Trại tập trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 18

Chưa có triệu chứng « nổ » của tù nhân về từ Hà Nam Ninh. Anh em vẫn tự do tắm giặt, nấu nướng, đi lại « linh tinh ». Anh em tự do nhổ rào trại đun bếp. Anh em tự do sang khu B truyện trò ngoài hàng rào. Trực trại chỉ thị tổ vệ sinh kiếm củi cho Hà Nam Ninh. Trật tự cả hai khu đều khép nép khi gặp Hà Nam Ninh. Trần Trọng Thanh lên bệnh xá nằm cả ngày. Cung củ đậu, lợi dụng tình chiến hữu, hết sang nhà này đấu láo lại sang nhà khác đấu láo. Anh ta rất khớp Hà Nam Ninh. Vì Hà Nam Ninh nhiều trung tá ở các binh chủng dữ dằn. Có một đại tá nhảy dù nữa. Nhưng Hà Nam Ninh không hẳn chỉ toàn sĩ quan quân đội mà còn viên chức cao cấp chế độ cũ, phản động và đảng phái trình diện học tập cải tạo. Ra Bắc, chẳng phải là tù nhân tối quan trọng. Ở Nam, chẳng phải là tù nhân tầm thường. May rủi cả. Trưởng ty Dân vận và chiêu hồi, nhạc sĩ Vũ Thành An, ra Bắc. Tổng trưởng thông tin và chiêu hồi Hồ văn Châm ở Nam. Dân biểu Nguyễn văn Cung ra Bắc. Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Lương ở Nam. Những nhà văn quân đội ra Bắc. Những nhà văn dân sự « biệt kích văn nghệ » ở Nam. Nhà văn « biệt kích văn nghệ » Dương Nghiễm Mậu về nhà sau 11 tháng tù. Nhà văn quân đội Duy Lam hôm nay vẫn ở trại trừng giới Phú Khánh.
Một điều Hà Nam Ninh cảm thấy tủi nhục và phẫn nộ là thấy thiếu tá nhảy dù Cung củ đậu xun xoe theo sau trung sĩ công an trực trại, nhâng nhâng cầm xâu chìa khóa, đóng và mở cửa hai lần tập họp điểm danh. Sự phẫn nộ đã không trút vào Cung củ đậu mà lại trút vào một tên trật tự tù nhân hình sự khu B. Tên này bị vây đánh ở bệnh xá, sau đúng một tuần Hà Nam Ninh về Z30 D và một số người đã được gặp vợ con, đã nhận quà thăm nuôi. Vũ Xuân Thông cũng đã gặp thân nhân. Chàng có tin buồn: thân mẫu vừa qua đời. Thông buồn bã ra mặt. Chàng mong gặp mẹ sau nhiều năm xa cách. Chàng đã về thật gần mẹ. Nhưng mẹ chàng vội khuất núi. Vài người chỉ có em hay chị dẫn con thăm bố. Vợ đã phụ tình từ lâu, gia đình viết thư ra Bắc đã nói dối vợ vẫn thủy chung. Trung úy Thọ, người bạn tuổi nhỏ của tôi gặp vợ và cha già. Chuyện vui buồn chưa dứt bùi ngùi và ngậm ngùi thì một nửa Hà Nam Ninh chuyển khu. Ba đội vào K2 K3. Hai đội sang khu B. Năm đội bên khu B qua khu A. Ngay buổi tối hôm chuyển khu, chuyển K, Hà Nam Ninh còn lại khu A, tỏ thái độ.
Một nhà hát. Bốn nhà hát theo. Trước hết, họ hát những bản hùng ca do anh em của họ sáng tác. Rồi họ hát chính huấn ca. Cái lâu đài âm thanh này đã khiến tù nhân cả K1 ngưng hút thuốc là, ngưng chuyện trò. Tôi nghĩ thế. Vì, ở nhà của tôi (bây giờ tổ vệ sinh sống chung với đội rau xanh khu B mới sang), các cửa sổ khoang trên, khoang dưới kín mít. Tù nhân chờ đợi phản ứng của cai tù. Z30 D K1 không có phản ứng. Quản giáo, vệ binh, trực trại đứng gần các nhà nghe hát. Hà Nam Ninh chỉ hát, không reo hò, không hô khẩu hiệu. Họ hát đến khi kẻng báo ngủ thì ngưng hẳn. Sáng hôm sau, tập họp điểm danh bình thường. Các đội cũ đi lao động. Các đội Hà Nam Ninh ở nhà, tư do như hôm vừa tới. Mỗi chiều, vệ binh, lần lượt, dẫn từng đội ra suối tắm giặt. Nước bơm vào hồ không kịp. Xuất trại, Đội trưởng báo cáo. Ai đội nón, mũ đều lật khi qua điếm canh.
Ngày 25 tháng Chạp năm Thân, dương lịch 1981, Z30 D tuyên bố kết quả xổ số chào mừng Tết Con Gà. 300 tù nhân của 3 K được « thần tài » chiếu cố. Tất cả tụ tập ở hội trường K1 chờ làm thủ tục về xum họp gia đình. Chưa lần nào tù nhân được tha đông như lần này. Người ta phóng ra một tin phấn khởi: tù cũ sắp về hết nhường chỗ cho tù miền Bắc bồi dưỡng rồi về luôn. Tiến bộ vượt mức! Tiến bộ, tôi chợt nhớ bài « lên lớp » của phó giám thị Phúc:
– Đáng lẽ các anh về từ lâu. Chúng tôi giữ các anh ích lợi gì? Các anh lao động không đủ nuôi các anh, các anh nắm vững hơn ai. Sở dĩ, các anh còn cải tạo vì vợ con các anh ở nhà đã tiến bộ vượt mức. Chính vợ con các anh viết thư yêu cầu chúng tôi giữ các anh lại, giáo dục các anh để các anh tiến bộ ngang mức vợ con các anh thì khi về các anh mới thích nghi đời sống xã hội chủ nghĩa!
Bài « lên lớp » đã làm tù nhân « chửi » vợ con mình quá xá. Cộng sản còn có nghệ thuật cù không cười. 300 tù nhân được tha kỳ này chắc đã được vợ con ô kê tiến bộ. Đặc biệt, cận Tết, họ đỡ bị … bóc lột lao động thêm. Bộ nội vụ đã giáng một đòn cân não. Hà Nam Ninh chới với con số 300 tù nhân được tha. Trung úy Thọ tìm tôi:
– Nó lọc hay quá, anh ạ!
– Lọc gì?
– Lọc người.
– Ra sao?
– Nó lọc từ Hà Nam Ninh trước ngày về đây. Biên chế đội rồi mới chuyển trại. Các ông cầu an, lừng khừng đã sang khu B và vô K2 cả.
– Còn lại là chống đối à?
– Chống đối và chống chống đối.
– Thâm hiểm ghê nhỉ?
– Vâng. Nó cho hai quan điểm đối nghịch sống chung. Cộng sản mà! Anh Thông bị kẹt.
– Sao?
– Anh ở giữa hai quan điểm.
– Còn cậu?
– Em không dám lên tiếng nữa. À, anh này …
– Gì?
– Phản ứng của nó ra sao khi Hà Nam Ninh hát nhạc chính huấn.
– Tôi không gần gũi nó, không thể biết. Nhưng tôi biết chắc điều này: cộng sản sẽ trấn áp qua giai đoạn kiên trì. Nhìn lại vụ nó nuốt Kampuchia đi! Nó chuẩn bị dư luận thật chín muồi, kiên trì chịu đựng mọi ngang ngược của Pol Pot, Iang Sary. Cho đến khi giải phóng Kampuchia là chân lý, nó mới thôn tính Kampuchia.
– Tại sao anh không làm chính trị?
– Tại sao tôi phải làm chính trị? Mà cậu đề cập chính trị ở đâu?
– Ngoài đời.
– Không, ngu sao làm chính trị. Đem tư tưởng chính trị của mình chỉ đạo bọn làm chính trị mới khôn. Tôi không làm chính trị song, tôi có thái độ chính trị như thái độ viết. Cả hai nằm trong thái độ sống của tôi.
– Em sẽ làm gì?
– Ở đâu, bao giờ?
– Ở đây, bây giờ.
– Xếp tàn y lại để dành hơi. Hỏi mãi, sốt ruột!
Buổi chiều ngày 27 tháng Chạp năm Thân, một đội Hà Nam Ninh xuất trại ra suối tắm. Nội quy ghi rõ điều khoản này: « Trại viên xuất trại và nhập trại phải báo cáo cán bộ và bỏ nón mũ khi ra và vào cổng ». Tôi đã ở trại lao cải Sa Ác và Rừng Lá, tôi thấy điều khoản này được tù nhân triệt để thi hành. Một vài người không thèm đội nón mũ. Để khỏi chấp hành nội quy. Sa Ác còn quái ác bắt tù nhân cận thị gỡ kính xuất nhập trại. Điều này không có trong nội quy nhưng nằm ở câu « Trại viên phải triệt để tuân hành mệnh lệnh và chỉ thị của cán bộ … ». Một tù nhân Hà Nam Ninh đã cố tình không gỡ mũ ra khi vào trại. Cán bộ trực trại, lúc ấy, chưa đến điếm canh. Vệ binh trên vọng gác thay thế. Vệ binh yêu cầu gỡ nón sau khi báo cáo nhập trại. Tù nhân này nhất định không gỡ nón. Vệ binh lên đạn. Để cảnh cáo tù nhân « ngoan cố », vệ binh ngắm đống đá chất cao ngoài cổng trại, cách chỗ đội tập họp báo cáo nhập trại khoảng 2 thước bấm cò. Viên đạn làm một mảnh đá dội ngược văng mạnh vào cánh tay một tù nhân.

Google photo edit by Sơn râu

. Anh này bèn nằm lăn ra. Vệ binh bắn chỉ thiên 3 phát báo động. Trực trại, quản giáo, vệ binh kéo đến. Y tá được gọi ra băng bó vết thương ngoài da. Đội Hà Nam Ninh được yêu cầu vào trại.
Thay vì về nhà, họ xếp hàng đôi, ngồi giữa sân tập họp lao động. Bốn đội Hà Nam Ninh khác cũng ra ngồi tỏ tình đồng đội. Khi các đội cũ của khu A lao động về, Hà Nam Ninh yêu cầu họ cùng ngồi. Ai thích thì ngồi, ai không thích thì thôi. Không có sự cưỡng bức. Một nửa tham dự. Một nửa về nhà lấy cơm, chia cơm. Số người tham dự không ăn cơm. Tù hình sự tham dự rất ít. Đại diện của Hà Nam Ninh yêu cầu trực trại mời ban giám thị tới giải quyết vấn đề. Trực trại hứa chuyển đạt lời yêu cầu rồi gấp sổ trực, rời điếm canh. Nắng tắt rất nhanh. Chiều nay không không có kẻng báo điểm danh. Trật tự K1 đã lỉnh hết sang khu B. Cung củ đậu cũng biến luôn. Ở khu B, cơm canh lĩnh khẩn trương và đem vào nhà chia. Các cửa khóa sớm. Vệ binh tăng cường canh phòng, tuần tra. Khu B kể như bất động. Chẳng ai dám xô tường ra cả, dù xô mạnh là tường đổ.
Bóng tối đã trùm Z30 D K1. Đèn các nhà đã lên. Vệ binh trên chòi sát cổng đã xuống và rút đi. Lực lượng võ trang bảo vệ trại làm thành hai vòng vây chung quanh trại, phía ngoài hàng rào. Ban giám thị không đến. Cuộc đấu tranh bắt đầu. Cuộc đấu tranh với lý do đơn giản như đã kể ở trên. Thoạt đầu, bọn tù nhân hình sự trộm cắp xông vào phòng trật tự lục soát đồ đạc và tịch thu đường, thuốc rê, thuốc lào, trong khi, Hà Nam Ninh cùng tù nhân cũ hát vang nhạc chính huấn. Tù hình sự, dưới sự lãnh đạo của tên Lâm Quyền, đạp cổng hội trường, tiến vô sách động 300 tù nhân vừa trúng số, chuẩn bị về nhà ăn Tết, ra tham dự Đêm Không Ngủ. Tâm trạng 300 người này thật não nề. Ra không được, ở lại không xong. Ra thì có thể bị nằm tù nữa. Mà ở thì có thể bị … ăn đòn tranh đấu. May sao, có một người trong số 300 người đứng lên hô hào đoàn kết chiến đấu chống Cộng Sản. Vậy là một nửa người miễn cưỡng ra, một nửa người ở lại, tản mạn tại chân hàng rào suốt đêm. Nhiều người núp ở bệnh xá, bếp bệnh xá. Lâm Quyền tự phong chức trưởng ban hành động, đến từng nhà dọa nạt và lùa « nhân dân » ra tranh đấu. Nhạc chính huấn vẫn rền vang. Ban giám thị không tới.
Khoảng 22 giờ, ô pạc lơ trại oang oang:
– Chú ý, anh em trại viên chú ý … Đây là tiếng nói của cán bộ giáo dục trại cải tạo Thủ Đức Z30 D. Anh em lắng nghe tôi đọc vài điều trong nội quy
Tù nhân hát thật lớn, át cả tiếng nói của cán bộ giáo dục. Nhưng hắn cứ đọc nội quy. Đọc xong, hắn nói:
– Một trại viên vi phạm nội quy, kéo theo hàng trăm trại viên vi phạm nội quy. Ban giám thị yêu cầu những trại viên vừa được tha, về ngay hội trường chuẩn bị hành lý để sáng mai nhận Giấy ra trại thật sớm. Về hay không là do sự quyết định của các anh.
Đại diện Hà Nam Ninh yêu cầu tù nhân vừa trúng số về hội trường gấp. Họ chỉ đợi có thế. Một người duy nhất ngồi lại. Người này trung thành với lời hô hào « đoàn kết chiến đấu ».
– Chú ý, anh em trại viên chú ý … Ban giám thị sẽ giải quyết vấn đề vào ngày mai. Yêu cầu anh em về nhà ngủ. Chúng tôi cam kết không có hình phạt trả thù.
Z30 D cứ đem nội quy ra nói. Và nói một cách bình tĩnh. Khi ấy, lực lượng võ trang từ Hàm Tân đã đến tăng cường. Trong này, nhạc chính huấn hăng say hơn. Tù nhân hình sự pha nước chanh, nấu chè cho mọi người ăn uống. Thuốc lào rít ròn rã. Tôi bỏ về từ lúc này, không còn hứng thú đứng và đi xem nữa. Nhưng tôi không ngủ. Cái răng khôn nhổ hôm qua còn đang hành tôi nhức nhối. Tôi nằm nghe những lời yêu cầu tù nhân giải tán, ai về nhà nấy ngủ, mai đi lao động. Về khuya, nhạc chính huấn ngưng hát tập thể. Chương trình chuyển sang mục văn nghệ Đêm Không Ngủ. Đơn ca không đàn đệm. Những ca khúc bêu riếu lính « Một trăm em ơi … », những ca khúc sến do bọn tù hình sự vô lại ông ổng hát đã làm hại anh em Hà Nam Ninh. Đấu tranh vô tổ chức nó mau tàn. Gần sáng, rã đám. Ai về nhà nấy, đúng yêu cầu của Z30 D, tuy hơi muộn.
Và đó, từ nguyên do, diễn tiến đến kết thúc của cái gọi là « nổi loạn ở nhà tù Hàm Tân ».
Sáng sớm hôm sau, cửa các nhà bị khóa chặt. Không có điểm danh. Không có lao động. 300 tù nhân được tha khẩn trương rời hội trường sang K2. Ở đấy họ sẽ làm mọi thủ tục ra trại. Người tù được tha ngồi lại tham dự Đêm Không Ngủ cũng sang K2 luôn. Trật tự vẫn lưu vong. Chỉ có tổ vệ sinh bên ngoài quét dọn sân trại và đổ rác. Không khí Z30 D căng thẳng. Khu B nằm nhà hết. Một vài nhà hò hét, vỗ tay. Khu A thì hoàn toàn im lặng. Buổi trưa, tổ vệ sinh phải khiêng cơm, canh cho từng nhà. Cửa mở. Cơm canh vào là khép chặt, khóa kỹ. Xế trưa, các cửa nhà đội cũ mở. Trật tự đã về đủ. Quản giáo các đội đến phát giấy cho đội làm tự kiểm. Quán giáo hướng dẫn viết tự kiểm. Tự kiểm nhận khuyết điểm tham dự Đêm Không Ngủ vì bị cưỡng bức và lên án một số người chủ mưu vô danh. Không một ai được viết ngoài cái ý đó. Ngày 29 tháng Chạp, mọi chuyện kể như đã qua. Cửa nhà Hà Nam Ninh mở tung. Miễn lao động toàn trại. Đi lại tự do. Nước bơm đầy hồ. Không ai bị kỷ luật cả. Ngay buổi sáng, một phái đoàn của bộ nội vụ đến thăm viếng anh em Hà Nam Ninh. Phái đoàn chuyện trò thân mật và hỏi anh em có cần đề xuất gì không. Tuyệt nhiên, phái đoàn không đề cập chuyện mới xảy ra.
Vũ Xuân Thông tìm tôi:
– Đêm qua anh đi đâu?
– Tôi đứng xem, đến màn chè cháo, tôi về ngủ. Thế nào, thất bại hay thành công?
– Theo anh?
– Các ông đánh giá Cộng Sản thấp quá. Kinh nghiệm Hà Nam Ninh đâu? Lý do thành công ở Hà Nam Ninh là chống đối nhốt tù nhân dưới hầm đá mà không đọc quyết định thi hành kỷ luật và do bầy sư tử lãng mạn và quả cảm lãnh đạo. Lý do thất bại ở Z30 D là chống gỡ nón và do “lãnh tụ” Lâm Quyền sách động đấu tranh. Tại sao ông dở thế?
– Em bị theo cái đà xoay.
– Sao không chỉ các ông chơi? Ông biết thằng Lâm Quyền can tội gì không?
– Tội gì?
– Ông đi hỏi cả trại, ai cũng biết tội nó. Nó chọc thủng vách nhà tắm cho bạn nó coi xi nê chị nó tắm. Vé mỗi lần vài đồng. Chị nó tố cáo nó với công an và yêu cầu cho nó đi cải tạo.
– Bỏ mẹ!
– Z30 D thật sự coi thường các ông rồi. Nó sắp ra tay rồi đấy. Rồi ông coi.
– Phái đoàn bộ nội vụ biết điều lắm.
– Đó là cái lỗ miệng Cộng Sản. Tôi gửi lời chê đầu óc lớn của các ông. Các ông không nghe tôi. Họa hổ thành khuyển.
Vũ Xuân Thông bỏ về. Người hùng của tôi chưa có vợ, dù rất đẹp trai và nhiều tài. Sáng sau, 30 tháng Chạp, điểm danh trễ hơn thường lệ. Nắng đã lên, kẻng vẫn chưa báo. Lại có chuyện gì chăng? Có chuyện thật. Vũ Xuân Thông và 4 người khác xách hành lý rời Z30 D. Tôi đoán Thông và 4 đầu óc lớn ra đi. Về sau, tôi biết Vũ Xuân Thông về Chí Hòa. Có lẽ, hiện nay, Thông còn nằm ở trại trừng giới Phú Khánh.
Không có vấn đề gì cho anh em Hà Nam Ninh ở lại khu A và khu B. Ba ngày Tết thật êm ả. Ngày nào trung úy Thọ cũng sang nhà tôi, leo lên chỗ góc khoang trên của tôi hút thuốc lào và tâm sự. Thọ rủ thêm vài sĩ quan trẻ khác.
– Kết thúc chưa, anh Duyên Anh?
– Chưa.
– Em thương anh Thông quá.
– Tôi cũng vậy.
– Anh Thông tình cảm lắm. Anh ấy bị một thằng đảng phái cáo già giật giây. Nó dùng tình cảm, dùng luôn cái bị thăm nuôi lúc nào cũng đầy của nó làm xao xuyến nhiều anh em “con bà phước”. Anh Thông ở Bắc không ai thăm nuôi cả.

Google photo edit by Sơn râu

– Lính chiến lại hào sảng, đâu biết tham nhũng. Đa số sĩ quan tác chiến, tôi thấy đều “con bà phước” hoặc bị thăm nuôi lép kẹp. Những thằng tham nhũng, thối nát, ở tù vẫn phây phây. Chúng nó thừa tiền mua cai tù nên chúng nó nhàn hạ. Còn được tha sớm nữa.
– Anh biết phái đoàn bộ nội vu hỏi thằng đảng phái ma đầu cần gì, nó trả lời sao không?
– Không.
– Nó xin một thùng rác cho phòng. Nó biểu dương nồng nhiệt trại Z30 D. Còn anh Thông, anh yêu cầu không có trả thù người cải tạo, dù phái đoàn không đề cập chuyện Đêm Không Ngủ.
– Đó là lý do Thông ra đi?
– Lý do phụ thôi. Anh Thông và 4 người kia bị ghim từ Hà Nam Ninh. Anh nói vụ này chưa kết thúc, liệu còn những gì xảy ra?
– Nó sẽ làm các cậu xâu xé nhau.
– Cách nào?
– Tôi không biết. Có lẽ, cậu sẽ không ở khu A lâu đâu.
– Em sẽ chuyển trại?
– Chuyển K hoặc khu
– Anh có lời nào khuyên em thêm?
– Một người công an chấp pháp Nam bộ tập kết ở sở công an thành phố Hồ chí minh khuyên tôi, ở tù Cộng Sản đừng tin ai, đừng dại dột chết ở lỗ chân trâu. Một người cai tù ở Chí Hòa khuyên tôi, đừng chống cán bộ quản giáo, vệ binh vì chúng nó không có quyền bắt, không có quyền tha, nhưng có quyền hành hạ và dồn mình vào chỗ chết. Cậu suy nghĩ lời người ta khuyên tôi.
– Cám ơn anh.
Mồng 5 Tết, tù nhân Hà Nam Ninh K1 tập họp hết ở hội trường nghe giám thị Mạnh “lên lớp”. Đây là bài lên án nặng nề Đêm Không Ngủ. Bài này được phát thanh cho cả trại nghe.
– Ai cho phép các anh vi phạm nội quy? Ai cho phép các anh hát nhạc chính huấn? Ai cho phép các anh tụ tập âm mưu nổi loạn? Ai cho phép các anh sách động đấu tranh trong nhà tù? Việt Cộng nổi loạn trong nhà tù, các anh tàn sát hết, các anh đâu có tha. Các anh nổi loạn, Việt Cộng chúng tôi không tàn sát các anh. Đó là chính sách nhân đạo và khoan hồng của đảng và nhà nước đối với người học tập cải tao…
Giám thị Mạnh lên lớp gần ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng là câu kết luận:
– Các anh, ai muốn lao động thì được lao động, ai không muốn lao động thì ở nhà. Từ nay, trại không tha thứ một hành động vi phạm nội quy nặng hay nhẹ.
Ngay buổi trưa, 5 đội Hà Nam Ninh khu A bị xào xáo, biên chế lung tung thành 5 đội mới. 3 đội sang khu B. 2 đội chuyển sang 2 căn nhà nằm sau phòng trật tự, sát hàng rào trại. Z30 D K1 vận dụng 2 đội dựng một hàng rào tre cách ly 2 đội Hà Nam Ninh với các đội khác. Thêm hàng rào kẽm gai giữa hai nhà. Đội xây cất xây bức tường gạch chia đôi hồ nước. Một cái cổng có giây xích và khóa chặt. Hai căn nhà của hai đội Hà Nam Ninh biến thành khu kỷ luật tập thể. Tù nhân không được ra ngoài hàng rào, không được nhận quà thăm nuôi, không đi lao động, không tắm giặt hàng ngày. Nước sẽ vào đủ xối cầu tiêu. Một tuần tắm hai lần bằng vòi nước đẩy vô, giới hạn thời gian. Bật lửa, diêm bị tịch thu. Điếu cày bị tịch thu luôn. Sự trả thù bắt đầu…



Trại tập trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Phto edit by Sơn râu

Chuyện nghe kể về một trại cải tạo.

Phần 17

Trại ấy tên là An Hòa, cách thị xã Đà Nẵng 60 cây số về phía Tây, gần biên giới Ai Lao. Chúng ta đều biết rằng, cộng sản chiếm Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng rồi mới thừa thắng tràn xuống phía Nam. Tổng Y viện Duy Tân của Quân Đoàn 1, Vùng 1 chiến thuật nằm ở thị xã Đà Nẵng. Khi cộng sản băng qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng, Tổng Y viện Duy Tân còn khá đông y sĩ ở lại với thương bệnh binh. Lương tâm thầy thuốc không cho phép họ đào tẩu. Cộng sản tiếp thư Tổng Y viện Duy Tân, chỉ định bác sĩ Phạm văn Lương làm chỉ huy trưởng lâm thời Tổng Y viện này.
Bác sĩ Phạm văn Lương, người hùng đảo chính Trường Y khoa quân đội năm 1963 (*), hồi còn là sinh viên. Là bạn thân của Hà Thúc Nhơn, người hùng chống tham nhũng ở Quân Y viện Nguyễn Huệ, Nha Trang, bị thảm sát bởi tập đoàn Ngô Du, Vũ Ngọc Hoàn, Huỳnh Bá Phẩm, ông thực sự nổi tiếng khi ôm lựu đạn ngồi trước cửa Hạ Viện bầy tỏ thái độ chống tham nhũng, thối nát của ông. Phải nói, ông là biểu tượng của sĩ khí còn lại sau cơn lốc đô la. Một mình một ngựa, người tuổi trẻ Phạm văn Lương xông xáo vào trận tuyến làm đẹp đất nước. « Một người còn có một tin tưởng vào một số tín điều nào đó, tất nhiên phải nhìn những biến thiên của xã hội hôm nay bằng một con mắt nghiêm khắc, nếu không muốn nói là thù hận. Sự tin tưởng sâu xa và sự cuồng tín chỉ là hai mặt của một vấn đề »(**). Phạm văn Lương là con người đó. Sự cuồng tín của ông ta đã đưa ông ta vào cô đơn. Và ông đã dẫy dụa trong lưới ngộ nhận cố tình của bọn thống trị độc ác. Phạm văn Lương giáo dục con cái nghiêm khắc như ông nhìn xã hội vậy. Ông chính là con gọng vó bơi ngược dòng nghịch lũ. Cuối cùng, ông thả dài mộng ước hư hao ở tổng y viện.
Tháng 6-1975, như tất cả sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, các y sĩ quân đội phải đi trình diện học tập cải tạo. Y sĩ Tổng y viện Duy Tân trình diện tại chỗ và được đưa vào trại cải tạo An Hòa cùng một số lớn thuốc và dụng cụ Y khoa. Trại An Hòa được kể là trại lao cải lớn của Vùng 1. Sĩ quan của Sư đoàn 1 bộ binh, các viên chức cao cấp của chế độ cũ, nhất là những người gốc gác Thừa Thiên, đều đã chạy cả vào Đà Nẵng rồi trình diện ở Đà Nẵng và vô An Hòa. Huế vốn lừng danh sắt máu. Huế của Tố Hữu 1945 xử tử Phạm Quỳnh. Huế của Mậu Thân 1968, của Hoàng Phủ Ngọc Tường tàn sát, chôn sống tập thể. Huế của 1975, của Tống Nhạn sẽ tái diễn Huế 1968. Người ta sợ hãi « biển máu » ở Huế và người ta chạy tuốt vào Sài gòn hay tạm dừng ở Đà Nẵng.
Tất cả các trại tập trung cải tạo « ngụy quân, ngụy quyền » từ tháng 6-1975 đến cuối năm 1978 đều do quân đội nhân dân quản lý. Nói rõ rệt, Bộ quốc phòng quản lý. Khi ổn định tình hình Huế, chính quyền cách mạng của Huế mới nghĩ chuyện trả thù những kẻ « có nợ máu » với nhân dân. Họ lập một danh sách những tù nhân cần thiết phải đem về địa phương để xử tử. Và danh sách đó gửi tới An Hòa. Ban giám thị trại An Hòa không trả lời. Huế cử một phái đoàn vào An Hòa lãnh tù nhân sinh trưởng tại Huế về « cải tạo ». Ban giám thị trại An Hòa từ chối. Huế làm dữ. Mỗi ngày một phái đoàn vào An Hòa. Ban giám thị phải hỏi ý kiến Bộ quốc phòng. Bộ quốc phòng hỏi ý kiến Bộ chính trị trung ương Đảng. Quân ủy và Đảng ủy họp. Hai vấn đề được đặt ra:

Giao tù nhân cho địa phương là sai nguyên tắc, sai chính sách học tập cải tạo.

