Chiến bào thay chiếu

Hoàng Kao Music
Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Đưa bạn về trên chiếc trực thăng

Những thằng lính trận đứng trầm ngâm

Không biết ngày mai hay ngày mốt

Đến lượt ai đi gặp tử thần

Đưa bạn về thôi không trở lại

Sa trường chẳng bánh trái nhang đèn

Chỉ gói thuốc thơm còn vài điếu

Đôi làn khói lượng chẳng bay lên

Cánh quạt xoay tròn vòng sinh tử

Cỏ cây nghiêng ngã bụi mù trời

Băng ca bạn nằm giòng máu nhỏ

Không khóc mà sao lệ cứ rơi

Đưa bạn nằm trong khoang trực thăng

Dấu hồng thập tự cũng đỏ bầm

Ven rừng tiếng súng nào lạc lõng

Như tiễn người qua cõi thế gian

Cánh quạt xoay tròn vòng sinh tử

Cỏ cây nghiêng ngã bụi mù trời

Băng ca bạn nằm giòng máu nhỏ

Không khóc mà sao lệ cứ rơi

Bạn hãy về thăm miền quê cũ

Mẹ chờ bạn dưới mái nhà xưa

Tội cho thân mẹ già còm cõi

Nước mắt từ lâu cạn hết rồi

Tao vuốt mắt mày lần sau cuối

Chiến trường đi rồi lại trở về

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Chiến bào thôi cũng là quan quách

Mày khoác đi vào cõi ngàn thu

Chiếc U-1 đã ra khỏi vùng chiến sự

Đưa bạn về một cõi bình yên

Nay không còn tiếng đạn bom gầm

thét mỗi ngày trên núi rừng

Bạn đã dừng tay súng và mãi mãi tuổi hai mươi!

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Tác phẩm Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ tập hợp một số bài trong hơn 500 bài mà tác giả đặt tựa chung là Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự viết từ năm 2000 đến năm 2016. Hết thẩy các bài này đều được báo chí Việt ngữ hải ngoại từ Canada, Úc, Hoa Kỳ… phổ biến, trong khi tác giả sống tại Việt Nam. Chính vì thế, tháng 6-2009, Văn Quang đã bị công an Sài Gòn đến nhà lục soát, cắt điện thoại, cắt internet, tịch thu computer… và trải nhiều ngày liên tục bị đòi đến trụ sở công an để thẩm vấn, chính xác là để tra khảo và đe dọa về việc chưa rời cây bút.

Tuy vậy, Văn Quang vẫn sống với cây bút, bất kể mọi tai họa có thể xảy ra như chính anh đã xác nhận khi trả lời cuộc phỏng vấn của trang Web Gió-O: “Tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điều gì xấu… Cái gì có thật thì tôi viết… Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật, đã và đang xảy ra…”

Trong bài trả lời phỏng vấn trên, Văn Quang còn nêu rõ các bài viết của mình chỉ là những đường nét giúp hình thành “một bức tranh toàn cảnh của xã hội tôi đang sống. Nó phản ảnh trung thực mọi vấn đề ở bề mặt đời sống người dân thuộc mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân “lừa được cả nước” đến một đại gia lương thiện và bất lương, từ lớp thanh niên bình dân đến các quan chức, từ cô gái tỉnh lẻ đến cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, những điều phi lý bất công, những điều cần nói mà người dân không nói được…”

Tất nhiên Văn Quang đã rõ hơn ai hết về mức hạn chế nghiệt ngã trong hoàn cảnh của mình, nhưng khẳng định: “Tôi làm cái gì mà luật không cho phép cũng không cấm. Tôi làm với lương tâm một người cầm bút. Dù ở đây chẳng ai công nhận, tôi vẫn là người cầm bút. Người làm báo có thẻ làm báo, nhưng tôi chẳng có gì ngoài những tìm tòi của mình, tự mình lựa chọn thông tin. Còn những “rủi ro” bao giờ tới và tới lúc nào, đành chấp nhận như một số phận an bài”.

Để giúp bạn nhìn rõ hơn về cảnh sống và cách viết của những người cầm bút cùng cảnh ngộ với Văn Quang, xin được trích dẫn một bài của Văn Quang trả lời 3 câu hỏi do một ký giả nêu trên tuần báo Khởi Hành ở Hoa Kỳ. Ba câu hỏi như sau:

– Câu 1: Anh viết như thế nào? Anh là một trong những tác giả nổi tiếng viết feuilleton. Anh thấy cách viết ấy tiện hay không tiện cho anh?

– Câu 2: Là nhà văn rất nhiều kinh nghiệm và viết rất nhiều, dường như không bao giờ ngưng nghỉ, anh nghĩ thế nào về nhà văn “dài hơi” và người viết “ngắn hơi?” Bí quyết viết truyện dài của anh là gì?

– Câu 3: Anh có bao giờ “bí” đề tài khi viết không?

Dưới đây là bài trả lời của Văn Quang đăng trên báo Văn Nghệ tại Úc ngày 8-5-2005.

“Cảm ơn bạn đã cho rằng tôi là một trong những tác giả nổi tiếng về viết feuilleton. Tôi chỉ biết tôi là người viết rất nhiều feuilleton cho các tuần báo và nhật báo trước năm 1975 cũng như bây giờ.

Trước đây, có thời gian tôi đã viết trung bình một ngày ba truyện dài hoặc phóng sự tiểu thuyết cho các nhật báo và tuần báo xuất bản tại Sài Gòn. Cách viết đó thích hợp với lối sống và công việc của tôi vào thời gian đó. Vừa đi làm ở tòa báo quân đội, vừa viết cho các báo, vừa để thì giờ… đi chơi, đi đánh bài với bạn bè. Ðó cũng là sự thích thú của tôi và nó cũng mang lại nhiều cảm hứng, cho tôi nhiều nhận xét về con người và sự việc. Nó cũng có lợi cho những đoạn đối thoại của tiểu thuyết nhất là phóng sự sống động hơn, thật hơn, có tính thời đại hơn. Nếu không “đi giang hồ vặt” như thế chắc khó mà kiếm được những hình ảnh, những ngôn ngữ, những nhân vật trung thực của thời đại mình đang sống. Tôi nói thế không phải để “làm cái cớ đính chính” cho sự “giang hồ” của mình.

Thật ra, sự ham muốn “trần tục” bao giờ cũng đến trước rồi sau đó mới thấy nó “nhảy vào” tác phẩm của mình. Nó nhảy vào như thế nào chính tôi cũng chẳng để ý, nhưng khi viết, tôi thấy tự tin hơn vì đã nhìn đúng sự việc. Nhờ đó, tôi viết rất nhanh mà đôi khi không cần đọc lại. Và cũng vì viết nhanh nên khi truyện đã in rồi mới thấy có những khiếm khuyết. Lúc đó chỉ còn cách “cứ để đó rồi khi nào xuất bản thì sửa sau”. Nhưng có khi ông chủ nhà xuất bản cứ đánh máy từ báo đã in rồi cho xuất bản. Ðó là cái lỗi “làm ẩu” của tôi, không thể đổ cho ai được. Hồi đó dường như tất cả những bạn viết feuilleton cũng đều viết như thế. Thanh Nam vừa rung đùi vừa viết feuilleton ngay tại nơi làm việc, tôi vừa giải quyết công việc của phòng báo chí quân đội vừa viết, đôi khi người của tòa báo ngồi chờ sẵn lấy bài mang về cho kịp giờ mang đi kiểm duyệt. Ngọc Linh, Sỹ Trung hay ngồi ở quán ăn có máy lạnh viết vào buổi trưa…

Nói tóm lại, viết như thế rất tiện và mỗi ngày lại có thể có thêm được những ý mới hay hơn những gì mình đã suy nghĩ trước đó. Mỗi feuilleton để lại một đoạn để kỳ sau viết tiếp. Và như thế không thể “lộn” truyện này với truyện khác. Hơn thế mỗi feuilleton tôi đều nhắm vào một chủ đề, và đây cũng chính là lý do tại sao tôi có thể viết liên miên mà thường không “bí” đề tài…

Sau này, tức là sau 1975, và sau hơn 12 năm nằm trong trại gọi là “trại cải tạo”, về đến Sài Gòn năm 1987, tôi lại không thể viết như thế được nữa. Có một thời đói rách, các nhà xuất bản gặp thời “mở cửa” được phép xuất bản những cuốn tiểu thuyết tình cảm. Ðây là nhu cầu của người dân sau hơn một thập kỷ đọc toàn những truyện “khô như ngói”, nhân vật cứ như “thép trên lò”, người ta ngán quá rồi nên tìm đọc những cuốn sách “tình cảm đúng nghĩa” không phải là sách tuyên truyền, không phải là những nhân vật anh hùng cứng nhắc.

Các nhà cho thuê truyện mọc lên như nấm.

Các nhà xuất bản theo trào lưu này đã đi tìm những cuốn tiểu thuyết giống như những cuốn của Sài Gòn trước năm 1975. Mỗi cuốn như thế đòi hỏi phải được kiểm duyệt toàn bộ – gọi là biên tập – và anh xuất bản tư nhân đi đặt hàng rồi “liên kết” với một nhà xuất bản của nhà nước để phát hành.

Họ đã tìm đến tôi và tôi chỉ viết sách tình cảm “vô thưởng vô phạt” giao cho nhà xuất bản muốn ký tên ai đó thì ký. Vì thế sách phải viết xong toàn bộ rồi mới xuất bản được. Không có cách gì sống thì phải viết, nhưng dù sao “giấy rách cũng phải giữ lấy lề” nên những cuốn sách đó đã xuất bản ở Sài Gòn vào những năm 1989-1993, khoảng mười cuốn, sau này tôi bán bản quyền cho một số nhật báo ở Mỹ in lại và ký tên mình – như Soi Bóng Cuộc Tình, Suối Đam Mê, Tình Khúc Màu Tím, Sau Ánh Đèn Thành Phố…

Riêng trường hợp cuốn Ngã Tư Hoàng Hôn thì tôi cho đó là một tác phẩm viết cho mình, cho những gì tôi đã sống hơn 10 năm qua, cho thời đại mà tôi đang sống – 1990 – nên cứ viết rồi để đó. Dĩ nhiên tôi không có hy vọng gì xuất bản ở Sài Gòn được. Mãi tới khi một người bạn ở Mỹ về chơi, đọc truyện đó rồi thu vào đĩa mềm mang đi – hồi đó ở Việt Nam chưa có internet như bây giờ. Vài tháng sau, một nhật báo ở Mỹ đăng truyện này rồi Tủ Sách Tiếng Quê Hương cho xuất bản. Tức là hơn mười năm sau cuốn truyện đó mới được ra mắt ở Mỹ. Ðó là hai cách viết feuilleton của tôi, tùy theo “tình hình” mà thay đổi. Tất nhiên một cuốn sách được viết xong rồi mới cho in bao giờ cũng cẩn thận hơn là viết từng ngày. Mạch văn trôi chảy và đồng nhất hơn. Nếu có thể có một ý kiến nào với các bạn viết feuilleton dù “đắt khách” đến đâu thì tôi cũng đề nghị nên viết xong rồi mới cho trình làng bất kể trên báo chí hay xuất bản.

Bây giờ tôi cố gắng viết theo lối đó.

Sau phóng sự tiểu thuyết Lên Ðời, tôi tính viết một truyện dài hoặc một phóng sự mới mà chỉ vì cần phải viết xong toàn bộ nên mấy tháng rồi cứ hẹn lần hẹn lữa với mình mà đến nay vẫn chưa viết được chữ nào. Ðó cũng là “cái dở” của việc phải hoàn thành xong rồi mới trình làng. Nếu cứ tiếp tục viết feuilleton hàng ngày hay hàng tuần thì đến ngày, đến giờ là buộc phải viết nên dù lười, dù bận cách mấy cũng phải ngồi vào bàn viết. Ðó cũng là một “ưu điểm” cho anh lười. Và… theo tôi, anh nhà văn nào chẳng lười, viết nhiều quá thì phải ớn chứ. Chỉ khi “vào cuộc” rồi mới cắm đầu cắm cổ viết, chẳng biết đến chuyện gì khác.

Ðể trả lời câu hỏi thứ hai: Anh có ý kiến gì về việc người viết “dài hơi” và người viết “ngắn hơi” không?

Tôi nghĩ người viết dài hơi là người viết không bí đề tài, người viết ngắn hơi thường chỉ viết một hai cuốn rồi… tắc, hoặc viết không hay nữa. Chắc bạn đã nhận thấy sự kiện đó trong những người viết văn? Như câu trên tôi đã trả lời, tôi không bao giờ bí đề tài, nhờ quan niệm viết của tôi ngay từ đầu.

Trước hết và trên hết là tôi chọn đề tài trong cuộc sống trước mặt. Cái gì là điều đáng nói nhất trong lúc này? Xã hội chúng ta đang sống có những vấn đề gì gai góc cho con người bất kể lớp tuổi nào?

Tôi chọn đề tài của tuổi trẻ. Tuổi trẻ cũng chia ra làm nhiều lớp, trí thức, quân nhân, người lao động… kẻ chân thật, người lừa đảo… kẻ giàu, người nghèo… Không thể viết hết cùng một lúc và cũng không thể hiểu hết mọi con người cùng một lúc. Vì vậy, tôi chọn những người mà tôi gần gụi nhất, vấn đề của họ là gì?

Thời cuộc hay mưu sinh? Tâm tình hay lý tưởng? Sự bế tắc và lối thoát? Bế tắc cái gì?

Lối thoát họ đi tìm có tới hay không? Ðó là tất cả những thứ có thể viết được.

Ngay trong tập truyện ngắn đầu tay xuất bản vào năm 1957, qua truyện ngắn tiêu biểu là Thùy Dương Trang, tôi đã đặt vấn đề rất rõ ràng: Người thanh niên ở thành phố lúc đó sống dưới sự cai trị của quân đội Pháp. Anh ta từ hậu phương – tức vùng Việt Minh chiếm đóng – về, đứng giữa ngã ba đường, chẳng biết mình phải chọn lựa như thế nào. Ðành buông trôi cho “số phận”. Và quả nhiên số phận đã khiến anh ta thành người yêu nước hay người phản quốc chính anh ta cũng chẳng chọn lựa được.

Cho đến khi vào quân đội, tôi chọn đề tài người thanh niên và quân ngũ. Những năm 1956-1957 rất ít người viết về đời sống quân ngũ bởi quan niệm “người lính” thì thời nào cũng thế. Nhưng tôi đã nhìn nó theo cuộc sống thật của tôi.

