh hoạt nhân gian như trên vừa trình bày mà lịch sử VN từ 1945, 1946… dài đến 1954, 1960, 1968, 1972… trước, sau 1975 gần một thế kỷ đã cho thấy: “Đĩ-Điếm lại là đỉnh cao trí tuệ” từ diễn tiến vận động quân sự, chính trị, ngoại giao có “tính tiến công cách mạng hơn hẳn” của “Bác và Đảng ta”. Bài viết dưới đây xin được thật chứng minh.
Một.
Váo khoảng năm 1955, khu sân Bệnh Viện Đà Nẵng đường Lê Lợi (Trước Trường Phan Châu Trịnh, xây 1954, bị nhà nước cộng sản đập phá sau 1975) trước khi giao cho Sở Học Chánh Đà Nẵng mở Trường Nam Tiểu Học có cuộc triển lãm tranh ảnh về Việt Minh (Chưa có từ thông dụng Việt Cộng sau nầy). Thằng bé mười-hai tuổi vào xem triển lãm, nhìn thấy bức hình ông Hồ Chí Minh ngồi giữa một đám thiếu nữ mặc áo dài trắng với lời chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu không hiểu rõ nghĩa thế nào là “dâm bôn”, nhưng nhìn cảnh tượng một ông già (với râu dài) vây quanh bởi đám con gái, đàn bà thằng bé (cảm) thấy ra có điều gì kỳ chướng, bất thường – Do phản ứng (thẹn) của đứa nhỏ thụ nhận cách giáo dục thông thường của học đường, gia đình, xã hội người Việt từ Thế kỷ 19, 20 trước, sau 1954 – Nền giáo dục căn bản dạy người, liên hệ hai phái nam/nữ là một điều kín đáo, cần che dấu.
Tiếp theo những năm sau lần ra trường Đà Lạt 1963, đi hành quân lục soát những căn cứ địa Việt cộng, người lính vô tình tìm thấy tài liệu, hình ảnh “Bác Hồ với thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam/Không có giới thanh niên” ra thăm sau 1960 (Thời điểm thành lập Mặt Trận Giải Phóng 20/12/1960) – Ảnh nào trông ”Bác cũng rất “đã” khi ôm hôn các em, cháu gái – Với phản ứng kinh nghiệm tự nhiên của đàn ông (chưa tới 30), bản thân hiểu ra khoái cảm (sinh tâm lý) của phái nam (lớn tuổi) khi tiếp xúc với phụ nữ trẻ, thiếu nữ và thiếu niên nhỏ tuổi/Khuynh hướng tính dục ấu dâm. Sau nầy, khi đọc bài viết và hình ảnh từ cuộc phỏng vấn (20/4/1966) của ký giả Úc Wilfred Burchett đăng trên tuần báo Life thì cảm giác về một “Bác Hồ với phản ứng sinh tâm lý mạnh mẽ kích động nhục cảm” càng thêm cụ thể rõ rệt. Cảm giác, phản ứng mà Burchett đã diễn tả: “Bác Hồ là một nhân cách lớn nhất mà tôi chưa hề gặp, người với phong thái thuần nhã giản dị với ”tính nhân bản” cao nhất”.
Nhưng không chỉ chừng ấy, cảm giác của đứa nhỏ năm 1955 khi nhìn thấy hình ảnh “Bác Hồ vây quanh bởi đám thiếu nữ”; hoặc phản ứng của gã lính trẻ do hiểu ra mối kích động nhục thể từ những tấm hình “Bác hôm hôn, ôm các cháu thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam ra thăm” … Tất cả cộng với hình ảnh, nhận định của Burchett nói rõ viết trên báo Life trong năm 1966 có thể đưa đến kết luận chung nhất: Bác “Đĩ” thật/Bác rất “Đĩ”. Nhận định có thêm chứng cứ: Bộ ảnh bác thăm Ba Lan năm 1950 do Lisa Larsen (1925-1959) cũng của Báo Life bấm ảnh. Bộ ảnh có những những tấm hình rất ướt: Khi Bác ôm hôn môi vợ thủ tướng cộng sản Ba Lan Cyrankiewicz (1911–1989); hoặc khi bác nhân cơ hội hôn bó hoa (tặng) lẫn người nữ cầm hoa. Những bức ảnh đẹp và “mặn” đến nỗi bác không dằn lòng nên đã ngỏ lời tán Lisa: “Nếu còn trẻ tôi đã yêu cô rồi!” Bác nói thật chứ không hề đãi bôi.
Tháng 2, 1959 trong lần thăm viếng Indonesia, bác 69 tuổi (theo khai sinh chính thức, 1890) đã thố lộ với một bé gái: “Em đẹp lắm!” sau khi đã hôn đủ “ba phùa” ngọt lịm: Ôm hôn bên trái – Ôm hôn bên phải – Hôn môi! Bác hôn ướt đến nổi báo The Straits Times, số ra ngày 8 Tháng 3, 1959 (Hiện lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Singapore) phải đăng lời báo động: “Nên bảo Chủ tịch Hồ phải ngừng hôn hít con gái…/President Ho is told to stop kissing girls…”. Bác không những chỉ hôn đàn bà, con gái, trẻ nít… Bác hôn cùng khắp. Bác hít đủ loại: Bác ôm hôn Thủ Tướng Ấn Độ Nehru, Bác ôm hôn ông da đen quốc trưởng Châu Phi, Bác ôm hôn đồng chí Liên Xô da trắng… Lẽ tất nhiên đồng chí vĩ đại Trung Quốc những là đối tượng không thể thiếu: Bác ôm hôn (chằm chặp) Chủ Tịch Quốc Vụ Viện/Đồng Chí Thủ Tướng Châu Ân Lai đến méo mặt, ngộp thở nhân lần đến Liễu Châu, nam Trung Hoa dự hội nghị mật quyết định số phận Việt Nam (3-5/7/1954). Chuyện “hôn, hít” của Bác đến đây tạm đủ. Bài viết qua chủ đề thứ hai: “Điếm”
Hai.
Bác không chỉ “Đĩ chất lượng” như trên. Bác còn “Điếm đúng tiêu chuẩn” hơn hẳn. Nếu phần trên “Đĩ” đã được bổ túc, xác chứng qua nhận định của Burchett. Tuy nhiên với bản năng/kỹ năng/tri thức của một người phương Tây (vốn) thuần lý, Burchett chưa biết/không thể biết những khả năng/tính chất/việc làm THẬT sau đây của “Bác” đối với những người từng liên hệ… Jean Sainteny (1907-1978), Ủy Viên Cộng Hòa Pháp, người đã nhảy dù xuống Hà Nội (10/1945) để tiếp xúc với “Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh” nhằm thực hiện kế hoạch (không tưởng): Thiết lập “quan hệ ngoại giao với chính phủ HCM – Một tổ chức chính trị chưa được bất kỳ quốc gia nào công nhận kể từ lần thành hình 2/9/1945 tại Hà Nội” có mục đích tái lập, duy trì quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương, hớt trên tay Đồng Minh, cụ thể đối với Mỹ. Kế hoạch ngoại giao (không thực tế) do Sainteny thiết kế, xác lập đã bị phá bỏ bởi chiến tranh Pháp-Việt Minh (19/12/1946-20/7/1954). Nên năm 1972, trong hồi ký cá nhân Sainteny đã phải kêu lên: “Ông ấy con như cáo muốn vồ lấy tôi”–Dẫu rằng Sainteny luôn kỳ vọng: “HCM (vẫn) là một Gandhi của Đông Dương!”
Nhưng không chỉ một mình Sainteny bị “Bác phỉnh” mà Tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương (sau 8/1945), khi đưa quân từ Nam ra Bắc (thay thế quân Quân Dân Dảng Trung Quốc của Lư Hán) trong ngày 18 Tháng 3, 1946 đã có quyết định “… Nên bàn thảo với Việt Minh với mọi giá vì vấn đề “chống cộng sản (Việt Minh) hoàn toàn không cần thiết?!”. Dẫu Leclerc hiểu hơn ai hết: “Hồ là người của Cộng sản Liên Xô nhằm thực hiện thống trị thế giới.” Cũng hiểu (rõ) Hồ tương tự như thế, nhưng Cao Ủy Đông Dương Thierry D’Argenlieu vẫn rất vui thích khi ra Hà Nội trong Ngày 19 Tháng 5, 1946 được một rừng cờ đỏ sao vàng chào đón – Vì Ngày 19 Tháng 5 là “sinh nhật bất ngờ” do Bác (vừa) dựng chuyện/thông báo để Thư Ký (riêng của Bác) Vũ Đình Huỳnh (1908-1990) ra lệnh tổ chức khẩn cấp từ đêm trước! Vụ (giả) chào cờ mừng Cao Ủy Pháp không đi tới đâu, nên chỉ sau mấy tháng, Ngày 19 Tháng 12, 1946 chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ với máu xương của bao người Việt, lính Pháp đổ xuống cho đến ngày 7 Tháng 5, 1954 lần cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ – Tiền đề ký Hiệp Định Đình Chiến Genève, 20/7/1954 – Buộc Pháp nhường nửa nước Việt Nam cho Việt Minh, 1954 – Mất trọn Đông Dương, 1956 – Mất Algérie, 1962… hiện thực “Thơ khẩu khí của Bác” khi thăm đền Trần Hưng Đạo: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng!”
Bác không chỉ “điếm” đối với những đối thủ chính trị cao cấp, tầm cỡ quốc tế, bác giở trò điếm cùng khắp, bất kỳ lúc nào, với bất kỳ ai. Sau 15 Tháng 8, 1945 về Hà Nội, bác và thành phần lãnh đạo Việt Minh được vợ chồng ông bà Trinh Văn Bô (1914-1988), nhà tài phiệt lớn nhường cho căn biệt thự số 48 Hàng Ngang để lập trụ sở chính phủ lâm thời; ông bà Bô còn góp 5.147 lượng vàng vào ngân quỹ nhà nước (vốn không có một xu nhỏ). Vợ chồng ông bà Bô lo từ miếng ăn đến áo quần (loại hàng vãi đắc tiền) để xứng danh vị chủ tịch nước VNDCCH (?!). Nhưng đến mỗi bữa ăn, bác “diễn xuất” lấy một lon gạo đổ vào “hủ gạo bác Hồ” để cứu dân đói! Bác vừa đổ gạo vào hủ vừa thấm nước mắt! Bác “thương dân” chăng? Không phải! Hãy xem trường hợp Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953), chủ cơ sở thương mãi lớn Cát-Hanh-Long ở Hải Phòng.