  1. Tù nhân sẽ nổi loạn nếu biết địa phương đem về xử tử.

Đặt vấn đề xong là giải quyết ngay: Thủ tiêu các tù nhân cải tạo gốc Huế mà Huế đòi hỏi trong danh sách. Các y sĩ của Tổng y viện Duy Tân còn sót lại và đi trình diện học tập cải tạo bị chỉ định công tác sát nhân này. Có 2 lý do khiến họ phải cất lương tâm một chỗ thật kín.

  1. Bị đe dọa nếu không thi hành công tác, vợ con sẽ bị tàn sát.
  2. Bị đe dọa sẽ chết thảm nếu không thi hành công tác.

Họ cần sống, họ sợ chết đau đớn, chết kiểu chôn sống. Và họ đã giết mỗi ngày vài tù nhân gốc Huế cho đến khi danh sách những kẻ « nợ máu » của nhân dân Huế không còn ai. Huế đến đòi. Anh Hòa báo cáo tù nhân đã chết bệnh, có biên bản và y chứng. Nhưng Huế biết tù nhân « nợ máu » bị thủ tiêu cả. Sau hai năm sống với nỗi ray rứt lương tâm, ám ảnh tội ác, các y sĩ của Tổng y viện Duy Tân cải tạo ở trại An Hòa đã lần lượt tự sát. Chính xác tên tuổi và ngày tháng tự sát là bác sĩ Vũ Đức Giang. Bác sĩ Giang tự sát ngày 30 tháng Chạp năm Tị, 1977. Ông đã chọn một ngày cuối năm cho một ngày cuối đời. Bác sĩ Giang còn rất trẻ. Người yêu ông vượt biển sang Gia Nã Đại. Nàng chỉ yêu ông. Và nàng trở nên lạnh lùng với tình ái khi hay tin ông tự sát. Nàng đã bị kẻ yêu nàng mà không được nàng yêu hạ sát. Bác sĩ Giang tự tử đúng ngày sinh của ông. Người y sĩ cuối cùng tự sát là Phạm văn Lương.
– Các y sĩ thủ tiêu tù nhân bằng thuốc gì?
– Thiếu gì thuốc. Nhưng việt cộng có một thứ thuốc thủ tiêu rất êm.
– Thuốc gì ?
– 20 xen ti mét khối không khí vào mạch máu !
– Các y sĩ cũng chết bằng cách đó ?
– Có lẽ.
Bài thơ về một người tù

Em bé Việt Nam
Sinh tháng 8-1975
Năm 79 chưa đầy bốn tuổi
Theo mẹ vượt biên tìm cha trốn khỏi quê hương
Chẳng may bị bắt giữa đường
Em bé đến trường cải tạo
Chế độ khoan hồng nhân đạo
Nhốt em với mẹ chung phòng
Em có hồ sơ riêng
Được đối xử công bằng
Do xã hội ưu việt
Do giáo điều tinh khiết
Do luật pháp quang minh
Do lãnh tụ tài tình
Em can tội khước từ chủ nghĩa
Em can tội chống ý thức hệ
Em bé mút ngón tay học tập làm người
Khi em trở lại cuộc đời
Cầm tấm giấy ra tù
Vẫn chưa biết mình là thần đồng phản động.


Và một bài thơ có nhan đề Cổ tích

Có một đàn kiến lửa
rủ nhau vào cachot
thấy nằm đó gã tù
tay còng chân đeo xích


Tù nhân không nhúc nhích
Kiến chúa nhớ thù người
Vuốt râu nhếch mép cười
Đã đúng giờ tuyết hận

Ôi con người khốn nạn
Sát hại kiến dài dài
Gót giầy dẫm cả bầy
chẳng mảy may thương xót


Kiến dậy lòng căm tức
định hành hạ tù nhân
Một giây sáng lương tâm
chê con người bần tiện

thiếu linh hồn loài kiến
ghét nhau bắt nhốt nhau
đầy đọa nhau thảm sầu
nhục nhằn rồi chết rũ


Kiến quên nhanh thù cũ
phun lửa chảy xích còng
Tù nhân khóc rưng rưng
Con người thua con kiến

Cuối tháng 12-1980, khu A biên chế các đội lung tung, xào xáo. Nguyễn văn Hải và tôi bị biên chế vào đội linh tinh và tách ra tổ vệ sinh khu A. Tất cả các đội khu A dọn sang khu B, xóm nhà lá. Riêng đội xây cất, đội mà danh ca Duy Trác đã ở, còn được cư ngụ tại nhà gạch khu A. Ông già Tới cầm Giấy ra trại. Thiếu tá nhảy dù Phạm Đình Cung, hỗn danh Cung củ đậu (***) nhậm chức trật tự viên, thay thế ông già Tới. Cung củ đậu quen biết tôi ngoài đời, hồi Phạm Huy Sảnh còn làm chỉ huy trưởng Cảnh sát dã chiến Biệt đoàn Con nhện 222 và Nguyên Duy Am, chỉ huy phó. Anh ta có máu lai Chà và, bụng to, thân xác to nhưng óc nhỏ. Tôi không hiểu tại sao Z30 D lại tin tưởng sĩ quan nhảy dù. Cung củ đậu sang làm trật tự khu A một tuần lễ thì tổ vệ sinh của chúng tôi nhận chỉ thị cọ rửa sạch các hồ nước và bơm đầy nước vào hồ. Rồi các nhà trống cũng được quét dọn, lau rửa sạch sẽ. Có biến cố gì chăng?
Tôi đã sống ở Sa Ác ngót hai năm và đã hiểu cung cách quản lý tù nhân. Cứ ba bốn tháng, các đội lại bị biên chế. Người ta không muốn tù nhân sống chung lâu với nhau cùng đội, cùng nhà. Tôi đã tưởng các đội khu B sang khu A. Không, bạn tù lâu năm của Z30 D bảo không hề có đón tiếp nồng hậu thế. Vậy đón ai? Khoảng 20 tháng 1-1981 tôi có câu trả lời. Tù nhân sĩ quan cải tạo từ trại Hà Nam Ninh (trại Đầm Đùn) từ Bắc về Nam. Z30 D tiếp nhận 500 tù nhân đặc biệt này. Họ về với cả chổi cùn dế rách, lồng chim, lồng gà. Chim chào mào đít đỏ và gà vẫn sống nhăn răng sau cuộc hành trình đường sắt. Họ xuống ga Phan Thiết. Từ ga Phan Thiết, họ bị dồn lên xe tải, hai người một còng số 8, về Z30 D. Hành lý chở riêng mấy xe đầy nhóc. Hành lý đến trước người. Chúng tôi, tổ vệ sinh, vác hành lý để một góc sân xếp riêng một chỗ theo tên tù nhân viết ngoài bao bố, ba lô, túi vải, bị cói. Công việc vừa xong thì xe chở tù nhân tới. Còng tay được mở ngay lúc họ xuống xe. Hàng đôi, họ vô trại. Vệ binh bố trí quanh trại. Đại liên, trung liên nạp đạn sẵn sàng. Thủ tục nhập trại của họ rất khẩn trương. Trước hết, họ nhận hành lý. Rồi theo dõi tên đọc trong danh sách, khuân hành lý xếp hàng trật tự. Họ được biên chế đúng 10 đội, đủ 10 căn nhà. Đội xây cất lại dọn sang khu B. Tổ vệ sinh tạm trú ở phòng ăn Nhà 1. Mỗi đội khuân hành lý, theo quản giáo và vệ binh nhận nhà. Hành lý của họ được kiểm tra thật nhanh. Không món nào bị tịch thu cả.
Tất cả tù nhân từ một trại đến một trại đều nằm trong quy luật này: cửa nhà đóng chặt, khóa kỹ, chỉ mở lúc chia cơm nước. Ba ngày sau mới được đi tắm. Tù nhân Hà Nam Ninh đúng là “thượng khách” của Z30 D. Cửa mở tung, đi lại tự do. Nước đầy hồ, mặc sức tắm. Cạn thì bơm đầy. Họ ca cóng ngay. Chúng tôi phải kéo đẩy mấy chuyến xe cải tiến củi, cho họ mượn dao chẻ nhỏ mà nấu nướng. Trong số tù nhân Hà Nam Ninh, tôi quen biết vài người. Quân đội có Vũ Xuân Thông, trung tá, Lữ đoàn phó Biệt Cách 81. Lữ đoàn trưởng còn kẹt lại Hà Nam Ninh A vân vân. Dân sự có Ruyện hay Ruyệt (tôi nhớ không rõ), Quốc gia hành chánh, cùng khóa Đỗ Tiến Đức, đã làm việc chung phòng với tôi ở Tổng nha thanh niên thời Cao Xuân Vỹ, phó tỉnh trưởng vân vân. Người đầu tiên nhận ra tôi và tìm gặp tôi là Vũ Xuân Thông, tài tử điện ảnh, vai chính của Người tình không chân dung. Vũ Xuân Thông và tôi là chỗ thân tình, kém tôi vài tuổi mà Thông cứ xưng em với tôi, ngoài đời như trong tù.
– Không ngờ gặp anh ở đây.
– Ông biết tôi bị bắt không?
– Biết. Em đã sống với anh Văn Quang. Anh Văn Quang chịu đựng nổi, anh cũng chịu đựng nổi.
Tôi kể chuyện Sở công an, đề lao Gia định, khám lớn Chí hòa, Sa Ác cho Thông nghe. Thông kể chuyện Lào Kay, vùng kinh tế núi Văn Bàng, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái và bến đò Khô Lâu, Sơn La, ruồi vàng to bằng đốt ngón tay cắn chảy máu người, ăn bo bo đen, chịu sốt vàng da… Chúng tôi ôm nhau khóc. Và cười.
– Em vẫn mơ ngày vẽ bộ truyện tranh Dzũng Đa kao
– Chuyện ấy tính sau.
Vũ Xuân Thông kể chuyện Bầy sư tử lãng mạn (****) đánh thức Hà Nam Ninh B vùng dậy. Và kết quả là chuyển trại về Nam.
– Anh nghĩ gì ?
– Nghĩ gì ?
– Chuyện đưa anh em về đây.
– Tôi không hiểu, hoàn toàn không hiểu. Nó đã đón tiếp Hà Nam Ninh nồng hậu. Thanh Nghệ Tĩnh về đây âm thầm lắm. Có điều đừng suy diễn hoàn toàn lợi cho mình. Hay nhất là im lặng, wait and see. Ô kê?
– Đồng ý với anh. Nhưng anh em quá khích hơi đông. Đầu óc lại hơi ít.
– Ai là đầu óc lớn? Mà thôi, đừng tiết lộ.
– Tại sao, anh Duyên Anh?
– Tại tôi không thích biết quá nhiều nữa. Còn ông, lớn hay nhỏ?
– Không lớn vẫn bị tụi nó đánh dấu … Biệt cách 81.
– Bọn Z30 D nhận chỉ thị trực tiếp của bộ nội vụ. Chúng nó cáo lắm. Chân ướt chân ráo nên im lặng là tốt. Nó cũng đang chờ các ông tỏ thái độ đấy.
– Sao anh biết?
– Rồi ông xem. Nó đưa thằng Cung củ đậu làm trật tự trước khi các ông về. Nó đã đề phòng. Nó lấy độc trị độc.
– Em phải bàn với anh em.
Tôi nấu mì chiêu đãi Vũ Xuân Thông, người lính hào hùng, người tài tử đẹp trai của tôi. Tổ vệ sinh đã làm tất cả những gì có thể làm để giúp đỡ anh em Hà Nam Ninh. Đêm đầu tiên hoàn toàn im lặng. Vì mấy ngày đường mệt mỏi, anh em ngủ ngon lành. Hôm sau, anh em được viết thư báo tin cho gia đình. Trại hứa đem hết thư về Sài gòn và yêu cầu Bưu điện Sài gòn phát thư khẩn trương. « Đầu óc lớn » chưa làm việc. Tốt. « Mặt trận miền Tây vẫn yên lặng ». Một trung úy của Phủ đặc ủy trung ương tình báo, độc giả của tôi, tên Thọ, đến tìm tôi.
– Anh thân với anh Vũ Xuân Thông lắm, phải không?
– Thân.
– Anh Thông thật tốt, thật bao dung. Anh ấy chỉ là nghệ sĩ khoác áo lính, làm việc khác không được đâu. Anh ấy ba phải, bị thiên hạ dùng làm bia.
– Cậu nói gì tôi không hiểu. Nhưng đừng nên nói nữa. Anh em mình gặp nhau là vui. Chúng ta lại mới biết nhau. Đừng tâm sự thì khỏi ngờ vực, đề phòng. Kinh nghiệm ở tù dạy tôi từ chối nghe chuyện kín.
– Anh thủ đến thế ư?

Google photo edit by Sơn râu

– Tôi tránh phiền phức cho cậu. Sợ rằng thương tôi cậu mất công thanh minh cho tôi rồi sẽ mất cả bạn lẫn chiến hữu.
– Đã xảy cho anh chuyện đau lòng vậy à, anh?
– Sẽ, xẩy ra.
– Anh có gì khuyên em?
– Cậu thuộc bài Khóc Bằng Phi của Tự Đức chứ?
– Thuộc.
– Một câu trong đó là lời khuyên.
– Câu nào, thưa anh?
– Xếp tàn y lại để dành hơi.
– Cám ơn anh, em vẫn chủ trương thế. Anh Duyên Anh ạ?
– Gì?
– Nghề nghiệp của em dạy em biết đánh giá con người, sự việc và tin tức. Những người lãnh đạo vụ Hà Nam Ninh B đều bị ghim trong danh sách đỏ. Và hồ sơ theo tù nhân đến trại mới. Em nghĩ anh chẳng cần thủ.
– Ở tù, bất đồng quan điểm là một tội nặng, cậu hiểu chứ?
– Anh bất đồng quan điểm gì?
– Nhiều lắm.
– Thí dụ?
– Một số người mơ mộng dẹp tan cộng sản sẽ lên lon ầm ầm, sẽ lãnh vô kể tiền ráp pen, sẽ trở thành những cái rốn của tổ quốc. Tôi thì lại mong tất cả khởi sự từ zê rô.
– Gì nữa?
– Một số người lấy thành tích ngục tù là cái gì ghê gớm lắm, dân tộc phải biết ơn họ, ngưỡng mộ họ. Tôi thì cho chuyện ở tù là một vụ nghỉ hè dài trong đời sống.
– Gì nữa?
– Tôi quan niệm việc làm là việc làm, lớn hay nhỏ, tôi cố gắng làm đến nơi đến chốn. Tôi lao động đúng yêu cầu của cộng sản. Để biết sức của tôi và để tập hoàn thành một công việc bị cưỡng bức. Còn để chứng tỏ thái độ của nhà văn. Một số người cho rằng tôi sợ hãi, khiếp nhược. Họ muốn tôi phải là nhân vật người hùng của tiểu thuyết của tôi.
– Gì nữa?
– Tôi không thích thù hận bọn công an coi tù, nói chung, tôi không thích thù hận công cụ của chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ của nó. Tôi chỉ muốn hủy diệt chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ cộng sản. Người ta không thể giết chết con rắn độc bằng cách chỉ đập nát cái đuôi. Tôi bị coi là thân cộng sản, đầu hàng cộng sản.
– Tầm bậy. Em đồng ý với quan điểm của anh. Còn nổi loạn trong tù?
– Cộng sản sợ hãi sự im lặng.
– Nổi loạn vô ích?
– Thử nổi loạn đi, sẽ có kinh nghiệm lớn.
– Em vốn bất động từ vào tù. Em muốn có kinh nghiệm từ anh.
– Tôi chưa nổi loạn trong tù, không bao giờ nổi loạn trong tù. Tôi chống bạo lực bằng chữ nghĩa và tư tưởng. Nhà văn xử dụng võ khí của nhà văn. Tôi chưa hề xuống đường hoan hô, đả đảo. Cậu nên nhớ rằng, sĩ quan quân đội của ta không được coi như tù binh chiến tranh. Vậy không có Quy ước, Thỏa hiệp quốc tế nào bảo vệ. Với cộng sản, dẫu có, họ cũng dẫm lên những Quy ước – Thỏa hiệp bằng giép râu. Thí dụ sĩ quan quân đội của ta được coi là tù binh chiến tranh, thì Quy ước quốc tế về tù binh chiến tranh ký kết tại Geneve, hình như, năm 1951, cũng có điều khoản cấm tù binh nổi loạn trong các trại tù và cho phép những kẻ canh giữ tù binh đàn áp mọi nổi loạn trong trại tù. Còn có cả điều khoản tù binh chiến bại phải chào kính kẻ chiến thắng canh giữ, nếu kẻ chiến thắng yêu cầu. Nổi loạn trong tù là hạ sách, có lẽ, là chuyện phiêu lưu vô vọng. Vậy nằm tù cộng sản có hai thái độ chọn lựa. Một là, tuyệt vọng như con hổ trong chuồng sắt sở thú: Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! Hai là, suy tư một câu thơ của Tự Đức: Xếp tàn y lại để dành hơi. Tôi chọn thơ Tự Đức.
Trung úy Thọ, người bạn tuổi nhỏ của tôi, không hỏi thêm gì nữa. Anh ta hút thuốc lào rồi nói chuyện văn nghệ. Ngày thứ ba, anh ta lại tìm tôi. Và chúng tôi mạn đàm thân mật.
– Hỏng rồi, anh Duyên Anh ơi!
– Chuyện gì?
– Đàn anh qua khu B được các đàn em tâng bốc và đốc thúc « phải cho nổ », đừng để đàn em thất vọng như đã thất vọng Thanh Nghệ Tĩnh.
– Rồi sao?
– Các anh ấy họp.
– Đến đây thì tôi xin cậu ngưng lại.
Trung úy Thọ lắc đầu:
– Vâng, em nghe anh. Cho em phê bình một câu được không?
Tôi hỏi :
– Phê bình tôi ?
Thọ đáp :
– Phê bình đàn anh của em.
– Thử phê bình xem sao.
– Quân đội không biết làm chính trị. Các anh lớn đánh giặc giỏi, khí khái, quả cảm nhưng thiếu thủ đoạn.
– Tại sao cậu không giúp?
– Em nhỏ và luôn luôn bị coi phá bĩnh.
– Mình nói chuyện khác, Thọ ạ!
Thọ ngồi chơi một lát rồi về. Vũ Xuân Thông tới, kể tiếp chuyện Văn Quang vồ ngóe nướng ăn và rình mò đập chết cả chim nữa. Tôi hỏi Thông:
– Đầu óc lớn đã có nhận xét chính xác về Z30 D chưa?
Thông cười rất tươi:
– Thuận lợi 100 phần 100.
– Dựa vào những sự kiện nào?
– Suy diễn.
– Ra sao?
– Cộng sản đưa một nửa trại Hà Nam Ninh B về Nam, chứng tỏ nó đã hết chịu nổi áp lực của Mỹ. Nó đối xử đẹp và nhún nhường chưa từng thấy từ trại này qua trại khác ở ngoài Bắc cũng như trong Nam. Chắc chắn sẽ có một biến cố.
– Đợi chờ biến cố xẩy ra chứ?
– Vâng.
– Nhưng do đâu biết tin Mỹ can thiệp cho tù nhân sĩ quan cải tạo?
– Anh em khu B nói.
Tôi vỗ vai Vũ Xuân Thông:
– Bạn ơi, ở Sa Ác, người ta đang chờ Mỹ đem trực thăng đến bốc sĩ quan cải tạo từ trại ra thẳng Hạm đội 7. Bạn ta biết tin từ đâu không?
– Không.
– Từ ban giám thị, từ cộng sản. Bạn ạ, ở tù cộng sản phương pháp 3 W chưa đủ, 4 W vẫn chưa đủ. Who, What, Where, When vất đi hết. Các bình luận gia lỗi lạc của thế giới đều đã trật lất khi suy đoán, tiên đoán về cộng sản. Với cộng sản, chỉ khi công khai hóa một vấn đề, cụ thể hóa một sự kiện, người ta mới ngã bổ chửng. Không ai đoán nổi, hiểu nổi cộng sản sắp làm gì, sẽ làm gì, mà chỉ vỡ lẽ cộng sản đã làm gì! Anh Nguyễn Mạnh Côn, tác giả Cộng sản là gì, người tự cho mình hiểu cộng sản hơn bất cứ người nào chống cộng sản, đã tưởng mình tuyệt thực dọa, cộng sản sẽ lạy mình ăn, sẽ đè ra chích nước biển và bồi dưỡng cả két sữa đặc như Như Phong, nhưng kết cuộc thấy mình lầm lớn, mình chưa hiểu nổi những giai đoạn, những đối tượng cộng sản cần đối phó. Bạn ta biết cộng sản mỉa mai ra sao không?
– Ra sao?
– Nó nhún vai: Trò rẻ tiền xuống đường, tự thiêu, tuyệt thực chỉ xẩy ra thời ngụy. Bây giờ là thời của xã hội chủ nghĩa. Thời này, kể tuyệt thực chết, tự thiêu chết, thắt cổ chết bị đánh thuế ngu. Thân nhân kẻ chết ngu phải nộp thuế ngu cho Nhà nước.
Vũ Xuân Thông bần thần suy nghĩ. Tôi nói:
– Bạn ta ơi, tôi chưa hề thấy người hùng của chiến trường miền Nam cũng là người hùng của chính trường miền Nam.
Và tiếp:
– Từ Trần Phú, Lê Hồng Phong đến Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Tố Hữu … vân vân đều đã như những con chó câm trong ngục tù thực dân hàng chục năm. Có đứa 20 năm. Cuối cùng, nhờ biết làm chó câm, chúng nó lần lượt trở thành vĩ đại. Những thằng sủa và bị hích sủa thì thành liệt sĩ ngu đần. Liệt sĩ Bế văn Đàn khom lưng cho đại liên kê lên vài bắn cháy mẹ nó da thịt, liệt sĩ Cù Chính Lan lao mình vào lỗ châu mai hứng đạn, thế giới đếch thèm biết tên mà chỉ biết Võ Nguyên Giáp, anh hùng, vĩ nhân Điện Biên Phủ. Vậy bạn ta muốn thay đổi vận mệnh dân tộc, muốn lật ngược thế thời hay chỉ muốn được đám tù nhân Z30 D ca ngợi?
Vũ Xuân Thông cầm tay tôi:
– Em sẽ đem tặng anh cái điếu cày em thửa ở Sơn La.

——————————–

1Bác sĩ Hoàng văn Đức, chỉ huy trưởng Trường Quân y đến 11-1963.
2Ký giả Lô Răng, Đọc Ngựa chứng trong sân trường, Tạp Ghi, báo Tiền Tuyến.
3Khi tôi về, bạn tù về sau kể rằng, thiếu tá nhảy dù Đàng, tự Đàng sứt, Cò quận 4, từ Bắc vô nam đã làm tới chức Trưởng ban trật tự K1 Z30 D.
4Nam Á, Paris, 1986.


Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 22 June, 2023

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Kỳ 8

Lời Giới Thiệu:

 Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Ngày 7 tháng 4 năm 1974:

Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1974 một hợp đoàn trực thăng đáp xuống Pleime để di chuyển hai Ðại đội 2 và 3 cùng bộ chỉ huy hành quân của tôi ra Căn Cứ Hỏa Lực 711. Tôi nhận cái căn cứ này từ một đại đội của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân bàn giao. Vì nhu cầu chiến thuật, Căn Cứ Hỏa Lực 711 ra đời vào cuối năm 1973. Ðây chỉ là một tiền đồn dã chiến được dựng lên trên miếng đất hình chữ nhật với diện tích chừng nửa mẫu tây. Cứ điểm này nằm sát lề Tây của Liên Tỉnh Lộ 6C  trên ngọn đồi tương đối bằng phẳng có cao độ 600 mét. Cứ Ðiểm 711 có bờ đất bao quanh cùng một hệ thống giao thông hào và bốn cái lô cốt ở bốn góc. Trên nóc mỗi lô cốt đều có một chòi gác lợp tranh. Ra vào chỉ có một cái cổng chính hướng Ðông sát với tỉnh lộ. Bên trái cổng là điếm canh, bên phải cổng là phòng khách cũng là phòng thuyết trình của căn cứ.

– Ngày 8 tháng 4 năm 1974:

Trưa 8 tháng 4 năm 1974 Trung tá Huỳnh Văn Lộc, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân đáp xuống Ðồn 711 thăm tôi và chuyển quyền giám sát hành quân Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân cho tôi, thay vì dưới quyền Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân. Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân trong quận lỵ Thanh-An và chốt giữ Ðèo Thanh-Bình nên liên lạc với Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân rất khó khăn vì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân lại đồn trú trong Quận Phú-Nhơn. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân là Thiếu tá Nguyễn Hoàng.

Năm 1965 khi tôi còn là một Sinh Viên Sĩ Quan khóa 20 Ðà-Lạt thì ông Nguyễn Hoàng là thầy tôi. Ngày đó ông Hoàng là Trung úy sĩ quan cán bộ Ðại đội phó Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị. Sau khi đại đội giữ Ðồn 711 rút đi thì Tiểu Ðoàn 205 chỉ còn một đại đội đóng quân trên Tỉnh Lộ 6 C cách Ngã Ba Mỹ Thạch chừng năm cây số. Tôi giao cho thành phần còn lại của Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân giữ vai trò trừ bị.

– Ngày 9 tháng 4 năm 1974: Sáng 9 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được một xe ủi đất với một sĩ quan và hai binh sĩ Công Binh tăng phái từ Sư Ðoàn 22 Bộ Binh cùng lúc với sơ đồ thiết lập một căn cứ hỏa lực mới nằm trong làng Plei Ngol Ho bên lề Ðông của tỉnh lộ và cách 711 một cái thông thủy.

Nửa giờ sau tôi tiếp nhận đoàn xe của Trung úy Danh, một Pháo đội trưởng của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh kéo theo 2 đại bác 155 ly vào tăng cường. Vì Trung úy Danh đóng chung vị trí với tôi, mà tôi lại không có tiền sát viên, nên anh Danh kiêm luôn vai trò sĩ quan hỏa yểm cho đơn vị tôi. Cũng từ hôm đó, tôi phân nhiệm cho Ðại Ðội 2 phòng thủ Ðồn 711 đồng thời duy trì một tiền đồn trên Ðồi Tử Chiến, cách 711 chừng 2 cây số về hướng Nam. Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 cùng Ðại Ðội 3 và Trung Ðội Trinh Sát 82 đóng chung với Pháo Binh và Công Binh trong Plei Ngol Ho. Công tác xây dựng Căn Cứ Plei Ngon Ho tiến hành không được suôn sẻ, vì sau khi hoàn thành hai cái ụ pháo binh thì chiếc xe ủi đất cứ bị chết máy hoài.

– Ngày 10 tháng 4 năm 1974:

Sáng ngày 10 tháng 4 tôi nghe báo cáo, toán tuần tiễu an ninh hướng Nam 711 vướng lựu đạn gài, một quân nhân bị thương. Ông sĩ quan trợ y tới trình diện tôi:

– Trình Thiếu tá, thằng lính bị thương không cho tôi băng bó, nó cứ đòi gặp Thiếu tá!