Người lính không chỉ có thế và sau này người ta phong tặng cho là “chiến sĩ” hay “anh hùng” cũng chẳng phải chỉ có lý tưởng mà còn do con người của chính anh ta. Tình cảm và cuộc đời chiến đấu “sống chung hòa bình” như thế nào?

Ðến ngay sự hy sinh cao quý nhất là cái chết cũng khó lý giải “vì cái gì?”

Nói như người ta thường nói là “vì tổ quốc vì đồng bào” thì giản dị và dễ dàng quá.

Giải thích như thế, tôi cho là chưa đủ. Còn những thứ khác nữa, như tình đồng đội, cuộc sống đơn vị, danh dự gia đình và của cả những người yêu thương mình – trong Chân Trời Tím.

Hoặc nói đến sự hy sinh của người lính thì không phải chỉ có ở chiến trường mà còn có nhiều thứ phải hy sinh nữa. Ngay khi họ đã rời khỏi quân ngũ, sự hy sinh đó vẫn còn. Trong Ðời Chưa Trang Điểm, người lính sau khi bị thương trở lại với cuộc sống đời thường, anh ta đã phải hy sinh cả người yêu của mình, vì… không còn đủ năng lực mang lại hạnh phúc cho người yêu nữa… Rồi cứ thế, đôi khi tôi thấy nói về người lính và cuộc đời quân ngũ vẫn cứ chưa đủ nên một đề tài có khi bám theo cả ở những cuốn truyện sau này. Ðiều đó làm cho người viết bứt rứt không yên.

Ðó là một loại đề tài về quân đội.

Còn những đề tài xã hội, đời sống của sinh viên học sinh với sự du nhập những lối sống mới, quan niệm giữa phương Ðông và phương Tây, những mâu thuẫn chồng chéo, học để làm gì, phục vụ cho ai, sự mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và cộng đồng…

Cho đến thời đại bây giờ cuộc sống ở Việt Nam có những thay đổi gì? Lớp trưởng giả được sinh ra như thế nào? Con người thôn quê và thành thị chuyển biến ra sao? Có hàng trăm ngàn sự việc theo thời gian, theo dòng thời sự, theo cách sống “hiện đại”, nhất là những mâu thuẫn trong con người, nói và làm là một hay là hai thứ khác nhau. Sự phá sản trong tâm hồn và trong đời thường diễn ra dưới những hình thái nào…?

Chọn đề tài như thế, chẳng bao giờ viết hết và lúc nào cũng sẵn sàng cho bạn viết. Vấn đề là viết như thế nào thôi. Viết cho đúng, cho thật, đừng bóp méo hay vo tròn nó. Viết để người đọc hiểu được mình muốn cái gì không phải là dễ.

Trong một truyện dài, dù là tiểu thuyết hay phóng sự tiểu thuyết, tôi không bao giờ muốn cho nhân vật của mình, dù là nhân vật chính được coi là “gương mẫu” trong một đề tài trở thành “một ông thánh”, cái gì cũng hay, cái gì cũng tốt. Như thế nó là robot mất. Tôi cho là con người thường có khiếm khuyết nên cứ nói toạc ra, đừng yêu nhân vật của mình quá mà biến con người thành gỗ đá.

Sau khi đã có đề tài thì lúc đó mới là lúc bố cục thế nào để có thể dễ diễn tả hết ý mình và một feuilleton thì đừng quên yếu tố hấp dẫn. Nghệ thuật viết chính là ở lúc viết, lúc diễn tả, chứ không hoàn toàn được quyết định bởi đề tài hay nội dung cốt truyện. Lúc ngòi bút chạy trên trang giấy – bây giờ là trên computer – mới chính là lúc cần tới sức sáng tạo nhiều hơn cả và lúc đó mới chính là lúc “cái gì là tinh túy” của bạn mới xuất hiện, có khi bạn viết không kịp.

Nói thế không có nghĩa là tôi không có lúc “bí”.

Ðiều dễ gặp nhất ở lúc diễn tả một sự việc, tìm câu tìm chữ nào cho đúng “phân lượng”. Cái đẹp thế nào là đúng với nhân vật mình diễn tả, nỗi buồn nào đúng với hoàn cảnh lúc đó…

Ðiều bí thứ hai là làm thế nào cho mọi sự việc xảy ra hợp tình hợp lý, không “gượng ép”, không vô lý. Một thay đổi tâm lý phải dựa trên những nguyên nhân vững chắc. Một lời đối thoại phải hợp tình, hợp cảnh, làm cho người đọc thích thú không rơi vào sự tầm thường. Ðấy là nghệ thuật diễn tả và cũng là nét riêng của từng nhà văn, không ai giống ai cả. Còn điều cấm kỵ của tôi là không “làm dáng” trong văn chương, không khoe mẽ hiểu biết của mình, nói cả những gì không cần nói trong đoạn đó, nó thừa như cái khăn quàng bằng gấm trong khí hậu nóng bức của Sài Gòn vậy. Hãy để vào một dịp khác.

Còn người viết “ngắn hơi” thì tôi nghĩ họ đã tìm cách “kể một câu chuyện dài hay ngắn” chứ không dựa trên một đề tài nào cả. Dĩ nhiên không ai cấm nếu anh viết hay dù bất cứ là viết cái gì. Nhưng nếu không có đề tài thì dễ rơi vào tình trạng viết một vài truyện rồi chẳng biết viết cái gì nữa hoặc cố mà nghĩ ra để viết cho có thì không thể hay được và tự mình sẽ thấy chán, không viết được nữa.

Tôi vẫn cho rằng khi theo đuổi một số đề tài nó sẽ là chất liệu không bao giờ cạn cho niềm đam mê của mình. Theo đuổi một đề tài tức là đã có một lý tưởng để đi tới, một cái đích phải vượt qua. Từng cái đích một sẽ cho người viết phải viết hoài viết mãi. Ðây là cách suy nghĩ của tôi về người viết feuilleton, có thể có rất nhiều cách khác của những nhà văn khác không giống tôi.

Ðiều tiên quyết là sự thành thật với chính mình, sự truyền cảm với độc giả, có thể người viết chưa nhận ra ngay lúc viết, nhưng với kinh nghiệm của tôi thì chỉ sự thành thật mới có sức truyền cảm và đồng cảm mạnh mẽ nhất mà thôi.

Cuối cùng điều tôi muốn nói là bạn viết bất cứ cái gì cũng được, khi độc giả đọc xong truyện hoặc bài của bạn, một độc giả vui tính có thể gọi bạn bằng “thằng”, nhưng người ta sẽ tủm tỉm cười mà phán rằng: “Thằng cha này viết được lắm” hay ít ra thì cũng là “viết đúng lắm”. Ðừng để độc giả long trọng gọi bạn là “ông” nhưng lại phán rằng: “Ông này viết lách chẳng đâu vào đâu”.

Ði tìm một sự cảm thông giữa người viết và người đọc không dễ dàng chút nào, cho nên “viết và lách” cũng chẳng bao giờ là chuyện dễ dàng”.

***

Qua những dòng tâm sự trên, Văn Quang đã biểu lộ ít nhất 2 đặc trưng nơi mọi tác phẩm hoặc bài viết. Đó là nguồn đề tài luôn gắn kết với các diễn hóa cuộc sống xã hội trước mắt người viết và sự tuyệt đối trung thực của người viết khi phản ảnh mọi diễn hóa đó.

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ hầu hết là những trang ghi cảm xúc của tác giả vào giây phút nhận tin giã từ cuộc sống của những người từng một thời gắn bó, chia xẻ ngọt bùi, hay oan khiên cay đắng…

Giữa tâm cảnh đơn côi lạc lõng khi đối diện từng giờ với các nẻo đường quê hương từng gần gụi đang trở nên xa lạ lạnh lùng thì các tin trên chỉ dẫn đến nỗi u uất về thân phận lưu đày, cách biệt với khung cảnh thân yêu xưa cũ đã hoàn toàn vắng bóng.

Rõ ràng đó là nỗi lòng người viết, nhưng cũng rõ ràng không chỉ là nỗi lòng riêng của Văn Quang, bởi mọi người viết chẳng bao giờ chối bỏ nổi vị thế một phần tử nhỏ bé trong cái quần thể mang chung huyết mạch cùng chia xẻ mọi niềm vui nên cũng cùng phải gánh chung mọi khổ nạn gian truân, uất ức.

Nói cách khác, đây chính là nỗi lòng của mọi con dân Việt Nam trong giai đoạn lịch sử khởi đầu từ giữa thế kỷ 20 và còn đang tiếp nối hiện nay. Tất nhiên, nỗi lòng này cũng không chỉ gói tròn trong cảm xúc dấy lên trước tin về những hình bóng thân yêu từng gắn bó bao ngày đã vĩnh viễn lìa xa. Trên thực tế, đây chỉ là một khía cạnh bên nhiều khía cạnh khác mà Văn Quang đã gợi nhắc qua diễn tả mọi bài viết chỉ nhắm giúp “hình thành bức tranh toàn cảnh về xã hội tôi đang sống… phản ảnh trung thực mọi mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội… Từ nỗi đau cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước…”

Tiếp tay bảo trì và phổ biến các bức tranh đó đã trở thành phận sự hiển nhiên của hết thẩy nạn nhân trong giai đoạn lịch sử tàn khốc này. Vì đó chính là việc cần làm để chỉ rõ các mưu toan xảo trá đổi trắng thay đen do một bạo quyền đang tìm cách che đậy tội ác và lường gạt mọi người. Đó là một phận sự đè nặng trên vai mọi con dân Việt Nam hiện nay.

Hy vọng là chúng tôi sẽ tiếp tục được cùng các bạn góp phần phổ biến những bức tranh đó từ mọi người viết còn giữ vẹn lương tâm người cầm bút để chuyển lại mai sau các chứng tích vô cùng cần thiết phản ảnh chính xác giai đoạn lịch sử mà nhiều thế hệ đã và đang còn phải gánh chịu trong cảnh sống đẫm nước mắt và máu.

Tủ Sách Tiếng Quê Hương

Buồn viễn xứ khôn khuây

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Tranh Bảo Huân

Lần đầu đọc bài thơ thấy hay vì chúng ta cảm bằng trái tim. Lần thứ hai đọc lại vẫn thấy hay vì chúng ta hiểu bằng cái đầu (do biết về lịch sử, địa lý của bài thơ).

Bài “Ðôi Bờ” và “Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng theo thời gian phủ mờ năm tháng, tứ thơ đã cũ, nên đọc không còn cảm thấy hay, xúc động như mới đọc lần đầu. Ngược lại bản nhạc “Ðôi mắt người Sơn Tây” do Phạm Ðình Chương phỏng từ hai bài thơ nói trên lại không cũ theo năm tháng, nhứt là đối với những người mất nước, luôn “u uẩn chiều luân lạc, buồn viễn xứ khôn khuây” như chúng ta.

***

Pháp thất trận Ðiện Biên Phủ năm 1954, đất nước bị chia đôi. Miền Nam thuộc tự do, miền Bắc lại rơi vào tay độc tài cộng sản. Khi nắm được quyền lực, nội bộ giành ăn, Cộng sản bắt đầu ăn thịt ngay chính những đứa con của mình. Hội Văn nghệ miền Bắc tương kế tựu kế, bắt chước chiến dịch “Trăm hoa đua nở” của quan thầy Mao Trạch Ðông bên Tàu. Chúng phát động việc phê bình lãnh đạo văn nghệ, nói là để chuẩn bị cho Ðại hội văn nghệ toàn quốc năm 1956. Thực chất hành vi đen tối đó là phỉnh gạt những người có tư tưởng chống độc tài trong lãnh vực văn hóa, văn nghệ xuất đầu lộ diện.Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên (nổi tiếng từ thời tiền chiến) muối mặt, quỳ gối nuốt nhục để kiếm miếng ăn, thề hứa tuân thủ đường lối văn nghệ một chiều, cúc cung ca tụng đảng.

Nhưng Phan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Ðang, Lê Ðạt… là các văn nghệ sĩ đã từng đi kháng chiến 9 năm, ngây thơ nghĩ mình có công với kháng chiến nên được quyền lên tiếng trong Nhân Văn Giai Phẩm. Quang Dũng viết “Mấy ý nghĩ về thơ”, đăng 3 kỳ trên tạp chí Văn nghệ vào tháng Chín, năm 1956.

Dưới trướng của Trường Chinh, đao thủ phủ về văn hóa, văn nghệ Tố Hữu, đố kỵ, nhỏ mọn. Ganh ghét tài năng đã hờm sẵn, đập cho mấy ông một trận thừa sống thiếu chết. Ðúng như Nguyễn Du từng nói: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Bọn bồi bút, bọn khuyển ưng, hùa với nhau, tố thơ Quang Dũng còn rơi rớt chất tiểu tư sản (tạch-tạch-sè) thời đầu kháng chiến!

Trong tuyển tập thơ Việt Nam (1945-1960), Xuân Diệu chủ trì và viết lời nói đầu đã không dám đưa bất cứ một bài thơ nào của Quang Dũng vào.

Tại sao Xuân Diệu lại hèn đến thế? Chẳng qua Tố Hữu đã đấu tố dữ dội các ông như thế nầy: “Lật bộ áo Nhân Văn – Giai Phẩm thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm…”.

Tất cả những cây bút tài hoa đã trót tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đều bị chụp cho cái nón cối bự tổ bố là: phản động, chống đảng, phải đi chỉnh huấn (thực chất là đi ở tù).

Sau 1975, nghe một nhà phê bình văn học Marxist từ xứ Bắc mò vô Sài Gòn trở ra, báo: “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây”, “Ðôi bờ” được truyền bá rất rộng rãi trong Nam, Quang Dũng đã van là: “Thôi xin ông, đừng nói với ai nhé!”.

Tại sao Quang Dũng lo sợ đến bủn rủn chân tay như thế? Chẳng qua là Trường Chinh và Tố Hữu vẫn đang còn hét ra lửa, mửa ra khói.

***

Nhớ năm 1975, cộng sản điều giáo viên vào miền Nam làm Ban Giám hiệu (xưa mình gọi là Hiệu trưởng). Những tay nầy không dạy dỗ gì ráo, (biết gì mà dạy?), nhiệm vụ chánh của chúng là theo dõi những thầy, cô giáo được “lưu dung”. Với đầu óc hoang tưởng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, chúng bận rộn, đánh hơi dò xét coi CIA có còn gài lại ai hay không? (He he, bộ tưởng làm CIA dễ lắm hay sao chớ!).

Tay thầy giáo “chi viện” nầy lè phè thấy ớn chè đậu! Hắn đầu đội nón cối của bộ đội cộng sản, mặc áo trắng cụt tay bỏ ngoài quần vải ka ki Nam Ðịnh, mang dép làm bằng mũ trắng. Chiều chiều xơi cơm canh rau muống luộc nặn chanh xong, vì nghiện rượu, hắn phải nốc sạch hết một cút (một xị) rượu trắng mới ngủ được.

Có lần hắn kêu tôi đến chén chú, chén anh. Rượu vô ắt lời ra, nhưng tôi đâu có ngu ngơ bàn chuyện “nhột nhột” khác. Khù khờ làm vậy coi chừng nó mật báo cho bọn công an huyện “tó” mình đưa đi cải tạo là bỏ bu.

Tôi hỏi nó có biết nhà thơ Quang Dũng cùng quê Sơn Tây với nó không? Nó đực mặt ngớ ra, rồi hỏi lại: “Nó là đồng chí nào?” Ha ha! Ngu thấy ớn hè mà cũng đòi dạy Văn! Vậy là tôi phải lên lớp cho hắn một bài địa lý về các địa danh trong bài “Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng.

Sơn Tây còn gọi là Trấn Tây, Trấn Ðoài, Xứ Ðoài. (Ðoài nghĩa là Tây), cách Hà Nội khoảng 42 km về phía Tây Bắc, là cái nôi của nền văn minh lúa nước đồng bằng Trung du Bắc bộ. Sơn Tây có núi Ba Vì phía Tây Nam, có sông Ðáy, hữu ngạn hạ lưu sông Hồng, dài khoảng 240 km chảy suốt qua Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Ðịnh. Còn thành Sơn (Tây), do Vua Minh Mạng cho xây vào năm 1822. Phủ Quốc (Oai), không phải là Phú Quốc đâu nha) thuộc tỉnh Sơn Tây (xã, huyện, phủ rồi mới tới tỉnh). Sài Sơn là xã thuộc phủ Quốc Oai. Dưới chân núi Sài Sơn là đồng Bương, Cấn.

Nó hỏi: “Cậu có tham gia vào cuộc tập kích giải cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây vào tháng Mười Một, năm 1970 không? Sao lại rành sáu câu vọng cổ về quê tớ đến thế?”

Phạm Đình Chương

Tôi ốm nhom ốm nhách, trói gà không chặt thì cách chi đế quốc Mỹ tuyển tôi làm biệt kích cho nó được chớ? Tôi biết được Quang Dũng là do tạp chí Văn học năm 1971, tự do in lại những bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng thời kháng chiến. Còn những người yêu nhạc thì biết được Quang Dũng là do nhạc của Phạm Ðình Chương.

Phạm Ðình Chương (1929-1991) từng đi kháng chiến (nhưng “khiến chán”) nên năm 1951, ông “dinh tê” (dinh tê là do hai chữ “renter,” có nghĩa là “trở về”, từ vùng do Việt Minh kiểm soát, khi biết phong trào kháng chiến đang trở thành công cụ của cộng sản).

Năm 1953, Phạm Ðình Chương bỏ vào miền Nam tự do, lập Ban Hợp ca Thăng Long. Nghệ danh của Phạm Ðình Chương khi đi trình diễn là Hoài Bắc vì niềm thương nhớ quê mẹ Sơn Tây vẫn còn đeo đẳng hoài trong tâm khảm.

Bà con mình ai cũng biết nhạc sĩ đọc một bài thơ thấy trúng ý mình quá, bèn dùng lời thơ làm ca từ; ý thơ thì y chang như thế gọi là phổ thơ. Phạm Ðình Chương không phổ thơ mà là phỏng thơ. Tức là mượn vài đoạn thơ làm ca từ. Về ý, dù có nương theo chút đỉnh; nhưng cái ý chánh rất là khác.

Trong “Ðôi Bờ”, Quang Dũng viết:

“Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?

Sông xa từng lớp lớp mưa dài

Mắt kia em có sầu cô quạnh

Khi chớm thu về một sớm mai?”

Trong “Mắt Người Sơn Tây” là:

“Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca!”

Ðó là tâm sự cùa một người lính chỉ mong hòa bình để về quê cũ gặp lại người xưa. Qua tay người nhạc sĩ tài hoa Phạm Ðình Chương thì muốn “Ðường hoa khô ráo lệ” để mình được trở về đất Sơn Tây.

“Tôi từ chinh chiến đã ra đi

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc

Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay…”.

Buồn thay, ước mơ đó suốt bao năm ly hương đã không trở thành hiện thực. Sau năm 1975, cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam, Phạm Ðình Chương lại xuống thuyền vượt biển. Lần nầy, lại xa hơn, tới nửa địa cầu, làm lòng thương nhớ Sơn Tây quê nhà càng thêm tha thiết.

Phạm Ðình Chương đã ra đi vào ngày 22, tháng Tám, năm 1991, lúc còn rất trẻ, mới 62 tuổi, tại California Hoa Kỳ. Phạm Ðình Chương vẫn “u uẩn chiều luân lạc; buồn viễn xứ khôn khuây” cho tới chết.

Biết mưa và nắng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 23/08/2015 

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

“thôi thì cho biết mưa và nắng
mới đó mà xa ôi rất xa
”.
Đinh Cường

Thập niên 80, mình rất sung. Theo ngữ điệu ngày nay, ăn chơi không sợ mưa rơi. Viết tơi bời hoa lá chẳng ngơi, mê muội dầm thân trong thứ “vũ lượng” thoạt cuồng nộ thoạt rơi chẳng ướt đất. Mình gửi bài liên tục cho hầu hết các tạp chí văn học hải ngoại. Do tôn trọng các diễn đàn bốn phương nên mình bỏ công đi thơ thẩn tới chợ trời, tậu được cái bàn máy chữ nhỏ nhắn hiệu Olivetti giá hai chục bạc chưa đui què mẻ sứt. Khi thi triển nhất dương chỉ, những mặt chữ rướn thân vồ dập lấy giấy phát tiếng dòn dã đáp trả, sướng rêm.

Lóc cóc suốt canh thâu chẳng biết cách vặn nhỏ âm thanh để khỏi phiền lòng hàng xóm. Người ta dễ ngủ khi đêm ngoài trời có mưa rơi về sáng, đôi khi người ta trằn trọc ngủ không êm vì lỡ lậm nhớ thứ tiếng động dịu dàng kia. Lóc cóc một hai ba, lóc cóc bốn năm sáu, chuông kinh cong báo hiệu đã cuối đường, gạt cần sang số xuống hàng rồi lại đắm đuối ghi những tự tình của các mẫu tự lên giấy mỏng tang số phận. Loay hoay chong đèn bỏ dấu tay, vỗ về những trang cho ngay rồi mang ra bưu điện gửi cái phong thư vàng (nặng tợ ngàn cân treo sợi tóc). Thư tình gửi par avion cho người xa mặt cách lòng cước phí chỉ tính bằng xu, nhưng một “tác phẩm” dẫu chưa tượng hình, nhân viên bưu cục sẽ thu thuế bằng đơn vị đồng. Năm đô la chín mươi chín xu, xin vui lòng. Lè lưỡi ra dán tem cò, thảy nó vào cái bao bố nằm chờ phía sau lưng, kêu cái xoạch: Chúc ông một ngày tốt lành. Miệng nói trong khi thối lại một xu đen. Rồi nó sẽ được bay đến một vùng trời ít khi có tuyết rơi, nó thoát xác và độ chừng hơn tháng sau nó lại hiện về với một hồn ma chứa đựng linh hồn.

Phụ Nữ Diễn Đàn ở Mỹ, Làng Văn và Sóng ở Canada chơi bảnh có trả nhuận bút. Năm bảy chục bạc cho mỗi bài. Tuy muối bỏ biển nhưng đã là hạt muối thì nó muôn năm vẫn mặn mòi. Lần này không ra bưu điện mà tới nhà băng, sắp hàng đổi tấm ngân phiếu trả công thức khuya dậy sớm. Huýt gió mồm tìm ngay một quán cà phê thật gần để ngồi rung đùi thưởng thức giọt nước đắng, mơ màng đốt thuốc lá nghĩ tới cái máy cày Kubota. Muốn nó chạy quờ quạng ra cánh đồng trước tiên ta phải châm dầu cặn diesel vào bình chứa, muốn có bài cho hai ba tờ báo ở tháng tới mình buộc phải dung nạp năng lượng kích thích tố cà phê thuốc lá, chất phát quang nọ sẽ khiến mình sáng dạ hòng đáp trả cuộc chơi “Vui thôi mà”.

Nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, nay đã về chốn xa xăm, người từng bỏ ra mười mấy lượng vàng để thực hiện bộ sách giá trị: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”, có làm bốn câu thơ riêng tặng “người bạn trẻ” ngày ngồi nhậu cùng nhau ở An lạc cốc trên Montréal tơi bời cõi mộng:

“Óc tim thượng giới trả lời
Bút tiên mực máu gửi người trần gian
Riêng mình còn mỗi cái thân
Chỉ ham sống với giai nhân cợt đùa
”.

Mình thích đùa cợt với giai nhân chăng? Mình ưa cảnh vườn khuya trăng lạnh chăng? Mình khoái chòng ghẹo một cành hoa lả lơi ngày trở gió? Không biết. Một vài trường hợp gây ra ngộ nhận cũng nên xem là cực khoái. Chưa đi với gái ăn sương mà tả chi ly cảnh giường chiếu khiến ai kia đỏ mặt, há không phải là điều thậm sướng ru? Mình có nhận được đôi ba lá thư của độc giả gửi (nhờ toà soạn chuyển), họ tuyệt không phê bình những văn cảnh đồi truỵ nọ. Họ hỏi: Anh có bà con chi với nhạc sĩ Hồ Đình Phương? Dạ thưa không? Thế có họ hàng gì với giáo sư Hồ Đình Chữ? Dạ, có nghe tên mà chưa hân hạnh diện kiến. Cũng may mình lót chữ Đình, lặng thinh giạt đứng một mình vô can. Giả thử mà lót chữ Chí, ra đường e thưa gửi lí nhí. Chú Hồ này vốn rất bé tí.

Người đọc thưa dần chuyện vấn an và chẳng một ai để tâm đến “lý lịch” mình. Yên lặng kéo dài, kéo dài cho tới hồi có người phát hiện: Hoá ra ông là em vợ của hoạ sĩ Đinh Cường và nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Sao bấy chầy cứ mãi im re? “Năm đi tháng lại bù trừ, ngày đi vĩnh viễn anh ừ cho anh”. Bùi Giáng đã ngôn thế. Thưa thật rằng: Ba Mạ mình nhờ trời có lắm con. Đẻ ra toàn nam, duy chỉ có được hai o con gái. Chị đầu lấy hoạ sĩ làm chồng, chị sau chọn nhà văn để sống đời phu thê. Một Nam một Bắc lỡ yêu giọng Huế của hai thiếu nữ làm nghề gõ đầu trẻ và một sớm một chiều, họ đến nhà “tha” hai o đi mất. Ba Mạ mình rất thông thoáng, rất cởi mở, rất dân chủ, rất biết lắng nghe ý kiến “tâm tư nguyện vọng” của con gái chứ không giống lối hành sử của đa số các bậc phụ huynh khác của một Huế “phong kiến” bảo thủ kiên cố. Thời mình học trường Mỹ Thuật đến nhà cô bạn gái học đệ nhị trường Đồng Khánh bị ông bố chận đầu hỏi chuyện với khuôn mặt lộ rõ sự ác cảm: Tương lai cậu là hoạ sĩ à, liệu nhắm có nuôi nổi thân cậu không? Mình không nói, mình cười nhạt và mình lễ độ xin kiếu từ. Dĩ nhiên đó là thứ “chuyện tình không đoạn kết”. Mình thua, toe tua, ngay tự khởi thuỷ. Tình chết trong trứng nước. Danh ngôn Tây phương có câu: “Làm nghệ thuật tức là phơi mặt ra với đời, điều đó có nghĩa bạn là người dũng cảm”. Hà hà, có khi bạn phải dũng cảm ngay từ khi chưa làm được nghệ thuật cơ đấy! Mình đã dũng cảm cắn răng quay lưng với “con gái nhà người”, cúi đầu thầm đọc thơ Đinh Hùng: “Người đi bạt dấu chân hài xảo, vạt áo chàm xưa có nhạt mầu!”.

Có văn hữu làm cuộc phỏng vấn bỏ túi: Vậy thì bạn có thu thập học hỏi được điều gì ở hai người anh rể tài hoa kia? Học hỏi trước mắt là thi vào trường Mỹ Thuật rồi sau này đổi món, tập tành viết văn. Chỉ có bấy nhiêu thôi đã nghe hao mòn cuộc lữ và một lần nữa, dũng cảm để khẳng định, mình luôn là đứa học trò kém cỏi. Bởi Leonardo Da Vinci đã nói: “Học trò kém là người không thể vượt nổi thầy mình”. Ôi! Làm sao vượt qua được, thứ hậu sanh khả ố kia! Câu hỏi kế tiếp: Vậy anh còn giữ được những kỷ niệm đáng nhớ với hai anh ấy không? Kỷ niệm à? Biết sao thưa thốt cho vuông tròn, cho khỏi bị quở “áo thụng vái nhau”. Hoạ sĩ Đinh Cường có lần phân bua: “Viết về nhau có người trách là áo thụng vái nhau, giản dị chúng tôi chỉ xem chiếc “áo thụng” ấy có khi lại che cho nhau qua một cơn mưa”.

Nhớ ngày nọ, khi hoạ sĩ Đinh Cường khởi sự định cư ở Huế để làm người anh rể, mình học đệ Lục trường Hàm Nghi, mang tật ngứa tay bèn lấy cọ màu của anh Đinh Cường luôn bày sẵn ra đó để vẽ bức tranh lập thể lên đôi giày Bata vải rồi làm con gà trống ưỡn ngực ra, mang “bức tranh di động” kia đi ciné cùng thằng bạn. Xuất trưa, phim hành động dài gần hai tiếng, vãn tuồng tầm 3 giờ thì hai đứa học trò học bè ngây thơ vô tội liền bị hai ôn cảnh sát mặt mày bặm trợn hùng hổ chộp cổ lôi về đồn bót dưới Chi Lăng. Một ôn quát: Mụ cô mi, khai mau, đồng bọn của mi đóng chốt ở mô? Tên chi? Trai hay gái? Vải sưa mà che mắt thánh hả thằng làm nhiệm vụ giao liên. Mi mang đôi giày nỏ giống ai, dị hình dị tướng nớ là thế mật khẩu để trao đổi tin tức cùng đồng bọn? Nói rứa có đúng không? Ông cảnh sát độ chừng ngoài ba chục tuổi xắn tay áo: Để tao tẩn cho mi một trận, lâu hung rồi tay buồn chưa tẩm quất ai. Ngứa ngáy thiệt cực chẳng đã!

