Chick!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 14th, 2024

Post by Sơn râu 7 Jul 23024

Tiếng Việt mình có biết bao nhiêu là chữ để chỉ mỗi một con gà. Sơ sơ một đống như: gà trống, gà mái, gà già, gà tơ, gà con, gà mới ra ràng…

Còn nói về cái thói trăng hoa, bay bướm, lăng nhăng bỏ mặc vợ, con; hoặc lẳng lơ phớt lờ thằng chồng đang nằm chèo queo trên chõng, đèn đêm đối bóng, đợi em đi ‘ngựa’ xong, em về. Cái thói đó của thằng chồng gọi là ‘mèo mả’; của con vợ gọi là ‘gà đồng’.

Già rồi, hết xí quách, cái thói trăng hoa ‘mèo mả gà đồng’ tui hết khoái. Giờ rụng răng hết ráo, tui khoái nhứt là cháo gà, gà xé phay. Mấy đứa cháu nội của tui, đẻ ở Úc, tụi nó khoái gà KFC (Kentucky fried chicken). KFC, gà công nghiệp nuôi chuồng, thịt bở rẹt, lăn bột chiên ngập trong dầu ô liu; ăn dở ẹc mà khoái cái gì hổng biết?

Nhớ hồi xưa, học cuốn Let’s learn English, lớp đệ thất, đệ lục, thầy tui dạy chỉ một tiếng gà duy nhứt là ‘chicken’. Qua Úc gần 30 năm, tui học thêm cả đống chữ chỉ con gà. Như: Hen, gà mái; Rooster, gà trống; Turkey, gà lôi ăn lễ Tạ Ơn, (Thanksgiving).

Trong số đó, tui khoái nhứt chữ ‘chick!’ (gà tơ). Gà tơ xào với mướp già, Vợ 20 tuổi, chồng đà 60. Ra đường chị giễu, em cười. Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông. Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên. Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

Mấy thằng Úc cũng khoái ‘chick’ lắm đó. Tụi nó bị mấy em thưa tội quấy nhiễu tình dục ( tiếng Úc là sexual harassment) hoài hè. Già không bỏ, nhỏ không tha, cũng ‘dê húc càn’. ‘Dê Húc Càn’, viết tắt là DHC, là bút hiệu của ký giả Dương Hùng Cường. Như Trịnh Công Sơn, mà bà con quốc gia diễn dịch: ‘TCS’ là Thằng Cộng Sản.

Bà con quốc gia mình giận sôi máu sùng sục, muốn bể nồi súp de khi nghe: “Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở Miền Nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này. Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chụp ảnh lưu niệm với các học viên khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du năm 1985 (ảnh tư liệu). 

Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng Miền Nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước. Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta. Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt đẹp. Các bạn không có lý do gì sợ hãi để phải ra đi cả.

Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay.

Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất Miền Nam Việt Nam này. Gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời. Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sẵn sàng để đến đây góp tiếng nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm. Và tôi xin tất cả các anh em sinh viên học sinh của Miền Nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến bla…bla.

Bà con mình lấy làm tiếc: ‘Biết vậy hồi xưa tao bóp mũi nó cho rồi!’

Hồi sau tháng Tư, 1975, tui chăn trâu. Qua Úc, tui cũng không học hành gì. Trường học tiếng Anh của tui là quán bán beer mà Úc nó kêu là ‘pub’ (public house). Trong khi Mỹ nó gọi là bar hoặc ‘snack bar’.  Mình đi ‘bar’ nhậu sừng sừng rồi về ‘sờ nách’. Nên con ‘chick’, đúng ra là con gà mái của tui, từng trăng trối với tui là: “Nếu em chết trước, anh hãy thiêu em rồi đem tro cốt rải trước cửa pub vì ngày nào em cũng muốn gặp mặt anh yêu”

Tranh Bảo Huân

Ban đầu, ‘chick’, tiếng tượng thanh, tiếng lóng của mấy thằng Anh, ám chỉ em hơ hớ tuổi xuân, là chim non để mình săn bắt. Tui từng ngu bắt chước thằng Úc gọi con nhỏ làm chung sở là ‘chick’. Nó vả tui một cái thiếu điều sút hàm răng giả. Thằng Úc, bạn tui, cười he he, rất đểu: “Nói sau lưng nó thì được. Kêu ngay trước mặt, là tự thú trước bình minh: chú mầy không phải là một ‘gentleman’. Chú mầy là thằng đứng bến, thằng đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Ông Lãnh. Ý nó nói rằng: ‘chick’có hơi hơi bất lịch sự, Nhưng những thằng Úc khác lại cho rằng kêu ghệ (girl) ‘chick’ chẳng nhằm nhò gì. Vui thôi mà!

Quê mình cũng có một câu đối về gà hay lắm: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Câu này khen đàn ông, con trai Cao Lãnh đi đánh lộn là dách lầu, là số một. Còn gái Nha Mân đẹp ‘nghiêng thùng đổ nước’ (Nhất cố khuynh nhân thành. Tái cố khuynh nhân quốc.)

Nhưng có một ông Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, tuốt ngoài Trung, ra vẻ trên thông thiên văn dưới tường địa lý, cà khịa tui như vầy: “Gà ở câu trên là gà nòi để đá chứ đâu phải ám chỉ chị em ta ?”

Cái thằng hỗn láo dám gọi mấy em quê mình là ‘chị em ta’. Nổi quạu, bốc hoả phừng phừng lên, mặt đỏ ké, tui cự lại: ‘Ông bà mình viết ra là có nghĩ lung lắm. Thế nên khi đọc mình ráng nghĩ cho nó sâu. Hai câu này nó đối; nó nói về cái phẩm chất của trai Cao Lãnh và gái Nha Mân: ‘Trai tài gái sắc!’ Sao ông lại dám xỏ xiên, dè bỉu? Thiển nghĩ ông không nên dùng chữ ‘chị em ta’ vì tui e rằng làm vậy không được lễ phép lắm!

Chết mầy chưa! Đừng có hỗn với mấy con ‘chick’ quê tao nhá cu!

ĐXT

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 20

Về Tổ vệ sinh đâm ra vất vả. Đủ các « khâu » lao động. Chở cơm, nước sôi cho hai nhà kỷ luật xong, Hải và tôi song ca … vệ sinh hành khúc, tức là đi đổ thùng ở cầu tiêu bệnh xá. Chúng tôi thay máng cầu mới, quét rửa sạch sẽ rồi khiêng máng phân đầy nhóc đem đổ xuống hố ngoài vườn rau phía sau hội trường. Rồi đổ phân cachot. Trật tự mở cửa cachot mỗi sáng sớm, tù nhân bị kỷ luật bê hộp đựng đạn đại liên ra. Tù nhân đã tiêu tiểu vào đó. Chúng tôi đổ phân và rửa hộp. Tôi có một truyện ngắn, nhan đề Khúc rẽ cuộc đời. Đời tôi đã rẽ nhiều khúc. Tôi không ngờ có thêm khúc rẽ xuống hầm phân ở Sa Ác, khúc rẽ hốt phân ở Rừng Lá. Tôi tự tặng tôi hỗn danh thứ ba: Long đổ thùng! Đổ thùng, dẫy cỏ sân trại, buộc hàng rào, quét dọn điếm canh, đổ rác các nhà là những việc linh tinh. Tôi thích thú công việc chở nước tắm cho hai nhà kỷ luật và tưới cây. Hải và tôi cố gắng kéo xe, đẩy xe thật êm cho nước khỏi trào ra. Một ca nước rất quý. Chúng tôi tự do đi lại trong khu vực khu A. Những buổi trưa, tôi thường vào hội trường nằm ngủ. Nằm suy nghĩ thì đúng hơn. Tôi đã sống ở Z30 D, K1 được 16 tháng. Phó giám thị Phúc đã quên tôi. Ông ta chưa gọi tôi “làm việc” lần thứ hai. Tôi vào Sa Ác với Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Mạnh Côn chết. Tôi ra Rừng Lá với Hồ Hữu Tường, Hồ Hữu Tường chết. Về Z30 D, ông Tường trụ trì bệnh xá, viết sách thuốc dân tộc. Ông bị bệnh cổ chướng, bụng chương phình. Người ta chở ông ra bệnh viện Phan thiết. Rồi tha ông. Thân nhân ông đưa ông về Sài gòn. Vài hôm sau, ông Hồ Hữu Tường chết 1. Đám tang ông cũng âm thầm như đám tang Vũ Hoàng Chương. Vợ tôi kể, ngoài Nhã Ca tiễn đưa Hồ Hữu Tường một quãng đường đến nơi yên nghỉ cuối cùng của ông, tuyệt nhiên không thết một khuôn mặt văn nghệ lớn, nhỏ, tiền bối, hậu bối nào khác hiện diện. Tôi rất sung sướng biết vợ tôi đã theo ông Hồ Hữu Tường đến tận huyệt và ném xuống quan tài Phi Lạc một nắm đất.
Đôi khi, vắt tay lên trán, nhắm mắt truy nã bản thân mình, tôi thấy cái sự nghiệp văn chương của tôi sao mà khổ sở thế, mà cô đơn thế, mà oan khiên lắm thế, mà ngộ nhận nhiều thế. Ngày tôi bước xuống hầm phân vục đầy xô phân bằng hai bàn tay trần, ròi nhung nhúc, ròi bò lên cả cánh tay tôi là ngày tôi thấy rõ niềm bí ẩn nhỏ của đời sống. Và tôi có cảm tưởng tôi mang vóc dáng một nhân vật cổ tích tội nghiệp nhất. Tôi nghĩ đến cô Tấm. Tôi nghĩ đến trái thị. Và tôi nghĩ đến trái đắng thơm nồng trong niềm bí ẩn của đời sống. Cái thật, cái tốt và cái đẹp, ở bất cứ không gian và thời gian nào, đều phải trả giá nước mắt, mồ hôi và máu. Tôi có bài thơ Trái thị làm ở Z30 D, thời gian khiêng cứt, hốt cứt.

Ngày xưa cô Tấm ngời nhan sắc
Thật thà như đếm chả thù ai
Cô thương điều xấu yêu điều ghét
Chung hết tâm tư với mọi người


Có nhiều đứa ác hờn ghen Tấm
Đầy đọa Tấm rồi giết Tấm oan
Tấm hóa thành chim thành trái thị
Cuối cùng thành công chúa nhân gian


Em ạ, anh là cô Tấm xưa
Lòng anh chứa chất cả hư vô
Anh đi với tháng dài năm rộng
Mơ nỗi niềm chưa ai ước mơ


Anh cũng bị chôn dưới vực sâu
Trước khi sặc nước mắt cơ cầu
Và cũng thành chim thành trái thị
Ngạo nghễ lên đời chói ngọc châu


Em, cổ tích này anh tặng em
Hãy nghe hãy truyền kể nghìn năm
Nghìn năm trái thị còn xanh mộng
Chỉ úa điêu ngoa héo dối gian
2

Nhưng cổ tích Tấm Cám có đoạn kết trả thù tàn bạo quá. Thật sự tôi yêu Thạch Sanh và đoạn kết cổ tích Thạch Sanh. Vậy tôi đã làm thêm bài thơ Lời Thạch Sanh, cũng vào thời gian tôi khiêng cứt, hốt cứt ở Z30 D.

Ôi, nhớ làm chi vụ lấp hang
Phiến thù đâu dễ bặt cung đàn
Ta ngồi trong tối so giây lại
Nghe rõ hồn ta nhập thế gian


Đốm lửa nào đây mới nhúm nhen
Bóng ta in mặt nước thần tiên
Cái gì xa lắm nhưng gần lắm
Chưa phải hư vô vẫn ảo huyền


Ta biết lòng ngươi rã rượi rồi
Về đâu chiều bủa khói mù khơi
Hồi chuông cáo phó sao buồn thế
Giọt nước mắt còn ta khóc ai


Hãy đi hãy đi hỡi Lý Thông
Ta vút lên đời như mũi tên
Mũi tên cổ tích thèm bay lượn
Chuyện cũ xong rồi ta đã quên
3

Từ vỡ lòng cay đắng đến vàng ửng ngậm ngùi, cuộc phiêu lưu tìm ý nghĩa cho đời sống – không tìm niềm bí ẩn của đời sống – tôi đã nghe thấy hương vị thơm nồng của trái thị. Với tôi là trái đắng. Tưởng chừng trái đắng đã thành hình từ đóa cổ thụ Sa Ác. Sa Ác: Rơi vào chỗ chết. Tôi không chết nghĩa là tôi còn sống. Tôi còn sống nghĩa là tôi tồn tại bằng những đóa hoa trên đỉnh ngọn tuổi tôi. Với nhà văn, đóa hoa cổ thụ là tác phẩm. Nhưng tôi vẫn trung thành với ý nghĩ cũ, ngày tôi rời bỏ Sở công an thành phố: “Nỗi thống khổ đầu tay của tôi là một thử thách nhẹ so với nỗi thống khổ của các văn hào thế giới. Nỗi thống khổ mà các nhà văn lẫy lừng của nhân loại đã trực diện, đã đương đầu, đã kiên nhẫn chịu đựng, đã phấn đấu im lặng ví như trái núi. Nỗi thống khổ tôi đang ngậm chỉ là cái móng tay. Cái móng tay chớ vội ồn ào khi trái núi nín thinh, bình thản liếm máu trên vết thương của mình mà cống hiến cho đời sống những ý nghĩa tuyệt vời về tình yêu và hạnh phúc”. Không đáng gì phải ồn ào về nỗi khổ, khi nhận mình là nghệ sĩ sáng tạo. Với nghệ sĩ sáng tạo, sự quan trọng không phải là trợn mắt, nghiến răng, vung trái đấm tố khổ, nhân khổ mà là suy tư từ nỗi khổ, suy tư từ kinh qua nỗi khổ. Để khám phá niềm bí ẩn của nỗi khổ. Để cô đọng nỗi khổ thành chất khổ, thành tinh túy của nỗi khổ mà thể hiện trong tác phẩm. Bằng ý nghĩ đó, tôi Cám ơn ngục tù.

Cám ơn em nhé ngục tù
Nhờ em giải đoán giấc mơ tuyệt vời
Nhờ em dẫn xuống vực đời
Chỉ con đường lạ lên trời hư vô


Lửa nào nổi cuộc phần thư
Cũng thiêu luôn cả cái xưa phận mình
Bây giờ anh mới biết anh
Nỗi đau tiền kiếp đóng đinh làm người


Thân anh nghe sắp rã rời
Với hồn anh nữa ngậm ngùi phù du
Cám ơn em nhé ngục tù
Cám ơn em lớp sương mù huyền vi


Nhờ em anh đến anh đi
Nhờ em anh ở anh về nhẹ tênh.
4

Như tôi đã viết Gọi là thay lời tựa ở Nhà tù, cuốn 1 của bộ hồi ký ngục tù của tôi: “Không ai thích vào tù, dù chết trong tù sẽ thành liệt sĩ hoặc ra khỏi tù sẽ thành dũng sĩ. Linh mục cũng sợ tù. Các nhà cách mạng càng sợ tù hơn. Bởi thế, ngục tù không bao giờ là thành tích vĩ đại để khi thoát khỏi nó, người ta vỗ ngực khoe khoang, người ta quảng cáo nó như một món hàng thương mại, người ta xử dụng nó như một phương tiện bước vào chính trường. Như những người thật thà với chính mình, tôi rất sợ hãi tù đày. Tôi ở lại Việt nam vì vụng về trong mưu toan chạy trốn. Tôi không bao giờ ở lại để làm chứng nhân lịch sử cả. Công việc phi thường này dành cho người khác. Tôi ở lại và tôi bị bắt bỏ tù. Tôi đành ở tù”. Làm sao hơn được? Cũng đành thôi. Cũng đành, bạn ta ơi, Dương Nghiễm Mậu! Ở tù là chuyện cũng đành thì an ủi mình bằng cuộc phiêu lưu bất đắc dĩ, cuộc phiêu lưu định nghĩa Hạnh phúc và đau khổ.

Theo anh nhẹ bước phiêu du
Đi thăm địa ngục thâm u chín từng
Nghe xa thăm thẳm mịt mùng
Nghe gần hiu quạnh xoi mòn thịt xương


Nâng ly mật đắng Diêm vương
Uống say tới tận cuối đường cuộc chơi
Theo anh lên ngọn đỉnh trời
Hái hoa Thượng uyển thả trôi suối hồn


Nghe xa hạnh phúc đầu nguồn
Nghe gần ân ái thơm nồng Đào nguyên
Hôn em, ôi đóa môi mềm
Ôm em ôm cả niềm tin Địa đàng
5

Google photo edit by Sơn râu

Thế đó, những năm tĩnh ở các nhà tù Sở công an, đề lao Gia định, khám lớn Chí Hòa; những năm động ở các trại tập trung khổ sai lao động Sa Ác TH6, Rừng Lá Z30 D không bao giờ là thành tích huy hoàng, là “sự nghiệp” của tôi. Nó bình thường. Nó tầm thường như huyết tâm ở bọn vô lại khạc trúng gấu quần tôi, như ngộ nhận nghiệt ngã của người đời, của thói đời chụp bủa quanh tôi. Cái không bình thường, đối với tôi, là sự sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi, là sự khám phá không ngừng những niềm bí ẩn của đời sống, là sự đóng góp tài năng còm cõi của mình cho sự thắp sáng tổ quốc và hạnh phúc dân tộc. Đến hôm nay tôi mới biết noi gương Trần Dần:

Tôi có thể mắc nhiều
tội lỗi
Chẳng bao giờ quá ngu đi
mắc tội nằm
Han rỉ
khác gì cái chết
Chết con tim chẳng còn dám
đau thương
Chết khối óc
chẳng còn dám nghĩ
Nếu
tôi chửa đến ngày thổ huyết
Phổi tôi còn xâu xé mãi
lời thơ
Tôi có thể mặc thây
ngàn tiếng chửi tục tằn
Trừ tiếng chửi
“Sống không sáng tạo”
6

