Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 12-4-1993)
Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Phần11.

Nên Chơi Sách Hay Nên Chơi Cổ Ngoạn – Lấy Người Nầy Làm Gương

Tôi đã quá già, nhưng tánh hay lo việc bao đồng. Riêng tôi, tôi đã chán ngán, nhưng tưởng cũng cần nói vài lời về thú trên đây, nghe cùng không tôi không cần biết, và người nói trong nhan đề, oan hay ưng, tôi cũng không vụ tất làm chi. Xét lại cho kỹ, chơi cổ ngoạn thú vị nhiều, nhưng vẫn có nhiều người ganh tị. Khi ganh, không ngại đặt điều nói xấu, phao vu buôn lậu vật báu của nước, như vừa rồi, việc còn nóng hổi, có một chàng nọ, tuổi còn trẻ, chơi thân với tôi và thường nghe lời tôi, thường ra Bắc hay về Huế đô, mua sắm được nhiều món lạ, chính tôi thấy cũng thèm, tôi đã khuyên phải cẩn thận, chơi thì nên nhưng đừng làm con buôn, và phải coi chừng kéo đứt tay có ngày, người ấy bỗng bị bắt, bị giam, cổ vật sưu tập bị hốt, một vài tháng sau được tha rồi bị bắt trở lại, cổ vật có được thu hồi, và người ấy có phạm tội cùng không, việc không mắc mớ gì tôi, chính nếu có người cào tôi thì tôi cũng phải chịu vào ngồi trong đó như ai kia chớ tôi nào có hơn ai, tuy vậy thỏ chết cáo buồn, và bài nầy tôi viết là cốt lấy kinh nghiệm mớ tuổi già và xin lấy trực tâm già nghề, nghề chơi sách và nghề chơi đồ cổ, tôi là kẻ dưới, còn sự công bình và xét đoán phân minh là ở bề trên, tôi không dám nói nhiều chỉ mong có hải hà lượng cao.

Gần đây, tôi có đọc kỹ lại hai bộ sách để trên đầu nằm, đó là:

• Le Viet Nam,h istoire et civillisation của Lê Thành Khôi (nhà Minuit 1955, Paris)

• Việt Nam sử lược

của Trần Trọng Kim, bản Tân Việt lần 5, năm 1954.

Sách Pháp của ông Khôi ghi gãy gọn: Nguyễn Du, Kim Vân Kiều 1802 (tr.509); V.N.S.L. Trần Trọng Kim, tr.418, cũng vắn tắt: “Truyện Kim Vân Kiều của Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du, cũng phát hiện thời bấy giờ (xin hiểu đó là năm 1802).

Cả hai học giả đều sở học uyên thâm, tôi lé đé dưới mắt cá, dám đâu đèo bòng nói lăng xăng trong lúc không có mặt, duy trong nghề chơi đồ cổ và làm mọt sách, tôi đọc lại và riêng thấy: “năm 1802, phương Bắc đang bị xáo trộn, cố binh trong Nam của chúa Nguyễn Ánh kéo lên, Du nào có lòng yên để ngồi viết sách và có lẽ năm 1813, nhơn được đi sứ sang Tàu và mua được sách hay (bộ Thanh tâm tài nhân) và nhơn đọc chuyện nàng Kiều trầm luân, mới nhớ và tỷ hứng xa vời chuyện nước nhà hay chăng?

Theo tôi ngẫm lại văn hóa nước ta có được bộ Truyện Kiều, chính là nhờ có được cuộc đi sứ năm 1813 nầy. Vả lại, bộ sách Hán cũng chỉ văn viết tầm thường thôi, nhưng sự tích khá li kì; cũng năm 1813 nầy sứ bộ của ta mang về bộ chén trà “Mai-Hạc” tôi sẽ nói nơi đoạn sau, và nơi đây, tôi xin cho tôi được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi long một dân Nam thấp hèn buổi 30-4-1975 lại vẫn không khác nào cảnh đã phải gánh chịu của một đại văn hào phương Bắc buổi Lê tàn, Trịnh mạt, Tây Sơn lên mau như chớp rồi tắt lịm như bóng đèn khí khi điện lực bị cúp, sự việc một gái nhà lành vì hiếu phải bán mình, rồi bị đày đọa, than bị vằn vọc, trăm cay ngàn đắng suốt mười lăm năm trời, nnung binh sĩ chúa Ánh kéo lên phương Bắc năm 1802, chỉ làm nhục và cầm tù một nhà khoa bảng là Phan Huy Ích, và chỉ đánh đòn, nhưng lỡ tay hay vì căm thù, đánh quá nặng đến chết một nhân tài là Ngô Thời Nhiệm, và theo như tôi tự xét và hiểu, có lẽ thức cảnh sanh tình, Du năm 1802 cũng na ná cảnh ngộ tựa tựa như vầy, nên bỗng mượn lấy nòng cốt Truyện Kiều mà đẻ ra một bản kiệt tác gợi lại chuyện xa xăm quăng phong ba bão táp cuối thế kỷ XVIII bước qua đầu thế kỷ XIX v.v… Nhưng phải đợi năm 1813 yên chí đi sứ Tàu về, và phải đợi năm 1813 hoặc sau năm 1813 tâm thần bình tĩnh, thấy xa hiểu rộng một năm dài khi ngồi thuyền khi ngồi võng hay chạy ngựa suốt một năm dài bận đi như bận về, mắt ngắm tai nghe đủ mọi cảnh đẹp việc hay của nước lớn Trung Hoa, đến đây tôi không quyết đoán phải đúng năm 1813, nhưng cũng lối năm ấy, và một bằng chứng khác, xét theo lối chơi cổ ngoạn, tôi đã gặp và làm chủ một bộ chén trà niên hiệu đề năm Giáp Tý (1804) là năm đi sứ sang Tàu của một văn nhân trong Nam là Trịnh Hoài Đức có miếu thờ trong Chợ Lớn.

Và xin cho tôi được dài dòng kể lại đây, tuy đã có nhiều sách dẫn giải trước, ngày xưa nước Tàu rộng lớn bao la, đối với các nước nhỏ lân bang, chỉ muốn “làm người Anh Chị” đối với “hàng Em Út dưới tay” và chỉ cần “đầu hàng” là đủ, nước nhỏ cần dâng “cống vật”: ngà voi, tê giác, sáp trắng, mật ong, quế Thanh, quế Quảng, sa nhân, đậu khấu v.v…, rồi nước lớn hiến lại nào đồ gốm có ngự bút nhà vua, bánh đúc đi, bánh sáp đáp lại và như vậy là đồng đều… và xin cho tôi kể them đại lược những năm đi sứ sang Tàu, theo bộ sách Bang Giao (không kể rành chi tiết) và duy nhờ mò lần theo các cổ sứ mua được mà tôi rõ như sau:

• Năm 1802, chúa Nguyễn Ánh, tuy tức vị nhưng chưa có sắc của Thanh-triều ban cấp thì chưa đủ uy tín cho dân thờ, tuy đã sai quan Thượng-thơ Binh-bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong, xin đổi quốc hiệu là Nam Việt lấy lẽ Nam là An Nam, Việt là Việt Thường. Nhưng sứ bộ nầy bị nhà Thanh hỏi khó, sứ bộ không đáp được cho nên có sứ bộ khác do Trịnh Hoài Đức cầm đầu sang tiếp, Hoài Đức gốc người Phước Kiến và mẹ là người Việt, ứng đáp suôn sẻ rằng: Nước nhỏ dám đâu xúc phạm thượng quấc, duy “hiện Bắc hữu Thăng Long, Nam hữu Gia Định”, nay đã qui nhứt thống, nên chọn đế hiệu “Gia Long”. Chữ “Long” không tiếm chữ của tiên đế Kiền Long, chữ “Gia” lại không cố ý chọn chữ của đức kiêm thượng tại ngự, và được chấp nhận. Duy đến hai chữ Nam Việt, lại bị bắt lỗi sái văn phạm và lấy nhẹ tỷ dụ “dư chi phu, dư chi thê”, đành dung hai chữ Việt Nam cho xong việc. Tôi vốn dốt nát duy nghe người rành nói lại có lẽ người Tàu chiết tự và tránh nhắc lại danh hiệu cổ Nam Việt của cổ thời Triệu Đà hay chăng?

Nhơn tiện tôi xin nhắc lại đây sứ bộ Trịnh Hoài Đức chuyển về có mang về bộ chén trà ba quân một tống đề niên hiệu “Giáp Tý niên chế” dương lịch 1804, có câu thi: “Thúy sắc du xuân noãn, kiên tâm nại tuế hàn” (tôi dịch lẹ cho mau: Ngày nay đạp xuân hưởng sắc thúy, đầm ấm; xin đừng quên cảnh lòng bền năm lạnh). Cũng trong năm 1804 nầy có một sứ bộ khác do Lê Bá Phẩm cầm đầu (V.N.S.L. trang 419 có kể), nhưng tôi chưa gặp và bắt được món sứ nào.

Năm Mậu Thìn (1808) tôi may mắn có mua được một chén quân uống trà duy nhứt, vẽ san thủy khéo nhưng không một câu thi nào, theo tôi, đây là chén sứ của võ quan dùng, niên hiệu đủ bốn chữ “Mậu Thìn niên chế” (mục lục 276).

Hai năm, Kỷ Tỵ (1809) và Canh Ngọ (1810) thì tôi có gặp và mua hai cái tô lành lẻ tuyệt khéo, hai tô nầy tôi đã tả tỷ mỷ trong bản thảo “Những đồ sứ đi sứ mang về” (les bleus d’ambasssade) sách đang in và xin miễn viết lại đây.

Theo một quyển đã in dày 239 trang khổ 13 x 23, tác giả là Nguyễn Lộc xuất bản tại Đà Nẵng năm 1986, có kể và tôi tóm tắt đại lược, thì: năm Quí Dậu 1813 đến năm Quí Dậu 1993 nầy là đúng 180 năm, thì sứ đoàn chính là do Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều làm chánh sứ đem về bộ chén trà Mai-Hạc, và theo tôi 1813 là mốc chứng nhận năm sáng tác của Truyện Kiều.

Trong quyển của Phủ đặc trách văn hóa thời Diệm in tại Sài Gòn năm 1968, sách nầy dịch lại theo bộ Bang-Giao của bộ Khâm-định Đại-Nam hội-diến sử-lệ, sách chữ Hán nầy lớn rộng mà không để lại chi tiết nào, tôi đành theo Nguyễn Lộc thì: năm Quí Dậu (1813) sứ đoàn đi nạp cống cho Thanh triều, gồm:

– chánh sứ: Nguyễn Du, Cần-chánh-điện đại-học-sĩ;

– phó sứ: Trần Văn Đại, Lại-bộ thiêm-sự;

– bồi sứ: Nguyễn Văn Phong, Lễ-bộ thiêm-sự.

Cuộc hành trình khởi đi từ Phú Xuân, giữa tháng 2 âm lịch, trung tuần tháng 4 mới tới Thăng Long. Nay xin cho tôi mạn phép gọi Chánh sứ tắt là Du cho gọn viết; mấy năm về trước Du đã gặp và thăm Nguyễn Để, nay gặp lại vẫn nhìn không ra và không nhìn được các dấu cũ. Nào xưa là đài các thì nay là lộ là đường. Cố cung nay đã bị một bức tường chia làm đôi, cắt đứt cung và điện cũ. Bạn bè lớp xưa nay có người đã thay hai thứ tóc, kẻ nữa lụm cụm già nua quá tuổi, bơ phờ hoặc ngu ngơ. Phái cầm ca con hát, nào ngờ giới phấn son, quần thoa lại đổi sắc quá mau. Không trách triều đại nhà Tây Sơn như đã nói, phát như điện mà cũng tàn lẹ như ánh sét thình lình.

Ngày 6 tháng 5, đến cửa Nam Quan (Quỉ-môn-quan, tên nghe ghê sợ thế nào), rồi đến Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây. Sứ đoàn bỏ đường bộ sang qua đường thủy, bình bồng trên thuyền chèo chống qua nhiều nơi chưa từng mắt thấy và thường đọc tên trong sách: Thương Ngô, Quế Lâm, Tuyền Châu (Phước Kiến), Nhạc Dương, vân vân. Khi thuyền đến Hán Khẩu, lại phải trở lên đường bộ trực chỉ Bắc Kinh. Quả là một con đường nghiêu-khê man mát, Du bắt nhớ lại các di tích đã từng đọc trải qua sử sách đã từng nghiên cứu, nay Du sống lại bằng mắt thấy tai nghe, khiến ôn cố tri tân, nặng lòng hoài cựu, chạnh lòng thương cho cuộc đời từ phong kiến dến hiện đại, quá mau, của Trung quốc cổ thời và của nước nhà hiện nay, than ôi, “… trải qua một cuộc bể dâu…”, Lê tàn, Trịnh mạt, nay Du nầy lại phải gượng gạo phù tá triều đại mới, và nhờ có cuộc đi sứ nầy mới rõ được ý nghĩa câu “bất quá cao sơn, bất tri thiên cao”, Du vả chăng là người nhớ dai hiểu rộng, nay được đặt bước vào Vị, Hoài, Tầm Dương, Động Đình, Nhạc Dương lâu, Hoàng Hạc lâu,… Mịch La là đâu, rồi nào Hàn Tín, Dương quí phi, Kinh Kha, Lạng Tương Như, núm mộ Đỗ Phủ, núm mộ Tỳ Can, mộ lăng Tây Sở Bá Vương, mộ Liễu Hạ Huệ, Đồng tước đài, hồ Tam Giang, Ngũ Hồ, miếu Nhạc Võ mục (Nhạc Phi), tượng Tần Cối và vợ là Vương thị, bị hình phạt và dân ném đá tượng đã bị chôn vùi… Ngày lên tới Bắc Kinh là ngày 29 tháng 10 kể theo dương lịch là 1813, lễ nạp cống đã xong, được chầu vua Thanh đủ lễ, tạ từ Thanh quốc trở về đất mẹ, chuyến nầy lại không noi theo con đường đã trải và để đổi qua đường mới, noi theo Đức Châu, Từ Châu, Tiền Sơn, Hoàng Mai, Quảng Tế… và khi đến Hán Khẩu lại xuống thuyền trở về nước, duyên may đã khéo gặp và đã tìm được hai việc đáng kể như sau:

1) Việc tuân lịnh đức vua, đặt chế cho lò sứ tỉnh Giang Tây mộ bộ chén trà, có đủ dĩa dầm (dĩa nhỏ chứa chén pha trà), dĩa bàn (dĩa lớn chứa chén uống trà), một chén tống (do tướng nói trại, để pha), và bốn chén quân cũng gọi chén tốt (sĩ tốt), duy giữ theo phong tục Huế thì chỉ dùng ba chén quân (tam quân), và vẽ tích Mai-Hạc, với câu lục bát nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, Hạc là người xưa“. Tiện đây xin nói nhà có giữ một bộ Mai-Hạc gồm ba chén quân có thơ nôm kể đây và một chén lại đề câu Hán “Hàn mai xuân tín tảo, tiên hạc tháo vi đầu“, và xin nhìn nhận bộ chén nầy có thể dùng làm mẫu cho chén Mai-Hạc, tôi biết thêm hai câu: “Thả liễm xung thiên vô, Vi khán Lĩnh Nam chi” và nhiều bộ Mai-Hạc thơ nôm, nhưng chữ “Cũ” (bạn cũ) khi viết đơn, chữ “Nhựt” gạch một nét, đã qua, và chữ “Nhựt” viết kép kềm chữ “Cựu”, v.v… theo tôi, thảy đều làm sau 1813 hoặc là tân tạo, khách ham chơi đồ cổ phải đề phòng. Lại nữa hai câu 6-8 nôm, thợ lò sứ Tàu khi viết làm bốn hàng, khi viết hai hàng 5 chữ và hai hàng 2 chữ, hóa như thơ thất ngôn, tôi đã tốn rất nhiều tiền mua sắm gần trọn bộ môn, kế bị người trong nhà trộm cắp mà tôi không khai báo, lấy theo lời nghiêm thân đã dạy: “nhân phi ngãi bất giao, vật phi nghĩa bất thù“.

2) Một việc khác, quan trọng hơn nhiều và thuộc về văn hóa nước nhà và thú riêng chơi sách, là chánh sứ Du đã bắt gặp và may mắn cho nước Việt ta quá, là người đã mua được bộ sách Hán “Thanh tâm tài nhân“, việc nầy tôi đã nói rồi nhưng xin cho tôi nhại lại, và thưa với Lê Thành Khôi và tác giả quá cố bộ V.N.S.L. rằng: theo tôi, Truyện Kiều có từ năm 1802, đời Gia Long nguyên niên, nói làm vậy là nói vắn tắt cho gọn và cho được việc, Nguyễn Du năm 1802, tâm thần đang loạn rối, có một ca chức Tham tụng triều Lê cũ, một anh là sủng thần chúa Sâm, trong hàng anh và em khác, kẻ theo Tây Sơn cũng chết, kẻ chống lại cũng bị giết, bản thân Du chạy theo vua Chiêu Thống thì vua đã bỏ chạy xa vời không theo kịp, ở lại thì tiêu tan sự nghiệp dòng họ, bản thân chứng kiến cảnh rùng rợn khoa bảng kẻ vào tù kẻ bị đánh đòn, Du đi sứ trở về, như con cá thia thia được ngọn nước, lên sắc, phình xòe, phùng mang đá bóng, chừng ấy mới trực nhớ cảnh binh Tây Sơn khi ra Bắc cũng ngồi nghe hát cô đầu, Hồ Tôn Hiến, Từ Hải mới hiện và hiển hiện dưới ngọn bút xuất kỳ, để lại: “Giờ ra thay bực…” “Tức gan muốn đạp”, “Thân lươn bao quản”; “Phòng khi nước đã”, “Sớm khuya khăn mặc”, “Thân sao thân đến”, vân vân và vân vân, tôi sao nhớ cho đủ?

Photo edit by Sơn râu

Theo tôi hiểu riêng, bao nhiêu ý thâm, bao nhiêu câu nắn nặn tình tứ, phải có rơi nước mắt thật nhiều mới xét nghĩ ra, và tiện đây xin nói liền, đừng viết và nói vua Tự Đức ghét Du vì câu “Thì con người ấy, ai cầu làm chi?”, câu nầy khi Du viết thì vua chưa sanh, làm sao ghét được?