Nước mắt bắt đầu tuôn đổ, hàng lệ hàng. Mình khóc vì quá sợ hãi. Bao thước phim vừa xem trong rạp chiếu bóng Châu Tinh lại hiện ra, múa may rõ nét cảnh lấy khẩu cung đầy máu me, đầy bạo lực có trong một trụ sở cảnh sát nằm giữa kinh thành ánh sáng Paris. Trời ạ, nó đánh con mồi không nương tay, bầm dập hơn một miếng giẻ rách. Thằng cảnh sát nọ có con bồ rất mướt, rất văm, rất khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Và con bồ chu mỏ nói cùng hàng chữ phụ đề hiện dưới màn ảnh: Em trông anh cũng bô giai, có vẻ con nhà tử tế, có học thức, vậy chớ cớ mần răng anh lại đi làm cớm? Một cái nghề mà ta bà chúng sinh thảy đều ghét có cay có đắng. Đều cạy mặt.

May mà mấy ôn cảnh sát người Huế có lẽ xuất thân là gia đình Phật tử? Họ xắn tay áo để moi thuốc Ruby ra hút, ưa giựt le rứa thôi chớ những ngón ám vàng khói thuốc ấy chưa giở trò xin tí huyết. Dù sao thì mình bắt đầu lạy lục cúc bái, mình van lơn xin được tha mạng, mình bù lu bù loa oan ôi ông Địa, nước mắt nước mũi lòng thòng: Dạ mấy bác làm ơn cho người chạy u vô nhà con thông báo cho gia đình một tiếng thì mọi chuyện sẽ rõ trắng đen ạ. Khoảng 6 giờ chiều, chạng vạng dâng đầy con phố gầy thì Mạ mình đóng vai bà tiên giáng trần. Mạ mặc áo dài nâu, quần vải mỹ á hay xa tanh đen? Tuy sầu muộn nhưng đó là thứ sắc màu biểu tượng của sự phát quang, ngời sáng cả đồn cảnh sát Gia Hội. Con tui hắn chỉ biết ăn biết học, biết đi thưa về trình, gọi dạ bảo vâng, kính trên nhường dưới, môn công dân giáo dục lúc mô cũng được điểm cao. Mặt mày con người ta hiền lành thiệt thà như rứa đó mà cả gan vu oan giá hoạ đổ hô cho hắn là Việt cọng. Chừ đề nghị mấy anh bắt nhốt tui luôn một lượt cho có mạ có con, cho tiện việc sổ sách. Chơi kiểu chi mà nghiệt quá, già như tui không nói chi, chớ nhỏ nhoi như hắn thì chịu đời chi thấu mấy anh!

Mình để lại đôi giày “nghệ thuật tạo hình” ở trụ sở cảnh sát, đi chân đất nắm chặt tay mạ ra tới ngoài đường gió thổi mát rượi, đã nhất trần đời. Mạ vấn thuốc cẩm lệ bặp một hồi cho nguôi cơn giận, nhai miếng trầu cau cho khỏi đắng họng rồi kêu chiếc xe xích lô: Chở hai mạ con tui vô thành nội. Mi đã tởn chưa? Mạ hỏi. Tởn. Mi còn ngứa tay vẽ vời lung tung nữa thôi? Dạ thôi. Nói dại miệng chớ mạ cũng lo, lỡ họ mang nhốt con bên lao Thừa Phủ thì rắc rối hung, dính vô chữ Việt cọng, mạ nghe bắt ớn. Dạo đó hai mạ con ở chung trong căn nhà thuê ở đường Hoà Bình. Chị mình sinh cháu đầu lòng và mạ mình kề cận mong giúp đỡ chị, người mẹ trẻ thiếu vắng những am hiểu về lãnh vực “đi biển mồ côi”. Anh Đinh Cường lúc nọ đã vang danh ở Huế qua những lần trưng bày tranh thành công ở phòng Thông Tin phía tả ngạn, ở Hội Việt Mỹ phía hữu ngạn mà sông Hương là thanh bảo kiếm xẻ ngọt ra đôi bờ. Anh vẽ tranh miệt mài, thầm lặng, ít nói. Hút thuốc Bastos de luxe, nhẹ hơn Bastos xanh. Bạn bè anh nhiều, thường ngồi cà phê Tôn ban ngày và đêm về thường tấp vào quán cô Dung. Đó là hai nơi mà hầu như những đứa con trai của Huế đều phải ghé qua, ít nhất một lần. Nó giữ riêng một thứ không gian đặc thù mà khi lỡ xa, nó tạo nên một ma lực buộc phải nhớ đến, tìm về. Nó tựa chiếc chìa khoá đầu tiên giúp người ta mở ra cánh cửa thứ nhất để sau đó những kỷ niệm hoen mờ có cớ dồn dập đổ tràn về.

Khi mình lớn lên, tập tành cà phê thuốc lá, lao đao với những mối tình vụng dại, quán cô Dung đã đóng cửa, chỉ còn cà phê Tôn. Ông chủ có sắm cuốn vở học trò và tên thằng người chẳng liên hệ với nhạc sĩ Hồ Đình Phương, giáo sư Hồ Đình Chữ thì mãi còn ghi bút mực đỏ trong đó với số tiền mắc chịu dài lê thê e phải kiếp sau mới trả được nợ người. Anh Đinh Cường có khi giúp mình trả bớt phần nào những ân tình mình lỡ vướng mang. Những bận bày tranh ở xa, khi về lại Huế thường mang theo những món quà tỷ như đôi giày đóng ở Trinh, tiệm giày nổi tiếng trên đường Hai Bà Trưng đối diện nhà thờ Tân Định. Một đôi giày hoàn hảo điệu đàng mà lỡ có vẽ màu dầu vằn vện lên chẳng ai có thể nghĩ ra chủ nhân ông là một tên giao liên Việt cọng như ngày cũ.

Qua anh Đinh Cường, mình được cơ hội lân la tiếp cận với hầu hết các văn nghệ sĩ từ phương xa ghé thăm hay “đặc sản” đất Thần kinh, những người ưa trải lòng qua chữ viết và cọ màu. Sao những đấng phụ huynh học sinh ưa nhồi nhét, bôi trét vào đầu óc con cái họ toàn cả sắc xám trong khi với mình đó là một đội ngũ vượt ra ngoài những định nghĩa thông tục. Họ đắm thân trong huyễn mộng và họ chỉ cho ta thấy đâu là vẻ đẹp của trần gian chật chội này. Thử tưởng tượng cõi nhân sinh một ngày nọ thiếu vắng họ, bạn ra đường va vấp toàn cả bác sĩ kỹ sư? Chỉ nghĩ thôi đã thấy oải, đã thấy thiếu dưỡng khí. Khi không có thơ văn nhạc hoạ… e lúc đó cả “bầu trời sụp đổ” cũng vừa.

Tình bạn là thứ mà hoạ sĩ Đinh Cường luôn đặt nặng, bạn bè anh nhiều và tất thảy đều có chung một nhận xét về người hoạ sĩ ấy: Hiền lành, ít nói, chẳng để tâm tới những lỗi lầm mà kẻ khác mắc phải. Trịnh Cung là một bằng chứng, người bỏ công viết bài dài gửi đăng ở trang Da Màu với những quy chụp rất dễ gây phương hại tới bạn mình. Rất bạc ác, rất hung hiểm, rất không phải cái tâm của một nghệ sĩ. Hoạ sĩ Đinh Cường nói, như cách mà Trinh Công Sơn từng nói: Thây kệ! Anh khiêm nhượng tới độ khi làm thơ đã phải xin lỗi người đọc:

“các bạn nói dạo này tôi … làm thơ nhiều
tôi có lời xin lỗi vì không là… nhà thơ
”.

Không là nhà thơ nhưng Thư Ấn Quán đã in cho anh tập “Cào Lá Ngoài Sân Đêm (2014). Và giờ này, 2015, anh vừa có thêm cuốn “Đi Vào Cõi Tạo Hình” do nhà Văn Mới xuất bản với lời thưa: “Đây là những đoạn ghi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình… Không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các hoạ sĩ đã từng gặp, đã từng tiếp xúc…). Sách in và phần trình bày các trang bên trong quá đẹp do bởi sự tiếp tay của hai hoạ sĩ Nguyễn Đồng- Nguyễn Thị Hợp và theo mình, đây là cuốn sách hay nhất trong năm, đáng đọc nhất trong cái thị trường sách vở eo xèo đến tủi hổ. Những ai từng bỏ công tìm hiểu về hội hoạ nước nhà sẽ lấy làm “buồn ngủ mà gặp chiếu manh” khi thủ đắc được cuốn sách này. Một thứ tư liệu thoát ra khỏi vỏ bọc khô cứng như nó vốn mang, thay vào là giọng kể lôi cuốn của một người trong nghề (đồng bệnh tương lân), yêu nghề và yêu cả thơ văn. Mình chưa bao giờ trả lời người hỏi: Bạn có hãnh diện chăng? Bây giờ nói hãnh diện vì có ông anh như thế, hẳn chưa muộn, nhỉ? Không quên nhắc ở đây, đã có bài giới thiệu sắc sảo của nhà văn Phạm Phú Minh trên Diễn Đàn Thế Kỷ, và nhà văn Phan Tấn Hải trên Sáng Tạo với một nhận định tinh tế, chừng mực, nhẹ nhàng và tài hoa.

Antoine de Saint-Exupéry (1900-1944) có phát biểu: “Ý nghĩa của sự vật không ở trong sự vật, mà ở trong thái độ của chúng ta đối với sự vật”. Hơn ai hết, hoạ sĩ Đinh Cường đã từng chiêm nghiệm về điều ấy và anh đã bày tỏ cho chúng ta rõ thái độ của anh khi viết xong cuốn sách này. Rất trân trọng, rất nên thơ, rất trìu mến, rất uy tín.

Mình nhớ nhà văn Phạm Thành Châu có đoản văn vui nhộn nói về Đinh Cường. Ai đó đã hỏi nhà văn, anh hay đi cùng hoạ sĩ Đinh Cường, vậy chớ diện mạo ông ấy ra sao? Nhà văn đáp, ông có sẵn tờ giấy bạc 100 đô trong túi không? Chẳng để ý hả, họ dùng chân dung của ông Đinh Cường để in trên đó. Ở Canada, mình nhà quê chưa thấy qua chân dung “anh 100 đô” Mỹ, nhưng mình tin với nhãn quang tinh tế của một nhà văn, anh Phạm Thành Châu có thể không nhầm lẫn khi tả diện mạo người hoạ sĩ. Đúng hay sai thì dù gì nó cũng trao tới mình sự liên tưởng, hoạ sĩ Đinh Cường là một đại gia, hiểu ở mặt anh sở hữu một gia tài đồ sộ về nghệ thuật tạo hình, về ký hoạ, về phát thảo chân dung, về chì, than, mực xạ, màu nước, sơn dầu. Tranh vẽ bạn bè thân sơ, tranh cho người ta làm phụ bản, làm bìa sách. Rộng lượng, hào sản. Vui thôi mà!

Giờ này, theo thứ định luật bất biến chẳng thể tranh cãi được, anh Đinh Cường và mình đã thôi sung như dạo nọ, đã ngập chìm trong thứ khí hậu của Thanh Tâm Tuyền: “mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây”. Đã nhuốm thứ tâm trạng như Đồng Đức Bốn: “tôi giờ xa cách bao nhiêu, đem thơ đổi lấy những chiều tương tư”. Hết sung, nhưng không có nghĩa là sáng sân trước, chiều vườn sau để nghe “chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”. Rất biết, rất minh mẫn, bởi vì dù sao thì chúng ta sắp đón nhận cuốn số hai của hoạ sĩ Đinh Cường viết về thời kỳ “Hội Hoạ Sĩ Trẻ” ngang trang lứa với anh. Mong anh Đinh Cường luôn an mạnh để tô lại lớp sơn mới trên câu danh ngôn mà chúng ta từng tâm đắc: “Cái đẹp lụn tàn trong cuộc đời, nhưng không lụn tàn trong nghệ thuật”.

“không biết vì sao cứ nhớ hoài kỷ niệm
tại vì rừng thông bốn mùa luôn xanh lá
không như chúng ta tan tác những phương trời
và từng ngày không trốn nổi bóng cô đơn
”
(Đinh Cường).

Hồ Đình Nghiêm

Chim bay về biển

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

 November 18, 2013   

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha Trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha Trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha Trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha Trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:

“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bi xóa khỏi bản đồ trái tim.

… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”(trích trong “Nhà Từ Đường” tháng 5.2013- trên VOA)

Một chị bạn , hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nội vào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất  trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh – Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ở Nha Trang lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang. Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha Trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha Trang mà cảm giác như mình là  kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha Trang của mình ngày trước”.

Hai người bạn học cùng lớp với tôi. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ ở lại với Nha Trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha Trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Và họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa như trong tiền kiếp:

chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc

mảnh trăng khuya vòi või chờ ai

trong cỏ ướt dế buồn thao thức

giữa quê nhà sao mãi hoài hương.

…

Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc

nghe âm u gió tạt mùa xa

người đứng giữa trời không – luyến tiếc

nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.

….

Bao năm tìm lại con đường

nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa

chiều thu xứ ấy mù sa

tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.

(đ.ư.v)

Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều khi tưởng mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn chưa lành.

Lần trở lại Nha Trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe tiếng sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.

Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn rất thân,cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố Nha Trang xưa của nó.

Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha Trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha Trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.

Cũng chính vì Nha Trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.

Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tôi quay sang bảo thằng bạn:

– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.

Nó xua tay:

– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.

Tôi đùa:

– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.

Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:

–Mày thấy không, cái thành phố Nha Trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?

Tôi thực sự chưa hiểu, chỉ thấy mơ hồ có một điều gì đó không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.

Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi mà sao giờ trở thành xa lạ quá.  Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang xưa. Nha Trang của nàng và của đám bọn tôi. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ của nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ ở nhà chán chường cuộc sống, lội xuống biển Nha Trang tự vẫn, để lại một thằng con trai năm tuồi. Nơi người ta tìm ra thi thể của chị, chính là bờ cát dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.

Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày phải ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý (Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận được lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.

Đọc xong thấy lòng đau đớn như có nhiều vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được.

Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha Trang.

Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, cùng học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có tấm lòng và rất khí khái này từ những năm 1962-1963. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và quê hương đất nước. Quyết liệt, kiên cường trước những bất công, bạo lực. Những ngày lâm bệnh, sớm ngộ Đạo Đất Trời, chị buông bỏ tha thứ hết những hờn giận ân oán riêng tư. Một thời gian trước khi mất, chị vẫn  liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị ở quê nhà với  nhiều hy vọng, và tiếc là không thể sống lâu hơn để chứng kiến ngày chế độ Công sản man rợ độc tài cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, người thân và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò, sau khi chị mất xin gia đình hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê nhà, bên kia bờ đại dương, ở đó có bãi biển Nha Trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung đây không phải là cánh hải âu mà là một cánh đại bàng hùng vĩ, đẹp đẽ vừa bay về với biển.

Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào hoa vui tính. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha Trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.

Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.,,

Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu. Cửa lò đóng lại. Tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ nữa vừa bay về với biển.

Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng là những cánh chim bay về với biển.

Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời.  Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Trên internet, có người vớ vẩn ngồi “vạch lá tìm sâu” đã ngồi tìm ra và viết ra những đặc tính của ngưới Á Châu, có lẽ là người Việt Nam thì đúng hơn, trên đất Mỹ. Phần lớn đặc tính này là tiết kiệm, sống đơn giản, không cầu kỳ theo thứ văn hóa riêng, không giống sắc dân khác nhưng vô hại như đánh trứng bằng đũa (thói quen), luôn luôn tranh nhau trả tiền bữa ăn (hiếu khách), giấy vệ sinh bán sale mua cả trăm cuốn, chỉ gọi điện thoại sau 11giờ đêm và cuối tuần (tiết kiệm), nhà thường lạnh vào mùa đông và nóng vào mùa hè, mang ở khách sạn về nhà những chai shampoo hay lotion (có thể xếp vào hàng tiết kiệm), luôn luôn có bình nước nóng trong nhà (thói quen uống trà, pha sữa đặc), trả hết credit card sau mỗi tháng (rất tốt), chỉ cho xe Nhật là tốt (các tạp chí về xe hơi đã công nhận, căn cứ vào tổng số xe Nhật bán ra). Trong những đặc tính này có những điều tác giả nhận xét đúng (luôn luôn để giày trước cửa nhà), cũng có điều nhận xét sai (húp cháo sồn sột). Cũng có điều tốt (vo gạo hai ba nước trước khi nấu) nhưng cũng có điều xấu (nhả xương và những thức ăn bã ra bàn ăn) …

Phải dẹp hết “tự ái dân tộc” đi, người ta mới không nổi sùng khi đọc đến các nhận xét về đặc tính của “dân ta” mà có lẽ vì ác ý hay khinh bạc, những người sưu tập đã nói một cách “bôi bác” như để bụng đói trước khi đi ăn buffet (ở Mỹ không thiếu thực phẩm!), lấy hũ mứt dùng làm ly uống nước (chuyện ở miền Nam vài năm sau 1975 thì còn tin được), rửa chén bát luôn luôn dùng nước lạnh (làm sao sạch mỡ?). Cũng có những điều không cần phải liệt kê như có nồi cơm điện trong nhà (đương nhiên vì dân ta ăn cơm), ăn cơm trong bếp để giữ phòng ăn được sạch (ỡ Mỹ này gia đình có mấy khi ăn chung với nhau, nếu ăn một mình thì cũng tiện, không sao!).

Trong những điều mà tác giả vô danh nào đó liệt kê, chỉ duy có một điều “lúc nào cũng để giày trước nhà” thì chúng ta thấy cũng nên suy nghĩ và xét lại. Việc bỏ giày trước cửa nhà là do từ thói quen của người miền Nam, nhất là ở Saigon, với thứ khí hậu nóng bức quanh năm, sàn nhà lót đá hoa là nơi cả gia đình có thể ngồi chơi hay nằm ngủ trưa hay có thể giăng mùng ngủ tối. Do vậy nền gạch bông của mỗi căn nhà đều được lau chùi sạch sẽ láng bóng. Khí hậu ở miền Nam lại là thứ khí hậu ẩm, đường sá không mấy sạch sẽ nên đôi giày, đôi dép có thể mang đất cát vào nhà, cho nên khi đến nhà ai, chúng ta cũng tự động bỏ giày dép ra ngoài cửa trước khi bước vào nhà. Tại các chùa chiền ở Việt Nam hay ở ngoại quốc, theo văn hóa Phật Giáo, trên nền nhà tín đồ ngồi trên bồ đoàn hay chiếu, thảm … , khi lạy thường cúi đầu sát đất nên không thể mang giày dép vào được. Trái lại ở Mỹ, đường sá không rác rưởi, bụi bặm, từ xe hơi bước vào nhà chỉ đi một đoạn ngắn, giày dép của chúng ta luôn luôn sạch sẽ, do đó dù đi vào nhà, dù là thảm hay bằng gạch bóng, thì không có lý gì chúng ta phải cởi giày hay buộc khách phải cởi giày trước khi vào nhà mình. Tôi dùng chữ “bắt buộc” vì khi thấy gia chủ để giày dép ở ngoài. làm sao khách có thể thản nhiên mang những thứ đó vào nhà. Tệ hơn nữa có một lần tôi có việc phải đến nhà một người bạn cũng sang đây théo diện H.O. (có nghĩa là cũng mới tậu nhà tậu cửa mới đây thôi) mà lâu quá tôi không nhớ là ai, đã treo một tấm bảng trước cửa nhà như ta thường thấy ở nơi chùa chiền trang nghiêm, ghi mấy dòng chữ: “Xin cởi giày dép trước khi vào nhà” và không quên ghi thêm một dòng chữ tiếng Anh “Please, take off your shoes before entering.”

Bạn có nhớ chăng ngày đi tù, chúng chở bọn mình đến Long Giao vào lúc nửa khuya trong một trại gia binh cũ, không nước, không đèn, chân dép bê bết bùn non, phải bọc báo cũ vào chân lên sạp gỗ nằm sát vào nhau mà ngủ chờ sáng. Bây giờ lẽ nào bạn lại “ra lệnh” cho tôi phải cởi giày trước khi bước vào ngôi nhà mới của bạn. Với lối chào khách vào nhà với lời yêu cầu như thế, quả tình “rất dễ xa nhau”. Trước kia ở Việt Nam, chúng ta thường cười những gia chủ bọc tấm nylon cho bộ salon, cái remote hay cả cái TV, nhưng bây giờ chúng ta lại bảo vệ cái sàn nhà quí báu của chúng ta hơn khách khứa, hơn những người bạn, hơn cả bố mẹ.

Ở Mỹ giặt một tấm thảm hay đánh bóng sàn nhà là công việc không lấy gì làm đắt giá hay nặng nhọc, vả lại như đã nói, ở đây, đường sá, sân vườn quá sạch, giày dép không thể mang nổi đất cát vào nhà, chỉ một cái thảm chùi chân để trước cửa là quá đủ. Như vậy, trên đất Mỹ, khi người đàn ông mang một đôi giày cột giây hay một phụ nữ mang một đôi giày có giây chéo, cài khuy quả là một điều bất tiện, chưa nói đến lạc hậu.

Vậy đi giày không giây cột hay mang dép khi đến nhà ai là tiện nhất. Thử nghĩ một đám cưới mà khi nhà trai mang lễ vật đến nhà gái mà tất cả họ hàng, chú rể đều phải khom lưng xuống cởi giày trước khi vào nhà thì thật là một chuyện không thể nào chấp nhận được.

Đây là một thứ văn hóa Việt Nam mà có người nào đó đã coi như một đặc tính “không giống ai” và đã đưa lên internet. Những chuyện thói quen, chuyện tập tục hay chuyện văn hóa là chuyện đã gắn chặt vào con người muôn đời, bỏ giày bỏ dép khi vào nhà ai quả là chuyện phiền toái cho chúng ta rất nhiều nhưng quả tình chưa có thể dứt bỏ được. Có lẽ rồi đây cũng phải nhờ đến quí vị có năng khiếu “vạch lá tìm sâu” kiếm thêm một vài đặc tính để người có thể nhìn ra ai là người Việt Nam trong đám đông người thiểu số ở hải ngoại. Như người đi chạy bộ thể dục (jogging) mặt hay cúi gầm xuống đất không nhìn ai; đi dự tiệc cưới thường đến trễ hai tiếng sau giờ ghi trên thiệp mời; thà ăn mì gói mà đi xe đẹp; thích đi ăn “all you can eat” vì tiệm nào cũng đầy người tóc đen (Việt, Mễ, Trung Đông); so với dân số, tỷ lệ người Việt có mặt ở sòng bài rất cao; phụ nữ Việt thích đeo nhiều vàng và hột xoàn; thường dừng xe cho tiền những ông bạn Mỹ homeless đứng ở đầu chỗ đèn xanh, đèn đỏ; có tiền thích đi Lexus hay Mercedes. Người bản xứ vẫn thường khen người Việt hai điểm, làm business giỏi và học vấn cao. Về chuyện khoa bảng người ta bày chuyện: “trong một đám đông người Đại Hàn đứng gần nhau, nếu ném một cục đá thế nào cũng trúng một ông họ Park, trong đám đông người Việt, ném một cục đá thế nào cũng trúng một ông bác sĩ”.

Đúng sai, xấu tốt, khen chê, thật hay phét còn “tùy người đối diện”. Nhân lúc trà dư, tửu hậu luận bàn một chút cho vui, nếu có khơi lại chút tự ái dân tộc, mong Quí Liệt Vị bỏ lỗi.

Biên trấn

Hoàng Kao Music

Thơ: Khuyết danh

Nhạc Hoàng Kao

Post by Sơn râu 23 Jul 2026

Tây Nguyên vùng núi rừng trùng điệp

Nơi có những giòng sông huyền thoại

Nằm đợi khách qua bờ

Nơi mỗi một lần sang sông

Là một lần vĩnh biệt

Một lần sang sông

Là mãi mãi chẳng quay về

Tôi người lính trận từ xa tới

Gặp em nơi phố núi sương mù

Quán nhỏ ngày buồn nghe tâm sự

Một buổi chiều mưa rơi Pleiku

Gió Lào dậy tanh mùi đất chết

Thổi lấp rừng già bạt núi non

Mùa chinh chiến theo chân thù nghịch

Ta về theo cho đậm chiến trường

Đoàn quân ma bay khắp bốn phương

Lớp lớp tràn lên đè bẹp núi

Núi mang cao điểm ngút oan hồn

Đá mang dáng dấp hình chinh phụ

Cô đơn chóp núi đứng bồng con

Khu chiến chập trùng cơn bão lửa

Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Đoàn quân đi mấy người trở lại

Kiêu hãnh ngâm túy ngọa sa trường

Đoàn quân ma bay khắp bốn phương

Lớp lớp tràn lên đè bẹp núi

Núi mang cao điểm ngút oan hờn

Đá mang dáng dấp hình chinh phụ

Cô đơn chóp núi đứng bồng con

Khu chiến chập trùng cơn bão lửa

Đá vọng phu mọc khắp biên cương

Đoàn quân đi mấy người trở lại

Kiêu hãnh ngâm túy ngọa sa trường

Những người chinh chiến bấy lâu

Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây

Buồn vui đời bác sĩ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Jul 2026

Chuyện rằng: Vợ Diêm vương khó ở trong mình. Ho, nhức đầu, sổ mũi… khi mùa Ðông tới, có hôm nhiệt độ xuống tới trừ vài độ C.

Vốn thương em yêu còn hơn Má của mình; nên Diêm vương đòi tên quỷ sứ vào chầu rồi ra lịnh: “Bà bây hổng biết có bịnh hoạn gì không? Mà ho sù sụ, cáu gắt mỗi ngày làm ta cũng sẩu mình, lo lắng quá. Nay ký giấy đi đường cho ngươi bay lên trần thế để rước một bác sĩ thiệt giỏi xuống đây để chữa bịnh cho em yêu của ta nhe!”

 “Dạ! Tâu bệ hạ! Thần làm sao biết trên trần thế ai là bác sĩ giỏi? Hay là bệ hạ vào ‘google’ xem quảng cáo rồi cho thần cái địa chỉ phòng mạch để tiết kiệm tiền công tác phí của Diêm đài!”

“Ối cần gì xem quảng cáo; mà quảng cáo toàn là nói láo, không tin được đâu.

Nhà ngươi cứ đến trước cửa phòng mạch rồi đếm số oan hồn uổng tử đang đứng trước cửa kêu réo đòi mạng. Ít oan hồn chừng nào là bác sĩ giỏi chừng nấy!”

Tuân lịnh Diêm vương! Quỷ sứ cầm đinh ba bay về trần thế, bay qua nước Việt Nam, ngang các phòng mBuon vui doi bac si 02ạch bịnh viện công sao thấy hằng hà sa số oan hồn uổng tử đang khóc lóc đòi mạng.

May mắn thay, trước cửa một phòng mạch tư chỉ có một oan hồn uổng tử đang kêu khóc mà thôi, quỷ sứ bèn bắt hồn ông bác sĩ nầy xuống Diêm vương chữa bịnh cho Hoàng hậu.

Quỷ sứ điệu viên bác sĩ nầy vào quỳ trước sân rồng. “Nghe báo cáo xưa giờ bác sĩ chỉ làm chết oan có một bịnh nhân nên Trẫm rất lấy làm đẹp dạ! Nè bác sĩ! Trước khi vào loan phòng, bắt mạch cho vợ ta, hãy để cho Trẫm hỏi:

Bác sĩ ra trường được bao lâu và chữa được bao nhiêu bịnh nhân rồi đấy hả?”

“Tâu Bệ hạ! Thần tốt nghiệp Y khoa Hà Nội cũng được 10 năm rồi đó chớ. Chỉ chuyên mở phòng mạch tư để cứu nhân độ thế mà thôi! Nhưng chưa gặp thời, nên ế quá. Số bịnh nhân của thần tới nay chỉ được có một người hè!”