Nghe vậy, tôi liền đi theo ông trợ y ra ngoài Tỉnh Lộ 6 C nơi có năm, sáu người đứng vây quanh một cái cáng cứu thương và đang tranh nhau bàn tán xôn xao. Ðám đông tản ra cho tôi bước tới. Anh sĩ quan trợ y phân bua:

– Con cu của nó bị mảnh lựu đạn cắt đứt một khúc, nó cứ nằng nặc bắt em phải nối con cu cho nó thì nó mới cho em chùi rửa vết thương.

Vừa thấy mặt tôi, anh thương binh đã lớn tiếng la,

– Thiếu tá ơi! Thiếu tá cứu em!

– Gì thế?

Hai tay ôm khư khư một vật trước ngực, anh lính người sắc tộc Ja Rai nhìn tôi, khẩn khoản,

– Con cu của em bị đứt! Thiếu tá làm ơn nối nó lại cho em! Nếu không em chết đó!

Tôi móc túi rút bao thuốc lá Lucky ra, lột cái vỏ bằng giấy bóng bao ngoài, rồi ngồi xuống bên cạnh anh lính, từ tốn nói,

– Em mở bàn tay ra, bỏ đầu con cu vào đây, Thiếu tá sẽ viết thư cho bác sĩ nối nó lại cho em!

Tới lúc này anh chàng mới xòe bàn tay cho tôi coi, trong lòng tay anh ta là một cục thịt màu đen dài chừng bốn hay năm phân.

Anh lính Thượng run run bỏ cục thịt vào cái bao thuốc lá rồi lại khư khư ôm chặt nó.

Tôi lấy quyển sổ nhật ký của Ban Quân Y trên tay anh trợ y, xé ra một tờ, rồi ghi vội vàng một lời nhắn:

“Kính gửi Bác sĩ Trung, Bác sĩ Thiết, Bác sĩ Anh hoặc bất cứ bác sĩ nào nhận được thư này.

Tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, xin giới thiệu với bác sĩ.

Ðây là một người anh hùng đang hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương.

Xin bác sĩ hãy đặt mình vào tình trạng của anh lính này mà ra tay cứu giúp anh ta.

Xin cám ơn quý vị.

Thiếu tá Vương Mộng Long”

Sẵn có chiếc xe Doge 4×4 của đơn vị, tôi ra lệnh cho Thiếu úy Trần Văn Phước áp tải anh thương binh về bệnh viện. Phước cũng được lệnh phải trao tận tay vị bác sĩ trực ngày hôm đó lá thư nhờ vả của tôi.

Hai tháng sau ngày đó, giữa tháng 6 năm 1974, anh thương binh người Thượng Ja Rai có tên Nay On được xuất viện trở về. Trình diện tôi, On hớn hở khoe:

– Nhờ ông Thiếu tá giới thiệu với ông bác sĩ, ông bác sĩ đã khâu vá con cu cho em. Em không bị con vợ nó bỏ. Nếu em mà mất con cu thì vợ em bỏ em, em sẽ bắn vào đầu em chết ngay đó! Xuất viện, em được lệnh thuyên chuyển về tiểu khu, gác dinh tỉnh trưởng, nhưng em nhớ ơn ông Thiếu tá, em xin về lại tiểu đoàn mình! Em thương ông Thiếu tá nhiều nhiều lắm!

Cuối tháng 7 năm 1974 Binh nhất Nay On đã tử trận ngay ngày đầu chiến dịch vây hãm Pleime mở màn.

– Ngày 12 tháng 4 năm 1974:

Trưa 12 tháng 4 năm 1974 có hai chiếc xe GMC chạy tới Cứ Ðiểm 711; một xe chở thực phẩm tiếp tế cho đơn vị do Thiếu úy Nghị chỉ huy; xe thứ nhì do Thiếu úy Việt chỉ huy. Thiếu úy Phạm Ðại Việt vừa khỏi bịnh sốt rét xuất viện trở về đơn vị. Cùng đi trên chuyến xe của Thiếu úy Việt còn có 5 ông Thiếu úy Ðà-Lạt, 5 ông Chuẩn úy Ðồng-Ðế và 1 ông Chuẩn úy Thủ-Ðức tới Tiểu Ðoàn 82 để thực tập quan sát sau khi mãn khóa Rừng Núi Sình Lầy.

Vì căn cứ hỏa lực mới chưa có phòng hội, nên tôi tập họp 11 sĩ quan thực tập trong phòng thuyết trình của Ðồn 711 để phác họa cho các tân sĩ quan biết tình hình địch hiện nay đồng thời chỉ dẫn cho họ những việc cần làm trong thời gian ở đây.

Trong lúc tôi đang thao thao trên bục, trước tấm bảng đen thì đạn đại bác 105 ly của địch bất ngờ theo nhau nổ “Ùm! Ùm! Ùm!” trên căn cứ. Kẻng báo động gióng lên “Canh! Canh!” Cùng với tiếng binh sĩ kêu gọi nhau: “Xuống hố! Sẵn sàng chiến đấu!”

Trong hầm thuyết trình, tôi vẫn bình tĩnh đứng trên bục gỗ. Trong khi đó 10 ông tân sĩ quan đã nhanh nhẹn nằm rạp xuống nền đất tránh đạn, chỉ còn duy nhất trên hàng ghế đầu, một chuẩn úy mặt còn rất trẻ đang ngồi ngây người, giương to đôi mắt nhìn tôi.

Trong màn khói bụi, tôi lớn tiếng trấn an những sĩ quan đàn em,

– Bình tĩnh! Hầm này có hai lớp bao cát, xung quanh cũng có tường bao cát. Mảnh đạn pháo binh sẽ bay lên theo hình nón ngửa, không xuyên qua tường được đâu! Ðứng dậy! Ngồi lên ghế! Ðừng sợ!

Ðợt tấn công bằng pháo 105 ly của Việt Cộng chỉ kéo dài chừng năm phút, với tổng số khoảng trên, dưới 30 viên chạm nổ rơi ngay trên sân Tiền Ðồn 711.

Ðợi cho các tân sĩ quan đã yên vị, tôi mới từ tốn nói,

– Ðây là một kỷ niệm và cũng là kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc đời chinh chiến sau này của các chú.

Tôi cúi xuống vỗ vai anh chuẩn úy ngồi hàng ghế đầu, rồi đọc được cái bảng tên “LONG” của anh ta, nên buột miệng

– Chú tên là Long! Vậy chú mang họ gì?

– Trình Thiếu tá em là Hồ Văn Long, sĩ quan Thủ-Ðức.

– Anh khen ngợi chú đấy! Sau khi thực tập, nếu chú muốn về 82, anh sẽ nhận chú ngay!

Một thiếu úy Ðà-Lạt mang bảng tên là Tuân hay Tuấn rụt rè đứng lên thắc mắc,

– Em có thắc mắc là tại sao niên trưởng không phản pháo?

Tôi gật đầu cười,

– Một câu hỏi rất hay! Anh không cho phản pháo vì anh biết chắc chắn rằng, chỉ một phút sau khi bắn, địch sẽ kéo súng sang vị trí khác. Ta không nắm chắc tọa độ súng địch ở đâu, thì có phản pháo cũng chỉ bắn cầu âu, chỉ phí đạn mà thôi!

Ðợt đột kích bằng pháo binh của địch không làm ai bị thương. Tôi không ngờ đợt pháo kích vừa rồi, cũng như những đợt pháo kích nhắm vào Ðịa Phương Quân trước đây, là nhằm điều chỉnh yếu tố tác xạ cho trận đánh sau này của địch. Hết báo động, sinh hoạt trên Căn Cứ 711 trở lại bình thường.Tôi giao cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy 11 ông sĩ quan thực tập. Nhóm sĩ quan này tạm thời tá túc với đại đội chỉ huy của tiểu đoàn.

Chiều 12 tháng 4 năm 1974 một trực thăng đáp xuống 711, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 trao cho tôi một công điện mang tay, thông báo cho tôi biết rằng, từ trưa 13 tháng 4 năm 1974 Chi đoàn 3/19 Thiết Vận Xa sẽ tới tăng phái cho tôi. Kế đó, anh Khoa cũng đưa cho tôi một phóng đồ hành quân, ra lệnh cho tôi phải cấp tốc tổ chức một cuộc hành quân chớp nhoáng nhằm tảo thanh vùng rừng thưa cách Plei Xôm 4 cây số về hướng Tây. Cuộc hành quân này sẽ đi, về trong ngày, lực lượng tham dự là Chi Ðoàn 3/19 Thiết Quân Vận cùng một đại đội Biệt Ðộng Quân tùng thiết.

Trong thời gian chờ trực thăng quay trở lại, Thiếu tá Khoa nói nhỏ với tôi,

– Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!

Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, khóa 19 Võ Bị là bạn thân của tôi. Anh Khoa vừa đảm nhận chức vụ Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 được vài ngày.

– Ngày 13 tháng 4 năm 1974:

Sáng 13 tháng 4 năm 1974 Chi Ðoàn 3/19 từ Pleiku tới 711. Ðơn vị này có 18 Thiết Quân Vận M113 do Ðại úy Nguyễn Xá, Chi đoàn trưởng chỉ huy. Vì Căn Cứ Plei Ngol Ho đang trong thời gian xây dựng, xe cộ phải đậu lộ thiên, do đó Ðại úy Xá đề nghị với tôi để Chi Ðội Chỉ Huy gồm 6 chiếc M113 trên Plei Ngol Ho, số còn lại sẽ trú quân trong Ðồn 711 vì nơi đây có tường đất cao bao quanh và hầm hào đã thiết trí sẵn.Như vậy, chiều 13 tháng 4 năm 1974 trong khu vực hành quân lực lượng bạn gồm có:

Tại 711 có mặt Ðại Ðội 2/82 và 12 Thiết Vận Xa. Trên Ðồi Tử Chiến có một tiểu đội. Tại Plei Ngol Ho có Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 82, Ðại Ðội 3/82, Trung Ðội Trinh Sát 82, hai khẩu pháo 155 ly, một xe ủi đất và 6 Thiết Vận Xa M113 trong đó có chiếc xe chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá. Chiều 13 tháng 4 tôi vừa ngả lưng trên chiếc võng dưới vòm bụi tre gai thì bỗng đâu, có một con chim cu còn đỏ hỏn rơi “độp!” trên ngực tôi. Tôi lượm con chim non lên rồi thả nó vào bụi tre sau võng. Con chim non cứ run rẩy, ngoác mỏ liên tục “Chim chíp! Chim chíp!” kêu thương. Con chim đã khuất dạng trong cỏ rồi, tai tôi vẫn còn nghe tiếng “Chim chíp!” não lòng. Vài phút sau, tôi ngồi dậy tính đi một vòng kiểm soát vị trí đóng quân thì nghe sột soạt trên lá tre khô dưới chân. Rồi một con rắn đen to bằng cổ tay, dài cả thước cứ từ từ uốn mình trườn qua lưng hai chân giầy của tôi. Nhìn cái lưỡi rắn thè ra, quét qua quét lại hai bên mép nó mà tôi cảm thấy tóc gáy mình dựng ngược. Cái đầu rắn ngóc cao cả gang tay, cứ ngất nga, ngất nghểu, tôi không biết lúc nào nó sẽ mổ xuống ngay đầu gối của mình.

Tôi nín thở, ngồi im. Cả phút sau con rắn mới trườn qua chân tôi rồi biến vào bụi rậm. Tôi không tin vào những chuyện dị đoan mộng mị, nhưng chuyện vừa xảy ra cũng làm tôi suy nghĩ vì tôi thường nghe nói rằng thấy nhạn lạc, xà qui là điềm xấu, sắp gặp điều không may. Theo như các cụ ngày xưa, thì chỉ nhìn thấy chim sa, rắn lượn đã sợ rồi, vậy mà chiều nay tôi đã bị chim rơi ngay trên ngực, rắn bò ngang qua chân, nên cũng thấy lo. Tôi lo ngày mai Chi Ðoàn 319 và Ðại Ðội 282 vào vùng địch có thể gặp chuyện chẳng lành.

Ði ngang ụ pháo binh, tôi thấy mấy anh xạ thủ đang xúm vào nhau rầm rì chuyện gì đó. Tôi tới gần thì họ nhìn tôi một cách lấm lét rồi tản đi. Mãi sau này tôi mới nghe báo cáo rằng hôm đó, mấy anh lính pháo binh xuống suối múc nước đã phát giác ra một đường dây điện thoại mới căng dưới chân đồi, nhưng họ không báo cáo vì sợ phải dẫn đường cho lính Biệt Ðộng Quân đi kiểm chứng. Ði kiểm chứng mà gặp Việt-Cộng thì sẽ phải bắn nhau. Họ sợ phải bắn nhau nên không báo cáo cho tôi hay Việt-Cộng đã có mặt ở đây rồi. Nếu tôi biết được tin tức này thì tình hình trận đánh ngày hôm sau đã diễn ra khác đi nhiều. Tôi đã biết, địch thường mở các cuộc tấn công rạng đông vào khoảng 5 giờ sáng, nên hàng ngày, đúng 4 giờ tôi đã cho anh em thức dậy ngồi sẵn dưới giao thông hào chờ. Nào ngờ địch đã ra tay sớm hơn thời điểm mà tôi đã trù liệu.

– Ngày 14 tháng 4 năm 1974:

Ba giờ sáng 14 tháng 4 năm 1974 tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo rằng có tiếng động cơ xe di chuyển trong vùng hướng Nam. 3 giờ 30 từ hai hướng Tây và Nam, đại bác 105 ly, đại bác 122 ly nòng dài và hỏa tiễn AT3 của địch rơi như mưa trên 711. Không ai có thể đếm được số đạn đã được địch bắn đi, tiếng nổ chen nhau, hòa vào nhau chứ không nối tiếp nhau. Chỉ có chớp nhóa, khói, bụi tung lên, cùng tiếng “Ùng! Oành! Ùng! Oành!”

Ðợt pháo kích đầu tiên kéo dài chừng hai mươi phút. Im tiếng pháo, Ðại úy Xá báo cho tôi biết có 2 chiến xa M 113 bị cháy. Trung úy Thọ cũng cho tôi hay, y tá của Thọ chỉ cứu được một sĩ quan thiết giáp sống sót nhưng bị phỏng nặng, những người khác đều đã chết theo xe. Ông Chuẩn úy kỵ binh này tên là Nguyễn Tá đã được khiêng sang chỗ tôi để quân y băng bó. Trung úy Nguyễn Công Minh, sĩ quan Truyền Tin 82 động lòng trắc ẩn, mồi một điếu thuốc lá đầu lọc đặt lên môi anh thương binh,

– Bồ hút điếu thuốc cho quên đau!

Anh sĩ quan thiết giáp mấp máy môi,

– Em cám ơn huynh trưởng!

Hình như ông Minh và ông Tá có quen nhau?

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 9 June 2023

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Lời Giới Thiệu:

 Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 7

Trong thời gian giải lao giữa giờ họp, tôi kéo áo Trung tá Huấn giựt giựt mấy cái rồi lớn tiếng nói đùa,– Nếu Việt Cộng mà bao vây Pleime, tôi sẽ kêu ông vào cứu đó nghe!

Ông Huấn nhanh nhảu giơ tay cam kết,

– Ô kê đô! Nếu ông bị đánh, cứ hô một tiếng là tôi đem cả liên đoàn vào cứu ngay!

Thấy thế, anh Nguyễn Ngọc Di đứng gần đó cũng buồn rầu góp lời,

– Còn tôi thì chỉ trông cậy vào sự hên xui của số mạng. Chia tay lần này, không biết mai đây chúng mình có còn nhìn thấy nhau nữa hay không?

Nghe ông bạn vong niên thở than, tôi bỗng chạnh lòng an ủi anh Di,

– Anh là người nhân hậu thật thà, chắc chắn Trời Phật sẽ che chở cho anh. Ðừng lo lắng quá làm gì cho nó khổ cái thân già.

Anh Di người Huế, lớn hơn tôi gần chục tuổi; tôi và anh quen nhau từ năm 1966. Ngày đó anh Di là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 311 còn tôi là một thiếu úy chân ướt, chân ráo mới từ Ðà Nẵng vừa vào Pleiku chưa có chức vụ gì. Anh Di thường cho tôi quá giang trên chiếc Jeep của anh từ Biển Hồ đi Pleiku. Vợ anh Di là chủ một tiệm tạp hóa nằm trên đường Lê Lợi, tôi thường mua thuốc lá ở cửa hàng này. Tôi và anh Di đã trải qua gần chục năm sát cánh, chiến đấu bên nhau.

Tôi đã biết, hiện thời tiền đồn Dak Pek đang nằm heo hút tít mù xa, cách tỉnh lỵ Kon-Tum hơn 80 cây số đường chim bay, yểm trợ thì khó khăn, hạn chế, không thể cứu viện, không đường rút lui, chắc chắn không sớm thì chầy, căn cứ này cũng rơi vào tay Cộng Quân. Ðã có lần, trong một buổi họp với quân đoàn, tôi mạnh miệng đề nghị đóng cửa tiền đồn này, rút Tiểu Ðoàn 88 Biên Phòng về Kon-Tum để tiết kiệm xương máu của quân mình nhưng ý kiến của tôi không được Tư Lệnh Quân Khu chấp thuận.

Tôi móc túi lấy bao Lucky đưa cho anh Di,

– Trước ngày lên đường anh hãy hút một điếu Lucky của tôi để lấy hên!

Bạn tôi rút một điếu thuốc kẹp vào giữa hai ngón tay, rồi nhìn tôi với ánh mắt đượm buồn,

– Lần đầu tiên mình gặp nhau tháng 10 năm 1966 Long mời mình một điếu Lucky không đầu lọc. Vì “gu” của mình là Salem nên mình đã không chịu nhận điếu thuốc Long cho, vì thế mà Long đã giận mình cả tuần lễ sau mới nguôi. Kỳ này thì mình sẽ hút thuốc Long mời, biết đâu có thể đây là lần cuối cùng bạn còn nhìn thấy mình, mời mình hút thuốc.

Tôi xoè bàn tay ra để bịt miệng anh Di,

– Ðừng nói gở! Ðừng nói gở!

Quả thực tôi không biết hôm đó anh Di đã buột miệng “nói gở” hay anh Di vừa linh cảm thấy điều gì đó không tốt đẹp sắp xảy ra? Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 3 năm 1974, một chiếc trực thăng cất cánh từ Kon-Tum ghé sân Biệt Ðộng Quân Pleiku đón tôi. Trên tàu đã có sẵn hai hành khách, đó là ông Trung tá Chính, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân và ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y mới ra trường. Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hiện thời trú quân ở đồi Ba Chấm trên Kontum, Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đang bận họp hành quân nên nhờ Trung tá Chính đưa tôi vào Pleime. Ngày đầu ở tiền đồn Pleime thật là dở khóc, dở cười. Tôi đã không chịu ký vào ba xấp giấy phụ bản bàn giao chỉ vì: Trên phụ bản quân số thì có 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt khi điểm danh. Trên phụ bản tiếp liệu ghi còn tồn kho 400 bộ đồ hoa nhưng trong kho thì trống rỗng. Anh em trong đơn vị than phiền rằng cả năm nay không có quần áo mới. Khi có phái đoàn thanh tra tới thì những người áo quần rách rưới quá bị dẫn ra suối để tránh mặt. Trên phụ bản ẩm thực ghi rõ món nợ trưng dụng gần nửa triệu đồng chưa chứng minh. Mỗi khi lãnh lương thì tiểu đoàn trưởng phải ký nợ tiền ăn tháng sắp tới, vì tiền ăn tháng đó đã bị Ngân Khố trừ nợ hết rồi. Tôi đòi hỏi phải có ba phụ bản mới, trong đó Trung tá Chính phải ký tên làm chứng. Ba phụ bản đó gồm có: Bản ký nhận quân số tại hàng.

Ông cựu tiểu đoàn trưởng phải chịu trách nhiệm báo cáo vắng mặt hay báo cáo tầm nã 92 người vắng mặt ngày hôm đó. Bản danh sách xin bổ sung quân trang khẩn cấp cho tất cả quân nhân tại hàng. Trung tá Chính sẽ đem về trao cho Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân giải quyết. Bản danh sách ứng tiền ăn mới, không liên quan tới những nợ nần đã có trước của đơn vị.

Trong danh sách ứng tiền ăn này, tôi ra lệnh trừ tiền ăn tất cả mọi người, không ai được miễn trừ, kể cả tôi, tiểu đoàn trưởng. Tới kỳ nhận tiếp tế, thực phẩm sẽ được chia đồng đều, phần của ông thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng giống y như phần của anh binh nhì, không khác gì nhau.

Xưa nay, trong đơn vị này, hàng chục quân nhân thân cận tiểu đoàn trưởng và cả ông tiểu đoàn trưởng đã được ông ta cho miễn trừ tiền ăn. Những người này cuối tháng được lãnh toàn số lương, không bị trừ đồng nào, nhưng khi tiếp tế thì họ vẫn được lãnh phần như người khác. Như thế có nghĩa là những người khác đã đóng tiền để nuôi họ. Ðây là một hành động ăn cắp bỉ ổi không thể chấp nhận được. Sau khi đưa tôi đi quanh doanh trại một vòng để quan sát hệ thống bố phòng, lúc trở về, Thiếu tá Bé cho tôi biết tin rằng cái đơn xin thuyên chuyển về phục vụ nơi nguyên quán của ông ta đã được thượng cấp chấp thuận. Do đó, ông Bé xin tôi cho ông ta theo chân Trung tá Chính trên chuyến bay rời Pleime ngay sau khi bàn giao.

Trung tá Chính cũng cho tôi biết người thay chỗ cho Thiếu tá Bé sẽ là một đại úy gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, sĩ quan Võ Bị, khóa đàn em của tôi. Từ ngày thứ nhì, tôi bắt đầu hướng dẫn đơn vị tập cho quen với nếp sinh hoạt mới. Ðiều cấm kỵ nghiêm ngặt thứ nhất là lính gác tuyệt đối không được hút thuốc trong phiên trực, dù là ban ngày, hay ban đêm. Ðiều cấm kỵ thứ hai là không được uống rượu đế, rượu trắng trong doanh trại. Ðiều cấm kỵ thứ ba là không được bài bạc dưới bất cứ hình thức nào.

Trong mười năm chỉ huy, tôi đã thấy những cái chết thảm khốc, mất đồn, mất chốt, chỉ vì quân ta cứ ham mê đỏ đen, tụ tập say sưa, bù khú, lơ là canh gác, nên Ðặc Công mới chui được vào vị trí đóng quân mà đánh phá. Ngay buổi trưa ngày thứ nhì, tôi đã ra lệnh tất cả dụng cụ phục vụ các trò chơi như xóc đĩa, bài cào, tứ sắc, xập xám, và cả những bộ Domino đều bị tịch thu và thiêu hủy. Tôi thẳng thắn tuyên bố rằng, những ai thấy không thể tuân theo những luật lệ trên thì cứ trình diện tôi xin đi đơn vị khác, tôi sẽ cấp sự vụ lệnh cho đi ngay.

Hình như sự có mặt của tôi đã làm đảo lộn nhiều thói quen trong sinh hoạt hằng ngày của đơn vị này. Những nhân viên làm việc trong bộ chỉ huy tiểu đoàn, trừ ông Thiếu úy Trần Văn Phước và Thượng sĩ Nguyễn Phường của Ban 2 từng làm việc dưới quyền tôi, thì người nào cũng lộ vẻ e dè, giữ kẽ mỗi khi tôi bước vào văn phòng, hay trung tâm hành quân. Trung đội Trinh Sát 82 có khoảng gần hai chục quân nhân do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm làm trung đội trưởng và Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Sơn làm trung đội phó. Ngày tôi nhận tiểu đoàn, đầu tóc ông nào cũng dài thậm thượt, vậy mà thoáng cái, hai hôm sau, tóc ông nào cũng húi cua, ngắn như tóc tân binh. Những ngày kế đó tôi phải đích thân đi tới quan sát ba cái tiền đồn cố định, trên Chư Hô, Chư Gô và đồi Bắc Pleime. Tại đây tôi trực tiếp hướng dẫn từng chuyện phải làm cho ba ông trung đội trưởng chỉ huy tiền đồn cách báo cáo tin tức, cách bố trí canh gác cũng như cách thiết trí con đường rút chạy khi bị địch tấn công quá mạnh.

Tôi đã biết ưu điểm của các đơn vị biên phòng là thám sát và cố thủ. Nhược điểm cần khắc phục là thiếu kinh nghiệm hành quân tấn công. Thay đổi thói quen tác chiến của một đơn vị không phải là công việc dễ dàng. Từ ngày thứ tư, tôi bắt đầu huấn luyện kỹ thuật dàn quân tấn công cho các đại đội. Dự trù thời gian huấn luyện dành cho mỗi đại đội sẽ là mười ngày, mười đêm. Suốt thời gian huấn luyện này, Trung đội Trinh Sát 82 là thành phần trừ bị, sẵn sàng ứng phó với những biến cố xảy ra. Tôi dự tính, sau khi 4 đại đội tác chiến đã được huấn luyện, tôi sẽ giải tán Trung đội Trinh Sát và thay vào đó là 6 toán viễn thám, đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Trần Văn Phước.

Cũng trong thời gian này tôi nhận được một thuộc cấp cũ tới tiếp tay đó là Trung úy Trần Dân Chủ. Ông Chủ, khi còn mang lon thiếu úy, đã bị Việt Cộng bắt trong trận Ben-Het tháng 5 năm 1969.

Ông Chủ mới được trao trả tù binh cách nay vài tháng và được đưa về Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân; nghe tin tôi vừa nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 thì ông Chủ xin về làm việc với tôi.

Tôi cho Trung úy Nguyễn Trọng Thọ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn giữ chức Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/82 thay thế cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt đang nằm bệnh viện Pleiku; còn Trung úy Trần Dân Chủ sẽ thay thế Trung úy Thọ. Phụ tá cho Trung úy Chủ là một hạ sĩ quan tham mưu rất siêng năng và lanh lẹ, đó là Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn. Ðôi khi rảnh rỗi, tôi thường chỉ vẽ cho Trung úy Chủ và Trung sĩ Hoàn những nguyên tắc tham mưu binh đoàn; nhân dịp này mà Trung sĩ Hoàn có cơ hội mở mang kiến văn.

Nửa năm sau tôi đã ký tên chấp thuận cho chú Hoàn theo học Khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt. Tiếc thay, đúng thời điểm Trung sĩ Lưu Ðức Hoàn có mặt ở Tiền cứ Ban Mê Thuột để chờ nhận tờ Sự Vụ Lệnh theo học khóa Sĩ Quan Ðặc Biệt thì thành phố này bị Việt-Cộng tấn công. Vì lý do đó mà tới ngày chiến tranh chấm dứt, Biệt Ðộng Quân Lưu Ðức Hoàn vẫn còn là một trung sĩ. Rút kinh nghiệm từ các trận Lệ Minh và Bu Prang, địch thường dùng xe tank để uy hiếp tinh thần quân ta, do đó, song song với việc huấn luyện đơn vị tôi phải đích thân đi thám sát những đường tiến sát mà xe tank địch có thể sử dụng để uy hiếp Pleime.

Kế đó, một khóa huấn luyện cấp tốc được tổ chức ngay trong sân cờ. Huấn luyện viên là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, học viên là năm sĩ quan Ðại đội trưởng, Trưởng ban 2, Trưởng ban 3, Trung đội trưởng Trinh Sát, và Trung đội trưởng Pháo Binh Biên Phòng.