Bà Nguyễn Thị Năm là chủ nhân khu đồn điền ở Thái Nguyên nơi đã tiếp đón, nuôi ăn hầu hết đám cán bộ trung ương Việt Minh trong những ngày trước Tháng 8, 1945, trước khi bác khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, 2 Tháng 9, 1945 tại Hà Nội. Tương tự như ông bà Trịnh Văn Bô, Bà Năm góp 20.000 ngàn bạc Đông Dương, tương đương 800 lượng vàng cho chính phủ của bác làm ngân quỹ. Tuy nhiên, dù đang lúc chiến tranh với Pháp, (vừa) nhận tiền/vàng của Bà Năm, bác (lại) lên kế hoạch “giết” người ân nhân để đạt chỉ tiêu “5% địa chủ/Hộ nông dân đề ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956). Bà Năm là đối tượng điễn hình, đầu tiên được bác chọn trong kế hoạch đấu tố. Bác giết người ân nghĩa đối với bản thân mình với chữ!
Hãy đọc Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù, in 2014 do Cơ Sở Người Việt Book, Nam Cali:”… Để phối hợp với bài viết của tôi (Trần Đĩnh) trên Báo Nhân Dân (Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản VN từ 1950), có một người viết ký tên “CB/Của Bác – lại một bí danh nữa” gởi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Bài viết có nội dung: “Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con (cán bộ chỉ huy quân sự Việt Minh) và mấy tên lâu la với các tội, con số cụ thể (Đèn Cù, trg 85).”
Bà Nguyễn Thị Năm bị đưa ra đấu/giết để dọa quần chúng nhưng không “được chết” một cách yên lành mà với cảnh tượng kinh hoàng: “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh…” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liên nổ sát lưng… Mua được áo quan thì không cho (xác) bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miệng cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này!!” Nghe xương kêu răng rắc!! Cuối cùng xác bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy…” (Đèn Cù, trg 86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của Bác, Trần Đĩnh viết rõ hơn: ”… Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm chỉ cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. (Đèn Cù, trg 84)
Tóm lại, thành tích giết bà Nguyễn Thị Năm đã được chỉ đạo/thực hiện/chứng kiến nhất quán với quyền giết người của Bác. “Tôi (Trần Đĩnh) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (Đèn Cù, trg 90). Nhưng Bác được tay em (Hoàng Tùng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) chạy tội trong hồi ký: “Thật ra Bác cũng chỉ là kẻ thi hành vì mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải Cải Cách Ruộng Đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện!!” Nạn nhân Miền Bắc bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) hãy nhớ: Bác bị buộc phải giết người theo lệnh của Nga-Tàu, dẫu Bác rất “thương dân”. Bác đã khóc nhận lỗi trên Đài Hà Nội vào ngày 18 Tháng 8, 1956. Bác khóc thật.
Ba.
Rõ ràng “nước mắt Bác” trong màn khóc lóc kể trên không đủ xóa trôi tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Nhưng không chỉ có thế, Tết Mậu Thân, 1968 bác ban lệnh Tổng Tấn Công-Tổng Nổi Dậy thanh toán Miền Nam với “Thơ/Thơ Chúc Tết”: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. Nhưng (cũng) không phải chỉ là thơ xúi giục khởi động cảnh máu xương, hãy xem lại «tuyệt chiêu điếm» của bác: “…Sau hội nghị trung ương 14, đầu tháng 1, 1968 bác lỉnh đi Bắc Kinh lấy cớ chửa bịnh (?!). Và đêm 31 Tháng 1, 1964 khi toàn miền Nam chìm trong khói lửa của cuộc tổng tiến công do bác khai hỏa, trong căn phòng vắng ở Bắc Kinh với thư ký Vũ Kỳ, bác cười hả hê (chẳng có gì là bịnh hoạn) nghe một em bé Hà Nội hát bài “Bé bé bồng bông..” và thưởng thức «Thơ Chúc Tết » của chính mình (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/Cuốn II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).
Sau hai đợt tổng công kích (Tháng 1 và 5, 1968), chiến dịch thất bại (về mặt quân sự), bác (lại) lấy cớ giải thích với Chủ Tịch Mao ở Bắc Kinh và trung ương đảng Hà Nội: «Bản thân bác không chủ trương tổng tấn công quân sự (để giữ sức đảng, yêu nước, thương dân…) mà chỉ cốt thực hiện chiến lược Chiến Tranh Nhân Dân/Dùng Nông Thôn Bao Vây Thành Thị – Chủ trương của Chủ Tịch Mao – Trái với kế hoạch tổng tấn công với hỏa lực do Liên Xô cung cấp –Trong giai đoạn Liên Xô –Trung Cộng đang ở cao điểm chống đối. Cuộc tổng tấn công còn là một thất bại nghiêm trọng đối với lực lượng vũ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN – Con bài chính trị của Bắc Kinh cốt nhằm làm yếu thế/lực/áp lực của Hà Nội. Sau ký kết Hiệp Định Ba Lê 27/1/1973, Ngày 30/4/1975 nhận định nầy càng được thật xác chứng.
Tóm lại, Bác né thất bại Mậu Thân, đổ trách nhiệm qua Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, hai nhân sự có thực quyền, thực lực trong Bộ Chính Trị không được Bắc Kinh cho điểm tốt – Và (nếu) thắng thì Bác (sẽ) lấy phần «đọc Thơ» đã ra lệnh tổng tấn công – Quả thật, Bác là bậc thầy (chạy) của «Kế mưu tuyệt điếm/Tá đao sát nhân/Mượn dao kẻ khác để giết người ». Lịch sử điếm đông-tây kim cổ khó ai qua mặt. Cỡ Tào Tháo, Lưu Bị cũng xoàng.
Bốn.
Nhưng bác không « Điếm độc diễn ». Bác có những tay em, những học trò «Kiệt xuất với cường độ điếm» không kém bác: Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân-Bộ Trưởng Quốc Phòng Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp. Trước khi trình bày «năng lực, mức độ điếm » của Võ Giáp (Tên thật), bản thân người viết cần nói rõ một phản ứng có tính cách cá nhân đối với nhân sự tên tuổi nầy. Đấy là do bản năng, phản ứng của một người lính chuyên nghiệp, bản thân rất khâm phục khả năng, trí năng của Tướng Võ Giáp về mặt quân sự – Khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy hai cuộc chiến tranh vượt thắng hai đối thủ hơn hẳn về vũ khí, kỹ thuật. (Phần thất bại của hai lực lượng quân đội Pháp, Mỹ không thuộc về nội dung của bài viết nầy). Nhưng song song với sự thán phục về mặt quân sự đối với Võ Giáp, bản thân thấy rõ một điều bất cập nơi con người nầy: Cách thức ăn mặc, màn hí kịch «diễn xuất» lộ liễu bày ra bản chất nhỏ nhen, tầm thường của một viên đại tướng lừng lẫy: Luôn «diện» veston, thắt cà-vạt, đội mũ phớt theo mode «công tử Hà Thành» thông dụng trước, sau 1945 tại Hà Nội. Khổ nổi, những bộ đồ mồi của Giáp là những chiếc áo veston cũ, cà-vạt màu mè nhăn nhúm vì đang ở «chiến khu» ; nhưng khi đi duyệt binh đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân trong ngày 22/12/1944, Giáp lại đeo thêm súng colt ngang hông, chân đi giày botte cao cổ của lính cỡi ngựa – Hình tướng của một kép hát bội diễn dỡ. Võ Giáp không chỉ «diện » như trên để «hù » đám du kích quê mùa quần cộc, chân trần, đương sự để nguyên bộ khi chụp hình với tổ Biệt Kích OSS Mỹ trong cảnh núi rừng Tây-Bắc (có lẻ) nhằm nâng «tác phong (văn minh) của một đại tướng» -Xuất thân là một ông gíáo trung học dạy môn sử địa được « Chủ tịch Bác» ngang xương phong cấp đại tướng theo ngẫu hứng. Những điều tầm ruồng về áo quần, cách diệu võ, giương oai của Võ Giáp không hề ngẫu nhiên dần được hiện rõ qua những việc như sau…
Từ đầu tháng 1/1968 Võ Giáp đã «bị/được» Lê Duẩn, Lê Đức Thọ « bố trí » cho đi Hungary chữa bệnh (?!). Ngày 28/1, trên đường từ Hung trở về nước, Võ Giáp ghé Bắc kinh xin gặp Chủ Tịch Mao. Mao không tiếp, còn ra lệnh đàn em đãi cơm cho Giáp với một cái chén mẻ (Mao ghim Giáp vì đánh giá Giáp là phe của Mạc Tư Khoa). Giáp ngồi tỉnh ăn cơm Tàu với cái chén mẻ bằng thái độ «khôn ngoan » của AQ, nhân vật vô sản Trung Cộng được Lỗ Tấn (1881-1936) mô tả qua kỹ thuật khôi hài (đen) với chước láu cá gọi là «thắng lợi tinh thần ». Ví dụ, như khi bị đánh, bị chưỡi, bị trò đểu thì hãy nghĩ “chúng đang đánh, chưởi, chơi đểu bố của chúng”. Tương tự như thế, Võ Đại Tướng tỉnh bơ nâng cái chén mẻ với lý luận khôn ngoan – Ăn chén mẻ cũng là ăn cơm Tàu/Coi như ta ăn cơm của bố thằng Tàu! Ngày 29 Tết, máy bay Trung cộng đưa Giáp về Hà Nội. Giáp luận tiếp: «Nó/Thằng Tàu chơi đểu ta nhưng vẫn phải đưa ta về bằng máy bay chúng». Triết lý «thắng lợi tinh thần » của AQ được Võ Giáp thực hiện đúng. Hôm sau Tướng Giáp được Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích-Tồng Khởi Nghĩa”–Kế hoạch thay đổi hẳn cục diện chiến tranh VN, Võ Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản (cách «khôn ngoan/chịu trò điếm» của AQ để che dấu niềm cay đắng: Bộ Trưởng Quốc Phòng- Tổng Tư Lệnh đã không được biết một kế hoạch thay đổi vận mệnh quốc gia trước khi nổ súng CHỈ ĐÚNG MỘT NGÀY (Sách Huy Đức sđd; trg 159). Sau nầy khi được hỏi về «thất bại Mậu Thân», Võ Giáp nói nước đôi/của ngón «võ điếm» chân truyền: « Đợt Một (1-2/1968) «chưa » có kết quả cụ thể mà mở đợt Hai (2/1968) là « kém cơ sở!» Dẫu Giáp biết thua nặng nhưng do «ngón điếm» có sẵn, ông đại tướng không dám nói rõ, phần rất ngán Duẩn và Thọ vốn ghim Giáp từ lâu!
Năm
Tướng Giáp không những “điếm mà còn (rất) ác” không kém ông bác. Xin xem câu chuyện sau đây giữa Võ Giáp và nữ ký giả người Ý Oriana Fallaci (1929-2006). Cuộc gặp diễn ra tại Hà Nội trong Tháng 2, 1969, được kể lại trong sách Phỏng Vấn (với) Lịch Sử/Interview with History (NXB Houghton Miffilin Co Boston, chuyển dịch, tái xuất bản bởi Liveright Newyork, US. 1977). Buổi gặp mang tính chất “nói chuyện” giữa hai người hơn là một cuộc phỏng vấn đúng nghĩa về những vấn đề nghiêm trọng thuộc lãnh vực ngoại giao-chính trị-quân sự, nên có lúc Fallacio dùng danh xưng “thưa ông” thay vì “thưa đại tướng”. Vì chỉ để “nói chuyện” nên Fallaci đã hỏi những vấn đề mà (nếu) là cuộc phỏng vấn chính thức người hỏi thường tránh né hoặc dùng những hình thức đối thoại khác. Fallaci hỏi về Điện Biên Phủ (11/1953-5/1954), chiến thắng của bộ Đội Việt Minh do Giáp chỉ huy (trên danh nghĩa) chứ trong thực tế do Cố Vấn Trung Cộng La Quý Ba, Vi Quốc Thanh quyết định toàn thể về vũ khí, quân trang, quân dụng cho chiến trường, và do các Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn về tham mưu, chiến thuật. Tuy nhiên, đây không là chủ điểm của cuộc nói chuyện.
Hỏi về Điện Biên Phủ, nhưng Fallaci không đề cập đến khía cạnh vinh quang của Võ Giáp/Việt Minh, nhưng lại hỏi về cái giá tổn thất 45 ngàn bộ đội Việt Minh. Và Võ Giáp đã trả lời rất tỉnh: “Cứ hai phút, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Có nghĩa lý gì với 45 ngàn bộ đội chết tại Điện Biên Phủ?!” (O.F. sđd, trang 67). Fallaci lại cố “truy” Võ vấn đề thứ hai:”… Mặc dù mọi người đều đồng ý là cuộc tổng tấn công Tết (Mậu Thân 1968) là một thắng lợi tâm lý lớn. Nhưng về mặt quân sự, ông có nghĩ rằng đây là một thất bại không? Vì trên tổng quát, đứng về mặt chính trị cũng không hẳn là hoàn toàn thắng lợi! Dân chúng không nổi dậy. (Phía cộng sản-Pnn) chỉ chiếm đóng ở Huế trong khoảng một tháng. Ở Huế có những đơn vị lính Miền Bắc… Thưa Đại Tướng, phía Mỹ bảo rằng ông đã mất đến nửa triệu (lính), tính đến 1969” (O.F. sđd, trang 82).
Võ Giáp (thành thật): “Sự thiệt hại đúng là như vậy… Nhưng Mậu Thân là một vấn đề nhạy cảm. Cô nên hỏi phía Mặt Trận thì rõ hơn. Tôi không thể xét đoán vấn đề nầy, những gì xẩy ra nơi chiến trường. Tổng tấn công Mậu Thân không thuộc (quyền tôi-Tất nhiên). Cũng không thuộc về chúng tôi (Ai là “chúng tôi”-Pnn). Chiến dịch do Mặt Trận thực hiện (O.F. sđd, trg 83) Cuối cùng, khi Oriana Fallaci hỏi về chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu với người dân (VN) khốn khổ phải chịu đựng, hy sinh và chết? Võ Giáp lập lại chiêu cố thức “Điếm” cố hữu của Bác-Với Sự Ác: “Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Như Bác Hồ của chúng tôi đã từng nói… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” (O.F. sđd, trang 87)
Hậu Từ:
Bài viết đã khá dài, tôi phải chấm dứt do tâm trạng (nặng) não nề với câu (tự) hỏi: Có thể nào như thế? Chẳng lẻ những nhân vật quá quắt trong tiểu thuyết như Vi Tiểu Bảo của Kim Dung (1924-2018) hoặc Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là những con người có thật Với Lịch Sử- Giữa Con Người- Trong Cuộc Sống? Gã Xuân Tóc Đỏ xuất thân là kẻ nhặt banh trong sân quần vợt biến thành “Người Ái Quốc, xây dựng, giữ vững nền ngoại giao, hòa bình giữa hai nước An Nam-Xiêm La?” Tương tự như thế qua sự THẬT: Lucien Emile “Lou” Conein (1919-1998) chỉ là một nhân viên CIA trung cấp, nhưng chỉ với bao tiền 42,000 Đô-La đem vào văn phòng Tướng Trần Thiện Khiêm trong ngày 1/11/1963 đã đủ để bảo chứng cho một kế hoạch sát nhân gồm những nhân vật tài trí của quân đội VNCH: Đại Tá Lê Quang Tung (1926-1963), Hồ Tấn Quyền (1927-1963)… và tiếp theo Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1900-1963), người khai sinh VNCH, mà ngày Tết 1962/1963 (vừa) nhận cành hoa đào từ Hồ Chí Minh gởi từ Hà Nội với lời xưng tụng: “Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách (riêng) của ông ấy”. Nhưng cũng chính Bác Hồ nhân nghĩa nầy là người đã khởi động, lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh:”… Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” như trên đã trích dẫn.
Bác không nói suông. Bác làm thiệt qua lần “tâm sự” với Madelein Riffaud (1924-?) Tháng 6/1964 trong vườn nhà bác tại Hà Nội. Riffaud, nữ phóng viên, nhà thơ vốn là “nữ kháng chiến quân” của phong trào xã hội/cộng sản Pháp trong chiến tranh trước, sau 1945. Bác không nói với Riffaud với vị thế cách chủ tịch nước VNDCCH mà với tính cách “câu chuyện giữa chúng ta” – Cách thức mà bác thực hiện vô cùng “nhân bản” với Burchett (1966) hoặc giữa Võ Giáp và Onario Fallacci (1969). Nói chuyện với cách nhìn thăm thẳm “nhân bản, mưu lược, chen lẫn ác hiểm” khiến Fallaci dẫu đã gặp đủ mặt Kissinger (Mỹ), Arafat (Palestine); Hussein (Jordan)… cũng phải chột dạ. Đấy mới là Võ Giáp, chỉ là “học trò” của bác – Huống chi gặp phải tay bác vừa phà khói thuốc, vừa nâng ly rượụ, ngồi sát bên cạnh… Sức mấy “em” nhỏ 40 tuổi (sinh 1924-1964), đến từ Paris, đất Pháp chịu đời cho thấu? Đến cỡ Sainteny còn phải kêu lên suýt nữa bị bác vồ từ 1945, 1946. Hóa ra Đĩ và Điếm không là tính chất mà là Thuộc Tính của Người. Biểu tượng sụp đỗ của Babylon trong Khải Huyền của Thánh John là con Điếm Vĩ Đại với Màu Đỏ thẫm máu tươi.
Toan Ánh, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tên thật là Nguyễn Văn Toán sinh tại Thị Cầu, Bắc Ninh năm 1916 và mất năm 2009 tại Sài Gòn, thọ 93 tuổi.
Toan Ánh bắt đầu viết văn từ năm 1934. Kể từ đó, ông gắn bó mật thiết với đề tài văn hóa truyền thống của Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc vào Nam. Ông để lại cho đời khoảng 124 tác phẩm có giá trị học thuật.
Tóm lại ông Toan Ánh là một cây đa, cây đề trong giới biên khảo của người Bắc di cư vào Nam. Sau nầy cả hai, ba chục năm sau 75, ông Toan Ánh được giới văn nghệ CS Miền Bắc tâng bốc, ca tụng ông lên tới tận mây xanh.
Riêng tui thì tuân theo lời dạy ông bà mình: “Ðọc sách mà tin hoàn toàn vào sách thì đừng đọc!” Ðọc mà mù quáng, cứ tin những câu chữ của các nhà văn nổi tiếng viết ra như thánh phán, lúc nào cũng đúng 100% thì xét cho cùng có hại hơn là có lợi! Thế nên thái độ đọc sách đúng nhứt là bao giờ cũng mang theo câu hỏi tại sao, tại sao và tại sao? Cứ lý giải sự kiện theo sự suy nghĩ của riêng mình. Ðừng cho mình lúc nào cũng đúng; hoặc sợ nói ra sai thiên hạ sẽ cười mình.
Chính vì dám uống thuốc liều (mạng) như vậy nên tui làm gan cà khịa với ông Toan Ánh về một chuyện vầy nè: Chẳng qua ca dao quê mình có câu:
“Tàu súp lê một! Còn trông còn đợi! Tàu súp lê hai! Còn đợi còn chờ!
Tàu súp lê ba! Tàu ra biển Bắc…Tay anh vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng. Anh lấy khăn mu soa ra chặm. Cái điệu vợ chồng ngàn dặm không quên!”
Ông Toan Ánh cắt nghĩa như vầy: “Thực dân Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, một anh lính khác.
Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây?
Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.” (Trích tác phẩm “Hương Nước Hồn Quê”, tác giả Toan Ánh, NXB. Thanh Niên).
Cuốn sách nầy của ông là do CS in lại. Và trước khi in, họ kiểm duyệt từng chữ, từng câu để loại ra những gì không theo đúng những điều đảng muốn. Rồi đôi khi cả gan thêm vào những câu nịnh bợ đảng (ta), chửi bới kẻ thù để kiên định lập trường theo ‘Ðề cương Văn hóa Việt Nam’ của Trùm CS Trường Chinh. Thế nên mấy bố phụ trách biên tập sợ nếu sơ suất làm xổng chuồng một câu nói dù chỉ ‘xỏ ngọt’ đảng ta, sẽ đưa đến một hậu quả đắng nghét là bể nồi cơm của bu nó!
Thú thiệt tui không biết chính xác 72 phần dầu là ông Toan Ánh có viết như vậy hay không? Tuy nhiên sách đề tên tác giả là Toan Ánh thì tui cứ tạm tin là ông Toan Ánh đã viết như vậy đi để có cái mà cãi cho vui cửa, vui nhà trong tháng Giêng ăn chơi rồi nói dóc.
Ông Toan Ánh viết như thế, tui không đồng ý! Tui cho rằng: Ðây ắt là lời của một anh chàng nông dân nghèo khổ, đang có con vợ mà lại bị bắt đi lính cho Tây trong Ðệ nhứt Thế chiến (1914-1918).
Ðể ủng hộ cho cái phản bác của mình, tui xin đọc cho bà con nghe một đoạn trong ‘Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, chương 12, của ông Nguyễn Vỹ (1912-1971)
“Tờ ‘Trung Kỳ Bảo Hộ công báo’ là một tờ báo của Toà Khâm Sứ ở Huế gởi đi các tỉnh, tỉnh gởi về huyện, huyện gởi về các làng. Tuấn đọc to lên cho cả làng nghe tin Nhà nước Bảo hộ Phú-lang-sa đang đánh giặc với Ðức, tức là nước Phổ-lô-si (phiên âm chữ Prusse, Ðức phiên âm chữ Deutsch). Ðức là một nước ‘dã man, tàn bạo’, bị Phú-lang-sa đánh cho liểng-xiểng, binh lính Ðức chết vô số, có cả hàng ngàn, hàng vạn v.v.
Nhưng trận giặc còn lâu dài, cho nên “dân An Nam nhờ nước Phú-lang-sa bảo hộ, phải quyên tiền và đem binh lính sang Pháp để đánh lũ giặc Ðức mọi rợ v.v. Dân làng, bất luận giàu, nghèo, đều phải góp tiền để mua Phiếu Quốc Trái. Hơn nữa, làng phải mộ dân tình nguyện đi lính sang Pháp để ‘đánh đuổi giặc Ðức’.
Sự thật, không có dân nào tình nguyện cả. Sau cùng làng xã phải bắt ép thanh niên khoẻ mạnh, gọi là tráng đinh đi lính. Hầu hết lớp “lính tình nguyện” nầy ở khắp xứ Trung Kỳ , Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ đều là thanh niên nho học từ 21, 22 đến 24, 25 tuổi.
Phong trào mộ thanh niên đi tùng chinh sang ‘Mẫu Quốc’ là một dịp cho các quan An Nam từ quan tỉnh xuống quan huyện, cho đến các ông hương, ông xã trong làng đòi ăn hối lộ. Một số đông các ông này chơi ác, cứ nhè bắt bọn thanh niên trai tráng con nhà giàu, đi tùng chinh. Thế là các bậc cha mẹ phú hộ phải đem của tiền lo lót, cho con khỏi đi. Phải lo lót xã một phần, lên lo lót huyện một phần, rồi lo lót các cụ lớn trên tỉnh nữa. Hối lộ gần như công khai. Nhà giàu đua nhau nhờ cậy chỗ này chỗ nọ, chạy chọt ông này ông kia, bán cả ruộng đất, nhất là con trai trưởng trong gia đình, khỏi bị bắt “tình nguyện” đi lính sang Pháp.
…Vì lớp thanh niên nhà giàu, hoặc nhà khá giả, hoặc con trai các vị hương chức đều nhờ hối lộ, và nhờ có quyền thế, đã được miễn tùng chinh. Sót lại chỉ có con nhà nghèo không có miếng đất cắm dùi, cho nên phải đi lính ‘tình nguyện’ qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc ‘Phổ-Lô-Si’.
Nói là qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc, nhưng sự thật thì qua bên đó nhập vào một đơn vị gọi là ‘đoàn quân thuộc địa’ chỉ dùng riêng vào việc vận tải lương thực ở hậu tuyến mà thôi. Một số bị bắt ra mặt trận, nhưng cũng chỉ là khiêng vác các khẩu súng lớn, đẩy các cổ đại bác và đào hầm trú ẩn. Chẳng có một người ‘lính thuộc địa’ nào, nhất là lính ‘Tirailleurs Annamites’ (Lính khố đỏ Nam Kỳ) được cầm súng bắn giặc cả.
Tất cả thanh niên tùng chinh đều được lịnh đến trình diện tại đồn lính Khố xanh ở các tỉnh, rồi từ tỉnh họ được chở đi tập trung lại, đợi tầu sang Pháp.”
Chính vì bị bắt đi lính do mình nghèo, phải xa vợ, xa con, xuống tàu đứng sau song sắt như bị ở tù, hổng khóc sao được? Xúc cảm như vậy mới làm được bài thơ não lòng, bi thiết! Rồi bài thơ đó trải qua biết bao thử thách của thời gian mới được trở thành ca dao, thành tiếng hát ru cho thân phận những người cùng khốn. Chứ không phải là lời của thằng Tây nào với em Me Tây nào ráo trọi như ông Toan Ánh nói đâu?
***
Thưa quý độc giả thân mến! Ðối với những nhà văn tiền bối như: Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Vỹ, Toan Ánh thì người viết đều kính phục cả, xin ngả nón cúi đầu; nhưng ca dao, hát ru là tiếng quê hương, là của chung của tụi mình. Xa quê, viễn xứ, vẫn nhớ về quê cũ, lại nhớ tới ca dao. Em yêu sai: ‘Ru con ngủ cho em đi chợ, mà thằng nhỏ cứ khóc hoài? Ru tới ru lui chỉ có hai bài làm thằng nhỏ chắc sẽ thuộc lòng như cháo. Rồi lớn lên, lỡ cắc cớ nó hỏi: “Tía ơi! Nghĩa nó là gì vậy?” Làm tía mà hổng biết trả lời sao thì mất mặt ‘bầu cua’ lắm lắm! Cho nên mới có bài viết nầy thưa quý độc giả thân mến!
Trong ca dao có những câu đặc tả chân chất ngây ngô. “Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt nồi đồng có quai”. Dùng nó để ngâm nga, làm điệu hò ru em lại đâm hiệu nghiệm. Đứa bé sẽ ríu mắt chìm dần vào giấc ngủ, ngủ như một baby. “Em” chưa đủ tuổi để sớm đón đầu mộng mị, em chẳng hình dung được con mèo con chó bụi tre nồi đồng là… cái quái gì. Em đích thị chỉ là trang giấy trắng. Nhờ sữa mẹ dần dà em tăng trưởng, tháng ngày vực em lên và thời gian xúi em khởi động những bước chân vụng dại. Trang giấy trắng trong em bắt đầu hoen ố những vết mực đen. Em dỗi hờn bất chợt và nín ngay tiếng khóc nhè khi nghe mẹ bảo: Đừng chướng, ông Kẹ đang rình ngoài cửa a kìa! Lại rất đỗi hiệu nghiệm, em thôi chướng dù “ông Kẹ” là cái quái gì em không tài nào hình dung ra. Nói ngay tình, ngay cả bố mẹ em, những kẻ già đầu, bản thân họ suốt đời cũng chưa đụng mặt với ông Kẹ! Họ doạ dẫm người khác mà họ chưa từng nếm trải nỗi sợ hãi kia. Ông kẹ có lông có mắt có quai không? Họ có “tư cách” gì để hay biết. Một ngày kia em nghe ra câu “chuồn chuồn có cánh thì bay”. Í, ngộ hén, con gì có cánh thì đều bay được cả mà! Con muỗi nè, con ruồi nè, con bướm nè, con chim nè… thiếu giống! Rồi em nghe bạn bè xúi dại và em hằng tin điều đó là cả một sự thật: Cho con chuồn chuồn cắn vào lỗ rốn thì tự khắc sẽ biết bơi. Tại sao là lỗ rốn mà chẳng là khu vực hoặc bộ phận khác? Không một ai thắc mắc, bạn em thảy đều thực hành nghiêm chỉnh. Cả em cũng rứa. Vén áo lên, cúi đầu xuống dòm, dùng cằm để giữ chặt lấy áo, hai ngón tay kẹp đôi cánh xếp và con chuồn chuồn đỏ như một trái ớt hiểm đang cong đuôi hả miệng gây nhột nhạt nơi vùng miền nhạy cảm của em. Nó đã cắn chưa? Em không rõ. Em thả nó bay đi và trang giấy trắng trong em hiện lên một dấu hỏi: Tại sao nó chịu mang tên kép: Chuồn chuồn? Nó khác biệt với con Đom thêm dấu sắc thành Đom đóm, bươm bướm. Không nghe ai gọi Chim chím, chỉ nghe chim kêu chiêm chiếp…Em bắt đầu nhiều chuyện, để tâm quan sát, lựa chọn, chê bai, góp ý, bình phẩm. Em bắt đầu mềm lòng để cho thơ văn thẩm thấu, em xúc động vì một trận mưa thảng thốt rơi xuống phố đêm nhoà ánh đèn màu. Và một trưa xám ngoét trần mây nặng của tháng Tư em chính thức nhìn thấy “ông Kẹ” xuất hiện. Ổng chẳng hơi sức đâu đứng rình ngoài cửa như lời mẹ doạ năm xưa, ông đi khơi khơi giữa xóm làng ban ngày ban mặt. Ông Kẹ hổng ke.