***

Bây giờ đọc báo mạng thấy trong nước, thân nhân của người bịnh, vốn là bọn đầu gấu của Hà Nội, ngàn năm văn vật, xông vào bịnh viện không chỉ mắng nhiếc, đe dọa, vây bắt, đánh đập mà còn buộc bác sĩ phải quỳ gối xin lỗi sau một trận đòn nhừ tử.

Tuy nhiên cũng có bác sĩ rất yêu nghề cứu nhân độ thế, dù bị rượt chạy có cờ như vậy nhưng cũng nhịn nhục trốn dưới gầm giường bịnh, coi chừng nào im im nhờ lính tới vãn hồi trật tự thì mình lại ló ra làm nghề tiếp.

Buon vui doi bac si 03Công học cực khổ bấy lâu, lương y như từ mẫu, đâu có đòi phong bì, phong bao gì mới chữa cho bịnh nhân mà mình cũng bị rượt đánh?

Cũng tại thiên hạ đồn là: Có đứa dù học dở như Bùi Kiệm, Trịnh Hâm, thi đâu rớt đó, mà vẫn làm lãnh đạo bịnh viện như thường; vì nó có cậu làm Giám đốc Sở Y tế. Người ta bảo nhứt thân nhì thế mà! Ngành Y trong nước không là ngoại lệ!

Chuyên môn không cần giỏi; muốn lên chức lãnh đạo bịnh viện phải là đảng viên, phải là bí thơ chi bộ mới được.

Mà làm lãnh đạo bịnh viện thì có quyền, có tiền rồi gái nó nhiều quá xá… Hổng chơi uổng! Em có chồng cũng được! Có chồng mặc kệ có chồng. Còn duyên ta ẵm ta bồng ta hun. He he!

Mới đây nè… Huyện miền núi Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, tay bác sĩ,  Phó giám đốc Bịnh viện đa khoa, nên đa tình với một em điều dưỡng dưới quyền.

Ðang trực lãnh đạo, bác sĩ lại mò ra nhà trọ của em để trao đổi công việc. Ðang đổi đổi trao trao; thì thằng chồng em nhào vô bắt ngay tại trận…

“Tại bác sĩ ép em; chớ em đâu có muốn cắm sừng chồng em bao giờ?”

“Em vốn là gái chính chuyên, chỉ lỡ ăn vụng có vài chục lần… Tính thôi… thì bác sĩ sùy ra cái ‘video sex’ rất nóng, nếu em không tiếp tục chiều, thì sẽ biết tay nhau!”

Thưa em điều dưỡng nầy chắc nhập tâm lời khuyên của bịnh viện là: “Nếu nó ló ra, đừng nói gì cả. Nếu thấy nó to, đừng sợ. Nếu nó đâm vào, chỉ thở nhẹ nhàng sảng khoái. Nếu nó có làm đau cũng đừng ngăn lại! Vì chích ngừa sẽ cứu sống cuộc đời của bạn!”

***

Thưa không phải tới bây giờ người ta mới khoái cái nghề bác sĩ; mà hồi thời tui còn đi học cũng vậy.

Bởi chữ có câu rằng: “Nhứt Y, nhì Dược, tạm được Bách Khoa!” Nghĩa là bác sĩ hạng nhứt, dược sĩ hạng nhì và kỹ sư hạng bét.

Còn mấy tay học ở trường Ðại học Sư Phạm, vốn ăn như Sư (không có tiền mua thịt cá, phải ăn chay; ở như Phạm, thiếu thốn tiện nghi, khổ như ở tù) thì đừng có mơ mộng viển vông được mấy em chọn làm chồng nhe cha nội!

Muốn vào học Y, Dược là trước tiên phải đậu cái chứng chỉ Lý Hóa Vạn Vật (tức SPCN) bên Ðại học Khoa Học cái đã. Xong còn phải trải qua một kỳ thi tuyển gắt gao, 10 chọn 1. Rồi học ròng rã suốt 6, 7 năm ra trường; mới được thiên hạ tôn vinh là bác sĩ. Con vợ dù không học hành gì sất cũng ké được chút chút hư danh là bà bác sĩ! Hỏi em nào mà không ham cho được hè?!

Hai thằng bạn tui đều học giỏi, đậu vào trường Y. Nhưng mùa Hè đỏ lửa, tổng động viên, cùng lớp, nhưng đứa lớn tuổi hơn, phải đi Thủ Ðức, ra trường làm sĩ quan trợ y. Thằng còn lại tiếp tục học ra trường, làm bác sĩ.

Sau 75, miền Nam mình sập tiệm, bạn bè cùng lớp phần số khác nhau nhưng vẫn còn chút nghĩa cũ càng, giúp nhau qua cơn hoạn nạn, chờ trời im bể lặng mới vượt biên.

A, đi học tập cải tạo về, được B làm bác sĩ cho đến phòng mạch của mình thực tập để tay nghề hơi cứng cứng là về xóm đi chích dạo, chữa bịnh cho bà con lao động nghèo (bịnh nhưng không đủ tiền đi bác sĩ) để kiếm sống, nuôi vợ nuôi con.

Một hôm, bác sĩ B nói: “Ê! Bữa nay tao bận đi uống beer ôm và hát karaoke với mấy em. Vợ tao có hỏi mầy tìm cách giấu dùm nhe! Rồi chú mầy chịu trách nhiệm trông coi phòng mạch nhé. Vả lại thứ Tư, ít bịnh lắm.”

Uống beer ôm về, bác sĩ B tạt ngang vào phòng mạch hỏi: “Công việc ra sao rồi bạn?”

Thì y tá B báo cáo là: “Bữa nay tao có ba nữ bịnh nhân!

Cô đầu tiên than nhức đầu. Tao cho thuốc Paracetamol!” “Tốt! Tốt lắm”

“Bịnh nhân thứ hai than đau bao tử. Tao cho thuốc Gaviscon.” “Tốt! Tốt lắm!”

“Còn bịnh nhân thứ ba than ho quá! Tao cho thuốc nhuận trường!”

Bác sĩ B ngạc nhiên hỏi: “Cô ấy ho mà sao chú mầy lại cho thuốc nhuận trường, thuốc xổ?!” “Cho thuốc nhuận trường để cô ấy không còn dám ho nữa đó mà!”

***

Bà con mình ai cũng biết nghề cứu nhân độ thế nầy nhiều áp lực lớn lắm chớ không phải dễ như ăn cơm sườn mà không sợ bị mắc xương đâu.

Dẫu nghề bác sĩ ở đây năm kiếm 5, 7 trăm ngàn đô, gấp mười lần đứa làm nghề khác, là chuyện rất bình thường.

Tiền nhiều, danh vọng nhiều mà đắng cay cũng lắm. Chẳng hạn như mới vừa chào, hỏi thăm xã giao một bịnh nhân: “Sao lúc rày khỏe hôn anh?” Thì ông bịnh nhân nầy dắm dẳn: “Khỏe thì tui đến gặp bác sĩ để làm gì hè?”

Ngày làm việc 8 tiếng mà phải tiếp xúc với những con người đau khổ vì bịnh tật thì đời có gì vui?…

Nên làm nghề y, phải cần đầu óc cực kỳ tiếu lâm mới trụ nổi. Anh bạn bác sĩ thân mến của tui cũng không ngoại lệ.

Ảnh kể tui nghe chuyện một viên bác sĩ đeo vòng nguyệt quế trên đầu trước khi tiến hành ca mổ. “Bác sĩ mang vòng hoa chiến thắng để làm gì?”. “À! Ðây là ca mổ đầu tiên trong đời làm bác sĩ của tôi. Nếu nó thành công, vòng nguyệt quế nầy dành cho tôi và cũng dành cho ông luôn đó!”

Hay chuyện: Sau khi tỉnh thuốc mê, bịnh nhân hỏi bác sĩ  kết quả cuộc phẫu thuật ra sao?

“Tui có một tin xấu và một tin tốt cho ông!” “Vì lẫn lộn hồ sơ bịnh án nên thay vì cắt ruột thừa lại cắt cả hai cái bàn chân của ông rồi! Ðó là tin xấu!”

“Vậy tin tốt là gì?” “Bịnh nhân nằm cạnh giường muốn mua đôi giày của ông đó!”

***

Thưa bà con! Làm bác sĩ, quyền năng chỉ thua Thượng Ðế, cứu nhân độ thế thì dở đâu có được nè. Nên xin quý bà con cứ thân tâm thường an lạc nhe! Xin cầu Trời khẩn Phật cho bà con mình gặp được nhiều may mắn!

Biển, sóng xô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 21/04/2015 

Post by Sơn râu 23 Jul 2026

Du Tử Lê có làm bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”. Đọc, tôi nghĩ tác giả sang tới Mỹ “êm re” chứ không nương thân lưu đày dưới hai chữ Boat People. Bởi, đã lỡ mang phận thuyền nhân, tâm lý bình thường của đứa ấy vẫn xem biển là một ám ảnh khôn nguôi. Bên dưới mạn thuyền mong manh là cả một địa ngục lung linh trôi dài theo từng hải lý. Nhìn xuống vẫn thoáng gặp Diêm vương hoan hỉ bày dạ tiệc đón đợi bèo dạt hoa trôi. Từng chứng nghiệm cái độ mỏng tang ngăn chia sinh tử nọ, nó bước chân lên được đất liền, một liều ba bảy cũng liều, dẫu chết nó cũng không dại gì về ngắm lại cảnh cũ người xưa. Ớn tận cổ.
“Đời lưu vong không cả một ngôi mồ”. Bi thảm quá. Tham sân si quá. Xin hãy đơn giản hoá, tựa như chữ Chết anh gôm tẩy đi chữ C, anh còn lại chữ hết. Chết và hết cũng một nghĩa như nhau. Nhắm mắt lại, xuôi tay, ôi trần gian này có còn gì nữa đâu? Còn chăng là tiếng sóng vẫn âm vọng một phản hồi.

Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Ó Biển Thuỷ Quân Lục Chiến vì bài thơ của người chiến hữu xa xăm kia, đã viết xuống một “độ rung” khác, một “tần số liên lạc” khác:

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-hét Đắc-tô
Nơi bạn bè tôi xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường sơn yêu quý

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả chiến khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước Đầm Dơi
Đêm U Minh nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về Tổ quốc

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.

Lịch sử sang trang với biết bao hoài niệm. Khi nỗi đau chạm đáy người ta bất lực một tỏ bày, chỉ biết thở dài loay hoay với hai chữ bể dâu. Lật qua trang mới, thứ chương hồi kia vẫn leo lét ngọn đèn dầu cháy đỏ tựa thắp nơi miếu vợ chàng Trương đầy oan trái. Điển tích kia cũng chẳng cần nhắc lại bởi tự thân mỗi gia đình người Giao chỉ chúng ta luôn tàng trữ riêng một bất hạnh khu biệt. Một tâm sự đắng lòng mà sóng nước Tiền đường không chắc đã rửa trôi.

Sóng sau xô sóng trước, theo Du Tử Lê lưu vong, tiếp Nguyễn Văn Phán hải ngoại, mới đây nhà thơ Đỗ Trung Quân ở trong nước vừa post lên Facebook bài thơ làm năm 2011 dưới tựa “Không Phải Thơ, Chỉ Là Nghĩ”:

Khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
biển của thằng khốn nào
có phải biển mình đâu

khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
gặp tiền nhân
đau biết mấy là đau

bạn bè đấy
anh em mình đấy
mấy nghìn đêm gầm trên sóng bạc đầu

khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
mặt mũi nào nhìn lại những anh linh
thôi
cúi xuống
ngón chân mình
mà đếm
thà làm ma-trơi-đom-đóm
một mình…

khi tôi chết đừng đem tôi ra biển
biển của thằng khốn nào
có phải biển mình đâu
khi tôi chết hãy bỏ tôi lỗ cống
cống dù sao
cũng bởi
tự mình đào.

Biển qua từng cái nhìn, sự cảm nhận về nó của mỗi cá nhân có khác biệt. Nó xô vào lòng người mực thuỷ triều chẳng đồng nhất mức nông sâu. Biển, chỉ tính riêng khung cảnh, cái bờ bãi Thuận An mà cố nhà văn Cao Xuân Huy đưa vào trong “Tháng Ba Gãy Súng” tháng 3 năm 1975 thì xác chết vương vãi đó đây không dưới 500 đánh đổi cho sự rút quân đầy hỗn loạn. Biển của thời điểm 1977 đến 1980 sản sinh ra câu “thần chú”: Một là chết nuôi cá, hai là sống nuôi má, ba là má nuôi con. Ngọn hải đăng trong cụm chữ ngắn này là điệp khúc Nuôi. Và theo ước tính của Cao Uỷ Đặc Trách Người Tị Nạn LHQ cho hay, có không dưới nửa triệu người Việt đã…“Nuôi Cá”.

Và biển của Gạc Ma, của Hoàng Sa Trường Sa, của 2014. Có bao nhiêu cái chết của thuỷ thủ lẫn ngư dân Việt bị người “đồng chí” Trung Quốc tiếp tục giết?

Khi tôi chết, ừ thì hãy mang tôi ra biển. Cho tôi hoá thân làm cọc nhọn như Bạch Đằng năm xưa. Câu thơ nên viết xuống sử thi giờ này: Nước Việt có ai còn là con cháu của Hưng Đạo Vương, Trần Bình Trọng? Hay chỉ toàn một bọn lấm lét chỉ biết cúi đầu?

Biển ơi, chào mi. Hay Bonjour Tristesse?

Hồ Đình Nghiêm

Câu chuyện về Võ Văn Ba, điệp viên hàng đầu của VNCH và CIA ở miền Nam

Phạm Tín An Ninh

 Tina Hà Giang

21 tháng 11 2021

(Nguồn hình ảnh: Frank Snepp)

(CIA Frank Snepp nhận huy chương của VNCH)

Chỉ gần đây mới có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người từng được coi là ‘điệp viên hàng đầu của CIA ở Nam VN’, khi báo chí Hà Nội gọi đây là ‘tên nội gián nguy hiểm’, bí số X92, Frank Snepp đã biết chắc về cái chết sẽ đến của điệp viên này từ ngày 17/4/1975.