Phải, “tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn” của bọn vô lại. Bọn này “mắc tội nằm, tội han rỉ, tội chết con tim, tội chết khối óc” nên đâm ra sợ hãi những người sáng tạo. Chúng nó không dám chửi tôi “sống không sáng tạo”. Ai dám chửi tôi “sống không sáng tạo”?
Đầu tháng 8-1981, Z30 D ban ân huệ cho hai nhà kỷ luật đi tắm suối. Sáu mươi tù nhân ôm quần áo dơ, bình nhựa, xô nhựa xuất trại. Ở nhà, trực trại dẫn trật tự vào kiểm tra hành lý. Lại thêm một thủ đoạn mới. Người ta nghĩ rằng tù nhân bị kỷ luật vô thời hạn là tù nhân bị dồn vào chân tường, cần thiết đề phòng phản ứng đột xuất. Cảnh giác cao là châm ngôn Cộng sản. Cảnh giác bất cứ ai, bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Vậy cho tù nhân đi tắm suối thỏa thuê, tù nhân hoan hỉ, tù nhân tưởng tượng sắp mãn hạn kỷ luật, còn mình thảnh thơi lục lọi, khám xét.
Như thường lệ, Hải và tôi kéo xe đậu trước cửa nhà. Nhà 1 không còn gì để tịch thu, loại bỏ. Sang nhà 2, tôi ngồi ngay cửa. Nhà này toàn tù nhân Hà Nam Ninh. Trật tự khám xét tận tình. Cung củ đậu được phép đeo giây chuyền vàng tây có thánh giá. Nó cởi trần, mặc quần xà lỏn Đài Loan mà nó chỉa của một tù nhân. Từ khoang trên, nó liệng xuống sàn nhà xi măng một vật gì đó gây tiếng kêu. Trực trại, gã trung sĩ công an, tên Chiến di đế giép râu lên vật đó. Một miếng đá mỏng! Miếng đá không vỡ. Tôi lén vồ nhanh miếng đá bỏ vội vào túi áo tù trước ngực. Cung củ đậu liệng thêm cái thánh giá đẽo và mài nhẵn bằng gỗ lim. Trực trại Chiến lại di đế giép râu lên. Tôi lại lén vồ dấu đi. Là kẻ vô tôn giáo, nhưng tôi đã xúc động mạnh khi chứng kiến Cung củ đậu ném Thánh giá và cai tù Chiến di đế giép râu lên thánh giá. Quân dữ trong Tân Ước chắc cũng ngang ngược như thế này. Miếng đá và Thánh giá gỗ lim là hai vật còn sót lại sau nhiều lần khám xét. Xe cải tiến của chúng tôi chỉ mang đi đốt vài bộ quần áo rách, một số bị cói.
Ra chỗ đốt đồ loại bỏ, tôi móc túi ra xem miếng đá. Đó là miếng đá dày 50 ly, chiều ngang 4 phân, chiều dài 6 phân 50, có khoan một lỗ nhỏ đề luồn giây đeo. Một mặt, hình Đức Mẹ Maria được khắc thật công phu. Khuôn mặt Đức Mẹ nổi lên trong cái vòng tròn trũng xuống. Quanh vòng tròn là những nét khắc diễn tả ánh sáng từ khối óc của Đức Mẹ tỏa ra. Một mặt khắc con thuyền lênh đênh trên sóng cả, cột buồm là Thánh Giá. Dưới thuyền khắc bốn chữ trong Thánh Kinh: Này con là đá… Dưới nữa là hai chữ Lưu Niệm. Có thể gọi miếng đá này là Mề đay Đức Mẹ Maria. Tôi ngồi bần thần một lúc. Nguyễn văn Hải hỏi:
– Anh nghĩ gì vậy?
– Người tù và đức tin.
Tôi đưa Hải xem cái mề đay Đức mẹ. Anh ta khen đẹp và hỏi tôi:
– Anh lượm lúc nào?
– Lúc thằng Chiến di giép râu lên. Thằng Cung đã liệng mạnh, mề đay không vỡ. Thăng Chiến di mạnh, mề đay vẫn không vỡ. Miếng đá quá mỏng, cậu thấy chưa?
– Em thấy.
Tôi lấy lại cái mề đay, bỏ vào túi.
– Này Hải, cậu hình tưởng người tù tuyệt vọng ở Sơn La, ở Lào kay hay ở Yên Bái đi. Qua bến đò Khô Lâu là kể như hết đường về. Cậu lại hình tưởng người tù mài đá phẳng lì, mỏng và kiên nhẫn ngồi khắc hình Đức Mẹ, con thuyền, Thánh giá… Đức tin của anh ta vững mạnh khôn cùng. Chính đức tin của anh ta đã giữ nguyên vẹn cái mề đay đá. Đá mỏng không vỡ vì đức tin dày. Đức Mẹ Maria thật sự ở cái mề đay đá này.
Đến lượt trung úy Nguyễn văn Hải bần thần.
– Tôi còn lượm được thứ nữa.
– Cái gì ?
– Thánh giá mài bằng gỗ lim.
Tôi lôi Thánh giá khỏi túi.
– Tặng cậu.
Tôi cho Hải cái Thánh giá đã bị quân dữ dí giép râu lên. Chúng tôi về. Tôi đến hồ nước của bếp bệnh xá tắm gội. Tôi không quên dùng bản chải đánh răng chà rửa sạch cái mề đay đá. Kể chuyện cho trung úy Nhẫn nấu bếp bệnh xá, anh ta nói:
– Anh sẽ được hưởng nhiều ân sủng của Đức Mẹ.
Ân sủng của Đức Mẹ, tôi không bao giờ nghĩ tới. Vì tôi ngoại đạo. Hành động lén nhặt miếng đá của tôi chẳng có toan tính chi cả. Tôi cũng không hiểu tại sao, hôm đó, tôi phản ứng tự nhiên và hồn nhiên thế. Tôi cất dấu cái mề đay Đức mẹ, khó lòng trả lại người tù nhân chủ nhân của công trình tay chân và tim óc ấy. Anh ta khắc “Này con là đá” nhưng “chìa khóa nước Trời” không ban cho anh ta. Anh ta nằm nhà kỷ luật.
Cuối tháng 8-1981, phó giám thị Phúc gọi tôi “làm việc”. Thời gian này, vợ con tôi đã được cấp Giấy thông hành xuất ngoại. Trước đó, tôi phải làm giấy cam kết “không được khiếu nại chuyện vợ con sang Pháp, không được đòi theo vợ con sang Pháp”. Tin tức về sự can thiệp của Amnesty International rất lờ mờ, tuy nhiên, gia đình tôi vẫn nhận đều đặn mỗi tuần một gói quà gửi đường Bưu điện của các ông Jacques Provendier, Émile Le Brizaut ở Bretagne, Pháp, và bà Christa Bremer, kịch sĩ, ở Brême, Tây Đức thay phiên nhau tặng. Thầy Thích Nhất Hạnh cũng gửi thuốc và tiền về giúp đỡ gia đình tôi và tất cả gia đình các nhà văn bị cầm tù. Ông bà Auguste Ablason ở Ermont, Pháp, còn dám làm giấy khai sinh nhận vợ tôi là con gái và bảo lãnh cho vợ con tôi “về Pháp đoàn tụ gia đình”. Thêm vào nữa là linh mục Chân Tín và vợ chồng Nguyễn Ngọc Lan, những người tôi chống đối ra mặt trước 1975, dạy học các con tôi, giúp đỡ và bênh vực vợ con tôi. Còn tất cả bạn thân của gia đình tôi đều ngoảnh mặt! Con nuôi của tôi, nhân vật Ái Nhi trong Cây leo hạnh phúc, thì lừa tiền bạc và chửi rủa vợ con tôi. Đủ các thứ bìm leo lên dậu đổ. Cái sàng hoạn nạn đã đãi tình nghĩa. Lọt hết. Còn lại vài hạt bất ngờ, những hạt ngọc mà ta đã không mong ở trên đời.
Phó giám thị tiếp đãi tôi nồng nhiệt như hôm đầu tiên tôi đến Z30 D. Trà Thái nguyên. Thuốc lá Phù Đổng.

Google photo edit by Sơn râu

– Cơ hội về xum họp gia đình của anh đã rất thuận lợi rồi đó.
– Cám ơn cán bộ.
– Chị ấy và các cháu sang Pháp chưa?
– Chưa.
– Khi chị và các cháu sang Pháp, anh ở đâu?
– Có lẽ tôi về Bắc sống với bố tôi.
– Tốt thôi. Anh sẽ về.
Ông ta nhấn mạnh:
– Anh sắp về.
Và chậm rãi:
– Nhưng luôn luôn tâm niệm rằng đảng và nhà nước khoan hồng. Đảng và nhà nước tha anh. Ngoài ra, không một thế lực ngoại quốc nào đủ khả năng can thiệp cho anh được tha cả.
– Tôi hiểu
– Anh có điều gì phê bình sự điều hành của trại không?
– Thưa cán bộ, không.
– Tại sao không?
– Tù nhân chỉ chấp hành, không được phê bình.
Phó giám thị Phúc cười:
– Lãnh đạo của chúng tôi nhận xét anh không sai. Anh khôn lắm. Hơn cả khôn nữa cơ, anh biết nín thở qua cầu. Khách quan thì chúng tôi thành công vì anh đã lao động tốt, chấp hành nội quy nghiêm. Chủ quan thì chúng tôi thất bại vì anh không chịu thể hiện con người thật của anh.
Tôi bắt đầu nể nang phó giám thị Phúc. “Nó lú nhưng chú nó khôn”. Ông ta hỏi:
– Thật sự, anh muốn về chưa?
Tôi đáp:
– Ai ở tù lâu mà không muốn về.
– Tôi hỏi anh thôi.
– Tôi rất muốn về.
– Thế là đủ rồi. Bây giờ, một câu hỏi khác, câu hỏi mà tôi biết anh không thành khẩn trả lời nhưng tôi vẫn cứ hỏi.
– Tôi sẽ thành khẩn
– Tôi tin là không.
– Xin cán bộ thử hỏi.
– Anh còn thù hận chúng tôi không?
– Không.
– Dễ dàng nhỉ!
– Tôi sinh ra không để thù hận ai cả.
– Anh đã thù Cộng sản?
– Và tôi đã nằm tù khá lâu.
– Chưa lâu đâu. Anh phải nằm tù gấp 10 lần tội của một tên đại tá ngụy ác ôn. Nhưng anh sắp về, đảng và nhà nước khoan hồng tội ác của anh, cho là anh vẫn còn thù hận Cộng sản. Anh uống nước nữa đi …
Câu chuyện chuyển sang đề mục nghề nghiệp tương lai của tôi. Uống hết ấm trà móc câu Thái Nguyên, phó giám thị Phúc bảo tôi về trại. Ông ta tặng tôi gói Phù Đổng chưa bóc và tiễn tôi ra cuối hành lang. Người ta đã bảo tôi có « cơ hội thuận lợi về sớm » từ 17 tháng trước. Chắc chắn, cái « sắp về » sẽ kéo dài thêm 17 tháng nữa để « làm việc » lần thứ ba. Ngày 2-9-1981, Z30 D, K1 loan báo xổ số có văn nghệ chào mừng quốc khánh. Toàn thể tù nhân K1 tập họp ở hội trường, trừ hai nhà kỷ luật và cachot. Tổ vệ sinh đã quét dọn hội trường từ sáng sớm. Bàn ghế, máy móc kê sẵn. Kỳ này có những ba danh sách trúng số. Danh sách giữ bí mật tối đa, ngay trật tự Trần Trọng Thanh cũng không biết. Tôi vẫn nghĩ rằng, nếu được tha, tôi sẽ về lặng lẽ, không chung danh sách tù nhân cải tạo. Và tôi tự xếp tôi vào loại không mua vé số không thể trúng xổ số. Tôi đi quét sân, không vô hội trường. Trực trại Chiến bắt tôi vào tham dự văn nghệ liên hoan mừng 2-9.
Mở đầu chương trình xổ số lao cải, anh cán bộ giáo dục chơi bài Tuyên ngôn độc lập mở nước Việt nam dân chủ Cộng hòa, độc lập – tự do – hạnh phúc, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, vẫn độc lập – tự do – hạnh phúc. Tù nhân nghe Tuyên ngon độc lập thì bẽ bàng không thể tả nổi. Tuyên ngôn độc lập chấm dứt, ban nhạc hòa tấu bản Đàn Ta lư rất giật. Giật như ghẻ bôi thuốc xanh vậy. Tiếp theo là đọc danh sách tù nhân trúng số đợt nhất. Rồi văn nghệ giúp vui. Đơn ca, song ca, tốp ca. Đọc danh sách tù nhân trúng số đợt nhì. Tôi ngồi vỉa hè cuối hội trường đấu láo với trung úy Thọ và y tá Ninh thay thế bác sĩ Nhơn đã về. Bỗng Thọ đập mạnh đầu tôi:
– Có tên anh.
Tôi nói:
– Đừng đùa.
Ninh cầm tay tôi, giật mạnh:
– Anh có tên.
Tôi vẫn nói:
– Đùa dzai, mấy chú!
Tôi đứng dậy. Anh em ngồi trong hội trường quay xuống nhìn tôi, vẫy tay lia lịa, cười toe toét. Thì ra tôi đã trúng số. Tôi cũng trúng số. Tôi trúng số chung mới đúng là tôi hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của đảng và nhà nước, “không một thế lực ngoại bang nào đủ khả năng can thiệp” cho tôi được tha cả. Chào mừng tôi, trung úy Thọ lột ngày bộ quần áo tù Z30 D mới phát. Tôi còn trần xì cái xà lỏn. Đợi nghe hết danh sách đợt ba, “phen” của tôi, những bạn tù thiếu may mắn kỳ xổ số này, chê văn nghệ phụ diễn, “bắt cóc” tôi về nhà. Một màn kịch chia gia tài tù diễn ra. Tôi bị lột nhẵn nhụi và trở thành “con bà phước”, vô sản chính thống. Cái mùng và cái mền của tôi, nay tôi phải mượn lại vì đã bị “xí”. Tôm khô, lạp xường, hủ tiếu, mì vụn, bột ngọt đi hết. Thuốc tây, thùng thiếc bay luôn. Bèn ăn phở chờ ngày về. Cung củ đậu đến chậm, chửi um lên. Rốt cuộc nó cũng vồ được tuýp thuốc đánh răng Colgate vừa xài hai bữa.

——————————–

1Thân nhân ông Tường đăng cáo phó trên báo Sài gòn giải phóng
2Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984
3Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984
4Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984
5Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984
6Trần Dần, Hãy đi mãi



Trại Tập Trung

vietmessneger.com

Duyên Anh
Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 19

Tổ vệ sinh lo chở cơm, nước uống và nước xối cầu tiêu cho hai đội kỷ luật Hà Nam Ninh. Nguyễn văn Hải và tôi được trật tự giao công tác này. Trung úy Thọ thoát lưới đợt đầu. Tôi nói thoát lưới đợt đầu vì sự tầm tù chưa chấm dứt. Mỗi ngày một tù nhân bị gọi ra. Tù nhân này lên ban giám thị làm tự khai và « làm việc ». Rồi tù nhân này trở về, chuẩn bị hành lý khẩn trương rời phòng. Anh ta qua khu B. Liền đó, hai ba tù nhân Hà Nam Ninh khu B sang khu A, vô nhà kỷ luật. Sự ngờ vực lẫn nhau khởi sự cùng với sự sợ hãi. Hôm nay, một tù nhân bị gọi ra. Anh ta về, nhà không ai bị gọi, cũng không ai đến. Hôm sau, vài người khu B qua. Tù nhân bị gọi ra hôm qua hoảng hốt. Rồi Lâm Quyền vào nhà kỷ luật. Lâm Quyền ra « làm việc ». Mười hai người tù Z30 D cũ khuân hành lý vào nhà kỷ luật. Lâm Quyền bị chuyển trại. Ra vô, vô ra liên tiếp một tháng, Z30 D đã lọc đủ tù nhân « tích cực » trong vụ nổi loạn đêm 27 tháng Chạp. Nhiều tù nhân tình nguyện ra « làm việc ». Để chứng minh mình oan, chỉ có cách tố cáo những người « tích cực » chống đối. Sau thời gian « tầm thù » và phân loại mức độ « nguy hiểm », Hà Nam Ninh còn 40 người chịu hình phạt kỷ luật vô thời hạn, vì không đọc quyết định, Z30 D cũ có 20 người. Các đội Hà Nam Ninh đã có số riêng từng đội và đã đi lao động sản xuất. Họ lao động tích cực hơn tù nhân Thanh Nghệ Tĩnh và Z30 D cũ. Khu nhà kỷ luật coi như ổn định. Bây giờ Cung củ đậu có thể tác yêu tác quái.
Đền ơn Cung củ đậu chế ngự Hà Nam Ninh, trại cho anh ta ngủ với vợ hai ngày hai đêm. Vợ Cung củ đậu là cô vũ nữ xếch-xi. Tội nghiệp cho cô ta, Cung củ đậu hành lạc tả tơi, về trại khoe cùng khắp. Khu A, tù nhân già thì nể, tù nhân trẻ thì sợ Cung củ đậu. Anh ta được khám xét hành lý tù nhân nên biết hết tù nhân có những món gì. Ở Z30 D K1 không có hoạt cảnh … tổng vệ sinh. Tù nhân đi lao động, trực trại dẫn trật tự vào nhà, lục tung hành lý của tù nhân mà kiểm tra, loại bỏ và tịch thu. Tổ vệ sinh làm công việc kéo xe cải tiến đậu trước nhà. Hễ lục soát xong, vệ sinh quét dọn nhà và chở đồ loại bỏ đem đốt. Tù nhân đi lao động về phải cất xếp đồ đạc của mình bị lục bừa bãi. Những tù nhân lưu cữu, đồ đạc còn gì loại bỏ? Những bó đũa mài vót bằng gỗ mun công phu, trực trại tịch thu, sợ tù nhân dùng đũa chọc mắt, chọc tai nhau! Những cái plaques làm bằng inox tỉ mỉ, trực trại tịch thu gởi về cho em, cho tình nhân, sợ tù nhân « mua bán đổi chác »! Những tượng Phật, tượng Chúa khắc nghệ thuật, trực trại cho trật tự tịch thu. Những kinh sách tôn giáo bị loại bỏ. Những bản nhạc không có lời bị xé nát. Những thư từ viết khó hiểu bị giữ lại « nghiên cứu ». Vệ sinh thường lén giữ kinh sách tôn giáo, không đốt, đem về tìm đúng « đương sự » mà hoàn trả. Cung củ đậu « nắm vững » tù nhân và những món hàng quý. Và anh ta bắt địa kiểu xin xỏ khá nhiều kem đánh răng Close Up, xà phòng thơm Camay, quần xà lỏn, áo thun, xì líp Mỹ … Tôi cũng bị Cung củ đậu bắt địa cái kính lão đắt tiền. Thiên thần mũ đỏ Cung củ đậu nhảy các « xô » hủ tíu, mì, tôm khô, mỡ, lạp xường … Ngày nào cũng có người nhận quà thăm nuôi và ngày nào Cung củ đậu cũng enjoy với … anh em. Cung củ đậu bắt địa thuốc lá State Express 555 để cống cán bộ trực trại, chấp pháp. Anh ta không nghiện thuốc lá thuốc lào. Tôi đã nghe Cung củ đậu bô bô kể chuyện lính nhảy dù ăn gan Việt Cộng cho tù nhân và cả cai tù nghe. Anh ta tự thú anh ta cũng đã ăn gan người xào hành tây! Đến đây thì không còn gì đáng nói về thiên thần ghẻ Cung củ đậu. Anh ta đã làm ô uế hai tiếng nhảy dù mà tôi hằng ngưỡng mộ yêu mến. Bây giờ, tôi viết về thằng vô lại Cung củ đậu. Nó dọa đánh hết người này đến người khác. Nó hung hăng, phách lối. Nạn nhân khốn khổ của Cung củ đậu là chú bé tên Cường, can tội vượt biên, mẹ đã là « tài pán » của Maxim Sài gòn. Cung củ đậu còn sắm vai công an chấp pháp, gọi tù nhân nó ghét lên phòng trật tự « làm việc » và viết tự kiểm. Khi Hà Nam Ninh bị dẹp, Cung củ đậu trở thành hung thần. Nó chửi bới trật tự Phú già, đòi đánh trung úy Nhẫn nấu bếp phục vụ bệnh nhân, đì trung úy Hanh nhảy dù đến nỗi trung úy Hanh, hỗn danh Hanh thịt chó, hiền lành, ít nói, phải sang nhà kỷ luật. Chỉ vì trung úy Hanh khinh bỉ thiếu tá Phạm Đình Cung, chỉ vì trung úy Hanh xấu hổ thấy thiếu tá Cung củ đậu vênh váo cầm xâu chìa khóa, khoanh tay đứng sau tên trung sĩ công an trực trại.
Bằng thủ đoạn lọc người, Z30 D đã gây kinh hoàng cho tù nhân Hà Nam Ninh. Tù nhân nào cũng nơm nớp sợ hãi, hôm nào đó, mình sang nhà kỷ luật. Do đó, khi Z30 D thành lập ban văn nghệ phối hợp giữa nghệ sĩ tù nhân và nghệ sĩ cai tù, những tay vĩ cầm, lục huyền cầm Y pha nho, ca sĩ và múa sĩ và viết hòa âm của Hà Nam Ninh « đăng ký » hăng hái nhất và được tuyển chọn sớm nhất. Có một hải quân trung úy đã theo con tàu Việt Nam Thương Tín từ đảo Guam về … trình diện học tập cải tạo. Vị trung úy này trở thành vũ sư dạy các cai tù công an trai và gái nhảy múa. Z30 D, những kẻ ca ngợi Hà Nam Ninh hết lời, những kẻ đốc xúi Hà Nam Ninh « nổ », những kẻ hoan hô Hà Nam Ninh đánh tù nhân trật tự, sau khi viết tự kiểm lên án « bọn chủ mưu vô danh » lại đã là những kẻ chửi bới Hà Nam Ninh « chọc cứt không thành lỗ », Hà Nam Ninh khiếp nhược lao động tích cực, Hà Nam Ninh tầm thường xin vào ban văn nghệ, Hà Nam Ninh hèn mọn, « ăng ten », tố cáo lẫn nhau để chạy tội, để thoát vào nhà kỷ luật. Chẳng còn ai nhắc nhở Vũ Xuân Thông và 4 người Hà Nam Ninh về Chí Hòa địa ngục. Chẳng còn ai biết đến, ở nhà kỷ luật, 40 tù nhân Hà Nam Ninh bị trừng phạt ra sao. Người ta vẫn hoan hỉ gặp vợ con, nhận quà thăm nuôi và enjoy vui vẻ. Cuộc đời nó thế, bên ngoài và trong tù. Cái thành ngữ Bạc như dân, bất nhân như lính đã là chân lý.
Đầu tháng 4-1981, một người trong nhà kỷ luật được gọi ra thăm gặp gia đình. Tù nhân này không ra. Anh ta không dám ra vì sợ trở vào nhà cũ. Trực trại đến tận nhà dẫn anh ra gặp gia đình. Lãnh quà cáp về, anh ta yêu cầu được ngồi tại phòng trật tự và xin « làm việc » với cán bộ. Anh ta nói thẳng, nếu anh bước vào nhà kỷ luật, anh sẽ bị đánh chết. Tại sao? Anh ta đã phản bội « anh em ». Chỉ những kẻ phản bội mới được « ân huệ » thăm gặp gia đình. Anh ta giải thích một cách tội nghiệp thế. Để bảo đảm an ninh cho tù nhân này, ban giám thị cho anh chuyển K. Trực trại vào tận nhà kỷ luật đem hành lý của anh ra cho anh. Z30 D ban ân huệ hãi hùng chưa? Người tù khốn khổ này không tố cáo ai cả nhưng cả nhà kỷ luật đã lên án anh ta. Tù nhân ở nhà kỷ luật hết sợ kỷ luật, họ bắt đầu sợ ân huệ … thăm gặp gia đình! Và họ đề phòng nhau ráo riết. Điều sợ hãi nhất là bị gọi ra « làm việc » rồi trở lại nhà.
Nguyễn văn Hải và tôi, ngày tám lần, 14 chuyến chở cơm, nước sôi, nước xối cầu vào hai nhà kỷ luật. Hai nhà cách biệt, không được đứng sát rào kẽm gai biên giới nói chuyện và nhìn nhau, mỗi nhà một cái cổng ở hàng rào tre. Cửa nhà, ban ngày mở, ban đêm khóa. Cổng thì chỉ mở khi xe cơm nước ra vào, ra. Lịch trình vệ sinh phục vụ hai nhà kỷ luật:

  • Sáng: Cơm điểm tâm, nước sôi. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và nước sôi đem trả nhà bếp. Một chuyến. Chở một xe hai phuy nước xối cầu tiêu. Một chuyến.
  • Trưa: Cơm, thức ăn trưa. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và thức ăn đem trả nhà bếp. Một chuyến.
  • Chiều: Cơm, thức ăn chiều. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và thức ăn đem trả nhà bếp. Một chuyến.

