vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày giỗ Mẹ, 17-02 Quí Dậu (9-3-93)
Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Phần 8
May Rủi Hên Xui, Vận Đỏ, Vận Đen Của Nguời Chơi Đồ Cổ
Ai làm sao thì tôi không biết và không dám nói, chớ riêng tôi, thì tôi rất tin nơi sự may rủi của người chơi cổ ngoạn, tôi vẫn có nhiều thứ máu trong thân, nên tội rất tin dị đoan, vì tôi chưa hiểu sự bất ngờ chờ tôi và tôi không giải nghĩa được vì sao có nhiều món cổ, vừa quí, vừa lạ và vừa có nhiều nếu không nói là đủ thứ đẹp xinh, thế mà những món ấy vẫn nằm êm tại nhà chủ cũ để chờ tôi, ít tiền, chưa có kinh nghiệm, lại được làm chủ như nay:
* Một thố lớn, liễn có nắp mục lục số 69-VHS, có ảnh đăng tập số 4 H.C.D.S., ông cử Võ Hoành dạy tôi trả giá độ 40$, người chủ không ưng bán, rồi bỗng năm 1933, người chủ nầy tự nhiên đi xe đò và ôm xuống bán cho tôi 100$, ăn một bữa cơm, ngủ một đêm ở nhà tôi tại Sốc Trăng, để sáng bữa sau trở về Sa Đéc, và người chủ ấy khi về nhà vẫn bị vợ con trách cứ đã làm mất vật quí.
* Một khi khác, và phải để cho tôi thuật lại dài dòng về vật hiếm có nầy, và đó là một cái sập ba thành, bằng cây táo Tàu đã lên nước đen mun và bóng ngời như huyền Hà Tiên trước đây làm vòng tay cho các ỷ quí phái và nay ít thấy phụ nữ đeo nữa, có lẽ huyền đã hiếm, vòng hay bể hoặc nặng bị lột khỏi tay đeo, khi gặp quân tử ngồi rường túng tiền xài; thuở nay giường ngủ, sàng cho các tiên ông nằm hút, vẫn là vật ô uế chứa chẳng những vi trùng lại ác ôn chứa nào xú uế hôi hám khi đi mây về gió khi đánh đổ mưa Sở mây Tần, thế mà sàng nằm của lão Vương già nầy, vẫn được Giản Chi cố giao, phê là “quí-phi-sàng” độc nhất vô nhị, và truy ra đó là giường nằm trêu ả phù dung của Bảy Viễn Rừng Sác khét tiếng năm xưa khi ông Bảy đã mất ngôi bá chủ Bình Xuyên, gia tài sự sản bị tịch thu, của cải bị phát mãi, ông tướng Công an đời Diệm là Mai Hữu Xuân, chở cả trăm giường hút của ông Bảy: lớp đem trưng bày luôn với đèn dầu lạc nơi quán của M.H.X. lập tại khu mới khỏi ngả tư Xa lộ, lớp khác bán trụm cho nhà buôn đồ gỗ cũ đường Trịnh Hoài Đức trong Chợ Lớn, tức hiệu tỷ phú Huê Hưng, mỗi sập như vậy, giá rất hời hợt, bảy trăm đồng (700$00), cao lắm là vài ngàn (2.000$00), và bỗng… một sáng chủ nhật năm nào nay không nhớ, vợ chồng tôi, Năm Sa Đéc và con là Bảo cùng đi với tôi, thả xích-phê cà-lơ háp-nắng và tình cờ đến hẻm Huê Hưng nầy cũng vừa đúng lúc nhà tỷ phú tên là cụ Bích (bố vợ hoặc Đức Âm, hoặc Đức Bảo), cụ Bích đang cò kè bớt một thêm hai, định giá mua là mười sáu ngàn (16.000$) nhưng hôm ấy cụ chê nước bóng quá mới và nghi là vật tân tạo, nên nài bớt giá, ông chủ Huê Hưng vừa thấy vợ chồng tôi bước trờ tới, vừa tay bắt mặt mừng, ông Huê Hưng bỗng từ chối với cụ Bích, và chờ cụ bước ra khỏi cửa, ông Huê Hưng bèn mời tôi mua sập ấy đi, ông sẽ bán cho. Tôi lúc đó, vẫn giàu lòng ham muốn, nhưng xệp thần vì túi nhẹ, ông Huê Hưng bèn dễ dãi và vui vẻ nói: “Tôi sẵn lòng bán chịu, ông có bao nhiêu thì đưa cho tôi, độ bốn ngàn (4.000$00), còn lại 12.000$, ông sẽ trả góp làm ba tháng…, vợ chồng tôi ưng liền, sập được thợ thiện nghệ tháo và chở về nhà ráp lại, tôi chi đủ bốn ngàn, nhưng đầu