Giờ đây em đã lớn, biết mắc cỡ, em không thể vạch áo cho người ta xem rốn. Em hồ nghi tới vết cắn đầu đời và em liều mạng đi “tập bơi”. Trong tất cả những chữ mới lạ vừa lộ hình trong ngữ vựng tiếng Việt, em yêu thiết tha hai chữ Thuyền Nhân. Chỉ hai chữ, tự thân nó trao gửi biết bao điều hệ trọng. Một mặt nó bôi đen trang sử rách nát của đất nước Việt và mặt khác, nó tô hồng tới lòng nhân đạo của loài người bên kia biển rộng. Bi kịch ở đó mà hài kịch cũng tựu thành từ cuộc bỏ phiếu bằng chân không nghi ngại. Hoang mang bỏ lại bên bờ, nhưng ngờ vực còn nặng ở chân bước thấp cao lên đất mới. Ngờ vực duy một điểm: Sao đời sống này còn đó những tấm lòng độ lượng tới mức khó tin? Rộng lòng cưu mang chẳng từ nan, vô điều kiện.
Em là một thành viên trong đám người tả tơi có danh hiệu boat people. Em ở đảo tạm trú bảy tháng để kịp gọi ba hồn chín vía lộn lui, bớt xác xơ, môi đã tròn được nụ cười rồi theo một thoả thuận trời xui đất khiến, em phủi chân cát để tròng vào đôi hia bảy dặm lên đường tới định cư ở một đệ tam quốc gia. Con mèo con chó có lông, máy bay có cánh mang người đi xa. Em tập viết nhật ký từ dạo đó, từ những buổi chiều tím ngắt một chân mây với câu ca dao nghe xốn lòng: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Nỗi nhớ nhà em gói trong từng tản văn, em gửi đăng báo và vì vậy tôi đã quen em. Tình bạn của chúng tôi có được tiên khởi nương nhờ vào sự cảm thông do chữ viết mang lại. Tôi cũng sống ngập cảm xúc rung động tựa em bởi tôi cũng là một thuyền nhân. Em ra đi hướng Nam tàu tấp vào Mã Lai năm 78, tôi ra đi từ miềm Trung ghe nhỏ trôi đến Hong Kong năm 79; để cả hai gặp gỡ nhau trên những trang giấy báo tình cờ. Em chia sẻ hạnh phúc khi ngày đầu trên xứ lạ nhận được 50 đô số tiền nhuận bút, còn tôi, tôi vui vì tên hai đứa nằm chồng lên nhau nếu gấp lại hai trang báo ấy.
Ơn trời, cả hai đứa đều được Canada đón tiếp khá nồng hậu. Một thổ ngơi mênh mông chi xứ nhưng may phước tôi ở bên rìa phía Đông trong khi em cư ngụ miền trung tâm. Nếu tính bề rộng của lãnh địa này, theo cơ thể học tôi làm bàn chân và em chịu làm cuống rốn, nơi mà nếu tôi hoá thân thành con chuồn chuồn hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ được cắn vào. Sách giáo khoa vạn vật không chỉ rõ cho học trò biết về tốc độ của chuồn chuồn khi bay, cũng như sức nghỉn tối đa nó bay được bao xa. Em biết khả năng hạn hẹp của nó không, hay em luôn coi trọng mức quân bình? Em đề ra một địa điểm cân phân dùng làm nơi gặp mặt, rồi nói thêm: Em chưa từng có dịp du ngoạn tới Toronto. Và như vậy tôi sẽ đến thành phố đó đúng theo lịch nghỉ hè của em. Nghĩ tới cảnh đứng bên em ngó về thác nước rầm rộ đổ của Niagara cũng đủ khiến tôi mất ngủ. Em đề nghị: Cả hai sẽ cùng viết về một đề tài sau chuyến đi ấy. Bài nào xuất sắc thì kẻ thua cuộc sẽ trả nhuận bút 100 đô cho người thắng. Tôi nghe, háo hức, và chưa gì trong đầu tôi đã dựng được một cái sườn.
Tôi nhận lãnh phần việc thuê một chiếc xe nhỏ để làm chân cẳng đi thăm thú. Từ trung tâm thành phố đi tới thác nước khá xa, điều này càng chứng minh sự thông minh, cách xem bản đồ và định vị tài cán của em. Em không cho hay ngày xưa em có là một hướng đạo sinh hay tham dự vào những trò chơi lớn mạo hiểm đường rừng, đại loại thế. Xe chạy song hành cùng một đoạn của Ngũ đại hồ, gió phía đó luôn làm tóc em bay, ngọt ngào. Không mấy lâu em biểu tôi tìm lối thuận tiện để rẽ vào. Chỉ là hồ mà sao trông giống biển quá! Em phát biểu cảm tưởng. Mặt em thoáng thay đổi khi tôi thắng đứng xe lại. Em mở cửa, tháo giày để đi chân trần trên bờ đất mịn ẩm. Mênh mông đến ngộp thở, gió lùa làm nước cau mặt và từng cơn sóng nhỏ không ngớt chạy vào ve vuốt đôi bàn chân em.
Em lấy từ túi xách ra những thức ăn dự trù làm lương thực trên đường dài. Chiếc khăn quàng cổ trải rộng xuống vuông đất trắng xoá được kềm giữ ở mỗi góc bằng bốn hòn đá nhỏ để gió khỏi phá rối. Bày ra có thứ lớp những xôi, chè, bánh, trái, chai nước suối; xong em đi bức từng cọng hoa dại màu vàng đang lả lơi trên sườn cỏ mịn cho đủ đầy một tay ôm. Tôi ngó em, chăm chú, từng động tác rồi tự hỏi: Sao lại cất công đến thế. Muốn tạo ra một bữa ăn trưa thật lãng mạn giữa nơi heo hút tựa chốn sơn cùng thuỷ tận này?
Em ra dấu biểu tôi đến ngồi sát bên em, mặt xây ra con nước vô bờ mãi gửi tiếng rì rào chen lẫn vi vu gió lùa bên tai. Em cất tiếng, giọng nói có đôi phần hụt hơi: Anh có biết một người Đức sinh ở Ba Lan, tiến sĩ Rupert Neudeck? Ông ấy đã từng cầm cố nhà cửa mình đang sống để vận động mọi người chung tay cứu giúp những thuyền nhân, những người tị nạn với khẩu hiệu “Một con thuyền cho Việt Nam” còn được gọi là Cap Anamur. Từ năm 1979 đến 1986, ông cùng những người có lòng hảo tâm đã cứu sống hơn 10.000 thuyền nhân Việt Nam. Vị ân nhân tuyệt vời đó vừa trút hơi thở cuối vào ngày 5 tháng 6, hai ngàn mười sáu…Tóc em rối che nhưng tôi nhìn ra được một giọt nước đang đọng dưới cằm, trong vắt. Tôi khum tay khó khăn, sau cùng thì đốt cháy được một điếu thuốc, tôi cắm xuống nhô đất ẩm thế một cây nhang. Sóng nước mãi miết từ xa thẳm gợn nhăn vào vỗ về. Tôi quàng tay qua vai em, bấu víu cái thổn thức đang làm em chao thân. Em nói nhỏ: Vĩnh biệt!
(Nhiều người vẫn thắc mắc về sự tan vỡ của cặp đôi Ca Nhạc sĩ Từ Dung & Từ Công Phụng… và đây, một chút sự thật qua ngòi bút của nhà văn Bùi Bích Hà – bà vừa ra đi, thọ 83 tuổi)
Trong không khí hoang mang, buồn bã của những ngày đầu sau biến cố 30 Tháng Tư 1975, chúng tôi tình cờ quen biết nhau.
Từ ngã năm Bình Hòa, Gia Ðịnh, gia đình đôi song ca Từ Từ – như cái cách họ được gọi bởi bạn bè thân quí và các thính giả ái mộ – gồm Từ Công Phụng, Từ Dung và cháu Ý Uyên, thường đến nhà tôi ở khu cư xá Phú Nhuận vào buổi chiều, khi trời đã sẫm tối. Cả ba cùng nôm trên chiếc Honda 50 phân khối, chồng lái, vợ ôm lưng, cô con gái nhỏ ngồi trên cái bình xăng. Có hôm xe hết xăng, Phụng nhìn tôi, cười thay cho câu hỏi: “May ra chị còn?” Chúng tôi thân nhau đến nỗi Phụng biết tôi có mẹ già, nhà lúc nào cũng phải dự trữ một chai xăng phòng khi đêm hôm cơ lỡ cần di chuyển. Có hôm đúng bữa, mẹ con tôi đang chuẩn bị ăn cơm, kéo luôn 3 nhân khẩu nhà anh vào, vét nồi niêu sạch bóng.
Dù ăn hay không ăn, cứ mỗi khi tới nhà, dựng xong cái xe và vào bên trong là Phụng co chân ngồi lên ghế, vớ cây đàn ghi ta dựng ở một góc và nẩy vài nốt nhạc mở đầu rồi hát theo. Có khi Từ Dung phụ họa, tôi và các con tôi lắng nghe. Giọng của Phụng trầm ấm, đôn hậu, phảng phất buồn, mang trong nó tình yêu, ước mơ hiền hòa và chút ray rứt nhẹ nhàng về một điều gì mãi trôi chảy ngoài tầm tay. Giọng của Dung trong trẻo, tôi nghĩ chỉ để làm nền cho Phụng, như đường phèn làm nền cho những hạt đậu phọng rang chín tới, đậm đà, nhiều hương vị.
Chúng tôi ngồi với nhau đến khuya, dưới ánh đèn dầu lù mù của những đêm cúp điện, chia nhau nỗi lòng của những người thấy mình lơ lửng ở một quãng đường không biết sẽ đưa họ về đâu? Những khi không có câu hỏi và câu trả lời, trong không gian im ắng của căn nhà đóng cửa, mỗi người yên lặng theo đuổi ý nghĩ riêng mình.
