Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 5-5-1993)

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 7

Cuốn Sách Và Tôi

Hôm trước tôi viết chưa đầy trang, bỗng bị gián đoạn, hôm nay 5-5-1993, tôi viết tiếp, và câu chuyện đã bị đứt khúc đầu Ngô mình Sở, âu cũng là số phận:

Trong cuốn Thú chơi sách, viết năm 1960, vì bài thơ Tôn Phu nhơn qui Thục tôi đã bị chế giễu và làm trò cười trong giới vọc vạch tập làm tám câu theo lối thơ Đường, hai bạn Thuần Phong Ngô Văn Phát và bạn thân Tế Nhị Lê Văn Chính, nay đã lui về chầu Diêm chúa, năm ni 1993, tôi vẫn chưa tởn, và xin trở lại bài Tôn Phu nhơn nầy nữa, và gẫm lại, viết về chánh trị thì nguy hiểm, chi bằng tìm dấu người xưa giữa hai ông Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường là tốt hơn. Trước tiên, xin thưa, tôi viết là tùy hứng, nhớ đâu viết đó và nếu có “hàm-bà-lằng loạn-xạ” thì cũng đành chịu, và xin độc giả tha thứ cho tuổi già.

Tôi nhớ lại anh Thuần Phong, tuổi chưa già lắm nhưng tại sao anh chọn chết đến ba lần, chết vì bịnh, rồi hỏa táng chết bị lửa đốt, rồi nghe đâu tro cốt anh yêu cầu được chôn vùi trong lòng Đồng Nai nước lạnh… và ngày tôi đến điếu tang trễ, lại thấy thờ anh với cây viết máy Sheeffers đắt giá, không biết có còn y chỗ cũ hay chăng? Trong khi ấy, anh Tế Nhị, khi lìa trần, lại xin quan tài màu trắng giữ lòng trinh bạch, khi cất đám lại có nhạc Tây đưa linh, và anh lên nằm gần mả Huynh và Đệ họ Ngô Đình trên vùng Lái Thiêu Sông Bé cao ráo, nhưng anh nằm nơi đó có vĩnh cửu hay chăng, vì năm rồi, chị quả phụ anh Chính từ Úc châu về, có ngỏ ý muốn đưa anh về nằm vùng Thủ Đức, gần gũi hơn, còn như đối với hai ông Trị và Tường, xin hỗn cho tôi gọi tắt cho gọn, họ Tôn sanh năm 1825 và mất năm 1877, lớn hơn Trị năm tuổi (Trị sanh năm 1830 và đến năm 1910 mới mất), và như vậy cái tin “Khóc đầu Hạng Võ” là tin trật lất, vì chết năm 1877 làm sao khóc năm 1910 được, và tiện đây xin thày lay luôn, bài “Vườn xuân vắng chúa lậu tin mai”, theo tôi có lẽ là của họ Tôn thác lời khuyên con để nói trớ xin khất không theo Trương Định được, và có lẽ bài “Bái công khóc đầu Hạng vương” là thơ họ Tôn khóc tiếc Trương Định rồi nào việc lãnh binh Huỳnh Tấn xin Tây đừng giết Quản Trực vì Trực tài hay hơn Tấn thật nhiều, nhưng Tây đâu có nghe lời Tấn, vì oán ông Trực giết Tây quá nhiều vả lại một một hai hai, Nguyễn Trung Trực xin chịu tử hình hơn là hàng đầu ô nhục. Trực thọ hình tuổi vừa hơn ba mươi, anh hùng tử khí hùng nào tử.

Nay nhơn nhắc đến Hạng vương, tôi xin bắc cầu nói trở lại vế cái chết thật anh hùng có một không hai nầy. Theo truyện Tây Hớn, bản dịch của Nguyên Chánh Sắt (1908) do Huỳnh Trí Phú ra tiền cho Imprimerie Saigonnaise xuất bản, thuật rằng nơi trận Ô giang, binh tướng không còn, con Ô chùy đã nhảy xuống sông, không chịu lên thuyền của Đình trưởng, nàng Ngu Cơ cũng đã không còn, lực tàn binh hết, sức không còn, trí đang rối đến cực độ, bỗng thấy tướng bên Hớn là Lữ Mã Thông bèn gọi “cố nhơn” hai tiếng rồi rút gươm tự vận. Trong truyện không nói nhiều, nhưng nay luận thêm, đời ấy bày ra lệ thói dùng đầu lâu kẻ địch làm trận công để thăng cấp nên gọi “đầu lâu là thủ cấp”, nhưng buổi ấy, uy danh Hạng vương còn quá nhiều, năm tướng cạnh của Lữ Mã Thông, bèn tranh chia nhau cắt hai tay, hai chân và khúc thân mình Hạng vương mang về chia công, và nói thêm, tên phản bội lớn khác như Tiêu Hà, với câu Hàn Tín từng than: “Sanh ư Hà, tử ư Hà”, tên Tiêu Hà nịnh bà Lữ Hậu ấy, vẫn đầu thai làm Dương Tu, để cho hậu kiếp của Tín là Tháo chém cho hả giận.

Cho hay tin hay không tin là chuyện khác, dầu chi cũng được một chầu vui khi tửu đàm trà luận, Hạng vương thác vừa hơn ba mươi tuổi, Hoài Âm Hầu cũng chết tuổi vừa 34, éo le và khéo viết thay người sáng tác truyện xưa theo truyền khẩu mấy đời mấy miệng kể tích truyện xưa Ba Tàu. Đến đây xin trở lại chuyện luân hồi lộn kiếp như trong bộ “Trọng Tương vấn Hớn”, dẫu cho rằng dị đoan, nhưng hủ lậu như tôi, xin thưa dị đoan như vậy cũng nên có và nên để dành, lưu truyền mà vô hại vô phạt, không chi cũng an ủi lòng kẻ còn gốc mê tín do ông bà tổ tiên để lại, từ Âu cũng có và từ Á vẫn còn hoài, tiếng “folklore” của Pháp, dịch ra là phong tục học, là tục truyện, là dã thặng của một địa phương. Bên Tây, khi ngồi giữa ban ngày bỗng nghe mặt bàn gỗ thinh không kêu “rắc” vẫn có người bỏ chạy, bên Tàu bên Ta cũng y một thế ấy, và vẫn nhang khói vái van thinh khổng thinh không, theo tôi, như vậy là không hệ gì đâu. Tôi đã từng thấy một nhà cách mạng nọ, đau nằm trên giường bệnh, không thốt lời gì nhưng vẫn nhắm mắt giả ngủ, để cho bà xã và người con gái đều từng đi kháng chiến nhưng nay thầm vái người khuất mặt cầu cho chồng cho cha qua khỏi cơn bệnh, không khác chiếc thuyền ra khơi lâm bão lớn, vẫn còn cho thuyền giữ được khúc bánh lái cầu an!

Tôi đã sa đà nói toàn chuyện bâng quơ, và nay xin kể thêm về tích ông thần địa phương thờ ở làng Vĩnh Thanh Vân cũ ở Rạch Giá là ông Nguyễn Trung Trực, đình làng nầy vẫn do một người Tây chính cống là bác sĩ Le Nestour đứng ra xin lập đình giả thờ linh ngư Nam Hải tướng quân (Cá Ông) nhưng kỳ trưng vị thần có bài vị để thờ là Nguyễn Trung Trực. Một buổi sáng, tôi ghi là ngày 3 mars 1976, nhơn ra chợ Trời bán sách cũ, tôi bỗng được anh Liễu, (tên người bán sách nay không biết còn mất thể nào), Liễu cứ theo nài ép, cố mời tôi mua hộ một cuốn sách đã mất trang bìa nên không rõ sách ấy nói gì, duy đã đóng bìa vén khéo, giá sách chỉ hai đồng (2đg giấy) thôi, tôi gượng gạo mua để làm vừa lòng Liễu, nhưng khi về nhà và dò lại, Liễu đã biếu tôi một cuốn giá trị rất lớn và đó là cuốn đã không còn nơi đất Lục tỉnh Nam kỳ nầy, và chỉ còn một cuốn duy nhứt (?) nay lưu trữ tại kho sách trung ương ở Hà Nội, và đó là quyển Pháp văn:

“Scènes de la Vie Annamite KHI-HOA”, Recueil de nouvelles: le meurtre du Capitaine BARBÉ, la Surprise de Rạch Giá,… (etc) PARIS 1884, (livre très rare: un exemplaire à la Bibliothèque Centrale de Hà-nội, exposé à Saigon centenaire naissance J.B.E. LURO) Voir Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, n. ler et 2è trimestres 1940, p. 163).

Và đó là chút duyên của tôi với nghiệp hay thú chơi sách, và trong sách ấy có một đoạn kể NguyễnTrung Trực từng bị giam nơi Khám Lớn Sài Gòn và trong buổi bị tra khảo ông đã nhất quyết chịu thọ hình (chết chém) chớ không hàng giặc. (Ngày nay cuốn tàng trữ ở Hà Nội có còn hay chăng?)

Cuốn sách quèn giá mua hai đồng tiền giấy (2đg) ghi số mục lục 420 B (3-3-1976), giá thử nay có người giàu bạc triệu muốn được làm chủ, thà chịu chết và cứ ăn rau muống, người ấy đừng mong rớ tới.

Đã nói sa đà thì cứ sa đà luôn, tỉ như chuyện Thủ khoa Huân thọ tử hình, bao nhiêu sách và thi để lại đều ghi câu “chết tại Tho Giang”; cho hay Tho Giang tôi hiểu là sông Tiền Giang, khúc chạy ngang chợ hạt Mỹ Tho, nhưng kỳ trung, tôi sưu tầm ra Huân bị Tây chém tại Bến Tranh, nơi ông khai chiến, và Bến Tranh ấy là làng Phú Kiết (tên cũ) khúc Bảo Định chớ không phải Sông Tho. Cho hay việc cũ vừa hơn trăm năm, mà gốc tích đã sai lạc, nước Việt ta cho đến đời nào mới có được một cuốn tự điển có hình ảnh và không sai như quyển bé tí Petit dictionnaire Larousse của Pháp? Còn lâu!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply