Đĩ và Điếm

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Lời Người Viết:

Do một nguyên tắc tự đặt định từ khi bắt đầu cầm viết, 1968 và tuân thủ đến hôm nay: Không viết điều sai quấy, xúc phạm đến tính chất cá nhân người khác (cho dù đối với những nhân sự cầm quyền chính trị-quân sự thuộc phía đối phương cộng sản). Nhưng đến hôm nay, nhân ngày 20/7/2026, sáu mươi-hai năm sau lần ký kết Hiệp Định Đình Chiến Geneve/The Geneva Armistice, hiệp định ký kết do hai đại diện (cấp thứ trưởng Pháp-Việt Minh) ấn định lần chia cắt tạm thời hai miền đất nước – Là tiền đề chiến cuộc 1960-1975, gây nên hậu quả, hệ quả nguy hại sâu xa đối với vận mệnh Việt Nam-Toàn thể đất nước Việt Nam mãi đến hôm nay.

Và hôm nay, hơn 50 năm/nửa thế kỷ sau 1975, những thế hệ người Việt sinh sau 1975 trong và ngoài nước phần đông vẫn lập lại những “luận điệu tuyên truyền quần chúng” của đảng cộng sản Hà Nội chủ trương, thực hiện trong những thập niên 1950, 60, 70… và tiếp tục sau 1975! Hóa ra, thành phần thế hệ trẻ nầy đã KHÔNG THẤY/KHÔNG HIỂU ra được một phần căn bản: Cộng sản/Cộng sản Việt Nam là Ai? Như thế nào? cho dẫu họ đang sinh sống, học tập, làm việc tại các nước “tư bản” Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Mà phần đông (lại) không muốn trở về VN! Tại sao? Thế nên, bài viết phải được viết nên.         

Dẫn Nhập:

Sinh hoạt nhân gian thông tục Miền Nam có phương cách gọi (theo) thứ bậc thai sinh: Anh Hai, Chị Ba… Không có “Anh/Chị Cả” cốt né tránh (kỵ, húy) thứ bậc “Cả” của Hoàng Tử Cảnh, “Con Cả” Chúa Nguyễn Ánh, nên gọi trại “Cảnh thành Kiểng – Chơi Kiểng, Đình Tân Kiểng, Kiểng chùa…”.

Nơi Miền Nam, giới nhà binh thuộc những thế hệ 1930, 40, 50… thêm thắt, điều chỉnh lối gọi trên bằng cách thêm vào tộc danh những nét/tính (độc đáo) của đối tượng (muốn) đề cập nhằm phân biệt người nầy, kẻ khác. Ví dụ: Ông “Minh Râu”/Tư Lệnh Không Quân (1967-1975) nhằm  phân biệt với “Minh Bự”, người hai lần giữ chức quốc trưởng, lập nên thành tích đánh sập hai nền cộng hòa (1963, 1975), cũng để xác định không phải là ông “Minh Đờn”, Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa (1971-1973).

Trong tinh thần, với thuật dụng (bất thành văn) kể trên, thế hệ trẻ tuổi (trong, ngoài quân đội) miền Nam chế biến, bày đặt thêm hai tính từ/hình dung từ rất ấn tượng: Đĩ và Điếm. Phải nói ngay, đây không là hai tính chất, hình thái mang tính phủ định/chê trách; cũng không phải để mô tả về một “nghề/nghiệp” không mấy thiện lành của những người nữ (lỡ hoặc cố ý) sa vào cảnh đoạn trường tương tự Thúy Kiều; hoặc diễn dịch những tay quá quắt như gã Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Trong nhiều trường hợp (lại) là đánh giá cao (gián tiếp) những anh đàn ông “hình dung chải chuốc, áo khăn dịu dàng” như nhân vật Thúc Sinh trong Truyện Kiều, hoặc những tay chơi có thành tích ái tình lừng lẫy cỡ Don Juan, Casanova của văn học, xã hội cổ điển Tây Phương.