Tính Phụng ít nói nhưng khi nói, anh hay bắt đầu với một nụ cười đọng ở khóe môi và ánh nhìn lấp lánh của đốm lửa nhỏ trong lò sưởi.
Thời gian chúng tôi quen biết nhau không bao lâu, giữa khoảng 1977 cho đến khi gia đình Phụng vượt biển cuối năm 1979, chia cắt bởi nhiều biến cố đau thương cho cả hai gia đình.
Ðó cũng là quãng đời ghi dấu nhiều kỷ niệm của một tình bạn dệt bằng quá nhiều mất mát và khổ đau mà bây giờ, mỗi khi có dịp nhìn lại, tiếc nhớ dâng lên tràn ngập lòng tôi như biển mặn.
Bề ngoài xem ra Phụng là người dễ thích nghi với hoàn cảnh nhưng tôi đoán không do bản tính mà do kinh nghiệm Phụng biết phải đối phó với những điều bất như ý cách nào để bảo vệ mình cho những điều anh chọn lựa, yêu quý và muốn gìn giữ.
Nói cách khác, Phụng chấp nhận trả giá cao cho những gì anh nhận được từ con người và cuộc đời. Tôi không biết những năm tháng tuổi trẻ của anh ở Ðà Lạt với rừng cao, suối sâu, quanh năm mưa phùn và sương mù, có để lại ảnh hưởng nào trên nhân sinh quan của anh hay không song ở anh có sự ẩn mật nhưng không khó hiểu, sự giản dị không có dấu hỏi nào đi kèm cho người quen biết anh.
Tôi còn nhớ buổi trưa mùa Hè nắng nung nấu cả một Sài Gòn sau 75, khô khốc, nghèo nàn, trần trụi, tôi ghé thăm gia đình anh ở ngã năm Bình Hòa. Tôi đến bất ngờ, Phụng khoe nhà có gạo và có miếng thịt bò ai mới cho. Phụng bảo Dung thổi cơm, bảo tôi thái thịt hộ (cho đúng sứa kẻo dai) và Phụng xách cái cà mèn ra đầu ngõ mua cà chua với bát canh gì đấy để bữa ăn có tý nước.
Sau bữa ăn, chúng tôi nói năm ba câu chuyện trên trời, dưới đất xong, Phụng lại cầm đàn và hát. Dường như nỗi vui được hát, được đàn cho mình và cho nhau nghe, đã bắt đầu ngay từ lúc Phụng ung dung cầm cà mèn đi ra nắng để mua mấy thứ lặt vặt.
Tôi nghiệm ra, thay vì ngồi đấy mà than trách cuộc đời ngắn ngủi và nhiều thử thách cam go, Phụng biết làm cho mỗi khoảnh khắc sống là một giá trị, ít nữa cũng là một điều tốt lành.
Ở bên cạnh anh, không ai cảm thấy có điều gì phải phàn nàn.
Có một lúc chúng tôi mở chung một quán cà phê nhỏ trên đường Trương Tấn Bửu. Mỗi tối, quán mở cửa lúc 6 giờ. Tôi pha chế thức uống, Dung phụ tiếp khách và Phụng làm công việc hầu bàn. Vì bận các con còn bé, tôi chỉ giúp anh chị vài tháng để anh chị quen công việc. Ðêm Noel năm cuối cùng, sau khi tiệm đóng cửa, anh chị tạt qua nhà tôi, rủ nhau xuống phố xem thiên hạ đón Giáng Sinh thế nào?
Chúng tôi chạy xe lang thang qua nhiều ngả đường tối om, vẫn thưa thớt có nhà còn treo đèn ngôi sao ngoài cửa, thấy nơi nào có tiệm cà phê là gọi nhau dừng lại xem giá cả của họ rồi cả bọn phá ra cười ngặt nghẽo vì không biết làm gì khác.
Tôi nói Noel cuối cùng vì sau đó, nhiều bất trắc đã xảy ra, đẩy chúng tôi về những hướng đi cách biệt.
Lúc ấy, trong hoàn cảnh ảm đạm của Sài Gòn những năm cuối thập niên 1970, không ai nhìn thấy dù chỉ le lói chút ánh sáng ở cuối con đường tuyệt vọng nên cả thành phố nhao lên chuyện vượt biên. Gia đình Phụng đi một chuyến bất thành, trở về.
Phụng nói: “Thủy triều lên quá nhanh, nước dâng ngập quá ngực, tôi đôn cháu Uyên trên vai nhưng mọi người chen chúc hỗn loạn mà thuyền lớn thì đậu xa bờ vì sợ người đi hôi tràn ngập nên đành phải quay lại thôi!”
Phụng kể bằng một giọng bình thản, vẫn nụ cười trên môi và ánh mắt lấp lánh. Ðối với Phụng, dường như thất bại trong một ước muốn hay toan tính là chuyện đời bình thường.
Sau lần thử thách này, chúng tôi ít gặp nhau vì Phụng thường xa thành phố để tự lo kế hoạch vượt biển cho gia đình. Quán cà phê đóng cửa. Kế hoạch của Phụng không thành công và gia đình anh chị tan vỡ trong lặng lẽ. Như chiếc bong bóng nước vỡ rất khẽ trong cơn mưa giông bất ngờ.
Thời gian trôi qua không biết bao lâu, một hôm tôi lại nhìn thấy Phụng trên chiếc xe Honda quen thuộc nhưng thiếu cháu Ý Uyên trên cái bình xăng và sau lưng anh không còn Dung mà là một phụ nữ khác với khuôn mặt sáng và nụ cười đầy đặn. Chúng tôi chào nhau, mừng gặp gỡ rồi chia tay.
Ít lâu sau, một buổi tối đã khá muộn, Phụng đột ngột đến nhà tôi. Anh bước thẳng đến chỗ cái sofa quen thuộc tôi đang nằm dưỡng bệnh vì cháu Thái Hà vừa mất, ngồi thụp xuống, cầm tay tôi và nói nhỏ đủ cho hai chị em nghe: “Chị H, ngày mai tôi và cháu Uyên đi rồi, tôi đến thăm và chào chị. Chị cố giữ gìn sức khỏe kẻo tội bà cụ và mấy đứa bé.”
Phụng dúi vào tay tôi số tiền tôi nhớ là nhiều lần hơn số tiền tôi san sẻ cho Phụng cầm đỡ khi cháu Ý Uyên phải vào nhà thương vì sốt viêm màng não. Tôi từ chối thì Phụng úp bàn tay tôi lại, điềm đạm và cương quyết: “Không là bao nhiêu nhưng chị sẽ cần.” Rồi Phụng vội vã ra về.
Nước mắt ướt đầm tay áo, tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho Phụng, cháu Uyên và gia đình mới của anh lên đường được bình an. Qua bữa sau, Dung đến tìm tôi lúc xế trưa, thì thầm: “Em nhờ chị đến cái địa chỉ này, xem Phụng và cháu Uyên đã đi chưa?”
Tôi gượng dậy, thuê xe đi ngay. Giờ đây, nhắc lại chuyện cũ, tôi nhớ mang máng là tôi đã đi bộ qua một khu chợ nghèo sình lầy, chỉ còn mấy dãy lều trống hoác trong ánh chiều tà hiu hắt.
Căn nhà mang số Dung ghi cũng trống trơn, không có người. Tôi đứng bơ vơ trên cái sàn gỗ ghép bằng những mảnh ván thưa, nhìn xuống thấy mặt nước đen ngòm bên dưới.
Một người đàn bà đi qua, nhìn vào và nói bâng quơ: “Kiếm mấy người vượt biên úm ở đây hả? Ði hết rồi.” Lộn trở ra con đường lầy lội cũ trong buổi chiều đã tắt nắng, tôi vừa mừng cho bạn, vừa nghe lòng nhẹ hẫng, trống trải, như vừa mất mát một điều gì từng khăng khít với tôi vô cùng nhưng từ nay không còn nữa.
Thời gian sau, tuy vẫn còn lây lất sống trong thành phố nhưng tôi không có lần nào gặp lại Dung. Qua bạn bè chung, tôi biết tin gia đình Phụng tới đảo bình an và Dung sinh thêm một con gái.
Tuy kỷ niệm buồn vui giữa chúng tôi không nhiều nhưng tình thân của chúng tôi đẫm nước mắt của những cuộc chia ly xé lòng không hẹn trước, khiến phần tôi, dù không biết cách nào để diễn tả, mỗi khi ký ức ôn lại quãng đời này, tôi không thể ngăn được nỗi đớn đau cồn lên trong ngực, làm nước đầy lên hai mắt.
Phụng là một người bạn trung hậu, trọng thâm tình và chữ tín. Anh nói ít, nghĩ nhiều, làm đầy đủ. Anh giao du với ai, cũng để lại mỹ cảm khi rời xa, không quá đậm đà nhưng bền bỉ.
Phụng là một nghệ sĩ mực thước, theo tôi, khá hiếm hoi. Anh yêu vẻ đẹp của đời sống nên biết tạo ra sự hài hòa để vẻ đẹp ấy tồn tại và rực rỡ. Anh nhường nhịn, sẵn sàng quên mình. Một mai xa nhau, người cho tôi tạ lỗi… thấy trong sự quên mình ấy, hình ảnh con phượng hoàng bay lên từ lửa đỏ.
Phụng là một nhạc sĩ tinh tế. Cứ đọc nguyên tác những bài thơ do Phụng phổ nhạc để thấy khả năng chọn lọc chữ nghĩa và thi tứ của Phụng, hoàn hảo đến ngạc nhiên, từ “Hạnh Phúc Tôi” đến “Tạ Ơn Em.” Cảm giác như Phụng là một người làm vườn mạnh tay khi cần. Anh tỉa cắt đến tận cùng để chỉ giữ lại tinh hoa tuyệt mỹ của một dáng cây bonsai nghệ thuật.
Phụng là một ông bố kham con và thương yêu con hết mực. Tất cả niềm vui sống của anh, ngoài cung đàn, tiếng hát, khuôn nhạc, dành hết cho con, kể cả tự do của một ông bố nghệ sĩ, sống tràn đầy và ít bộc lộ.