Viết đến đây, bỗng giựt mình, tôi đã làm chướng mắt độc giả không ít, với những lời bàn thừa thãi, nay xin trở lại tình cảnh người bạn nhỏ đang bị giam cầm cũng vì tội ham mê đổi chác đồ cổ và tưởng lượng trên xin khoan hồng, tôi rất tin, tuy không là dị đoan, nhưng tôi tin đồ cổ rất linh và vẫn có cô hồn, tôi bị trộm, đi thưa chưa chắc gì kiếm lại được, thà phí phà cho nhẹ bớt lòng lo, còn chú bạn nhỏ nầy, cũng nên tha cho về và trả lại các vật đã thâu. Cổ vật, cổ ngoạn, trừ những vật thuộc loại quốc dụng, loại thuộc sử liệu quí hiếm, thì xin cứ việc cho dân chơi líp (libre) miễn đừng thầm kín bán ra ngoại bang, hoặc như muốn bán, thì nên bán cho viện bảo tang trả đúng giá giữ làm mẫu, hay là trình viện bảo tàng cho người lão luyện xem xét và cho giấy chứng nhận bán ra y như ở Paris, lúc tôi qua đó và đã chứng kiến tận mắt. Tôi đã thấy áp dụng quyền thâu lại cho viện bảo tàng chờ đấu giá và đến giá cao chót, viện sẽ mua lên, không thiệt hại cho người bán, đó là luật Pháp gọi là “droit de préhension” và một luật nữa là “droit de priorité” là quyền mua trước tiên sau khi viện thương lượng và thuận tình với người chủ bán.

Tạm kết luận

. Nhơn năm ni là năm Quí Dậu (1993) cũng gần hết, với tuổi 92, như con cáo già sắp trở đầu về núi, chưa biết đó là ngày nào, xin nhắc lại vài Quí Dậu, cớ sao việc biến chuyển như con chong chóng, các bạn trẻ người nào chưa ra nước ngoài, nghe tôi kể đây cũng “lời quê chắp nhặt” đọc ngày xuân cho đỡ buồn:

• Năm Quí Dậu 1813, Nguyễn Du gặp sách hay, nghĩ ra và viết Truyện Kiều, tôi xin chừa cho người cao kiến xét lại.

• Năm Quí Dậu 1873, cái hoa niên 60 năm ấy sao mà quá sôi nổi? Năm 1862, ba tỉnh miền Đông trong Nam bị Tây lấy; năm 1867, Phan Thanh Giản tự uống á phiện lấy sự liều mình để cho nhà vua giữ tròn chữ Hiếu, con nhà học trò giữ đạo Khổng-Mạnh làm vậy, còn hàng quan võ thì Nguyễn Tri Phương, Trương Định, kẻ moi ruột kẻ tự bắn hay cắt cổ cho tròn chữ Trung, Hoàng Diệu tự treo cổ; năm 1874, hiệp ước triều Huế ký với Pháp nhưng cớ sao nhà cầm quyền Pháp lụi-đụi nấu chảy ấn bạc của nhà Thanh và không biết gởi trả ấn ấy cho Trung-quốc tự liệu, chẳng là cao kế hơn chăng?

• Và đến năm Quí Dậu 1993 còn mấy tháng cũng hết, sao xảy ra đó đây lắm chuyện động trời, sụp đất, lũ lụt, chết người, tôi xin để độc giả chiêm nghiệm lấy. Ngồi buồn, lấy quyển sách Pháp nhan là “Trois siècles de ventes publiques” (Ba thế kỷ bán công khai cổ vật quí), tác giả là Beurdeley có qua đây và có ghé nhà, thuật lại rằng: “Có một chén nhỏ có chưn (coupe), bề cao chỉ độ bảy phân bảy ly thước Tây (7,7 cm), hiệu đề “Thành Hóa”(1465 1487), vẽ vời hoa cây xanh đỏ, trước kia năm 1937 một người tên là Pairfax xuất tiền mua giá 28 guinées (hai mươi tám bạc vụn nước Ăng-lê), và vào ngày 25-11-1980, đưa ra bán đấu giá thâu được 4.200.000 HK$, tức bốn triệu hai trăm ngàn đô là Hồng Kông, tương đương 4.800.000 francs lourds Pháp (bốn triệu tám trăm ngàn quan nặng của Pháp, trang 205 sách đã dẫn), món ấy số 198 có in ảnh, tôi chép lại câu sách Pháp:

Petile coupe à vin, dite stemcoupe en émaux doucat et bleu sous couverte, avec marque CHENHUA (1465 1487), au revers. Achetée 28 guinées lors d’une vente en Angleterre en 1937, par un denommé Pairfax, elle atteindra le pix de 4,200.000 HK$ (soit environ 4.800.000 N.F. avec les frais de vente, le 25 novembre 1980, payé par un amateur indonésien.

Porcelaine, H. 7,7 cm. Possesseur actuel non identifié (theo sách đã dẫn).

Một cái tin quá giựt gân như vậy, hỏi có làm loạn trí người chơi cổ vật xứ nầy hay chăng. Và như vậy cổ vật cổ ngoạn đã có người đeo đuổi ham chơi, đấu giá qua lại giành giựt và chuyền tay nhau bên Âu châu đã có trên ba thế kỷ, tức đã hơn ba trăm năm nay. Bàn rộng qua nước ta, tỷ như có một cán bộ đi kháng chiến, cực khổ đã nhiều, hy sinh không ít, ăn sương nằm đất, may thời xí được, lượm được hoặc một chúa Mường tặng biếu cho một vật xưa, cái chén trà khờn mẻ, một hũ đựng vôi hì hợm, một dĩa, một lọ vô chủ, không phải là của lấy cắp, rồi cắp ca cắp củm cất trong nóp, tưởng một ngày nào bán có tiền dưỡng bịnh, mua thuốc vấn hút chơi, nay có lịnh không cho chơi, không được chứa, ma bán đổi chác đồ cổ, rồi người cán bộ ấy buồn tình để cho mụ xã lấy đâm tỏi, đâm ớt, làm nứt bể tan tành, hũ chóe ám long đời Thiệu Trị một người Miên cha ông làm quan để lại, người con không biết giá trị lấy hũ ấy đựng cám và để dưới đất, heo đòi ăn ủi bể, bán được một đồng bạc lại mừng có giá.

Theo tôi, nên cứ để cho dân chơi mà quên bài bạc, quên làm chánh trị và cứu được vật xưa làm vật thí, đâm ớt đâm xả đâm hành.

Tiện đây tôi nói luôn, tôi nghe nhiều người khoe có thân nhơn đi sứ Tàu sứ Tây, và đã biết chơi cổ ngoạn từ nhiều thế hệ suốt mấy trăm năm.

Tôi không dám cãi, tôi chưa hề ra Bắc nhưng thiết nghĩ người mình đi sứ, đặt làm và mang về bất quá cái điếu hút thuốc lào, cái tô trồng mặc-lan, tỉa hoa thủy tiên hoặc bộ chén kỷ niệm năm đi sứ là cùng, và chính ở miền Nam nầy, chưa hơn sáu bảy chục năm, dân còn sợ ma, cha mẹ mất, y phục giày dép có giá, đều để ở nhà mồ thí cho trẻ chăn trâu phá phách, thậm chí đồ từ khí cổ đều sa thải bán ra vì sợ có hồn ma ám ảnh, để trong nhà là xúi quảy, và thú sưu tập, tập chơi và mua sắm đồ cổ theo tôi chỉ có từ những năm bác sĩ Cognacq làm giám đốc sở học chánh biết chơi đồ xưa và đòi sinh viên muốn học trường thuốc, trường hành chánh, phải lo lót vật cổ, qua trào Bernard thay Cognacq thì đòi gái đẹp, và một phần khác, khi vua Khải Định ăn tứ tuần lại có việc quan tổng đốc, quan tuần vũ tìm mua gốm xưa sứ quí để đội mâm dâng lễ khánh hạ.

Tôi tưởng nên khuyến khích cho dân biết quí và giữ lại đồ cổ; nước Mỹ, nước Nhựt, các nước bên Âu, bên Úc đều trọng vật cổ, một gương nên tránh là nước Pháp vì lấy thuế quá cao nên nhà tỷ phú Gabalkian không để lại bộ môn cổ vật quí giá tại nhà ở Paris và đã chở hết qua xứ Portugal và như vậy Pháp quốc đã để xẩy mất một cơ hội tốt, thiệt thòi cho ngành du lịch và ngành bảo tàng.

Lời quê lượm lặt… (đánh máy lại 3-10-1993)

Một bản tặng riêng cháu Hồ Thị Hoàng Anh cho thấy tuổi 92 còn đánh máy một ngày tám trang nầy, tráng niên không chắc gì hơn. V.H.S.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 20 July, 2023

Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Kỳ 13.

Tôi đã nhờ chiếc thám thính cơ đang bay trên trời đảo quanh vùng để tìm kiếm cánh quân của chú Phiến. Phi cơ báo cáo rằng họ đã nhìn thấy một tiểu đội quân bạn đang trên đường đi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch. Vậy mà mấy ngày sau tôi cũng không có tin tức gì của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Tôi thấy, trong trường hợp này chỉ có ba lý do, một là Thiếu úy Phiến và mấy anh lính đi theo Phiến đã đào ngũ, hai là toán quân này đã bị Việt-Cộng bắt, ba là họ đã bị Việt-Cộng chặn đường giết chết.

Sau khi tản thương, quân số của tiểu đoàn chỉ còn gần 100 người, một phần ba trong số này là những người bị thương nhẹ nhưng tự nguyện ở lại, không lên trực thăng. Trong khi bay ra, bay vào để tiếp tế đạn và di chuyển thương binh, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa cũng thả cho tôi 90 tân binh nhưng là những Lao Công Ðào Binh Phục Hồi để bổ sung quân số. Với số tân binh này, cùng những quân nhân cơ hữu, tôi tạm thời tổ chức được 2 đại đội tác chiến và một trung đội trừ bị. Mỗi đại đội tác chiến có quân số 80 người. Ðại đội 1 do Thiếu úy Phạm Văn Tô chỉ huy.

Ðại Ðội 3 do Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy. Trung đội trừ bị do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy. Ðại Ðội 2 tạm thời bị giải tán. Bốn giờ chiều, Sư Ðoàn 22 Hành Quân gửi vào một trực thăng để tôi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch gặp mặt một phái đoàn báo chí quốc tế. Tôi nhìn lại thân mình thì thấy mình thảm hại quá!

Trên người tôi tuy còn đủ, nón sắt, dây ba chạc, khẩu súng lục, cái địa bàn và cả tấm bản đồ. Nhưng tất cả áo quần và vật dụng của tôi đều như bị nhúng bùn vừa phơi chưa khô. Giờ này tìm đâu ra quần áo sạch mà thay để ra mắt phái đoàn báo chí? Tất cả quân trang của tôi đều còn nằm trong hầm trú ở Plei Ngol Ho, chắc đã bị Việt-Cộng lấy hết rồi. Thế là, cứ với hình thù lấm lem, đen thui, bẩn thỉu, tôi leo lên tàu.

Vừa rời trực thăng, tôi đã bị hơn chục phóng viên ngoại quốc xúm lại chụp hình rồi phỏng vấn rối rít. Tôi nói với họ rằng tôi phải gặp cấp chỉ huy của tôi trước, rồi mới được phép tiếp chuyện với họ. Phòng thuyết trình của Bộ Tư Lệnh Hành Quân 22 chỉ là một cái nhà bạt lớn dựng sát bên lề Quốc Lộ 14. Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm ra tận cửa đón tôi vào, rồi ân cần giới thiệu:

– Thiếu tá Vương Mộng Long Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa về từ chiến trường sẽ tường trình cho quan khách những gì đã xảy ra trong trận ác chiến vừa qua. Cuộc họp báo này chỉ giới hạn trong thời gian 15 phút, vì sau đó chúng tôi phải trả Thiếu tá Long trở lại trận địa để chỉ huy đơn vị.

Quay qua tôi, ông Tướng Tư Lệnh nói,

– Long có thể tóm lược cho phái đoàn báo chí biết những gì mà em thấy cần.

Thời gian giữ chức Trưởng Phòng 2 của Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 tôi không lạ gì với những buổi thuyết trình trước những phái đoàn quân sự ngoại quốc hoặc báo chí quốc tế. Trong vòng 10 phút tôi đã tường trình hết diễn biến trận đánh đã diễn ra hai ngày vừa rồi. Tôi đặc biệt nhấn mạnh chuyện Việt-Cộng đã dùng hơi ngạt để tấn công đơn vị tôi vì đây là một hành động vi phạm quy ước chiến tranh của Liên Hiệp Quốc.

Tôi thuyết trình bằng tiếng Anh nên không tốn thời gian thông dịch. Sau đó tôi xin phép trở lại đơn vị, vì đơn vị tôi hiện thời đang ở sát địch quân mà lại không có người chỉ huy. Tôi cứ tưởng chỉ có mình tôi leo lên máy bay quay về, đâu ngờ sáu phóng viên với sáu cái máy quay phim cũng lên tàu theo tôi. Về tới vị tri trú quân, tôi nhảy xuống, theo sau là sáu phóng viên chiến trường. Sáu anh nhà báo ngoại quốc tranh nhau chụp hình toàn cảnh trước mắt họ. Phóng viên nào cũng săn đón hỏi han những người lính bị thương. Họ lấy làm lạ, không hiểu vì lý do gì mà cả chục thương binh còn hiện diện ở đây. Tôi nghe tiếng đối đáp bằng tiếng Anh giữa một ký giả và một thương binh có cánh tay trái đã bị quấn băng trắng treo lên cổ là Thượng sĩ Y Khen Nier:

– Anh đã bị thương! Anh không được phép di tản hay sao mà còn ở đây?

– Ông chỉ huy của tôi còn ở lại chiến đấu, vì thế, những người bị thương nhẹ như tôi đã tình nguyện ở lại với ông ta.

Thượng sĩ Khen là người đã hiện diện ở Pleime từ khi căn cứ này mới thành lập. Trải qua 5 năm sống và làm việc với người Mỹ nên ông Khen nói tiếng Anh còn rành hơn là nói tiếng Kinh. Nhân cơ hội này tôi bán cái cho ông Khen nhiệm vụ thông dịch cho các ông phóng viên. Cũng nhờ những câu hỏi xoi mói của các ông nhà báo mà mấy hôm sau, thế giới đã biết rằng ở Việt-Nam đã có những người lính Biệt Ðộng Quân dù mang thương tích đầy mình nhưng vẫn tình nguyện ở lại chiến trường mà chiến đấu.

Bất ngờ, từ hướng Tây có tiếng pháo địch khai hỏa.

“Ùm! Ùm!” – “Ùm! Ùm!”- “Ùm! Ùm!”

Ðạn 105ly rít vèo vèo, rồi nổ “Oành! Oành! Oành!” trên đồi.

Thoáng chốc, trong khói bụi mịt mù, trên mặt đất chỉ còn một mình tôi là người đang đứng. Anh phóng viên người Nhật nằm ngửa, chĩa ống kính ngay mặt tôi, anh ta vừa tránh đạn vừa làm công việc thu tin tức của mình. Còn tôi, cũng đang làm công việc của một Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân là cứ đứng thẳng lưng, không nằm úp mặt xuống đất. Có thế, tôi mới không làm mất thể diện một sĩ quan chỉ huy của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Tôi biết chắc rằng, hình ảnh ghi trong cuộn phim của anh nhà báo người Nhựt kia, mai đây sẽ được đem ra trình chiếu cho toàn thể thế giới xem. Vì vậy, dù đạn đại bác cứ réo “Xè! Xè!” rồi nổ “Oành! Oành!” sát bên; dù trong lòng rất ngán bị mảnh đạn 105ly cắt đứt đầu, nhưng tôi vẫn phải làm như người tỉnh bơ trước nỗi hiểm nguy, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Anh lính mang máy truyền tin của tôi thì úp mặt dưới chân tôi; cái dây nối từ ống nói tới chiếc PRC 25 đã căng dãn hết cỡ. Sau khi nhờ chiếc quan sát cơ đang bay trên trời tìm vị trí pháo địch, tôi gọi cho Tướng Niệm:

“Tôi đang bị pháo! Yêu cầu cho trực thăng trở lại đem mấy ông nhà báo ra khỏi đây ngay!”

Vài phút sau thì pháo cũng ngưng, trực thăng quay trở lại. Trước lúc leo lên tàu các phóng viên còn chen nhau đứng bên tôi để chụp một tấm hình. Gần tháng sau tôi nhận được một cái bì thư gửi từ Tòa Ðại Sứ Nhật-Bản ở Sài-Gòn, trong đó chứa tấm ảnh tôi đứng một mình trong khói bụi mịt mù, với cái tựa đề “Last man standing!” (Last man standing có nghĩa là: Người cuối cùng còn đứng vững)

Bảy giờ tối ngày 15 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được bản tin A2 cho biết ngoài 6 tiểu đoàn bộ chiến của E48 và E64, địch còn tung vào trận Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát, Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải và Tiểu Ðoàn H12 Ðịa Phương của Tỉnh Gia-Lai. Chín tiểu đoàn bộ chiến này của địch còn được Trung Ðoàn 40 Pháo và Tiểu Ðoàn D16 chiến xa Việt-Cộng yểm trợ để đánh Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/19.

Trong bản tin phát đi tối 15 tháng 4 năm 1974, đài BBC Luân-Ðôn đã mô tả trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 như sau:

“Ðây là một trận đánh vô cùng ác liệt mà tổn thất của đôi bên tham chiến được coi là nặng nề nhất kể từ sau Hòa Ðàm Paris.”

Tôi được phi cơ AC 47 Hỏa Long soi sáng và yểm trợ tiếp cận suốt đêm.