Nhưng “Đĩ/Điếm” không chỉ là nét đan thanh thông tục của sinh hoạt nhân gian như trên vừa trình bày mà lịch sử VN từ 1945, 1946… dài đến 1954, 1960, 1968, 1972… trước, sau 1975 gần một thế kỷ đã cho thấy: “Đĩ-Điếm lại là đỉnh cao trí tuệ” từ diễn tiến vận động quân sự, chính trị, ngoại giao có “tính tiến công cách mạng hơn hẳn” của “Bác và Đảng ta”. Bài viết dưới đây xin được thật chứng minh.

Một.

Váo khoảng năm 1955, khu sân Bệnh Viện Đà Nẵng đường Lê Lợi (Trước Trường Phan Châu Trịnh, xây 1954, bị nhà nước cộng sản đập phá sau 1975) trước khi giao cho Sở Học Chánh Đà Nẵng mở Trường Nam Tiểu Học có cuộc triển lãm tranh ảnh về Việt Minh (Chưa có từ thông dụng Việt Cộng sau nầy). Thằng bé mười-hai tuổi vào xem triển lãm, nhìn thấy bức hình ông Hồ Chí Minh ngồi giữa một đám thiếu nữ mặc áo dài trắng với lời chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu không hiểu rõ nghĩa thế nào là “dâm bôn”, nhưng nhìn cảnh tượng một ông già (với râu dài) vây quanh bởi đám con gái, đàn bà thằng bé (cảm) thấy ra có điều gì kỳ chướng, bất thường – Do phản ứng (thẹn) của đứa nhỏ thụ nhận cách giáo dục thông thường của học đường, gia đình, xã hội người Việt từ Thế kỷ 19, 20 trước, sau 1954 – Nền giáo dục căn bản dạy người, liên hệ hai phái nam/nữ là một điều kín đáo, cần che dấu.

Tiếp theo những năm sau lần ra trường Đà Lạt 1963, đi hành quân lục soát những căn cứ địa Việt cộng, người lính vô tình tìm thấy tài liệu, hình ảnh “Bác Hồ với thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam/Không có giới thanh niên” ra thăm sau 1960 (Thời điểm thành lập Mặt Trận Giải Phóng 20/12/1960) – Ảnh nào trông ”Bác cũng rất “đã” khi ôm hôn các em, cháu gái – Với phản ứng kinh nghiệm tự nhiên của đàn ông (chưa tới 30), bản thân hiểu ra khoái cảm (sinh tâm lý) của phái nam (lớn tuổi) khi tiếp xúc với phụ nữ trẻ, thiếu nữ và thiếu niên nhỏ tuổi/Khuynh hướng tính dục ấu dâm. Sau nầy, khi đọc bài viết và hình ảnh từ cuộc phỏng vấn (20/4/1966) của ký giả Úc Wilfred Burchett đăng trên tuần báo Life thì cảm giác về một “Bác Hồ với phản ứng sinh tâm lý mạnh mẽ kích động nhục cảm” càng thêm cụ thể rõ rệt. Cảm giác, phản ứng mà Burchett đã diễn tả: “Bác Hồ là một nhân cách lớn nhất mà tôi chưa hề gặp, người với phong thái thuần nhã giản dị với ”tính nhân bản” cao nhất”.

Nhưng không chỉ chừng ấy, cảm giác của đứa nhỏ năm 1955 khi nhìn thấy hình ảnh “Bác Hồ vây quanh bởi đám thiếu nữ”; hoặc phản ứng của gã lính trẻ do hiểu ra mối kích động nhục thể từ những tấm hình “Bác hôm hôn, ôm các cháu thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam ra thăm” … Tất cả cộng với hình ảnh, nhận định của Burchett nói rõ viết trên báo Life trong năm 1966 có thể đưa đến kết luận chung nhất: Bác “Đĩ” thật/Bác rất “Đĩ”. Nhận định có thêm chứng cứ: Bộ ảnh bác thăm Ba Lan năm 1950 do Lisa Larsen (1925-1959) cũng của Báo Life bấm ảnh. Bộ ảnh có những những tấm hình rất ướt: Khi Bác ôm hôn môi vợ thủ tướng cộng sản Ba Lan Cyrankiewicz (1911–1989); hoặc khi bác nhân cơ hội hôn bó hoa (tặng) lẫn người nữ cầm hoa. Những bức ảnh đẹp và “mặn” đến nỗi bác không dằn lòng nên đã ngỏ lời tán Lisa: “Nếu còn trẻ tôi đã yêu cô rồi!” Bác nói thật chứ không hề đãi bôi.