tháng sau hụt tiền, tôi kiếm cách trì hoãn, đổ thừa bộ cờ tướng có đủ xe pháo mã sĩ và tốt, nhưng ông tướng không thấy chạm trên sàng, Huê Hưng vui vẻ tươi cười, và rằng: “Tiếng rằng quản thủ viện bảo tàng, nhưng dốt ngay cán cuốc, mầy làm chủ cái giường, thì mầy là ông tướng đó chi?” Thất lý, trả đủ bốn ngàn (4.000$), qua tháng thứ nhì, tới kỳ trả tiền, tôi vụt chê: “Trong câu thi thứ nhứt, Thi tửu cầm kỳ kiếm, nay bộ cờ đã thấy nhưng còn bốn thứ kia, chưa thấy phân minh, chủ hiệu Huê Hưng có sẵn câu trả lời: “Cặp liễn là thi, và mấy món kia rành rành hãy về xem lại, bầu rượu chạm nơi giữa mày trung tim, cầm thì có hai cây tỳ bà làm vách đôi bên chiếc sàng, và một đàn khác vẫn có chạm kỹ lụa nhung gói lại cho dây không vì lạnh mà đứt rời, và cây gươm (kiếm) rõ rệt lộ liễu hiển nhiên”, và hiển nhiên tôi phải răn rắt chi đủ 4.000$ ước hẹn, qua tháng thứ ba, chót, tôi cằn nhằn, năm chữ về liễn chạm, nào thấy “phong hoa tuyết nguyệt” đâu nào? Huê Hưng chủ nhân cười hề hề xoa tay chờ tôi trả đủ 4.000$ chót và cắt nghĩa: “Sển về coi lại, phiến đá giữa là cảnh gió thổi hoa lạc tơi bời, phiên bên hữu là cảnh “trời xanh vân cẩu và phiến tả chót núi tuyết đầy và vầng trăng vì quá lạnh nên đã méo mó biến dạng”, vân vân, rốt lại tôi đã trả đủ ba tháng mỗi tháng bốn ngàn, cộng với số tiền cọc đưa trước bốn ngàn, vị chi đủ mười sáu ngàn (16.000$00) là số cụ Bích chê cao giá, để cho giường báu lọt về tay tôi làm vầy.


Photo edit by Sơn râu
Ngày nay, 9 mars 1993, tôi đã làm chủ quí-phi-sàng nầy suốt mấy đời vương, sàng đã dời chỗ, chạy qua căn nhà khác suốt đôi ba năm trời, cũng vì sợ lão trời đánh Đằng giang miệng méo, hăm dọa siết tịch, nhưng nay gió êm “phong tịnh”, cũng đành chép viết lại đây những gì đã tả về quí phi-sàng trong sách năm xưa (Thú chơi sách, bản Tự Do in năm 1960 đã bán sạch), cố nhiên tôi đã có danh là nói nhây, viết đi viết lại, vậy xin cho tôi cạn tàu ráo máng, viết lại đây một lần nữa, về vẻ đẹp quí-phi-sàng:
Sàng có một mặt bằng phẳng do ba tấm ván gỗ cây táo Tàu ghép lại, dùng làm chỗ nằm yêm mát, và ba bề được che bít, hai bên tả, hữu là chỗ dựa tay, là hai cây tỳ bà chạm tỉ mỉ đủ trục, dây, phiếm đàn, và bức vách giữa chia làm ba phiến đá vân thạch (marbre) của Miến Điện, xưa danh gọi “Tài-lỹ-xẹc” (Hán tự là Đại-lý-thạch, Đại-Lý hay nước Nam-chiếu là tên địa danh cổ thời), đá vân thạch ấy bọc viền bằng gỗ chạm và cả ba miếng đá ấy chung qui là vách che gió cho ngọn đèn dầu lạc đặt nơi giữa sàng khỏi bị phong ba vụt tắt, những chi tiết vặt vãnh thì tôi đã kể sơ nơi đoạn trên, duy nay tuy văn tôi viết vẫn tầm ruồng ba lăng nhăng, và nay xin viết thêm cho đủ ngọn ngành:
a) Miếng mày chạm đá giữa, viền trên là túi đựng tiền, chạm một lá sen thật lớn, biến thành chiếc nón tơi còn đủ gân lá và một cây “như ý cổ ngọc”, hiểu ngầm chơi chữ là “Phú quí như ý” (giàu sang như ý thỉnh cầu);
b) Viền hai bên tả, hữu và viền dưới, sát mặt giường, chạm một con dơi (phúc), một chiếc bình hoa (lộc bình), kèm hai tê giác dính xà nẹo và một lọng che xếp cánh lại, ngụ ý “phúc” (con dơi), lộc (bình hoa), có đủ cả hai, vì hai sừng con tê là “song” còn chiếc lọng là “tàn”, toàn, tàn lọng, vẹn đủ.
Tiếc là thợ xưa không ký danh để lại, quả đâu đó đều có xếp đặt trước, rất kín đáo, nhưng nếu khéo mò cũng hiểu được và vui lòng có trong tay một sàng hiếm có hoặc của quí phi ẩn danh, hoặc biết đâu chừng, sàng nầy có lẽ của đời bà Đại Thanh Tây Thái hậu, đồng thời khi nước ta bị Tây xâm lăng, quan Phan tử tiết, vua Đồng Trị nhảy dù ra nếm trái cấm lầu xanh lê thứ để ôm bịnh kín về truyền nhiễm cho bà hậu không khỏi cung cấm mà mắc nạn, than ôi, cảnh bên Tàu đang rối như tương, mà nước ta mãi xin viện binh cứu cánh chống giặc Tây, thì có trông mong thật là quá ư vô ích.
Tôi mảng sa đà giàu tưởng tượng và giàu suy gẫm riêng tư mà suýt lạc lối, duy lấy theo ngu kiến, phải nhìn nhận và hãy khoan chê dè phong kiến, vì tuy phong kiến nhưng tồn tại nối dõi kể mấy ngàn năm vẫn còn,… và tóm lại, người lao công Trung Quốc, tay cầm đục, bào, cưa, giũa, thế mà căn bản văn hóa không đổi, biết chơi chữ, biết thách đố với văn chương, “lọng” là “cái”, mà “cái” lại đọc và phát âm ra “quới, quí”, vân vân, hai sừng con tây (tê) là “song” và “lọng” lại là “tàn”, đoạn nầy, qua tôi múa rìu qua mắt độc giả cao thâm, tôi chưa từng học chữ Hán, nhưng đua đòi muốn học theo đòi, nay nhắc lại câu thứ nhứt, đọc “Thi tửu cầm kỳ kiếm” viết được bao nhiêu ý nghĩ ngông cuồng, bắt qua câu thứ nhì: “Phong hoa tuyết nguyệt thiên”, bỗng mắt thịt chẳng thấy chi chi cả; và lâu lắm, ngót mấy năm dài không nhớ, bỗng khám phá ra, lời ông chủ hiệu buôn Huê Hưng đã cắt nghĩa rành mà mình đã quên, rõ ràng kìa trên mặt ba bức đá Đại Lý thạch, dung là cảnh thiên nhiên: “màu trời vân cẩu”, (bức 3, tả), “hoa bay trước gió” (bức 2 ở giữa) và “cảnh gió tuyết làm móp trăng treo” (bức số 1, hữu)… càng nhìn càng ngắm về lâu, miếng đá giữa (bề cao 47 cm, bề ngang 57cm) vẫn trổ màu gạch tôm (chocolat) (phong hoa, gió đùa bông hoa), miếng “cảnh vân cẩu” có thể nói tự mình tưởng tượng đặt ra, duy miếng hữu (số 1) vân đá vằn vện tựa như khói đèn bay phấp phới giữa bầu trời đang rét lạnh, và trên cao miếng đá là hình dung một vệt méo méo tròn tròn, không phải do tay người họa sĩ vẽ ra mà đúng là do thợ trời tự nhiên trổ ra y hệt như một vầng trăng nhỏng nhẻo tiết đông thiên giá lạnh, đang bị bao vây bởi những mảnh vô hình lốm đốm và lả tả nhẹ bay như bông gòn mà không phải bông gòn, tựa tựa tuyết mà chưa phải tuyết, viết đến đây, bỗng bắt nhớ bài thơ xưa nặc danh trong tập của cai tổng Lê Quang Chiểu, tiện đây ghi lại:
“Ớ! ớ! Hằng Nga dám hỏi đon,
“Cớ sao đêm khuyết lại đêm tròn?
“Đàng qua Vân Hớn bao nhiêu dặm?
“Nẻo lại Vu sơn cách mấy hòn?
“Trộm thuốc trường sanh, không thấy uống?
“Lấy chồng Hậu Nghệ, chớ nào con?
“Ba mươi, mồng một, đi đâu vắng?
“Hay có tư tình với nước non?
Lê Quang Chiểu
(trích trang 70, tập Quốc âm thi hiệp tuyển, Sài Gòn Claude et Cie 1903)
Xin thưa, tôi vốn là con mọt sách, hễ biết được chút gì, ít khi chịu giữ làm của riêng, nay xin công bố ra một bản khác, đăng trong bộ “Việt âm văn tuyển” bản nhà in Joseph Viết, 1919, Sài Gòn, tuyển giả Lê Sum, tự Trường Mậu, trang 46, bản nầy có sai hoặc đổi đôi chữ tỷ như:
– Câu 3, “Đường qua Đông hải… và câu 4 “Nẻo lại Tây ngưng…”
– Câu 5 “Trộm thuốc trường sanh bao nhiêu lượng?”
– Câu 8: “Hay có tình riêng với nước non?”
Dưới bài, đề là “Cổ thi” và không ghi tên tác giả, cũng như trong tập Q.A.T.H.T, ông Lê Quang Chiểu lại ghi “Thơ của ai làm, không biết tên họ”, hoặc trong vài tập khác, lại đề “Vị tường danh thị”, vân vân, theo như tôi đã hiểu và theo ông Lê Quang Nhơn, con trai ông cai tổng Chiểu, thì thời Pháp thuộc, soạn giả và tuyển giả rất sợ sự kiểm duyệt của đế quốc Pháp, còn nay dưới trào nầy, thiết tưởng không cần gì giấu giếm nữa và cũng nên nói chuyện huỵch tẹt ra, có lẽ bài “ghẹo trăng non” nầy có thể là của Tôn Thọ Tường, ông làm với mớ lòng đã giận trào Huế không cho tập ấm quan văn, và vì cảnh nghèo túng, hút nghiện, phải tùng quyền theo sắp theo Tây, tuy một lòng trung quân, không hà lạm và khi giúp người làm chánh trị được thì giúp ngay…
Tôi quá lạc đề và xin trở lại, cả hai miếng đá tả, hữu, đều đo : cao 35 cm ngang 45cm, phần trên đá màu trăng trắng đục đục như nền da trời lúc chạng vạng tối, phần dưới đá lại có hình dạng mờ mờ như bóng ngựa phi trong gió cuốn, rõ là cảnh “vân cẩu” hay hình “bào ảnh” thiêng liêng không thể tả nên lời.
Theo tôi, đá vân thạch (tôi chừa từ “ngọc thạch” cho jade), nhứt là đá Đại Lý thạch của nước Miến Điện ngày nay, đời nhà Đại Thanh, người Trung Hoa vẫn trọng và nhìn nhận là quý hiếm, là một kho tàng bí ẩn của Tạo hóa, hơn xa và quý hơn rất nhiều marbre d’Italie, và ngày nào bên Âu bên Mỹ, đã chán nét họa Picasso, khi ấy, tôi đây đã là tro đất, và khi ấy, lối chơi đá của Tô Đông Pha, của Mễ công Phí Thạch ắt là khó kiếm.
Tôi đã đi quá mức hay lằn mực của bài nghêu ngao nầy, xin trở lại thực tế:
Trước đây, khi còn học với cụ Đốc, giáo sư Nguyễn Văn Mai nơi trường Chasseloup Laubat, tôi đã từng nghe bài ca trù như sau :
“Thi tửu cầm kỳ kiếm
Phong hoa tuyết nguyệt thiên
Chi cho bằng:
Trà cho ngon, rượu cho ngọt
Hát cho ngót, đàn cho hay
Nợ phong lưu, hết trả lại vay
Khố vô tấn, hết rồi lại có!!”
Và khi tôi bắt gặp bài ca trù này, xin cho tôi viết đoạn kết luận.
Nơi đoạn trên, tôi đã đưa câu thòng nghi sập ba thành nầy, ước định vào cuối nhà Đại Thanh, dưới trào bà Tây Thái Hậu. Bây giờ, với bài ca trù, tôi có ý nghĩ khác:
a) Nếu quả thật sập này do tướng Bảy Viễn hốt trong chợ lớn, nơi một nhà giàu lớn Ba Tàu, thì sập “đi mây về gió, ghẹo Phù Dung tiên nữ” nầy ắt do từ bên Tàu, Hồng Công hay Vân Nam tải qua, và có thể do một quan to lãnh tụ đốc khấu Lý Hồng Chương, Phùng Quốc Tài hoặc một lãnh binh ghiền gập đặt làm khoảng cuối đời Thanh,v.v.
b) trái lại, nếu sập do ông Bảy mua, sắm hay chiếm đoạt từ một quan to Huế, Hà Nội, hoặc trong nầy thì xét lại những câu hát ngọt lịm, ngọt xớt, mê người: “hát cho ngót”, “rượu cho ngọt”, “đàn cho hay”, vân vân, những câu ấy, người Tàu ắt không nói vậy, và ắt đúng là giọng một Nguyễn Công Trứ hoặc Tú Xương, hoặc giả như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, (và tôi bỏ không nhắc đến Trần Bá Lộc hay Đỗ Hữu Phương, vì Lộc và Phương đời loạn li Tây qua đây chưa có mỹ thuật cao siêu như vầy), nhưng dầu là của chủ nhân Việt đặt làm, mà kể về nghệ thuật siêu phàm như chiếc giường hút nầy, người chế tác phải là thợ hấp thụ nghệ thuật đời Kiền Long Ung Chánh sót lại, tạm nói đời Từ Hi Thái Hậu cũng được, và kết cuộc, bài nầy mục tiêu là “thú chơi cổ ngoạn” mà cũng là “thú chơi sách”, bốn trang sơ sài mà muốn bắt cá hai tay, khiến nên viết không ra hồn, lời nói vính cướng, luộm thuộm, quàng xiên, quỳnh quàng, quýnh quáng, tôi thành thật cáo lỗi. Có câu Hán: “Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc, Yên hà bất tự văng niên xuân” (Cổ thi), và câu nầy thi sĩ TCHYA, Mai Nguyệt đã dịch sẵn: “Sắc trước còn đâu cây cỏ ấy, Xuân xưa khác hẳn khói mây nầy”. Tôi xin mượn để chấm dứt về quí-phi-sàng nầy, để bắt qua đề tài khác:
Sàng hút á phiện hai mâm hai đèn, mục lục số 971 mua nơi nhà Huê Hưng ngày 14 janvier 1970, giá 150.000 đồng, và theo lời ông Tân Hanh nói ngày 11-9-1973, là sập-ba-thành của ông Vạn Thạnh đại phú gia ở Chợ Lớn.
Kể cho đến hôm nay 11-3-1993, thì sập nầy, tôi làm chủ đã được hai-mươi-ba-niên, đã dùng làm giường ngủ, thường bữa, nhưng rõ lại dĩ vãng của nó, phải xem lại trong sổ mục lục mới biết rành gốc gác, cho hay có câu “của tìm người” và thật quả như vậy không sai. Ông Tân Hanh nói đây là một người, trước làm họa công nơi hãng Pháp Foinet, sau lên Nam Vang một độ, vì ham trên ấy á phiện dễ mua và bán giá rất hời, sau rốt Tân Hanh rút về Sài Gòn tạo nhà theo ý muốn và trở nên tay lão huyện đưa người cửa trước rước cửa sau, nào những khách ngoại bang “đi mây về gió”, nào những khách thích đồ cổ mà Tân Hanh chọn lựa và trình bày rất duyên, và theo lời T.H kể, sở dĩ sập ba thành nầy, ai không mua và đã để lọt về tay tôi, là vì vóc-giạc giường nầy quá lớn, ắt khó kiếm người tiêu thụ, trái lại vóc vĩ đại ấy, tôi đây lại thích, vì tương đối, và chiếu với quí-phi-sàng “Thi tửu cầm kỳ kiếm” kể nơi trên, thì thật là tương xứng, sàng kia vừa bé vừa xinh, sàng nầy lại chất chứa ý nghịch hẳn, đúng là sàng hút đặt riêng cho ông chủ hiệu Vạn Thạnh, nghiện lớn, và giường đo 2 mét 40 cm bề dài, và 1 mét 80 cm bề ngang, đủ sức chứa chủ nhân Vạn Thạnh, nằm nơi giữa, để tả và hữu là hai người “làm thuốc” và mỗi bên là một mâm đèn đủ cuộc tiệc, vì V.T, mỗi cữ hút, phải kéo không rõ là mấy chục hay trút trăm điếu, thuốc đã nướng và làm sẵn, để cả xâu, cả dọc không khác xâu nem nướng bày mời khách xơi, lúc xưa á phiện công ty giá nhứt định mà V.T xài trót bạc trăm mới phỉ, còn như nay nếu V.T. hãy còn mạnh khỏe và nếu mua lén mua giấu thì thuốc phải bạc triệu mỗi ngày chớ tôi đây không nói pha lửng đâu.