Ngày16 tháng 4 năm 1974

Tới sáng 16 tháng 4 thì nhiều phi tuần A37 được gửi tới để liên tục đánh bom dọc Tỉnh Lộ 6C từ 711 tới đồi Tử Chiến. Không Quân cũng thông báo rằng có nhiều ổ pháo và phòng không của địch đã bị hủy diệt vùng hướng chính Nam quận lỵ Thanh An. Khoảng 9 giờ sáng 16 tháng 4 một hợp đoàn trực thăng đã đổ một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh xuống vùng Nam Ngã Ba Mỹ Thạch. Giao tranh ở đó bắt đầu với nhiều tiếng nổ của pháo binh yểm trợ cho quân bạn. Ðúng 10 giờ sáng 16 tháng 4 thì tiểu đoàn thứ nhì của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cũng được thả xuống cách tôi hai cây số về hướng Tây.

Tôi nhận được tần số để liên lạc với đơn vị này, vì thế, tôi biết người chỉ huy tiểu đoàn này là Ðại úy Nguyễn Văn Chấn. Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Ðà-Lạt là đàn em của tôi. Bộ Tư Lệnh 22 đặt tiểu đoàn của Ðại úy Chấn dưới quyền điều động của tôi. Tôi giao cho chú Chấn nhiệm vụ án ngữ vùng hướng Tây Tỉnh Lộ 6C dọc theo triền Nam của sông Ia Meur để ngăn chặn bước tiến của hai tiểu đoàn địch là K1 của E48 và K7 của E 64.

Tôi sẽ tự mình tìm cách tái chiếm Căn Cứ 711. Trưa 16 tháng 4 năm 1974 thì Biệt Ðộng Quân và Thiết Giáp đã được tiếp tế lương khô và đạn dược đầy đủ. Ðại úy Xá bò sang chỗ tôi đang ngồi rồi hỏi nhỏ,

– Thái Sơn tính lúc nào thì mình rút ra đường?

Tôi nhìn ông bạn kỵ binh,

– Ra đường để ông Toàn bóc lon tụi mình hả?

Xá tròn mắt,

– Cái gì mà bóc lon? Bộ ông ấy không thấy mình đã đánh nhau gần chết hai ngày nay ư?

Tôi từ tốn nói với Xá,

– Tin tôi đi! Mình mà không tái chiếm được cái căn cứ vừa mất thì chắc chắn tôi với ông sẽ thành binh nhì. Hoặc may mắn lắm mỗi đứa cũng ký 40 Trọng Cấm. Ông là dân Thiết Giáp mà cũng không biết tính nết cha Toàn sao?

Nghe tôi quả quyết như thế, Xá thừ người ra,

– Vậy Thái Sơn tính làm gì tiếp theo đây?

Tôi vỗ vai Xá,

– Ðể đó tôi lo. Xá cứ nằm đây với thằng Chủ, bất cứ tình huống nào xảy ra cũng không được bỏ vị trí này, nghe rõ chưa?

Xá gật đầu,

– Dạ!

Chờ Xá rời đi, tôi gọi Thiếu úy Trần Văn Phước theo tôi tới gặp từng người lính đang nằm trên tuyến.

Tôi chọn ra được 100 người sẽ theo tôi đi làm công tác tái chiếm 711.

Lực lượng này gồm có 40 anh lính Lao Công Ðào Binh Phục Hồi, 40 quân nhân của Ðại Ðội 3, cộng với hai toán cận vệ của Hạ sĩ Ba và Binh nhất Yang. Cùng đi với tôi để chỉ huy trận này sẽ có Thiếu úy Phạm Ðại Việt, Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Lý Ngọc Châu. Tôi dẫn toán quân này ra triền đồi hướng Ðông rồi chỉ dẫn cho từng người sẽ phải làm gì tối nay. Chỉ một giờ sau, mọi người đều thuộc bài.

Thực ra thì bài học này cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần một chút bình tĩnh và gan dạ là đủ. Ðêm 16 tháng 4 năm 1974 trời tối đen như mực. Tôi và 100 quân lên đường quay lại Plei Ngol Ho. Nếu kiểm soát được Plei Ngol Ho thì ta sẽ chiếm lại Ðồn 711 một cách dễ dàng. Trong thời gian tôi chuyển quân thì pháo binh liên tục tác xạ 100 viên hỗn tạp trên mục tiêu. Tới bìa làng, tôi dàn quân thành 3 hàng ngang, mỗi hàng có 33 tay súng.

Khi có lệnh thì 33 chiến binh sẽ sát cánh nhau, thẳng tay ném một trái lựu đạn M26 về phía trước rồi nằm xuống. Ðợi một phút sau khi lựu đạn nổ thì sát vai nhau, quân ta khom lưng tiến lên, vừa chạy, vừa bắn. Tới lúc ra tới bờ rào sau cùng cả toán ngừng lại, mỗi người đều ném ngược về hướng sau lưng mình một quả M26 nữa.

Những trái lựu đạn ném ngược này nhằm mục đích ngăn ngừa những tên địch sẽ truy kích ta. Ðợt xung phong chấm dứt, tất cả phóng lên đỉnh đồi Ðông tập họp, rồi kéo nhau về vị trí tiểu đoàn.

Chương trình đề ra là:

– Ðợt xung phong thứ nhất bắt đầu đúng 8 giờ tối.

– Ðợt xung phong thứ nhì cách đợt thứ nhất 10 phút.

– Ðợt xung phong cuối cùng cũng cách đợt thứ nhì đúng 10 phút.

Tôi đi giữa đoàn quân xung phong cuối cùng.

Nằm sát bờ đất của Plei Ngol Ho, tôi hồi hộp theo dõi tình hình.

Chỉ 5 phút sau khi dàn quân thì lựu đạn nổ,

“Oành!Oành!Oành!”

Một phút kế đó, quân ta phóng tới. Tiếng M16 giòn giã giữa màn đêm. Không lâu sau, nơi cuối làng, lựu đạn lại nổ.

“Oành! Oành! Oành!”

Vậy là quân của Thiếu úy Phạm Ðại Việt đã lướt qua tường đất sau cùng. Suốt thời gian đợt tiến công thứ nhất diễn ra, tiếng súng M16 của ta hoàn toàn áp đảo tiếng AK của địch. Hình như địch chỉ bắn trả khi quân ta đã đi qua mục tiêu?

Mười phút kế đó, M26 lại nổ, “Oành! Oành!Oành!”

Rồi M16 cũng nổ, “Cành! Cành! Cành!” kèm với tiếng la,

“Biệt Ðộng! Sát!”

Lần này quân xung phong ồn ào hơn, dũng mãnh hơn, vì ông chỉ huy toán quân này là một tay bán trời không văn tự là Trần Văn Phước. Chỉ vài phút sau Thiếu úy Trần Văn Phước đã hoàn thành nhiệm vụ.

Vừa nghe tiếng lựu đạn “Oành! Oành! Oành!” của toán quân đi trước vọng lại từ cuối sân, tôi bèn đổi ý. Tôi không chờ 10 phút nữa mà la lên,

– Ðợt ba sẵn sàng!

Vậy là 33 trái M26 bay vào sân Plei Ngol Ho,

“Oành! Oành! Oành!”

Một phút sau Hạ sĩ Ba và Binh Nhất Yang hét vang,

“Sát! Sát! Sát!”

“Cành! Cành! Cành!”

Chúng tôi bắn liền tay, từng ba viên một, cứ nhắm những khu có ánh sáng hay có tiếng người rên la mà bóp cò. Trong sân Plei Ngol Ho tôi chỉ thấy vài đống lửa chập chờn khu pháo binh, ngoài ra không thấy bóng dáng tên địch nào xuất hiện. Tới bờ đất cuối cùng, nơi có hai ụ pháo binh, tôi hô to,

– Ðứng lại! M26!

Thế là, mỗi người quăng đại lại phía sau lưng mình một trái lựu đạn rồi chạy nhanh lên ngọn đồi hướng Ðông. Có lẽ địch không ngờ lại có hai cú xung phong chớp nhoáng kế tiếp nhau khiến chúng không kịp trở tay, nên không có tiếng súng nào của địch bắn lại. Lên tới đỉnh đồi Ðông, chúng tôi theo đuôi nhau rút về hướng Bắc.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 20 July, 2023

Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Kỳ 12

Lời Giới Thiệu:

Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Thấy cơ hành của khẩu súng đã bình thường, tôi mới yên tâm kéo đạn lên nòng. Chợt Phước ra dấu cho tôi im lặng cùng lúc hướng phòng thủ của Thiết Giáp có tiếng chân người và tiếng nói chuyện:

“Mình vào kiểm tra khu chỉ huy sở của tụi nó xem có gì lạ không? Chắc anh em K7 đang ở đó.”

(Ghi chú: K7 là Tiểu Ðoàn 7 của Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản)

Tôi ra dấu cho Thiếu úy Phước sẵn sàng. Hai cán binh vừa ló dạng sau bụi tre gai; tên đi trước có vẻ là cấp chỉ huy với khẩu súng ngắn K54 bên hông; tên đi sau có lẽ là người hộ vệ mang súng AK 47. Tôi và Phước bóp cò.

“Ðoàng! Ðoàng!”

Thầy trò hai tên địch ngã gục bên nhau, không la lên được tiếng nào. Tôi không ngờ là trong trận này chú Phước cũng chứng tỏ là một xạ thủ súng lục có bản lãnh. Viên đạn của Phước đã trúng ngay giữa ngực tên cán binh hộ vệ đeo AK47.

Bất chợt Phước nắm áo tôi lo ngại,

– Thái Sơn ơi! Em hết đạn rồi!

Tôi giật mình nhớ ra, băng đạn trong súng của tôi cũng còn chừng hai hay ba viên thôi. Tôi lần dây lưng lấy băng đạn mới lắp vào súng.Thấy Phước vẫn ngồi im, tôi hỏi,

– Sao không thay băng đạn mới?

Phước lắc đầu,

– Em có 6 băng đạn, bắn hết 5, băng đạn cuối cùng đang nằm trong súng!

Thấy tôi ngẩn người ngạc nhiên, Phước giải thích:

– Trong thời gian đánh nhau, em núp dưới giao thông hào, thấy tụi nó xung phong chạy ngời ngời, em đã bắn hết băng đạn này tới băng đạn khác mà chẳng trúng thằng nào. Không phải lỗi em bắn dở đâu, mà là lỗi của tụi nó! Tụi nó chạy nhanh quá làm cho em bắn trật!

Thấy thằng em mặt mày nhăn nhó, miệng thì càu nhàu, trách cứ tụi Việt-Cộng chạy nhanh quá, làm cho chú ấy tốn hết 30 viên đạn Colt 45 mà chẳng hạ được tên nào, tôi an ủi,

– Thôi! Ðừng buồn! Nhờ có băng đạn cuối cùng của chú mà anh còn sống đây! Thử hỏi trên đời này có xạ thủ nào giỏi như Thiếu úy Trần Văn Phước 82 Biệt Ðộng Quân không? Có ai làm nên kỳ tích, chỉ với 5 phát Colt 45 mà hạ gục 4 thằng giặc? Trong đó có thằng lãnh tới 2 viên?

Tôi đưa cho Phước một băng đạn mới rồi ngồi thủ thế. Bỗng tôi nhìn thấy trước mặt tôi là ba cái thây ma Việt-Cộng đang nằm đè trên những khẩu AK47 đẫm máu, tôi bèn chỉ tay cho Phước,

– Súng đây!

Mắt Phước sáng lên,

– Cám ơn Trời Ðất!

AK47 mà vào tay viễn thám thì không còn gì lợi hại hơn; Phước vơ vội cái dây đạn AK quàng qua vai rồi ghìm súng chăm chú nhắm về hướng Nam. Không còn tiếng nổ của thủ pháo, đợt tấn kích thứ nhì đã đi qua, đợt thứ ba chưa bắt đầu. Cứ theo lời nói chuyện của hai tên Việt-Cộng vừa rồi thì Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 64 Cộng Sản đã tràn ngập nửa phần hướng Bắc Plei Ngol Ho trong lúc tôi đang lo chống đỡ khu vực Tây Nam của căn cứ này. Chắc chắn mấy tên Việt-Cộng tranh nhau đuổi bắt con heo xổng chuồng và ba thằng cán binh ôm vật tôi phải là người của K7. Nhưng hiện thời không biết đơn vị này rút đi đâu mà trên sân chẳng còn tên địch nào cả?

Tôi nghĩ thầm, nếu K7 đánh vào khu Bắc Plei Ngol Ho thì chắc chắn K8 hoặc K9 của E64 là lực lượng đã tấn công Nam Plei Ngol Ho. Lợi dụng lúc súng địch tạm ngưng, tôi ra sức kéo cẳng cái thây ma trước mặt sang một bên để lấy khẩu AK47 và dây đạn thứ hai. Ngồi đâu lưng với Thiếu úy Phước, tôi ghìm súng hướng về Tây Bắc, khu lều vải của Thiết Giáp dỏng tai nghe ngóng động tĩnh. Bỗng tôi thấy một người từ hầm truyền tin vừa ló đầu ra, đó là Trung úy Nguyễn Công Minh, Sĩ quan Truyền Tin của tiểu đoàn. Tôi gọi,

– Minh! Minh!

Nhận ra người vừa kêu tên mình là ai, Minh cuống quýt,

– Thái Sơn ơi! Ðịch tràn ngập rồi! Thái Sơn tính sao!

Tôi hét,

– Còn ai trong hầm không?

– Dạ còn một hiệu thính viên!

– Kêu nó ra!

Từ cửa, một người đầu trần, không nón mũ, trên lưng anh ta là một cái PRC 25 ăng ten lá lúa, người này là Hạ sĩ Thạnh. Thạnh phóng khỏi miệng hầm,

– Em đây!

Vừa lúc đó súng đồng loạt nổ giòn hướng chân đồi, rồi thì “Xung phong! Xung phong!’ – “Ðùng! Ðùng! Ðoàng! Ðoàng! Ùm! Ùm! Oành! Oành!” đâu đâu cũng có tiếng nổ, đâu đâu cũng có khói đen bốc lên, đợt tấn kích thứ ba bắt đầu. Ðạn B40 không ngừng “Xè! Xè!” theo nhau bay, rồi nổ “Oành!Oành!” trên nóc cái lô cốt chứa đạn cối 4.2. Hai khẩu AK 47 trên tay tôi và Thiếu úy Phước cứ liên tục “Cành! Cành!” nhả đạn. Trời còn đang mưa, chúng tôi thấy địch, nhưng địch thì không thấy chúng tôi. Tất cả những tên địch bén mảng tới gần vị trí khẩu súng cối 4.2 đều bị bắn bể gáo…

Tôi chụp cái máy truyền tin của chú Thạnh, vào tần số Không Lục, nói một hơi,

– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn! Tôi bị overrun rồi! Yêu cầu đánh ngay trên đầu!

Gọi Bắc Ðẩu xong, để tiết kiệm đạn, khẩu AK47 của tôi tạm ngừng. Khẩu AK47 trên tay Thiếu úy Phước cũng bắn chậm lại thành từng đợt ba viên. Áo quần của Phước giờ này đầy máu đỏ, không biết Phước đã bị thương hay máu từ cái dây đeo những băng đạn AK ướt đẫm máu địch mà chú ấy mang trên vai? Tôi thấy cứ tình trạng này mà kéo dài, không chóng thì chầy chúng tôi sẽ bị chúng phát giác, sẽ hết đạn, sẽ bị bao vây và tiêu diệt. Chờ một lúc không nghe tiếng Bắc Ðẩu trả lời, tôi đứng lên đảo mắt một vòng để quan sát trận địa thì thấy hướng đỉnh đồi chính Ðông không có bóng dáng tên Việt-Cộng nào.

Tôi liền la lớn,

– Chạy!

Rồi tôi phất tay,

– Minh mở đường, Phước đoạn hậu! Chạy lên đỉnh đồi!

Nhưng vừa nhổm người bước lên, Trung úy Minh bỗng trở gót chui vào hầm truyền tin. Tôi ngạc nhiên quát lớn,

– Minh! Làm gì vậy?

Không nghe Minh trả lời, tôi nóng ruột nhảy tới cửa hầm hét lên,

– Ra mau!

Tôi la vừa dứt câu thì Minh đã ló đầu ra,

– Xong rồi! Em vào mở lựu đạn lân tinh để phá máy truyền tin.

Bốn người cắm đầu chạy lên đỉnh đồi.

Trung úy Minh và cái máy PRC25 đi trước, khẩu AK47 của tôi chĩa về phải, khẩu AK47 của Thiếu úy Phước chĩa về trái; tôi và Phước bóp cò liên tục, “Cành! Cành! Cành!”

Chạy ngang qua hầm thuyết trình tôi nghe tiếng ai đó gọi,

– Thái Sơn ơi! Thái Sơn ơi!

Tôi ngoái cổ nhìn, thì thấy một thương binh đang ôm cây M16 thất thểu phóng về hướng tôi, tôi nhận ngay ra đó là thằng em người Nùng tên là Nông Văn Út. Từ trưa hôm qua tới hôm nay hai anh thương binh là Trung sĩ Nông Văn Út và Chuẩn úy Trần Quảng lo nhiệm vụ canh gác hai cái cửa phòng thuyết trình chứa đầy thương binh.

Tôi hỏi:

– Út đó hả? thằng Quảng đâu?

Út lắc đầu,

– Dạ em không biết!

Tôi la lên,

– Chạy lên đỉnh đồi!

Sau đó, tôi vượt lên trước dẫn đầu, phóng về phía rừng lau, rừng lau này cao quá đầu người. Tôi gióng địa bàn, lấy hướng 2100 ly giác. Theo hướng này, dự trù hai cây số sau thì tới con đường xe be dẫn về Nam. Từ đây tôi có thể chạy một mạch về Plei Le Tam Pôte rồi vào Pleime, trong Pleime tôi còn Ðại Ðội 4 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy.

Tôi sắp chui vào rừng thì anh hiệu thính viên níu áo tôi,

– Bắc Ðẩu muốn gặp Thái Sơn!

Tôi ngừng lại cầm máy,

– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!

– Yêu cầu Thái Sơn xác nhận lại lần cuối cùng là chính ông xin đánh bom ngay trên mục tiêu có phải không?