Tháng 2, 1959 trong lần thăm viếng Indonesia, bác 69 tuổi (theo khai sinh chính thức, 1890) đã thố lộ với một bé gái: “Em đẹp lắm!” sau khi đã hôn đủ “ba phùa” ngọt lịm: Ôm hôn bên trái – Ôm hôn bên phải – Hôn môi! Bác hôn ướt đến nổi báo The Straits Times, số ra ngày 8 Tháng 3, 1959 (Hiện lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Singapore) phải đăng lời báo động: “Nên bảo Chủ tịch Hồ phải ngừng hôn hít con gái…/President Ho is told to stop kissing girls…”. Bác không những chỉ hôn đàn bà, con gái, trẻ nít… Bác hôn cùng khắp. Bác hít đủ loại: Bác ôm hôn Thủ Tướng Ấn Độ Nehru, Bác ôm hôn ông da đen quốc trưởng Châu Phi, Bác ôm hôn đồng chí Liên Xô da trắng… Lẽ tất nhiên đồng chí vĩ đại Trung Quốc những là đối tượng không thể thiếu: Bác ôm hôn (chằm chặp) Chủ Tịch Quốc Vụ Viện/Đồng Chí Thủ Tướng Châu Ân Lai đến méo mặt, ngộp thở nhân lần đến Liễu Châu, nam Trung Hoa dự hội nghị mật quyết định số phận Việt Nam (3-5/7/1954). Chuyện “hôn, hít” của Bác đến đây tạm đủ. Bài viết qua chủ đề thứ hai: “Điếm”

Hai.

Bác không chỉ “Đĩ chất lượng” như trên. Bác còn “Điếm đúng tiêu chuẩn” hơn hẳn. Nếu phần trên “Đĩ” đã được bổ túc, xác chứng qua nhận định của Burchett. Tuy nhiên với bản năng/kỹ năng/tri thức của một người phương Tây (vốn) thuần lý, Burchett chưa biết/không thể biết những khả năng/tính chất/việc làm THẬT sau đây của “Bác” đối với những người từng liên hệ… Jean Sainteny (1907-1978), Ủy Viên Cộng Hòa Pháp, người đã nhảy dù xuống Hà Nội (10/1945) để tiếp xúc với “Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh” nhằm thực hiện kế hoạch (không tưởng): Thiết lập “quan hệ ngoại giao với chính phủ HCM – Một tổ chức chính trị chưa được bất kỳ quốc gia nào công nhận kể từ lần thành hình 2/9/1945 tại Hà Nội” có mục đích tái lập, duy trì quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương, hớt trên tay Đồng Minh, cụ thể đối với Mỹ. Kế hoạch ngoại giao (không thực tế) do Sainteny thiết kế, xác lập đã bị phá bỏ bởi chiến tranh Pháp-Việt Minh (19/12/1946-20/7/1954). Nên năm 1972, trong hồi ký cá nhân Sainteny đã phải kêu lên: “Ông ấy con như cáo muốn vồ lấy tôi”–Dẫu rằng Sainteny luôn kỳ vọng: “HCM (vẫn) là một Gandhi của Đông Dương!”