Trở lại quí-phi-sàng, tôi quên nói nét chạm thật tỷ mỷ và khéo tuyệt, đúng là nghệ thuật Trung Hoa, chạm trổ chữ cổ tự (triện) thị chạm chữ nổi rõ nét, còn mặt liễn lại trổ hồi văn “bông tai-vị” đủ bốn cánh sắc sảo lòn dưới chữ triện câu thi, kiểu thức nầy rất khác xa nghệ thuật của người Đình Bảng, hoặc Nam Định nước ta, quen chạm lọng, múc sâu, chừa nền đất trắng láng, và ít khi chịu khó lót lớp “sơn mài” qua mấy nơi khoét lọng, tôi nói như vầy vì tôi không đủ chữ để tả cái khéo của sập “quí-phi-sàng” nọ mà tôi xin đính chánh là cổ khí Tàu cuối Đại Thanh, và trái lại nghệ thuật sập ba thành Vạn Thạnh nầy, lại là kiểu trơn bén, dựa thép chín miếng đá hoa, miếng giữa, thật to (Đại-Lý-thạch tròn, kinh tâm 40cm, trổ hình con ngỗng trời đứng trên đỉnh núi, ngỗng đen màu khói đèn vóc to bằng vịt cồ, đầu cúi như đang ăn thóc), hai phiến đá tả hữu thì y như san thủy vẽ thủy mạc màu chocolat, 45cm, hình tròn khuyết bốn khuỷu sâu, và hai bên tả hữu, vách dựa tay, lại có mỗi bên, là ba miếng đá khác nhau về màu sắc cũng như hình dạng rẽ quạt, miếng chả, và hình bầu dục, và thay vì ba vách ấy là gỗ chạm soi trổ, thì đây, toàn là gỗ táo Tàu, chuốc tròn cỡ cánh tay và uốn khúc nơi đầu theo kiểu thức đầu giao-long, đầu thao-thiết, v.v… Vả lại, nếu quí-phi-sàng dành cho một hoặc hai người nằm, thì sập Vạn Thành nầy, đủ làm chỗ đánh tổ-tôm, nhậu nhẹt, hoặc đờn-ca tài-tử bao nhiêu người cũng đủ chứa, tứ tài-tử hay lục, bát, thập cũng xong.

Photo edit by Sơn râu
Cặp trường kỷ “long-mã hiến đồ-thơ”, mục lục số 1258, làm chủ ngày 19 février 1984, đối với 9 món sứ cổ (1 dĩa số 411, 1 tỷ-yên-hồ số 85, 1 t.y.h số 86, 1 số 97A, 1 số 175, 1 số 252, 1 số 253, 1 số 97B, 1 số 930), chín món nầy đổi lấy hai trường kỷ nầy, cả hai lô trao đổi giá tương đương là một cây vàng (1 lạng) và sau khi đem về nhà, nhờ thợ sửa chữa chắc chắn, truy ra hai kỷ nầy, gốc của bọn nhà buôn lớn đường d’Espagne cũ (nay là đường Lê Thánh Tôn) ông chủ Đức Lợi, thân gia của bạn Khai Trí (nhà sách) và nếu quí-phi-sàng mục số 207 đúng là cổ khí cuối Mạt Thanh, va giường Vạn Thạnh, vẫn cũng là nghệ thuật Trung quốc thế kỷ dứt Đại Thanh, trái lại, hai trường kỷ gỗ trắc chạm điêu luyện nầy đúng là mỹ thuật Bắc bộ cỡ họ Hoàng thái hà ấp, hoặc của một họ Trần tổng đốc, hoặc họ Trần phụ chánh đại thần, và cả ba cổ vật nầy đều là mỹ thuật hi hữu đáng giữ gìn làm dấu tích sau nầy. Những mỹ phẩm còn toàn vẹn như ba món nầy quả là khó kiếm và không nên hủy hoại (như nữ trang lăng bà Từ Dũ ngoài kia).