Sau cùng, Phụng là một người đàn ông thủy chung. Anh viết nhạc, anh hát cho tình yêu đời đời, kiếp kiếp. Tình yêu như suối nguồn, róc rách, trong trẻo, dịu dàng len qua những ghềnh đá, nuôi dưỡng tâm hồn anh và không bao giờ cạn.
Dù sau này ra hải ngoại, nhiều lần tôi được nghe và nhìn Phụng hát trên sân khấu, trong thính phòng đầy ắp người hâm mộ nhưng với tôi, tiếng hát của anh luôn là tiếng hát rất cô đơn, thật thà, không son phấn, của riêng bạn bè với một cây ghi-ta gỗ.
Tiếng hát của anh xa vắng, như gió lùa qua vòm cây, đánh thức những khóm lá cho chúng đùa vui dưới ánh trăng. Tiếng hát của anh làm lay động những khóm hoa, cho chúng thả hương bát ngát giữa trời khuya.
Tiếng hát của anh gọi dậy vùng ký ức ru êm những mơ ước không đạt của đời người. Mà anh không chỉ hát, anh diễn tả bằng thanh âm một nội dung đầy tình tự, khắc khoải, cố vươn tới người nghe như một đền tạ mọi ân tình đã đến cùng anh.
Ðứng trên sàn diễn, trong những bộ complet may cắt khéo, dường như Phụng luôn có nỗi ngượng ngùng của một người không đứng ở đúng cái chỗ của mình.
Khoảng giữa năm 2010, bạn bè được tin anh lâm bệnh sau chuyến về trình diễn ở Cali. Vợ con lo lắng. Bạn bè quan tâm.
Anh nghĩ gì, không ai biết. Qua điện thoại, vẫn được nghe cái giọng điềm đạm cố hữu, thấp thoáng nụ cười hiền hậu đã gắn liền với nhân dáng anh như từ khi mọi người biết anh.
Riêng tôi mừng cho anh vì chị Ái là một người vợ tận tụy trong tình yêu. Tôi biết anh được chăm sóc kỹ lưỡng, được bảo bọc trong tình gia đình là tổ ấm đúng nghĩa của danh từ này. Anh là người cẩn trọng, chắt chiu dành dụm, nào biết để khi cần, được nhận lại.
Bởi vì, anh sẵn sàng làm chiếc que diêm, một lần lóe lên, thắp đời em sáng lung linh… Phần anh, buồn một cõi riêng…
Từ Công Phụng là một trong những nhạc sĩ được yêu thích từ thập niên 1960, 1970. Nhạc của ông lãng đãng, bàng bạc như hơi thở của người yêu, với giai điệu sâu lắng cùng lời hát trữ tình làm say mê giới trẻ trên làn sóng điện, tại các quán cà phê, phòng trà ca nhạc miền Nam sau năm 1963.
Từ Công Phụng với nhạc bản đầu tay “Bây giờ tháng mấy” sáng tác năm 1960, khi ông mới 18 tuổi và được phổ biến lần đầu tiên trên đài phát thanh Đà Lạt ba năm sau đó đã đưa người nghe vào một thế giới tuyệt vời, huyền diệu của tình yêu. Nhưng ông cho biết không có bóng dáng một thiếu nữ nào đằng sau tình khúc này, mà đó là kết tinh của những bản nhạc ông thường nghe hàng đêm của các nhạc sĩ nước ngoài lẫn trong nước như những tình khúc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Phạm Duy ..
“Hồi đó mình mới lớn mình đâu có dám yêu ai đâu. Nhát thấy mồ,” ông tâm sự với VOA. Sau “Bây giờ tháng mấy” bản tình ca “Mùa Thu mây ngàn” ra đời kế tiếp cũng được giới yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt.
Nhạc sĩ Từ Công Phụng bị kẹt lại miền Nam Việt Nam sau ngày 30/4/1975 và mãi đến năm 1980 ông và gia đình một vợ 8 con mới vượt biên thành công, sang Mỹ định cư. Trong thời gian 5 năm sống dưới chế độ cộng sản, ông vẫn tiếp tục sáng tác tình ca.
“Vẫn là những bài tình ca nhưng nó đượm một cái vẻ cuộc đời nhiều hơn là thuần túy tình ca. Sau này khi đời sống mình tạm thời ổn định rồi thì tôi viết lại tình ca nhưng nó cũng phảng phất những đời sống ở trong đó với cái nhìn sâu sắc hơn ví dụ như bài ‘Đời bỗng phù du’ với những câu như ‘Tôi như người du mộng trong cuộc đời bềnh bồng, ngó theo đời quạnh hiu, buồn vây theo năm tháng,’ nhạc sĩ Từ Công Phụng chia sẻ.
Với tâm hồn nghệ sĩ nhìn đâu cũng thấy nhạc, nghe nhạc, nên trong những ngày lênh đênh trên biển trong hành trình vượt biên, ngắm nhìn những cánh chim bay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã dệt nên những ca từ của nhạc bản ‘Qua vùng biển nhớ’
“Như cánh chim bay giữa vùng biển nhớ mênh mông, Dạt về đây nghe sóng vỗ hồn sầu…”
Đặt chân lên đất Mỹ, ông đã cho ra đời bài hát ‘Khi tôi đến nơi này’ để mô tả sự khác biệt lớn lao giữa lối sống tại Mỹ và cuộc sống ở Việt Nam.
“Khi mình sống ở dưới thời Cộng sản nó khác, nhưng qua bên này nó khác, khác lắm. ‘Khi tôi đến nơi đây, nắng rực rỡ ngoài khoan trời xa, mà lòng tôi thấy rộng mở những thiên đường’.”
Thời gian đầu tới Mỹ, ông cư ngụ tại tiểu bang Iowa, đi học nghề in trước khi chuyển sang bang Oregon. Tại đây, ông đã mở nhà in kiếm sống, lo cho gia đình.
“Lúc đi qua đây, tôi phải đi kiếm một cái nghề tôi học, tôi làm để kiếm tiền. Đời sống của tôi không phải là một đời sống nghệ sĩ. Tôi không thích phải làm nghệ sĩ để kiếm tiền tại vì mình là sinh viên ngày trước và mình có khả năng mình học mà, tại sao mình không đi học. Tôi kiếm một nghề thực tế lúc bấy giờ là nghề in. Tôi có mấy cuốn sách muốn in và thích tự mình ấn loát mấy cuốn sách của mình. Tôi học in ở Iowa, tôi sửa soạn xong hết mới qua Portland. Lúc bấy giờ tiền bạc không có, nghèo lắm, hai vợ chồng một đàn con, phải kiếm sống hàng ngày, làm bất cứ việc gì cũng được miễn sao đúng nghề của mình để kiếm tiền nuôi gia đình. Cũng có một thời gian tôi đi dạy học ở mấy trường trung học,” ông hồi tưởng trong cuộc trò chuyện với VOA.
Từ Công Phụng trong một buổi sinh hoạt văn nghệ
Cuộc sống vất vả, nhưng ông vẫn sáng tác.
“Mình vẫn viết đều lắm, khi nào cảm thấy hứng là viết, tại vì không ai bắt buộc mình viết cả.”
Được hỏi là trong giai đoạn ấy, giữa khung cảnh phải vất vả vì cơm áo gạo tiền, những cảm tác của ông có gì thay đổi không, nhạc sĩ Từ Công Phụng cho biết: “Dĩ nhiên là mình càng sống mình càng cảm thấy có sự thay đổi trong đời sống mình. Mình nhìn đời sống sâu sắc hơn. Cơm áo là một chuyện, âm nhạc là một chuyện khác. Khi nào mình viết nhạc, mình không bị những cái đó nó ảnh hưởng đến mình. Có nhiều người nhờ tôi làm thế này, làm thế kia tôi không làm, trả tôi một số tiền tôi không lấy, đại khái như vậy. Tôi không lệ thuộc vào cái đó.”
Nhạc sĩ Từ Công Phụng sử dụng thành thạo cả đàn guitar lẫn đàn piano, nhưng khi sáng tác, ông thường dùng đàn guitar và đôi khi tự xướng âm và sau đó dùng đàn để trau chuốt lại.
“Thường thường cảm giác từ âm nhạc tới và một câu nhạc đầu tiên nào đó. Xong mình ghi lại, mình phát triển ra. Thỉnh thoảng hay có những dòng âm thanh nó bay ngang trong đầu mình, mình thấy hay mình viết lại nhưng thỉnh thoảng nó lướt qua trong đầu rồi nó biến mất không biết ở đâu nữa. Cảm hứng suy nghĩ ra âm nhạc của mình là những kỷ niệm.”
Về cung bậc của những nốt nhạc được sử dụng trong các bản nhạc của Từ Công Phụng, nhạc sĩ cho biết ông thích sử dụng âm giai trưởng (major) hơn là thứ (minor).
“Thường thường những bài hát của tôi, tôi viết bằng major nhiều hơn là minor. Major mỗi gam mỗi khác, nhưng nhạc cũng có thể buồn được bằng major hay minor, nhưng minor buồn da diết, nó thảm lắm, tôi không thích. Mình buồn nhưng là buồn man mác là được rồi, không có bi lụy.”
Hiện nay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đang phải chống chọi với 2 căn bệnh ung thư kéo dài đã 12 năm và bệnh tật đã ảnh hưởng nhiều đến nội lực sáng tác của ông.
“Nó cũng ảnh hưởng vì sức khỏe. Bây giờ tôi ngồi lâu không được, ngồi lâu mệt lắm. Người ngó mạnh khỏe vậy nhưng ngồi lâu mệt trong người. Muốn viết nhạc phải ngồi lâu, phải suy nghĩ nhiều, phải chọn lựa những âm thanh nào tốt, dễ nghe. Mình không ngồi lâu được nên sức sáng tác cũng kém đi. Tuy nhiên lâu lâu cũng được một vài bài, kiếp tầm nhả tơ mà. Có một số bài mới tôi tính in thêm một tập nữa nhưng chưa thực hiện được. Một trong những bài mới đó có tên gọi là ‘Bên dòng đời tịch liêu’ nói về cái cô đơn của mình trong cuộc đời, có câu kết luận như thế này ‘Ngồi đây một mình bên dòng đời tịch liêu và tôi bỗng thấy hồn mình sẽ tan vào vời vợi thinh không’.”