Tôi đã đích thân hướng dẫn thật chi tiết cho từng người nắm vững thứ tự công việc phải làm và từng động tác phải làm để gài một quả mìn.Tôi nhấn mạnh công tác ngụy trang một quả mìn một cách thật tỉ mỉ, vì đây mới là mục đích sau cùng của bài học. Bí quyết ngụy trang này chỉ là một mẹo vặt rất dễ thi hành, nhưng ít ai nghĩ tới. Có thể Viễn Thám của Phòng 2/Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 là đơn vị độc nhất của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã áp dụng bí quyết đó một cách hiệu quả trong suốt thời gian tôi giữ chức vụ chỉ huy đơn vị này.

Muốn nguỵ trang một hố mìn, ta phải làm đúng theo thứ tự sau: Gắn ngòi nổ xong thì ta phủ một lớp đất mỏng che mặt quả mìn. Ðặt một cục đá dẹp lên trên quả mìn. Kế đó, để một lưỡi xẻng hay một miếng kim loại rỉ sét lên trên cục đá. Lấp một lớp đất mỏng lên trên lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Xóa dấu vết toàn khu vực trước khi rời đi. Máy rà mìn của địch sẽ reo khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng hay miếng kim loại. Vì thấy dưới miếng kim loại chỉ có cục đá nên chắc chắn chúng sẽ ơ hờ, bỏ qua. Chúng đâu ngờ dưới cục đá còn có quả mìn!…Máy dò của Việt-Cộng đi trước, tank của Việt-Cộng bò theo sau, bánh xích xe tank sẽ cán lên cục đá, thế là … “Ùm!”

Ðể tránh sự nghi ngờ của địch, ta phải đặt mìn với khoảng cách khá xa nhau, và đặt với vị trí dích dắc… Ngay hôm sau ngày huấn luyện, đoạn đường xe be dốc Tây suối Ia Mê, đã có bốn quả mìn chống chiến xa được an bài.

o O o

Cứ Ðiểm 711 tháng 4 năm 1974: Một chống lại mười. Trong địa phận Pleiku thì tôi biết rõ ràng rằng, mục tiêu của địch sẽ là một trong ba trọng điểm: Quận lỵ Thanh-An, Quận lỵ Phú-Nhơn và Căn Cứ Biên Phòng Pleime. Hiện thời, đại quân của Cộng-Sản đang tập trung trong thung lũng Ia Drang.Vì thế, nếu đánh Thanh-An địch sẽ sử dụng Quốc lộ 19 còn đánh Phú-Nhơn hay Pleime thì chúng phải chuyển quân theo con đường vừa được phát quang. Thời gian này Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã vinh thăng Trung tướng. Một tuần lễ sau khi vào Pleime, tôi bị gọi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh nhận nhiệm vụ đem quân ra Căn Cứ Hỏa Lực 711 để xây dựng một căn cứ hỏa lực mới rộng lớn hơn. Căn Cứ 711 hiện thời sẽ bị phá đi.

Tướng Toàn cho tôi biết trong thời gian sắp tới, địch sẽ tung quân cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian để Trung Ðoàn 470 Vận Tải của chúng có thể dùng cơ giới thi hành một chuyến tiếp tế quân lương cho lực lượng Cộng Sản dưới duyên hải. Nhiệm vụ của tôi là cố gắng phát giác và cầm chân, không cho đoàn xe của địch vượt qua sông Ia Tur. Lệnh của quân đoàn đưa ra thật gấp gáp, tôi chỉ kịp tập họp Trung đội Trinh Sát và hai Ðại đội 2 và 3 rồi chuẩn bị lên đường. Ông tân Tiểu đoàn phó là Ðại úy Quách Cơ Bình mới thấy tên trên công điện thông báo, nhưng chưa đáo nhậm, do đó Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng Pháo Binh Pleime đương nhiên trở thành người chỉ huy phòng thủ căn cứ biên phòng này trong thời gian tôi dẫn quân xuất trại. Ðại đội 4 canh gác trại và giữ ba cái tiền đồn; Ðại đội 1 đóng trụ tại vùng 4 cây số Bắc Pleime.

Tiếp theo đây là diễn tiến trận đánh lịch sử đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku vào tháng 4 năm 1974.

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 6

– Này, bé con. Cho mày hay chơi với bọn con nít xóm này mà mày nói như vừa rồi là chắc chắn tụi nó xúm lại lột quần mày treo lên trụ đèn chơi. Mày sẽ ở truồng chạy về nhà chắc! 
Hai anh em chia bài chơi và khoái trá vì Job ngồi bên xem bộ hoảng. Đột nhiên nó bảo: 
– Rồi! Nhưng hai đứa mày tội lỗi, sắp xuống hỏa ngục đó. 
Chúng lờ đi để chú tâm vào mấy cây bài thì Job dọa thêm: 
– Cho tụi mày hay. Cha tao nói ngày tận thế gần đến rồi nghe? 
Hai anh em Vincenzo nghỉ ngơi một phút. Ông Coluci là người dễ nể lắm mà? Thằng Job bèn cho biết: 
– Tụi mày biết không … trái đất tận thế vì loài người xấu xa quá bị Chúa trừng phạt. Như tụi mày cờ bạc, chửi thề đó. Nếu ai cũng làm điều thiện như lời cha tao dạy mà tao vừa nói đó thì đâu có tai họa.
Thằng Gino nhăn mặt. Mới năm ngoái đây nó chịu lễ Thêm sức, dì phước dạy Kinh Thánh đâu có nói vậy kìa? Bèn chất vấn: 
– Chừng nào tận thế? 
– Sắp rồi … 
– Đồng ý sắp! Nhưng “sắp” bao giờ chứ? 
Tuy vặn hỏi Job vậy nhưng giọng thằng Gino còn từ tốn chán. 
– Tụi mày biết không, ngày đó lửa cháy, nước dâng ngập thế gian sấm chớp dậy lên. Địa cầu phát nổ tiêu hết, hồng thủy dâng lên cuốn loài người sống ngay lành mới khỏi nạn. Chừng đó Chúa mới hết giận và Chúa sẽ thương yêu con cái như xưa. 
Cái điệu trả lời vòng vo này Gino không chịu. Nó chỉ muốn biết vắn tắt, đúng boong … nên cật vấn nữa: 
– Biết thế, nhưng tao hỏi chừng nào? 
– Hai chục năm nữa. 
Thằng Gino móc túi đếm tiền bảo Vincenzo “Bàn này tao đặt một cắc nghe?”. Thằng anh gật đầu làm bài. Gino thua.
Tưởng sắp rồi “chứ hai chục năm nữa thì còn quá lâu”. Nó nghĩ vậy. Hai mươi năm thì biết bao nhiêu chuyện! Thua cây bài cay, nó móc thằng Job: 
– Không chừng tao đổi tên, cóc lo cái nạn tận thế. 
Hai anh em nháy nhó nhau. Lúc bấy giờ Job mới nổi giận: 
– Tên tao là tên ông Thánh Job trong sách Kinh nghe tụi mày? Thánh là một đệ tử của Đức Thánh Cha và có đức tin mạnh hơn ai hết sau bao nhiêu thử thách Đức Thánh Cha đặt ra. Các con chết, vợ bỏ, chính mình mù lòa … Đức Thánh Cha sai quỷ dữ tới thử hỏi: “Bị đau khổ vậy người còn tin hay hết?”. Ông Thánh Job bảo rằng: “Chúa cho thì Chúa lấy lại. Ta vẫn thờ kính Chúa!”. 
Vincenzo theo dõi câu chuyện, nhìn Job đăm đăm nhưng thằng Gino tức lắm. Nó vặn lại: 
– Có thật ông ấy nói thế? Biết đâu ông Thánh cũng sợ chết nên phải nói vậy? 
– Ủa sao không thực? Thánh Job thực tâm tin kính Chúa nên sau đó mới được ân sủng của Đức Thánh Cha như thế chứ? Cha tao bảo ông Thánh Job đúng là thánh dòng người Báp Tít. Người Báp Tít được cứu rỗi và chống lại là sa hỏa ngục cả triệu năm. Tao nói thật đó. Tụi mày chớ cờ bạc, chửi thề nữa … 
Vừa khuyến cáo xong, Job trố mắt nhìn. Còn con nít, lại chưa thấy bao giơ nên chợt thấy Gino hai bàn tay làm bài, đan qua đan lại khéo quá, đều tăm tắp, nó không khỏi thán phục. Thấy mê quá đi! 
Gino liếc nhìn biết ý ngay. “Mày muốn xạc thử không?”. Nó mau mắn dúi cỗ bài tận tay Job. Cái thằng làm vụng quá, có mấy cây bài mà cũng rớt lung tung! Lượm bài lên làm lại mấy lần, chăm chú lắm, cẩn thận lắm nhưng vẫn không hơn. 
Hai tay Job đang “làm bài” bỗng có bóng ai nhìn xuống. Chúng ngửng lên. Ra bà Coluci nãy giờ vẫn đứng ngoài hành lang chúng không hay. Anh em thằng Vincenzo nhìn sững vì chúng thấy bà khách đẹp quá. Bà không lên tiếng mà chỉ lạnh lùng nhướng mày nhìn thằng con từ đầu xuống chân, từ chân lên đầu mấy lần. 
Thằng Job hốt hoảng, ấp úng: 
– Mẹ, con đâu có đánh bài mẹ? Gino đưa bài để con thử làm bắt chước nó mà! Nãy giờ con chỉ ngồi ngoài xem … 
Gino xác nhận: 
– Thưa bà Job không đánh bài thật. Nó ngồi ngoài xem chứ không nói dối đâu ạ. Cháu có rủ chơi nhưng Job nhất định không. 
– Cái đó bác biết, Job không dám nói dối bác bao giờ, nhưng cầm vào cỗ bài cũng không được . Nó sẽ quen đi. Cha nó biết vụ này chắc buồn lắm. 
Gino cười tin tưởng: 
– Dạ bà không nói, ông đâu biết? 
– Đúng tôi không nói, nhưng chắc chắn Job sẽ nói. 
Thằng Gino nhìn Job, không hiểu sao lại kỳ vậy. Bà khách giải thích: 
– Vì cha nó là chủ gia đình như Chúa ngự trị muôn loài vậy. Có ai dám giấu Chúa, Gino? 
Gino lẳng lặng nhìn bà Coluci, tin tưởng lắm. Tự nhiên Vincenzo thấy bực, hai tay cáu kỉnh xào bài. Nó bực thằng em cóc biết gì về những người làm ra vẻ thương yêu người khác, cố tình trình diễn những cử chỉ tốt để “hù” thiên hạ. 
Nó thấy, nó biết. Chẳng hạn như con mẹ Coluci, ăn nói tử tế như vậy nhưng lúc nãy nó chợt thấy mụ nhìn chúng chơi bài mà nhăn mặt làm bộ kinh tởm lắm lắm. Làm như mụ bắt được quả tang chúng đang làm một cái gì điếm nhục không thể tưởng tượng được kìa! Vincenzo bèn chia bài ra hối em: “Chuyện gì bỏ đi mày! Chơi ít ván đã?”. 
Thằng Gino đâu đã biết gì? Nó xem ra vẫn thắc mắc về vụ thằng Job nên làm tài khôn! 
– Mày đâu phải nói cho ông già hay làm chi? Mày không nói mẹ mày cũng không nói thì ông già mày đâu biết? Thưa bà có phải vậy không ạ? 
Hai mẹ con Job cùng không trả lời. Gino đâu biết là mụ quá kinh tởm và thằng con thì đang sợ đến phát khóc? Nên nó ngạc nhiên quá bèn đưa thử giải pháp: 
– Thôi được, để tao vào nói với ông Coluci rằng mày không đánh bài vậy. Chính tao cầm bộ bài nhét vào tay mày được không? Sự thực là vậy, để vào nói nghe? Phải không Vincenzo? 
Bà Coluci chặn nó lại: 
– Thôi, chào các cháu. Để Job nói. Bao giờ ông nhà tôi chẳng tin bằng lời bất cứ điều gì con nói? Kìa Job, sao không chào các bạn đi? 
Job không nói lẳng lặng theo mẹ đi vào nhà. Còn hai anh em nhưng hết hứng chơi bài! Gino ra mở cửa sổ trèo lên ngồi. Vincenzo chiếm cửa sổ bên kia để nhìn xuống như thường lệ. 
Cả khu nhà ga tối thui trơ trọi ánh đèn pha của một chiếc đầu máy nào đó đang chạy tuy không thấy dạng nhưng vẫn nghe tiếng bánh xe nghiến trên đường ray. Mặt sông Hudson đen thẳm dưới ánh trăng thu mờ nhạt, xa xa là dãy bờ biển mấp mô cồn đá. Đại lộ số 10 giờ này cũng tối thui, vắng ngắt. Tháng mười trời lạnh quá rồi, ngồi tụ họp nói chuyện chơi sao nổi? 
Chỉ có khoảng góc đường 31 là còn ánh đèn và còn có bóng mấy cậu nhỏ chạy chơi quanh. 
Phía dưới đường không phải cha chúng nó đang đưa vợ chồng ông Coluci về nhà là gì kia? Chắc họ tới đại lộ 9 đợi xe điện. Lát sau thấy bóng ông ta trở về, đi ngang chỗ đèn sáng góc đường còn dừng lại nhìn chứ? Mãi sau mới chịu lò mò về. 
Vincenzo, Gino cùng tụt xuống lo đi ngủ. Phải hạ cái giường xuống, trải chăn nệm đàng hoàng. Vincenzo lấy bộ pyjama ra mặc súng sính và thằng Gino nhìn nó nói: 
– Thằng Job này xem bộ hiền lành đấy chứ? Nó mà ở xóm mình chắc chắn sẽ bị chúng hành hạ đau khổ. 
Coluci đâu phải hạng người nói suông, nói để đấy? Ngay tuần sau Frank Corbo đã được hãng kẹo Runkel gọi đi làm liền. Tối đầu tiên đi làm về, bọn con nít khoái quá, người bố, quần áo bố toàn mùi ca cao không! 
Vậy là chắc chắn sẽ có sôcôla đớp bằng thích. Mấy ngày sau hôm nào Frank Corbo chẳng đưa về một tảng sôcôla bự? Xù xì như cục đá nhưng là thứ nguyên chất, mấy thanh sôcôla mua ngoài tiệm đâu có ngon bằng? 
Bao giờ hắn cũng đưa cho thằng Gino chia. Nó lấy con dao hì hục chặt làm đôi để đưa cho Vincenzo một miếng. Sau đó tụi chúng mới lãnh chia lại cho Sal và bé Lena. Đối với Gino thì công tác chia sôcôla này thật là khoái. Nó nghĩ chắc chỗ hãng bố nó làm sôcôla phải là một núi, muốn lấy về cho tụi nó chỉ việc lấy búa bửa ra một cục! 
Hồi đó Frank Corbo đã quyết định theo đạo Tin lành, tính làm lễ Rửa tội nhằm mùa Phục sinh. Tối nào hắn chẳng chịu khó mò đến nhà vợ chồng Coluci học chữ, sau đó sang nhà thờ xem lễ và học nữa? Đôi lúc hắn còn bắt Gino lấy Kinh thánh đọc cho nghe nhưng thằng nhỏ cằn nhằn quá! Một là vì nó đọc sách đâu đã thạo? Hai là nó chán đọc những chuyện vớ vẩn, nhất là những đoạn khoái chí của ông ta nói về vụ Chúa sẽ giận dữ trừng phạt loài người, đẩy tuốt xuống hỏa ngục. 
Vì thế mỗi lần phải đọc là Gino giở giọng ê a, chán ngấy làm Frank Corbo nghe chỉ tức thêm. Có bữa hắn mỉm cười mắng yêu thằng con: “Quân súc sinh! Bộ mày không chịu tin nơi Đức Chúa? Mày sợ chết phải sa hỏa ngục hả?” 
Nghe bố mắng Gino bối rối một lát, rồi mới cãi lại: “Đâu có … ba? Con có Rửa tội và chịu lễ Thêm sức đàng hoàng mà?”. Frank Corbo nhún vai nhìn nó. Không nói gì nhưng từ đó hết bắt nó đọc sách kinh. 
Hai tháng trôi qua êm đẹp, mà không hề có chuyện lộn xộn cãi vã. Cho đến khi mụ Lucia Santa lên tiếng gây. Có gì đâu, Frank hồi này được lắm. Có việc làm, ăn ở đứng đắn, tử tế và vẫn kín tiếng. Mụ vợ muốn hắn phải “khá” hơn nữa kìa! Tại sao hắn cứ vắng nhà luôn, chẳng chịu ở nhà trông nom con cái mà cũng không thèm đưa vợ đến thăm bà con? Làm như hắn biết thế nào mụ cũng gây, có ý chờ đợi xem mụ làm gì được vậy. 
Sau một hồi cãi cọ hắn giáng cho mụ một cái bạt tai. Lucia la chói lói, kêu khóc ầm ĩ. Con Octavia còn bênh mẹ, đưa con dao nhà bếp lên hăm. Đại khái thì lại vẫn như hồi trước Frank Corbo tức tối bỏ đi và sáng mai lại bò về.
Nhưng sau đó hắn cũng có tiến bộ chứ? Hắn đi nhà thờ hẳn, nhiều hôm ở sở ra đi về thẳng nhà vào giường nằm ngủ, cơm tối cũng bỏ luôn! Song hắn đâu có ngủ? Hắn nằm dài ra giường, ngửa mặt nhìn trần nhà, khỏi nói với ai. Mụ Lucia Santa bưng cơm vào thì bữa hắn ăn, bữa hắn vứt đi, văng tung tóe đầy giường nệm. Thay “ra” trải giường hắn cũng không cho mới lạ! 

Photo edit by Sơn râu

Thường thường Frank ngủ ít, gần nửa đêm hay trở dậy than thở, bực dọc, kêu nhức đầu như búa bổ thì lập tức mụ vợ lấy dầu ra thoa bóp hai bên thái dương. Vậy mà sáng mai vẫn dậy đi làm đều đặn, khỏi chịu mất một buổi. 
Phải nói là những cơn đau đầu nửa đêm Frank làm thấy ghê quá! Hắn kêu la, rên rỉ làm cả nhà sợ, bé Lena cũng vùng thức giấc. Ở nhà ngoài ba thằng Vincenzo, Gino và Sal cũng mất ngủ, ngồi nhỏm cả dậy. Hai đứa lớn còn đỡ chứ thằng Sal sợ đến phát run. 
Dĩ nhiên Octavia cũng biết. Nàng nằm lì ở phòng riêng, cằn nhằn không hiểu sao “Chồng con như vậy mà bà ấy chịu nổi”. Mình thằng Larry thoát nạn. Nó đi làm ca đêm có ngủ nhà bao giờ? 
Frank càng ngày càng tệ . Khi không nửa đêm vùng dậy chửi vợ ầm ầm, chửi ào ào như … đọc kinh vậy. Đêm khuya đèn đuốc tắt hết thì đột nhiên hắn la lối, chửi bới ầm nhà. Những danh từ tục tĩu nhất, tồi tệ nhất để hạ nhục một người đàn bà đều được hắn xài thả ga. Nào đồ đĩ điếm, quân đàn bà trâu chó, bẩn thỉu, tồi bại, súc vật, thứ đàn bà trắng trợn không biết nhục. Chửi bới chán là rên rỉ, khóc lóc và cuối cùng hắn mang cả Chúa ra để xin cứu rỗi! 
Mỗi màn bi kịch đều làm cả nhà mất ngủ, nhưng còn biết làm gì hơn là chống mắt chờ, không hiểu hắn còn làm những gì nữa? Sau đó mới thấy tiếng mụ Lucia Santa năn nỉ, van lơn “Mình khe khẽ cho tụi nó ngủ với chứ ?”. Thế rồi mùi dầu thoa bóp xông lên ngạt mũi. 
Có lần Octavia phải bảo mẹ: “Xem, sao không đưa ông ấy vào bệnh viện cho rồi”, nhưng mụ Lucia gạt phắt. Nửa đêm mất ngủ mất sức, bực bội tới phát khùng lên, nàng la lối phản đối còn bị mẹ tát tai nên Octavia đành áp dụng chiến thuật khác. Phòng bên ông cha ghẻ la lối chán rồi rên rỉ “Chúa ơi” thì bên này Octavia cũng “Chúa ơi” in hệt. Hắn nổi sùng giở tiếng mẹ đẻ và lựa những tiếng thô bỉ nhất để gầm lên thì những tiếng thét nháy lại của Octavia cũng in hệt và còn kinh khủng hơn nữa. 
Thấy nhà có chuyện ầm ĩ dĩ nhiên thằng Sal và bé Lena cũng òa lên khóc và ở phòng ngoài Vincenzo, Gino cũng đâm hoảng ngồi bật dậy chờ. Mụ Lucia phải chạy sang phòng con gái đập cửa đùng đùng, hết nạt nộ đến năn nỉ nhưng Octavia đã nổi khùng lên sức mấy chịu im. Rốt cuộc ông cha ghẻ bao giờ cũng phải dừng trước mới chấm dứt được màn khủng hoảng. 
Sau một đêm “khẩu chiến” sáng hôm sau Frank Corbo nằm lì trong phòng, bỏ buổi làm. Mụ vợ không dám hối mà lo đuổi đám con nít đi học hết rồi tự tay mang đồ ăn sáng vào. 
Hắn nằm cứng như khúc cây, mắt lơ láo nhìn. Chừng Lucia lay gọi mới thều thào “trối trăn” đại khái “Tôi chắc chết quá. Có chôn cho xin bộ quần áo che thân và đôi giày của tôi nhớ đặt dưới chân. Chúa kêu tới rồi…” 
Hoảng quá Lucia Santa nắm tay bóp chân cho hắn. Chân tay Frank ngay đơ, lạnh như tiền, nhưng miệng luôn luôn cầu Chúa, van xin tha tội. Mụ phải nắm chặt tay nài nỉ: “Frank, mình đau nặng đấy, tôi đi kêu bác sĩ nghe?” 
Đang nằm im bặt thấy tiếng “bác sĩ” tự nhiên hắn bực bội hất tay vợ ra, dọa rằng “Thằng nào tới xem bệnh là tôi nắm đầu nó liệng qua cửa sổ!”. Giọng Frank vẫn thều thào đúng điệu sắp chết, nhưng mụ Lucia Santa lại vững bụng. Vì nổi nóng nên cặp mắt hắn bỗng hết lờ đờ mà thoáng lấp lánh hung quang, tay chân cũng ấm áp hẳn. 
Có tiếng chân lên thang gác và bước vào nhà. Thằng Larry đi làm đêm về. Mụ gọi vọng ra: 
– Lorenzo hả? Vào đây xem cha mày làm sao đây này? Người đâu kỳ cục, đau mà nhất định không cho kêu bác sĩ. Mày thử nói xem. 
Vừa ló đầu vào thấy bộ dạng của ông cha ghẻ Larry giật bắn mình. Mới đây mà sao thất sắc, gầy rạc ghê gớm vậy? Đúng là nét hốc hác của thằng cuồng trí. Nó thử dỗ ngọt: 
– Ủa, sao bố không cho mẹ kêu bác sĩ? Bệnh nặng là phải kêu, chết rồi cũng còn phải kêu mà bố? Bằng không dám có chuyện phiền phức, rồi thiên hạ lại đặt điều “bố chết mờ ám, dám bị đầu độc lắm!”. Bố thấy không, có chết cũng còn phải làm giấy khai tử chứ bộ? 
Larry nhìn tận mặt cha ghẻ mỉm cười. Hắn giương mắt nhìn, ý muốn nói cần gì phải bày đặt vô lý vậy nhưng chỉ ấp úng vắn tắt cho qua: “Khỏi bác sĩ. Để tao nằm nghỉ chút”, rồi nhắm mắt lại. 
Mụ Lucia Santa kéo thằng con lớn đi ra. Hai mẹ con đi tuốt về phía nhà bếp. Mụ thì thào bảo: 
– Bây giờ mi tới hãng kẹo kêu ngay ông Coluci tới nhà cho tao nghe? Chỉ có một mình ông ta là khuyên nổi Frank. Mi tới liền đi, vì tối qua hắn làm thấy ghê quá! 
Đi làm đêm về mệt, chỉ mong về tới nhà là nằm lăn ra ngủ nhưng thấy bà mẹ sáng nay xem bộ khổ sở, bấn loạn thật tình Larry không nỡ từ chối. Xưa nay bà ấy có thèm nhờ vả ai, có luống cuống bao giờ vậy mà nói có mấy câu đã muốn khóc thì phải hiểu là bối rối lắm. 
Mấy cái vụ “tình cảm cá nhân” lộn xộn này Larry xưa nay không ưa. Dính vào chỉ mệt, dù là chuyện của mẹ nó. Nó bèn vỗ vai mẹ trấn an: 
– Được rồi . Để con tới ông Coluci liền cho mẹ! 
Dù chỉ làm công việc văn phòng nhưng có phải ông Coluci muốn bỏ sở lúc nào cũng được? Phải đợi đến năm giờ chiều ông ta mới đến thăm Frank Corbo. Cùng đi còn có ba ông bạn thợ người ngợm, quần áo sực mùi sôcôla. 
Lúc họ vào phòng thì Frank đang nằm lì bất động. Bốn người chia nhau đến vây quanh giường thăm hỏi, như đệ tử vấn an ông thầy vậy! Coluci cất tiếng dịu dàng: 
– Kìa Frank, sao bạn nghĩ vậy thế? Có gì đâu mà chết và chết thì bỏ vợ con lại ai nuôi. Bạn nói Chúa kêu nhưng sự thực đâu phải? Bạn còn cần phải ở lại. Bạn còn quá nhiều việc chưa làm xong cho đúng ý Chúa, thì đời nào Chúa đã vội kêu? Chưa đến lúc đâu! Hãy cứ nghe lời tôi là người rất yêu thương bạn thử xem nào? 
Nghe Coluci an ủi người bệnh, ba ông bạn đang đứng vây quanh bèn “Amen” một loạt. Ông ta bèn đi thẳng vào đề: 
– Bạn nghĩ sao. Nếu bạn đau đầu chúng tôi đi kêu bác sĩ liền? Tụi tôi đi kêu bác sĩ nghe? 
“Người bệnh” Frank Corbo nghe tiếng “bác sĩ” bèn nhích vai gượng ngồi dậy. Giọng hắn khỏe mạnh, sáng suốt lắm chứ? Hắn bảo: 
– Bác sĩ cái gì kìa? Ông chẳng từng bảo tôi: “Bác sĩ mà làm gì – chính Chúa quyết định hết. Là con cái chúng ta chỉ có tuân theo đó sao?”. Bây giờ chính ông lại đi nói ngược. Ông là đồ ngược ngạo đồ Juđa phản bội! 
Hắn đưa tay chỉ mặt Coluci, ngón tay thiếu điều đụng vào mắt làm ông ta kinh ngạc lùi lại. Nhưng sau đó vẫn ngồi ghé xuống giường bệnh, cầm tay “bệnh nhân” Frank Corbo coi bộ thân yêu lắm. Coluci giải thích rằng: 
– Bạn hãy nghe tôi nói đã, Frank! Đúng tôi đã nói như vậy và tôi có tin tưởng như vậy thật. Nhưng thấy hoàn cảnh vợ con bạn, tôi không cầm lòng nổi. Đức tin của chính tôi cũng lay chuyển. Thực ra tôi đâu có thể khư khư giữ lấy lòng tin để mặc cho tàn tạ, phải không? Tôi biết bạn mắc chứng đau đầu, bạn chịu đựng đau khổ nhiều thứ. Nhưng Frank này, bạn nói bạn sắp chết và Chúa đã cho gọi đến bạn là bạn nói tầm bậy nghe. Bạn còn phải chấp nhận đau khổ nữa, cho đến ngày tận thế. Lúc đó bạn mới thực sự được Chúa kêu … 
Bây giờ bạn phải lo sống đã. Tối nay ráng lại nhà tôi đi. Chúng tã sẽ cùng sang Thánh Đường, cùng nhau quỳ xuống cầu nguyện cho sự giải thoát của chính bạn. Bạn dậy đi, cố đi …
Coluci nói có vậy mà Frank Corbo khóc. Mấy người kia bèn cúi đầu nhưng cặp mắt Coluci vẫn nhìn chòng chọc người bệnh. Ngay sau đó Frank nói: “Tôi ngồi dậy đây. Tôi cố …” và lấy tay ra hiệu mời khách ra để hắn thay đồ. 
Cả bốn người cùng lục đục theo Coluci đi ra, đi sang nhà bếp ngồi uống cà phê mà Lucia Santa vừa pha xong rót ra. 
Coluci ngồi trầm ngâm nhìn sững mặt bàn, coi bộ mắc suy tư dữ . Hoạt cảnh vừa rồi là một thử thách mà Chúa có ý đặt ra cho con cái người sao? Lại có thể có người thành tâm tin tưởng đến chấp nhận nằm một chỗ chờ chết sao? 
Sau đó Coluci tới bên Lucia Santa, tay đặt trên vai mụ: 
– Cỡ chín giờ tối nay ông nhà sẽ về. Bà cứ cho mời bác sĩ, đừng sợ. Tôi sẽ đưa về và sẽ ở lại đây mà. Xin cứ trọn tin nơi tôi. Chúng tôi là bạn tốt của Frank Corbo, chúng tôi sẽ cầu nguyện cho bạn, khỏi bệnh và linh hồn cũng được thanh thản.


Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 5

Buổi sáng cuối tháng tám nắng chói chang, mụ Lucia Santa bế con nhỏ Lena đứng cửa sổ phòng khách nhìn xuống đường, người xe qua lại rộn rịp. Ngay phía dưới gã bán rau ngẩng lên rao hàng. “Ai mua khoai, mua chuối, mua rau dền ra mua. Rẻ lắm, rẻ lắm”. Xe rau của gã chia ô, chia ngăn đầy những rau trái xanh đỏ vàng nâu, đứng trên trông xuống như tấm họa con nít bôi màu vậy. 
Bên kia trong vòng thành ga xe lửa có một đám đông người lớn con nít bu xem. Mụ Lucia không thể không nhìn. Nhưng yên trí ở chỗ đỡ lo ngại cho thằng Lorenzo. Nó đi làm đêm về đang nằm ngủ yên lành trong kia. Bằng không thì chỉ lo ngại cho nó mà nhiều lúc rụng rời người. 
Trên nóc toa xe có một thằng nhỏ đang đứng nhìn xuống. Rồi nó chạy xem bộ cuống quít quá, nó mặc chiếc sơ mi xanh có sọc trắng trước ngực thế kia thì đúng là thằng Gino nhà này rồi! Nhưng nó làm gì trên đó và kẹt cái gì thế kia? Mấy toa xe đậu y chỗ, không đầu máy khỏi lo tai nạn. 
Lucia Santa rõ ràng có cảm giác bất an như bất cứ một bà mẹ nào ngấm ngầm giám thị mấy đứa con chơi đùa … mà không cho chúng nhìn thấy. Đại khái như sự tích Thượng đế trên trời nhìn xuống đám con cái người, những đứa con lo ăn quá mập nên ngẩng lên nhìn trời không nổi! 
Nhưng mụ hiểu ngay lập tức, khi thoáng thấy bóng một gã cảnh sát gác nhà ga xuất hiện. Gã thong thả trèo lên thang và như vậy là trên nóc toa xe nãy giờ thằng Gino lâm nguy. 
Nhanh như điện, mụ chạy vào phòng kêu thằng anh: “Lorenzo … dậy mau, dậy mau! Có chuyện gấp …” Mụ lay người nó rầm rầm và cuống quít rõ làm thằng Larry tỉnh ngủ hẳn. Đang mặc quần áo lót nó vội vàng đứng dậy, người ngợm chân tay lông lá nhìn đến khiếp. Với người ngoài thì tục tĩu nhưng mẹ con thì xá gì! 
Mặt nó láng nhẫy những mồ hôi, xem mệt mỏi quá nhưng mẹ gọi thì Larry vẫn hùng hục chạy theo ra cửa sổ nhìn xuống xem có cái gì. Đúng lúc đó trên nóc toa xe thằng Gino phóng đại xuống. Mụ Lucia la thất thanh
Thằng Gino chạy đâu khỏi? Chạy thằng cha trèo lên bắt thì đụng ngay gã hờm sẵn ở dưới nắm đầu . Gã nắm cứng hết sảy. 
Larry cằn nhằn: “Bảo mẹ bao nhiêu lần rồi … cấm triệt không cho nó vào ăn cắp nước đá! Vậy mà …” 
Nói thế nó vẫn ào vào phòng tắm, vớ chiếc quần Jean và chiếc áo thụng xỏ vội vào, hối hả bay xuống thang gác. Nó xuống tới cửa nhà, mụ Lucia còn thò cổ ra ngoài cửa sổ hối: “Lorenzo … nhanh lên … không chúng giết thằng nhỏ bây giờ!”. Đó là lúc mà mụ thấy tận mắt một sếp vừa giáng cho thằng Gino một cái bạt tai . Xem, hình như cả bọn chúng đang đi về ngả căn chòi của lão bẻ ghi. 
Larry chạy vọt theo, đuổi kịp và giật thằng Gino lại. Có thế chứ? Mụ quên phắt ngay nó vừa hỗn láo ở nhà vợ chồng Cinglata cũng như mấy tuần nay nó làm buồn không ít. Ít ra nó cũng phải cho thấy là chẳng gì bằng tình ruột thịt, máu mủ. Đúng vậy so với tình nghĩa gia đình thì tổ quốc tôn giáo hay vợ con tiền bạc cũng phải thua vì “anh em như thể chân tay” mà. Lucia Santa bỗng có cảm giác là thằng Larry cố tình làm vậy để cho mẹ hài lòng, mẹ bỏ qua tội lỗi. Mụ hài lòng chứ? 
Sự thực bữa nay Larry làm xem xăng xái, dám liều luôn cả tính mạng vì lâu nay nó nặng những mặc cảm phạm tội. Cáu giận, nhục nhã … nhưng trong gia đình nó có lỗi nhiều hơn vì dám cưỡng lời mẹ, xô đẩy mẹ nghĩa là chẳng xem mẹ ra gì trước mặt những người xa lạ. Nhất là những người đó lại lợi dụng nó rồi … mời đi chỗ khác chơi. Có khác nào một thằng con nít để người ta sai phái chán rồi xua đuổi tùy thích? Một người như nó đâu có thể bị đời bạc đãi vậy? Phải chi vụ mẹ con đụng độ ở bên nhà Cinglata giản dị là bà mẹ lỡ trượt chân té và nó đưa tay ra đỡ thì hay biết mấy. Không, sự thực làm Larry đỏ mặt. Kể như một phản ứng tất nhiên đi. Thấy thằng em bị nạn, mẹ chạy ào đến cầu cứu thì bổn phận nó là phải giải thoát . Nó bèn giật lại thằng bé với cảm giác là thế nào mẹ cũng phải nhìn thấy. 
Thằng Gino khóc lóc … nhưng chẳng phải vì sợ hãi, đau đớn. Cho đến phút chót nó vẫn yên chí là thoát dễ như chơi mà? Đến phóng từ nóc toa xe xuống mặt đất đầy những đá cứng như vậy mà nó cũng khỏi sợ và sự thực có hề hấn gì đâu. Nó khóc vì uất ức, vì cảm thấy bị mất mặt … vì bị gài bẫy bắt và nắm đầu dẫn đi bao nhiêu người biết mà bất lực, không làm gì nổi. 
Có hai sếp gác trong vụ này thì Larry chỉ quen có một là thằng Charlie. Có thể gọi bồ bịch vì làm cùng sở, nhiều đêm gác ngủ chung trong chòi, hai đứa vẫn nói dóc chơi, kể tào lao chuyện đàn bà con gái và Larry còn chế nhạo cái tật “chân đi chữ bát” khệnh khạng của hắn kia mà. 
Larry lên tiếng hỏi: “Mấy anh làm gì thằng em tôi?”. Nó đã định xuống nước nhỏ trước, kẹt cái vụ này thì phải bồ bịch, ăn nói nhũn nhặn. Không hiểu sao nó lại cật vấn cái điệu thách thức. 
Sếp gác lạ người to con, mập mạp thấy Larry vừa sừng sộ hỏi vừa giật ngược lại thằng nhỏ bèn hất hàm hỏi Charlie: “Thằng cha này là ai vậy?”. Hắn tính nắm thằng Gino lại thì Larry đẩy em ra sau lưng đuổi: “Đi về nhà mày!”. Thằng nhỏ đâu chịu, nó cứ đứng. 
Charlie ghé tai đồng nghiệp: “Cha này cùng sở mình, làm “cao bồi” ca đêm đó mà” rồi quay sang giải thích: 
– Larry à, thằng nhỏ em bạn cứ vào lấy nước đá hoài. Có lần nó còn dám vác đá chọi tôi và chửi tôi nữa chứ. Con nhà mất dạy đó. Em bạn tôi cũng sẽ phải đập nát đít cho nó tởn. Nào, ra đây thằng ranh! Bạn đừng quên bạn cũng làm hỏa xa mà công việc tôi làm đây là bảo vệ tài sản sở. Bạn dây dưa vào bênh nó là phiền lắm nghe! 
Có gã phu người cùng xứ sở đứng bên chen vào: 
– Còn sẽ đập gì? Nãy giờ tụi nó dợt thằng bé chán rồi! 
Làm bộ rất tự nhiên, Larry bước lui mấy bước. Không thấy đá sỏi quèn quẹt dưới chân là nó biết ra đến lề đường rồi. Hết còn là vòng thành nhà ga. Nó đứng lại nói: “Chỗ này không phải đất nhà ga nhé? Mấy bạn khỏi có quyền gì hết!”. Có điều Larry không muốn sinh sự sợ mất việc phiền quá … nên nói thẳng với Charlie: 
– Bạn làm Hỏa xa quá lâu, bạn còn lạ gì đám con nít xóm này, đứa nào chẳng vào ga ăn cắp nước đá? Thằng nhỏ em bồ ruột của bạn không vào hả? Bạn nhằm dọa tôi đâu được! Thằng em tôi nó có liệng đá bạn thì bạn vừa đập nó xong. Kể như hòa đi … 
Larry vừa nói vừa liếc bà con chung quanh, thấy thằng Gino vẫn lớ quớ đứng bên, rất tỉnh táo và cặp mắt nó ráo hoảnh và mặt còn hầm hầm tính rửa hận tức khắc nhìn tức cười lạ! Bèn nạt nộ: 
– Tao cấm nghe Gino ? Mày còn vào nhà ga nữa là tao đập chết. Cút về! 
Cứ như Larry nghĩ thì giải quyết cách đó là đẹp rồi. Không mất mặt mà cũng không quá hung hăng để mua thù chuốc oán. Nó đang hãnh diện về cách xử trí biết điều thì tự nhiên sếp mập xía vào hỏng hết. 
Hắn trách thằng Charlie: “Thế nào bạn? Bạn kêu tôi đến đây bộ để giỡn chơi?”. Charlie mới nhún vai chưa nói gì thì hắn xớn xác chạy đến Gino, giáng cho thằng nhỏ một cái bạt tai đổ lửa. Hắn nạt nộ: “Phải mày gặp tao thì mày chết rồi!”. 
Một cú thôi sơn của Larry bay vào giữa mặt sếp mập cho hắn nằm luôn và nó đấm mạnh đến nỗi chiếc mũ kết trên đầu sếp văng đi đâu mất. Bà con bèn giạt ra cho rộng chỗ, chờ sếp mập đứng dậy đấm, dù mép đã “ăn trầu” và bỏ mũ kết ra. Trông sếp già hẳn đi vì chiếc đầu sói. 
Sếp mập đứng dậy nhìn Larry. Hắn cởi chiếc áo sevít, đưa luôn bao súng và giây đạn cho Charlie giữ hộ . Mặc sơmi xem hắn đô con quá! Hắn nhỏ nhẹ bảo: 
– À, thằng này ngon! Nào tụi mình chơi thử một mạch … Thằng Charlie lên tiếng. Tưởng nó can thiệp nào ngờ nó đưa tay: “Nếu muốn đánh lộn … mấy cha ra chỗ đằng sau mấy toa xe súc vật kia kìa”. Nó muốn hai thằng ráp lại công khai so tài một mạch, thằng nào ngon thằng ấy thắng chứ dựa hơi công lực đàn áp là khó sống với bà con xóm này. 
Larry lập tức cởi phăng áo thụng nhét cặp quần. Ngực nó đầy lông lá, trông còn to con hơn sếp mập. Tưởng gì chứ đánh lộn thì dễ quá, chỉ sợ bà mẹ chạy xuống can thiệp … chửi bới om sòm thì mất mặt, hết ở xóm này. May quá mụ Lucia vẫn còn đứng cửa sổ gác tư nhìn xuống. 
Lần đầu tiên trong đời Larry, nó muốn đánh lộn thực sự. Nó muốn quần cho một thằng tơi bời để xác nhận ở xóm này nó là sếp sòng, thằng nào đụng tới là nát xương. 
Có đám đánh lộn là bà con kéo tới rần rần, đứng trên gác cũng ló đầu ra cửa sổ nhìn. Sau lưng Larry có thằng Vincenzo đứng từ hồi nào, mặt tái mét. Thằng Guido con lão chủ lò bánh cũng tới đứng bên ủng hộ: “Cứ chơi đi Larry. Có tao đây”. Làm như đánh võ đài vậy … hai thằng giơ cao hai tay chào nhau. Tự nhiên Larry thấy như vừa được thêm sức, hùng hẳn lên vì mẹ nó trên gác chứng kiến, hai thằng em đứng ngay sau lưng mở to mắt nhìn anh đập lộn. Bằng ấy con mắt thân thiết lo ngại cho nó, bao nhiêu bà con bu quanh cổ vũ nó thì Larry làm sao thua được, ai thắng nổi? Ở đây và bây giờ nó mạnh hơn ai hết. 
Larry xông tới mần địch thủ. Hai thằng đấm qua đấm lại bình bịch nhưng trúng tay trúng vai không. Bỗng đâu một cú thủ của sếp mập lớ ngớ thế nào chạm mặt Larry làm một bên má nó máu chảy ròng ròng. 
Thằng Gino bèn nhảy vào la lớn làm như trọng tài vậy. Nó đưa tay giang hai địch thủ ra, sủa ông ống: “Xem, liệng cái cà rá đi chứ? Chơi vậy đâu được, đâu có công bằng?” 
Thì ra sếp mập chơi ác, thuồn chiếc nhẫn cưới tổ bố cho nó tụt xuống lóng tay giữa để chơi cho độc nhưng lại bị thằng Guido phát giác. Hắn lúng túng tháo nhẫn liệng cho thằng Charlie giữ hộ. Bà con hoan hô làm hắn quê quá, nhào tới vào địch thủ. 
Larry có hơi khựng vì máu chảy đầm đìa ướt mặt … nhưng mùi máu càng làm cho nó nổi hung, nhè đúng vào bụng bự của sếp mập bung một đấm móc tay phải đích đáng. Chịu sao nổi, hắn gục liền! Bà con hò hét … Guido gào lên: “Chơi tiếp đi Larry! Cho nó nằm luôn …” 
Sếp mập loạng choạng đứng dậy. Cử tọa nín khe thì trên gác mụ Lucia sủa giọng xuống: “Thôi … tao bảo thôi Lorenzo!”. Tiếng mụ quát lanh lảnh làm ai cũng phải ngước nhìn lên và Larry bực bội xua tay ra hiệu im đi. 
Lập tức hai thằng lại quấn vào nhau và sếp mập lại nằm. Không phải vì Larry chơi quá mạnh mà vì mệt đứt hơi. Chừng hắn lồm cồm đứng dậy được bị Larry dộng một cú ngay mặt. Lại nằm nữa! 
Bị thằng “con nít” cho ao mấy lần, sếp mập nhục quá đâm liều, nhào vào câu cổ địch thủ tính lên gối nhưng chỉ một cú vung tay đã văng ra xa. Cả hai cùng thấm đòn mệt đừ. Chẳng thằng nào còn đủ sức dứt địch thủ nên xét ra cùng dừng là hơn. Bên sếp mập Charlie ôm cứng lấy hắn và phía Larry đã có thằng Guido xốc tới đỡ . Trận đấu thế là đứt ngang. 
Charlie nhảy ra tuyên bố: 
– Thôi chơi vậy là đủ … là đẹp rồi! Cả hai thằng theo tao cùng ngon, cùng dám chơi. Vậy yêu cầu bắt xua nhau một phát và chuyện gì cũng bỏ qua hết. OK? 
Guido gật đầu thay: “OK … hòa thì hòa”. Nó nhìn hai sếp, bấm Larry: “Hòa đi mày!” . Bà con bu quanh Larry, kẻ vỗ vai người khen nức nở. Nó thắng thấy rõ mà kể hòa thì còn ngon nữa! 
Hai địch thủ nhìn nhau cười bẽn lẽn. Chừng nắm tay “bắt xua” thì cả hai cùng cười hô hố và ôm nhau tỏ tình thân thiện. Sếp mập vỗ vai Larry khen: “Mày nhỏ mà chơi ngon”. 
Vậy là đẹp. Bà con xầm xì, tấm tắc. Trong khi đó Larry choàng tay qua vai Gino bảo: “Đi về chứ … thằng khốn”. Hai anh em cùng băng ngang đường lên gác về nhà, theo sau có Guido, Vincenzo. 
Vừa thấy mặt Gino ló vào là mụ Lucia quơ ngay một tát tai … nhưng trúng sao nổi. Thấy một bên má Larry rách tét, mụ xót xa: “Trời đất ôi … có sao không?”

Photo edit by Sơn râu

Vừa lật đật đi kiếm một mảnh giẻ thấm nước đắp lên chỗ chảy máu cho thằng con lớn, mụ vừa quắc mắt nạt thằng nhỏ: 
– Mày thấy không Gino? Chỉ vì mày mà anh mày bị chúng đánh thế này đây … 
– Ai đánh được con? Con không đánh thì thôi … không tin mẹ hỏi Guido xem? 
Nghe giọng hào hứng, đắc thắng của Larry, thằng con lão chủ tiệm bánh bèn xác nhận ngay: 
– Nó nói đúng đó bác! Nó chơi như võ sĩ chuyên nghiệp vậy mà. Thằng kia sức mấy chơi lại! Trừ cái vụ “ăn gian” chiếc nhẫn thì Larry có hề hấn gì đâu. Trái lại nó chơi thằng kia ngã lên ngã xuống. 
Khoái quá Gino nói leo, khoe ầm lên: 
– Em đếm bốn lần cả thảy! Vậy kể như thằng mập chó chết “ao” luôn phải không? Anh Larry thắng rõ, khỏi hòa! 
Larry chặn họng nó ngay nhưng bên trong chưa bao giờ nó có cảm giác thương yêu, xót xa mẹ nó, các em nó và gia đình nó đến như vậy! Nó chững chạc tuyên bố, như một người lớn: 
– Có tôi đây ai dám đụng tới bất cứ người nào trong gia đình này? Đụng tới có chuyện gấp! Như thằng mập lúc nãy … nếu không sợ mất việc ở sở tôi dám đập nó chết ngắc. 
Sau một chầu cà phê cho cả nhà, mụ Lucia nhắc con: 
– Lorenzo, bây giờ xong rồi mi vào ngủ đỡ đi. Tối nay còn phải đi làm đi ăn chứ. 
Guido và Vincenzo bèn đứng lên đi về lò bánh. Larry thong thả cởi bỏ quần áo vào giường ngủ lại. Nằm trên giường nó còn nghe tiếng thằng Gino ở nhà ngoài hăm hở kể lại cho mẹ nghe từng giây phút của cuộc đấu. 
Larry nghe mệt rã rời nhưng hài lòng vì uy tín phục hồi. Nó không phải thằng con hư đốn nữa, chắc chắn vậy! Tối nay đây, lúc nó cưỡi ngựa dẫn đoàn xe lửa ngang xóm này bà con sẽ vẫy nó, kêu tên nó, chuyện trò với nó … Có ai dám xem thường một thằng con trai đủ sức bảo vệ gia đình và sẵn sàng đổ máu để bênh em hay giữ gìn danh giá? Chẳng ai dám xem thường gia đình nó, bất cứ người nào trong gia đình. 
Khoan khoái trong lòng, Larry ngủ thiếp đi. 
Ngoài nhà bếp mụ Lucia Santa giận dữ, đe nẹt thằng Gino: 
– Cho mày hay … mày mà còn héo lánh vào trong nhà ga là tao giết mày nghe Gino. 
Thằng nhỏ nhún vai, biết mẹ chỉ dọa. 
Vụ đánh lộn của thằng con lớn làm mụ Lucia hài lòng chứ! Chỉ hơi bực mình vì có vậy mà chúng làm như to chuyện lắm, thằng Lorenzo lấy làm tự đắc lắm. Mụ chỉ muốn quên khuấy cho xong. 
Biết sống quá mà, Lucia Santa có hoan nghênh những trò làm người hùng cũng chỉ hoan nghênh ngầm. Có gì ghê gớm đâu mà vẽ vời trình diện? Con nít! Bọn đàn ông vì tự ái hay rửa hận đánh lộn đến đổ máu thì có nghĩa gì so với sức chịu đựng, hy sinh của người đàn bà? Âm thầm, ngày qua ngày năm này sang năm khác. 
Nội cái vụ yêu nhau và sinh nở thì người đàn bà cũng bảnh hơn nhiều! Có mấy thằng đàn ông chịu nổi sự “banh da xẻ thịt” và so với sự đau đớn ấy thì những vụ “đổ máu” của bọn họ chỉ là trò chơi con nít. 
Mẹ thì suy nghĩ vậy nhè thằng Gino cứ lăng xăng đề cao “chiến thắng” của anh Larry mãi. Mụ phải nắm ót nó liệng đi như liệng con mèo nhỏ mà rằng: “Cút đi đâu thì cút … cơm tối mà về trễ là ăn đòn!” 
Trọn một mùa hè, hai mẹ con Lucia Santa đã chịu đựng hơi nóng âm ỉ … còn phải lo đối phó với vô vàn bụi bậm, rác rưởi. In hình trên máng xối, dưới vỉa hè chỗ nào cũng ngập ngụa những cặn bã của người, của vật thải ra … đến độ không thể không có cảm giác bị hơi nóng hun đúc, ngay những tòa cư xá đồ sộ cũng hao hụt đi, cũng rơi rớt đi một phần như chó đến mùa rụng lông vậy. 
Đã vậy hai mẹ con còn lo ghìm nhau nữa! Sau cùng người thắng là Octavia. Nàng không làm thợ may nữa mà trở thành một huấn luyện viên chỉ bảo nghề đạp máy may và cách giữ gìn máy móc cho công ty Melody. Bà nào mua máy cũng được cô giáo Octavia chỉ vẽ miễn phí. Tiền lương có kém đi mỗi tuần lễ ba đô la nhưng bù lại còn có hy vọng lên chức lên lương. Ngoài ra nàng còn có thể sử dụng những thời giờ rảnh rang để may cho mẹ hay em bé Lena một vài cái áo. Nội cái quyền lợi sau cùng này cũng khiến bà mẹ phải nhượng bộ. 
Cũng trong thời gian “nghỉ hè” thằng Vincenzo gầy rạc người. Mẹ nó lo, chị Octavia còn lo hơn. Một hôm Octavia đưa ba đứa nhỏ đi khám răng miễn phí ở cơ sở y khoa Hudson. Trước đó nàng có xem thấy biểu ngữ của nhật báo Herald Tribune quảng cáo giúp đỡ con nhà nghèo không đủ phương tiện đi nghỉ hè bằng cách gửi chúng vào trại hè hai tuần lễ hoặc gửi về một nông trại nào đó. Octavia bèn ghi ngay tên em, dĩ nhiên trước khi thằng Vincenzo tới “giúp việc” lò bánh. 
Khi thằng Vincenzo được kêu tên đi trại hè thì Octavia lại phải lo giải thích cho mẹ hiểu rằng bề nào nó có đi làm cũng chỉ là làm tạm, nay bỏ hai tuần lương nào có nghĩa lý gì. Nó được bao hai tuần lễ ăn ở, được gửi đến một nông trại nào đó để nghỉ mát thì tốt quá còn gì. 
Thoạt đầu Lucia phản đối. Không ngại mất hai tuần lương song hà tất phải vẽ chuyện con nít thành thị mùa hè phải về quê nghỉ mát cho khỏe? Nông trại, theo mụ nghĩ chẳng thể khỏe được! Vả lại có đời nào người ta chịu nhận ba đứa con nít về “ở chơi” mấy ngày nghỉ hè! Ít nhất họ cũng phải làm một cái gì cho xứng đáng với cơm ăn nhà ở chứ? Octavia lại phải giải thích là nông trại cũng lĩnh một số tiền của tổ chức gửi tới mụ mới hiểu. Và cho rằng chắc món tiền cũng phải kha khá. 
Sau cùng Vincenzo cũng được đi, với điều kiện là thằng Gino phải tới lò bánh làm thay. Nó còn được trao một phong bì thư có ghi sẵn địa chỉ, có dán tem đàng hoàng, để nếu “nghỉ hè ở nông trại” có điều gì bất ổn là gửi ngay thư về để chị Octavia tới tận nơi lĩnh. 
Vậy mà thằng Vincenzo phút chót lại giở quẻ! Nó sợ, nó không chịu ở hai tuần lễ với những người lạ. Ở tuốt tận đâu đâu. Chị Octavia phải làm bộ giận dữ, sắp khóc đến nơi nó mới chịu lên đường cho. 
Ở nhà thằng Gino tiếng là đi làm thay anh thật … nhưng nó làm mất cả thanh danh “lao động” của gia đình Angeluzzi Corbo. Đại khái là đến làm trễ nhưng lo dông về thật sớm. Sai đi đưa bánh mì thì đi một chuyến là mất mặt cả mấy giờ. Vác bao bột dưới nhà hầm lên thì nó đặt đại ở bậc cầu thang rồi lôi lên xềnh xệch, bao rách bột vung vãi thây kệ. Đã vậy nó còn đớp liên miên: cả tấn xăng uých và càrem! 
Vậy mà có ai dám đụng đến hay nói gì đến nó? Lão chủ tiệm chỉ lắc đầu, năm sau xin chịu không dám nhận ông em làm thay! Nghe nói vậy cả mẹ nó cùng lão chủ chỉ nhìn nhau cười ha hả khiến Octavia bực mình, chịu không nổi. Phải thằng Vincenzo làm vậy là có chầu ăn đòn nát xương! 
Có bực bội như vậy mới có sự sung sướng kéo lại. Đó là lúc gần hết hè, chỉ còn một tuần lễ nữa là tựu trường và thình lình Vincenzo trở về nhà. 
Trông nó lạ hẳn đi. Cả một thay đổi lớn! Nó xách một chiếc va li da nâu mới toanh. Mặc quần len, sơ mi trắng bong lại áo vét xanh, ca vát xanh đàng hoàng. Nước da nó đỏ hồng, mặt đầy đặn và mới đây đã cao thêm cỡ hai phân tây. Lúc mấy người cán bộ xã hội ra ga đón và thả nó từ xe tắc xi xuống thiếu điều cả nhà nhận không ra vì Vincenzo trông người lớn hẳn. 
Tối hôm đó cả gia đình rút lên gác ngủ sớm … chỉ cốt để nghe Vincenzo kể chuyện nhà quê. Thằng Gino, thằng Sal trợn tròn mắt nhìn. Ngay bé Lena làm như cũng biết nghe hóng chuyện nữa! 
Nhà quê, theo lời Vincenzo diễn tả, là nơi không thấy gạch mà cũng chẳng có vỉa hè. Khỏi có phố xá mà chỉ toàn đường đất nhỏ, có điều với tay lên cành là bứt được trái táo còn trái dâu thì có bụi cây là có nó. Muốn ăn cái gì, muốn ăn lúc nào tùy ý thích! Nhà quê còn có căn nhà xây nho nhỏ sơn trắng và đêm nào đi ngủ cũng phải đắp chăn kia mà? Ở nhà quê ai cũng phải có xe hơi vì lấy đâu ra xe điện, xe điện ngầm? 
Cả nhà xem ra chỉ có một mình mụ Lucia Santa là không lấy gì làm lạ. Mụ từng ở nhà quê rồi mà? Riêng Gino thì tiếc hùi hụi vì chính nó không được đi! 
Sau đó Vincenzo còn lấy bộ pyjama ra khoe. Cả nhà này có ai mặc đồ ngủ bao giờ? Bộ quần áo hai màu xanh vàng chiến quá đi! Mẹ nó phải hỏi: “Đây là đồ mày mặc đi ngủ hả?”. Nhà này có lệ mùa rét thì đóng nguyên quần áo trùm chăn ngủ, mà trời nóng thì cứ áo thụng quần lót … có ai biết đến đồ ngủ là gì? Chỉ dân các chú mới mặc pyjama! 
Mụ Lucia Santa vẫn thắc mắc: “Không lẽ họ bỏ tiền túi ra may ngần này đồ mới cho mày? Chắc tổ chức trả tiền cho họ khá lắm?” 
Vincenzo lắc đầu ngay: 
– Đâu có? Tại họ thương con … họ cho con đấy chứ. Họ nói hè sang năm nhớ trở lại và có thể mang Gino theo. Con có nói về gia đình mình, họ bảo thế nào họ cũng viết thư và lễ Giáng sinh này còn gửi quà cho nữa! Họ cho thì mình thế nào cũng phải biếu lại họ một món quà gì. 
– Gia đình họ không có con phải không? 
– Dạ, đúng. 
Thấy thằng em hứng quá, Octavia không muốn nó buồn bèn buột miệng nói: 
– À, chỉ còn một tuần nữa là tựu trường rồi. Em khỏi phải sang lò bánh nghe Vincenzo! 
Hai chị em cùng ngước nhìn mẹ nhưng mụ Lucia Santa mỉm cười, không nói gì và xem bộ đang mắc suy nghĩ đăm đăm … 
Đúng, Lucia đang nghĩ ngợi thật. Không ngờ rằng trên cõi đời này lại còn có những người tốt, tử tế đến độ giúp được là giúp, không vị lợi mà chẳng cần quen hay lạ! Sao lại có những người dám mua quần sắm áo cho một thằng con nít từ đâu tới ở chơi hai tuần và không bao giờ thấy mặt trở lại? 
Có lẽ nào ngoài cái thế giới dơ bẩn này còn có một thế giới khác hoàn toàn khác biệt hẳn mà những người như mụ không thể chấp nhận được? Có thể nào có một thế giới từ thiện của riêng những người tử tế với nhau … dù từ thiện chẳng thể tồn tại mãi? Như ở quê nhà đó, con nhà nghèo làm sao sống nổi với đám chủ đất cá mập, lúc nào cũng sẵn sàng ăn tươi nuốt sống? 
Nghĩ vậy xa vời quá! Hãy cứ biết đêm nay đám con cái mụ sung sướng và chúng còn có quyền hy vọng. Vậy là tạm hài lòng rồi. 
Trái lại Octavia có dịp nhìn thẳng vào cuộc đời đểu giả. Vì một hôm lão giám đốc cho người kêu nàng tới. Xưa nay hắn vẫn là người đàng hoàng, tử tế. Vừa thấy mặt nàng hắn nói: 
– Cô Angeluizzi … lâu nay đối với tôi vẫn có thiện cảm. Công việc làm thì cô làm được lắm, mấy bà đi mua máy may được cô chỉ dẫn chẳng buồn bao giờ cũng như mấy cái máy họ mua về chẳng hề trục trặc. Có điều chúng ta cần phải tính lại … 
Octavia ngẩn ngơ, không hiểu tại sao có vấn đề “tính lại” nên nói ngay: 
– Xin ông giám đốc nói rõ giùm … 
– Đúng vậy. Tôi sẽ nói rõ chứ. Chúng tôi cầu mong có được một người giúp việc như cô. Còn trẻ, thông minh và bền chí. Có một lần mụ khách hàng dấm dớ, hạch sách đủ mọi chuyện song cô vẫn kiên nhẫn làm tròn phận sự. Vậy là hay lắm … 
Cùng với lời khen cuối, ông giám đốc còn thân mật vỗ vai làm Octavia vội chạy ngay ra. Làm gì hắn không biết? Xưa nay mấy ông sếp mà thân mật với mấy người làm công là phải hiểu ngay họ nhắm cái gì? 
Vì không thấy hắn có “cái đó” nên Octavia lấy làm hãnh diện có người quen “cô giáo chỉ dẫn tốt”. 
– … Nhưng cô nghĩ xem cả cái công ty Melody này lập ra đâu phải chỉ để chỉ dẫn nghề đạp máy? Dĩ nhiên hãng mình cũng không thèm quảng cáo để bán hàng cái điệu “mập mờ đánh lộn con đen!”. Tôi tưởng cô Octavia dư biết điều đó nên mới dám đề nghị để cô đứng bán hàng, lương mỗi tuần lên 20 đô la chứ. Nhưng cô chẳng biết gì hết. Cô không biết lấy lòng người ta. 
Tự nhiên Octavia khẽ nhích ra một chút, mắt sáng quắc lên. Thấy vậy ông giám đốc hiểu ngay bèn cười cười: 