“Lúc ấy tôi biết tính mệnh của Võ Văn Ba đang lâm nguy, và có đủ lý do để tin là một nhân viên CIA biết rõ về nhiệm vụ của ông đã bị phe cộng sản bắt tại Phan Rang, và ngờ rằng khi bị tra tấn, người này sẽ khiến ông bị lộ. Một trong những ác mộng kinh hoàng nhất của tôi trong những ngày cuối cuộc chiến – là người anh hùng này, người đã liều lĩnh làm mọi thứ để hỗ trợ đồng minh – và đảm bảo sự thành công của đợt không vận khẩn cấp cuối cùng đưa nhiều người Việt di tản khỏi VN – có thể đã không sống sót.

Thiếu tá Cảnh sát VNCH Phan Tấn Ngưu, trong một bài viết về Võ Văn Ba trên trang CanhsatQuocgia.org đã gọi ông là “điệp viên giỏi nhất của VNCH, và nhớ lại ông Võ Văn Ba hay nói ‘Nếu cộng sản chiếm được miền Nam, tôi sẽ tự tử!’ và đó chính là điều ông đã làm, khi bị bắt giữ chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.”

“Giờ đây tôi nhiều lần tự trách là đã không khăng khăng bắt Võ Văn Ba phải cùng mình rời khỏi Việt Nam,” nhà phân tích chính của CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) trong cuộc chiến Việt Nam thổ lộ điều vẫn còn khiến ông bị dằn vặt.

Cùng là gián điệp hai mang, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến.

Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng” (báo Nhân Dân hồi 2015, và báo Công an Nhân dân về điệp viên X92).

Võ Văn Ba là ai? Ông đã làm gì trong cuộc chiến Việt Nam mà được mệnh danh là điệp viên hàng đầu của CIA, giỏi nhất của VNCH ở Nam Việt Nam?

Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, người từng nhận lệnh của CIA đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để rời VN tháng 4/1975, nói điệp viên Võ Văn Ba là một trong những lý do ông đang viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến cho đến giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí ông.

Frank Snepp: Võ Văn Ba là một người yêu nước, được CIA đặt cho biệt hiệu ‘TU Hackle’ và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch.

Ông từng là một đảng viên cộng sản tận tụy vào cuối thập niên 1940, chuyên tuyển mộ thành viên trẻ tại một tỉnh phía nam Sài Gòn. Ông làm việc với Việt Minh, rồi trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Chán ngán việc phe cộng sản dùng giết chóc và đe dọa như một chiến thuật chiêu mộ, Võ Văn Ba rời bỏ hàng ngũ.

Tạm biệt chủ nghĩa cộng sản năm 1954 vào thời điểm Hiệp định Geneva, Võ Văn Ba trở thành người đốn cây trồng rẫy, và dọn về tỉnh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn. Tây Ninh là một tỉnh quan trọng, vì đó là địa bàn hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam, từ một hang ở Núi Bà Đen.

Khi cán bộ Bắc Việt đi qua rẫy của Võ Văn Ba ở chân đồi, ngay bên dưới căn cứ chỉ huy Trung Ương Cục để tham dự các cuộc họp, ông dần dà quen biết họ. Cảnh sát VNCH trong khu vực này, biết lý lịch của Võ Văn Ba, nhận ra ông ở một vị trí lý tưởng. Họ tìm đến ông và nói: chúng tôi muốn ông giúp chúng tôi theo dõi cộng sản, và Võ Văn Ba trở thành gián điệp nhị trùng năm 1960.

Thoạt đầu Võ Văn Ba hợp tác với cảnh sát VNCH. Ông nhanh chóng là một điệp viên hiệu quả, làm việc với cấp chỉ huy cộng sản. Võ Văn Ba đóng vai người cộng sản lầm đường muốn trở lại Đảng, và mới đầu chỉ được tiếp cận với vòng ngoài của Trung ương Cục Miền Nam, nhưng sau đó đi hẳn vào trung tâm của Cục. Nhờ vậy, ông thu thập được mọi động tĩnh từ cơ quan này, biết hết các điệp viên hai mang của họ, và những điều họ đang làm.

Năm 1965, CIA bắt đầu bắt đầu đưa Võ Văn Ba vào quỹ đạo của mình sau khi nhận thấy ông là một nguồn tin có giá trị. Ông từ đó làm việc cho cả An ninh Cảnh sát VNCH lẫn CIA.

Năm 1968, Võ Văn Ba báo trước cho cảnh sát VNCH năm ngày về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Thông tin tương tự đến được Đại sứ quán Hoa Kỳ, người Mỹ không đánh giá cao tin này lắm, nhưng cảnh sát VNCH thì có. Và đó là lý do tại sao khi lực lượng cộng sản tấn công Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cảnh sát VNCH đã chuẩn bị trước và có mặt để đối phó.

BBC: Ông có thể kể lại kinh nghiệm làm việc với Võ Văn Ba?

Frank Snepp: Năm 1969, tôi đến VN làm chuyên viên phân tích cho CIA. Một trong những điều đầu tiên tôi phải làm là phân tích tài liệu chúng tôi vừa tịch thu được, một tài liệu của Cộng sản quan trọng nhất mà chúng tôi từng có.

Tài liệu đó là Nghị quyết 9, phân tích của Bắc Việt về những gì xảy ra năm 1968, cũng như hoạt động quân sự sau đó. Bắc Việt nhận định rằng quá nhiều quân sĩ của họ đã tử trận, nhiều đến mức họ dự trù phải thúc thủ trong vòng hai năm. Nói cách khác, họ không thể có cuộc tấn công lớn nào nữa. Khi CIA tịch thu được toàn bộ tài liệu này, tôi được giao nhiệm vụ cùng với ba hoặc bốn đồng nghiệp, cũng thuộc CIA, phải tìm hiểu xem tài liệu có xác thực hay không.

Chúng tôi nghĩ tài liệu đó thật, nhưng không chắc 100%. Làm thế nào để xác định được là tài liệu đó có giúp chúng tôi biết ý định sự thật của phía cộng sản không rất quan trọng, vì chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, chính sách mới của Nixon về việc rút lực lượng Mỹ và đưa lực lượng Việt Nam lên tuyến đầu, chỉ mới bắt đầu. Nếu tài liệu này đúng, có nghĩa là trong thời gian hai năm, khi Cộng sản không thể hoạt động mạnh trên chiến trường, chúng tôi sẽ rảnh tay thực hiện chính sách Việt Nam hóa.

Chúng tôi gặp Võ Văn Ba và được Võ Văn Ba xác nhận đó là tài liệu đúng. Đó là một đột phá tình báo lớn. Tôi biết Võ Văn Ba trong hoàn cảnh đó. Trong vòng hai năm, tôi bắt đầu gặp trực tiếp ông ta, không phải vì tôi giỏi, không phải vì tôi nói được tiếng Việt, tôi luôn phải có thông dịch viên khi làm việc với Võ Văn Ba, nhưng vì tôi đã nắm sẵn được nhiều bí mật. Là một nhà phân tích của CIA, tôi được truy cập vào những bí mật quan trọng và bạn phải biết bí mật thì mới có thêm được bí mật. Vì vậy CIA cử tôi đến nói chuyện với nhiều nguồn tin, trong đó có Võ Văn Ba, để lấy tin và xác minh xem những gì chúng tôi nhận được có chính xác không.

Tôi bị Võ Văn Ba mê hoặc. Ông có trí nhớ phi thường, có thể xem một tài liệu và nhớ nguyên văn mọi thứ cần nhớ về tài liệu đó. Không cần phải cầm tài liệu trong tay, chỉ cần đọc nó một lần, ông sẽ có thể mang tài liệu đó đến cho chúng tôi trong đầu của ông.

CIA huấn luyện cho ông tất cả những kỹ thuật căn bản trong nghề tình báo.

Phải nói rõ là Võ Văn Ba có người phụ trách trực tiếp tức ‘handler’ là Cảnh sát Đặc biệt của VNCH. Ông cũng có một ”handler” khác là một nhân viên CIA người Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng người Mỹ này không thể trực tiếp gặp ông, bởi nếu Cộng sản nhìn thấy ông với một người da trắng, họ sẽ nghi ngờ.

(Hai ông Frank Snepp và Phan Tấn Ngưu tại California Hoa Kỳ chụp gần đây)

Vì vậy, để gặp ‘handler’ người Mỹ, Võ Văn Ba phải vào một bệnh viện ở Tây Ninh, trèo lên một băng ca, kéo tấm trải giường lên người, giả như người đã chết. Sau đó, các nhân viên phụ trách người Việt của ông sẽ chuyển băng ca ra ngoài, đưa lên máy bay. Máy bay sẽ đưa Võ Văn Ba vào Sài Gòn nơi ông cải trang để gặp tôi hoặc một người Mỹ khác. Ông sẽ mặc áo dài nam hay đội bộ tóc giả lớn khiến ông trông giống một phụ nữ và đeo cặp kính đen khổng lồ giống như Greta Garbo, rồi đến gặp chúng tôi tại một nơi an toàn.

BBC:Ngoài trí nhớ phi thường như ông nói, Võ Văn Ba là người như thế nào và có đặc điểm gì, thưa ông?

Frank Snepp: Võ Văn Ba có hai nhược điểm. Một là rất thích bia Budweiser. Ông được bảo là người Mỹ thả bia Budweiser dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để làm chậm tiến độ xâm nhập của Bắc Việt, vì đang di chuyển họ phải dừng lại uống bia (cười). Chẳng biết điều đó có đúng không, tôi cho rằng đó là sự thật, dù không bao giờ kiểm chứng được. Dẫu sao Võ Văn Ba rất mê Budweiser.

Nhược điểm thứ hai là rất thích thuốc Salem. Nghe nói ông Hồ Chí Minh cũng mê thuốc lá Salem, và thường bỏ thuốc Bastos hoặc thuốc lá Việt Nam trong túi áo, và mời những thứ này cho các đồng chí. Nhưng khi muốn hưởng chút lạc thú, ông sẽ lấy Salem ra hút. Vì vậy, Võ Văn Ba, người thích trò trớ trêu, luôn đòi chúng tôi cung cấp bia Budweiser và thuốc Salem trước khi trao cho chúng tôi những bí mật.

Và những bí mật ông có được thì thật tuyệt vời. Toàn những tin từ nội bộ. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nỗi được tham gia các cuộc họp bên trong Bộ chỉ huy ở Núi Bà Đen.

Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng để giúp chúng tôi, và để giúp ông đóng được vai trò một thành viên Cộng sản tốt, CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH dàn dựng nhiều việc. Chúng tôi tấn công vào các trạm kiểm soát của cảnh sát VNCH, tất cả đều là giả, và sau đó loan tin là phe cộng sản đã làm điều đó, dĩ nhiên Võ Văn Ba kiếm được điểm, vì vậy, tín nhiệm của ông ngày càng tăng trong giới chỉ huy Bắc Việt. Họ cho rằng ông đã thi hành tất cả những điệp vụ kinh tởm cho họ, trong khi thực sự ông làm việc cho chúng tôi

BBC:Những tường trình của Võ Văn Ba đã giúp công việc của ông ra sao?

Frank Snepp: Tôi dần dà ủng hộ tuyệt đối những tường trình của Võ Văn Ba. Lúc trở về trụ sở CIA ở Mỹ vào năm 1971, tôi là thành viên của một đơn vị phân tích lớn, chuyên viết bản tường trình hàng ngày (Daily Brief) cho Tổng thống. Tôi quảng bá báo cáo của Võ Văn Ba, vì là một trong số ít người trong ban phân tích của CIA đã gặp được ông, và vì tôi biết ông là vàng ròng.

Năm 1972, chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo lạ của Võ Văn Ba. Lạ vì nó cho thấy Cộng sản đang làm một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ làm. Họ cho cán bộ biết là có thể sẽ có một hiệp định hòa bình mà không cần phải có điều kiện họ luôn coi là tiên quyết, đó là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Tôi sửng sốt khi đọc điều đó, vì tôi biết Võ Văn Ba là người đáng tin.

Tôi viết ngay bản tường trình hàng ngày cho tổng thống nói rằng tôi nghĩ một hiệp định hòa bình đang trong quá trình được thực hiện. Lúc ấy Henry Kissinger đang bí mật đàm phán ở Paris, nhưng không nói cho ai biết mình đang làm gì. Báo cáo của Võ Văn Ba là dấu hiệu đầu tiên cho chúng tôi thấy đã có bước đột phá trong cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. CIA, dù ít nhất là ở cấp của tôi, không ai biết gì về điều này. Vì vậy, chúng tôi đã được điệp viên giỏi nhất của mình báo về tiến trình các cuộc đàm phán tại Paris.

Sau đó tôi lại được cử về Sài Gòn vào mùa thu năm 1972 để thẩm vấn một tù binh Bắc Việt giỏi nhất mà chúng tôi bắt được. Vào tháng 10/1972, khi tôi đã có mặt ở Sài Gòn, chúng tôi nhận được một báo cáo hết sức sửng sốt của Võ Văn Ba. Báo cáo cho biết Kissinger đã có một thỏa thuận khủng khiếp với phe cộng sản, cho phép Bắc Việt giữ lực lượng của họ ở miền Nam.

Bản báo cáo của Võ Văn Ba không chỉ đến Tòa Đại sứ, mà còn đến tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khiến ông Thiệu vào tháng 10/1972 phản ứng mãnh liệt, hỏi chuyện gì đang xảy ra, Kissinger đang làm gì? Ông Thiệu nhất quyết phản đối, nói sẽ không chấp nhận thỏa thuận mà Kissinger đang đàm phán dù đó là thỏa thuận gì, vì ông không được tham dự vào việc thương lượng. Khi ông Thiệu nhất quyết phản đối thì đến phiên Bắc Việt hỏi chuyện gì đang xảy ra, người Mỹ chắc đang lừa chúng ta.

Khi thấy thỏa thuận có nguy cơ bị hỏng, vì Võ Văn Ba đã cho chúng tôi biết sự thật, Nixon quyết định dội bom Bắc Việt để chứng minh với ông Thiệu rằng Mỹ vẫn đứng về phía ông, và cũng để làm cho Bắc Việt phải tiếp tục thương lượng, và họ đã trở lại đàm phán.

Võ Văn Ba đã cung cấp cho tổng thống VNCH thông tin đầu tiên về những gì Kissinger đang làm, và quan trọng nhất là quyết định cho phép quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam của Kissinger.

BBC: Ông có tiếp xúc với Võ Văn Ba thường xuyên không?

