This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Người Việt mình rất hiếu học và trọng bằng cấp! Thầy giáo dù nghèo sặc gạch cũng được bà con mình trọng vọng; được mấy em đem lòng thầm thương trộm nhớ.
“Chẳng ham ruộng cả ao liền. Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ!” Để mai sau “ngựa anh đi trước; võng nàng theo sau!”
Chắc bà con mình còn nhớ chuyện Trần Minh khố chuối và Quỳnh Nga con quan huyện mà!
Rồi Tây qua! Ảnh hưởng văn hóa của thực dân, bà con mình dần dần thay đổi!
Giờ ai là nghề gì có chữ ‘sĩ’ là ngon hè! Như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ… (Chỉ trừ ông hạ sĩ).
Bịnh vô nhà thương gặp bác sĩ bà con mình co rúm sợ hãi dù phải móc xỉa trả tiền chữa bệnh.
Ngoài ‘sĩ’ ra còn ‘sư’ nữa. Như kỹ sư hoặc luật sư. Nên có câu vè: “Nhứt y, nhì dược; tạm được bách khoa!”
Rồi xưa giờ hay bà con mình cũng hay nghĩ là vô phước đáo tụng đình. Rất ngại lôi thôi cò bót hay ra Tòa thưa gởi tới lui. Thấy ai làm tới luật sư là nể, kính nhi viễn chi, đứng xa xa mà dòm chớ không dám lại gần.
Nhưng nước Úc nầy thì quan niệm hơi khác. Bất cứ ngành nghề gì mà nhận tiền của thân chủ thì: “Khách hàng là Thượng đế” nên chất lượng dịch vụ được cung cấp là phải đặt lên hàng đầu, là công bằng và sòng phẳng với số tiền mà thân chủ đã bỏ ra.
Úc khoái công bằng, ghét áp bức bất công. Nó ăn hiếp mình thì mình đi thưa nó. Chuyện nhỏ như con thỏ cũng đi thưa! Vì “Mình không sai thì chẳng phải sợ gì ai!”
Chớ người Việt mình thì chín bỏ làm mười, tự an ủi là: “Nó ăn hiếp mình cũng như nó ăn hiếp thằng cha của nó vậy mà!”
***
Johnny, người Úc, là ‘ní’, bạn thiết của tui! Vì cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút xách, tứ đổ tường nhốt tui chung với nó. Nhưng mà con vợ nó lại quá khó, kêu nó cuốn nóp ra khỏi nhà!
Dĩ nhiên tiền bạc suốt cả đời tom góp là của chung! Bắt mình trần đi ra đâu có được nè. Thế là nó mướn luật sư chuyên về luật gia đình ra Tòa cãi!
Kết quả cuối cùng là thua trắng! Luật sư gì mà cãi như hạch chỉ giỏi tính tiền không hè!.
Chiều cuối tuần rồi, đang ngồi nhậu, đấu láo um sùm thì nó ra dấu im lặng vô tuyến, đừng đứa nào hó hé gì hết ráo để nó gọi cho công ty luật của nó.
“Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi.” Bên kia đầy dây, tiếng một em thư ký ỏn ẻn báo tin rằng: “Dạ rất tiếc! Ông ấy đã ngỏm củ tỏi hồi tuần rồi!”
Johnny lại quay lại nhậu tiếp. Chừng 15 phút sau, bổn cũ soạn lại “Tôi muốn nói chuyện với luật sư của tôi!”
Em thư ký hơi bực mình rồi nhe, dắm dẳn: “Tôi đã nói là luật sư của ông đã chết hồi tuần rồi. Tại sao ông cứ gọi hỏi hoài vậy hả?”
Johnny cười khè khè đáp lại: “Tại vì nghe cái tin nầy, cứ lập đi lập lại, nó đã cái lỗ tai của tui biết là bao. He he!”
Johnny phân bua rằng:“Không phải mình tui ghét luật sư của tui đâu mà dân Úc, thằng nào bị vợ bỏ, cũng rứa.”
Ra Tòa chia con chia của, có mướn luật sư đại diện đàng hoàng mà quan Tòa xử xong là mình mạt.
Mất hết! Căn nhà của mình, phân nửa về em (không còn yêu nữa); còn phân nửa về tay luật sư của mình.
Johnny lên lớp tui rằng: “Nè trong 30 ngành nghề trong xã hội, dân Úc tin tưởng nhứt hạng là y tá. Hạng bét, tức hạng 30, Úc cho rằng là những tay bán xe hơi cũ chuyên môn nói dóc để bán được xe. Còn luật sư, dân Úc không tin lắm nên xếp đứng chính giữa, tức thứ 15 đó. Nhưng qua kinh nghiệm đau đớn ly dị vợ vừa rồi, tui cho tay luật sư của tui đứng hạng bét.”
***
Tui vẫn giữ quan điểm của người Việt mình là kính trọng người học giỏi, thông thái với cái đầu tóc giả và áo chùng thâm xuất hiện cãi sùi bọt mép tại Tòa.
Tui không chia sẻ quan điểm với thằng Johhny, vẫn cho nó giữ bản quyền mấy câu chuyện châm chọc về nghề luật sư dưới đây để bớt tức tối, kẻo tăng xông nó lên là chết không kịp trối.
Johhnny giận luật sư về gia đình thì cũng còn hiểu được. Nhưng nó còn giận luôn với mấy ông luật sư lo về di chúc, phân chia tài sản của người quá cố để lại. Vì cũng là con mà kẻ nhiều người ít…Tất phải gấu ó với nhau hè.
Càm ràm với ông (hay bà) đã đi bán muối rồi đâu có được; nên bao ấm ức tấm tức đem dội hết lên đầu ông luật sư có bổn phận phân chia tài sản theo di chúc.
Thiệt là oan ơi ông Địa!
Nên có chuyện xỏ xiên rằng: “Tú bà của một động yêu hoa ở Melbourne vừa mở cửa thì thấy một khách hàng ăn mặc rất lịch sự đúng mốt, cử chỉ lịch lãm dù tóc đã muối tiêu.
Ông khách yêu cầu: “Tôi muốn em Natalie!” Tú bà trả lời: “Natalie là em tính tiền cao nhứt ở đây đó thưa ông. Hay là gọi em khác rẻ hơn nhiều cho ông anh nhé?!” “Không! Tôi chỉ muốn gặp Natalie mà thôi!”
Lúc đó em Natalie xuất hiện cho giá: “Phục vụ từ A tới Z, 45 phút, 1000 đô Úc!”
Không một cái chớp mắt, ông anh móc trong cặp ra 10 tờ 100 đô cáu cạnh.
Cả hai sóng bước lên lầu! 45 phút sau, ông anh lặng lẽ rời đi.
Đêm sau, ông anh lại đến và lại muốn gặp Natalie. Em ỏn ẻn: “Đâu có ai đến liền tù tì hai đêm liền đâu. Dẫu vậy cũng không có chăm chước, giảm giá gì hết ráo. Phục vụ từ A tới Z, 45 phút, 1000 đô Úc!”
Không một cái chớp mắt, ông anh móc trong cặp ra 10 tờ 100 đô cáu cạnh.
Cả hai song bước lên lầu! 45 phút sau, ông anh lại lặng lẽ rời đi.
Đêm thứ ba người lại đến. Xong xuôi hết ráo, Natalie mới hỏi ông anh mình rằng: “Chưa có ai sử dụng dịch vụ của em ba đêm liền như anh vậy! Xin cho hỏi anh là người từ đâu đến?”
“À Tôi từ Sydney tới!” “Vậy hả? Em cũng có người thân ở Sydney đó!”
“Tôi biết! Ba của em vừa mới qua đời, tôi là luật sư của chị em. Bà ấy nhờ tôi trao 3000 đô nầy lại cho em đó!”
***
Rồi cũng lo về di chúc, ông luật sư nầy lại hên quá xá là hên, trúng mối sộp vô cùng!
Chuyện rằng: Một cụ bà gọi đến văn phòng một luật sư để làm di chúc.
“Suốt cả đời sống thui thủi một mình, tôi hiếm khi đi gặp bất cứ một ai; nên xin cô thư ký thu xếp cho ông luật sư đến nhà tôi được không?”
Công ty Luật độ rày ế quá nên viên luật sư bằng lòng chạy sô.
“Xin bà cho biết tài sản gồm bất động sản như nhà cửa, xe cộ, tàu bè, và tiền mặt bà có bao nhiêu? Và dự định sẽ cho ai?”
“Ngoài vật dụng như bàn ghế, tủ, chén trong nhà, tôi còn có 400 ngàn đô trong tài khoản ngân hàng Commonweath Bank!”
“Dà! Bà tính chia 400 ngàn đô nầy như thế nào ạ?” “À như đã nói, vì sống suốt một đời lặng lẽ, không ai thèm để ý đến tôi cả; nên lúc chết đi, tôi muốn làm đám tang của chính mình cho thật lớn, có ban nhạc rock, có cả vũ sexy. Nên tôi dự chi 350 ngàn đô cho lễ an táng của mình.”
“Chu choa! 350 ngàn đô một số tiền quá lớn! Đám ma của bà chắc hẳn rất là hoành tráng, thiên hạ sẽ lé mắt hết trơn. Trả thù đời như vậy cũng đáng đồng tiền bát gạo!”
“Dà còn lại 50 ngàn đô, bà tính ra làm sao?” “Như luật sư biết, cả đời sống cu ky một thân một mình, tui chưa biết mùi đời là gì hết. Trước khi chết đi, tôi cũng muốn nếm thử coi nó ra làm sao? Xin luật sư sắp xếp cho tôi một người rồi trả công cho anh ấy 50 ngàn đô còn lại nhé!”
Về nhà, viên luật sư kể cho vợ nghe câu chuyện hơi lạ lùng nầy thì em yêu sáng mắt lên như mắt cú vọ: “50 ngàn đô một số tiền quá lớn! Thôi đừng mướn ai hết! Anh làm đi, em cho phép đó!”
“Sáng mai, em sẽ chở anh yêu đến đấy, em sẽ đợi ngoài xe cho đến khi anh xong việc.”
Sáng hôm sau, em yêu ngồi đợi ngoài xe. Một tiếng đồng hồ trôi qua, nóng ruột, em bóp kèn xe kêu inh ỏi.
Thì cửa sổ phòng ngủ trên lầu mở ra, anh luật sư ló đầu ra, la to: “Mai trở lại đón anh đi! Bà ấy đã quyết định để ‘cáo sồ’ lo việc an táng khi bả chết!”
***
Chính vì làm luật sư ắt phải thông minh học giỏi, nên đôi khi trong từ điển cuộc đời bôi luôn từ khiêm tốn. Hở ra cứ hù thiên hạ không hè nên phải ngậm đắng nuốt cay như câu chuyện dưới đây. Một luật sư lần đầu tiên đi săn vịt trời ở tiểu bang Queensland. Ông nổ súng và một con vịt bị bắn hạ rơi vào một nông trại có hàng rào ngăn cách.
Viên luật sư định leo rào vào thì ông chủ nông trại lái chiếc máy cày ngang qua hỏi: “Ê! Làm gì đó cha nội?”
“À tôi bắn một con vịt trời, nó rớt xuống cái ruộng nầy, tui leo vào để lượm mà!” “Đây là điền sản của tôi; ông không được quyền leo vào!”
Viên luật sư hù: “Nghe nè ông già! Tui là luật sư giỏi nhứt nước Úc đây. Cãi vụ nào cũng thắng. Nếu ông không cho tôi leo vào lượm con vịt; tôi sẽ đưa ông ra Tòa, sẽ làm ông tán gia bại sản! Đừng giỡn mặt với luật sư số một nước Úc nhe!”
“Ôi! Ngài luật sư không biết cách giải quyết những bất đồng ý kiến của dân Queensland chúng tôi rồi!”
“Ở đây chúng tôi xử theo tập tục là: Đá ba cú!”
“Nghĩa là sao?” “Nghĩa là trước tiên tôi đá ông ba cú. Sau đó ông đá lại tui ba cú.
Cứ đá qua đá lại tới chừng nào một bên chịu không nổi phải thua!”