Nhưng không chỉ một mình Sainteny bị “Bác phỉnh” mà Tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương (sau 8/1945), khi đưa quân từ Nam ra Bắc (thay thế quân Quân Dân Dảng Trung Quốc của Lư Hán) trong ngày 18 Tháng 3, 1946 đã có quyết định “… Nên bàn thảo với Việt Minh với mọi giá vì vấn đề “chống cộng sản (Việt Minh) hoàn toàn không cần thiết?!”. Dẫu Leclerc hiểu hơn ai hết: “Hồ là người của Cộng sản Liên Xô nhằm thực hiện thống trị thế giới.” Cũng hiểu (rõ) Hồ tương tự như thế, nhưng Cao Ủy Đông Dương Thierry D’Argenlieu vẫn rất vui thích khi ra Hà Nội trong Ngày 19 Tháng 5, 1946 được một rừng cờ đỏ sao vàng chào đón – Vì Ngày 19 Tháng 5 là “sinh nhật bất ngờ” do Bác (vừa) dựng chuyện/thông báo để Thư Ký (riêng của Bác) Vũ Đình Huỳnh (1908-1990) ra lệnh tổ chức khẩn cấp từ đêm trước! Vụ (giả) chào cờ mừng Cao Ủy Pháp không đi tới đâu, nên chỉ sau mấy tháng, Ngày 19 Tháng 12, 1946 chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ với máu xương của bao người Việt, lính Pháp đổ xuống cho đến ngày 7 Tháng 5, 1954 lần cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ – Tiền đề ký Hiệp Định Đình Chiến Genève, 20/7/1954 – Buộc Pháp nhường nửa nước Việt Nam cho Việt Minh, 1954 – Mất trọn Đông Dương, 1956 – Mất Algérie, 1962… hiện thực “Thơ khẩu khí của Bác” khi thăm đền Trần Hưng Đạo: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng!”

Bác không chỉ “điếm” đối với những đối thủ chính trị cao cấp, tầm cỡ quốc tế, bác giở trò điếm cùng khắp, bất kỳ lúc nào, với bất kỳ ai. Sau 15 Tháng 8, 1945 về Hà Nội, bác và thành phần lãnh đạo Việt Minh được vợ chồng ông bà Trinh Văn Bô (1914-1988), nhà tài phiệt lớn nhường cho căn biệt thự số 48 Hàng Ngang để lập trụ sở chính phủ lâm thời; ông bà Bô còn góp 5.147 lượng vàng vào ngân quỹ nhà nước (vốn không có một xu nhỏ). Vợ chồng ông bà Bô lo từ miếng ăn đến áo quần (loại hàng vãi đắc tiền) để xứng danh vị chủ tịch nước VNDCCH (?!). Nhưng đến mỗi bữa ăn, bác “diễn xuất” lấy một lon gạo đổ vào “hủ gạo bác Hồ” để cứu dân đói! Bác vừa đổ gạo vào hủ vừa thấm nước mắt! Bác “thương dân” chăng? Không phải! Hãy xem trường hợp Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953), chủ cơ sở thương mãi lớn Cát-Hanh-Long ở Hải Phòng.

Bà Nguyễn Thị Năm là chủ nhân khu đồn điền ở Thái Nguyên nơi đã tiếp đón, nuôi ăn hầu hết đám cán bộ trung ương Việt Minh trong những ngày trước Tháng 8, 1945, trước khi bác khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, 2 Tháng 9, 1945 tại Hà Nội. Tương tự như ông bà Trịnh Văn Bô, Bà Năm góp 20.000 ngàn bạc Đông Dương, tương đương 800 lượng vàng cho chính phủ của bác làm ngân quỹ. Tuy nhiên, dù đang lúc chiến tranh với Pháp, (vừa) nhận tiền/vàng của Bà Năm, bác (lại) lên kế hoạch “giết” người ân nhân để đạt chỉ tiêu “5% địa chủ/Hộ nông dân đề ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956). Bà Năm là đối tượng điễn hình, đầu tiên được bác chọn trong kế hoạch đấu tố. Bác giết người ân nghĩa đối với bản thân mình với chữ!

Hãy đọc Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù, in 2014 do Cơ Sở Người Việt Book, Nam Cali:”… Để phối hợp với bài viết của tôi (Trần Đĩnh) trên Báo Nhân Dân (Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản VN từ 1950), có một người viết ký tên “CB/Của Bác – lại một bí danh nữa” gởi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Bài viết có nội dung: “Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con (cán bộ chỉ huy quân sự Việt Minh) và mấy tên lâu la với các tội, con số cụ thể (Đèn Cù, trg 85).”

