Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 26 May 2023

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Lời Giới Thiệu:

 Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 5

Sau khi chiến tranh chấm dứt ông chuẩn úy anh vợ của tôi cũng bị bắt đi cải tạo một thời gian rồi được thả về. Thời gian qua đi, người cựu chiến binh Ðinh Văn Thọ đã biến thành một nông phu chân lấm, tay bùn, ngày ngày tìm vui bên những vườn tiêu, ruộng lúa. Nét phong lưu ngày xưa của anh tôi, có còn chăng chỉ là tiếng đàn guitar classic réo rắt vào những  đêm trời đổ mưa…

Tết Giáp-Dần là một trong những cái Tết vui vẻ và đầm ấm hiếm có của gia đình tôi. Vợ chồng tôi và hai đứa con gái quây quần bên nhau đón Giao-Thừa trong một căn phòng có một nhành mai vàng, một mâm hoa quả, một cặp bánh chưng xanh cùng một khay kẹo mứt. Một ngày sau Tết bỗng nhiên Ðại úy Trương Ðình Hà phát bệnh điên.

Anh Hà ôm súng M16 đi vòng vòng trong sân doanh trại, bắn toang cửa kính văn phòng, bắn lủng mái tôn khu gia binh rồi lên mở cửa văn phòng chỉ huy trưởng để tìm ông đại tá. Tôi đang bận việc trên quân đoàn thì bị gọi về giải quyết chuyện lộn xộn này. Xe của tôi vào cổng đúng lúc Ðại úy Hải, Sĩ Quan Chỉ Huy Hậu Cứ nhảy vào ôm được anh Hà để cho người khác tước súng. Lập tức ông sĩ quan điên bị nhốt vào lô cốt có khóa bên ngoài và có lính canh. Chiều hôm đó Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ Quan Quân Pháp Quân Ðoàn II gọi điện thoại cho tôi.

Anh Ngọc cằn nhằn,

-Thằng Hà là thuộc cấp của Long phải không? Long coi lại! Chiều qua nó sang đây thăm hỏi và chúc Tết mình. Lúc ra về thì xe nó hết xăng, nó mượn xe của mình tới giờ này không chịu trả, mình phải đi nhờ xe của người khác. Long làm ơn nhắc nó trả xe cho mình được không?

Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn II cũng là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi và Trương Ðình Hà. Tôi vội thông báo tình trạng hiện thời của Trương Ðình Hà cho Lưu Văn Ngọc hay. Nghe xong, Ngọc ngạc nhiên lắm và không tin đó là chuyện thật.

Suốt hai ngày kế đó Trương Ðình Hà luôn miệng la hét om sòm trong nhà giam, không chịu ăn uống gì cả. Hà không nhận ra ai, kể cả người bạn gái của anh ta. Cuối cùng, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 phải ký lệnh cho quân y áp tải Ðại úy Trương Ðình Hà về Sài-Gòn để vào nhà thương điên chữa trị. Chiều Mùng Ba Tết, Lưu Văn Ngọc báo cho tôi hay chiếc xe Jeep mà Ngọc cho Hà mượn đã bị Hà đem lên ngã ba Quốc Lộ 14 và đường vào Plei M’Rong bắn bể lốp rồi bỏ bên bìa rừng!

Chuyện Ðại úy Trương Ðình Hà phát điên bắn phá lung tung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cũng thành một đề tài cho anh em trong đơn vị bàn tán khá lâu, nhưng tuyệt nhiên không ai biết nguyên nhân vì đâu mà Trương Ðình Hà vướng phải căn bệnh quái ác này.

Cả tháng sau khi Ðại úy Trương Ðình Hà ra đi, tôi mới tìm được người thay thế anh Hà.Người được tôi chọn là Trung úy Ðiệp, một sĩ quan trẻ tuổi và gan dạ. Chỉ ít lâu sau khi nhận việc, Trung úy Ðiệp đã được quân nhân dưới quyền hết lòng tin tưởng và quý mến.

o O o

Chuyện cái điện đài ở Lệ Minh…

Sau Tết 1974 hành quân tái chiếm căn cứ Biên Phòng Lệ Minh (Plei Djereng) do Sư Ðoàn 22 tổ chức đã thành công mỹ mãn. Cuộc đổ bộ bằng trực thăng của một tiểu đoàn bộ binh trên căn cứ Lệ Minh đã không gặp phải sự kháng cự nào. Chiếc trực thăng chở anh lính cao nhất của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã an toàn đáp ngay trên nóc cái lô cốt giữa sân Lệ Minh để cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ khổng lồ. Chỉ một phút sau khi anh lính xuống đất, lá quốc kỳ to bằng hai cái poncho ghép lại đã phần phật tung bay trong gió.

Tối hôm đó tin quân ta tái chiếm Lệ Minh đã được truyền đi rầm rộ trên các đài phát thanh và các kênh truyền hình. Tôi vui mừng vô cùng, vì những tưởng rằng từ nay sẽ được rảnh tay đi nhận đơn vị mới.

Nào ngờ, vừa cắm cờ trên căn cứ Lệ Minh xong thì Trung Ðoàn 41 Bộ Binh lại bỏ Lê Minh ngay rồi rút quân về Pleiku. Hóa ra cuộc hành quân quy mô, tốn kém này chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang cho thế giới thấy rằng quân ta còn rất mạnh, dư khả năng bảo vệ lãnh thổ và đẩy lui quân thù. Cũng từ đó tôi được lệnh lúc nào cũng phải duy trì một toán viễn thám của Biệt Ðộng Quân có mặt trong vòng bán kính 5 cây số cách Lệ Minh.

Trung tá Trịnh Tiếu nói với tôi, không úp mở:

“Cái điện đài của Long hoạt động 24/24 quanh Lệ Minh chỉ là dấu hiệu sự hiện diện của quân bạn ở trong vùng này. Quân đoàn phải duy trì việc này cũng chỉ để che mắt Bộ Tổng Tham Mưu! Chỉ là đánh giặc giả! Chỉ là báo cáo láo với cấp trên! Long đừng lo lắng, bận tâm!”

Nghe ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II nói vậy, tôi cũng biết vậy, nhưng bảo tôi đừng lo, đừng sợ, đừng bận tâm thì tôi không thể. Thật là khổ tâm khi bị ép buộc thi hành những chuyến xâm nhập nguy hiểm chết người như thế này mà chẳng thấy vinh dự gì. Làm công tác này, tôi đã trực tiếp đồng lõa với những thượng cấp ở Pleiku để đánh lừa những thượng cấp lớn hơn ở Sài-Gòn. Tôi là một người ruột ngựa, thẳng băng, nếu làm điều gì mà phải che che, giấu giấu, khuất tất, thì lòng tôi cứ áy náy, không yên.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bị thượng cấp giao cho cái nhiệm vụ quái đản như thế này. Một nhiệm vụ thật lạ kỳ: Toán nhảy xuống đất, chui vào rừng, kiếm một nơi an toàn, mở máy ra, gọi đài tiếp vận, trao đổi vài ba câu rồi cứ để máy chạy “È! È! È!” suốt ngày, suốt đêm, hết điện trì, thay điện trì mới. Ðúng một tuần lễ sau lại thay toán khác, cứ như giỡn chơi!

Những viễn thám viên dưới quyền tôi cũng là con người; họ cũng có linh hồn, có cảm giác; họ cũng biết sợ cái chết, biết đói, biết lạnh, và biết đau đớn khi bị thương. Chuyện họ có mặt trong vùng Lệ Minh là chuyện đánh trận giả, nhưng chuyện thần chết chờ họ từng phút, từng giờ là có thật.

Thi hành lệnh này, tôi và các bạn Không Quân của Phi Ðoàn 229 Trực Thăng cứ như có hẹn lại lên, đúng bảy ngày lại nối đuôi nhau, hai Gunships, hai Slicks lừng lững bay vào thả toán mới, bốc toán cũ, bị phòng không bắn lúc nào không ai hay, chết lúc nào không ai biết.

Thượng cấp của tôi không nghĩ rằng, chúng tôi cũng là con người, cũng có thân nhân, gia đình, cũng biết sợ cái chết.

Chúng tôi sẵn sàng chết vì nhiệm vụ bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào, bảo vệ tự do.

Nhưng nếu phải chết vì những âm mưu xảo trá, lòe mắt cấp trên, chết vì đánh trận giả thì quả là chết quá oan uổng, chết lãng nhách! Tôi nghĩ, nếu ra tiểu đoàn, có bốn, năm trăm quân dưới tay, trấn thủ một vùng, còn an toàn ngàn lần hơn là cứ cách vài ngày lại phải bay vào vùng địch, bốc toán, thả toán, trong bán kính 5 cây số xung quanh một điểm cố định là một cái tiền đồn đã mất, sớm muộn thế nào cũng bị phòng không Việt-Cộng bắn rơi, phải lên bàn thờ mà ngồi. Trong tình thế này, tôi chỉ còn cách chấm sẵn bãi thả và bãi bốc, yêu cầu các bạn trực thăng bay thật thấp, bay thật nhanh, thả thật nhanh, bốc thật nhanh, cố gắng giảm thiểu thời gian có mặt trên vùng của phi cơ tới mức tối đa.

Tôi ra lệnh cho các toán viên dưới quyền, mỗi khi đạp đất rồi thì họ cứ tìm nơi nào đó thật kín đáo an toàn mà ẩn núp chờ ngày qua, không cần phải đi thám sát dò la tin tức địch như ngày xưa nữa.

Thực tình tôi không rõ, ngoài Thiếu tá Vương Mộng Long, Trung tá Trịnh Tiếu và Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn ra thì có còn ai nữa biết rằng sự hiện diện của cái điện đài ở cách Lệ Minh 5 cây số chỉ nhằm mục đích che mắt thượng cấp? và những cú thả quân, bốc quân quanh Lệ Minh chỉ là đánh trận giả?

Thời gian này lòng tôi rất muộn phiền, nhưng tôi cứ phải ngậm miệng, không dám chia sẻ tâm tư cho bất kỳ ai. Trong chuyện cái điện đài ở Lệ Minh này, Trung tá Trịnh Tiếu là người thấu hiểu nỗi buồn của tôi nhất; ông nói với tôi rằng,

– Chú gắng nhẫn nhịn, chịu đựng ít lâu, rồi mọi khó khăn sẽ qua thôi!

Tôi và Trung tá Trịnh Tiếu đều là dân Hội-An, tôi lại là bạn thân của một người em ruột của ông Tiếu, hơn thế nữa, tôi và ông Tiếu cùng xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Việt-Nam, vì thế ông Tiếu rất thân thiết với tôi. Ðã có nhiều lần ông Tiếu giới thiệu tôi đi giữ chức vụ quận trưởng những quận lỵ trù phú, thanh bình dưới vùng duyên hải, nhưng tôi thoái thác.

o O o

Trận Kon Sơm Luk 1974…

Tôi đang tiếp tục công việc bốc toán, thả toán thì có tin địch chuẩn bị đánh Kon-Tum, quân đoàn liền ra lệnh cho tôi đem quân lên Kon-Tum yểm trợ cho quân bạn. Vì Ðại Ðội 2 Trinh Sát của Trung úy Ðiệp đang hành quân ở Thanh-An, do đó tôi chỉ đem theo Trung đội Viễn Thám của Phòng 2. Tôi có tổng cộng sáu toán viễn thám. Hiện thời trong vùng Lệ Minh có một toán đang hoạt động. Vì thế tôi phải cho một toán ở lại Pleiku để làm trừ bị cho Lệ Minh.

Trưa 10 tháng 3 năm 1974 tôi cùng bốn toán viễn thám còn lại đã có mặt tại hậu cứ Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân nằm trong thành phố Kon-Tum. Thi hành lệnh của Ðại tá Liều Thọ Cường, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 22 Bộ Binh, người đang chỉ huy Mặt Trận Kon-Tum, trưa 11 tháng 3 năm 1974 tôi đã tung hai toán viễn thám vào săn tin vùng 5 cây số Ðông Bắc cầu Kon Sơm Luk trên Liên Tỉnh Lộ 5 B vì có mật báo rằng địch sẽ chuyển quân của Sư Ðoàn 3 Cộng-Sản từ Bình Ðịnh lên để tập kích quân ta.

Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân hiện thời không có sĩ quan Ban 2, không có Trinh Sát và Viễn Thám, nên Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh yêu cầu tôi có mặt bên cạnh Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân để trực tiếp yểm trợ tin tức chiến thuật cho đơn vị này. Vì thế, thả quân xong, tôi đáp xuống vị trí hành quân của Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Chiếc xe Jeep của tôi đã có mặt ở đây từ chiều hôm qua.

Ban chỉ huy viễn thám của tôi chỉ có ba thầy trò, là tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Hạ sĩ Nguyễn Ba và anh Binh nhất tài xế Lê Văn Tới. Thầy trò tôi tạm trú trong một căn lều trung đội, nơi cửa lều có cây ăng ten 292, trong lều có cái bàn gỗ, trên đó là ba cái máy PRC 25. Trong khi ông Ba và ông Tới lo trực máy và thổi cơm thì tôi vào phòng thuyết trình của liên đoàn để thăm ông trung tá liên đoàn trưởng.

Ðây là lần đầu tôi giáp mặt ông Trung tá Nguyễn Thành Tiên. Ông Trung tá Tiên mới từ trong Nam ra, nhận chức vụ chỉ huy liên đoàn này không lâu.

Người tiền nhiệm của ông Nguyễn Thành Tiên là Trung tá Dương Ðức Mai thì tôi quen. Ðây cũng là lần đầu tôi biết mặt ông Thiếu tá Phú trưởng Ban 3 của liên đoàn. Sáng ngày 16 tháng 3, hai toán viễn thám báo cáo không có chỉ dấu gì, nhưng tiền đồn của Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân ghi nhận đang bị địch pháo kích. Vừa lúc đó thì chiếc trực thăng dành cho viễn thám đáp xuống bốc tôi đi. Máy bay của tôi vừa ngóc lên cao khỏi ngọn cây thì Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Hành Quân bắt đầu lãnh pháo của Việt-Cộng!

Tôi bay về hướng Bắc được chừng năm cây số thì đã thấy khói trắng, khói đen bay lên cuồn cuộn từng cột. Ba, bốn ngọn đồi cao nằm sát bờ sông Dak Bla cùng bị địch tấn công một lúc, với đủ loại pháo. Trận đánh mới mở màn, Việt-Cộng đã sử dụng tối đa hỏa lực pháo nặng, nhẹ, để áp đảo quân ta. Ðịch bắn không tiếc đạn, số trái phá rơi trên những ngọn đồi mục tiêu phải nói là hàng ngàn trái đủ loại. Từ trên cao, tôi thấy hàng chục vị trí súng địch nằm lộ thiên trong khu vực bình nguyên hướng Ðông suối Dak Lang.Ðịch đã tiến quân theo trục lộ song song với suối Dak Lang. Con đường này nối Quốc Lộ 14 với Kon Sơm Luk do chúng mới thiết lập được cách nay không lâu. Trên vùng, phòng không của Việt-Cộng đan nhau chằng chịt như đan lưới, vì thế tôi cứ phải thập thò xa xa, không dám xáp tới gần. Vào giờ đầu trận chiến thì trên trời Kon Sơm Luk đã có một chiếc trực thăng bay vòng vòng.

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 4

Từ tháng tám trở đi thì dân xóm đại lộ 10 mệt mỏi hết, trừ đám con nít. Suốt ngày hơi nóng bốc lên hừng hực, chịu hết nổi mùi nhựa đường, hơi xăng và cả mùi xú uế của phân ngựa bốc lên. Nhất là khu nhà ga, nơi gia đình Angeluzzi Corbo sinh sống thì ngoài hơi nóng của trời đất còn thêm hơi nước, hơi khói từ các đầu máy suốt ngày nhả ra. Không gian như nóng quá đứng sững luôn. Lại còn cái nạn tàn than bay mù mịt. Chiều chủ nhật là cái gì cũng nằm hết, những toa xe hàng phế thải màu vàng, màu nâu cũng như những đầu máy đen xì đều nằm trơ ra ăn vạ như những khối bất động giữa nắng vàng chói chang gay gắt và cả một biển sắt thép gạch đá. Đến những đường ray cũng sáng chói cả mắt.
Đại lộ số 10 chạy thẳng ra mé sông đụng đại lộ 12 đã không cây cối lại ít dãy nhà cao che bớt nắng nên càng nóng càng âm ỉ. Cứ đến trưa chẳng thấy ai ngoài phố. Bữa ăn trưa chủ nhật tha hồ mà kéo dài, tới bốn giờ chiều còn được. Có rượu chát, có đồ nhậu lai rai thì thiếu gì chuyện kể lể, tâm tình. 
Dân xóm có lệ chiều chủ nhật là bỏ đi chơi, đi thăm viếng mấy bà con gặp may ăn nên làm ra giờ này đã tậu nhà tậu cửa bên Long Island hay bên Jersey. Hoặc dự lễ cưới xin, ma chay hay lễ rửa tội cũng được. Có bà con đau nằm bệnh viện Bellevue lại càng mau đi thăm hỏi, biếu xén nữa. 
Những gia đình Mỹ hóa hơn một chút có thể đưa cả nhà đi chơi mát Coney Island nhưng một năm một lần thôi, xét vì chơi xa là tốn tiền, đủ mọi thứ tiền … dù thức ăn đồ uống có thể ở nhà xách theo. 
Thật ra mấy tay đàn ông không khoái đi. Cả tuần làm quần quật ở Hỏa xa chịu nắng đã đời … Sức mấy có vụ vô lý ngày nghỉ đi “tắm nắng” thêm! Họ chui vào nhà, vào vườn tránh nắng, giết thì giờ và tiêu khiển bằng một bộ bài vài chai rượu hay ngồi trơ ra nhìn mấy bà vợ tụ họp “tranh luận”. Đưa gia đình đi Coney Island chơi thì thà đi làm còn sướng hơn. 
Chiều chủ nhật xét ra chỉ khoái ở chỗ có quyền xả hơi, khỏi phải làm gì . Đuổi mấy đứa con nít đi xem hát hết là bố mẹ có quyền nằm hú hí cho tiêu bữa cơm trưa, ăn nằm với nhau tự do, thoải mái. 
Không lẽ làm hùng hục suốt tuần mà không được nghỉ ngơi lấy nửa ngày … nên chiều chủ nhật quý lắm! Ít ra dân lao động cũng nhờ nó lấy lại sức, có dịp thuận tiện để vợ chồng “thông cảm”, đó là thời gian thú vị mà Chúa đã ban cho loài người chứ phải chơi sao. 
Buổi trưa chủ nhật các con đường đổ về đại lộ số 10 vắng hết người nên nhìn thẳng băng, gọn ghẽ. Dân xóm hồi đó đâu đã có tiền sắm xe hơi nên chẳng có chiếc nào đậu chắn lối hay lác đác dọc đường do đó phân biệt rõ ràng: trên lề xi măng, dưới đường là đá đan đổ nhựa. Nhìn chỗ nào cũng nắng chói mắt, từ nhựa trải đường đến hàng rào sắt, bực thềm nhà đá ong. Tất cả họp thành một khối chói chang, đứng sững bất động trong ngày chủ nhật. 
Vậy mà Lucia Santa đã cố tình canh đúng cái ngày ngưng hoạt động đó để “chơi” bằng được vợ chồng nhà Cinglata, “chơi” cho trở tay không kịp. Mụ đợi cho con chị Octavia dẫn hai em nhỏ Sal và Lena đi chơi chiều chủ nhật như thường lệ, hai thằng Gino và Vincenzo đi xem hát bóng đá. 
Phải cho thằng Lorenzo này một trận. Nó là con trai lớn nhất nhà, cha thì chết … chỉ trông vào mình nó là trụ cột gia đình. Vậy mà nó bê bối, nó dám xem thường cả mẹ đẻ. Bữa cơm trưa chủ nhật nó đâu thèm về nhà ăn? Mà hai đêm liền không ngủ nhà, sáng ra mới bò về nói phải làm đêm và ở lại ngủ kế chuồng ngựa. Làm sao qua mắt nổi. Mụ Lucia Santa mở tủ xét thấy ngay nó đã mang đi bộ đồ chiến nhất, một trong hai chiếc sơ mi trắng và cả chiếc va li nhỏ. Vậy là quá rồi! Sau khi rủa “đồ chó chết” là mụ quyết định làm liền.
Thế này là nó xem rẻ con mẹ nó quá. Chưa đủ mười tám tuổi chưa có vợ và còn ở nhà với mẹ và còn mẹ … ai cho phép nó tự ý đi hoang? Người ta cười vào mặt cả nhà và lối xóm còn xem con mẹ nó ra gì? Dầu sao thì mụ cũng là mẹ nó, mụ có quyền. Nó không có phép làm ngang. 
Ở nhà đi, Lucia Santa ăn bận đồ đen chỉnh tề, có mũ có khăn choàng che và xách ví đàng hoàng. Đi giày là phải có tất, dù chân mụ ngắn và dây nịt giữ đôi tất xiết lẳn vào đùi. Dù trời nắng mụ cũng đi bộ từ nhà lên đường 36, vừa đi vừa bực bội, suy tính sửa lưng cho con mụ Cinglata một trận rõ đau. 
Hồi nhớ cảnh tượng hai mươi năm về trước mụ lại nổi sùng dữ. Con ranh con hồi đó khóc sướt mướt ngay buổi lễ cưới nhà thờ, ra điều phải lấy một thằng chồng chưa hề biết mặt. Điệu bộ thế đó mà bây giờ, trời ơi, nó dám làm vậy …
Mụ nhếch mép cười chua chát. Đến ghét những quân khoác vỏ đạo đức, làm bộ làm cao. Thứ đàn bà như nó làm điếm mới đúng! Người đàng hoàng lấy chồng phải có hôn thơ hôn thú, phải giữ tư cách để dám nhìn thẳng tận mặt thiên hạ, giàu nghèo thây kệ họ. Đó là điều quan trọng, chẳng ai dám xem rẻ. Và nếu bị hạ nhục còn có thể rửa nhục bằng máu mà không e ngại … Mụ hăng tiết lên nghĩ vậy nhưng đành dẹp qua một bên. Vì … đây đâu phải như quê hương mình? 
Phải rồi đây là đất Mỹ! Ai muốn làm gì thì làm mà. Nó đâu phải con nít, nó đâu còn bố còn mẹ? Bây giờ con Cinglata là bà rồi! Một bà ra dáng lắm … nhưng bản chất vẫn là quân hà tiện. 
Nhưng còn thằng Lorenzo? Ở Mỹ hay không ở Mỹ, vị thành niên hay thành niên, đã đi làm ra tiền hay còn phải nuôi báo cô thì con vẫn phải là con. Nói không nghe là vả vỡ miệng! Nếu thằng cha nó còn sống thì ăn đòn nát xương chắc … có điều nếu vậy nó đã chẳng dám đi ngủ hoang! 
Dãy nhà mụ Cinglata đây, tới nơi thấy mát mẻ hẳn. Mụ Lucia Santa quyết định đứng ở hành lang nhà dưới nghỉ một lát sau vẫn cứ thấy cái mùi hang chuột vừa lấy sức lên thang gác và còn phải cho chúng một trận chứ? Trong giây lát Lucia Santa cảm thấy cả một nỗi chán chường cho cái thân phận chẳng ra gì ở cõi đời này. Đám con lớn lên chẳng còn là con cái mình, mở miệng ra xài rặt tiếng Mỹ … Còn thằng chồng thì tính nết dấm dớ, tranh đua không lại với thiên hạ. 
Ô hay, cứ lẩn quẩn những ý nghĩ chán chường ấy đâu được? Vậy là hỏng! Mụ bước lên thang. Con cái tao nhất định không lộn giống ăn cướp, không có thứ đĩ đực sống bám rút rỉa mấy con mụ già! Mệt quá, cầu thang trôn ốc lên chóng cả mặt tự nhiên đầu óc mụ lởn vởn hình ảnh cái ghế điện, hình ảnh thằng con trai đầu lòng người đầm đìa những máu vì ăn dao của thằng cha già gốc Sicily hay của thằng chồng mọc sừng.
Cánh cửa nhà Cinglata mở bật ra là “chiến đấu tính” trong con người mụ Lucia Santa nổi dậy đùng đùng … để rồi hạ xuống liền khi thấy thằng chồng đứng lù lù. 
Ô hay, sao lại thế này? Rõ ràng thằng cha Cinglata ria mép rậm, sơ mi trắng, quần mang dây nịt treo đàng hoàng … mà mặt mũi chẳng xanh xao như vừa ở tù ra chút nào. Ủa, thằng chồng vừa ở tù về và hiện có mặt ở nhà thì thằng khốn Lorenzo cũng ở đây sao được? Nó ở đây làm gì … hay tất cả chỉ là chuyện thiên hạ đồn nhảm? 
Mụ Lucia đã muốn khựng lại nhưng ánh mắt vừa chạm con mẹ Cinglata đứng bên cạnh bàn là chắc chắn chẳng “thiên hạ đồn” chút nào! “Phải có một cái gì thì nó mới nhìn mình cái lối thù địch, ganh tức thế kia chứ? Nó còn vênh mặt kên kên mà?” 
Nó cũng mặc đồ đen như Lucia, cũng cỡ tuổi mụ nhưng không mập bằng nên dĩ nhiên nhìn trẻ trung hơn. Dù sao nó cũng một cỡ với mụ … nghĩa là bằng tuổi mẹ thằng Lorenzo. Sao nó dám quyến rũ một thằng cỡ tuổi con nó và còn làm mặt tự nhiên, ngây thơ thế kia được? 
Thằng cha Cinglata lớn tiếng chào “Tưởng ai hóa ra chị Lucia. Mời chị vào chơi, uống với tụi tôi một ly rượu”. Nó đưa mụ tới một chiếc bàn mặt lót thiếc trắng, tự tay bưng vò rượu đặc biệt rót mời một ly, miệng nói tía lia mắt nháy nhó: 
– Xin tiết lộ là năm ngoái bên mình được mùa nho. Rượu chát năm nay thơm lắm, rõ ràng mùi quê hương xứ sở. Dĩ nhiên đây chẳng phải thứ nhà bán thường ngày, chỉ đãi quý khách mới mang ra … 
Mụ vợ bưng ra nguyên một đĩa bánh cay tarella nóng giòn và điểm ớt lấm tấm đỏ. Mụ đặt lên bàn mời khách rồi ngồi khoanh tay … vì mụ đâu biết uống rượu. Thằng chồng tự rót ly rượu, nâng lên mời rất lịch sự, quý trọng làm Lucia Santa có muốn nổi nóng tức khắc cũng cứ phải nhịn chút xem sao cái đã. 
Lucia Santa bưng ly rượu lên uống. Giây lát sau mụ mới mở lời, giọng ngọt ngào chứ không cay đắng, gay gắt như đã dự tính từ nhà. Mụ nhóng hỏi: 
– Tôi mấy bữa nay có nghe người ta nói thằng nhỏ nhà tôi ở bên đây … giúp đỡ chị tiếp khác . Hôm nay nhân thể rổi rãnh ghé qua xem thằng Lorenzo đi đâu mà hai đêm rồi không về nhà ngủ? Chắc chủ nhật nhà đông khách lắm mới phải nhờ tới nó, phải không? 
Thằng cha Cinglata cười hề hề: 
– Đâu có? Chiều chủ nhật là tụi tôi nghỉ chứ? Có bán cũng là bán tối thôi. Bà con mình mà … đâu phải dân Do Thái? 
– Tôi thấy phải xin phép nói ra điều này, mong anh hiểu cho nỗi lòng người mẹ. Thằng Lorenzo nhà tôi còn con nít, nó đâu đã đủ khôn ngoan để dính vào những vụ này? Nó đâu đã biết suy nghĩ chín chắn … bằng không đâu dám đụng đến một ông già cỡ tuổi cha nó? Ấy là tôi nghe nói vậy. Mà nó nhè đụng thứ dân Sicily dữ dằn, lúc nào cũng có thể giết nó như giết ruồi! Vụ này chắc anh phải biết chứ?
– Đúng thế! Dĩ nhiên tôi phải biết. Thằng Lorenzo nhà chị vậy mà được. Nó ngoan đấy. Nó đã được chị nuôi dưỡng dạy dỗ đúng nếp sống xứ sở mình … nghĩa là biết kính trọng người già cả và gặp việc là mau mau giúp đỡ. Nghe nói lương nó lĩnh ra bao nhiêu đưa về cho chị đủ mà? Con nít mới lớn lên mà được như vậy là nhất đấy! Bởi vậy tôi mới thương nó, tôi hoàn toàn tin tưởng nơi nó nên xưa nay tôi ít chịu tin ai … mà nhà tôi chỉ riêng mình nó ra vào tha hồ, lúc nào cũng được. Tôi mà chịu nó thì thằng nhỏ phải có gì hơn người. 
Nó nói dông dài nghe sốt ruột quá. Mụ Lucia buộc lòng phải cắt ngang: 
– Cảm ơn anh khen cháu … Nhưng ngoan ngoãn hay “được” đến mấy thì còn con nít nó cũng phải vâng lời … và trước hết phải vâng lời, kính trọng con mẹ nó là tôi đây này! Tôi nói vậy có gì sai quấy không? Tôi thấy nó đi biệt hai đêm, xách theo cả quần áo … nên mới sang hỏi anh xem nó có ở lại đây đêm nào không? 
Khi không con mẹ Cinglata chen lời và ngay Lucia Santa cũng phải phục nó ở chỗ dám nói thẳng băng, trắng trợn bênh thằng Lorenzo chằm chặp. Nó bảo rằng: 
– Ồ, tưởng gì … chứ thằng Lorenzo nhà chị xem vậy cũng lớn rồi chứ bộ con nít sao? Nó đã biết đi kiếm tiền thiên hạ nuôi thân và còn giúp đỡ mẹ nuôi mấy đứa em nhỏ phần nào phải không? Mình đang ở Mỹ chứ có phải ở bên Ý đâu … nên theo tôi “cai trị” có hơi khắc nghiệt đấy!
Lucia Santa cười nhạt “Mày nói vậy là mày hố với tao rồi! Mày dám đụng chạm, phê phán đến quyền hạn của một người mẹ sao? Mày dám chê tao khắc nghiệt?”. Mụ nghĩ thế và cho là có quyền nổi nóng … nhưng cố nhũn nhặn lịch sự xem thử: 
– À, bây giờ đến lượt chị cho là tôi khắc nghiệt? Cũng may là chị không có đứa con nào … chứ gặp hoàn cảnh tôi thì … Vả lại chị đâu biết bọn con nít bây giờ tồi tệ quá? Nên chị đỡ được hẳn những mối ưu tư, lo rầu của một người mẹ. Chẳng hạn như vụ thằng Lorenzo nhà tôi đi ngủ lang. Tôi là mẹ nó, tôi phải lo. Mỹ thì Mỹ … chứ ở Phi châu hay ở Ănglê đi nữa thì vấn đề vẫn vậy. Còn ở trong gia đình con cái đâu có quyền đi ngủ bậy? Nó có nhà thì phải về nhà chứ? Tôi là mẹ tôi không lo ngại sao được, khi không nghe thiên hạ đồn rùm là thằng Lorenzo nhà tôi đi ăn nhậu hay có chuyện đập lộn với dân ăn nhậu? Lỡ ra một cái nó tù tội, nó lên ghế điện thì sao? 
Nghe Lucia Santa dồn một hồi, mụ Cinglata đâm nổi nóng và nạt lại: 
– Xem, chị nói gì kỳ vậy? Chị nói vậy, khác nào bảo thẳng vào mặt tụi tôi làm ăn bần tiện, bệ rạc và thằng Lorenzo không đáng ra vào nơi này? Oai quá ta! Nhưng xin hỏi … chị là ai mới được chứ, gốc gác chị cỡ nào mà cao sang thế? Hồi còn ở bên nhà tôi có nghe nói dòng dõi quý tộc nào mang danh hiệu Angeluzzi hay Corbo quái đâu! Tôi xin lỗi phải nói vậy vì bề nào thằng chồng tôi cũng đã từng làm ăn chung và là bạn thân thiết của bố thằng Lorenzo hồi đó. Gọi Bố già cũng không quá đáng mà. Vậy mà theo ý chị thì thằng Lorenzo không đáng đặt chân ra vào nơi đây, phải vậy không? 
Mụ Lucia Santa nghĩ thầm: ra con này lì lợm thật. Mụ muốn nói đốp vào mặt “Tao cấm con tao là vì không muốn cho nó gần mày … chứ như chồng tao thì có bao giờ có chuyện?”. Nói vậy thì nó hết đường cãi song Lucia Santa không dám. Lỡ ra thằng chồng nổi giận “thịt” luôn cả con vợ ngoại tình lẫn thằng ranh đi ngủ bậy thì sao? Cái đó nguy hiểm. Mụ đành giữ thế thủ trước: 