Bẩy chuyến một ngày cho một nhà. Hai nhà là 14 chuyến. Sau nửa tháng, vòi nước lớn không ròng đến nhà kỷ luật nữa, chúng tôi còn phải chở 10 phuy nước cho mỗi nhà, thứ tư và 10 phuy, thứ bảy để tù nhân kỷ luật tắm giặt. Thoạt đầu, trật tự mở cổng và khóa cổng và kiểm soát sự liên hệ giữa vệ sinh và tù kỷ luật. Được một tháng, ông già Phú giữ chìa khóa và phụ trách cổng hai nhà kỷ luật. Ông ta giao cho tôi khóa, mở. Xong thì trả lại ông ta. Ông già Phú không theo dõi như Cung củ đậu. Chúng tôi thủ kỹ, chờ anh em khiêng cơm nước xuống là kéo xe ra ngay. Chở nước tắm, nước xối cầu vô, chúng tôi ra ngoài cổng đợi anh em múc hết đổ vào hồ trong nhà mới vô kéo xe đi. Thủ quá kỹ khiến trật tự tin chúng tôi. Và chúng tôi có thể giúp anh em vài việc lặt vặt.
Có một con chào mào miền Bắc, đít đỏ, hót rất hay. Nó cũng bị kỷ luật theo chủ. Chủ nó, một tù nhân Hà Nam Ninh. Anh ta nuôi nó từ khi nó chưa vỡ bọng cứt. Nó từ cái cóng bơ ra cái lồng tre nhỏ do chủ nó đan. Cửa lồng mở. Con chào mào tự do bay xa rồi lại nhớ lối trở về. Nó không biết mưu sinh. Nên nó đói. Tôi thương con chào mào, đi xin chuối, bóc vỏ liệng đi rồi lén chở theo cơm, vất vào lồng của nó. Mỗi trái chuối, nó sống được vài ngày. Để hót cho tù nhân kỷ luật đỡ buồn. Chủ nó muốn tặng tôi cả chào mào lẫn lồng, tôi thích lắm mà không dám nhận. Sau này, trật tự Trần Trọng Khánh gửi vợ đem về Sài gòn. Nó bị chuyển … trại. Cái lồng bị tịch thu! Người tù Hà Nam Ninh mất nguồn an ủi. Anh ta thương con chào mào, khóc nửa buổi, anh em nói nhỏ với tôi thế.
Từ khi một tù nhân Hà Nam Ninh được gia đình thăm gặp và xin chuyển trại, không có gì mới xảy ra cho hai nhà kỷ luật. Ở tù Cộng Sản, không bị ăn đòn cai tù mà thường bị ăn đòn của tù nhân, ăn đòn oan uổng. Trung úy Thọ kể với tôi rằng, hai năm đầu ở trại lao cải miền Bắc không có thăm gặp, chỉ nhận quà theo đường Bưu điện. Tin tức miền Nam mù tịt. Nhưng tất cả nuôi hy vọng « Phục Quốc » lớn lắm. Bất ngờ, một hôm có vị trung tá được vợ ở Sài gòn ra thăm gặp. Anh em kỳ vọng tin tức miền Nam, thứ vitamine T (tức là tin rỉ tai) cần thiết để sống đời tù. Vitamine T của các trại lao cải miền Nam là tin tức của đài BBC Luân Đôn. Tù nhân gặp vợ con, câu đầu tiên là hỏi « BBC có nói gì về Việt Nam » không. Vợ con nói những tin tức vẩn vơ, tù nhân vào trại « sáng tạo » thành tin tức thê thảm cho Cộng Sản. Ở những nơi chốn đau khổ, con người thường dối gạt chính mình để an ủi người khác. Tôi nhớ hồi chiến tranh biên giới Hoa – Việt, một tù nhân ra gặp vợ con, khi về, anh em hỏi Trung quốc tiến quân đến đâu rồi, tù nhân nọ đáp : « Chúng nó rút hết, rút hết », đã khiến anh em hy vọng Trung quốc « giải phóng » buồn thiu. Tin tức đài BBC Luân Đôn thường bị suy diễn rất ly kỳ. Đài BBC tiên đoán thời tiết cho người đi biển ngầm ý khuyên thuyền nhân không nên vượt biển vào thời gian sóng gió bất trắc, được thân nhân hiểu sai và được tù nhân tiếp thu vội. Nên Vitamine T bổ … tai và bổ tim như vầy: đài BBC bảo không cần vượt biên nữa, sắp thay đổi ở Việt Nam! Vị trung tá ở Hà Nam Ninh quá thật thà. Anh em nóng lòng muốn biết « phục quốc » hoạt động ra sao, ông ta đã trả lời: « Vợ tôi bảo không có phục quốc gì cả »! Thế là ông trung tá ăn đòn hội chợ. Vì làm vỡ … niềm tin. Đây là tội « ăng tin », đau hơn tội « ăng ten »! Người tù nhân ngay thẳng ở nhà kỷ luật, được gặp vợ con, không dám trở về. Bởi đã có kinh nghiệm « ăng tin » ở Hà Nam Ninh. Bạn đã hiểu nhà tù Cộng Sản chưa?
Tôi nói tiếp hai căn nhà kỷ luật của Z30 D, K1. Tù nhân sống mòn mỏi ở đó mà đếm từng giọt thời gian. Đô mi nô, cờ tướng, kinh sách, thư từ, giấy bút, diêm thuốc, ống điếu, đàn sáo, ca coóng, muỗng nhôm, giây thép … bị tịch thu đốt bỏ hết. Tinh thần họ căng thẳng. Thỉnh thoảng, Z30 D còn kéo căng thần kinh của họ bằng cách đem thư gia đình của họ vào đọc tên người gửi, người nhận rồi tuyên bố: « Thư của các anh bị xé bỏ, vì các anh bị kỷ luật. Chúng tôi đã duyệt thư, nội dung là vợ con các anh đang gặp nhiều khó khăn ». Tù nhân muốn điên lên. Chưa đủ, Z30 D đọc tên những người vợ con đến thăm nuôi, rồi tuyên bố: « Các anh bị kỷ luật, trại đã mời vợ con các anh về. Các anh đã làm tốn nước mắt của vợ con các anh vô ích ! ». Sự nhân đạo và khoan hồng của Cộng Sản đó. Nhưng cậu Đoàn văn Toại đã biểu dương sự khoan hồng và nhân đạo này bằng cách bịa đặt tù nhân lập kiến nghị và ký kiến nghị trong đề lao Gia Định còn khe khắt hơn trong nhà kỷ luật tập thể Z30 D và các trại trừng giới. Tù nhân ở hai nhà kỷ luật K1 và Z30 D thèm nước … tắm hơn thèm cơm. Hễ trời có vẻ muốn mưa, cửa nhà khóa chặt ngay. Không sợ tù nhân trốn trại, mà không thích tù nhân tắm mưa thoải mái. Các ca, xô nhựa hứng nước mái nhà cũng bị dẹp.
Để cho kỷ luật thấm thía mùa nắng, Z30 D thêm mục tưới cây, tưới cỏ chung quanh hai nhà kỷ luật. Tưới tối đa nước. Chúng tôi lại phải kéo nước còng lưng tưới cây, tưới cỏ trước mắt tù nhân kỷ luật. Tôi biết có nhiều hũ, nhiều bình, nhiều ca nhựa dấu kỹ ở các gốc cây, bụi cỏ, xó hè … Chúng tôi đã tháo hoa sen, rót nước vào hũ, bình, ca. Tôi không quên mình đã bị Tư Long cúp nước khốn khổ ở khu FG, Chí Hòa.

Google photo edit by Sơn râu

o O o

Sau vụ Hà Nam Ninh, có thêm hai đợt tù nhân trúng xổ số nữa. Bấy giờ là tháng 7-1981. Sáu mươi tù nhân đã trải qua 5 tháng kỷ luật vì những « đầu óc lớn » họ còn tin tưởng người Mỹ. Nước Mỹ đã có 3 tổng thống từ 30-4-1975. Gerald Ford tuyên bố bán cái « Lịch sử đã sang trang ». Jimmy Carter hò hét, phất lia ngọn cờ Nhân quyền. Ronald Reagan, tay chống Cộng chuyên nghiệp số 3 sau Goldwater và Nixon. “Au Vietnam, rien de nouveau”! Các nhà tù, các trại tập trung khổ sai lao động mà đa số tù nhân là sĩ quan quân lực VNCH, là sĩ quan cảnh sát, là sĩ quan tình báo, là các viên chức, nghị sĩ, dân biểu trong các cơ cấu quốc gia, là “đồng minh” của Mỹ; phần còn lại là tù nhân Việt Nam cùng lý tưởng với Mỹ, chiến đấu cho dân chủ, tự do sau 30-4-1975, không có gì mới cả. Tuyệt nhiên không có gì mới cả. Ngọn cờ nhân quyền của Jimmy Carter chỉ là ngọn cờ giấy. Chỉ là cái mỏ con ó. Và tù nhân đã chán chường con ó.
Con ó bảo mỏ mình thôi nhọn quắt
Và con gấu khoe chân mình cùn nanh vuốt
Nhưng loài người vẫn bị mổ mắt, vẫn bị cấu cào
Ta thì vẫn nằm dài trong những đề lao

Khi Jimmy Carter phất cờ Human Rights, Sài gòn có nhiều người Việt Nam phất theo. Những người này bị Cộng Sản còng tay bằng Iron made in USA viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa bởi chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ. Tôi không tin người Mỹ từ ngày tôi cầm bút, tôi không mảy may hy vọng người Mỹ cứu dân tộc tôi sau khi đã dâng hiến dân tộc tôi, như miếng mồi, tận miệng Cộng Sản. Tôi muốn quên người Mỹ như quên con quái vật trong chiêm bao. Nhưng tôi vẫn phải nhớ người Mỹ qua hình ảnh chiếc còng made in USA đã còng tay, còng chân tôi từ nhà tôi đến các nhà tù, các trại tập trung. Còng made in USA ám ảnh tôi. Tôi đã nghĩ một bài diễn văn không bao giờ được đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ, những ngày tôi nằm ở FG Chí Hòa. Bài diễn văn này tôi viết ở trại tị nạn Pulau Bidong.
“Thưa quý vị nghị sĩ và dân biểu Mỹ, đại diện cho lương tâm của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Hiệp chủng quốc,
Thật là một hân hạnh lớn lao cho tôi, được vào tòa nhà thiêng liêng này và được thưa chuyện với những con người cao cả của nước Mỹ, những con người sắp trở thành, sẽ trở thành những vĩ nhân không những của riêng nước Mỹ mà còn của cả thế giới, những con người mà tay dơ cao biểu quyết hay buông thấp khước từ là một nửa trái đất no hay đói, chiến tranh hay hòa bình, thắng hay bại, hạnh phúc hay đau khổ, bỏ nước chạy trốn như bầy vịt hay ở lại sống đoàn viên. Chính quý vị, những người đầy phép tích, đầy quyền uy, lương tâm của hai trăm mười sáu triệu dân Mỹ, đã vung cánh tay thần tiên, biến quê hương Việt Nam của chúng tôi thành một đại dương nước mắt. Tôi phải thành thật bày tỏ tấm lòng cảm phục của tôi với quý vị, những nhà ảo thuật đổi trắng thay đen trứ danh bậc nhất từ thuở có nền ảo thuật trên hoàn cầu. Tôi càng cảm phục hơn về tấm lòng trắc ẩn của quý vị, lương tâm của nước Mỹ, đã chẳng thèm lý tới hàng ngàn bộ xương của các chiến sĩ anh dũng Hoa kỳ không bao giờ biết thua trận còn nằm ngổn ngang đó đây ở bờ bụi Việt Nam. Sau hết, tôi vinh tôn sự khiêm tốn của quý vị, sự hiếu hòa tối đa của quý vị, những con bồ câu hiền lành hơn cả bồ câu, những chú nai ngoan hơn cả nai, đã tình nguyện thua trận ở Việt Nam mà chẳng cần đau xót, nhục nhã, xấu hổ. Theo tinh thần Đông phương, quý vị đã đạt rồi, đã là chính nhân quân tử rồi vậy. Và theo tinh thần nhà Phật, quý vị đã ngộ. Thua cái đáng thua ấy là thắng. Thắng cái không đáng thắng ấy là thua. Quý vị thông hiểu nghĩa sinh sát của nhà Phật một cách sâu sắc.

Google photo edit by Sơn râu

Những anh lính Mỹ khù khờ, đần độn chết khốn nạn ở Việt Nam là đáng đời. Vì trót dại đòi thắng, thắng nữa, thắng mãi. Những ông đại sứ cuốn cờ chạy bán sống bán chết cũng là những anh mê muội, xuẩn ngốc, cao ngạo, sống ở phương Đông mà không thèm nghiên cứu triết lý sống của cổ nhân Đông phương. Một lần nữa, nhân danh người Việt Nam chống Cộng Sản không cần bàn tay quý vị dơ lên tụt xuống quyết định số phận của dân tộc tôi, tôi xin biểu dương quý vị, lương tâm của nước Mỹ, người khổng lồ đã hoan hỉ thua chú tí hon.
Thưa quý vị,
Tôi trốn khỏi ngục tù Cộng Sản sang đây không phải để xin quý vị thương xót ban cho chút hạnh phúc định cư tại Mỹ, xin được nhập quốc tịch Mỹ. Cũng không sang đây để, bắt chước ông Thân Bao Tư, người nước Sở, quỳ gối giữa sân Tòa Bạch Ốc, xin quý vị đem quân sang lần nữa giải phóng chúng tôi. Tôi sang đây chỉ để trình bày một vấn đề liên quan tới lương tri của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Mỹ. Sau đó, tôi sẽ trở về quê hương tôi, sẽ vào tù nữa. Ngục tù đối với chúng tôi nó còn đơn giản hơn tự do, dân chủ đối với quý vị. Cách đây mấy năm, ông Gerald Ford, vị tổng thống bất hủ của lịch sử hiện đại Hoa kỳ, nhìn cái quyền uy cuối cùng của nước Mỹ ở Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản, đã thản nhiên tuyên bố với nhân dân Mỹ, quân đội Mỹ và thế giới rằng, lịch sử đã sang trang. Lịch sử thua trận ở Việt Nam của người Mỹ không hề biết thua trận đã sang trang, sang rất vội vàng. Mọi bí ẩn của nó, đời sau sẽ rõ. Chúng tôi không phàn nàn gì cả. Một cô gái quê lên tỉnh gặp tú bà, sở khanh, chỉ biết trách mình ngu ngơ khờ khạo. Thế thôi. Lẽ phải luôn luôn nằm trong tay những kẻ táng tận lương tâm. Tôi chẳng có gì phải hậm hực. Người Mỹ rút khỏi Việt Nam để lại rất nhiều cặn bã. Cộng Sản nó bảo quý vị đưa chúng tôi về thời kỳ đồ đá. Nó bài trừ ảnh hưởng văn hóa đồi trụy và tư tưởng của quý vị rất kỹ. Chiến dịch và chiến dịch. Việc của nó không ăn nhằm gì tới tôi cả. Cả những đứa trẻ con lai Mỹ đen, Mỹ trắng còn vất vưởng ở Sài gòn, ngày đi ăn xin, lượm giấy vụn, đêm họp nhi đồng, nhận Hồ Chí Minh là bác, cũng không ăn nhằm gì tới tôi. Cái đáng nói, đối với chúng tôi, những người trực diện chống đối Cộng Sản không cần nhận quý vị là đồng minh, là những cái còng made in USA mà khi cuốn gói khỏi Việt Nam, quý vị đã quên không di tản.
Thưa quý vị,
Tôi xin phép quý vị để được nói đôi chút về sự liên hệ của chúng tôi với người Mỹ và những cái còng. Vâng, người Mỹ, chúng tôi, kẻ thù, còng khóa chỉ là những con đô-mi-nô tội nghiệp. Lục ngũ phải dính với ngũ tứ, ngũ tứ phải dính với tứ tam vân vân… Cái chủ thuyết domino thật trứ danh. Nó là trò chơi của tư tưởng. Nó có luật giết bò, gài triệt, triệt buộc… Dĩ nhiên, nó còn có cả gian lận, chạy làng nữa. Chúng tôi vốn đôn hậu, hồn nhiên, ngây thơ và nồng nhiệt. Theo tiếng gọi tân biên cương và quyền sống con người trên trái đất của cố tổng thống Kennedy, chúng tôi lớn lên, phóng tầm mắt nhìn sang nước Mỹ như nhìn hạnh phúc của dân tộc mình sau một trăm năm buồn tủi. Cái lý tưởng tự do, dân chủ của Hiệp Chủng Quốc đã hấp dẫn thế hệ chúng tôi, đã thúc dục chúng tôi móc trái tim dâng hiến sự nghiệp xây dựng tự do, dân chủ. Như những chiến sĩ Mỹ đã anh dũng hy sinh tại Việt Nam, chúng tôi không cần tiết kiệm xương máu. Cho tới phút này, hình ảnh người lính thủy Mỹ cuối năm 1954 vẫn là hình ảnh ngoại nhân đẹp nhất đối với chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn chính sách của nước Mỹ ở Việt Nam như đã nhìn lính thủy Mỹ thật thà, dễ thương xuất hiện trên vỉa hè Sài gòn năm xưa. Bất hạnh cho chúng tôi là chính sách của quý vị đã không giống hình ảnh người lính thủy cuối năm 1954, càng khác xa chính sách của quý vị ở ngay nước Mỹ. Chúng tôi già nua trong nỗi thất vọng và những dâu biển của thời thế do quý vị tạo ra trên quê hương chúng tôi. Tôi vẫn để dành những giọt nước mắt khóc những người lính Mỹ bỏ xác tại Việt Nam. Hôm nay, tôi xin được khóc thương họ trước mặt quý vị, vì tôi biết quý vị đã quên họ. Nước mắt cho những con người chết cho lý tưởng giả dối và cho sự lừa gạt của con người trên trái đất. Nhưng quý vị, quý vị luôn luôn cao cả, luôn luôn là ngọn đuốc sáng biểu tượng lương tri của dân tộc Hoa kỳ, luôn luôn là thứ quyền uy vô địch kể từ nhân loại có quyền uy.
Thưa quý vị,
Bây giờ, tôi xin trở lại chuyện những cái còng viện trợ Mỹ. Xin thưa với quý vị rằng, tháng năm nằm trong cachot của Cộng Sản, tôi chợt nhớ hai bàn tay thân hữu nắm chặt lấy nhau gắn bó tình nghĩa viện trợ Mỹ các nước trên thế giới. Cái emblème quý vị chọn lựa thật là thấm thía. Bàn tay của quý vị lớn, khỏe, quý vị bắt chặt, siết chặt thân hữu các nước nhỏ thì các nước nhỏ chỉ có trợn mắt, lè lưỡi mà thôi. Ý nghĩa thấm thía nữa là hai bàn tay trao và nhận viện trợ hôm nay, sẽ là hai bàn tay còng và bị còng ngày mai. Ở Việt Nam, Cộng Sản chơi rất bẩn. Nó cứ còng chúng tôi bằng còng Mỹ. Nó hô hào tận diệt mọi tàn tích của đế quốc Mỹ nhưng nó đã “nuôi dưỡng” còng Mỹ. Tôi không hiểu tại sao kỹ nghệ và văn minh chế còng của Cộng Sản tối tân hơn của Mỹ mà nó lại suy tôn còng Mỹ quá đáng thế. Đó là vấn đề tôi phải bơi thuyền gỗ, lênh đênh trên mặt đại dương, đương đầu với bao nhiêu hiểm nguy để sang nước Mỹ phỏng vấn quý vị, sau nhiều năm luân lạc khắp các đề lao, các trại tập trung. Tôi phải bán cái nhẫn kỷ niệm cuối cùng mới đủ tiền mua vé xuống thuyền trốn khỏi Việt Nam. Như những thuyền nhân bất hạnh khác, tôi bị hải tặc hãm hiếp bảy lần, bị đói khát mười ngày ròng rã và, sau hết, trầy bả vai, nhỏ máu mắt mới vô được nước Mỹ thiên đường. Để lên Thiên Đường, quý vị linh mục chỉ cần làm sáng danh Chúa. Để vào nước Mỹ, quý vị linh mục cần có thân nhân ruột thịt ở Mỹ làm ở RMK, Pacific hay… đi lính! Tôi vô thiên đường Mỹ nhờ dạy học dưới chế độ quý vị bảo trợ. Nhưng tôi sẽ trở về quê hương đau khổ của tôi như Lưu Thần, Nguyễn Triệu đã trở về quê hương trần thế lầm than sau một lần dại dột cất bước lên thiên thai. Người trên thiên thai trái tim bằng gỗ, không biết rung động, không biết yêu, không biết xấu hổ. Tôi hy vọng quý vị sẽ chẳng làm tôi tiếc rẻ cái trinh tiết còn lại đã bị ô uế trên mặt biển, khi trở lại Việt Nam.
Thưa quý vị,
Chúng tôi, khi bị còng dính chùm với nhau, đã bàn cãi sôi nổi về những biểu quyết của quý vị về ngân sách, tài khoản viện trợ cho Việt Nam. Bạn tôi bảo, quý vị toàn là những người xuất thân từ Harvard, từ Yale, từ Cornell, từ Darmouth…, những nơi quy tụ tinh hoa của trí thức, những nơi mà trí tuệ nước Mỹ sẽ tỏa khắp năm châu, mở đường khai lối tự do, dân chủ cho loài người. Những người cao cả như quý vị không thể, không bao giờ biểu quyết chấp thuận viện trợ dùi cui và còng cho bọn thống trị độc tài, phát-xít bản xứ. Bạn tôi bảo, quý vị chỉ chấp thuận cho chính phủ Mỹ viện trợ thuốc DDT giết muỗi, thuốc khai quan giết cây, hại rừng, tàn sát môi sinh, bom đạn giết người, lựu đạn mửa, khói cay đàn áp tuổi trẻ xuống đường học tập dân chủ và chính sách tham nhũng riêng cho lũ tướng tá thống trị bù nhìn vơ vét mồ hôi của dân, xương máu của lính. Không bao giờ quý vị chấp thuận viện trợ dùi cui và còng. Trí tuệ nhà nước Mỹ không bao giờ là dùi cui và còng. Bạn tôi bảo thế. Và chúng tôi hoàn toàn đồng ý. Thế nhưng, tại sao dùi cui và còng Mỹ lại ngổn ngang khắp đất nước Việt Nam? Chẳng lẽ chính phủ Mỹ dám qua mặt Quốc hội ? Những cái dùi cui Mỹ viện trợ đã giáng xuống nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Việt Nam ra sao, quý vị đã đọc trên báo chí Mỹ. Còn những cái còng Mỹ viện trợ thì để còng tay Cộng Sản và còng luôn cả tay những người chống Cộng Sản, đồng thời cũng chống luôn tập đoàn thống trị quân phiệt ngu dốt và ăn cắp. Nếu từ trước tới nay, quý vị chưa hiểu bí mật của còng Mỹ thì, bây giờ, quý vị đã hiểu tại sao những người trí thức chân chính bản xứ không ưa người Mỹ.
Thưa quý vị,
Có hàng ngàn vấn đề cần đặt ra để thắp sáng lương tri dân tộc Mỹ nhưng, rất tiếc, không thuộc phạm vi bài diễn văn của tôi hôm nay. Tôi sang đây không làm công việc than vãn, trách móc hay cầu cạnh. Lịch sử, như ông Ford nói, đã sang trang. Người Mỹ không thích lần dở quá khứ, không thích phục hồi dĩ vãng. Những kẻ còn ôm cái ảo tưởng bám chân người Mỹ về giải phóng quê hương, thâu tóm quyền bính cũ là những kẻ xuẩn ngốc đang chiến đấu với hư mộng. Chúng tôi khẳng định với quý vị rằng, chúng tôi không cần người Mỹ trở lại Việt Nam. Một lần đã đủ chua xót. Hãy để chúng tôi yên lặng ngồi liếm vết thương và làm lại quê hương chúng tôi.