Từ Công Phụng và phu nhân
Ông cho biết nhạc khúc ‘Tình tự mùa Xuân’ là kết quả của mối tình của ông với bà Kim Ái, người vợ ông gặp sau biến cố 1975 và cùng đồng cam cộng khổ cho đến ngày nay, nên ca từ của bài hát rất tha thiết, mô tả sự gắn bó của đôi tình nhân.
“Em, lại đây với anh ngồi đây với anh trong cuộc đời này nghe thời gian lướt qua mùa xuân khẽ sang chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng…”
Triết lý sáng tác của nhạc sĩ Từ Công Phụng gói gọn trong hai chữ ‘tình yêu.’
“Tôi quan niệm tôi ca ngợi tình yêu hơn là tôi chối bỏ tình yêu. Tôi ca ngợi tình yêu vì tôi nghĩ là rốt cuộc chỉ có tình yêu mới làm nên giá trị con người thôi. Không có tình yêu làm sao có được sự tiếp nối dòng đời, nhân loại. Tình yêu là cái tốt nhất trong cuộc đời người ta mà không ca ngợi thì ca ngợi cái gì nữa. Chính trị rồi cũng qua đi, chiến tranh rồi cũng qua đi, khác biệt về chính kiến làm nổ bùng chiến tranh rồi cũng hết, chỉ là giai đoạn thôi. Nhưng cái vĩnh cửu từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời kia cũng vẫn là tình yêu thôi.”
Chính vì tâm niệm đó, tác giả của ‘Mắt lệ cho người,’ ‘Giọt lệ cho ngàn sau,’ ‘Trên ngọn tình sầu,’ ‘Mùa xuân trên đỉnh bình yên’ cùng nhiều ca khúc trữ tình nổi tiếng khác nữa xứng đáng được mệnh danh là một trong những ‘nhạc sĩ của tình yêu’ của miền Nam trước 1975 và có lẽ là của nhiều thế hệ sau này nữa.
Bây giờ, những người đã vào tuổi trên sáu mươi, những lúc hồi tưởng lại những ngày ấu thơ ở quê nhà, chúng ta không bao giờ quên cái khung cảnh trong một thành phố nhỏ hoặc ở nơi một làng quê. Sinh hoạt của tuổi thơ lúc bấy giờ, ngoài những giờ học là những buổi đá bóng, tắm sông, thả diều, bắt dế hay lang thang trong những cánh rừng bờ ruộng. Tinh nghịch hơn là những lúc leo vào vườn lạ trộm ổi, hái sung cùng với cả trăm trò chơi tinh nghịch khác, khiến có lúc phải nằm thẳng trên giường cho ông bố nghiêm khắc đánh mấy roi quắn đít. Tuổi thơ ngày đó không có cả tình yêu đích thực, đó chỉ là bâng khuâng của tình mới lớn, qua những hình ảnh nhẹ nhàng trong thơ của Huy Cận, Tế Hanh chứ nhiều khi cũng chưa bao giờ mạnh dạn trưởng thành như tình ái trong thơ Xuân Diệu để nói “xích lại gần anh thêm tí nữa”. Đứng trước một người con gái chẳng bao giờ nghĩ tới vòng số 1 số 2, chỉ thấy mơ màng những sợi tóc cùng với tà áo, hay những riềm mi. Ngay cả tình yêu của thời Hoàng Anh Tuấn (sinh năm 1932) mà cũng:
“ … mối tình đầu khờ khạo
Em nhận thư, anh ngây ngất tủi mừng
Khi về nhà cười nụ với cầu thang
Một tuần lễ, vui như ngày thi đỗ”.
Sau một lần được trao thư tận tay người mình yêu, không biết số phận bức thư như thế nào, mà chàng trai đã thấy “đời bỗng dưng vui và rộn ràng chân sáo. Hầu hết vào lứa tuổi ấy cho đến lúc lập gia đình cũng chưa biết tới nụ hôn đầu. Những ngày đó, nhìn lại, bây giờ vẫn còn đẹp chăng, và nếu “cho tôi đi lại từ đầu thì chắc cũng chẳng có gì thay đổi cả. Với tâm trạng đó, bây giờ thấy lũ trẻ con cháu, bỗng dưng người xưa thấy thương hại cho chúng và có cảm tưởng như chẳng bao giờ chúng sống được một quãng đời thơ ấu cho có ý nghĩa. Nhưng người ta cũng biết đó chỉ là những ý nghĩ chủ quan, vì mỗi thời đã mỗi khác. Tôi thấy có những đứa cháu thích vùi đầu vào computer, trên những trang web, ngồi “chat” suốt mấy giờ liền mà không biết chán. Trong phòng bọn con trai chúng bày biện những hình thù quái đản của những nhân vật Darth Maul, Darth Vader, Yoda, Luke Skywalker … trong phim ảnh “Star Wars” và những tranformers ghép lại từ những mảnh lego, khi là một con vật nhe nanh vuốt đầy dẫy trong các loại phim Power Rangers, khi trở thành những anh hùng Robots mang trên tay các loại súng khổng lồ. Những nhân vật hấp dẫn của những đứa trẻ bây giờ là những con người vuông vắn như Spongebob Squarepants, tròn vo như Pokémon, nhọn hoắt như Yu-Gi-Oh, không biết rồi ra tiêu chuẩn về cái đẹp của vài mươi năm nữa sẽ ra sao. Bà ngoại chúng lo ngại có lẽ thế kỷ tới, những cô cháu sẽ mang về nhà những chàng rể có cái mặt vuông như miếng bọt biển rửa chén, hay những cô dâu có cái đầu nhọn hoắt.
Bọn nhóc đi từ Game Boy đen trắng, Game Boy Color, Game Boy Advance, tới Advance SP hay Nintendo DS, ở nhà, trên xe ngay cả ngoài bãi biển lúc nào cũng thích chúi đầu vào màn ảnh, với hai bàn tay liến thoắng lên xuống … Con trai bây giờ thì tóc phải highlighted hay lởm chởm như vành khăn của Nữ Thần Tự Do hay như nón người hiệp sĩ trong Quo Vadis thời La Mã. Con gái thì vành tai cũng phải có năm ba lỗ xâu như đồng bào Thượng hoặc thời trang luôn luôn phơi rốn mà chẳng cần biết tới chỗchôn nhau ở đâu.
Gia đình cô con gái tôi có cả một tủ băng video các loại phim hoạt hình của Walt Disney gồm các câu chuyện thần tiên như Tấm Cám, Người Đẹp Ngủ Trong Rừng hay chuyện cô Công Chúa Bạch Tuyết với những Hoàng Tử đẹp đẽ và những cô Công Chúa diễm lệ dịu dàng cùng những thú rừng thỏ, nai, sóc, dễ thương nhảy nhót. Tủ băng này được mua cho đứa con gái lớn từ những năm 90, hy vọng để lại cho những đứa em gái kế tiếp, nhưng chỉ mới trong vòng mười năm, những nhân vật thần tiên ấy đã đi vào quá vãng. Những đứa con gái của nó sau này không thích những nhân vật gây buồn ngủ như vậy, mà chịu các loại phim ma quái hay cảm giác mạnh. Nói về chuyện “gái trai”. (ông bà mình dùng hai chữ này để nói tới chuyện sex cho đỡ ngượng mồm) ở tuổi choai choai (teens) thì những thống kê ở Mỹ này làm cho các bậc phụ huynh đâm hoảng. Theo thống kê của Morbidity & Mortality Weekly Report đăng trên Washington Times (21/5-2003) thì trong tuổi này, có tới 60% các cô bé gốc Phi Châu, 46% dân da trắng và Hispanics đã làm tình “búa xua” và tỉ lệ này càng ngày càng tăng. Không nghe nói tới gốc Tàu và Việt Nam, hy vọng những gì ông Khổng Tử “viết” còn rơi rớt lại chút ít trong các gia đình này. Đối với các cậu choai choai thì tỷ lệ trong con trai trắng và Hispanics có thua bên con gái chút đỉnh, nhưng phía da đen thì có tới 73.8% đã có quan hệ tình dục trong tuổi thiếu niên. Theo nghiên cứu thì năm 1991 có 15.1%, sụt xuống năm 2003 còn 10.4% đám con trai đã biết “mùi đời” trước khi tới ngày sinh nhật thứ 13 (Graham/Miller Rubin, Chicago Tribune, 5/21).
Thế mà tội nghiệp cho bà chị đầu của tôi, ông bạn trai mới chụp nắm bàn tay một cái mà đã về khóc thút thít với mẹ vì sợ … có bầu.
Với cái tuổi lúc nhỏ đọc “Tâm Hồn Cao Thượng” bản dịch của Hà Mai Anh, học “Quốc Văn Giáo Khoa Thư”, lớn lên mê “Hồn Bướm Mơ Tiên”, thích cái cảnh chùa Long Giáng của ông Khái Hưng hay có phiêu lưu hơn là cảnh núi Văn Dú của Thế Lữ … thì coi bộ quá lạc hậu với đám hậu sinh sau này. Nếu nói “tôi xa Hà Nội năm lên mười sáu khi vừa biết yêu”, nhưng lúc bấy giờ hỏi yêu là gì, thì chắc anh chàng cũng ú ớ không biết trả lời thế nào. Cách đây hơn nửa thế kỷ, lúc 13 tuổi, tôi thèm có một cái áo mưa, một đôi “xăng đan”, nhưng một chiếc xe đạp thì không bao giờ nghĩ là mình có được. 55 năm sau, cùng tuổi ấy, cháu tôi cần một I-pod để download nhạc, internet và một cái cell phone tạm thời trong khi chờ đủ tuổi để làm chủ được một chiếc xe hơi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.