Photo edit by Sơn râu

– Không, xin cô đừng hiểu lầm! Tôi đâu bảo cô lấy lòng tôi? Chúng ta cần khách hàng kìa! Cô cần phải lấy lòng họ, họ rủ đi uống nước chơi phải mau mau chiều ý, cô lại còn nói được tiếng Ý nữa vậy là nhất rồi! Vấn đề là cô phải làm sao cho họ mua máy của mình mới có ăn vào đấy chứ? Cứ tiếp chuyện khơi khơi rồi chẳng tiêu thụ được hàng thì đói hết. Cô đâu cần phải quan tâm đến giờ làm? Cô có quyền đến trễ – nếu tối qua đi “ngoại giao” cùng với bà khách hàng nào đó. Và tha hồ đến trễ vì nhiệm vụ của cô là bán máy chứ đâu phải trình diện ở sở? 
Ông giám đốc nói vậy và không đưa ra một kết luận nào mà để cho Octavia toàn quyền quyết định sau khi vỗ vai vài ba cái rất thân mật, kẻ cả … 
Cho nên ở sở về bữa hôm đó, Octavia cảm thấy hân hoan vì vai trò quan trọng của nàng trong hãng chứ? Làm người làm công thật, nhưng tự mình quyết định số phận tương lai của mình mà? 
Ngay buổi chiều hôm đó nàng còn có dịp được mấy bà mua máy mời đi uống nước chơi. Bà nào cũng vị nể xem trọng Octavia quá. Cô giáo mà? Nghe nàng hỏi xem máy may mới thế nào thì một mụ trả lời “Tốt lắm chứ” và cho hay thêm rằng: 
– Nói cô đừng buồn chứ ông giám đốc của cô chỉ mong tôi bỏ cái máy cũ, xách một cái mới về. Dĩ nhiên máy tối tân phải đắt tiền chứ? Có điều tôi đang làm cái máy cũ rồi, bao nhiêu quần áo mẹ con tôi nhà may lấy hết. Tại sao lại phải rước một cái máy mới về, tốn tiền vô ích nhỉ? 
Mụ chẳng nói gì hơn nhưng Octavia vụt hiểu ngay ông giám đốc muốn nàng làm gì, làm như thế nào. Từ ngày thôi làm thợ may để lãnh chân bán hàng, Octavia đã suy nghĩ chán rồi. Bán hàng là bán hàng, chẳng thể lợi dụng bất cứ một cái gì khác để ép buộc khách hàng chiều ý. 
Để tiến thân trên đường đời Octavia cho rằng đâu cần phải lừa gạt, bịp bợm. Giả thử bà mẹ nàng đi mua máy và bị một con nhỏ nào đó lung lạc thì sao? Phải chi đói khổ, không đóng kịch để tiêu thu nổi một vài bàn máy may thì chết đến với nàng cũng chịu, cũng đành đi! Phải gạ gẫm, phải nói ngon, nói ngọt chỉ cốt sao người mua tin lời mình, nể mình để mua phắt một cái máy thì kỳ cục quá! Đã mấy lần Octavia thử nhắm mắt, nói hươu nói vượn để khách hàng tin bằng lời cốt tiêu thụ cho hãng một món đồ, nhưng rút cục vẫn không nổi. 
Thế là hai tuần sau nàng mất việc. Lúc bỏ sở đi ra, ông giám đốc còn đứng bên cửa vừa lắc đầu vừa cười gượng để tiễn chân nàng một câu: “Octavia, cô là người đàng hoàng” nàng cũng chẳng buồn nhếch mép. Nàng chỉ quắc mắt nhìn nhưng làm gì hắn chẳng hiểu. Hắn hiểu chứ, nhưng có làm gì được cho nàng đâu? Thực tế cuộc đời là vậy, ranh giới giữa bên được và bên thua đã quá phân minh rồi
Đó là lý do có muốn mơ mộng Octavia cũng không thể mơ mộng nổi nữa. Đau khổ là những kẻ mà nàng trách oán lại chính là những cô giáo từng khen nàng ngay thẳng, từng khuyến khích “Em ráng giữ tấm lòng trong sạch, thế nào sau này cũng khá!”. Chao ôi, muốn khá cũng đâu có nổi và đâu đủ tư cách để “giữ một tấm lòng trong sạch”? Cái giá của sự trong sạch quá đắt, đối với những đứa con gái nhà nghèo như nàng! 
Dĩ nhiên mất chân bán hàng thì Octavia lại trở về nghề thợ may không khó. Chừng thu xếp xong công chuyện, đem sự việc kể từ đầu đến đuôi cho mẹ nghe thì mụ Lucia Santa chỉ ngồi làm thinh. Đang kẹp bé Sal giữa hai đầu gối để chải đầu cho nó, mẹ nàng thủng thẳng buông một câu: 
– Tao đã bảo trước mà! Người như mi khá đâu được, giàu sao nổi! 
Bực bội quá Octavia hét lên: 
– Chứ mẹ bắt con bịp mấy người nghèo khổ như mình để làm giàu cho mấy thằng nhà giàu chó đó hả? Mẹ có làm không? 
Bằng một giọng não nề mụ đáp: 
– Gặp mẹ hả? Mẹ già rồi, mẹ bất tài … vả lại mẹ đau khổ nhiều nên mẹ tử tế không nổi, dù làm bộ tử tế ăn tiền. Còn mi, đời mi còn dài. Còn nhiều dịp học hỏi, Octavia! Cũng không khó lắm đâu! Mi thấy không, mấy đứa em mi cứ tưởng nhà mình giàu vì nó muốn sách có sách, muốn đi cinê có cinê mà. Mẹ nói vậy thôi chứ giàu nghèo mẹ đâu có cần, mẹ từng nghèo quá giờ này tụi mày cũng nghèo đâu có sao. Mình nghèo cứ nhận nghèo, phải lấy làm vinh dự được nghèo chứ? 
Mụ Lucia Santa đẩy bé Sal đi. Nó vòi hai xu mua càrem. Có bao giờ mụ từ chối con nhưng hôm nay phải dằn mặt: 
– Đòi tiền hoài! Mi không nghe mẹ vừa nói sao? Mình nghèo mà. Cút đi. 
Thằng nhỏ nhìn mẹ đăm đăm làm mẹ đau khổ vì cảm giác con cái đứa nào cũng “già” trước tuổi. Chỉ vì nghèo. Thằng Sal láu lỉnh chất vấn: “Mẹ không cho con hai xu, mẹ có giàu thêm được đâu?”. Lucia Santa cười phá lên, móc ví liệng đại cho nó hai xu . Nó chạy nhanh như biến! 
Mụ nhún vai nhìn Octavia mỉm cười. Đồ con nít cứ tưởng bở! Đứa nào cũng biết nhịn hai xu càrem thì nhà này giàu mấy hồi? Dư sức giàu, nếu cố thôi cinê, đá bóng, ráng tuần lễ ăn thịt một lần thôi và chờ tối mịt hãy bật đèn. Thử cho con nít nghỉ học hết, kiếm việc làm tối tối không lãnh thêm khuy nút thì làm việc khác xem? Dám giàu lắm chứ? Nhưng ai đọc sách, ai xem tivi đây? 
Thử cố nhịn mấy món lặt vặt đó thì sao không tậu nhà bên Long Island được kia? Có điều nhà này không nhịn nổi! Nhịn vậy được thì hết ham sống chắc! Con cái lại oán, lại trách mẹ tham tiền bắt chúng cực nhọc, dù bản thân mẹ cũng khổ vậy. 
Thực ra Lucia Santa đâu có ghét người hận đời? Thiên hạ đâu có độc có đểu mấy? Chẳng qua có tiền là có cả Trời vậy thôi! Tiền là tự do, là hy vọng, là an ninh bảo đảm. Ai dám chê tiền, từ chối đồng tiền? Giữa rừng hoang đầy thú dữ có thằng nào có sẵn súng trong tay dám liệng đi bao giờ? 
Đời này có tiền là tương lai con cái bảo đảm, là phóng chúng vượt khỏi tối tăm, nghèo hèn. Có mấy người thiếu tiền mà không từng khóc và khóc chỉ vì tiền? Vì tiền kêu được nhiều người. Kêu dễ dàng nào tu sĩ, nào bác sĩ nào con cháu hiếu nghĩa! 
Phải công nhận có tiền là đời lên liền. Biết bao nhiêu phen nửa đêm sực thức dậy cộng ngầm những dãy số trong “công” băng. Lucia Santa đã rùng mình đến nổi da gà, nửa mừng, nửa lo. Rõ ràng cảm giác bồi hồi của một thằng từng đếm từng ngày tự do! 
Khỏi nói là bà con, chúng bạn gần gũi cũng vì tiền. Giả thử đời này có một đấng Giê- su sống lại thì người cũng chẳng trừng phạt thằng có tiền bao giờ, đúng thế! 
Cứ như Lucia nghĩ thì chẳng cần phải giàu. Chỉ có tiền cũng đã mạnh dạn đối phó với đời được rồi! Vững bụng lắm. 
Mỗi lần mẹ suy nghĩ đến tiền là Octavia biết liền, nhiều lắm. Vì cái gì cũng là tiền. Tiền bác sĩ, tiền quần áo, tiền bếp lò, tiền sách vở. Đủ thứ tiền. Tậu nhà hay cho thằng con út học lên đại học phải có tiền đã đành. Đến lễ Minh Thánh Chúa cũng tiền, ít ra cũng phải có bộ đồ mới đi xem lễ chứ. 
Chao ơi, Octavia biết mẹ điên đầu vì tiền. Đúng thế, nhưng ngược lại có ai xem rẻ đồng tiền bằng mẹ? 
Ăn uống mẹ cho ăn toàn đồ ngon: dầu ô liu hạng nhất, pho mát hách nhất, mà dăm bông cũng phải thứ nhập cảng … và một tuần giá chót ba lần ăn thịt. Có đứa nào đau là mau mau cho đi bác sĩ, chứ khỏi có kiểu nhét mấy viên thuốc bậy bạ, sốt nóng hay cảm hàn thì cũng ráng ít bữa xem sao! Khỏi nói quần áo. Lễ Phục sinh đứa nào cũng còn được may đồ mới mà? 
Ấy thế cứ đều đặn một hai tuần là mẹ vẫn có tí tiền để ra. Hoặc năm đô la, hoặc mười đô la … tự tay Octavia lo đi gửi băng chứ ai? Bởi vậy ngày giờ này mới có nổi một ngàn năm trăm đô la để lấy lời trong quỹ tiết kiệm. Dĩ nhiên bí mật ghê gớm này chỉ có hai mẹ con biết với nhau. Octavia vẫn thầm chờ đợi một buổi sáng đẹp trời mẹ ra lệnh “Mẹ con mình mua nhà bên Long Island dọn sang ngay tức thời”. Chao ôi, cả một cuộc đời đổi mới. 
Đây mùa thu tới, bọn trẻ lo tựu trường và trời bỗng trở lạnh. Đâu còn những buổi tối tụ họp trò chuyện tào lao nữa đâu? Nhà nào chẳng công việc bù đầu? Từ quần áo giày dép đến ống lò, cái gì cũng phải lo hết. 
Mùa thu đến là trời đất cũng đổi thay. Hơi thu làm vàng úa mặt trời và ngay mấy cái máng xối cũng lạnh lẽo làm sao. Nhà cửa còn như cao lên, thu hẹp lại và còn rời rã ra kìa … 
Dĩ nhiên mùa này đỡ được cái nạn vỉa hè, nhựa đường bốc lửa và không gian cũng còn dính nguyên một khối vì hơi nóng, bụi bậm. Ngay mùi khói nhà ga cũng hết khét mới lạ. 
Frank Corbo đã lựa đúng một buổi sáng vào thu như vậy đó để trở về nhà sống với vợ, với đàn con.


Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày giỗ Mẹ, 17-02 Quí Dậu (9-3-93)

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Phần 8

May Rủi Hên Xui, Vận Đỏ, Vận Đen Của Nguời Chơi Đồ Cổ

Ai làm sao thì tôi không biết và không dám nói, chớ riêng tôi, thì tôi rất tin nơi sự may rủi của người chơi cổ ngoạn, tôi vẫn có nhiều thứ máu trong thân, nên tội rất tin dị đoan, vì tôi chưa hiểu sự bất ngờ chờ tôi và tôi không giải nghĩa được vì sao có nhiều món cổ, vừa quí, vừa lạ và vừa có nhiều nếu không nói là đủ thứ đẹp xinh, thế mà những món ấy vẫn nằm êm tại nhà chủ cũ để chờ tôi, ít tiền, chưa có kinh nghiệm, lại được làm chủ như nay:

* Một thố lớn, liễn có nắp mục lục số 69-VHS, có ảnh đăng tập số 4 H.C.D.S., ông cử Võ Hoành dạy tôi trả giá độ 40$, người chủ không ưng bán, rồi bỗng năm 1933, người chủ nầy tự nhiên đi xe đò và ôm xuống bán cho tôi 100$, ăn một bữa cơm, ngủ một đêm ở nhà tôi tại Sốc Trăng, để sáng bữa sau trở về Sa Đéc, và người chủ ấy khi về nhà vẫn bị vợ con trách cứ đã làm mất vật quí.

* Một khi khác, và phải để cho tôi thuật lại dài dòng về vật hiếm có nầy, và đó là một cái sập ba thành, bằng cây táo Tàu đã lên nước đen mun và bóng ngời như huyền Hà Tiên trước đây làm vòng tay cho các ỷ quí phái và nay ít thấy phụ nữ đeo nữa, có lẽ huyền đã hiếm, vòng hay bể hoặc nặng bị lột khỏi tay đeo, khi gặp quân tử ngồi rường túng tiền xài; thuở nay giường ngủ, sàng cho các tiên ông nằm hút, vẫn là vật ô uế chứa chẳng những vi trùng lại ác ôn chứa nào xú uế hôi hám khi đi mây về gió khi đánh đổ mưa Sở mây Tần, thế mà sàng nằm của lão Vương già nầy, vẫn được Giản Chi cố giao, phê là “quí-phi-sàng” độc nhất vô nhị, và truy ra đó là giường nằm trêu ả phù dung của Bảy Viễn Rừng Sác khét tiếng năm xưa khi ông Bảy đã mất ngôi bá chủ Bình Xuyên, gia tài sự sản bị tịch thu, của cải bị phát mãi, ông tướng Công an đời Diệm là Mai Hữu Xuân, chở cả trăm giường hút của ông Bảy: lớp đem trưng bày luôn với đèn dầu lạc nơi quán của M.H.X. lập tại khu mới khỏi ngả tư Xa lộ, lớp khác bán trụm cho nhà buôn đồ gỗ cũ đường Trịnh Hoài Đức trong Chợ Lớn, tức hiệu tỷ phú Huê Hưng, mỗi sập như vậy, giá rất hời hợt, bảy trăm đồng (700$00), cao lắm là vài ngàn (2.000$00), và bỗng… một sáng chủ nhật năm nào nay không nhớ, vợ chồng tôi, Năm Sa Đéc và con là Bảo cùng đi với tôi, thả xích-phê cà-lơ háp-nắng và tình cờ đến hẻm Huê Hưng nầy cũng vừa đúng lúc nhà tỷ phú tên là cụ Bích (bố vợ hoặc Đức Âm, hoặc Đức Bảo), cụ Bích đang cò kè bớt một thêm hai, định giá mua là mười sáu ngàn (16.000$) nhưng hôm ấy cụ chê nước bóng quá mới và nghi là vật tân tạo, nên nài bớt giá, ông chủ Huê Hưng vừa thấy vợ chồng tôi bước trờ tới, vừa tay bắt mặt mừng, ông Huê Hưng bỗng từ chối với cụ Bích, và chờ cụ bước ra khỏi cửa, ông Huê Hưng bèn mời tôi mua sập ấy đi, ông sẽ bán cho. Tôi lúc đó, vẫn giàu lòng ham muốn, nhưng xệp thần vì túi nhẹ, ông Huê Hưng bèn dễ dãi và vui vẻ nói: “Tôi sẵn lòng bán chịu, ông có bao nhiêu thì đưa cho tôi, độ bốn ngàn (4.000$00), còn lại 12.000$, ông sẽ trả góp làm ba tháng…, vợ chồng tôi ưng liền, sập được thợ thiện nghệ tháo và chở về nhà ráp lại, tôi chi đủ bốn ngàn, nhưng đầu tháng sau hụt tiền, tôi kiếm cách trì hoãn, đổ thừa bộ cờ tướng có đủ xe pháo mã sĩ và tốt, nhưng ông tướng không thấy chạm trên sàng, Huê Hưng vui vẻ tươi cười, và rằng: “Tiếng rằng quản thủ viện bảo tàng, nhưng dốt ngay cán cuốc, mầy làm chủ cái giường, thì mầy là ông tướng đó chi?” Thất lý, trả đủ bốn ngàn (4.000$), qua tháng thứ nhì, tới kỳ trả tiền, tôi vụt chê: “Trong câu thi thứ nhứt, Thi tửu cầm kỳ kiếm, nay bộ cờ đã thấy nhưng còn bốn thứ kia, chưa thấy phân minh, chủ hiệu Huê Hưng có sẵn câu trả lời: “Cặp liễn là thi, và mấy món kia rành rành hãy về xem lại, bầu rượu chạm nơi giữa mày trung tim, cầm thì có hai cây tỳ bà làm vách đôi bên chiếc sàng, và một đàn khác vẫn có chạm kỹ lụa nhung gói lại cho dây không vì lạnh mà đứt rời, và cây gươm (kiếm) rõ rệt lộ liễu hiển nhiên”, và hiển nhiên tôi phải răn rắt chi đủ 4.000$ ước hẹn, qua tháng thứ ba, chót, tôi cằn nhằn, năm chữ về liễn chạm, nào thấy “phong hoa tuyết nguyệt” đâu nào? Huê Hưng chủ nhân cười hề hề xoa tay chờ tôi trả đủ 4.000$ chót và cắt nghĩa: “Sển về coi lại, phiến đá giữa là cảnh gió thổi hoa lạc tơi bời, phiên bên hữu là cảnh “trời xanh vân cẩu và phiến tả chót núi tuyết đầy và vầng trăng vì quá lạnh nên đã méo mó biến dạng”, vân vân, rốt lại tôi đã trả đủ ba tháng mỗi tháng bốn ngàn, cộng với số tiền cọc đưa trước bốn ngàn, vị chi đủ mười sáu ngàn (16.000$00) là số cụ Bích chê cao giá, để cho giường báu lọt về tay tôi làm vầy.

Photo edit by Sơn râu

Ngày nay, 9 mars 1993, tôi đã làm chủ quí-phi-sàng nầy suốt mấy đời vương, sàng đã dời chỗ, chạy qua căn nhà khác suốt đôi ba năm trời, cũng vì sợ lão trời đánh Đằng giang miệng méo, hăm dọa siết tịch, nhưng nay gió êm “phong tịnh”, cũng đành chép viết lại đây những gì đã tả về quí phi-sàng trong sách năm xưa (Thú chơi sách, bản Tự Do in năm 1960 đã bán sạch), cố nhiên tôi đã có danh là nói nhây, viết đi viết lại, vậy xin cho tôi cạn tàu ráo máng, viết lại đây một lần nữa, về vẻ đẹp quí-phi-sàng:

Sàng có một mặt bằng phẳng do ba tấm ván gỗ cây táo Tàu ghép lại, dùng làm chỗ nằm yêm mát, và ba bề được che bít, hai bên tả, hữu là chỗ dựa tay, là hai cây tỳ bà chạm tỉ mỉ đủ trục, dây, phiếm đàn, và bức vách giữa chia làm ba phiến đá vân thạch (marbre) của Miến Điện, xưa danh gọi “Tài-lỹ-xẹc” (Hán tự là Đại-lý-thạch, Đại-Lý hay nước Nam-chiếu là tên địa danh cổ thời), đá vân thạch ấy bọc viền bằng gỗ chạm và cả ba miếng đá ấy chung qui là vách che gió cho ngọn đèn dầu lạc đặt nơi giữa sàng khỏi bị phong ba vụt tắt, những chi tiết vặt vãnh thì tôi đã kể sơ nơi đoạn trên, duy nay tuy văn tôi viết vẫn tầm ruồng ba lăng nhăng, và nay xin viết thêm cho đủ ngọn ngành:

a) Miếng mày chạm đá giữa, viền trên là túi đựng tiền, chạm một lá sen thật lớn, biến thành chiếc nón tơi còn đủ gân lá và một cây “như ý cổ ngọc”, hiểu ngầm chơi chữ là “Phú quí như ý” (giàu sang như ý thỉnh cầu);

b) Viền hai bên tả, hữu và viền dưới, sát mặt giường, chạm một con dơi (phúc), một chiếc bình hoa (lộc bình), kèm hai tê giác dính xà nẹo và một lọng che xếp cánh lại, ngụ ý “phúc” (con dơi), lộc (bình hoa), có đủ cả hai, vì hai sừng con tê là “song” còn chiếc lọng là “tàn”, toàn, tàn lọng, vẹn đủ.

Tiếc là thợ xưa không ký danh để lại, quả đâu đó đều có xếp đặt trước, rất kín đáo, nhưng nếu khéo mò cũng hiểu được và vui lòng có trong tay một sàng hiếm có hoặc của quí phi ẩn danh, hoặc biết đâu chừng, sàng nầy có lẽ của đời bà Đại Thanh Tây Thái hậu, đồng thời khi nước ta bị Tây xâm lăng, quan Phan tử tiết, vua Đồng Trị nhảy dù ra nếm trái cấm lầu xanh lê thứ để ôm bịnh kín về truyền nhiễm cho bà hậu không khỏi cung cấm mà mắc nạn, than ôi, cảnh bên Tàu đang rối như tương, mà nước ta mãi xin viện binh cứu cánh chống giặc Tây, thì có trông mong thật là quá ư vô ích.

Tôi mảng sa đà giàu tưởng tượng và giàu suy gẫm riêng tư mà suýt lạc lối, duy lấy theo ngu kiến, phải nhìn nhận và hãy khoan chê dè phong kiến, vì tuy phong kiến nhưng tồn tại nối dõi kể mấy ngàn năm vẫn còn,… và tóm lại, người lao công Trung Quốc, tay cầm đục, bào, cưa, giũa, thế mà căn bản văn hóa không đổi, biết chơi chữ, biết thách đố với văn chương, “lọng” là “cái”, mà “cái” lại đọc và phát âm ra “quới, quí”, vân vân, hai sừng con tây (tê) là “song” và “lọng” lại là “tàn”, đoạn nầy, qua tôi múa rìu qua mắt độc giả cao thâm, tôi chưa từng học chữ Hán, nhưng đua đòi muốn học theo đòi, nay nhắc lại câu thứ nhứt, đọc “Thi tửu cầm kỳ kiếm” viết được bao nhiêu ý nghĩ ngông cuồng, bắt qua câu thứ nhì: “Phong hoa tuyết nguyệt thiên”, bỗng mắt thịt chẳng thấy chi chi cả; và lâu lắm, ngót mấy năm dài không nhớ, bỗng khám phá ra, lời ông chủ hiệu buôn Huê Hưng đã cắt nghĩa rành mà mình đã quên, rõ ràng kìa trên mặt ba bức đá Đại Lý thạch, dung là cảnh thiên nhiên: “màu trời vân cẩu”, (bức 3, tả), “hoa bay trước gió” (bức 2 ở giữa) và “cảnh gió tuyết làm móp trăng treo” (bức số 1, hữu)… càng nhìn càng ngắm về lâu, miếng đá giữa (bề cao 47 cm, bề ngang 57cm) vẫn trổ màu gạch tôm (chocolat) (phong hoa, gió đùa bông hoa), miếng “cảnh vân cẩu” có thể nói tự mình tưởng tượng đặt ra, duy miếng hữu (số 1) vân đá vằn vện tựa như khói đèn bay phấp phới giữa bầu trời đang rét lạnh, và trên cao miếng đá là hình dung một vệt méo méo tròn tròn, không phải do tay người họa sĩ vẽ ra mà đúng là do thợ trời tự nhiên trổ ra y hệt như một vầng trăng nhỏng nhẻo tiết đông thiên giá lạnh, đang bị bao vây bởi những mảnh vô hình lốm đốm và lả tả nhẹ bay như bông gòn mà không phải bông gòn, tựa tựa tuyết mà chưa phải tuyết, viết đến đây, bỗng bắt nhớ bài thơ xưa nặc danh trong tập của cai tổng Lê Quang Chiểu, tiện đây ghi lại:

“Ớ! ớ! Hằng Nga dám hỏi đon,

“Cớ sao đêm khuyết lại đêm tròn?

“Đàng qua Vân Hớn bao nhiêu dặm?

“Nẻo lại Vu sơn cách mấy hòn?

“Trộm thuốc trường sanh, không thấy uống?

“Lấy chồng Hậu Nghệ, chớ nào con?

“Ba mươi, mồng một, đi đâu vắng?

“Hay có tư tình với nước non?

Lê Quang Chiểu

(trích trang 70, tập Quốc âm thi hiệp tuyển, Sài Gòn Claude et Cie 1903)

Xin thưa, tôi vốn là con mọt sách, hễ biết được chút gì, ít khi chịu giữ làm của riêng, nay xin công bố ra một bản khác, đăng trong bộ “Việt âm văn tuyển” bản nhà in Joseph Viết, 1919, Sài Gòn, tuyển giả Lê Sum, tự Trường Mậu, trang 46, bản nầy có sai hoặc đổi đôi chữ tỷ như:

– Câu 3, “Đường qua Đông hải… và câu 4 “Nẻo lại Tây ngưng…”

– Câu 5 “Trộm thuốc trường sanh bao nhiêu lượng?”

– Câu 8: “Hay có tình riêng với nước non?”

Dưới bài, đề là “Cổ thi” và không ghi tên tác giả, cũng như trong tập Q.A.T.H.T, ông Lê Quang Chiểu lại ghi “Thơ của ai làm, không biết tên họ”, hoặc trong vài tập khác, lại đề “Vị tường danh thị”, vân vân, theo như tôi đã hiểu và theo ông Lê Quang Nhơn, con trai ông cai tổng Chiểu, thì thời Pháp thuộc, soạn giả và tuyển giả rất sợ sự kiểm duyệt của đế quốc Pháp, còn nay dưới trào nầy, thiết tưởng không cần gì giấu giếm nữa và cũng nên nói chuyện huỵch tẹt ra, có lẽ bài “ghẹo trăng non” nầy có thể là của Tôn Thọ Tường, ông làm với mớ lòng đã giận trào Huế không cho tập ấm quan văn, và vì cảnh nghèo túng, hút nghiện, phải tùng quyền theo sắp theo Tây, tuy một lòng trung quân, không hà lạm và khi giúp người làm chánh trị được thì giúp ngay…

Tôi quá lạc đề và xin trở lại, cả hai miếng đá tả, hữu, đều đo : cao 35 cm ngang 45cm, phần trên đá màu trăng trắng đục đục như nền da trời lúc chạng vạng tối, phần dưới đá lại có hình dạng mờ mờ như bóng ngựa phi trong gió cuốn, rõ là cảnh “vân cẩu” hay hình “bào ảnh” thiêng liêng không thể tả nên lời.

Theo tôi, đá vân thạch (tôi chừa từ “ngọc thạch” cho jade), nhứt là đá Đại Lý thạch của nước Miến Điện ngày nay, đời nhà Đại Thanh, người Trung Hoa vẫn trọng và nhìn nhận là quý hiếm, là một kho tàng bí ẩn của Tạo hóa, hơn xa và quý hơn rất nhiều marbre d’Italie, và ngày nào bên Âu bên Mỹ, đã chán nét họa Picasso, khi ấy, tôi đây đã là tro đất, và khi ấy, lối chơi đá của Tô Đông Pha, của Mễ công Phí Thạch ắt là khó kiếm.

Tôi đã đi quá mức hay lằn mực của bài nghêu ngao nầy, xin trở lại thực tế:

Trước đây, khi còn học với cụ Đốc, giáo sư Nguyễn Văn Mai nơi trường Chasseloup Laubat, tôi đã từng nghe bài ca trù như sau :

“Thi tửu cầm kỳ kiếm

Phong hoa tuyết nguyệt thiên

Chi cho bằng:

Trà cho ngon, rượu cho ngọt

Hát cho ngót, đàn cho hay

Nợ phong lưu, hết trả lại vay

Khố vô tấn, hết rồi lại có!!”

Và khi tôi bắt gặp bài ca trù này, xin cho tôi viết đoạn kết luận.

Nơi đoạn trên, tôi đã đưa câu thòng nghi sập ba thành nầy, ước định vào cuối nhà Đại Thanh, dưới trào bà Tây Thái Hậu. Bây giờ, với bài ca trù, tôi có ý nghĩ khác:

a) Nếu quả thật sập này do tướng Bảy Viễn hốt trong chợ lớn, nơi một nhà giàu lớn Ba Tàu, thì sập “đi mây về gió, ghẹo Phù Dung tiên nữ” nầy ắt do từ bên Tàu, Hồng Công hay Vân Nam tải qua, và có thể do một quan to lãnh tụ đốc khấu Lý Hồng Chương, Phùng Quốc Tài hoặc một lãnh binh ghiền gập đặt làm khoảng cuối đời Thanh,v.v.

b) trái lại, nếu sập do ông Bảy mua, sắm hay chiếm đoạt từ một quan to Huế, Hà Nội, hoặc trong nầy thì xét lại những câu hát ngọt lịm, ngọt xớt, mê người: “hát cho ngót”, “rượu cho ngọt”, “đàn cho hay”, vân vân, những câu ấy, người Tàu ắt không nói vậy, và ắt đúng là giọng một Nguyễn Công Trứ hoặc Tú Xương, hoặc giả như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, (và tôi bỏ không nhắc đến Trần Bá Lộc hay Đỗ Hữu Phương, vì Lộc và Phương đời loạn li Tây qua đây chưa có mỹ thuật cao siêu như vầy), nhưng dầu là của chủ nhân Việt đặt làm, mà kể về nghệ thuật siêu phàm như chiếc giường hút nầy, người chế tác phải là thợ hấp thụ nghệ thuật đời Kiền Long Ung Chánh sót lại, tạm nói đời Từ Hi Thái Hậu cũng được, và kết cuộc, bài nầy mục tiêu là “thú chơi cổ ngoạn” mà cũng là “thú chơi sách”, bốn trang sơ sài mà muốn bắt cá hai tay, khiến nên viết không ra hồn, lời nói vính cướng, luộm thuộm, quàng xiên, quỳnh quàng, quýnh quáng, tôi thành thật cáo lỗi. Có câu Hán: “Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc, Yên hà bất tự văng niên xuân” (Cổ thi), và câu nầy thi sĩ TCHYA, Mai Nguyệt đã dịch sẵn: “Sắc trước còn đâu cây cỏ ấy, Xuân xưa khác hẳn khói mây nầy”. Tôi xin mượn để chấm dứt về quí-phi-sàng nầy, để bắt qua đề tài khác:

Sàng hút á phiện hai mâm hai đèn, mục lục số 971 mua nơi nhà Huê Hưng ngày 14 janvier 1970, giá 150.000 đồng, và theo lời ông Tân Hanh nói ngày 11-9-1973, là sập-ba-thành của ông Vạn Thạnh đại phú gia ở Chợ Lớn.

Kể cho đến hôm nay 11-3-1993, thì sập nầy, tôi làm chủ đã được hai-mươi-ba-niên, đã dùng làm giường ngủ, thường bữa, nhưng rõ lại dĩ vãng của nó, phải xem lại trong sổ mục lục mới biết rành gốc gác, cho hay có câu “của tìm người” và thật quả như vậy không sai. Ông Tân Hanh nói đây là một người, trước làm họa công nơi hãng Pháp Foinet, sau lên Nam Vang một độ, vì ham trên ấy á phiện dễ mua và bán giá rất hời, sau rốt Tân Hanh rút về Sài Gòn tạo nhà theo ý muốn và trở nên tay lão huyện đưa người cửa trước rước cửa sau, nào những khách ngoại bang “đi mây về gió”, nào những khách thích đồ cổ mà Tân Hanh chọn lựa và trình bày rất duyên, và theo lời T.H kể, sở dĩ sập ba thành nầy, ai không mua và đã để lọt về tay tôi, là vì vóc-giạc giường nầy quá lớn, ắt khó kiếm người tiêu thụ, trái lại vóc vĩ đại ấy, tôi đây lại thích, vì tương đối, và chiếu với quí-phi-sàng “Thi tửu cầm kỳ kiếm” kể nơi trên, thì thật là tương xứng, sàng kia vừa bé vừa xinh, sàng nầy lại chất chứa ý nghịch hẳn, đúng là sàng hút đặt riêng cho ông chủ hiệu Vạn Thạnh, nghiện lớn, và giường đo 2 mét 40 cm bề dài, và 1 mét 80 cm bề ngang, đủ sức chứa chủ nhân Vạn Thạnh, nằm nơi giữa, để tả và hữu là hai người “làm thuốc” và mỗi bên là một mâm đèn đủ cuộc tiệc, vì V.T, mỗi cữ hút, phải kéo không rõ là mấy chục hay trút trăm điếu, thuốc đã nướng và làm sẵn, để cả xâu, cả dọc không khác xâu nem nướng bày mời khách xơi, lúc xưa á phiện công ty giá nhứt định mà V.T xài trót bạc trăm mới phỉ, còn như nay nếu V.T. hãy còn mạnh khỏe và nếu mua lén mua giấu thì thuốc phải bạc triệu mỗi ngày chớ tôi đây không nói pha lửng đâu.

Trở lại quí-phi-sàng, tôi quên nói nét chạm thật tỷ mỷ và khéo tuyệt, đúng là nghệ thuật Trung Hoa, chạm trổ chữ cổ tự (triện) thị chạm chữ nổi rõ nét, còn mặt liễn lại trổ hồi văn “bông tai-vị” đủ bốn cánh sắc sảo lòn dưới chữ triện câu thi, kiểu thức nầy rất khác xa nghệ thuật của người Đình Bảng, hoặc Nam Định nước ta, quen chạm lọng, múc sâu, chừa nền đất trắng láng, và ít khi chịu khó lót lớp “sơn mài” qua mấy nơi khoét lọng, tôi nói như vầy vì tôi không đủ chữ để tả cái khéo của sập “quí-phi-sàng” nọ mà tôi xin đính chánh là cổ khí Tàu cuối Đại Thanh, và trái lại nghệ thuật sập ba thành Vạn Thạnh nầy, lại là kiểu trơn bén, dựa thép chín miếng đá hoa, miếng giữa, thật to (Đại-Lý-thạch tròn, kinh tâm 40cm, trổ hình con ngỗng trời đứng trên đỉnh núi, ngỗng đen màu khói đèn vóc to bằng vịt cồ, đầu cúi như đang ăn thóc), hai phiến đá tả hữu thì y như san thủy vẽ thủy mạc màu chocolat, 45cm, hình tròn khuyết bốn khuỷu sâu, và hai bên tả hữu, vách dựa tay, lại có mỗi bên, là ba miếng đá khác nhau về màu sắc cũng như hình dạng rẽ quạt, miếng chả, và hình bầu dục, và thay vì ba vách ấy là gỗ chạm soi trổ, thì đây, toàn là gỗ táo Tàu, chuốc tròn cỡ cánh tay và uốn khúc nơi đầu theo kiểu thức đầu giao-long, đầu thao-thiết, v.v… Vả lại, nếu quí-phi-sàng dành cho một hoặc hai người nằm, thì sập Vạn Thành nầy, đủ làm chỗ đánh tổ-tôm, nhậu nhẹt, hoặc đờn-ca tài-tử bao nhiêu người cũng đủ chứa, tứ tài-tử hay lục, bát, thập cũng xong.

Photo edit by Sơn râu

Cặp trường kỷ “long-mã hiến đồ-thơ”, mục lục số 1258, làm chủ ngày 19 février 1984, đối với 9 món sứ cổ (1 dĩa số 411, 1 tỷ-yên-hồ số 85, 1 t.y.h số 86, 1 số 97A, 1 số 175, 1 số 252, 1 số 253, 1 số 97B, 1 số 930), chín món nầy đổi lấy hai trường kỷ nầy, cả hai lô trao đổi giá tương đương là một cây vàng (1 lạng) và sau khi đem về nhà, nhờ thợ sửa chữa chắc chắn, truy ra hai kỷ nầy, gốc của bọn nhà buôn lớn đường d’Espagne cũ (nay là đường Lê Thánh Tôn) ông chủ Đức Lợi, thân gia của bạn Khai Trí (nhà sách) và nếu quí-phi-sàng mục số 207 đúng là cổ khí cuối Mạt Thanh, va giường Vạn Thạnh, vẫn cũng là nghệ thuật Trung quốc thế kỷ dứt Đại Thanh, trái lại, hai trường kỷ gỗ trắc chạm điêu luyện nầy đúng là mỹ thuật Bắc bộ cỡ họ Hoàng thái hà ấp, hoặc của một họ Trần tổng đốc, hoặc họ Trần phụ chánh đại thần, và cả ba cổ vật nầy đều là mỹ thuật hi hữu đáng giữ gìn làm dấu tích sau nầy. Những mỹ phẩm còn toàn vẹn như ba món nầy quả là khó kiếm và không nên hủy hoại (như nữ trang lăng bà Từ Dũ ngoài kia).

Tái bút

. Sau gặp Huê Hưng tôi hỏi kỹ, ông nói quí-phi-sàng, ông nghi của ông tướng Bình Xuyên ăn hàng năm xưa nơi hãng máy gạo Nam Long, đại phú gia lâu đời trong Chợ Lớn.

Con người qua ai như nấy, túi tham không đáy, tỷ như tôi, có được ba mỹ phẩm nầy, vậy mà ai còn chưa vừa long và tiếc hối nọ kia.

Kể như hai ghế trường kỷ nầy, quên nói muốn biết lai lịch kỹ hơn, xin chờ xem bộ “Đâu là thú vui, đâu là nghệ thuật”, có nói đầy đủ.

Ngoài ra xin nhắc lại những cơ hội làm mất, đó là:

* Lúc đầu quân Sa Đéc, còn sắm được một bàn cẩm lai kiểu “hột lúc-lắc” cần ba mặt kính để chứa sách và ba mặt gỗ, vì túng đã bán ra, gia ba mươi đồng (30$00) nay bạc triệu không tái tạo được, chớ chi nay còn, sẽ cho chạm thêm: mặt A, ba kiểu chạm nổi: Cầu (mãng cầu), Vừa (dừa), Đủ (đu đủ); mặt B, Vừa Đủ Xài; mặt C: Xài Vừa Đủ; mặt Đ: Đủ Xài Vừa. Cái bàn ấy nơi nắp trên, sẽ giữ lại một lộc bình mua 20 bạc (20$00), chính thân phụ tăng giá bằng cần một miếng vàng vuông che một lỗ khoét để làm bình chứa nước uống, và cái dại ngày nay tiếc không kịp là vì lỡ tay làm nứt bình và đã bán lúc nào cũng đã quên, và ăn năn đã muộn, vì bài thơ thân phụ tự tay chạm: Xuân du phương-thảo-địa, Hạ thưởng lục-hà-trì, Thu ẩm huỳnh-hoa-tửu, Đông ngâm bạch-tuyết-thi, bài thơ chữ của cha mà để cho mất, biết làm sao hối tiếc.

* Một dịp mất nữa là đã gặp tại nhà buôn Tái Hiệp Hòa (Chợ Lớn) mười hai chiếc ghế bằng gỗ mun, kiểu đồ mộc thợ Bà Rịa, lối 1900, trả giá không xong, vì ham hạ giá, và đã vuột mất, ghế giá 600 muốn bớt còn 500, dại chưa.

* Một dịp thứ ba gần đây, thấy một bộ ghế bành, mặt đá Đại Lý vân khói đèn, đặc biệt là kiểu thức thật tinh xảo hiếm lạ, vì gỗ trắc hồng mộc, trổ ra hình dây mây (rotin) đan hệt như ghế mây chuốt bào nhỏ sợi và kết mịn kiểu “lông mốt, lông hai”, những chỗ mộng chốt khít khao trơn bén, chạy tiền chưa kịp, bộ ghế đã ra đi, tiếc cho đến nay vẫn còn tiếc, nhưng gẫm lại, không nên tham lắm, giữ được ba món trên đây, đủ cho là tự túc, nhứt là mấy độ đá Đại Lý làm mặt, đều còn toàn vẹn, và nay viết lời chót để chấm dứt bài nầy, là có lẽ người chủ trước của ba món nầy, theo tôi, nhờ sắm trước những đá quí ấy rồi mới chọn thợ sáng tác sau, và người làm chủ những vật ấy phải dày công dày phước mới cầm những vật ấy được.

(13-3-1993)

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 5-5-1993)

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 7

Cuốn Sách Và Tôi

Hôm trước tôi viết chưa đầy trang, bỗng bị gián đoạn, hôm nay 5-5-1993, tôi viết tiếp, và câu chuyện đã bị đứt khúc đầu Ngô mình Sở, âu cũng là số phận:

Trong cuốn Thú chơi sách, viết năm 1960, vì bài thơ Tôn Phu nhơn qui Thục tôi đã bị chế giễu và làm trò cười trong giới vọc vạch tập làm tám câu theo lối thơ Đường, hai bạn Thuần Phong Ngô Văn Phát và bạn thân Tế Nhị Lê Văn Chính, nay đã lui về chầu Diêm chúa, năm ni 1993, tôi vẫn chưa tởn, và xin trở lại bài Tôn Phu nhơn nầy nữa, và gẫm lại, viết về chánh trị thì nguy hiểm, chi bằng tìm dấu người xưa giữa hai ông Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường là tốt hơn. Trước tiên, xin thưa, tôi viết là tùy hứng, nhớ đâu viết đó và nếu có “hàm-bà-lằng loạn-xạ” thì cũng đành chịu, và xin độc giả tha thứ cho tuổi già.

Tôi nhớ lại anh Thuần Phong, tuổi chưa già lắm nhưng tại sao anh chọn chết đến ba lần, chết vì bịnh, rồi hỏa táng chết bị lửa đốt, rồi nghe đâu tro cốt anh yêu cầu được chôn vùi trong lòng Đồng Nai nước lạnh… và ngày tôi đến điếu tang trễ, lại thấy thờ anh với cây viết máy Sheeffers đắt giá, không biết có còn y chỗ cũ hay chăng? Trong khi ấy, anh Tế Nhị, khi lìa trần, lại xin quan tài màu trắng giữ lòng trinh bạch, khi cất đám lại có nhạc Tây đưa linh, và anh lên nằm gần mả Huynh và Đệ họ Ngô Đình trên vùng Lái Thiêu Sông Bé cao ráo, nhưng anh nằm nơi đó có vĩnh cửu hay chăng, vì năm rồi, chị quả phụ anh Chính từ Úc châu về, có ngỏ ý muốn đưa anh về nằm vùng Thủ Đức, gần gũi hơn, còn như đối với hai ông Trị và Tường, xin hỗn cho tôi gọi tắt cho gọn, họ Tôn sanh năm 1825 và mất năm 1877, lớn hơn Trị năm tuổi (Trị sanh năm 1830 và đến năm 1910 mới mất), và như vậy cái tin “Khóc đầu Hạng Võ” là tin trật lất, vì chết năm 1877 làm sao khóc năm 1910 được, và tiện đây xin thày lay luôn, bài “Vườn xuân vắng chúa lậu tin mai”, theo tôi có lẽ là của họ Tôn thác lời khuyên con để nói trớ xin khất không theo Trương Định được, và có lẽ bài “Bái công khóc đầu Hạng vương” là thơ họ Tôn khóc tiếc Trương Định rồi nào việc lãnh binh Huỳnh Tấn xin Tây đừng giết Quản Trực vì Trực tài hay hơn Tấn thật nhiều, nhưng Tây đâu có nghe lời Tấn, vì oán ông Trực giết Tây quá nhiều vả lại một một hai hai, Nguyễn Trung Trực xin chịu tử hình hơn là hàng đầu ô nhục. Trực thọ hình tuổi vừa hơn ba mươi, anh hùng tử khí hùng nào tử.

Nay nhơn nhắc đến Hạng vương, tôi xin bắc cầu nói trở lại vế cái chết thật anh hùng có một không hai nầy. Theo truyện Tây Hớn, bản dịch của Nguyên Chánh Sắt (1908) do Huỳnh Trí Phú ra tiền cho Imprimerie Saigonnaise xuất bản, thuật rằng nơi trận Ô giang, binh tướng không còn, con Ô chùy đã nhảy xuống sông, không chịu lên thuyền của Đình trưởng, nàng Ngu Cơ cũng đã không còn, lực tàn binh hết, sức không còn, trí đang rối đến cực độ, bỗng thấy tướng bên Hớn là Lữ Mã Thông bèn gọi “cố nhơn” hai tiếng rồi rút gươm tự vận. Trong truyện không nói nhiều, nhưng nay luận thêm, đời ấy bày ra lệ thói dùng đầu lâu kẻ địch làm trận công để thăng cấp nên gọi “đầu lâu là thủ cấp”, nhưng buổi ấy, uy danh Hạng vương còn quá nhiều, năm tướng cạnh của Lữ Mã Thông, bèn tranh chia nhau cắt hai tay, hai chân và khúc thân mình Hạng vương mang về chia công, và nói thêm, tên phản bội lớn khác như Tiêu Hà, với câu Hàn Tín từng than: “Sanh ư Hà, tử ư Hà”, tên Tiêu Hà nịnh bà Lữ Hậu ấy, vẫn đầu thai làm Dương Tu, để cho hậu kiếp của Tín là Tháo chém cho hả giận.

Cho hay tin hay không tin là chuyện khác, dầu chi cũng được một chầu vui khi tửu đàm trà luận, Hạng vương thác vừa hơn ba mươi tuổi, Hoài Âm Hầu cũng chết tuổi vừa 34, éo le và khéo viết thay người sáng tác truyện xưa theo truyền khẩu mấy đời mấy miệng kể tích truyện xưa Ba Tàu. Đến đây xin trở lại chuyện luân hồi lộn kiếp như trong bộ “Trọng Tương vấn Hớn”, dẫu cho rằng dị đoan, nhưng hủ lậu như tôi, xin thưa dị đoan như vậy cũng nên có và nên để dành, lưu truyền mà vô hại vô phạt, không chi cũng an ủi lòng kẻ còn gốc mê tín do ông bà tổ tiên để lại, từ Âu cũng có và từ Á vẫn còn hoài, tiếng “folklore” của Pháp, dịch ra là phong tục học, là tục truyện, là dã thặng của một địa phương. Bên Tây, khi ngồi giữa ban ngày bỗng nghe mặt bàn gỗ thinh không kêu “rắc” vẫn có người bỏ chạy, bên Tàu bên Ta cũng y một thế ấy, và vẫn nhang khói vái van thinh khổng thinh không, theo tôi, như vậy là không hệ gì đâu. Tôi đã từng thấy một nhà cách mạng nọ, đau nằm trên giường bệnh, không thốt lời gì nhưng vẫn nhắm mắt giả ngủ, để cho bà xã và người con gái đều từng đi kháng chiến nhưng nay thầm vái người khuất mặt cầu cho chồng cho cha qua khỏi cơn bệnh, không khác chiếc thuyền ra khơi lâm bão lớn, vẫn còn cho thuyền giữ được khúc bánh lái cầu an!

Tôi đã sa đà nói toàn chuyện bâng quơ, và nay xin kể thêm về tích ông thần địa phương thờ ở làng Vĩnh Thanh Vân cũ ở Rạch Giá là ông Nguyễn Trung Trực, đình làng nầy vẫn do một người Tây chính cống là bác sĩ Le Nestour đứng ra xin lập đình giả thờ linh ngư Nam Hải tướng quân (Cá Ông) nhưng kỳ trưng vị thần có bài vị để thờ là Nguyễn Trung Trực. Một buổi sáng, tôi ghi là ngày 3 mars 1976, nhơn ra chợ Trời bán sách cũ, tôi bỗng được anh Liễu, (tên người bán sách nay không biết còn mất thể nào), Liễu cứ theo nài ép, cố mời tôi mua hộ một cuốn sách đã mất trang bìa nên không rõ sách ấy nói gì, duy đã đóng bìa vén khéo, giá sách chỉ hai đồng (2đg giấy) thôi, tôi gượng gạo mua để làm vừa lòng Liễu, nhưng khi về nhà và dò lại, Liễu đã biếu tôi một cuốn giá trị rất lớn và đó là cuốn đã không còn nơi đất Lục tỉnh Nam kỳ nầy, và chỉ còn một cuốn duy nhứt (?) nay lưu trữ tại kho sách trung ương ở Hà Nội, và đó là quyển Pháp văn:

“Scènes de la Vie Annamite KHI-HOA”, Recueil de nouvelles: le meurtre du Capitaine BARBÉ, la Surprise de Rạch Giá,… (etc) PARIS 1884, (livre très rare: un exemplaire à la Bibliothèque Centrale de Hà-nội, exposé à Saigon centenaire naissance J.B.E. LURO) Voir Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, n. ler et 2è trimestres 1940, p. 163).

Và đó là chút duyên của tôi với nghiệp hay thú chơi sách, và trong sách ấy có một đoạn kể NguyễnTrung Trực từng bị giam nơi Khám Lớn Sài Gòn và trong buổi bị tra khảo ông đã nhất quyết chịu thọ hình (chết chém) chớ không hàng giặc. (Ngày nay cuốn tàng trữ ở Hà Nội có còn hay chăng?)

Cuốn sách quèn giá mua hai đồng tiền giấy (2đg) ghi số mục lục 420 B (3-3-1976), giá thử nay có người giàu bạc triệu muốn được làm chủ, thà chịu chết và cứ ăn rau muống, người ấy đừng mong rớ tới.

Đã nói sa đà thì cứ sa đà luôn, tỉ như chuyện Thủ khoa Huân thọ tử hình, bao nhiêu sách và thi để lại đều ghi câu “chết tại Tho Giang”; cho hay Tho Giang tôi hiểu là sông Tiền Giang, khúc chạy ngang chợ hạt Mỹ Tho, nhưng kỳ trung, tôi sưu tầm ra Huân bị Tây chém tại Bến Tranh, nơi ông khai chiến, và Bến Tranh ấy là làng Phú Kiết (tên cũ) khúc Bảo Định chớ không phải Sông Tho. Cho hay việc cũ vừa hơn trăm năm, mà gốc tích đã sai lạc, nước Việt ta cho đến đời nào mới có được một cuốn tự điển có hình ảnh và không sai như quyển bé tí Petit dictionnaire Larousse của Pháp? Còn lâu!

Lụt về Thạch Hãn

baotreonline.com

Đinh Hoa Lư

Post on February 14th, 2020
Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Nước mênh mang, nước vây khắp chốn. Dòng chảy xiết không bến, chẳng bờ. Bãi cát Nhan Biều không còn dấu vết. Làn nước trên rừng đang tràn về ‘hùng hổ’, dòng đục ngầu chảy băng băng. Lụt đâu cần biết bao nỗi âu lo của người hay ngay cả thú vui vô tư tuổi nhỏ, nó vẫn ‘cắm đầu cắm cổ’ trôi nhanh về biển. Giữa dòng vô số xoáy nước, to nhỏ, quay cuồng xoắn tít. Rồi vô số lau lách cứ thế mặc sức đua trôi theo dòng. Tôi xem chừng chúng như chen nhau , đua trôi thật mau về ‘thăm’ biển cả “Thái Bình”. Thỉnh thoảng theo làn nước dữ nhấp nhô mấy cây gỗ mục. Nhà ai thật gan, nghe đâu vớt được cả đống củi “trời cho” này. Thuở này thiên hạ còn nấu ăn bằng củi, nên gỗ rừng về xuôi tấp một mớ vào bờ, khiến họ “mừng ơi là mừng!”.

Tôi cố nhướng mắt nhìn lên hướng lên Cầu Ga. Chiếc cầu vẫn còn hình dáng quen thuộc một màu đen sẫm bắc qua dòng nước cuồn cuộn trôi về. Nó vẫn, đứng vững, nối nhịp thương yêu đôi bờ.

-Năm ni, chắc nước khôn vô chùa mô hè?

Một ông già vừa đứng “cất rớ” kiếm mớ cá nước lụt, vừa lo ngại nói với lũ nhỏ chúng tôi .

Tôi ngoảnh nhìn hướng cổng chùa Tỉnh Hội Quảng Trị, nước còn một chút nữa là đến cổng ‘Tam Quan’. Bãi cát trước chùa thì hoàn toàn mất hẳn, nước đang mấp mé bờ đường. Cái Miễu Ðôi tuy ngó ra sông nhưng cao hơn nên chưa hề gì. Phía đập Rì Rì thì không còn nữa, dòng lụt đã cắt ngang. Hướng Sãi nay chỉ còn lũy tre mờ mờ, cong cong

-Biết tin gì không dưới ‘nớ’?

Lụt ngăn. Chẳng ai dám liều băng mình qua dòng nước đang xé con đập, tràn vào nhánh sông nhỏ chảy vào Vĩnh Ðịnh. Không ai qua được đoạn đập dài non cây số bị nước cắt ngang. Bờ tre phía Sãi xa xa, như đang ‘rướn mình chịu đựng, oằn oại, cố sức ngăn cản’ dòng nước dữ đang muốn xô đẩy, hất tung tất cả để xoáy vô làng. Tuy biết lụt sẽ hết, nước sẽ rút dần, thế mà khoảng thời gian này không về được làng, không lên được Tỉnh, người ta xem chừng lâu quá, như “cả cuộc đời’. Hai bờ lóng nhóng, những người kẹt lại trên này nhấp nhỏm chờ cơn nước rút. Ai không liên can thì đi kiếm củi, rớ cá, hay mang ‘tơi’ đi xem lụt.

Duy bọn nhỏ chúng tôi đi xem lụt mà không bị cấm thì cũng thật may, không gì ‘khoái chí’ cho bằng. Tôi thích thú nhìn mấy con cá trắng nhảy long chong trong cái ‘rớ’ ông già vừa cất lên. Ông rung rung cho mấy cọng rêu rớt xuống nước, đùn mấy chú cá trắng xuống tận đáy lưới. Buổi cất rớ của ông phần nhiều là cá ‘lòng tong’ nếu không muốn nói lái lại là ‘long hội’! Ðôi lúc ông may mắn có vài con diếc ‘ngu ngơ’ đâu theo nước lụt trôi về, lọt vào lưới ông. Mùa lụt, cá diếc có trứng càng hay. Ông già vội hắt hết vào cái vợt nhỏ, xong ông bỏ cá vô cái oi bên thắt lưng. Tôi nhớ đến tô cháo cá diếc trứng vàng hươm béo ngậy mạ tôi thường nấu vào mùa này. Hình như mùa lũ cá diếc cũng tức trứng đi tìm nơi đẻ như cá gáy. Tôi không hiểu lắm, nhưng con cá diếc mà to ra thì trông ‘giông giống’ con cá gáy vậy. Ðó là ý nghĩ của tôi ngày đó, chưa hẳn là đúng.

Xem chừng nước càng lúc càng dâng. Tôi nghe phía sau tiếng người kêu nhau í ới. Mấy con đường nhỏ trong “xóm Heo” (cái tên xóm heo, oái oăm thay lại gần xóm Chùa Tỉnh Hội, khi nghe tiếng chuông công phu buổi sáng thế là dân trong xóm thức giấc, nhưng lại thúc giùm ông thợ “mổ heo” luôn thể  – thật là chuyện khó lòng cho các thầy lúc này không sao giải trừ được nghiệp (sát sinh) người ta bắt đầu lội nước. Xóm Heo thấp hơn mặt đường nên nước trong xóm có nơi sâu ngang ngực. Xế trưa nước tràn lên đường. Cống Quân Cụ trước mặt Ty Thú Y, giờ này nước đã tràn qua thật rồi. Vài con cá, tôi không biết cá gì, lại “bon chen” trườn mình theo làn nưóc lấp xấp trên mặt đường băng ngang.

Thằng Mẹo, một đứa trong bọn tôi vắng đi một hồi không thấy hắn đâu? Thì ra hắn đang hì hục kéo một nhánh phượng gãy thật to đem về nhà làm củi.

– Cái thằng! Ngó rứa mà thương nhà hắn dữ thiệt a, thật là thằng con có hiếu, đi chơi lụt hắn cũng không quên chuyện kiếm củi về cho mạ hắn.

Bao thân cây rừng thật to đang nhấp nhô trôi giữa dòng nước chảy băng băng. Người ta xuýt xoa chỉ trỏ, ước chi nó tấp được vào bờ. Riêng tôi chẳng màng chi thứ việc ‘người lớn’; con nít chỉ một ‘chuyện thích’, đó là lội qua xong lội lại trên làn nước đang băng qua hai cái cống trước mặt Trại Quân Cụ  và Ty Thú Y. Nước tràn qua mặt cống khá mạnh, vừa lội tôi vừa hồi hộp, tim đánh liên hồi sợ nước cuốn tôi trôi về biển mất thôi.

Lụt về đến đồng bằng thì trời lại ngưng mưa. Nhưng bao nhiêu nước trên nguồn dồn hết về đây. Bốn mặt hồ bao quanh Thành Cổ nước dâng tràn lên bốn con đường quanh Thành. Nước tràn vào sông Vĩnh Ðịnh, nước ngập đồng ruộng An Tiêm, Hạnh Hoa và luôn cả cánh đồng sau xóm Cửa Hậu.

Ðây cũng là dịp trong xóm tôi nghe chừng rộn ràng, ‘bát nháo’ vì cái chuyện đi ‘nơm’ cá ngoài đồng. Hàng năm vào lúc lụt như thế, rất nhiều cá gáy theo cơn nước lên đồng tìm chỗ đẻ trứng. Thỉnh thoảng chúng ‘tức trứng’ thi nhau quẫy cạnh mấy bụi cây nhô lên trên làn nước đục. Ðứng xa thấy cá quẫy, dân trong xóm đua nhau cầm nơm, bươn bả nhào tới, tiếng la tiếng hét ôi ‘loạn xà ngầu’ vui quá đi thôi. Trên cánh đồng ngập nước phía sau phường Ðệ Tứ, lúc này người ra nơm cá rất đông. Nước ngập quá bụng mà chẳng ai lo chi chuyện ướt lạnh. Thú vui ‘trời cho’, hào hứng trong mùa nước dâng, làm người nào cũng không còn biết lạnh. Phía xa có ai dùng rựa chém một con gáy thật to; đằng kia có người nơm được một con, mừng quá la toáng lên, bà con lao tới phụ bắt.

Thằng Mẹo xóm trên, cái thằng coi bộ việc chi cũng rành. Hắn kết xong cái bè chuối thật to từ lúc nào. Vừa chống bè, hắn khoái chí kêu tôi cùng lên bè đi chơi với hắn. Tôi là thằng “nhát gan, thằng thỏ đế” làm gì dám nghĩ tới chuyện lên bè với hắn.

Nghĩ cũng “tội ” cho cái xóm mới ‘mọc lên’ sau. Nhà họ sát cánh đồng, bìa ngoài xóm Hậu của tôi. Họ đang bị cái họa “ách nước tai trời” đày đọa . Bà con phải đi tránh lụt, phải đi xin “ăn nhờ ở đậu” ít ngày tận xóm ngoài, tức mấy chục nóc nhà “cố cựu” cạnh con đường nhựa, con đường Lê Văn Duyệt trước Cửa Lao Xá của Thành Cổ. Xóm ngoài này may mắn không bị nước lụt ‘xâm lăng’. Dĩ nhiên, không ai nỡ lòng từ chối!

Một cảnh nơm cá ngoài đồng mùa lụt. nguồn: internet

– Ai chà!

Sao tôi  lại vui và mong chi cái cảnh lụt lội như thế này mãi để chạy đi xem, đi chơi, đi lội lụt trong lúc bà con mình sau xóm lại đang vất vả ngược xuôi khổ sở trăm bề? Nhưng thật ra thì chính “Ôn Trời” gây họa chứ ai vô đây nữa! Lũ con nít bọn tôi chỉ là ‘vui ké’ đó thôi!

Cái nhà thằng Bốn cùng lứa với tôi, ba hắn có xe đò Quảng Trị-Huế, năm vừa rồi chú Ba – ba hắn (nhưng hắn kêu chú vì kiêng tên) mới xây xong cái nhà ngói thật to sau xóm. Số là ba hắn bán nhà cũ sát đường  xong lại ra mua đất sau đồng, có vườn tược rộng rãi vui thú tuổi già. Nền nhà thằng bạn ‘nối khố’ này xây lắm công phu và tốn kém rất ‘hung’ (nhiều). Cát đổ nền, ba hắn (tức là chú hắn) thuê xe lấy tận bờ sông chở về, mất cả tháng trời mới xong. Nội cái nền không thôi đã cao hơn một mét, thế thì làm chi có chuyện nước lụt làm ướt đồ đạc trong nhà hắn được. Xóm Hậu “Mới” này chỉ có nhà thằng Bốn không lo cơn lụt mà thôi. Chiếc xe hàng (xe khách) ba hắn (tôi lại quên nữa! của chú hắn) thì tạm thời ‘lánh nạn’ ngoài đường ‘quan’ tức là con đường nhựa Lê Văn Duyệt. Còn lại đa số bà con ngoài này chỉ toàn là ‘tạm cư’, bởi thế nhà cửa mới bấp bênh.

Bà con dưới làng, mấy năm chạy lên xong chạy về, tránh bom đạn. Riết một hồi không biết làm chi ăn nên đành phải ở lại Tỉnh luôn. Số bà con này mang ‘kiếp tản cư’ nên nhà cửa tạm bợ: cái lợp tranh, cái lợp tôn, “lỏng chỏng, le te”. Vợ con gia đình, ăn theo đồng lương của Lính kiếm được đồng nào “xào đồng đó” nên vách nhà của họ thì tôn, ván ép Mỹ lung tung, tạm che gió lánh mưa mà thôi, cần chi cho đẹp. Nhà cửa tạm dung thân nên ‘dựng vội xây vàng’ bên mé ruộng, bờ ao. Thế là những cái nền đất thấp lè tè cơn lụt mới lên nước đã ‘liếm’ tận vạt giường, khiến bà con mất ăn bỏ ngủ.

Lội bì bõm theo con ÐƯỜNG NGỰ tôi thấy cánh đồng thân yêu giờ đã loang loáng nước. Nước phủ tràn trề, từ con sông Vĩnh Ðịnh chặn thôn An Tiêm mênh mông lan đến xóm Tiêu. Ðứng mé xóm sau tôi thấy giờ tất cả chỉ là một màn nước đục giống một cái đầm vĩ đại mà Ông Trời sau một đêm đã tạo một “cảnh biển dâu” như thế. Màn nước mênh mông với những làn sóng nhỏ lao xao theo làn gió nhẹ. Tiếng bà con í ới kêu nhau đi nơm cá, loáng thoáng mấy con chim nhạn bay lướt qua mặt nước. Lạnh lẽo ướt át mà lại vui, cái cảnh rộn ràng tất bật làm sao, khó diễn tả cho hết xóm làng trong cơn nước dữ?

Cảnh trời và người trong mùa LỤT VỀ cứ thế tiếp diễn mãi hàng năm bên dòng sông cũ. Thạch Hãn xa rồi trong nỗi nhớ khôn nguôi, bởi vì dòng sông nay còn thì còn đó nhưng trong tâm tư người trở lại thấy nó lạ lẫm làm sao? Lạ từ cái cầu cho đến dòng nước chảy do sông đã bị ngăn dòng, càng làm cho tôi chẳng bao giờ quên được kỷ niệm quê hương trong mùa mưa lạnh.

Trẻ em giỡn nước bên nơm cá. nguồn internet

ĐHL

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 1 June 2023
Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Lời Giới Thiệu:

 Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 6

Chiếc C&C đó không chở Trung tá Nguyễn Thành Tiên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân mà lại chở ông Thiếu tá Nguyễn Phán, sĩ quan pháo yểm của liên đoàn cùng một phụ tá của ông là một thiếu úy tiền sát viên.

Hình như chiếc trực thăng này đã bị phòng không bắn, nên quay đi, quay lại, tôi không còn thấy nó nữa.  Sau này tôi nghe tin báo rằng, hôm đó có một trực thăng của Phi Ðoàn 229 bị trúng đạn của Việt-Cộng trong vùng Ðông Kon Sơm Luk rồi bị rơi trên khu vực rừng cây thưa gần Ðồi Ba Chấm hướng Nam Kontum. Không rõ chiếc máy bay này có phải là chiếc C&C đã chở Thiếu tá Phán hay không?

Ðúng nửa giờ sau, pháo địch đột nhiên chấm dứt. Vì bụi dày đặc quá, tôi không nhìn rõ những gì đang xảy ra dưới đất, nhưng trong tần số không lục của phi cơ, tôi nghe quân bạn báo cáo rằng Việt-Cộng đang tiến lên, địch đông như kiến. Trinh sát cơ của ta thông báo rằng, hiện thời lực lượng bôn tập của Việt-Cộng đã tràn qua hai cái tiền đồn và đang ào lên ngọn đồi chỉ huy của Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Viên sĩ quan điều không tiền tuyến gọi Liên Ðoàn 22 và đề nghị pháo binh đánh tiếp cận để giải tỏa bớt áp lực của địch cho Tiểu Ðoàn 95 nhưng không ai đáp lại yêu cầu của anh.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân là Thiếu tá Ðỗ Văn Mười sĩ quan khóa 19 Võ Bị. Trước đây, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân. Sau khi thụ huấn khóa học Bộ Binh Cao Cấp, anh Mười đã thuyên chuyển ra Quân Khu 2 và nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ðây không phải là lần đầu anh tới Cao Nguyên, mà khi còn ở Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân, anh đã từng tham dự những trận đánh lớn trên Cao Nguyên vào mùa Hè 1972. Nhưng chiến trường Cao Nguyên 1974 hiện thời, đã khác xưa!

Ðịch đông hơn ta, mạnh hơn ta nhiều lắm! Hầm chỉ huy bị pháo sập, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười và nhiều binh sĩ khác đã bị thương nhưng họ vẫn cố gắng chiến đấu để chờ tiếp viện. Sau hai giờ cầm cự một cách tuyệt vọng, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã yêu cầu máy bay thả bom ngay trên đầu mình để cùng chết với địch quân. Hôm đó sĩ quan điều không tiền tuyến của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh là Thiếu tá Ái, khóa 18 Võ Bị. Anh Ái đã nghẹn ngào trả lời người đàn em khóa 19 của mình:

“Hôm nay mình không có phi tuần nào cả 90 ơi!”

90 là danh hiệu truyền tin của Thiếu tá Ðỗ Văn Mười, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã bị Việt-Cộng trói tay dẫn đi đúng vào ngày kỷ niệm sinh nhật của anh ấy! Cùng chung số phận với Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là Thiếu tá Phan Văn Tranh, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân cũng thành một tù binh.

Tới năm 1982 anh Ðỗ Văn Mười mới được thả ra từ Trại cải tạo Z30A. Hiện thời cựu Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đang định cư ở Florida USA.

Vào thời điểm Tiểu Ðoàn 95 lâm nguy thì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 62 cũng đang bị Việt-Cộng pháo kích; hai đại đội của Tiểu Ðoàn 62 nằm ngay dưới chân đồi đóng quân của Tiểu Ðoàn 95 đã bị mất liên lạc. Không rõ số phận ông Thiếu tá Phước, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân người chỉ huy cánh quân này hiện giờ ra sao. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân phải thu quân về cố thủ nơi ngọn đồi thấp ở gần cầu Kon Hơdram. Chiến trận ngày hôm đó quân ta đã hoàn toàn không có pháo yểm.

Dù nằm cách trận địa chưa tới 5 cây số, nhưng hai khẩu đại bác 155ly của ta hầu như vô dụng chỉ vì vị trí pháo binh này liên tục bị cối 82 ly và 120 ly của Cộng Quân cầm chân. Các pháo thủ của ta lo chuyện phản pháo còn chưa xong thì mong gì có chuyện yểm trợ cho quân bạn? Về phần không yểm cũng thế, hôm đó không có bóng dáng chiếc oanh tạc cơ nào của Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa. Ngày 17 tháng 3 tôi được lệnh thu hồi hai toán viễn thám. Tôi hoàn tất công tác và về tới phi trường Kon Tum thì trời đã tối. Sáng 18 tháng 3 tôi nghe Liên Ðoàn 22 báo tin rằng, từ lúc rạng đông, Tiểu Ðoàn 62 đã bị địch pháo kích và tấn công rất dữ dội. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân đã phải bỏ vị trí rồi dẫn quân lội qua sông Dak Bla chạy bán mạng. Trưa 18 tháng 3 năm 1974 một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 40 Bộ Binh được gửi vào Kon Sơm Luk để tiếp cứu cho Biệt Ðộng Quân, nhưng đơn vị này đã sớm bị đánh tan ngay sau khi đi qua vị trí trú quân của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân chừng hai cây số. Trong trận Kon Sơm Luk tôi nhận thấy một điều lạ là, Trung tá Nguyễn Thành Tiên là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân, mà suốt từ đầu trận tới cuối trận, tôi không nghe tiếng ông ta trên máy. Hầu như mọi lệnh lạc trên tần số đều do Thiếu tá Phú và một chuẩn úy phụ tá ban 3 của liên đoàn phát đi. Vài ngày sau, tại phòng hội của Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 ở Pleiku, tôi đã được nghe Phòng 2 Quân Ðoàn II thuyết trình rằng:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 hai Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 62 và 95 đã bị hai trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo của Sư Ðoàn F10 tấn công trong vùng Kon Sơm Luk. Ta thiệt hại nhẹ. Tổn thất địch không rõ. Ngày 18 tháng 3 năm 1974 một trung đoàn địch đã tập kích Tiểu Ðoàn 1/40 tại vùng Bắc Kon Sơm Luk, ta một số quân nhân thất lạc, địch không rõ.” Mặt khác, diễn tiến trận Kon Sơm Luk đã được ghi lại một cách chi tiết hơn trên những trang quân sử sau này của Quân Ðội Nhân Dân Bắc-Việt:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 Trung Ðoàn 28 Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã tấn công tiêu diệt Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ngày 18 tháng 3 Trung Ðoàn 24 của Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã đánh tan Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân.”

Như vậy thì, tin tức từ cả hai phía ta và địch đều xác nhận rằng Sư Ðoàn F10 Mặt Trận B3 là đơn vị chủ công của trận Kon Sơm Luk tháng 3 năm 1974. Sư Ðoàn F10 là đơn vị mới thành lập, nhưng những trung đoàn bộ binh chủ lực của sư đoàn này lại là những đơn vị sừng sỏ đã có mặt trên Cao Nguyên từ lâu lắm rồi. Các đơn vị nòng cốt được quy tụ để hợp thành Sư Ðoàn F10 gồm có Trung Ðoàn 4 Pháo Binh và ba trung đoàn bộ binh là Trung Ðoàn E66, Trung Ðoàn E28, và Trung Ðoàn E24.

Tôi đã có dịp đọ sức với các đơn vị bộ binh Cộng-Sản này nhiều lần trong thời gian từ năm 1967 tới 1970. Theo tôi thì Trung Ðoàn E66 là đơn vị đáng gờm nhất. Xế trưa 18 tháng 3, tôi nhận được tin từ Pleiku cho tôi hay trong thời gian tôi vắng mặt thì toán viễn thám đang hoạt động trong vùng Plei Djereng có một người lên cơn sốt rét cấp tính cần bốc gấp. Hôm đó tại tư gia Ðại tá Phạm Duy Tất có một vị khách của ông Tất đó là Ðại tá Trần Khắc Kính, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.Ngày xưa, thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Thiếu úy Phạm Duy Tất là đồ đệ của Thiếu tá Trần Khắc Kính. Tới nay thì hai người cùng mang lon đại tá, nhưng tình thầy trò vẫn không thay đổi.

Ông Ðại tá Kính là tay tổ của Lực Lượng Ðặc Biệt thời Cụ Diệm, nên nghe biết một toán viễn thám của tôi đang bị nạn, ông đã tự nguyện dẫn máy bay vào vùng bốc toán thành công. Nhưng tới khi thả toán mới thì xảy ra chuyện chẳng lành. Viễn thám viên thứ nhứt vừa ra khỏi phi cơ thì bị Việt-Cộng bắn. Trực thăng chở Ðại tá Kính và hai anh viễn thám còn lại phải gấp rút bốc lên cao để tránh đạn; sứ mạng gián đoạn; ta thiệt mất một người, không rõ sống chết ra sao.

Thế là chiều 18 tháng 3 tôi phải đem quân về Pleiku ngay để những ngày sau liên tục bay vòng vòng trong vùng tìm ánh chớp từ gương cấp cứu của anh lính mất tích. Tới ngày thứ ba thì anh ta về tới Pleiku tay không vũ khí. Sợ bị quân ta ngộ nhận bắn nhầm, anh viễn thám này đã phải giấu khẩu AK47 dưới một cái cống trên đường Vĩnh-Lộc, nằm về hướng Tây, song song với Quốc Lộ 14. Sau tai nạn này, tôi nghĩ ra cách tung quân xâm nhập bằng đường bộ.

Thời gian này ta có một căn cứ hỏa lực tạm thời có tên là Căn Cứ Hỏa Lực 522 nằm cách phi trường Lệ Minh chỉ trên mười cây số. Viễn thám của tôi có thể vượt qua lộ trình này trong thời gian trên dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi đích thân chở toán tới Căn Cứ 522, rồi ở đó suốt đêm theo dõi toán vào vùng.

Từ đó tôi nhận ra rằng, đi bộ vào vùng khi đêm xuống, an toàn hơn dùng trực thăng rất nhiều, tại sao mình cứ phải nhờ trực thăng? Về Pleiku, tôi đã viết một bản tường trình chi tiết đề nghị rằng từ nay chúng tôi không cần phương tiện trực thăng để duy trì điện đài quanh Lệ Minh nữa. Quân đoàn chấp thuận đề nghị này ngay. Từ ấy, tôi giao việc tung toán, thu toán bằng đường bộ cho Thiếu úy Võ Văn Phương, Sĩ quan phụ tá Phòng 2. Sẵn dịp có ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi vừa mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp trở về, tôi đề nghị với Ðại tá Chỉ Huy Trưởng để ông Phi thay thế tôi. Ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi là một sĩ quan gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, đàn em của Ðại tá Phạm Duy Tất. Ông Trương Hoàng Phi khi còn là đại úy, đã từng đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của C2 Lực Lượng Biệt thời kỳ 1969-1970, nên không ngỡ ngàng gì với công việc này. Vì thế, Ðại tá Phạm Duy Tất đã vui vẻ chấp thuận đề nghị của tôi.

Tôi vào Pleime…

Bàn giao xong, tôi xin Ðại tá Tất cho phép tôi nghỉ vài ngày để thu xếp chuyện gia đình. Mỗi lần nhận đơn vị mới, tôi đều phải đem vợ con về gửi ngoại. Kỳ này tôi vào Pleime nên vợ tôi phải về Ban Mê Thuột nương nhờ dưới mái nhà của bố mẹ vợ tôi. Tội nghiệp vợ tôi, một nách hai đứa con thơ lại đang mang bầu đứa con thứ ba sắp tới ngày sinh. Gia tài của vợ chồng tôi chỉ có hai cái va li áo quần, một thùng sữa bột SMA và một thùng tã lót của con nít.

Lo xong chuyện gia đình, tôi bình thản lên đường ra tiền đồn. Thời gian này nhiều bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi đã tìm cách lui về tá túc trong các quân trường, trung tâm huấn luyện, có người nhanh chân len lách vào được Bộ Tổng Tham Mưu để tránh đạn. Thấy tôi vui vẻ rời bỏ chức vụ Trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ở Pleiku mà ra chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng nơi tiền đồn heo hút thì một người bạn đang đi du hành quan sát sau khi mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp đã can ngăn,

– Giờ này mày chưa sợ chết sao mà còn ra chỉ huy tiểu đoàn?

Tôi không tiện giải thích cho bạn tôi lý do vì sao tôi đã bỏ phố để lên rừng, nên chỉ cười,

-Sống chết có số mày ơi!

Trong buổi họp tham mưu cuối cùng tôi được thông báo rằng hôm đó cũng là ngày ba sĩ quan tham mưu của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 nhận sự vụ lệnh rời đơn vị, đó là Trung tá Bùi Văn Huấn, Tham Mưu Trưởng, Thiếu tá Vương Mộng Long, Trưởng Phòng 2 và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di, Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội. Trung tá Bùi Văn Huấn sẽ tới Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân thay thế cho Trung tá Nguyễn Thành Tiên, người vừa bị Tư Lệnh Quân Ðoàn II cách chức Liên đoàn trưởng sau khi Kon Sơm Luk thất thủ.

Tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long sẽ vào Pleime thay chỗ cho Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, do chỉ thị của Tư Lệnh Quân Khu 2. Còn Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di thì lên tiền đồn Dak Pek thay thế cho ông Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 88 là Thiếu tá Trương Ðình Quý xin từ nhiệm.