Google photo edit by Sơn râu

Lịch sử đã sang trang, thật sự đã sang trang rồi. Hiện tại là khởi sự những trang lịch sử mới của dân tộc chúng tôi chiến đấu cô đơn với Cộng Sản, chiến đấu bằng trái tim, không bằng súng đạn Hoa kỳ. Có một thứ quyền trên cả nhân quyền và thần quyền. Đó là quyền hy vọng. Chúng tôi hy vọng sẽ loại bỏ Cộng Sản như tổ tiên chúng tôi đã loại bỏ quân thù truyền kiếp. Nhưng, trước khi dấn thân vào sự quyết liệt, tôi tưởng nên gỡ nốt cái móc làm sự sang trang của lịch sử hiện đại Hoa kỳ thiếu suông sẻ. Vâng, tôi xin tiếp tục đề cập cái còng Mỹ. Còng Mỹ, nói rõ rệt, còng chế tạo tại Mỹ, do Mỹ viện trợ cùng với bột DDT, sữa hết chất béo, phó mát thừa, quần áo cũ, thuốc khai quang, bom đạn và cố vấn lãnh đạo đàn áp, đã còng tay còng chân những người Việt Nam đối lập các chế độ ở nước tôi do quý vị nặn ra rồi đạp đổ. Những người Việt Nam bị còng Mỹ siết chặt đều là những người nghe răm rắp tiếng thúc dục tranh đấu cho lý tưởng tự do, dân chủ của người Mỹ vĩ đại Kennedy. Còng Mỹ được trao cho đầy tớ Mỹ để nó phản bội lý tưởng của vĩ nhân Mỹ. Rốt cuộc, tình nghĩa Mỹ trao gửi Việt Nam đã bị còng luôn! Nghĩ cũng buồn.
Thưa quý vị,
Càng buồn hơn, còng Mỹ đang được Cộng Sản trao cho cái sứ mạng còng tay, còng chân những người Việt Nam chống Cộng Sản một mình, những người Việt Nam còn say mê lý tưởng tự do, dân chủ, còn nhìn ông Kennedy như ngọn đuốc soi đường. Có lẽ, quý vị phải mở cuộc điều tra tường tận về con số còng chính xác viện trợ cho Việt Nam hai mươi năm trước. Nhiều người quá khích cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam, để lại toàn bộ còng, khóa, dùi cui là có mục đích xấu xa. Tôi không tin thế. Thật lòng, tôi không tin thế. Luôn luôn, tôi nhìn dân tộc Mỹ qua các văn hào Mỹ, các vĩ nhân Mỹ. Tâm hồn đích thực của dân tộc Mỹ là tâm hồn Lincoln. Ngoài tâm hồn ấy là chính sách của Mỹ đối xử với các nước nhỏ. Tôi yêu dân tộc Mỹ, người Mỹ và thù ghét chính sách Mỹ ở nước tôi như tôi thù ghét còng Mỹ đã siết chặt chân tay tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi! Còng Mỹ đang siết chặt chân tay đồng bào tôi và chẳng biết đến ngày nào nó mới chịu nghỉ mệt. Dân tộc Mỹ và quý vị, chắc chắn, không bao giờ muốn dân tộc Việt Nam bị Cộng Sản còng chân tay, tống vào tù ngục bằng còng Mỹ. Bởi thế, thân gái dặm trường, tôi phải chịu nhục nhã trên đường bôn tẩu, sang tận đây để tường trình quý vị những cái còng viện trợ Mỹ còn ngổn ngang khắp các nhà tù, đề lao, trại tập trung của Cộng Sản. Tôi không dám làm công việc tra vấn lương tâm quý vị vì tôi hiểu lịch sử sang trang vội quá nên quý vị cũng quên nhanh quá và nhiều chuyện quý vị chưa kịp nhớ. Vậy, tôi sang đây nhắc quý vị rằng, quý vị cần phải thu hồi toàn bộ còng của quý vị về Mỹ. Thu hồi bằng cách nào, đó là nhiệm vụ, là bổn phận, là lương tâm của quý vị, nằm trong chiến thuật, chiến lược mà tôi không nên biết, không nên hỏi. Người Mỹ đã lên cung trăng đem đá xuống trần gian, người Mỹ sẽ sang Việt Nam mang hết còng Mỹ về nước. Chúng tôi tin tưởng quý vị thừa khả năng.
Thưa quý vị,
Khi những cái còng Mỹ viện trợ Việt Nam còn do Cộng Sản dùng để siết chân tay những người Việt Nam chống Cộng Sản cô đơn, những người Việt Nam chân chính, quả cảm, quyết thắp sáng ngọn đuốc lý tưởng tự do, dân chủ thì lịch sử hiện đại của Hoa kỳ hai mươi năm can thiệp ở Việt Nam chưa sang trang. Khi ấy, quốc hội Mỹ nên đeo một chiếc còng vào cổ tay cầm bó đuốc của Nữ thần Tự do và hoán chuyển thế đứng cho nữ thần yêu dấu. Và, chính phủ Mỹ cũng nên treo một chiếc còng lớn lên đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoa kỳ bỏ mình vì lý tưởng tự do, dân chủ ở Việt Nam. “Bởi vì, còng Mỹ còn hoạt động tại các ngục tù Việt Nam là người Mỹ còn có mặt tại Việt Nam. Và vết ô nhục phản bội còn hằn trên lương tâm quý vị, hằn trên lương tri dân tộc Hoa kỳ; còn là lưỡi lê dơ bẩn cắm xuống mồ các vĩ nhân Mỹ, đâm vào trái tim những người lính anh hùng Mỹ đã chiến đấu, đã đổ mồ hôi và máu, đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho ngọn cờ dân chủ và hạnh phúc loài người…”
Bài diễn văn này do cô giáo Nga đọc ở cachot khu A đề lao Gia Định thời gian cô bị còng made in USA còng dính chùm cô với hai cô Lan và Nhi. Nó ở chương thứ năm của Sỏi đá ngậm ngùi 1. Tôi không tin Mỹ cứu tù nhân cải tạo, cứu dân tộc tôi. Tôi chỉ muốn bắt họ sang Việt Nam thu nhặt hết còng Mỹ đem về Mỹ. Cái ảo tưởng Mỹ cứu, Mỹ sẽ can thiệp chuyện Việt Nam đã đưa vô số người vào tù Cộng Sản và đưa vô số tù nhân vào nhà kỷ luật của trại tù. Nằm buồn tênh ở nhà kỷ luật, vẫn còn tù nhân hỏi tôi: “Có nghe BBC nói gì về vụ này không?” Chẳng muốn để anh ta tuyệt vọng, tôi đáp: “Yên chí, họ sẽ nói”. Những thằng ngu đưa dân tộc của chúng nó vào ngục tù Cộng Sản, rồi đổ vạ Mỹ không dạy mình giữ nước, không viện trợ đều đều. Thêm những thằng ngu tin tưởng Mỹ cứu, đưa bạn tù của chúng nó vào nhà kỷ luật chịu đựng trăm đắng nghìn cay một cách lãng nhách.

——————————–

1Nam Á – Paris, 1985.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 14 July, 2023

Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Kỳ 11

Lời Giới Thiệu:

 Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui. Như vậy là, qua một ngày kịch chiến, Trung Ðoàn E48 và một tiểu đoàn Trinh Sát của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã bị quân ta đánh bại. Tới 4 giờ sáng, địch bỗng đổi hướng, liên tiếp tung ra hai lần xung phong từ Tây Bắc xuống nhắm vào khu Chi Ðoàn 3/19. Cách đánh của đơn vị Việt-Cộng này khác hẳn cách đánh của Trung Ðoàn E 48/320A Cộng-Sản. Sau khi dàn quân trước tuyến xung phong thì bọn Việt Cộng này tập trung hỏa lực bắn tới tấp vào một vị trí trên mục tiêu với đủ loại vũ khí cộng đồng để mở khẩu, sau đó mới ào ạt tiến lên.

Tới khi tiến vào được trung tâm của ta thì các cán binh địch tự động phân tán, rồi nhanh tay ném thủ pháo vào các pháo đài, công sự, chiếm được chỗ nào thì bám trụ chỗ đó. Sau khi đơn vị địch bị đẩy lui, tôi mới được Bộ Tư Lệnh 22 cho hay, địch vừa  điều động Trung Ðoàn E64 vào vùng để thay thế cho E48. Như vậy, tổng kết lại, trong đêm 14 rạng 15 tháng 4 năm 1974 đã có 4 lần biển người diễn ra. Hai đợt xung phong đầu là do E48, hai đợt sau là do E64. Chưa ai chợp mắt được phút nào thì trời đã sáng.

Ngày 15 tháng 4 năm 1974:

Sớm tinh mơ ngày 15 tháng 4, chúng tôi nhận được điện văn khen ngợi của Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì đêm qua đã đẩy lui ba tiểu đoàn địch! Dù biết ngoài bờ tường đất Plei Ngol Ho địch chết rất nhiều, nhưng tôi không thể cho người ra thu chiến lợi phẩm, vì tiếng súng bắn nhau đã bắt đầu nổ trở lại. Tới đợt xung phong thứ nhì trong ngày, tức là đợt biển người thứ sáu của Cộng-Quân nhắm vào Plei Ngol Ho thì anh chuẩn úy đẹp trai Trương Trọng Tài chết trên chiến hào. Tài bị một tràng AK trúng ngực, ngã ngửa, nằm vắt trên bờ đất, cách tôi chừng mười thước. Trong lúc Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh Nhứt Yang bắn như tưới đạn về phía địch thì tôi len lách dưới giao thông hào tới bên Tài.

Tôi vuốt mắt cho thằng em cựu học sinh Trung Học Trần Quý Cáp,

– Vĩnh biệt em tôi!

Tôi quay qua hướng Thiếu úy Phiến,

– Anh sẽ cho người thay chú Tài.

Rồi tôi ngoắt tay cho Hạ sĩ Ba và Binh 1 Yang,

– Hai đứa về nói với Trung úy Chủ cho hai sĩ quan thực tập đi theo tụi mày ra Ðại Ðội 3 ngay!

Ðợt xung phong thứ sáu chấm dứt, mặt Tây tạm yên thì có tiếng súng nổ bên hướng Ðông. Tôi chạy về khu chỉ huy gọi Thiếu úy Trần Văn Phước rồi thầy trò tôi lần mò theo bờ rào sang tuyến phòng thủ của Ðại Ðội 1. Thiếu úy Phạm Văn Tô đang rầy la một chú tân binh trẻ, anh chàng này vừa làm cướp cò khẩu súng M16 của anh ta. Mãi tới lúc tôi đến sát bên, thầy trò ông Tô mới hết la mắng nhau. Lính Ðại Ðội 1 đa số là người Chàm và người Việt gốc Miên. Thấy tôi, anh em lộ rõ niềm vui ra mặt. Có lẽ ít khi họ có dịp được một ông tiểu đoàn trưởng tới an ủi, hỏi thăm dưới cơn mưa pháo. Tôi trở về hầm chỉ huy vào lúc Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thông báo rằng họ sẽ đánh một box bom mỗi chiều 1km cách tôi 6 cây số về hướng Tây Tây Nam. Box bom này do những oanh tạc cơ A37 thực hiện.

Tôi khiếu nại rằng, hiện giờ tôi sắp hết đạn rồi, tôi xin ưu tiên được phi cơ đánh cận phòng, tôi không cần yểm trợ xa. Tôi lại nhận thêm lời hứa, “Chờ!” Tôi đang bực mình vì lời hứa, “Chờ!” của cấp trên thì nghe tiếng ông Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 3/19 hỏi rằng lúc nào sẽ có tiếp tế đạn cho ông ta? Thế là, tôi đành chuyển tiếp tiếng, “Chờ!” cho ông Xá! Ai ngờ, năm phút sau Ðại úy Xá cho người khiêng sang cho tôi sáu két đạn M16.

Ðại úy Xá nói với tôi,

– Tụi tui thiếu đạn 12.7 ly nhưng dư đạn M16 nên chia bớt cho Biệt Ðộng Quân.

Tôi mừng húm, vừa cười vừa nói với Xá,

– Cám ơn! Cám ơn!

Tới trưa 15 tháng 4 thì ba mặt Bắc, Tây và Nam của Plei Ngol Ho lại bị địch tiến đánh. Mặt nặng nhất vẫn là chính Tây do Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến trấn giữ. Sau khi ra lệnh cho Ðại úy Xá và Trung úy Chủ phải cố gắng giữ tuyến Bắc, tôi nắm tay anh lính mang máy PRC 25 nương theo bờ đất chạy tới căn lều của Thiếu úy Phiến. Ðạn địch cứ “Chíu! Chíu!” bên tai. Tới hầm của Thiếu úy Phiến, tôi thấy Phiến đang quỳ gối bên cái poncho trên có một người đang nằm ngửa, mặt đầy máu. Khi tôi tới sát bên, Phiến buồn rầu,

– Anh Tuấn chết rồi!

Trước mắt tôi là xác người sĩ quan thực tập Võ Bị khóa đàn em của tôi. Chú ấy tên là Tuấn. Tuấn bị bắn vỡ đầu. Ngay lúc này, ở hai ụ pháo binh hướng chính Nam bỗng có tiếng la hét om sòm chen với tiếng tiểu liên. Thấy mấy anh lính Công Binh mặt mày hớt hải đang núp sau chiếc xe ủi đất, tôi men theo giao thông hào đi tới, định bụng sẽ hỏi han họ có chuyện gì lạ, thì nghe lựu đạn liên tục nổ “Oành! Oành!”  trên tuyến dàn quân sau tường đất. Quay lại đằng sau, tôi thấy những trái thủ pháo đang theo nhau rơi trên sân, nơi tiếp giáp giữa Ðại Ðội 3 và hai ụ pháo binh. Cứ thế, thủ pháo nổ, “Ùm! Ùm! Ùm!” Rồi thì khói vàng từng cụm bốc lên sau những tiếng “Ùm!”

Lúc này gió thổi từ Bắc xuống Nam. Gió đưa những lọn khói vàng tràn xuống triền đồi hướng Tây Nam. Những người lính đang ngồi dưới giao thông hào đã bị khói vàng quấn vào. Tôi thấy họ ôm ngực, ho khan, rồi ngồi xuống, rồi gục xuống. Như thế thì khói vàng là khói độc! Khói vàng là hơi ngạt! Tôi nghe tiếng Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến la thất thanh:

– Anh em ơi! Lựu đạn Việt-Cộng có hơi độc! Bịt mũi lại! Chạy lên đầu gió!

Sau đó thì anh em bỏ tuyến, ùn ùn chen lấn nhau chạy về hướng Ðông Bắc. Lúc này thực là hỗn quân, hỗn quan, không còn đội ngũ gì nữa, mạnh ai nấy chạy ra khỏi vùng khói vàng.

Tôi nhìn quanh mà thấy sợ, vì lúc rời hầm chỉ huy tôi không kịp gọi Hạ sĩ Ba và Binh nhứt Yang đi theo.  Còn anh Hạ sĩ Ðiêu Lon, người mang máy nội bộ của tôi vừa thấy quân của Thiếu úy Phiến ùn ùn tháo chạy, anh ta cũng vác cái máy PRC 25 phóng theo, bỏ tôi đứng chóc ngóc một mình bên cạnh chiếc xe ủi đất.

Thấy chiếc xe đứng lù lù giữa sân có thể trở thành mục tiêu cho địch, tôi bèn rút khẩu Colt 45 ra khỏi bao, rồi chạy tới núp bên chân bụi tre gai nằm sát bờ hào. Khói vàng chưa tan tôi đã thấy địch quân căng hàng ngang, ào ạt xung phong vào khu hai khẩu pháo và dãy lều tranh chứa đạn pháo binh. Trên đầu mỗi tên địch đều trùm một cái bao nylon thay cho mặt nạ chống hơi độc. “Cành! Cành! Cành…” bốn, năm cán binh Việt-Cộng đầu trùm bằng bao nylon trắng vừa phóng qua tường đất vừa bắn như mưa về hướng quân ta đang rút lui.

“Oành! Oành!” hai trái B40 trúng ngay hông chiếc xe ủi, nơi tôi vừa thoát đi! Khói bụi bay tung! Hú hồn! Vì bụi tre gai khá lớn và xum xuê nên bọn địch không nhìn thấy tôi. Mưa đang rơi, càng lúc càng nặng hạt.

Tôi nhấp nhổm vừa định phóng sang khu giao thông hào hướng Bắc thì nghe một tiếng “Oạch!” sát bên! Thì ra một cán binh vừa trượt chân sau khi leo qua bờ đất, ngã sõng soài. Tôi bóp cò, “Ðoàng!” cái nón cối tung lên, người trúng đạn quằn quại, quằn quại… Không cần kiểm soát xem tên địch còn sống hay đã chết, tôi co giò phóng đi. Vài giây sau tôi đã nhìn thấy căn hầm của trung tâm hành quân.

Giờ này không còn người lính nào ở giữa sân, không còn ai trong hầm súng cối, không còn chiếc chiến xa M113 nào. Như vậy là nơi đây đã bị bỏ trống! Nhưng tôi không thấy dấu vết giao tranh và trên mặt đất không có xác chết nào. Tới cách cửa hầm truyền tin chừng mười thước tôi chợt nghe tiếng heo kêu “Éc! Éc! Éc!” rồi thấy năm hay sáu cái nón cối đang hùa nhau vây bắt một con heo mới xổng chuồng. Con heo bự nặng cả trăm ký lô này là thực phẩm tươi của đơn vị vừa được tiếp tế mấy ngày trước, chưa kịp làm thịt.

Chú heo trắng cứ vừa kêu “Éc! Éc!” vừa nhanh thoăn thoắt, chui vào, chui ra, một bụi tre gai như đang chơi trò cút bắt với mấy tên bộ đội cụ Hồ. Thấy vậy, tôi vội quay người sang trái, nhắm hướng bãi đáp trực thăng chạy thục mạng. Bất thình lình, từ sau cái lều vải của ông Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 3/19, ba người mặc quần áo xanh của bộ đội chính quy Bắc Việt ào tới. Tôi giơ súng bóp cò, “Cành!” chẳng biết viên đạn bay đi đâu mà khẩu súng bỗng nhẹ tênh!

Súng nổ mà không giựt! Súng của tôi bị “hóc” rồi! Cái vỏ đồng thay vì bay qua cửa sổ tống đạn để văng ra ngoài, lại xoay ngang, nằm kẹt ngay giữa cửa sổ tống đạn! Ðúng là “Họa vô đơn chí!” Cây Colt 45 “phản chủ” lại lựa đúng giờ phút này mới giở quẻ! Tôi buột miệng chửi thề, “Cha mày!” rồi xoay người chạy ngược trở lại hướng sân. Vừa trở mình cất bước, tôi đã bị một tên bộ đội phóng tới ôm chặt. Hai đứa còn lại vội vàng gí mũi của hai khẩu AK47 ngay ngực tôi, sẵn sàng bóp cò.

Một thằng địch lớn tiếng quát,

– Ðứng im không tao bắn!

Tiếp đó, y trở ngược khẩu AK quật một báng súng ngang hông tôi khiến cho khẩu Colt 45 rơi xuống đất. Y giẫm chân lên khẩu súng của tôi rồi ra lệnh tiếp:

– Ðứng im để tao tháo dây đeo đạn của mày ra!

Không thèm để ý tới những lời la hét của những kẻ đang khống chế mình, tôi cứ cắn răng ra sức vùng vẫy thoát thân. Bỗng tên địch đang ôm tôi la lên,

– Các đồng chí đừng bắn! Thằng này là thủ trưởng! Bắt sống nó!

Thì ra, y ta đã nhìn thấy cặp lon thiếu tá thêu bằng chỉ trắng trên ve áo của tôi. Y chắc mẩm phen này đã lập công lớn vì bắt sống được người chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Xưa nay, đi hành quân tôi thường đeo lon trắng để thuộc cấp dễ nhận ra tôi, khiến họ yên tâm hơn. Ðâu ngờ cũng vì cặp lon trắng mà hôm nay tôi bị địch bắt sống. Một tên bộ đội nhanh nhẹn quàng súng vào vai, rồi ngồi xuống nắm cẳng tôi,

– Ðứng im để tao cởi dây giày của mày thì mới có dây để mà trói tay mày! Mày mà cựa quậy thì tao bắn gẫy chân đấy!

Thằng địch đứng sau lưng ôm chặt quá; tôi cố sức vùng vẫy được vài giây thì đã hết hơi, đành xuôi tay. Thế là hết! Số mệnh tôi tới đây là chấm dứt! Tôi đâu có ngờ cuộc đời Biệt Ðộng Quân bao phen vào sinh ra tử của tôi lại bị kết thúc một cách tức tưởi và vô lý như thế này? Giờ này bên trái tôi là một thằng địch, sau lưng tôi là một thằng địch, dưới chân tôi là một thằng địch; dù có ba đầu sáu tay tôi cũng không thể nào chạy thoát. Nhưng sau khi hít vào một hơi dài lấy sức, tôi lại vùng vẫy tiếp. Rồi trong cơn tuyệt vọng, tôi vọt miệng tru lên như con thú rừng bị dồn vào đường cùng, “Á! Á! Á!” Tiếng rú của tôi im bặt ngay sau khi ngực tôi bị một cú dập như trời giáng bởi cái đế súng AK 47. Thằng cán binh đứng bên trái tôi hét lên,

– Câm mõm lại! Mày mà còn la ó, ông sẽ đập gãy hết răng!

Cú đập của cái đế súng làm cho tôi hoa mắt, nghẹn hơi. Tôi rũ người xuống như một sợi bún. Tên địch đứng sau lưng tôi vội nắm cổ áo tôi lên, rồi vòng cánh tay trái của nó kẹp qua cằm tôi, ghì người tôi sát vào người nó để thằng bạn nó tiếp tục tháo hai sợi dây giày của tôi. Cuối cùng, tôi cũng đành đứng im, cố há miệng ra mà khò khè. Tôi chợt nghĩ, tới nước này chỉ còn một con đường là, chờ cho chúng nó trói mình xong, rồi dẫn mình đi thì mình sẽ chạy. Mình mà chạy thì chúng nó sẽ bắn theo, mình sẽ chết. Mình chết, nhưng không thành một tù binh…

“Ðoàng!”- “Ðoàng!”

Bất thình lình, tên địch đứng bên trái tôi bị ai đó bắn trúng sọ, té lăn quay. Tên cán binh đang quỳ gối dưới chân tôi để gỡ dây giày cũng trúng một viên vào lưng, lăn lộn vài ba vòng trên nền đất rồi nằm bất động. Ngay khi đó, theo phản xạ, tôi ra sức hét thật to:

“Buông tay ra!”

Có lẽ tiếng hét của tôi quá lớn, lại sát bên tai, nên tên Việt-Cộng đang kẹp cổ tôi giật mình, vội buông tay ra. Ngay lập tức, tôi xoay người về phải, đánh một cái cùi chỏ. Ai ngờ, cú đánh cùi cầu âu, gỡ rối, của tôi lại vô tình trúng ngay quai hàm thằng địch. Trúng đòn, nó loạng quạng, chúi mũi, cắm đầu về phía trước.

“Ðoàng! Ðoàng!”

Sau hai tiếng nổ, thằng Việt-Cộng giãy đành đạch trên nền đất. Trước mặt tôi là Thiếu úy Trần Văn Phước, trên tay Phước mũi súng Colt 45 vừa toé lửa, đang bốc khói. May quá! Ông sĩ quan Ban 2 của tiểu đoàn mà không có mặt kịp thời thì tôi toi mạng rồi! Thì ra, trong lúc hỗn quân, hỗn quan, không thấy tôi đâu, Thiếu úy Trần Văn Phước đã chạy đôn, chạy đáo khắp nơi để tìm tôi. Kịp khi Phước về tới bộ chỉ huy thì nơi đây đã bị địch tràn ngập. Với một khẩu súng ngắn, chưa biết làm gì để đối phó với mấy thằng Việt-Cộng tay lăm lăm AK47 đang vây bắt một con heo thì bất chợt Phước nghe tiếng tôi kêu rú thất thanh, rồi thấy tôi đang bị địch ôm chặt cứng, hết cựa quậy. Thế là Phước liều thân vác cây Colt 45 chạy tới cứu viện. Hai viên đạn đầu, Phước đã bắn trúng sọ, trúng lưng hai thằng địch; viên đạn thứ ba chưa được bắn ra chỉ vì Phước sợ bắn lầm vào tôi. Kịp khi thằng Việt-Cộng bị tôi đánh cho một cùi chỏ, ngất ngư, Phước liền lẫy cò liên tiếp hai lần.

Phước dang đôi tay ôm tôi, miệng thì la lớn như giữa chốn không người,

– Em xin lỗi Anh Hai! Em đã tới chậm!

Cũng may, lúc này mấy tên Việt-Cộng trang bị AK và con heo đã đuổi nhau chạy đi đâu mất tiêu. Tuy vậy, không xa nơi tôi đứng, lại bắt đầu nghe có tiếng súng địch nổ rộ cùng tiếng thét “Xung phong!” – “Xung phong!” Ðợt tấn kích thứ hai lướt qua thật là nhanh, lần này địch vẫn còn đeo bao nylon chống hơi cay. Mục tiêu vẫn là khu pháo binh hướng Nam và dãy lều tranh bên chiếc xe ủi đất. Trong màn mưa phùn, những thằng địch cứ cắm đầu chạy, nhắm mắt bắn bừa, không nhìn thấy tôi và Thiếu úy Phước ngồi thu mình sát bụi tre. Tôi nhặt khẩu Colt 45 lên cọ qua, cọ lại trên ngực áo cho sạch đất bụi, rồi móc ve dầu chùi súng mini từ trong cái túi cấp cứu trên dây ba chạc ra, tưới dầu lên hai rãnh cơ bẩm.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 6 July, 2023

Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Kỳ 10

Lời Giới Thiệu:

Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi đã gọi đài tiếp vận Hàm Rồng xin tiếp viện nhiều lần, lần nào cũng bị trả lời, “Gắng chờ! Gắng chờ!”  Mấy ngày sau tôi mới hay, từ sáng sớm ngày 14 tháng 4, thượng cấp đã gửi một tiểu đoàn bộ binh vào tiếp viện cho tôi, nhưng vừa đi qua ngã ba Mỹ Thạch được năm cây số thì đơn vị này đã bị địch đánh tan. Chuẩn úy Trâm và Trung đội Trinh Sát 82 đã tiếp tay được Trung úy Thọ. Cùng đi với Thọ có hai thằng em bị thương gãy tay là Binh nhất Lê Thanh Phong và Trung sĩ 1 Nông Văn Út người Nùng. Trung sĩ Út đang là một Trung đội trưởng của Ðại Ðội 2 thay thế cho Thượng sĩ Don Luân người Thượng đi phép vắng.

Trước đó Chuẩn úy Lê Văn Phước, tức là Phước Răng Vàng cùng hai anh lính Truyền Tin của Ðại Ðội 2 là Trung sĩ Thế và Hạ sĩ Khanh đã chạy sang Plei Ngol Ho; cả ba người này đều bị thương. Trung úy Thọ vào tới sân Plei Ngol Ho đúng vào thời điểm địch cắm được lá cờ Giải Phóng Miền Nam trên nóc phòng thuyết trình của 711. Cũng ngay giờ phút đó, Cứ Ðiểm Plei Ngol Ho hứng chịu loạt mưa pháo đầu tiên.

Vũ khí tàn phá của địch chủ yếu vẫn là 122ly, 105 ly cùng với hỏa tiễn AT3. Có điều địch không nhìn thấy 6 chiếc M113 của Ðại úy Xá nằm núp sau các bụi tre gai, nên AT3 chỉ lập loè nhắm vào hai khẩu 155 ly và cái xe ủi đất. Vì địch đã chiếm được 711 và làm chủ đoạn Tỉnh Lộ 6C hướng Bắc đồi Tử Chiến, nên chúng công khai dùng xe chở quân tăng viện tới sát bên 711 rồi mới nhảy xuống, dàn trận, xung phong. 9 giờ sáng 14 tháng 4, trong màn mưa, một biển người ào lên bờ đất phòng thủ hướng Tây Plei Ngol Ho. Ngay đợt xung phong đầu, ba sĩ quan trung đội trưởng của Ðại Ðội 3 đã bị thương.

Tôi ra lệnh cho ba anh chuẩn úy này lui về sau, nhường quyền chỉ huy cho ba sĩ quan thực tập thì Chuẩn úy Trương Trọng Tài, Trung đội trưởng Trung Ðội 2 Ðại Ðội 3 xua tay từ chối. Ông chuẩn úy này chỉ còn tay phải, tay trái bị thương nhẹ, đã được băng bó rồi được treo lên bằng một cuộn băng cá nhân vòng quanh cổ.

Trong màn khói đạn mịt mù, hiện ra một Chuẩn úy Trương Trọng Tài, còn gọi là Trương Thiên Tài, đẹp như một nam tài tử trong phim cao bồi của Mỹ, một tay anh treo tòn ten trước ngực, một tay ôm M16, một chân dưới giao thông hào, một chân nhịp nhịp chống trên bờ đất, hai ống quần hoa đã bị cắt tới đầu gối, cái mũ đi rừng thì đội lệch một bên, miệng anh đang ngậm nửa điếu Ruby đã tắt lửa tự bao giờ.

Tôi nghĩ, nếu có phóng viên quốc tế nào ở đây, thì hình ảnh của tài tử Trương Thiên Tài chắc chắn sẽ chiếm trang đầu của Báo Life hay Báo Times. Tài cười vang rồi nhìn tôi:

– Thái Sơn để tui chơi tiếp với mấy thằng Việt-Cộng này! Lính của tôi còn ở đây, tui mặt mũi nào mà trốn sau lưng tụi nó!

Thấy thế, hai ông chuẩn úy còn lại là Trần Quảng và Trương Anh Kiệt cũng không chịu kém,

– Tui cũng không trốn, tui xin Thái Sơn cho tui ở lại với thằng Tài! Chết thì chết! Có chi mà ngán!

Tôi đành lắc đầu, ái ngại cho ba thằng em, nhưng trong lòng tôi cảm thấy ấm áp vô cùng. Tôi rút bao Lucky ra châm cho ba đứa em mỗi đứa một điếu rồi đi sang khu pháo binh. Ðể có sĩ quan chỉ huy dự phòng, tôi cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt tạm thời giữ chức đại đội phó cho Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Cùng lúc, tôi gọi Trung úy Chủ dẫn hai ông sĩ quan thực tập tới Ðại Ðội 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Phiến. Trận đánh tiếp tục giằng co. Tôi không lo địch pháo nữa mà chỉ lo chúng cứ liều mạng xông lên, chúng nó mà xông lên vài đợt nữa thì chúng tôi hết đạn!

Tới xế trưa thì hai trung đội trưởng Trần Quảng và Trương Anh Kiệt bị vết thương làm độc lên cơn sốt cao nên Thiếu úy Phiến phải đưa họ vào phòng thuyết trình để ông trợ y săn sóc. Hai sĩ quan thực tập đã sẵn sàng trám chỗ cho hai người này. Tới chiều, dù pháo địch cứ rộ từng cơn, nhưng không thấy địch xung phong, tôi vội đi thị sát một vòng. Tới khu pháo binh tôi mới hay, Trung úy Danh và một thiếu úy dưới quyền anh cùng bốn binh sĩ đã bị thương cách đây vài phút. Hai khẩu đại bác 155ly xẹp bánh, nằm nghiêng một bên. Những pháo thủ còn lành mạnh giờ đây đã biến thành những chiến binh đánh nhau bằng M16.

Cũng từ lúc này, tôi là người trực tiếp xin pháo yểm vì ông Trung úy Danh đã nằm trong hầm cứu thương. Trở về hầm chỉ huy, tôi gọi Sư Ðoàn 22 hỏi xem lúc nào có quân tăng viện thì câu trả lời vẫn là, “Gắng chờ!” Thấy màn đêm sắp buông, tôi gọi cho các đơn vị phải cảnh giác canh chừng Ðặc Công. Tôi sợ rằng, vị trí đóng quân của tôi chưa có hàng rào, chưa có mìn bẫy, nếu địch vừa đánh Ðặc Công xong, liền xua đại quân ào lên đánh biển người thì tôi vô phương chống đỡ. Bỗng trong óc tôi lóe lên ý nghĩ sử dụng đơn vị trừ bị là Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân. Qua mười phút liên tục phát thanh, tôi vẫn không nghe Thiếu tá Nguyễn Hoàng trả lời.

Tôi vào tần số của Chi Khu Phú-Nhơn để nhắn tin cho Thiếu tá Nguyễn Hoàng thì nghe họ thông báo rằng Thiếu tá Hoàng vừa đem lính đi Ngã Ba Mỹ Thạch để đón một đại đội của ông đóng quân cách ngã ba 5 cây số, nhưng đêm qua đơn vị này đã bị Việt-Cộng đánh tan tành và đang thất lạc. Cuối cùng, túng thế quá, tôi đành phải tính chuyện sử dụng Ðại Ðội 1. Sử dụng Ðại Ðội 1 là một hành động vô cùng liều lĩnh, cần phải cân nhắc kỹ. Nếu không đem Ðại Ðội 1 ra kịp, chắc chắn tôi sẽ vỡ trận vì không đủ quân. Nhưng nếu địch biết tôi đã đem Ðại Ðội 1 đi thì chúng sẽ đánh chiếm Pleime ngay.

Sau một hồi suy đi, tính lại, tôi thấy, hiện giờ tôi đang ở Plei Ngol Ho, Plei Ngol Ho là mạng sống của tôi! Nếu tôi còn sống, chuyện an nguy của Pleime mới thành vấn đề, nếu tôi chết thì Pleime còn hay mất đâu còn ăn thua gì nữa? Thế là, tôi quyết định chơi xả láng! Bỏ Pleime để chống đỡ Plei Ngol Ho! Kế đó, tôi gọi Thiếu úy Phạm Văn Tô, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 vào máy rồi ra lệnh:

– Thái Sơn về núi!

Ðầu máy bên kia có tiếng Thiếu úy Tô,

– Nhận 5!

Từ ngày nhận chức chỉ huy 82, tôi đã có mật ước với 5 vị đại đội trưởng là, trong trường hợp khẩn cấp nếu nghe được chính miệng tôi phát ra mật lệnh “Thái Sơn về núi!” thì người nghe phải lập tức vặn máy sang tần số 47.70 để nghe tôi ra lệnh tiếp. Ðại Ðội 1 đang ở Làng Xổm, chỉ cách Căn Cứ 711 chưa đầy 7 cây số đường chim bay. Nếu là bình thường thì đơn vị này chỉ cần một tiếng đồng hồ di hành là đã qua đoạn đường này. Nhưng giờ đây vùng Bắc của Tỉnh Lộ 6C đã bị địch chiếm cứ, Ðại Ðội 1 mà đi trên tỉnh lộ thì không khác gì tự tử.

Tôi nói,

– Mở thực đơn ra nghe lệnh!

(Thực đơn: là bản đồ ghi mục tiêu)

Ngưng một phút cho Thiếu úy Tô chuẩn bị bản đồ rồi tôi mới bắt đầu chậm rãi,

– Target 1 Le Tam Pôte! Target 2 Le Dido! Target 3 Torr! Nghe rõ chưa? Lặp lại!

Tôi không chờ lâu, Tô đã đáp lời ngay,

– Nhận 5! Le Tam Pôte, Le Dido, Torr!

Tôi tin rằng, không chỉ mình Thiếu úy Tô, mà tất cả quân nhân của Ðại Ðội1 đều thông thuộc những địa danh này, không cần bản đồ hay địa bàn họ cũng có thể đi tới đó một cách dễ dàng.

Vì chắc chắn vào giờ phút ấy, bên hướng Ðông suối Ia Tur sẽ không có tên Việt-Cộng nào, nếu an toàn qua được Plei Le Tam Pôte thì coi như hết lo lắng. Rồi từ Plei Le Tam Pôte ta cứ yên trí chạy một mạch theo con đường xe be lên hướng Bắc, vượt qua 6 cây số thì tới làng Plei Torr. Tới Plei Torr coi như tới 711!

Quả nhiên, gần 7 giờ tối tôi đã nghe Thiếu úy Tô thở hổn hển,

– Trình Thái Sơn! Tôi thanh toán xong làng Torr!

Tôi ra lệnh,

– Cho anh em nghỉ vài phút rồi đi tiếp!

– Nhận 5!

Kế đó, từ làng Plei Torr rẽ trái, theo đường xe be, chỉ nửa giờ sau Ðại Ðội 1 đã có mặt trên Plei Ngol Ho. Tôi cho Ðại Ðội 1 giữ tuyến chính Ðông, mặt Tây vẫn do Ðại Ðội 3 phòng thủ, vì những người lính của đơn vị này đã quen với địa hình địa vật trước mặt. Tiếp đó, tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 1 chia sẻ bớt đạn và lựu đạn cho Ðại Ðội 3 và Ðại Ðội 2. Lúc này, bình quân trên lưng mỗi người lính chỉ có khoảng dưới 100 viên đạn M16. Ðánh nhau mà thiếu đạn thì khổ lắm, nhưng biết làm sao bây giờ? Bố quân xong, tôi quay về hầm truyền tin, tính nhắm mắt vài phút cho tinh thần bớt căng thì nghe trong máy khuếch âm có tiếng gọi lớn, giọng Bắc Xâm Nhập,

– Thái sơn! Thái ổi! Thái rau! Thái thịt! Thái cứt! Thái đái! Ðây là Bố gọi! Con có nghe không? Trả lời!

Nghe thấy vậy, Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn liền la lên,

– Truyền Tin! Sang tần số giải tỏa! Số nhà này bị Việt-Cộng vào phá rối rồi!

Chiến trận đã nhiều, nhưng tôi thấy rất ít khi bị Việt-Cộng vào tần số chọc phá, nên tôi nói với ông Chủ,

– Kệ mẹ nó! Cứ hỏi nó muốn cái gì?

Trung úy Chủ cầm máy lên,

– Chúng mày muốn gì?

– Bố mày muốn nói chuyện với thằng Thái Sơn.

Thấy tôi gật đầu, ông Chủ nói tiếp,

– Thái Sơn đây! Mày là ai? Muốn gì?

Ðầu máy bên kia có tiếng “Ẹc! Ẹc! Ẹc!” như có sự chuyền tay cái loa phát âm, rồi tôi nghe tiếng người dõng dạc,

– Tao là người chỉ huy Quân Giải Phóng, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Tôi ra dấu cho Trung úy Chủ trao máy cho tôi rồi cũng dõng dạc đáp lời,

– Tao là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Ðáp lời tôi là tiếng “Chát” do máy phát đập trên nền cứng, cùng với tiếng hét,

– Ð! Mẹ mày! Mày là đồ tay sai của đế quốc Mỹ!

Tôi cũng già hàm, không chịu kém,

– Ð! Mẹ mày! Ông nội, ông ngoại, thằng cha, con mẹ mày chỉ là thứ bần cố nông, hốt cứt, gắp phân! Mày cũng chỉ là một tên tay sai của Liên Xô và Tầu Phù!

Người bên kia nghiến răng,

– Thái Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cũng nghiến răng,

– Hồng Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cứ tưởng rằng mình đang chửi nhau với Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A nhưng bỗng nghe người bên kia hét thật to,

– Tao là Kim Tuấn! Mày sẽ không thoát được tay tao!

Thì ra, từ nãy tới giờ tôi đang cãi nhau với Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Tôi bèn lớn tiếng, nhưng thật là chậm rãi,

– Tao là Thái Sơn! Mày vào bao nhiêu tao giết hết bấy nhiêu! Cứ xua quân vào đi! Tao thách mày đấy! Ở Tây Nguyên này tao là vô địch! Nghe rõ chưa?

Tôi dứt tiếng thì người bên kia rít lên,

– Tao thề sẽ giết mày!

Rồi máy tắt, không còn nghe gì nữa.

Mười phút sau không biết cơ man nào là pháo từ Tây, và Tây Nam, bắt đầu bay tới Plei Ngol Ho. Ðạn 105ly, đạn 122ly nòng ngắn, nòng dài, hàng nghìn trái theo đuôi nhau. Cũng may là địch pháo hơi dài so với hướng súng, khiến cho tất cả đạn đều rơi trên đỉnh đồi hướng Ðông. Căn cứ 711 nằm trong lòng đất trũng của làng Plei Ngol Ho nên không có viên đại bác nào rơi trên chỗ chúng tôi đóng quân.

“Thái Sơn đây Hỏa Long!”

Ðang khổ sở vì pháo địch, nghe tiếng ông niên trưởng Trần Bạch Thanh khóa 17 Võ Bị trên AC47 tôi vừa mừng lại vừa lo. Tôi mừng vì có thể nhờ Hỏa Long oanh kích những khu vực địch đặt pháo, nhưng lo vì nếu được hỏa châu soi sáng, tụi bộ binh của Việt-Cộng sẽ tập trung dễ dàng hơn, di chuyển cũng nhanh hơn. Khi đã nhận biết nguồn sáng phát ra từ cái đèn Beacon của Thiếu úy Trần Văn Phước ở giữa sân Plei Ngol Ho, anh Thanh hỏi tôi,

– Giờ đây Thái Sơn cần tôi càn quét chỗ nào?

– Okay! 4 clicks Tây Nam! Ðánh thả giàn!

Bầu trời đêm cuối tháng Âm Lịch rực sáng dưới hỏa châu, sau đó là những luồng đạn lập lòe chớp chớp từng chặp. Văng vẳng, tôi nghe vọng lại tiếng đại liên “Ồ! Ồ! Ồ!” Trên trời bỗng loé sáng như ai đó vừa bắn pháo thăng thiên! Một phút sau tai tôi nghe, “Bốp! Bốp! Bốp!”  tiếng phòng không 37ly giòn giã. Chiếc Hỏa Long bỗng tắt hết đèn, rồi bay đi đâu mất. Mấy phút sau, máy bay bất thình lình quay lại, vẫn tắt đèn, bắn vội vài tràng đạn, rồi biến luôn. Ðúng nửa đêm 14 tháng 4 năm 1974 địch triển khai đợt biển người thứ nhất trong ngày nhắm vào Plei Ngol Ho.

“Oành! Oành! Oành!

Thủ pháo mở đường, rồi bộ binh ào lên,

“Cành! Cành! Cành!”- “Xung phong! Xung phong! Xung Phong!”

Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, bắn chéo cánh sẻ, đạn đan nhau, không một tên Việt-Cộng nào tới được bìa rào. Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 29 June, 2023

Post by6 Sơn râu 7 Jul 2024

Kỳ 9

Lời Giới Thiệu:  

Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi ước đoán vùng địch tập trung các cỗ pháo là khu ngã ba Plei Xôm nên vội ra lệnh cho Trung úy Nguyễn Như dùng 105 ly cơ hữu của Pleime bắn cầm canh trên vùng này để cản bước địch. Ðúng 4 giờ sáng, tiền đồn Ðồi Tử Chiến báo cáo có 3 chiếc tank của Việt-Cộng bị vướng mìn đang nằm im dưới chân đồi. Hai bên đường Tỉnh Lộ 6C đoạn từ Ðồi Tử Chiến về Nam có một bãi mìn chống chiến xa dài nửa cây số do Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu thiết lập.

Như vậy Liên Ðoàn 20 Công Binh Chiến Ðấu là đơn vị có công đầu trong việc tiêu diệt ba chiếc xe tank của Việt-Cộng sáng 14 tháng 4 năm 1974 tại vùng 20 cây số Tây Nam Pleiku. Tôi cho lệnh tiền đồn Ðồi Tử Chiến cho người xuống dùng M72 bắn bồi thêm cho mấy chiếc T54 cháy luôn, nhưng không còn nghe tiếng tiểu đội này nữa. Tôi nhớ lại chuyện xe tank địch công khai xuất hiện giữa ban ngày trong trận Lệ Minh và Bu Prang nên vội vàng gọi cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Ðoàn 22 ở Hàm Rồng để xin máy bay can thiệp gấp. Nào ngờ, cấp trên đã trả lời rằng hiện thời không quân đang bận bao vùng cho một đơn vị bộ binh chạm địch nặng vùng Tây Pleiku.

Túng quá, tôi bèn vẽ một ô vuông mỗi chiều 200 mét kéo dài từ Ðồi Tử Chiến về hướng Bắc, rồi xin pháo binh bắn liên tục hy vọng cản được đường tiến của cơ giới địch. Tới 5 giờ sáng, địch âm thầm dàn hàng ngang trên bờ con thông thủy nằm giữa Cứ Ðiểm 711 và Plei Ngol Ho rồi đồng loạt hò reo, xung phong lên bờ tường Ðông của 711. Có lẽ đơn vị này xuất phát từ làng Siêu 1 (Plei T’Seo 1) rồi di chuyển theo lòng con suối cạn để tới tuyến xung phong. Con suối này là nơi các ông lính pháo binh đã xuống lấy nước và phát giác ra đường dây điện thoại nhưng không báo cáo.

Hình như địch không biết bên Plei Ngol Ho có người, nên vô tình chúng đã đưa lưng làm bia cho Biệt Ðộng Quân và M113 nằm trong bìa rừng nhắm bắn thả giàn. Sáu khẩu đại liên 50 đặt trên M113 đồng loạt bóp cò tập trung về một hướng khiến cho cả một vùng bụi đất tung bay, mịt mù. Ðơn vị địch hiện diện có thể là một tiểu đoàn. Tất cả bốn đợt xung phong của địch đều bị bẻ gãy. Trung úy Nguyễn Trọng Thọ báo cáo rằng qua bốn đợt xung phong, đã có năm hay sáu cán binh lọt được vào trong vòng rào 711, nhưng quân ta đã bắn hạ hết những tên này.

6 giờ sáng thì tiếng súng im, không còn bóng dáng địch, tôi cho một trung đội ra thu lượm chiến lợi phẩm đem về sân trực thăng. Mấy anh lính kỵ binh của Chi Ðoàn 3/19 cũng hí hửng xuống xe, chạy theo phụ giúp Biệt Ðộng Quân. Ðánh nhau mới có vài tiếng đồng hồ mà vũ khí của địch đã bị ta tịch thu chất thành đống lớn. Trung úy Trần Dân Chủ tíu tít quanh khu đất chứa chiến lợi phẩm mà chụp hình lia lịa. Chủ tới bên tôi,

– Kỳ này đi buôn lời to! Mình lấy được gần ba trăm khẩu súng rồi đó ông ơi!

Tài liệu thu được từ xác những tên địch trên bãi cỏ hướng Ðông 711 cho ta hay đơn vị của chúng là Tiểu Ðoàn K2, Trung Ðoàn E48 của Sư Ðoàn 320A. Tôi lần bước theo bờ thành của 711 để quan sát trận địa thì thấy hàng chục tên địch nằm phơi thây bên bờ cỏ Tỉnh Lộ 6C. Tôi tò mò ngồi xuống quan sát một cái xác cán binh bị bắn vỡ đầu; chiếc nón cối mất một miếng to bằng bàn tay; bên ngoài cái nón có hàng chữ bằng mực xanh ghi tên đơn vị của người đã chết; tôi chỉ đọc được chữ “D” và số “0”; còn con số ở giữa không rõ là “1” hay “2”; kế số “0” là hai chữ “TS”. Do đó tôi chỉ đoán mò có thể đơn vị của tên Việt-Cộng này là Tiểu Ðoàn D10 hay D20 Trinh Sát. Từ đó tôi đưa ra kết luận cho rằng sáng nay địch đã sử dụng một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trinh sát để đánh tôi. Tôi gọi đài tiếp vận Hàm Rồng báo cáo tên các đơn vị địch tham chiến mà tôi vừa phát giác cho Bộ Tư Lệnh 22 Hành Quân thì họ trả lời rằng họ đã biết hết rồi! Họ còn nói rõ rằng, ngoài Tiểu Ðoàn K2 của E48 và D20 Trinh Sát địch còn tung vào trận một đại đội xe tank của D16, nhưng xe tank bị vướng mìn hư hại, không tham chiến được. Tôi nhớ lại lời nhắn cách nay hai ngày của anh bạn Ðồng Ðăng Khoa:

“Quân đoàn có tin A2 cho biết Việt-Cộng sắp đánh Long đó! Long nhớ cẩn thận!”

Sau đình chiến, ta và địch đánh nhau cứ như đánh bài lật ngửa, lực lượng địch gồm những đơn vị nào ta đều biết, ta như thế nào địch cũng biết. Có điều cấp trên cứ giấu giếm thực lực địch, không cho cấp dưới biết chỉ vì sợ cấp dưới thấy địch mạnh quá hoảng hồn, không dám đánh! Tôi chợt chạnh lòng nghĩ lại, hiện giờ tôi cũng ở vào tình trạng không khác gì anh Quang Con và chú Hoàng Nghĩa Hội trong trận Lệ Minh tháng 9 năm 1973.

Rồi đài tiếp vận Hàm Rồng lại chuyển lệnh cho tôi cố duy trì đương cự được một ngày thì tôi sẽ có người vào tiếp viện. Trung úy Chủ, Sĩ quan Ban 3 cho tôi hay tổng kết thiệt hại của ta tính tới giờ phút đó đã có 12 Biệt Ðộng Quân và 10 Kỵ Binh tử trận. Số người bị thương là 28 người. Tất cả thương binh và xác người chết đều được tập trung ở bãi trực thăng hướng Bắc Plei Ngol Ho chờ phương tiện di chuyển. Ðại úy Xá cũng báo cáo rằng có 6 chiến xa bị cháy, hai sĩ quan và tám binh sĩ tử trận. Hiện thời trong 711 chỉ còn 6 chiếc M113, nên ông Chi đoàn trưởng đã tái phối trí những chiếc xe này thành những pháo đài vững chắc sau tường đất. Riêng chiếc M113 có khẩu 106 ly không giật được đặt ở góc Ðông Nam 711 họng súng nhắm ngay con dốc dưới triền đồi, địa thế nơi đây bắt buộc cơ giới phải đi theo hàng dọc từng chiếc một. 7 giờ sáng từ hướng suối địch lại ào ào xung phong lên. Chờ cho tiền quân địch tới sát bìa rào, ta mới nổ súng. Ðịch tháo chạy rồi, quân ta mới mau chóng ra kiểm soát kết quả. Ðại Ðội 3 mang về gần chục khẩu AK và hai cái ba lô.

Tôi mở một cái ba lô của tên cán binh vừa chết ra xem, thì thấy bên trong, ngoài hai bộ quần áo kaki xanh, một tấm vải dù, một cái bát, một cái muỗng bằng nhôm, một cây bút bi, còn có một bì thư đã dán kín nằm kẹp giữa một quyển sổ tay. Quyển sổ tay này là nhật ký của cán binh Lưu Sỹ Hồng quê quán Bắc-Thái.

Nghe ban Truyền Tin báo rằng sắp có tải thương, tôi đi ra bãi trực thăng, trên tay là quyển nhật ký và cái bì thư. Sau khi thăm hỏi an ủi các thương binh, tôi cũng ngồi xẹp xuống bãi cỏ mở cái bì thư ra xem thì thấy thư đề tên người nhận là Mạc Thị Huệ ở Bắc Thái. Thư mới viết, nét chữ anh chàng cán binh này không những không được cứng cáp mà còn có vẻ ẻo lả như chữ con gái. Mở đầu là một bài thơ ngắn, không rõ người viết thư đã sáng tác hay đã cóp nhặt từ ai,

“Em ơi!

Em hãy nhớ lời anh giờ chia tay

Ðường đi Bê ngút ngàn quan tái

Anh vẫn mang trên vai bóng hình người ở lại…

Ðất nước thanh bình anh sẽ về

Một mái tranh, một mảnh vườn quê

Trước sân nhà,

anh sẽ trồng thật nhiều hoa Hồng và hoa Huệ…

Anh sẽ về!

Anh hứa với em…”

Hai chữ “Hồng” và “Huệ” đều viết hoa và tô đậm. Huệ là tên người đợi chờ, Hồng là tên người đi B. Không biết tới bao giờ người đợi chờ mới biết tin người đi B đã mãi mãi không về? Tôi chưa đọc tiếp xem trong quyển sổ đã ghi chép gì thì nghe từ xa có tiếng trực thăng “Bạch! Bạch!” vọng lại. Tôi bỏ cái bì thư và quyển sổ tay vào cái ba lô chiến lợi phẩm. Tôi đứng chờ chỉ mấy phút sau thì Ðồng Ðăng Khoa sà xuống lơ lửng trên Plei Ngol Ho. Bay với Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa ngày hôm đó là Thiếu úy Võ Văn Phương, một thuộc cấp cũ của tôi ở Phòng 2.

Trong lúc Thiếu tá Khoa lo đạp mấy thùng súng M72 và đạn M16 xuống đất thì Thiếu úy Phương lo đỡ mấy Biệt Ðộng Quân bị thương nhẹ lên tàu. Thấy tôi, ông Phương giơ tay chào. Tôi leo lên càng trực thăng, đưa cho Thiếu úy Phương cái ba lô tài liệu rồi hét lớn,

– Nộp cái ba lô này cho Phòng 2 quân đoàn!

Thiếu úy Phương chụp cái ba lô ôm vào lòng, rồi nắm tay tôi, ân cần,

– Ông thầy ơi! Nhớ cẩn thận nghe ông thầy!

Chỉ ít lâu sau ngày cái ba lô được giao cho quân đoàn thì bài thơ của Lưu Sỹ Hồng đã xuất hiện trên những tờ truyền đơn kêu gọi cán binh Cộng-Sản ra chiêu hồi. Cũng nhờ những tờ truyền đơn này mà mấy chục năm sau tôi còn nhớ từng chữ, từng câu trong bài thơ tình của người cán binh trẻ tên là Lưu Sỹ Hồng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Công tác tải thương vừa bắt đầu đã nghe “Choác! Choác!” tiếng 12.7 ly và tiếng cành cây gãy răng rắc. Chiếc trực thăng vội vàng cất mình phóng thẳng xuống thung lũng hướng Ðông rồi biến trong màn mưa. Tôi đành cho lệnh khiêng các thương binh nặng đang nằm trên cáng về lại hầm thuyết trình.

7 giờ 30, pháo tầm xa 122ly và 105ly của địch từ vùng Tây Nam lại dồn dập bắn tới tấp trên 711. Ðợt pháo kích này kéo dài đúng nửa giờ thì chấm dứt. Rồi tình hình bỗng trở lại yên ắng một cách lạ kỳ. Chờ mười phút sau không thấy động tĩnh của địch, tôi nghi ngờ rằng chúng đang chuyển quân. Tôi ra lệnh cho Trung úy Danh gọi Pháo Binh từ Ngã Ba Mỹ-Thạch đánh hai hàng rào cản, cách 711 đúng 200 mét về hướng Nam và 200 mét chính Tây để ngăn địch. Năm phút sau khi đơn xin pháo binh gửi đi thì một chuyện bất ngờ đã xảy ra! Ðó là, thay vì đạn pháo bạn bắn từ Mỹ-Thạch phải rơi ngoài hàng rào thì chúng lại rơi ngay trên đầu Căn Cứ 711. Tôi tưởng đây là tai nạn tản đạn, nên cho ngừng pháo binh, rồi gửi tọa độ điều chỉnh lại. Nhưng! Ô hô! những quả đại bác kế tiếp vẫn rơi trên đầu quân ta!

Tức quá, tôi hét lên trong điện thoại,

– Ê! Danh! Mày là nội tuyến phải không? Sao mày cứ bắn lên đầu quân mình vậy?

Lúc đó Trung úy Danh cũng quýnh lên,

– Trình Thiếu tá! Em cũng không biết vì sao tụi nó lại bắn không đúng tọa độ mình xin. Ðể em hỏi lại.

Không lâu sau, Danh rối rít,

– Thái Sơn ơi! Nội tuyến! Pháo Binh ngoài Mỹ-Thạch có nội tuyến! Chúng nó sửa tọa độ xin yểm trợ của mình nên xảy ra chuyện vừa rồi. Mấy thằng nội tuyến đã bị bắt rồi!

8 giờ 30 đứng trên tường đất của Plei Ngol Ho, tôi thấy Ðồn 711 tiếp tục hứng đạn 122ly và AT3, cứ phừng lên từng chập như chớp giật, chói lòa không khác gì một chảo lửa. Tôi ra lệnh cho Ðại úy Xá rút tất cả những chiến xa còn lại chạy về Plei Ngol Ho càng nhanh càng tốt. Lệnh ban ra được vài phút thì bốn chiếc M113 nối đuôi nhau chui khỏi màn khói.

Ðoàn xe chạy được một đoạn trên Tỉnh Lộ 6C thì bị một bức tường lửa B40 hạ gục. Cùng lúc đó, là tiếng hô “Xung phong!” vang trời của hàng trăm tên địch đang dàn hàng ngang ào ào tiến lên từ triền dốc hướng Tây.

Những người lính thoát ra từ bốn chiếc M113 vội vàng nhào xuống núp dưới cái thông thủy bên cạnh Tỉnh Lộ 6C. Ngay lập tức, tất cả M113 của Ðại úy Xá trên Plei Ngol Ho được lệnh quay súng về bên phải để tưới đạn lên đoàn quân Việt-Cộng vừa xuất hiện. Ðơn vị địch mới tràn sang từ hướng Tây là Tiểu Ðoàn K1 của E48 Cộng-Sản. Tiểu Ðoàn K1 là một trong chín tiểu đoàn chủ công của trận đánh này nhưng đã tới trễ vì gặp trở ngại khi vượt sông Ia Meur. Ðịa thế vùng Bắc của Ðồn 711 hoàn toàn bằng phẳng và trống trải, do đó đối mặt với M113 thì K1 phải tháo chạy.

Ngày di chuyển từ Pleime ra đây, tôi chỉ đem theo một khẩu cối 4.2 và 300 viên đạn. Cối 4.2 tức là cối 106ly. Khẩu 4.2 này do Mỹ để lại, nằm ngoài bảng cấp số, do đó chỉ có những thùng đạn tồn trữ trong Pleime, bao giờ Pleime không còn loại đạn này thì khẩu súng cũng coi như đồ bỏ. Từ khuya hôm nay, một nửa số đạn đem theo đã được tôi sử dụng đánh trên trục tiến của địch vùng 1 cây số Nam của đồi Tử Chiến.

Giờ đây tôi bắt buộc phải dùng khẩu cối này để bắn bao trùm một vành cung hướng Tây của 711 thì chắc chắn không lâu sẽ chẳng còn viên đạn nào! Lúc này bên ngoài tường đất hướng Tây của 711 xuất hiện từng chùm lửa đỏ loé lên với những cụm khói đen bốc cao cùng tiếng “Oành! Oành!” liên tiếp nhau. Như vậy là Công-Binh Việt-Cộng bắt đầu dùng bangalore để phá rào!

Tôi gọi Trung úy Thọ và ra lệnh,

– Chúng nó đang phá rào! Chú cho anh em dùng lựu đạn tối đa để chận không cho chúng nó xung phong.

Lựu đạn nổ đùng đùng trên bờ Tây 711 một hồi thì không thấy bộc phá nữa. Lại một đợt pháo 105 ly và 122 ly kéo dài mười phút. Thêm hai chiếc M113 thoát chạy ra cổng, rồi bị B 40 bắn cháy ngay trước cổng. Hình như có ba bốn anh lính kỵ binh phóng ra khỏi xe chạy nhanh sang Plei Ngol Ho. Như vậy tính tới giờ này ta đã thiệt mất 12 chiếc M113.

Ðại úy Xá báo cáo với tôi,

– Hiện thời tui chỉ còn 6 chiếc M113, mà cũng sắp hết đạn rồi. Thái Sơn tính sao?

Tôi trả lời không suy nghĩ,

– Chờ đi! Chút nữa tôi sẽ gọi máy bay tới đạp đạn xuống cho anh!

Pháo chấm dứt, Công-Binh Việt-Cộng lại bắt đầu dùng bangalore phá hàng rào hướng Nam, nơi có hai ụ pháo binh cũ. Khói bộc phá vừa tan thì địch quân đã ào qua tường đất cùng với tiếng AK “Cành! Cành!’ nổ giòn. Ngoài rào còn có tiếng thúc quân oang oang, “Xung phong! Xung phong!” của địch phát đi từ một chiếc loa cầm tay.

Cùng lúc, là tiếng Trung úy Thọ la thất thanh trong máy,

– Tụi nó đã chiếm mất nửa phần Nam căn cứ! Em đánh dấu khói vàng, Thái Sơn cứ cho pháo binh bắn từ đó về Nam cho em!

Trên Ðồn 711, bóng người chạy xuống, chạy lên thoăn thoắt ẩn hiện trong màn khói. Sau khi chỉ cho Trung úy Danh mục tiêu cần trực xạ, tôi chạy sang khu thiết giáp, ra lệnh cho Ðại úy Xá bắn tập trung vào đoạn Tỉnh Lộ 6C tiếp giáp với bờ Nam của 711, rồi gọi cho Thọ:

– Chú cho anh em từ từ rút ra đường rồi chạy thẳng sang khu thiết giáp, anh đã ra lệnh cho M113 bắn cản đường cho chú chạy!

Năm phút sau có tiếng Thọ vừa thở hổn hển vừa thều thào,

– Em bị gãy chân rồi Thái Sơn ơi!

Tôi ra khỏi hầm truyền tin cho lệnh Chuẩn úy Trâm,

– Chú đem toàn bộ Trung Ðội Trinh Sát đi cứu thằng Thọ! Mau lên!

Tôi đã nhìn rõ các hướng tiến của địch, nếu có thêm quân, thì tôi dư sức đánh bọc trái hay bọc phải để giải tỏa áp lực của chúng. Khổ nỗi, hiện thời, trong tay tôi chỉ còn Ðại Ðội 3 cùng 6 chiếc M113 thiếu đạn, hai khẩu 155 ly cũng chỉ còn vài chục viên, nếu sau khi thanh toán xong Ðồn 711 mà Việt Cộng thừa thắng tràn sang Plei Ngol Ho, chắc chắn tôi sẽ nguy to.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 6 September 1993)

Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Phần 10

Nhắc Lại Cảm Tưởng Riêng Khi Tôi Viết Bài Nguyễn Du Soạn Kiều Năm 1813

Hôm qua, 5-9 có một bạn đồng hương, đồng dần – tuổi 92, đến nhà, tôi cũng vừa dọn tủ sách bị mưa hai đám liền hôm qua và buổi sáng nầy, nóc dột, sách tuy chưa ướt, nhưng đề phòng, tôi quét dọn tủ sách vừa xong, thì anh nầy lại, và tôi chợt thấy anh đã lẫn nhiều và bắt tôi dửng dưng nhớ mình, may chưa lẫn đến thế, nhưng tự biết mình đã quá già và đã quá sống lâu…

Tôi nhớ lại và không cần tìm đọc bài viết cũ, tôi xin kể sơ cảnh ngộ người viết và người đọc một đoạn sách đã xưa. Tỷ như cảnh Nguyễn Du, theo ông Lê Thành Khôi định N.D. viết Truyện Kiều vào năm 1802 và tôi dám cãi lại là viết độ năm 1813, sau khi bắt gặp tập sách Hán Thanh tâm tài nhân…

Xin cho tôi sánh lại, và nói: Lục Vân Tiên, do Đồ Chiểu mù, viết thì cũng như một trái chín ép, và phải một người sáng suốt như N.D. viết, thì Truyện Kiều, như trái chín muồi, nên hương vị ngọt hơn nhiều.

Tôi đã từng sau ngày 30-4-1975, bị hất hủi khi đi lãnh thẻ kiểm tra và người bạn cố tôi, vì có làm cho Thép súng, đã bị suýt không cho lãnh chứng chỉ nhân dân, khi ấy và ngày nay tôi mới thấm hiểu Nguyễn Du năm 1802 đang trong cảnh cha là tham tụng triều Lê, anh là bạn chí thân của chúa Trịnh, tôi xét tình cảnh nát ngướu tâm can như tôi vào 30-4-75, không hứng khởi nào còn mà viết suôn sẻ được. Và tôi tự kết luận và xin trình người giàu kinh nghiệm dạy thêm.

Theo tôi người viết phải từng đau khổ và khóc nhiều thì viết mới nói được chút lòng và người đọc, theo tôi, cũng phải đã từng lâm vào thế kẹt, than như cá trên thớt như chim trong lồng, và năm 1802, theo tôi thì Nguyễn Du tích trữ những gì nghe thấy và khi được cho đi sứ năm 1813 mới viết văn ra hồn, và bao nhiêu tích trữ dồn dập mới tung hoành lên “văn” được. Và như vậy, mỗi phẩm viết, mỗi cảnh ngộ mỗi người, phải tùy thời tùy sự xếp đặt trên kia, chớ không nên quơ đũa cả nắm như đã thấy được.

Nói thêm nữa là thừa vì tôi xin chờ công luận cao minh phán xét.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 23-4-1993)

Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Phần 9

Ngày 30-4-1975 và tôi

Hôm qua, ngày 22-4, 8 giờ sáng, tôi đang lui cui đánh máy nơi buồng văn, bỗng đứa cháu gái nội chạy vô báo có khách đến kiếm và đang đứng chờ ở cổng ngõ sau, tôi đang áo thun quần đùi, cũng không kịp và cần thay y phục tử tế khác, lòng bực tức vì khách nào đây đến phá đám, làm tôi đang viết và bị mất hứng…, tôi ra đến cửa thì gặp một cô tươi tắn, miệng cười cười bày hàm răng cửa có một lằn nhỏ phân hai, lễ phép xin tôi cho đẩy xe vào sân trong và tự giới thiệu: “Cháu, đại diện báo Giải Phóng, đến xin cụ một bài về ngày Ba Mươi tháng Tư… Tôi không đợi dứt lời, vụt nói:

– Xin lỗi cháu, ăn mặc sỗ sàng như vầy, tiếp… nhưng tôi không biết nịnh!

– Không cần phải nịnh đâu. Xin cụ cứ viết như suy nghĩ…

– Tôi đã từng bị xí gạt, vừa rồi có một người dắt một ông kia lại nhà, bảo tôi ưng nói vài câu để ông ấy cho đứa con quay phim thâu tiếng nói và thâu luôn ảnh, điện vẫn điện của tôi, quay phim vừa xong, ông ấy lòn tay dưới bàn tôi đang ngồi, trao cho tôi một bì thơ dày dày, khách ra về, tôi lấy ra đếm, vỏn vẹn năm chục ngàn (50.000), tôi tức tức mà khách đã đi xa, nay cháu đến như vầy, và tôi đang tức khí, xin nói thật với cháu, cháu hãy về hỏi lại nhà báo tiền nhuận bút là bao, như phải chẵn thì tôi sẽ viết, chớ xin lỗi cháu, với tuổi 92, tôi quen sỗ sàng, tôi là con đ. có hạng, trả đúng giá thì tôi mới chịu ngủ!

Tôi vừa buông mấy tiếng kém nhã ấy thì có hai ông nhà văn bạn thân xô cửa bước vào, cô nọ cười cười vì vẫn quen biết, đẩy xe ra về, tôi tần ngần vì mấy tiếng lỡ lời lấy lại không kịp, nhưng trối kệ, tôi đang bực mình vì việc nhà rối rắm, thu xếp chưa xong, và trối kệ, người ta đã trách tôi “có gì nói ra hết, không biết ngưng đúng lúc”, với tuổi nầy, đang đợi giấy của Diêm vương, mặc cho búa rìu, thương thì nhờ, và phải sao chịu vậy. Bữa nay, cứ việc đánh máy vài trang chờ cô răng có lằn hở… và lòng dặn lòng, nếu cô ấy đến, sẽ khuyên bịt một kẽ vàng cho thêm duyên, lại nữa răng hở, có bao nhiêu tiền, đều lọt ra ngoài, không khá.

Sáng 30-4, súng cứ nổ, chó mèo chạy núp kẹt xó, gà không dám gáy, người người nín thở. Xe thiết giáp kéo vô dinh Độc Lập, cán nhào cửa sắt, cán nhẹp kỳ đài, tướng Minh đầu hàng vô điều kiện. Ông Trà làm chủ. Ngày 28-4, Hương lên tivi xin nhường chỗ cho Minh để dễ điều đình với người đất Bắc, bữa sáng ngày 29-4, có tin bi đát đổi lại làm tin hy vọng, nhưng hy vọng hão, tin có bốn hỏa tiễn bắn vào Sài Gòn, hỏa tiễn rơi nơi góc đường. Cống Quỳnh nơi xóm rạp Khải Hoàn hay gì gì đó, một trái bắn qua xóm Tôn Đản, nhưng trái nầy không nổ…

Trọn ngày 28-4, giới nghiêm 24 trên 24, nhưng dân chúng vô tích sự, vẫn nượp nượp ra đứng đầy đường để nghe ngóng, tiếng súng ven đô vẫn tiếp tục nổ, Lý Quí Chung lên làm bộ trưởng bộ Thông tin, Huỳnh Tấn Mẫm được trả tự do, Nguyễn Bá Cẩn, anh của Thiệu, ôm mấy thùng đồ xưa đã bay chạy từ đêm 28-4, Võ Văn Mẫu lên làm thủ tướng, Mẫu đây là cọp chớ không phải Mẫu là mẹ, Nguyễn Văn Huyền, luật sư lên làm phó tổng thống, kẻ hèn nầy nằm nhà, nhớ lại lúc còn làm đứng bàn ông Chánh ở Cần Thơ, Huyền là con thầy thuốc Phát, cưới vợ là con ông đốc phủ Chi, kẻ hèn nầy có dự tiệc cưới năm ấy, và đêm nay 28-4, tình hình bi đát vẫn bi đát như y… Sáng 29-4, nhớ lại, đêm qua 28-4, 18 giờ 30, có ba chiếc máy bay bay đến bắn pháo vào phi trường Tân Sơn Nhứt và bắn vào dinh Độc Lập, sau rõ lại đó là máy bay ngoài Bắc hay từ Đà Nẵng bay vào, mà tin đồn lại đồn đó là tướng Nguyễn Cao Kỳ phản đối.

Sáng 30-4, tiếng súng nổ lớn hơn mấy ngày trước, tiếng nổ từ Hàng Sanh, nghe đồn sẽ đánh chiếm đài Phát thanh… Thiếu tướng Lâm Văn Phát lên làm tổng trưởng tòa Đô thành, tướng Vĩnh Lộc thế cho tướng Cao Văn Viên, tướng Viên đã chạy mất, một chuẩn tướng tên Nguyễn gì gì đó khuyên quân sĩ bỏ súng đứng yên tại chỗ để xin đầu hàng vô điều kiện, 12 giờ có tin bác sĩ Hồ văn N. chạy vô dinh Độc Lập ủng hộ tướng Minh,… qua 14 giờ 30 có tiếng súng nổ thật giòn ngoài tường nhà trước và không sợ vì đó là tiếng súng ăn mừng hoàn toàn đã hết giặc, binh Bắc chiến thắng, đêm lại vẫn thiết quân luật từ 18 giờ cho đến 6 giờ sáng ngày mai.

Nay xin nói qua tình đời. Đúng tình đời, xanh như lá, bạc như vôi. Nuôi một thằng anh em dính dấp bà con xa, cậy nó trốn trong nhà lấy đồ cổ ra phiên âm chữ Hán, kể nó lánh mặt người khác. Dì Chín, vợ nó, dắt con lên, mình lấy tiền mua phở mỗi tô một cắc bạc (0$10) đãi, cách nhiều năm sau, dì Chín mãn phần, mình xách gậy đến điếu tang, con của dì Chín, thằng ăn phở năm xưa, từ trong buồng ra làm mặt lạ, hỏi: “Ông là ai?”, mình đứng dậy nói lớn: “Hỏi lại cha mầy thì biết” và chính cha nó đã gạt mình “Anh Hai có bao nhiêu sách cấm, hãy đưa cho em giữ giùm”, mình đưa bao nhiêu thùng giấy đựng nào Chị Tập, nào Phi Lạc sang Tàu, nào tập san trọn bộ Văn, trọn bộ Nhân loại, bị lấy luôn không trả, nay hai đứa em của mình lên đây để thăm dượng Chín, đau bán thân bất toại, mê man khi tỉnh khi mê, vì nay dượng lập phòng ngủ có máy lạnh chứa khách nhận đô la, khách Đài Loan dâng đồ bổ, dưỡng xực bổ quá đứt gân máu, hai em mình lên thăm dưỡng vì đảng với nhau, xin hỏi khi mình xẩy cái lô bô, hai em có lên thăm như thăm dượng Chín?

Một thằng bạn mày khác, năm bạn thất nghiệp, bụng đói, đến nhà, cho một bữa cơm quèn, biếu hai đồng bạc (2$00) cầm bằng bạc trăm, mới đây mình lại nhà, bạn cho một ly cà phê sữa, mình ra về, bạn viết báo, “già nữa chết ai nào tiếc như tiếc Huỳnh Bá Thành”. Bạn ôi, qua chúc cho em sống đến tuổi nầy bạn sẽ hiểu già thì yếu là lẽ tự nhiên và có mấy ai lại khỏi chết?

Già thì già mặt già mày… già còn được cô Bảy, cô Sáu, cô Năm nhắc nhở, Bà Bảy, bà Năm Cần Thơ đều là Nghệ sĩ Nhân dân, Sáu Ngọc Sương vẫn còn bóng bẩy, cả ba đều có cảm tình nhiều với già nầy, chúc bạn được như vậy.

Có từng lâm cảnh phong ba bão táp 30-4-1975, đọc lại Truyện Kiều, mới thâm thúy. Đã viết bài dẫn giải không thể Truyện Kiều sáng tác năm 1802, như Lê Thành Khôi và Trần Trọng Kim đã viết, vì phải đến năm 1813 tác giả Truyện Kiều mua được tập Thanh tâm tài nhân, năm 1813 về sau, không rõ chắc năm nào, tức cảnh sanh tình lấy chuyện một giá lành bị trầm luân rồi phổ biến lấy việc cũ đã thấy từ năm 1802 sẽ viết lại sự biến đổi Mạt Lê, Dứt Trịnh, Tây Sơn sớm mất, nhà Nguyễn lên, và “lời quê lượm lặt”, chuyện đời còn diễn… sống chết không mừng không tiếc, mặc cho búa rìu. (viết ngày 4-4-1993). S.

Tái bút.

Cách một thời gian, ngày 30-4 đã qua, việc hơi êm êm, một bạn đồng song cũ trường Chasseloup, tài ba đức hạnh hơn mình nhiều, đốc phủ sứ thiệt thọ, từng ngồi chủ tỉnh Biên Hòa, đã bỏ chức tước, ưng làm coi bút toán cho một nhà bào chế dược Tây, từ Cần Thơ lên thăm tôi, trao một bài tám câu, gởi cho một bạn học cũ đi ra Bắc trở về chức Bộ trưởng Giáo dục, thơ gởi không có trả lời, như vầy:

“Tiếng Ngụy đánh mang hổ phận mình,

“Rằng oan nhưng cũng khó thanh minh.

“Sen chung bùn bẩn sen càng đẹp,

“Ngọc nhuốm màu chàm ngọc vẫn xinh.

“Có miệng mà câm lời biện bạch,

“Cam lòng đành nuốt thẹn trung trinh.

“Như ai đoái tưởng người dân tốt,

“Cho lén nhìn xem ánh hiển vinh.

Tôi là hạng con cóc, è ạch họa như vầy:

“Tiếng Ngụy đầy tai, há một mình?

“Đũa quơ cả nắm, lọ thanh minh?

Photo edit by Sơn râu

“Lỡ làng thôn âp, còn gì tốt?

“Chờn chợ thị thành, đã mất xinh.

“Oán, giận, trách, hờn âu quá muộn,

“Gìn vàng giữ ngọc vẹn kiên trinh.

“Qua cơn thử thách già thêm nữa,

“Khổ lụy, phong trần, nhục lẫn vinh.

Hôm nay 29-4-1993, vào giờ trưa, bỏ giấc nghỉ lưng ngọ, ngồi vào bàn máy và viết để cho thấy vào tuổi 92 nầy, trí óc vẫn còn minh mẫn, và vẫn viết tiếp việc đã 18 năm qua, nhưng chưa đến gián đoạn.

Nhảy qua chuyện khác, có nhắc đến tướng Lâm Văn Phát, nay nhớ rõ lại tướng Phát là con của ông Lâm Văn Phận, ông nầy là thầy gác lớp gọi Rệp (répétiteur) trường cũ Chasseloup, nào dè cha làm giám thị con làm đến bực tướng, nghĩ lại ông Phận dạy con đáng công hơn mình có một trai duy nhứt, mình cắp ca cắp củm hà tiện từ xu từ cắc, con xài tiền như túi thủng đáy, cho biết mắc nợ khai thác lén sơn lâm nợ triệu nầy qua triệu kia, biết làm sao trả cho xiết, khuyên con xin chủ nợ bớt, con nằng nặc làm quân tử Tàu, nài trả cho đủ số đã lấy, thôi thì việc đâu còn có đó, nay bắc cầu nói qua tướng nầy theo điệu hát đâm bang của hát bội để giải buồn. Tôi không nhớ tướng Phát có bị đi học tập cải tạo cùng không, duy nhớ rõ sau ngày 30-4-75, một đêm nọ lối bảy tám giờ tối, tướng đi xe đạp tìm lại nhà báo hung tin “đốc phủ Thiện từ trần” và mời tôi kíp theo chân dự lễ truy điệu. Lúc ấy tôi độ trên bảy mươi nhưng còn khỏe lắm, tôi lật đật xách gậy, cuốc bộ lên nhà Thiện, nơi đường mài mại cái gì Dung hay gì gì đó. Cơ khổ đã từng lên đó ăn cháo vịt, thật ngon, chơi bài thiên cửu và khi khác nghe đờn ca tài tử, Thiện là bạn đồng song, ngủ chung một lầu, ăn chung một phòng, thế mà đã quên lửng số nhà và đường… Dung… Dung gì gì đó.

Thật đáng thương cho một đốc phủ như Thiện, trong sạch nhưng vì sạch nên nghèo trơ nghèo trớt, nhớ mại lúc chơi bài lúc nghe đàn, thì Thiện ở villa, nhưng nay quan tài quàn trong một căn bé thấp, mối đùn trước cửa một đống gần lấp cửa ra vào, đèn điện bốn cây lu lét chung quanh chiếc hòm chưng ngang ọp ẹp, tôi để gậy ngoài bệ cửa, bước vào xá dài bốn xá tiễn bạn tuy đứng đó mà tần ngần ngổn ngang bồi hồi ngao ngán, rồi lui bước ra lại chỗ tiếp khách lựa một ghế nhỏ nơi xó hóc, ngồi day mặt ngó quan tài bạn đốc phủ, nào ngờ ra đi quá sớm, chưa hơn tuổi cổ lai hi, và các bạn lương hữu đang tổ chức bữa đờn tiễn biệt, trước cái hòm hiu quạnh, là năm hay sáu danh cầm, Cao Hoài Sang đang là chức sắc lớn đạo Cao Đài thủ cây tỳ bà, Năm Thịnh, giáo sư dạy trường Quốc gia Âm nhạc thủ cây kìm, một ông ngồi bệt dưới đất thủ cây thập lục, hỏi lại đó là ông Năm An, một tay đàn tranh đồng chạn với ông hoàng Bửu Lộc, một ông hoàng nửa giòng vua Thành Thái, và một ông thổi cây tiêu vì ngồi khuất nên tôi không nhìn mặt duy nghe nói lại đó là một tay suy-tiêu ăn đứt giới ca-cầm buổi ấy. Tôi ngồi lặng nghe từ tiếng nắn nót cây tỳ cây tranh, lòng tôi thổn thức không rõ khi sau mình nằm xuống, có được cảnh nầy hay chăng? Và nhớ lại Thiện, khi còn là viên thơ ký dinh Hiệp-lý như mình, mình thường ăn hiếp, chọc phá, gọi Thiện là Thường-Sư-Đồ, lấy tích Thiện thuộc làu truyện Thuyết Đường và kể không sót tên các vị anh hùng đời Mạt Tùy, lúc Dương Đế nghe lời chú là tướng Dương Lâm tổ chức thi chức trạng nguyên võ, nơi gọi “Giang đô khảo võ”, lúc ấy anh hùng số 1 (Lý Ngươn Bá) đã chết, số 2 (Võ-văn Thành-Đô) đã bị Ngươn Bá xé tét tử mạng, số 3 Bùi Ngươn Khánh không còn, số 4 Hùng Hượt Hải đã chết, số 5 Ngũ Văn Thiệu, số 6 Ngũ Thiên Tích cũng đã chết, khiến nên số 7 là tiểu tướng La Thành giựt chức võ-trạng, nghĩ vừa tới đó thì trời đã quá khuya, vào xá xá thắp thêm một cây nhang. Nay tướng Phát ở nơi nao, mình còn đây và chừng nào sẽ gặp lại hồn anh đốc phủ Thiện?

(29-4-1993)

Viết tiếp ngày 10-5-1993

Bài “30 tháng 4 năm 75” viết bảy trang, nay đọc lại thấy bời rời lòng chảy như “cơm nếp mắc mưa”, nhưng gẫm lại tình đời suy thoái không mấy chốc. Nghĩ lại một đốc phủ trong sạch, khi chết, đám ma nhà héo mà còn được một pháp sư lớn chức, một giáo sư trường âm nhạc và nhiều danh cầm cao thủ, không tiếc công đến ngồi trước vong linh đàn lại nhiều bản lớn để tỏ tình tiễn biệt nhau. Bây giờ nói chuyện của mình, từ sau năm Giải phóng, sau ngày 30-4-75 cho đến nay, chính mình sạch sành sanh tiền gởi quỹ tiết kiệm, bị thằng Phạm Công Tước ẵm sạch với bao nhiêu tiền dành dụm mồ hôi xót mắt của nhiều người khác, tên Tước vẫn chưa bị bắt, rồi thêm nhiều thụt kết đoạt tiền khác, vụ dầu thơm, vụ thằng chệt Tàu trong Chợ Lớn, và nào những cao cấp tiêu lòn ăn cắp bạc của nhà nước, kể ra làm sao cho đủ, chỉ biết bọn tội phạm, hoặc đã chạy khỏi, hoặc đã vào tù, và mình sạch tiền lại phải đóng thuế và thuế ấy gánh phần nuôi cơm cho bọn tội phạm bị tù, và gánh luôn tiền nuôi từ thằng lưu manh đâm chém, giết hại sát nhơn, thằng con mất dạy lấy súng A.K. của cha để bắn vào bót cảnh sát, và gẫm thương thầm mấy cô gái bị buộc tội “mãi dâm” vân vân và vân vân, tôi đây làm sao thuộc Kiều cho bằng mấy ông ngoài kia, nhưng còn nhớ năm nọ, đời ông Trần Văn Hữu làm thủ tướng, tôi được tuyển giữ mục phê bình văn hóa trên đài phát thanh, lúc ấy không có kiểm duyệt, tự mình nghe cô đào Bắc ngâm vài câu Kiều rồi tự mình chế biến tìm câu dẫn giải, tán hươu tán vượn trả nợ xong nội mươi lăm phút rồi kéo nhau xuống két lãnh tiền sốt dẻo, và đêm ấy, cô đào đến trễ, tôi chưa kịp phân trần giáp mí, cô lên đài, mắt liếc nghiêng õng ẹo ngâm: “Bây giờ đất thấp trời cao, ăn làm sao nói, làm sao bây giờ”, tôi phê bình chiếu lệ rồi đưa nhau lãnh tiền, cô được 150 bạc, tôi được 300, nhưng đứng chờ xe đưa về nhà thì xe hư, hai tôi đành cuốc bộ, cô mời mọc: “Nhà em không xa, mời ông anh đến chơi cho biết”, rồi tôi che dù, cô đi sát mình để tránh giọt mưa vì cây dù quá nhỏ, khi đến nhà cô, nơi xóm lao động gần cầu sắt Đakao, tôi muốn lui về nhưng đã trót lỡ lời, tôi để cây dù ướt ngoài cửa bước và thì quá trễ, thấy ba bốn anh chàng mình trần đang nằm sấp dài nơi sành gạch, kéo dọc tẩu… rồi thì “lỡ chân trót đã vào đây…” đêm ấy muốn được an toàn, tôi đành để lại cho cô đúng ba trăm vừa nhận lãnh khi nãy, gọi là tiền lễ mừng em lạc thành nhà mới, rồi về nhà thêm tội nói láo với vợ rằng chưa lãnh tiền, mặc dầu mai nầy tiền đi chợ ban nãy nơi nhà cô đầu răng đen mã tấu, đã cúng hết để mua đạo lộ đường xá với mấy thằng mình trần chờ dịp lật lưng mình và còn chuyện gì xảy ra khác nữa chưa biết được, nghĩ cho cái kiếp thất thời phải đóng cặp với một mụ đào hát quá ư tầm thường, bao nhiêu nghệ thuật tinh xảo của câu phong yêu hạc tắc “ba chữ” “ăn làm sao” “nói làm sao”, mụ đã ngâm trật lất: “ăn làm sao nói…” “làm sao bây giờ”, đứt đoạn và sai nghĩa nhưng đã trót lãnh 300 và đã trót cúng 300, thật là chí công và đúng nghĩa: câu điêu luyện “Bây giờ, đất thấp, trời cao,” “ăn làm sao…” “nói làm sao…” và nối lại cho dính liền hai chữ đầu “Bây giờ???”, và gẫm lại, nói ra đây đã quá lộ liễu tâm can, ví thử ngày 30-4-93, mình cứ nín thinh chẳng là vô sự, hoặc là cứ như bao nhiêu người khác, chúc mừng và nịnh bợ thì sẽ được chèo suôi mát mái, và trái lại, mình tuy không động đến việc lớn, mà đã thố lộ can tràng, kể lại tình cảnh đã xảy ra dân phu xích lô, trước kia nhà có tivi, nay đã bán từ lâu, nhà nọ ham được giá đã bán bộ ván gỗ để nay ngủ trên sàn gạch, lính tráng đời Ngụy, vì quá sợ, cổi cả áo treilly áo chiến, giày trận, cổi hết và bỏ hết tất cả nơi đống rác cho khỏi tội làm cho Mỹ Ngụy, và ngày nay vợ con không có chiếc chiếu rách lót lưng, mình đã lội ngược dòng và viết lại tình cảnh bo bo, nay thay rau muống, nhưng đã tìm được manh mối cảnh ngộ năm 1802, tác giả Truyện Kiều chưa có tài liệu đủ để thuật lại chuyện con đ. đời Minh và phải đợi đến năm vinh quang đi sứ sang Tàu và thâu gặp bộ chữ Hán Thanh tâm tài nhân, và khi ấy bao nhiêu uất ức, kham khổ vua chót Lê bỏ chạy, chúa chót họ Trịnh tiêu điều, vân vân và vân vân, âu là nghiệp chướng còn nhiều, và bao nhiêu chất chứa thấy lính Tây Sơn ngồi hát cô đầu mới nghĩ ra cảnh Hồ Tôn Hiến cũng biết say sưa và trót say cũng biết gả cho thổ quan lánh vợ, thật là “lời quê lượm lặt” quá vô duyên, và viết như vầy đúng là “bao quản lắm đầu” và mặc cho búa rìu lượng minh soi xét.

Nhật Bản những cánh hồng thép

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on August 10th, 2023

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Túc cầu luôn có những điều bất ngờ và bất công. Thậm chí tàn nhẫn. Những ứng viên sừng sỏ của làng túc cầu nữ thế giới như Đức, Ý, Brazil, Argentina,Trung Quốc… đã về nước sau vòng loại đầu tiên. Và cuối tuần qua, đương kim vô địch thế giới là Mỹ cũng cùng chung số phận sau khi thua Thụy Điển trong loạt đá luân lưu cuối cùng, trong một trận banh mà Mỹ đã áp đảo nhưng sự thất bại sớm tại giải năm nay cũng không quá ngạc nhiên. Thay vào đó là sự trỗi dậy của “những cánh hồng” Nhật Bản trong mùa World Cup năm nay.

Sau chiến thắng trước đội Hoa Kỳ, Thụy Ðiển sẽ gặp Nhật Bản trong một trận bán kết thư hùng hứa hẹn nhiều gay cấn vì cả hai đội đều thuộc vài đội banh hiếm hoi chỉ toàn thắng cho đến nay. Khó dự đoán trước kết quả vì túc cầu luôn có những điều bất ngờ và bất công như nói trên, tuy nhiên các bình luận lẫn giới cá cược đều xem đội nữ Nhật Bản có khả năng giành chiến thắng cao hơn.

Ðược mệnh danh là “Nadeshiko Japan”, tức “Những cánh hồng Nhật”, đội nữ Nhật cho đến nay đã mang lại khá nhiều sự ngưỡng mộ về phong cách cùng khả năng thi đấu xuất sắc của họ. Chắc chắn, nhịp nhàng và hiệu quả, những trận đấu và các bàn thắng đều rất xứng đáng, thể hiện cả tương quan trận đấu hơn là sự may mắn.

Giải Túc Cầu các trường trung học Nhật Bản – nguồn wikimedia

Như đặc tính chung của người Nhật, đội Nhật có một tinh thần đồng đội tuyệt vời khi hầu như toàn đội đều phối hợp chuyền bóng liên tục, không phải để chứng tỏ hay phô diễn tài nghệ cá nhân. Bởi họ hiểu rằng, sự thành công cuối cùng của toàn đội là thành công của mỗi cá nhân, là mục tiêu duy nhất và điều cần thiết trong bất cứ hoạt động nào.

Nằm trong nhóm có chiều cao trung bình thấp nhất giải năm nay, các cầu thủ Nhật không hề thua sút với những đội bóng Châu Âu cao to. Tranh bóng quyết liệt, những đường lên bóng tốc độ mãnh liệt, chứng tỏ một thể lực bền bỉ và nhanh nhạy. Họ không chỉ là “những cánh hồng” mà là “những cánh hồng thép” được thể hiện trong mùa World Cup này.

Đội nữ Nhật Bản vô địch thế giới năm 2011 – nguồn The Japan Time

Xem các trận đấu của Nhật Bản năm nay, người xem còn dễ nhận thấy một tinh thần thi đấu thượng võ và rất thể thao. Trong không ít những pha va chạm ngoài ý muốn đã xảy ra, bất kể lỗi mình hay đối thủ, các cầu thủ Nhật luôn tỏ cử chỉ hòa ái, xin lỗi, vỗ về với cầu thủ đối phương nếu họ có vẻ như đang đau đớn sau cú va chạm. Ðây là một trong những điều đã tạo cảm tình rất nhiều với người mộ điệu.

Nếu không theo dõi nhiều, nhiều người những tưởng nền túc cầu Nhật Bản ắt đã ra đời lâu năm để có được kết quả nói trên. Nhưng không, liên đoàn túc cầu nam lẫn nữ của Nhật là liên đoàn còn khá mới, hay được xem là còn trẻ so với các quốc gia khác. Cách riêng là với nền túc cầu nữ chỉ mới bắt đầu trong đôi thập niên vừa qua và vẫn chưa nhận được bình đẳng so với đội banh nam giới. Ðến đầu thập niên 80s, Nhật vẫn không có đội nữ quốc gia mà chỉ gởi các đội đại học hay câu lạc bộ tham gia thi đấu quốc tế.

Đội nữ Nhật Bản tri ơn bạn bè khắp nơi đã giúp đỡ nước Nhật trong thiên tai – nguồn cnn

Bóng chày (baseball) vốn là môn thể thao yêu chuộng tại Nhật. Dù túc cầu hiện diện khá sớm tại Nhật như hầu hết các quốc gia khác, đây là môn thể thao không mấy được quan tâm và ủng hộ, nhất là với nữ giới. Nhật là quốc gia nằm nhóm cuối bảng về chỉ số chỉ khoảng cách giới tính (Global Gender Gap) trong báo cáo thường niên của Diễn Ðàn Kinh Tế Thế Giới và là quốc gia phát triển duy nhất trong nhóm G7 có khoảng cách chênh lệch nam nữ lớn như vậy.

Mặt khác, chính những cấp lãnh đạo liên đoàn túc cầu Nhật thú nhận rằng, như một số quốc gia Châu Á khác, người Nhật cũng vốn có xu hướng dễ ái mộ và thích thú với những nữ vận động viên “cutie”, xinh đẹp, trong khi môn túc cầu nữ của Nhật lại tập trung phần lớn những nữ tuyển thủ có bộ dạng và khuôn mặt đầy nam tính. Chính vì điều này mà dù túc cầu Nhật, nam lẫn nữ, đều có những tiến bộ và thành công đáng nể trên đấu trường quốc tế hơn 10 năm qua nhưng số người Nhật yêu thích và ủng hộ môn thể thao này cũng chỉ khoảng 13%, thua xa với tỉ lệ 75% tại Việt Nam theo cuộc thăm dò của các tổ chức quốc tế gần đây.

Nhật Bản 5-0 Zambia – nguồn myjoyonline

Dù vậy, phong trào thể thao học đường và thể thao cộng đồng đã giúp cho túc cầu nữ tại Nhật phát triển. Các đội túc cầu trường học và đại học đã cung cấp các đấu thủ xuất sắc cho đội tuyển quốc gia. Năm 1989 Liên đoàn Túc cầu nữ Nhật Bản ra đời thì năm 1991 đội tuyển quốc gia đã được lọt vào vòng chung kết giải World Cup và liên tục có mặt tại các giải World Cup cho đến nay.

Thành tích cao nhất của đội nữ Nhật Bản là vô địch World Cup năm 2011 khi Nhật đã thắng hầu hết các đội mạnh, kể cả đương kim vô địch lúc bấy giờ là Ðức, đội liên tiếp giành chức vô địch trong hai World Cup trước đó, trong trận tứ kết. Nhật thắng đội banh sẽ tái tranh hùng năm nay là đội Thụy Ðiển 3-1 trong trận bán kết để tranh chức vô địch cùng với Mỹ trong trận chung kết mà Nhật đã chiến thắng trong loạt đá luân lưu cuối cùng.

Nhật Bản 2-0 Costa Rica – nguồn sepparton news

Vô địch năm 2011 là một chiến thắng tinh thần ý nghĩa của đội Nhật vì nước Nhật vừa trải qua một trận động đất và tsunami khủng khiếp trước đó với vài chục ngàn người Nhật đã  bị thiệt mạng. Các cầu thủ đã giăng tấm bảng cảm ơn người hâm mộ khắp thế giới đã ủng hộ, giúp đỡ cho nước Nhật hồi phục sau chiến thắng. Vượt lên trên thể thao, đó là một tinh thần quốc gia thật sự của đội tuyển nữ Nhật Bản.

Nhật Bản 4-0 Tây Ban Nha – nguồn japan forward

Người Nhật không dùng thể thao hay túc cầu nói riêng như sự chứng tỏ quyền lực hay mang lại niềm tự hào quốc gia. Bởi họ đã có quá nhiều điều to tát hơn để chứng tỏ điều này.

Không chắc Nhật có lặp lại kết quả hồi giải 2011 hay không, bất luận kết quả những trận đấu kế tiếp thế nào, những cánh hồng Nhật Bản đã để lại không ít sự ngưỡng mộ trong lòng người mộ điệu về phong cách cùng khả năng của mình trong mùa World Cup năm nay.

Nhật Bản 3-1 Na Uy – nguồn al jazeera

ĐYT

Nguyễn Đức Đạt một cung đàn lạc quan

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on April 20th, 2024

Post by Sơn râu 6 Jul 2024

Trò chuyện với vài người bạn ngoài vườn nhà anh chị bạn xong, tôi bước vào bên trong thì Nguyễn Đức Đạt đang ngồi bấm điện thoại. Tôi lên tiếng chào Đức Đạt và khá bất ngờ khi Đức Đạt nhận ngay ra giọng tôi:

– Ah, anh ĐYT, anh khoẻ không?

-Giỏi vậy, sao Đức Đạt nhận ra tôi hay vậy? – Tôi hỏi

– Em nói chuyện và nghe giọng anh nhiều mà.

Khoảng 5 năm trước, nhóm thân hữu chúng tôi có tổ chức một chương trình nhạc thiện nguyện có Nguyễn Thế Vinh và Nguyễn Đức Đạt cùng trình diễn. Khi Đức Đạt sang Dallas, chúng tôi đã ngồi bàn bạc, trò chuyện về những tiết mục trong chương trình, cũng như khi dẫn chương trình, tôi có giới thiệu những hoạt động của hai bạn khuyết tật rất tài ba và có tấm lòng này. Rồi những bữa ăn tối với nhau trước và sau buổi diễn. Có lẽ vì vậy mà Đức Đạt còn nhớ giọng tôi, dù đã 5 năm không gặp.

Teresa Mai và Đức Đạt    

Với một người bình thường, 5 năm đã là một thời gian dài để nhận ra khi gặp nhau không lâu. Còn với những người khuyết tật, có lẽ tạo hóa đã bù đắp cho họ những thiên khiếu đặc biệt. Như cuộc đời và con người của Nguyễn Đức Đạt vậy.

Nguyễn Đức Đạt bị mù bẩm sinh, lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Từ thuở thiếu thời còn ở Việt Nam, Đức Đạt đã mê âm nhạc, thích chơi đàn, trống và đã bắt đầu viết nhạc nhưng đời sống gian truân, thiếu thốn, chẳng có mấy cơ hội dành cho người khuyết tật. Cơ may đến với anh, năm 1990 Đức Đạt đến được Mỹ và cuộc đời anh bước sang một trang mới khi đất nước này đã dành cho những người khuyết tật như anh những cơ hội chẳng dễ dàng gì có được ở những xứ sở khác.

Nguyễn Đức Đạt quay lại trường học. Ngôi trường đại học Cal State Fullerton tại California là nơi đã huấn luyện cho anh đi vào âm nhạc một cách chính thức, bài bản và giúp anh phát triển hết tài năng tiềm tàng trong người. Nhưng nó không dễ dàng như được nghe. Hãy nghĩ về những ngày mưa, tháng tuyết, một người khuyết tật như Đức Đạt đã phải chống gậy, dò dẫm từng bước băng qua đường,  lên xe bus đến trường. Theo học một đại học dành cho sinh viên bình thường, Nguyễn Đức Đạt phải cố gắng gấp bội phần người khác để lãnh hội.

Tài năng, thiên khiếu là tặng thưởng được trao ban của mỗi người nhưng ý chí, nghị lực đó không phải trời ban.

Từ trái: Ian Bùi, Mạnh Kim, Đức Đạt, tác giả và Tuấn Khanh

Nguyễn Đức Đạt bắt đầu hành trình âm nhạc và sáng tác của mình, trở thành một nghệ sĩ khiếm thị được quý mến nhất tại hải ngoại. Đức Đạt chơi piano, thổi sáo, thổi rất hay và cảm động, nhưng nhạc cụ chính vẫn là Tây Ban Cầm. Anh nhận những giải thưởng cao quý về trình diễn từ Disney, Panasonic, đoạt giải quán quân Tây Ban Cầm tiểu bang California, được các tờ báo lớn của Mỹ viết về cuộc đời và hành trình âm nhạc của mình. Anh xuất hiện trên các chương trình của những trung tâm ca nhạc lớn tại hải ngoại, sáng tác và đệm đàn cho vài ca sĩ nổi tiếng Việt Nam. Nếu tìm trên mạng, có lẽ mọi người sẽ tìm được thước phim anh trình diễn cùng một tên tuổi lừng lẫy trong âm nhạc Hoa Kỳ là Stevie Wonder, người nhạc sĩ cũng bị khiếm thị như Nguyễn Đức Đạt.

Hoạt động trong nhóm phi vụ lợi Ngọc Trong Tim và thân thiết với trung tâm Hướng Dương của nghệ sĩ khuyết tật Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Đức Đạt cùng một số anh chị em nghệ sĩ khuyết tật khác đã tổ chức và trình diễn trong nhiều chương trình nhạc từ thiện khắp nước Mỹ và tại vài quốc gia khác. Họ mang đến cho khán giả khắp mọi nơi sự lạc quan, niềm cảm hứng cuộc sống bằng gương nghị lực của chính mình, cũng như để gây quỹ giúp đỡ những trẻ em bất hạnh, có cùng hoàn cảnh như họ. Đạt lập gia đình, có một con gái, vợ Đạt cũng là một người khuyết tật ngồi xe lăn, gia đình hạnh phúc và dìu dắt, giúp đỡ nhau như mọi tổ ấm nho nhỏ khác. Đức Đạt đùa, thỉnh thoảng cũng bị vợ “nhăn” như những người chồng khác.

Đức Đạt và Nhạc trưởng Lê Văn Khoa trong một lần gặp gỡ tại Dallas

Thấy Đức Đạt dùng điện thoại thường xuyên từ những lần gặp gỡ trước nhưng tôi bất ngờ hơn khi Đức Đạt kể tôi rằng, anh là người sửa iPhone cho cả nhà. Điện thoại có trục trặc gì thì anh là người chỉnh sửa cho cả nhà. Đạt kể anh lên mạng đọc tin tức, vào Amazon mua sắm, tìm đọc các đánh giá các món hàng hơi đắt tiền trước khi mua … Tôi nhắn tin cho Đạt, anh trả lời tức thì. Mọi chuyện cứ như người bình thường khác.

Tôi hỏi Đạt điều gì nơi chiếc điện thoại vẫn chưa hoàn chỉnh cho những người như anh. Đức Đạt thoáng suy nghĩ rồi trả lời, “chụp ảnh”. Đúng vậy, chụp ảnh là tính năng cần canh ngắm bằng đôi mắt mà Đức Đạt lại… Đạt khiêm cung rằng, anh chỉ chơi nhạc nhưng không ít bạn bè khiếm thị của anh là những người rất xuất chúng trong nhiều lãnh vực khác nhau. Họ lập trình, họ thiết kế hay sáng tác với tài năng vượt bực, hơn người.

Những người thường như chúng ta làm sao biết được các tính năng vô cùng quý giá và tiện dụng dành cho những người khiếm thị như Đức Đạt. Nghe Đạt kể, tôi không chỉ nghĩ về sự tân tiến của kỹ thuật mà còn tri ân những nhà kỹ thuật, một xã hội bác ái đã không quên những người khuyết tật, tạo cho họ sự bình đẳng như tất cả những người khác và đóng góp, giúp ích cho đời.

Không riêng tôi mà những ai gặp Nguyễn Đức Đạt ngoài đời không chỉ để nghe Đạt đánh đàn hay thổi sáo mà còn rất vui khi nghe Đạt đùa giỡn, kể chuyện vui mà cười ầm. Đạt hay đùa vui rằng, “Đạt đi đến đâu, Đạt đùa đến đó, Đạt đem đời đến đạo, Đạt đem đạo đến đời”.

Mà quả vậy, tôi nghĩ xa hơn. Quả đó là đời-đạo, là đời sống và con đường của mỗi người.  Khi bị mất đi ân huệ được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, ngọn lửa trong trái tim Nguyễn Đức Đạt lại toả sáng rực rỡ, soi đường cho anh và ở mặt nào đó, để người khác thấy lại chính họ. Sự lạc quan, dí dỏm của Đức Đạt có thể giúp cho những ai gặp dăm thách đố không thể tránh được trong đời sống, cảm thấy hy vọng và lạc quan hơn.

Ngón đàn tài hoa, cung đàn réo rắt, Nguyễn Đức Đạt truyền sức sống vào cây đàn và truyền niềm tin vào khán giả, vào những người gặp anh. Niềm tin rằng, con người có thể vượt lên trên những giới hạn của những khiếm khuyết về thể chất lẫn tinh thần để đạt đến điều tưởng như không thể. Niềm tin vào tấm lòng của mỗi người vẫn luôn độ lượng và vượt lên những khác biệt để làm những điều tử tế và ý nghĩa hơn cần làm.

Giữa cuối tháng Sáu này, Nguyễn Đức Đạt lại có dịp đến Dallas trình diễn, mời bạn hãy đến nghe một cung đàn tài hoa, lạc quan này.

Chuyên gia sửa smartphone cho … gia đình!

Dallas 04/2024

ĐYT