Vốn là người thông minh, nhanh trí, nghĩ mình còn trẻ khỏe, lực lưỡng vì đi ‘gym’ mỗi ngày; còn đối thủ một ông già lụm khụm rồi mình ăn chắc.
“OK! Tui với ông giải quyết bất đồng theo dân luật của Queensland đi. Ông già rồi! Tui cho đá tui trước!”
Ông lão nông co cẳng đá một cú trúng cái đầu gối, đau quá khiến viên luật sư muốn khụy xuống. Cú thứ hai trúng ngay cái cột thu lôi, chỗ hiểm, làm viên luật sư mặt xanh chành vì tức thở! Cái thứ ba dính vào cái bụng nghe cái hự! Chu choa đau quá! “Rồi! Tới phiên tui!”
Thì ông già cười hè hè nói: “Thôi! Tui chịu thua! Ông luật sư được quyền leo vào, lượm con vịt về nhà nấu cháo ăn đi!”
Là học trò miền Nam, mình không thông hiểu chữ bộ đội. Lẽ nào ám chỉ thành phần chuyên lội bộ và đội đồ? Nghe chẳng ổn, nhỉ? Nhưng cứ mường tượng ra một kẻ chuyên trị đi bộ và đội đồ, nhìn mặt rồi bắt hình dong thì trông chừng dáng vẻ ấy nó rập khuôn với mấy o bộ đội. Như hai giọt nước.
Sau năm Một Chín Bẩy Nhăm, khi san bằng vĩ tuyến 17 hai miền thông thương, chúng sinh miền Nam đã tập làm quen con mắt dần dà thôi dị ứng với những nhân dạng quê mùa, cục mịch chốn nào cũng hiện diện có chung tên gọi: Bộ đội gái. Lỡ ăn dầm ở dề với da thịt lụa là, với thanh cảnh, với mình hạc xương mai, với yểu điệu thục nữ, với xô động hương mùi, với đài các khói sương, với beauté, với “em là con gái trời bắt đẹp”… cho nên lỡ bị ngó ra mấy o trách sao người ta không choáng, không sốc. Người ta giật thót mình mẫy và xằng bậy thay, người ta đã “cười trên nỗi đau của kẻ khác”. Trời ơi! Lính cụ Hồ ngó quê một cục. Người ngợm ngó bắt nản. Đờn ông con trai miền “được” giải phóng có đối diện cũng xin bất tương phùng tựa phỏng dái. Thanh niên gãi đầu: Dạ, bị trên bảo mà dưới không nghe. Cứ xìu xìu ển ển miết, chừ em biết tính làm răng hở chị! Cái sự cố này hổng có liên hệ tới nhất trung ương nhì địa phương đâu nhé. Cũng chả dính dáng tới thơ thẩn: “Bề trên ở chẳng chính ngôi, để cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào”. Ngộ nhỡ thằng cu đen nó hỗn hào đột xuất thì chị bộ đội mừng húm. Chị nhớ ông Bút Tre: Má kề nòng súng thẳng đơ, tay suông chị cứ bóp cò sướng chưa. Có vậy chứ, công trình chị xẻ dọc Trường sơn vào đây lôi em ra khỏi bàn tay lông lá của bọn Mỹ Nguỵ, em tha hồ hỗn láo đêm bảy ngày ba vào ra không kể để giải hạn cho chị, cứ bắn trực xạ vào mình chị, cho chị bỏ những ngày cơ cực. Trong khi mà lắm kẻ mãi hoang mang ngờ vực: Cớ sao mình lại cháy túi trong canh bạc xui tận mạng này, trước một đối tượng ngô không ra ngô khoai chẳng ra khoai kia, thì Dương Thu Hương, đại diện cho bộ đội gái đã thổn thức không kềm lòng cho nước mắt tuôn, khóc ròng khi dẫm được bàn chân lên bờ cõi nọ: Than ôi, ta đã bị lừa bịp quá đỗi trắng trợn. Chú phỉnh ta rồi chính phủ ơi! Chốn này hơn cả vạn lần chốn kia. Hơn con người, hơn văn hoá, hơn cảnh vật, hơn luôn cả bầu khí quyển đang bắt đầu tan tác mây trôi. Ta khóc chính vì sự ngược ngạo trái khuấy ấy. Bi kịch nằm ở trường hợp khóc lẻ tẻ nọ, phía thắng cuộc, tuyệt đại bộ phận đều hồ hỡi phấn khởi “em về điểm phấn tô son lại, ngạo với phương Bắc một nụ cười”. Từ đi bộ đội đồ họ biến đổi thân phận đi xe thồ đồ, đi tầu vác đồ, dùng đủ mọi phương tiên để khuân của cải “phồn vinh giả tạo” của miền Nam trực chỉ Bắc tiến. “Chúng nó ăn không từ một cái gì”, từ một vùng đất mầu mỡ rừng vàng biển bạc, phút chốc miền Nam bị giải phóng thành một bãi tha ma. Công trạng này một phần có sự tiếp tay của bộ đội gái, của những “người mẹ anh hùng”. Người ta không quên ơn, đã tạc nên bức tượng thật hoành tráng, cực choáng, cực kỳ vĩ, siêu khủng và cũng… mất mỹ thuật. Hình minh hoạ ở đầu bài thì khác, đây là bộ đội Trung quốc. Mấy o này chẳng biết đóng quân ở đâu? Căn hộ tập thể với tường vôi sứt mẻ gạch đá e không khéo cắm dùi tận chốn hiu quạnh xa đất liền? Hoàng Sa Trường Sa chăng? Họ cố làm vơi nỗi nhớ nhà bằng cách tụ tập hát hò, đèn thắp sáng, đèn cháy bỏng niềm thương về hậu phương dạt dào cách trở thiên dặm hải lý. Chắc hẳn họ không biết bài ca của bọn phương Nam thù địch “đường ra trận mùa này đẹp lắm” ?. Đẹp cái khỉ mốc, bản cô nương đang lậm nhớ thằng người yêu bé bỏng ở hậu phương đây, nhớ đến thắt cửa mình. Mình mà đi công tác dằng dặc lâu, tiền đồn trấn nhậm nơi lạ nước lạ cái, bọn người iu ở nhà không khéo mà sanh bạc lòng, chúng xuôi Nam, chúng tuyển vợ Duỵt-nàm-dành thì bỏ mẹ! Nghe nói ở xứ ấy, chúng nó lựa gái giống như đi chợ lựa cá tôm.
Xem con nào ương con nào tươi, mặc cả rồi bê về bắt phục dịch. Ngôn ngữ bất đồng? Thì cứ ú ớ chơi chị năm. Có sao đâu? Cờ nó chỉ một sao, cờ ta thì cả nạm sao chư hầu. Nó lấy tư cách gì đàm phán với ta, thằng đàn em hỗn láo.
Tranh vẽ của một hoạ sĩ nhân dân nào đó, thấy trên mạng, chẳng nhớ tên. Hoạ sĩ này chắc sanh sau đẻ muộn, thôi ám ảnh thời cách mạng văn hoá, đã vung tay quá trán cho mấy cô bộ đội ăn vận hơi bị mất tác phong quân đội. Tranh của vị xếnh xáng này so ra không hơn được hoạ sĩ Vi Vi của phương Nam ngày nọ. Không màng tới đội ngũ bộ đội, chứ nếu vọc tay vào, Vi Vi sẽ vẽ “tới” hơn. Liên tưởng tới người hoạ sĩ từng một thời phiêu bạt ở Montréal vì chợt nghĩ, nếu dưới bức tranh này ký tên Vi Vi thì cũng rứa, ngó xêm xêm chẳng ai thét mét, bởi chàng rất giỏi ở lãnh vực cơ thể học, dessin vững, dựng hình khối rất chuẩn và thiếu nữ trong tranh chàng… bộ đội gái ngó phải chảy nước miếng. Anh ơi, em lột truồng ra nhé, để mong anh vẽ cho em một tấm tranh nuy. Đừng run tay cầm cọ, xin hãy nghía em một lần cho thoả. “Bây giờ em đối diện anh, cỏ trên mình mẩy em sầu như ri đây!”
Đã là bộ đội e thắp đuốc tìm chẳng ra gái đẹp, hoạ sĩ nhân dân này khi lao động buộc lòng phải đánh tráo sự thật, hòng ca ngợi và cổ động binh lực của họ. Một gã bất hạnh bị đắm tàu lạc vào hoang đảo, trời xui khiến bắt gặp bầy “ma nữ” này thì lo kiếm cách mà tìm đường vượt biển kẻo chết không toàn thây. Họ xa luân chiến, họ dụng binh, mang chiến thuật lấy thịt đè người thì còn gì tính mạng nam tử hán mí lị đại trượng phu. Phải ngửa mặt lên trời mà ta thán, thống thiết kiểu Chu Du: Trời sinh ta sao còn sinh một tiểu đội gái sung! Một khẩu K-59 hèn mọn lủng lẳng dấu trong quần mần sao đương cự nổi với ngần ấy B-40 với cối to đùng! Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cọng thêm giờ nghỉ là lao động tắt quạt kiểu như nối lại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, chứ sức nghỉn đâu mà phục vụ hết Triệu Minh lại tới phiên Chu Chỉ Nhược, Tiểu Long Nữ vừa nhào vô đã thoáng thấy Hoàng Dung trút bỏ xiêm y đợi chờ. Than ôi! Biết vậy trước đây ta nên tu luyện Tịch Tà kiếm phổ để triệt tiêu chim cò thì giờ này khiến cho đối tượng tức ói máu. Cứ xìu xìu ển ển thì làm gì nhau, binh pháp gọi bất chiến tự nhiên thành là vin vào lẽ ấy. Có ưa thì ngủ chay thôi, nhớ? Ôm ấp hôn hít bậy bạ vậy thôi cho qua đêm dài lắm mộng, chứ tại hạ không thể thân này ví xẻ làm năm được, các hạ có OK?
Bộ đội phương Nam có còn ngon cơm như thuở nọ? Cái thời mà “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Cái thời mà lắng lòng nghe dân anh chị phương Bắc rót mật: Sông liền sông núi liền núi, chớ hở môi mà răng lạnh, hử? Giờ này hoà bình đã bốn mươi năm e cơm cháo thảy nguội lạnh mất rồi. Văn không ôn võ nhác luyện đã đành, quan trọng hơn, lòng dạ lỡ nhuốm bệnh hoài nghi ngờ vực mất rồi. Ta vắt kiệt tuổi xanh cũng giống như lãnh đạo vắt chanh bỏ vỏ. Đời ta trước sau vẫn vậy, đi từ nghèo đói tới giáp vòng đói nghèo chẳng sanh đột biến; nhưng thượng tầng kiến trúc thì dinh thự nguy nga xe cộ bóng lộn lon lá đầy mình không-phong-tướng-anh-em-họ-tâm-tư. Hoá ra ta dâng trọn sức lực mình để cho ai kia thụ hưởng thành quả. Lịch sử sang trang, giờ đây ta còn nhuệ khí nào để ra tuyến đầu mà làm vật cản, mà đánh đấm người anh em, người đồng chí ngày cũ? Phương chi súng ống này, đạn dược này thảy đều do họ chi viện cho ta. Thua, thua tứ tung bát giác thù trong giặc ngoài. Tình ngay ta cũng biết ngậm đắng nuốt cay, một liều ba bảy cũng liều, có điều mấy vị đại ca ở trên e lòng dạ cũng ngổn ngang trăm mối nên cứ thầm thà thậm thụt tịnh khẩu như bình. Mấy ảnh im re nên ngày 14 tháng 3 năm 1988 mới xẩy ra sự cố là 64 chiến sĩ hải quân ở Gạc Ma đứng như phổng đá để làm bia cho chúng bắn trực xạ vào người oan ôi ông địa. Thù này phải trả! Có ai thốt nên lời ấy chưa? Đụng trận, tả xung hữu đột, đứng trước ba quân mà thề nguyền, tự cổ chí kim chuyện gay cấn nọ tuồng không mắc mớ chi tới phận đàn bà. Nhi nữ thường tình xứ An Nam chỉ nổi trội duy trong lĩnh vực nội trợ hoặc trèo đèo lội suối lặn lội bới xách đi thăm nuôi chồng học tập rừng sâu. Chung thuỷ giỏi dang chỉ ngần ấy thôi đã sớm tàn lụn một kiếp nhân sinh bọt bèo hồng nhan đa truân. Sau lưng một người đàn ông tiếng tăm luôn có bóng dáng của phụ nữ. Ẩn mặt trong bóng tối cuộc đời Tú Xương vẫn hiện hữu một người tự nguyện làm thân cò lặn lội bờ ao nuôi chồng nuôi con không quản ngại giông bão, kìm hãm được tiếng than van. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh! Vừa dứt câu thì hiện ngay ra công án với dấu hỏi to đùng: Vậy chứ đàn ông trốn biệt đi đâu?
“Chiếc gạt nước như xua tan nỗi nhớ, ở Trường Sa em lại tương tư Hoàng Sa”. Bài hát mùi boléro nọ e bất khả sáng tác tự biên tự diễn. Mới rục rịch xuống đường đi biểu tình thôi đã bị tó, cho nhập kho thì sức nghỉn đâu mà đòi chủ quyền này nọ. Về nhà đi nhớ, chuyện nước non đại sự thì trên, lãnh đạo họ có cách giải quyết, họ sẵn phương án hành động rồi. Ưa uýnh nhau hở? Haizz, nếu gây ra chiến tranh một mất một còn thì tự thuở nào tới giờ chỉ có dân ngu khu đen mới thiệt thòi lãnh đủ thôi bà con ạ. Lời thật thường mất lòng, lãnh đạo mới tậu cái ghế xịn nom như ngai vàng, chắc như kiềng ba chân, ngự lên trên thì y như rằng một sợi lông cũng chẳng rụng, để yên cho mấy người ra yêu sách đá đảo này nọ thì có khác gì vẽ đường cho hươu chạy. Ốm o xo bại là thế mà sao ưa tơ tưởng được voi đòi hai bà Trưng, hử! Nghe đây này, đã có vị tướng mần cuộc so sánh: Nói về sự đối đầu giữa bộ binh thì chưa rõ mèo nào cắn miêu nào, nhưng xét về lực lượng hải quân thì ta phải nhìn nhận điều không thể chối cãi, ta không cách gì so bì với Trung Quốc được. Họ hiện đại lắm cơ!
Bạc nhược chăng? Thức thời chăng? Khiếp vía chăng? Hay thuộc làu binh pháp “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Quan võ đã nói thì chí ít cũng có chút cơ sở do kinh nghiệm tích luỹ. Nhưng mà tướng, sao trong thời chiến quân đội ta chỉ có 56 ôn mà giai đoạn hoà bình này lại có tới 1000 ôn? Lon lá đeo kín ngực để làm gì nhỉ, ăn không ngồi rồi thì hơi bị lãng phí nhỉ? Dân số 90 triệu mà có 1000 vị tướng, bà con nên xem đó là một tỉ lệ khiêm nhường chứ lị. Và cơ bản, hệ trọng nhất, bà con chớ dại mồm dóng hỏi, 1000 vị thì có mấy trăm vị lỡ móc ngoặc mần ăn chia chác với Trung Quốc?
Xưa kia mình có cô bạn gái, chẳng ngờ gia đình cô có công với cách mạng, anh em bà con giòng họ từ ngoài Bắc vào sum họp rộn ràng đoàn viên. Dĩ nhiên cô được chế độ ưu ái bổ nhiệm cho một công việc có nằm mộng cũng chẳng ngờ. Mình không biết cơ quan cô nhằm điều hành chuyện chi trong cái thành phố bát nháo thuở nọ nên mình liệt kê cô là bộ đội gái cho tiện việc sổ sách. Cô thay đổi tư duy, ban đầu nói cạnh nói khoé, riết được trớn mắng mỏ mình như tát nước. Thời gian như nước chảy chân cầu. Nắng mưa là bệnh của đất trời, mới đây cô viết email xem chừng khuynh đảo đánh mất lập trường. Mình đọc, rất tâm tư. Cô bảo ta hơn Trung Quốc cái gì nào? Nói nghe thử? Văn học ta chưa đạt hoả hầu trong khi bên Trung Quốc vô số kẻ tung chưởng phong đều tích tụ tới 12 thành công lực, chỉ riêng ông nội Kim Dung cũng khiến hắc bạch giang hồ chốn ta xiêu hồn bạc vía, chưa tính tới Mạc Ngôn linh tinh các thứ. Điện ảnh xứ ta phải vòng tay gọi Trương Nghệ Mưu là sư phụ. Thời trang ư? Bọn trẻ xứ ta luôn đi săn hàng hiệu do Trung Quốc nhái. Ẩm thực ư? Biết thức ăn người nước lạ ngâm tẩm độc dược vẫn tranh nhau đớp hít. Cần tiền chăng? Sang xứ ấy bán thận bán gan hoặc bán luôn cả thân thể. Rồi sẵn dịp đi tham quan Vạn lý trường thành, không đặt chân lên đó hổng phải là hảo hán… Cô bạn mình chấm dứt mục bình luận bằng lời than, nghĩ mà tủi cho vong linh của tiền nhân! Chuyện nọ xọ chuyện kia, nói Sở xong quay qua Hán, Lưu Bị xong lại móc ngoặc tới Tào Tháo, tràng giang đại hải cứ y như là Mao Tôn Cương. Ba hồi bảy đỗi, nói qua nói về không bằng nói thiệt, đương sự cho hay là cô rất nhớ mình, cô ước ao có ngày mình khăn gói quả mướp làm diệt kiều về thăm lại chốn xưa chôn gò đống kỷ niệm.
Mình chẳng vắt tay lên trán trằn trọc năm canh, ba mươi giây có ngay đáp án, mình hát: Không, không, trăm lần không vạn lần không. Mình đọc thơ: Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai. Mình chảnh kiểu Kinh Kha một đi không trở lại. Rứa đi nghe, hẳn chờ một ngày trời quang mây tạnh mới tính được. Quê hương mình cực lắm người ơi!
Cả tháng trời công tác địch vận ra sức chiêu hồi cứ nước đổ đầu vịt, sau cùng cô giở hạ sách, theo kiểu trường phái Bút Tre:
email anh viết thật bay bướm em mong đợi từng ngày từng đêm.
Bộ đội gái vốn không mấy đẹp thời hoàng kim, giờ này bốn bó lẻ ba que thì nhan sắc ắt phải nhạn trốn chiều tà, lấy tư cách gì mà tính kế mỹ nhân!
Em nay về viện bảo tàng Thực thi công tác cách mạng giao cho.
Một chuyện tình buồn sau ngày 30 tháng Tư, 1975… Rất nhiều cuộc tình dang dở sau ngày dài đau thương đó…
Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.
Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.
Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.
Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.
Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh. Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
– Anh chờ em có lâu không?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.
– Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.
Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:
– Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
– Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.
Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.
– Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.
– Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.
Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun, loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.
Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài Bắc.
Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong Nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang Không Quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan Alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng Tư, thì hai người đã làm đám cưới.
Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà Lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.
Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.
Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.
Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.
Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả.
Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.
Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.
Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:
– Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.
Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:
– Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.
Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:
– Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta.
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá. Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.
Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.
Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.
Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.
Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
– Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.
Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:
– Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.
Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:
– Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!
Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:
– Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.
Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.
Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.
Mùa Hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị,. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexico. Đến ngày thứ Bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.
Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.
Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.
Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.
Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp Tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.
Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu nhạc phẩm “Ai Lên Xứ Hoa Đào” với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.
Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.
Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:
– Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?
Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:
– Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
– Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.
Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.
Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:
– Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:
– Xin lỗi, em không nhớ ra.
Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:
– Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ
Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:
– Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với… ai đó!
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.
Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
– Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.
Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.
Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:
– Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, Chủ Nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”.
Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ Bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều Chủ Nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.
Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:
– Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ. Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.
Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.
– Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.
Tôi đỡ lời:
– Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?
Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
– Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?
Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
– Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!
Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.
Cô gái hạ giọng:
– Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.
Tôi nhìn cô ngờ vực:
– Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.
– Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh. .
Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:
– Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn.
Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
– Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa Đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.
Tôi giật mình hoảng hốt:
– Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?
– Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
– Và chị đã chết? Tôi hỏi
– Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.
– Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?
– Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
– Còn chị Hà Nhất Anh?
– Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.
Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:
– Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt.
– Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
– “Đồi Thông Hai Mộ”. Tự dưng tôi buột miệng.
Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:
– Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà Lạt có khá nhiều “Đồi Thông Hai Mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
– Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?
Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:
– Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.
Rồi quay sang tôi:
– Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.
Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.
Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:
– Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.
Nhị Anh nắm tay bà cụ:
– Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.
Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.
Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:
– Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?
Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:
– Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.
Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.
Thoạt đầu kẻ viết bài này định dùng mấy chữ “máy vi tính” hay “máy điện toán” thay cho “computer”, nhưng thấy vẫn có một điều gì đó chưa ổn vì đồng bào hải ngoại của chúng ta có lẽ 90% vẫn nói là “computer” thay cho “vi tính, điện toán” như ở trong nước. Rồi chúng ta lại nghe danh từ “phần cứng”, “phần mềm” dịch “sát sàn sạt” từng tiếng một, lên internet thì gọi là “lên mạng, xuống mạng” hay “rớt mạng”. Làm thân chữ nghĩa trong chế độ XHCN thì lại bị còng, cùm, khóa tay khóa chân thật tội nghiệp. Nếu có quyền, tôi đã đề nghị với Viện Ngôn Ngữ Hà nội (!) xin tha tội cho chữ @, chỉ gọi nó là @ vòng, @ khoanh, chứ đừng gọi là @ còng mà tội nghiệp. Tôi không hiểu vì sao quí vị lại thích dùng những tiếng có tính cách áp đảo đầy hăm dọa như thế, hèn chi thiên hạ cũng không thấy làm lạ, khi người ta đòi “thề phanh thây uống máu quân thù” ngay cả trong quốc ca. Cái mà xướng ngôn viên Vũ Chung của đài VNCR đã nói rằng “tới sở ông ôm nó suốt ngày, về nhà ông lại ôm nó suốt đêm” thì không có gì khác hơn là cái máy “computer “đã hầu như quen thuộc của mọi gia đình, từ đứa bé lên năm cho tới ông cụ chín mươi tuổi, và công dụng đa năng của nó thì ai cũng phải công nhận. Trong các cái mê ngày xưa các cụ thường nói tới cái mê “tứ đổ tường”, mê gái, mê cờ bạc, mê rượu chè, mê thuốc phiện, thêm vài chút mê vô hại nữa như mê thuốc lào, mê đi câu, mê đọc sách … Cái câu “thư trung hữu nữ nhan như ngọc” ngày xưa ấy chắc cũng chỉ có nghĩa bóng thôi cho nên hồi ấy người ta mê sách không bằng bây giờ người ta mê computer, vì trong computer có đủ gái đẹp hở hang, cờ bạc, mua bán, sách vở, âm nhạc, hội họa và cả vô số thứ hấp dẫn con người trên hành tinh này.
Tại thành phố Krakau, Ba Lan có một bà mẹ vừa bị tòa án tước quyền nuôi con vì bà này mê … computer hơn hết thảy những gì đang có trến đời. Một nhân viên Sở Xã Hội đã khám phá ra suốt ngày bà ngồi trước máy computer, con cái bỏ bê, hóa đơn mọi thứ không buồn trả, ngoại trừ cái hóa đơn internet. Trong nhà bà này, mọi thứ đều ngổn ngang, dơ bẩn, ngoại trừ cái máy PC của bà được lau chùi sạch sẽ. Thông tấn xã PAP của Balan cho biết, không những bà bị mất quyền nuôi dưỡng con cái mà còn phải tới bác sĩ chuyên môn để chữa bệnh ghiền … computer. Tuổi trẻ ở các nước tân tiến, trước kia thì chú ý tới game, bây giờ thì suốt ngày dính liền với máy computer quên cả ăn uống học hành. Những gia đình dùng internet qua điện thoại thì đường giây luôn luôn bận rộn không ai liên lạc được. Những đứa trẻ ít đi ra ngoài chạy nhảy hay chơi thể thao lại là những đứa trẻ ngồi trước máy computer suốt ngày, vì qua internet, quả là một thế giới rộng mở với nhiều việc ly kỳ, hấp dẫn lôi cuốn. Trong cộng đồng của chúng ta cũng đã có hiện tượng quí bà mê computer để cả nhà phải ăn “cơm chỉ” hay cửa nhà bề bộn, cũng có vài cụ bà cao niên than phiền rằng “không biết có gì trong computer mà ông ấy cả ngày chúi đầu vào, mỗi lần thấy tôi đi đâu về ông ấy lại bảo:
– Sao bà về sớm thế?”