Nhìn thấy chú thương binh Nông Văn Út đang đi sát bên, tôi chợt nhớ ra, hiện thời còn cả chục thương binh nằm trong hầm thuyết trình, nên tôi hét lên,

– Check air! Check air! Tôi hủy bỏ yêu cầu trên. Mục tiêu giờ này là con suối nằm về hướng Tây của hai khẩu pháo.

– Okay! Tôi sẽ thỏa mãn yêu cầu này của Thái Sơn.

Sau đó có tiếng rocket chỉ điểm, tiếng oanh tạc cơ gầm rú, rồi tiếng bom nổ…

Tới đỉnh đồi, anh lính mang máy truyền tin lại níu tay tôi,

– Có Trường An gọi Thái Sơn!

Tôi áp tai vào ống nghe. Cùng tiếng rè rè của máy là tiếng người gọi tôi,

– Thái Sơn đây Trường An!

Nhận ra trong máy đúng là giọng nói của Ðại Tá Phạm Duy Tất, tôi mới dám trả lời,

– Trường An đây Thái Sơn nghe!

Tôi thấy ông Tất mừng rỡ la,

– Thái Sơn đó hả? Tình trạng ra sao? Giờ này cậu đang ở đâu vậy?

– Banh hết rồi! Tụi nó đánh bằng hơi độc hóa học. Tôi bị tụi nó túm! Mới vừa thoát ra xa chỗ đó được chừng hai trăm thước. Tôi đang trên đường chạy về Pleime!

– Tui mới gọi được thằng Xá cua sắt và thằng Chủ, tụi nó chạy được nửa đường đi Mỹ Thạch. Tui ra lệnh cho tụi nó ngừng ở đó chờ tin tức của Thái Sơn. Ủa! vì sao tụi nó chạy một đường, Thái Sơn đi một ngả vậy?

– Tôi bận chỉ huy khu pháo binh hướng Nam, mặt Bắc giao cho thằng Chủ và thằng Xá. Tới khi bị tấn công bằng hơi độc, tôi rút về bộ chỉ huy thì mới hay thằng Chủ và thằng Xá đã dẫn lính chạy từ lâu rồi!

– Ðể tui gọi thằng Xá đem xe vào cứu Thái Sơn. Nó mà không quay lại, tui lột lon nó!

Kế đó tôi và Ðại tá Tất đều vào tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 để gọi Trung úy Chủ và Ðại úy Xá. Không có tiếng trả lời.

Tiếp đó tôi thấy Trường An tắt máy. Có lẽ ông đại tá sang tần số nội bộ của Chi Ðoàn 3/19; tôi không có tần số này. Kỳ hành quân này, Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân và Chi Ðoàn 3/19 nằm dưới quyền chỉ huy của tôi, do đó hai đơn vị này phải liên lạc với tôi trên tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82. Nhưng từ sáng tới giờ, tôi bận quá nên không liên lạc với họ lần nào. Tôi không biết tình trạng hiện thời của họ ra làm sao. Hai phút sau Ðại tá Tất gọi lại, cho tôi biết rằng 18 chiếc chiến xa của Chi Ðoàn 3/19 đã bị mất 12 chiếc, chỉ còn lại 6 chiếc.

Tọa độ của 6 chiếc M113 hiện giờ cách tôi chừng 2 cây số. Ông Tất đã ra lệnh cho Ðại úy Xá bằng mọi giá phải trở lại trận địa để cứu tôi. Ðể tìm về với quân bạn, thày trò tôi phải theo chân nhau đổ xuống cái dốc hướng Tây Bắc. Mấy phút sau thì chiếc chiến xa chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá ào tới, rồi trở đầu thật nhanh. Ông Chi đoàn trưởng nhảy xuống đất, ôm tôi, rồi ra sức đẩy tôi vào cửa hậu. Trong xe đã có mấy ông Biệt Ðộng Quân ngồi sẵn, trong số này có ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y của tiểu đoàn.

Thấy Chuẩn úy Dũng, tôi vội hỏi thăm,

– Ông thầy thuốc còn sống đó hả? Quân y có còn đủ không?

Dũng cười,

– Dạ! Quân y còn đủ và đang ở với Trung úy Chủ. Trường An ra lệnh cho em quay lại cứu Thái Sơn, Thái Sơn có bị thương không?

– Ồ! Không sao! Anh chỉ bị tụi nó ôm vật, suýt bị bắt sống, chứ không bị thương tích gì!

Chợt tôi nghe tiếng trực thăng trên trời; ông Tất mới bay lên vùng. Thì ra từ nãy tới giờ ông đại tá liên lạc với tôi từ đỉnh núi Hàm Rồng, nơi đặt một đài tiếp vận của Biệt Ðộng Quân. Xen lẫn tiếng động cơ là tiếng cười hì hì của Ðại tá Tất.

Ông Tất báo cho tôi một tin vui,

– Ông già vợ của cậu vừa nhờ ta báo cho cậu biết rằng vợ cậu vừa đẻ cho cậu một đứa con gái thứ ba. Vậy là từ nay Vương Gia có ba cô công chúa!

Giờ này chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới vợ con, nên tôi chỉ đáp lời ông Tất bằng một câu gọn lỏn,

– Cám ơn Trường An!

Tới vị trí tập trung của đơn vị, tôi nhảy ra khỏi xe M113 thì thấy Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm và Trung úy Trần Dân Chủ đang đứng chờ. Hai ông sĩ quan này quần áo xốc xếch bẩn thỉu, mặt mày nhợt nhạt thất thần. Ông Chuẩn úy Trâm còn đủ mũ sắt, áo giáp, súng ống. Nhưng ông Trung úy Chủ thì đầu  trần, súng đạn, mũ mãng, bản đồ, địa bàn, dây ba chạc đều mất hết. Tuy thế, tôi thấy trên ngực ông Chủ vẫn còn cái máy ảnh trong bao da màu đen treo tòn ten!

Thấy anh em nằm, ngồi, ngổn ngang trên mặt đất, tôi bèn quơ tay ra dấu cho mọi người quây thành một vòng tròn. Sáu chiếc M113 được dàn thành hình cánh cung hướng về Nam. Tiếp đó, tôi gom góp tất cả thương binh trên triền dốc ngọn đồi mà tôi đang đóng quân. Triền dốc này nằm về hướng Ðông của tỉnh lộ, hơi thấp so với mặt đường nên được che khuất nhưng cũng đủ rộng và an toàn cho trực thăng lên, xuống. Công tác tản thương được tiến hành cùng thời gian tôi điều chỉnh không quân đánh trên các trục tiến quân của địch. Tổng kết lại, hiện thời đã có 44 Kỵ Binh và 48 Biệt Ðộng Quân chết hoặc mất tích.

Trong tổng số 11 sĩ quan thực tập, chỉ còn lại 6 người, tất cả đều bị thương, 5 sĩ quan mất tích gồm có 4 thiếu úy Ðà Lạt và 1 chuẩn úy Ðồng Ðế. Trong số ba ông đại đội trưởng tác chiến, chỉ còn Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 là Thiếu úy Phạm Văn Tô đang ở đây. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 là Trung úy Nguyễn Trọng Thọ bị thương còn nằm trong Plei Ngol Ho. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3 là Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến đã thoát chạy trước khi tôi rời Plei Ngol Ho nhưng không rõ đang ở đâu. Trên tần số, Thiếu úy Phiến nói rằng chú ấy đang trên đường tới với tôi. Nhưng lạ một điều là càng lúc tiếng nói của chú ấy càng nhỏ dần.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh
Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần Ngoài Hồi Ký

Kinh Nghiệm Ngục Tù Làm Nên Tác Phẩm

Conex

Phần 22

James Fisher nằm trong conex như con dế nằm trong hộp diêm. Conex, container exchange, cái thùng uốn bằng tôn vuông vắn mỗi bề hai mét, người Mỹ dùng để chứa hàng hóa, chiến cụ, chuyển xuống tàu chở sang Việt Nam. Sau khi rút khỏi Việt Nam, người Mỹ vất lại nhiều thứ. Vài thứ đáng kể là còng, khóa, dùi cui và conex. Cái conex nhốt James Fisher được mang từ Đà Nẵng ra, bẩy tám năm rồi. Sản phẩm của đế quốc Mỹ bị Cộng Sản chế biến, thêm thắt. Như chủ nghĩa này lấy cảm hứng của chủ nghĩa nọ. Người ta sáng tạo thứ cửa mới cho cái hộp nhốt người. Cửa luôn luôn hé mở vừa đủ thò cánh tay ra. Sợi giây xích lửng lơ giữa kẽ hở đeo ổ khóa nhãn hiệu USA. Tù nhân hít thở qua cái khe gió bủn xỉn đó. James vô conex buổi tối hôm qua.
Người ta chỉ cho chàng mặc một chiếc quần. James đã trải qua một đêm hệ lụy của những hệ lụy chập chùng. Chàng phải đứng dí mũi sát khe gió để tránh mùi phân tiểu lưu cữu, mùi tôn rỉ sét. Địa ngục, chắc chắn, thiếu mùi vị này. Nó làm cay mắt, nghẹt thở. Nó khiến hôn mê như bị xông mê hồn hương. Nhưng không thể đứng mãi gần khe gió. Bởi vì, càng về khuya, mỗi ngọn gió lùa vô cơ hồ mỗi mũi kiếm đâm buốt cơ thể chàng. Lùi vào và tránh kiếm gió, James bị ngửi thứ mùi không tìm thấy ở bất cứ một cachot, một hầm đá nào trong ngục tù nhân loại kể tự thời loài người biết xây dựng ngục tù để giam nhốt lẫn nhau.
Chàng không thể ngồi, không thể nằm trên tôn lạnh rỉ sét và phân tiểu khô quánh đã như lớp xi măng mỏng tráng sàn phòng. James đứng. Chàng cảm giác đầu chàng sẽ đụng nóc conex nếu chàng kiễng chân. James đưa hai tay úp ngực bảo vệ phổi. Lạnh quá, chàng chạy tại chỗ. Rồi chàng phóng những trái đấm mạnh vào không khí y hệt võ sĩ hồng mao tập luyện. Sương rừng xuống nhiều, tụ đầu trên mái conex và chảy quanh conex. Cái thùng nhốt người biến thành cái tủ lạnh. James nhắm mắt, nghiến răng chịu đựng cực hình, cực hình mà nàng Chi Mai bảo là hệ lụy. Chàng đứng co ro, chàng chạy suốt đêm. Đến khi nghe tiếng kẻng tù, tiếng chim hót ca ngợi bình minh, James thầm nghĩ: “Sự khó khăn đêm qua đã đủ cho đêm qua”. Chàng chờ đợi sự khó khăn của hôm nay.
James bớt lạnh dần. Mặt trời lên cao chừng nào, chàng ấm áp chừng ấy. Gần trưa, sương khô hẳn trên nóc conex. Nắng nhiệt đới bắt đầu khiêu vũ hoan lạc. Conex hấp hơi. Người ta đốt củi cách hộp nhốt chàng nửa thước. Quá trưa, conex là cái lò bánh mì và James Fisher, một con người như mọi con người, hóa ra chiếc bánh bởi những con người mục rã trái tim và đã ghép tim mới bằng ý thức hệ. James lại nhảy choi choi. Chàng giống con vịt sống bị ném vào chảo khô rang bỏng. Con vịt khó lòng bay. Nó co cẳng nhanh buông cẳng vội y hệt điệu vũ liên hoan báo cáo tội ác. Mắt nó cầu van chóng chết. Máu dồn hết xuống chân nó. Nó chết. Và con người cắt chân con vịt nấu nướng món ăn ngon thưởng thức. James cũng giống con cá vừa vớt dưới hồ lên bị liệng vô chảo mỡ sôi. Con cá dẫy đành đạch rồi duỗi dài thân cá, vàng chín thơm lừng. James thì chỉ toát mồ hôi. Mồ hôi xối xả tuôn ra không ngừng. James đã được tắm hơi Cộng Sản.
Chàng khát nước khô cổ. Chàng thèm nước. Nước trong cơ thể chàng sắp khô cạn. Máu trong cơ thể chàng sắp khô cạn. Có một đại hạn ghê gớm làm nứt nẻ thịt James Fisher. Chàng úp mặt vào khe gió. Lưỡi chàng thè ra, động đậy như lưỡi con chó khát nước. Người ta đứng đợi lúc đó, hắt từng ca nước trúng mặt chàng. James nuốt những giọt nước. Chàng uốn lưỡi lên môi nhấm nháp nước. Rồi chàng há hốc miệng chờ người ta hắt nước để có một ngụm đầy. Người ta không muốn James chết khát, chỉ muốn James khát và thèm nước. Chàng căng mắt nhìn xô nước bên ngoài conex. Chàng ao ước được bưng cả xô, vục mặt xuống mà uống. Không, nỗi ước ao của James mãi mãi là ước ao, ở cái conex ghê rợn này. Chàng chỉ có thể liếm từng giọt nước, không thể uống từng ngụm nước. Chàng vẫn há hốc miệng đợi một ngụm nước tạt trúng miệng. Chàng sẽ nuốt vội vàng cái ngụm hạnh phúc đó.
Sự chờ đợi của James chẳng bao giờ xảy đến. Khi chàng há miệng lớn, người ta hắt nước xuống ngực chàng, xuống bụng chàng, xuống chân chàng. Như thế, nỗi ước ao nuốt một ngụm nước của chàng tăng trưởng. Sự khát hãi hùng hơn sự đói. Khát là động, đói là tĩnh. Con người dễ dàng bộc lộ sự yếu hèn, sự đê tiện khi bị khát khô đến lóng xương ống tủy. Người ta nhìn James. Chàng đứng sát cửa conex, mũi, miệng và hai nửa con mắt dính chặt vào khe gió. Lưỡi chàng vẫn thè ra, động đậy. Miệng chàng vẫn há hốc. Người ta cười, đổ xô nước tưới đất và bỏ đi. James tuyệt vọng. Chàng ngỡ chàng sẽ chết khát, sắp chết khát. Conex hấp hơi. Nắng tụ trên nóc xoáy sức nóng phũ phàng vào James. Những giọt nước bám vô thân thể chàng đã là nước nóng. Mồ hôi tuôn ra nóng theo luôn.
Bỗng cửa conex mở rộng. Chi Mai xuất hiện cùng hai gã cai ngục súng đã lên đạn nhắm chàng chĩa họng. Chi Mai xách xô nước lã đặt ngay cửa conex.
– James, anh uống đi, muốn uống bao nhiêu, tùy ý.
Chàng không nói cám ơn trước khi múc ca nước uống ừng ực. James vừa uống vừa thở rống. Chàng uống một mạch năm ca nước thì thở rốc, mệt phờ.
– Uống nữa đi, James!
Chàng uống thêm ca nữa, ca nữa…
– Nước tuyệt diệu hả, James?
Chàng gật đầu.
– Người Mỹ các anh kiểu cách và vệ sinh một cách đáng lợm giọng. Các anh đã không thèm uống nước của chúng tôi. Các anh đem nước lã từ Mỹ sang, rồi từ Phi luật tân sang mà uống mà tắm mà rửa tay. Người Mỹ cần đau khổ để biết nỗi đau khổ của nhân loại, cần xuống địa ngục để hiểu sự mơ ước lên thiên đàng của nhân loại, cần bất hạnh để đừng phá hoại hạnh phúc của nhân loại, cần khát nước như anh để không chê nước của thế giới chậm tiến mất vệ sinh. Người Mỹ cần học tập chúng tôi, cần học tập người Việt Nam, cần học tập thua trận ở Việt Nam để xứng đáng làm người.
James Fisher lặng thinh. Nàng dục:
– Anh uống nữa đi, uống nữa đi, James! Nước lã Việt Nam đã là hạnh phúc của anh rồi đó. Ít nhất, anh đã uống một cách say sưa, uống không cần hỏi nước lã của chúng tôi nhập cảng từ Mỹ, từ Phi luật tân hay chỉ là nước ao tù hôi hám. Tất cả người Mỹ sẽ uống nước như anh vừa uống khi họ sắp chết khát và họ sẽ đều công nhận hạnh phúc của họ, hạnh phúc đích thực. Hạnh phúc ấy không bao giờ tìm thấy ở những phi vụ dội bom tàn sát nhân loại.
Nàng xách xô nước ra. Cửa conex đóng lại. James Fisher đã hết khát. Chàng đứng buồn bã giữa conex. Những ca nước lã quả đã là hạnh phúc của chàng, thứ hạnh phúc ngọt ngào, mát rượi chưa bao giờ chàng được hưởng. Chàng chỉ mới hiểu giá trị tuyệt vời của nước lã ở cái conex, cái lò nướng người này. Chi Mai nói đúng, hạnh phúc có từ bất hạnh. Chàng đã trả giá quá đắt để biết hạnh phúc ở những ca nước lã. Người Mỹ chưa biết đau khổ, nỗi đau khổ xoáy mòn tâm tưởng như James Fisher đã đau khổ, đang đau khổ. Người Mỹ sợ hãi đau khổ và người Mỹ không dám biết đau khổ. Con người sinh ra để hưởng hạnh phúc, không phải để đau khổ. Nhưng mà trái đất lại không hẳn chỉ toàn những con người thừa mứa hạnh phúc. Tham vọng hạnh phúc ích kỷ của người này tạo ra đau khổ cho người khác. Và loài người đau khổ nhiều, hạnh phúc ít. Biết đau khổ để cảm thông nỗi đau khổ là điều không tưởng. Song chia sẻ hạnh phúc của mình cho người đói khát hạnh phúc thì có thể thực hiện được. Có lẽ, người Mỹ chưa làm nổi sứ mạng đó. James Fisher hy vọng, nếu chàng sống sót, về nước Mỹ, chàng sẽ lo mưu cầu hạnh phúc cho người bất hạnh.

Photo edit by Sơn râu

Vì chàng đã kinh qua đau khổ, đã thèm khát những thứ đơn giản, tầm thường trong lúc cần thiết nhất, khốn cùng nhất. Chàng đã thèm một ngụm nước lã, đã há hốc miệng chờ đợi ngụm nước lã hạnh phúc. James Fisher là người Mỹ duy nhất được mặc khải bằng thống khổ. “Phúc cho kẻ đói khát về sự công nghĩa, bởi sẽ được no đủ”.
Chàng không xấu hổ, không nhục nhã chấp nhận cái cung cách người Cộng Sản đối xử với chàng. Con người sẽ trả lời Thượng đế về tội ác nó đã gây ra cho đồng loại của nó, vào ngày phán xét. Không ai có thể hơn James trong trò chơi của ý thức hệ, trong hình phạt của thù hận của chủ nghĩa. James là con người bình thường. Chàng không phải là bậc thánh tuẫn tiết cho thứ đạo gì. Trên tất cả, chàng là con người chân thành, là con người lương thiện với chính bản thân mình. Thế giới sẽ được làm lại tốt đẹp bởi những tâm hồn James Fisher.
Người ta đem cho chàng một ca cơm và một ca nước, không thức ăn và không cả muỗng nhựa. James cần sống, cần đi đến cuối đường hẹp, đi đến đích của sự sống. Chàng thản nhiên bốc cơm ăn. James giống hệt con khỉ dữ nhốt ở chuồng kín. Thượng đế tạo ra con người. Chủ nghĩa và ý thức hệ giáo dục con người độc ác. Nhưng rồi con người nhu mì và con người độc ác đều sẽ có phần thưởng ở nước trời như người công chính và kẻ giả hình vậy. James ăn cơm lạt một cách ngon lành. Chàng nhai thong thả, nuốt từ từ. “Đừng lo lắng về mạng sống mình phải ăn gì, uống gì”. Tưởng chừng Thượng đế ở chung conex với mình, đang bốc cơm nhai như mình. James cảm giác miếng cơm trên đường hẹp ngọt lự, ngon gấp mấy lần bánh mì và thịt mà James đã ăn tuần trước, ngon gấp ngàn lần bánh mì và thịt mà James đã ăn ở nước Mỹ, ở cuộc đời. Chàng nhấm nháp chút nước. James cần dành giụm nước chịu đựng ngày mai.
Bóng tối đã bao phủ khu rừng. Conex lại sắp biến thành tủ lạnh. James ngồi co ro giữa conex. Chàng vòng tay ôm hư vô. Vòng tay no đầy. Chàng tưởng đã ôm Thượng đế. James thấy ấm áp. Chàng ước mơ. Chàng thả mơ ước qua khe cửa gió, bay lên trời, vượt rừng, vượt sông, vượt núi, vượt biển về nước Mỹ. Mơ ước giúp chàng quên nghiệt ngã hiện tại. Chàng gặp cha mẹ, các em, bạn bè, người yêu. James Fisher nhắm mắt. Chàng ngủ ngồi mà chàng không hay. Mơ ước đã ru chàng ngủ, đã dựa lưng chàng. James quên mình là miếng thịt, là cục đá trong tủ lạnh. Chàng trải qua đêm thứ hai. Sang ngày thứ hai, James đã có bóng mát của ước mơ và ca nước giành giụm. Chàng chỉ cần nhấp cho bớt khô ở cổ họng. James không bị cơn khát dày vò nữa. Điều này khiến Chi Mai khó chịu.
Một tuần hệ lụy conex đã đủ, không nên kéo dài vì tù nhân có thể chết, người ta dẫn James về phòng cũ. Chàng tắm gội, thay quần áo và ngủ một giấc thần tiên. Bữa ăn chiều của chàng đầy đủ thịt, rau tươi, trái cây. James lại thản nhiên ăn như đã thản nhiên nhai cơm lạt ở conex. Chàng đã vượt lên vật chất. Ăn để tồn tại. Sau bữa cơm, Chi Mai gọi chàng lên gặp nàng.
– Anh nghĩ gì về conex, James?
– Kinh khủng.
– Của Mỹ chế tạo đấy.
– Chúng tôi dùng chứa hàng hóa vận chuyển.
– Người Mỹ chuyển đạn dược bằng conex sang Việt Nam tàn sát người Việt Nam.
– Và cô dùng làm lò bánh và tủ lạnh nhốt người?
– Nhốt Mỹ!

(Trích Một tù binh Mỹ ở Việt Nam)

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 21

Ân sủng của Đức Mẹ, như trung úy Nhẫn nói, tôi vừa được hưởng. Anh Nhẫn bảo tôi sẽ được hưởng nhiều ân sủng của Đức Mẹ 1. Còn người tù mài đá khắc hình Đức Mẹ thì sao? Tôi cầu nguyện Đức Mẹ ban ân sủng cho anh ta hơn tôi. Anh ta mới xứng đáng. Được tha thì cũng vui nhưng cảm giác sung sướng đã nguội. Giá tôi trúng số sớm hơn ba năm, tôi sẽ sung sướng lắm. Hạnh phúc của tôi luôn luôn tới vào lúc xế chiều. Cái gì tôi trông đợi, đều đến. Nhưng chậm, thật chậm. « Chậm bước tiên phong muộn chiến trường ». Bây giờ, tôi chờ cầm Giấy ra trại. Tôi có thì giờ suy nghĩ câu hỏi của phó giám thị Phúc: « Anh còn thù hận chúng tôi không »? Tôi đã trả lời « Không ». Và ông ta nói chắc nịch « Anh đã thù hận Cộng Sản ». Tôi không thể thành khẩn cho ông ta biết rằng tôi còn tiếp tục thù hận chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ Cộng Sản cùng những tham vọng mù quáng của họ. Thù hận và muốn hủy diệt. Nhưng con người sống trong dòng nghịch lũ Cộng Sản, theo dòng hay bị cuốn theo dòng, tôi không tìm ra lý do gì để thù hận cả. Những cộng cụ của chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản, những con người bị Cộng Sản tước đoạt nhân tính và lương tri, tôi thương xót họ hơn là thù hận họ. Bổn phận và nghĩa vụ của bất cứ ai nhận mình là con người nhân bản chống mọi chủ nghĩa phi nhân, phi luân là phải thức tỉnh lương tri và cải hoán nhân tính cho họ, những người bị chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản mê hoặc, sai khiến, làm cho ngu dốt, độc ác; chứ không được phép cổ xúy tàn sát họ hay tàn sát họ. Như Constantin Virgil Gheorghiu chống những kẻ chống phát xít tàn bạo hơn phát xít, tôi cũng chống những kẻ chống Cộng Sản tàn bạo hơn Cộng Sản. Người ta nhân danh cái Thiện chống cái Ác để cái Thiện thăng hoa lên ngọn đỉnh Thiện. Người ta không thể nhân danh cái Thiện chống cái Ác để vinh tôn một cái Ác mới tồi tệ hơn cái Ác cũ. Nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ không phải là sát nhân. Công việc này dành cho văn công, thi công, nghệ công cộng sản. Thế thì sự cổ võ chém giết bừa bãi, man rợ « thề phanh thây uống máu quân thù » là sự gian dối, sự bất lương trí thức của nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ. Và nữa, xét cho cùng, hạnh phúc của con người và nghệ thuật của cuộc đời không tạo dựng bằng thù hận. Người nghệ sĩ Thạch Sanh là biểu tượng tâm hồn Việt Nam đích thực, thuần khiết.
Tôi muốn nhân danh thi sĩ Việt Nam bị chủ nghĩa Cộng Sản bắt giam gửi một Thông điệp mới :

Khi cái còng siết chặt tay anh
phải hiểu sự thật đã chảy máu
phải hiểu tự do hằn lên những vết cào cấu
Và thi ca lún ngập lưỡi dao.
Lúc ấy anh bắt đầu
viết thông điệp mới cho sự tra tấn
cho nhà lao
cho cai tù.


Hãy tội nghiệp sự tra tấn
vì nó không có trái tim
không có hơi thở không có nước mắt
không có đớn đau.
Hãy thương xót nhà lao
vì nó không có tình ái
nó không hiểu nó ngu hay nó dại
nó ngàn năm bóng tối mịt mù.


Hãy tha thứ cai tù
vì nó trơ trơ thân máy
nó ngang qua
nó trở lại
nó vô tri như ngục đá đêm già.


Gửi tặng sự tra tấn một bông hoa
để nó biết da thịt dù tan nát
nhưng con người vẫn đứng trên hình phạt
vẫn đứng hoài và tồn tại vô cùng.
Gửi tặng nhà lao một miếng nhớ nhung
để nó tương tư cuộc đời bao la rộng mở
cuộc đời chẳng hề khóa chặt cửa
giam nhốt ai ca hát giữa đường.
Gửi tặng cai tù chút xíu tâm hồn
để nó thèm thuồng rung động
nó sẽ biết buồn và nó khóc
nó sẽ vui và nó cười
nó sẽ khao khát làm người.


Và đó là thông điệp mới
của thi sĩ Việt Nam viết từ oan khiên vời vợi
gửi đi khắp ngục tù thế giới
gửi xuống huyệt sâu
và gửi cả lên trời
2

Tôi sẽ trung thành với thông điệp này trọn vẹn cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của tôi. Và với lập trường dứt khoát: hủy diệt chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ Cộng Sản, cứu rỗi con người. Lập trường của tôi sẽ dẫn tôi đến những hệ lụy, sẽ đưa tôi vào cô đơn. Nhưng cần gì. Nhà văn không phải là bọn ồn ào hò hét đầu đường, góc phố. Nhà văn làm ra tư tưởng. Và tư tưởng chế ngự hết, bao trùm gọn cả thời đại mê sảng, thời của chó sủa và luôn cả thời của chó câm.
Tôi tiếp tục làm công việc thường nhật của tôi trong khi chờ đợi ngày về. Đổ phân, hốt phân, quét sân trại, dọn cỏ và chở cơm nước cho hai nhà kỷ luật. Người ta đã nhìn tôi bằng cặp mắt khác từ đêm cả trại xem vô tuyến truyền hình hồi tháng 7-1981. Đêm đó, thứ trưởng Văn hóa của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, nghiêm khắc phê bình thầy cô và học trò các trường miền Nam về sự chưa gột sạch ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng đồi trụy của Sài gòn cũ.

Photo edit by Sơn râu

Có đoạn đề cập tới tôi, đại ý:
Miền Nam đã được giải phóng 6 năm rồi, thế mà ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng đồi trụy của chế độ phản động cũ vẫn còn. Học trò vẫn viết lưu bút, lưu niệm cuối năm học bằng thứ văn chương ướt át, lãng mạn, mơ mộng. Một số thầy cô đã không có biện pháp ngăn chặn, lại bắt chước lưu niệm, lưu bút linh tinh. Tôi không hiểu tại sao, đến hôm nay, đa số thầy cô và học trò các trường phía Nam còn say mê tiểu thuyết của Duyên Anh, Nhã Ca, Mai Thảo… 3
Tôi ngồi xem giật mình. Nhiều bạn tù có vẻ lo ngại “đường về xa lắm người ơi” của tôi. Hôm sau, thấy tôi từ xa, đã oang oang lời an ủi của bạn tù:
– Duyên Anh, 5 năm bốc cứt vẫn còn thơm!
– Duyên Anh, chữ nghĩa đang nhẩy hăng đấy!
– Duyên Anh, cứ bốc cứt đi
Thì vẫn bốc cứt đấy chứ. Con gái tôi thăm nuôi tôi cho biết một chiến dịch mới đánh nát ảnh hưởng các nhà văn “có máu mặt” Sài gòn kéo dài ba tháng, từ tháng 4 đến tháng 7-1981, phụ họa cuốn Những tên biệt kích trong mặt trận văn hóa tư tưởng miền Nam. Nhật báo Nhân Dân tặng tôi một bài “xã luận”. Cơ quan trung ương của đảng Cộng Sản Việt Nam mà chơi thì nặng lắm, khó về. Vợ tôi nghe phường phát thanh bài này đâm ra tuyệt vọng. Tuần báo Tuổi trẻ đập tôi kỹ nhất. Nó vẽ tôi giống boong, ngồi luộc nồi nước Tuổi Ngọc bằng củi thanh, thiếu niên! Thằng nhóc họa sĩ, tên Vũ, sau này đi Liên xô vung vít, lại là bạn của con tôi mới ghê. Radio, télé, báo đảng, báo đoàn… đánh tôi túi bụi. Mà tôi bận đổ phân, hốt phân không biết gì cả. Nhưng tôi đã trúng số. Lồng cầu đảng ngừng ở 6 số 2-9-1981. Ngày mở nước đấy. Tôi có chút kỷ niệm Sa Ác. Về niên lịch. Chả là ông Phạm Thái Ất tỏ ra thuộc Sử và nhớ ngày tháng vanh vách, tôi mới dở trò “đố vui để chọc”.
– 19-3 là ngày gì?
– Sinh nhật Hồ chủ tịch.
– 19-8 là ngày gì?
– Tổng khởi nghĩa.
– 16-8 là ngày gì?
Ông Phạm Thái Ất suy nghĩ một lát rồi đoán tầm bậy. Cuối cùng, ông ta chịu thua, hỏi tôi:
– Ngày gì?
– Ngày này mà không biết thì chết rồi.
– Ngày gì?
– Sinh nhật ông Vũ Mộng Long!
Bạn tù cười ầm. Tôi nói:
– Bây giờ hỏi đứng đắn. 7-7 là ngày gì?
– Chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh.
– 23-10?
– Trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại.
– 30-4?
– Mất nước.
– 8-4?
– Phật Đản.
– Nghĩ lại đi.
– Bụt sinh cá đẻ mà!
– Sai.
– Vậy 8-4 là ngày gì?
– Ngày ông Vũ Mộng Long bị bắt bỏ tù?
Bạn tù lại cười ầm. Ông Phạm Thái Ất khen tôi “hài hước” giỏi. Đó là kỷ niệm Sa Ác tôi sắp đem về nhà. Kỷ niệm Rừng Lá vỏn vẹn hai câu chuyện tiếu lâm nghe kể.
Chuyện thứ nhất
Đội nông nghiệp trồng khoai, trồng sắn, trồng ngô mãi cũng chán. Đất khai thác nhiều nó mệt, thu hoạch bết bát. Một tù nhân đề nghị quản giáo:
– Cán bộ ơi, tại sao mình không trồng xa lát.
Quản giáo:
– Sẽ nghiên cứu trồng Xa nát.
Tù nhân:
– Nếu trồng xa lát, mình nên trồng thêm cây bíp tếch cán bộ ạ!
Quản giáo:
– Sẽ nghiên cứu trồng nuôn cây bíp tếch một nượt!
Chuyện thứ hai
Kẻng báo ngủ đã điểm. Vệ binh đi tuần quanh nhà. Một tù nhân cao hứng:
– Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.
Vệ binh nghe thấy, la hét:
– Anh nào vừa mới nói quỷ Nam, vua Bắc đấy?
Im lặng. Vệ binh:
– Anh nào? Quỷ Nam, vua Bắc, vua Nam, quỷ Bắc nà cái nghĩa ní gì?
Im lặng. Vệ binh:
– Anh nào vừa nói ?
Im lặng. Vệ binh tức giận:
– Đội trưởng đâu?
Đội trưởng:
– Có.
Vệ binh:
– Anh nào vưa nói ninh tinh náo nếu thế?
Đội trưởng:
– Anh Trần Bình Trọng đấy, cán bộ ạ!
Vệ binh:
– Bảo anh Trần Bình Trọng sáng mai nàm kiểm điểm nộp cán bộ trực trại nhé!
Hai mẩu chuyện tiếu lâm lao cải trên, có thể là bịa đặt, có thể là không bịa đặt. Bịa đặt hay không bịa đặt thì cũng chỉ mục đích nói lên sự ngu dốt của cai tù, những ông thầy của trường học cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ông Hồ Chí Minh nói: «Trồng cây mất 10 năm, trồng người phải mất 100 năm». Những con người ông Hồ chí Minh và chủ nghĩa Cộng Sản của ông đã trồng từ năm 1950 là năm Cộng Sản Việt Nam quy định thành phần, giai cấp và thực sự chuyên chế ra sao? Ba mươi năm trồng người, chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ vĩ đại của nó chỉ gặt được một thế hệ thanh niên ngu dốt đói khổ. Đói khổ nên môi thâm, người lùn tì. Ngu dốt nên ngọng nghịu đòi trồng cây bíp tếch và bắt Trần Bình Trọng viết tự kiểm. Người ta sẽ thù hận chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản hay thù hận những con người bị Cộng Sản và lãnh tụ làm cho đói khổ, ngu dốt? Câu hỏi đặt ra cho lương tri những người chống Cộng Sản chân chính và cả bất chính nữa.
Với tôi, kỷ niệm lao cải như vậy ít quá, còn Những thứ sẽ mang về.

Mang về một chiếc mũ
Đã giãi nắng dầm mưa
Trầy vai câu chuyện cũ
Chảy máu sự nghiệp xưa


Mang về bộ quần áo
In dấu tù lem nhem
Z30 D, TH6
TCT, CTXM


Mang về đôi giày tã
Đế mòn vẹt đường dài
Băng rừng sâu núi cả
Đi hết kiếp lưu đày


Mang về chiếc lược nhôm
Bao nhiêu ngày mài dũa
Bao nhiêu là thương nhớ
Lược sẽ làm vui gương


Mang về thêm cái trâm
Gọt từ rễ giáng hương
Để em cài lên tóc
Và để tóc em thơm
 4

Và những thứ sẽ đem vào tác phẩm 5. “Kiểm soát lại có khi còn thiếu sót”. Hẳn nhiên, thiếu sót rất nhiều. Nhưng mà tôi không đem nhà tù ra đời sống thì ngàn vạn thứ lẩm cẩm, vẩn vơ chẳng thèm nhớ, chẳng thiết đem về. Tôi có thể Giã từ đề lao rồi đấy.

Giã từ em nhé, đề lao
Giã từ lối hẹp dẫn vào xà lim
Giã từ em, giã từ em
Những ngày mòn vẹt những đêm vẹt mòn
Giã từ tay xích chân còng
Giã từ hồi kẻng úa lòng héo gan
Giã từ em, giã từ em
Tâm hồn song sắt trái tim cai tù
Giã từ củ sắn bắp ngô
Chén cơm Đại Mễ, bo bo sượng mày
Giã từ án phạt khổ sai
Gỡ bom, san núi, hạ cây, phá rừng
Giã từ cuốc xẻng đắp đường
Giã từ gánh nước đầy thùng oằn vai
Giã từ sước máu mây gai
Giã từ thù hận rạc rài đớn đau
Giã từ em nhé, đề lao
Giã từ tha thiết với bao chân tình
Mai anh làm chuyến viễn hành
Nhờ em nên mới trưởng thành biết chưa
Giã từ em, thế đã vừa
Sáu năm cuộc rượu say sưa tỉnh rồi
Anh về với đất với trời
Với hoa với lá với đời khác xưa
Anh về với nắng với mưa
Với cây với cỏ đong đưa tuyệt vời
Anh về ấm áp tình người
Buồm căng gió lạ trùng khơi dạt dào
Giã từ em nhé, đề lao
Cám ơn cay đắng nghẹn ngào em cho
 6

Ngày 11-9-1981 tôi cầm Giấy ra trại. Tôi đã cho nhân vật của tôi phát triển cảm tưởng của người trí thức bị cưỡng bách lao động ở trại tập trung. Bây giờ, tôi mượn cảm tưởng đó làm cảm tưởng của tôi. “Bài học thứ nhất của lao động dạy tôi cảm thông với người lao động, kính trọng họ và hiểu thấu giá trị của lao động chân tay. Dĩ nhiên, Cộng Sản đã không hề dạy tôi bất cứ điều nào trong nhà tù, ngoài trại tập trung. Họ chỉ dọa nạt, trừng phạt, dụ dỗ và bắt làm việc giống hệt bọn chủ nhân nô lệ hành xử quyền uy của mình. Bài học thứ hai của lao động tôi tự dạy tôi từ những giọt mồ hôi trí thức, còn dạy tôi niềm tự tin tuyệt vời: Tôi có thể làm được những công việc mà trước đây tôi tưởng không bao giờ tôi có thể làm được. Lao động đã thắp sáng kiến thức của tôi. Nó là dòng nước luân lưu đưa đẩy tư tưởng con người xuôi ngược. Nó làm long lanh trí tuệ, làm trong suốt tâm hồn, rạng ngời ý nghĩ. Trí thức của chúng ta cứ nằm trong tháp ngà, cứ trùm mền hưởng thụ, đâm ra lười biếng, sợ khó, sợ khổ. Nên, khi đụng vào nghịch cảnh của đời sống thì không dám đương đầu, thì ngớ ngẩn và hèn mọn. Với Cộng Sản, lao động là hình phạt trả thù chúng tôi. Nhưng, với tôi, lao động là một chương dài trong văn phạm của đời tôi”.
Vẫn mượn cảm tưởng ra trại, lần này của chú bé Vũ trong tác phẩm Đồi Fanta: “Không thèm quay lại, tôi nhìn thẳng, bước mạnh, bước nhanh về phía trước mặt. Dĩ vãng đau thương, tăm tối hay dĩ vãng huy hoàng rực rỡ thì cũng chỉ để hồi tưởng, ở một tuổi nào đó. Người già sống cho những ngày sắp tới. Người trẻ sống cho những ngày sẽ tới. Chẳng ai dại dột bám lấy quá khứ mà rên rỉ, tiếc nuối. Tương lai mới quyến rũ con người vì người ta không nhìn rõ tương lai, người ta mải mê tìm kiếm niềm bí ẩn của nó, niềm bí ẩn khôn cùng của đời sống chứa chan mời gọi. Tôi mang ý nghĩ đó về nhà.
Hàng khuynh diệp hai bên đường đã khá cao và xanh mướt. Con đường thẳng tắp, hun hút. Nắng sớm nhảy múa, reo vui trên lá cây. Gió đàn đong đưa tình tự. Con chim chích chòe nghệ sĩ véo von trên ngọn đỉnh cao điệu hát buồn rầu thơm ngát tiễn đưa. Tôi hít một hơi đẫy đà cái hương vị tự do của trời đất. Tâm hồn tôi dạt dào cảm xúc. Tôi đã trông thấy, sờ mó được những gì gọi là mơ hồ, trừu tượng. Tôi đã hiểu thế nào là hạnh phúc, thế nào là đau khổ. Cám ơn năm năm oan nghiệt của tôi. Tôi không cần hằn học với nó, rên xiết vì nó”.
Và, sau hết, cảm tưởng ra trại của cô Lan trong tác phẩm Sỏi đá ngậm ngùi:
“Bước qua cổng trại, tay xách cái bị cói, đi một quãng, tôi nhìn lại hàng rào giây kẽm gai, nơi chị Nga đã chết treo tay trên đó. Giã từ ngục tù nhỏ, tôi vô ngục tù lớn. Gió sớm mát rượi. Tôi lững thững bước. Văng vẳng đâu đó những lời ca mượt mà theo nhạc đệm của muôn loài chim êm ái:

Tôi ca ngợi tôi
Ngụp giữa biển đời
Sóng gầm bão nổi
Tôi vẫn là tôi
Tôi vẫn là người…


Tôi mỉm cười. Dưới những tầng địa ngục, tôi đã lên đời chói lọi. Tôi vẫn là tôi. Tôi vẫn là người…”

Ivry sur Seine, 1-8-1987

——————————–

1Khi về nhà tôi nhờ linh mục Chân Tín làm phép miếng đá cho tôi. Và tôi được cứu rỗi nhiều chuyến vượt biên thất bại. Rồi tôi thành công đều nhờ hưởng ân sủng của Đức Mẹ. Ở Pulau Bidong, lúc tôi chưa nhận tiền của vợ con, có người mua chiếc mề đay Đức Mẹ 500 đô la, tôi không bán. Đức Mẹ dẫn tôi đến linh mục Jean Mais và sư huynh Trần văn Nghiêm. Cả hai đều dịch sách cho tôi theo tinh thần tông đồ. Và sách của tôi Belfond xuất bản hết. Trước khi viết một cuốn sách mới, tôi đều thắp nến tạ ơn Đức Mẹ của tôi. Và tôi viết rất nhanh.
2Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984
3Đã đề cập ở Nhà Tù
4Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984
5Kinh nghiệm tù đầy của tôi được thể hiện ở Một người tên là Trần văn Bá, Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạn, Đồi Fanta, Một tù binh Mỹ ở Việt Nam. 3 cuốn trên đã do Nam Á Paris xuất bản. 2 cuốn sau sẽ xuất bản ấn bản Việt ngữ cùng lượt với ấn bản Pháp ngữ.
6Thơ tù, Nam Á – Paris, 1984

Con Người & Cái Chết Của Tướng Lê Văn Hưng (qua Ghi Chép Của Một Tình Báo Mỹ)

Lý Minh Hào trích dịch

Posted on July 7, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng.

Không chê người đáng khen
Không khen người đáng chê James E Parker Jr, tác giả cuốn sách «Last Man Out – A Personal Account of the Vietnam War» , là một giới chức tình báo của CIA rời khỏi Việt Nam cuối cùng vào ngày 01/05/1975 sau 10 năm phục vụ, giai đoạn đầu với vai trò một quân nhân, và giai đoạn sau trong ngành tình báo Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tác giả tự hào là «I was among the first men in and I was the last man out» và cuốn sách trên được Đô Đốc Elmo Zumwalt, vị Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ trẻ tuổi nhứt trong lịch sử hiện đại , đánh giá là «sống động và thuyết phục … Một bổ sung quan trọng cho nền văn học kỷ nguyên Việt Nam» . Được biết thêm , Đô Đốc Elmo Zumwalt trong thời kỳ cuộc chiến Việt Nam leo thang là chỉ huy trưởng Chiến Dịch SEALORDS (Southeast Asia Lake Ocean River and Delta Strategy) phát xuất từ Căn Cứ Năm Căn (Cà Mau). Và qua thời «Việt Nam hoá Chiến tranh», ông đề xuất và thi hành kế hoạch ACTO (Accelerate Turnover to the Vietnam) nhằm chuyển giao và trang bị quân cụ hải quân nhanh chóng cho Việt Nam (Theo «Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam» của Nguyễn Kỳ Phong).    
    Đặc biệt trong «Last Man Out» rải rác trong nhiều chương, tác giả đề cập, qua ghi chép và nhận xét, đến nhiều nhân vật quân sự tên tuổi mà ông có nhiều cơ hội và thời gian làm việc chung , như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn. Tác giả mô tả tướng Nguyễn Khoa Nam điềm đạm , làm việc mẫn cán, chu toàn trọng trách tướng chỉ huy … Tướng Trần Văn Hai thâm trầm , khép kín , hút thuốc nhiều, và có vẻ ít nhiều định kiến với các cố vấn, giới chức Mỹ. Nhưng vị tướng này có tài quân sự , đã cho tác giả biết trước vào ngày 22/04 là Sàigòn đã bị Cộng Sản bao vây rồi sẽ «mất trong 7 ngày» sau đó, căn cứ theo sự thẩm định và ước đoán tình hình quân sự và những biến chuyển chính trị rất xấu cho miền Nam vào lúc bấy giờ. Tướng Hai nghiêm mặt, nâng cao ly cà phê được đặt trong chiếc bình giữ ấm, mời tác giả cụng ly để cầu nguyện cho những chiến sĩ đã hy sinh và chúc lành cho nhau … Tác giả dành cho Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (trong sách in là Canh, có lẽ tác giả quên cách viết chữ Cẩn) sự cảm mến nồng hậu. Trước khi làm tỉnh trưởng Chương Thiện, Đại Tá Cẩn đã nổi tiếng với những chiến công, nhứt là những trận đánh giải vây cho An Lộc, và một phần bên mặt bị thương, dù đã giải phẫu chỉnh hình vẫn còn để lại vết sẹo dài dọc theo hàm. Tác giả nhận xét Đại Tá Cẩn là «lính của lính, can trường và thanh liêm» (he was a soldier’s soldier, brave and incorruptible).    
    Riêng Tướng Lê Văn Hưng, tác giả James E Parker, Jr ghi lại nhiều chi tiết hơn.    
    Trong suốt thời gian về làm việc tại vùng châu thổ Cửu Long (Vùng 4), chủ yếu tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận , tác giả do vai trò «case officer» trong ngành CIA nên luôn có dịp gặp Tướng Hưng. Ngày đầu tiên diện kiến ông Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tác giả «hơi lấy làm lạ» về cách đánh giặc và điều quân của Tướng Hưng là « thủ nhiều hơn công » khi đôi bên trao đổi và thảo luận, về kế hoạch quân sự trong vùng. «Tại sao lại đánh một trận chiến đang thua? « tác giả thắc mắc thì Tướng Hưng cười và hỏi lại: «Tôi còn có những lựa chọn gì nữa đâu? » rồi chậm rãi nói tiếp – «Đây là đất nước của tôi».     
    Sau nhiều tháng liên tục làm việc để lập mạng lưới tình báo tại vùng châu thổ, tác giả ghi nhận Tướng Hưng dành rất nhiều thời giờ cho việc trận mạc: Sáng sớm thường đáp trực thăng đi thị sát và trao đổi với các đơn vị trưởng địa phương . Trở về họp tổng kết tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn và thỉnh thoảng họp khẩn về đêm. Càng về sau tác giả mới hiểu ra thêm tổng quan (outlook) của một ông tướng Việt Nam trong cuộc chiến giữa những người Việt Nam ngay trên quê hương của mình. Tướng Hưng tin rằng sự chiến đấu thực sự cho vùng châu thổ đang diễn tiến ở những nơi khác, có thể trong các cuộc họp hành ở Sài Gòn. Vả lại, là một người theo đạo Phật, ông tin vào định mệnh, những gì xảy ra với những hậu quả gì đem đến đều là sự an bài, xếp đặt trong vạn vật cả.     
    Tuy nhiên, tháng 02/1975, theo đòi hỏi của cấp trên từ Cần Thơ và Sài Gòn, Tướng Hưng đã phát lệnh tấn công một lực lượng quân sự trọng yếu của Cộng Sản tại mạn đông của tỉnh Chương Thiện, nằm trong một mật khu lâu đời thuộc rừng U Minh – Theo tác giả, đây là chiến dịch động binh lớn nhứt và khổ cực nhứt của Tướng Hưng với những điều kiện khó khăn và phương tiện hạn hẹp. Chỉ còn cách tấn công địch theo lối «liệu cơm mà gắp mắm» thiếu hụt đủ thứ: Phi vụ không quân hạn chế nên không vận chuyển kịp thời các quân cụ, khí giới nặng, điều động nhanh các đơn vị chiến đấu tấn kích thần tốc. Quân đội Hoa Kỳ tuy để lại nhiều súng đại bác nhưng thiếu đạn , còn nhiều mìn claymore nhưng không có đủ bộ phận khởi động (activators), còn nhiều loại đạn dược, nhưng ngòi nổ đã tịt! Tuy vậy nhờ sự chỉ huy tài giỏi , sự can trường và thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hoà , lực lượng cộng sản Bắc Việt đã bị đẩy lùi sâu vào rừng U Minh khi kết thúc chiến dịch. Trận đánh lớn như vậy hẳn nhiên chiến trường tàn cuộc phải tang tóc, sự chết chóc và thương tật cả đôi bên phải nhiều. Tác giả ngậm ngùi ghi chép tâm trạng Tướng Hưng trong hoàn cảnh tàn cuộc chiến đó: General Hưng was not sure if he had, in fact, secured the net advantage. He had used much of his limited resources. For what? … He suffered extensive casualties. Tướng Hưng không biết chắc là trong thực tế mình có thắng lợi thực sự hay không . Ông ta gần như đã xả láng những gì còn có trong tay. Để cho gì đây? Ông đã chịu đựng bao thứ tai ương.     
    Trong con người võ tướng còn có một văn nhân. Tác giả đã sống với Tướng Hưng những buổi chiều đằm thắm: Hỏi thăm chuyện gia đình, bàn chuyện nước Mỹ, chuyện thời sự , thảo luận văn chương. Kiến thức ông tướng uyên bác, nhiều nhà văn và tác phẩm văn chương Mỹ ông đề cập phần tác giả còn chưa đọc tới dù rằng là «mọt sách» đọc không dưới hai ba cuốn sách mỗi tuần. Còn Tướng Hưng ưa kể chuyện lịch sử Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương. Ông ăn nói cân nhắc, từ tốn, luôn tươi cười, ngay cả những khi tranh luận các vấn đề quan trọng. Tướng Hưng có được những nét tự tin đặc biệt và quanh người ông như toát ra vẻ thanh thản, trầm tĩnh. Tánh tình khả ái, rất dễ gây được cảm tình của mọi người từ ông tướng đã thu phục «con tim» của một điệp viên Mỹ, tạo thành tình bạn thân thiết giữa hai người.     
    Và tác giả đã dành riêng phần lời bạt (Epilogue) để kể lại cái chết bi tráng , thương cảm của Tướng Lê Văn Hưng. Dưới đây là phần dịch của Lời Bạt.     
    Ngày 30/04/1975, đúng lúc 7 giờ tối, Tướng Hưng, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và cũng là người bạn của tôi, đã nhắn gọi vợ ông đến văn phòng làm việc tại Cần Thơ. Tướng Hưng cho vợ biết là có 10 người dân địa phương đến thỉnh cầu ông đừng chống trả với lực lượng Việt Cộng đang tiến quân vô thành phố. Họ nói bọn Cộng Sản sẽ pháo kích nát Cần Thơ thành đống gạch vụn và gây thương vong cho nhiều dân lành. Tướng Hưng nói với vợ rằng ông hiểu rõ chuyện đó và đồng ý sẽ không để thành phố Cần Thơ biến thành một bãi chiến trường tuyệt vọng. Ông cũng cho biết kế hoạch khẩn cấp rút lui cùng một số thuộc hạ vào một mật khu xa xôi vùng châu thổ đã hẹn trước, nơi sự sống khó tồn tại. Đầu hàng giặc không phải là một giải pháp lựa chọn.     
    Tướng Hưng cũng không hề nghĩ tới việc diện kiến và thảo luận với một quan chức Việt Cộng trách nhiệm trong vùng, Thượng Tá Hoàng Văn Thạch, để bàn giao vùng Châu thổ Nam Bộ cho Cộng Sản. Ông không bỏ nước để thoát thân. Ông có một trách nhiệm với những quân nhân đã dành mạng sống của họ ở lại vị trí trấn thủ. Ông đã ở lại bằng một lựa chọn vinh dự. Ông phải tự quyết định sinh mạng của mình.     
    Vợ của Tướng Hưng bật khóc và năn nỉ ông hãy suy tính lại. «Tại sao mình không thể bỏ ra ngoại quốc giống như những người khác? », bà hỏi chồng.     
    Tướng Hưng lập lại lần nữa với vợ về trách nhiệm riêng đối với xứ sở và binh lính. Ông ôn tồn và chậm rãi nối tiếp: «Mình đừng để anh bị mất lòng kiên định. Giờ đây cứ đánh tiếp cũng chỉ đem lại rắc rối và mất mát không những cho gia đình và bà con mình, mà còn cho binh lính và dân lành nữa. Và anh không muốn thấy mặt thằng Cộng Sản nào hết ».    
    Rồi Tướng Hưng đứng dậy, ôm vợ vào lòng, và rớt nước mắt. Sau cùng , ông nói cùng vợ: «Lẹ lên đi mình, tới mời Má và dẫn các con vô đây gặp anh».     
    Khi người Má vợ và các con bước vô văn phòng làm việc của ông rồi , Tướng Hưng nói lời chia tay và cúi xuống hôn từng đứa con.   
    Bên ngoài văn phòng, nhiều sĩ quan và binh lính thuộc cấp lần lượt kéo tới, đứng sắp hàng ngoài sân, chờ đợi lệnh.   
    Tướng Hưng tuyên bố việc chiến đấu đã chấm dứt. Ông nói, nước đã mất là do lãnh đạo kém tại Sài Gòn, và xin thuộc cấp tha thứ lỗi cho ông, nếu như cá nhân ông đã có những lỗi lầm nào đó. Bầu không khí xung quanh nặng nề. «Tôi xin chấp nhận cái chết. Vĩnh biệt các anh em», Tướng Hưng dứt câu.     
    Tướng Hưng đưa tay lên chào và đưa tay bắt từng người một. Ông yêu cầu mọi người ra về. Một vài quân nhân vẫn đứng tại chỗ không chịu lui bước, nên Tướng Hưng buộc lòng phải bước tới đẩy và giục họ về. Rồi ông bảo vợ đừng có nài nỉ thêm điều gì nữa và chỉ một mình bước vô văn phòng làm việc.     
    Chỉ trong khoảnh khắc sau đó vang lên một tiếng súng nổ. Tướng Hưng đã tự sát bằng súng (Hết trích).   
    Sau phần Lời Bạt, và xếp cuối trang sách «Last Man Out» James E Parker Jr đã chọn bài thơ của một chiến binh Mỹ ẩn danh ( Làm tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam, khoảng năm 1969). Từ và ý bài thơ hoa mỹ , lãng mạn và phảng phất siêu thoát, nhưng dứt bằng một câu thơ đầy hào khí tang bồng hồ thỉ như khí tiết của những chiến sĩ, hiệp khách Đông Phương: 

Do not stand by my grave and weep: 
    I am not there . I do not sleep … 
    I am a thousand winds that blow
    I am the diamond’s glint on snow
    I am the sunlight on ripened grain
    I am the gentle autumn’s rain
    When you awake in the morning’s hush
    I am the swift uplifting rush
    Of quiet birds in circle flight
    Do not stand by my grave and cry: 
    I am not there. I did not die. 