Photo edit by Sơn râu

– Tôi nói rõ lại nghe. Tôi đâu cấm thằng Lorenzo đi lại, đặt chân vào nơi đây! Nhưng nó làm, nó đụng chạm với dân nhậu thì không được. Và ngủ lại qua đêm cũng không được. 
Câu sau cùng mụ Lucia cố ý dằn giọng mà con mẹ Cinglata vẫn cứ cười: 
– Cho chị hay là thằng Lorenzo ở lại đây chồng tôi biết, chồng tôi đồng ý mà? Chồng tôi hiểu biết chứ đâu phải hạng người chỉ nghe “thiên hạ đồn” mà tin ngay được … là vợ nhà “ngoại tình”, thất tiết với một thằng bé con? Dĩ nhiên là chồng tôi chịu nó là chịu ở chỗ nó dám bênh vực trong lúc mình vắng mặt. Nên mới thưởng cho nó hai chục đô la chứ? Chị thấy chưa … hay chị cứ nhất quyết tin rằng thằng Lorenzo hư hỏng, nhân danh là mẹ nó? 
Bắt gặp ánh mắt thằng chồng gườm gườm nhìn ngay cổ họng con vợ, mụ Lucia cuống quít đáp: 
– Tôi ấy à? Người ta nói thì mặc người ta … nhưng tôi, tôi biết chứ. Anh ấy đâu phải người khờ khạo tin nhảm. 
Miệng nói đẹp vậy, nhưng bên trong mụ muốn chửi ầm lên! “Thằng ngu … thằng mọc sừng”. Còn nghĩ xấu cho chính thằng con lớn ư? Còn ai đủ thẩm quyền bằng mẹ, người đẻ ra nó? 
Nhằm đúng boong lúc đó thằng Lorenzo ở đâu thò đầu vào. Nó vào tự nhiên … như nhà nó vậy, đâu thèm gõ cửa? Nội cái vẻ sững sờ, nhột nhạt của nó cũng đủ để Lucia rũ sạch mọi nghi ngờ. Đừng hòng giấu giếm che đậy! 
Nhìn thấy mặt mẹ nó ở đây mà thằng Lorenzo còn nhe răng cười được. Nó nhoẻn miệng cười với con vợ ngoại tình với cả thằng chồng mọc sừng. Và vợ chồng Cinglata còn cười đáp lễ mới lạ. 
Chỉ bấy nhiêu thôi song con mắt sành sỏi của bà mẹ khôn ngoan đã phân tích rành rẽ: Thằng chồng cười là cười giả, cười gượng. Nụ cười của một thằng không mất mát cái gì! Còn con vợ thì cùng chung lứa tuổi với mụ mà nó cười được vậy quả là dễ sợ. Nó cười bằng mắt với thằng bé. Cặp mặt ướt long lanh đa tình và môi con mẹ dâm thấy ghê!
Mụ Lucia lẳng lặng nhìn thằng con lớn. Mày bô trai đấy nhưng mày không tim, Lorenzo! Xem, khổ người nó vạm vỡ lực lưỡng, mặt mũi đều đặn, mái tóc xanh đen và da thì rõ ràng là da con trai mới lớn … hừng hực những nam tính. Cái thằng dối láo quen, thấy mẹ ngồi đó làm bộ ngạc nhiên khéo lạ! Chiếc va li nhỏ nó đang cầm nơi tay được đặt xuống và nói: 
– Ủa, mẹ đi đâu vậy? Mẹ có chuyện gì thế? Hai bữa không về nhà nhớ mẹ ghê đi! 
“Quân giả dối … thứ một mặt hai lòng”. Nhớ mẹ ghê đi! Mấy hôm nay mụ chỉ rình rình gặp mặt nó là cho một trận. Chắc nó vừa giờ núp đâu đó thấy mẹ đi là vọt về nhà thay đồ rồi xách va li vọt thẳng lại đây. Nó không ngờ là mụ dám tới nơi, tận ổ? Giận con quá lắm mụ Lucia vẫn cố nén xuống để hỏi móc họng: 
– À, cậu con tôi! Cậu xách đồ đi dọn nhà hả? Chắc cậu tới xin làm con nuôi ông bà Cinglata đây chắc? Hoan nghênh. Tại tôi nấu ăn hầu cậu quá dở … hay có đứa em nào dám hỗn láo cho nên cậu giận cậu bỏ đi đến nhà mới, phải không? 
Cái thằng quá khôn đi! Biết mẹ giận dỗi mới “chơi chữ”, nó nhe răng cười phá lên. Nó dư biết mụ tới làm gì mà. 
– Thôi, cho con xin đi mẹ! Mẹ cứ tưởng tượng vậy chứ con đã nói rõ là ít hôm con sẽ lại đây giúp việc ít ngày kiếm thêm ít tiền … bao nhiêu đưa về mẹ hết mà! Mẹ phải biết dượng Cinglata ngoài vụ tòa án ra còn phải đi đây đi đó, đi nhiều nơi mua nho chứ bộ. 
Mụ nhìn Lorenzo mỉm cười “cảm ơn” cậu. Hai vợ chồng thằng Cinglata cũng cười. Cái gì chứ ở đây, lúc này mà thản nhiên xài chữ dượng được thì nó quả có điếm! Không lẽ thằng chồng mù tịt … bằng không sao nó tỉnh bơ tiếp lời: 
– Này chị, xin nói rõ là tụi tôi chịu thằng này và xem nó như con đẻ. Tụi tôi bất hạnh không con … mà tôi thì cứ vắng nhà hoài. Có ai khả dĩ tin được và bênh vực nhà tôi trong vụ làm ăn buôn bán đâu? Cái nghề này đàn bà khỏi làm được, nếu không có đàn ông con trai trong nhà. Có thằng Lorenzo thì tôi yên trí quá đi.
Chị nghe xem, Lucia … công việc ở Hỏa xa nó cứ làm đúng y giờ giấc. Xong việc là tới phụ giúp nhà tôi bán buổi sáng. Đêm làm thì ngày phải nghỉ ngơi mà đằng nhà chị đông trẻ chạy ra chạy vào la hét tối ngày. Đằng này vắng vẻ yên tĩnh thì làm sao không tới cho khỏe nhỉ? Bà con mình với nhau tôi không tin nó còn tin ai? Hơi đâu bận tâm chuyện thiên hạ đồn! Tôi là thằng đàn ông biết đi kiếm tiền và kiếm ra tiền … hà tất tôi phải để vào tai những lời nói nhảm của mấy ông bà hàng xóm. 
Nghe thằng chồng nói thẳng thừng như vậy, Lucia Santa hiểu rồi. Hiểu hết. Ra tụi nó ghê gớm thật. Thằng chồng thì hùng hục chạy theo tiền, thây kệ cho con vợ ngủ bậy. Con vợ chẳng lạ gì nết yêu tiền của chồng – lòng dạ con vợ hay danh giá gia đình, tiếng xấu đồn đại … với nó tất cả đều thua tiền. Đến tởm cho cái giống tham tiền!
Cứ giả thử không có chuyện “bậy bạ” … nhưng sống chung đụng với hạng người này thằng Lorenzo làm sao khá nổi? Để nó ở lại đây, do đó không thể được. Tuy nhiên, Lucia Santa vẫn ngọt ngào bảo con trước đã: 
– Thôi, Lorenzo nghe tao nói. Mày con tao thì mày phải ở nhà tao. Mày lấy đồ đi về nhà ngay. Mày không về thì tao cũng ở lại đây luôn. 
Lorenzo bây giờ mới cười gượng gạo: 
– Mẹ … mẹ làm kỳ quá! Con đi làm năm năm rồi, lương con là mẹ lĩnh. Con đâu phải con nít mà mẹ giữ. 
Mụ Lucia Santa đứng phắt dậy, nghiêm nghị nạt: 
– Xem, tao là mẹ … tao đẻ ra mày phải không? Có mặt người ngoài mà mày dám cưỡng lời tao, phải không Lorenzo? 
Con mẹ Cinglata chen vào bảo thằng nhỏ: 
– Thôi về nhà đi cậu bé! Về nhà cho mẹ yên trí. Mẹ kêu là con phải về gấp chứ? 
Khuôn mặt rám nắng của thằng Lorenzo bỗng đỏ ửng. Nó mắc cỡ và cũng giận dữ nữa chứ. Mắt nó đổ lửa in hệt thằng cha nó ngày trước. Nó hùng hổ: “Về nhà hả? Khỏi!”. 
Uất quá mụ Lucia Santa chồm tới, vả vào miệng Lorenzo một phát cái bốp. Nó vùng đẩy mẹ ra, làm mụ chới với nếu lưng không dựa vào thành bàn dám ngã lắm. Vợ chồng Cinglata sững sờ: mẹ con mà phải dùng đến chân tay với nhau là dễ có chuyện lớn đến nơi. Hai người chạy tới chen vào giữa can. Tưởng sao, Lucia Santa rít lên khoái trá: 
– À, thằng này bây giờ bảnh quá ta? Con mà dám đánh cả mẹ thì trời đất ơi … đồ súc vật, đồ súc sinh, đồ con nhà đàng điếm! Ôi, cũng may mà cha mày chết rồi, khỏi phải chứng kiến cái cảnh con đánh mẹ, chỉ vì người ngoài. 
Một bên mặt Larry còn in hằn năm vệt đỏ của cái bạt tai nhưng nó xẹp ngay, hết dám giận dữ. Vì mắt mẹ nó đỏ hoe, nước mắt chảy dài trên má. Con mà làm mẹ khóc, trước mặt người xa lạ thì tội quá! No bèn xuống nước nhỏ giọng vỗ về: 
– Trời, mẹ nói vậy chứ con đâu dám? Con lỡ tay gạt ra … 
Bây giờ Lucia Santa thấy chẳng còn gì để nói với nó. Mụ quay sang vợ chồng Cinglata:
– Vậy cho mấy người hài lòng! Thôi được, thằng con tôi muốn ở lại đây cứ việc ở. Nhưng xin cho hay tôi bảo nó phải về nhà tối nay. Bằng không sáng sớm mai tôi sẽ ra Cục Cảnh sát. Nó còn vị thành niên thì tôi gửi vào Trại giáo hóa, còn mấy người có vào khám ráng chịu! Mấy người nấu rượu lậu được … nhưng quyến rũ trẻ vị thành niên thì tù chắc! Luật pháp nước Mỹ này như vậy. Chị nói đúng, mình đâu phải ở Ý. 
Vậy là quá rõ. Mụ bảo thằng con trai:
– Còn mày … mày cứ việc ở lại với mấy người thân của mày! Tao đi về, nhưng tao không muốn cùng đi chung với mày. Mày cứ ở lại cho thỏa chí đi … nhưng khuya nay mà không thấy mặt mày ở nhà thì đừng oán trách tao. Mày sẽ được gửi vào Trại giáo hóa. 
Dứt lời mụ Lucia Santa quầy quả bỏ đi, mặt ngửng lên kiêu hãnh. Trên đường về mụ không khỏi suy nghĩ: “Thế mới biết đời có những đứa chỉ biết có tiền. Tiền trên hết, chúng đểu thật, thú vật thật! Nhưng có đồng tiền trong tay thì chúng vẫn dám hất mặt lên như thường” …
Ngay tối hôm đó chờ cho bọn trẻ ngủ hết, mẹ con Lucia Santa và Octavia mới ngồi bàn tính bên tách cà phê, ở dưới bếp. Vẫn chưa thấy mặt thằng Lorenzo nên Octavia chỉ sợ mẹ làm dữ, sáng mai tống nó vào Trại Giáo hóa thật. Nếu vậy phải bỏ một buổi làm, phải đi theo mẹ tới Cục cảnh sát đưa đơn. Không ngờ mẹ cả quyết tới mức đó! Vậy ác quá … 
Có tiếng gõ cửa làm hai mẹ con giật mình. Octavia mau mắn chạy ra mở cửa, đụng đầu một gã cao lớn, bô trai, ăn diện chững chạc như kép xinê. Hắn mỉm cười và cất tiếng hỏi bằng tiếng Ý đàng hoàng, đúng văn phạm: 
– Thưa đây có phải là nhà bà Corbo không? Tôi là luật sư được thân chủ Cinglata nhờ tới thưa chuyện … 
Luật sư thì cũng là khách mà khách tới nhà thì phải mời ngồi, mời uống tách cà phê . Ông luật sư ngỏ lời: 
– Thưa bà Corbo … theo tôi nghĩ thì bà giận dữ Lorenzo có hơi quá. Nói thực là … về vấn đề rượu lậu. Còn dùng thì vẫn cứ dùng, kể cả Tổng thống của chúng ta … và cả chính bà nữa. 
– Thưa luật sư … Ông muốn nói sao thì nói … 
Lucia Santa khi không cắt ngang nhưng ông luật sư vẫn bình tĩnh ngồi nghe và nhìn mụ đăm đăm. 
– … Còn nó là con tôi thì nó phải ở nhà, đêm đến phải ngủ nhà với chị nó, các em nó. Chưa có vợ là chưa có quyền ở riêng nhưng nếu nó muốn thì tôi sẽ mời nó vào Trại giáo hóa ở chơi. Ở đến năm chẵn mười tám tuổi nó có quyền ra và dĩ nhiên tôi mới hết là mẹ nó. Còn bây giờ chưa đến tuổi thì nó không được tự quyền. Tôi là mẹ nó và tôi không muốn con cái tôi lớn lên làm ma cô, làm … đực … hay làm kẻ cướp! 
Ông luật sư vẫn thản nhiên nhìn mụ trừng trừng để rồi ngỏ lời thật vắn tắt: 
– Bà nói đúng, tôi hoàn toàn đồng ý. Nhưng chỉ xin bà nghe tôi nói đây. Tội vạ gì đi trình cảnh sát? Tôi cam kết với bà là nội nhật ngày mai Lorenzo sẽ trở về nhà này và từ giờ trở đi sẽ chấm dứt mọi chuyện lộn xộn. Như vậy được không? 
– Không được! Ngay tối nay … 
– Xin lỗi bà … tôi thấy bà bắt buộc vậy không được! Thằng con bà ngày giờ này nó đâu còn con nít? Nó có tự ái của nó. Bà là mẹ nó và kinh nghiệm sống có thừa … chắc hẳn bà phải biết điều đó hơn ai hết. Ép nó quá mất mặt đời nào nó chịu? 
Đó là sự thực phải công nhận. Vả lại tự ái của mụ cũng đã được vuốt ve nên Lucia Santa hể hả gật đầu.
– Bà thông cảm vậy là tốt … Xin tạm biệt. 
Ông luật sư đứng dậy cúi đầu chào cáo lui. Còn hai mẹ con, Lucia Santa bảo Octavia: “Mày thấy chưa, đối với Lorenzo thì phải làm dữ vậy đó!”. Nàng còn ngẩn ngơ chưa hiểu mẹ muốn nói gì thì Lucia cười phá lên: 
– Luật sư? Luật sư chó gì thằng vừa rồi? Nó làm ăn với Mafia, nó lĩnh lương Bàn tay đen. Chỉ liếc xem bản mặt nó là tao biết liền! 
Octavia cũng cười hả hê: “Mẹ làm con thấy ghê quá”. Nó nhìn bà mẹ, phục mẹ sát đất. Xem vậy mà mẹ đối chọi ngon lành, biết thằng cha luật sư có liên hệ ăn cướp mà vẫn tỉnh táo, ung dung. Khỏi khớp, khỏi ngán nó … dù chỉ là một mụ đàn bà nhà quê thất học. Trái lại … lúc đầu nàng còn có cảm giác là mẹ sắp sửa lấy cây tackeril ra, phết cho ông luật sư mấy roi! 
– Vậy là mai con cứ đi làm như thường chứ? 
Mụ Lucia Santa đáp thản nhiên: 
– Còn hỏi? Phải đi làm chứ bộ, bỏ một ngày lương sao. Mình đâu đã đủ tư cách. Người như mình có bao giờ giàu nổi!


Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch
Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 3

Octavia sáng nào cũng dậy sớm, dậy đúng vào lúc mặt trời lên vừa làm ấm hơi sương. Xuống rửa mặt ở lavabô dưới nhà bếp xong đi dọc hành lang trở về phòng nàng không thấy mặt ông cha ghẻ đâu hết. Xưa nay hắn có lệ ít ngủ mà lại dậy sớm nhất nhà nên cũng chẳng lạ mấy nhưng phòng bên thì trống trơn. Đúng là tối qua thằng Larry đi hoang, khỏi có ngủ ở nhà. Ba đứa nhỏ vẫn ôm nhau nằm ngủ chình ình giữa nhà, quần lót sệ xuống hở cả dái nên Octavia mau mau kéo mền đắp đỡ cho chúng. 
Mỗi lần sáng ra mặc quần áo sửa soạn đi làm Octavia lại cảm thấy chán chường, vô vọng. Mới hửng sáng ra đã thấy người hầm hập khó thở, chắc tại hơi người quá nhiều. Ánh nắng chiếu hắt vào, soi rõ những bàn ghế rẻ tiền, lớp giấy hoa sặc sỡ dán lên trên vách nay đã phai màu hết. Có cái gì không phai nhạt, không hư hỏng đâu? 
Chán chường nhất đối với Octavia là viễn ảnh thế nào cũng phải tái diễn cuộc đời tôi mọi của mẹ . Ôi, còn gì thê thảm cho bằng sáng mở mắt dậy chồng con đâu không thấy chỉ thấy phải chứng kiến bầy con nhỏ lúc nhúc đầy một giường, nằm chình ình ra giữa phòng khách. Còn phải chăm sóc, nấu ăn, giặt giũ, hầu hạ chúng suốt một ngày trời. Đau khổ quá, rốt cuộc có còn gì đâu? Thơ mộng đến mấy cũng chỉ đến cái giường là hết! 
Vừa hận đời, vừa thương thân lại run sợ gặp phải một cái gương như thế đó, Octavia cảm thấy mình quá nhỏ nhoi, quá mỏng manh … không sao tránh thoát. Còn biết đi đâu, còn biết làm cái gì bây giờ? 
Mớ tóc đen nhánh gỡ chải đàng hoàng, Octavia lo mặc đồ đi làm, rất giản dị váy xanh sơ mi trắng. Nàng chầm chậm đi trên lề đại lộ số 10 lát đá xanh lúc bấy giờ nóng bỏng. Tiệm may Octavia làm nằm giữa đại lộ số 9 và đường 36 nên không thể không đi ngang “quán” mụ Cinglata. Biết đâu đi ngang lại không gặp thằng Larry? 
Người thứ nhì ở trong nhà thức giấc liền sau đó là mụ Lucia Santa. Cảm nhận đầu tiên của mụ là ông chồng đi đâu mất biệt, chắc chắn đêm qua không về. Mụ vùng đứng dậy, thử mở tủ quần áo xem. Đôi giày hai mươi đô la của hắn còn nằm y chỗ nghĩa là có đi đâu hắn cũng còn phải về nhà chắc. 
Yên trí rồi mụ đi xuống bếp. A, vậy là nó bảnh quá rồi! Thằng Lorenzo đêm qua đâu có về? Mặt mụ xụ xuống. Lucia Santa đi pha cà phê ngồi nhâm nhi suy tính phải làm gì ngày hôm nay. 
Thằng Vincenzo bắt đầu đi làm công cho tiệm bánh. Vậy được. Thằng Gino còn nhỏ … nhưng phụ giúp mẹ trông nom quét dọn cái cư xá này không được sao? Cũng tạm được. Ai bảo ông già chúng không lo sắp đặt cuộc sống cho đàng hoàng thì con cái phải khổ là dĩ nhiên! 
Lucia Santa ra xách mấy chai sữa tươi vào, vác theo ổ bánh mì tổ bố. Lấy dao xắt một khoanh dầy, mụ trét bơ lên ăn lót lòng cái đã. Mấy đứa nhỏ cứ để cho nó ngủ. 
Ngoài những buổi tối họp mặt lối xóm, Lucia Santa chỉ khoái khoảng thời gian sớm sủa này. Trời mát, con nít chưa dậy và người lớn thì ai vào việc nấy. Riêng mụ thì khỏe khoắn, sẵn sàng gánh vác gia đình. 
Con nít nhà này có lệ cứ nghe tiếng lão già rao hàng dưới đường vọng lên “Rau tốt quá này … Ra mua mau đi” là chúng bảo nhau nhỏm dậy hết. Cả ba thằng cùng nhảy khỏi giường một lượt. Gino ra cửa sổ nhìn lão hàng rau đang đứng trên nệm xe mỗi tay cầm một cây xà lách xanh ngắt giơ cao lên như muốn khoe với bà con trên gác. Miệng lão tía lia: “Rau tốt quá này …” 
Cứ mỗi lần cho chiếc xe ngựa dừng lại cách vài ba căn trên đại lộ số 10 là lão lại đứng lên phô trương mớ “rau tốt”. Lão làm như khoái khoe hàng hơn là mời bà con mua rau. Chiếc xe ngựa xếp đầy những thùng, những củ hành tây trắng bóc, những củ khoai tây bự bên cạnh những thùng táo đầy có ngọn, những bó rau cần tây, tỏi tây, hành ngò đủ thứ … 

Photo edit by Sơn râu

Mụ Lucia Santa lựa đúng lúc ăn sáng để ra lệnh: 
– Tụi bây nghe đây … Cha tụi bây bỏ nhà đi chơi một thời gian. Không có hắn thì tụi bây phải làm ăn kiếm sống phụ tao chứ? Thằng Vincenzo qua bên tiệm bánh làm. Thằng Gino phải lo phụ với tao chứ chơi đùa dông dài là không được. Tao lau chùi cầu thang thì mi lo xách nước, lo vắt nùi giẻ, lo quét dọn không được sao? Thằng Sal (gọi tắt chữ Salvatore) quét bụi cũng được vậy … còn con Lena nữa … 
Mụ nhìn hai đứa con nhỏ cười cười, ra điều đùa chơi cho vui. Vincenzo buồn thiu, cúi mặt nhưng Gino nhìn mẹ … nũng nịu phản đối: 
– Không được đâu mẹ! Bữa nay con mắc bận. 
Mụ Lucia Santa làm bộ cúi đầu lễ phép: 
– Dạ, cậu mắc bận? Còn tôi, tôi ngồi chơi chắc? 
Thấy mẹ cà giỡn, Gino làm tới. Nó lý sự rằng: 
– Con mắc bận thật mà. Con với thằng Joey Bianco đã ngoéo tay nhau, bữa nay thế nào cũng phải vào nhà ga lấy nước đá bằng được. Tụi con sẽ đem bán nhưng thế nào cũng mang về cho mẹ một mớ, mẹ tin đi. Con sẽ biếu dì Louche nữa. 
Cái thằng láu cá như vậy đó! Mụ Lucia nhìn nó cười và cưng nó thấy rõ làm Vincenzo ganh tức. Mụ dọa trước: 
– A, nếu vậy được! Nhưng cái tủ nước đá của tao phải đầy, đầy trước đã. Rồi mi muốn biếu ai tùy ý … 
Thằng Vincenzo đang cầm miếng bánh mì ăn hậm hực buông xuống. Mụ quắc mắt nhìn nó và quay sang phía Gino: 
– Đi đâu thì đi, chiều mi phải về. Gặp việc là phải làm. Bằng không tao sẵn cây roi kia. 
Sự thực mụ chỉ muốn nạt thằng nhỏ cho nó ngán thôi. Vả lại ép dần nó vào công việc cũng là vừa … 
Nó nói vào nhà ga lấy nước đá nhưng đâu phải chỉ có bấy nhiêu thôi? Với một thằng lên mười như Gino Corbo mà được thả lỏng khỏi nhà thì thiếu gì trò cực kỳ thú vị! 
Gino ra cửa sổ đằng trước nhìn sang sân nhà ga đầy những toa xe lửa chở hàng và xa hơn nữa là dòng Hudson xanh ngắt. Chao ôi, trời bữa nay sao trong sáng vậy này! Nó cứ thế cắm cúi chạy ra đường. 
Đế giày vải mỏng nên Gino cảm thấy vỉa hè nóng hực. Nó mặc chiếc quần Jean xanh bạc phếch và áo nó là áo pôlô bằng sợi nilông đan kẻ sọc mỏng dính nên lúc bay lất phất lúc dính chặt vào người. Nó đưa mắt nhìn quanh, tìm bồ ruột Bianco. 
Thằng Bianco mới mười hai tuổi nhưng người thấp hơn Gino. Trong đám con nít đại lộ 10 nó là đứa ngon nhất, dám có trên hai trăm đô la gửi nhà băng kia mà. Đó toàn là tiền tự tay kiếm ra, mùa đông bán than, mùa hè bán nước đá … toàn đồ không mất vốn vì lẻn vào “đỡ nhẹ” ở các toa chở hàng trong vòng thành ga. Nó còn một mánh lới kiếm tiền là đứng lề đường chợ Thóc bên đại lộ số 9 bán mấy túi bao giấy. 
Thằng Bianco mới tới đằng xa xa Gino đã thấy rồi. Nó đang kéo chiếc xe “cút kít” tự đóng bằng thùng cây, chiếc xe “làm ăn” của nó bảnh nhất phố, chiếc duy nhất có sáu bánh dư sức chở nước đá đi bán một đô la hay ba thằng bạn ngồi trên kéo đi như chơi. Cả sáu bánh xe cùng bọc vỏ cao su đặc, hai bánh xe trước có cần lái đàng hoàng, dây kéo xe cũng là thứ chế tạo ngon lành. 
Trước khi lên đường “làm ăn” hai thằng đi đớp một chầu càrem chanh cái đã. Chính lão tiệm bánh xúc càrem và nghe chừng khoái “đầu óc kinh doanh” của chúng nên đặc biệt tặng cho mỗi thằng thêm một muỗng đầy. 
Có thằng Gino đi cùng thằng Bianco chịu lắm … vì có thằng nhảy lên các toa xe “ăn hàng”. Nó cũng khoái ăn hàng lắm … nhưng là “chủ nhân” nên đâu dám rời chiếc xe kiếm ăn. Vả lại phận sự nó còn phải thu tiền, đếm tiền mà. 
Gino hối bồ ruột “Mày lên đi. Cho mày ngồi xe. Để tao đẩy cho”. Thằng Bianco nhảy ngay lên ngồi bảnh chọe và dĩ nhiên nó phải nắm cần lái để Gino đẩy xe phía sau cho xe chạy băng ngang đại lộ, phóng qua căn nhà của lão bẻ ghi, cho xe len lỏi giữa khoảng đường đá sỏi nằm giữa khúc đường lầy. Tụi nó lẹ làng dừng xe vào giữa rừng toa xe chở hàng, chọn chỗ khuất nhất khỏi sợ ai trông thấy. Thằng Bianco nhìn quanh, kiếm một toa xe mà cửa chất hàng trên nóc quên đóng và rút mấy cái móc “đồ nghề” ra. 
Gino cầm chiếc móc sắt, chạy tới toa xe hàng và thoăn thoắt leo thang sắt phóng lên nóc. Nó đứng sững trên nóc toa xe nhìn xuống nhìn quanh. Khoái chí, tự do thật! Kìa là dãy gác nhà nó, tầng trên cùng chỗ cửa sổ kia chính là nhà nó. Phía dưới là phố xa ”. Cửa tiệm biết bao nhiêu người đi lại, xe ngựa, xe hơi, thấy đủ hết. 
Quanh đó là cả rừng toa xe hàng màu nâu, màu vàng, màu đen mang bản ghi danh hiệu cổ lỗ kỳ cục. Gino có cảm giác nó cưỡi sóng giữa một hạm đội toa xe. Xem, mấy cái toa xe trống trơn hở hang kia chắc chở súc vật chắc? Rõ ràng có mùi phân bò. Nó quay lại nhìn phía sau. Đứng đây nhìn ra thấy rõ tới bờ biển Jersey lận. Giữa rừng toa xe bất động cả mấy trăm chiếc thỉnh thoảng có vài chiếc đầu máy đen xì chạy tới chạy lui. Dĩ nhiên chúng không kéo còi nhưng cái mùi khói trắng khen khét sáng ra ngửi dễ chịu lạ … 
Tiếng thằng Bianco hét lớn “Gino … liệng xuống đi mày. Thằng trâu nước đến là hư hết!”. 
Lập tức thằng Gino phóng móc sắt xuống và câu lên một cây nước đá. Một cây nữa, rồi cây nữa. Nước đá chất đầy tới nóc móc khẽ cũng kéo lên dễ dàng. Nó thoăn thoắt đẩy cây đá trên nóc toa cho rớt xuống đất. Bất quá chỉ mấy miếng nho nhỏ ở ngoài, những viên nước đá nhỏ sắc cạnh sáng lóng lánh. 
Được cây nào Bianco ném ngay lên xe nên loáng cái đã đầy ắp, Gino bèn tụt thang xuống ra đẩy sau xe, thằng kia khoác dây kéo cho xe chạy nhanh. 
Làm gì thằng Gino không nhớ mẹ hăm những gì, nhưng mới “làm” được xe đầu tiên chạy ra phố đã bị lão chủ tiệm bánh chạy ra kéo lại mua một đô la nguyên xe. Chuyến thì nhì lại có lão chủ tiệm chạp phô bao, dĩ nhiên cũng một đô la một xe nhưng hai thằng có quyền đớp xăng uých uống nước ngọt khỏi trả tiền.
Làm ăn ngon, hàng bán chạy cỡ đó, được giá như vậy thì được xe nào ra cứ bán đã. Mang về nhà trước sau cũng thế chứ gì? 
Chuyến thứ ba bà con tầng một chung đậu nhau mua. Chúng làm ăn lẹ làng lắm nhưng cũng phải gần hết buổi sáng. Chừng làm chuyến thứ tư thì “lâm nạn”. 
Sếp cảnh sát khu đất trống nhà ga thấy tụi nó làm ăn nãy giờ. Hai đứa lo mê mải ăn hàng, hết toa này sang toa kia, cứ lo nhào vào sâu dần trong sân ga để tìm món bở hơn làm như thú đói “say mồi” chỉ nhằm chỗ tốt để ăn cho đã! Vì vậy mới bị người nhà nước chặn đầu đột ngột … nghĩa là chừng biết có biến thì hết lối chạy. 
Thằng Bianco đứng dưới đất nhưng nhìn thấy sếp Trâu Nước trước. Nó vừa kịp la lên phi báo thì từ nóc toa xe Gino nhìn xuống đã thấy bồ ruột bị nắm đầu, hết cục cựa. Sếp cảnh sát bận đồ rộng thùng thình xem như hề Charlot ngước nhìn lên nạt: “Nhãi con, biết điều xuống ngay. Đợi tao lên là bể đít!”. 
Gino đứng sững, mặt nhăn nhó nhìn làm bộ suy tính. Giữa trưa nắng máu nó như sôi lên được. Điều này kẹt nhưng nó thì khỏi sợ. Làm gì nổi mà lo? Nó còn đứng trên này là vững quá, bất quá chỉ một mình thằng Bianco và cái xe “bị”! Mà chỉ đến phá “đồ nghề”, đá đít ra khỏi khu nhà ga là tối đa. Nhưng vấn đề là vẫn phải lo … cứu bồ chứ. Nó phải nhử sếp lính, phải chọc giận cho sếp chịu không nổi, buông Bianco ra rượt theo nó là thế nào cũng thoát cả người lẫn xe. Phải làm liều … 
Nó bèn chường mặt ra nhìn sếp cười hề hề: “Ủa Charlot hả? Dám lên rượt thật hả?”
Nhanh như cắt Gino chạy qua phía bên kia, dợm leo thang xuống nhưng lại cố tình ló đầu lên ngay lập tức: “Ê, đây mà bồ?” 
Ức quá, sếp cảnh sát bèn nạt Bianco “khôn hồn đừng chạy” rồi chui dưới toa xe tính chặn đầu Gino nhưng nó lại thoăn thoắt leo trở lên như không! Sếp Trâu Nước lại bỏ trở về nắm cứng Bianco, nhưng thằng Gino cứ chạy tới chạy lui trên nóc toa xe cố tình chọc giận: “Leo lên đi, lên là bắt được liền!”. Hắn cau mặt quát lớn: 
– Tao nói lần chót … mày không xuống ngay là chết cha với tao! 
Nghe sếp nạt nộ, thằng Gino đã không ngán lại đưa tay ngoáy lỗ mũi, chân chạy thoăn thoắt trên nóc toa . Vụt một cái nó đã nhảy sang toa kế và dừng lại nhìn. Dưới đất Trâu Nước trừng mắt nhìn dọa dẫm làm Bianco chưa dám liều lĩnh vùng chạy. Khoảng cách quá gần, cả đoàn xe không hơn mười toa thì nó rượt dễ quá mà. 
Nhưng thằng Gino ma lanh, nhảy cỡ vài toa lại giả vờ tụt thang khiến sếp Trâu Nước uất quá, chui đại qua gầm xe, thây kệ cho Bianco chạy để vồ bằng được thằng con nít dám giỡn mặt nãy giờ. Quả nhiên trò cút bắt của Gino đã “giải phóng” được Bianco! Nó hân hoan nhìn bồ kéo chiếc xe “làm ăn” chạy vọt ra ngoài vòng thành nhà ga. 
Phía dưới sếp Trâu Nước đã tính rút súng ra dọa. Chỉ sợ mấy người lớn nãy giờ đứng đâu đó nhìn thấy người nhà nước móc súng uy hiếp một thằng nhỏ thì kỳ quá! Vì vậy chỉ vẩy cây dùi cui nồ Gino: “Xuống đi, mày bắt tao phải rượt nãy giờ thì thế nào tao cũng cho mày ăn dùi cui”. 
Thằng nhỏ kéo xe nước đá đã ra thoát đến đại lộ nên Trâu Nước nạt lớn: “Xuống tức khắc. Tao đập thật thì mày chắc chết!”. 
Phía trên nóc toa thằng Gino lững thững bước tới. Sếp tưởng đâu nó đã biết ngán nên chuẩn bị nạp mình. Nào ngờ cái mặt nó ló ra thấy ghét, nhe răng cười nham nhở lại còn chửi thề một câu thật mất dạy! Tiếp theo đó là cả một cục nước đá bay vụt qua đầu và thằng quỷ nhỏ chạy vùn vụt trên nóc toa, chạy ngược vào phía trong sân ga.
“Chết cha mày, dáng đi của tao đã lật đật mà mày nhè giễu tao Charlot thì mày khó sống”. Yên trí nó chẳng còn lối nào ra thoát, Trâu Nước bình tĩnh bám theo. Có điều một chạy trên nóc toa biểu diễn trêu gan, một rượt dưới đất vướng víu quá, cứ vấp đường ray hoài. Vừa thấy nó ló ra đã biến đâu mất … còn nhìn dáo dác tìm thì thằng ranh con đã chạy ngược trở lại từ lúc nào, bay xớt ngang chỗ sếp Trâu Nước đứng hờm sẵn mà cặp giò nó nhảy cứ như cheo! Chừng quay trở lại được thì đã thấy bóng nó phi ra gần tới vòng thành và loáng một cái đã vọt hẳn ra ngoài đại lộ. Có chạy theo cũng đến hòa vì đấy là giang sơn của nó rồi. 
Có lẽ cũng biết vậy nên thoát Gino không những ngừng chân mà còn đứng hẳn lại mua ly càrem ăn chơi và đưa mắt nhìn dáo dác tìm bồ ruột Bianco. Không hiểu nó biến đâu? 
Đứng lớ ngớ trong sân ga sếp cảnh sát Trâu Nước tuy uất lắm lắm nhưng đành phá lên cười cho hả giận vậy. Có hai thằng ranh con vào xớt đồ ban ngày, nắm chắc được một thằng rồi mà hơ hỏng thua trí nó để vuột mất cả hai! Vừa mất thời giờ, vừa mất mặt và rượt nãy giờ lại quá mệt càng chịu không nổi danh từ “hề Charlot”. Sếp nghiến răng chửi thầm: 
– Tụi bây còn vào là còn dính! Tao sẽ cho tụi bây khóc … khóc cho xứng với trận cười bữa nay … 
Gino vừa ăn càrem vừa đảo mắt nhìn Bianco. Còn tiền “làm ăn” bữa nay đã chia chác đâu, phải kiếm nó gấp. Chợt nghe mẹ nó réo lên từ cửa sổ gác tư: “Gino thằng súc vật! Nước đá của tao đâu? Không lo về ăn cơm còn đứng đó làm gì đấy?” 
Nó nhìn lên hét lớn: “Hai phút nữa về” rồi co giò chạy miết và quẹo cua sang đường số 30 . Nó đã nhìn thấy bồ ruột Bianco đang ngồi ôm đầu trên trụ đá, chiếc xe cút kít cột đàng hoàng vào lan can sắt, chỗ đi xuống nhà hầm. 
Lúc bấy giờ Bianco đang ngồi vò đầu khổ sở, muốn khóc quá. Nhưng vừa thấy mặt Gino nó mừng nhảy dựng lên. “Mày ra được đấy hả? May quá! Tao đã tính lên nói cho mẹ mày hay”. 
Giữa trưa nắng, bụi bay mù đường 30. Lần này thằng Gino có quyền thót lên xe để bồ Bianco đẩy. Tới đại lộ số 9, tụi nó sẽ vào mua hẳn mấy chiếc xăng uých xúc xích và mấy chai Pepsi. Hai thằng có sẵn chỗ tụ họp bên đường 31. Đó là bờ tường nhà máy làm kẹo sôcôla, tha hồ râm mát. 
Chúng ngồi dựa lưng vào vách thưởng thức xăng uých một cách trang trọng và ngon lành, thoải mái. Làm mệt thì phải ăn ngon mới bõ công làm chứ? Lại pha chút phiêu lưu mạo hiểm thì mỗi miếng bánh đều ngọt lịm chắc! 
Làm sao Gino không sung sướng phổng mũi cho được khi bồ ruột Bianco ngỏ lời cảm tạ: “Không có mày tao chết. Mày hay quá, Gino! Mày chơi được cả thằng Trâu Nước”. Gino cứ lặng thinh nghe. Có gì đâu … không lẽ nó lại thú nhận rằng cái trò chơi “cút bắt” để giải thoát cho bồ không phải nó nghĩ ra mà tình cờ đọc được ở một cuốn sách hình nói về một loại chim nào đó? 
Ngày hè qua nhanh lắm. Mới đó mà chỉ một vài cụm mây đen giăng ngang và che lấp hết cả là cơn mưa ào ào đổ xuống sấm chớp rền trời. Bao nhiêu những nóng nực, oi ả của vỉa hè đổ lửa, của nhựa đường nóng chảy khét lẹt bỗng được một cơn mưa đổ xuống là tan biến hết. Mưa xuống là ngửi thấy ngay mùi ngai ngái của đường phố bốc lên. 
Lúc mới đổ mưa hai đứa đã lo kiếm mái hiên núp. Nhưng cơn mưa lớn quá, một phần mái hiên nứt lủng, phần nước mưa tạt vào nên chúng giơ mặt ra hứng mưa cho mát. 
Một lát sau mưa còn dai dẳng Gino và Bianco xoay ra đánh bài cho đỡ buồn. Trời âm u thật nhưng để đánh bài thì vẫn dư thừa ánh sáng. Thấy Bianco móc túi quần lấy cỗ bài nhớp nhúa của nó ra là Gino ngán quá ! Thằng ranh đánh bài cao lắm, nó chơi đâu lại và cứ đánh là thua. Nhưng mắc cơn mưa ngồi buồn quá biết làm gì bây giờ? Đành phải chơi mấy ván bài cào vậy và chưa gì Gino đã mất tiêu năm mươi xu, tính ngay vào số tiền bán nước đá vừa “làm” được. Vậy mà trời vẫn cứ mưa nặng hạt. 
Tuy nhiên không ngờ bữa nay Bianco lại tử tế. Ăn 50 xu rồi nó thản nhiên trả lại đủ 50 xu cho Gino và giải thích rằng: “Bữa nay mày cứu tao thoát khỏi tay Trâu Nước, bấy nhiêu đó không đáng 50 xu sao? Mày cầm lấy đi!”.