Frank Snepp: Trong thời kỳ ngừng bắn 1973 đến 1975, tôi thỉnh thoảng gặp ông để biết những kế hoạch mới nhất của cộng sản. Tôi cũng được trao một trọng trách mới, là giúp quản lý một đặc vụ mà chúng tôi đang có ở Hà Nội. Phải nói rõ rằng người phụ trách Võ Văn Ba là một nhân viên CIA khác rất giỏi, nhưng tôi được cử đến gặp ông định kỳ để kiểm chứng những phát hiện của ông với nguồn trực tiếp của chúng tôi ở Hà Nội. Tôi không giỏi gì, nhưng chỉ vì tình cờ mà tôi được liên lạc trực tiếp với điệp viên giỏi nhất của CIA và có dịp kiểm chứng những tin những điệp viên gửi về.

Khi Nixon từ chức, Võ Văn Ba cho chúng tôi những dấu chỉ đầu tiên về những gì Cộng sản sẽ làm vào cuối năm 1974. Ông nói Bắc Việt sẽ thử nghiệm để xem khả năng phòng thủ của VNCH lúc ấy yếu đến độ nào.

Ngày 8/4/1975, Võ Văn Ba cho chúng tôi báo cáo đầu tiên về những gì phe cộng sản sẽ làm để dứt điểm cuộc chiến. Tôi không được tin này trực tiếp, mà nhận qua người ‘handler” của ông. Tôi gửi ngay yêu cầu cho Võ Văn Ba thông qua người Mỹ này để hỏi thêm.

(Sài Gòn hai hình ảnh 1975 và 2020)

Sau đó, ngày 17/4, tôi trực tiếp gặp Võ Văn Ba và nhận được toàn bộ kế hoạch kết thúc chiến tranh của Cộng sản: Sẽ không có thỏa thuận nào, ông Thiệu từ chức hay không không thành vấn đề, cũng không thành vấn đề nếu chúng tôi muốn thành lập một chính phủ liên hiệp, Cộng sản nhất quyết tiến chiếm Sài Gòn kịp sinh nhật Hồ Chí Minh vào giữa tháng 5, và sẽ tấn công trước ngày 1/5, đúng y như những gì đã xảy ra.

Tin đó khiến các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đã bị sốc mà phải tức thời lập chương trình cho những chuyến trực thăng khẩn cấp đưa người di tản. Vì vậy, với những ai đã được đưa ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Võ Văn Ba là người đã cứu họ…

Trong phần hai của cuộc phỏng vấn, ông Frank Snepp, năm nay 78 tuổi, so sánh hai điệp viên Võ Văn Ba và Phạm Xuân Ẩn. Cuộc nói chuyện do Tina Hà Giang thực hiện cùng cameraman Dân Huỳnh tại Nam California, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2021.

Trong Cuộc chiến Việt Nam có nhiều câu chuyện về gián điệp, tình báo mà phải về sau này người ta mới có thêm thông tin.

Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu dự hội nghị Mỹ – Nam Việt Nam tại Honolulu ngày 20/7/1968

CIA đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Hoa Kỳ bảo vệ đồng minh VNCH, cho đến tháng 4/1975.

Cùng là gián điệp nhị trùng, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến.

Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng”

Võ Văn Ba là ai và số phận ông ta ra sao sau 30/04/1975 khi lực lượng chính quy của Bắc VN tiến vào Sài Gòn, xóa sổ chế độ VNCH.

Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, nhà phân tích chính của CIA trong chiến tranh VN, kể những gì ông biết về Võ Văn Ba, nêu ra ý kiến cá nhân về điệp viên này và chia sẻ những gì ông tin là ông biết được thêm sau 1975.

Frank Snepp: Theo thông tin mà chính Cộng sản đưa ra sau đó, Võ Văn Ba bị một nhân viên CIA, một người Mỹ bị bắt hai tuần trước khi cuộc chiến kết thúc làm lộ. Theo bản dựng lại vụ án của Cộng sản, được công bố sau chiến tranh, nhân viên CIA này, khi bị tra tấn đã khai ra Võ Văn Ba. Ngoài ra, hành tung của Võ Văn Ba cũng bị một thông dịch viên người Việt tiết lộ. Đây là người từng làm việc với Võ Văn Ba, người này bị bắt, tôi nhớ là ở Ban Mê Thuật. Tóm lại, hai cá nhân liên quan đến CIA, khi bị tra tấn đã khai ra vai trò của ông.

Khi tôi gặp Võ Văn Ba hôm 17/4, mạng sống của ông đang bị nguy hiểm nghiêm trọng, vì trong vòng vài ngày đó ông có lẽ đã gặp những người đã bị bắt, trong đó có một số người Mỹ. Khi Sài Gòn thất thủ, Võ Văn Ba chưa di tản. Với thông tin thu thập được từ các tù nhân, phe cộng sản bắt giam ông, và họ công bố trong các phân tích thời hậu chiến là ông đã dùng thắt lưng treo cổ tự tử để khỏi bị tra tấn. Vợ ông bán hoa ở Tây Ninh dường như không bị sát hại, và tôi tin là con trai của Võ Văn Ba cũng không bị cộng sản bắt bớ, mặc dù điều này không rõ ràng.

(Sài Gòn ngày 27.5.1975)

Với tôi, Võ Văn Ba là một người hùng, một người thực sự yêu nước. Ông là một Nathan Hale (1755-1776, sĩ quan, nhà hoạt động tình báo thời cuộc chiến Cách mạng Mỹ) của miền Nam Việt Nam, và cho đến gần đây, khi Bắc Việt công bố những tài liệu riêng của họ, công chúng vẫn biết rất ít về ông. Tôi đã viết về Võ Văn Ba trong cuốn Decent Interval, nhưng lúc ấy tôi rất cẩn thận, không tiết lộ bất kỳ chi tiết nào, không công bố danh tính hay thông tin xác định nào ngoại trừ việc nói rằng ông ở tỉnh Tây Ninh và là điệp viên tốt nhất của CIA. Lý do là khi viết sách, tôi không biết chắc số phận Võ Văn Ba lúc đó ra sao.

BBC: Có phải Võ Văn Ba là một trong những lý do khiến ông viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến Việt Nam. Ông biết tin Võ Văn Ba treo cổ tự tử vào lúc nào?

Frank Snepp: Kể chuyện Võ Văn Ba, tôi hy vọng sẽ tạo chất xúc tác để những người Việt tị nạn và người Việt sống ở hải ngoại tôn vinh người đàn ông này. Ông là một người miền Nam yêu nước một cách phi thường, nhưng chưa ai biết nhiều về ông, ít nhất là cho đến nay.

Tôi chỉ biết tin Võ Văn Ba chết khi an ninh Việt Nam ở Hà Nội công bố tài liệu của họ về vụ án. Trong bốn năm qua, Hà Nội đã công bố gần như tất cả những khám phá của họ về ông. Họ đã kiểm tra lời khai của tù nhân, thu giữ tài liệu và tổng hợp lại những chiến dịch mà họ cho là đã gây tổn hại cùng cực, và kết luận Võ Văn Ba là điệp viên nguy hiểm nhất từng hoạt động chống cách mạng. Họ xác nhận những gì tôi biết, đó là việc ông đã tiết lộ các tài liệu về kế hoạch và thiết kế quan trọng của Cộng sản từ năm 1965 đến khi kết thúc chiến tranh. Ông đã cung cấp hết cho CIA, vấn đề là CIA không phải lúc nào cũng tin ông.

Sài Gòn trước 1975 là nơi có nhiều hoạt động tình báo của các bên ‘theo bám’ lẫn nhau

BBC:Ông Phan Tấn Ngưu, người phụ trách liên lạc với Võ Văn Ba từ phía VNCH, viết là CIA có lúc không tin Võ Văn Ba là vì ông gặp vấn đề bị thử bằng máy phát hiện nói dối (lie detector test). Điều đó đúng không?

Frank Snepp: Vào năm 1971, có nghi ngờ rằng Võ Văn Ba là gián điệp nhị trùng hoạt động cho Cộng sản. Tôi đã có cuộc gặp kéo dài ba ngày với ông và xem qua tất cả những gì chúng tôi biết về ông, cùng với ông Phan Tấn Ngưu, sĩ quan cảnh sát của VNCH, ”handler” của Võ Văn Ba, hiện đang sống ở Quận Cam (California) và cũng là người đã công bố những gì ông biết về Võ Văn Ba kể cả việc chúng tôi đã gặp nhau.

Vào đầu năm 1971, tôi đã có thể xác minh rằng Võ Văn Ba đúng là những gì ông đã tuyên bố. Điều gây nghi ngờ là Võ Văn Ba đã đưa một số báo cáo cho các cơ quan tình báo khác của VNCH, như Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và có thể cả cho cơ quan an ninh quân đội. Võ Văn Ba làm như vậy vì họ trả ông một ít tiền.

Ông cung cấp cho chúng tôi những bí mật chính, nhưng cũng kiếm thêm tiền bên ngoài. Và vì vậy, khi làm ‘lie detector test’, đồ thị của ông có những vết nhấp nhô. Ông cũng không nói với chúng tôi rằng ông trao một số bí mật cho những cơ quan đồng minh để kiếm thêm chút tiền. Đó là nguồn gốc những nghi vấn về ông. Nhưng những nghi ngờ này phần lớn đã được giải tỏa, chủ yếu là qua cuộc gặp gỡ ba ngày của tôi với ông ấy vào năm 1971.

BBC: Ông có thể so sánh Võ Văn Ba với Phạm Xuân Ẩn, điệp nổi tiếng hoạt động cho phe cộng sản Bắc Việt cũng trong cuộc chiến VN?

Frank Snepp: Phạm Xuân Ẩn nói chung là một hacker. Ông ta làm việc chống lại mục tiêu mềm yếu nhất ở miền Nam Việt Nam, đó là giới báo chí. Ông Ẩn thu thập những thông tin có giá trị mà báo chí lấy được từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, và chuyển nó cho Bắc Việt.

Nhưng so sánh Phạm Xuân Ẩn với Võ Văn Ba, thì xin đừng làm thế. Võ Văn Ba là thứ thiệt. Ông như nhân vật trong phim James Bond. Võ Văn Ba nằm ở ngay Trung ương Cục Miền Nam của phe cộng sản, đầu não chính của họ ở miền Nam, giống như một điệp viên nằm ngay trong Lầu Năm Góc. So với Võ Văn Ba, Phạm Xuân Ẩn không là gì cả. Ý tôi là, Phạm Xuân Ẩn được ca tụng vì giới báo chí Mỹ kinh ngạc không thể tin được là họ đã bị ông ấy lừa. Vậy à? Nhưng, việc đưa ra đề xuất so sánh hai người, tôi nghĩ, là một xúc phạm với Võ Văn Ba. Thật đấy. Không phải là tôi muốn hạ giá trị Phạm Xuân Ẩn. Tôi biết ông ta là một điệp viên thông minh, nhưng xét về tầm cỡ, ông ấy không thể so với vai trò của Võ Văn Ba.

BBC:Theo ông, Võ Văn Ba đã có những thành tích đáng gì đáng ghi nhớ?

Frank Snepp: Võ Văn Ba cho Nguyễn Văn Thiệu dấu chỉ đầu tiên là Henry Kissinger đang đánh lừa miền Nam Việt Nam. Ông đã cảnh báo cho chúng tôi về Tết Mậu Thân năm 1968 mặc dù Đại sứ quán Hoa Kỳ không công nhận tất cả những điều ông nói. Ông đã giúp chúng tôi chứng thực tài liệu cho thấy phe cộng sản đã chịu những thương vong khủng khiếp vào năm 1968 và sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với mức độ ác liệt như cũ. Điều đó giúp chúng tôi khởi động chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Ông đã cho chúng tôi biết phản ứng đầu tiên của phe cộng sản về việc Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8 năm 1974.

Võ Văn Ba báo cho chúng tôi mọi quyết định quan trọng Cộng sản đưa ra. Đây không phải là nhận định của tôi mà là nhận định của chính Bắc Việt. Họ lập một danh sách, nói là Võ Văn Ba đưa cho CIA kế hoạch cho các năm 1969, 1970, cuộc tấn công lễ Phục sinh… Võ Văn Ba cung cấp tất cả thông tin về kế hoạch ngừng bắn của họ. Bạn không cần tin tôi, mà hãy đọc những phân tích của họ, những phân tích của chính phe địch.

Ngay Bắc Việt cũng phải công nhận là Võ Văn Ba qua mặt được họ là điều rất phi thường. Đại sứ Graham Martin dần dà cũng quý mến Võ Văn Ba, vì ông cho rằng thành công của Võ Văn Ba cho thấy phe cộng sản cũng dễ bị tổn thương và có điểm yếu kém, có lỗ hổng. Vì vậy, khi Đại sứ Martin cuối cùng quyết định không tin vào cảnh báo của Võ Văn Ba là sẽ không có thỏa thuận, điều đó làm tôi sửng sốt, vì ông đã từng tin rằng điệp viên này giỏi nhất trong số những người giỏi nhất.

Việc Đại sứ Martin và xếp CIA Polgar giảm tầm quan trọng của những gì Võ Văn Bá cảnh báo làm tôi kinh ngạc. Nhưng những điều Võ Văn Ba nói với chúng tôi hôm 17/4, cuối cùng cũng đã được gửi về cho tổng thống trong bản tóm tắt hàng ngày, và nhờ đó đã thúc đẩy ngay kế hoạch cho trực thăng bốc người, giúp nhiều người trong chúng ta vượt thoát.

Tóm lại, chúng ta không thể kể về Chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến thành tích của Võ Văn Ba. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được kể lại nhiều lần, nhưng không mấy ai có thông tin về Võ Văn Ba, ngoại trừ những gì tôi viết cuốn hồi ký ban đầu, nhưng cũng không dám viết gì nhiều như bây giờ.

Giờ đây tôi đã viết về Võ Văn Ba, và đến nhiều viện bảo tàng và viện nghiên cứu khác nhau để nói rằng, quý vị phải cập nhận tài liệu của quý vị về chiến tranh Việt Nam, phải kể về một số đóng góp của người đàn ông này, bởi vì những gì Võ Văn Ba báo với chúng tôi đều là tin chính xác vào những thời điểm quan trọng. Và lịch sử phải ghi rõ những gì chúng ta biết, những gì không biết, những tin chúng ta đã vì đó có hành động thích hợp, và những tin chúng ta đã phớt lờ. Phải làm thế, vì sự thật là điều then chốt của lịch sử.

(Cuộc nói chuyện với với ông Frank Snepp, năm nay 78 tuổi, do Tina Hà Giang thực hiện cùng cameraman Dân Huỳnh tại Nam California, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2021.)