Bà Nguyễn Thị Năm bị đưa ra đấu/giết để dọa quần chúng nhưng không “được chết” một cách yên lành mà với cảnh tượng kinh hoàng: “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh…” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liên nổ sát lưng… Mua được áo quan thì không cho (xác) bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miệng cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này!!” Nghe xương kêu răng rắc!! Cuối cùng xác bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy…” (Đèn Cù, trg 86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của Bác, Trần Đĩnh viết rõ hơn: ”… Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm chỉ cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. (Đèn Cù, trg 84) 

Tóm lại, thành tích giết bà Nguyễn Thị Năm đã được chỉ đạo/thực hiện/chứng kiến nhất quán với quyền giết người của Bác. “Tôi (Trần Đĩnh) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (Đèn Cù, trg 90). Nhưng Bác được tay em (Hoàng Tùng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) chạy tội trong hồi ký: “Thật ra Bác cũng chỉ là kẻ thi hành vì mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải Cải Cách Ruộng Đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện!!” Nạn nhân Miền Bắc bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) hãy nhớ: Bác bị buộc phải giết người theo lệnh của Nga-Tàu, dẫu Bác rất “thương dân”. Bác đã khóc nhận lỗi trên Đài Hà Nội vào ngày 18 Tháng 8, 1956. Bác khóc thật.

Ba.

Rõ ràng “nước mắt Bác” trong màn khóc lóc kể trên không đủ xóa trôi tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Nhưng không chỉ có thế, Tết Mậu Thân, 1968 bác ban lệnh Tổng Tấn Công-Tổng Nổi Dậy thanh toán Miền Nam với “Thơ/Thơ Chúc Tết”: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. Nhưng (cũng) không phải chỉ là thơ xúi giục khởi động cảnh máu xương, hãy xem lại «tuyệt chiêu điếm» của bác:  “…Sau hội nghị trung ương 14, đầu tháng 1, 1968 bác lỉnh đi Bắc Kinh lấy cớ chửa bịnh (?!). Và đêm 31 Tháng 1, 1964 khi toàn miền Nam chìm trong khói lửa của cuộc tổng tiến công do bác khai hỏa, trong căn phòng vắng ở Bắc Kinh với thư ký Vũ Kỳ, bác cười hả hê (chẳng có gì là bịnh hoạn) nghe một em bé Hà Nội hát bài “Bé bé bồng bông..” và thưởng thức «Thơ Chúc Tết » của chính mình (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/Cuốn II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).

Sau hai đợt tổng công kích (Tháng 1 và 5, 1968), chiến dịch thất bại (về mặt quân sự), bác (lại) lấy cớ giải thích với Chủ Tịch Mao ở Bắc Kinh và trung ương đảng Hà Nội: «Bản thân bác không chủ trương tổng tấn công quân sự (để giữ sức đảng, yêu nước, thương dân…) mà chỉ cốt thực hiện chiến lược Chiến Tranh Nhân Dân/Dùng Nông Thôn Bao Vây Thành Thị – Chủ trương của Chủ Tịch Mao – Trái với kế hoạch tổng tấn công với hỏa lực do Liên Xô cung cấp –Trong giai đoạn Liên Xô –Trung Cộng đang ở cao điểm chống đối. Cuộc tổng tấn công còn là một thất bại nghiêm trọng đối với lực lượng vũ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN – Con bài chính trị của Bắc Kinh cốt nhằm làm yếu thế/lực/áp lực của Hà Nội. Sau ký kết Hiệp Định Ba Lê 27/1/1973, Ngày 30/4/1975 nhận định nầy càng được thật xác chứng.

Tóm lại, Bác né thất bại Mậu Thân, đổ trách nhiệm qua Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, hai nhân sự có thực quyền, thực lực trong Bộ Chính Trị không được Bắc Kinh cho điểm tốt – Và (nếu) thắng thì Bác (sẽ) lấy phần «đọc Thơ» đã ra lệnh tổng tấn công – Quả thật, Bác là bậc thầy (chạy) của «Kế mưu tuyệt điếm/Tá đao sát nhân/Mượn dao kẻ khác để giết người ». Lịch sử điếm đông-tây kim cổ khó ai qua mặt. Cỡ Tào Tháo, Lưu Bị cũng xoàng.

Bốn.

Nhưng bác không « Điếm độc diễn ». Bác có những tay em, những học trò «Kiệt xuất với cường độ điếm» không kém bác: Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân-Bộ Trưởng Quốc Phòng Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp. Trước khi trình bày «năng lực, mức độ điếm » của Võ Giáp (Tên thật), bản thân người viết cần nói rõ một phản ứng có tính cách cá nhân đối với nhân sự tên tuổi nầy. Đấy là do bản năng, phản ứng của một người lính chuyên nghiệp, bản thân rất khâm phục khả năng, trí năng của Tướng Võ Giáp về mặt quân sự – Khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy hai cuộc chiến tranh vượt thắng hai đối thủ hơn hẳn về vũ khí, kỹ thuật. (Phần thất bại của hai lực lượng quân đội Pháp, Mỹ không thuộc về nội dung của bài viết nầy). Nhưng song song với sự thán phục về mặt quân sự đối với Võ Giáp, bản thân thấy rõ một điều bất cập nơi con người nầy: Cách thức ăn mặc, màn hí kịch «diễn xuất» lộ liễu bày ra bản chất nhỏ nhen, tầm thường của một viên đại tướng lừng lẫy: Luôn «diện» veston, thắt cà-vạt, đội mũ phớt theo mode «công tử Hà Thành» thông dụng trước, sau 1945 tại Hà Nội. Khổ nổi, những bộ đồ mồi của Giáp là những chiếc áo veston cũ, cà-vạt màu mè nhăn nhúm vì đang ở «chiến khu» ; nhưng khi đi duyệt binh đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân trong ngày 22/12/1944, Giáp lại đeo thêm súng colt ngang hông, chân đi giày botte cao cổ của lính cỡi ngựa – Hình tướng của một kép hát bội diễn dỡ. Võ Giáp không chỉ «diện » như trên để «hù » đám du kích quê mùa quần cộc, chân trần, đương sự để nguyên bộ khi chụp hình với tổ Biệt Kích OSS Mỹ trong cảnh núi rừng Tây-Bắc (có lẻ) nhằm nâng «tác phong (văn minh) của một đại tướng» -Xuất thân là một ông gíáo trung học dạy môn sử địa được « Chủ tịch Bác» ngang xương phong cấp đại tướng theo ngẫu hứng. Những điều tầm ruồng về áo quần, cách diệu võ, giương oai của Võ Giáp không hề ngẫu nhiên dần được hiện rõ qua những việc như sau… 

Từ đầu tháng 1/1968 Võ Giáp đã «bị/được» Lê Duẩn, Lê Đức Thọ « bố trí » cho đi Hungary chữa bệnh (?!). Ngày 28/1, trên đường từ Hung trở về nước, Võ Giáp ghé Bắc kinh xin gặp Chủ Tịch Mao. Mao không tiếp, còn ra lệnh đàn em đãi cơm cho Giáp với một cái chén mẻ (Mao ghim Giáp vì đánh giá Giáp là phe của Mạc Tư Khoa). Giáp ngồi tỉnh ăn cơm Tàu với cái chén mẻ bằng thái độ «khôn ngoan » của AQ, nhân vật vô sản Trung Cộng được Lỗ Tấn (1881-1936) mô tả qua kỹ thuật khôi hài (đen) với chước láu cá gọi là «thắng lợi tinh thần ». Ví dụ, như khi bị đánh, bị chưỡi, bị trò đểu thì hãy nghĩ “chúng đang đánh, chưởi, chơi đểu bố của chúng”. Tương tự như thế, Võ Đại Tướng tỉnh bơ nâng cái chén mẻ với lý luận khôn ngoan – Ăn chén mẻ cũng là ăn cơm Tàu/Coi như ta ăn cơm của bố thằng Tàu! Ngày 29 Tết, máy bay Trung cộng đưa Giáp về Hà Nội. Giáp luận tiếp: «Nó/Thằng Tàu chơi đểu ta nhưng vẫn phải đưa ta về bằng máy bay chúng». Triết lý «thắng lợi tinh thần » của AQ được Võ Giáp thực hiện đúng. Hôm sau Tướng Giáp được Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích-Tồng Khởi Nghĩa”–Kế hoạch thay đổi hẳn cục diện chiến tranh VN, Võ Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản (cách «khôn ngoan/chịu trò điếm» của AQ để che dấu niềm cay đắng: Bộ Trưởng Quốc Phòng- Tổng Tư Lệnh đã không được biết một kế hoạch thay đổi vận mệnh quốc gia trước khi nổ súng CHỈ ĐÚNG MỘT NGÀY (Sách Huy Đức sđd; trg 159). Sau nầy khi được hỏi về «thất bại Mậu Thân», Võ Giáp nói nước đôi/của ngón «võ điếm» chân truyền: « Đợt Một (1-2/1968) «chưa » có kết quả cụ thể mà mở đợt Hai (2/1968) là « kém cơ sở!» Dẫu Giáp biết thua nặng nhưng do «ngón điếm» có sẵn, ông đại tướng không dám nói rõ, phần rất ngán Duẩn và Thọ vốn ghim Giáp từ lâu!  