Quí ông cũng nên coi chừng đừng mê computer quá mà xao lãng cả việc “trả bài” sẽ có cơ nguy vợ đưa ra tòa xin ly dị. Computer cũng đã gây ra nhiều vụ án tình bi đát qua “chat”, người bên đông kẻ bên tây, khi liên lạc thường không nói thật, che dấu tên tuổi, dung nhan của mình, ôm ấp biết bao nhiêu mộng lành, đến khi gặp nhau, vỡ mộng đành phải mượn tới cái chết, như trường hợp một cô gái từ Anh Quốc lặn lội sang Mỹ để tìm một người yêu trong mộng của “trang điện toán”. Những vụ dụ dỗ trẻ em vị thành niên vào con đường trụy lạc trên máy không thiếu, vụ tìm người để cho mình ăn thịt xẩy ra bên Đức năm ngoái cũng được liên lạc, móc nối qua internet.
Rùng rợn nhất là vụ một phụ nữ giết người mang thai mổ bụng để lấy thai nhi tại một thành phố nhỏ, Skidmore, Missouri mới tuần trước đây. Lần theo những liên lạc trên internet của nạn nhân, cảnh sát tin rằng thủ phạm là Lisa M. Montgomery 36 tuổi và nạn nhân Bobbie Jo Stinnett, 23 tuổi đã trao đổi với nhau về việc mua bán một loại chó “ratterrier” trên máy computer, do đó kẻ giết người đã biết rõ về bà mẹ mang thai gần ngày sinh và đã ra tay hành động như trên. Một chuyện tình oái oăm vừa đươc kể qua báo chí là một chuyện liên quan đến internet khiến ta phải cười ra nước mắt. Số là một đôi vợ chồng nọ ở Jordan đang sống trong tình trạng ly thân và cả hai đều buồn nản, thất vọng đi tìm nguồn an ủi về một người bạn nào đó chưa gặp mặt trong một “chat room”. Người chồng là Bakr Melhem mang tên Adnam, một thanh niên trí thức và vợ là Sanaa mang tên Jamila, có nghĩa là “diễm kiều”, tự mô tả mình là một thiếu nữ độc thân, có văn hóa, thích đọc sách. Sự trao đổi lãng mạn và mơ màng trên “net” này kéo dài ba tháng, đã đem họ đến gần nhau, thề thốt yêu nhau và nhất định gặp nhau tại một trạm xe bus ở Zarpa, phía đông bắc Amman, để đi đến lễ cưới. Quí vị cũng đoán được tình huống ra sao khi hai người gặp nhau. Tình trạng ly thân đã đưa đến sự ly hôn thật sự, theo luật “ngoại tình” Hồi Giáo, và cô Sanaa đã té xỉu sau khi chửi thằng chồng là “đồ khốn nạn”.
Computer, theo các dữ kiện của Bộ Y Tế Nhật Bản lại bị lên án là thủ phạm làm cho số thu nhập của hãng làm bao cao su Okamoto xuống thấp, từ số tiêu thụ 737 triệu trong năm 1980 đã xuống chỉ còn 419 triệu trong năm 2003. Báo cáo này nói người Nhật mê computer đến họ có thể ngồi bên cạnh máy suốt đêm để lên internet, thì đâu còn cần tới sex nữa. Cứ như vậy, ông một máy, bà một máy thì nước Nhật một thế kỷ nữa sẽ không còn … người nữa. Nữ phát ngôn viên của hãng condom này, trong dịp ngày chống AIDS thế giới vừa qua cũng đã than phiền một cách rất buồn cười rằng, sở dĩ ngành sản xuất bao cao su thất thu, một phần là những hình ảnh dâm tục đề cập trên internet qua những pha làm tình không bao giờ thấy dùng tới bao cao su (!). Một chuyện khác là cái computer nhỏ xách tay thường người ta mang theo khi di chuyển, du lịch, để trên đùi mà làm việc thì người ta gọi là cái “laptop”. Vậy mà cái laptop ngày nay cũng sinh chuyện rắc rối. Ông Sheykin, một khoa học gia của Hoa Kỳ đã cảnh báo rằng, thanh thiếu niên chớ nên để laptop trên đùi, nhất là để trên đùi lâu mà làm việc chắc chắn sẽ mất khả. năng truyền giống, nói tóm lại là không thể có con để nối giõi. Người ta đã đo nhiệt độ của tinh hoàn (hay ngọc hoàn) của 29 trường hợp thử nghiệm, cứ dùng laptop để lên đùi 15 phút, trong khi máy tỏa ra ngoài một nhiệt độ 40 độ C, thì tỏa xuống “chỗ hiểm” làm nhiệt độ tinh hoàn tăng lên 1 độ, và chỉ với 1 độ thôi là tinh trùng đã bị hủy hoại. Như vậy mà người dùng laptop làm việc quá lâu, từ giờ này sanggiờ khác đương nhiên sẽ bị một sự tổn hại khó lường và sẽ mất hết khả năng truyền giống. Tuy nhiên không nghe nói phụ nữ dùng laptop để trên đùi có ảnh hưởng gì tới các noãn sào không, nhưng có lẽ là buồng trứng nằm ở địa điểm khá xa cặp đùi nên chắc là nhiệt độ của laptop không có ảnh hưởng gì. Không nói chuyện ở sở làm, các bạn đã thường sinh hoạt với cái máy computer mỗi đêm lúc về nhà hai giờ tới sáu giờ, nghĩ thế nào cho đến một hôm cái máy bỗng nhiên bị crash hay bị virus, phải ngưng làm việc và đem đi sửa. Cái thời gian mà bạn ngồi trước máy, thay vào đó, bây giờ bạn làm gì? Đọc tin tức, trả lời thư tín, tìm một địa chỉ, “chat”, viết thư, lay out bài vở, sửa một tấm ảnh … vô số việc phải đình chỉ. Có phải chăng là bạn thấy trống trải, đi ngủ sớm mà không ngủ được, vào ra thơ thẩn như nhớ tới người yêu.
Phải so sánh nỗi nhớ đó như nhớ thuốc lào hay nhớ cần sa, ma túy? Giá mà bà vợ phải về thăm bên ngoại mươi hôm, nhà cửa có lẽ cũng không trống trải bằng cái computer cứ nằm ỳ ra đó không có ánh sáng, hay đã được đem đi, để lại một khoảng trống buồn bã trên chiếc bàn làm việc quen thuộc. Thành ra người xưa nói đâu sai “hữu thân, hữu khổ”, có cái gì khổ cái đó, xưa không có computer không thấy khổ, giờ có nó, đôi khi lại thấy khổ. Vào thời văn minh, tân tiến có lẽ người ta còn nhiều thứ khổ hơn thời còn ăn lông ở lỗ.
Một bạn văn có chuyển cho tui bài: ‘Cà Phê Vớ’. Tui nghi tác giả là Ba ke hai nút, ló cọng rau muống dài thòng; vì chữ ông dùng mắc cười quá xá. Như: “nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt”. Nhắm mắt là chết. Không nhắm mắt là không chết. Muốn nói không ngủ được thì người Sài Gòn sẽ nói là: “không chợp mắt” ông ơi!
“Sài Gòn người ta nói đi uống ‘cà phe’. Tiếng Tây là café, tiếng Anh là coffee; nhưng mấy chú Chệt Chợ Lớn thì gọi là ‘cá phé’. A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo, chủ tiệm nước chuyên bán điểm tâm hủ tiếu, bánh bao, há cảo, xíu mại và cà phê vớ.
Một chiếc túi vải hình phễu được may cặp với một cọng kẽm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê này hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại. Tiếng lóng bình dân gọi là kho cà phê. “Kho” độ 5,10 phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách.
Cà phê vợt
Duy chỉ có ở Sài Gòn và Lục tỉnh miền Nam mà thôi. Dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc. (Sic).
Nói ông đừng buồn; ông viết trật bàn đạp, trật lất. Cà phê có hai loại: bình dân cà phê vợt; sang cà phê phin. Phin gốc tiếng Pháp là ‘filtre’ nghĩa là lược”. Phin cà phê làm bằng nhôm hay inox, ở dưới đáy có những lỗ nhỏ li ti và một miếng hình tròn có quai để ém cà phê bột.
Viết văn, tánh nghệ sĩ, cũng như các nhà làm văn nghệ khác, ba tui ghiền cà phê và thuốc lá; ba hút Melia vàng của hãng M.I.C. Cà phê phin do má tui pha mỗi sáng. Má làm nóng phin bằng nước sôi. Cho cà phê bột vào phin ép hơi hơi chặt. Ép chặt quá nước nhỏ xuống rất chậm, cà phê nguội không làm chín sữa. Ép lỏng quá, nước chảy re; nồng độ caffeine không đủ đậm, uống không đã. Má đổ chút nước lạnh vào cho cà phê nở ra. Chờ một chút, xong mới đổ nước sôi vào. Từng giọt cà phê rơi từ từ nhỏ xuống tách (tiếng Pháp: tasse) thơm lừng. Mấy ông nhạc sĩ màu mè gọi là giọt buồn không tên?
Cà phê phin
Má cưng cho tui nước nhì. Không phải hà tiện gì với con cái, má nói con nít uống cà phê nước nhứt đậm quá, nó đắng nghét và không tốt. Tui nhớ cái truyện ngắn ‘Hồn ma cũ’ của ông Bình-nguyên Lộc (1914-1987)… Xin chép lại một đoạn: “Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà-phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ ky đem món uống lại, nó mới nói: “Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!”
“Ê, trẻ con không nên uống cà-phê”. Người cha vừa nói, vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con” Cà phê phin là thức uống của Tây, trước khi CSBV chiếm được Sài Gòn, nhà chưa đói rách, lâu lâu có lãnh ‘rắp ben’, không uống cà phê ở nhà má pha, ba dẫn con tới nhà hàng của Pháp như: Givral trong thương xá Eden, lâu đời từ thập niên 1950. Nhà hàng La Pagode yên tĩnh và sang trọng mang đậm phong cách Paris, do kiến trúc sư Alexandre Marcel xây dựng vào năm 1896 tại góc ngã tư Lê Thánh Tôn và Tự Do. Khai trương từ năm 1948. nằm ở góc đường Tự Do –Nguyễn Thiếp, nhà hàng Brodard nổi tiếng với cà phê phin và bánh ngọt ngon tuyệt hảo.
Givral tại góc đường Tự Do và Lê Lợi
Gọi Cà phê vớ hay cà phê bít tất sai vì chuyện Sài Gòn mà ai lại xài từ của Ba ke hai nút. Kêu là cà phê vợt vì vợt đựng cà phê bằng vải tám hoặc vải may bao bột mì. Hình dạng giống như cái vợt cá lia thia nhưng đáy vợt hình phễu sâu hơn.
Cà phê kho là cà phê nóng cứ ninh hoài trên nồi nước sôi lâu nó đắng nghét do bắp trộn trong cà phê nó tiết ra. Dân ghiền uống cà phé nại hay xây chừng kho hết ngon thì mình mất khách. Khách sành điệu uống cà phê luôn luôn chọn cà phê vợt mới pha. Do đó pha một vợt để bán cà phê đen, cà phê sữa. Chưng nửa tiếng bán không hết thì đổ cà phê ra một cái bình để nguội bán cà phê đá.
Cách pha cà phê vợt là: dùng nước sôi để chần sơ cái vợt cho nóng. Múc cà phê bột đổ vào vợt. Nói cà phê bột nhưng nó chỉ có 6 phần cà phê và 4 phần bắp. Nếu toàn cà phê nguyên chất thì mắc, người bình dân ít tiền không kham nổi. Cà phê nguyên chất dành cho cà phê phin bán cho dân thượng lưu, dân giàu.
Brodard góc Tự Do và Nguyễn Thiếp
Đặt cái vợt vào cái siêu (sắc thuốc Bắc) sau đó cho bột cà phê vào vợt. Dùng đũa bếp đảo liên tục để bột cà phê thấm vào nước nóng tạo ra nước cà phê. Tiếp tục đảo đũa bếp và nhấc cái vợt lên rồi, bỏ xuống. Rót vào ly nhỏ có đường gọi là xây chừng. Có sữa ông Thọ thì gọi là xây phé nại. Ly lớn là tài chừng và tài nại. Ít cà phê thì gọi là bạc xỉu.
Trước 1975, về Kế Sách, Sóc Trăng, sáng trước giờ đi dạy, tui quất một tô hủ tiếu chơi luôn một xây chừng chẩu (cà phê đen pha rượu đế) là mặt hồng hồng sáng trong trong đẹp trai hết biết.
Sao tui rành 6 câu vọng cổ vậy? “Hỏi rằng quê tui ở đâu? Quê tui xứ Mỹ rất lâu Sài Gòn” Nên tui biết cà phê Givral, La Pagode, Brodard…
Còn cái vụ pha cà phê? Nghề của tui mà! Tui hổng có dóc tổ đâu. Chẳng qua năm 1966, bên hông rạp hát Định Tường của bà Khương Hữu, cuối đường Lý Thường Kiệt, Mỹ Tho, má tui có cái quầy bán cơm tấm để nuôi anh, em tui ăn học. Liền bên quầy cơm tấm của má là cái bàn pha cà phê của tui thì tui không rành 6 câu sao được?
Má tui đã chết lâu rồi. Tui vẫn ly hương. Nhìn hình cái siêu sắc cà phê thì kỷ niệm xưa ùa về làm tui nhớ má tui! Hu hu!
Người tài xế bước lên xe. Ông đi dọc theo lối hẹp có giữa hai hàng ghế, đếm đầu người ngồi không yên chỗ rồi đối chiếu với con số ghi trên danh sách ông nắm trong tay. “Bon”. Ông ta nói một mình khi trở lại, như một dấu chấm, một kết luận. Như xăng đổ đầy bình, đóng nắp và an tâm chạy suốt đoạn đường dài.
Đó là một người đàn ông to lớn, nịt da thắt ở lưng quần xệ làm phóng đại chiếc bụng có khá nhiều mỡ. Tướng tá phục phịch của ông tương xứng với chiếc xe cồng kềnh mà lát nữa ông sẽ vật lộn với nó, đưa nó ra khỏi những con đường bé hẹp trong thành phố để nhập vào xa lộ thong dong, hun hút một phương trời chắn lối. Máy xe nổ êm, mười bánh lăn trên những đường sơn vàng kẻ ô vuông như bàn cờ và bên ngoài cửa xe thấp thoáng nhiều bàn tay dong cao vung vẫy. Không bao giờ, có lẽ suốt cả cuộc đời, tôi chẳng hề đón nhận sự bịn rịn của thứ nỗi niềm được tiễn đưa. Tôi luôn là kẻ lữ hành đơn độc. Và tôi thích được vậy. Hình bóng người ở lại, đứng cúi đầu giữa bến xe nhiều gió lộng sẽ làm hành lý mình thêm nặng; tựa thứ quang gánh chất lên hai vai và dưới chân đi là một cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó qua. “Quý vị nên rà soát lại lần cuối giấy tờ tùy thân của mình, cho chắc ăn”. Người tài xế nói vọng lui. Trong gương chiếu hậu đong đưa một khuôn mặt đỏ da thắm thịt. Phương phi và đầy thần sắc. Ông ta như đã ngủ qua một đêm chất đủ mộng lành, thứ giấc ngủ rất cần thiết trước mỗi một lên đường đa phần sẽ làm cơ thể hao hụt. Chưa ra khỏi biên giới tỉnh bang Québec nhưng ông đã xổ tiếng Anh với cách phát âm nặng nề của một kẻ lỡ uống nhiều nước sông St-Laurent. Có lắm người đã chê tôi nói thứ giọng Huế khó nghe, tôi cúi đầu làm thinh không dám đổ thừa cho dòng Hương êm ả muôn đời thầm lặng chảy ở cố quận tiêu điều.
“Cầu Trường tiền sáu vài mười hai nhịp, anh qua không kịp tội lắm em ơi!” Không, anh sẽ qua. Anh sẽ tới kịp. Dòng nhắn tin của em chói chang đập vào mắt. Anh đã như cậu bé con tập đánh vần chữ quốc ngữ một cách khó nhọc trước cái e-mail không thể bỏ dấu của em. Anh cà lăm hay tại dòng chữ tật nguyền? Ngồi đối mặt với những hàng chữ ấy, bao giờ đầu óc anh cũng đều mọc lên sự liên tưởng: Nó tựa hình ảnh một kẻ bị lột truồng xiêm y. Và đáng phàn nàn là kẻ ấy, tên nạn nhân xấu số kia chẳng có được một thân hình đẹp mắt. Em đồng ý không? Sắc huyền hỏi ngã chính là áo xống lụa là. Nó là xương cốt chống đỡ hộ cho những mẫu tự a b c khỏi gãy đổ. Đôi vợ chồng thợ săn gửi e-mail cho nhau khoe kỳ tích: “Hom qua em moi giet mot con ac thu. Eo oi, long lon rung qua that la nhieu…” Nếu em đỏ mặt thì xin hãy bình tâm mà đổ thừa cho máy vi tính. Bà gửi điện thư kia lòng trong vắt không gợn đục một mảy may. Mà kể cũng vô duyên, lông lợn rừng nhiều là điều hiển nhiên, bà viết ra làm chi chuyện lãng xẹt ấy cho chồng lo sốt vó trong ngộ nhận? Vật lộn với con ác thú nào đến nỗi phải ra cớ sự kia?
Cảnh sắc trôi chậm rãi lui sau. Có giàu tưởng tượng đến mức triệu phú cũng không thể ví von mình đang trên xe đò chạy suốt Sàigòn-Huế. Quốc lộ Một chẳng bao giờ mang cái vẻ ghẻ lạnh vô bờ như đường ra biên giới này. Trống trải quá, mênh mông quá, đồng không mông quạnh quá! Không đèo, không cây, không luôn cả sông hồ biển sóng. Chỉ trơ trụi một màu xanh tẻ nhạt của cỏ dại đang chết điếng với gió chướng cộm phồng giữa không gian lạ mặt. Tôi mở túi xách để lôi cuốn truyện Lolita ra. Nếp gấp đánh dấu nằm lưng chừng giữa bề dày có hơn năm trăm trang. Văn Vladimir Nabokov chẳng phải thuộc loại dễ đọc. Nó lê thê một cách chẳng đáng để dài dòng khiến mình dễ nản lòng không muốn ông ấy dắt đi tới cuối đường. Tuy vậy tôi vẫn mê cái mối tình khốc liệt ấy. Thích cách ví von của một người đàn ông khi nói về cô bé mình yêu: “… Lo-li-ta: le bout de la langue fait trois petits bonds le long du palais pour venir, a trois, cogner contre les dents. Lo.Li.Ta. Elle était Lo le matin, Lo tout court, un mètre quarante-huit en chaussettes, debout sur un seul pied. Elle était Lola en pantalon. Elle était Dolly à l’école. Elle était Dolorés sur le pointillé des formulaires. Mais dans mes bras, c’était toujours Lolita”.
Một mối tình. Làm sao tôi có thể cắt nghĩa cho em thế nào là cao đẹp, thế nào là tội lỗi? Chuyện đôi ta, tôi chẳng an lòng khi nghe em phân trần: tại duyên phận. Tôi là đứa dốt nát, lòng tăm tối trước những điều Phật muốn khai nhãn. Vụng tu, không duyên số, đó chẳng qua là lối biện hộ của một người thiếu can đảm. Một cái cớ tự trấn an của kẻ bị thua cuộc. Ngày ấy hai ta đều cháy túi. Ván bài nọ đen đủi như một đường hầm chẳng có lối ra. Nhưng tôi không một lời than van. Vô vọng đã giúp tôi nhìn ngó sự vật bằng một nhãn quang tinh tế hơn. Tôi vẫn yêu em như ngày xưa. Loan tin không? Tôi vượt biên ngày hôm nay là một bằng chứng. Loan. Tên gọi cũng gần như Lolita. Bỏ đi chữ L, còn lại nỗi oan trái nằm lẫn khuất giữa hai đứa.
Xe chạy chậm dần để sau cùng ngừng hẳn. “Đến biên giới rồi, xin mời quý vị xuống xe xuất trình giấy tờ”. Người tài xế nói khi tắt động cơ. Cửa mở, thấy thấp thoáng hàng chữ duty free treo trên một cửa hàng nằm đàng sau đồn bót phân định lãnh thổ của hai quốc gia. Tôi ở bên này, phương Bắc; và bên kia, hướng Nam có Loan định cư. Một mối tình không suông sẻ tự khởi đầu, và hiện tại giữa chúng ta đã có lằn ranh biên giới minh bạch. Xa mặt cách lòng, điều ấy chẳng ai có thể tranh cãi được. Rơm gần lửa lâu ngày cũng bén, chuyện đó ai nấy đều tán đồng…
Đám hành khách lố nhố sắp hàng trước trạm kiểm soát có hai nhân viên mặc đồng phục ngồi làm việc đằng sau ô cửa gương mở hé. Lần lượt, luân phiên giải quyết từng cá nhân. Tôi đưa giấy tờ tùy thân cho một người đàn ông trung niên. Tấm căn cước bọc nhựa chứng nhận cái bộ mặt ngác ngơ nơi tấm ảnh đó là công dân của xứ Gia-nã-đại mùa thu lá bay. Coi ảnh, nhìn mặt, đọc thầm họ tên; sau cùng người ngồi cách một bệ chắn ngước mắt lên. Đôi mắt xám, gần tiệp với những sợi tóc màu tro cắt ngắn chiếu thẳng vào mặt tôi:
– Bạn tính đi đâu?
Rất ngạc nhiên, nhân viên công lực kia đã hỏi tôi bằng thứ tiếng Việt rõ ràng, chuẩn xác. Tôi ngó lá cờ Mỹ may ở tay áo ông ta, cảm thấy thú vị. Bên kia lằn sơn vàng cũng có lá cờ ấy treo cao đang reo cùng gió. Biên giới thoáng rộng, không hàng rào kẽm gai, chẳng có cột chắn ngang. Trời xanh, cỏ cũng xanh, độc đạo con lộ đen mun phơi thân giữa nắng đang muốn nhuộm vàng. Con đường thì chạy dài mãi miết chẳng đứt đoạn, chỉ có đôi chân con người đôi khi phải chịu dùng dằng nán bước.
– Tôi đi Virginia.
– Ở đó khoảng bao lâu?
– Ba bốn ngày, cùng lắm là một tuần.
– Mục đích của bạn là gì?
Chắc không ai cảm thấy phiền hà nếu đứng đó đón nhận cả trăm câu hỏi dồn tới từ một người Mỹ nói tiếng Việt sành điệu thế kia. Phiền hà sẽ đến chừng nào ông ta đổi qua thứ tiếng mẹ đẻ. I DIE 4 U.
Tôi nuốt nước miếng.
– Tôi đi thăm nhà.
Ngang đây thì kẻ phỏng vấn thoáng nhíu mày. Mặt ông ta có nét phảng phất như tài tử Clint Eastwood trong “In the Line of Fire”.
– Thăm nhà?
– Đúng thế. Bạn bè, gia đình tôi có những người cư ngụ ở vùng đó.
– A. Gia đình. Family. Clint Eastwood reo lên, mừng như thể phát hiện ra tên sát thủ có mưu toan bắn hạ Tổng thống. Đi thăm gia đình, nói thế mới đúng chứ. Nhà thì ta gọi là house mất rồi.
Mặt tôi chắc ửng đỏ, người tôi nóng ran. Tôi lúng túng với sự hổ thẹn vừa ùa tới. Nhân viên phụ trách an ninh cửa khẩu như phát hiện nét thảm hại bao quanh tôi, ông trả lại tấm căn cước với vẻ mặt hiu hiu gần như tự mãn.
– Hồi trước tôi đóng quân ở Đà-nẵng. Tôi tham gia chiến tranh Việtnam những sáu năm.
Tôi giật mình. Sáu năm. Đủ để thấy sự khác biệt giữa gia đình và cái nhà. Giỏi thật! Phần tôi, tôi ở đây hơn hai mươi năm nhưng tôi không thể bắt bẻ được một ai, kể cả những con bé cỡ tuổi bằng Lolita, chúng bóp còi và thò đầu trợn mắt với tôi: “You asshole!” Merde hay Chien thì cũng xêm xêm. Cứt với đái. Làm sao thanh minh, làm sao chứng minh sự khác biệt của mỗi từ khi chúng áp đặt không đúng chỗ?
– Đi đường bình an. Chúc vui khi đến nhà, gặp lại người thân trong gia đình.
– Cám ơn ông. Thank you, sir!
Tôi lắp bắp, cảm động trước câu nói của “tên giặc Mỹ xâm lược”. Giờ này ở nước tôi, có lẽ chẳng còn mấy ai căm thù bọn đế quốc. Coi Mỹ xịn nhất thế giới là đằng khác. Nhưng thực sự đã có một thiểu số vẫn ngưỡng mộ Bin Laden, xem ông nhiều râu tựa bác Hồ ấy là anh hùng, dám “tẩn” thằng Mỹ một vố đau.
Ông ta không kiểm soát hành lý của tôi, như thể sáu năm vào sinh ra tử ở chiến trường ‘Nam xa xôi đã cho ông cái kinh nghiệm: Bọn da vàng mũi tẹt ấy chẳng đủ máu lạnh để chơi theo kiểu nhóm Hồi giáo quá khích. Tôi trở lại xe đò, leo lên và ngồi vào chỗ của mình. Tôi nhớ tới Loan, nhớ tới thứ tình yêu ngày cũ đã có khi dằn vặt mình đến độ chán đời suýt đầu quân vào binh chủng Biệt động. Một con cọp nhe răng may bên tay áo trận, một khẩu AR-15 dễ bị trở ngại tác xạ và đôi chân xuôi ngược suốt 4 vùng chiến thuật. Tình yêu có thể mang người ta đến một thế giới an lành và ngược lại, nó cũng thừa sức dẫn ta mù lòa vào hỏa ngục. Tôi chưa xem hết cuốn truyện Lolita, nhưng tôi tin, cuối cùng nó sẽ kết thúc bằng một cái chết. Chồng Loan mất cách đây ba năm, bạn tôi hiện vẫn ở vậy nuôi đứa con mười tuổi. Trong những bức điện thư không có dấu, tôi đọc và đoán lờ mờ hình như bạn tôi đang cảm thấy cần một khuôn mặt đàn ông kề cận. Tôi yêu Loan và điều đó không nhất thiết phải là thứ Kim Kiều tái hợp. Hoặc giả, muốn hay không, trước tiên tôi phải nên xem xét thái độ của đứa bé gái mười tuổi kia. Dân chủ, mở cửa, và quan trọng nhất, trưng cầu dân ý; lắng nghe tiếng nói đến từ mọi phía.
Loan trước mặt không hề là Loan trong trí tưởng tôi. Mái tóc thề đã cắt ngắn đi, khuôn mặt nhiều phấn son; và đã mất rồi, những đường cong gợi hình trên cơ thể. Như phù sa bồi đắp một rẻo đất thon. Như bản đồ một quốc gia đã nhượng cắt để hình thù phải bị hoán đổi đi. “Sông kia rày đã nên đồng!” Bao nhiêu năm rồi? Như một sáng soi gương tôi đã nhìn ra biết bao là sợi tóc bạc mọc tùy tiện trên đầu mình. Tôi nhìn Loan, lòng rưng rưng một nỗi niềm không cắt nghĩa được. Ôn cố tri tân là phương ngữ của kẻ thành công. Với tôi quá vãng là những lượng vàng ròng mà ngày tháng xê dịch đã lần lượt tướt đoạt ở chúng tôi quá nhiều thứ, trắng tay. Nó dẫn chúng tôi vào căn phòng chật, bày cho thấy một bức tranh hiện thực khổ lớn, ngổn ngang những đường dao nét cọ tàn bạo chồng lấp, phủ hoen ố tấm bố trắng tinh.
– Loan đã lấy vé rồi, hai hôm nữa sẽ về thăm nhà.
– Cái gì?
Tôi ngạc nhiên. Trong tự điển Nhà là House đó cưng! Mình ơi! Bà xã ơi! Nhà tôi ơi!
– Dắt con bé về thăm bà ngoại, lần đầu tiên cũng là lần sau cùng. Mạ Loan đau nặng, bệnh viện Huế từ chối. Tuổi cụ gần đất xa trời, chạy đi mô để tránh nắng đây? Họ nói như rứa đó!
“Màu nắng hay là màu mắt em?” Mắt Loan vẫn đẹp như xưa. To, sâu, muộn phiền. Lại có chút thơ ngây lắng đọng ở trong. Rèm mi mở ra và nhốt đủ một phương trời viễn mộng. Phương trời xa lắc xa lơ một sớm mai thấy mình chợt bể tiếng.
Ngó tôi ngồi bần thần trên ghế, Loan đi pha cho tôi một cốc cà phê. Pha thơm ngon, vừa miệng như kẻ từng đi guốc trong bụng mình.
– Gửi gì về cho gia đình không? Loan hỏi.
Đấng sinh thành của tôi giũ áo ra đi gần cả chục năm rồi. Hai tấm bia xi-măng chẳng trơn láng đặt không ngay ngắn trên hai gò đất vun đắp với nhiều sỏi đá. Bên kia đồi thông là lăng Tự-đức, con đường mòn vắng lặng nhiều lùm cây bụi cỏ có những cặp cháu ngoan bác Hồ buồn đời dắt tay vào làm tình làm tội nhau. Tiếng rên thống khoái có thể át tiếng gió mơn trớn trên đồi thông mọc nhiều nấm mộ. Dưới đồi là chỗ giữ xe của ông thương phế binh một chân một tay, lởn vởn hai ba tên hành nghề chụp ảnh đi loanh quanh nhìn trời ngó đất. “Nghiệp đoàn lao động” ấy sẽ trấn lột du khách không tường nội quy lỡ mang máy hình ra lăng xăng sửa thế làm vài bô kỷ niệm chốn Thần kinh. ” Có muốn chụp ảnh thì chóng cất máy hình đi. Gọi tui tới có gì khó nhọc? Mấy ôn chơi kiểu nớ là muốn đạp đổ nồi cơm của tụi ni chớ còn chi nữa?” Cảnh sắc không được ghi lên âm bản, ra về mạng không cho chắc chuyện. Đời thuở, luật lệ ngày nay chẳng biết ai ban hành? Nghĩ không ra! Bên kia đường là quán cà phê, sau căn nhà tranh xiêu đổ ấy có bày biện vài chiếc giường tre màn che khăn rủ, một số chị em ta không hiểu từ đâu chợt hiện hình, phục vụ vượt quá mức quy định mà giá bèo tới độ không tin. Sướng giàn trời mà tiền trao tay chỉ mua chừng chục ổi xá lị. Nghe ham! Con đường dẫn về thành phố có đoạn chưa trải nhựa, đất nhiều bụi đỏ khi nắng và lắm bùn vàng khi mưa. Toàn thể là bức tranh nhợt nhạt luôn trôi chậm trong đầu tôi mỗi một hồi ức. “Mai chị về em gửi gì không? Mai chị về nhớ má em hồng. Đường đi không gió lòng sao lạnh? Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong… Quê chị giờ xa tít dặm xa. Rừng thu chiều xao xác canh gà…” Thơ Quang Dũng bao giờ cũng gợn sóng ở trong lòng, loang ra đồng tâm một nỗi buồn nhẹ. “Buồn dâng đôi mi hàng lệ hàng”.
Trước khi sang thăm Loan tôi có đổi được hai trăm đồng US. Chừng đó tiền gửi về, người nhận sẽ la toáng lên: “Trời đất ơi, đứa nào bỏ quên bạc lẻ ở trên bàn. Cầm ngần ấy trong tay thì tiêu thế chó nào được!”
Tôi lắc đầu.
– Mình bạc phước, chẳng còn ai để giúp và không một ai giúp mình.
Mắt Loan to, sâu, đen, láng ướt, đọng chiếu nhiều dấu hỏi bên trong.
– Thích gì không? Loan biết để mua làm quà mang sang.
Nón bài thơ, mè xửng, hạt sen… đặc sản của Huế da diết nghèo. Làm sao tôi có thể thích hợp với thứ quà “mặn mà tình quê hương” đó? Em hãy dùng xe đạp, vào cửa Thượng-tứ, rẽ trái, bỏ băng Quốc tử giám, quẹo phải. Con đường ấy trồng nhiều cây mù u và sầu đông, nếu nó chung tình còn đứng đợi ở đấy. Dãy tường thành nhiều rong rêu, theo trí nhớ của tôi. Em sẽ chậm rãi đi vào cổng Hiển nhơn, có thể họ, những người ở bảo tồn bảo tàng sẽ thu ở em một ít tiền như kiểu bán vé cho khách tham quan tò mò xem nơi vua chúa triều Nguyễn từng ăn ở. Đừng vào sâu làm gì cho mất thời giờ. Ngọ môn lầu và điện Thái-hòa là chuyện thứ yếu, chẳng đáng quan tâm. Em sẽ thấy ngôi trường Cao đẳng mỹ thuật với lối kiến trúc thời thuộc địa Pháp. Cầu trời nó vẫn yên vị mà không bị dâu bể dời đổi chỗ khác! Cây bàng bề thế vặn mình núp sau cổng, chìa ra những chiếc lá to vân vi đầy màu sắc kỳ lạ. Xin em hãy đi quanh thân nó một vòng. Nhìn ngắm và sờ mó, thế nào em cũng sẽ phát hiện trên lớp vỏ sần sùi ấy còn chìm sâu một trái tim mưng mủ. Tôi học ban điêu khắc và bài thực tập đầu đời là mũi dao đã cạo vụng về, khắc lẩy bẩy vào thân cây hình thể một trái tim với chữ Loan phụ chú ở bên dưới. Hình ảnh rất “sến”. Em có thấy vậy không? Cải lương! Nhưng câu vọng cổ nào rơi xuống cũng mang theo nó ít nhiều cảm động. Mấy mươi năm rồi, trái tim xưa có thể đã méo mó. Chữ Loan có thể đã biến dạng, nhưng tôi tin niềm bí mật ấy sẽ chờ Loan về nhìn nhận rồi sau đó vết sẹo trên cây bàng thân yêu mới chịu liền da.
Buổi tối Loan mang mền gối xuống cho tôi. Chiếc ghế ngồi có thể kéo ra thành giường và đối mặt nó là TV đang có chương trình hài hước. NBC, ABC hay CBS, mọi băng tầng phát hình đều thế cả. Người Mỹ cũng lạ, chuyện gì cũng khiến họ phá ra cười. Cười đến chảy nước mắt, ho khan và tắt tiếng. Họ thua Việt-nam cũng phải, cái dân tộc ấy người người đều là thi sĩ, mặt khó đăm đăm như nhà hiền triết, táo bón một nụ cười vì đi mãi vẫn chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm. “Nay ở trong thơ nên có thép, là nhà thơ cũng phải biết xung phong“. Đọc thơ ấy xong mà không phá ra cười là thua xa thằng Mỹ đấy!
Sau lưng Loan, cô bé mười tuổi nép mình nhìn tôi với đôi mắt đong đầy ác cảm. Loan đã từng giải thích người ấy là bạn cũ của mom, chỉ ở tạm một vài hôm thôi. Người ấy như kẻ homeless, tội nghiệp. Sang đây chỉ để đưa tiễn mẹ con mình về thăm ngoại. You know? Loan khôi hài thêm, mượn lời nhạc của Alice Cooper: ” Hắn ta biết đánh răng nè, biết chải đầu nè, biết đi nhà thờ nè. Hắn đích thực là một nice guy!”. Nước đổ đầu vịt, chẳng đắc nhân tâm. Thủy chung con bé vẫn giữ lập trường, khoanh vùng, phân định giai cấp. Nếu tôi được là E.T, có lẽ nó sẽ đến gần lân la với nhiều thiện cảm, lộ vẻ ân cần: “E.T có muốn trở về nhà không?”
Tôi tắt máy truyền hình, nằm nghe gió về xào xạc ngoài vườn khuya. Có tiếng còi xe cứu thương hú vọng từ xa, khu Seven corners hay ở hướng thương xá Eden? Tôi nhắm mắt, vẽ trong trí hình ảnh một bà mẹ nhắc nhở con đánh răng cẩn thận, hối thúc nó đi ngủ sớm. Thay vì ngồi bên giường đọc truyện cổ tích cho nó nghe, bà ta cẩn trọng pha chút thuốc ngủ trong ly nước suối: “Uống đi con, rồi sẽ bắt gặp mộng lành sau đó.” Chiếc áo ngủ lay động trên dáng đi rón rén, đôi chân trần nhón bước xuống những bậc cấp có lót thảm êm. Hơi thở nóng khô kề cận và sau đó là sự ướt át rịn ứa từ sâu thẳm. Trái tim thúc hối những nhịp đập hoảng loạn. “Chúng ta đã trót phung phí tuổi trẻ của mình một cách oan uổng, không đúng chỗ. Hai đêm còn lại ngắn ngủi này xin hãy rán sức đền bồi cho nhau. Chết bỏ bể bỏ…”
Tôi thiếp đi. Lolita của Nabokov và Loan xưa của tôi thay phiên nằm đè lên thân thể tôi nặng nhọc. Tất cả chỉ là mộng mị. Tôi thực sự đã không có House, không luôn cả Family. Hỡi ông John, người cảnh sát biên phòng vừa thoáng gặp ngoài đồng không mông quạnh!
Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.
(Phạm Vương Thục và cựu Tướng Steve Richie)
Tôi biết và quen Thục chưa lâu lắm. Câu chuyện “Trên Chiến Trường Xưa” viết về người phi công can trường Phạm Văn Thặng – bào huynh kính yêu của Thục – gãy cánh vào một buổi chiều mùa hè 72 trên vòm trời lửa đạn Kontum trong một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị tôi, đã bắc nhịp cầu cho Thục và tôi cái duyên hạnh ngộ. Những giọt nước mắt của Thục trong lần đầu gặp nhau hôm ấy, làm tôi thực sự cảm động về nghĩa tình đệ huynh của gia đình họ Phạm. Sau đó quen và được gần gũi Thục hơn, mỗi ngày hình ảnh của anh càng in đậm nét trong lòng tôi. Trong con người cao lớn oai phong với hàm râu quai nón, trên đầu lúc nào cũng đội chiếc bê rê đen, hay mũ lưỡi trai nhà binh, trông như một chàng giang hồ lãng tử, lại là một tâm hồn đa cảm hiền hòa, lúc nào cũng mở trọn vòng tay yêu thương và trái tim nhân nghĩa với tất cả anh em, bằng hữu. Phạm Vương Thục là điển hình của một người bạn chân tình tri kỷ. Khó mà tìm ở anh bất cứ một điều gì để có thể không yêu thương, không quí mến. Ở anh, toát lên một nghĩa khí chứa chan hào hiệp ân tình. Mỗi lần nhìn nụ cười niềm nở thánh thiện của anh, trong lòng tôi mơ hồ như đang nở ra bao đóa hoa nhân ái.
Mấy ngày đầu năm Nhâm Thìn trời Cali bỗng dưng trở lạnh. Không khí rộn rịp của các Hội Tết, tiệc tùng Họp Mặt Tân Niên dường như không làm tan đi được áng sương mù ảm đạm trong lòng những người yêu thương Thục. Bạn bè của Thục ở khắp Cali và ở khắp nơi đã dành những ngày Tết cầu nguyện cho Thục.
Từ Bắc Âu tôi đến Cali vào cuối tháng 10. Chưa kịp phôn cho Thục thì anh đã gọi thăm. Anh bảo vừa mới gởi cho vợ chồng tôi thiệp cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, cậu con trai cưng quí. Thiệp mời bị bưu điện trả lại vì thiếu số Unit. Nhà chúng tôi ở trong một khu condo. Thục hỏi xin tôi số Unit để gởi lại. Tôi bảo: không cần gởi làm gì cho mất công, bạn chỉ cho tôi biết tên nhà hàng và ngày giờ, nhất định chúng tôi sẽ đến chung vui với ông bà. Thục cười. Sau tiếng cười rộn rã, Thục bảo:
– Tôi mời anh chị, nhưng không chắc tôi sẽ có mặt trong ngày đám cưới cháu. Nhưng dù có tôi hay không, nhất định anh chị phải đến chung vui với gia đình tôi và hai cháu nghe!
Tôi ngạc nhiên:
– Đám cưới con trai cưng mà ông bỏ đi đâu, đừng có đùa cha nội!
Tôi lại nghe tiếng Thục cười, điềm tĩnh:
– Tôi bị cancer gan và mật, coi bộ kẹt lắm! Ngày mai đi bệnh viện chụp hình và lấy test lại để bác sĩ chuyên khoa quyết định phải làm gì. Im lặng bàng hoàng giây lát, tôi chỉ còn biết trấn an và chúc anh mọi điều may mắn.
Hai hôm sau, nhận điện thoại của Thục, tôi vừa mừng vừa lo. Anh vẫn cười, giọng bình thản:
– Thục đang nằm bệnh viện Kaiser Permanente ở Irvine, phòng 312. Anh có rảnh chạy xuống nói chuyện chơi!
Tôi báo cho Thục biết là tôi sẽ đến ngay với một người bạn. Khoảng 30 phút nữa sẽ gặp Thục. Ở xa đến, không quen đường, chúng tôi bị lạc trên xa lộ 405. Hơn 45 phút sau, Thục gọi lại hỏi tôi đang ở đâu, vì biết tôi bị lạc đường. Nghe giọng Thục hơi yếu. Anh bảo khá mệt, rồi đưa điện thoại cho chị Thục chỉ đường.
Thục nằm trên giường bệnh. Tôi thoáng hốt hoảng khi trông anh tiều tụy, gầy đi nhiều lắm, đang được chuyền sérum và hai ống cao su nhỏ dẫn dưỡng khí vào lỗ mũi. Thục giải thích: tự dưng ruột của anh bị xoắn lại, nên bác sĩ không cho ăn uống gì cả, để ruột được giãn ra, trước khi có thể tiếp tục điều trị cancer bằng các phương pháp khác. Do vậy anh bị yếu sức. Vậy mà gặp tôi, anh rất vui, cầm chặt tay tôi, miệng vẫn cười niềm nở như bao lần gặp nhau, như chưa hề có điều gì phải ưu tư lo lắng. Anh say sưa hết kể về bệnh tình lại sang chuyện bay bổng ngày nào trên chiến trường xưa. Tôi mang theo mấy tờ báo có bài viết của tôi, theo lời dặn của anh, nhưng tôi biết vào lúc này anh không thể nào đọc được. Chị Thục ngồi bên cạnh. Thật tôi nghiệp, cũng tiều tụy hốc hác vì đã lo lắng, chia sẻ nhọc nhằn đau đớn cùng chồng. Chị luôn ở bên anh, nhiều đêm thức trắng.
Ngại anh mệt, tôi định cáo từ, nhưng anh vẫn nắm chặt tay tôi, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên, say mê kể lại trận chiến Hạ Lào, Lam Sơn 719, khi ấy anh đang là lead gun của Phi Đoàn 213, gần như mỗi ngày đều có mặt trên vùng trời trận mạc, trong tầm ngắm của đám phòng không địch dày đặc giữa trùng điệp núi rừng. Tôi hiểu được là anh đang trở về với thời quá khứ đẹp đẽ nhất trong đời mình. Một thoáng hạnh phúc hiện lên trên khuôn mặt đã gầy đi vì bệnh hoạn. Tôi ngồi nán lại, với ý nghĩ là để anh tiếp tục cái giây phút hạnh phúc hiếm hoi này mà quên bớt những điều trước mặt.
Khi chào anh và chị Thục, bước ra, tôi thấy anh vẫn nở nụ cười thanh thản. Cũng như lúc kể cho chúng tôi nghe về căn bệnh trầm kha, anh bình tâm như những lần nhìn thấy hỏa tiễn SA-7 đang bay về hướng anh, hay những lần phi cơ trúng đạn, anh phải đáp khẩn cấp xuống các căn cứ hỏa lực đang bị địch quân vây khốn. Có lần anh tâm tình:
– Chữa được thì tốt, không được Thục cũng vui vẻ mà chấp nhận thôi. Bao nhiêu năm vào sinh ra tử mà còn sống tới hôm nay, coi như đã được Chúa thương, cho hưởng nhiều bonus lắm rồi. Thục luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa! Thục sống trong niềm tin Chúa Kitô phục sinh, nên được Chúa gọi về là một niềm hạnh phúc.
Tôi là người ngoại đạo, và chưa trải qua cái giờ phút nằm đợi chờ bên bờ sinh tử, nên không biết cảm giác của mình khi ấy ra sao. Có đủ đức tin, can đảm và bình thản như Thục không? Nhưng tôi chưa thấy một người nào có được cái tâm thanh thản, vui vẻ như Thục trong thời điểm đặc biệt này. Thì ra trong con người can trường, nhân hậu ấy, còn có rất nhiều đức tính và nhất định hơn hẳn tôi ở cái “Ngộ Đạo Đất Trời”. Anh xứng đáng là một tín đồ ngoan đạo, hằng sống với đức tin mãnh liệt vào Đức Kitô.
Mấy hôm sau, một số độc giả đọc được tin và những tâm nguyện sau cùng của Phạm Vương Thục trên trang Cánh Thép, liên lạc tôi, xin cho biết tên Thánh của Thục để cầu nguyện cho anh. Tôi gọi vào cellphone của anh nhưng nghĩ là chị Thục sẽ bốc điện thoại. Sau một hồi chuông reo, tôi bất ngờ nghe tiếng Thục. Yếu ớt, thì thào. Anh bảo là đang nằm ở nhà, mệt lắm, rồi đọc cho tôi tên Thánh. Tôi xúc động, không biết nói lời gì. Và mặc dù không nghe rõ, nhưng tôi không dám hỏi lại anh. Nửa giờ sau, tôi gọi điện thoại nhà, chị Thục bốc máy, đọc lại tên Thánh “Bartholomew” của Thục và cho tôi biết: “anh Thục yếu và mệt lắm, nhưng nghe có anh gọi, đã dành lấy điện thoại để nói chuyện với anh”. Tôi nghẹn ngào xúc động. Tôi chỉ là một người bạn sơ giao, mà anh Thục đã chí tình như thế đó, làm sao tôi có thể ngăn được dòng nước mắt?
Anh nhắm mắt lúc 9 giờ 55 sáng ngày 29/1 trước khi tâm tình dặn dò vợ con bằng hữu. Anh đã chuẩn bị xong cả phần xác lẫn phần hồn, muốn hậu sự phải tổ chức thật đơn giản. Không vòng hoa, phúng điếu. Những bạn bè nào thương anh, xin hãy góp vào Quỹ “Cho Em Một Nụ Cười” do Frère Phong, một người bạn học thời niên thiếu của anh sáng lập nhằm giúp đỡ những em bé mồ côi, đói nghèo tại các vùng hẻo lánh ở Việt Nam và Cam Bốt, mà anh đã tiếp tay phụ lực từ lúc ban đầu. Bao la biết dường nào tấm lòng nhân hậu ấy!
Được tin anh ra đi, tôi thẫn thờ giây lát, nước mắt trào ra, rồi ngồi dậy viết lời Phân Ưu định gởi cho vài tờ báo quen. Trước khi gởi đi, ngại viết tên Thánh của Thục không đúng, tôi vào website Cánh Thép tìm đọc lại các trang Phân Ưu của một số đơn vị, đồng đội của anh. Tôi rất ngạc nhiên, vì tất cả đều biến mất, mặc dù trước đó chỉ mới mười lăm phút, tôi đã đọc kỹ từng lời. Tôi chợt thoáng hiểu ra, khi nghĩ đến đám cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, con trai thứ của anh chị sẽ tổ chức vào cuối tuần này. Mọi sự đã chuẩn bị và thiệp mời đã gởi đi, khó mà đình hoãn được. Tôi gọi cho Phạm Thu Đào, cô Hội Trưởng trẻ tuổi tài năng của Phố Núi Pleiku, bạn thân của anh chị Thục. Thu Đào xác nhận những điều tôi vừa suy đoán. Nhớ lần tôi và một người bạn đến thăm Thục, anh vui vẻ dặn dò: “Dù có Thục hay không, các bạn đến chung vui với vợ chồng cháu Quốc, là tôi vui lắm, cứ coi như tôi đang có mặt và cụng ly mừng với các bạn”.
Chiều Thứ Bảy 4/2, vợ chồng tôi đến nhà hàng Seafood Palace dự đám cưới cháu Quốc mà lòng dạ bùi ngùi. Cố nhớ tới lời dặn dò của Thục, để thấy vui hơn. Khoảng trên sáu trăm thực khách trong nhà hàng không còn chỗ trống. Tôi nghĩ có lẽ tất cả khách mời đều không ai vắng mặt. Bởi cũng như chúng tôi, đều thương quí Thục, cảm kích tấm lòng hy sinh lo lắng cho con của Thục. Hôm ấy, tôi ngồi chung bàn với bác sĩ (KQ)Ngô Thế Khanh, chị Phạm Thu Đào, ca sĩ Minh Hạnh (chị của đại tá Nhảy Dù HK Lương Xuân Việt) cùng vài anh chị rất thân quen với Thục. Chúng tôi đã kể những kỷ niệm với anh, nói nhiều về anh, về một Phạm Vương Thục rất chí tình, rất dễ thương cùng lòng quí mến mà tất cả bạn bè đã dành cho anh chị.
Buổi chiều ngày Thứ Sáu 10/2, chúng tôi bước vào Thánh Đường La Vang nằm trên đường Harbor để viếng anh lần cuối. Thục nằm yên như đang say ngủ, khuôn mặt hiền lành phúc hậu, miệng như sắp nở nụ cười mừng đón bạn bè như những hôm nào. Trong nhà thờ đông đủ mọi người. Những người lính Không Quân ở hoàn cảnh nào cũng “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Từ khắp nơi họ về đây để nắm tay, tiễn đưa người huynh đệ một thời hào hiệp và cùng hẹn gặp lại nhau ở vùng trời viễn mộng, không còn khói lửa chiến tranh. Như lời Thục đã âu yếm nói với bạn bè trước lúc ra đi: “Tao đi trước để dọn chỗ cho anh em”. Lời nói chỉ có thể thốt ra từ trong tâm của một người bạn chí tình. Tôi hình dung những lần Thục bay trước vào vùng, bắn dọn bãi đáp thật chu đáo an toàn cho những người bạn cùng phi đoàn đáp xuống đổ, bốc quân, tản thương hay tiếp tế khẩn cấp cho các đơn vị hành quân.
Thục ơi! Ngày mai, đúng lúc gia đình và bạn bè tiễn đưa anh về với Chúa, cũng là lúc vợ chồng tôi bước lên máy bay trở lại Bắc Âu băng giá. Tôi tiếc là không được nghe những lời từ biệt của các niên trưởng, đồng đội ngợi ca và tiếc thương anh, nhưng tôi nghĩ mọi ngôn từ cũng sẽ không thể nói hết được lòng quí trọng mến yêu anh, một phi công, một chiến sĩ đã làm hết sức mình cho Không Gian, cho Tổ Quốc. Chỉ tiếc rằng vận nước sớm điêu linh!
Không có mặt trước giờ phút anh trở về cát bụi, nhưng ở trên bầu trời bao la, chúng tôi sẽ vẫy tay tiễn biệt và cầu nguyện cho anh:
“Những sớm mai lửa đạn
Những máu xương chập chùng
Xin cho một người vừa nằm xuống
Thấy bóng thiên đường…cuối trời thênh thang”
Hẹn gặp lại anh. Khi “dọn chỗ cho bạn bè“, xin anh nhớ dành một chỗ cho tôi, gần bên anh, nếu tôi đến được Thiên Đàng.
Để theo dõi những tên tội phạm nguy hiểm vừa được thả ra tù, cảnh sát đã có những chiếc còng điện tử mang trên cổ chân những tên này để tiện bề theo dõi những hành tung của chúng ngoài xã hội, dù lên núi hay xuống biển, cũng không thoát khỏi sự kiểm soát tinh vi của cảnh sát. Hiện nay, thế giới có một thứ “còng điện tử” khác mà người ta đeo nó một cách tự nguyện, đó là cái điện thoại cầm tay mà người ta gọi nó là cell phone, hand phone hay mobile phone … Trong các thành phố lớn, tỷ lệ số người tự nguyện mang “còng điện tử” này lên rất cao, có những gia đình mỗi người có một cái phone tay, đến nỗi người ta cắt luôn phone nhà và các phòng điện thoại đặt ở các ga xe lửa, tàu điện ngầm, trên phố xá, trước cửa các tiệm buôn dần dần rồi sẽ mất dạng luôn. Ngày trước có khi người ta phải xếp hàng trước các buồng điện thoại này để chờ gọi cho được một cú phone. Trong các buổi lễ trọng đại, các cuộc tranh tài thể thao, hội nghị, ban tổ chức thường phải thiết lập một hệ thống điện thoại có trăm đường dây cho các phóng viên có thể liên lạc về với tòa báo hay cơ quan truyền thông của họ. Ngày nay với hệ thống cell phone hay laptop của computer, công việc liên lạc đã trở nên quá ư tiện lợi, dễ dàng.
Cũng nhờ cái phone cầm tay, có người bị kẹt trong thang máy, có người bị xe lăn xuống vực sâu nhờ đó mà thoát thân. Chúng ta cũng không quên ngày 9/11 đã có người dùng cell phone gọi cho người thân trong khi đang có không tặc khống chế phi hành đoàn trên máy bay hay đang gặp nguy hiểm từ trong ngọn tháp cao đang nổi lửa. Mấy năm trước đây, khi cell phone mới phôi thai chưa tối tân lắm, tiếng điện thoại reo còn đơn điệu, do vậy mà trong đám đông, có tiếng điện thoại reo là hai ba người cùng rút máy ra một lần. Ngày nay tối tân hơn, mỗi điện thoai có cả vài chục âm thanh gọi khác nhau, người ta có thể “set” cho mỗi người gọi tới có mỗi tiếng reo khác nhau và hình người gọi hiện lên màn ảnh, để tùy ý chúng ta muốn trả lời hay không. Điện thoại còn chụp được ảnh, còn chơi được game, còn gởi được e-mail, có được biết bao nhiêu tiện nghi cho người ta xử dụng. Nhưng với cái cell phone đã có hằng trăm thứ rắc rối, nợ đời xẩy ra và nó càng tiện nghi, nó càng gây phiền toái cho người mang nó không ít. Báo chí gần đây có đăng một câu chuyện hy hữu xẩy ra vì điện thoại cầm tay. Một ông nọ trong khi du dương với bồ nhí, không hiểu xuất kỳ bất ý thế nào mà nằm đè lên một cái nút, lại đúng là cái memory gọi thẳng vào điện thoại của vợ ở nhà. Thế là bao nhiêu lời âu yếm, du dương kể cả rên rỉ đều lọt vào tai vợ. Câu chuyện không biết hạ hồi phân giải thế nào, nhưng chắc chắn là ông nọ thề là không bao giờ đeo trong mình cái “còng điện tử” này nữa.
Bây giờ các hãng điện thoại thường có “family plan” giá rẻ để dành cho những người trong gia đình dùng chung một “account”, do vậy những cái điện thoại này giống nhau y chang. Có một lần, bà vợ dậy sớm đi làm quơ vội cái điện thoại để trên bàn giấy nhét vào túi xách. Ở sở trong khi đang thảo một bản phúc trình cho Ông Giám Đốc của mình, bỗng cái cell phone reo lên từng hồi, bà mở máy chưa kịp “hello” thì đầu giây bên kia, một giọng nói ngọt như đường phèn:
– “Tuấn đó hả, sao tối hôm qua gọi mãi mà không thấy cưng trả lời, bị “sư tử Hà Đông” trấn áp phải không?”
Bà vợ sững sờ, bối rối nhìn lại thì hóa ra sáng nay vội đi làm bà cầm nhầm cái “cell” của ông chồng. Thế là vì cái cell phone “cà chớn” mà gia đình này từ một trận 911 New York bùng nổ dữ dội đầy lửa khói, cho đến chiến tranh lạnh vẫn chưa chấm dứt. ID của người gọi cùng tên tuổi lại hiện lên rõ mồn một trong máy thì anh chồng cũng thôi hết đường chối cãi.
– Anh đi đâu mà gọi mãi từ sáng tới giờ không thấy trả lời?
– Anh bỏ quên điện thoại ngoài xe.
– Hello! Anh đang ở đâu đó?
– Ở trong sở!
-Trong sở sao nghe tiếng nhạc ồn ào thế?
– Hello anh đang ở đâu đó?
– Đang ngồi uống cà phê với bạn?
– Quán cà phê sao nghe êm re vậy?
Đó là chưa nói đến có khi còn nghe tiếng đàn bà léo nhéo đâu đó trong máy nữa mới chết chứ!
Đang lái xe trên xa lộ – điện thoại reo, đang hội họp nghiêm trang – điện thoại reo, đang giữa tang lễ sụt sùi – điện thoại reo, trong rạp chiếu phim đang đến hồi gay cấn – điện thoại reo. Ở giữa đám đông, trong tiệm phở, ở chỗ mua bán đông người, nhiều ông bà cứ nghĩ mình đang ở vườn sau, cứ oang oang hết chuyện này tới chuyện nọ, lâu lâu lại xen tiếng Anh, tiếng Mỹ để khoe tài, khoe công việc nữa mới khổ chứ. Thật là khổ nạn.
Đang nói chuyện với bạn bè mà tự nhiên chẳng nghe cái gì nữa, thì đúng là người ta đang dùng điện cell phone, nhất là cuối tuần, vì cuối tuần thì cell phone nói free!
– “Xin lỗi mất signal!” Trăm lần như một. Tai nạn lái xe thường xẩy ra là vì trong khi lái xe, nhiều bà đã tô môi, kẻ mắt, nhiều ông đã đọc báo, nhai bánh mì hoặc thậm chí khó tin nhưng có thật, có người đánh răng
nữa (!). Bây giờ lại theo những con số thống kê, nói chuyện điện thoại trong khi lái xe, có thể gây nhiều tai
nạn chết người không kém gì tai nạn uống rượu mà lái xe. Đang lái xe trên đường, mỗi khi qua các khúc ngoặt, thấy cái xe đằng trước, lúc quẹo trái quẹo phải, tay lái có vẻ không ngọt cho lắm, thì y mười lần như một người lái đang áp sát cái cell phone vào tai mà mải mê đấu hót. Nhiều tiểu bang ra luật bắt người lái xe muốn điện thoại phải dùng ống nghe nhét tai hoặc headsets, nhưng theo một cuộc khảo sát của Nha Lộ Vận Na Uy thì khi người lái xe rảnh tay lại dùng điện thoại nhiều và càng dễ dàng gây tai nạn hơn. Thụy Điển lại tin rằng khi người ta dùng điện thoại mà rảnh tay, họ sẽ lái xe nhanh hơn và cuối cùng là thắng chậm hơn.
Nhưng bạn nghĩ sao, trước khi rời nhà đi làm hay đi chơi mà vội vàng bỏ quên cái điện thoại cầm tay ở nhà?
Bạn sẽ quay xe lại lấy hay suốt ngày cứ cảm thấy như thiếu thốn một vật gì, một vật mà hiện nay thuộc loại “vật bất ly thân”, đó là “cái còng điện tử” không hơn không kém!
Người xưa nói:”Không có gì là sướng nhất. Bây giờ có vợ khổ theo vợ, có con khổ theo con, có nhà khổ theo nhà, có xe kbổ theo xe .. ” Biết cuộc đời khổ vậy mà thời đại này người ta đi đâu lại tình nguyện mang kè kè bên hông cái còng điện tử, nghĩ có thật khó hiểu không?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.