Photo edit by Sơn râu

    Tạm dịch nghĩa:    
    Đừng đứng bên mộ anh và nhỏ lệ:
    Anh không ở trong mộ này. Anh không ngủ đâu em.
    Anh là ngàn ngọn gió thổi khắp phương trời

    Anh là kim cương lấp lánh trên tuyết lạnh
    Anh là ánh nắng nhuộm vàng hạt lúa chín
    Anh là giọt mưa của trời thu êm ả
    Khi em thức giấc lúc ban mai thinh lặng
    Anh là lực xua đàn chim vụt bay cao
    Những cánh chim lặng lẽ lượn những đường vòng
    Đừng đứng bên mộ anh và khóc lóc:
    Anh không ở trong mộ này. Anh không chết đâu em .

    Bài thơ không tựa và tác giả ẩn danh trên, tác giả James E Parker Jr xếp liền ngay sau phần mô tả cái chết của Tướng Hưng để xem như vòng hoa tang cho một ông tướng cốt cách hào hoa. Bởi vì trong đời thường và trong quân ngũ, Tướng Hưng vẫn không giấu được ngay cả dưới lớp quân phục những nét nho nhã và dáng hào hoa của một người đàn ông. Nhiều người nhận xét, Tướng Lê Văn Hưng “có tướng quan văn hơn là võ tướng », chẳng qua ông quan văn này phải khoác chiến y, áo giáp đỡ đạn trong thời chiến và trên chiến trường mà thôi! Tướng Hưng cũng có tiếng là “người chịu chơi », nhứt là thời còn trai trẻ, sĩ quan còn mang lon cấp uý, cấp tá, nhiều phen “quậy tới bến » sau chiến trận được về lại hậu cứ nghỉ ngơi. Ôi , đó là những năm anh còn trẻ của một người trai thời ly loạn sống nay chết mai. Thiết nghĩ không ai quá khắt khe đối với ông tướng.
    Nhưng rồi ông tướng không mấy năm sau đó cũng có cơ hội, gặp thời thế để trả nợ chí trai và làm đẹp non sông: Khí tiết Lê Văn Hưng đã thăng hoa giữa chiến trường Bình Long và hoa anh hùng Lê Văn Hưng đã nở đẹp tại phòng tuyến An Lộc. Và rồi hấp hối theo vận nước, phút cuối Lê Tướng Quân đã chọn cái chết bi hùng để trở thành bất tử trong lịch sử và quân sử Việt Nam.
    Với dụng ý vinh danh và tưởng niệm tướng Lê Văn Hưng, nơi trang cuối của tác phẩm « Last Man Out », tác giả James E Parker, Jr chính vì vậy đã xếp bài thơ không tựa , không tên tác giả với câu thơ chấm dứt:
    I am not there. I did not die.
    Và sau chót, một câu lập ngôn được xem như quân huấn của Danh Tướng Douglas MacArthur: « Duty, Honor, Country».
    Lý Minh Hào trích dịch – «Last Man Out» của James E Parker Jr



Đầu bếp Preston Nguyễn tân vô địch thế giới

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on May 26th, 2022
Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Trong những ngày tháng Năm này, nhiều học sinh sinh viên và các bậc phụ huynh đang vui mừng đón nhận những tin vui trong bước đường học vấn của con em thì tại Texas, một sinh viên gốc Việt là Preston Nguyễn cũng vừa đón nhận một thành công hiếm hoi và đi ra ngoài khuôn khổ thông thường: Preston Nguyễn vừa giành chức vô địch cuộc tranh tài nấu ăn World Food Championships với giải thưởng 100,000 đô la. Preston Nguyễn đã dành riêng cho chuyên mục một cuộc trò chuyện đặc biệt, xin mời các bạn cùng gặp gỡ chàng đầu bếp gốc Việt tài ba này.

Hồi tháng 11 năm trước, Preston Nguyễn đã qua mặt một đầu bếp đầy kinh nghiệm trong vòng thi cuối cùng để giành được ngôi vị World Chef Champion cùng giải thưởng $7,500 tại cuộc thi nấu ăn quốc tế World Food Championships được tổ chức ngay tại Dallas, Texas. Bếp trưởng Jean-François của hệ thống khách sạn sang trọng Fairmont Hotel về nhì đã có thâm niên trên 20 năm, nhiều hơn cả tuổi 18 của Preston khi tham dự cuộc thi và qua mặt ông.

World Food Championships (WFC) là một cuộc thi nấu ăn thường niên có các giải thưởng cao nhất thế giới nên đã quy tụ rất nhiều đầu bếp thượng thặng khắp nước Mỹ cùng thế giới bay sang tham dự. Cuộc tranh tài của WFC đã có khoảng hơn 1,500 đầu bếp đến từ mỗi tiểu bang và 40 quốc gia khác tham dự và thi đấu theo10 hạng mục khác nhau như barbecue, burger, hải sản, soup, tráng miệng…. WFC có tổng giải thưởng tiền mặt lên đến hơn hai triệu đô la và được các kênh truyền hình quốc gia nổi tiếng về ẩm thực tường thuật.

Preston kể rằng em hoàn toàn không mong đợi gì việc chiến thắng, thậm chí cả việc được xếp hạng trong cuộc thi vì hạng mục Ðầu Bếp (Chef Category) em tham gia được xem là khó khăn nhất trong 10 hạng mục nói trên khi các thí sinh là những đầu bếp chuyên nghiệp hay bếp trưởng từ các nhà hàng hay khách sạn danh tiếng, có cả những đầu bếp từng xuất hiện trên các chương trình nấu ăn của các hệ thống truyền hình chính từ khắp nơi đổ về. Preston bảo rằng được tham dự vào cuộc thi đã là điều may mắn.

Qua các vòng thi và với chiến thắng bên trên, Preston tự tin bước vào vòng so tài “Final Table” cuối cùng tại South Carolina với 9 đầu bếp trứ danh khác đã giành chức vô địch trong hạng mục của mình, để rồi trở thành đầu bếp trẻ nhất từng giành chức vô địch cuối cùng trong cuộc thi WFC lần thứ chín năm nay.

Preston Nguyễn và món bánh xèo mới lạ

Từng là một trong những học sinh có tài về kiến trúc tại trung tâm huấn nghiệp của Nha Học Chánh Arlington của tiểu bang Texas, Preston bỏ ý định theo học và trở thành một kiến trúc sư để đi theo con đường nấu ăn. Preston kể rằng, dù yêu thích nhưng kiến trúc không đủ tạo cho em niềm đam mê như về ẩm thực, công việc mà mọi thứ đều sống động. Cha mẹ Preston đã rất ủng hộ quyết định của em với một mong muốn rằng, bất kể theo đuổi sự nghiệp nào, hãy cố gắng làm thật tốt. Tuy nhiên khi Preston bước vào đại học El Centro College tại Dallas để học nấu ăn, thì đồng thời em cũng tham gia các khoá huấn luyện về địa ốc như một kế hoạch dự phòng trong trường hợp chuyện nấu ăn không như mong đợi.

Preston chọn lựa con đường sự nghiệp phi truyền thống của mình là ẩm thực thay vì kiến trúc hay các nghề nghiệp chuyên môn thông thường trong các gia đình Á Ðông cũng có lý do.

Preston kể rằng ông Nội em là ông Tâm Nguyễn, là một người tị nạn gốc Việt đã từng theo học những lớp nấu ăn tại một đại học ẩm thực Dallas hơn 30 năm trước. Cha của Preston là anh Peter Nguyễn, là một luật sư đang có văn phòng hành nghề và là một doanh nhân ngành địa ốc nhưng cũng từng theo học nấu ăn tại El Centro College, nơi Preston đang theo học hiện nay và cũng từng mở một vài nhà hàng nhỏ trước đây. Còn mẹ của Preston là Emma Nguyễn, là một phụ nữ gốc Mexico sinh ra và lớn lên tại Mỹ, cũng là một đầu bếp về bánh ngọt và dạy nấu ăn. Sự đam mê và gắn bó trong lãnh vực ẩm thực của cả gia đình đã truyền sang cho Preston từ khá sớm.

Preston ca ngợi cha mình là “một ông vua về sốt (sauce) và bậc thầy về gia vị”, người đã dạy Preston phần lớn cách nêm nếm, sử dụng gia vị. Trong cuộc thi vừa qua, cha mẹ Preston là những người phụ bếp cho em khi mỗi đầu bếp tranh tài có được hai phụ bếp phụ giúp. Họ là một “golden team” đáng gờm trong bất cứ cuộc thi nào khi cha mẹ Preston cũng có sở trường và đầy kinh nghiệm nấu ăn. Có lẽ đó là lý do anh Peter Nguyễn hiện cũng đã quay lại El Centro College để học nấu ăn toàn thời gian cùng với con trai.

Preston và cha mẹ

Preston cho biết đã sử dụng một số gia vị Việt Nam trong các vòng thi của cuộc thi vừa qua như nước mắm, nước tương, bột năng, bột gạo, nghệ, hạt mè, ớt hiểm, cánh hồi, các loại rau thơm, dưa leo… để gia tăng và làm độc đáo thêm các hương vị món ăn của mình. Preston bảo chiếc bánh xèo mà em làm ăn như bánh xèo truyền thống Việt Nam nhưng có nhân và phong cách hoàn toàn mới lạ.

Dù còn mới mẻ trong các cuộc so tài nấu ăn, qua 6 vòng tranh tài với các đầu bếp thượng thặng, Preston bảo rằng em tự tin là bây giờ mình đã có đủ khả năng để chế biến những món ăn hàng đầu. Có lẽ Preston không quá lời bởi tờ Texas Monthly đã đề tựa rằng “Chàng thanh niên Arlington 19 tuổi có thể là đầu bếp giỏi nhất thế giới” khi viết về Preston Nguyễn và cuộc thi nấu ăn thế giới bên trên.

Khi được hỏi về các mục tiêu ngắn và dài hạn, Preston cho biết em sẽ tiếp tục theo học nấu ăn, trau dồi nghề nghiệp, huấn luyện với các nhà hàng địa phương và chuẩn bị các cách chế biến, gia vị các món ăn cho những cuộc thi nấu ăn sắp đến mà em tham dự, trong đó có một cuộc thi vào tháng 11 tới.

Về lâu dài, Preston Nguyễn cho biết có thể em sẽ mở một nhà hàng kết hợp giữa ẩm thực Việt Nam và Mexico với kỹ thuật tân tiến nhằm tôn vinh và mang nét độc đáo riêng trong nền ẩm thực và văn hoá của cả hai quốc gia mà em đang mang giòng máu trong mình đến các thực khách. Preston bảo công việc đầu bếp khá vất vả nhưng khi nhìn thấy thực khách tận hưởng món ăn ngon của mình thì đó là niềm vui rất lớn để đáp trả công sức bỏ vào.

“Dream team” với giải thưởng cho chức vô địch

Ẩm thực không đơn giản chỉ là việc nấu ăn, mà còn là sự kết hợp sáng tạo giữa phương pháp chế biến, gia vị, dinh dưỡng cho đến văn hóa, nghệ thuật cùng sự am hiểu nét đặc sắc, riêng biệt của những nền ẩm thực đa dạng và phong phú của các quốc gia khác.

Trở thành chủ nhân một nhà hàng được xếp hạng Michelin, xuất hiện trên các chương trình ẩm thực truyền hình quốc gia, hay trở thành một tác giả hoặc youtuber dạy nấu ăn có đông đảo người theo… là con đường thử thách và khó khăn cho bất cứ một đầu bếp tài ba nào nếu muốn đề ra mục tiêu hay giấc mơ cuối cùng của mình.

Tài năng và đam mê, con đường của Preston chỉ mới khởi đầu và chắc chắn sẽ còn nhiều cơ hội mở rộng khi giải thưởng quốc tế quan trọng này sẽ là nguồn khích lệ và cảm hứng lớn lao để Preston Nguyễn theo đuổi niềm đam mê của mình.

Congratulations and best wishes, Preston!

ĐYT

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức vị lương y cầm bút

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

May 19th, 2022
Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Tuần trước nữa, Luật Sư Anh Thư nhắn tôi rằng nên đến thăm Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức tại nhà ông. Sức ông đã yếu và ắt cũng đến lúc thanh thản và mãn nguyện chia tay đời sống này. Vậy là cuối tuần, vài người chúng tôi đã cùng ghé thăm ông. Tâm trạng và cảm xúc lẫn lộn, tôi chẳng hình dung trước được cuộc gặp gỡ có thể là lần cuối sẽ như thế nào. Liệu ông có còn đủ tỉnh táo để nhận ra chúng tôi, những người mà phu nhân ông bảo rằng ông luôn có niềm vui mỗi khi gặp gỡ và trò chuyện?

Ông vừa uống thuốc và đang còn thiêm thiếp. Ðể cô con gái chăm cha, chúng tôi ra sau hiên vườn ngồi trò chuyện. Buổi chiều nắng nhạt rọi xuống khu vườn nhỏ xinh xắn nhìn ra con rạch nhỏ. Bình yên và dễ chịu. Tôi đã đến đây vài lần. Nhiều bằng hữu, giới văn nghệ sĩ, báo chí quen biết ông bà đã ngồi đây. Ông là người mực thước, điềm đạm nhưng lại quảng giao với nhiều người, nhiều giới, đặc biệt là những người cầm bút. Cũng có lý do.

Ông không phải là nhà văn nhưng lại là một thầy thuốc cầm bút. Những bài viết, những cuốn sách y khoa thường thức của ông vẫn luôn khởi đầu hay chứa đựng dăm câu ca dao, những điển tích mang cái duyên và sự ý nhị lồng vào, rất nhiều bài viết y khoa được viết bằng một phong cách văn chương riêng biệt. Ông bảo ngoài sự nghiệp y khoa, điều ông vui nhất là đã cầm bút. Ông bảo viết như chạy xe đạp, một khi đã chạy xe được rồi thì chỉ ngồi lên xe là chạy. Cầm bút cũng vậy. Một so sánh thú vị và chính xác từ bác sĩ mà tôi được nghe.

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức và phu nhân trong ngày sinh nhật thứ 84

Hãy thử đọc một trích đoạn kết thúc bài viết “Tử Biệt” của Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức với tâm thức bình an lẫn thi vị khi nói về sự chết:

“Như Thomas Edison reo lên “Bên kia thế giới sao mà đẹp”- “It is beautiful over there”!

Và bình thản đợi chờ như nhà văn lão thành Mặc Thu viết nhân chuyến “tiễn đưa” nhà văn Mai Thảo.

Sân ga thấp thoáng bóng người già,

Họ sẵn sàng về cõi thật xa.

Hình như trong đám trông chờ ấy,

Có bạn thân tình, có cả ta.

Vâng. Có cả ta.”

Tử Biệt- BS Nguyễn Ý Đức

Một chương trình của Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức trên Youtube

Chúng tôi uống cà phê, nghe chị Thúy Loan, phu nhân của bác sĩ tâm tình. Chúng tôi vẫn quen gọi bằng chị bởi sự thân tình nhưng quả thật trông chị trẻ và khoẻ hơn rất nhiều so với cái tuổi của mình. Có quá nhiều điều để kể, để chia sẻ về cuộc hôn nhân trên dưới 60 năm qua giữa một thiếu nữ trường Tây rồi trường Luật với người bác sĩ tài ba. Chúng tôi gặp chị không ít lần, nhưng có lẽ trong tâm trạng và cảm xúc như vậy mới được chị chia sẻ dăm điều riêng tư về mình, về bác sĩ lẫn tâm nguyện của ông. Chúng tôi ngồi nghe nhiều hơn nói, nghe một phụ nữ trí thức đầy nét quý phái chia sẻ chân thành về cuộc đời, lẫn dăm chút tôn giáo và triết học mà chị yêu thích và chiêm nghiệm.

Ông tốt nghiệp Ðại Học Y Khoa Sài Gòn, rồi tiến sĩ Y Khoa, hành nghề từ trong nước cho đến khi qua đến Mỹ năm 1975. Ông định cư và tiếp tục hành nghề tại Baton Rouge thuộc tiểu bang Louisiana, dự phần vào các hoạt động cộng đồng và các tổ chức chuyên môn khi trở thành Chủ Tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Việt Nam tại Baton Rouge và Chủ Tịch Hội Y Sĩ Việt Nam tại Louisiana. Sau khi về hưu, ông mới cùng gia đình chuyển về thành phố Arlington thuộc khu vực Dallas-Fort Worth, tiểu bang Texas, dồn thời gian và sức lực cho việc mang thông tin y tế hữu dụng đến đồng hương, điều mà phu nhân ông kể rằng đã được ông chuẩn bị từ hàng chục năm trước.

Về hưu hơn 20 năm qua, ông đem tất cả những sở học của mình để viết báo, in sách, xuất hiện trên các hệ thống truyền thanh lẫn truyền hình của hầu hết các cơ quan truyền thông người Việt hải ngoại, kể cả trong nước. Y khoa đâu có những làn ranh như gán đặt của dăm người. Người nghèo ở đâu cũng thiếu hụt sự chăm sóc y tế và những kiến thức y khoa thường thức, họ cần những vị lương y có tấm lòng như ông và những điều ông đã làm. Hàng chục cuốn sách y tế thường thức của ông để lại là một công trình ý nghĩa và đầy tâm huyết.

Vợ chồng BS Nguyễn Ý Đức cùng giới truyền thông từ Washington DC

Ðiện thoại reng chuông. Con gái chị báo tin ông đã tỉnh dậy.

Chúng tôi vào lại phòng. Ông mở mắt, nắm tay từng người, đôi mắt tinh anh lẫn nụ cười dường như vẫn còn bày tỏ được cảm xúc lẫn sự cảm kích. Nếu ông không nằm trên giường bệnh, tôi ngỡ như vẫn đang gặp, đang nói đùa với vị bác sĩ có nụ cười chân thành, phong cách tao nhã mà bao lần tôi đã gặp. Anh em đứng quanh giường bệnh, đọc thơ và hát cho ông nghe. Vẫn cười đùa, nói vui dăm câu. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp nắm tay rồi đọc cho bác sĩ nghe một bài thơ. Nhìn phu nhân ông cúi xuống hôn nhẹ lên ông. Ðẹp gì đâu. Tôi vừa xúc động, vừa vui với một cuộc đời đã có nhiều trọn vẹn, dù có thể ông cũng không tránh khỏi lắm thử thách hay lúc trăn trở tất nhiên như bất cứ ai khác.

Vài ngày sau, hồi tuần qua tôi được báo tin ông đã mất. Lúc 3:12 sáng ngày 5 Tháng 5. Dù biết sẽ đến và đến nhanh, tôi vẫn bần thần, suy nghĩ. Cuộc chia tay nào mà không bồi hồi, không để lại lắm nỗi ngậm ngùi. Nhưng có cần gì phải bi lụy, xót xa. Cứ sống chân tình, tốt lành như ông rồi đến lúc thanh thản chia tay, để lại sự quý mến cho nhiều người từng có hạnh duyên gặp gỡ hay biết ông qua những trang viết. Hơn thế nữa, là sự cảm phục và trân trọng của một thế hệ trẻ hơn như chúng tôi trước những gì ông đã đóng góp, đã mang sở học của mình để phục vụ, giúp ích cho tha nhân trong vài chục năm qua. Mấy ai làm được và có được đời sống như vậy.

Ðó là cuộc đời của Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức mà tôi đã biết và kính mến.

Ra đi thanh thản nhé bác sĩ. Chúng em vẫn giữ nguyên vẹn lòng quý mến và ngưỡng mộ trước những hy sinh và phục vụ tha nhân một  cách tài hoa như bác sĩ.

Vợ chồng BS Nguyễn Ý Đức và con cháu

Dallas 5/2022

ĐYT

Ai nhớ chăng ai

baotreonline.com

Tám Vạn

Post on April 12th, 2024
Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

Ðôi nhân tình tuổi đời còn rất trẻ và mang trong người lòng nhiệt huyết của tuổi thanh niên. Họ là những thành viên đắc lực của quân đội Việt Minh những năm 50. Tạm chia tay với người yêu, chàng về thăm gia đình và chứng kiến 2 người anh ruột bị Việt Minh thảm sát. Đường về nẻo cũ sao bỗng lạ xa và mối duyên xưa chàng thôi đành lỗi hẹn.

Hiệp định Genève chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, mối tình thật đẹp trai tài, gái sắc mãi mãi bị cắt chia bởi một dòng sông. Di tản vào Sài-Gòn, chàng dựng xây cuộc đời mới trên một quê hương trù phú. Vợ con đề huề, hạnh phúc ấm êm nhưng trong lòng chàng vẫn không nguôi nhớ thương người yêu cũ. Tin tức từ quê nhà Quảng-Trị cho biết, đứa con chung là kết quả của mối tình thơ mộng ấy khiến tâm tư chàng ray rứt khó nguôi. Ở bên kia bờ vĩ tuyến, nàng là một nữ văn công lẫy lừng tên tuổi và đã nhiều lần đặt chân đến xứ người cũng như tận miền Đông Âu xa xôi để cất cao tiếng hát. Trong một chuyến trình diễn ở Nam-Vang, chàng đã bất chấp hiểm nguy tìm đến để gặp lại người yêu cũ cũng như tin tức đứa con chưa biết mặt cha. Nếu nàng không quá dè dặt và nén được nỗi hận hờn, có lẽ đôi tình nhân ấy đã đưa nhau trở về chốn cũ để nối tiếp cung đàn một thời dang dở.

Ở miền Nam thanh bình thịnh trị, giới thưởng ngoạn vẫn thấp thoáng tìm thấy bóng hình người em năm cũ và hiển hiện đâu đó thật gần trong từng tác phẩm nghệ thuật của chàng. “Ai nhớ chăng ai” là một trong rất nhiều nhạc phẩm mà nhạc sĩ họ Hoàng đã khắc họa rõ nét mối tình thật đẹp nhưng lại nhuốm màu chia ly, dang dở. Những ngày quen nhau rồi yêu nhau giữa đất trời in đậm màu yêu đương rạng rỡ:

Ai nhớ chăng những chiều

Những chiều gặp gỡ nhau trên cầu

Nước trời xanh ngắt in một màu

Lặng nhìn nhau hồi lâu lâu

Rồi tình ta càng ăn sâu

Sâu mối duyên ban đầu

Ca sĩ Tân Nhân

Lá không xanh, cành không thắm, đôi uyên ương phải xa rời nhau mãi mãi. Dù kỷ niệm buổi chiều chia ly ngày đó chưa hề nhạt phai nhưng người con gái âm thầm tiễn đưa người yêu giữa khi đất trời mưa lệ tuôn rơi:

Ai nhớ chăng ai

Ai nhớ chăng hôm nào

Hôm nào mưa rớt trên sông dài

Trên đồng em tiễn anh một chiều

Chiều chia ly còn chưa phai

Trời buồn khóc giùm duyên ai

Giọt lệ tuôn ngắn dài

Trong một tác phẩm âm nhạc được xuất bản vào năm 1956 ở Sài-Gòn, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã cho in lên trang đầu của quyển sách dòng chữ “Thân yêu gửi Tân Nhân”. Với ông, tình yêu ấy là mối tình “tha thiết nhất trong đời, không nói nên bằng lời” và chưa hề bị lãng quên dẫu cho thời gian đã phủ lên những ngày ái ân một lớp bụi mờ. Bao nhiêu năm dâu biển trôi nhanh, người ở 2 bờ giới tuyến cũng đã lìa xa cõi tạm. Đất nước dù đã mất, nhưng gia tài âm nhạc Việt-Nam vẫn còn trong trái tim của khán thính giả yêu nhạc gần xa. Với con tim mẫn cảm, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã góp phần cho nền âm nhạc nước nhà được phong phú hơn. Nước sông có dòng trong, dòng đục và dòng nước trong mát đó đã đưa con thuyền nghệ thuật của ông xuôi về bến tự do. Như tâm ý của tác giả, xin mượn lời cuối để tưởng nhớ mối tình đẹp như thơ nhưng không đoạn kết, mối tình không may như chim xa cành, như bướm lìa hoa và ngày trùng phùng giữa một quê hương tan tác hãy còn xa xôi lắm.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, ca sĩ Thúy Nga và các con

TV

Chữ của quê tui!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 7 Jul 2024

Hồi học trung học Petrus Ký đệ nhứt cấp, đệ thất tới đệ tứ, môn Quốc Văn mỗi tuần được sáu giờ, sáu giờ chứ không phải sáu tiết, chia làm hai phần: Cổ Văn và Kim Văn.
Kim Văn là văn học hiện đại nhưng học trò mười mấy tuổi như tui tìm đỏ con mắt mà không có một tác giả miền Nam nào hết: Hồ Biểu Chánh không, Phi Vân không, Bình Nguyên Lộc không, Sơn Nam cũng không luôn! Chỉ toàn là Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo trong Tự Lực Văn Đoàn.
Tui đọc Đoạn Tuyệt với Dũng và Loan; Tiêu Sơn Tráng Sĩ với Phạm Thái và Quỳnh Như; còn những nhà văn Nam Kỳ không có một bóng… chớ nói chi tới hình?!

***

Nhớ cô dạy môn Quốc Văn lớp Đệ Lục, chọn bài ‘Hoa Súng’ của ông Đinh Gia Trinh, đăng trên báo Thanh Nghị số 74!
Nhưng trước khi tả Hoa Súng, ông tả Hoa sen. (Hoa Súng, Hoa Sen ngoài Bắc; còn quê mình, trong nầy gọi là Bông Súng, Bông Sen).
“Dọc đườmg đất quanh co, hai bên đầm rộng, ngòi dài. Cuối Thu, sen đã tàn còn để rớt lại trên mặt nước những lá nhăn nheo như buồn một nỗi buồn li biệt…
…Trên suốt một dải đầm sen, chỉ có lá cây súng tròn như một cái bánh đa, nổi trên mặt nước, duyên keo kết với nước, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của đất trời. Có những chiếc lá hơi tím vàng, có chiếc còn xanh mơn mởn. Nước phô bày một màu áo, như xô đẩ lên trên mặt một linh hồn. Giữa đám lá tẻ ngắt, bỗng ở phía bên kia hồ xa cách đường cái không bao nhiêu, lộ một bông hoa súng màu thanh thiên…
…Rồi cách đây một năm, cuối mùa thu vào chơi làng Triều Khúc ở Hà Đông, …, tôi mới lại được trông thấy một bông hoa súng đúng lúc vừa vặn nở ở một cái ao nhỏ gần một cái quán đầu làng. Vẫn hoa cô lập ngoi lên mặt nước độ hai gang tay, cánh bao dưới màu phớt nâu, cánh hoa thon thon, màu thiên thanh man mác, làm rạng cả mặt hồ.”

***

Quê nhà! Tui không biết đầm rộng, ngòi dài. Không biết thì làm sao mà thấy mà ‘cảm’ cho được. Nên cái hay này chỉ lớt lớt bên ngoài như xức thuốc đỏ, vậy thôi! Đọc thì kêu ‘rốp rẻn’! Rằng hay thì thiệt là hay nhưng đọc để ‘cảm’ thì không có gì; vì cái lối viết vòng vo Tam quốc, chạy vòng vòng như đèn cù (đèn kéo quân) nầy.
Cô dạy môn Quốc văn của tui bảo đó là lối nhập đề lung khởi. Còn các nhà văn miền Nam lại khoái cái lối nhập đề trực khởi hơn; nghĩa là vô đề một cái rẹt hè.
Nhập đề cái rẹt, không làm mất thời giờ vàng bạc của độc giả, hổng phải là dỡ ẹc đâu nhe. Bằng chứng là câu ca dao miền Tây Lục tỉnh quê mình: “Đôi mình mới gặp hôm nay. Cho hun một cái, em hai đừng phiền! Thì em cười chúm chiếm mà rằng: “Có hun thì hun cho liền! Đừng làm thổ lộ, láng giềng cười em”
Sao mà tôi thương chữ ‘hun’ này biết bao nhiêu mà kể?! Vì hun là ‘giựt giựt’ đôi môi rồi lan ra cả toàn thân, là khoái lắm hè!

***

Sau nầy hơi trộng trộng, biết ‘ve’ gái, tui áp dụng cái nhập đề trực khởi nầy chớ không bắt chước con gà trống chạy vòng vòng con gà mái, xòe dãy lông háo hức ra như Lữ Bố hí Điêu Thuyền. Vì làm như thế rất mất công, bởi tui vốn là thằng làm biếng!
Cái lối vô cái rẹt nầy đối với mấy em miền Nam mình, kết quả ăn hay thua như đánh bài ba lá, cứ giở ra là mình biết liền hè. Thua thì mình đi ‘ve’ em khác!
Đời ngắn lắm, đâu có quởn mà ‘ngày ấy cây si anh trồng ngay lối đi’ mà chi; cho chúng nó khi: mặt mày sáng láng mà ngu như con gà ‘rù’!
Nhưng mấy anh mình nhớ, đừng chơi chiêu trực khởi với mấy em gốc Bắc 54; vì chưa giở bài ra mình đã biết thua là cái chắc.
Để thử nghiệm, coi nghĩ vậy có trúng hay không, nên một hôm, tan học, tui ngóng cổ chờ một em Bắc Kỳ chín nút từ trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm, yểu điệu thục nữ ló ra; để tỏ chút lòng yêu!
Thì em biểu môi: “Giời ạ! Ve gái là phải từ từ vòng ngoài rồi mới vào tới vòng trong! Mới sơ bộ mà tính chiếm lũy đoạt thành như ăn cướp đánh vậy anh Hai?”
Phán xong kết quả em cười he he; còn tui về nhà khóc hu hu như ông Tú Xương mới vừa thi rớt Cữ nhân lần thứ 7.

***

Đó là bàn về kỹ thuật nhập đề! Mà trước khi nhập đề thì mình phải có cái đề tài, tìm nó ở đâu? Các nhà văn quê mình chỉ ra rằng: “Kiếm thẳng từ cuộc đời; (đi và viết); chớ đừng ăn không ngồi rồi, bắn thuốc lào ro ro mà ‘tưởng tượng’ để vẽ ra ‘con voi’.
Đọc Sơn Nam, môt nhà văn tiêu biểu cho cái trường phái: “Đời đẻ ra Văn”; tôi tìm ra được một giai thoại rất thú vị.
Nguyễn Quang Sáng kể rằng: “Khi ông chưa viết văn, thì Sơn Nam đã là nhà văn nổi tiếng. Quê ông Sáng có nhiều câu chuyện rất ly kỳ, ông muốn kể cho Sơn Nam nghe để viết.
Nhưng Sơn Nam lắc đầu từ chối: “Vùng đó tao không biết. Tao thấy rặng cây từ xa thôi. Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!”.
Theo quan niệm sáng tác của Sơn Nam: chưa có vốn sống, chưa hiểu biết, chưa trải nghiệm thì không nên viết ẩu! Chuyện gì biết thì viết; không biết thì tra cứu; thì đi hỏi bà con mình chớ không viết ẩu rồi viết trật lất.

***

Đó là cách tìm đề tài; còn cách dùng chữ của những nhà văn quê mình thì sao hè?
Xin quý độc giả thân mến của tui đọc lại một đoạn trong “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, mà thầy Võ văn Dung dạy thêm ngoài chương trình chính thức cho người viết vào năm 1963, lớp đệ thất 5, trường Petrus Ký:
“Độ rày cậu làm gì, cậu hai? Hoa lại hỏi. “Cũng hổng cần làm gì. À, tôi có tự túc một bầy gà Huê Kỳ, coi bộ tương lai “quá khứ” ?
“Tự túc là gì cậu? Hương hỏi thật tình” “Tự túc là nuôi, chớ là gì!”
“Vậy hà, còn tương lai “quá khứ”?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là “quá sá”. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói “phạm vi”. Thù vặt họ nói “cá nhân”, nghe hay “quá khứ”.
Hoa và Quá núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt.
Cô Quá, mặt mày còn đỏ rần, bước ra khỏi chỗ núp nói: “Hôm nay cậu mặt đồ xanh, trông đẹp trai “quá khứ” nhưng cậu lại “phạm vi” về đôi dép. Dép phải quay màu đỏ mới ăn với màu xanh nầy. Tôi tính thiệt nói ngay, cậu đừng có “cá nhân” tôi nghen!” “Tôi người quân tử mà, ai lại “cá nhân” cô”.
Công tử Quờn chẳng qua là khoái chữ, nhứt là từ Hán Việt cho nó sang chảnh, nên xài loạn lên, trạng từ chỉ thời gian quá khứ’ thành trạng từ chỉ mức độ, là ‘quá xá. Danh từ thành động từ! “Cá nhân’ công tử Quờn xài, theo tui : “Xin đừng ghét bỏ, đừng thù vặt thì nói đại cho rồi, cho nó rõ nghĩa phải không nè?!

***

Rồi sau 75, có nhiều công tử Quờn, từ đồng bưng về thành, dùng chữ cũng làm mình hết hồn, mất vía lắm đó!
Năm nẫm, người viết kiếm đường vượt biên, về quê vợ ở Cà Mau, phường Tám, nhậu với mấy thầy chú để tìm mua bãi, nghe một thầy chú kể rằng: “Thằng Chiến Thắng, tên của thầy chú, nhậu cho đã, nực… còn xuống kinh Rạch Rập lội rồi chết chìm. Thiệt là lãng mạn!”
Nghe cán bộ nói vậy, tui ‘ngẩn tò te’ (?!) Té ra cán bộ muốn nói thằng Chiến Thắng chết ‘lãng xẹt’. Cán bộ làm tôi nhớ ‘Đò Dọc’ quá chừng chừng !
Đọc Đò Dọc, nghe công tử Quờn, rồi nghe cán bộ Cà Mau ‘phán’, tôi đâm ra ‘ón’ từ Hán Việt. Chữ nào bình dị, dân dã mà thâm trầm, sâu sắc là tui lượm về bỏ vô bài văn của mình chớ không ‘a dua’, chạy theo cái trường phái màu mè, khoe mẻ; viết vòng vòng rồi hổng biết đường ra. Viết không cần ai hiểu mà chỉ để khoe thôi!
Vậy là tui đi tìm ông Hồ Biểu Chánh, ông Vương Hồng Sển, ông Bình Nguyên Lộc, ông Sơn Nam để học cách dùng chữ của mấy bậc ‘tiền bối’ nầy coi chữ mấy ổng dùng có ‘rối’ như tiếng Việt bây giờ hay không?
Thì tìm được một giai thoại khá thú vị khi nghe nhà văn Sơn Nam dạy đời một người bạn vong niên rằng: “Có gặp thằng Tín, nói tôi nhắn với nó chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi này mà làm thơ là húp nước mắm!”

***

Chữ ‘húp nước mắm’ của nhà văn Sơn Nam là ‘chữ của quê tui’. Chữ của quê hương, giờ cách xa hàng ngàn hải lý, làm tui nhớ quê nhà tha thiết lắm …Má ơi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.