Năm

Tướng Giáp không những “điếm mà còn (rất) ác” không kém ông bác. Xin xem câu chuyện sau đây giữa Võ Giáp và nữ ký giả người Ý Oriana Fallaci (1929-2006). Cuộc gặp diễn ra tại Hà Nội trong Tháng 2, 1969, được kể lại trong sách Phỏng Vấn (với) Lịch Sử/Interview with History (NXB Houghton Miffilin Co Boston, chuyển dịch, tái xuất bản bởi Liveright Newyork, US. 1977). Buổi gặp mang tính chất “nói chuyện” giữa hai người hơn là một cuộc phỏng vấn đúng nghĩa về những vấn đề nghiêm trọng thuộc lãnh vực ngoại giao-chính trị-quân sự, nên có lúc Fallacio dùng danh xưng “thưa ông” thay vì “thưa đại tướng”. Vì chỉ để “nói chuyện” nên Fallaci đã hỏi những vấn đề mà (nếu) là cuộc phỏng vấn chính thức người hỏi thường tránh né hoặc dùng những hình thức đối thoại khác. Fallaci hỏi về Điện Biên Phủ (11/1953-5/1954), chiến thắng của bộ Đội Việt Minh do Giáp chỉ huy (trên danh nghĩa) chứ trong thực tế do Cố Vấn Trung Cộng La Quý Ba, Vi Quốc Thanh quyết định toàn thể về vũ khí, quân trang, quân dụng cho chiến trường, và do các Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn về tham mưu, chiến thuật. Tuy nhiên, đây không là chủ điểm của cuộc nói chuyện.

Hỏi về Điện Biên Phủ, nhưng Fallaci không đề cập đến khía cạnh vinh quang của Võ Giáp/Việt Minh, nhưng lại hỏi về cái giá tổn thất 45 ngàn bộ đội Việt Minh. Và Võ Giáp đã trả lời rất tỉnh: “Cứ hai phút, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Có nghĩa lý gì với 45 ngàn bộ đội chết tại Điện Biên Phủ?!” (O.F. sđd, trang 67). Fallaci lại cố “truy” Võ vấn đề thứ hai:”… Mặc dù mọi người đều đồng ý là cuộc tổng tấn công Tết (Mậu Thân 1968) là một thắng lợi tâm lý lớn. Nhưng về mặt quân sự, ông có nghĩ rằng đây là một thất bại không? Vì trên tổng quát, đứng về mặt chính trị cũng không hẳn là hoàn toàn thắng lợi! Dân chúng không nổi dậy. (Phía cộng sản-Pnn) chỉ chiếm đóng ở Huế trong khoảng một tháng. Ở Huế có những đơn vị lính Miền Bắc… Thưa Đại Tướng, phía Mỹ bảo rằng ông đã mất đến nửa triệu (lính), tính đến 1969” (O.F. sđd, trang 82).