Tái bút
. Sau gặp Huê Hưng tôi hỏi kỹ, ông nói quí-phi-sàng, ông nghi của ông tướng Bình Xuyên ăn hàng năm xưa nơi hãng máy gạo Nam Long, đại phú gia lâu đời trong Chợ Lớn.
Con người qua ai như nấy, túi tham không đáy, tỷ như tôi, có được ba mỹ phẩm nầy, vậy mà ai còn chưa vừa long và tiếc hối nọ kia.
Kể như hai ghế trường kỷ nầy, quên nói muốn biết lai lịch kỹ hơn, xin chờ xem bộ “Đâu là thú vui, đâu là nghệ thuật”, có nói đầy đủ.
Ngoài ra xin nhắc lại những cơ hội làm mất, đó là:
* Lúc đầu quân Sa Đéc, còn sắm được một bàn cẩm lai kiểu “hột lúc-lắc” cần ba mặt kính để chứa sách và ba mặt gỗ, vì túng đã bán ra, gia ba mươi đồng (30$00) nay bạc triệu không tái tạo được, chớ chi nay còn, sẽ cho chạm thêm: mặt A, ba kiểu chạm nổi: Cầu (mãng cầu), Vừa (dừa), Đủ (đu đủ); mặt B, Vừa Đủ Xài; mặt C: Xài Vừa Đủ; mặt Đ: Đủ Xài Vừa. Cái bàn ấy nơi nắp trên, sẽ giữ lại một lộc bình mua 20 bạc (20$00), chính thân phụ tăng giá bằng cần một miếng vàng vuông che một lỗ khoét để làm bình chứa nước uống, và cái dại ngày nay tiếc không kịp là vì lỡ tay làm nứt bình và đã bán lúc nào cũng đã quên, và ăn năn đã muộn, vì bài thơ thân phụ tự tay chạm: Xuân du phương-thảo-địa, Hạ thưởng lục-hà-trì, Thu ẩm huỳnh-hoa-tửu, Đông ngâm bạch-tuyết-thi, bài thơ chữ của cha mà để cho mất, biết làm sao hối tiếc.
* Một dịp mất nữa là đã gặp tại nhà buôn Tái Hiệp Hòa (Chợ Lớn) mười hai chiếc ghế bằng gỗ mun, kiểu đồ mộc thợ Bà Rịa, lối 1900, trả giá không xong, vì ham hạ giá, và đã vuột mất, ghế giá 600 muốn bớt còn 500, dại chưa.
* Một dịp thứ ba gần đây, thấy một bộ ghế bành, mặt đá Đại Lý vân khói đèn, đặc biệt là kiểu thức thật tinh xảo hiếm lạ, vì gỗ trắc hồng mộc, trổ ra hình dây mây (rotin) đan hệt như ghế mây chuốt bào nhỏ sợi và kết mịn kiểu “lông mốt, lông hai”, những chỗ mộng chốt khít khao trơn bén, chạy tiền chưa kịp, bộ ghế đã ra đi, tiếc cho đến nay vẫn còn tiếc, nhưng gẫm lại, không nên tham lắm, giữ được ba món trên đây, đủ cho là tự túc, nhứt là mấy độ đá Đại Lý làm mặt, đều còn toàn vẹn, và nay viết lời chót để chấm dứt bài nầy, là có lẽ người chủ trước của ba món nầy, theo tôi, nhờ sắm trước những đá quí ấy rồi mới chọn thợ sáng tác sau, và người làm chủ những vật ấy phải dày công dày phước mới cầm những vật ấy được.
(13-3-1993)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.