Photo edit by Sơn râu

Xem, đi “làm ăn” chung với nhau … gặp nạn là phải cứu nhau chứ lĩnh tiền “đền ơn” của nó sao được. Gino nghĩ vậy và làm bộ bực tức thì thằng Bianco xoay qua ngã khác: “Đồng ý, anh em chơi với nhau mà nói chuyện đền ơn bằng tiền xem kỳ thật. Nhưng còn cái xe … không có mày là mất xe rồi! Bộ nó không đáng 50 xu và tao không có quyền ép mày phải nhận sao?”. 
Đồng ý là bữa nay Gino không cần tiền. Nhưng bồ ruột mà nó đã nói đến như thế không cầm lấy đâu được. Nhất là nó nói gần như khóc nữa nên đành phải chìa tay ra vậy.
Trời vẫn còn mưa. Sau khi đưa cho bồ 50 xu, thằng Bianco cứ cầm bộ bài xạc mãi. Hai thằng cùng ngồi yên, buồn tay Gino búng đồng năm cắc cho quay chơi trên nền gạch làm Bianco nhìn sững. Nó bèn đút túi ngay khiến bồ ruột phải nhóng thử: “Bài cào nữa không mày? Làm vài ván thôi?” 
Gino lắc đầu quầy quậy. 
Lát sau mưa mãi cũng phải tạnh. Mặt trời hiện ra le lói thì chúng cũng bước ra khỏi hàng hiên. Bề nào cũng chiều rồi mặt trời đã chuẩn bị hạ xuống mé sông Hudson, Bianco lên tiếng: “Xem bộ chiều rồi. Tao về nhà đây. Về không Gino?” 
Gino lắc đầu “Mày về đi! Tao ở lại chút”. Nó đứng nhìn bạn lững thững kéo chiếc xe về ngã đại lộ số 10.
Đám thợ làm hãng kẹo tan tầm chót. Bọn họ đi về, đi ngang Gino đánh hơi rõ mùi vị ngòn ngọt nồng nàn mùi sôcôla. Mùi thơm như hương hoa vậy, có lẽ vì trời mưa xong chắc? 
Tạnh mưa hẳn Gino cũng chưa buồn về. Nó ngồi ngây người nhìn và thấy cái gì cũng đẹp cả. Ngay mái ngói cũng tươi hơn, đám trẻ con lại ào ra chơi đùa ngoài phố, mấy chiếc xe ngựa lại đủng đỉnh chạy và có chiếc còn để lại phía sau một dọc dài phân ngựa. Ở mấy cánh cửa sổ trên gác đã thấy những khuôn mặt đàn bà thập thò và sau đó là gối là chăn đem ra phơi nắng. 
Ngắm cảnh mãi cũng chán, Gino để ý thấy nước cống đang cuồn cuộn chảy về mạn dưới. Nước chảy rất mạnh khiến tự nhiên nó nảy ra một trò chơi. Nó đi kiếm một thanh gỗ mỏng, đặt đồng năm cắc lên trên cho nằm ngay ngắn, cân bằng mới buông tay ra để nhìn chiếc bè tre trôi nhanh, lao vút. Gino bèn chạy theo, chạy gần đến đại lộ số 9 mới dừng bè lại, nhặt tiền đút túi. 
Trên đường về đi ngang dãy nhà bỏ hoang Gino để ý thấy một đám thanh niên đứa nào cũng cỡ Larry sấp lên chơi trò “đu dây tử thần” . Sợi dây buông từ ba, bốn tầng gác xuống và nắm dây vùn vụt đâu có dễ dàng gì ? Nó ngây người khâm phục các đàn anh đu dây biểu diễn in như Tarzan và mê lắm nhưng nó còn quá nhỏ có muốn chơi cũng chẳng được tụi nó cho phép vào! 
Lại có thằng đang bám dây đu ngang đường nhè hụt tay đã thấy rớt nhưng nó vội nhỏm người bám ngay được cửa sổ đánh đu lên xem còn điệu nghệ nữa. Nhìn thấy Gino càng ham! 
Tới ngã tư đại lộ số 9 và đường số 31 nhìn xuống rãnh vẫn thấy nước chảy xiết như thác, khoái quá Gino lại hí hửng chơi tiếp tục trò thả bè và khoan khoái nhìn nó trôi vùn vụt, len lỏi quăng quăng giữa đám rác rều tạp nhạp đủ thứ. Nó chăm chú dõi theo nhưng vẫn có ý liếc ngang bên đường vì đây còn là “đất địch”. Nó phải để ý xem mấy đứa rượt nó tối qua có xuất hiện không. Nhờ đám mưa lớn nước mưa bây giờ mới tuôn ở các rãnh nhỏ ra, đổ ào ào vào cống cái như thác nước cuốn theo đủ thứ rác rưởi, bao giấy, ống bơ … Tốc lực nước khiến gặp biết bao chướng ngại vật mà bè cứ tiếp tục trôi phăng, khỏi sợ lật. 
Nhưng gần đến cây cầu đại lộ 10 rồi. Gino mau mau dừng bè lại thu hồi đồng năm cắc bằng không là có chầu xuống cống cái mất tiêu. 
Nó mau mắn rẽ qua đại lộ số 10 và đang cắm cúi bước bỗng đụng thằng Sal từ đầu kia hối hả chạy tới . Đám nó đang chơi tạt lon nhưng lỡ húc đầu vào bụng anh bèn nổ trước: “Xem, mẹ kiếm anh nãy giờ đó ! Nhà ăn cơm rồi, lát nữa về mẹ đập chết luôn!”. 
Gino đang hứng chơi. Nó đâu ngán? Nó cắm đầu đi miết trở về chỗ đánh đu đưa lúc nãy. Mấy thằng lớn đi đâu hết nhưng sợi dây dài đu đưa vô cùng hấp dẫn vẫn còn đó. Nhưng nó thấp quá phải leo lên gác mới nắm tới sợi dây. Vào nhà hoang dễ sợ thật nhưng với Gino thì khỏi! 
Không ngần ngại Gino chạy vào, men theo bậc thang đi lên. Đâu phải dễ dàng? Bậc thang thì cái còn cái mất và vì là nhà hoang nên cô bác đã tự động gỡ bằng hết ống nước, dây điện … Cửa lớn cửa nhỏ chỉ còn trơ khung. Sàn nhà lồi lõm, bừa bãi những vôi vữa thấy ghê nhưng Gino cũng nhất quyết mò ra ban công ló đầu ra nhìn và đưa tay quơ sợi dây. 
Nó nắm chắc sợi dây, nhún nhẩy lấy đà rồi đu một phát bay bổng qua bên kia đường và oai hùng “hạ cánh” xuống khung cửa sổ trên gác tòa chung cư trước mặt. Ôi! Bay bổng khoái làm sao? Gino nắm cứng sợi dây, đu qua đu lại mấy lần, chân đạp vung mạnh cho giống Tarzan đu bay. 
Nó đu dây hăng đến nỗi hai cánh tay mỏi nhừ hết nắm nổi mà bàn tay thì bỏng rát nếu không “kinh nghiệm hạ cánh” dám buông tay rớt luôn. Cũng may mà Gino tính toán đáp đại thế nào lại buông người đứng sững trên vỉa hè, chẳng sao cả! 
Nhưng bữa nay sao mau tối thế này trời? Điệu này là nguy hiểm về nhà là ăn đòn chắc. Nó cố lấy vẻ ngạc nhiên chạy về tới cư xá vẫn chưa thấy người nhà xuống ngồi trước cửa, kể cả thằng Sal. Gino bèn bay bốn thang gác lên trên nhà. 
Mới tới tầng ba đã nghe rõ ràng tiếng mẹ nó và chị Octavia gây gổ. Gino bèn dừng lại nghe ngóng. Vào trong nhà thấy hai người còn ngồi đối diện hầm hè nhau, người nào cũng đằng đằng sát khí, mà thấy nó cả hai cùng nhìn, chưa nói gì nhưng dễ sợ lạ! Tuy nhiên mắt Gino vẫn dán chặt vào thằng anh Vincenzo đang ngồi một đầu bàn, mặt mũi quần áo trắng những bột mì. Xem cặp mắt nó sao lờ đờ, mệt mỏi đến thế kia? 
Đúng lúc đó mẹ nó nạt “A, cậu Gino đi chơi đã về đấy! Giỏi thật!” Cặp mắt Octavia cũng nhìn nó kiểu quan tòa nhìn tội nhân nên Gino đâm hoảng vội sáp vào bàn ăn ngồi, không đợi giục. Vả lại đói nãy giờ rồi!
Bỗng đâu một cái bạt tai trời giáng hạ xuống ngang tai Gino làm nó thấy cả trăm ông sao muốn ngất ngư và ù tai lên. Nó nghe tiếng mẹ la sao dữ quá! 
– Đồ con nhà trời đánh! Mày đi đâu mất biệt nguyên ngày? Mày đi chơi hoang, tới bữa mò về ăn ngon quá ta? Lại không thèm rửa cái tay nữa! Đi đi, quân mèo đàng chó điếm, quân thú vật! Còn Vincenzo nữa, đi rửa mặt mũi chân tay chút cho khỏe. 
Hai thằng lẳng lặng đứng dậy, ra vục đầu vào lavabô rửa ráy một lát mới trở lại bàn ăn. 
Mắt Gino đỏ au, chỉ muốn khóc. Không phải vì bị mẹ tát tai đau, mà vì trọn ngày đi chơi rong làm người hùng quá thú vị nhè chiều tối vừa về nhà bị một cú như vậy thì cuộc đời hết đẹp! Mẹ nó, chị nó sao ghét nó quá vậy! Gino cúi mặt, không muốn nhìn lên, không thấy đói nữa. Nếu mẹ nó không đẩy tới đĩa xúc xích nó cũng chẳng hỏi. 
Chị Octavia quắc mắt nhìn nó, lên tiếng trách mẹ: 
– Thằng này cũng phải học làm ăn … Chứ bắt một mình thằng Vincenzo đâu được? Ông già nó cũng đâu thèm ăn làm gì? Không bắt nó làm được thì Vincenzo cũng nghỉ đằng tiệm bánh luôn. Nghỉ hè không học thì đi chơi. Khỏi làm. 
Không hề ganh tức, Gino len lén nhìn thằng anh Vincenzo nãy giờ mệt mỏi, cắm cúi ăn. Hình như cả nhà bữa nay đều thương xót nó, nhất là chị Octavia nước mắt chảy quanh. Vincenzo còn được mẹ, được chị chiều chuộng như người lớn vậy. 
Nghĩ thế Gino bèn cho tay vào túi móc ra đồng năm cắc đưa cho mẹ: 
– Con cũng kiếm tiền được chứ bộ. Đấy là tiền bán nước đá bữa nay. Mỗi ngày dư sức năm cắc mà. 
– Kiếm tiền gì? Mẹ phải cấm nó vào nhà ga ăn cắp chứ? 
Nghe Octavia hầm hè vậy, mụ Lucia gạt đi: 
– Vẽ chuyện! Cả một sở Hỏa xa mà ba đứa con nít mỗi ngày lén vào lấy có chút xíu nước đá thì ăn nhằm gì? Tiền của mày chứ chủ nhật này dắt thằng Sal đi xem hát bóng với nghe! 
Không hiểu mụ nghĩ gì nhưng ánh mắt nhìn thằng Gino dịu hẳn. Lại còn lấy cho nó một lát bánh mì, trét thật nhiều bơ! Nãy giờ mắt Vincenzo vẫn trắng bệch, dù đã lau rửa hết lớp bột mì. Nhìn nó mệt mỏi đau khổ quá … đau khổ phát thương hại nên Octavia không thể không biểu lộ tình cảm. Nàng xích tới, vòng tay qua cổ nó âu yếm hỏi: 
– Bữa nay họ bắt mày làm những gì? Bộ mệt lắm hả? 
Thằng Vincenzo hờ hững nhún vai: 
– Không mệt lắm … nhưng lò bánh mì nóng thấy mồ! Mà tụi nó bảo … tụi nó bắt tôi vác bao bột từ nhà hầm lên … dơ dáy quá! 
– Đồ khốn nạn! Tụi nó bắt thằng nhỏ … 
Octavia thương xót thằng em quá nên không ngần ngại xài danh từ thật độc ngay cả với bà mẹ: 
– Đấy mẹ thấy không? Cái thằng già chủ tiệm bánh khốn nạn nhà quê đó … người cùng xứ sở đếch gì mà thằng con nít cỡ này nó nỡ bắt con người ta vác bao bột? Được rồi, tôi đợi chừng nào con thằng cha già đó mời tôi đi chơi là tôi nhổ nước bọt vào mặt. Nhổ một bãi ngay ngoài đường cho nó mát mặt! 
Thấy chị bênh sốt sắng như vậy, Vincenzo lấy làm hả hê. Octavia mà can thiệp mạnh chút nữa là nó dám được thôi việc lắm chứ? Cũng tại mẹ nó quá ham tiền. Nó thấy nhục thật. 
Quả nhiên mụ Lucia Santa lên tiếng ngay: 
– Có vậy một tuần lễ mới có năm đô la … và ngày ngày có bánh mì ăn cả nhà, khỏi tốn tiền! Chừng gặp ca thằng Vincenzo đứng bán hàng mình còn có thể có càrem ăn chơi. Đỡ đồng nào hay đồng ấy … nhất là có thằng bố thì khi không đi biệt dạng. 
Ấy đấy, hắn bỏ đi mà mẹ nàng chỉ dám nói có vậy nên Octavia đâm nổi sùng. Nàng bèn sổ một tràng danh từ chẳng sạch sẽ chút nào làm hai thằng con ngửng lên ngó sững! Chị Octavia mà có thể ăn nói tục tĩu vậy sao? 
Thấy nét mặt ngẩn ngơ của hai đứa, Octavia lấy làm đắc ý lắm. Nhưng liếc nhìn thấy mặt bà mẹ xù xụ xuống, nàng không muốn văng tục nữa mà chỉ bình tĩnh ngỏ lời tiếp: 
– Không còn gì vô lý bằng … người lớn ở nhà chơi cũng được mà bỏ đi cũng được! Thằng bé chút xíu thì nghỉ hè cũng phải đi làm! 
Mụ Lucia Santa nhột nhạt quá bèn giở tiếng Ý xài xể liền: 
– Mày ăn nói vậy mà nghe được? Vậy mà đòi làm cô giáo! Cô giáo mà trước mặt mẹ ăn nói hỗn láo vậy đó? Cho mày hay là mày muốn chỉ huy, sai phái thì cứ việc kiếm một thằng chồng, đẻ ít đứa con … Chừng đó mày sẽ biết! Chừng đó mày toàn quyền mắng chửi, đánh đập hay bắt đứa nào làm, đứa nào chơi hoặc làm cái giống gì tha hồ … Nhưng bây giờ thì mày chưa có quyền đó. Mày câm đi.
Mụ nạt một hơi làm cho Octavia nín khe. Mặt mụ hầm hầm nhìn xem dễ sợ quá, làm như kẻ thù không bằng. 
Nhưng may quá mụ đã quay sang chửi thằng nhỏ: 
– Còn thằng Gino khốn kiếp nghe tao nói đây. Bữa nay mày đi biệt nguyên ngày. Từ sáng tới tối không thấy mặt mày không bị xe cán hay người ta bắt đi? Đó là một. Hai là thằng bố mày bây giờ cũng đi … vậy thì cả nhà cùng phải làm giúp tao chứ? Mai mà mày đi nữa thì tao sẽ có cái này … 
Mụ đứng dậy tới tủ kính lấy cây tackeril. À lãnh mấy cây này thì đau phải biết … dù nó chỉ là một thanh gỗ mỏng dài bình thường chỉ dùng vào việc cán bột để làm mì nấu ravioli. Mụ Lucia Santa vung vẩy cái roi, dằn giọng nạt: 
– Gino … mày xem đây, thấy chưa? Mà mày còn đi chơi là tackeril tao sẽ đập mày lằn nào đáng lằn nấy. Đập cho toàn thân mày tím bầm, tím đen mà cho dù mày có là ông thánh cũng chạy lên trời không khỏi. Tao dặn trước rồi nghe bây giờ thì cơm đấy, ăn đi! Ăn xong bổn phận mày phải dọn dẹp chén bát, rửa sạch sẽ đàng hoàng. Rồi quét nhà, lau nhà … Cấm ló mặt xuống dưới đường tối nay nghe Gino? Tao mà thấy là chết đòn! 
Sự dọa nạt của Lucia Santa xem bộ có hiệu quả. Thằng Gino ngồi im thin thít. Chưa chắc tackeril đã ngán lắm nhưng chưa bao giờ nó thấy mẹ giận dữ kinh khủng vậy. Nghe la lối ngán quá, phải chi có vụ gì khiến bà bỏ ngang. Đợi không thấy gì hết. 
Nhưng sau cùng cả hai người lớn đều đi xuống dưới nhà. Đỡ quá, Gino yên trí ngồi ăn, nghe chất thịt xúc xích ngọt lịm, chất dầu béo bổ và hạt tiêu thơm nồng trộn đều ngấy ngậy trong miệng. 
Càng đói bụng ăn càng ngon miệng. Gino chịu quá đi! Dông tố vậy là qua rồi, khỏi sợ khỏi buồn. Mai này nó sẽ đi làm, nó sẽ đỡ đần cho mẹ. Thấy thằng anh Vincenzo ngồi lặng thinh nhìn đĩa không buồn ăn, Gino bèn vỗ về: 
– Này, bộ lão chủ khốn nạn bắt anh làm dữ, phải không? Tôi thấy anh vác cái thùng gì lớn quá. Mang đi đâu vậy? 
– Đâu có gì. Thì mang ra cửa tiệm của họ ở đại lộ số 9 vậy mà. Còn không … thì phải vác bao bột từ nhà hầm lên. 
Nó nói vậy nhưng Gino hiểu phải có gì bên trong. Có điều chính thằng Vincenzo cũng còn con nít. Có thức ăn ngon miệng để trước mặt là mau quên lắm. Nó hối hả ăn. Mà nó đâu biết chính nó vừa trải qua một giai đoạn đau khổ trong đời? Đang ăn chơi, phá phách ở nhà bỗng chốc phải bỏ hết … để chạy tới hầu hạ đồng tiền, nghĩa là vác xác lại cho thiên hạ sai phái, hành hạ. Nó cũng từng làm công việc nhà chứ đâu phải chơi không? Nào đỡ tay đỡ chân cho mẹ, nào lâu lâu đánh giùm cho anh Larry đôi giày và cũng được anh quăng cho một cắc. Nhưng đi làm cho người ta lại là chuyện khác. 
Tuy nhiên Vincenzo cũng hiểu đi làm đây chỉ là làm tạm mấy ngày nghỉ hè rồi tựu trường lại cắp sách đi học. Chắc chắn lúc ấy nó sẽ quên phắt những ngày mẹ bắt bỏ việc nhà, bỏ chơi để đi làm cho người ngoài. Chỉ vì đồng tiền. 
Chỉ tiếc mấy ngày nghỉ hè như thế này mà sáng sáng không phải đi học mà không được đi đánh bóng, đi tụ họp chúng bạn thả rểu chơi hay ngồi dựa lưng vách nhà máy kẹo bên đường 31 tán gẫu hoặc nằm lơ mơ mút càrem … vậy là buồn, thế cũng đã buồn rồi chứ còn con nít Vincenzo đâu đã hiểu nỗi đau khổ của người lớn về kiếp nhân sinh cực nhọc? 
Y lệnh mẹ, Gino lo dọn dẹp chén đĩa và lúi húi rửa bát. Thằng anh phụ nó một tay lau chén bát cho khô. Gino khoái trá kể lại vụ “chiến thắng” gã Trâu Nước. Vụ đu dây làm Tarzan, vụ đánh bài với Bianco. Nó dấu biệt vụ thả bè trôi ở cống rồi chạy theo dài dài nhìn chơi. Xét ra trò chơi này con nít quá, đâu phải của một thằng mười tuổi cỡ nó? Thấy một cái xoong cáu mỡ dơ dáy quá, Gino bèn giấu luôn vào trong lò. 
Làm xong nhiệm vụ hai anh em rủ nhau ra cửa sổ nhìn xuống đường chơi. Mỗi đứa chiếm một khung cửa ngồi vắt vẻo không còn gì lo nghĩ. 
Lúc bấy giờ Gino mới nêu thắc mắc: 
– Xem, tôi mới lỡ quên … đi chơi có ngày hôm nay mà xem bộ mẹ và chị Octavia làm dữ quá? Tôi không hiểu sao … Mai muốn làm gì tôi cũng làm hết! 
– Tại mẹ giận vụ bố khi không bỏ nhà đi đấy mà! Lại không biết người đi đâu … chừng nào người về nên càng giận nữa. Bộ người cũng “trốn” nhà chắc? 
Vincenzo cười diễu. Hai đứa cùng dư hiểu người lớn có khi nào lại … bỏ nhà ra đi. Cái vụ đó là của con nít. 
Xa xa, đầu đại lộ số 10 tụi chúng thấy ánh đèn đỏ của một gã “cao bồi” vung vẩy mở đường. Ngay phía sau là vòng tròn ánh sáng dập dờn của pha đèn chiếc đầu máy chạy sau. Ngay những người đứng ngồi phía dưới cũng chỉ là những cái bóng cử động dưới ánh đèn đường vàng vọt. Lại có những bóng xanh … vì những bóng đèn màu ở cửa tiệm bánh hắt ra và ánh đèn ở các tủ kính cửa hàng chiếu ra cũng sáng hẳn, khác hẳn. 
Quen ngồi vắt vẻo khung cửa sổ từ lâu rồi, cả hai anh em nhắm mắt ngủ rồi lơ mơ. Lưng tựa cửa, hai khuôn mặt mệt mỏi đón gió sông Hudson thổi lên ve vuốt. Luồng gió mát rượi, tưởng chừng như có mang theo cả nước sông … Lại thoang thoảng mùi cỏ, mùi cây ngai ngái, mùi cả vô vàn thứ trong thiên nhiên mà ngọn gió quê mang vào thành thị.


Hiện tượng Duyên Anh

baotreonline.com

Trần Vũ

June 22nd, 2024

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chuyên Đề Duyên Anh 

Kỳ 8

Trong khảo luận Huỳnh Phan Anh đặt câu hỏi: “Những người đọc trẻ tuổi của Duyên Anh, thật ra họ đã tìm kiếm cái gì trong trang sách của ông, và họ đã bắt gặp cái gì?”

Và ông trả lời: “…theo tôi rất đơn giản. Họ (độc giả trẻ tuổi của Duyên Anh) tìm kiếm chính hình ảnh của họ, chính thế giới của họ. Họ tìm kiếm chính họ.”

Cá nhân tôi không mấy đồng ý. Chúng tôi, những độc giả nhi đồng lúc đó làm sao biết mình là ai để tìm kiếm chính mình? Lứa tuổi thiếu nhi chưa biết tìm hình ảnh của mình nhưng ngược lại ước ao làm Bồn Lừa đá banh tài hoa dù chưa từng lên Ban Mê Thuột; mơ thành Người Quang Trung cầm quân; ước sau này lớn cũng có một người bạn gái cùng dạo phố khuya đếm những bóng đèn đường đêm Giáng sinh, như Chương với Phượng trong Phượng Vỹ ở Thái Bình.

Độc giả tuổi nhỏ không tìm kiếm chính hình ảnh của mình  mà ước sao những hình ảnh Duyên Anh tạo ra sẽ xảy đến với mình. Điều đó gọi là mộng mơ.

[Trần vũ]

Huỳnh Phan Anh

Huyền thoại Duyên Anh

Tôi không thấy có những điểm khác biệt trầm trọng nào giữa các hiện tượng văn nghệ, ít ra là trên phương diện hình thức, dù chúng không cùng hít thở một bầu không khí chung của một thời đại hay một xã hội. Vẫn có những căn do tâm lý và xã hội đã biến Gide, Sartre, Camus, Sagan, Segal thành những tác giả thời thượng, những hiện tượng văn nghệ làm bá chủ một thời. Vẫn những căn do tâm lý và xã hội đã quyết định sự thành công của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng… của thời kỳ tiền chiến tại Việt Nam. Trường hợp của Duyên Anh cũng không thoát ra ngoài những phạm trù tất yếu đó, Ở đây, dĩ nhiên, như đã nói, vấn đề giá trị nội tại trên bình diện văn nghệ thuần túy không nhất thiết đặt ra, có thể giá trị đó không liên quan gì tới một tác giả thời thượng, một hiện tượng văn nghệ, đặc biệt là “hiện tượng tác giả có sách bán chạy nhất” của thời đại này. Hiện tượng văn nghệ là hiện tượng của đám đông, của đại chúng. Nó cần thiết được giải thích, soi sáng bằng chính những ước vọng, những đam mê gần gũi nhất của đám đông đó, của đại chúng đó. Nó cần được đặt vào những trào lưu, những điều kiện sinh động nhất của xã hội hay thời đại. Tách rời Duyên Anh ra khỏi tất cả những thứ làm nên một môi trường, một hoàn cảnh trong đó Duyên Anh sống và viết, trong đó Duyên Anh được nuôi dưỡng, người ta khó lòng lãnh hội được hiện tượng Duyên Anh. Tôi nghĩ hơn ai hết, có lẽ Duyên Anh thừa hiểu rằng trước khi là một nhà văn, ông đã là một quan sát viên, một chứng nhân, vừa là một diễn viên tham dự trực tiếp vào dòng sinh động phong phú của một thời đại, một giai đoạn lịch sử. Có thể Duyên Anh đã không phản ảnh trọn vẹn một thời đại của ông trong tác phẩm của ông.

Photo edit by Sơn râu

Nhưng điều mà người đọc có thể nhận ra một cách dễ dàng là Duyên Anh đã viết cũng như đã sống không ở ngoài mà ở ngay trong thời đại của mình, không với tư cách của một khách bàng quan, dửng dưng, lạc lõng, mà với tư cách một kẻ tình nguyện gia nhập vào cuộc đời, tình nguyện kết thân với nó, lắng nghe nó, chuyện trò với nó, như một tâm hồn bạn, gần gũi và thân mật. Đọc Duyên Anh người ta không khổ công tìm kiếm cái chất đời sống trong tác phẩm ông. Tưởng tượng ông viết với những tiếng động của đời sống chung quanh. Tưởng tượng ông viết như người ta đón bắt những hình ảnh, những âm thanh của dòng đời hối hả.

Bóng dáng đời sống trong tác phẩm Duyên Anh có thể còn thiếu hẳn những kích thước cần thiết đúng với sự đòi hỏi của một độc giả khó tính, người ta cũng có thể trách Duyên Anh đã không vận dụng đúng mức khả năng của ngôn ngữ trong việc lột tả hay đào sâu những thực tại cùng những chất liệu phong phú của đời sống. Người ta có thể cho rằng Duyên Anh quá dễ dãi với chính mình vì đã bỏ quên hay không biết tới những viễn tượng bi thảm, hay khốn khổ có tính cách siêu hình về đời sống.

Nhưng liệu người ta có thể trách Duyên Anh đã chọn lựa một đời sống hay đúng ra một khía cạnh của đời sống để mô tả, đã chọn lựa một cách nhìn đời sống và từ đó, chọn lựa cho tác phẩm mình một đường hướng rõ ràng, dứt khoát.

Đời sống thể hiện, phát hiện trong tác phẩm Duyên Anh, đó là thứ đời sống gần gũi, quen thuộc, thân mật dễ dàng bắt gặp nhất. Nó không mang nặng những ưu tư quá lớn, những khắc khoải quá sâu xa, những rung động quá siêu hình. Nó cũng không dừng lại ở trạng thái quá thô sơ, tầm thường. Nó là cái trung bình. Và để dùng một danh từ quen thuộc của các nhà xã hội học hiện đại nó chính là đời sống hàng ngày với những dung mạo và kích thước vừa tầm, đúng mức của nó. Đời sống đó không phải của thánh nhân cũng không phải của quỷ sứ mà của mỗi người trong chúng ta, của những con người không tên không tuổi xuất hiện nhan nhản  ngoài đường phố trong đám đông. Đó là đời sống của những con người không có tiểu sử hay tiểu sử của họ đã tan biến vào dòng lịch sử chung của một tập thể hay một thời đại: những con người trung bình, những con người thường nhật.

Cũng như phần đông những truyện dài của Duyên Anh đã từng xuất hiện từng kỳ trên trang báo nhật trình, đời sống dưới ngòi bút của ông luôn luôn có tính cách gần gũi, sống động. Nó không là một đối tượng ù lì. Nó tồn tục trôi chảy, ngày tiếp theo ngày. Nó luôn luôn hứa hẹn, như hai tiếng “còn nữa” hay “còn tiếp” xuất hiện dưới mỗi kỳ Feuilleton của một trang nhật báo. Phải đó chính là đời sống vô cùng phong phú và cũng vô cùng quen thuộc của những nhà văn viết Feuilleton, nó xuất hiện ngay trước mắt, trong tầm tay chờ đợi được hóa thân thành chữ nghĩa. Chọn một cách nhìn đời sống, một cách thể hiện đời sống đó, Duyên Anh đã quyết định ngay tác phẩm của ông và, từ đó, chính sự nghiệp của ông. Ông biết ông viết cái gì. Ông biết ông viết cho ai. Ai? Ai đọc Duyên Anh, còn hứa hẹn tiếp tục đọc Duyên Anh? Đâu là mẫu người, lớp người vẫn mua sách Duyên Anh, vẫn đọc ông, vẫn yêu mến ông, vẫn trung thành với ông? Đâu là mẫu người, lớp người mà, ngay trong khi viết, ông đã nhắm tới, đã chọn là độc giả của ông? Như đã nói Duyên Anh vẫn được xem là nhà văn của tuổi trẻ. Nếu thành phần độc giả quyết định của Duyên Anh là lứa tuổi này, chắc chắn đó không là điều đáng ngạc nhiên. Bởi có thể nói rằng trên từng trang sách của Duyên Anh đều bàng bạc những hơi thở nồng nàn, đầm ấm của tuổi hoa niên. Thế giới của Duyên Anh là thế giới riêng biệt của lứa tuổi vẫn được xem là đẹp nhất của đời người, lứa tuổi đánh dấu bằng đoạn đời vàng son nhất của kiếp nhân sinh, từ lúc còn thập thò bên tà áo mẹ trong buổi học đầu tiên cho tới lúc vào đời với những bước chân còn bỡ ngỡ, với tâm hồn mai đây còn ôm ấp mãi căn bệnh của quá khứ. Ngay từ tập truyện đầu tiên – Hoa Thiên Lý – Duyên Anh đã chọn lựa thế giới hồn nhiên trong sáng đó. Sự chọn lựa của một nhà văn ngay trong tác phẩm đầu tiên của mình là một chọn lựa có tính cách định đoạt.

Photo edit by Sơn râu

Những tác phẩm đến sau chỉ còn là những cố gắng mở rộng chân trời đã vạch sẵn. Duyên Anh đã chọn lựa một thế giới cho riêng mình và đã trung thành với thế giới đó. Ông viết trong tình yêu mến cái thế giới đó. Tức là không ngớt hẹn hò với nó, không ngớt kêu gọi nó trở về để chuyện trò thăm hỏi. Có thể một nhà văn không có quá nhiều tác phẩm để viết, không có quá nhiều điều để nói. Hắn chỉ có một tác phẩm để viết mãi không thôi, để đào sâu và mở rộng không ngừng, tác phẩm như một công trình đời đời dang dở nghĩa là luôn luôn chờ đợi hoàn tất. Liệu có nhà văn nào tự hào đã viết dòng chữ sau cùng cho tác phẩm mình, đã bước cái bước sau cùng của đoạn đời sáng tạo, đã làm tròn nhiệm vụ đối với chính tác phẩm của mình. Đâu là bến bờ của tác phẩm. Đâu là giới hạn của thế giới văn chương.

Và đọc, tức là lên đường tìm kiếm một thế giới. Thế giới của ai? Có phải là thế giới riêng biệt của một nhà văn mà mình tình nguyện lạc vào và chỉ có thế? Những người đọc trẻ tuổi của Duyên Anh, thật ra họ đã tìm kiếm cái gì trong trang sách của ông, và họ đã bắt gặp cái gì? Câu trả lời đồng thời là câu cắt nghĩa, cắt nghĩa sự thành công của Duyên Anh, cắt nghĩa hiện tượng Duyên Anh. Câu trả lời theo tôi rất đơn giản. Họ (độc giả trẻ tuổi của Duyên Anh) tìm kiếm chính hình ảnh của họ, chính thế giới của họ. Họ tìm kiếm chính họ. Và tác phẩm chỉ còn là cơ hội để người đọc gặp lại chính mình, như một tấm gương trung thực.

Tác phẩm Duyên Anh chính là tấm gương ném trả lại cho người đọc những hình ảnh no đầy của tuổi trẻ, lứa tuổi vàng son người ta đang bay nhảy trong đó, hay lứa tuổi thiên đường đã một lần đánh mất, đời đời sẽ chỉ còn là kỷ niệm.

Người ta viết về tuổi trẻ không riêng cho tuổi trẻ đọc. Người ta còn viết cho những tâm hồn không phân biệt tuổi tác, đã từng sống qua những tháng ngày tươi thắm nhất, rộn ràng nhất kia của đời người. Văn chương tuổi nhỏ không chỉ là văn chương của tuổi nhỏ. Bởi thế giới tuổi nhỏ là thế giới đời đời, không ngăn cách, không giới hạn. Đó là thế giới kỳ diệu một lần đi qua để trở về không ngớt, và ngời sáng biết bao nhiêu trong mỗi lượt nó trở về. Không. Nó không đi đâu cả. Nó vẫn ở đó, ngủ yên trong bốn bề vắng lặng của vùng tâm thức âm u, như vương quốc Atlantide chìm sâu trong lòng đại dương theo huyền thoại của thời nào xa xưa. Vâng, nó vẫn ở đó, trong mỗi chúng ta, để rồi chỉ cần một tiếng gọi âm thầm thốt lên từ một trang sách hay từ một chút rung động của thời tiết, bao nhiêu đó thôi đã đủ đánh thức nó dậy, rực rỡ như ngày nào.

Ai trong chúng ta không từng sống qua một thời tuổi nhỏ. Ai trong chúng ta không còn giữ gìn, ôm ấp những kỷ niệm của một thời tuổi nhỏ. Tuổi nhỏ, nó như một góc thiên đường trìu mến để nhớ lại, để quay về. Tuổi nhỏ, nó như một vùng trú ẩn muôn đời của những tâm hồn cằn cỗi muốn quay lưng trước thực tế cay xè, chất ngất. Tìm về tuổi nhỏ, phải chăng đó là chuyến hành hương kỳ diệu nhất, thiêng liêng nhất của mỗi đời người giữa muôn ngàn bủa vây và thôi thúc của đời sống.

Có cả một nền văn chương tuyệt vời của tuổi nhỏ. Một nền văn chương không có biên thùy, không có quốc tịch. Bởi vũ trụ của tuổi nhỏ, tuy bát ngát và phong phú muôn vàn nhưng lại là một vũ trụ hòa đồng, không hề biết đến những phân chia, ngăn cách. Những tên tuổi lừng lẫy của Anatole France, Alphonse Daudet, Charles Dickens, Andersen, Nguyên Hồng, Thanh Tịnh… đã trở thành những tâm hồn bạn thân yêu trìu mến nhất của tuổi nhỏ muôn đời, của chúng ta. Có lẽ người ta cũng không còn nhớ họ. Họ không có tuổi tác. Họ đã gia nhập vào thế giới tuổi nhỏ để mãi mãi ở lại đó, mãi mãi là tâm hồn và tiếng nói của thế giới ngọc ngà đó. Họ vẫn không ngừng có mặt và lên tiếng trong mỗi chúng ta, thân mật và gần gũi, như chính tuổi nhỏ không ngừng có mặt và lên tiếng.

Ai trong mỗi người chúng ta không còn giữ lại những rung động đến từ những trang sách đầu tiên, từ những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư mộc mạc tới những đoạn văn hùng tráng của những nhà văn tuổi nhỏ, không, những công dân danh dự của thiên đường tuổi nhỏ. Những trang sách đó đã ru ta vào giấc mơ của một thời, đã thổi vào linh hồn ta hơi thở nồng nàn, những sức sống mãnh liệt. Những trang sách đó, những dòng chữ quen thuộc ngày đó, đã dàn ra, dựng lên một khung cảnh riêng tư, một khung cảnh kỳ tình đượm tính chất huyền thoại. Chỉ cần đọc lên những câu văn lộng lẫy đó. Chỉ cần nhìn lại cái thế giới trong vắt hiện lên từ những dòng chữ hồn nhiên như hơi thở đó. Đã quá đủ. Nếu không nói đã quá thừa. Để thấy tuổi nhỏ căng phồng, chiếm trong khoảng không gian chật chội của hồn mình. Nếu phải gọi đó là một nền văn chương, tôi không thấy một nền văn chương nào có đầy đủ những ma lực huyền diệu như văn chương tuổi nhỏ. Cũng như không có thứ ngôn ngữ nào hòa đồng như ngôn ngữ tuổi nhỏ. Hình ảnh của cậu bé theo mẹ đến trường vào một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, hoặc hình ảnh của chú nhóc con lưng đeo túi dết, băng qua khu vườn Lục Xâm Bảo vào một sáng tinh mơ của tháng mười… đó không là hình ảnh độc quyền của một Thanh Tịnh, một Anatole France hay của bất luận một tâm hồn nào khác trên mặt đất này, dưới một vòm trời nào có tính cách khác biệt riêng tư. Trái lại đó là hình ảnh chung đồng của tất cả mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói. Nó đời đời, nó bất tử và luôn luôn sáng đẹp ngời ngời. Nếu đời sống phân ly thì tuổi nhỏ là hình ảnh của sự kết hợp. Và văn chương của lứa tuổi đó (viết về lứa tuổi đó) lại càng là yếu tố kết hợp, là nơi hẹn hò của con người có thể chỉ gặp nhau, cảm thông nhau, yêu mến nhau trong thiên đường tuổi nhỏ. Trong viễn tượng này, và có lẽ chỉ trong viễn tượng này, tôi không ngần ngại nói lên niềm tin của mình ở sức mạnh, ở quyền năng và ở giá trị cao cả của văn chương, chữ nghĩa.

Phải chăng chúng ta vẫn không ngừng hướng về tuổi nhỏ? Phải chăng tuổi nhỏ và ký ức về tuổi nhỏ đã trở thành một căn bệnh cần thiết nhất trong mỗi chúng ta?

Và đọc Duyên Anh, phải chăng điều này cũng có nghĩa là tìm kiếm cái hình ảnh của tuổi nhỏ mà mọi người đều đã biết tới, sống qua, cái hình ảnh không ngớt sống lại, trở về: hình ảnh của tuổi nhỏ đời đời.

Dù có chấp nhận Duyên Anh hay không người ta vẫn phải đồng ý với nhau rằng Duyên Anh đã viết trong một ý hướng và một sự chọn lựa rõ rệt, đồng thời chính tác phẩm ông đã thể hiện ý hướng và sự chọn lựa đó. Ông viết cho những người sẽ đọc ông. Ông viết không để hỏi mà để trả lời. Để thỏa mãn tâm hồn người đọc trong những khát vọng của họ về một giai đoạn thần tiên nhất của đời người. Ông viết cho người đọc ở lứa tuổi mà ông tìm cách gợi lên, mô tả ngay trên những trang sách của ông. Nhìn vào số lượng tác phẩm quan trọng của Duyên Anh xuất bản, cho tới bây giờ căn cứ vào giọng văn và lối viết của ông, điểm nổi bật nhất người ta có thể tìm thấy là Duyên Anh vẫn trung thành với sự chọn lựa của mình.

Người đọc có thể thích hay không thích Duyên Anh. Nhưng vấn đề ở đây không là tìm cách biện minh cho một sở thích, một khuynh hướng hay một khát vọng nào đó của độc giả đối với Duyên Anh. Vấn đề là nhìn thẳng vào nó, thừa nhận nó như một thực tại.

Có lẽ người ta đọc Duyên Anh không để đào sâu thêm một quan niệm hay một triết thuyết về cuộc đời đã có sẵn nơi mình, cũng không để tìm kiếm một mỹ quan thể hiện qua cách xây dựng tác phẩm hoặc sử dụng ngôn từ của tác giả. Người ta sẽ thất vọng nếu tìm tới Duyên Anh với những yêu cầu nghiệt ngã của một người đọc khó tính, những yêu cầu thuần túy trí thức hay siêu hình. Bởi điều đơn giản là Duyên Anh, qua những cuốn sách ông viết cho tới bây giờ, gần như không thể hiện một tham vọng sâu xa nào liên quan tới những phạm trù đó. Ông không thuộc lớp những nhà văn đặt nặng vấn đề ý thức trong tác phẩm mình. Ông cũng không bộc lộ một ý hướng cách mạng hay làm mới một cái gì trên bình diện chữ nghĩa.

Có lẽ Duyên Anh khiêm nhường hơn, ít tham vọng hơn. Ông không viết văn để giáo hóa hay nâng cao trình độ của độc giả, hoặc để buộc người đọc phải suy tư hay thắc mắc về những đề tài lớn lao liên quan tới sự sống hay chết của họ.

Người ta không đọc Duyên Anh bằng ý thức mà bằng sự xúc động của tâm hồn, để cùng với tác giả phiêu lạc trên những nẻo đường của trí nhớ và mộng mơ. Duyên Anh đã tạo hẳn cho mình một thế giới. Cái thế giới đó chan hòa thực tại và nước mắt. Cái thế giới đó đã được dựng lên bằng chính những rung động sống thật nhất cũng như bằng chính niềm tin thơ ngây và đôn hậu nhất của tác giả. Cái thế giới đó không quá cao xa, thoát vượt khỏi tầm tay của mọi người, trái lại vô cùng thân mật và gần gũi. Đọc Duyên Anh là tham dự vào cái thế giới đó không còn là sở hữu riêng biệt của tác giả, tức là chiếm trọn lấy nó trong một niềm rung động hồn nhiên, bộc phát, không đo lường, không tính toán. Nếu viết là thốt lên một tiếng gọi, phải chăng đọc Duyên Anh, điều này còn có nghĩa là đáp lại tiếng gọi thương yêu trìu mến của một tâm hồn mơ mộng. Mơ mộng phải chăng đây là chiếc chìa khóa quan trọng giải thích tác phẩm Duyên Anh.

Dù trong những hồi tưởng về tuổi ngọc hay một tuổi vàng đã mất, dù trong những cái nhìn thẳng vào thực tế phũ phàng trước mắt, Duyên Anh vẫn không ngừng mơ mộng và nhường lời cho mơ mộng được lên tiếng dưới ngòi bút của mình. Có lẽ nhờ thế mà thế giới của Duyên Anh là thế giới không biết đến sự khốn khổ ngay trong những tình cảnh khốn khổ của nó. Và điều người đọc có thể nhận ra dễ dàng là ở ngoài lãnh giới của sự mơ mộng, Duyên Anh chỉ còn là kẻ lạc loài đánh mất vũ trụ đích thật của mình. Duyên Anh là vũ trụ của thằng Vũ, thằng Côn, của Ngày Xưa Còn Bé, của Cầu Mơ  v.v. Vũ trụ trong đó tác giả bay bổng trong những vòm trời mộng tưởng của mình, không còn hiện tại gay gắt, không còn thực tế hung bạo. Mơ mộng chỉ là một trạng thái tâm hồn thụ động. Trái lại nó là một tác động và hơn thế nữa là một cách ngắm nhìn cuộc đời, một thái độ sống trước cuộc đời. Dù trong ý hướng chối bỏ hay lẩn tránh thực tế con người mặc nhiên biến đổi, thực tế đó bắt đầu từ mơ mộng.

Thời đại của chúng ta không là thời đại chứng kiến sự thiêu rụi và hủy diệt của mơ mộng dưới muôn ngàn lửa dữ? Phải chăng đó là thời đại con người ngày càng đánh mất mơ mộng để sống?

Duyên Anh thuộc số những nhà văn còn tin tưởng vào giá trị của sự mơ mộng. Dù trong ý hướng làm đẹp cuộc đời hay lãng quên, quay lưng trước thực tế xấu xa, khốn khổ, Duyên Anh lúc nào cũng trung thành và trọn vẹn với vũ trụ mơ mộng của mình, vũ trụ mà chắc hẳn ông là người đầu tiên yêu mến và tin tưởng./. (hết)

HPA (Sàigòn, 1972)

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương II. Vì số trang giới hạn, bản in trên tuần san Trẻ là bản cắt ngắn.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 16

Những suy tư trong thống khổ của tôi dành nhiều cho tuổi trẻ. Từ ngày bị chuyển về Z30 D, tôi ít quan tâm tới thân phận tù đầy của tôi và những hình phạt tôi phải chịu đựng. Trại tập trung chẳng còn gì hấp dẫn tôi nữa. Nếu tôi đã thấy niềm bí ẩn của đời sống thì niềm bí ẩn ấy chỉ có dưới hầm phân nhung nhúc hàng tỷ con ròi, chỉ có dưới đáy sông Ray những sáng mùa đông đói lạnh lặn xuống móc đá tảng. Niềm bí ẩn ấy đã được soi sáng nhờ con gọng vó và triết lý sống bất hủ của nó. Sa Ác, trại tập trung khổ sai lao động, mang bí số TH6, với riêng tôi, là nơi chốn mà cái động đã rung rinh tận lóng xương, ống tủy của tôi:
Rừng nối rừng, cây tiếp nối cây
Đất gò mối rắn, cỏ tranh dầy
Mây leo cổ thụ gai nanh vuốt
Là chốn này đây, Xuyên Mộc đây.


Ta tới như thời lưu vãng xưa
Tay còng áo dấu ấn thô sơ
Sương mù Ba Thục tan huyền thoại
Chân bước nghe quanh khỉ vượn đùa.


Tự đó thân phơi giữa nắng trời
Hồn đêm nương ánh vỡ sao rơi
Nghe chăng hai tiếng nguyền Sa Ác
Đã đến là xong một kiếp người.


Ngẩng mặt lên nhìn ngọn Mây Tào
Lòng ta muối xát vẫn chiêm bao
Có gì êm ái hơn đau đớn
Khi biết hư vô ở chỗ nào.


Ai trước ngồi câu bờ Vị Thủy
Bây giờ ta tắm nước sông Ray
Thấy con gọng vó bèn bơi ngược
Soi sáng đời ta tử địa này.


(Thơ tù, Nam Á Paris)

Tôi phải cám ơn con gọng vó. Nó đã dạy tôi phấn đấu. Nó đã dạy tôi thản nhiên đi trên hệ lụy, đi trong nghịch cảnh như nó lội ngược dòng nghịch lũ. Và tôi noi gương nó:
Chẳng ngại đường oan bỏng sắt nung
Xin đi. Dù hiu quạnh trăm năm
Xin đi. Vì nỗi đau khôn lớn
Đi đến hồn nhau, đến tận cùng.


Do đó, tôi đã không mang nhà tù ra đời sống. Chẳng còn gì tẻ nhạt hơn là ngồi kiểm điểm nỗi buồn khổ của riêng mình hàng nghìn trang và bắt người khác phải đọc, phải nghe nỗi buồn khổ không làm rơi nước mắt đó. Nên tôi đã thích suy tư trong thống khổ để hy vọng được sáng tạo bằng đau thương gạn lọc. Nhưng tại sao nỗi suy tư của tôi dành nhiều cho tuổi trẻ? Tôi trả lời ngay đây. Tôi thấy, tuổi trẻ Việt Nam, ở bất cứ không gian và thời gian nào, ở bất cứ hoàn cảnh nào, đều chứng tỏ mình là sư tử. Trong nghịch cảnh, họ là sư tử lừng lững. Tất cả những người tuổi trẻ – học sinh và sinh viên, nam cũng như nữ – mà cộng sản kết tội “phản động”, tội “chống phá cách mạng” tôi đã gặp ở các nhà tù đều là những người làm rạng rỡ cho sự nghiệp chiến đấu giành độc lập, tự do, dân chủ của dân tộc. Phẩm cách và tinh thần bất khuất của họ đã làm cộng sản nể nang. Và khiếp sợ. Luôn luôn trực diện kẻ thù bầy tỏ thái độ, bầy tỏ ý chí khi cần thiết. Không thèm sách động trong bóng tối và không thèm chối cãi quanh co. Họ biết sống, biết chiến đấu và biết chết, dám chết. Hẳn nhiên, họ không thích chết sảng, chết ngu, chết lấy tiếng anh hùng rơm. Họ kiên trì chịu đựng gian khổ, không than van, không theo chủ nghĩa “buộc chặt cái túi thăm nuôi”. Họ hào sảng, chia sẻ và sẵn sàng hứng lấy cả thiệt thòi giùm người khác. Tôi cho rằng đó là những người lý tưởng mà tổ quốc và dân tộc kỳ vọng. Những người tuổi trẻ của quân đội, những sĩ quan tác chiến cấp úy, đa số, cũng là những người còn đầy lửa tim, còn cố gắng bảo vệ danh dự quân đội, danh dự con người khi đương đầu với cộng sản trong tù ngục. Thái độ sống của họ khác hẳn thái độ của sĩ quan tá già, của sĩ quan văn phòng. Càng khác hẳn thái độ sống của giai cấp thư lại. Nói tóm lại, tuổi trẻ Việt Nam trong tù hay ngoài đời vẫn là sư tử, là những kẻ cao thượng của một xã hội thấp hèn. Tôi suy tư về tuổi trẻ còn bởi cộng sản to họng nguyền rủa tôi đã “đầu độc tuổi trẻ” chống đối họ. Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hoá tư tưởng do nhà xuất bản Văn Hoá ấn hành năm 1980, công sản đã dành cả 30 trang để kết án tôi đã tìm một lý tưởng cho tuổi trẻ. Và tôi đã phản pháo cộng sản bằng Bầy sư tử lãng mạn. Tôi sắp cho cộng sản vỡ mặt bằng tung thêm Hồn say phấn lạ. Ở bộ tiểu thuyết 1000 trang này, độc giả sẽ thấy tuổi trẻ Sàigòn và tuổi trẻ Hà Nội – cả con cháu lãnh tụ cộng sản như Võ Điện Biên (con trai út của Võ Nguyên Giáp), Thọ lột (cháu Nguyễn Lương Bằng), Lê Điểu (con Lê Duẩn) v.v.. – chống cộng sản ngoạn mục ra sao. Đấy, lý do tôi suy tư nhiều về tuổi trẻ. Sự suy tư không mang cho tôi một lợi lộc gì mà còn đẩy tôi vào giữa gọng kìm của phỉ quyền và tàn dư ngụy quyền và bọn kháng chiến ảo tưởng, bịp bợm. Bởi vì, tôi nghĩ, cuộc chiến đấu giải thoát dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc của tuổi trẻ là phải tiêu diệt phỉ quyền, loại bỏ ngụy quyền và bọn mưu đồ phục hồi quyền bính tham nhũng, thối nát cũ. Bộ tiểu thuyết Hồn say phấn lạ của tôi chưa xuất bản, chưa phát hành dù tôi đã hoàn tất từ cuối tháng 11-1985, mới chỉ đường tạp chí Ngày Nay ở Wichita – Kansa (Hoa Kỳ) – “dọa” phát hành đầu tháng 4-1987 1 mà đã có một “tờ báo” chụp nguyên trang quảng cáo Hồn say phấn lạ, đánh máy thêm những dòng báo động:
Tại nhiều cộng đồng người Việt hải ngoại, nạn thanh niên du đãng và trụy lạc, chìm đắm trong tội ác, mỗi ngày một trầm trọng. Không ai chối cãi được. Vậy có cần loại tiểu thuyết này để tiếp sức đầu độc và vạch đường chỉ lối không? Các chiến sĩ quốc gia nghĩ sao?
Thưa ông “tờ báo” mà tôi không biết tên (bạn tôi chỉ cắt trang ông chụp trang quảng cáo Hồn say phấn lạ), ông báo động hơi sớm đấy. Tiểu thuyết chưa hề xuất bản, ông biết gì mà bảo nó “tiếp sức đầu độc”. Chừng Hồn say phấn lạ phát hành, mua trọn bộ về nghiền ngẫm kỹ lưỡng, nếu lương thiện, ông sẽ quảng cáo giùm. Loại tiểu thuyết này vạch đường chỉ lối cho tuổi trẻ quốc nội (xin yên tâm, không dính dáng chi đến quốc ngoại cả) vận động cuộc cách mạng Tây Sơn mới, tiêu diệt cộng sản. Các chiến sĩ quốc gia (của ông thôi) nên mua càng nhiều càng tốt về học tập. Riêng ông thì học cách làm báo cho hay bằng báo bí mật Đạn lên nòng của tuổi trẻ Sàigòn đánh cộng sản.
Một điểm nhỏ vừa nêu đủ nói lên sự “khó khăn” cho suy tư của tôi. Tôi có nên bán đứt bản quyền Hồn say phấn lạ cho cộng sản để họ đốt đi không nhỉ? Chống cộng sản, bây giờ, còn gặp cả trở ngại quốc gia bẩn, quốc gia rắn rết, quốc gia “nghĩ sao” những điều mình chưa biết. Nhưng cần gì, “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi”. Bao giờ và ở đâu thì tôi cũng vẫn chỉ là kẻ chống cộng tự nguyện, chống cộng không ăn cái giải gì mà bị ăn hơi kỹ cơm tù và nọc rắn. Cộng sản chửi tôi:” Từ Hoa thiên lý, Duyên Anh cho là đã viết với “niềm xúc động thật tình”. là một truyện chống cộng khá thâm hiểm. Thông qua câu chuyện tưởng như truyện tình cảm thuần túy, Duyên Anh đã quỷ quyệt gieo vào lòng người đọc tình cảm sai về miền Bắc” 2. Vẫn cộng sản chửi: “Đa số những truyện, ký của Duyên Anh đều sặc mùi phản động. Duyên Anh đã chống cộng với tất cả mối thâm thù cách mạng” 3. Cộng sản tiếp tục chửi: “Chỉ cần đọc câu: ‘Thôi đành chống cộng sản bằng cách gọi cái sự thấy mỗi cuối tháng của đàn bà bình thường là kéo cờ cộng sản vậy’ thì dù có hiền lành đến mấy đi cũng phải sôi gan” 4). Cộng sản lên án: “Thực ra, phải nói Duyên Anh căm thù cách mạng mới thật đúng với lòng dạ của hắn. Hắn căm thù cách mạng đến độ hầu như không một cuốn truyện nào, bài báo nào của hắn mà không có những đoạn, những câu nói xấu cách mạng, xuyên tạc, chửi rủa cộng sản” 5. Công sản cay cú: “Chẳng những hắn biện hộ, ca ngợi bọn du đãng mà còn không bỏ lỡ cơ hội nào để xuyên tạc, phỉ báng phong trào sinh viên học sinh và nói xấu cộng sản, nói xấu cách mạng. Ý đồ chống cách mạng của Duyên Anh trong loại tiểu thuyết du đãng còn lộ liễu trắng trợn hơn. Cái đuôi chống cách mạng của hắn đã thò ra ngay từ cuốn truyện du đãng đầu tiên” 6 Cộng sản đánh nhầu tôi, lôi cả ông nội tôi, bố tôi, em tôi, vợ tôi ra chửi. Quốc gia bẩn thì nhục mạ tôi… làm việc cho cộng sản, tay sai cộng sản! Cộng sản khẳng định truyện du đãng của tôi chống cách mạng cộng sản. Quốc gia bẩn bảo truyện du đãng của tôi “đầu độc quốc gia… bẩn”. Kể ra cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi tôi đứng về chiến tuyến quốc gia chân chính. Mà quốc gia chân chính sẽ làm chính quyền, phải làm chính quyền. Chính quyền không dung dưỡng phỉ quyền, không chứa chấp ngụy quyền. Chính quyền sẽ nằm trong tay của tuổi trẻ lỗi lạc, sáng suốt, nhiệt tình và lương thiện. Chính quyền của nước Việt Nam tương lai khu trừ gốc rễ cộng sản, đã đành, còn loại bỏ toàn bô cơ cấu ngụy quyền tham nhũng, thối nát, ngu dốt, phản phúc. Vậy thì cộng sản nguyền rủa tôi, quốc gia bẩn của nguy quyền nham nhở nguyền rủa tôi chả là một song kiếm hợp nhất diệt kẻ thù chung. Rất lô gích. Vì, cộng sản đã nêu cao chính nghĩa nhờ quốc gia bẩn, quốc gia bẩn kiếm chác khấm khá nhờ chiêu bài độc quyền đấu thầu chống cộng sản. Phỉ quyền và ngụy quyền đã nương nhau, đã dựa dẫm nhau mà sống, mà moi ruột tổ quốc, mà móc mắt dân tộc, mà dẫm nát tình nghĩa đồng bào, mà làm băng hoại đất nước Việt Nam yêu dấu, mà tước đoạt quyền sống con người. Nhưng khi dân tộc ta, đất nước ta, tổ quốc chúng ta có chính quyền, bắt buộc, phỉ quyền và ngụy quyền sẽ bị tận diệt cùng một lúc. Không có đất sống cho phỉ quyền và ngụy quyền trên giang sơn gấm vóc của Lý Thường Kiệt, của Trần Hưng Đạo, của Quang Trung.. Phỉ quyền và ngụy quyền đều sợ hãi chính quyền. Là bởi chính quyền có chính danh, chính nghĩa, chính đạo. Chúng là bọn giả danh, giả nghĩa, giả đạo, giả mạo, giả nhân. Từ bản chất, chúng đã giả. Chân lý không của bọn giả danh, không của phỉ quyền và ngụy quyền. Tất cả đều đã nhìn rõ. Người tuổi trẻ hôm nay cần nhìn rõ hơn. Để nhận đường chiến đấu. Nếu không, mọi dấn thân sẽ chỉ đóng góp cho bè lũ tôi đòi vọng ngoai âm mưu phục hồi quyền bính bệ rạc dĩ vãng. Mãi mãi, dân tộc khốn khổ, Việt Nam sẽ bị thống trị bởi phỉ quyền và ngụy quyền, hoặc thời thống trị độc quyền của phỉ quyền, hoặc thời thống tri độc quyền của ngụy quyền. Còn bóng dáng phỉ quyền và ngụy quyền, dân tộc ta còn quằn quại, đau thương. Tôi muốn ví, ở bối cảnh lịch sử này, phỉ quyền như chúa Trịnh đàng ngoài, tàn dư ngụy quyền như chúa Nguyễn đàng trong. Chúng ta cần một cuộc cách mạng Tây Sơn mới. Của tuổi trẻ. Chừng nào chúng ta có chủ thuyết tiểu tư sản do người Việt Nam lập thuvết làm nòng cốt cho tân cách mạng Tây Sơn, chừng đó dân tộc ta mới được giải thoát, mới được sống hạnh phúc trong thương yêu 7
Nhưng, trước hết, một điều kiện tiên quyết, tuổi trẻ Việt Nam phải khước từ lãnh tụ già nua, phải chối bỏ lãnh tụ mù lòa, phải đạp đổ lãnh tụ giả mạo. Tôi hoàn toàn đồng ý với người tuổi trẻ tên là Độc Ngữ trong bài thơ dưới đây:

Những con chó già

vẫn tưởng

răng mình còn sắc

Tuy đã

rụng lông

và

trên lưng

từng mảng ghẻ.

Những con mèo

ngu si

vẫn tưởng

mình cốt cách

sư tử

nhưng chết

khó hóa

thành cáo.

Những lão bình vôi

vẫn tưởng

nhờ mình cây đa

được trọng nể

mà quên

ông thần.

Những tên văn nghệ khụ khị

vẫn tưởng

thốn tâm thiên cổ

bằng tác phẩm

củi mục

và huyênh hoang

sau mình

đại hồng thủy

Bọn lãnh tụ

Bọn lãnh tụ

chúng nó đấy :

chó ghẻ

mèo ngu

bình vôi

củi mục

Trong mọi lãnh vực

chúng nó

ngăn chận

tuổi trẻ ta

Cách mạng:

-Chúng nó

Văn hóa:

– Chúng nó

Xã hội:

– Chúng nó

Photo edit by Sơn râu 5 Jul 2024

Chính trị:

-Chúng nó

Thụ hưởng:

-Chúng nó

Còn chúng ta

hít khói

lựu đạn cay

Còn chúng ta

ăn báng súng

dài dài

Chúng ta

lãnh đòn

cảnh sát

vào khám

ra tù

hụt hơi

mù mắt

Chúng ta

làm guốc

để chúng nó đi

Chúng tự cho mình là

đại dương

Còn chúng ta

kinh rạch

Chúng tự cho mình là

trái núi

Còn chúng ta

cỏ mục dưới chân

Đã phẫn nộ chưa

tuổi trẻ

hào hùng

bất cứ

giai đoạn lịch sử nào

Chúng ta 

cũng đều

biến thành

vật tế thần

của tham vọng

cá nhân

Chúng nó cần ta

mà cứ khinh ta bé nhỏ

Chúng nó sử dụng ta

như những tên 

nô lệ

như những trái chanh

vắt hết nước

liệng ngay

chằng hề

thương xót

Bọn lãnh tụ

Bọn lãnh tụ

chúng nó đấy:

chó ghẻ

mèo ngu

củi mục

bình vôi

Chó ghẻ bên trong

chó ghẻ bên ngoài

Chó ghẻ hôm qua

chó ghẻ hôm nay

Chó ghẻ xà mâu

giả hình

sư tử 

Tuổi trẻ ta đâu

hãy đứng lên

dang chân

đạp lãnh tụ

Lãnh tụ bên trong

Lãnh tụ bên ngoài

Lãnh tụ ù lỳ

Lãnh tụ tay sai

Lãnh tụ lạc quyên

Lãnh tụ thỏa hiệp

Lãnh tụ cộng sản

Lãnh tụ lưu vong

rặt những thằng

khốn kiếp

thứ củi mục

hết xài

thứ bình vôi

đặc xịt

thứ hòn bi

thích ăn

thèm uống

thứ côn trùng

nhầy nhụa

háo danh

đã đục rỗng

ba mươi năm

đất nước

Phải xổ

Photo edit by Sơn râu

sán giun

khỏi

ruột non

ruột già

tổ quốc

Phải phóng

nhiệt tình

và lòng tự phụ

vào trận địa

Dấn Thân

Tuổi trẻ ta đâu

kèn đã dục

kết đoàn

Bởi vì

chúng ta

mới thật là

Sư Tử

Chúng ta

hiện tại mặt trời

trăng sao quá khứ

Xuống thuyền thôi

Lịch sử

đang chờ

(Đạp đổ lãnh tụ, thơ Độc Ngữ)

Tôi mong rằng, tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, sẽ luôn luôn truy nã bản thân mình, truy nã thân phận dân tộc mình. Sự truy nã thường xuyên sẽ soi rõ con đường chiến đấu của mình. Để không còn thất bại. Để tự hào là sư tử của tổ quốc. Tôi xin phép được khẳng định vị thế của tôi trong cuộc chiến đấu giải thoát giống nòi của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là lãnh tụ cao quý của tôi. Tôi chỉ ngưỡng mộ tuổi trẻ lý tưởng và phục vụ lý tưởng của tuổi trẻ như một tên lính thổi kèn đi tiên phong.

Thôi, tôi phải về Z30 D, nơi tôi bị phỉ quyền cộng sản giam giữ và hành hạ khổ sai lao động vì đã dám chống đối cách mạng vô sản và xúi dục tuổi trẻ chống đối cách mạng vô sản.

——————————–

1Vì Hồn say phấn lạ dầy quá, tạp chí Ngày Nay không đủ phương tiện xuất bản. Nên cứ … doạ mãi. Rốt cuộc Xuân Thu sẽ phát hành.
2Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
3Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
4Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
5Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
6Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
7Tác giả đã gợi ý cho tuổi trẻ Việt Nam về chủ thuyết tiểu tư sản và tân cách mạng Tây Sơn ở những tiểu thuyết Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạn, Một người tên là Trần văn Bá và rõ rệt nhất ở Hồn say phấn lạ. Theo tác giả, hai chủ nghĩa tư bản và vô sản đã bất lực trong mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, đã cầy nát dân tộc Việt Nam, đã đưa dân tộc Việt Nam vào chiến tranh, thù hận, ngục tù, đói khổ, ngu dốt, lạc hậu.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

photo edit by Sơn râu

Phần 15

Những trang đã viết về tuổi trẻ, cho tuổi trẻ suy tư từ ngục tù.

Những ai đã trọ ở quán Đề Lao Gia Định vào những năm 1975, 1976 và 1977 đều biết mặt hay biết tên những người tuổi trẻ Sài gòn đánh cộng sản, bị khép tội phản động, những người tuổi trẻ Sài gòn mà tôi gọi là những con sư tử non lãng mạn và cô đơn. Từ cuối 75 tới giữa 76, bầy sư tử lãng mạn lần lượt dính cạm bẫy và hiên ngang vào tù. Con trai. Con gái. Tất cả đều ngẩng mặt thách thức cachot, xiềng xích. Tất cả đều thắp lửa tím rực rỡ làm kẻ thù nể nang và làm đàn anh cúi mặt.

Phẩm cách tuổi trẻTôi chưa thấy cái kiêu hùng của Bà Trưng, Bà Triệu, của Cô Giang, cô Bắc. Nhưng tôi đã thấy, tận mắt, các cô sinh viên trường Luật, các cô nữ sinh trường Lê Văn Duyệt, Gia Long chân mang xiềng mà miệng vẫn mỉm cười.
Tôi chưa thấy cái anh dũng của Phạm Hồng Tháỉ, của Nguyễn Thái Học, của Ký Con, của Trần Bình Trọng. Nhưng tôi đã thấy, tận mắt, các cậu sinh viên Vạn Hạnh, các cậu học sinh Chu văn An, Nguyên Trãi… tay đeo còng mà mắt vẫn mộng mơ.
Họ biến thành khách hàng thượng hạng sáng giá nhất của Công Ty Khách Sạn Nhà Tù Cộng Sản. Người trẻ măng, 16 tuổi. Người trưởng thành, 22 tuổi. Tôi nhìn các cô ra vào cachot và in dấu chân tuyệt đẹp trên hành lang khu C1. Tôi nhìn các cậu ra vào cachot và gửi niềm tin chiến đấu thánh thiện trong gió quê hương. Rồi, hân hạnh biết bao, tôi được nằm chung với các cậu qua các phòng giam của các khu Cl và C2. Và khu FG, AH, BC của đỉnh cao tù ngục Chí Hoà.
Tôi quen thân Đặng Hữu Trí 16 tuổi, hiền lành và rất dễ thương. Đặng Hữu Trí can tội dám lập một tòa án xử Hồ Chí Minh. Tòa án vỏn vẹn ba người. Trí đóng vai chánh án. Hai bạn của Trí, một công tố viện, một luật sư. Bị cáo Hồ Chí Minh chỉ là bức chân dung Người, in offset do nhật báo Sàigòn giải phóng ấn hành. Luật sư cố gắng biện hộ tội ác cho Hồ Chí Minh. Công tố viện buộc tội khắt khe. Chánh án Trí tuyên án xử tử Hồ Chí Minh. Chân dung Bác bị châm lửa đốt ngay tại tòa, một lớp học vắng vẻ. Tòa bế mạc. Câu chuyện được truyền tụng trong bạn bè. Rồi lọt tai công an. Chánh án, công tố viện, luật sư bị còng tay, bịt mắt dẫn đi. Luật sư, nhờ bênh vực Hồ Chi Minh, được tha về, sau một tuần lễ chấp pháp. Công tố viện, chánh án nằm cachot dài dài. Mà vẫn tự hào mình đã dám xử tử Hồ Chí Minh.
Tôi quen thân Hoàng Sơn Trường, 18 tuổi, cận thị, can tội chống phá “cách mạng”. Sài gòn mất, Trường mất mát nhiều thầy, cô, bạn bè, kỷ niệm. Cậu buồn bã đi tìm phục quốc. Chẳng gặp ai, cậu ghé chùa An Lạc, rủ một chú tiểu tính chuyện nước non. Chú tiểu – tôi quên tên – hẳn đã đọc Tiêu Sơn tráng sĩ, bèn dậy tình sông núi. Vậy là chùa An Lạc, nằm phía sau đường Phạm Ngũ Lão, Sài gòn, biến thành trụ sở của “tổ chức”! “Tổ chức” nhiều nhiệt tình nhưng lắm vụng dại. Và “tổ chức” bị lộ. Hoàng Sơn Trường và An Lạc tráng sĩ vào tù. Mẹ của Hoàng Sơn Trường “nằm vùng” tới chức Phó chủ tịch Liên Hiệp Phụ Nữ tỉnh Sông Bé. Trường nằm cachot, hai tay bị còng chéo sau lưng liên tiếp 38 ngày đêm vì khước từ làm việc. Mẹ Trường tới đề lao, dụ dỗ cậu khai báo “đồng bọn” để được tha ngay hoặc mẹ cậu sẽ đoạn tuyệt cậu. Trường không khai báo. Cậu bị gia đình bỏ rơi. Và cậu không hề than thở.
Những cậu học sinh như Đặng Hữu Trí, Hoàng Sơn Trường, tôi đã gặp. Thí dụ thêm Đặng Cơ Bản, Đinh Cường, Đinh Dũng, Đinh Vượng, Trí loa, Trí ghẻ, Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long… Các cậu ấy anh hùng trong hành động và biết giữ gìn phẩm cách khi sa cơ, thất thế. Tuyệt đối tôn trọng Nội quy nhà tù. Không lèm bèm trong bóng tối. Không chống đối rẻ tiền. Biết kính mến người tuổi tác và sẵn sàng giúp đỡ người bệnh hoạn. Điều mà tôi suy nghĩ và cộng sản suy nghĩ hơn là động lực nào đã quyến rũ các cô các cậu Sài gòn xuống thuyền một cách lãng mạn thế! Trước khi mời cộng sản chiếm Sàigòn, người Mỹ đã tận dụng các hệ thống tuyên truyền vĩ đại của mình để hù dân tộc Việt Nam, rằng cộng sản sẽ giết hết dân Sài gòn, sẽ có “biển máu” ở miền Nam. v.v… Do đó, bọn thống trị hèn mạt, bọn tướng lãnh đào ngũ, bọn dân biểu, nghị sĩ bù nhìn, bọn làm giầu bằng chiến tranh, bọn lãnh tụ xôi thịt…đã cuốn gói chạy thật nhanh, dù bị lính Mỹ đạp đá như súc vật, ở phi trường Tân Sơn Nhất và ở Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ! Bọn hưởng thụ trên xác chết của lính chiến, bọn nhẩy đầm trên tiếng khóc của quả phụ, bọn uống sâm banh nước mắt của cô nhi, bọn cười đùa nỗi khổ của đồng bào, bọn kên kên rút ruột, mổ mắt tổ quốc, đã cuốn gói chạy thật nhanh để lại toàn bộ “chiến hữu” cho cộng sản quản lý, trong tù và trại tập trung khổ sai lao động. Tất cả đều đã tan rã. Bức dư đồ rách bươm . Đàn trẻ của Tản Đà, đau đớn thay, lại toàn lũ lãnh đạo chỉ biết chạy, chạy và chạy. Những kẻ không thích chạy trốn, không thèm chạy trốn mà còn đòi bồi vá bức dư đồ rách, đẹp đẽ thay, lại là tuổi trẻ Sài gòn sau 30-4-1975.
Người cộng sản đặt nghi vấn: Tuổi trẻ Sàigòn chống chúng tôi với mục đích gì? Họ có bị tước đoạt quyền bính đâu mà đòi phục hồi quyền bính cũ? Mà họ đã làm gì có quyền bính. Giữa chúng tôi và họ chưa nợ nần gì nhau. Tại sao họ chống chúng tôi? Nghi vấn ấy đã làm điên đầu cộng sản. Tuy rất cay cú tuổi trẻ nhưng họ phải kính phục. Những câu trả lời của tuổi trẻ Sài gòn hôm nay nằm trong Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạng, Hồn say phấn lạ. Nên nhớ thêm rằng, trong nhà tù cộng sản tôi đã gặp khá nhiều tổng trưởng, thủ tướng, bộ trưởng, sư đoàn trưởng! Rặt bọn thèm quyền bính phong chức tước cho nhau và tự phong. Rồi đi tù ! Tuổi trẻ Sài gòn không xuống thuyền vì chức tước, vì quyền bính. Họ mới đích thực là lãnh tụ của tôi. Phần còn lại của đời tôi, tôi sẽ dành để ca ngợi họ. Nhiều người đã chết. Nhiều người đã về nhà với bệnh hoạn. Riêng và duy nhất Bầy sư tử lãng mạn, gồm 28 người, dưới sự lãnh đạo của Lương Việt Cương, hiện đang nằm dưới hầm đá của trại Nam Hà B, Hà Nam Ninh (trại Đầm Đùn cũ). Chẳng một ai ở ngoài nước biết đến họ, dẫu người ta hô hào chống cộng sản, kháng chiến và tôn vinh vô số liệt sĩ. Hình như, những người tuổi trẻ dấn thân vào cuộc chiến đấu mới cũng chẳng thấy cần thiết phải có sự biết đến của những ai đang “âm mưu” chống cộng sản, ở ngoại quốc, dĩ nhiên.Trước hết, tuổi trẻ Việt Nam đã thực sự trưởng thành. Để tự làm cái mũ đội lên chính đầu mình. Thế hệ tuổi trẻ làm guốc cho lãnh tụ giả hình mài mòn vẹt trên đường công danh đã chấm dứt. Ở Sàigòn, đừng tưởng dân chúng còn ham nghe những tiếng nói chết vọng về từ bên kia Thái Bình dương. Đừng tưởng nữa và nên im lặng. Giữa tiếng nói sống và tiếng nói chết đã là một phân ranh đánh dấu một thời đại. Thời đại của chống cộng rầm rộ và ồn ào đã vô hiệu quả. Những hô hoán chống cộng là tiếng nói chết. Nó đang buồn hắt hiu bên kia ranh giới của ba mươi năm cũ. Bên đây ranh giới, tiếng nói sống quyến rũ và tích cực: Đánh cộng sản. Đánh bằng nhiệt tình và lòng tự phụ. Đánh cộng sản để thắng cộng sản. Đánh cộng sản không mưu cầu địa vị, công danh; không mộng mơ cái chức lãnh tụ hư ảo. Đánh cộng sản vì hạnh phúc của dân tộc, vì quyền sống của con người và thản nhiên bước vào tù ngục để bị đầy đọa đến chết mòn.
Nhưng, từ đó, từ khởi sự của tuổi trẻ Sàigòn 30-4-75, là một thời đại mới, thời đại đánh cộng sản; thời đại mời gọi thương yêu gần gũi, thời đại ngăn cấm tàn sát, tù ngục, tập trung sau chiến thắng. Và tôi, người nghệ sĩ, tôi xin phép được đứng trong thời đại mới- dù tôi ở Paris, ở Washington hay ở Sài gòn. Tôi đặt hết niềm tin vào tuổi trẻ Việt Nam, bất kể lưu vong hay không lưu vong, thế hệ tuổi trẻ biết sáng tạo trong đấu, nhân danh hạnh phúc dân tộc, tự lên ngôi để vừa đánh cộng sản vừa học cách đánh. Nhị thập bát tú, 28 con sư tử non trong Bầy sư tử lãng mạn , như những lãnh tụ của tôi, những con người đích thực giải thoát quê hương, không cần ai nghĩ tới cái chết của mình, không cần ai quyên tiền đóng góp, không cần cả một nén hương tưởng niệm.
(Trước khi vào Sỏi Đá Ngậm Ngùi)
Nam Á Paris 1985

Tư tưởng mới của tuổi trẻ
Tôi đứng dậy, ra tận cửa, nhìn bên ngoài qua ô cửa gió. Đêm buồn bã. Sân cỏ ướt đẫm sương khuya. Dẫy tập thể, đèn néon sáng trưng. Các phòng tù nữ, mọi người đang ngủ trong những cái mùng giăng thấp lè tè. Ở phòng bệnh lao, một vài ông già ôm ngực ho. Từng chuỗi tiếng ho quằn quại cơ hồ những băng đạn quạt vào cuộc đời khốn khổ. Con đường hệ lụy, không ai ngờ lại có những nhà tù và những người tù chẳng hiểu mình can tội gì. Người ta sinh ra, cố sống thật lương thiện với lòng mình mà cam đành nằm ngục. Nếu người ta biết gian dối, người ta chấp nhận triết lý sống của loài cỏ đuôi chồn, có lẽ, yên thân hơn. Khổ nỗi, những người quá lương thiện thường bất bình những kẻ gian lận trong các trò chơi tư tưởng. Và, do đó, mới sản sinh ra loại tù nhân tư tưởng. Anh không chấp nhận một quan điểm nào đó của một người nào đó, nếu người ấy chưa nắm quyền bính, anh sẽ bị bôi bẩn, sẽ bị truyền khẩu hạ nhục, sẽ bị rỉ tai vấy nhơ; nếu người ấy nắm quyền bính, anh sẽ bị bỏ tù, sẽ bị giết. Người ta đã chống đối tư tưởng của nhau và người ta đã giết nhau theo cung cách ấy. Nhưng ít ai nghe tiếng ho quằn quại trong ngục thất đêm khuya, những tiếng ho không gợi niềm trắc ẩn và không đánh thức nổi lương tri của con người.
Trước đây, tôi sống rất hời hợt, tôi đã sống với hình thức của đời sống chứ chưa hề sống với nội dung nó. Mỗi kinh qua của lịch sử là mỗi kinh nghiệm tuyệt vời. Nhiều thứ phải chết cho nhiều thứ sống lại. Những thứ chết là lòng ích kỷ, sự ỷ lại, tâm hồn vọng ngoại, thói tị hiềm và mưu cầu hạnh phúc riêng tư. Những thứ sống lại là nhiệt tình, lòng tự phụ, sự can đảm, niềm tự tin và ước mơ xây dựng hạnh phúc cho mọi người. Tôi thức tỉnh do lịch sử sang trang bất ngờ, nhưng tôi khôn lớn , tôi biết nhìn vào nội dung cuộc sống nhờ những đêm im lặng hãi hùng trong các thứ cachot. Cuộc sống vô tận, tôi mới chỉ ngốn hết ba mươi trang. Tôi chưa hiểu mình sẽ sẽ đọc đến trang thứ bao nhiêu. Thật lòng, tôi muốn đọc tới trang cuối cùng. Nhiều bạn bè tôi đã di tản trước ngày 30-4-1975. Họ đang có mặt ở Mỹ, ở Pháp, ở Gia Nã Đại. Tôi không biết tâm trạng họ ra sao, nhưng biết chắc họ đã thỏa mãn vật chất.
Đời sống được định nghĩa thế nào? Nếu nó đã được định nghĩa là sự thụ hưởng thì mọi kinh qua của lịch sử đều vô ích, thì những người di tản qua Mỹ, qua Pháp phải cám ơn cộng sản. Nhờ cộng sản thôn tính miền Nam họ mới có cơ hội xa quê hương, có nhà cao cửa rộng, có xe hơi chạy vung vít, có những đêm nhảy đầm tíu tít và có những giọt nước mắt cay thuốc lá gửi về “xót xa cho những người ở lại”. Ngay thẳng mà nói, nhiều người di tản và vượt biển phải cám ơn cộng sản vô vàn. Đời sống tăm tối của họ, sự ngu dốt của họ tại quê nhà đã rực rỡ và sáng giá tại quê người. Và họ đã dám âm mưu cả chuyện về giải thoát chúng tôi! Buồn cho họ, đời sống đã không bao giờ được định nghĩa là sự thụ hưởng vật chất. Những miếng ngon nhất và những miếng tồi tệ nhất đều tiêu hoá giống nhau và đều có mùi vị giống nhau. Miếng ngon có thể làm cho con người béo mập, phì nộn, đồng thời, nó cũng làm con người ngu si, ích kỷ, hẹp hòi, ti tiện. Miếng tồi tệ – miếng cơm tù đày, chẳng hạn – làm gầy mòn con người nhưng lại giúp con người khôn ra, lớn lên, đầy đủ chiều cao, chiều rộng, chiều sâu; giúp con người từng trải, độ lượng và cao thượng. Vậy thì đời sống chỉ có định nghĩa chính xác với ai dám sống, sống đến tận cùng và can đảm chịu đựng mọi thử thách cam go của đời sống. Bởi vì, sau những thử thách khốn cùng, con người sẽ để lại một ý nghĩa cao cả cho những đời sống kế tiếp.
Tôi không có tham vọng ghê gớm ấy. Đời sống đẩy tôi vào sự thử thách quá ngỡ ngàng đối với tôi. Lịch sử dẫn tôi ra khơi, bỏ tôi loay hoay giữa cuồng sóng. Tôi phải tự lo lấy. Không ai giúp tôi cả. Không ai an ủi tôi cả. Tôi nhập cuộc cũng không cần đòi hỏi những đền bù này nọ. Tôi chiến đấu cần thiết như tôi thở, tôi yêu. Thế thôi. Lãng mạn và cô đơn. Âm thầm và khiêm tốn. Còn ai thích hiểu sao, tùy ý họ. Tôi không bao giờ là chiến hữu của những người trong trận tuyến hư ảo, những người đang cổ võ phục hồi cái dĩ vãng tanh ươn, mục rã. Nếu chiến đấu để sống lại tháng năm buồn tênh cũ, thà chấp nhận cái hiện tại rạc rài này còn hơn. Tôi cũng chẳng bao giờ là chiến hữu của những người hiếu sát hung hăng đòi giết hết quân thù. Thời đại của tàn sát đã cáo chung. Không có thứ hạnh phúc nào tưới bằng máu cả. Những kẻ toan tính thọc huyết kẻ thù như thọc huyết heo là những kẻ ngu xuẩn, hắc ám và dốt nát; là những kẻ toan tính thiết lập ở quê hương Việt Nam những lò sát sinh ghê tởm hơn cả những trại tập trung lao cải. Tôi chống sự man rợ từ mọi phía và tôi thành thật nói rằng, khi lịch sử đã sang trang có nghĩa là gánh hát đã rã đám, đào ca, kép hát và hề đã bị sa thải. Không ai để cho bọn đào kép cũ chơi tuồng mới nữa. Dân tộc đã chán nản họ.
Chỉ còn những đứa vô liêm sĩ mới tự hoá trang, mũ mảng cân đai diễn trò phục hồi dĩ vãng. Và cũng chỉ còn những đứa cắn hạt gạo chưa vỡ mới cổ võ cái trò hề rẻ tiền ấy. Chúng tôi dấn thân vì không muốn bị tách rời khỏi dĩ vãng của mình. Dĩ vãng của chúng tôi, dứt khoát, không nằm trong dĩ vãng hèn mạt của hai mươi năm lịch sử ô uế miền Nam, của ba mươi năm lịch sử ô uế miền Bắc. Nó ở trên tất cả. Nó đòi hỏi kép mới, tuồng mới. Nó đòi hỏi tẩy sạch những trang lịch sử đầy vi trùng mác xít của bọn lãnh tụ giả danh, của lũ lãnh tụ tôi mọi tư bản. Nó đòi hỏi một tương lai thật mới, thật lạ, thật nhân bản. Nó muốn dân tộc đoàn tụ và yêu thương . Hàng chục ngàn người tuổi trẻ Sàigòn, bầy sư tử non của thời đại, đang có mặt trong các ngục tù cộng sản, đã xuống thuyền vì nó. Sư tử không rống, như đào tàn tạ nhan sắc, như kép hoen rỉ giọng ca. Sư tử âm thầm và khiêm tốn. Sư tử lãng mạn và cô đơn. Ý nghĩa cao cả của chiến đấu là, hãy trực diện đương đầu với quân thù, hãy chấp nhận trừng phạt của quân thù, không kêu cứu, không rên siết, không nghĩ thất bại, không màng thành công. Ý nghĩa đó làm sao tìm được ở bọn chạy trốn, bọn đào ngũ trước lệnh đầu hàng. Ở bất cứ không gian và thời gian nào, bọn tiêu bạc giả vẫn ồn ào hơn những người tiêu bạc thật, và, đôi khi, tiếng nói của chúng khỏa lấp tiếng nói của người khác bằng bạc giả của chúng tung ra.
Tôi trở về chỗ nằm, đợi chờ giấc ngủ. Con cắc-kè già trên cây me góc sân cọ cựa cổ họng và buông những tiếng buồn thảm. Đêm cachot, nghe cắc-kè kêu, hình tưởng vô vàn những đổ vỡ, mất mát. Cuộc chiến hai mươi năm kết thúc thật phũ phàng nhưng cũng thật lạ lùng. Vớ những người Việt Nam chân chính muốn tái tạo một xã hội lương thiện, tốt đẹp thì sự kết thúc của cuộc chiến là một vận hội mới. Nó bứng tận cội rễ giai cấp thống trị bất lương và gian manh. Nó phơi bầy rõ rệt chân tướng của bọn tướng lãnh “pạc-ti-dăng”, gái, rượu, ăn cắp, buôn thuốc phiện, chứa thổ đổ hồ. Nó tước đoạt hết quyền uy kinh tế của lũ tư sản mại bản Chợ Lớn, thứ quyền uy từng rút máu và gặm thịt nhân dân Việt Nam và thông đồng với Cộng Sản. Nó đẩy đám làm giầu trong chiến tranh, làm giầu trên nghĩa trang quân đội vào tù ngục. Nó dìm bọn cầy cáo, gia nô, hạc gỗ xuống đất đen. Đồng thời nó lay động tâm hồn thật của dân chúng. Nó kêu gọi vất bỏ ích kỷ, ươn hèn. Nó mời gọi đùm bọc, yêu thương. Nó soi sáng ý nghĩa tự do, dân chủ, đau khổ và hạnh phúc. Nó cụ thể những gì đã là trừu tượng. Nó kích thích những giọt nước mắt và vuốt ve nhiệt tình. Không cần nói Cộng Sản gian ác, thú vật nữa. Bầy quỷ đã vào thành phố. Và ngay cả con nít cũng xa lánh, ghét bỏ. Người Việt nhìn rõ cả trái đất để làm lại miếng đất cua mình. Chuyến đi trăm năm của người Việt đã quá xa, quá cay đắng. Bây giờ là lúc trở về. Trở về từ bước thứ nhất thong thả, vững chắc. Trở về từ ý nghĩ mới, tâm hồn mới, tư tưởng mới. Những kẻ ôm khư khư cái hào quang đắc thời nô bộc không thể trở về. Thời đại của khuyển Nho, khuyển Tây, khuyển Nhật, khuyển Mỹ đã đăng cáo phó. Và sắp đăng cáo phó thời đại khuyển Nga, khuyển Tàu.
Đã vắng mặt chính quyền trên đất nước này, lâu rồi. Chỉ có phỉ quyền và ngụy quyền. Một bên ăn cướp, một bên ăn cắp. Cả hai đều là tay sai của ngoại bang. Cả hai đều tồi tệ, đốn mạt. Số phận của dân tộc chúng ta, bao nhiêu thế hệ tuổi trẻ, nằm trong tay bọn ăn cướp và bọn ăn cắp. Lịch sử dâng hiến chúng ta vận hội mới, lịch sử lột mặt nạ phỉ quyền, lịch sử đào thải ngụy quyền. Chúng ta có thể làm chính quyền rồi đấy. Cả dân tộc đang làm chính quyền trong ngục tù bao la và trong ngục tù giới hạn. Hạnh phúc của người Việt Nam không thể có từ nước miếng ly hương, từ sự mô phỏng áo quần, khăn rằn lố lăng khờ khạo, từ champagne tuyên ngôn, tuyên cáo. Mà phải khởi sự tù bát cơm độn ngô, khoai, sắn, từ những giọt mồ hôi cưỡng bức rơi xuống luống cầy; từ nỗi khát sữa của em thơ; từ nỗi thèm gặp con trong tù của mẹ già; từ những cái gì khắt khe, quái đản đã từng phút diễn ra trên khắp quê hương, đang từng phút đè nặng lên thân phận dân tộc Việt Nam.
Sự kết thúc của cuộc chiến hai mươi năm đã làm nhiều người lớn lên, đằm thắm, thiết tha; nhưng cũng làm nhiều người bé đi, giả tạo, hời hợt. Nghĩ mà thương những người lính của chúng ta đã chết anh dũng ở chiến trường. Những con người bé nhỏ chưa để họ yên nghỉ dưới mồ. Kẻ thù đã quật mồ mả họ, san bằng nhiều nghĩa trang của họ, bêu nhục và khu trừ vợ con họ. Những con người bé nhỏ còn nỡ nhân danh xác chết tuyệt tích nấm mồ của họ, tính chuyện mưu bá đồ vương. Những con người bé nhỏ không thích làm chính quyền. Với họ, có lẽ, làm chính quyền nhiêu khê quá. Họ phải khởi sự từ số không . Mà khởi sự từ số không thì họ không ra gì cả. Do đó, họ khư khư cái dĩ vãng phù phiếm, xúm nhau lại đánh bóng nó thêm, mô phỏng trò chơi của phỉ quyền, hăm hở trong cuộc phục hồi quyền bính dĩ vãng, phục hồi ngụy quyền, phục hồi rác rưởi và cóc chết. Tôi dấn thân để đóng góp đôi chút vào công cuộc tạo dựng một chính quyền cho xứ sở, để được sống bình yên chung quanh những người Việt Nam hiền lành, lương thiện, được tuân lệnh những người cai trị sáng suốt, hiền lành, lương thiện. Ngoài ra, tôi không tơ hào gì cả. Bởi vì, lịch sử vừa mới dậy tôi, tất cả đều phù ảo, trừ hạnh phúc vĩnh cửu của mọi người.
(Ý nghĩ của cô Lan trong Sỏi đá ngậm ngùi –
Nam Á Paris, 1985) Thư cho tuổi trẻ dấn thân
Em Hoàng Sơn Trường,
Anh không biết em còn sống dưới hầm đá biệt giam ở trại Đầm Đùn hay đã chết rồi. Nếu em còn sống, em đang đếm từng ngày trong bóng tối lạnh lẽo. Nếu em đã chết, xác em chôn dưới vùng đất nào của quê hương, chẳng ai rõ. Chắc chắn trên nấm mồ hiu quạnh của em, thiếu cái mộ bia mơ ước như em thường nói với anh, hồi chúng ta nằm chung xà-lim số 7 hôi hám của khu C1 đề lao Gia Định. Em mơ ước gì nhỉ? Em muốn mộ bia của em khắc Búa Liềm và Còng Mỹ. Và em giải thích rằng, vì Còng Mỹ và Búa Liềm mà em chiến đấu và em hy sinh tuổi trẻ của em. Mơ ước của em thật lạ lùng. Nó cũng lạ lùng như sự dấn thân lãng mạn và cô đơn của em, của bạn bè em, của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam tuyệt vời.
Em nhớ chứ, Trường thân mến, hôm đầu gặp gỡ, anh thử em bằng câu hỏi ngờ vực và bằng sự phán xét kẻ cả về mục đích em theo đuổi, em đã trả lời anh:
“Em kính mến anh lắm. Nhưng con đường em đi em tin là chính đạo và lý tưởng. Mong anh đừng bàn tán rắc rối!”
Anh phục em từ đó. Chúng ta thân nhau. Trong tù, dĩ nhiên. Em kể anh nghe cái động lực xui em chiến đấu và sự trở về đời sống thảnh thơi, im lặng của em. Thế thôi. Là đã hừng hực mặt trời tuổi trẻ. Là đã vằng vặc mặt trăng tuổi trẻ. Ở tù không hứa hẹn gần nhau lâu, anh bị chuyển xà-lim, chuyển dài dài, chuyển phờ phạc. Anh phiêu lưu khắp cõi đề lao. Cuối cùng, anh gặp Ngô Tỵ tại xà lim số 3C1 . Ngô Tỵ nói về em: “Em không hề biết mặt thằng Trường khi em gia nhập tổ chức của nó. Em vẫn tưởng nó phải lớn tuổi, to con, đầy vẻ bí mật. Nằm khu A, buổi sáng, đi đổ rác em gặp tráng sĩ chùa An Lạc, em hỏi tráng sĩ chứ đảng trưởng đâu, tráng sĩ kéo một thằng lùn tỉ, đeo kính cận ra cửa xà lim khoe em. Em bèn hỡi ơi, đảng trưởng của mình nhóc hơn mình”. Anh hỏi Ngô Tỵ: “Bây giờ, em còn phục nó không?” Ngô Tỵ cười: “Nó hay thật, anh ạ”! Em đã quyến rũ bao nhiêu bạn bè, em đã quyến rũ anh. Em tuyệt diệu.
Anh gặp thêm Đinh Cường, Đinh Dũng, Đinh Vượn, Nguyễn Khánh Long, Đặng Cơ Bản, Nguyễn Hữu Trí… Rồi lang thang sang khám Chí Hòa, anh gặp vô số những khuôn mặt yêu nước khiến anh lợm giọng. Và anh buồn bã là không còn được sống với các em. Những khuôn mặt yêu nước: những anh già nua thèm danh vọng trải dải đời mình qua các chế độ chưa nắm nổi một địa vị bình thường, những anh thèm thuồng quyền bính đến ngớ ngẩn tội nghiệp đã tụ tập nhau mưu đồ phục hồi dĩ vãng tanh ươn. Họ lập chính phủ, phong cho nhau làm tổng thống, thủ tướng, tổng trưởng. Một xà lim của anh có đến…ba nội các. Và ba vị thủ tướng hét chửi nhau vì quan điểm chính trị lại chửi nhau vì cơm chia không đồng đều, vì chỗ ngủ thiếu ni tấc!

Photo edit by Sơn râu

Anh gặp những ông quận trưởng vẽ vời chức tước tỉnh trưởng ngày mai. Anh gặp những ông chánh án, dự thẩm vẽ vời món tiền lương “ráp pen” ngày mai. Anh gặp những ông tá vẽ vời sao tướng ngàn mình chống cộng sản vì tổ quốc và dân tộc. Họ ưa kể lể công lao nằm tù của họ. Nằm tù, với họ, là cái gì thiêng liêng, cái gì đầy đủ đặc quyền đặc lợi khi cộng sản tan rã. Nằm tù với họ, là sự ngưỡng mộ của toàn dân, mặc dù họ vì vạ miệng, vì say mèm nói láo, vì ham danh vọng nhào vô, vì tự ý dẫn xác đi trình diện xin ở tù. Các em khác hẳn họ. Các em khiêm tốn. Các em im lặng. Chiến đấu im lặng. Sa cơ thất thế im lặng. Đau khổ im lặng. Và thành công càng im lặng hơn. Mà các em đã làm gì có quyền bính. Mà các em đã hưởng thụ được gì từ quyền bính của dĩ vãng? Anh chợt nhớ một câu văn bất hủ của nhà văn Ngọc Giao trên trang đầu tiều thuyết “Nhà quê”: Con ốc nhỏ trôi giạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, câm nín thế thôi, thế mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của đại trùng dương đấy, bạn ạ!”
Em, các em , chính các em là những con ốc nhỏ cô đơn và vĩ đại đang trôi giạt trong lòng dân tộc. Ý nghĩa chiến đấu của em, của các em, anh thấy nó  tựa tư tưởng của một nhân vật của nhà văn Eric Maria Remarque trong “The Night in Lisbon”: Khi thế giới còn những bọn dã man tàn bạo và mình còn khả năng chống lại chúng mà không dám chống thì đó là tội ác”
Nhân vật này cho giấy thông hành người khác, ông ta khước từ trốn sang Mỹ, ông ta ở lại Âu Châu, gia nhập lính lê dương để chiến đấu diệt phát-xít. Các em cũng khước từ tất cả để chiến đấu chống cộng sản vì, dân tộc chúng ta, dân tộc Ba Lan, Tiệp Khắc.. đang đầy ngập bọn dã man tàn bạo, đang bị trùm kín bóng tối của chủ nghĩa cộng sản đốn mạt.
Một bông hồng nào cho em, Trường thân mến. Anh chỉ mới mừng tuổi em hộp diêm, mùng một Tết năm 1977 ở đề lao Gia Đình. Và em rất thông minh, nói nhỏ: “Vâng, em sẽ mãi mãi giữ lửa!”
Em thừa hiểu, tù nhân như anh em mình, cộng sản chẳng dại gì mà nhốt một chỗ lâu ngày. Họ phân tán dần dần. Sớm gần, chiều xa. Tháng 5 năm 1977, em chuyển trại, các em chuyền trại. Tháng 12 năm 1977 anh sang Chí Hòa. Tháng 11 năm 1978, anh bị đầy vào rừng già Sa Ác. Tháng 2 năm 1980 , anh về Hàm Tân. Đầu năm 1981 , tù nhân ở trại Nam Hà B được điều về miền Nam. Khoảng 500 người nhập trại Hàm Tân, Z30 D. Anh gặp vài anh bạn cũ. Có Vũ Xuân Thông, trung tá chỉ huy phó Lữ đoàn Biệt cách dù 801, tài tử cao ráo bô trai trong phim “người tình không chân dung”. Bạn anh kể cho anh nghe một cuộc vùng dậy ở Nam Hà B do nhóm 28 “ông nhóc” dưới sự lãnh đạo của Lương Việt Cương đã thổi lửa vào tâm hồn mấy ngàn sĩ quan từ lâu đã cam đành. Lương Việt Cương, anh nhớ lắm chứ, mắt ốc nhồi, giáo sư toán lý hóa, còn trẻ, hồi làm sinh viên ở Đà Lạt đã chan chứa nhiệt tình, hồi ở đề lao Gia Định đã từ cachot này qua cachot khác. Anh nôn nao quá, vội hỏi:”Nhóm 28 ông nhóc có Hoàng Sơn Trường, Đinh Vượng, Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long?” Có, có, có… Họ trả lời anh. Vậy là em đã bị lưu đầy ra tận miền Bắc. Những địa danh nào đã in dấu chân em? Anh chạnh nghĩ em đang nằm dưới hầm đá trại Đầm Đùn, và anh bất bình. Luôn luôn, chúng ta thừa thãi bọn tiêu bạc giả. Và bọn tiêu bạc giả cậy mình vô liêm sỉ, dùng bạc giả của chúng khỏa lấp dư luận, bôi bẩn những người công chính. Còn em, còn bạn em, ai biết đến cuộc chiến đấu cô đơn của em?
Anh hiểu em. Anh hiểu em nhiều lắm. Em đi chiến đấu hôm nay như năm xửa, năm xưa em xé vở gấp tầu bay đẹp phóng lên trời; gấp tầu thủy xinh thả trôi giòng nước. Em phơi phới. Em chuyền nhẩy. Em làm đẹp cuộc đời và không cần cuộc đời biết đến, không bắt cuộc đời nghĩ đến. Có nhiều cuộc đời nhỏ trong một cuộc lớn. Cuộc đời lớn không biết đến em vì thật sự không biết hay chưa biết. Nhưng cuộc đời nhỏ, vốn dĩ nó nhỏ, bản chất nó hẹp hòi, nó biết đến em mà nó cứ giả vờ không thèm biết. Nó sợ hãi biết đến em, sợ hãi nói về em với cùng khắp cuộc đời. Nó lo ngại em nổi tiếng hơn nó, em trở thành thần tượng, em trở thành đại thụ còn nó chỉ là cỏ hèn. Nó ghen với em. Và nó tìm cách hãm hại em, cô lập em, bôi bẩn em. Nó không dám chiến đấu bằng con số không thật tròn trong hình vuông thật đẹp đâu. Nó phảì bấu víu lấy cái tước vị quá khứ phù ảo và chua ôi làm lý tưởng. Những đứa ghẻ lở, hắc lào rất sợ tắm sông trần truồng. Những đứa vô tài bất tướng lại thích khoa trương, càng ghét những tài năng vàng mười.
Vậy thì giữa cuộc đời nhỏ đầy rác rưởi và em đã có một phân cách.
Nó chiến đấu để phục hồi dĩ vãng quyền bính cũ. Em chiến đấu để khai phóng tương lai.
Nó ngoảnh lại. Em nhìn lên.
Nó chiến đấu cho nó. Em chiến đấu cho mọi người.
Em trực diện với nghịch cảnh. Nó nằm chiêm bao nỗi khổ.
Em chiến đấu bằng nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Việt Nam. Nó chiến đấu bằng tiền quyên góp phè phởn.
Em không cần nó biết đến em là em xứng đáng, em được quyền kiêu ngạo.
Trong truyện dài Sỏi đá ngậm ngùi anh đã viết rằng, nỗi thống khổ là văn phạm của đời sống, sự cô đơn là ánh sáng soi rõ đất trời. Em, các em, chiến đấu trong thống khổ và cô đơn, trong im lặng và thầm kín. Các em đang làm tác phẩm lớn cho đời sống, đang cố gắng để lại những dấu ấn vàng son trên sinh đạo mà các em đã một lần vượt qua. Anh, các anh, những nhà văn, nhà thơ những nghệ sĩ sáng tạo cũng mang nỗi thống khổ và cô đơn như các em. Các anh đã, đang và còn làm tác phẩm cho đời sống. Phải nói một cách khẳng định rằng, chỉ có nghệ sĩ sáng tạo mới biết làm đẹp đời sống, chỉ có nhà văn, nhà thơ mới đủ tài năng và thẩm quyền làm đẹp đời sống của những ai làm đẹp đời sống. Chúng ta đau khổ, chúng ta cô đơn, chúng ta im lặng chịu đựng. Bởi vì chúng ta làm việc để làm việc, chúng ta không làm việc để phô trương. Hình như chúng ta vẫn chưa yên thân. Chúng ta vẫn bị cái thứ cuộc đời nhỏ rình rập nghi ngờ. Thứ cuộc đời nhỏ gồm một lũ thích ngồi trong xó tối giả giọng chó sủa gây khó chịu cho người đi ngoài ánh sáng. Thứ cuộc đời gồm một lũ chẳng thích làm gì mà chỉ sợ người khác làm hơn mình. Cái thứ ấy, trong Thuyền Nhân anh viết:
“Bao giờ biển nổi giận? Bao giờ trời gầm thét? Bấy giờ vòng tròn bao la sẽ là cõi mịt mù và con thuyền vượt biên ngoi ngóp trong cái cõi mịt mù khôn cùng đó. Và con người lại càng hiểu giá trị làm người của mình không bằng tấm mảng mục. Con người sẽ sợ hãi, sợ chết. Con người sẽ khóc lóc, than van. Con người sẽ biến mất những ích kỷ hèn mọn, những ghen tuông đê tiện, những phán xét ngu muội.Con người, bấy giờ, bỗng thèm sống và tự hứa với chính mình, nếu sống sót sẽ cố sống ra vẻ một con người. Những kẻ thích thị phi người khác, thích nghị luận những lầm lỗi mơ hồ của người khác, thích phán xét người khác bằng những điều đồn đại vu khống, thích nằm chiêm bao nỗi khổ, chẳng khi nào được vinh dự chìm đắm giữa mù khơi, ngoi ngóp trong nỗi sợ. Những kẻ ấy, những kẻ giả hình ấy, chỉ cần một phút chênh vênh trên đường chết, năm phút nhức nhối tinh thần, mười phút quặn đau thể xác là gục xuống cúi lạy cái quyền uy có thể ban phát cho chúng kiếp sống cỏ dại. Chúng sẽ khả ố, bỉ ổi gấp triệu triệu lỗi lầm của những người bị chúng phán xét oan ức. Bất hạnh cho bọn giả hình. Thượng Đế đã không bố thí cho chúng một miếng ân sủng nhỏ về nỗi cô đơn và niềm thống khổ. Do đó một đời tẻ nhạt chúng đeo đuổi, chúng chỉ loay hoay trong cái vòng tròn nhỏ bé đánh đai bởi những ý nghĩ bẩn thỉu của kèn cựa, tranh giành, vu khống, chụp mũ, nói xấu, bôi bẩn và nhục mạ người vắng mặt. Chúng ngu dốt không biết định nghĩa hai tiếng cao thượng. Chúng hèn nhát không dám mặt đối mặt người công chính. Chúng lầm lũi như bọ hung. Chúng chẳng thể hiểu thế nào là tồn tại, là sự phục sinh của nỗi chết. Việc làm của người công chính, ý nghĩ tốt đẹp của người công chính để lại cho đời sống sẽ phục sinh cái chết của người công chính. Tác phẩm để đời của nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ… phục sinh cái chết của họ và cho phép họ tồn tại vĩnh cửu. Bọ hung không để lại cho đời sống cái gì. Chúng chỉ để lại vết tích ô nhục trong gia phả của chúng cho con cháu chúng tưởng niệm xót xa. Người công chính đã được tuyên dương xứng đáng trong Thánh Kinh. Chúa đã dành cho họ phần thưởng trên Thiên Đàng. Dưới cõi thế, họ vẫn can đảm sống, vẫn làm đẹp đời mình, đời người khác. Vì họ biết, đời sống chỉ có một số bọ hung, một số Lý Thông gian ác. Còn rất đông Thạch Sanh và công chúa cổ tích”


Trường, em hiểu tại sao Lý Thông cứ muốn Thạch Sanh nằm mãi dưới hang không? À, Thạch Sanh lên đời thì Lý Thông xuống lỗ. Thạch Sanh có cây đàn muôn điệu. Lý Thông chỉ có cái đàn miệng với bài duy nhất ” Người đi đường và con chó”. Vậy nó không biết đến em, nó rình rập em, nó nghi ngờ em vì nó sợ nó là lãnh tụ giả mà em là lãnh tụ thật. Nó muốn độc tôn. Nó muốn chỉ có nó quốc ngoại. Nó không muốn có ai quốc nội. Anh viết về các em, anh nhận các em là lãnh tụ cao quý, anh minh, vĩ đại của anh, nó sẽ chán lắm, cái cuộc đời nhỏ ấy mà, nó sẽ hầm hè anh nó sẽ lập tòa án (!) xử anh, nó sẽ ghi tên vào sổ đen! Ồ, chấp chi. Chúng ta vẫn còn nơi nương tựa vững chắc. Là cuộc đời lớn, bao la, rộng mở, công bình, hào sảng. Không có khí giới nào giết nổi những tâm hồn ngọc. Anh sẽ tiêu pha không tiếc chữ nghĩa vàng son để bọc lấy những tấm lòng thơm ngát của các em, của những người tuổi trẻ Việt Nam chiến đấu trong thống khổ và cô đơn. Bầy sư tử lãng mạn ở quê nhà hãy yên tâm sống và yên tâm chết. Lịch sử sẽ thay đổi. Phải thay đổi. Đó là chân lý. Và chân lý ấy phóng lên bầu trời quê hương ngút ngàn thù hận bằng cung cách sống, chết dưới hầm đá trại Đầm Đùn. Sống làm thăng hoa yêu thương, rực rỡ tình người. Chết làm phục sinh tự do dân chủ và nở rộ hoa nhân ái lên còng tư bản, trong ngục vô sản. Cung cách sống chết khai sinh một kỷ nguyên mới của những người tiểu tư sản lãng mạn, hào sảng và ước mơ….
Thế nhé em yêu dấu!

(Vào với Bầy sư tử lãng mạn)
Nam Á Paris, 1986

Người tuổi trẻ suy tư
Chàng ngồi dựa lưng vào chiều ngang bức tường cachot, chân duỗi chưa thẳng đã đụng bức tường đối diện. Quá nửa dĩa cơm và ca nước đầy khiến chàng tỉnh táo. Trong đời chàng, từ thơ ấu tới nay, chưa bao giờ chàng được uống thử nước nào tuyệt diệu bằng ca nước lạnh đầu tiên trong ngục tù. Mỗi hớp nước là mỗi niềm bí ẩn của đời sống. Đó là hạnh phúc trong bất hạnh. Hạnh phúc không thể tìm thấy ở một cảnh vui phù ảo, giả tạo. Cũng vậy, tự do, dân chủ, độc lập không thể kiến tạo bằng những hò hét giả vờ, những dấn thân ngụy tạo ở miền hoan lạc nương cậy. Giá trị của người đi chiến đấu là chấp nhận mọi thống khổ và biết tìm sự thống khổ những ý nghĩa cao cả cho mọi người là hình tưởng nỗi khao khát tự do của dân tộc. Hình tưởng mọi người trong cộng đồng dân tộc sẽ uống từng hớp tự do sau những năm đói quằn quại thê lương. Nỗi thống khổ mời gọichiến đấu. Kinh qua thống khổ là thắp hào quang chiến đấu. Vậy thì nỗi thống khổ đã soi sáng con đường chiến đấu… Trước hết, nỗi thống khổ mang tính chất tiểu ngã sẽ hòa nhập vào đại ngã. Người đi chiến đấu hiểu rõ tại sao mình phải chiến đấu, vì ai mình chiến đấu, lý tưởng nào thôi thúc mình chiến đấu. Chàng vừa khám phá ra niềm rung động của thống khổ. Chàng như Thạch Sanh bị lấp dưới hang. Nhờ ở dưới hang, chàng có cơ hội soi bóng mình trên mặt nước lung linh, huyền ảo, so lại dây đàn, nay cùng điệu mới hòa nhập hồn mình với hồn nhân gian. Âm điệu, thần thánhcủa Thạch Sanh được tôi luyện bằng cảm xúc từ oán khổ. Và âm điệu ấy đã thoát lên đời, đã làm xao xuyến ma quỷ, đã dạy những Lý Thông về địa ngục hèn mạt của chúng.
Chàng đang ngồi trong cachot như Thạch Sanh đã ngồi dưới hang sâu thăm thẳm. Chàng đang tìm hạnh phúc trong bất hạnh như Thạch Sanh đã so dây đàn, soi bóng mình, tìm cái tuyệt đối chân thiện mỹ cho cuộc đời. Chàng bằng lòng lắm, nghĩ rằng, mỗi ngày oan nghiệt, đời sống sẽ cống hiến thêm cho con người một niềm bí ẩn. Sống để đi đến tận cùng của đời sống tức là sống để thu nhận trời biển oan khiên cho riêng mình. Chưa đủ. Đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người mới đích thực là lý tưởng. Lý tưởng này không thể tìm thấy ở bọn quen thụ hưởng. Những bọn quen thụ hưởng là những bọn nào?
Trước hết là đám ruồi xanh đã bu kín trên cái miệng đỉnh chung tôi mọi cũ. Chúng đã hèn mọn chạy trốn, bỏ cuộc như những tên đào ngũ khốn kiếp. Chúng ngu dại không chịu nằm yên thân phận giống bầy chó ghẻ già nua, ngồi gặm những khúc xương đầy thịt mà chúng ngoạm chặc trên bước đường bôn tẩu. Chúng càng dốt nát không hiểu thời và thế. Thời của chúng đã cáo chung. Thế của chúng đã mất mát. Vậy mà chúng còn muối mặt xưng tước vị cũ, phong cho nhau tước vị mới, tranh giành lãnh đạo, cách chức lẫn nhau, mặc quần áo mới, quấn khăn rằn, trơ trẽn diễn tuồng kháng chiến cứu nước! Chúng lêu bêu xứ người, bất tài vô tướng, làm thầy hay làm thợ cũng chẳng xong, do đó, chúng tương tư quyền bínhvà phát động cuộc chiến đấu phục hồi dĩ vãng – phục hồi quyền bính của dĩ vãng. Chúng huyễn hoặc người nhẹ dạ, khỏa lấp dư luận, dọa nạt người công chính, bôi bác người đối lập. Chúng là lãnh tụ độc quyền giải phóng quê hương, là bầy tướng tá Quảng Lạc diễn chèo, là bọn mà Nguyễn Khuyến đã mỉa mai:” Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo thêm nữa khác chi thằng hề!”
Thứ đến là bọn trí thức bất lương, tình nguyện làm đám “ba quân, dạ dạ” chạy cờ cho lãnh tụ Quảng Lạc để được chia tiền lạc quyên, xổ số. Bọn này lãnh nhiệm vụ bao vây, ngăn cản những người tài năng vàng mười dám nói sự thật. Những người tài năng dám nói sự thật đều là những người đã quằn quại trong ngục tù cộng sản, thừa thải kinh nghiệm đánh cộng sản và chưa hề làm đầy tớ Mỹ. Những người này đã nổi tiếng ở Việt Nam, chúng sợ lưu vong sẽ nổi tiếng hơn, sẽ “cướp” hết quyền lãnh đạo của chúng. Và chúng tạo dựng nhiều chuyện khả ố: Chuyện khiếp nhược không dám chống đối các cai tù chăn trâu cắt cỏ, chuyện làm tay sai cho cộng sản trong tù bị chọc thủng mắt, bị liệng xuống giếng, chuyện vượt biên bị liệng xuống biển, chuyện cộng sản gài vượt biên để dễ hoạt động cho cộng sản, vân vân… Bọn trí thức nửa mùa và bất lương này lập hàng rào cô lập người công chính. Chúng sợ người công chính đến với tuổi trẻ thì chúng hóa thành giả hìnhvà nhỡ bị lột quần áo, mọi người sẽ thấy rõ tác phẩm ghẻ lở, què quặt, cóp nhặt của chúng. Và chúng hết nhí nhố. Tội nghiệp chưa?
Sau hết là bọn sống ở Pháp ròng rã 30 năm, dài hơn cuộc chiến Việt Nam khốn khổ, chẳng hiểu đất nước mình ra sao mà cứ thích chất vấn những nạn nhân cộng sản. Chúng không chịu sáng tạo, thấy người ta sáng tạo thì chúng ghen ghét, hạch hỏi:”Tại sao lại sáng tác nhiều thế?”! Và cũng chỉ đến biết vỗ tay hoan hô tướng tá Quảng Lạc.
Đó, những hạng vừa kể trên, dẫu có sống thêm chín kiếp cũng không dám đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người. Chúng chỉ giỏi bịa đặt, chỉ dám núp trong xó tối phì nọc rắn. Tội nặng nhất của chúng và công ty là lừa gạt niềm tin của mọi người, làm cản trở sự nghiệp tiêu diệt cộng sản giải thoát dân tộc. Chúng làm gì có lý tưởng. Chúng chỉ có cái miệng lưỡi của “người đi đường và con chó!”
Lý tưởng đi đến tận cùng đời sống để xóa bỏ oan khiên cho dân tộc, giải phóng tổ quốc, tạo dựng hạnh phúc cho giống nòi là lý tưởng của tuổi trẻ hôm nay. Tuổi trẻ hôm nay, tuổi trẻ thế hệ sau 30 tháng 4 năm 1975, có dĩ vãng vằng vặc trăng sao, có hiện tại hừng hực mặt trời. Họ chưa hề thụ hưởng gì của dĩ vãng. Họ cũng chẳng hề có quyền bính gì trong dĩ vãng. Họ chưa hề làm tôi mọi cho một thứ quyền lực quốc tế nào, tư bản hay cộng sản, Mỹ hay Liên xô. Nói cho đúng, tuổi trẻ đã là nạn nhân thảm thương của dĩ vãng, của những quyền lực thao túng quê hương Việt Nam từ 1945. Từ chiêu bài quyến rũ “toàn dân đoàn kết kháng chiến chống Pháp giành độc lập” đến cách mạng què cụt 1-11 “tiêu diệt chế độ độc tài Ngô Đình Diệm” mấy thế hệ tuổi trẻ đã bị lừa bịp, đã chết không một nấm mồ, đã mang thương tích u mê vì tham vọng của chủ nghĩa và sự khờ khạo của lãnh tụ quốc gia.
Những người tuổi trẻ của Hà Nội 1946 hồn ở đâu bây giờ? Những người tuổi trẻ tuyệt diệu đó, những sinh viên tự vệ thành dũng cảm đem thân mình ngăn xe tăng của thực dân Pháp, còn ai nhớ chiến tích của họ, còn ai tưởng niệm họ? Những người tuổi trẻ lãng mạn cách mạng trong trung đoàn Ký Con, trung đoàn Thủ Đô còn lại ai? Họ đã bị cộng sản trá hình Việt Minh đẩy lên tuyến đầu chết thay cho họ cả rồi. Đến cuối 1950, lịch sử và Đảng sử chỉ ghi chép sự hy sinh cho tổ quốc và nhân dân của những người lính nông dân. “Ta là người nông dân, mặc áo lính, chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn ngàn năm.”
Ôi, những người tuổi trẻ thế hệ 1945, những người mà nhà văn Nguyễn Mạnh Côn gọi là những người “lạc đường vào lịch sử,” những người đã lo ngại Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc trong mơ ước của mình, Nguyễn Ái Quốc là tên cộng sản xảo quyệt, là thứ Lê Chiêu Thống chủ nghĩa phi nhân. Nhiệt tình và lòng tự chủ của tuổi trẻ Việt Nam thế hệ 1945 đã bị cộng sản nướng khét bằng lửa mác xít. Bị nướng ròng rã 10 năm cho một nền độc lập cắt đôi tổ quốc; cho triền miên đói rách, ngu dốt, thanh toán, thủ tiêu, đấu tố, tù đày. Khi có những biến động trong lịch sử, những kẻ tiền phong dấy động là tuổi trẻ và những kẻ bị khai thác tận tình, bị lợi dụng tội nghiệp vẫn chỉ là tuổi trẻ.
Bạn còn nhớ những người tuổi trẻ Sàigòn 1955 khởi sự công cuộc chống cộng sản không? Họ đã dấn thân tích cực. Họ đòi “treo cổ Hồ Chí Minh.” Họ muốn “chặt ngang thây Trường Chinh.” Họ truy lùng Văn Tiến Dũng giữa Sàigòn. Họ đốt “Gallieni, Majestic.” Họ khai phóng một phong trào. Họ lay động bọn khiếp nhược, tiêu cực. Họ làm sinh động đời sống. Trong họ, nhiều người bị bỏ tù, bị đánh đập, bị bắn mù mắt. Chế độ vững vàng nhờ tinh thần sư tử của họ. Và chế độ bắt bớ, đàn áp họ. Chế độ chỉ ban phát ân huệ cho bọn “cai thầu tuổi trẻ.” Bọn cai thầu trúng mối lớn của ông Ngô Đình Nhu. Bọn cai thầu đang có mặt ở Paris. Bạn muốn biết chúng nó là ai không? Có đứa nhờ thầu tuổi trẻ mà vinh hiển suốt đời. Có đứa mon men mãi cũng leo lên chức Bộ Trưởng. Kinh nghiệm đấu thầu tuổi trẻ của chúng nó là cẩm nang của bọn thầu khoán tuổi trẻ quốc ngoại hôm nay. Kinh nghiệm của cai thầu tuổi trẻ, buồn thay, chỉ là thương đau của dân tộc, là xoáy mòn niềm tin của tuổi trẻ, là phôi pha nhiệt tình, là ngờ vực, là lừng khừng với đời sống. Sau hết , là bọn bon chen trên đường khoa bảng giá áo túi cơm và nổi loạn vô duyên cớ và tích lũy thù hận đàn anh. Chừng thù hận có dịp bung ra, đó là cơ hội rạch nát lịch sử. Tuổi trẻ Việt Nam bị trúng một phát tên độc ngóc đầu lên không nổi: Mũi tên USA. Người Mỹ sách động tuổi trẻ tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm để được suy tôn “thần tượng” Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn! Bọn phản nghịch dốt nát biến thành thần tượng của tuổi trẻ. Mỉa mai quá. Sự mỉa mai thấm vào tim phổi tuổi trẻ, sự nổi loạn có duyên cớ khai sinh. Và hậu quả của thức tỉnh là tuổi trẻ triền miên hưởng phi tiễn, dùi cui, lựu đạn cay và ngục tù của đám bảo vệ chế độ, đám công an, cảnh sát, đám cò cơm vô liêm sĩ.
Đàng ngoài hay đàng trong, tuổi trẻ đã là công cụ của các thứ chế độ, của lãnh tụ đảng phái, của bọn thầu khoán bất lương. Ba mươi năm, tuổi trẻ bị đày ra chiến trường cho những tham vọng khốn kiếp của cộng sản và tư bản và bầy tôi mọi của chúng. Mấy triệu thanh niên đã chết dọc đường mòn Hồ Chí Minh, khe núi Trường Sơn, rừng già Pleime, biển cát Hạ Lào. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng vẫn sống. Bọn tướng lãnh Sàigòn vẫn sống. Trong nước, phù thủy gian ác cộng sản lại huyền hoặc tuổi trẻ bằng chiêu bài mới “ba giòng thác cách mạng” để lừa tuổi trẻ phơi xác ở Kampuchia “vì nghĩa vụ quốc tế,” lừa tuổi trẻ vào nơi khỉ ho cò gáy để làm, “thanh niên xung phong” đi tải đạn ra chiến trường, lừa tuổi trẻ vào ngục tù, trại tập trung để ngăn chặn phản kháng. Ngoài nước, đạodiễn mù lạivỗ về tuổi trẻ, vuốt ve nhiệt tình tuổi trẻ bằng chiêu bài kháng chiến chống cộng sản trình diễn. Ở không gian và thời gian nào thì tuổi trẻ cũng vẫn là những người nặng tình non nước, những người con xứng đáng được tổ quốc tin cậy, những người dám làm lịch sử và không mang công danh địa vị. Họ ví như cây ăn trái hứa hẹn những mùa màng tốt đẹp, vô hạn. Bọn lãnh tụ trá hình, bọn đào ngũ chạy trốn hèn mọn đã là những cây mục chờ ngày gục xuống vĩa đời. Chúng đã nắm quyền bính và vẫn thèm thuồng quyền bính để bảo vệ quyền lợi của chúng, để thao túng, để hống hách. Khi quyền bính bị tuớc đoạt, chúng nằm tương tư quyền bính. Vì ngu dốt, chúng không thể tạo nổi thứ quyền bính tự tạo nên chúng phải bấu víu lấy tước vị tôi mọi cũ trong cái thế nhân dân đã phủ nhận tước vị cũ của chúng. Và chúng diễn trò yêu nước một cách vụng về. Đứa mặc quần áo, quấn khăn rằn của kẻ thù, tự phong chủ tịch. Dựa trên cái quá khứ “công an xung phong,” vênh vang tự biến mình thành kẻ viết chủ thuyết cho phong trào!
Lịch sử hiện đại chỉ thấy bọn tướng lãnh thoán nghịch, bọn sĩ quan tá, úylàm đảochính. Chưa hề thấy, trong nhân loại, bọn thư lại đi làm cách mạng. Thư lại là bọn giở chiêu nào nướng chiêu ấy, chế độ nào cũng tốt, cũng đáng phục vụ miễn răng yên thân. Cũng chẳng thấy công an cảnh sát làm cách mạng bao giờ! Công an, cảnh sát là công cụ bảo vệ chế độ và lãnh tụ đắc lực và hữu hiệu nhất. Một phong trào, một đoàn thể, một lực lượng nào âm mưu lật đổ chế độ, dù là chế độ độc tài, công an sẽ đàn áp thẳng tay. Tuổi trẻ Việt Nam từ 1963 đến 1975, ở Sàigòn, còn ấm áp những kỷ niệm đàn áp dã man của cảnh sát nổi, cảnh sát chìm, cảnh sát dã chiến. Người nữ sinh viên nào bị đốt núm vú ở Ty Cảnh sát Quận 1? Người nam sinh viên nào hưởng liên tiếp một tuần lễ đòn của thợ đánh người ở trong nha Cảnh sát? Cứ hỏi ông Phạm Văn Liễu, ông Trang Sĩ Tấn, một là Tổng Giám đốc Cảnh sát, một là Giám đốc Nha Cảnh sát Đô Thành, sẽ biết rõ thủ đoạn đàn áp sinh viên học sinh Sàigòn xuống đường đòi hỏi tự do, dân chủ. Tuổi trẻ trong nước năm xưa bị nếm dùi cui, phi tiễn tàn bạo của cảnh sát. Một số người nông nổi vì quá căm phẩn đã bỏ vô mật khu theo cộng sản. Cảnh sát và tinh thần bảo vệ chế độ của họ đã dồn tuổi trẻ vào bước đường cùng, đã giết chết nhiệt tình của tuổi trẻ. Người tuổi trẻ Việt Nam du học lâu năm ở ngoại quốc chưa có kinh nghiệm cay đắng của những người thuộc thế hệ họ. Lòng yêu nước và niềm tin giải phóng dân tộc của họ bị ru ngủ bởi lũ cò mồi. Hình tưởng một cậu bé ngây thơ, mặc quần áo Tết, cố len vào đám bầu cua cá cọp. Biết cậu bé ham ăn, cò mồi đánh đâu thắng đấy. Cậu bé móc túi, lôi ra những phong bao lì xì thơm tho, theo cò mồi liệng tiền xuống chiếu bạc. Và cậu bé cháy túi. Chủ sòng và cò mồi chia tiền nhau, chia những đồng tiền của cậu bé non nớt, ham vui!

Tuổi trẻ Việt Nam thường xuyên bị cò mồi chính trị dụ dỗ. Ở Mỹ Châu, ở Úc Châu, ở Âu Châu thiếu gì cò mồi kháng chiến. Ngay ở Paris cũng có thứ cò mồi gớm ghiếc đó. Nó in được bạc giả nên nó tiêu bạc giả vung vít. Nó dùng bạc giả nên nó khỏa lấp người công chính, vu khống người công chính và ngăn cách người công chính tới gần tuổi trẻ. Nó giả hình văn nghệ. Nó vô liêm sỉ nhận mình là nhà văn để len lỏi vào cõi văn học nghệ thuật. Tất cả đều đáng bỏ qua, bởi vì, sẽ có ngày mọi người biết nó tiêu bạc giả. Nhưng một điều không thể tha thứ cho nó vì nó nhúng vào tội ác đối với dân tộc, đối với công cuộc kháng chiến giải phóng quê hương chân chính, đích thực là nó đã đưa tuổi trẻ Việt Nam ở Âu Châu vào tay tên trùm cảnh sát, tên trùm đã dày thành tích tra tấn, đàn áp, bỏ tù tuổi trẻ dám chống chế độ độc tài, tham nhũng. Thiếu tuổi trẻ và nhất là tuổi trẻ trí thức, bảng hiệu của Công ty của trùm cảnh sát và đồng bọn không thể làm ăn, chia chác được. Do đó, cò mồi đã xâm nhập tuổi trẻ, khuynh loát tuổi trẻ, biến tuổi trẻ thành những người đi lạc quyên và bán vé xổ số. Nghĩ cũng bẽ bàng khi tuổi trẻ hôm nay suy tôn một kẻ từng đàn áp không thương xót tuổi trẻ hôm qua! Có lẽ người ta muốn tạo dựng một chế độ cảnh sát mới ở Việt Nam mai này?
Đó, chàng đã suy nghiệm thân phận tuổi trẻ Việt Nam. Và, dưới hang sâu thăm thẳm, chàng vừa nhận ra một chân lý: Tuổi trẻ Việt Nam bị làm guốc cho các chế độ, các lãnh tụ thật và giả lâu quá rồi. Guốc mòn, vất đi. Một thế hệ rác rưởi. Thay guốc mới. Thêm một thế hệ mệt mỏi, lạc lỏng. Bây giờ là lúc tuổi trẻ Việt Nam phải làm mũ, nón tự đội lên chính đầu mình mà đi tìm hạnh phúc vinh quang cho dân tộc. Bởi vì, dĩ vãng của tuổi trẻ hôm nay là mặt trăng, hiện tại của tuổi trẻ hôm nay là mặt trời. Tuổi trẻ hôm nay không mảy may mặc cảm tội lỗi nào với dân tộc, với quê hương. Chàng sảng khoái và bất giác, chàng nói lớn: “Ta khởi sự từ số không, từ ngục tù cộng sản.”
(Trích “Một người tên là Trần Văn Bá”)

Tuổi trẻ chiến đấu
Chúng ta là những người biết sống và biết chết. Chúng ta không phải là những người sợ sống và sợ chết. Đồng ý. Sống và chết, hiểu theo nghĩa của chúng ta, của những người tự nguyện chiến đấu cho lý tưởng dân tộc. Chẳng ai được phép đòi hỏi gì chúng ta trước, trong và sau chiến đấu. Chẳng ai được phép ban phát gì cho chúng ta trước, trong và sau chiến đấu. Đó là hãnh diện của kẻ chiến đấu tự nguyện. Chúng ta không cần sự phê phán của đám sử gia rẻ tiền hay sự tranh luận bệ rạc về chính sử, ngoại sử, dã sử của đám nghiên cứu lịch sử bằng tài liệu mốc thếch, xuyên tạc cả ngợi khen lẫn chê trách. Chúng ta là lịch sử, lịch sử của tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành từ một kinh qua khốn cùng của đất nước. Chỉ còn tuổi trẻ mới có quyền nói mình yêu nước mà không phải cúi mặt xấu hổ. Dĩ vãng tuổi trẻ vằng vặc trăng sao. Vì chưa hề ngửa tay nhận tiền ngoại quốc, chưa hề nhận ân huệ tôi đòi của ngoại bang để vênh váo quyền bính thống trị bù nhìn bốc lột và đàn áp nhân dân. Hiện tại tuổi trẻ rực rỡ mặt trời. Vì chúng ta không cam đành, chúng ta dám chiến đấu chống cộng sản nhiệt tình và tự phụ, lãng mạn và cô đơn trong hoàng hôn chiến bại, trong đào ngũ chạy trốn của bọn sinh ra để sống nhục và chết nhục. Tương lai tuổi trẻ rạng ngời ánh sáng. Vì chúng ta không chiến đấu để mưu đồ quyền lực, tước vị, công danh, phú quý . Chúng ta là chiến sĩ vô danh. Chúng ta sẽ cố gắng để vui niềm vui của dân tộc như chúng ta đã buồn nỗi buồn của dân tộc. Không có cố gắng nào không dẫn đến kết quả. Sự thành công của chiến đấu, niềm vui động đất của dân tộc, bắt chúng ta cố gắng không ngừng, bắt chúng ta thắp sáng ý chí chiến đấu từng phút, từng giây, bắt chúng ta sáng tạo chiến đấu từng phút, từng giây. Chúng ta đầy đủ uy thế bệ vệ và sức mạnh tuyệt luân của sư tử. Chúng ta là sư tử lãng mạn. Ở mỗi chúng ta không ai nghĩ thất bại. Không có thất bại luẩn quẩn trong đầu óc chúng ta, trong trái tim chúng ta, trong hơi thở chúng ta.
Chúng ta chưa quên câu nói bất hủ của Vị Ưởng: “Sống vì tổ quốc khó khăn hơn chết”. Nhưng khi phải chết, trong nỗi chết thiếu tiếng thở dài tuyệt vọng. Cho nên, Vị Ưởng, Thương Hoài, Dzũng bò, Mục rỗ, Năm cò vẫn tin cuộc chiến thành công dẫu mình tan xác. Cho nên, Ngư Phủ tự sát, vẫn tin cuộc chiến thành công. Cho nên, Độc Thư đứng thẳng dẫm chân lên hình phạt của thù hận mà tuẫn tiết, vẫn tin cuộc chiến thành công.
Chúng ta đều là những người biết sống biết chết. Chúng ta ngạo mạn. Bởi chúng ta là thái dương, tinh tú trong mù sương của lịch sử hôm nay. Cứ chủ quan mà nói, kẻ thù cộng sản chỉ khiếp sợ chúng ta. Chúng ta đã chứng minh điều đó. Chẳng có dấy động nào thiếu tuổi trẻ tiên phong. Chẳng có bão tố nào thiếu tuổi trẻ nổi gió.Chẳng có cách mạng nào thiếu tuổi trẻ mở đường.
Cộng sản nói đời đã đổi từ 30-4-1975. Chúng ta nói đàn anh đã chết hết từ 30-4-1975. Không còn kẻ nào xứng đáng để chúng ta gọi là đàn anh. Trần Du có thể trả lời. Lê Thanh có thể trả lời. Nguyễn Ngọc có thể trả lời. Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể trả lời. Bất cứ một người tuổi trẻ Việc Nam nào lớn khôn từ nỗi đau 30-4-975 đã có thể trả lời . Và đều được phép khinh miệt đàn anh. Họ đã làm hư hỏng đất nước ròng rã ba mươi năm. Họ đã chết dù họ còn sống. Cỏ dại bám vào lúa làm hại mùa màng thì phải nhổ lên, đốt cháy. Chúng ta không cần nhổ cỏ dại . Cộng sản đã giúp chúng ta. Cộng sản đã kéo màn để chúng ta nhìn rõ đàn anh chúng ta trên sân khấu nham nhở. Rặt bọn đào kép đầu quân hết chế độ này sang chế độ khác. Rặt lũ đạo diễn mù đeo kính đen. Rặt những vở tuồng lều bều tham vọng quyền bính tôi đòi hèn mọn. Đàn anh chưa hề chiến đấu. Đàn anh chưa hề biết sống và biết chết. Những kẻ không biết sống và biết chết là những kẻ sống chết không có thái độ. Và họ chẳng có gì để lại cả. Họ sống như lợn ủn ỉn đòi ăn tối ngày và chết như cóc nhái thối tha bờ bụi. Những cây mục hút đất mầu quê mẹ no nê nghìn năm không trổ hoa đơm trái ấy, ở đâu đó, xa lìa tình tự dân tộc, xa lìa nỗi thống khổ của dân tộc, lại đang rắc hạt tiêu vào mắt, lại đang nuốt ớt lột lưỡi, nhỏ lệ khóc quê hương và lên tiếng ái quốc huyễn hoặc quá khứ, ve vuốt hiện tại, phỉnh phờ tương lai.
Chúng ta không tin họ. Chúng ta chỉ tin chúng ta. Chúng ta tin chúng ta vì, trước hết, không huyễn hoặc chúng ta , không ve vuốt chúng ta, không phỉnh phờ chúng ta. Chúng ta tin chúng ta vì, sau hết, chúng ta biết tại sao chúng ta chiến đấu và chúng ta chiến đấu cho mục đích nào. Chúng ta tin chúng ta vì, ngoài ra, chúng ta biết chúng ta đầy đủ nhiệt tình, thừa thãi lòng tự phụ, tràn trề sáng tạo, lãng mạn, lạc quan. Hẳn nhiên, chúng ta cô đơn . Và chúng ta bằng lòng cô đơn. Nỗi cô đơn giúp chúng ta nhìn rõ chúng ta, nhìn rõ thân phận của dân tộc chúng ta.
Nỗi cô đơn thắp giùm chúng ta đốm lửa nhận đường chiến đấu, dẫn dắt chúng ta gần gũi nhau, thương yêu nhau, soi lối cho chúng ta sáng tạo chiến đấu và dạy chúng ta khôn lớn. Trong cô đơn, chúng ta có Đạn lên nòng, chúng ta có vận động cách mạng Tây Sơn. Và niềm kiêu hãnh của thời đại chúng ta, chúng ta có chủ thuyết tư sản. Một nghìn năm binh lửa triền miên, nước Trung hoa vĩ đại sản sinh một trăm triết gia gọi là “bách gia chư tử”. Bốn năm đau khổ, dân tộc Việt Nam sản sinh một Nguyên Ngọc. Chủ thuyết tiểu tư sản của người Việt Nam lập thuyết trong nỗi cô đơn khôn cùng của lịch sử Việt Năm là nỗi rạc rài của lịch sử nhân loại. Chủ thuyết tiểu tư sản, chắc chắn, sẽ dẫn đạo cuộc tân cách mạng Tây Sơn thành công, sẽ đem lại hạnh phúc vĩnh cửu cho dân tộc Viết Nam và loài người trên trái đất sau một thế kỷ bị đầy đọa bởi hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản. Để có thành công, chúng ta phải biết đề phòng thất bại. Đề phòng thất bại và không nghĩ đến thất bại thật khác nhau. Trí tuệ của kẻ mưu đồ đại nghĩa mênh mông khôn tả. Nó biến hóa theo sáng tạo. Nhưng căn bản của nó vốn là biết mình, biết người. Chúng ta biết kẻ thù của chúng ta, kẻ thù của chúng ta không biết chúng ta. Đó là điểm chúng ta hơn hẳn bọn đàn anh. Chúng ta lại biết cái thế của chúng ta và biết cả cái thế của kẻ thù. Do đó, chúng ta còn tồn tại, không bị chúng tiêu diệt. Ở đây, ngoài tôi, không ai biết anh em Đạn lên nòng gồm những ai, tên gì, làm việc ở đâu. Ở đây, ngoài anh em hiện diện hôm nay và Quỳnh Đào, người ta chỉ biết tôi là tên nhạc sĩ phản bội, kẻ thù chỉ biết tôi là hàng thần lơ láo. Nếu hôm nào tôi ngã gục, Phong trào vẫn nguyên vẹn, vẫn ngạo nghễ chiến đấu. Chúng ta biết kẻ thù tinh vi, xảo quyệt, tài giỏi, thừa thải người . Chúng ta không được phép coi thường kẻ thù, không được đánh giá kẻ thù rẻ tiền khi nhận xét gã bộ đội quê mùa hay tên công an ngu dốt. Chúng ta phải đánh giá kẻ thù qua Võ Nguyên Giáp chiến thắng Pháp; qua Lê Đức Thọ ngang cơ Kissinger, qua Trần Quốc Hoàn trùm KGB Việt cộng; qua Mai Chí Thọ, Trần Độ, Tố Hữu,Trường Chinh… Với chủ thuyết tiểu tư sản, kẻ thù của chúng ta là Karl Marx, Lénine. Vậy thì chúng ta , mỗi người biết nhiệm vụ của mình, biết số người cộng tác của riêng mình để , nếu phải chết, vẫn tin Phong trào vẫn tồn tại, sẽ thành công. Tôi mong, ngoài mấy anh hiện diện hôm nay biết nhau thôi, người của anh em không nên biết. Tôi chẳng dám nghi ngờ ai, tôi chỉ đề phòng. Bởi vì, có khi người ta chưa kịp chọn cách chết mà cộng sản tinh vi đủ phương pháp bắt cả người chết phải khai sự thật. Tôi nói ít, mong anh em hiểu nhiều. Điều anh em vẫn đang thắc mắc là tại sao, lần đầu tiên, tôi yêu cầu gặp nhiều anh em một lần và nói nhiều. Tôi xin giải thích ngay: Kinh nghiệm Phan Thức. Tôi quen biết ông Phan Thức trước năm 1975. Thuở ấy tôi là một nghệ sĩ thuần túy. Tôi thấy ở ông Phan Thức có vài điểm tôi phục. Có lẽ là thời say mê lý tưởng của tuổi trẻ ông. Ông Phan Thức kiến thức vững vàng, tuy hơi ngây thơ. Tôi yêu những người già ngây thơ. Sau 1975, tôi nhập cuộc chiến đấu. Và tôi cũng tâm sự với ông Phan Thức. Ông ta tìm tôi, nhờ tôi một việc. Tôi thất vọng, hoàn toàn thất vọng về đàn anh ảo tưởng. Tôi đã cứu ông Phan Thức sa lưới công an. Anh Trần Du đòi khử ông ta để tránh hậu họa. Lòng trắc ẩn níu tôi lại. Ông Phan Thức đã trốn chạy. Nếu ông ta bị Mai Chí thọ bắt, tôi phải tự xử. Để Phong trào tồn tại. Tôi chưa hiểu tình trạng ra sao với tôi và với ông Phan Thức, song đây là kinh nghiệm của chúng ta vừa chiến đấu vừa học tập dân chủ. Tất cả lãnh tụ độc tài đều mọc mầm từ sự sợ hãi nghe phê bình và không dám tự phê bình. Chẳng bao giờ tôi là lãnh tụ cả. Chúng ta cũng chẳng ai mong mỏi có lá cờ phủ trên quan tài khi gục ngã. Tôi gây ra lỗi lầm, tôi nhận lỗi. Tôi biết sống và biết chết. Sống và chết không thành vấn đề quan trọng. Quan trọng là cách mạng Tây Sơn thành công. Cái chức vị huynh trưởng mờ ảo, hư thực này tôi xin được giao cho Trần Du. Anh em sẽ tiếp tục hư thực, mờ ảo chức vị đó. Tôi hoàn toàn tin cậy anh em. Anh em sẽ là đầu óc, là tay trái, tay phải của anh Trần Du. Tôi sẽ gặp riêng anh Trần Du bàn rõ Đạn lên nòng Sàigòn và cơ sở miền Tây . Tôi không bỏ cuộc. Tôi vẫn chiến đấu. Nhưng chúng ta nên chuẩn bị tư tưởng chu đáo. Cách mạng không giống thảo khấu. Thảo khấu sẽ tan rã, nếu chủ soái chết. Cách mạng Tây Sơn phải tồn tại đến thành công nếu Duy Tâm chết, Trần Du chết, Lê Thanh chết, Vũ Hải chết.. Và, với Nguyễn Ngọc tôi muốn nhắc vài lời: Karl Marx chết, Fiedrich Engels viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản và Lénine thực hiện. Anh Nguyễn Ngọc cần nhiều người thực hiện chủ thuyết tiểu tư sản.
(Hồn say phấn lạ)
Xuân Thu, 1988

Tuổi trẻ quốc ngoại xuống thuyền
Tự bản chất, tôi không hề có tham vọng chính trị. Như những người tuổi trẻ cùng thế hệ, tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh Việt Nam triền miên. Khi tôi thật sự trưởng thành, tôi chỉ thấy, khắp quê hương tôi những biến động và biến động. Những biến động tạo ra bởi tham vọng bất nhân của chủ nghĩa tư bản, tham vọng phi nhân của chủ nghĩa cộng sản. Những biến động gây ra binh lửa, chết chóc, đói khổ, ngu dốt và chia rẽ. Để khiêu vũ trên bãi tha ma, để đua thuyền trên giòng sông nước mắt, chủ nghĩa cưa đôi dân tộc tôi và toa rập với nhau kiến trúc hai miền thù hận. Bằng ý thức hệ và bằng cả vũ khí tư bản cộng sản. Tham vọng của chủ nghĩa đẻ thêm tham vọng quyền bính của lũ tôi đòi bản xứ. Một bên là đám ăn cướp. Một bên là đám ăn cắp. Đúng nghĩa nhất, lãnh tụ Hà nội và mọi cơ cấu của nó là phỉ quyền. Bởi vì nó hằng phô trương thành tích cướp chính quyền. Lãnh tụ Sài gòn và mọi cơ cấu của nó là ngụy quyền. Bởi vì nó được nặn ra do thế lực và áp lực ngoại nhân do bầu cử gian dối, lừa gạt. Đám ăn cướp hò hét chuyên chế. Đám ăn cắp hò hét độc chiếm. Với mệnh lệnh của chủ nghĩa với ân huệ của chủ nghĩa, phỉ quyền và ngụy quyền tranh giành quyền bính. Những khúc xương dính chút mảng thịt ném xuống mặt tổ quốc, chúng nhào tới quần thảo. Đề gặm. Để cạp. Khi chúng nuốt những miếng nuôi chim mồi của chủ nghĩa, dân tộc tôi cay đắng, đòi đoạn, thù hận chia lìa. Bỗng nhiên. dân tộc tôi biến thành một dân tộc hiếu chiến, man rợ!
Để lãnh tụ Hồ Chí Minh trở thành “cha già dân tộc” đám phong kiến quan liêu đội lốt vô sản áo rách đã nướng một thế hệ tuổi trẻ tinh hoa và nồng nhiệt vào cuộc chiến 10 năm để có nền độc lập què cụt và thân thể tổ quốc bị cưa ngang. Không cần kháng chiến giành độc lập, không cần đổ máu, không cần tiêu thổ kháng chíến, nước Mã Lai tầm thường vẫn có độc lập đầy đủ chủ quyền, thịnh vượng, ấm no hạnh phúc và đang có tiếng nói trong sự ổn định tình hình Việt Nam! Đó là sự mỉa mai, là chứng minh cho ngu xuẩn của phỉ quyền. Nó đã gang họng miệt thị tiền nhân, vọng ngoại đê tiện: “Quang Trung chỉ nhìn được 10 năm, Lénine nhìn xa 100 năm!” Nó răm rắp tin nghe giáo điều của chủ nghĩa, nó sáng tạo trò chơi “giải phóng dân tộc” là nó trở nên thông manh, mù quáng. Nó bị lớp màng xanh tham vọng anh hùng giai cấp phủ lấp tim óc. Và nó dẫn dắt dân tộc vào cuộc phiêu lưu 10 năm để dân tộc dạt vào bờ bãi lạc hậu, khốn cùng, phân ly. Chưa đủ, nó tiêu diệt thêm 2 triệu con người Việt Nam hiền hòa, nó bảo “cải cách ruộng đất”, thực ra để củng cố quyền bính gần sụp đổ của nó. Rồi , vẫn giáo điều “giải phóng dân tộc” tham vọng của nó lên cân, nó đưa dân tộc phiêu lưu chiến tranh, mời mọc tư tưởng và súng đạn tư bản nhập cuộc. Nó nướng thêm mấy thế hệ tuổi trẻ ròng rã 20 năm “giải phóng”! Được gì? Một đất nước xanh xao hết máu. Sự cô lập. Nhà tù. Trại tập trung. Thù hận anh em. Và đói khổ. Và già nua, bệnh hoạn. Chưa hề thấy- kể cả ngay trong thế giới cộng sản – một chế độ nào khụ khị, ù lỳ như chế độ cộng sản Việt Nam. Lãnh tụ rặt những bô lão, những cổ thụ không còn khả năng đâm chồi, nẩy lộc. Họ cứ khăng khăng nghĩ, sau họ là đại hồng thủy. Do đó, dân tộc héo hắt và tuổi trẻ thui chột.
Còn đám lãnh tụ lính pạc-ti-dăng, khố xanh, khố đỏ ra sao? Đó là lũ ròi bọ đục khoét xương tủy tổ quốc, lũ tôi mọi hèn mọn của chủ nghĩa tư bản. Nó nhân danh “quốc gia”, bóc lột xương máu của lính chiến bóc lột niềm tin của dân tộc, đàn áp tuổi trẻ tận tình. Nó chỉ biết thoán nghịch, rượu, gái và cờ bạc. Nó ăn cắp tiền bạc của nhân dân, bòn rút tài sản của quốc gia chuyển ra ngoại quốc. Để đeo sao trên cầu vai nó, đã dẫm lên xác chết của hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh hy sinh vì tự do, dân chủ của đất nước. Để đóng đinh trên tước vị tổng thống, thủ tướng, nó đã quấn khăn tang cho hàng triệu cô nhi quả phụ. Nó diễn hành trong tiếng than khóc của nòi giống. Nó bán đứng dân tộc nó cho sự vinh hoa, phú quý và quyền uy thống trị. Vây quanh nó là bọn gia nô, cầy cáo hiến kế dâng mưu làm bại hoại tổ quốc. Nó cúi gục mặt cam đành để ngoại nhân khinh nhờn cái uy linh của đất nước. Điều bi thảm nhất là nó giương danh “chính nghĩa quốc gia” bêu nhục quốc gia. Nó thao túng tất cả. Nó độc quyền yêu nước giả vờ và ngăn chặn tiến hóa của dân tộc. Nó ăn cắp cả vũ khí để giết kẻ thù bán cho kẻ thù. Nó đánh đổi bất khuất truyền thống, lấy vọng ngoại, ỷ lại đê hèn. Cuối cùng, nó đào ngũ chạy trốn trước lệnh đầu hàng, bỏ mặc quân dân ngơ ngác. Chưa hề thấy trong lịch sử Việt Nam hạng tướng quốc cao bồi, mật vụ; hạng tham quyền cố vị và ngu dốt như thế.
Nếu chúng không ngu dốt, đám lãnh tụ phong kiến đội lốt vô sản và đám lãnh tụ khố xanh khố đỏ, chúng đã hiểu được cái thế hòa giải dân tộc và thống nhất tổ quốc sau này. Hòa giải dân tộc không thể bao giờ có bằng sự nuôi dưỡng thù hận huynh đệ, thù hận nòi giống. Người già rồi sẽ chết, phải chết, kể cả lãnh tụ vĩ đại muôn năm . Tương lai một dân tộc là ở sự làm việc của người trẻ. Những người trẻ sẽ biết phán xét cha anh, sẽ hiểu giá trị của đoàn tụ, sẽ nhường nhịn nhau, hòa giải với nhau vì sự trường tồn của xứ sở. Nếu hiểu được vậy, chúng đã không thích chiến tranh. Và khôn ngoan hơn, chúng biết lấy tiền của ngoại nhân xây dựng hạnh phúc cho dân tộc và kiến thiết đất nước. Vì chúng ngu dốt lại đầy tham vọng nên chúng biến thành công cụ của chủ nghĩa. Một đứa háo danh. Một đứa ham tiền. Cả hai đều thèm quyền bính. Rốt cuộc quê hương tôi là bãi chiến trường đọ vũ khí mới nhất của cộng sản và tư bản; dân tộc tôi hứng bom Mỹ, hỏa tiễn Liên xô và đạn AK Trung quốc. Dân tộc tôi nào biết tư bản ra sao, vô sản ra sao, thế mà cứ phải đâm chém nhau vì chiến tranh giải phóng và chiến tranh ý thức hệ. Hết làm “thành trì chống Cộng bảo vệ Đông Nam Á” lại đến làm “thành trì bảo vệ xã hội xã hội chủ nghĩa”! Chiến tranh chấm dứt, chúng tôi còn gì ?Hố bom. Hầm chông. Rừng tàn tạ vì thuốc khai quang. Đói khổ. Lạc hậu và lạc hậu.
Điều bi thảm nhất của dân tộc tôi là sau hòa bình của thứ gọi là chiến tranh ý thức hệ khốn kiếp, chiến tranh tâm lý chó má, nhà tù và trại tập trung được xây dựng nhanh hơn, nhiều hơn trường học bị bom đạn tàn phá. Người Việt Nam coi người Việt Nam là kẻ thù nguy hiểm. Khi chủ nghĩa tư bản ngự trị trên một nửa đất nước tôi, trò chơi của nó là bom đạn, càn quét, giết người, còng xích tra tấn và tù ngục. Người Việt Nam công cụ của chủ nghĩa cộng sản ở một nửa đất nước phía trên, bị đẩy vào chỗ chết bị bắt bớ, bị gọi là cộng phỉ và bị tra tấn, giam nhốt vào các nhà tù do Mỹ viện trợ. Ở trong những nhà tù Mỹ quốc viện trợ, trò chơi của chủ nghĩa tư bản xoay cộng phỉ phờ phạc rồi báo chí Mỹ miệt thị người Việt Nam không tôn trọng nhân quyền. Khi chủ nghĩa cộng sản thôn tính miền Nam, người Việt Nam bị coi là thua trận người Việt Nam, bị coi là ngụy quân ngụy quyền, bị lùa vào các nhà tù, trại tập trung rập khuôn mẫu Liên xô và người… ngụy bị người Việt Nam còng xích chân tay bằng khóa chế tạo tại USA! Đất nước tôi lại là nhà tù trại tập trung sau hai mươi năm là bãi chiến trường khốc liệt. Thù hận do các thứ chủ nghĩa xâm nhập. Các thứ chủ nghĩa hữu nghị với nhau, nắm tay nhau liên hoan trên quê hương nghèo đói của tôi. Còn chúng tôi, chúng tôi thù hận lẫn nhau. Chúng tôi nhân danh chủ nghĩa để băm vằm nhau. Chủ nghĩa và bọn đầy tớ vong bản thủ lợi.
Thù hận chưa ngưng, dù đất nước đã tan tác, rạc rài. Vì tham vọng của chủ nghĩa, tham vọng của lãnh tụ cái chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa đã áp đặt lên khắp quê hương Việt Nam yêu dấu của tôi những tai họa và những tai họa. Một xã hội sưu thuế mới, đê tiện hơn cả xã hội sưu thuế trong tiểu thuyết của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan. Bọn thu thuế mới, bọn đảng viên cộng sản, gian ác và thủ đoạn gấp ngàn lần bọn lý trưởng, chánh tổng. Dân chúng quằn quại vì sưu thuế. Ruộng đất phì nhiêu, lúa cấy đến bốn vụ mà dân vẫn phải ăn độn khoai sắn. Tự do, dân chủ là nước hoa đối với con nhà nghèo. Hạnh phúc là mỏi mòn chờ đợi. Tuổi trẻ hắt hiu, cằn cỗi. Dinh dưỡng thiếu thốn, lao động quần quật, tuổi trẻ choắt lại, thấp bé, môi thâm, mắt mờ. Đã thế, vẫn bị đầy ra chiến trường nước ngoài để chết, để đui mù, què quặt cho “nghĩa vụ quốc tế”. Dân tộc bốn nghìn năm văn hiến bỗng hóa thành một dân tộc dốt nát vì chỉ được học, được biết những giáo điều viết lại của bầy ngự sử mác-xít. Những tài năng của đất nước bị chôn sống trong nghĩa địa cải tạo, bị thủ tiêu, bị lưu đầy. Do đó, thù hận cũ chưa nguôi, thù hận mới khởi sự. Và đó là chân lý.
Trong nước, phỉ quyền lộng hành, hủy diệt mọi công trình dựng nước của tiền nhân, thúc bách dân chúng cam đành chấp nhận cuộc sống tối tăm ảm đạm. Ngoài nước, đám tàn dư của ngụy quyền tiêu biểu là những tên tướng tá xuất thân khố xanh, khố đỏ, pạc-ti-đăng; những tên chính khách chuyên nghiệp hèn mạt; những tên nghị sĩ dân biểu gia nô; những tên trí thức bất lương, tiêu bạc giả lại mở miệng hôi thối nói chuyện nước non. Sau khi bỏ lính chiến đào ngũ, sau khi bỏ cử tri chạy trốn, sau khi bỏ đồng chí lẩn cút, sang nước Mỹ an toàn không một bóng dáng Việt cộng, lũ tội đồ của dân tộc âm mưu phục hồi quyền bính tôi đòi cũ, thứ quyền bính cho chúng bóc lột xương máu của quân dân một cách hợp pháp và có… chính nghĩa quốc gia. Bọn quốc gia giả hình này, bọn cầy cáo của ngoại nhân, bọn đã làm ung thối tổ quốc, bọn đã đánh bạc bằng máu của lính chiến, bằng mồ hôi của dân lành, bọn đã làm băng hoại cuộc chiến đấu chống cộng sản xâm lăng, lại tiếp tục làm băng hoại cuộc chiến đấu chống cộng sản cua dân trong nước, làm mất niềm tin hồi hương của lưu dân khắp thế giới bởi những tranh giành quyền lãnh đạo độc tôn, bởi những công kích nhục mạ lẫn nhau, bởi những thủ đoạn lừa gạt bịp bợm của chúng. Và, thê lương hơn, bởi tinh thần vọng ngoại khó gột rửa. Một số vẫn ôm chặt chân ông chủ Mỹ. Há chúng chưa quên bàn chân ông chủ Mỹ đã đạp đá chúng những cú cuối cùng khi chúng chạy vào Tòa Đại Sứ hay phi trường Tân Sơn Nhất lạy van xin trốn khỏi Việt Nam? Chẳng đứa nào có một chút liêm sỉ lãnh đạo của Cheng Heng, của Siêu Matak? Hai nhà lãnh đạo Kampuchia này đã khước từ ân huệ di tản của Mỹ, kẻ lừa gạt dân tộc họ, tình nguyện ở lại đất nước để được tưới máu của họ xuống đất quê hương, để được chết chung với chiến hữu, với dân tộc họ bằng lưỡi lê Khờ me đỏ. Một số tìm cách bám chân ông chủ cũ của Việt cộng là bố Tầu hồng, kẻ thù truyền kiếp của giống nòi Bách Việt, kẻ đã đô hộ chúng ta hàng nghìn năm, đã bắt tổ tiên ta lên rừng kiếm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai hết thế kỷ này sang thế kỷ khác. Há chúng chưa học lịch sử tranh đấu của nòi giống Bách Việt, chưa biết Lê Chiêu Thống và sự nghiệp rước giặc vào nhà? Học đòi tham vọng quyền bính, chúng theo đóm lũ Hoàng văn Hoan, Trương Như Tảng chống bè lũ Lê Duẩn. Há chúng chẳng hiểu Hoan và Tảng bị cộng sản khu trừ đâm ra cay cú mà chống bọn khu trừ mình chứ đâu phải vì dân tộc mà thoát ly cộng sản. Há chúng chẳng rõ Hoan vẫn tôn thờ tên tội đồ muôn thuở của dân tộc là Hồ Chí Minh? Một số kết hợp tướng bẩn và tá cớm bầy trò lạc quyên xổ số, tem phiếu lấy tiền bảo rằng mua súng đạn về lập chiến khu chống cộng sản. Công ty yêu nước của tẩy và cớm làm ăn khấm khá nhờ lưu dân nóng lòng trở lại quê hương, khao khát trở lại quê hương. Được đám trí thức bất lương đồng loã cổ võ và vinh tôn hết ngôn ngữ cò mồi trên báo chí, thêm nữa, những tên giả hình trí thức, giả hình văn nghệ chui vào hội đoàn này, hội đoàn nọ chia rẽ giữa các hội đoàn, bôi bẩn những người tài năng không đồng quan điểm với công ty của nó, huyễn hoặc sinh viên, tạo nghi ngờ giữa tuổi trẻ và đàn anh để lôi kéo tuổi trẻ suy tôn lãnh tụ tẩy và cớm, những tên đã đàn áp tuổi trẻ tận tình. Há chúng tưởng người thức giả quên chuyện chúng đào ngũ vất lại hàng ngàn xe tăng, hàng ngàn đại bác, ..hàng ngàn máy bay, hàng triệu tấn súng đạn và ngót triệu quân tinh nhuệ? Bây giờ chúng lạc quyên, xổ số để mua được mấy khẩu đại bác?
Nhìn thẳng vào sinh hoạt cứu quốc của đám tàn dư ngụy quyền ở quốc ngoại, hướng về dân tộc đang rên siết dưới gót giầy thống trị bạo tàn của phỉ quyền quốc nội , tôi, người tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-1975, tự đặt mình vào cái thế phải chống cả tàn dư ngụy quyền và phỉ quyền. Ngụy quyền lưu manh. Phỉ quyền gian ác. Nước Việt Nam không thể nào được xây dựng kiện toàn bằng lưu manh và gian ác. Dân tộc Việt Nam không thể nào có tự do, dân chủ, hạnh phúc, thương yêu bởi đám lưu manh và phường gian ác. Lịch sử thống trị của ngụy và phỉ đã chứng minh trên hai miền đất nước. Phỉ quyền đang bóp nghẹt dân tộc bằng quyền bính chuyên chính vô sản. Ngụy quyền đang phát động chiến đấu phục hồi quyền bính tôi đòi. Hai thứ quyền bính này chỉ là nọc độc phì vào tim óc tổ quốc, chỉ là ròi bọ đục nát gan phổi dân tộc . Tôi đã thấy và thấy rõ hơn từ những ngày tôi cô đơn trong ngục tù phỉ quyền. Và tôi nghĩ tới một chính quyền tương lai của đất nước tôi. Và tôi nghĩ tới thân phận tuổi trẻ Việt Nam bị lừa gạt ròng rã ba mươi năm trời, bị gạt ra ngoài lề lịch sử. Nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ đã tiêu pha lãng phí cho những âm mưu củng cố quyền bính khốn nạn của phỉ và ngụy. Bây giờ là lúc tuổi trẻ phải quyết định lấy số phận dân tộc mình, phải nhận thức đúng vai trò và nhiệm vụ của mình đối với lịch sử nòi giống, phải tích cực chiến đấu để xây dựng chính quyền. Không có chính quyền, không bao giờ có hạnh phúc vĩnh cửu. Muốn có chinh quyền, điều kiện tiên quyết là phải xóa bỏ tàn dư ngụy quyền và âm mưu phục hồi quyền bính tôi đòi dĩ vãng, phải xóa bỏ phỉ quyền. Tôi thành khẩn nghĩ rằng sứ mạng xóa bỏ ngụy và phỉ chỉ có tuổi trẻ thế hệ tôi, trong và ngoài nước làm nổi. Bởi vì đại nghĩa ở trong tim chúng tôi.
Thế hệ tôi là nạn nhân đau đớn của phỉ quyền và ngụy quyền, đồng thời là chứng nhân buồn bã của niềm tủi nhục của tổ quốc trong thế tranh giành quyền lực giữa hai thứ chủ nghĩa khốn kiếp. Chúng tôi chưa hề là tay sai của bất cứ một thứ quyền lực nào đã thao túng ở Việt Nam. Nói rõ rệt, chúng tôi chưa hề là phỉ, là ngụy. Trong chúng tôi nhiều người đã là lính chiến. Nhưng ở bất cứ một chế độ nào, người lính vẫn chỉ là người cầm súng bảo vệ tổ quốc, quê hương dân tộc. Chế độ sẽ mất như chế độ đã mất, tổ quốc, quê hương, dân tộc còn mãi, vĩnh cửu. Người lính bảo vệ cái vĩnh cửu đó, không bảo vệ chế độ hay lãnh tụ. Chế độ, lãnh tụ và chủ nghĩa đã lợi dụng người lính. Người lính gục ngã giữa chiến trường vẫn tin rằng mình chết cho tổ quốc, không chết cho chế độ, lãnh tụ. chủ nghĩa. Người ta hằng nói đến quân đội và nhân danh quân đội. Có bao giờ quân đội là tướng lãnh đâu! Quân đội là lính chiến và những sĩ quan can đảm. Quân đội không bao giờ là của riêng bọn tướng tá hèn mọn đào ngũ để chúng nhân danh này nọ. Chúng tôi chưa hề để lại những dấu tích ô nhục trên quê hương. Chúng tôi chưa nắm quyền bính và không tham vọng quyền bính. Dĩ vãng của chúng tôi đẹp. Hiện tại của chúng tôi đẹp. Chúng tôi đi làm đẹp tương lai. Chỉ có thế hệ tuổi trẻ hôm nay, thế hệ trưởng thành sau 30-4-75, mới đủ khả năng tạo dựng chỉnh quyền cho xứ sở, mới đủ tư cách xóa bỏ ngụy quyền, phỉ quyền.
Kinh nghiệm lịch sử dạy chúng tôi những bài học quý giá về sự trông cậy ngoại bang. Sau Lê Chiêu Thống rước Tầu là Nguyễn Ánh rước Tây. Nô lệ và nô lệ. Những hò hét của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để được tích sự gì? Người Nhật đã có mặt ở Việt Nam không phải vì Cường Để cầu cứu đủ làm sáng mắt chúng ta. Sau Hồ Chí Minh tình nguyện làm đầy tớ Liên Xô đến Ngô Đình Diệm cam đành làm đầy tớ Mỹ. Chiến tranh và chiến tranh. Phản bội và tù ngục, lưu đầy. Vậy mà vẫn còn những kẻ ngu xuẩn muốn ôm chân tài phiệt Nhật Bản, muốn luồn cúi bá quyền Trung Hoa. Nghĩ thật tủi vong hồn anh hùng, liệt sĩ đã chết vì chiến đấu chống Tầu, chống Nhật xâm lăng! Bối cảnh lịch sử tuy đã khác nhưng hoàn cảnh lịch sử vẫn giống nhau. Nghĩa là mọi vùng dậy đạp đổ bạo quyền phải xuất phát từ trong nước. Chính nghĩa ở đó. Chính nghĩa lung linh từ giọt nước mắt tủi nhục của bà mẹ. Chính nghĩa sang sảng từ tiếng khóc đói sữa của em thơ. Chính nghĩa ánh lên từ những giọt mồ hôi cưỡng bức đổ xuống nông trường, công trường vô vọng. Chính nghĩa tỏa ra từ những ngục tù xiềng xích. Chính nghĩa đó không tìm thấy ở những ly champagne liên hoan chào mừng lạc quyên, xổ số trúng mối; ở những chỉ thị ngu đần của kẻ mất tổ quốc mà vẫn to miệng hô hoán chỉ có ta mới giải thoát được quê hương. Chính nghĩa đó cũng không tìm thấy ở những đồng bạc ti tiện ngửa tay xin Nhật, xin Tầu; ở những đài phát thanh thuê mướn, ở những chiến khu màn bạc.
Những suy nghĩ, những phán xét của tôi, trước đây, còn mơ hồ. Từ ngày tôi về nước, tất cả những gì tôi nghe, tôi thấy đã cụ thể cái mơ hồ của tôi. Và, rất ngay thẳng, tôi quả quyết rằng, mọi nỗ lực lương thiện và chí tình quốc ngoại chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cuộc chiến đấu đích thực quốc nội chứ không thể giành quyền chỉ đạo. Người ta đã không chịu hiểu điều này, nên mới xâu xé, bôi bẩn và tạo ra chia rẽ phân hóa lực lượng. Nghĩ cho cùng thì đó là bản chất của quân phiệt, mật vụ thôi. Chúng đòi đấu tranh cho tự do dân chủ mà chúng không thích trò chơi dân chủ và luật dân chủ. Chúng muốn bắt mọi người đi vào quỹ đạo lạc quyên, xổ số đi vào cái hũ gạo tối om? Ai chống lại chúng, chúng chụp mũ dơ bẩn và rỉ tai bêu nhục. Nếu chúng dám về nước, chúng sẽ thấy chúng nhỏ bé đi và trẻ em trong nước đã lớn hơn chúng đủ mọi phương diện. Tôi về nước. Tôi nằm tù. Tôi bị còng tay, xích chân. Từ nỗi cô đơn tù ngục, tôi sáng tạo cuộc chiến đấu mới của tôi. Tôi nhớ anh em nhà Tây Sơn. Và tôi nghĩ rằng, trước hay sau, sớm hay muộn, sẽ phải có cuộc cách mạng Tây Sơn mới giải quyết xong toàn bộ vấn đề của dân tộc tôi. Như thế, tôi có thể khẳng định rằng, tôi và tuổi trẻ thế hệ tôi, vì nỗi ngậm ngùi của dân tộc mà chiến đấu. Tôi thuộc về dân tộc tôi . Và tôi chiến đấu trong cô đơn. Đừng bảo tôi chiến đấu trong bất cứ một tổ chức nào. Đã đúng thời điểm người tuổi trẻ đội mũ lên chính đầu mình, chiến đấu vì tổ quốc, dân tộc mình, không dại dột làm giầy giép cho mọi thứ lãnh tụ hay chủ nghĩa nào hết. Tuổi trẻ là lãnh tụ tuyệt vời nhất. Tôi tự hào tôi đã thấy tôi là người tuổi trẻ dám chiến đấu.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết từ 21-4-1993)

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần 6

Từ Thú Chơi Sách Qua Nghệ Thuật Chơi Sách

Năm 1960, tôi viết tập Thú chơi sách và nhờ ông bạn Phạm Việt Tuyền chủ Cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do ra vốn in, nay bán đã hết. Đó là bước đầu chập chủm, việc nghe thấy còn sơ sài, nông cạn. Năm nay, 1993, với tuổi già 92, tôi viết tiếp tập nầy, chỗ hiểu biết, thú thật, không giàu hơn trước, có người đã trách tôi có gì thì nói ra hết và viết không biết chừa…, tiện đây, tật cũ không bỏ và nay lại “tóc tơ cạn kẽ đôi điều”, còn sống tới ngày nào và nay biết thêm được chút gì xin nói hết ra đây, và nâng cao “Thú chơi sách” thêm lên một bậc và đổi lại là “Nghệ thuật chơi sách”.

Việc của mình, xin nói trước. Gẫm lại cái tuổi trên chín mươi, ít có người đi tới, tuổi ấy có cái hay của nó và ít ai chịu biết là con người vào tuổi ấy, độ thuần nết lại, kẻ dữ thấy bớt hung hăng vì nhuệ khí đâu còn, còn người hiền càng thêm dịu tánh, muốn gần đạo lý và muốn lánh xa niềm tục lụy, và tự thầm trách hố đào đã sẵn và tại sao chưa trao gánh nặng cho xong.

Nhắc lại, năm 1984, tôi còn đi bách bộ cả mấy cây số ngàn không biết mệt, từ 21-4 đến 2-8-1984, tôi viết được 206 trang giấy đánh máy 21×28, lấy nhan là “Tôi và cuốn sách”.

Qua năm 1989, tôi được 88 tuổi, viết lại từ 2-2 đến 3-4-1989 viết được 208 trang nữa, nhưng vẫn cất giữ trong tủ, nay tôi thâu gọn lại làm tập nầy, đổi ngược, lựa nhan “Cuốn sách và tôi” 1 cho thêm nhã và đề “Nghệ thuật chơi sách” cho thêm gọn, thêm thanh.

Cẩn tự.

Năm 1977, chợ Trời bày bán sách cũ, dọn ở khu Trường Tiến (Sở Công chánh), ngang trường Trung học Cơ khí (trường Máy Rosel cũ), tôi ra đó bắt gặp và mua được một bản quây Ronéo, khổ 28×42 nhan là “Tố Như Thi” (Thanh-hiên thi-tập, Nam Trung tập ngâm, Bắc Thành tạp lục) giá bán 15 đồng. Đem về nhà, ghi số mục lục 1696-E (9-8-1977), lật vào trong, có con dấu đỏ “B.s. Trần Ngọc Ninh”.

Lòng mừng khấp khởi, nếu ông Ninh không chạy, làm sao mua được sách nầy, sách nầy do Nhà xuất bản Hán văn học ở Hà Nội in năm 1965, ông N. không mua được nên quây Ronéo làm của, nhưng không giữ được, và nếu không có chợ Trời sa thải ra, làm gì mình có? Quả là có sắp đặt trước!

Nay tôi chép lại đây bài thơ in nơi trang 125, sách đã dẫn:

51. Mạn hứng

“Long vĩ cầu biên đa bạch âu,

“Lam giang đường thượng hữu hàn nho.

“Nhất sinh tử phú tri vô ích,

“Mãn già cầm thư đồ tự ngu.

“Bách tuế vi nhân bi thuận tức,

“Mộ niên hành lạc tích tu du.

“Ninh tri dị nhật tây lăng hạ,

“Năng âm trùng dương nhất trích vô?

Bài thi nầy, Nguyễn Du viết khi còn lang thang vùng Hồng Lĩnh, năm tuổi vừa trên ba mươi, có lẽ viết năm 1796, dưới bài đã có bản dịch sẵn của Nguyễn Vũ Mỹ và Trần Thanh Mại, chép luôn lại đây:

Cảm hứng lan man

“Long-vĩ bờ bên một đám cò,

“Sông Lam trên bến bác hàn nho.

“Suốt đời thơ phú lòng vô bổ,

“Đầy gió sách đàn chất mãi ngu.

“Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc,

“Chuyên vui tuổi cả tiếc từng giờ.

“Phía tây bãi cỏ khi nằm xuống,

“Chén rượu trùng dương ai tưới cho?

Có chú thích sẵn: Long-vĩ-châu là bãi Long-vĩ, Lam-giang cũng gọi Long-giang (bãi nổi giữa sông Lam). “Mộ niên” đây là một cách nói, vì khi viết, tác giả chưa tới bốn mươi. Nay tôi là kẻ hậu sanh, Sển nầy học chưa tới đâu đâu mà dám viết về nghệ thuật chơi sách, trong khi tiền bạc thay giá, nhẹ hơn tờ giấy mót, lúc mua sách, còn xài tiền vụn, và đồng bạc rất cao giá, 15 đồng lúc đó, nay có bạc trăm bạc ngàn chưa mua được, và nay đồng giấy 200 đồng, cầm cho kẻ ăn xin, còn bị cằn nhằn: “Xin mười chỗ chưa đầy một bát cơm”.

Tiếp theo đó, nhớ ngày 16-7-1977, tôi từ nhà ở Gia Định cũng thả rểu ở chợ Trời sách bỗng chỉ tốn có năm hào (0$50), tôi mua được một tập nhỏ Pháp văn nói về tiểu sử văn hào André Maurois (sách do Michel Droit soạn).

Về đọc, học được một sàng khôn… Nơi trang 102 có câu Pháp văn, tôi xin chép lại đây và cắp củm dịch lại cho các bạn nhỏ, có dịp học thêm:

“Conserver l’espérance, c’est également ne pas vieillir. La vieillesse, c’est plus encore que les cheveux blancs et les rides, ce sentiment qu’il est trop tard, que la partie est jouée, que la scène appartient désormais à une autre génération. La vraie maladie de la vieillesse, ce n’est pas l’affaiblissement du corps, c’est l’indifférence de l’âge”.

Tôi dịch:

Conserver l’espérance, là còn nuôi hy vọng, ấy đó là mình vẫn chưa già. Cái già, không phải là vì mớ tóc bạc, là vì da đã trổ đồi-mồi, và đó là vì có quan niệm lầm lạc rằng đã muộn màng rồi, là canh bạc đã xên, là tấn tuồng đã vãn (mãn), là sân khấu đã về tay thế hệ khác… Không đâu không nên nói già là vì thân thể đã bạc nhược, chỉ biết già, và bịnh già là đúng ra mình không còn thiết tha với thế sự, cuộc đời đã buông xụi, khi nhựa sống đã cạn, là già, già hẳn…

Ấy đó tôi mê sách và chỉ tốn có năm hào (0$50), khỏi sang Pháp học tốn kém, khỏi ra Hà Nội, chỉ ru rú mà vẫn có sách quí, để viết và khuyến dụ, dụ người khác hãy mê sách như mình.

Trang sách ấy thuật rằng André Maurois, tên cúng cơm là Emile Hersog, sanh năm 1885 tại Elbeuf là nơi sản xuất loại nỉ trứ danh “drap d’Elbeuf”. Vốn là học trò cưng của Emile Chartier, giáo sư dạy Triết trường Sorbonne, lừng lẫy với biệt hiệu nhắc đời là Alain (1868-1961). Hai thầy trò tương đắc và tương trợ lẫn nhau, nhờ Maurois mà Alain nổi danh thầy dạy giỏi, và nhờ học với Alain mà Maurois nổi danh cây bút thần sầu.

Khi mãn khóa Ở Sorbonne, Maurois hỏi ý kiến thầy, muốn tiếp tục học thêm ở trường Ecole Normale Supérieure nơi đường d’Ulm, là nơi đào tạo giáo sư cao học có tiếng là giỏi về văn chương. Nhưng Alain đã khuyên: “Nay trò đã cứng về văn, học thêm nữa ở Nọt-Manh-Súp, ích gì, bất quá sẽ trở nên một thầy đồ kênh kiệu. Thay vì vậy, trò vốn sanh trưởng ở Elbeuf, nơi đó ông thân của trò sẵn làm chủ hãng sản xuất nỉ tốt, thầy và thợ ở đó rất đông, tại sao trò không về đó học tập nghiên cứu về tâm lý của mấy người ấy. Khi thâm hiểu những người ấy rồi, thì lo gì trò không trở nên một nhà văn có biệt tài. Thầy đồ xoàng sao bì tài tử văn gia có bản lĩnh!”

Ấy đó bên Pháp, học hành như vậy và thầy dạy như vậy, có đâu như bên ni, học vay viết mướn, khi còn học trong trường thì học theo kiểu tôi gọi là “chó dắt đường, rủi nhiều hơn may”, trên thì dạy nhồi sọ, không cho trẻ trồi đầu lên, còn dưới thì lớp vì cha mẹ nghèo không đủ sức nuôi, lớp thiếu thầy có kiến thức dẫn dắt, đường đi tự học trò mò lấy, có khiếu về toán, lại bắt học về văn, v. v… gần đây không xa, trào gọi đời Ngụy cũ, học nơi trường Thú y Hà Nội lên làm trưởng Nông Lâm Súc, một ông khác, học bên Pháp về môn cổ điển học hiệu, Pháp gọi Ecole des Chartes, về xứ nương bóng anh, vốn không biết chữ Nho, rước làm nơi thư viện đời Pháp thuộc, bỗng nhảy qua làm chánh trị, đẻ ra thuyết cần lao nhân vị, chết cha mồ tổ, bỏ nhà ra ấp, mất ruộng mất đồ cổ, ấy tôi mắc tội nói xấu người đã chết, duy xin biết tôi nay nói ra cái thiếu sót của tôi, và chí muốn của tôi, là xin các bạn trẻ, hãy mạnh dạn tự học, học chữ nước ngoài mới mong có ngày hữu ích cho xã hội.

Tôi kể lại đây một chuyện cũ. Sau ngày 30-4-1975, một học giả được cho sang Pháp, ông muốn hiến một bộ tự điển Pháp: “Dictionnaire de la Langue française” của Littré soạn, bản in lần đầu năm 1875 (Hachette Paris in), nhưng chánh phủ cũ làm phiền phức, ông bán phứt cho chệt ve chai với giá 30$00 ra chục đồng thời Thiệu, sau đó bộ sách lọt về tay tôi, nhưng tôi cứ chê lên chê xuống, rằng “sách quá cũ, thiếu những chữ mới”, v.v… bỗng một luật sư (ông Lê Văn Trá) dạy tôi: “Tưởng anh sành sỏi, không dè quá dốt, bộ đó là sách đầu tiên, rất có giá trị, tại sao anh không gởi thơ mua xấp bổ túc gọi “partie supplémentaire” thì sách trở nên tân thời?”. Tôi học khôn đã muộn.

Sách chữ Tây tôi mua hổ lốn lủ khủ cả mấy ngàn cuốn chung qui nên kể mấy cuốn sau đây, dám khuyên các bạn thông hiểu Pháp văn, nên tìm mua bổ túc sự học.

Sách của Alain là:

* Alphonse Allain. La Barbe et autres contes (m.l. 456, tủ 9)

* Alain, sa vie, son oeuvre (PU 1962 (mục lục 218/44, giá mua 1 đồng, 7-7-1979)

* Alain. Idées, Introduction à la Philosophie U.G.Editions (m.l. 218-A/163 đồng)

* Alain. Les Idées et les Âges (Gallimard) (m.l. 218-A/17, ngày 31-X-1977, 2 đồng)

Sách của A.Maurois:

* Les silences du colonel Bramble

* Climats (Grasset)

* Terre promise (Flammarion)

* Dialogues des vivants (Arthène Fayard)

* Un art de vivre v.v…

Bạn cố giao đã khuất, Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, đã dịch và viết trên trăm cuốn sách, cuốn tái bản sau rốt là “Sống đẹp” của Lâm Ngữ Đường, nhưng thiết nghĩ rừng Âu-Á làm sao lột dịch cho hết, tôi làm hỗn đâm rào, dịch lại đây một đoạn trích trong LIRE, n.105, Juin 1984 (để dò dịch được hay dịch sai, và các bạn nhỏ bổ túc thêm Pháp-ngữ:

“Cest animal étrange, le Français! Qu’est-ce qu’un Français, se demand-t-il. Réponse: Un être qui est avant tout, le contraire de ce que vous voyez.”

Tôi dịch như vầy:

Anh chàng Français là cái thứ gì? Chàng ta tự hỏi và tự trả lời lấy: Tây u, Pháp nhân, Français là anh chàng vốn trái nghịch hẳn với anh chàng mà chính anh thường thấy.

“Observation capitale.”

Và câu nầy quan hệ, đại sự lắm.

“La France est divisée en 43 millions de Français. Le Français est un homme qui place la France dans son coeur, mais sa fortune à l’étranger, qui passe son dimanche à se proclamer républicain et sa semaine à adorer la reine d’Angleterre et qui voit rouge au signal vert…”

Nước Pháp, Pháp quốc, vả chăng chia gồm làm 43 triệu dân. Duy tên dân Pháp là một người có thể nói: tâm trung gởi nốt vào tâm, nhưng sự nghiệp, của cải, vẫn thường gởi nơi nước ngoài, ngoại quốc, đúng là tên dân mà ngày chủ nhật một hai tuyên bố mình là người của dân chủ cộng hòa (républicain) mà thường nhật trong tuần lễ, mấy ngày khác, vẫn sủng ái bà Anh hoàng, đúng là một đứa vẫn thấy màu đỏ hồng, trong khi dấu hiệu đó là màu xanh lục. (Thú thật câu văn Pháp quá cao sâu khúc triết, tôi dịch không thoát và dám xin người cao niên dạy cho – VHS).

Google photos edit by Sơn râu

(theo báo Paris Match 19-26 juin 1954). (Câu văn Pháp nầy trích trong cuốn “Les camets du major Thomson, của Pierre Daninos, Hachette, mục lục 68, 1976).

Còn nhớ vài câu văn Pháp thâm trầm, theo tôi, cũng xin dịch nghĩa luôn:

“Toujours nous voulons chercher l’éternel ailleurs qu’ici; toujours nous tournons le regard de l’esprit vers autre chose que la présente situation et la présente apparence; ou bien nous attendons de mourir comme si tout instant n’était pas mourir et revivre. A chaque instant, une vie neuve nous est offerte. Aujourd’hui, maintenant, tout de suite, c’est notre seule prise”.

Ta luôn tìm sự bất diệt vô thủy vô chung ở một nơi khác hơn là nơi hiện hữu; ta luôn đưa mắt nhìn về một nơi khác lạ hơn là nơi hiện tại và nơi tựa hồ như hiện thật, tưởng như chúng ta mong chờ cái chết sẽ đến mà quên lửng rằng hiện ta đang chết lần chết mòn tức chết lần hồi, mòn lần từng chút một, tức ta vẫn sanh-sanh hóa-hóa bất ngờ. Ngày nay đây, giờ nầy đây, tức khắc đây, ấy đó mới thật là cái sự gì mà ta nắm, bắt, chiếm được.

Alain, triết gia, thầy của André Maurois.

Về tình ái, ái tình:

“Un amour qui va très bien, c’est-à-dire cahin-caha, c’est difficile; mais un amour qui ne va pas, c’est l’enfer”.

Một mối tình suôn sẻ, nghĩa là ạch đụi, đi cà-hê cà-ha, đã là ái tình chập chủm, nhưng khi trở chứng, cơm không lành canh không ngọt, thì tình ái ấy quả là địa ngục, dưới Diêm đài.

A.Maurois (Climats, tr.172).

Lời mẹ dạy con, trước khi về nhà chồng:

“Ne donne pas à ton mari l’impression que tu l’aime trop, ou tu es perdue”.

“Đừng cho chồng mầy biết mầy thương nó chí tột mức thương, nếu nó mà biết được như vậy, thì đời con kể bỏ. Con sẽ mất hết, con ôi”.

(Climats, tr.181)

“C’est comme le sel, nous ne savons même pas que nous en absorbons, mais supprimons-le de tous nos repasl et sans doute, nous mourrons.”

Ái tình y như cục muối, muối vẫn xẵng lè, nhưng nếu không có muối, thì không xong. Ngày thường, thức ăn đều có nêm muối vào, ví thử đừng nêm, thì ta sẽ chết ngay.

(Climats, tr.228)

“La maladie est une forme de bonheur moral, parce qu’elle impose à nos désirs et à nos soucis des limites fermes.”

Đau ốm, bệnh hoạn là một triệu chứng của sự hạnh phúc ta ấp ủ trong lòng; đau ốm là mức thắng tốp của sự ham muốn, lòng dục vọng.

(Climats, tr.230)

“L’amour supporte mieux l’absence ou la mort que le doute ou la trahison”.

Nói vợ ái tình, thì thà chịu cảnh sanh ly, hoặc tử biệt, hơn là cảnh bán tín bán nghi và cảnh bị mọc sừng.

(Climats, tr.231)

(Dịch 20-9-1982, Climats là gì? Khó dịch cho thoát quá. Climat sát nghĩa là “khí hậu, phong thổ”, nhưng Climats, đây là André Maurois viết một bộ tiểu thuyết về xã hội trong gia đình, v.v… tôi muốn dịch là “ấm lạnh phòng the”, nhưng thấy chưa sát nghĩa và đi xa ý thâm của A.Maurois, thôi thì đành chịu và chờ người hay giải dạy thêm. (viết ngày 22-4-1993).

Bị gián đoạn một thời gian vì rối rắm trong gia đình, nay 26-4 mới viết tiếp. Còn nhiều câu triết lý hấp dẫn lắm, nhưng nhớ lại làm sao cho hết?

Âu đành gián đoạn, khi nào nhớ sẽ viết và viết không cần có trật tự vì viết cho mình và cho con và cháu trong nhà. Chừa H. Miller lại vế sau…

Cuốn sách và tôi. Ban đầu, năm 1984, tôi chọn tựa là “Tôi và cuốn sách”, năm ni 1993, thuần nết thêm, đặt khách đi trước cho được thêm nhã và viết như trên, “Cuốn sách và tôi”.

Đời tôi có hai cái mê, mê ham cuốn sách từ tuổi ngây thơ, lớn lên đôi chút, mê cổ ngoạn, và nay rõ lại mê sách ít có tai hại như mê đồ cổ.

Nội chữ “mê” cũng đủ lắm chuyện. Có nhiều phụ nữ nhà văn sợ chữ “mê” và không dùng đến. Nhưng tôi từng viết “Năm chục năm mê hát”, một cán bộ lên mặt thầy đời, khi Giải phóng vô đây, sau ngày 30-4-1975, y ta chê tôi viết “mê hát” là không được thanh, nhưng cùng một lúc ở Paris, có người thức giả vẫn khen “mê hát” là phải. Cho hay bá nhơn, bá tánh!

Tôi còn cất giữ quyển dạy chữ Pháp Méthode Boscq ba năm vào trường tỉnh Sóc Trăng học lớp khai tâm, năm 1908 gì gì đó Boscq là người Tây cù lao Cọt (Corse), vốn thọ giáo với Trương Vĩnh Ký nên biết và nói tiếng Nam rất rành.

Trong sách, Boscq lấy tỉ dụ vài câu, ngày nay tôi dịch không y ông dạy. Tỉ như Le père de Đá va à la pagode (Cha trò Đá đi chùa), tôi nay dịch: “Thầy ký Đức đi Dinh Cô” vì cha của Đá tên Đức, còn Dinh Cô là một chùa am ở Bà Rịa thuở đó. Còn như câu: Mr. Kính assiste à un match de boxe, tôi đã dịch ngay: “Bố vợ đi coi đánh nu-na” vì người dượng ghẻ của vợ tôi là ông Trần Văn Kính, mấy mươi năm về trước, nghề đánh bốc (boxe) là đánh nu-na chớ gì?

H. Miller nói nơi đoạn trên, viết hay mà dơ dáy lắm, nói tục không chừa. Tôi cảm và viết theo, vả lại một học giả nước Áo (Autriche) qua đây, chỉ lựa và mua ở chợ Trời toàn sách tục và bà đó dạy tôi “cái gì porno mới đúng thuộc Folklore, đích thị là tục-truyền của một địa phương, gọi Phong-tục-học cho nghe thanh, chớ cùng một thứ”.

——————————–

1“Cuốn sách và tôi” là một tác phẩm thuộc di cảo của cụ Vương Hồng Sển, chưa công bố. Có thể xem đây là phần 2 của “Thú chơi sách”. (bt).

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 4-3-1993)

Post by Sơn râu 5 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần 5

Trối Trăng, Tự Tình

Tôi đang bực tức và bất mãn, giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời, đành gõ máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp, lông lông đỡ tức.

Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa văn, thiến của tôi bộn bàng, người sửa văn, vốn có học với tôi vài niên, nay có bằng Hán học, và tuân lời ông ra vốn cho máy in chạy và có lịnh của bề trên, nên văn tôi bị thiến. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ, và nên nói lại, những gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ như khi chưng một lục bình dịp tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỷ thí, văn Pháp, người xuất bản nào đụng chạm đến bao giờ.

Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ, chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại, như giá vàng, ngày mua, người bán, nay lược bớt khiến cho hiện nay, có một cuốn của tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, vì khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ nhì (không phải tự tôi cho in) tuy trong ruột sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt nên sách bán không chạy…

Tỷ như câu “Kiệm cân chắc mót ích gì, thà làm công tử tù-ti sướng đời” và câu: “Má sai bán lúa Bãi Xàu, để anh xúc bớt cho vào túi em”… và như có chỗ, tôi viết “người Hồi khi uống rượu, không cho rượu đụng môi…” chỗ khác, tôi viết “vàng vòng có đổ đé để tránh móp méo”, v.v… hai chỗ ấy, sách in ra đọc “uống rượu không cho đụng môi như heo (như beo)” và “đổ đé”, sửa “đổ đá”, đều là sai ý tác giả, đến đây tôi xin chừa cho độc giả hiểu lấy.

Mảng thổi lông tìm vết thẹo của người, rồi toan che cái lỗi tày trời của mình. Hơn Nửa Đời Hư, trang 665, đã in sót hai câu nơi đầu trang, nay xin cải chánh và đọc lại:

“Ngồi nghe em hát, giọng du dương trưa sớm chẳng nhàm tai,

Lặng ngậm hoa cười, lòng mong ít ngày đêm không tắt lửa;

Văng vẳng lời em ước nguyện, chung gánh gồng cuộc sống mới bên nhau

Bàng hoàng giấc mộng trầm tư, đành chết điếng khúc quanh chiều rẽ lối.”

Nói được mấy lời như trên, bỗng thấy cơn giận đã nguôi, và tự xét, tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc…

Nay xin bắt qua một đề tài khác để đổi không khí. Việc tôi nói đây, vừa là thú chơi sách mà cũng vừa là thú chơi cổ ngoạn, và theo tôi, tưởng lại dư tiền và có dịp tốt, nên chơi sách ít tốn kém và ít nguy hiểm hơn, vả lại sách giấy cũng dễ giấu hơn, chớ chơi cổ ngoạn, không khác chơi dao hai lưỡi, đứt tay là nhẹ, đứt mạng, sạt nghiệp không hay…, như trong năm 92, việc còn ràng rạng nóng hổi, một bạn vong niên, có nhiều ngoạn hảo đính đáng, vừa say mê sưu tầm, vừa thỉnh thoảng làm nhà mãi-mại vật xưa, tôi đã từng khuyên nên chọn một nghệ và không nên ham bắt cá hai tay, bạn nhỏ ấy bỗng bị kẹt và mắc vòng li-tiết hơn bốn tháng trời, nay đã được về nhà, nhưng hay đâu vật sắm chơi đã bị tận thu và hiện đang xin xỏ lại, vân vân, cho hay đó là lời tôi dặn hờ thoạt đã linh ứng. Tôi vẫn tin nhiều về phúc họa, may rủi, có người sẽ cười tôi lắm tín dị đoan, nhưng rõ ràng vật cổ văn có hồn linh, mình đức bạc, e khó cảm vật quí, tức vật cao giá, ai ai cũng muốn, vân vân… đã là đức bạc, tỷ như có con đến tuổi quân dịch, thì ngày xưa tướng tá cầm trong tay sinh mạng, tha miễn dễ dàng, nhưng vật kia sẽ đổi chủ, còn như hiện nay, lịnh trên đã cấm mua sắm và xuất ngoại đồ cổ, mà mình bất chấp lịnh trên thì như đã thấy gương bạn vong niên kể trên đây, kết liễu ra làm sao chưa biết… và tôi xin khuyên vắn tắt, có một món đủ chơi là đủ và không nên có nhiều.

Có thật nhiều, cho hơn tất cả thiên hạ làng chơi đồ cổ, ấy là ý tham muốn của đại đa số người chập chũm mới bước vào nghề hay thú chơi cổ ngoạn, nhưng khi chán chê như tôi ngày nay, và gẫm lại triết lý và kinh nghiệm dạy khôn, nùi giẻ đỡ nóng tay, có một món cho thật độc đáo hoặc thật cổ hoặc thật mỹ thuật, là đủ để săm soi khi ngã lòng buồn chán, và rủi có việc, cũng dễ giấu dễ chôn vùi dưới đất sâu, người đi moi xét cũng không dễ gì bắt gặp, chớ như có bộn bàng và bày la liệt đầy nhà, ấy không khác mà nhơn lúc hở hang lộ liễu, hoặc không khác con lão-bạng, và lão-bạng đây là ý tôi muốn nói về một loại con hàu có chứa ngọc trai trong bụng, và tánh tôi ham nói tam-hoàng cuốc-chí, nay nhắc đến lão-bạng, lại thấy cần đính chánh một hiểu nghĩa sai lầm, miền Nam nầy cũng như ngày trước khi còn đi đó đi đây, tôi đã từng thấy “hoa lão-bạng mọc lênh khênh khắp trên hông núi Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam, và hoa đã từng bị dân chúng Trung-Nam khinh rẻ và đố kỵ, vì bấy lâu trong dân gian, “lão-bạng” mà đã hiểu lầm và đọc sai làm ra là hoa “lẻ bạn”, và xúm nhau dặn nhau không nên trồng trong sân nhà vì là triệu chứng vợ chồng sẽ chia li nhau, bạn không đủ đôi đủ cặp, v.v.. chớ kỳ trung, hãy nhìn kỹ hoa thì biết, hoa lá dưới tím đỏ tốt tươi và trên thì lá màu xanh biếc, và khi trổ bông thì rõ ràng bông trắng phau như hột ngọc mọc kẹt nách hoa và đúng hệt như câu Hán tự đã tả “lão-bạng sanh châu” hiểu nghĩa trắng là “ngọc trai trổ hoa”, còn hiểu ngầm theo nghĩa đen, là “lão già sanh con muộn”, hoa là lão già, còn “bông nở” kia là ngọc trai thi-vị-hóa.

Mảng ham nói sa đà suýt lạc đề, xin cho tôi nói luôn cho hả hơi, nghĩ cho trận Điên Biên Phủ thì rõ ràng có cần gì phải tầm sư học đạo, trường Saint-Cyr, trường Politechnique mà chạy bò càng trước tay ngang ông cựu sinh viên lẫy lừng trường Luật cũ ở Hà Nội và máy bay tối tân làm mồi cho lửa súng cà nông sập-kỷ-nính (thập kỷ niên), mới thật sướng cho! Chúng bay tám chục năm trước ỷ cầm súng bắn xa, thắng tầm-vông-vạt-nhọn, chúng bay cười chưa kịp đã, nay mếu máo khóc hận ước sức mạnh súng khạc lửa từ trên cao, bay ở dưới trũng lòng chão lãnh đủ và như đã nói, có cần gì phải đi học từ phương xa?

Viết đến đây, bỗng nhớ lại một sự việc cũ:

Lúc Khám Lớn Sài Gòn bị triệt hạ, để xây dựng thành Kho Sách đường Lý Tự Trọng đời ông Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng nơi miền Nam nầy, và lúc ấy tôi được làm thầy giảng, – heo vú thừa, nơi Đại học Văn khoa, tôi có thấy bỏ nằm chình ình nơi sân hoang và giữa đám cỏ dại, một viên đá to, giữa có khoét một lỗ trống khá lớn mà trước kia tôi đã từng thấy và biết chắc viên đá ấy, rõ ràng là “đá Khám Lớn” đặt nơi vách tường kiên cố của phòng chứa tội tử hình, và lúc ấy dưới sự ưng thuận của ông Viện trưởng trường Đại học, cụ Nguyễn Đăng Thục, (nay mạnh giỏi thế nào?), và tôi đã bê cục đá di tích ấy về và đặt nơi sân trong của musée – nơi tôi đã từng giữ chức quản thủ – tôi có đề nghị với bạn cũ là cụ quá cố Mai Thọ Truyền, kiêm chức Đặc trách văn hóa, nhưng đề nghị của tôi không được chấp nhận, và tôi cũng văng mất chức quản thủ kia, tuy vậy viên-đá-có-khoét-lỗ ấy vẫn cứ nằm yên nơi musée; nhưng cách mấy năm sau, khi tôi có dịp đến viếng viện bảo tàng nầy, thì tôi thấy mất dấu viên đá nọ, tôi có hỏi ông quản thủ đương thời, thì ông nầy vẫn cho tôi biết đá ấy không mất, tuy đã dời đi một nơi khác, và ngày nay, sẵn đang có phong trào làm sống lại “cảnh ngộ anh-hùng liệt-sĩ chống chế-độ đô hộ Pháp cũ”, sẵn dịp nầy, nay tôi xin nhắc lại về đề nghị năm xưa của tôi là: chớ chi nay hãy tìm lại viên đá cổ tích ấy và diễn cho có một vai tuồng mới, là lựa một chỗ xứng đáng, tỷ dụ nơi sân cỏ xanh góc đường Công Lý 1 đụng đường Lý Tự Trọng, và cho xây lại nơi vị trí ấy một góc cạnh Khám Lớn cũ, xây một vách tường dày và kiên cố độ hai hay ba lớp gạch thức cũ, không cần xây vách ấy chi cho cao, nhưng phải có bề thế để đủ chứa và đủ ghi khắc lại vai trò chứa nơi lỗ khoét của viên đá, xưa có chứa một cùm sắt rất to, và có kèm đủ năm hay ba cây vòng cùm to tướng xưa kia đã từng còng chưn, xích chưn những người làm chánh trị và đã bị Tây đô-hộ kêu án tử hình.

Có lẽ nên lựa một câu thật gọn nhưng thật đầy đủ ý nghĩa tỷ dụ như “Đây là di lịch thời Pháp thuộc, đây là gông cùm của Pháp, nhưng đã thay thế bằng Thư viện chứa sách truyền bá Tự do và Văn hóa” v.v….

Xin thưa, tôi chẳng qua là một kẻ sống thừa, xét thấy mình đã vô dụng, nhưng lời quê mộc mạc, tuy vậy vẫn một mực chí thành, dám nào xin kính cẩn dâng lên cho nhà chức trách thẩm xét. Thành tâm kính ước.

——————————–

1Nay đổi tên là đường Nam kỳ khởi nghĩa. (bt)

Hiện tượng Duyên Anh

baotreonline.com

Huỳnh Phan Anh

Trần Vũ

June 15th, 2024

Post by Sơn râu 4 Jul 2024

photos edit by Sơn râu

Chuyên Đề Duyên Anh

Kỳ 7

Duyên Anh – Tuổi trẻ, Mộng và Thực là khảo luận công phu của Huỳnh Phan Anh xuất bản giữa mùa hè đỏ lửa năm 72 khi cường độ chiến tranh lên đến mức ác liệt nhất. Cũng là lúc Duyên Anh thành công nhất. Nhiều tác phẩm của Duyên Anh quay thành phim Nhà Tôi, Trần Thị Diễm Châu, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang với các diễn viên La Thoại Tân, Hùng Cường, Băng Châu, Trần Quang… Duyên Anh còn trông coi tuần báo Tuổi Ngọc rồi sau này thêm Ngàn Thông. Duyên Anh có sách bán chạy vượt qua Mai Thảo, Lệ Hằng, kể cả tủ sách Trăng Mười Sáu của Nhã Ca. Một hiện tượng mà Huỳnh Phan Anh phân tích. [Trần vũ]

Huỳnh Phan Anh

Trường hợp Duyên Anh

Duyên Anh là một trường hợp. Đúng hơn ông là một hiện tượng trong số những hiện tượng văn nghệ nổi bật nhất trong khung cảnh văn nghệ tại đây trong vòng 10 năm nay. Người ta có thể chống Duyên Anh trên một vài khía cạnh hay trên toàn thể sự nghiệp văn chương của ông, nhưng người ta không thể không thừa nhận Duyên Anh là một hiện tượng vượt ngoài lề lối thông thường nhờ ở sự thành công cũng như ở thế đứng vững chắc của ông đối với người đọc. Có thể nói Duyên Anh đã thành công và giữ vững sự thành công của mình bền bỉ hơn bất luận một tác giả nào khác đương thời tính đến bây giờ nhờ ông đã biết, một cách nào đó, tự tạo cho mình thành một hiện tượng, một trường hợp đặc biệt. Hoặc chính sự thành công của Duyên Anh đã biến ông thành một hiện tượng của đám đông.

Duyên Anh là trường hợp cho thấy sự thành công, tiếng tăm hay thế giá của một nhà văn không chỉ giới hạn trong phạm vi văn nghệ. Trái lại chúng luôn tìm cách vượt ra ngoài khuôn khổ để vươn tới những không gian khác, những không gian của đời sống xã hội. Đối với số lượng độc giả đông đảo, nhất là giới trẻ, tác phẩm của Duyên Anh đã trở thành một thứ huyền thoại. Duyên Anh đã trở thành một tên gọi quen thuộc, một hình ảnh thân mật, tất cả gắn liền vào những khung cảnh, những giá trị, những lý tưởng, những giấc mơ hiền hòa dung dị của những linh hồn không tên tuổi. Tức là nói tới cái thế giới chan hòa mộng và thực trong đó con người luôn nhìn đời qua lăng kính của kỷ niệm và mộng tưởng …

Duyên Anh đã tạo cho mình một số độc giả quan trọng. Xét trên phương diện nào đó, người ta có thể không quan niệm được sự thành công có tính cách khác thường, vượt bực của ông, cũng như chính ông đã cho rằng ông may mắn. Nhưng sự kiện hiển nhiên là sự thành công đó đã nói lên tính cách phù hợp của tác phẩm ông đối với tâm hồn đầy ước vọng của người đọc. Và Duyên Anh chính là trường hợp điển hình của một nhà văn viết cho một loại người đọc, cho một đám đông mà ông có thể mường tượng được, tức là viết cho một đối tượng rõ ràng. Ở đây, nhà văn không còn, trong một phút ngông cuồng, bảo mình không cần viết cho ai hoặc không cần biết ai sẽ đọc mình. Hắn viết để được đọc, hay đúng hơn, hắn viết cho người đọc của hắn.

Hơn một người đã gọi Duyên Anh là nhà văn của tuổi trẻ, căn cứ vào số độc giả trẻ tuổi vẫn mua sách của ông, vẫn đọc ông. Lứa tuổi đọc và thích Duyên Anh, đó cũng là lứa tuổi Duyên Anh vẫn thường đề cập tới trong chính tác phẩm của ông. Dường như Duyên Anh có tham vọng viết về và cho lứa tuổi đó. Và ông đã thành công. Đối với một số đông độc giả, đọc Duyên Anh trở thành một nhu cầu. Duyên Anh trở thành một thứ thời trang văn nghệ. Một hiện tượng của đám đông. Đó là trường hợp của một số nhà văn có sách bán chạy nhất, trường hợp của những “bestseller”: trường hợp nổi bật nhất nói lên mối tương quan tất yếu giữa nhà văn và xã hội, nói lên vai trò và tác dụng của văn nghệ trên và trong đời sống xã hội. Văn nghệ không còn là sở hữu riêng tư của một thiểu số. Nó luôn tìm cách xâm nhập rộng rãi vào đời sống. Nó tìm đến đám đông. Nó ở lại với đám đông. Nó nhằm đáp lại những yêu cầu sâu xa hay gần gũi nhất của đám đông thể hiện qua những làn sóng độc giả ào ạt chạy theo một tác giả, một tác phẩm. Giữa văn nghệ và cuộc sống, không còn ngăn cách, chia lìa. Văn nghệ đã gia nhập vào cuộc sống. Và cuộc sống đã tìm thấy ở văn nghệ một tâm hồn bạn thân yêu, trìu mến. Ở đây, không còn vấn đề dấn thân hay không dấn thân. Nhà văn nào không dấn thân trong tác phẩm mình. Và tác phẩm nào không dấn thân trong xã hội. Ngay cả tác động viết đã bao hàm một thái độ, một sự chọn lựa. Viết tức là ném ra một lời kêu gọi tới tha nhân. Tức là, đã từ bỏ tháp ngà của mình, đã tham dự, đã nhập cuộc. Trong một tác phẩm, dù tiêu cực cách mấy, dù viễn mơ đến đâu, người đọc cũng có thể bắt gặp những bóng dáng, mờ ảo hay đậm đà, của một xã hội, một thời đại. Nhà văn có thể ném vào tác phẩm mình những hình ảnh hay những ưu tư của thời đại theo một cách thế riêng của hắn, tùy thuộc vào những rung động mà hắn bắt được.

Có thể văn nghệ không có bổn phận tối hậu phải thể hiện tất cả những gì làm nên thực tại xã hội. Nhưng tùy theo nhãn quan của mỗi người, ta có thể tìm thấy, qua tác phẩm, hình ảnh của một xã hội hay một thời đại đang thì thầm lên tiếng.

Trong ý nghĩa đó, hiện tượng văn nghệ, điển hình là hiện tượng “bestseller” trong văn nghệ bao giờ cũng thể hiện một hình ảnh đậm nét của chính xã hội đó. Nó nói lên một lối sống, một niềm tin hay một mối ưu tư đang trở thành một thứ mẫu số chung trong tâm hồn thời đại. Và cũng trong ý nghĩa đó, hiện tượng Duyên Anh, tiên quyết là một hiện tượng văn nghệ, cần được nhìn ngắm như một hiện tượng bắt đầu từ đó, nhờ đó người ta được phép nói tới một giòng sống rộng lớn hơn.

photos edit by Sơn râu

Văn nghệ như một huyền thoại

Duyên Anh không phải là một trường hợp duy nhất dù ở đây, hay một nơi nào khác. Người ta chỉ cần nhớ André Gide với Les Nourritures Terrestres, nhớ thế hệ các nhà văn hiện sinh với các tác phẩm thuộc loại “buồn nôn”, nhớ Françoise Sagan với những cơn thịnh nộ chống lại hình thức chủ nghĩa cùng những tập quán mỏi mệt… Đó là những hiện tượng văn nghệ của Pháp, những hiện tượng đã từng lôi cuốn một số đông đảo quần chúng ồ ạt chạy theo và cũng đã từng gây nhiều ảnh hưởng sâu đậm vào chính trật tự xã hội và phong tục thời đại. Tác phẩm của Gide đã từng là cơ hội bùng dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân tại Pháp vào những năm đầu thế kỷ này… từ việc thi nhau đọc sách các nhà văn hiện sinh con đường không mấy xa xôi gì cho lắm. Tại Việt Nam chúng ta cũng không thiếu gì những hiện tượng đã từng gây nhiều âm vang sôi nổi: hiện tượng Trịnh Công Sơn, hiện tượng Phạm Công Thiện v.v. mỗi hiện tượng làm bá chủ một thời để rồi sau đó lắng chìm trong lãng quên, trở về với vị trí khiêm nhường của nó, nhường chỗ cho một hiện tượng khác, hợp thời hơn, thích ứng hơn với những đòi hỏi của thời đại tự chúng cũng không ngừng đổi thay.

Có những tác giả chỉ để khám phá, xưng tụng vào một thời nào đó. Người ta đua nhau tìm đến những tác giả, những tác phẩm “riêng” của mình. Nhà văn trở thành linh hồn của thời đại. Hắn thể hiện những ưu tư, những xao xuyến, những hy vọng, những ảo tưởng… của thời đại hắn. Người đọc tìm đến hắn, điều này cũng có nghĩa là tìm hình ảnh của chính mình. Đọc đâu phải chỉ để thỏa mãn những nhu cầu thẩm mỹ. Đọc còn để đáp lại những đòi hỏi… Và văn nghệ đôi khi cũng không khác gì… Nếu có lúc người ta thi nhau mini-jupe thì cũng có lúc người ta tranh nhau đọc Sartre, Sagan… tranh nhau đuổi bắt những hiện tượng lộng lẫy hào quang đó, không ngần ngại biến họ thành những huyền thoại để chiêm ngưỡng. Trong trường hợp này vấn đề không còn là tìm hiểu xem họ có xứng đáng đón nhận vinh dự đó xét trên bình diện giá trị, cho dù là giá trị thuần túy văn nghệ. Có những sự thành công không thể (chỉ) giải thích bằng những quy luật hay những phạm trù thuần túy. Có những sự thành công làm át cả những tiếng nói phê bình chân chính nhất. Bởi văn nghệ đã rời bỏ tháp ngà chật hẹp của nó. Văn nghệ đã xuống đường, tan biến vào đám đông, gia nhập vào đời sống thường nhật. Văn nghệ bắt tay mật thiết với nền văn hóa mệnh danh là ồ ạt và mãnh liệt chưa từng có. Văn hóa đại chúng như tên gọi của nó, là nền văn hóa có đối tượng là đại chúng, nền văn hóa của thời đại trao đổi và tiêu thụ, nền văn hóa của con người trung bình với những ước muốn đơn sơ và gần gũi nhất của hắn. Đó là nền văn hóa của đời sống thường nhật, với những khuynh hướng, những nhu cầu quen thuộc: Tình yêu, hạnh phúc, phiêu lưu, nhục dục, mơ mộng v.v.

Hiện tượng những nhà văn có “sách bán chạy nhất” (bestseller), dù có đáng nghi ngờ về giá trị nội tại của nó bao nhiêu đi chăng nữa đã là một chỉ dấu cho thấy văn nghệ ngày một hướng về đám đông, trở thành sản phẩm của đám đông. Ở đây nhà văn không thể nói như một tác giả đã từng nói: “Tôi viết để tìm hiểu tại sao tôi viết” hoặc “Tôi viết cho một độc giả hãy còn vô danh”. Nhà văn không còn chút thắc mắc hay nghi ngờ về công việc của mình. Hắn viết như đang đứng trước một đám đông. Hắn biết đám đông ấy mong đợi gì ở hắn. Hắn đồng thời cũng thừa biết hắn sẽ mang đến cho đám đông những gì.

Photo edit by Sơn râu

Văn nghệ có thời đáp ứng đúng nhu cầu “tiêu thụ” của người đọc. Ở đây tôi muốn nhắc tới trường hợp của một tác giả thời trang xuất hiện vào những ngày gần đây và vẫn còn đang tiếp tục lôi cuốn. Đó là trường hợp của Erich Segal, nhà văn Hoa Kỳ với tác phẩm Love Story. Cuốn sách mỏng manh vừa ra đời tức thì đã đứng vào hàng đầu trong số sách bán chạy nhất. Riêng tại Hoa Kỳ, hàng chục triệu quyển đã được bán đi. Tại Pháp và đây là điều lạ, bản dịch cuốn Love Story là sách bán chạy nhất trong suốt nhiều tuần lễ. Cuốn sách được quay thành phim. Cuốn phim cũng đã gặt hái thành công phi thường, có thể nói năm 1970 là năm của Love Story, năm của hiện tượng Erich Segal. Sự thành công quá đáng của một cuốn sách đã không khỏi gây kinh ngạc cho một số nhà phê bình cũng như một số độc giả khó tính. Có gì đâu. Đó chẳng qua chỉ là một câu “chuyện tình” với một chút lãng mạn, một chút lý tưởng, một chút bi thảm… mà có thể nói bất luận một tác giả nào ở vào thời đại nào và ở đâu cũng có thể viết được. Một câu “chuyện tình” tầm thường kể lại bằng một giọng văn cũng tầm thường không kém. Tóm lại, đó là một quyển sách tầm thường nếu không muốn gọi là ấu trĩ, một cuốn sách mỏng manh về đủ mọi phương diện. Đem sánh với Le Grand Meaulnes của Alain Fournier, với Le Diable Au Corps của Raymond Radiguet, và xa hơn, với Adolphe của Benjamin Constant là những tác phẩm cùng loại, Love Story hầu như chỉ là những tiếng nói bập bẹ, không đáng kể. Ngay tại Việt Nam, tủ sách văn nghệ tiền chiến của ta cũng không thiếu gì những tác phẩm lãng mạn, trữ tình, đủ sức làm lu mờ Love Story về nội dung cũng như về hình thức phô diễn.

Một nhà phê bình có lẽ sẽ thất vọng khi làm công việc thẩm định giá trị nội tại của Love Story trên bình diện văn chương và nếu chỉ đứng trên bình diện thuần túy văn chương hay tư tưởng người ta sẽ khó lòng giải thích sự thành công của cuốn sách. Muốn tìm hiểu, giải thích hiện tượng Love Story, có lẽ người ta phải vượt ra ngoài phạm vi văn nghệ và ngắm nhìn nó dưới những lăng kính khác: tâm lý học, xã hội học  v.v.   đặt nó vào khung cảnh và tình cảm sống thực của con người thời đại.

Trong viễn tượng này, sự thành công của Love Story sẽ không còn gì khó hiểu hay đáng kinh ngạc. Mọi người đều biết rằng xã hội Âu Mỹ đang trải qua những cuộc khủng hoảng trầm trọng không ngừng phá phách, lay ngã những thành trì giá trị đã trở nên lỗi thời, lạc hậu. Nào hiện sinh, nào beatnik (beat generation), nào hippy, bao nhiêu phong trào đã ào ạt nổi dậy, lôi cuốn từng làn sóng thanh niên đang thất vọng và bất mãn, kêu gọi họ làm một cuộc cách mạng. Có thể nói rằng chưa bao giờ hai tiếng cách-mạng lại thịnh hành hơn trong những năm tháng gần đây, thịnh hành hơn hết là tại những xã hội dư ăn, dư mặc, nơi con người có quá nhiều tiền không biết tiêu vào đâu, có quá nhiều thì giờ không biết để làm gì. Người ta hô hào cách mạng, giải phóng. Kêu đòi tự do. Thứ tự do mới mẻ nhất có lẽ là tự do tình dục, cho phép con người ngang nhiên quay lưng trước mọi ràng buộc, mọi thôi thúc của truyền thống và tập tục.

Chính trong bầu không khí ngột ngạt của phá phách và bạo động, của hỗn loạn và tan vỡ, cuốn Love Story như một luồng gió mát thổi qua những tâm hồn đã sớm cằn cỗi, chai lì, làm sống lại những tình cảm thơ mộng chừng đã bị đốt cháy tan hoang. Người ta tiếp nhận lấy nó, đọc nó, rung động với nó, sống với nó: một dịp để ru hồn mình trong một giấc mơ đẹp lành, thanh cao, lãng quên thực tại đầy khói bụi cay xè đang vây phủ bốn bề. Tức là, một cách nào đó, chống lại chính cái thực tế phũ phàng đó, dù chỉ chống lại bằng ý thức ma thuật, bằng ngụy tín. Phải chăng Erich Segal đã thành công vì đã dám nói lên một niềm hy vọng giữa lúc mọi người hầu như đã đánh mất hy vọng, vì đã dám mơ mộng giữa một thời đại trắng trợn, thô bạo. Chỉ có vậy. Quyển sách của Segal được tiếp đón nồng nhiệt, sự kiện này có lẽ đã không nói với ta điều gì khác hơn là tâm trạng của con người thời đại, muốn xoay chiều, muốn đổi hướng, muốn quay về với những khát khao và mộng tưởng êm đềm, trong sáng liên quan tới tình yêu, hạnh phúc… Đó cũng là những khát khao và mộng tưởng muôn đời của con người thường nhật, con người trung bình, con người mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu: trong đám đông, ngoài đường phố… Kỳ lạ, càng sống trong thực tế phũ phàng, thô bạo, con người càng thấy cần có những phút giây để mơ mộng, để than vãn, để rên rỉ… Bởi vậy, sách báo phụ nữ với những chuyện tình lẩm cẩm đã và tiếp tục còn là món ăn tinh thần bền bỉ của đám đông ở bất luận một xã hội nào. Những vở tuồng cải lương, những cuốn phim tình cảm vẫn tiếp tục thu hút một số khán giả đông đảo vẫn thích thả hồn vào cái thế giới làm nên, họ thừa biết, trừ những hình ảnh giả tạo, cái thế giới không hề có thật. Người ta kể rằng mới đây, cuốn phim Mourir d’Aimer (Chết vì yêu) của đạo diễn André Cayatte đã làm cho nước Pháp rơi lệ. Khán giả đã bước ra khỏi khán phòng tối với đôi mắt đỏ hoe, với mù-xoa ướt đẫm. Người ta xúc động vì câu chuyện tình ngang trái giữa bà giáo trung học Gabrielle Russier và cậu học trò đệ tam Christian, câu chuyện tình đã kết thúc bằng cái chết của người đàn bà dưới cái nhìn lạnh nhạt của những ông quan đạo mạo đại diện cho những thành trì của truyền thống và đạo lý xã hội.

Hay thật ra người ta xúc động vì cần phải xúc động, một cách nào đó, để phỉnh gạt chính mình, để thấy tâm hồn mình yên ổn hơn sau đó: tình yêu vẫn còn, tình yêu chưa chết hẳn trong thời đại nhiễu nhương, tao loạn này. Vâng, con người thời đại vẫn cần mơ mộng và ảo tưởng để sống và để thấy đời còn đáng sống. Thế kỷ này không chỉ có chiến tranh Việt Nam, không chỉ có những cuộc tàn sát ở Biafra, không chỉ có kỳ thị chủng tộc tại Mỹ, không chỉ có bạo động và phá phách, không chỉ có mệt mỏi và tuyệt vọng… Còn cái gì khác hơn tất cả những thứ đó. Phải có cái gì khác hơn tất cả những thứ đó. Nếu không, phải tạo cho bằng được, nếu cần bằng hư tín và ảo tưởng. Tại sao không, khi người ta muốn sống và muốn nhìn về tương lai với một màu hồng yêu dấu. Tôi biết tại sao cuốn chuyện tầm thường kia của Segal đã được “tiêu thụ” như một “món hàng” của thời đại. Người ta biết tại sao những tâm hồn yếu đuối vẫn thích sụt sùi trên trang báo phụ nữ. (còn tiếp)

HPA (Sàigòn, 1972)

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương II. Vì số trang giới hạn, bản in trên tuần san Trẻ là bản cắt ngắn.

Cánh cửa thứ nhất

baotreonline.com

Huỳnh Phan Anh

Trần Vũ

June 8th, 2024

Post by Sơn râu 4 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần 6

Hồi tưởng và mơ tưởng về tuổi nhỏ, về thời thơ ấu xa xôi luôn bàng bạc trên hầu hết các trang sách của tập truyện đầu tay này. Tuổi nhỏ trở thành mối ám ảnh thường xuyên của tác giả. Tác giả không ngớt trở về với nó dù cho tác giả có chủ tâm nói về nó hay không. Có thể nói rằng nhân vật truyện của Duyên Anh luôn sống trong ám ảnh của thời tuổi nhỏ. Nghĩa là sống cùng một lúc trong hai thế giới, thế giới hiện thực và thế giới phi thực. Chính cái thế giới phi thực này làm nên từ kỷ niệm và mộng tưởng lại là nền tảng của thế giới hiện thực mà họ đang sống. Người con trai si tình trong truyện biên giới thừa biết “cuộc sống thật khác với mộng tưởng” nhưng hắn vẫn nhóm lên trong tâm tưởng của mình từng giấc mơ nho nhỏ để tâm hồn được chắp cánh bay cao cho tới khi bàng hoàng chạm mặt cùng thực tế.

Một người con trai si tình khác, Vũ trong Chiếc Vòng Tay Của Một Người, đã yêu và đồng thời không ngớt sống trong những mộng ước ngây thơ và ấu trĩ của mình. Chàng “thả hồn trong chuyện cổ tích, ước mong được khóc như trẻ thơ”. Chàng “ước mình như Aladin mài cây đèn thần”. Chàng mơ mộng, không ngớt mơ mộng. Tình yêu chẳng qua cũng chỉ là cái cớ để con người được mơ mộng, một cách nào đó, được gặp lại chính tâm hồn chân thật của mình, tâm hồn chất ngất những ảnh tượng của tuổi thơ. Tình yêu đó nhất thiết phải thất bại. Những mẩu chuyện tình được kể lại trong tập truyện Hoa Thiên Lý đã gặp nhau trong sự thất bại, trong cùng một thất bại. Sự thất bại có tính cách nhẹ nhàng, êm đềm làm sao. Nó không bao giờ đạt tới một mức độ bi thảm dù nhiều hay ít. Không có tình yêu khốn khổ. Chỉ có thứ tình yêu dệt bằng mơ mộng. Tình yêu lớn lên theo mơ mộng rồi cũng tàn phai theo mơ mộng. Người ta đón nhận sự thất bại của tình yêu với một niềm rung động bàng hoàng nào đó như vừa mới trải qua một giấc mơ đẹp. Nhưng cuộc đời không vì thế mà tối tăm hơn. Người ta không chỉ yêu có một lần. Cũng như người ta không chỉ có một lần sống trong mơ. Đó là tâm trạng của người con trai si tình trong Chiếc Vòng Tay Của Một Người sau lần thất vọng vì tình yêu:

“Chiếc vòng Vũ vẫn còn giữ. Khi đi tìm Thùy, Vũ bỏ quên trên túi ngực. Vũ đi trọn mùa mưa. Đường xưa heo hút. Không một khuôn mặt giống Thùy. Có thể Thùy chưa xứng đáng nhận chiếc vòng sắt tàu bay mộng bằng hồn, ướp bằng chuyện cổ tích của Vũ. Thùy như các cô gái tầm thường khác chưa học cách nhìn vào chiều sâu tâm hồn kẻ thương yêu mình tha thiết. Chiếc vòng kỷ niệm, Vũ cất kỹ. Vũ sẽ tặng một người nào đó khi cuộc sống hết dè sẻn tình yêu.”

Thật là đơn sơ. Thật là giản dị.

Người con gái trong Nỗi Buồn Tuổi Trẻ đã yêu bằng một tình yêu nhiều say đắm nhưng cũng lắm mơ mộng, đã gặp trở ngại và đã khi tìm thấy cho mình một giải pháp trong một thái độ thụ động, buông xuôi:

“Dần dần nỗi buồn dịu nhẹ. Tôi thường khóc ban đêm. Ngày tháng trôi đều. Vũ biệt tăm đã… được hai năm. Tôi lớn rồi, muốn chờ Vũ, nhưng Vũ không hứa hẹn gì cả. Tôi mặc cuộc đời chèo lái.”

Để mặc cuộc đời chèo lái, nàng bằng lòng làm vợ một kẻ “dốt nát”, “vũ phu” mà nàng khinh miệt, ghê tởm, để rồi thỉnh thoảng nhớ về thời mơ mộng cũ với niềm bâng khuâng tiếc rẻ:

“Tại sao chúng tôi không là hoa bướm mãi mãi?”

–oOo–

Tình yêu dưới ngòi bút của Duyên Anh không tách rời khỏi mơ mộng. Tôi muốn đi xa hơn trong nhận định này, cho rằng với nhân vật Duyên Anh tình yêu xuất hiện như một cơ hội để được mơ mộng, để được nhìn lại, nhớ lại, sống lại tuổi thơ của mình. Tình yêu xuất hiện như một sự chối từ chính tình yêu – tình yêu trong ý nghĩa trọn vẹn nhất của danh từ. Tình yêu ở đây – trong tập truyện đầu tay của Duyên Anh – gần như không vướng bận đam mê nhục cảm hay ý hướng chiếm đoạt. Nó biết dừng lại ở một giới hạn nào đó để còn giữ được cái vẻ trong trắng, êm đềm của nó. Có thể gọi đó là mẫu mực của tình yêu ở trạng thái chiêm ngưỡng.

Nhân vật Duyên Anh khám phá hay tìm đến với tình yêu không như một cuộc đoạn lìa, dứt khoát với chính tâm hồn tuổi nhỏ của mình mà như một cách nối dài, kế tục. Bởi họ luôn nhớ rằng họ có một thời thơ ấu và thời đó không ngừng lên tiếng trong họ.

Trong tình yêu cũng như trên những bước đường phiêu bạt theo sự xô đẩy của dòng đời, nhân vật truyện Duyên Anh đã không ngớt trở về với thời thơ ấu xa xôi như một mối ám ảnh bất diệt, như một căn bệnh nan y của tâm hồn. Phải chăng họ đã yêu bằng chính tuổi thơ mơ mộng của họ. Phải chăng họ vẫn nhìn cuộc đời qua chính tuổi thơ mơ mộng của họ.

Nhân vật Duyên Anh?

Họ là ai?

Có phải họ là một người bạn, một đứa con, một bà mẹ, một người chị, một người thầy hay một đứa em, tất cả xuất hiện đó đây trong các truyện ngắn của tập Hoa Thiên Lý và người đọc có thể nhận diện, gọi tên từng người một?

Không. Nhân vật của Duyên Anh chính là cái bóng mờ ảo ẩn hiện trong từng nhân vật đã kể. Nhân vật đó là tuổi thơ, linh hồn của mọi nhân vật, lý do tồn tại của mọi nhân vật.

Google photos edit by Sơn râu

–oOo–

Dường như giữa nhân vật truyện và người viết truyện luôn giãn ra một khoảng cách tối thiểu. Ở Duyên Anh, khoảng cách đó không còn nữa khi quá khứ và kỷ niệm bắt đầu lên tiếng, khi nhân vật truyện chỉ còn là cơ hội để tuổi thơ được xuất hiện, ngỏ lời, nghĩa là khi tác giả gọi tới nhân vật thật của mình, thì  dành cho nó một vị trí độc tôn, bá chủ trong thế giới truyện của mình.

Trong những truyện ngắn viết ở ngôi thứ nhất, hơn bao giờ hết, ngòi bút của Duyên Anh trở nên thân mật, sống động. Điều dễ hiểu ở đây không còn khoảng cách dù để được bôi xóa, san bằng. Quá khứ và kỷ niệm lên tiếng không phải qua một nhân vật truyện cách biệt với tác giả, mà qua nhân vật truyện ở ngay trong tác giả, kẻ xưng “tôi”. Kẻ xưng “tôi”, tác giả truyện, nhân vật truyện, tất cả đều nhập làm một với chính tuổi thơ đang lên tiếng. Đó là trường hợp của Hoa Thiên Lý. Đó là trường hợp của Con Sáo Của Em Tôi và Em là hai truyện ngắn viết ở ngôi thứ nhất, trong đó, sau Hoa Thiên Lý, tác giả tiếp tục khám phá thời tuổi nhỏ của chính mình.

Theo hồi ký nhan đề Làm Báo của ông, nếu kể một cách tuần tự thì Hoa Thiên Lý, Con Sáo Của Em Tôi và Em là 3 truyện ngắn đầu tiên của Duyên Anh. Không biết vô tình hay cố ý mà cả ba sáng tác đều gần gũi, trùng hợp nhau về đề tài cũng như về hình thức diễn đạt. Vẫn là vũ trụ của trí nhớ và mộng tưởng. Vẫn là bầu trời mờ ảo của tuổi thơ.

Tất cả vẫn được nhìn ngắm, chiếu rọi từ một lăng kính tâm hồn, một viễn tượng tình cảm đã trở nên quen thuộc. Vẫn lời kể đó, vẫn giọng kể đó, vẫn chủ thể của lời nói đang dựng lại từng viên gạch của lâu đài quá khứ, đang làm sống lại cái “tôi” của mình, đang làm sống lại một vũ trụ bắt đầu từ cái “tôi” đó.

Qua tập truyện đầu tay, Duyên Anh đã xác nhận chính mình như một người kể chuyện. Những sáng tác ông viết nên nhất thiết là những câu chuyện kể. Hơn thế nữa, những câu chuyện kể đó cốt yếu lại là những thiên tự thuật, trong đó người kể không ngừng tra hỏi, chuyện trò với quá khứ và kỷ niệm của mình. Mỗi thiên tự thuật bắt đầu từ một nhân vật, một giai đoạn hay một biến cố nào đó nổi bật trong suốt quãng đời thơ ấu của tác giả. Với Duyên Anh, cách bắt đầu câu chuyện kể gần như dễ dàng quá, tự nhiên quá, không cần phải qua một tìm kiếm hay lựa chọn đắn đo… Đây là câu mở đầu của Hoa Thiên Lý:

“Mẹ tôi yêu Hoa Thiên Lý như yêu chồng con.”

Con Sáo Của Em Tôi:

“Sau khi cha tôi mất, gia đình càng ngày càng túng bấn, một mình mẹ tôi không đủ sức nuôi nấng hai đứa con mồ côi bố nơi thành thị nên mẹ đưa anh em tôi trở về làng cũ.”

Em:

“Em tôi bây giờ ở Hà Nội. Từ ngày vào Nam đến nay thấm thoát đã được ba năm.”

Cách vào truyện bình thường và lặng lẽ thể hiện qua một giọng kể tự nhiên, thân mật, gần gũi. Đó là đặc điểm của Duyên Anh. Nhưng chính từ những câu rất mực thô sơ đó, tác giả lần lượt dẫn người đọc vào cái thế giới tuổi thơ đầy phức tạp; trên nguyên tắc, đó là thế giới tuổi thơ của chính tác giả, kẻ xưng “tôi”.

Google photos edit by Sơn râu

Dưới ngòi bút của Duyên Anh, trong dòng hồi tưởng của Duyên Anh, tuổi thơ xuất hiện mỗi lần trong một bộ điệu, một cách thế, một góc cạnh, bởi tác giả gọi nó từ nhiều phía, nhìn nó từ nhiều cảnh huống. Viết tức là kêu gọi đến tuổi thơ. Viết cũng là dựng lại tuổi thơ. Viết cũng là sáng tạo lại tuổi thơ, một việc làm không hoàn tất được bao giờ. Không ai nói hết tuổi thơ mình, có lẽ vì trí nhớ con người về tuổi thơ luôn luôn còn những khoảng trống để lại, dành cho những lần khác. Vì trí nhớ con người không chỉ có một lối mòn duy nhất để tìm lại tuổi thơ. Vì chính tuổi thơ tự nó cũng không đứng yên ở một chỗ, với một dáng điệu im lìm muôn thuở.

Con Sáo Của Em Tôi kể lại một đoạn đời khốn khó của tác giả khi còn ở lứa tuổi 12, 13, bên mẹ và em, chịu đựng đủ mọi hình thức tủi nhục do những người thân bên nội cũng như bên ngoại gây nên.

“Tôi cất tiếng khóc ban đầu nơi ấy, túp lều, xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu, cạnh những con người hà tiện tình thương mến…”

Đứa bé lớn lên, theo tủi nhục mà lớn lên, với tâm hồn chất nặng những hình ảnh đọa đày của người cha, những hình ảnh nhẫn nhục đau thương của người mẹ, những hình ảnh tối tăm hắc ám của những người thân thích của hai họ, và nhất là hình ảnh thẫm nét về chính mình đã từng ra đời giữa “một đêm mù mịt bên khóm chuối tiêu”. Nhưng những hình ảnh đắng cay, khốn nạn mà tác giả sớm làm quen, đã chỉ làm nổi bật hình ảnh dịu dàng của người mẹ, người mẹ đồng thời là vị giáo sư mớm vào tâm hồn tác giả những bài học vỡ lòng về tình thương và sự chịu đựng.

“Tôi không hiểu tại sao mẹ tôi chịu nhục nhã, nương náu dưới túp nhà lá bỏ hoang vườn sau, trước đây ông bà ngoại dành riêng cho bọn thợ gặt mỗi vụ mùa. Mẹ tôi chỉ nghĩ đến anh em tôi. Trời ơi, tôi muốn khóc quá.”

Người đọc gặp lại hình ảnh của người mẹ trong Hoa Thiên Lý, vẫn là tâm hồn bao dung đầy thương mến đó lần này xuất hiện với một sắc diện khác, khốn khổ hơn, đày ải hơn.

“Tôi không thể tưởng tượng được nỗi tê tái nghiền nát cõi lòng mẹ tôi khi bà ngoại gọi mẹ là “đồ đĩ”, bác tôi bảo mẹ “con lăng loàn” và mợ tôi nói bâng quơ “cóc chết ba năm quay đầu về núi”. Tôi thấy mẹ tôi cúi đầu lẳng lặng, nước mắt nhỏ giọt trên mái tóc anh em tôi, thì tôi đoán rằng mẹ buồn.” Một câu chuyện nhiều nước mắt. Hẳn người mẹ đã khá nhiều trong giòng hồi tưởng của tác giả. Và chính tác giả có lẽ cũng đã khóc nhiều trong giòng hồi tưởng của mình. “Trời ơi, tôi muốn khóc quá”. Lời thú thật không phải của nhà văn Duyên Anh khi viết nên câu chuyện, mà của cậu bé Duyên Anh khi nhìn lại, sống lại đoạn đời thơ ấu tối tăm của mình. Nghĩa là tác giả khi viết lên câu chuyện, đã không chỉ vận dụng tới trí nhớ hay khả năng diễn tả.

Google photos edit by Sơn râu

Tác giả còn phải vận dụng tới cảm xúc. Vận dụng cảm xúc và đồng thời tự vận dụng chính mình để sống trọn với những cảm xúc tìm lại được. Hơn thế nữa người viết tự bôi xóa chính mình để chỉ còn lại những xúc động trung thực và trọn vẹn. Vậy thì chính tuổi thơ (trí nhớ về tuổi thơ, về thời đã mất) đã làm sống dậy cảm xúc hay chính cảm xúc con người đã làm sống lại tuổi thơ?

Duyên Anh đã viết nên những câu chuyện tự thuật của mình bằng cảm xúc. Ông đã mơ tưởng, mộng tưởng, hồi tưởng qua giòng cảm xúc chân thật của mình. Nghĩa là ông đã dựng nên cái thế giới của ông bắt đầu từ cảm xúc. Tức là bắt đầu từ chính lòng thương mến, quyến luyến thế giới đó, thế giới ông đã từng tham dự, thế giới tuổi thơ. Đó là điều người đọc có thể tìm thấy qua giọng kể của tác giả. Đó cũng là điều tác giả muốn nói tới trong những câu chuyện kể của mình. Thật vậy, Con Sáo Của Em Tôi và Em đã gặp nhau trong cùng một tình cảm say đắm, thiết tha của con người đối với tuổi thơ, lứa tuổi người ta đã từng hay đang sống qua, hoặc đã đánh mất. Nhân vật xưng “tôi” trong Con Sáo Của Em Tôi đã quyết định thực hiện một cử chỉ phi thường, vượt bực đối với chính mình, giết con sáo thân yêu để mang lại một niềm vui bé nhỏ cho tuổi thơ của đứa em gái. Ta hãy theo dõi những biến chuyển trong nội giới của hắn trước khi đi tới quyết định ghê gớm của mình.

“Lúc này đứng nhìn thiên hạ đón Xuân, tôi nghĩ đến em gái tôi, nghĩ đến miếng thịt gà, thịt lợn hay thịt chim khi em tôi tỉnh dậy. Anh em tôi chỉ có mỗi con sáo. Con sáo nuôi bao nhiêu ngày mới biết nói? Chẳng lẽ tôi giết nó? Chẳng lẽ em tôi ăn muối ngày đầu năm? Năm nay em tôi 10 tuổi, 10 mùa Xuân bay vụt qua, 10 mùa Xuân tẻ nhạt, buồn thảm chắp nối thành thời thơ ấu của em tôi. Mùa Xuân trôi theo kỷ niệm, có khi nào níu lại được? Tôi không muốn em tôi lớn lên phải nghẹn ngào nhắc tới một trang chua chát, xiên lệch trong cuộc đời. Vậy thì tôi sẽ giết con sáo.”

Tôi cho rằng cuộc chiến trên đây là một trong những trang sách điển hình nhất của Duyên Anh, đồng thời là một trong những trang sách đẹp nhất của tác giả.

Trong Em tác giả cho người đọc thấy những tình cảm cay đắng, xót xa của mình trước hình ảnh đứa em bị tước đoạt tuổi thơ ngay trong tuổi thơ của nó. Một câu chuyện buồn. Liệu người ta có thể đánh mất rồi sau đó tìm lại chính tuổi thơ của mình? Liệu người ta có thể sửa đổi được gì đối với một tâm hồn đã đánh mất hay đã hủy hoại tuổi thơ.

“Em rời tôi, băng mình chạy. Hình ảnh em chợt xóa nhòa trong óc tôi. Tôi tiếc quá gục đầu lên đôi tay, khóc như lần đầu tiên khóc một chuyện tình nhớ tên tuổi.”

Trong truyện trước, người anh đã giết con sáo để đem lại mùa Xuân cho tuổi thơ của đứa em. Ở đây, có lẽ người ta không làm gì được. Có thể tất cả đều vô ích, kể cả những giọt nước mắt tiếc thương chỉ còn có giá trị của một hoài niệm.

–oOo–

Cánh cửa thứ nhất của sự nghiệp Duyên Anh đã hé mở cho người đọc một thế giới mai đây ông sẽ không ngớt trở về. Thế giới đó chan hòa mộng và thực, đời sống và hoài niệm về đời sống, hồi tưởng và mơ tưởng, nụ cười và nước mắt. Thế giới đó gần gũi và thân mật, không vượt qua tầm với của con người. Thế giới đó mời gọi được ngắm nhìn nhưng không dàn ra một khoảng cách, nó mời gọi tham dự vào nó, sống lấy nó. Điều đáng nói là Duyên Anh đã dựng lên thế giới truyện của mình bằng tất cả những rung động chân thật của mình, chân thật đến thơ ngây. Do đó theo tôi nghĩ, người đọc chỉ có thể đọc Duyên Anh cũng như chính Duyên Anh đã viết: bằng rung động của tâm hồn hơn là bằng trí tuệ hay ý thức sáng suốt. Dĩ nhiên người đọc được quyền chấp nhận hay không chấp nhận một nhà văn hay một tác phẩm. Dường như với Duyên Anh, người ta lại càng phải đặt ra sự lựa chọn đó, sự lựa chọn ngay từ cuốn sách đầu tiên của ông, và có thể nói ngay từ những dòng chữ đầu tiên: hoặc người ta đọc tiếp, hoặc người ta bỏ cuộc. Tại sao? Tại vì chính tác giả cũng đã thật sự chọn lựa ngay từ cuốn sách đầu tiên, ngay từ những dòng chữ đầu tiên của mình: ông chọn lựa viết cái gì, viết ra sao: ông chọn chính tác phẩm của mình. Tôi vẫn nghĩ những dòng chữ đầu tiên của một cuốn sách, của một tác phẩm đã quy định, thiết định cho nhà văn một định mệnh khốc liệt. Bởi hắn đã bắt đầu, hắn chỉ còn cách tiếp tục. Bởi hắn đã viết, hắn đã chọn lựa cho hắn một định mệnh. Bởi hắn đã chọn tác phẩm của chính mình, điều này cũng có nghĩa là hắn đã chọn lựa những người sẽ đọc hắn.

Thế giới gần gũi và thân mật của Duyên Anh với những nhân vật điển hình, một người cha hay một người mẹ, một người bạn hay một đứa em, một người yêu hay một người thầy dạy học… Cái thế giới đó luôn luôn được chiếu rọi từ một tâm hồn mang nặng quá khứ và tuổi thơ. Nó luôn được biến đổi bằng hoài niệm và mơ tưởng. Một nhân vật của Duyên Anh đã nói: “Từ đấy tôi sống bằng kỷ niệm”. Một câu nói điển hình. Một nhân vật điển hình. Có thể nói rằng tác phẩm Duyên Anh bàng bạc hơi thở kỷ niệm. Có thể nói rằng với Duyên Anh, viết tức là một cách nào đó tìm lại thời đã mất. Tìm lại thời đã mất, điều này cũng có nghĩa là tìm lại ngôn ngữ của thời đã mất./.

HPA (Sàigòn, 1972)

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương III.