Võ Giáp (thành thật): “Sự thiệt hại đúng là như vậy… Nhưng Mậu Thân là một vấn đề nhạy cảm. Cô nên hỏi phía Mặt Trận thì rõ hơn. Tôi không thể xét đoán vấn đề nầy, những gì xẩy ra nơi chiến trường. Tổng tấn công Mậu Thân không thuộc (quyền tôi-Tất nhiên). Cũng không thuộc về chúng tôi (Ai là “chúng tôi”-Pnn). Chiến dịch do Mặt Trận thực hiện (O.F. sđd, trg 83) Cuối cùng, khi Oriana Fallaci hỏi về chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu với người dân (VN) khốn khổ phải chịu đựng, hy sinh và chết? Võ Giáp lập lại chiêu cố thức “Điếm” cố hữu của Bác-Với Sự Ác: “Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Như Bác Hồ của chúng tôi đã từng nói… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” (O.F. sđd, trang 87)

Hậu Từ:

Bài viết đã khá dài, tôi phải chấm dứt do tâm trạng (nặng) não nề với câu (tự) hỏi: Có thể nào như thế? Chẳng lẻ những nhân vật quá quắt trong tiểu thuyết như Vi Tiểu Bảo của Kim Dung (1924-2018) hoặc Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là những con người có thật Với Lịch Sử- Giữa Con Người- Trong Cuộc Sống? Gã Xuân Tóc Đỏ xuất thân là kẻ nhặt banh trong sân quần vợt biến thành “Người Ái Quốc, xây dựng, giữ vững nền ngoại giao, hòa bình giữa hai nước An Nam-Xiêm La?” Tương tự như thế qua sự THẬT: Lucien Emile “Lou” Conein (1919-1998) chỉ là một nhân viên CIA trung cấp, nhưng chỉ với bao tiền 42,000 Đô-La đem vào văn phòng Tướng Trần Thiện Khiêm trong ngày 1/11/1963 đã đủ để bảo chứng cho một kế hoạch sát nhân gồm những nhân vật tài trí của quân đội VNCH: Đại Tá Lê Quang Tung (1926-1963), Hồ Tấn Quyền (1927-1963)… và tiếp theo Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1900-1963), người khai sinh VNCH, mà ngày Tết 1962/1963 (vừa) nhận cành hoa đào từ Hồ Chí Minh gởi từ Hà Nội với lời xưng tụng: “Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách (riêng) của ông ấy”. Nhưng cũng chính Bác Hồ nhân nghĩa nầy là người đã khởi động, lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh:”… Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” như trên đã trích dẫn.

Bác không nói suông. Bác làm thiệt qua lần “tâm sự” với Madelein Riffaud (1924-?) Tháng 6/1964 trong vườn nhà bác tại Hà Nội. Riffaud, nữ phóng viên, nhà thơ vốn là “nữ kháng chiến quân” của phong trào xã hội/cộng sản Pháp trong chiến tranh trước, sau 1945. Bác không nói với Riffaud với vị thế cách chủ tịch nước VNDCCH mà với tính cách “câu chuyện giữa chúng ta” – Cách thức mà bác thực hiện vô cùng “nhân bản” với Burchett (1966) hoặc giữa Võ Giáp và Onario Fallacci (1969). Nói chuyện với cách nhìn thăm thẳm “nhân bản, mưu lược, chen lẫn ác hiểm” khiến Fallaci dẫu đã gặp đủ mặt Kissinger (Mỹ), Arafat (Palestine); Hussein (Jordan)… cũng phải chột dạ. Đấy mới là Võ Giáp, chỉ là “học trò” của bác – Huống chi gặp phải tay bác vừa phà khói thuốc, vừa nâng ly rượụ, ngồi sát bên cạnh… Sức mấy “em” nhỏ 40 tuổi (sinh 1924-1964), đến từ Paris, đất Pháp chịu đời cho thấu? Đến cỡ Sainteny còn phải kêu lên suýt nữa bị bác vồ từ 1945, 1946. Hóa ra Đĩ và Điếm không là tính chất mà là Thuộc Tính của Người. Biểu tượng sụp đỗ của Babylon trong Khải Huyền của Thánh John là con Điếm Vĩ Đại với Màu Đỏ thẫm máu tươi.

Phan Phi Danh,

Đất Mỹ, 20/7/2026.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment