Gia Định xưa

baotreonline.com

Trang Nguyên

Post on January 5th, 2024

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Gia Định, tỉnh lớn nhất, giữ vị trí quan trọng trong Lục tỉnh Nam kỳ thời nhà Nguyễn. Thậm chí nơi đây từng là kinh đô thời chúa Nguyễn với tên gọi Gia Định kinh với thành Gia Định nằm giữa Sài Gòn …

Quận Gò Vấp khi bắt đầu có đường xe lửa đi Gò Vấp (Nguồn: Manhhaiflickr)   

Tỉnh Gia Định đầu thế kỷ 20

Ngược về thời gian nhắc đến tỉnh Gia Định khá dài dòng, nên tôi chỉ muốn nói đến Gia Định từ thời gian Pháp bình định miền Nam cho đến 1975. Đến 1889, Gia Định vẫn là một trong 20 tỉnh của cả Nam kỳ Lục tỉnh cũ. Tỉnh Gia Định bao gồm 18 tổng với 200 xã, thôn. Khoảng năm 1900 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh, từ đó hạt tham biện Gia Định trở thành tỉnh Gia Định. Tỉnh lỵ của tỉnh Gia Định vẫn đặt tại làng Bình Hòa, có dinh Tỉnh trưởng (nay là trụ sở UBND quận Bình Thạnh, nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu).

Sau đó, để tiện việc điều hành, quản trị công việc hành chánh, chính quyền phân chia tỉnh Gia Định chia thành 4 quận: Thủ Đức, Nhà Bè, Gò Vấp và Hóc Môn. Vùng đất Bình Thạnh ngày nay thuộc về tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, tương ứng với 2 làng Bình Hòa Xã và Thạnh Mỹ Tây, là trung tâm của Gia Định. Lúc này có một tuyến xe lửa (sau này là xe điện) đi từ trung tâm Sài Gòn về hướng Gò Vấp – Hóc Môn. So với thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn thì địa bàn tỉnh Gia Định vẫn rất rộng (1,840 km2).

Năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh vào Nam thăm thú viết trong tập du ký Một Tháng Ở Nam Kỳ nói về tỉnh Gia Định như sau: “Gần Sài Gòn có tỉnh lỵ Gia Định, cách đô thành một cây lô mét. Có con đường lớn đi vòng quanh, hồi xưa những người Tây ở Sài Gòn lấy làm chỗ đi chơi mát buổi chiều vui lắm, tức như con đường đê Parraud ở Hà Nội vậy. Nay có con đường xe lửa nhỏ, qua Gia Định, Gò Vấp, tới Hóc Môn. Đất Gia Định là đất cổ nhất ở Nam Bộ, có liên hệ lịch sử bản triều nhiều lắm. Khi bản triều mới khai thác xứ Nam dựng cơ sở ở đấy. Rồi sau Đức Cao Hoàng ta hưng đế nghiệp, đánh Tây Sơn, đặt Nam trấn cũng ở đó. Cho nên trước kia cái tên Gia Định thường dùng để chỉ chung cả đất Nam kỳ vậy”.

Ngày 11 tháng 5 năm 1944, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định tách một số vùng (nằm kế cận Khu Sài Gòn – Chợ Lớn) của tỉnh Gia Định để lập tỉnh Tân Bình, tỉnh lỵ tỉnh Tân Bình đặt tại làng Phú Nhuận (nay là quận Phú Nhuận). Tỉnh Tân Bình khi đó có duy nhất một quận là quận Châu Thành (lập ngày 19 tháng 9 năm 1944). Làng Bình Hòa Xã và làng Thạnh Mỹ Tây (tức Bình Thạnh ngày nay) khi đó thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Tân Bình. Tỉnh Tân Bình tồn tại đến tháng 8 năm 1945 thì giải thể. Làng Bình Hòa Xã và làng Thạnh Mỹ Tây trở lại thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định cho đến năm 1956.

Bản đồ tỉnh Gia Định năm 1920 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Phân chia các quận tỉnh Gia Định

Thủ Đức là một quận của tỉnh Gia Định, có một quá trình chia, tách, nhập ranh giới khá phức tạp giữa các vùng Gia Định, Biên Hòa và Sài Gòn. Trước khi Pháp chiếm Nam Kỳ, vùng đất Thủ Đức ngày nay tương ứng với phần lớn huyện Ngãi An của phủ Phước Long và huyện Long Thành của phủ Phước Tuy, đều thuộc tỉnh Biên Hòa. Thủ Đức nằm trên một vùng đất gò đồi tương đối cao. Theo lịch sử thì khoảng đầu thế kỷ 18 đã có một người Minh Hương tên là Tạ Dương Minh (Tạ Huy) cùng với một số cư dân người Việt, Champa, Chân Lạp khai khẩn đất hoang vùng đất này. Tên hiệu của ông là Thủ Đức, về sau được lấy để đặt tên cho vùng đất này. Khu vực chợ Thủ Đức trên đường Võ Văn Ngân ngày nay (trước là đường Hoàng Diệu) chính là trung tâm hành chánh của quận Thủ Đức.

Thủ Đức bao gồm luôn cả vùng Quận 2 và Quận 9 sau này. Năm 1966, xã An Khánh được cắt ra khỏi Quận Thủ Đức để ghép vào Quận 1 của Đô thành Sài Gòn, nhưng chỉ 1 năm sau thì An Khánh lại được tách ra để trở thành Quận 9 (Sài Gòn) vào năm 1967.

Quận Gò Vấp bao gồm 3 tổng: Dương Hòa Thượng, Bình Trị Hạ, Bình Trị Thượng với 37 làng trực thuộc. Từ năm 1940 đến năm 1953 nhiều làng được sáp nhập, còn lại 24 làng, bao gồm cả vùng đất các quận Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Quận 12 và một phần các huyện Bình Chánh, Hóc Môn ngày nay. Vào thời gian này làng Tân Sơn Nhứt (ngày nay gọi là Tân Sơn Nhất) không còn sau khi thực dân Pháp trưng dụng để xây dựng sân bay Tân Sơn Nhứt.

Nhắc lại một chút về việc tách một phần quận Gò Vấp thành lập tỉnh Tân Bình đã nói ở trên. Năm 1944, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định tách 17 làng và một số vùng (nằm kế cận Khu Sài Gòn – Chợ Lớn) của tỉnh Gia Định để lập tỉnh Tân Bình. Lúc này, vùng đất quận Gò Vấp bao gồm toàn bộ tổng Dương Hòa Thượng (có 7 làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Hoà, Tân Hòa, Vĩnh Lộc và Phú Thọ Hoà), 5 làng (Hanh Thông Xã, Hanh Thông Tây, Bình Hòa Xã, Thạnh Mỹ Tây và An Hội) thuộc tổng Bình Trị Thượng được giao cho tỉnh Tân Bình cai quản. Tỉnh Tân Bình khi đó có duy nhất một quận là quận Châu Thành. Tuy nhiên Tỉnh Tân Bình tồn tại đến tháng 8 năm 1945 thì giải thể. Các làng trên đều trở lại thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

Toà bố Gia Định đặt tại làng Bình Hoà nay là UBND quận Bình Thạnh (Nguồn: Manhhaiflickr)

Quận Hóc Môn, trước thuộc huyện Bình Long, sau cuộc khởi nghĩa 18 thôn vườn trầu (1885), chính quyền Pháp chính thức đổi tên huyện Bình Long thành quận Hóc Môn, có quận lỵ tại khu vực chợ Hóc Môn. Quận Hóc Môn giai đoạn 1885-1945 thuộc tỉnh Gia Định là một vùng đất rộng lớn bao gồm 4 tổng: Tổng Long Tuy Thượng, Tổng Long Tuy Hạ, Tổng Long Tuy Trung và Tổng Bình Thạnh Trung nằm trên địa bàn của 3 quận huyện: Hóc Môn, Củ Chi và Quận 12 ngày nay.

Quận Nhà Bè có 4 tổng: Bình Trị Hạ, Dương Hòa Hạ, An Thít (còn gọi là An Thịt) và Cần Giờ. Trong đó, 2 tổng Bình Trị Hạ và Dương Hòa Hạ tương đương với địa bàn huyện Nhà Bè ngày nay. Năm 1947, hai tổng: Cần Giờ và An Thít của quận Nhà Bè tách khỏi tỉnh Gia Định, chuyển sang thuộc tỉnh Vũng Tàu, lập mới quận Cần Giờ thuộc tỉnh Vũng Tàu (đến năm 1952 tỉnh này đổi thành thị xã Vũng Tàu). Quận Cần Giờ gồm 2 tổng: Cần Giờ và An Thít.

Năm 1955, quận Nhà Bè có 11 làng: Tổng Bình Trị Hạ có 5 làng: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông và Tân Thuận Đông; Tổng Dương Hòa Hạ có 6 làng: Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ. Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Quận lỵ Nhà Bè đặt tại xã Phú Xuân Hội. Năm 1957, chính quyền cắt 4 xã: Long Đức, Nhơn Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ của tổng Dương Hòa Hạ, quận Nhà Bè chuyển sang thuộc quận Cần Giuộc, tỉnh Long An. Riêng 2 xã: Long Kiểng và Phước Lộc Thôn của tổng này nhập vào tổng Bình Trị Hạ, quận Nhà Bè. Quận Nhà Bè còn 01 tổng là Bình Trị Hạ với 7 xã. Vài năm sau đó, 2 xã Long Đức và Nhơn Đức thuộc tổng Dương Hòa Hạ, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An trả lại cho quận Nhà Bè (nhập vào tổng Bình Trị Hạ). Như thế quận Nhà Bè có 9 xã.

Năm 1956, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, tỉnh Gia Định gồm có 6 quận, 10 tổng và 61 xã: Quận Gò Vấp có 1 tổng Bình Trị Thượng; quận lỵ: Hạnh Thông Xã. Quận Tân Bình có 1 tổng Dương Hòa Thượng; quận lỵ: xã Phú Nhuận. Quận Hóc Môn có 2 tổng: Bình Thạnh Trung, Long Bình; quận lỵ: Thới Tam Thôn. Quận Thủ Đức có 2 tổng: An Bình, An Điền; quận lỵ: Linh Đông Xã. Quận Nhà Bè có 1 tổng Bình Trị Hạ; quận lỵ: xã Phú Xuân Hội. Quận Bình Chánh có 3 tổng: Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung, Tân Phong Hạ; quận lỵ: xã Bình Chánh. Năm 1970, Gia Định chia thành 8 quận, ngoài các quận trên còn có: Quận Quảng Xuyên, quận lỵ: An Thới Đông. Quận Cần Giờ, quận lỵ: Cần Thạnh.

Khung cảnh đường làng của quận Thủ Đức đầu thế kỷ 20 (Nguồn: Manhhaiflickr)

TN

Cầu chữ Y và cuộc chiến Bình Xuyên

baotreonline.com

Trang Nguyên

Post on December 2nd, 2023

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

“Nhất Y, nhì Mống, tam Bông, tứ Đường, năm Nghè, sáu Lợi” là câu vần nói về sáu cây cầu xưa, nổi tiếng ở Sài Gòn. Đó là cầu chữ Y, cầu Mống, cầu Bông, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Thị Nghè và cầu Bình Lợi.

Cầu chữ Y thập niên 1960 là một cây cầu chiến lược kinh tế do Pháp xây dựng (Nguồn: Manhhaiflickr)   

Vì sao phải là nhất Y? Cầu chữ Y khởi công vào năm 1938 đến năm 1941 thì mới khánh thành. Trước đó, cầu Quay (Le pont tournant) được xây năm 1904 trên kênh Tàu Hủ, theo một thiết kế độc đáo, cầu có thể quay ở nhịp giữa vào thời gian nhất định trong ngày để mở đường cho tàu thuyền qua lại dễ dàng. Một giải pháp tuyệt vời cho việc lưu thông ở những vùng có nhiều sông rạch.

Trước đó chút nữa thì có cầu Bình Lợi vượt sông Sài Gòn xây dựng năm 1902 để kết hợp đường bộ và đường sắt đi miền Trung, hay cầu Tân Thuận bắc qua kênh Tẻ xây năm 1905 nối liền lưu thông đường bộ từ các cảng sông Sài Gòn vào trung tâm thành phố. Và còn nhiều cây cầu có tuổi đời nhiều hơn cầu chữ Y. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là cầu chữ Y có hình dáng thiết kế đặc biệt, bắc qua vàm (ngã ba kênh rạch hoặc sông) kênh Đôi và kênh Tàu Hủ, tạo một điểm nhấn mới lạ. Cũng như cầu Ba Cẳng trên vàm kênh Hàng Bàng ở Chợ Lớn. Đây là một cây cầu kết hợp 3 cánh cung dành cho người đi bộ do người Pháp xây dựng vào đầu thế kỷ 20.

Cầu chữ Y nhìn từ hướng đường Nguyễn Biểu (Nguồn: Manhhaiflickr)

Một người bạn của tôi có sở thích chụp ảnh các cây cầu ở Sài Gòn-Chợ Lớn, giải thích việc xếp hạng của dân gian (thời nay) đối với cây cầu chỉ là khái niệm thuận miệng nói cho vui, dựa theo câu truyền miệng của học sinh phổ thông khi chọn nghề nghiệp của mình trong tương lai vào những năm cuối thập niên 1970, “nhất Y nhì Dược, tạm được Bách khoa, Sư phạm bỏ qua, Nông dân xin kiếu”, hay “chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm”. Đây là giai đoạn hình như không chỉ có học sinh mà cả một số phụ huynh, người lớn có quan điểm cuộc sống thực tế xem nhẹ nghề giáo. Mặc dầu trước 1975, sư phạm là một nghề đáng kính trong xã hội và lương bổng khá hậu hĩnh trong thang lương công chức.

Chuyện ngoài lề của cầu chữ Y nói lan man đôi chút cho thêm ý vị. Lần đầu tiên tôi biết cầu chữ Y là khi ghé thăm người bạn học ở cuối đường Dạ Nam vào năm 1978. Khi ấy từ đường Nguyễn Biểu chạy đến giữa cầu mới thấy nhánh rẽ của chữ Y. Rẽ hướng nào đây, tôi dừng xe lại bên thành cầu để quan sát, chắc rằng mình không đi vào hướng đường Hưng Phú. Phía sau lưng là kênh Tàu Hủ, lòng kênh đầy ghe bầu san sát. Vào thời gian này, ghe bầu vận chuyển hàng hoá từ miền Tây lên Sài Gòn vẫn còn hữu dụng khi xăng dầu dành cho xe cộ khan hiếm. Phía trước mặt là nhánh cầu nối tiếp bắc qua kênh Đôi rộng lớn hơn, ghe bầu, tàu sắt trọng tải nhỏ cũng nhiều như trên kênh Tàu Hủ. Kênh Đôi là con kênh quan trọng thông thương qua kênh Chợ Đệm về Cần Đước, Bến Lức, có một cảng sông và kho vận lớn dành cho tàu biển theo cửa sông Soài Rạp vào Tiền Giang và Long An mà không phải vào sông Lòng Tàu đến cảng Sài Gòn.

Lê Văn Viễn (mặc đồ trắng) cùng các sĩ quan Bình Xuyên trên cầu chữ Y (Nguồn: Manhhaiflickr)

Binh biến trên cầu chữ Y

Như trên đã nói, cầu chữ Y là một chiến lược kinh tế lưu thông đường bộ kết hợp đường thuỷ mà người Pháp nhìn thấy. Cây cầu hình thành khi ấy phía bên tỉnh Chợ Lớn giáp ranh quận Nhà Bè (tỉnh Gia Định) còn là vùng đất hoang vu, thưa thớt dân cư. Nhờ có cầu, dân chúng các nơi kéo về mưu sinh lập nghiệp. Trong đó không ít có những giang hồ hảo hán tụ tập về đây lập nên hang ổ, kiếm sống bằng nghề cướp bóc, đặc biệt đột kích “ăn hàng” trên các ghe tàu qua lại trên kênh. Do đó, từ thời Pháp, gần sát chân cầu tại điểm giao nhau của 3 nhánh, chính quyền cho xây dựng một điểm canh rất kiên cố, có đội cảnh sát tuần tra thường xuyên trên kênh Tàu Hủ và kênh Đôi để bảo đảm an ninh trật tự.

Năm 1941 khi quân Nhật tiến vào Đông Dương, binh lính đi tàu từ Bắc vào Nam đổ bộ vào các cảng sông đến Tân Thuận theo 2 nhánh qua cầu Khánh Hội và cầu chữ Y để tiến vào Sài Gòn. Dân giang hồ khu vực cầu chữ Y hùa theo lính Nhật nổi dậy đánh chiếm các đồn bót cảnh sát và lính Pháp trú đóng dọc theo kênh Đôi cũng như các vùng Tân Thuận, Tân Quy, Hưng phú, Chánh Hưng, Phú Định. Họ thành lập nhiều lực lượng quân sự chống Pháp tự phát. Trong đó phải kể đến Dương Văn Dương, thủ lĩnh các nhóm giang hồ Nam Bộ sống tại ấp Bình Xuyên làng Chánh Hưng, thống nhất các lực lượng quân sự chống Pháp và lấy tên gọi lực lượng vũ trang của mình là Bộ đội Bình Xuyên.

Báo ngoại quốc đăng tin cuộc binh biến của lực lượng Bình Xuyên bị tiêu diệt (Ảnh: Internet)

Sau khi Dương Văn Dương tử trận vào năm 1946, lực lượng Bình Xuyên bị phân hóa. Sau đó, Lê Văn Viễn một chỉ huy dưới trướng Dương Văn Dương, ly khai và trở thành một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng “Công an Xung phong”, hay còn gọi là lực lượng Bình Xuyên địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Dưới sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó phải kể Casino Grande Monde (Đại Thế giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hóa Nouveautes Catinat. Sau Hiệp định Genève, Bình Xuyên phải sáp nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng ngầm không phục tùng. Năm 1954, khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính thành lập Chính phủ Trung ương và thành lập nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập Chính phủ mới và gửi tối hậu thư buộc Chính phủ phải có tên ông trong nội các. Nội các Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ Tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4 năm 1955 thì quân Bình Xuyên tấn công thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sác.Mấy tháng sau, Tổng thống Ngô Đình Diệm phái Đại tá Dương Văn Minh mở Chiến dịch Hoàng Diệu để truy nã Bình Xuyên tại khu vực Rừng Sác. Quân Bình Xuyên  hoàn toàn bị tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Thủ tướng Ngô Đình Diệm (X) thương thảo với Bảy Viễn (bên phải) tại Dinh Độc Lập năm 1954 (nguồn hinhanhlichsu.org)

TN

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 15

Là chủ gia đình dĩ nhiên Lucia Santa phải lo tổ chức sao cho đứng vững được trước mọi phong ba bão táp của cuộc đời. Con trẻ lớn lên, bà con chết chóc là phải tốn tiền, ngoài bao nhiêu chuyện khác tính không nổi. Năm năm trời sống gay go quá, nhưng rồi cũng qua mau. Tất cả chỉ còn là những kỷ niệm mờ nhạt của một đời người tranh sống. 
Cũng thời gian đó, bà con xóm đại lộ số 10 mất mát đi nhiều chứ? Bằng cớ là đám đàn bà con gái đêm đêm tụ họp nói chuyện tầm phào đâu còn đủ mặt, cũng như bầy con nít nô đùa chạy nhảy ngoài đường nhưng tới mùa hè ấm áp đã giảm nhân số thấy rõ. 
Biến cố lớn nhất là sở Hỏa xa Nữu Ước đã xây một cây cầu nổi băng ngang đại lộ số 10, xe lửa đâu còn chạy xen giữa đám dân đông đúc. Cho nên mấy cậu cao bồi mũ kết, đồng phục oai vệ đêm đêm xách cây đèn đỏ cưỡi ngựa mở đường đâu còn việc làm? Không phải thất nghiệp … mà đành phải chịu phế thải vĩnh viễn. Dĩ nhiên cây cầu sắt cũng cùng chung số phận … nghĩa là tháo gỡ làm sắt vụn. 
Mấy năm sau cả một vùng ngoại ô phía tây còn bị giải tỏa luôn làm đám người di cư vùng xứ sở quen sống chen chúc nhau nay phải rã rời mỗi người một phương lập nghiệp. Thiếu gì người ông cha tổ tiên cùng làng, cùng xóm bao nhiêu đời liên tiếp mà vì đời sống, không thể sống sum họp chung nhau một chỗ? 
Phải nói là Lucia Santa đã gồng mình gánh chịu để đưa gia đình vượt qua bao nhiêu nguy nan cũng trong khoảng thời gian năm năm đó. Hàng xóm người già yếu đi, con nít lớn lên lấy vợ, lại bao nhiêu người thất nghiệp … nhưng gia đình này vẫn vững, dù đám con cái trong nhà không thể không chịu ảnh hưởng xấu mà xã hội Mỹ đã tạo ra cho lớp trẻ lớn lên ở xứ sở này là sự vô trách nhiệm, lơ là bổn phận. Có điều mụ Lucia Santa đâu biết là sức người chẳng thể gánh chịu mãi mà phải yếu dần vì làm sao đi ngược lại vận mạng? 
Mụ đã tạo được thế giới riêng, đích thân ngự trị. Mấy đứa nhỏ sáng dậy còn ngái ngủ từ giường ấm áp nhảy xuống là có sẵn mấy miếng bánh mì bơ, quần áo lành lặn để mặc đi học đã máng sẵn trên lưng ghế dựa, cạnh lò sưởi. Đi học về là thấy mẹ không ủi đồ thì may vá hoặc loay hoay nấu bếp! Mụ chỉ quanh quẩn ra vào nhà bếp, lúc ẩn, lúc hiện như một bà tiên giữa đám hơi nghi ngút. giữa mùi vị ấm áp của tỏi, của nước sốt cà chua và thịt hầm. Còn có chiếc radio kiểu cổ văng vẳng giọng ca mùi mẫn, ngọt ngào của Carlo Buti – một Bing Crosby của dân Ý – phải nói là thần tượng của mấy mụ sồn sồn mặt mỏng quẹt nhăn nhó ưa đội cái mũ cối trắng nhà quê đứng dán mũi nhìn mấy món pate, xúc xích ở tủ kính các tiệm chạp phô đại lộ số 10. 
Với Lucia Santa thì đám con đi học, đi chơi về nhà là cửa mở sẵn sàng, trời giông, trời bão thì trên bàn ăn vẫn cứ có mấy đĩa đồ ăn nóng sốt. Cũng như đêm đêm con ngủ ngon giấc hết rồi mới đến lượt mẹ cố chợp mắt một giấc. Có bao giờ mụ nhắm mắt buông tay không lo cho đàn con? 
Cứ như vậy, ngày tháng năm trôi qua, Lucia Santa sống vì các con, sống rập theo chúng. Có một hôm trời giá lạnh, mụ thui thủi ở nhà một mình. Có thằng Gino ở trường về là hai mẹ con hú hí trọn buổi chiều, chẳng cần nói gì nhiều. 
Gino ngồi yên lặng nhìn mẹ hì hục ủi đồ, bên ngoài trời bắt đầu hoàng hôn. Sau đó nó hếch mũi đánh hơi rồi đi lật từng cái vung nồi để xem bữa nay cơm có món gì. Thấy đầy một nồi rau xào là Gino nhăn mặt chán ngán. Lại một nồi khoai tây luộc nữa! Nó úp sập vung nồi kì kèo: “Bữa nay ăn có thế này sao?” rồi quay qua chiếc radio vặn tuốt sang đài Mỹ. 
Gino muốn phá chỉ vậy thôi. Mẹ nó vừa giơ tay dọa là nó biến. Vả lại nó cũng khoái nghe mấy vở tuồng Ý lắm chứ, nhất là những buổi phát thanh bi ca kịch cổ điển mẹ nó vặn nghe nãy giờ. Đối thoại vô cùng sống động, Gino đủ sức nghe kịp. Nó không giống lối ca kịch rẻ tiền của Mỹ chút nào. 
Đại khái cái mục romance trên radio thì quanh quẩn lại cũng chỉ có đánh đấm đùng đùng, cũng mấy bậc cha mẹ hà khắc làm con cái đau khổ, cũng mấy ông chồng ghen hạ sát tình địch thẳng tay chứ không sắp đặt gì hết. Và nếu vợ có giết chồng thì tất nhiên phải bằng cách đầu độc và … đầu độc bằng một thứ gì đau đớn lắm, phải nghe tiếng kêu rên rùng rợn kìa! Bi ca kịch phải đau thương lâm ly vậy đó thính giả mới khoái. 
Gino vác cuốn sách vừa mượn ở thư viện về đọc dưới nhà bếp. Phía bên kia bàn bà mẹ lo ủi đồ. Cả nhà rộng hẳn vì trơ trụi hai mẹ con, thằng Sal và bé Lena chạy chơi dưới đường, Vincenzo mắc đi làm. Mỗi người một bên bàn, mẹ ủi đồ con đọc sách cho đến khi trời sẫm tối thì Gino mới chịu buông cuốn sách ngước lên thấy mẹ đang đứng nhìn đăm đăm. Nhà bếp lúc bấy giờ rõ ràng có mùi tỏi phi mỡ và mùi khoai chiên thơm thơm. Mẹ nó đưa tay bật đèn. 
Gino mỉm cười với mẹ rồi cúi xuống chăm chú đọc sách. Lúc bấy giờ mụ Lucia đã thanh toán xong đống đồ ủi, liếc nhìn con. Thằng này có mấy khi nó cười? Gino đã lớn bộn, cử chỉ chững chạc đàng hoàng chứ đâu có lí lắc như hồi trước? Nó có vẻ lì lợm, cứng đầu và lâu lâu cũng ngang ngang như bố nó vậy. Mụ mang đi cất xếp đồ vừa ủi rồi trở về nhà bếp, hí hoáy gọt khoai xắt thật mỏng và đặt chảo lên bếp. 
Mỡ nổ tí tách trong chảo, những miếng khoai nhỏ đã vàng đều, Lucia Santa mới lấy hai chiếc hột gà đập lên trên. Đổ ra chiếc đĩa bàn còn nóng bỏng, mụ lẳng lặng mang tới đặt trước mũi thằng con. 
Gino khoái chí la: “Ngon quá ta” nhưng mẹ nó phải hối thúc: 
– Ngon thì ăn lẹ lẹ lên cho rồi! Để mấy đứa kia về chúng thấy là lại ế nguyên nồi rau xào ngon lành của tao mất. 
Chẳng phải đợi mẹ hối thúc lần thứ hai, Gino hối hả mở hết tốc lực thanh toán đĩa khoai … rồi lo phụ với mẹ dọn bàn ăn cho cả nhà. 
Mùa đông năm đó, gia đình Lucia Santa chịu một cái tang lớn, dù người qua đời chẳng phải bà con ruột. Mụ Louche âm thầm từ giã cõi đời làm mụ Lucia khóc hết nước mắt! Cha đẻ cũng chỉ vật vã xót thương đến thế là cùng vì đối với mụ phải công nhận là Louche vừa là đàn chị vừa là ân nhân những phen sóng gió nhất. 
Tội nghiệp nhất là Louche đã “đi” giữa đêm đông lạnh, không một ai hay biết vì hai chục năm nay ngoài gia đình Lucia Santa mụ có chơi bời giao thiệp với ai? Mụ sống cu ky nên chết cũng chết trong cô độc … chết như con sâu, con bọ chết khô! Lớp da sần sùi đóng vẩy khô đét, hai cẳng chân cứng ngắc co quắp vào nhau và đến mấy đường gân máu cũng tím bầm lại. Bên cạnh giường người chết còn bếp lò dầu hôi bên trên còn đặt ấm nước. 
Lucia Santa thương xót cho người bạn già xấu số, chết mà chẳng một đứa con cháu săn sóc, đưa tiễn ra tận huyệt. Mới ngày nào Lucia Santa còn nói ra miệng là thà sống một mình như vậy lại khỏe, chồng con làm chi cho khổ thân? Giờ đây thấy trước mặt cái chết cô độc, lạnh lẽo của Louche thì mụ bỗng tỉnh ngộ mà thấy rằng dù sao mình cũng còn có phước chán. Ít ra cũng còn để lại đàn con, cũng còn có chúng lo lắng cho đâu đến nỗi vùi nông một nấm như con sâu cái kiến. 
Cũng vì cái chết của Louche mà gia đình này kết giao với một bà bạn mới: không có bà bạn già này dĩ nhiên Lucia Santa phải kiếm một bà bạn khác để “có chị có em chia sẻ vui buồn” chứ? Tình cờ đưa đẩy thế nào lại “cặp” với mụ Teresina Corcalitti và hai người chóng thân thiết đến dứt không ra. 
Bà bạn “đồng minh” Teresina đâu phải tay vừa? Cả xóm nghe danh và ngán mụ quá xá! Mụ Teresina cao lớn và thuộc típ đàn bà lớn xương nên xem dễ nể, góa chồng hai mươi năm vẫn ở vậy nuôi con, tứ thời chỉ bận đồ đen. Dĩ nhiên bà góa Teresina chẳng hiền lành gì … vì dân bán hàng rong hay chủ tiệm cũng chạy mặt hết mà trả chậm tiền nhà chủ phố cũng chẳng dám ho he. Đến mấy ông điều tra viên ở sở Cứu tế xã hội cũng chẳng dám kiếm chuyện khó dễ! Giấy tờ hồ sơ cứ đưa mụ ký, chẳng hoạnh họe một câu. 
Mụ Teresina tinh khôn ra mặt và quỷ quyệt cũng ra gì. Miệng lưỡi mụ có chịu thua ai về khoản độc địa … nhưng nếu cần giở khoa khéo léo, lịch sự thì cũng chẳng chịu thua rắn độc bao nhiêu! 
Ai chẳng biết mụ có bốn thằng con, thằng nào cũng công ăn việc làm ngon lành! Nhưng trợ cấp thất nghiệp thì gia đình Corcalitti vẫn cứ lãnh đều, lãnh đủ! Mụ đáo để ở chỗ mua chục trái cây đếm đủ đầu rõ ràng nhưng sau khi trả tiền thế nào cũng hốt thêm một trái và ông chủ sạp thịt cũng ngán luôn bàn tay ưa “xin thêm” mấy chỗ mỡ màng hay những khúc đầu thừa đuôi thẹo. Mụ Teresina mua bán là chơi ác vậy đó, có nể nang ai? 
Nhờ có bà bạn mới truyền thụ mánh lới mà Lucia Santa học được phương pháp “tiền bỏ ra ít mà mua hàng là phải … đồ nhiều, đồ tốt”. 
Hột gà ra tiệm mua làm chi cho mắc? Phải biết căn để “ngoại giao” với chú em đi theo xe đi giao trứng, giao thịt gà từ nông trại đến thẳng mấy cửa tiệm, “nhảy dù” một mớ trứng – lâu lâu còn từng bọc thịt gà nữa – thì rõ ràng đã tươi ngon còn rẻ rề! Muốn mua ít quầy chuối (một thứ trái hiếm ở Nữu Ước vì phải nhập cảng từ mấy xứ nóng qua) hay một vài bộ đồ lớn ư? Cứ dặn mấy anh em dân phu dỡ hàng ngoài bến tàu là trước sau cũng có. Không hiểu sao trên tàu lại sẵn những bộ đồ lớn mới toanh, có điều có com- măng là họ xoay bằng được. 
Nếu muốn mua hàng lụa, hàng len thứ đắt tiền thì tội gì phải đi đâu? Đã có những đấng mày râu rất lịch sự mang dạm bán tận nhà với giá rẻ mạt vì hàng toàn là “hàng không vốn” mà mỗi lần “nhảy dù” là phải nhảy nguyên một xe! Cứ kể ra mua bán với mấy tay này còn tử tế hơn đám con buôn gốc mấy tỉnh miền Bắc nước Ý sang lập tiệm ở đại lộ số 9, thấy tiền là nhâu nhâu như kên kên vậy! 
Tuy nhiên đời là thế? Sống khác đi đâu được? 
Cứ thế năm tháng qua dần. Năm năm trời chỉ như một thoáng. 
Thời gian đi quá mau đi! Chỉ có chết là hết. 
Chẳng hạn như cái chết của mụ chủ lò bánh. Một bữa ông chồng vào thấy vợ nằm chết thẳng cẳng từ hồi nào, dưới chân lỉnh kỉnh những hộp lớn, hộp nhỏ đầy chặt những bạc đồng và nét mặt người chết thì thư thả như đã gặp được Chúa trên nước Thiên Đàng vậy. Có điều vợ vừa chết là lão chủ lò bánh biến đổi hẳn. 
Đang làm ăn như ngựa quần quật cả ngày, lão bỗng đổi tính suốt ngày chỉ lo dông dài đi chơi, bao nhiêu công việc phó mặc cho Guido lo hết. 
Thằng Guido thì cứ gầy rạc đi vì lò bánh quá nóng trong khi ông bố chỉ chơi. Chưa chập tối đã đóng cửa, khỏi lo bán thêm càrem, xăng uých … mà chỉ rủ rê mấy gã bạn già tối ngày tụ họp cờ bạc đằng sau cửa tiệm hớt tóc. Đống tiền bạc, tiền đồng mụ vợ lo cất giữ bao nhiêu thì bây giờ lão vung phí bấy nhiêu, không thương tiếc. Nếu không cờ bạc thì đi rong chơi như một ông hoàng trên đại lộ số 10, miệng ngậm điếu xì gà Mỹ tổ bố. 
Cũng nhờ rong ruổi chơi tối này mà lão là người đầu tiên trong xóm được thấy cậu ý trung nhân của Octavia, cô gái của Lucia Santa. Hai đứa cặp kè ở góc đường 31 chứ đâu xa. Lão khoái chí nhìn Octavia dắt chàng về giới thiệu với mẹ, mà bà mẹ lúc bấy giờ cũng làm bộ chẳng biết gì, vẫn ngồi khơi khơi trên ghế đẩu trước nhà để nói ba điều bốn chuyện với bà con lối xóm. 
Vừa thấy mặt cậu rể tương lai là bà mẹ vợ giật mình rồi! Điệu này lại sắp có chuyện nữa … 
Nó đi đâu mà kè kè ôm sách cả chồng vậy? Làm trông ra vẻ lắm, mớ tóc đen sù sụ bồng bềnh, đeo kính gọng đồi mồi mà dáng điệu nhàn nhã thế kia thì chán chết, nó cũng dân Do Thái. Lại là thứ Do Thái văn nhược, trói gà không chặt nữa! 
Xem, cô con cưng của bà Angeluzzi Corbo nhũ danh Lucia Santa có học và thông minh nhất nhà khi không dám rước một thằng Do Thái về làm chồng? Nó vậy là chơi ngang … bộ dân Ý hết đàn ông con trai rồi sao? Mà tại sao Do Thái chứ? Hai bên hàng phố, dọc đại lộ số 10 bên trên và bên dưới bộ nó không tìm nổi một thằng đạo Công giáo, không Ý thì Ái Nhĩ Lan, Ba Lan đi. Nó cố tình làm vậy cũng như từng cố tình mặc bộ đồ thật đứng đắn, nghiêm trang để che bớt eo người? 
Vậy mà bao nhiêu thành kiến chống đối bỗng bị dẹp cái rụp. Các bậc trên trước, ông cô bà cậu cũng phải hiểu cho rằng làm thân con gái chỉ có một thời thôi chứ? Năm nay Octavia đã hai mươi lăm rồi. Lẽ ra đã phải có tấm chồng từ lâu mà ngày giờ này còn vớ nổi một thằng chồng không đến nỗi ăn hại thì phải mừng cho nó chứ? 
Có chồng là Octavia đỡ khổ. Chờ đợi mãi cũng phải biết mùi vị cuộc đời nó ra thế nào và it” ra cũng không đến nỗi kéo dài cuộc đời gái già sầu thảm. Nó đâu có đui què mẻ sứt mà phải chịu ế chồng, tàn tạ cuộc đời như một trái cây hư thối? Mà đừng quên một điểm then chốt vô cùng thực tế: Nếu kể đến tài kiếm tiền và tài làm giàu thì bảnh nhất phải là dân Do Thái. Chồng làm ra tiền thì sung sướng con vợ. Nó sẽ không thiếu thốn một cái gì và một đứa con có hiếu như Octavia có bao giờ nó để mẹ, để các em khổ sở mà lo? 

Photo edit by Sơn râu

Quan niệm chắc chắn như thế đó nên bà con lối xóm có lòng mừng cho Octavia, từ ông chủ lò bánh đến dì Teresina. Chỉ trừ mỗi anh chàng chủ tiệm hớt tóc, thấy “thằng cha trí thức ngông nghênh” đó chớp được con nhỏ là ghen tức đến ói máu! 
Bà mẹ tương lai không lạc quan cho lắm. Đồng ý là nó xem cũng đẹp trai, người mảnh dẻ nho nhã và ăn nói dịu dàng như con gái. Đạo Do Thái thì cũng chẳng sao. Không phải vì Lucia Santa không có thành kiến chống Do Thái! Sự thực mụ cũng khó chống nhiều thứ quá, mụ chẳng tin được ai nên đại khái Do Thái thì cũng như Hồi giáo, Công giáo vậy thôi! Điều làm Lucia Santa không chịu là tại sao đi đâu và lúc nào nó cũng cứ kè kè cuốn sách dưới nách? Và lúc nào nó cũng đọc sách được mới lạ! 
Dân nghèo như Lucia Santa phải biết lànhiều thành kiến kỳ quặc, rút tỉa từng kinh nghiệm sống mà rạ Họ quan niệm thật vô lý và cũng thật tức cười. Dĩ nhiên Lucia Santa cũng có sẵn một quan điểm riêng và thật lạ lùng là “những quân đọc sách chỉ được cái … bỏ đói gia đình”. 
Thì tấm gương đọc sách của Octavia còn sờ sờ đó – đọc cho cố, đọc đến nửa đêm đi! Rồi ho lao đi nằm bệnh viện (về vụ này mụ chỉ mới nghĩ vậy chứ đâu dám nói). Cái thời giờ đọc sách đó phải chi để may đồ cho người ta thì bao nhiêu là tiền? Ngay xóm nhà cũng bao nhiêu là người sẵn sàng mướn nó may đồ cho con gái họ. Uổng biết bao nhiêu là tiền! 
Bây giờ chứng bệnh đọc sách lại lây sang cả đến thằng Vincenzo, thằng Gino và trời đất ơi … cả thằng bé Sal nữa! Bây giờ chúng bảo nhau vào thư viện mượn sách, toàn thư ”sách vô nghĩa. Còn sự làm cách nào sống khỏi cần. Cuộc sống rành rành ra đấy không học lại chúi mũi vào đống sách cho mụ mẫm cả đầu óc … để rồi ra đời chẳng làm được cái gì. Sao lại điên khùng thế nhỉ? 
Vốn người nhà quê mù chữ, Lucia Santa tự cho thoát nạn sách. Không cần biết nó nói gì hay nhưng vẫn phải nhìn nhận sức mạnh của nó. Thực tế cuộc đời cho thấy nhiều kẻ sợ sống, không dám gánh vác trách nhiệm nên theo ý mụ đã nghèo mạt một thằng đàn ông không được phép lãng phí thời giờ, tiền bạc vào hai mục cờ bạc và rượu chè. Đàn bà khỏi được để thứ hạnh phúc giả tạo ru ngủ, làm mềm yếu đi … thì bọn con nít phải tranh đấu với đời nhiều, đâu thể cho phép chúng tự đầu độc bằng sách vở mơ mộng, hão huyền mà chúng cặm cụi đọc sáng đêm, hết chương này qua chương khác? 
Phải chi nếu Lucia Santa biết chắc chắn ý nghĩ của mụ là đúng thì thấy mặt cậu rể tương lai Norman Bergeron là mụ đã xách cây tackeril rượt ra khỏi nhà. Sao đời này lại có thể có một thằng gàn dở đến độ nếu đời là phải tranh ăn thì nó nhất định không tranh ăn cùng đồng loại? Còn ra điều người tử tế, có bằng đại học mà cán bộ xã hội cũng không thèm làm. Vả lại nó muốn làm cũng không nổi kia mà? Không lẽ một ông đồ tể vừa thấy máu đã té lăn ra chết giấc? Hình như ông chú, ông bác gì của nó là ông chủ hãng may đồ lớn nên cho nó một chân thư ký quèn cốt đủ sống. Nhờ đó Norman mới gặp được Octavia chứ? 
Như bất cứ một dứa nào không biết kiếm tiền, nó có một cái tật lớn. Norman Bergeron làm thi sĩ, trời đất. Không phải thơ Ăng- lê mà là thơ tiếng Do Thái mới gay. Gay go nhất là chính no ”cũng không xa lạ gì văn chương Do Thái có mấy ai đọc, kiếm tiền sao nổi? Nhưng sở trường của nó đấy, trên đời này nó chỉ biết và chỉ tha thiết có mỗi một cái đó mà? 
Tụi nó chưa lấy nhau nên sướng khổ ra sao chưa biết thật. Điều lạ lùng mà chính Octavia cũng không ngờ là làm như bà mẹ lại chịu. Thà một người Do Thái, chứ dân Ý thì vô tích sự. 
Tuy nhiên quan điểm chọn dâu của Lucia Santa khác hẳn kén rể! Dâu con nhà này thì nhất định phải người Ý, con nhà đàng hoàng và ngay từ hồi còn ẵm ngửa phải được nhồi sọ kỹ về nghĩa vụ làm vợ. Nghĩa là “chồng chúa vợ tôi”, phải hầu hạ từ miếng ăn thức uống, trông nom nhà cửa con cái là cấm được kêu than. Chúng nó không thể lấy một con vợ không phải Ý vì gương thằng anh lớn Lorenzo còn đó. Từ ngày lấy con Lousia có phải đời nó đỡ khổ hẳn không nào? 
Đời mụ còn lạ gì những ông chồng người Ý? Mụ đã khổ muốn chết thì đời nào bắt con gái cưng tái diễn cái thân phận nô lệ cho mấy thằng khốn hành hạ cái điệu cả đời bắt nó ru rú xó nhà, chỉ có đám cưới chồng cho đi mới được đi hoặc đi chơi chán không sao, vừa đặt chân về nhà cơm nước chưa xong là gầm lên quát tháo! Chồng con gì mà vợ bụng chửa vượt mặt vẫn phải làm như trâu như chó? Chồng ngồi phì phà kéo khói xì gà Di Nobili chơi dài người để mặc vợ vác cái bụng bầu leo lên lau chùi cọ rửa cửa sổ, cửa kính, sơ sẩy một chút dám rớt mấy tầng gác rụng xuống như không! 
Một đứa con gái thông minh như Octavia đời nào chấp nhận nổi một người chồng Ý? Nó biết chứ? Nó kén một thằng chồng biết chiều vợ, chiều con. Nó đúng quá nên có muốn chửi nó cũng chẳng thể bới lông tìm vết nổi! Mãi sau này Lucia Santa mới kiếm ra được một câu phê phán sự kén chồng của cô gái lớn. 
Số là một hôm ngồi nói chuyện tào lao như thường lệ, dĩ nhiên phải mang con gái ra chửi nên Lucia Santa điểm mặt từng đứa, đứa thì vô ơn bạc bẽo, đứa thì ngu như chó. Nhưng con Octavia có tội lỗi gì đâu? Mụ nghĩ mãi không ra nên sau cùng đành phải than thở trước mặt bà con cô bác: 
– Mấy bà biết sao không? Đứa con gái lớn nhất của tôi, đứa thông minh nhất nhà … chừng kén chồng kén đúng ngay thằng chồng Do Thái. Một thằng Do Thái duy nhất không kiếm tiền, không thiết gì đâu đến đồng tiền thì có khổ thân tôi không chứ? 
Xét đi xét lại thì đám cưới Octavia dù sao cũng là một cơ hội lớn để đánh dấu khoảng thời gian năm năm ăn nên làm ra của gia đình này. Vậy phải làm đám cưới đàng hoàng, phải dâng lễ ở Nhà Thờ chứ! Đối với một thằng đọc sách như Norman Bergeron thì lại dễ quá đi, muốn sao cũng xong. Nó chiều bằng đủ vì có gì để phản đối đâu? Nó đạo Do Thái nhưng lấy vợ Công giáo, con cái sau này theo đạo Công Giáo hết cũng chẳng sao. Gia dình này, phản đối chứ … nhưng Norman thản nhiên nói thây kệ, trục xuất cũng được mà xem nó từ giờ như một thằng chết rồi càng hay. 
À, nếu vậy hay thật. Đối với Lucia Santa thì vậy càng dễ giải quyết, càng đỡ được nhiều thứ. Gia đình nó từ, thì gia dình này nhận. Mụ lại nhận thêm một thằng con vì Octavia và Norman sẽ thuộc về nhà này vĩnh viễn.


Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 14

Đứa con thứ hai ra chào đời công việc làm ở Hỏa xa bớt đi đúng một nửa – tuần lễ đang làm việc sáu ngày chỉ còn ba – thì Larry mới bắt đầu thấm mệt vì sự sống khó khăn. Lúc bấy giờ nó mới hiểu con người thực của mình chẳng là cái gì cả! 
Bữa chủ nhật đưa vợ con đi thăm người bạn, Larry bồng đứa nhỏ, vợ ẵm đứa lớn dắt dìu nhau ra góc đại lộ 10 và 34 đợi xe điện. Đứng bờ đường bên kia nhìn qua thằng Gino xem bộ ngơ ngẩn, thương hại cho ông anh lớn vợ con đùm đề. Buồn quá! Larry đưa tay vẫy em qua. Gino hồi này lớn bộn. Nét mặt nó rám nắng, già dặn hẳn! Larry không khỏi xao xuyến. Mới ngày nào đây nó là thằng con nít, thấy anh cưỡi ngựa chạy ngang là phải chạy ra cửa sổ nhìn bằng được! 
Larry mỉm cười ngao ngán bảo em: 
– Chú mày thấy chưa? Vợ con vào là như thế này đây. 
Dĩ nhiên là anh em nó nói chơi với nhau, có điều không bao giờ Gino quên cái cảnh “thê tróc tử phọc” của anh nó ngày hôm ấy. Nhất là bà chị dâu mặt sát tới xương trừng mắt nhìn dằn dỗi vặn hỏi chồng: “Thế này là thế nào? Chán lắm rồi hả?” 
Không muốn có chuyện, Larry cười hề hề: “Nói giỡn chơi mà bồ!”. Nhưng Gino không giỡn chơi chút nào. Nó ngao ngán nhìn vợ chồng ông anh lớn như nhìn vào khoảng không! Tuy vậy bổn phận nó là phải ráng đứng với anh chị và với các cháu cho đến khi xe điện tới chứ! Nhìn thằng em, Larry nhớ lại hồi lớn bằng này đã phải đi kiếm việc làm rồi. Nó hỏi “Lên trung học mày học hành thế nào?” thì Gino chỉ đáp vắn tắt “Cũng đỡ đỡ vậy thôi”. 
Gino đứng sững nhìn ông anh dìu vợ, dắt con lên xe điện. Xe chạy rồi nó còn bần thần đứng nhìn theo. 
Ngồi trên xe điện, nghe tiếng bánh xe rít róng lướt trên đường sắt và xa dần khuôn mặt thằng em, dù sáng chủ nhật trời như mạ vàng mà rõ ràng Larry vẫn cảm thấy mất mát một cái gì và đời nó kể như tàn. Đúng thế! Và cũng do buổi gặp gỡ đó, ngồi trên xe suy nghĩ về thân phận con người mà Larry đâm ngao ngán. Sống thế này thì sống làm chi? Nó phải sống khác, phải bỏ cái công việc tù túng ở sở Hỏa xa, dù tà tà sống lâu lên lão làng chắc. Nó không ngần ngại bỏ luôn tám năm thâm niên công vụ! 
Tuần sau tình cờ Larry sáng dậy xuống phố đi lại lò bánh mua ổ bánh mì ngọt về ăn sáng. Đêm qua nó đâu có đi làm? Công việc ở Hỏa xa hồi này bết bát quá mà? 
Vừa thấy bóng Larry bước vào thằng Guido đã tươi cười chạy ra đón. Cha, hồi này Guido cũng để ria mép cho hách chắc? Lâu không gặp, hai đứa quấn lấy nhau trò chuyện. Guido ăn nói chững chạc ra phết. Nó bỏ học để ở nhà chăm nom lò bánh của ông già lâu rồi mà! Thảo nào nó ăn nói cứ như người lớn: 
– Thế nào, Larry? Có công việc ngon lành lắm, mày có khoái làm không? 
Larry cười cười cái điệu mọi lần “Làm chứ. Làm liền” nhưng thực ra nó nghĩ đến việc bỏ sở đi kiếm ăn cách khác, nghề khác đâu? Nào ngờ thằng Guido lại mau mắn: 
– Làm hả? Làm thì vào đây! 
Nó kéo Larry tuốt vào nhà trong. Larry đi theo và thấy bà Guido đang ngồi nhâm nhi ly rượu hồi, chuyện trò cùng một ông bạn xem bộ thân thiết lắm. Dĩ nhiên phải người đồng hương, nhưng thoạt nhìn biết ngay là tay đáo để chứ chẳng phải thứ ngất ngư vừa rời tàu đặt chân lên xứ sở này! Khách lạ cũng trạc tuổi chủ lò bánh, gốc Ý không thể lầm được nhưng ăn mặc lối Mỹ, đồ lớn, đứng đắn, chững chạc, cavát sậm màu đàng hoàng và ngay mái tóc cũng hớt tỉa sát rạt đặc biệt của Mỹ. 
Miệng thằng Guido tía lia: 
– Chú à, đây là thằng bồ bịch nhất của cháu xưa nay – thằng Larry cháu vẫn nói với chú đó. Còn đây là ông Di Lucca mà tao vẫn gọi là chú Pasqual vì chú tao và ông già thân tình còn hơn họ hàng, hai người chơi với nhau từ hồi còn chút xíu ở bên nhà mà? 
Larry đỏ bừng khoái chí, không ngờ tên nó còn được bà con nhắc đến mà lại nhắc nhiều lần nữa! Ông khách này Guido kêu bằng chú … nhưng hiển nhiên không có bà con, chỉ vì chơi thân với gia đình từ lâu như nó vừa giới thiệu. 
Larry bèn bật cười thật tươi, đưa tay kính cẩn bắt xua ông khách. Lão chủ lò bánh thân mật rót cho Larry một ly rượu hồi và bảo nó: “Ngồi xuống đi cháu. Làm một ly với tụi tao”. Nhưng Larry chỉ dạ dạ: “Ngồi thì cháu ngồi liền … nhưng rượu thì cháu đâu biết uống! Bác cho cháu xin ly cà phê đủ rồi!”. 
Rõ ràng Larry thấy ánh mắt ông Di Lucca nhìn nó hài lòng ra mặt, ra điều “con trai thời buổi này mà không đụng tới rượu là quý lắm, hiếm lắm!” Làm như ông ta chỉ cần liếc sơ sơ là đánh giá được con người nó rồi và điệu này nó có hỏi con gái ông thì “ông bố vợ” Di Lucca cũng cứ chịu chắc. 
Thằng Guido lẹ làng rót rượu đầy ly cho ông chú và quay sang phía bố nói một hơi: 
– Bố à … có phải chú Pasqual nói với bố chú đang để ý tìm một người cộng sự, một thằng trẻ tuổi thật đàng hoàng phải không? Nếu chú tính tuyển lựa người thì còn ai ngon hơn thằng Larry, chú Pasqual? Biết bao nhiêu lần cháu từng thưa với chú mà? Thằng Larry được lắm, con chơi với nó quá lâu mà! 
Hai người lớn nhìn Guido cái điệu trách yêu: “Làm gì mà hăng thế mày? Chuyện làm ăn phải từ từ … để thủng thẳng xem sao chứ nôn nóng như mày đâu được?”. Giữa lúc bố Guido đưa tay ra hiệu đừng nói nữa thì ông Di Lucca nhìn ông ta, hỏi bằng thổ ngữ quê hương: 
– Thằng nhỏ này thế nào? Được không bạn? 
Còn hỏi! Ông chủ lò cười khà: “Được mà thôi hả? Nó số một!” 
Hai người lớn nhìn nhau mỉm cười. Guido cũng nhìn Larry cười khoái, nhưng bố nó và chú Pasqual vẫn khề khà tợp từng ngụm rượu hồi. Họ chẳng nói gì thêm, cứ đủng đỉnh đốt điếu xì gà Di Nobili ngồi kéo khói nhìn nhau. Tuy nhiên chẳng ai cần phải nói ra, thấy Di Lucca ngồi gật gù thế kia phải hiểu rằng ông ta chịu rồi. Đó là một điều Larry xưa nay vẫn lấy làm hãnh diện. Nó biết là trời cho nó duyên ngầm, từ lời nói đến cử chỉ, điệu bộ … ai có dịp tiếp xúc với nó là chịu gấp. Đàn ông cũng như đàn bà! Larry dù biết mình có lợi khi chịnh phục lòng người như thế đó nhưng lại rất biết điều. Nó không nhăng nhít, vung vít mà rất lấy làm khiêm nhượng, như thầm cảm ơn cái duyên trời cho … nên ai đã có cảm tình với nó còn có cảm tình thêm nữa ngay từ buổi đầu gặp gỡ. 
Giữa lúc đó, ông Di Lucca hỏi thằng Larry: 
– Thế nào … cháu có muốn về làm với tôi không? 
Một câu hỏi tầm thường mà mánh lới như vậy càng làm Larry “lên” thêm chắc! Nó cũng có thứ giác quan bén nhạy nhìn người là biết ai được ai không. Là những típ người đặc biệt như Di Lucca. Ông ta hỏi khơi khơi vậy mà có đầu óc thì phải hiểu là: “Mày thấy tao thế nào? Có đáng mặt đàn anh, cha chú … để mày tôn phục?” 
Nếu xớn xác nhè đặt vấn đề hỏi ngược lại công việc gì, lương bao nhiêu, làm ở đâu, làm với những ai và nhất là có gì để bảo đảm chắc chắn không thì chắc chắn trăm phần trăm “đi chỗ khác chơi”! Chỉ cần một câu hỏi bậy là vứt bỏ hết.
Đời nào Larry ngu ngốc vậy? Cho dù có chưa biết việc gì để mà nhận, chưa dám nghĩ đến việc vứt bỏ tám năm “thâm niên công vụ” thì mặt mũi nó cũng cứ tươi tỉnh, hân hoan. Ít ra cũng có người nghĩ đến mình mà? Larry bèn nói như reo lên, hoàn toàn không giả trá: 
– Được về làm với ông thì nhất! 
Di Lucca vỗ tay đánh đét một phát. Mắt ông ta sáng quắc, nét mặt không giấu nổi sự vui mừng pha lẫn ngạc nhiên. Ông ta đưa tay như phân bua: “Tạ ơn trời … ngày giờ này bên nước này mà còn có một thằng trẻ tuổi không hổ danh gốc Ý mình!”. 
Thấy chú Pasqual chịu Larry quá xá, thằng Guido khoan khoái cười ha hả: “Chú thấy không … cháu đã nói trước là thế nào chú cũng chịu quá mà!”. Bố Guido cũng cười sảng khoái. Chỉ một mình Larry mỉm cười khiêm nhượng … 
Di Lucca bèn có cử chỉ đẹp ngay. Rất tự nhiên, ông ta móc túi lấy ba tờ $20 thân mật nhét vào tay Larry cười ha hả: “Nếu vậy hay lắm. Tao chịu những thằng ngon mà đàng hoàng. Đây chú mày lấy tiền xài đỡ. Cứ lấy đi kể như lĩnh lương một tuần trước vậy mà! Sáng mai đến văn phòng tao và mình bắt tay vào việc liền. Nhớ ăn mặc cho chững chạc, đồ lớn và cavát tử tế … nhưng kỵ nhất là xe xua lố lăng. Mình người làm ăn phải có bề ngoài thật Mỹ … và đúng mốt như tao đây này! Thấy chưa? Chú cầm lấy cái địa chỉ này …” 
Di Lucca cho tay vào túi áo vét lấy ra một tấm danh thiếp nho nhỏ … rồi lại thản nhiên ngồi bật ngửa ra ghế tiếp tục kéo khói Di Nobili. Larry cầm tiền, cầm danh thiếp. Ngạc nhiên quá nó còn biết nói gì hơn là ấp úng cảm ơn? $60 tiền lương một tuần là quá nhiều, lại lãnh trước nữa. Sơ sơ mới khởi sự đã gấp đôi lương bên Hỏa xa tính tuần lễ làm đủ cả sáu ngày. 
Mọi người cùng vui cười hể hả, chuyện trò thân mật và giải khát thêm một chầu nữa. Đúng lúc có thể hỏi qua công chuyện làm ăn … Larry mới khôn khéo nhắc thử thì được Di Lucca giải thích rõ. 
Công việc hàng ngày của Larry thật nhẹ nhàng, đại khái chỉ làm thâu ngân viên cho Nghiệp đoàn các chủ lò bánh. Nó ngày ngày lo đi thâu tiền nguyệt liễm nhưng chỉ phụ trách một khu thật hiền, xưa nay chưa hề có chuyện lộn xộn. Làm ăn đứng đắn ít lâu sẽ có chầu lên chức, lên lương … nghĩa là nhảy qua ngành khác ngon hơn nhiều. 
Theo lời ông sếp mới thì đâu phải công nhân lò bánh mới phải vào nghiệp đoàn? Chủ nhân cũng có nghiệp đoàn chủ nhân, hàng tháng cũng phải đóng nguyệt liễm … và dĩ nhiên phải đóng góp nặng hơn người làm công chứ? 
Làm chân đi thâu tiền dĩ nhiên Larry cũng phải có sổ sách, biên lai như cuộc chê các hãng bảo hiểm vậy. Và còn phải tôn trọng luật lệ của nghề, đại khái khôn ngoan lịch thiệp biết giao du tốt đẹp với mọi người, biết xài thì giờ rộng rãi, giờ làm ăn không được uống rượu và cấm tuyệt không được gạ gẫm mấy em bán hàng. Xem vậy muốn thâu được tiền thiên hạ đâu phải dễ, có lãnh lương ngon lành cũng đáng. 
Lát sau Di Lucca làm cạn ly rượu hồi, đứng dậy bắt tay Larry dặn dò: “Nhớ đúng mười giờ sáng mai nghe!”. Với ông bạn già thì ông ta chỉ chào hỏi từ biệt đúng mức nhưng với Guido thì xử sự rõ ra vai cha chú. Sau khi tát yêu nó một cái, ông ta gấp một tấm giấy bạc nhét vào túi Guido kèm theo một khuyến cáo: 
– Cố giúp ông già nghe mi! Ông già vui quá dễ, quen cái lối Mỹ rồi nhưng mi phải xem chừng tao! Tao mà nghe mi có chuyện lộn xộn là tao xuống liền và cho mi vào khuôn khổ lập tức, nhớ nghe mi? 
Larry chịu quá. Rõ ràng vừa yêu thương, vừa đe dọa làm thằng Guido phải nói ngay: “Cháu mà, chú yên trí, đừng lo”.
Thế là hai chú cháu nó nắm tay nhau thật chặt. Guido khoan khoái đưa chú Pasqual ra tận cửa, vừa đi vừa cười ha hả. Larry còn nghe tiếng chú vọng vào: “Mi nhớ kiếm con vợ đàng hoàng để nó trông nom cửa hàng đỡ chớ!”. 
Lúc đi trở vào, thằng Guido vui mừng thật tình. Nó nhảy cẫng lên chạy quanh bồ bịch: “Vậy mày ngon rồi, ngon chắc! Yên chí đi, hai năm nữa thế nào mày cũng tậu được nhà riêng bên Long Island. Làm ăn với chú Pasqual là vậy đó! Con nói đúng không bố?” Ông chủ lò bánh gật đầu xác nhận liền. Thong thả làm từng ngụm rượu hồi, bố thằng Guido không trả lời con mà bảo Larry: 
– Lorenzo … cháu Lorenzo! Bác mừng cho cháu. Cháu là thằng được … cháu sẽ có dịp học hỏi với đời và trở thành người lớn, người đàng hoàng! 
Đúng cuộc đời Larry hồi này sung sướng chán! Nó có quyền ngủ trễ, ăn cơm trưa ở nhà rồi làm một tua các lò bánh trong vùng trách nhiệm. Mấy ông chủ gốc Ý dĩ nhiên đối với nó rất điệu. Đã mau mắn đóng tiền còn mời cà phê, bánh ngọt hoài hoài. Mấy cha gốc Ba Lan mới đầu lạnh nhạt nhưng thấy nó chơi đẹp cũng dần dà biết điều hết, dù mời rượu mạnh là Larry từ chối gấp. Họ chịu nhất là những em bé ngồi uống cà phê trong tiệm thấy anh Larry tới là nói chuyện dứt không ra phải gạt ra để còn đi “làm ăn” mấy tiệm khác. Lâu lâu Larry còn dám vi phạm luật lệ trong nghề, thấy em Ba Lan nào xem được và dễ dàng còn dám tán tỉnh trực tiếp và mượn ngay phòng trong của ông chủ tiệm để làm chỗ hẹn hò kia mà? Hình như ông chủ còn khoái nữa, bằng không Larry đâu dám hẹn hò em y chỗ cũ? 
Xét cho cùng mấy ông chủ gốc Ý có chịu chi dễ dàng cũng đâu có lạ? Họ quen nếp sống bên nhà quá rồi: Cái gì mà chẳng phải “lì xì”? Ông cha sở đọc giùm lá thư cũng phải xách tới biếu chục hột gà cho đúng lệ và có chút việc tới nhà làng hỏi thăm thầy thư ký là phải kèm theo chai rượu. Các ông chủ lò bánh gốc Ba Lan nếu có đóng góp chỉ vì chút cảm tình với thằng đi thâu tiền. Nếu có kẹt Larry chỉ kẹt vì mấy thằng cha gốc Đức. 
Đâu phải họ không muốn chi mà thôi? In hình họ còn không thèm chi cho một thằng Ý ranh con kia? Cực chẳng đã đành phải xì tiền góp cho xong nên không mấy khi Larry được họ mời ly cà phê, miếng bánh ngọt. Thông thường thấy mặt nó là móc tiền ra, đại khái như trả tiền điện, tiền nước vậy. Một ly cà phê mời mọc Larry đâu có ham? Suốt ngày cà phê cũng phải ngấy … nhưng chính sự lạnh nhạt của họ làm Larry có cảm tưởng “găng tơ” đi ăn cướp rõ! 
Có một gã cứng đầu nhất. Dĩ nhiên hắn gốc Đức và là người duy nhất không chịu “đóng nguyệt liễm Nghiệp đoàn”. Mà tiệm hắn lại đắt khách nhất, bánh gì cũng ngon hơn, trội hơn tất cả các đồng nghiệp nhiều … dù là ổ bánh mì, xăng uých ngọt hay bánh kem, bánh sinh nhật! Hàng của hắn bán quá chạy mà thâu ngân viên Larry chịu không thâu nổi một xu. Dĩ nhiên nó phải báo cáo lên sếp nhưng lần nào Di Lucca cũng gạt đi: “Chú mày sống hồi này đỡ khổ chứ? Thôi ráng đi … Còn nó để thủng thỉnh xem”. 
Một hôm, Larry đi thâu tiền trễ. Tình cờ lại đi ngang tiệm Hooperman … Larry không muốn vào chút nào vì nó ghét mặt thằng chủ mập lùn đầu sói … Đã không đóng tiền còn ưa giỡn mặt, xem nó không hơn một thằng con nít! Cứ mỗi lần giáp mặt nó là thế nào Larry cũng phải bỏ tiền ra mua vài ổ bánh mì. Vừa tỏ vẻ nhã nhặn, biết điều vả lại xưa nay nó vẫn khoái mọi thứ bánh ở tiệm này. Để mua chuộc tí cảm tình của thằng chủ nữa thì có đi đâu mà thiệt. 
Phải nhìn nhận chơi như Larry là quá đẹp. Ít lâu nay nó không muốn đòi quá găng, sợ sinh chuyện lôi thôi nên tốt hơn là cứ “thủng thẳng” xem sao rồi sẽ tính và trong khi chờ đợi đành hy sinh móc tiền túi ra đóng nguyệt liễm giùm Hooperman đều đều vậy. Kẹt cái lại thêm hai thằng chủ tiệm noi gương thằng cha lùn, thường lệ đóng đều nhưng bữa nay có tiền cũng không đón. Tụi nó cười xỏ bảo Larry tuần sau hãy tới! Công việc đang ngon trớn mà Larry bỗng thấy nản quá, đã tính quay về làm Hỏa xa cho xong. 
Tiệm Hooperman nằm gần góc đường, bên kia là bót Cảnh sát. Thằng chủ chắc ỷ tình hàng xóm láng giềng với mấy thầy chú nên mới dám găng với “Nghiệp đoàn” đây! Có gì la lên một tiếng là lính tới liền mà. 
“Đến phiền vì cái thằng lùn cứng đầu này! Không lẽ chỉ vì một mình nó mà mình phải bò về sở cũ để mỗi tuần lãnh $15 thì khổ quá”, Larry nghĩ vậy. Hay là đợi lúc tiệm không có ai thử vào rỉ tai nó nếu không chịu chi thì đích thân Di Lucca sẽ tới viếng? Để xem phản ứng nó thế nào? Thuận lợi thì nồ đại vài tiếng, chừng không xong hãy hay. “Thôi đành một ăn hai thua” vậy … chứ “găng tơ” quái gì nó? 
Nó mà bị xem là “găng tơ” ngày ngày đi dọa dẫm người bắt nạt tiền tháng thì tức cười quá! Bà chị Octavia biết chuyện chắc sẽ cười bò ra và bà mẹ dám nọc nó ra cho một chầu tackeril quá! Cũng tại thằng cha đầu bò ngang chướng mà ra hết. 
Larry đi vòng vo có đến một giờ đồng hồ, qua lại mấy lần nhìn vào mới thấy tiệm Hooperman vắng khách. Nó bước vào gật đầu chào và em đứng bán hàng cũng gật đầu chào lại khiến Larry xăng xái đi vào phòng trong. Phòng trong là lò bánh mì và mấy chiếc bàn la liệt những khay bánh. Có mặt Hooperman và cả hai gã vừa noi gương cứng đầu lúc nãy. Ba người đang ăn nhậu, giữa bàn bày một thùng lave bự. 
Vừa thấy bọn họ, Larry đã “quê” chịu hết nổi và chúng lại còn cười ầm lên khoái trá nữa. Vậy khác nào chửi vào mặt thằng ranh con học đòi làm găng tơ, nhè người lớn bắt nạt thuế! Điệu này chẳng bao giờ lấy nổi của Hooperman một xu chắc vì dưới mắt chúng thì dù một vợ hai con, Larry vẫn cứ là một thằng con nít hỗn láo. 
Đang cười sằng sặc, thằng lùn sói đầu chửi xỏ: “Tưởng ai hóa ra cậu thâu ngân của “Nghiệp đoàn”. Bữa nay cậu tính thâu bao nhiêu? Một chục, hai chục … hay năm chục đô la? Thiếu gì tiền đây … lại mà lấy nè!”. Nó cười hô hố quơ cả đống tiền liệng ra mặt bàn. 
Quê quá và bị hạ nhục tệ hại quá … Larry muốn cười cầu tài một phát cũng không nhếch mép nổi . Nó đành ráng bình tĩnh nói: 
– Xin lỗi, ông không phải đóng gì hết. Bữa nay tôi đến để thông báo cho ông Hooperman hay là … ông không còn tên trong “Nghiệp đoàn” nữa. Có vậy thôi. 
Hai gã bạn đang cười bèn khựng lại nhưng riêng Hooperman nổi sùng, lồng lộn lên làm dữ: 
– Nghiệp đoàn gì? Tao có bao giờ thèm biết đến cái Nghiệp đoàn khốn nạn của tụi bây … mà còn tên hay hết? Tụi bây nã tiền là không có mà một ly cà phê, một mẩu bánh tao cũng không thèm thí cho tụi bây. 
Larry cố làm hòa và cho hắn biết: 
– Tiền đóng Nghiệp đoàn chính tôi đã xuất ra đóng cho ông. Tôi không muốn một tiệm bánh làm bánh ngon thế này gặp những chuyện rắc rối. 

Photo edit by Sơn râu

Tiết lộ của Larry làm Hooperman hết say. Nhưng hắn nghiến răng chỉ tay tận mặt Larry chửi bới: 
– Đúng là quân găng tơ! Mày nồ nạt, dọa dẫm tao không xong tính chơi trò tình cảm hả? Bỏ đi! Sao mày không lao động như tao đây này mà cứ chơi gác đòi cướp tiền, cướp cơm của tao nhỉ? Một thằng làm quần quật một ngày mười hai giờ, mười bốn giờ như tao mà phải nạp tiền cho quân cướp cạn? Cút ngay khỏi nhà tao, cút gấp … thằng ăn cướp trẻ ranh! 
Thấy nó làm hung hãn quá, Larry không biết phản ứng cách nào . Đành quay mặt đi cắm đầu bước ra vậy. Ra ngoài cửa hàng vẫn còn ngạc nhiên quá nhưng nếu đi ngay thì hèn quá, sợ nó quá … nên để chứng minh là chẳng ngán gì nó, Larry dừng lại ở quầy hàng, bảo con nhỏ bán cho một ổ bánh mì, một chiếc bánh bơ phó mát. Con bán hàng lấy chiếc bánh bơ ra, đang cầm hũ đường rắc lên bánh theo lệ thông thường thì phòng trong có Hooperman hét ầm ầm rồi nó hùng hục chạy ra la lối: “Đồ ăn cướp … khỏi bán chác gì cho nó hết! Không bán”. 
Hooperman giựt đại hũ đường nơi tay con nhỏ, điểm mặt Larry và chỉ tay ra cửa hét lớn: “Cút ngay! Tao bảo mày cút khỏi tiệm tao mà?” 
Giận dữ run người, Larry còn nhìn nó châm bẩm thì bị Hooperman đưa tay xô ra. Dĩ nhiên hũ đường phải đổ hết cả vào cổ nó nên Larry thấy mất mặt quá. Nó lẹ làng đưa tay lên chỉ cốt gạt tay Hooperman ra và nắm cứng lấy theo phản ứng tự nhiên. Thế rồi một cú thôi sơn tay phải bay vào giữa mặt thằng mập. “Rầm” một phát, sức mấy Hooperman đứng nổi? Cái đầu sói bị một cú quá nặng bật tới bật lui … nếu không có cần cổ dám bay tuốt luốt luôn! 
Nhìn lại bộ mặt Hooperman quả là cả một sự tàn phá ghê tởm. Cái mũi xẹp lép máu tuôn ồng ộc ra mặt quầy trộn lẫn với đường đỏ lòm. Cặp môi nát ngướu chẳng còn hình dạng gì ngoài một cục thịt bầy hầy máu. Bên trong thì nguyên hàm răng bên trái nằm sang một bên. Thấy máu mình đổ ra, Hooperman đâm say máu lạng quạng từ trong quầy đi ra như một thằng say rượu, nhưng vẫn cố chạy ra đằng trước để chặn cửa Larry, không cho thoát chạy. Miệng nó thều thào: “Cảnh sát … kêu cảnh sát”. 
Con nhỏ bán hàng và hai ông bạn chạy luồn cửa sau. Một mình Hooperman giang tay chắn cửa trước … cặp mắt giương lên thấy ghê vì mặt mũi bầm giập đẫm máu. Nhìn trước nhìn sau Larry tính vọt đằng cửa sau thì bị Hooperman chạy theo nắm cứng … không dám làm gì, không dám đụng chạm nhưng cố níu cứng, nhất định không buông. Larry hất mạnh một cú là nó văng tuốt nhưng không lẽ lại xông vào đánh nữa? 
Đánh không nỡ mà đằng nào cũng bị bắt đến nơi, dám tù tội mất mặt cả nhà nên Larry bỗng nổi sùng lên phóng ra một đá bể tan cửa kính quầy hàng trước. Mảnh kính vụn bay tứ tán và Larry liên tiếp đá văng bằng hết mấy giá bánh bày dài dài. Tiếc của như phát khùng, thằng Hooperman nhào tới liền, ôm hai chân Larry vật té lăn. Vì vậy lúc lính tới hai thằng còn mải ghì nhau, vật nhau lăn lông lốc trên nền nhà đầy những mảnh vụn và mảnh kính bể. Không đứa nào chịu buông hết! 
Vào bót cảnh sát hai gã điều tra viên đồ sộ áp giải Larry vào phòng sau. Một gã vặn hỏi: 
– Thế nào, đầu đuôi ra sao … chú nhỏ? 
– Tôi đang hỏi mua bánh. Hắn gây sự, hắn hất đường vào mặt tôi. Nhân chứng là cô bán hàng … 
– Rồi chú mày đập nó lăn ra chứ gì? 
Larry lắc đầu. Đúng lúc đó có một cái đầu thẩm vấn viên thò vào cửa bảo: “Thằng mập vừa khai thằng nhỏ này đi thâu hụi chết cho Di Lucca đó nghe”. 
Gã điều tra viên đang lo vụ Larry bèn đứng dậy bỏ phòng đi ra. Mấy phút sau, hắn trở vào châm điếu thuốc hút, bỏ dở hỏi cung. Gã chẳng buồn hỏi Larry thêm một câu nào nữa. Nhất định gã chờ một cái gì. 
Chưa bao giờ khổ tâm đến vậy. Việc ra cò bót thế nào chẳng có báo đăng, thế nào lối xóm cũng biết? Rồi ra tòa, rồi lãnh án và ở tù thì … đẹp mặt cho cả nhà. Tất cả chỉ vì làm ăn với Di Lucca. 
Gã thẩm vấn viên nhìn đồng hồ. Hắn tất tả đi ra và mấy phút sau lại trở về y chỗ. Nhưng lần này hắn kêu Larry, ngón tay trái chỉ trỏ phía cửa: 
– Rồi, xong rồi. Vụ của chú có người lo rồi! 
Larry ngây người. Nó đâu biết gì, cứ tưởng tai mình nghe lầm. Gã thầy chú lại phải nói: 
– Kìa ra đi chớ! Sếp chú đang chờ ngoài đó … 
Một vị thầy chú khác mở bật cửa cho Larry đi ra và người đầu tiên mà nó thấy là sếp Di Lucca đang đứng chờ ngoài bực thềm cửa bót. Sếp bắt tay một thầy chú cảm ơn và vỗ vai kéo Larry đi xuống đường. Có chiếc xe mui kín chờ sẵn. Hai thầy trò lên ngồi phía sau. Thằng tài xế tưởng ai hóa ra thằng bạn học cũ của Larry biết mặt từ lâu nay. 
Gặp lại nó, Larry đã ngạc nhiên. Sự ngạc nhiên thứ hai là tự nhiên … Di Lucca lại choàng vai nó âu yếm, dùng tiếng mẹ đẻ khen ngợi: 
– Tuyệt … chú mày vừa chơi một cú tuyệt vời! Thằng khốn đó phải đập như thế đó nó mới ngán. Mặt mũi nó bây giờ méo xẹo, một bằng chứng hiển nhiên là chú mày chơi ngon. Nghe tụi nó báo cáo là nó từ chối không bán bánh cho chú mày … là chú mày cho nó nằm luôn phải không? 
Xe Di Lucca đi dọc đại lộ 10 vào trung tâm thành phố. Larry nhìn qua khung cửa kính, nhìn vào khu nhà ga. Dường như trong con người nó thay đổi lớn, đang lột xác từng giây, từng phút để biến thành một con người mới. Một con người khác hẳn. Từ nay khỏi có vấn đề trở lại làm Hỏa xa, khỏi ngán chuyện cò bót. Pháp luật từ nay đối với nó chẳng có nghĩa lý gì, kể từ giây phút nó vào bót gặp mấy thầy chú và ra đụng đầu sếp Di Lucca “bắt xua” bồ bịch. Nó không phải có cảm giác có vào bót cũng không được sếp gỡ ra dễ dàng. 
Larry không thể quên được vũng máu thằng Hooperman đổ ra, cảnh tượng nó đầy mặt máu mà vẫn liều lĩnh đứng chặn cửa và nhất là cặp mắt đổ lửa giữa đống thịt bầy hầỵ Ghê tởm quá. 
Vì vậy nó phải nói thẳng với sếp: 
– Ông Di Lucca … Tôi không thể làm công việc đi đánh đập người ta để trả tiền. Làm thâu ngân viên thì được chứ “găng tơ” tôi không dám đâu. 
Di Lucca vỗ vai Larry hỏi lại: 
– Ủa, ai bảo chú mày làm “găng tơ”? Tao làm “găng tơ” hồi nào? Tao làm ăn nuôi vợ, nuôi con và đàn cháu nội, cháu ngoại … chứ “găng tơ” mà làm Bố Già cho bao nhiêu đứa con cái bè bạn hả? Chú mày đã biết đời sống bên Ý nó tàn nhẫn thế nào chưa? Phải bới đất mà kiếm từng miếng xương như con chó vậy. Thế mà đã xong đâu? Đụng đến ai, nhờ một cái gì cũng phải lo lót! 
Một ông địa chủ nghỉ hè về làng chơi là phải biết! Con gái cả làng phải tới quét dọn hầu hạ, cắm bông tươi đàng hoàng … để được ông chủ ban một nụ cười và cái danh dự được hôn tay người! 
Chừng bỏ quê hương di cư sang Mỹ thì mọi sự thay đổi hết. Biến đổi như một phép lạ của Chúa vậy ! Còn ở bên Ý thì nhất mấy ông chủ đất. Nói gì một mẩu bánh chỉ cần đến một trái ôliu, một củ cà rốt của ông chủ cũng cần phải bỏ xứ trốn sang Phi châu. Còn ở xứ sở dân chủ này thì lại khác. Ông chủ không thế lực ghê gớm nữa mà thằng nghèo còn có hy vọng mở mặt. Vậy phải có một cái giá nào phải trả chứ?
Chú mày xem bộ thương hại thằng chó chết chủ tiệm đó? Bỏ đi! Chú mày thấy thầy chú đối xử tử tế không? Một phần vì chú mày làm cho tao, dĩ nhiên. Nhưng thằng cha chủ tiệm đó thì bần tiện, khó thương quá. Cò bót ở ngay kế bên mà nó có chịu lâu lâu biếu ít bánh, mời uống cà phê làm thân đâu? Ngay thằng có nhiệm vụ đi tuần tiễu trong khu của nó mà vào uống cà phê vẫn cứ phải chi như thường. Một người cư xử như vậy có thể gọi là được không? 
Di Lucca ngừng một hồi, xem bộ tởm thằng cha Đức đó hết chỗ nói. Ông ta lắc đầu: 
– Thằng khốn đó tưởng đâu hiền, có cơ sở làm ăn đàng hoàng chăm chỉ và không đụng tới pháp luật là chẳng sợ chuyện gì xảy ra. Vậy nó mới khùng! Bây giờ chú mày nghe tao nói đây … 
Hãy cứ lo mình trước đã. Chú mày chăm làm, đàng hoàng và kiêng pháp luật. Chú mày lao động quá xá chứ? Cứ xem cái cánh tay khổng lồ như đười ươi của chú mày là phải biết. Nhưng chú mày nghĩ lại xem, thời buổi này lấy đâu ra công việc? Có ai, có ông chủ nào tới nhét một phong bì lương vào tay chú mày để tưởng thưởng cho sự lương thiện đâu? Đồng ý là chú mày không phạm pháp thì chẳng ai dám tống chú mày vào tù thật … Nhưng có mài được cái lương thiện ra để nuôi vợ nuôi con cho khỏi đói được không? 
Vậy những người như mình thì làm sao mà sống? Việc làm không có, không ai trả lương, không dám phạm pháp, không dám trộm cắp chỉ vì hai chữ lương thiện. Và hậu quả gần nhất là đói chắc. Đói cả vợ chồng và con cái! 
Di Lucca nhìn vào mặt Larry, đợi nó cười … nhưng Larry vẫn nhìn chằm chặp, có ý đợi ông sếp nói nữa giảng giải thêm cho nghe nữa. Ông ta biết vậy nên nói thật trang trọng: 
– Cái vụ đánh đập vừa rồi lâu lâu mới xảy ra một lần chứ đâu có phải xử đụng tay đụng chân hoài hoài? Vậy đủ rồi! Bây giờ chú mày còn muốn làm ăn với tao không nào? Mỗi tuần $100 và có đất khá hơn. Chịu chứ? 
Larry đáp khẽ: 
– Cảm ơn ông … Tôi thì thế nào cũng xong. 
– Vậy thì tốt! Nhưng chú mày bỏ cái lối xuất tiền túi ra đóng cho chúng nữa nghe? 
Di Lucca vừa nói vừa thân mật điểm mặt làm Larry cũng phải mỉm cười: “Sẽ không còn cái vụ đó!”. 
Ở trên xe Di Lucca bước xuống, Larry muốn đi bộ dọc bờ thành xe lửa một lát để suy nghĩ chuyện đời. Nó cảm thấy ở đời khó lòng tử tế mà ép buộc mỗi người ta làm một cái gì theo ý mình muốn. Phải chơi dữ, phải đểu. In hình thấy nó dám ra tay hành hạ một người nào đó có kẻ còn thỏa mãn. Nếu không Di Lucca đã chẳng hân hoan sung sướng ra mặt sau khi hay tin nó đập bể mặt thằng Hooperman. 
Nếu Di Lucca không sung sướng vì chuyện đó thì chưa chắc Larry đã có một công việc nuôi vợ, nuôi con … và còn thừa thì phụ giúp mẹ để nuôi bầy em nhỏ. Nếu đời là vậy thì Larry đành phải chấp nhận vậy, cũng như nó vững tin là chính nó đập bể mặt Hooperman thật nhưng chẳng phải vì tiền thì đâu có vấn đề nó từng phải xuất tiền túi đóng “nguyệt liễm” giùm thằng chủ tiệm người Đức khó thương đó?


Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 25-9-1993)

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 26

Parc Maurice Long Là Vườn Ông Thượng Thì Chưa Đúng

Vườn ông Thượng, cũng gọi công viên Tao Đàn. Tôi không hay giỏi hơn ai, chỉ được cái già (tuổi 92) và là mọt sách. Tôi lại ham nói, nay xin nói về công viên, tên Pháp gọi “Parc Maurice Long” và có một tên Tây nữa là “Jardin de la ville”.

Theo tôi hiểu “parc” là vườn, công viên, hoa viên, gọi như vậy đều được. Có người đã nói và có lẽ nói ẩu là vườn Tao Đàn, có người gọi là vườn ông Thượng, và Thượng đây là toàn quyền Pháp tên Maurice Long.

Tôi nghe thì tức tức, nhưng cãi cọ, cãi giống làm chi, vì cũng là người kiếm cơm bằng viết lách như nhau. Nay tôi nói như dưới đây, nghe hay không, cũng mặc. Theo tôi tra cứu trong sách đã có, thì Maurice Long làm toàn quyền cõi Đông Dương đến hai kỳ, lần 1 từ 21-2-1920 đến 17-11-1920; và lần thứ 2, từ 1-4-1921 đến 14-4-1922. Nhưng Maurice Long khi từ Pháp trở lại kỳ nhì, khi Tàu đến Colombo, ông vướng bịnh và tắt thở ngày 15-1-1923, quan tài được chở về Pháp theo chiếc André Lebon. Cho hay làm đến chức toàn quyền mà cũng bị giặc trời như ai, quả trời xanh có mắt.

Còn danh từ “vườn ông Thượng”, theo tôi, ông Thượng đây là vì kính trọng không dám gọi tên và chỉ gọi theo chức tước, Thượng đây là ông Tả-quân có lăng mộ thờ nơi Bà Chiểu, ngài có miếu thờ trấn chận trước dinh tòa bố của Tây mà không bị Tây phá, và ngày xưa, đất của ngài, chạy dài suốt từ Lăng-miếu đến khỏi dinh Toàn-quyền Tây cũ và ăn lấn luôn vườn Tao Đàn nên dân chúng gọi “vườn ông Thượng” là vậy. Năm 1920, học trò trường Chasseloup-Laubat bỏ trường làm “reo” (grève) lần thứ nhứt ở đây, có tôi trong số nghịch ngợm nầy, thì đã có danh từ “vườn ông Thượng” từ lâu, từ đời cổ hỷ nào cũng không chắc.

Nay tôi xin trích dẫn ra đây lai lịch Parc Maurice Long, nhưng không chỉ tôi cóp theo sách nào.

Đầu tiên, vườn nầy vẫn thuộc và dính liền với hoa viên dinh Toàn-quyền cũ. Vào năm 1869, Phó Thủy-sư đô-đốc Contre-Amiral Ohier, với trách nhiệm làm toàn quyền, ra lịnh cắt đứt phần sau của hoa viên và giao cho đô-thành làm vườn công cộng cho dân chúng dạo chơi, nhưng suốt ba chục năm trường, đô-thành nhận lãnh mà không làm gì theo ý Toàn-quyền là phải nối dài đường Taberd (nay là đường Nguyễn Du) chạy nối giáp tới đường Verdun (C.M.T.8 nay) và khai thông vườn với ba cổng (cửa) lớn Taberd, Verdun, Chasseloup (nay đã có rồi).

Đến năm 1899, hoa viên nầy bị bỏ rơi, đô-thành không thiết tha đến, và vì vậy, có việc vườn bị cắt đất bán chia tam xẻ tứ, và nảy ra có:

– Hội Hiếu nhạc “société philharmonique” chiếm một khoảnh (1896) nay là Quốc-gia âm-nhạc.

– Hội Tam Điểm (Loge Maçonnique) chiếm một phần (1897) và năm nầy có đường Miss Cavell (nay là đường Huyền Trân công chúa);

– Cùng một lúc, có một thực dân Pháp đề nghị xin mướn trọn hoa viên trong 15 năm để lập vườn trồng cây va-ni, và cho dân được dạo chơi trong vườn, chừng ấy đô-thành mới tỉnh ngộ và không chấp nhận lời bao thầu như vậy.

– Năm 1902, Câu-lạc-bộ Thể thao “Cercle Sportif” thành lập chiếm một phần…

Đến ngày 26-2-1923, hội đồng đô thành mới thật thức dậy và để tưởng niệm Toàn-quyền làm khá nhiều việc ích cho xã hội, đã đặt tên là Parc Maurice Long.

Nhưng vườn vẫn còn bị chia cắt vì thống đốc Krautheimer, năm 1926 và 1927 lập nơi góc đường Chasseloup và Verdun Viện Dục-nhi “Institut de Puériculture”, năm 1932 trở nên trụ sở bộ Y tế và hội A.M.A.S.

Đến đây, tôi nghẹt lối, không biết gì thêm nữa, duy nay còn dư chút giấy, tôi xin thêm về Maurice Long, Tây với Tây phá nhau, nên đã có báo đối thủ, nhạo chơi và đặt tên lại là Maurice Scieur de Long và “scieur de long” là thợ xả súc gỗ thành gỗ ván, nhưng toàn quyền vẫn cười và không giận.

Một đàng khác, năm 1947, từ Sốc Trăng tôi chạy lên đây, và khi chạy lên xóm Cù Lao ở chung với bà Năm Sa Đéc, trên đường Võ Di Nguy, mé trái, từ Viện bảo tàng về xóm, nơi một quán nhỏ bé của một anh thợ hớt tóc quen nhau từ ở Sốc Trăng, khi tôi ngồi cho thợ cắt tóc, chợt tôi thấy treo trên vách, một bức ảnh vẽ dầu màu, là ảnh Maurice Long, miệng ngậm ống điều cối, râu ria xồm xoàm, tóc tai bù rối, tôi chăm chú nhìn thật kĩ, nói ra đây thì tục, và đó là ảnh một con đầm lõa thể nằm lõa lồ, tóc thả xuống, hai vế dựng ngược lên, và mồm của toàn quyền Pháp là cửa mình của mụ đầm. Tôi nài mua, anh thợ hẹn sẽ bán, sau tôi trở lại thì anh thợ nầy dọn đi mất!

Viết thêm 26-9-93:

Công viên Tao Đàn, tên Pháp Parc Maurice Long, tên xưa vẫn là Vườn ông Thượng, và một lần nữa, tôi xin lặp lại rằng ông Thượng đây, chính là ngài Tả-quân có lăng mộ và miếu thờ ở Bà Chiểu, mà xưa kia không một ai dám gọi ngài bằng tên tộc, chính chức phẩm cũng tránh và kính nể gọi ông Thượng là đủ, thậm chí vì ngài làm thái giám, thì dân chúng ở đây cũng kiêng cữ không dám nói chữ “giám” và dùng chữ “giếm” để thay thế.

Một tên Pháp khác là Jardin de la ville, thì rất phân minh rồi, duy còn một danh từ mượn của tiếng Tây là “vườn Bờ-Rô”. Bờ-Rô là gì, đến nay còn phân vân bất nhứt, mạnh ai nấy nói và giải thích, không ai nhượng cho ai:

– Một thuyết, do anh giáo Trần Văn Xường, dạy ở Chợ Lớn, nay đã khuất, Xường, tiếng Tàu, tức là Tường, vẫn cho rằng, hoặc người Tây coi sóc vườn có tên là ông Bureau, hoặc giả, ông nầy làm thêm văn phòng (bureau) và khi người phu làm vườn muốn lãnh tiền thì lên “bureau” mà lãnh, nên gọi vườn như vậy. Nay anh Xường đã không còn, tôi xin miễn luận.

– Một thuyết thứ 2 là theo như tôi đã nghe người tuổi tác dẫn giải cho biết, thì “Bờ-Rô” có lẽ do chữ “préau” của Pháp. Vả lại, hiển nhiên “Préau” là sân có lợp nóc để tránh mưa gió của các tu viện, bịnh viện, ngục thất và học đường, mỗi lycée nào cũng có, trường Chasseloup có một préau, không biết nay ra thế nào, và préau nầy ở mé đường Lê Quý Đôn, sát cửa vào.

Vậy tôi cin chừa danh từ “Vườn Bờ-Rô” cho người cao kiến dạy lại. Riêng như tôi biết và chứng cớ rành mạch thì nơi mé sân túc cầu, phía đường Huyền Trân, lúc đầu tôi thấy có một bệ khá cao và rộng, đời Tây, họ làm nơi diễn tuồng, diễn thuyết, có khi dọn làm sân đánh võ “boxe” và gọi “préau”. Qua năm có bày hội chợ, gọi kermesse, lối những niêm 1930-35 gì đó, thì họ đặt thêm nhiều chậu kiểng cau vàng và lấy préau nầy làm “théâtre de verdure” – “rạp hát ngoài trời hoặc lộ thiên” gì gì đó, và vợ chồng tôi vẫn có đến dự.

Nay nói bắc cầu luôn qua vài địa danh tiếng Tây, nay đã lạc lối, tỷ như:

– Service de pyrotechnie, đã dịch “Sở kho đạn”, tưởng khỏi cần dài dòng…

– Có 3 địa danh đều do chữ “ma” khởi đầu: thành “Ô Ma” là thành lính tập “tirailleurs”, Pháp gọi Camp des Mares. Khu đất rộng bao la hà lãng, nay lấy làm trường Đại học Sư phạm, vân vân, trước kia thuở đàng cựu, có miếu thờ cô-hồn và Ngũ Hành, và nơi mé Nguyễn Cư Trinh, tôi có gặp một trại thật lớn lợp ngói có rất nhiều cột gỗ bị mối ăn, gọi Hiển-Trung-từ do chúa Nguyễn Ánh lập thờ công-thần (có thờ lính Pháp tên Manuel – Mạnh Hòe) nữa và đời Tây thì để luôn làm miếu của Trại Lính Tập, vì Hiển-Trung-từ nầy vẫn liệt vào hàng cổ-tích (monumments historiques), nhưng đến kỳ Tây trở lại thì nhà binh Tây dỡ bỏ…

Chính lối năm 1948 hay 1949, tôi đi với ông Pierre Dupont vào đây tìm miếu HIển Trung, có gặp một ngôi mộ cổ kiên cố và đã lạc lối khó biết đường về.

Khu Thành Ô Ma gồm khu rộng chung quanh theo tên cũ là đường Arras, Frères Louis, Nancy và đường xe lửa Biên Hòa – Hà Nội, mé đường ngang rạp chớp bóng thẳng lên nhà thương bà Từ Dũ ngày nay và dọc theo đường sắt cũ, trước kia thường ngập lụt, và gọi “Đường Nước Nhĩ” tên ấy chọn thật đúng, vì nước ứ đọng thường. Trong sách Trương Vĩnh Ký để lại và tạp chí Excursions et Reconnaissances cũ, có nói trước khi biến ra thành Ô Ma, thì Tây có lập sở Nuôi Ngựa (Haras) sau dời về Tân Sơn Nhứt.

Một địa danh cũ nữa là Mares aux Poissons, truy ra ngày xưa khi Tây qua đây, ngày được nghỉ lễ hoặc ngày chủ nhựt, để giết thì giờ, họ ít đi săn bắn vì ít an ninh, nên thông thường họ thích đi câu cá, còn phụ nữ Pháp thì chiều chiều ngồi xe song mã, thắng hai ngựa, chạy vòng chung quanh Sài Gòn/Gia Định và gọi Tours de l’Inspection, dạo vòng quanh đường tuần tra. Quan viên, nhứt là kỹ sư quan võ thì câu nơi Thành Ba Son, tiếng Pháp là Mares aux Poissons, nhưng đã có người diễn khác và rằng có một thợ tên “Son” thứ 3, nên đặt gọi Ba Son. Tôi biết một giai thoại có một thợ sở Ba Son, có tánh lập dị, thích hút xì-gà (cigar, thuốc cuốn để nguyên lá), và ngày nào, chiều ra sở đón xe lửa về Gò Vấp ai ai cũng vẫn thấy cụ ta ngậm xì-gà, sau mới rõ một tuần cụ chỉ ngậm duy nhứt một điếu, cứ lên xe là quẹt đốt rồi để tắt, v.v… chừng ấy dân Gò Vấp mới đặt tên cho cụ là “Ông Xi-gà tuần”!

Một thuyết nữa là Trại chữa ghe tàu Ba Son, Pháp vẫn gọi “Bassin de radoub”, bassin là ụ nước, radoub là sửa chữa ghe tàu, từ Bassin biến ra Ba Son, dễ ợt!

Vậy tôi xin chừa độc giả mặc tình chọn lựa. Ngày xưa, chúa Nguyễn lập và tàu đi biển vẫn gọi tàu ô, vì lập nơi Ba Son, nên nay khó làm cầu bắc ngang qua Thủ Thiêm, khiến Thủ Thiêm ngó ngang Sài Gòn mà không phát triển được.

Một địa danh nữa là Ô Cắp tức Pháp là “je vais au cap”, và cap là cap Saint-Jacques, tức đi Vũng Tàu. Tôi không cần nói dài, độc giả dư biết.

Còn 6, 7 cơ sở nhà binh cũ của Tây, xưa thuộc cơ mật, ít cho nói, nay xin kể mà không dẫn giải:

– IIème R.I.C Onxième Infanterie Coloniale là thành Sơn Đá, khu Đại học Lâm Nông tên chánh thức là Caserne Martin des Pallières (lập lối 1870 đến 1873). Sau khi binh Tây rút lui về xứ, tôi đề nghị và kiến trúc sư Lê Văn Lắm cắt thành Sơn Đá làm thông thương và có đường Đinh Tiên Hoàng nối dài tới Chasseloup như hiện nay.

– Khu lính thủy (Marine) gọi Garnier;

– Trại San-đầm Gendarmerie Le Lièvre;

– Khu Pháo-thủ (Artillerie) (camp Virgile);

– Tòa án nhà binh (Tribunal Militaire, Justice Militaire);

– Direction du Génie;

– Direction d’Artillerie;

– Bureau de recrutement La Grandière, v.v…

Khi Tây qua đây, ở miền Nam, vẫn do quan võ cai trị nên dinh họ ở gọi dinh phó soái, vì chánh soái, tức là quan toàn quyền Đông Dương. Chính trạng sư (luật sư) Blancsubé (đường Lăng Xi Bề) (1834-1888) năm 1879 tranh đấu và thắng được, giành quyền cai trị trả về quan văn mới bỏ chức Phó Soái (La-Lăng-De: de La Grandière) và gọi dinh thống đốc v.v… Blancsubé ở Tòa binh vực cho nhóm Chà bán vải, trước đây còn rao hàng “Première qualité! mêm xôi (Même chose) Blancsubé!” và vải bán vo vo.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
(viết ngày 7-10-1993)

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 25

Thuật Lại Gốc Tích Việc Học Chữ Tây Và Sự Tích Trường Chasseloup-Laubat

Trường trung học Tây gọi trường Xách-lu (collège Chasseloup-Laubat) nay còn sừng sựng y chỗ cũ, nhưng danh vị và tên gọi đã thay đổi mấy lần. Tôi là một trong nhóm sáu bảy đứa còn sống sót, chúng tôi vào học năm 1919, thi ra trường năm 1923, nay tôi ghi chép lại đây những gì biết và đã học về trường nầy. Lập năm 1874 do Nghị định 14 Novembre 1874, chỉ sau ngày Tây chiếm trọn Lục tỉnh Nam kỳ có bảy năm. Ban sơ khi chiếm làm thuộc địa, Tây đã gởi sang Pháp một số học sanh có khiếu và cho học trường ở Alger, vì e không chịu nổi thời tiết quá lạnh bên Tây. Còn nhớ vài ông xin kể sơ là Diệp Văn Cương, Nguyễn Trọng Quản, Lưu Văn Lang, Lương Văn Mỹ… Và năm 1874 thì xây dựng xong trường Chasseloup-Laubat, học sanh nội trú bản xứ học quãng góc đường Mac Mahon-Testard đươc phát ảo nỉ nút một hàng và gọi khu bản-xứ (quartier indigène) và một ít năm kế đó xây dựng thêm góc Mac Mahon – Chasseloup Laubat, làm ra khu quartier Européen dành cho học sanh Âu.

Buổi đầu mỗi năm trường thâu 100 học viên, cho học ba năm (sau lên bốn năm) thì mở khoa thi ra trường lấy cấp bằng gọi diplôme và thi năm 1877, hình như chỉ dạy bốn bài toán, và văn Pháp, nhưng các ông ra trường ấy đều cứng cáp về tiếng Tây và dịch phiên âm rất tài tình, những khóa sau học thêm nhiều môn nữa như trí-tri sự việc (leçons des choses, v.v…) nhưng không lão luyện bằng mấy khóa đầu. Học sanh thi đậu ra trường sẽ tuyển làm giáo viên (instituteurs) để truyền bá lớp kế, và chọn trong 10 đậu đầu cho lương sáu đồng bạc (6$00) mỗi tháng, người đậu 11 đến 20 sẽ bổ làm thơ ký (sécrétaire, lương 4$00 (vì có tiền trà nước, gọi lì xì, chưa phải là tiền hối lộ). Từ số 21 đến sau sẽ bổ nhiệm qua các sở như bưu điện, công chánh, điền địa, vân vân. Về sau Pháp mới nghĩ lập thêm 4 trường dạy công nghệ (sẽ nói sau).

Tôi xin nhắc lại đây năm 1884 Pháp mới chiếm Bắc kỳ, và vào năm 1927-1928, collège Chasseloup-Laubat, Tây dành lại làm trường Lycée dạy tới bằng tú tài, và đưa tất cả collégiens bản xứ qua học trường trung học mới là trường Pétrus Ký. Từ 1928, học trò học chữ Tây càng ngày càng đông và thi đậu tú tài, cử nhơn quá đông, chớ lúc đầu tiên nhà có của có sản nghiệp, vì nhớ cựu triều vì sợ triều cũ trở lại, nên ít cho con vào trường Tây, phải bắt đi học và vẫn có trốn học. Vào học được nội trú thì được lương 4$00 mỗi tháng, có phát xà-bông, y-phục 2 năm cho một vài bộ mới và có áo nỉ để hãnh diện.

Tôi nhớ dường như khi mở trường cao đẳng y khoa đào tạo lương y phụ-tá (médecins auxiliaires) và mở trường cao đẳng hành chánh (école de droit) thì ở Bắc các tiểu thơ mới đẻ ra các tiểu thơ mới đẻ ra “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, và khi khoa bảng Tây có nhiều, ta có đến thạc sĩ (agrégé), cử nhân, tấn sĩ, kỹ sư cầu cống, vân vân, khi ấy Tây mới khóa chặt sự học, sanh ra đậu cao mà thất nghiệp mới biến ra chống Tây.

Rồi ta có người nói tiếng Pháp, Tây cãi không lại (đấu khẩu giữa Châtel, phó toàn quyền với Lê Văn Kim, luật sư, cãi nơi hội đồng kinh-tế Đông-Pháp (conseil supérieur des finances gì đó) nên Châtel phải rút nghị-định siết chặt gì gì đó…

Tôi lại nhớ chính Paul Doumer, toàn quyền nầy, đã lập trường Y khoa ở Hà Nội, thay vì lập ở Sài Gòn vì Doumer cho rằng con nhà giàu trong Nam dễ ra Hà Nội học, lại nữa mở trường Y khoa ở Bắc đễ dụ sinh viên Trung Quốc qua cũng như mở đường sắt lên Vân Nam là Pháp đã dòm hành vùng sang đất Tàu.

Một lần nữa tôi nhấn mạnh, tục chơi đồ cổ thạnh hành, là từ Khải Định ăn lễ Khánh-hạ tứ-tuần (1925) và từ bác sĩ Cognacq và Bernard, cả hai người ham đồ cổ, mới có chạy đua mua sắm đồ cổ. Xin đừng quên trước đó tánh sợ ma, ngoài Bắc thì ma xó ma trành, ở Trung miếu thờ lủ khủ, Tháp Chàm… trong nầy sợ ma quỉ, sợ ông Tà á-Rắc, thì có ai dám chơi đồ xưa??

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
(viết ngày 5-10-1993)

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Phần 24

Luận Về Đồ Xưa, Sách Cũ Và Nói Thêm Về Lăng Phạm Đăng Hưng Ở Gò Công

– Xin hỏi đồ xưa là gì, và sách cổ khác với sách cũ thế nào?

– Tôi trả lời lẹ, những việc ấy tôi đã có nói rồi trong bộ Hiếu cổ đặc san, sách ấy đã bán hết, nay không cần lặp lại và xin tóm tắt gọn.

Lấy một tỉ dụ nhỏ, khi tôi năm 1947 bỏ chạy từ Sốc Trăng lên Sài Gòn, kết bạn với Năm Sa Đéc, mướn một chòi lá mỗi tháng trả ba đồng, ở xóm Cù Lao đường Võ Di Nguy cũ, trước chòi có một dây bầu, lúc ấy vận cũng vừa đỏ, viện bảo tàng trong thảo cầm viên mời tôi vô làm thơ ký trả lương công nhựt, tôi thấy giàn bầu kết chà tre, tôi bèn lựa một nhánh con, cắt làm cán bút, trở vô làm theo lối tạm bợ chạy gạo qua ngày, cán bút ấy là một nhánh tre quèn, nhưng đối với tôi nay là vật kỷ niệm, trở nên vật xưa.

Xin lấy một tỉ dụ khác, cũng lúc ấy, tôi lượm một miếng gỗ trắc đáng cho vào bếp chụm, tôi đưa cho một thợ dân làng Đình Bảng tôi tuyển vào viện bảo tàng làm phu gác đêm, và gặp tay khéo có hoa tay, miếng gỗ trở nên một cây dao rọc giấy, và cây dao ấy tôi vẫn giữ, kể như hai vật nầy, nếu rớt rơi giữa đường, ít ai ngó ngàng đến, chẳng qua biết giá trị hay là không, cũng tùy người.

Cán bút tre và dao rọc giấy nầy, nay đổi bút Waterman hoặc dao rọc mạ vàng, tôi cũng không ưng. Trái lại đời Tây trở qua, Bollaert và ông Bảo Đại kéo nhau ra một hải đảo, ký kết với nhau gì đó và đổi nhau hai cây bút máy mắc tiền, nhưng tôi dám chắc hai ông không giữ hai bút kia đâu, ngai vàng còn bỏ, huống hồ vật ti-tiểu, có tiền muốn mua lúc nào lại chẳng được.

Và nghĩ lại cũng buồn, trên kia một nước lân bang nọ, người ta biết củng cố ngôi, còn ông nầy lại bỏ ngôi, âu cũng vận mạng gì đó, chớ chi ông biết nhẫn nại và chịu khó một thời gian, thì ắt cũng được đất phong hầu, nói nữa không hay.

Mấy hàng trên đây, tôi cố viết để tả nỗi lòng, nhưng độc giả khi đọc ắt là nhức mắt vì tôi nói quá mơ hồ, làm sao hiểu được nỗi lòng của tôi, ấy chẳng qua là tại tôi bất tài, viết không được hết ý, kỳ trung tôi muốn giải thích, “chơi đồ cổ” cũng như “chơi sách xưa, sách cũ” đều là phải có chút năng khiếu và chút ít thiện chí, chớ không phải vì có nhiều tiền, rồi ỷ của, mua quấy mua quá, rồi tụ hào “đã biết và thành thạo chơi đồ xưa!”

Tôi xin lấy tỷ dụ của tôi mà nói, năm 1928, khi tôi từ trường Máy (Ecole des Mécaniciens Asiatiques) ở Sài Gòn, được thuyên chuyển về làm bút toán nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Sa Đéc, lúc ấy, tôi quả có lòng ham muốn và muốn học chơi đồ xưa, nhưng tôi nào biết ất giáp gì, và mấy lần tôi có dịp đi ngang hai nhà buôn đồ xưa, nhà ông Tư Muôn và nhà ông Thợ Thiệu, tôi vẫn thấy trưng bày nhiều dĩa “ám-long” (cũng gọi dĩa long-ám), có mây xanh xanh vẽ trên lòng dĩa màu trắng đẹp, hỏi giá, trả lời “mỗi dĩa 5$00” nhưng nào tôi dám mua, vì xin nhớ 5$00 lúc ấy (lối 1928) giá trị tương đương hoặc nhiều hơn 50.000 đồng giấy ngày nay (1993); lại nữa, lúc ấy, tôi đang không đủ tiền chợ tiền cơm, tiền đâu có mà sắm sanh đồ chơi quý giá.

Trái lại ngày nay, những dĩa ám long long ám ấy đã không còn thấy nữa, hoặc đã xuất ngoại, hoặc đã cất giấu trong tủ “nhược thâm trân tàng” chăng?

Về sách báo cũ, sau ngày Giải phòng 30-4-1975 cũng đã biến mất, nay mấy nhà bán sách cũ, nếu còn giữ được thì bán giá “mắc như vàng” tôi nào dám rớ. Chung qui, mọi vật đều tương đối, thay đổi về giá tiền và về giá trị tùy thời. Người biết chơi, không nên tị hiềm và phải ở theo thời mới được.

Vừa rồi, tôi nhơn đọc báo, thấy trên tờ Văn Nghệ số 110 (từ 7 đến 13 th.10, 1993) có bài “Nỗi buồn Lăng Mộ” của Nguyễn Hoài Nhơn viết và tỏ ý than tiếc cho mộ Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức bị phá hư và không ai lo tu bổ; nay tôi không có ý làm quảng cáo nhưng xin tán đồng ý kiến của tác giả Hoài Nhơn và tôi thầm trách làng xã ở Gò Công, có di tích cũ mà không biết giữ gìn, trái lại tỉ như hạt Sa Đéc vẫn có lăng mộ ông Nguyễn Thành Nhơn (ông Nhơn nầy là quan lớn đời vua Gia Long) vẫn không nghe bị phá phách gì, và theo tôi chẳng qua vì hai chữ may và rủi, và có lẽ mộ lăng ông Nhơn được ở về địa phận một vùng yên tịnh, có làng xã biết giữ gìn di tích cũ xưa, và trái lại ở Gò Công, làng xã đã không biết bảo tồn mộ lăng P.Đ.H và thêm nữa cháu con dòng họ Phạm cũng không biết bảo thủ lăng mộ của ông bà để lại, và nhứt là từ ngày họ Nguyễn Phước đã có người bất tài (B.Đ) kế vị, không được như trên kia, hoàng tử đất Angkor, B.Đ. đã bỏ nước ra đi, và nhà Ngô Đình lên ngồi ghế tổng thống chỉ lo củng cố địa vị họ mình và thêm nữa chính Ngô Đình Nhu, học bên phương Tây mà áp dụng trật lất lấy gương Khu Chiến Lược của Mã-Lai-Á hay của Nam Dương quần đảo đem về đây thi hành lỏng lẻo, khiến nên đã đuổi dòng Phạm Đăng không cho ở nơi nhà cũ, bỏ trống nhà nầy vì phải theo lịnh Đình Nhu ra ở dưới quyền kiểm tra của ấp chiến lược tai hại kia, và đến đây xin cho tôi nhắc lại chuyện xưa. Năm đó, Tây còn ở đây, tôi đã làm tài khôn dẫn dắt đưa nhơn viên và hội viên hội Pháp Société des Etudes Indochinoises (hội Cổ học Ấn Hoa) đến Gò Công viếng di tích “nhà cổ Phạm Đăng Hưng”, thì năm ấy, nhà cửa dòng họ của bà Từ Dũ thái hậu đã tiêu điều, đồ từ khí trong nhà, như lư hương và đồ thờ phượng (chưn đèn, lư đồng), đã bán hoặc bị mất cắp từ trước, (buổi đó tôi không xem phần lăng mộ, nên nay xin miễn bàn đến). Và trở lại nếu mộ cũ P.Đ.H. ngày nay bị phá bị làm cho hư tệ, tôi xin qui tội cho nhà Ngô Đình trước và sau đó xin mạn phép trách làng xã Gò Công thật là quá lơ là và không lo gìn giữ bảo tồn di tích cũ xưa. Nay thì đã muộn, lăng mộ điêu tàn, dầu có xuất tiền muôn bạc triệu sửa chữa cũng không làm sao còn y như cũ. Ở Huế thì lăng mộ Kiên Thái Vương cũng điêu tàn, duy như tôi đã từng thấy nhiều nơi từ Thổ Nhĩ Kỳ nơi Istanbul, qua La Mã (Rome), Pháp, đền đài vua chúa nơi nơi đều giữ lại kỹ càng và lấy đó làm chỗ khai thác du lịch, vân vân; duy có nước mình, dân ương ngạnh quá nhiều, khiến lăng bà Thái hậu Từ Dũ thì bị đào và ăn cắp vàng nữ trang, mộ cấp nhà giàu như mộ bà Hà Minh Phải ở Tân Sơn Nhứt cũng bị đào và kẻ trộm đã lấy cắp đầu lâu của bà H.M.P vì miệng có ngậm kim cương lớn hột mà tên trộm lúc đào tìm không thấy, và những việc hư tệ phá hoại như vậy, chỉ tạm nên trách giáo dục còn non, dân tín còn thiếu, và vì không tiền không bề thế thì trách làng trách xã cũng nên tội nghiệp cho làng cho xã và riêng tôi, tôi phải chịu tội nói oan…

Trở lại vẫn đề chơi đồ cổ và chơi sách hiếm, theo tôi phải có bản lĩnh trước đã rồi sẽ nói về phương tiện và may rủi về sau. Chung qui tôi có phần dị đoan và xin độc giả bỏ qua cho. Và âu cũng là “vận, hạn”!

Tôi đã bắt quàng nói về lăng mộ cũ, nay nói qua đồ cổ và sách cũ, theo tôi, chánh phủ nên cứ cho chơi, cho dân chơi líp (libre) mà khỏi làm chánh trị! Lời nói ấy là lời một kẻ già nói tầm xàm bá láp, xét lại ngày xưa già nên nết nên trên cao chấp nhận lời của hội nghị Ziên Hồng, còn nay già như tôi, tưởng nên câm miệng lại là hơn, tuy vậy, đã trót và lỡ nói, thì cũng nên nói luôn, còn chấp nhận cùng chăng là của người cao kiến khác. Điều cần nhứt là không nên ở trên tuyên bố mà không thực hành. Trước đây, cho phép đào mả lấy chỗ trồng trọt cho có hoa lợi, nhưng khi áp dụng, nhà nước coi không xuể không xiết, vả chăng con nhiều cha không lo giỗ và cha nhiều con thì con mảng lo chia gia tài và đã quên tuân theo lịnh cha, câu ví dụ đã sai mà thật ra dân ngày nay cũng có phần khó trị, trên dạy và cấm thì dưới giả tuân lời mà vẫn tréo ngoe làm trái lịnh trên, tốt hơn là làm sao đừng có Tuấn Đen, Tuấn Trắng lủng đoạn nơi không cảng T.S.N. và tốt nhứt một lẽ khác là nên giáo dân cho biết tuân lịnh trên, vân vân. Lời nói mấy trang nầy là dư thừa, gẫm lại chánh phủ có đường lối của chánh phủ và như tôi đây, không nên xía vào việc lớn.

Tôi viết mấy trang nầy, bằng như may lời nói được xét và nghe theo, thì tóm tắt lại tưởng nên “đừng cấm việc chơi đồ cổ và đừng cấm việc chơi sách cũ, sách xưa, để chỗ trống cho dân có chỗ để thở, và cấm quá có ngày nồi súp-de (chaudière) nước sôi quá tự biết mở nắp thùng xòa, e tràn lan cả đám”.

Chú Tư Cầu

vandoanviet.wordpress.com

Lê Xuyên

Post on 27 Sep 2018

Post by Sơn râu 12 Jul 2024

Văn Học Miền Nam 54-75 – Lê Xuyên

Kỳ 4

Lời tựa

Hiện tượng của truyện dài viết từng đoạn, đăng từng kỳ nơi trang trong các nhật báo, như chúng ta đang thấy lan rộnq thành một lan rộng bao trùm toàn diện, đẩy hầu hết những cây bút sáng tác chuyên nghiệp hiện nay tới kiếm tìm một văn thể mới, áp dụng một bút pháp mới. Kỹ thuật được mệnh danh là kỹ thuật viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày, ở mỗi người viết, phơi bày thành một phong cách biểu hiện khác nhau, nhưng mục đích muốn tới và dụng tâm cuối cùng thì giản đơn và sáng rõ là một.
Đó là: tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn, nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện, là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã đầy đặc những tình tiết bốc cháy từ những dòng mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang vòm trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Bằng những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về thì quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một sáo trộn đóng khung trong một cảnh trí này, ném bỗng sáo trộn ấy vào một cảnh trí hoàn toàn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư, nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn sảo thuật hâm nóng cảm giác, làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoản ấy, đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh, bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thức thực hiện phim ảnh. Nói chung, đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quan ta.
Ở ngòi bút Lê Xuyên và tiểu thuyết Lê Xuyên, vì cũng viết ra trước hết cho báo hàng ngày, chúng ta cũng thấy thấp thoáng sự nhập nội vào văn thể những kỹ thuật ấy. Nhưng Lê Xuyên không chỉ giới hạn khả năng trước tác của mình vào xử dụng kỹ thuật tiểu sảo. Và tiểu thuyết Lê Xuyên thật đông người đọc, tất còn phải chứa đựng, một sắc thái độc đáo nào? Câu trả lời là có. Đó là không khí, cảnh trí, những khuôn mặt điển hình, những cuộc đời đặc biệt những danh từ địa phương, cùng lối miêu tả sự việc bằng đối thoại cực kỳ linh động chỉ thấy ở tiểu thuyết Lê Xuyên.
Không khí, bầu trời của văn truyện Lê Xuyên là một không khí rất nước Việt miền Nam, một bầu trời rất miền Nam thôn dã. Đang nắng lửa chói chang, chợt đã mưa rào đột ngột. Phút trước trời còn ngọc thạch, phút sau đã sầm tối mây đen. Kinh rạch chằng chịt, ngòi rạch lang thang. Trong ẩm ướt nhiệt đời, lúa mạ tốt tươi trùm lan thành nườm nượp mùa màng. Trời, đất, cỏ, hoa nồng cháy một hiện tượng giao tình thường trực. Không khí có sấm chớp trên kia và đời sống dưới này là rạo rực hình hài, là thần kinh bốc lửa. Như Cửu Long nước đầy, thiên nhiên và địa hình miền Nam đã là những phát hiện tự nhiên chan hòa sức sống. Bằng những liên hệ biện chứng với ngoại giới, người và đời sống của người, bởi vậy cũng đồng dáng với thiên nhiên và đồng tính với địa hình. Người đọc đã hiểu tại sao là nhân vật và nhưng diễn biến tiểu thuyết Lê Xuyên thật hiếm ít những dấu tích và những đặc thù của văn minh phường phố. Tư Cầu có thể một bữa kia ra tỉnh. Đi coi hát bóng, vào phònq trà. Nhưng nguồn gốc, lẽ phải, hạnh phúc và cái làm nên thế quân bình cho đời sống Tư Cầu và những người đàn bà trở thành đối tượng cho bản năng Tư Cầu bốc cháy là giữa cái lồng Iộng phơi phới đó của trời là màn, chiếu là đất, cỏ cây bằng hữu và trăng sao tình nhân. Thôn dã miền nam trong tiểu thuyết Lê Xuyên không rối rắm những phong tục lâu đời, chồng chất những tập quán cố định. Như ta thấy ở Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc hay ở những tiểu thuyết thôn quê, tiểu thuyết phong tục tiền chiến của Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài. Đó là một thôn dã mộc mạc hơn, còn đằm thắm cái đằm thắm ngu ngơ của sơ khai và tiền sử tính. Nước chảy khônq ngăn giòng. Cỏ mọc trăm bãi bờ. Đó là cái trạng thái tự do của tạo vật. Người sống như tung tăng cá lượn, rất hoang cái hoang của con ngựa hồng không yên cương. Đó là cái trạng thái tự do của con người, mặc dầu la một tự do thấp và vô thức. Nhân vật tiểu thuyết của Lê Xuyên không chạy theo sức xô đẩy của tâm hồn, bởi vì không nâng đời sống tới những rung động tâm hồn, mà ném mình vào những vở và tự nhiên của thú tính. Tôi nhắc lại: đó là một phong cách sống tự do, tuy thấp và vô thức, nhưng không phải không lần lên thành những vết đẹp riêng.
Nhiều người cho rằng, truyện Lê Xuyên hay nhất ở những phần đối thoại. Đối thoại có chuyên chở sự việc, có phân tích tâm lý, nghỉa là có thuật có tả ở trong. Nhận xét trên đúng, và cũng dễ hiểu. Ngôn ngữ tiểu thuyết Lê Xuyên là thứ ngôn ngữ nói chuyện không biến hình bằng những chỉnh bút pháp cho chuốt lọc hay văn hoa bay bướm hơn, cho nên cái khó nhất của nghệ thuật viết chuyện là đối thoại thì Lê Xuyên lại thành công tốt đẹp nhất ở đó.
Đề tựa Chú Tư Cầu, tôi không bảo đây là một tác phẩm nghệ thuật. Đăng từng kỳ trên báo hằng ngày rồi mới được in thành sách, chưa một sáng tác nào của chúng ta xứng đáng với ý nghĩa và thực chất phải có của một tác phẩm nghệ thuật. Ý nghĩ sau cùng của tôi về Lê Xuyên: Anh là một cây bút viết truyện có thật nhiều khả năng đáng quý, và rồi Lê Xuyên sẽ là người nhận thức và phát huy được rực rở những khả năng đáng quý ấy của mình trong những sáng tác được cô đọng lại, có một chủ đề nhất định, một bố cục vững vàng và châu đáo hơn.
Thế giới tiểu thuyết chúng ta hiện nay là một căn phòng bưng bít tức thở. Người viết truyện sống tập trung trong thành phố, chỉ viết về thành phố. Hè đường, mặt nhựa, cột điện, phòng trà, vũ trường, bin-đinh, gái điếm, khách chơi, quần ống tủm và đợt sống mới xếp chồng lên nhau trong những nội dung tiểu thuyết ngột ngạt đồng dáng. Phải phá vở sự giam nhốt choáng váng ấy. Phải đẩy ngòi bút vào những hành trình cần thiết tới những chân trời mới. Phải mở những cánh cửa khác vào đời, cho bắt gặp nhữnq hình thái sinh hoạt thiên hình vạn trạng đang diễn ra không chỉ ở nơi có lửa điện và nhà chọc trời, mà còn ở những vùng có ánh sáng của trăng sao chiếu soi xuống mênh mông ruộng đồng thôn xóm quê hương đất nước chúng ta. Tiểu thuyết ta hiện đang thiếu vắng, nhiều hơn bao giờ, những chủ đề phản chiến và làm sống lại những thực tế phong phú mới lạ khác biệt hẳn với thực tế cảnh trí phường phố.
Thôn dã và đời sống, con người thôn dã cùng những vấn đề, những thực tế, những khát vọng, những vươn tới của con người thôn dã, phải được đặt thành chủ đề sáng tác chính yếu. Tôi nghĩ những người “có thôn quê trong tâm hồn” Lê Xuyên có đủ điều kiện tạo dựng những vòm trời mới bên cạnh vòm trời phường phố đang ngột ngạt phủ trùm lên thế giới tiểu thuyết chúng ta hiện nay.

MAI THẢO

1.

Trời đã chạng vạng tối…
Tư Cầu mới về tới nhà lấy thêm lúa cho vịt ăn. Nói chuyện bá láp một hồi mà trời sụp tối lúc nào không hay! Đến chừng nghe thiếm Hai má của anh ta hối, anh ta mới hay:
– Ủa Cầu, mày tính ở đây nói chuyện dần lân riết rồi không chịu đem lúa vô trổng hả! Bộ mầy không vô gom ba con vịt lại hả?
– Tui có gởi con Phấn nó coi chừng dùm rồi mà!
– Ừ gởi! Để tía mầy về ổng thấy ổng đả cho mầy một trận rồi mầy kêu trời!
– Thì đi đây nè…
Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng gì nữa hết, xốc thúng lúa lên nách bưng đi. Anh ta ghé qua mái nước múc một gáo uống ừng ực. Rồi như để trút nổi bực tức, anh ta hắt tẹt nước còn dư vào đám rau om, móc gáo vào cây đinh nghe một cái cộp, lấy tay quẹt miệng rồi bưng thúng lúa thẳng ra bờ xẻo trước nhà.
Để thúng lúa xuống xuồng vững vàng rồi Tư Cầu vừa nhổ cây sào vừa đưa chơn tống xuồng ra và chống sào cho xuồng đi vèo vèo trên mặt nước.
Mùa nầy nước trong xẻo Rô cũng cạn.
Đôi lúc lườn xuồng, be xuồng cọ rào rào vào những đám rau muống, những đám lục bình, những nhánh điên điển.
Trời chỉ còn mờ mờ sáng…
Ra giữa khoảng đồng trống, gió thổi mát rượi. Tư Cầu cũng thấy thơi thới trong lòng chớ không còn bực bội như hồi nãy nữa.
Và như cảm hứng, anh ta vừa chống vừa ca vài câu vọng cổ, cái bài vọng cổ “văng vẳng tiếng chuông chùa…” mà anh ta nghe ở cái máy hát của ông Xã Tám. Có mấy cái dĩa hát đi hát lại hòai anh ta nghe riết rồi cũng thuộc long hết. Thuộc lòng rồi anh ta sang qua bắt chước cho đúng cái giọng ngân ư… ử… của Năm Nghĩa, cái giọng mà anh ta cho là “mùi bạt mạng”.
Trong buổi chiều tà, giọng của Tư Cầu vang lên trên đồng vắng. Tiếng ư ử vuốt câu ca của Tư Cầu (theo điệu Năm Nghĩa) đôi lúc bị khựng ngang mỗi lần anh ta phải chống sài xuống để đẩy xuồng đi tới.
Càng vô sâu trong ruộng đường nước càng hẹp và trong cảnh nhá nhem những đường nước ấy chỉ còn là những vệt sang sáng ngoằn ngòeo như những lối đi mòn trên cỏ.
Chống gần tới chòi giữ vịt của Phấn, một cô gái chăn vịt ở gần đó, Tư Cầu dừng sao lại lấy hơi hú:
– Ì ì… ì ì ì!
Phấn nghe vội chạy ra:
– Sao đợi chừng nầy mới vác mặt ra hả?
– Chừng này chớ chừng nào nữa!
– Nói nghe sướng hông! Gom dùm bầy vịt của anh mệt thấy mồ!
Tư Cầu cười:
– Nhờ có một chút vậy mà cũng rên!
– Vậy mà còn nói một chút nữa! À hồi nay vịt của tôi có một con bị lươn rút ngất ngư, tui làm thịt nấu cháo ở trỏng, một chút anh qua ăn nghen!
– Ừ qua thì qua, nhưng để dìa coi sóc ba con vịt đã.
– Ta nói ta gom về đủ hết rồi mà!
– Gom thì gom chớ cũng phải dìa coi lại cái đã. Còn un muổi cho con Sấm nữa chi!
Con Sấm là tên con trâu cổ mà tía của Tư Cầu giao cho anh ta đem vô chòi vịt chăn luôn, vì mấy em nó còn mắc đi học. Một công hai chuyện như vậy cũng tiện hơn.
Nói xong, Tư Cầu vội vàng chống xuồng về chòi mình, nhưng Phấn kêu giựt ngược lại:
– Nhớ qua nghe hông. À mà anh còn chút dầu lửa nào không cho tui mượn đỡ.
– Hết ráo rồi. Còn ba cái rọi mù u để chút nữa tao đem qua.
– Qua mau mau nghen!
– Ừa mà!
Chòi của Tư Cầu cách đó cũng không xa. Hai bên hú qua hú lại vẫn còn nghe tiếng. Chòi dựng đơn sơ sài lợp rơm, vách rơm, không lớn hơn cái miễu Thổ Thần của nhà ông Hội Đồng Hòa ở nhoài vam sông bao nhiêu. Tất cả giang sơn của Tư cầu gồm có bấy nhiêu đó, với hai cái nồi, vào cái chén, và một cái nớp để tối đến là anh ta chui tọt vô đó ngủ.
Căn chòi cất trên một cái giồng nhỏ đủ chứa một bầy vịt vài trăm con và đủ chỗ buộc con Sấm. Tuy lúa má đã làm xong và nhằm mùa khô mà xung quanh giồng nước vẫn còn xâm xấp. Đìa, bàu gần đó cũng nhiều. Dụng ở chỗ có nước đó, gia đình của Tư Cầu cũng như của Phấn nuôi vịt cho có lợi hơn. Con Sấm của Tư Cầu cũng có đủ cỏ ăn cầm chừng với rơm. Và Tư Cầu ở đó vừa chăn vịt vừa giữ trâu kể cũng tiện.
Về tới nơi Tư Cầu tay bưng thúng lúa, tay kéo mũi xuồng rườn lên cỏ, hấp tấp xem bầy vịt, coi lại hàng đăng thấp rào nhốt bầy vịt con kẻo ban đêm chuột vô tha hết, liệng thêm rơm cho con Sấm, rồi để thúng lúa trên cái gióng.
Xong xả, anh ta đi lại góc chòi quơ vài cây rọi mù-u phơi khô, nhảy phóc xuống xuồng chống qua chòi của Phấn.
Tuy Trời đã tối hẳn, Tư Cầu không cầm đèn đuốc gì hết, và chống xuồng ra đi “thuộc lòng” theo dòng nước giữa những đám rau muống ra dừa, giữa những bụi ô-rô, cóc kèn chen lẫn vài chòm cây điên điển.
Chòi vịt của Phấn cũng gần giống như cái chòi của Tư Cầu, nhưng cách sắp đặt coi bề vén khéo hơn. Dầu sao Phấn cũng là đàn bà con gái, còn nó là đàn ông con trai nên sống xô bồ xô bộn quen rồi.
Phấn mười sáu tuổi, Tư Cầu mười bẩy tuổi, vậy mà Phấn có vẻ khôn lanh hơn nhiều. Cách thức anh ta sống thật cũng y như hồi còn sáu bảy tuổi, hồi còn chơi “cất nhà chòi” bằng ống sậy và lá chuối với Phấn…
Tư Cầu chống xuồng vừa tới nơi đã nghe iếng Phấn hỏi vọng từ phía sau chòi:
– Anh Tư hả anh Tư?
– Ừa, thì tao chớ còn ai nữa! Sao đèn đuốc gì mà không có, tối om vậy nè?
– Vậy mà cũng hỏi! Bộ anh quên đem đèn rọi mù-u qua rồi hả?
Nhớ lại hồi nãy Phấn có hỏi mượn dầu lửa để đốt đèn. Tư Cầu bắt tức cười vì nó quên lú đi mất để Phấn phải hỏi vặn vẹo như vậy:
– Có chớ sao quên! Mà mầy làm gì lục đục ở đằng sau đó Phấn?
– Tắm chớ làm gì mà hỏi! Đốt rọi lên đi anh Tư… chớ bộ đứng như trời trồng đó hả?
Tư Cầu xách một cây rọi mù-u lại bên ba ông táo mà lửa than còn đỏ ao: phía trên ông táo bắt một chiếc nồi nhỏ, cháo vịt sôi ọc ạch. Nó kê miệng thổi một hơi vào mớ than cho lửa bùng lên, rồi kê rọi vô đốt.
Ánh sáng của cây rọi mù- u không là bao nhưng cũng đủ soi cả căn chòi nhỏ xíu. Vừa lúc đó Phấn ở phía sau đi vào. Nó tắm dưới bàu nước au chòi có thay đồ thay đạc gì đâu mà chiếc quần đang mặc vẫn khô rang.
Cô ta quấn trên ngực một chiếc khăn vằn hẹp khổ, một tay giữ chặt hai mối khăn ở sau lưng.
Cảnh tượng đó hơi lạ mắt đối với Tư Cầu. Anh ta nhìn trân trối khuôn ngực vun nhô dưới tấm khăn vằn nhỏ hẹp còn ướt nước. Mọi khi anh ta đâu thấy có như vậy.
Thật tình anh ta lấy là lạ vì đâu biết mấy đứa con gái mới lớn lên thường ngày hay nịt vú sát rạt.
Thấy Tư Cầu nhìn mình, Phấn đâm ra mắc cở, cô ta đứng khựng lại, rồi chạy quơ lấy cái áo túi treo trên móc tre, lúng túng xỏ vào, rồi một tay vừa gài nút một tay vừa rút cái khăn vằn ra đem phơi trên cây sào gác trước chòi. Xong Phấn chạy vô làm tĩnh hối Tư Cầu:
– Thôi vô sắp chén ra ăn cháo đi anh Tư! Khuya rồi nghen! Mơi còn dậy sớm thả vịt đi ăn chớ!
Phấn cho là khuya nhưng chỉ lối tám giờ tối gì đó. Ở vườn, khi gà lên chuồng người ta đã rụt rịt đi ngủ rồi…
Tư Câu chẳng nói chẳng rằng đi lấy chén đủa để xuống đất gần chỗ cắm cây rọi mù-u. Trong lúc đó Phấn đi nhắc nồi cháo bưng lại rồi đặt cái tay cầm kho lên, chụm thêm mấy nhánh củi điên điển vào bếp.
Tư Cầu vừa lấy giá múc cháo ra chén vừa hỏi:
– Mầy còn nấu nướng cái gì nữa đó Phấn?
– Kho ba miếng thịt chớ nấu cái gì nữa. Bộ anh nói có con vịt đem ra nấu cháo hết trọi sao… Kho thịt vịt mà không có gừng tức quá!
– Để mơi tao về kiếm đem ra cho… Mà mầy nói không có gừng rồi ba miếng thịt vịt luộc nầy chấm vô nước mắm gì mà ăn bây giờ hả?
– Có nước mắm ớt đó chấm đỡ chớ bộ chết sao! Anh sao khó quá! Nữa rồi con cùi nó lấy anh!
Tư Cầu nổi đóa:
– Còn mầy thằng chỏng chết sình nó lấy mầy!
Phấn đang chặt thịt vịt nghe vậy bắt tức cười và đổi giọng:
– Hứ nói vậy mà cũng nổi cáu… Thôi nè lại ăn đi!
Hai đứa nó xáp lại bên nồi cháo. Tư Cầu làm một hơi năm chén cháo và gắp hết nửa dĩa thịt vịt luộc. Cháo nóng lại ở trong chòi khuất gió nên mồ hôi mỗ kê chảy ròng ròng mặc đầu Tư Cầu ở trần trùi trụi. Anh ta kéo chiếc khăn tắm ở cổ ra lau mặt rồi đứng dậy đi lục lọi bẻ một cọng tre xỉa răng. Anh ta vừa xỉa răng vừa chép miệng coi bộ no đủ lắm.
Phấn còn ngồi ăn nán ba miếng thịt vịt cho hết. Trán cô ta lấm tấm mồ hôi và những sợi tóc lòa xòa xuống dính vào. Cô dọn dẹp xong chén đủa thì Tư Cầu đứng hứng mát nãy giờ ở trước chòi cũng trở vô.
Anh ta ngồi bệt xuống đất móc cái túi nhái đựng thuốc lận trong lưng quần vận ra. Xé một miếng giấy trong cuộn giấy quyến, bốc một nhúm thuốc giồng để lên, lựa bỏ ra vài ba cái mắt thuốc, Tư Cầu chậm rải vấn một điếu lớn gần bằng ngón tay trỏ.
Xong anh ta để lên lòng hai bàn tay xe tròn một vòng rồi đưa lên miệng le lưỡi liếm dán mép giầy, vặn đầu giấy ló ra ngoài cho xoăn nhỏ lại và kê vào roi đốt.
Tư Cầu bập bập vài cái cho cháy đỏ đầu thuốc, rồi hít một hơi dài, đoạn từ từ nhả khói thuốc một cách rất khoái trá.
Mới từng tuổi đó mà Tư Cầu đã ghiền nặng như một số trai tráng khác trong làng. Mấy năm về trước, nó cũng khổ sở rất nhiều về cái nạn ghiền đó. Tía của anh ta đánh lên chưởi xuống cấm cản đủ điều, nhưng thét rồi cũng chịu thua luôn.
Ban đầu anh ta còn ra vườn, ra sau chuồng heo, sau cầu tiêu hút chùn hút lén, riết rồi đâm lì ra hút công khai. Bây giờ tía anh ta cũng phải bấm bụng chịu thêm cái khoản xài về tiền thuốc vấn cho nó. Dẫu sao đi nữa Tư Cầu cũng đã lớn rồi và vẫn gánh công kia việc nọ cho gia đình.
Ngồi trên chiếc nóp, Phấn lặng yên nhìn Tư cầu hút thuốc và tủm tỉm cười. Với điếu thuốc dính xệ xệ ở môi dưới, Tư Cầu có vẻ người lớn, có vẻ một ngời đàn ông. Nghĩ đến đó, Phấn cúi đầu lấy tay vân vê cọng đệm ló ra ngoài mép nóp rồi khẻ thở dài.
Trong lúc đó Tư Cầu vẫn như không và tiếp tục phì phèo hút thuốc, Phấn nhì trân anh ta một hồi và đâm ra bực mình ngang. Chợt nhìn thấy cây rọi mù-u đã cháy tàn gần mấy miếng chót cô kêu Tư Cầu và nói chọn lỏn:
– Cây rọi tắt hết kìa ngồi đó hút thuốc hoài đi!
Tư Cầu ngạc nhiên trước sự tức giận bất thần đó và nhìn lại cô ta một hồi rồi khoan thai lấy cây rọi khác đốt tiếp anh ta không hiểu làm sao hết vì cũng chẳng cần hiểu làm gì. Anh ta cho rằng có lẽ đàn bà con gái khác đàn ông con trai là hay bất thường như vậy cũng nên!
Ngồi nín thinh một hồi, Phấn mới lên tiếng gợi chuyện:
– À anh Tư, anh có biết đến cuối tháng chạp này con Thắm nó đi lấy chồng không ảnh
– Ừ…
– Ừa!… cái gì anh cũng ừ ừ mà không biết cái khỉ khô gì hết!
– Đừng làm bột tài khôn hoài mầy! Tao nói ừ là ừ. Con Thắm nó lấy thằng Năm Tôn con ông Biện Dưỡng ở trên kinh Bang Chang bộ tao không biết hả?
– Dữ hông! Chắc trời mưa nên cóc mới mở miệng!
– Tư Cầu hứ một tiếng rồi quăng mạnh cái tàn thuốc ra trước sân chòi.
Phấn lấy cây rọi mù-u gạt bơt tàn để cho thêm ánh sáng và nhích lại gần bên cạnh Tư Cầu. Cô với tay quơ một nhánh củi điên điển vừa dập dập tàn rọi còn lên khói vừa nói:
– Hai vợ chồng con Thắm cũng bằng tuổi tụi mình đó…
Tư Cầu ngước mắt nhình lại:
– Hứ! người ta chưa ăn chưa ở gì hết mà mầy đã kêu là hai vợ chồng! Sau mày gấp quá vậy Phấn. Mà tụi nó bằng tuổi tao với mầy rồi có sao hông?
– Còn có sao nửa. Người ta cũng như mình mà… vậy đó! bộ anh không biết lo sao?
– Lo cái móc xì gì hả? Chừng nào tới rồi hãy hay chớ tao không lo gì ráo.
Phấn ngập-ngừng một lát rồi đắm đuối nhìn Tư Cầu và giọng cô ta trầm dịu xuống.
– Bộ anh không… không… nghĩ đến tui hả?
– Thì mầy chình ình ra đó chớ còn nghĩ ngợi gì nữa?
Cô nhích lại gần Tư Cầu thêm một chút nữa:
– Anh nầy nói kỳ quá! Bộ anh không nghĩ tụi mình cũng như… vợ chồng con Thắm sao?
Nghe nói vậy, Tư Cầu ngồi thẳng lưng nhìn Phấn từ đầu đến chân: một gương mặt bầu bỉnh với đôi mắt long lanh, với đôi môi hơi dầy một chút, ướt láng bên ánh lửa rọi chập chờn, đôi cánh tay tròn trịa ló ra khỏi chiếc áo túi cụt tay và một thân mình chắc nịch như thân cây chuối hột…
Tư Cầu như vừa ý và thấy sao dễ chịu trong mình! Anh ta vừa cười vừa nói với Phấn:
– Ừ, mầy coi cũng được!… Ối thôi, tới đâu hay tới đó chớ tao không nghĩ nghiếc gì hết… Còn tía má tao nữa chi?
– Nói như anh vậy hết chuyện rồi! Bộ ai cấm cản tía má anh lo cho anh sao? Còn tụi mình ở đây làm gì hả?
– Coi ba con vịt chớ làm gì nữa!
– Hứ lãng òm! Anh sao vậy hoài… Bộ anh không thấy người ta cũng như mình mà nên vợ, nên chồng, sung sướng tấm thân, bộ anh không… không… muốn, không thèm hả?
– Ý cha thèm! Ừ sung sướng đâu được vài tháng như hai vợ chồng anh Hai tao đó, rồi chưởi bới đập lộn nhau rùm trời, rồi đẻ xòn xọt cả bầy cả lủ để lo chạy gạo cho sói đầu hả?
– Bàn ngang như anh vậy thì nói làm gì cho thêm tổn. Bộ ai cũng vậy hả? Chớ anh không thấy vợ chồng anh Hai tui sao…
Tư Cầu cười lớn:
– Ối thôi, vợ chồng anh Hai mầy thì hết chỗ chê… Thiệt như ếch bắt cặp!
Và Tư Cầu thấp giọng hỏi luôn:
– Ê Phấn, bộ hai ảnh chỉ tối ở nhà bị anh cản mũi cản lái gì hay sao mà tao thấy cứ chạy tọt ra sau vườn chuối xà nẹo với nhau hoài vậy hả?
Phấn nghe hỏi vậy mắc cở nhưng thấy thinh thích trong lòng vì Tư Cầu đã hưởng ứng câu chuyện của nó. Cô ta làm bộ gạt ngang:
– Bậy nà!… Mà sao anh thấy? Anh dóc tổ!
Tư Cầu hấp tấp trả lời:
– Ừ thì dóc! Tao đi bẩy cò ở mấy cái mương sau vườn chuối nhà mày hoài mà tao lại không thấy!
Phấn chêm thêm:
– Bộ anh thấy họ rồi họ không thấy anh chắc?
– Con nầy ngu quá! Bộ mầy nói tao đi ngờ ngờ đó để cho họ thấy hả? Tao còn phải đi rình bẩy cò nữa chớ mầy quên sao? Như vậy họ dễ gì thấy tao được?
– Rồi anh rình ếch bắt cặp luôn?
– Đâu có mậy! Thì sẵn tao ngồi núp rình bẩy cò tao cũng nín luôn, chớ chẳng lẽ la làng lên hay sao?
Phấn nghe Tư Cầu nói vậy, cười hăng hắc:
– Anh nầy nói nghe ngộ quá ta!
Tư Cầu cũng bắt cười xòa theo, Phấn vẫn chưa chịu buông lơi câu chuyện:
– Bộ anh mà dám ngó họ!
– Tao mà không dám ngó! Thì nó ngờ ngờ trước mắt tao đó mà dám ngó hay không dám ngó gì mậy!
Phấn vẫn chưa chịu tha:
– Vậy anh thấy cái gì anh kể tui nghe coi!
Tư Cầu thấy con này cứ hi dần lân một cách nhí nhảnh như vậy mới hiểu ra… Hồi nãy anh ta tưởng con Phấn muốn chọc tức mình nên mới hỏi những câu cắc cớ như vậy.
Té ra con này nó muốn sanh quỹ mà! Nghĩ tới đó, Tư Cầu bỗng nhiên thấy khoái chí trong bụng. Khoái chí vì anh ta không lù khù như con Phấn tưởng đâu.
Tư Cầu thở khì ra một cái như đã giải quyết được điều gì, rồi dựa lưng ra sau hay tay chống xuống đất, hai chân vắt tréo ngoải và một bàn chân thì nhịp nhịp… Anh ta cười ha hả một mình, rồi liếc nữa mắt nhìn Phấn và bằng một giọng của một người biết “ăn chắc” điều gì, anh ta ởm ờ lên tiếng:
– Thì thôi tao không thấy cái gì hết…
Phấn vừa hơi bực mình vừa hơi thích thích. Cô thoáng cau mày rồi cười lỏn lẻn…
Tư Cầu ngồi lặng thinh nhịp nhịp chân. Chưa bao giờ anh ta thấy khoái trong lòng như vậy. Anh ta có cảm tưởng như bây giờ mình mới thiệt lớn hơn Phấn. Lớn như thế nào thì không phân tách nổi, nhưng “lớn”… gọn lõn vậy thôi.
Sự lặng thinh của Tư Cầu làm cho Phấn hơi luống cuống. Không biết làm gì, cô đưa tay xổ đầu tóc ra để bới lại.
Tư Cầu đã thấy Phấn xổ đầu bới tóc kể cả mấy chục bận rồi nhưng lần nầy mới để ý nhìn kỹ.
Trong ánh sáng lung linh của cây rọi mù-u, Phấn đưa đôi cánh tay tròn lẳn lên cào cào mớ tóc cho thêm suông sẻ.
Một mùi dầu bông lài nhẹ thoảng qua mũi Tư Cầu.
Phấn chậm rãi quào tóc, mắt nhìn vào vách chòi như không thèm để ý tới Tư Cầu tuy dư biết Tư Cầu đang liếc nhìn mình. Cô ta cứ làm bộ săm soi đến mớ tóc như không bao giờ muốn bới lên cho xong hết.
Đôi cánh tay cô đưa lên làm cho vạt chiếc áo túi vải hột đều đen đã cụt ngủn càng rướng lên cao…
Cô ưởn người ra dơ tay quào chải tóc suông theo xuống dưới lưng. Khuôn ngực đã no tròn càng căng vun lên; hồi chập tối sau khi đi tắm Phấn có bận áo nịt lại đâu…
Tư Cầu không còn liếc lén mà nhìn chăm chăm vào người Phấn. Phấn vẫn làm như không hay biết và dính dáng thêm trong việc chải vuốt mớ tóc…
Tư Cầu bỗng thấy hồi hộp lạ thường. Cái cảnh hai vợ chồng mới của anh Hai của Phấn hú hí với nhau sau vườn chuối thoắt đã hiện ra rõ ràng trong trí. Và đầu anh ta nóng hừng hực.
Anh ta bối rối và chân tay như dính chặt dưới đất. Anh ta sực nghĩ đến việc hút một điếu thuốc. Ờ… Phải rồi! Anh ta lúng túng móc túi nhái thuốc lận ở lưng quần ra…
Nhưng Tư Cầu mới vừa dợm mở túi thuốc ra thì Phấn với tay chụp lấy túi thuốc dấu ra phía sau lưng. Tư Cầu nhòai mình theo giật lại. Tay này, anh ta níu một tay của Phấn, tay kia moi túi thuốc mà bàn tay Phấn giữ chặt cứng.
Hai cánh tay Phấn bị hai tay của Tư Cầu kềm noặt ra phía sau lưng. Trong dáng điệu đó, ngực Tư Cầu dựa sát vào một bên hông của con Phấn. Tư Cầu bỗng khượng lại tuy hai tay của mình vẫn giữ chặt lấy hai tay của Phấn. Như con bồ câu bị tréo cánh, ngực của Phấn phập phòng tựa biển sóng. Và Tư Cầu có cảm giác kỳ cục như đang kề sát một cục than hừng hực…
Ban đầu Tư Cầu không dám nhìn thẳng vào mặt của Phấn. Anh ta bối rối vì không biết tấn thối như thế nào, muốn buông tay Phấn và nhích mình ra nhưng anh ta lại cứ để nguyên như vậy. Anh ta cúi gầm mặt xuống, một hồi rồi đánh bạo từ từ nhìn lên một bên vai của Phấn rồi lên cái ức no căng mà anh ta thấy rõ mồn một từng hơi thở dồn dập.
Thấy Phấn chẳng nói chẳng rằng, Tư Câu làm gan nhìn thẳng vào mặt cô ta dể dò xét. Mắt Phấn long lanh nửa cười cợt, nửa như thách thức. Thứ con mắt nhìn kiểu đó…!
Tư Cầu ngừng một giây cắn chặt lấy môi dưới, rồi bỗng buông tay Phấn ra ôm choàng lấy đôi vai của cô ta.
Tư Cầu đưa mũi hôn mạnh vào má Phấn, nhưng Phấn né qua làm nó hôn trật vào cổ… Phấn bị nhột cười hăng hắc. Tư Cầu bực mình xiết mạnh đôi vài và từ từ hôn lại đúng vào má. Phấn ngoan ngoản ngồi yên như người chịu thua. Và đôi tay của Tư Cầu rời khỏi vai của Phấn lúc nào không biết để có một cảm giác êm êm thích thú như không có thứ gì sánh được như vậy…
Phấn gục đầu vào vai Tư Cầu một hồi lâu… Rồi cô dang Tư Cầu ra để nằm ngữa lên trên chiếp nóp trải bên cạnh. Cái áo túi nút bóp mở tung tự bao giờ… Phấn si mê nhìn Tư Cầu như chờ đợi… Rồi cô đưa tay níu rị Tư Cầu xuống, chân vói đạp cho cây rọi mù u ngã xuống đất tắt ngúm…
Bóng tối bất thần làm Tư Cầu hoảng sợ. Anh ta lính quính dựt ra khỏi tay của Phấn, đứng chồm dậy, chạy tọt ra ngòai sân chòi…
Phấn kêu anh ta giựt ngược làm cho anh ta hoảng thêm, vì lần đầu tiên anh ta dám mạo hiểm như vậy… kể cũng đã quá lố rồi…
Phấn cũng ngồi dậy chạy theo kêu lớn như quát tháo:
– Anh Tư! Anh Tư! Anh làm gì kỳ vậy hả?
Nghe tiếng Phấn kêu, Tư Cầu bước mau ra chỗ để xuồng nhảy phóc xuống…
– Anh dìa thiệt sao anh Tư? Ở lợi chơi một chút nữa, bộ ai ăn cá ăn thịt gì sao mà sợ.
Tư Cầu vừa chống xuồng ra vừa nói với lại:
– Thôi để tao dìa bển, khuya rồi!
– Hứ khuya rồi! Khuya rồi!… Sao hồi nãy anh không giỏi nói khuya một chút coi!… Làm bộ thấy ghét!
Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng chống xuồng đi thẳng.
Phấn đứng tần ngần, rồi chợt thấy mình còn cầm một cái túi thuốc của Tư Cầu trong tay, cô bèn kêu giựt ngược Tư Cầu lại:
– Anh Tư ơi! Còn gói thuốc của anh đây nè, trở lại mà lấy!
Tư Cầu làm bộ không nghe chống riết xuồng ra dông thẳng.
Phấn bực tức vò túi thuốc trong tay, dậm chân quăng mạnh túi thuốc xuống đất, ngoe nguẩy đi vô chòi. Đi được vài bước không biết nghĩ sao, cô trở lộn ra cúi xuống đất mò tìm túi thuốc lượm lên. Cô phủi túi thuốc đoạn nâng niu cầm trong tay đi vô chòi.
Cây rọi mù u ngã xuống đất ban nãy vẫn còn ngún khói với một đốm than đỏ trong bóng tối như một đầu nhang đang cháy. Phấn thở dài sườn sượt, lấy chân mò tìm chỗ chiếc nóp rồi nằm vật xuống.
Cô quơ chiếc gối trên đầu nằm ôm riết lên ngực, kê răng cắn nghiến vào mép áo gối nghe ken két. Rồi không hiểu vì sao cô phát khóc tấm tức tưởi.
Trong lúc đó, Tư Cầu chống xuồng đi thẳng tuốt về chòi. Gió mát lạnh của khỏang đồng trống về đêm làm cho lòng anh ta trở lại bình tĩnh. Anh ta nhớ lại hồi nãy nhảy phóc xuống xuồng, chống vài cái là chiếc xuồng đâm bên bọ xọt bên kia thật cũng… giống y như mình!
Giờ đây Tư Cầu đã lấy lại sự bình tĩnh và chiếc xuồng cũng phăng phăng lướt tới như quen đường nước cũ.
Tư Cầu mới thấy mình kỳ cục thiệt, y như lời con Phấn trách móc. Thì việc gì mà phải chạy trốn như vậy chớ? Nếu mình không muốn tấn tới nữa thì thôi, ai có giết mình sao mà sợ?
Chung qui cũng chỉ tại cây rọi mù u khi không lại rớt ngã tắt ngúm làm anh ta “sực tỉnh” và chạy hoảng! Nghĩ lại cái cảnh Phấn nằm xải tay trên nóp, hai vạt áo túi lật tung qua một bên… Tư Cầu chắc lưỡi liên miệng… rồi anh ta dơ tay cú trên đầu một cái thật nên thân. Anh ta hồi tưởng lại những cảm giác thích thú lạ kỳ mà giờ đây, nghĩ đến, bàn tay của anh ta như hãy còn nóng ran.
Càng nghĩ tới, càng tưởng tượng thêm, Tư cầu càng bực mình bực mẩy. Anh ta lấy cây sào quất mạnh vào đám lục bình nghe một cái xạc…
Nhưng bỗng nhiên anh ta cười ha hả như khám phá ra một điều gì mới mẻ và ưng ý lắm! Tư Cầu vừa nhớ trực lại: Con Phấn vẫn còn đó chớ có mất mát, hao mòn gì đâu mà tiếc hùi hụi, mà tức anh ách? Và thiếu gì dị khác.
Nghĩ đến đó Tư Cầu chống xuồng đi vo vo về riết đến chòi.
Việc đầu tiên là nó quơ tỉn nước đua lên miệng ừng ực uống ừng ực một hơi, rồi lần lại góc chòi lấy chiếc nóp mở trãi ra nằm lăn ình trên đó.
Anh ta bỗng thèm một điếu thuốc và khi rờ tới lưng quần mới nhớ trực lại Phấn còn giữ túi nhái đựng thuốc.
Mặc đẫu khá khuya (mọi khi giờ này anh ta đã đánh một giấc lâu rồi) mà Tư Cầu vẫn thấy chưa buồn ngủ.
Căn chòi tối om. Tiếng muỗi bầy kêu vo vo và Tư Cầu lấy tay đập liên hồi trên ngực, trên đùi. Anh ta tính ngồi dậy đốt đèn đi coi qua một lượt bầy vịt con, kẻo đẻ sơ sẩy ba con chuột cống vào tha hết.
Nhưng cái hộp quẹt máy của anh ta lại để trong túi thuốc bên chòi của Phấn. Và Tư Cầu mỉm cười nói thầm:
– Ừa để mơi mà mầy hổng trả thì biết tay tao. Kỳ này tao cho mầy giỏi dấu, ở đâu tao cũng moi hết…
Nhưng khi nghĩ đến mấy con vịt anh ta cũng hơi lo lo. Mới có làng chàng với Phấn một chút xíu đó mà mà Tư Cầu tưởng chừng như đã bỏ bê hết mọi công việc.
Nằm nghe bầy vịt con trong rào đăng coi bộ ngủ yên không rục rịch chuột bọ gì hết, chỉ thỉnh thỏang vài con kêu ki kí nho nhỏ như mớ ngủ, Tư Cầu cũng thấy yên tâm.
Anh ta chui vào trong nóp tính ngủ vùi một giấc chứ đêm nay nó thức khuya quá. Nhưng mắt anh ta vẫn mở thao láo.
Anh ta lật chiếc nóp đứng lên, để hai mép nằm đè xuống dưới lưng theo điệu dựng mũi tàu. Hai chân anh ta duỗi thẳng ra, hai tay khoành ra sau ót gối đầu.
Trong dáng điệu đó, Tư Cầu nằm nghĩ tới Phấn và thấy sung sướng trong lòng. Hai đứa nó từ nào tới giờ ở gần nhau trong giữa đồng vắng mà không ngờ như vậy cho đến tối hôm rồi!
Bây giờ Tư Cầu mới khám phá ra cái chỗ uổng đó. Nhưng mà lo gì Phấn vẫn còn đó.
Nằm thao thức một hồi, Tư Cầu ngủ quên đi lúc nào…
Trong đêm đó anh ta nằm chiêm bao lung tung và khi tỉnh dậy thì trời đã sáng bét hồi nào rồi; và anh ta nằm một nơi và cái nóp nằm một nẽo…
Lùa vịt đến chỗ thả cho ăn mọi hôm, Tư Cầu thấy Phấn đã đem bầy vịt của cô ta cho ăn cách đó xa xa.
Phấn cũng thấy nó ra nên quay đầu nhìn lại.
Nhớ chuyện hồi tối Tư Cầu đâm ra xẻn lẽn. Anh ta tính lùa bầy vịt đi ngã khác, nhưng khi nghĩ đến Phấn còn giữ túi thuốc hút của anh ta đành chậm rãi đi xâm xâm.
Đi tới nơi gần Phấn, Tư Cầu lên tiếng trước và làm ra bộ tỉnh như không:
– A Phấn, hồi tối tao có… bỏ quên túi thuốc ở bển mầy có lượm đem theo đó không?
Tư Cầu làm bộ tĩnh như vậy chớ trong bụng nói cũng thấy hơi đánh lô tô…Thật là kỳ như vậy! Mọi khi anh ta coi Phấn ra gì đâu?
Phần Phấn, cô cũng thấy mắc cở khi gặp lại Tư Cầu nhưng bình tĩnh hơn nhiều. Đàn bà con gái nhiều khi hơn đàn ông con trai trong những trường hợp lắc léo như vậy!
Hơn nữa, Phấn vốn tánh nhí nhảnh sẵn nên không xẻn lẻn ra… mặt như Tư Cầu. Qua phút bở ngở ban đầu, Phấn đã kiếm cách ghẹo Tư Cầu chơi:
– Túi thuốc nào mà lượm? Hay hồi tối anh hấp tấp đi về làm rớt ở đâu đó rồi cũng đổ thừa cho người ta sao?
Tư Cầu bực mình quắc mắt nhìn cô ta và trở thành thứ… Tư Cầu như mọi khi:
– Ê, bộ tao ở không đi giởn với mầy hả Phấn? Vậy chớ hồi tối con chó nó giựt túi thuốc của tao chắc?
Nghe vậy, Phấn không giận mà còn cười ngắt nga ngắt nghẻo:
– Ý, người ta nói vậy mà cũng giận. Sao có giỏi hồi nãy không đòi liền mà còn làm bộ nói bỏ quên?
Tư Cầu nghe nói vậy đâm ra lúng túng, Phấn thấy Tư Cầu chịu phép, mới rút túi thuốc đưa ra:
– Đây nè cưng! Hồi tối người ta kêu giựt ngược lại… để trả mà dông tuốt rồi bây giờ lại cự nự. Anh sao mà khó quá ai mà ở với anh được!… Tội nghiệp hồi tối tới giờ thèm thuốc lắm phải không cưng?
Tư Cầu ngập ngừng cầm lấy túi thuốc. Lòng anh ta mát rười rượi. Anh ta ngước mắt lên nhìn Phấn một cách đậm đà rồi chẳng nói chẳng rằng quay lưng đi thẳng.
Phần con Phấn, cô cũng thấy vừa ý lắm. Cô đắm đuối nhìn theo Tư Cầu và đợi cho Tư Cầu đi được mươi bước cô vừa cười vừa nói với theo:
– Ý lêu lêu… giận lẩy xẩy cùi!
Nghe vậy, Tư Cầu đứng lại nhổ liền một gốc rạ khô vụt lại, rồi cắm đầu chạy thẳng đuổi theo bầy vịt…

°   °
°

Trời gần đứng bóng, Tư Cầu gom bầy vịt lại để chạy về chòi lo nấu ba hột cơm.
Cơm nước xong xuôi, Tư Cầu quày quả trở ra trông chừng bầy vịt. Anh ta dòm coi Phấn ra chưa, nhưng có lẽ cô nầy còn dình dàng trong chòi.
Tư Cầu cầm một nhánh cây đuổi gom mấy con vịt tách bầy, rồi đi lên đám chưa bầu mé giồng để ngồi nghỉ mát.
Đó là cái giồng khá lớn cây, mọc um tùm. Thường thường bọn trẻ chăn trâu đến tụ tập nơi đấy để trửng giỡn, phá cây phá cối hay bắn chim bắn chóc.
Mấy tháng trước, ngày nào tụi trẻ chăn trâu cũng gom về đó cười là như hợp chợ, nhưng mấy lúc sau này tụi chúng lùa trâu qua bên cồn ngòai sông cho ăn hết nên trên giồng vắng tanh…
Trên chót giồng có cái miểu thờ ông Tà lợp lá, dây giác và dây cức quạ leo phủ sùm sụp trên mái.
Tư Cầu ngồi tựa lưng vào một gốc chưn bầu lớn. Da gốc cây chưn bầu này nhẵn nhụi vì tụi chăn trâu cọ quẹt hà rầm.
Trước mặt anh ta, cả một đáng ruộng còn lấp xấp nước, mấy chòm cây điên điển trổ bông lấm tấm vàng khè.
Gió hiu hiu thổi nên tiếng lá khua chỉ đủ nghe lào xào như những tiếng thì thầm bất tận của đôi nhân tình lén lút.
Hai con chim trao trảo đuổi nhau trên cành kêu chí chóe, con trống rượt mà con mái bay lạt xạt trên ngọn cây, con nầy không chịu trốn thẳng đi mà chỉ bay loanh quanh, lộn đi lộn lại để cuối cùng nằm mọp xuống chịu trận mà kêu chiêm chiếp nửa như đau thương nửa như âu yếm…
Tư Cầu tháo cái khăn tắm quấn ở cổ ra che phủ lên mặt, duỗi chân, khoanh tay lên ngực rồi lim dim ngủ. Không mấy khi anh ta ngủ trưa nhưng đêm rồi vì thức quá khuya nên vừa mới ngã lưng dựa vào gốc cây là mắt anh ta nhướng lên hết nổi, lại còn thêm gió thổi hiu hiu mát, lá cây xì xào bên tai nữa.
Tư Cầu vừa mới mơ mơ màng màng thì có vật gì rớt cái ịch đập bên cạnh làm anh ta giựt mình ngốc đầu dậy. Anh ta ngó quanh ngó quẩn không thấy gì hết nên dựa lưng nằm ngủ lại. Chắc là một cành cây khô rớt đâu đó chớ gì!
Anh ta vừa chợp mắt, đinh ngủ lại thì lần này một vật gì rớt cái độp lên bụng. Anh ta quơ tay chụp lấy và đó là một cục đất khô.
Anh ta tốc chăn tắm phủ mặt ra ngồi nhỏm dậy và làm bộ tỉnh nói:
– Ê, thằng nào liệng đất đó tao thấy bây rồi nghen! Tao không mắc mớ ông bà ông vải gì bây! Đứa nào còn liệng nữa tao vặn họng đa!
Nói xong anh ta lẩm bẩm chửi vài tiếng rồi quay lưng định dựa lưng vào gốc cây ngủ lại. Nhưng anh ta vừa xoay lưng thì ở phía sau một cục đất ném mạnh tới, hụt sát bên vai và rớt trước mặt anh.
Tư Cầu quay phắt lại, đoán theo hướng liệng chạy phăng lại xục xạp lung tung nhưng… không thấy gì hết. Anh ta nổi nóng chửi rủa om sòm:
– Bà cô hắn, thiên lôi đả đứa nào liệng tao đó hả? Tao mà bắt được bây thì Bà cứu bây nghen!
Tư Cầu vừa rủa vừa dớn dác chạy đông chạy đáo xục xạo tìm kiếm… nhưng mất công toi.
Bón bề vẫn vắng tanh. Không có tiếng động gì ngoài tiếng gió rì rào lùa qua đám chưn bầu, tiếng trao trảo đuổi nhau, tiếng tu hú giành ăn trong bụi đủng đỉnh.
Tức giận, Tư Cầu cúi xuống vớ mấy hòn đất liệng lung tung càn vào các lùm cây, buội cỏ, đám đế…
Một con cò trâu hoảng sợ kêu ré bay vụt lên một cái sạt làm Tư Cầu giật mình.
Anh ta nghĩ đến việc ma liệng đất mà người ta thường nói đến. Ừ, kể ra cũng có lý vì Tư Cầu nhớ trực lại: tháng nầy tụi chăn trâu lùa trâu qua cồn ngoài sông cho ăn hết, đâu có đứa nào lảng vảng ở đây nữa!
Còn mấy đứa nhỏ trong xóm thì giờ giấc nầy trời nắng chang chang đứa nào thèm bò ra đây mà phá với phách? Mà nó thường nổi tiếng là cộc, đố đứa nhỏ nào dám cả gan chọc. Chọc như vậy chẳng khác gì đi chọc ổ ong!
Nghĩ như vậy, Tư Cầu cũng ơn ớn trong mình, tuy vốn không ngán ma cỏ gì hết.
Anh ta chậm rãi trở về chỗ cũ định bụng kỳ nầy sẽ rình kỹ xem coi từ phía nào đất liệng tới.
Đi ngang qua miễu ông Tà, Tư Cầu bỗng dưng liếc mắt nhìn vào trong. Mấy chùm dây giác bò thòng xuống mái miễu, đong đưa theo gió nhẹ. Từ bụi tre mỡ um tùm phía sau miễu tiếng kêu kèn kẹt của thân tre cạ vào nhau y như những tiếng nghiến răng kỳ lạ. Con cắc kè bông trong miễu bỗng cất tiếng kêu cắc kè, cắc kè để chấm dứt bằng những tiếng kè kè nhỏ dần.
Tư Cầu lẩm bẩm đếm: cắc kè, một, cắc kè, hai… và con cắc kè kêu đúng sáu tiếng! Một: may, hai rũi, như vậy sáu tiếng tức là rũi rồi! Tư Cầu nổi đóa chửi luôn con cắc kè mắc dịch đó:
– Kêu mồ tổ mầy vậy chớ kêu! Hôm nào tao xách cổ đập cho chết nhăn răng.
Anh ta cha nói dứt câu thì… một tiếng “hù” thật lớn ở phía sau lưng làm anh ta nhẩy nhổm. Anh ta quay phắt lại thì té ra Phấn. Phấn thấy Tư Cầu giựt mình nên càng thích chí cười dòn và chạy dang ra xa. Cô dư biết thế nào Tư Cầu cũng nổi đóa rượt theo.
Quả đúng như vậy. Tư Cầu vừa đuổi theo cô ta vừa la ó om sòm:
– Ôn dịch vật mầy! Hồi nãy tao mà biết mầy liệng đất, tao phang cho một cây bỏ mạng!
Phấn càng cười lớn:
– Dóc tổ cha! Hồi nãy sợ xanh mặt mà còn làm bộ bảnh tỏn!…
Phấn chạy quanh phía sau miễu hướng về phía bên kia bờ giồng chỗ có nước sâu và có đám chuối, đóm ổi mọc um tùm.
Chạy đến bờ giồng, cô ngồi bệt xuống gốc chuối bên cạnh chiếc nón lá và cây roi đuổi vịt. Đúng chỗ cô ẩn trốn hồi nãy để liệng đất Tư Cầu.
Các tàu lá chuối xanh om ken nhau che phủ trên đầu như một thứ mát mát rười rượi.
Cách đó vài bước, một đám sậy rậm che khuất phía sau miễu, và muốn đi vô chỗ đó chỉ có một thứ lỗ chó vạch sẵn qua hàng sậy mà hồi nãy Phấn chui tọt vào. Như vậy thảo nào Tư Cầu kiếm không ra người liệng đất!
Vừa lúc đó Tư Cầu rượt theo đến nơi. Anh ta đứng khựng lại khi giáp mặt với Phấn.
Phấn không có vẻ sợ sệt gì hết mà ngồi yên dựa lưng vào gốc chuối nheo mắt nhìn lại anh ta và môi hơi bỉu ra.
Thật cũng tương tợ như những lúc anh ta xách gà xách vịt theo tía anh ta đem cho nhà ông Hội-đồng Hòa, chủ điền. Đứng trước ngôi nhà nền đúc cao tới ngực của ông Hội-đồng, anh ta cảm thấy mình nhỏ chút xíu, chớ không như khi vễnh chân trên mình con trâu Sấm kình càng anh ta lại thấy mình như là một ông trời con!
Bây giờ đứng trước mặt Phấn, một con Phấn làm chủ tình hình trong cái ổ chó lót lá chuối khô của cô ta, Tư Cầu lúng túng, rồi đầu anh ta như quay mòng mòng. Anh ta đứng như trời trồng cách Phấn mấy bước, một tay níu lấy tàu chuối ghịt mạnh xuống như để gượng cho khỏi ngã gập xuống!
Tư Cầu tần ngần đứng đó một lát. Rồi không biết làm gì anh ta buồng tàu lá ra, giựt xuống một miếng lá chuối, tướt ra từng sợ nhỏ theo điệu là râu hát bộ mà hồi nhỏ anh ta hay chơi. Tướt hết miếng lá rồi, anh ta không biết làm gì nữa nên vò tròn lại liệng xuống đất.
Cuối cùng Tư Cầu tằng hắng lấy giọng rồi hỏi:
– Bộ hồi nãy mầy liệng tao đó hả Phấn?
Phấn ưởn người vênh mặt lên vặn lại:
– Tui liệng đó rồi có sao hông?
Tư Cầu làm bộ nói cứng:
– Tao mà dè mầy liệng thì….
Phấn cắt ngang:
– Thì sao giỏi nói thử coi?
Tư Cầy thấy cái nước làm tới của Phấn sao không đáng ghét như mọi khi. Và anh ta bộc xuôi theo:
– Thì có sao đâu! Nếu tao biết mầy liệng thì tao không tìm kiếm làm gì cho mất công mất linh…
– Hứ!
– Tao buồn ngủ thấy mồ mà mầy phá tao chi vậy Phấn?
Thấy Tư Cầu xuống nước như vậy, Phấn cùng hả dạ, nhưng chưa chịu để yên:
– Hồi tối anh dìa bển sớm lắm mà sao còn than buồn ngủ?
Nghe Phấn nhắc lại chuyện hồi tối rồi Tư Cầu thêm lúng túng.
– Ừ… dìa sớm nhưng ngủ không được!
– Sao mà không được?
– Vì tao không buồn ngủ.
– Sao lại không buồn ngủ?
– Con nầy hỏi dần lần hoài! Tao không buồn ngủ là tại tao chưa ngủ được, chớ có gì đâu mà mầy hỏi xàm hỏi xoi chớ?
Phấn càng hồ tới:
– Ý giỏi quá ta!… Hỏi có bao nhiêu đó mà trả lời lòng vòng nghe phát ghét!
Làm bộ cự nự Tư Cầu xong xuôi đâu đó, Phấn mới hạ giọng cười mơn:
– Chắc hồi tối anh nhớ tui anh ngủ hỏng được phải không?
Nghe Phấn dám nói một cách tạt mạng như vậy, Tư Cầu tìm cách chống chế:
– Xí mầy làm gì mà nhớ mầy chớ?… Con nầy bửa nay ăn nói kỳ cục quá hè!
Phấn đứng rột dậy, hai tay chống nạnh và quắc mắt nhình anh ta hỏi gằn từng tiếng, và hỏi dồn một hơi:
– Anh bảnh mà! Tôi hỏi thiệt hồi tối anh có nghĩ đến tui hông? … Anh có thương tui hông?… Vậy chớ hồi tối đứa nào thò tay mặt đặt tay trái với tui bên chòi đó?… Anh giỏi anh trả lời coi?
Tư Cầu như bị dồn vào chỗ bí ấp úng trả lời cho xuôi:
– Thì tao có nói gì đâu mà mầy giận chớ!… Thiệt tình thì tao cũng có nhớ… có nhớ… bỏ quên túi thuốc bên chòi của mầy…
Nói đến đó anh ta khẽ liếc nhìn xem con Phấn có dịu mặt chưa, nhưng thấy cô ta cao mày nên vội tiếp luôn:
– Tao với mầy, hai đứa ở hủ hỉ nhau giữa đồng nãy thì tự nhiên đứa này nghĩ đến đứa kia…
Nghe Phấn “hứ” lên một tiếng, Tư Cầu vội “hạ” xuống thêm một bực nữa:
– … Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt, tao quý mến mầy lắm. Mầy coi hồi tối đó…
Phấn bật cười cắt ngang:
– Xí, Thứ anh nhát như thỏ đế!
Tư Cầu vội chống chế:
– Thì cái gì cũng phải để… lâu lâu rồi nó mới quen chớ! Tao nói thiệt cho mầy biết tụi lối xóm của mình có đứa nào là chơi bền với tao hồi còn nhỏ đến bây giờ đâu. Rốt cuộc rồi cũng chỉ còn lại tao với mầy… Tao nói vậy mầy cũng rõ bụng tao chớ!
Nghe Tư Cầu nói một dây như vậy Phấn cũng cảm động. Cô bước lại gần bên Tư Cầu khẽ lấy tay vuốt qua một bên mớ tóc xù xụ dưới trán anh ta, và bằng một giọng ngọt xới, cô hỏi:
– Anh thương tui lắm phải không?
Tư Cầu do dự:
-… Ư… ừ…
– Ừ cái gì?
– Ừ thì thương mầy!
Phấn chỉ chờ đợi có bấy nhiêu đó và làm bộ xụ mặt xuống:
– Thương, thương!… Bộ anh nói vậy chớ anh mà thương với yêu cái khỉ mốc gì?
Tư Cầu quả quyết:
– Thiệt mà, đứa nào nói dối cho cho bà…
Nghe Tư Cầu định thề “Bà bắn”, Phấn lấy tay bịt miệng anh ta lại:
– Thôi, thôi đừng thề ẩu! Mà thương gì cứ mầy tao hòai hè!
– Chớ mầy biểu tao kêu bằng gì bây giờ?
– Mầy tao nữa? Anh thiệt… Anh kêu tui bằng “em” và anh xưng “anh”, anh không thấy hai vợ chồng anh Ba tui đó sao?
Tư Cầu ngập ngừng:
– Nhưng… nhưng kỳ cục quá!
– Gì mà kỳ cục? Tui kêu anh bằng anh đó, bộ chết sao?
– Thì mầy kêu quen rồi và mầy kêu vậy từ hồi nào tới bây giờ chớ phải… mới mẻ gì đâu!
– Thì tui nói thí dụ như vậy…
– Mầy cũng xưng “tui” chớ có xưng “em” với tao đâu?
– Ờ phải há! Tui… ủa mà không, em quen miệng rồi!
– Thì tao cũng quen miệng như mầy vậy.
– Quen thì phải tập kêu lần đi!
– Ừ, thì cũng phải để thủng thỉnh chớ!
– Tới nơi rồi mà cứ thủng thỉnh hoài…
– Mầy kỳ quá!
Phấn xô Tư Cầu ra:
– Cũng mầy nữa, anh nầy thấy ghét quá!
– Thì em, em, em! Con nầy nó xúi chuyện ác ôn quá!
Nghe Tư Cầu nói vậy, Phấn vổ nhẹ vào vai anh ta:
– Dữ hông! Đó anh coi dễ ợt chớ khó khăn gì đâu.
– Ừ cái gì cũng dễ! Người ta giỏi còn tao…
– “Tao” nữa phải không?
-… Còn tui…
– “Tui” nữa hả?
Tư Cầu dậm chân xuống đất, nửa như bực tức, nửa như cố gắng lấy trớn để hét lên:
– Thì anh, anh!
– Hừ, nói “anh, anh” mà như nện vào lổ tai người ta thì nói làm gì cho mắc công.
– Cái điệu này chắc không nổi quá!
– Cái gì mà không nổi. Anh sao, em… tức anh quá. Người ta kêu “anh anh, em em” nghe ngọt xớt như mía lùi, còn anh, anh kêu nghe như dùi đục…
Tư Cầu nghe Phấn kể lể như vậy, sốt ruột gạt ngang:
– Thôi, thi, đừng nói nữa!
– Cấm không cho nói hả?
– Ai mà cấm cản gì đâu… Anh… anh biết cách kêu rồi mà… Thôi buồn ngủ lắm để dìa dưới hàng chưn bầu ngã lưng một chút. Còn phải coi chừng bây vịt nữa chớ!
– Tội nghiệp không! Buồn ngủ lắm phải không cưng? Thôi lại đây người ta đền cho…
Vừa nói Phấn vừa dang nó ra để đi lại ngồi dựa vào gốc chuối. Cô lấy tay sửa sửa mấy tàu lá chuối khô lót sơ sài dưới đất. Xong xuôi cô ta ngoắc Tư Cầu:
– Lại đây anh!
Tư Cầu tự nhiên thụt lui mấy bước và đáp một cách khó khăn:
– Thôi để anh dìa… Từ nãy giờ bỏ bầy vịt lâu quá rồi.
– Thì để luôn nó ở đó bộ chết sao? Có mất con nào em đền cho! Lại đây nghĩ một chút cho đỡ buồn ngủ. Hay muốn ngủ ở đây cũng được, để em coi chừng bầy vịt cho… Lại đây mau, anh!
Dứt lời, Phấn vừa vói bứt một cây cỏ lông gà đưa cọng lên miệng nhăng nhăng, vừa vổ vổ xuống đất chỗ trải lá chuối khô bên cạnh để chỉ cho Tư Cầu đến ngồi xuống đấy.
Tư Cầu ngần ngừ:
– Thôi…
– Thôi, thôi… anh nầy kỳ cục quá! Thì ngồi xuống đây một chút, ai ăn tươi nuốt sống gì mà anh sợ dữ vậy cà?
– Ai mà sợ hổng biết! Nhưng ban ngày ban mặt…
Phấn như bị “chạm nọc” liệng cọng cỏ lông gà ra xa:
– Có lạ hông! Anh nầy thiệt ăn nói hồ đồ quá mà… Em biểu anh ngồi xuống đây chớ có biểu anh làm gì đâu mà anh la làng như vậy chớ hả? Anh bỏ rào hết đi, việc đâu còn có đó hơi sức đâu nghĩ đông, nghĩ tây cho mệt chớ? Như bây giờ đây, chỉ có tụi mình thôi, thì mình cũng chỉ biết có tụi mình còn người khác thầy kệ họ…
– Anh… anh cũng biết như vậy…
– Cái gì mà hễ mở miệng là anh, anh như cà lăm vậy. Anh nói tiếng “anh” một cách gọn lỏn coi được hông… Ai hớp hồn anh sao mà anh sợ vậy!
– Biết rồi mà!
-… Ừ thì biết! Ờ hồi nãy em nói tới đâu rồi kìa… Ờ, ở đây chỉ có hai đứa mình thôi, người khác thây kệ họ. Nói là nói vậy chớ anh nghĩ coi ba bốn tháng nay tụi mình ở biệt ngoài này có ai dòm ai ngó, ai xăm ai xoi gì đâu… Huống hồ gì bây giờ ba đứa chăn trâu mắc toi đó kéo qua cồn hết… Tụi mình ở đây cu ky một mình, anh coi như vậy… anh khỏi lo gì ráo!
Tư Cầu nghe nói vậy cũng xuôi tai một phần nào. Anh ta đứng tần ngần nhìn Phấn. Sự bình tĩnh lần lần trở lại, và anh ta nhận thấy tự nãy giờ mình xử sự một cách vô lý quá. Nếu anh ta không muốn ở lại với Phấn thì cứ việc đi về nằm đánh một giấc cho sướng thân. Đằng này anh ta vẫn đứng lì ra đó mà lại tìm cách chống chế với Phấn!
Đến bây giờ Tư Cầu mới nhận ra rằng mình quyến luyến Phấn một cách khác hẳn mọi khi. Gần Phấn anh ta thấy dễ chịu hơn trước. Có một cái gì dịu dàng, êm ái, vuốt ve… Đó là những xúc động mới mẻ đã làm cho anh ta trở nên ngượng ngập, sượng sùng, vụng về…
Anh ta nhìn trân trối Phấn, và cái hình ảnh của một con Phấn như chưa từng thấy bao giờ dưới ánh sáng của cây rọi mù u làm cho anh ta thấy khô cuống họng và vụt mừng rở như sắp giải quyết được việc gì ghê gớm lắm.
Còn Phấn thấy Tư Cầu đứng ngần ngừ ở đó chẳng nói chẳng rằng thì cô dư biết Tư Cầu đã chịu phép rồi!
Còn Phấn thấy Tư Cầu đứng ngần ngừ ở đó chẳng nói chẳng rằng thì cô dư bết Tư Cầu đã chịu phép rồi!
Cô dơ tay ngoắt Tư Cầu:
– Lại đây ngồi nghĩ một chút coi cưng!
Giọng nói của cô đúng là một giọng ra lịnh, và mắt cô soi mói nhìn Tư Cầu một cách vừa ranh mảnh, vừa trịch thượng. Thiệt chẳng khac gì cái cảnh con mèo vờn chuột.
Tư Cầu đi lại gần cô ta, ngồi bên mép mấy tàu lá chuối khô và không biết nói gì, anh ta khen bâng quơ:
– Cha ở đây rậm mát quá há!
– Chỗ “động tiên” của ta mà không mát sao được..
Phấn nghiêng mình ra bờ nước để ngó chừng bầy vịt thả gần đó. Cô chỉ thấy thấp thóang mấy con vịt vì trước mắt cô điên điển mọc dầy ken, nước sâu nên cành lá xanh um. Đầu nầy có hàng điên điển, đâu kia có đám sậy và ở giữa là chuối ổi, nhứt là chuối che tàn rợp kín. Thật là một chỗ thần tiên cho mọi cuộc hò hẹn của cặp mắt của người thứ ba bao giờ cũng là quá thừa.
Thấy bầy vịt vẫn ăn loanh quanh đó, Phấn yên lòng. Cô lấy tay vẩy vẩy nước bên cạnh bờ giồng như có dáng suy nghĩ một điều gì.
Cô vẩy mạnh cho nước văng ra xa rồi bỗng đưa tay ôm lấy mắt, giọng hớt hơ hớt hải kêu Tư Cầu:
– Anh Tư ơi, anh Tư! lại đây mau mau anh, hổng biết con gì nó bay vô mắt em xót quá trời nè!
Tư Cầu xích lại gần, nghiêng đầu qua, nghiêng đầu lại để tìm kiếm “con gì” trong mắt của Phấn. Thấy bộ điệu anh ta như vậy, Phấn kêu ầm lên:
– Cái điệu anh xớ rớ như vậy biết tới năm nào mới lấy ra được? Ý trời ơi, sao bây giờ nó cộm và cay xé con mắt đây nè! Mau mau đi chớ!
Tư Cầu hốt hoảng ngồi xích lại gần sát bên Phấn và hỏi:
– Đâu đây? Bên con mắt nào?
– Quỷ thần ơi! Bên con mắt người ta bụm lại đây chớ còn bên nào nữa mà hỏi! Có mau mau vạch ra thổi cho em không hả?
– Thì mau đây nè.
Tư Cầu vừa nói vừa lấy tay vạch một bên mắt Phấn ra, ngó chăm chăm một hồi:
– Đâu tao, ủa anh… có thấy bụi bậm hay con gì ở trỏng đâu?
– Nó cộm như cục đá mà nói hổng thấy… Thôi anh thổi mạnh một cái đi!
Cô vừa nói vừa xích sát lại và như để giữ cho chắc khi Tư Cầu thổi mạnh vào mắt, hai tay cô vịn dính vào hông Tư Cầu.
Tư Cầu xăng xái vạch mắt Phấn ra. Nhưng khi anh ta mới vừa đưa miệng vô định thổi phù một cái… thì Phấn bỏ tay ôm chầm lấy eo ếch của anh ta ghì mạnh.
Cả hai mất thăng bằng ngã lăn cù lên mớ lá chuối khô.
Tư Cầu lật đật đẩy Phấn ra ngóc đầu lên. Anh ta nghiến răng véo mạnh lên bấp vai của Phấn làm cô la “ái” một tiếng:
– Đồ mắc toi mầy xí gạt tao hả?
Phấn chẳng nói chẳng rằng quơ tay ôm ghịt cổ Tư Cầu xuống ngực mình.
Tư Cầu nhoi đâu lên để bắt gặp đôi mắt vừa có vẻ si ngây vừa có vể van lơn của người con gái.
Tim Phấn đập dồn dập bên tai anh ta. Cô thở hổn hển và Tư Cầu nuốt nước miếng ừng ực từng chập như người bị ngộp hơi. Gân cổ Phấn nổi vòng lên thoi thóp nhanh như cổ của một con gà gà bị vặt lông chờ cắt tiết.
Ban đầu Tư Cầu quá hồi hộp. Trán anh ta toát mồ hôi, chân tay lạnh ngắt run lẩy bẩy. Anh ta thở dốc và tưởng chừng như có thể chết hụt hơi được… Nhưng liền theo đó người anh ta hừng hực. Hai bàn tay anh ta bấu mạnh vào đôi vai của Phấn. Anh ta cuối đầu xuống vồn vập hôn như muốn rứt má Phấn ra. Rồi anh ta cắn vào cổ, vào vai khiến Phấn kêu ái ái nho nhỏ.
Tư Cầu gục đầu xuống chiếc áo túi hột dền nút bóp.
Phấn rùng mình nhắm mắt khít mắt lại, ngoẻo đầu qua một bên và tóc cô ta xổ tung tự hồi nào. Một tay cô níu tóc Tư Cầu, một tay cô quơ quàng chụp nhằm một cây chưn vịt mọc bên cạnh và từ từ vò nát cây vô tội ấy trong lòng bàn tay…
Bỗng có tiếng răng rắc trong đám sậy y như có người dẫm lên mấy ống sậy khô. Liền theo đó có tiếng cười rộ lên:
– Ê ngộ quá ta!
Tư Cầu đứng vùng dậy nhìn dớn dác.
Phấn cũng vội lấy tay vịn hai vạt áo lại và ngồi lên.
Nhìn trong đám sậy, Tư Cầu thấy thấp thoáng thằng Năm Sún con của Bác Tám Tân ở gần nhà anh ta. Thằng Năm Sún vẫn còn đứng chàng ràng ở đó chớ chưa chịu đi.
Tư Cầu nổi đóa định rượt nó nhưng Phấn lẹ tay níu lại và nói nhỏ:
– Thôi đi anh Tư! Anh rượt nó chạy tuốt dìa trỏng nói bậy bạ thì chết tụi mình…
– Ông trời cũng chẳng chạy khỏi tay tao (Tư Cầu nổi nóng nên bỏ quên hết cách xưng hô “anh em”) nữa là thằng chết dầm đó!
– Ờ phải… Nhưng dầu cho anh có bắt được nó, bất quá anh xáng cho nó vài bạt tai chớ chẳng lẽ anh giết nó được sao? Mà đánh nó đau nó dìa mét thì càng chết cả chùm nữa!
Tư Cầu nghe Phấn nói vậy nó nghĩ cũng phải, nhưng vẫn ngó thằng Năm Sún lườm lườm. Còn thằng kia thấy vậy cũng biết sơ sơ là nó thắng thế, nên nó không thèm dợm chạy đi đâu hết mà còn vạch sậy lửng thửng đi vào nữa!
Phấn khôn ngoan và mánh lới hơn Tư Cầu nên lên tiếng dò dẩm trước:
– Đi đâu đó em Năm? Lợi dây chơi cho vui… ờ mà hồi nãy em nói cái gì ngộ đó hả?
Thằng Năm đi được vài bước cũng đứng lại phòng xa. Bộ điệu của nó càng làm cho Tư Cầu lộn gan. Nó lấy chân đá bên nầy một cái, vớt bên kia một cái. Tay mặt nó quậy quậy cái nạng dàn thung, tay trái nó phẩy phẩy cái nón lá. Mắt nó làm bộ láo liên nhìn bên đông bên tay nhưng vẫn ghìm cặp Tư Cầu và Phấn.
Phấn hỏi tiếp theo:
– Lợi đây ngồi cho mát em Năm. Em thấy cái gì mà nói ngộ đó?
Thằng Năm Sún cười mũi:
– Giả mù sa mưa hoài! Thấy ếch bắt cặp chớ thấy gì mà hỏi?
– Nói bậy nà! Tao với anh Tư mới lùa vịt qua gần đây nên vô trú nắng chớ có gì đâu…
– Ờ không có thì thôi!
Tư Cầu nổi nóng xốc lại, nhưng Phấn cản ra:
– Thôi đi anh Tư, việc đâu còn có đó, em Năm nầy tuy vậy mà biết điều lắm. Tụi mình bồ với nhau hết mà phải không Năm?
Thằng Năm Sún coi vậy chớ nói cũng ngán Tư Cầu. Thấy Tư Cầu có vẻ gầm ừ quá nó vội sụt lui mấy bước.
Tư Cầu lừ lừ nhìn nó và dơ tay ra dá dá:
– Êm Sún, bộ mầy thấy tao không nói rồi mầy lên nước hả mậy? Mầy thấy cái gì thây kệ bà mầy! Đứa nào dìa trổng nó hé điều gì tao nghe được tao vặn họng ráo… Thứ đồ chui lỗ quần mà cũng làm tàng.
Phấn thấy Tư Cầu nổi xung như vậy e hư bột hư đường hết nên với tay níu Tư Cầu:
– Thôi mà anh Tư! Để cho em nói với nó mà.
Rồi cô day qua phía thằng Năm Sún:
– Lại đây chơi em Năm. Em đem theo nạng dàn thung đó chờ bắn được con nào không?
Tư Cầu chen vô:
– Phải nó bắn được thì nó đã xách theo rồi! Thứ nó chỉ để cho bà Cố bà Hồng bắn nó, chớ còn nó mà bắn cái gì!
Phấn tức quá dậm chân xuống đất:
– Anh nầy sao kỳ cục quá hổng biết! Anh làm ơn tránh qua một bên để “người ta” nói chuyện với nó một chút coi.
Tư Cầu hứ một tiếng đọan quay lưng đi ra phía đám ổi. Tuy nóng tánh nhưng anh ta cũng biết nghe theo lời của Phấn, vì thật ra anh ta cũng hiểu cái thế “yếu” của Phấn và mình hiện thời.
Đợi Tư Cầu đi xa Phấn ngoắc thằng Năm Sún lại. Năm Sún lắm lét nhìn Tư Cầu và thận trọng đi bọc bọc lại gần bên Phấn.
Phấn níu nó ngồi xuống bên cạnh và thủ thỉ:
– Ngồi đây chơi để qua nói em nghe… Anh Tư ảnh tuy nóng nảy vậy mà hiền khô em à. Em còn nhỏ em không biết chớ qua với anh Tư ra ngòai ngày cưới nhau đó.
Phấn tính phủ đầu trước Năm Sún, không dè thằng này cũng quá trời:
– Mới có tính hả?
– Thì nói vậy chớ thế nào hai bác bên anh Tư cùng như bên má của qua lại không chịu… Mà thôi dẹp chuyện đó qua một bên đi. Hồi nãy anh Tư với qua… vật lộn chơi, em có thấy gì thì để bụng đừng nói lung tung, nghen em!
Thằng Năm Sún mỉm cười ranh mảnh.
Thấy vậy con Phấn hăm:
– Em mà dìa trỏng em học lại cho người lớn nghe thì em bị đòn nứt đít chớ không chơi đâu!
– Sao mà bị đòn kỳ đời vậy?
– Thì em đi rình ngó bậy bạ, người lớn họ không chịu chớ sao!
– Dữ hông, bây giờ chị mới nói “bậy bạ” chớ nồi nãy chối leo lẻo!
Phấn nghe nó nói hổn xược vậy tức cành hông nhưng ráng dằn xuống và nói ngọt như thường!
– Thôi mà em Năm! Qua nói thiệt tình chớ không phải nói quanh nói co gì đâu. Nếu em mét thì không phải chỉ qua với anh Tư bị mà thôi đâu. Em cũng không chạy khỏi cảnh ăn bánh tét nhưng mây. Người lớn họ ghét thứ con nít rình mò xem chùn xem lén đó lắm.
Thằng Năm Sún vẫn còn bướng:
– Thì bất quá tui ăn bốn năm roi là cùng chớ còn…
-… thì phải rồi! Nhưng em làm vậy có ích lợi cái gì không hả? Em nghĩ coi từ trước tới giờ qua với em và anh Tư có ai xích mích điều gì với em đâu. Lâu lâu em xin trứng vịt qua cũng cho, còn bửa hổm anh Tư ảnh bắt giùm em ổ chìa vôi đó em quên sao?
Thằng Năm nghe Phấn nói vậy cũng thấm ý:
– Ừ, cái đó thì có!
Thấy thằng Năm Sún dịu dịu, Phấn châm thêm:
– Đó em coi, tụi mình là chỗ nhờ cậy qua lại. Em đi mét tụi qua rồi có té vàng té bạc gì không, có sướng có ích gì không hay là đứa trầy vi, đứa tróc vảy? Mà hể em đi học chuyện này ra tứ tung ngũ hoành thì chắc mẽm là trời cản anh Tư ảnh cũng không buông tha em… Em biết tánh ảnh cộc lắm, tới đâu tới chớ ảnh cũng mần thịt em trước đã…
Thấy thằng Năm Sún ngồi lặng thinh ra dáng suy nghĩ, Phấn biết đã “ăn tiền” rồi nên đưa mắt nháy nháy Tư Cầu. Tư Cầu đứng dang ra đó chờ không bỏ sót một lời của Phấn và thằng Năm Sún.
Phấn bồi thêm một đòn cuối cùng:
– Em Năm à, qua nói vậy em nghe coi phải không?
– Ừa…
– Đây, qua còn năm cắc em cầm lấy lát nữa nước lớn, em ra ngòai rạch đón ghe hàng ngòai vàm vô mua bánh kẹo gì đó ăn chơi.
Vừa nói Phấn vừa móc túi lấy ra một tờ giấy năm cắc gấp làm tư đưa cho thằng Năm Sún.
Năm Sún thấy có bổng lộc bất ngờ như vậy mừng rơn trong bụng. Nó nhoài mình tới chụp lấy tờ giấy năm cắc như sợ Phấn thay đổi ý kiến.
Tư Cầu liếc mắt nhìn thấy bộ điệu của nó như vậy nên tính phá chơi:
– Ê không dễ gì nuốt trôi năm cắc đó nghen ta!
Năm Sún lỏ mắt nhìn lại và Tư Cầu chẫm rải nói tiếp theo:
– Bộ mầy tưởng tao làm hộp mầy sao? Không đâu em!… Tao hỏi mầy, mầy đem năm cắc đó về trỏng mầy xài thiên hạ thấy hỏi rồi mầy trả lời làm sao cho xuo6i nè?… Chẳng lẽ mầy nói tiền đó là tiền mầy đi vạch lỗ chó rình bậy mà ra!… Mà mầy nói ấp ứ thiên hạ nghi mầy ăn cắp ở đâu đó. Thứ tiền đó đâu phải dễ nuốt cho trôi mậy!
Nghe Tư Cầu nói vậy, Năm Sún xuống tinh thần tay cầm tờ giấy năm cắc khựng lại, mắt nó hướng về phía Phấn như để hỏi han. Phấn thấy Năm Sún như vậy vừa tức cười vừa thương hại nên vội gở rối cho nó:
– Anh Tư nói là nói phòng xa vậy chớ em cứ cầm đi khỏi lo gì ráo. Nếu em xài mà có ai thấy hỏi em nói đại là tiền của qua cho em ăn bánh. Mấy tháng nay em phụ lùa vịt, lượm trứng cho qua nên lâu lâu qua đền ơn chút đỉnh xài chơi vậy mà… Qua nói sơ sơ vậy em có rõ không?
Nghe Phấn nói vậy. Năm Sún thấy khỏe ru nên lấp bấp trả lời:
– Rõ… rõ lắm rồi! Chị thiệt tài… Còn cái anh Tư kia sao ăn nói đâm ngang quá.
Tư Cầu hừ một tiếng:
– Tao mà không đâm ngang thì mầy dìa trỏng xài ẩu năm cắc đó thắt họng cả đám chớ bộ giởn sao?
Phấn thấy cần binh Tư Cầu một chút:
– Anh Tư ảnh lo xa cũng đúng em à, chớ không phải ảnh muốn cản mũi cản lái gì đâu. Thôi trưa quá rồi, em về trỏng đi để qua còn liệu lùa lần ba con vịt về chòi cho sớm… Nhớ nghen em, ai có hỏi em cứ nói như qua dặn thì trót lọt chớ không sao đâu!
Thằng Năm Sún phủi quần đứng dậy.
Tư Cầu thấy cần phải an ủi thằng Năm Sún đôi chút, không phải tại mình “ngán” Năm Sún, mà vì muốn tỏ cho Phấn rõ mình cũng biết chìu chuộng Phấn lắm. Anh ta kêu Năm Sún lại:
– Ê mầy Năm!
Năm Sún tưởng anh ta còn kiếm chuyện gì nữa nên hỏi vội:
– Cái gì nữa cha nội?
– Thằng này sao kỳ quá! Tao kêu mầy lại dặn mầy chút nữa có đi dìa nhớ ghét tạt qua chòi của tao, tao cho thêm một cái tỉn không đem về đổi bánh bò ăn chơi… Bộ mầy hỏng chịu hả?
-Sao không! Tưởng cái gì chớ…
– Vậy chớ chưa gì sao mầy lại cự nự tao?
Thằng Năm Sún ừa ào cho xuôi theo:
– Thì nói vậy chớ có sao đâu.. Thôi chút nữa tôi ghé qua chòi lấy cái tỉn về.. Cám ơn anh nhiều lắm nghen. Tui dìa nghen chị Phấn. Giờ nầy chắc ghe hàng hòang vàm thả vô rồi.
Nói xong nó dông tuốt.
Đợi cho thằng Năm Sún đi khỏi, Tư Cầu cười phá lên:
– Thấy chưa Phấn? Đầu giây mối nhợ gì cũng tại em hết nghen em…
Phấn háy nó một cái:
– Hay dữ hông? Cái gì cũng đổ thừa cho người ta hết chứ hồi nãy đứa nào…
Tư Cầu vội chặn ngang:
– Đúng rồi, không biết đứa nào hồi nãy làm bộ bụi vô mắt để xí gạt người ta…
Phấn véo nó một cái đau điếng:
– Ơ lãng òm!… Thôi đừng đổ thừa cho ai hết. Nội cái việc thằng Năm Sún nó làm khó làm dễ, cũng đủ biết anh dở ẹt. Không có tay em trị nó thì tụi mình chỉ có nước cuốn gói dông luôn.
Tư Cầu cà rỡn:
– Cuốn gói thì cuốn chớ sợ cái nỗi gì?
– Bộ anh nói bảnh vậy, chớ gặp chuyện anh nhát như thỏ đế… Nhiều lúc thiệt tức anh muốn cành hông!
– Thì thôi người ta dở… Mà biết người như vậy sao không đi kiếm thằng khác đi?
Phấn nghe Tư Cầu nói câu ấy tức quá, nước mắt rơm rớm:
– Coi kìa! Sao anh hỏi câu đó?… Bộ anh không biết em thương anh thiệt sao?
Nghe Phấn nói như vậy, Tư Cầu vừa hối hận, vừa xót xa và cũng vừa sung sướng trong lòng.
Không biết nói gì để an ủi Phấn, anh ta sụt sề cầm lấy tay cô ta mân mê mấy ngón tay rồi cố gắng lắm mới nói ra lời:
– Anh biết bụng em rồi mà… Tánh anh kỳ cục như vậy, nhưng thiệt tình anh không có gì hết… anh… anh cũng giống như em vậy, anh cũng thương em vậy.
Phấn cảm động kéo kéo ghịt Tư Cầu ôm vào lòng như ôm một đứa trẻ con bé bỏng rất đáng yêu, mà cũng rất vụng về, rất cần đến sự che chở và vun bồi của mình.
Rúc đầu trên ngực và trong vòng tay êm nóng của Phấn, Tư Cầu có cảm tưởng như được tha thứ, được bao bọc bởi một cái gì rất là đáng yên tâm, rất đáng tin cậy mà cũng rất khôn ngoan, hiểu biết hơn anh ta nhiều…
… Nhìn thấy nắng trổ xiên xiên qua mấy tàu lá chuối, Tư Cầu nhè nhẹ đẩy Phấn ra:
– Mới có lây quây một chút mà trời xế rồi. Thôi tụi mình cũng liệu lùa vịt về chớ!
Phấn vừa bới đầu lại vừa nói:
– Ừ mau quá há!
Tư Cầu nhìn cô ta mỉm cười:
– Cha, cái điệu nầy riết rồi bỏ bê công ăn việc làm hết!
– Anh sao cứ nói bá láp hoài. Có mần cái gì đâu mà bỏ bê?… Anh nói điệu đó đến khi tụi mình nên vợ nên chồng thì bỏ phế hết công việc chắc?
– Thì cũng đâu đó!
– Được vậy em cũng lạy!
Tư Cầu làm bộ xụ mặt xuống:
– Chê nữa đi!
Phấn thấy vậy lấy ngón tay bêu bêu vào má anh ta:
– Ý lêu lêu mắc cở!… Người ta nói một chút vậy mà cũng chầm bầm… Giận lẫy thì có ngày xẩy cùi…
Tư Cầu để yên cho cô ta chọc, rồi bất thần há miệng cắn lấy ngón tay của cô ta.
Phấn kêu “ái” một tiếng, giựt phăng ra, rồi cô vừa đưa ngón tay lên miệng xúyt xoa thổi vùa lầm bầm:
– Cắn người ta đau thấy mồ! Đồ chó.
Tư Cầu thích chí cười ha hả:
– Chửi nữa đi…
– Chửi nữa rồi có sao hông?
– Thôi thôi… hỏng có sao, đầu, dênh dênh gì hết liệu mà đi lùa vịt dìa chớ bộ tính ở đây nói tầm ruồng hoài hả?
– Không biết ai nói tầm ruồng!
– Thôi lại bà!… Anh dìa trước nghe cưng!
Phấn gọi nó lại:
– Bộ hổng đợi người ta nữa hả?
– Ối trời ơi, thứ đi dìa đó với đây mà chờ với đợi cái nổi gì hổng biết!
– Ừ, thì thôi anh đi dìa trước đi.
Tư Cầu xây lưng đi, nhưng vừa tới đám sậy anh lại ngoái đầu nhìn lại Phấn.
Phấn cũng đứng yên nhìn anh ta một cách vô cùng mặn nồng.
Tư Cầu bước đi vài bước rồi lần khân đứng lại. Phấn thấy vậy lấy tay khoát khoát ra dáng xua anh ta đi:
– Dìa đi cưng! Bộ em biến mất sao mà sợ? Hồi nãy sao khăng khăng đòi dìa mà bây giờ lại hổng đi đi!
Tư Cầu vụt chạy ù lại Phấn, hôn nhanh lên má nó rồi đâm đầu chạy đi.
Phấn kêu giựt ngược nó lại:
– Anh Tư, tối nhớ qua nghen!
– Ừ mà.
– Ừa cho chắc nghen!
– Chắc mà!
Nói xong Tư Cầu lại chạy về phía bờ giồng. Vừa chạy anh ta vừa hí hửng quơ tay ngắt liệng tứ tung mấy cái đọt cây de ra ngoài lối đi.
Trong lúc đó, Phấn mặt mày tươi rói, cúi xúống lượm cái nón lá và cây rọi lên, rồi lửng thửng đi ra ruộng nước lùa vịt về…

°   °
°

Trời mới xập tối là Tư Cầu đã cơm nước tắm rửa đâu đó xong xuôi.
Anh ta coi bầy vịt con một lượt, rồi đến bỏ rơm thêm và đốt cỏ un muỗi cho con trâu Sấm. Anh ta làm gấp rút để rồi còn qua bên Phấn.
Nhưng khi nhìn con Sấm nằm nhơi cỏ, chốc chốc lại khịt khịt mũi và quơ sừng xua muỗi, Tư Cầu bỗn thấy đôi chút bứt rứt trong lòng.
Anh ta tần ngần đứng nhìn con Sấm, khẽ thở dài, với tay đập đập lên mình con trâu, rồi lầm lủi đi xuống mé nước chống xuồng qua bên chòi của Phấn…
… Từ trong chòi, nghe tiếng xào-xạt dưới mé ruộng nước, Phấn đã chạy ra, lên tiếng:
– Dữ hôn, chừng nầy mới qua tới!
Tư Cầu đầu óc còn nặng chình chịch vì những ý nghĩ ban nãy, nên chẳng nói chẳng rằng nhảy xuống đất kéo mũi xuồng rướn lên bờ cỏ.
Xong xuôi anh ta lửng thửng đi vô trong chòi.
Phấn thấy anh ta lầm lì như vậy cũng ngại lên tiếng và chỉ lẳng lặng đi theo sau.
Trong chòi cây rọi mù u cháy chập chờn.
Vào đến nơi, Tư Cầu phủi chân ngồi xuống mép nóp, lật túi thuốc ra vấn hút.
Phấn trầm ngâm nhìn anh ta một hồi rồi gợi chuyện:
– Tối nay ít muỗi quá há!
– Ừ…
Phấn rụt rè hỏi:
– Có chuyện gì vậy anh Tư?
Tư Cầu khẽ lắc đầu:
– Hông!… hổng có chuyện gì hết.
– Hổng có sao mặt mày anh bí xị vậy?
Tư Cầu hít vài hơi thuốc rồi nhả khói ra từ từ, anh ta kiếm cách để trả lời sao cho xuôi để Phấn hiểu. Nhưng anh ta lúng túng tìm không ra câu:
– Có mà cũng như… không có gì hết! Thiệt khó nói cho em hiểu quá, Phấn à.
– Anh này sao bửa nay rắc rối quá!
Tư Cầu nghe cô ta nói vậy cũng phải tức cười.
– Cái gì mà rắc rối? Mà có rắc rối thì cũng tại bà hết!
Phấn nghe anh ta nói như vậy vội chạy đến ngồi xít một bên:
– Coi kìa sao lạ vậy! Bộ cái gì anh cũng đổ thừa cho em hết trọi sao?
– Ai mà thèm đổ thừa.
– Vậy chớ sao nói tại em?
Tư Cầu xua tay lắc đầu:
– Thôi, thôi dẹp chuyện đó qua một bên đi… Mà anh nói tại em là tại em thiệt chớ không phải chơi đâu…
– Nữa!
– Thì để người ta nói cho hết, chớ cứ xía ngang vô hoài… Anh nói tại em, mà hổng phải anh đổ thừa cho em đâu… Tại em là ở chỗ em với anh, hai đứa tụi mình thương nhau…
Phấn chồm lên:
– Bộ tụi mình thương nhau rồi chết hả?
Tư Cầu nắm lấy hai vai cô ta giữ lại:
– Hổng phải vậy đâu! Nhưng để rồi em coi, sao anh thấy cái yêu thương nó rắc rối quá em à. Bắt anh cày mấy công ruộng khô, phát mấy công đất cỏ năng anh không ngán, chớ tụi mình mới có lộn xộn với nhau chút đỉnh mà sao anh thấy… mệt quá!
Nghe Tư Cầu nói một cách vòng quanh như vậy, Phấn cũng hiểu được đôi phần tâm trạng của anh ta. Vì vậy Phấn hơi yên tâm để quay ra chọc chơi:
– Anh sao dở ẹt! Chưa gì mà đã kêu trời như bộng. Mà anh nói vậy chớ bộ chỉ có “mệt” không thôi hả?
Tư Cầu sợ phật ý cô ta nên vội trả lời:
– Hổng phải vậy đâu! Anh cũng thấy… vừa ý lắm chớ, nhưng nói thiệt với em hể buông ra rồi anh thấy như cái gì đó nó bứt rứt, cắn rắn trong bụng mình. Không biết em có vậy hông, chớ sao anh thấy hơi lo lo, mà thiệt tình thì cũng chẳng biết lo cái gì nữa!
– Anh nầy thiệt kỳ cục! Hơi đâu mà anh đi lo bá vơ chớ?… Mà em hỏi anh chớ anh lo cái gì? Tụi mình đã… đã có cái gì chưa mà lo hả. Hứ! Thứ mới chàng ràng một chút mà anh làm như đã ăn nằm năm bẩy mặt con rồi!… Nhiều lúc thiệt ngán anh quá… ngán như ăn cơm nếp!
Nghe Phấn nói như vậy, Tư Cầu không thấy phật ý mà thấy buồn buồn. Trên con đường tình ái, và trên nhiều mặt khác nữa, anh ta còn thua xa Phấn đủ mọi điều. Và nếu số phận ghép cho anh ta với Phấn phải đi với nhau, thì thế nào anh ta cũng lúc thúc theo sau lưng chớ không sao sánh ngang được với Phấn.
Tư Cầu khẽ thở dài. Anh ta hít một hơi thuốc chót, lấy đuôi thuốc thấm ướt dán lên cột tre, rồi trầm ngâm nhìn ánh lửa chờn vờn của cây rọi mù-u.
Phấn ngắm nghía bộ bịch của anh ta như vậy, khẽ lắc đầu rồi mỉm cười. Một cái mỉm cười rộng lượng.
– Anh Tư à, em nói cái nầy anh đừng giận nghen!
– Ừ.
– Ừ gì mà yếu xịu vậy!
– Thì ừ mạnh! Thiệt là rắc rối…
– Cái gì anh cũng than rắc rối hết. Muốn hổng có rắc rối thì ở yên trong nhà, mắt ngơ, tai điếc, không rọ rậy gì hết…
– Cũng muốn vậy lắm!
– Cái bộ anh thì chỉ có nói phách giởn thôi. Muốn rúc ở nhà mà cũng không buông ngoài ngỏ, đằng nào anh cũng chờn vờn hết!
Thấy Tư Cầu làm thinh, Phấn bắt trớn tiếp theo:
– Anh Tư à, em thương anh lắm em mới nói. Anh phải ráng sửa đổi tánh nết làm sao chớ lù khù lù khờ hoài như vầy thì hổng em đâu anh!
– Vậy chớ phải lanh lợi xảo trá hả?
– Không phải vậy đâu! Nói thiệt với anh em mến anh một phần lớn cũng vì anh thiệt thà. Nhưng anh Tư à, cái chuyện tụi mình mến thương nhau là đành rồi, tụi mình phải lo đến những chuyện khác nữa chớ những chuyện làm sao cho tụi mình ăn ở đằm thắm, bền bỉ với nhau, những chuyện thiên hạ dòm ngó dị nghị.
– Cha rắc rối quá! Anh thú thiệt với em nhiều lúc anh cũng lo lắm chớ phải không đâu. Nhưng lo là lo khơi khơi vậy chớ anh không biết phải lo làm sao nữa.
Phấn cười lớn:
– Thì em biết mà! Anh thì đúng như vậy chớ có sai chạy một ly nào đâu… Thi dẹp chuyện đó qua một bên đi. Tới đâu hay tới đó.
Tư Cầu như trút được gánh nặng nói liền theo:
– Ừ phải rồi, tới đâu hay tới đó lo trước làm gì cho mệt!
Phấn véo má anh ta một cái:
– Anh thì cái gì cũng sợ mệt, mà thấy cái gì thì cũng muốn nhào vô hết!
– Đừng nói bậy mà!
– Ừ thì bậy! Nhưng người ta nói cho mà biết: Anh cứ nhát như thỏ đế vậy rồi có ngày tiếc hùi hụi đa anh Tư!
Tư Cầu cười mũi:
– Tiếc hùi hụi… ý trời, bộ con nầy nó nói đàn bà con gái khác chết tiệt hết rồi sao chớ!
– Ờ giỏi quá há! Chết tiệt hay không hổng biết, chớ không dễ gì kiếm một đứa như con nầy nghen anh!… Anh sao cứ nói cái mửng đó hoài. Gặp con khác, cái điệu như anh vậy thì cũng đến nước ngồi một đống mà nuốt nước miếng chớ làm gì ai được. Hiểu anh quá mà anh Tư! Hổng có con này anh cũng co tay chớ bảnh gì!
Thấy Phấn “hăng” như vậy Tư Cầu xuống nước:
– Ừ thì giỏi. Thôi dẹp chuyện đó qua một bên đi… Hổng phải rảnh rang, vui sướng gì qua đây để cải lộn nghen!
– Nói đã rồi hễ người ta mở miệng ra thì nói dẹp lại! Khôn quá há!
Tư Cầu làm bộ vái dài nó:
– Thôi, thôi, tui lạy Bà tui chịu thua rồi!
Phấn cũng cười và đưa mắt long lanh nhìn anh ta:
– Chịu thua thì phải thưởng cho người ta cái gì hả?
Tư Cầu ôm cô ta vào lòng:
– Thưởng cái gì thì cũng thưởng ráo hết!
Phấn làm bộ xô Tư Cầu ra:
– Coi chừng thằng Năm Sún nó rình kia kìa!
Tư Cầu càng ôm riết lấy cô ta:
– Mười Sún cũng hổng ngán nữa là Năm Sún!
Phấn giảy-giụa trong đôi cánh tay ghịt cứng của Tư Cầu như muốn vuột ra, nhưng rồi lại gục đầu trên vai anh ta thân mình né qua tránh lại… rồi cười hăng hắc.
– Buông người ta ra!… Đồ quỷ nà! Làm người ta nhột thấy bà…
Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng ghì chặt lấy cô ta, rồi cả hai cùng ngã chồng lên chiếc nóp.
Tư Cầu ngấu nghiến cắn mạnh vào má, vào cổ, vào vai người yêu…
Phấn như ngây như dại, không kêu đau một tiếng nào mà chỉ gọi Tư Cầu qua hơi thở dồn dập:
– Tắt cây rọi đi anh Tư…
Tư Cầu chống tay nhổm phắt vậy, quay nghiêng mình thổi phù vào cây rọi tắt ngóm… Trong bóng tối, Phấn đưa hai tay đón anh ta ôm ghị riết xuống ngực…
Bên ngoài gió thổi lào xào mào mái chòi tranh. Bầu trời đen sậm không có đến một vết nhỏ mây, và muôn vàn vì sao lấp lánh như những cấm đen dầu li ti nhấp nhái trong khoảng gió lộng. Một đôi le le líu tíu gọi nhau bay về một góc đầm vắng nào.
…Phấn buông xải hai tay lên trên chiếc nóp. Mười đầu ngón tay quào sâu vào lằn lát đệm. Cô rên nho nhỏ để rồi sẽ cất tiếng kêu thảm thiết: “Anh Tư ơi”!
Cô cắn nghiến vào một bên vai tê dại của Tư Cầu, rồi thút thít khóc…
Tư Cầu bối rối hỏi:
– Có sao hông em?
Phấn không trả lời mà luồn tay lên ôm lấy lưng nó…

°   °
°

Tư Cầu vừa ăn cơm xong đang ngồi vấn thuốc hút thì Phấn chống xuồng qua tới.
Tư Cầu vừa đưa điếu thuốc lên môi le lưỡi dán mép giấy vừa hỏi:
– Chừng này qua đây làm gì đó? Bộ tính bỏ luôn bầy vịt trong đồng giao cho mấy gốc chưn bầu giữ giùm hả?
Phấn mắc lo kéo mũi xuồng gác lên bờ cỏ nên chưa kịp trả lời thì Tư Cầu lại hỏi luôn:
– Ủa, bộ tính ở lâu sao? Để tối người ta qua mà…
Phấn nổi xung cự nự:
– Hứ! hổng biết mốc xì gì cũng nói càn. Bộ anh tưởng người ta qua đây để mần cái gì chắc! Mà giả tỷ bây giờ người ta muốn đó anh có giỏi trốn được không. Mại hơi hoài thấy ghét… Làm bộ vậy chớ bây giờ buông ra lại không chụp ngấu chụp nghiến!
Tư Cầu bị Phấn dồn cho một hơi xuống nước cười giả lả:
– Nói bậy nà… Ờ mà qua đây có chuyện gì đó em cưng?
– Sao hồi hả không làm ơn hỏi dùm một cái cho người ta nhờ, lại bày đặt nói càn nói mạng…
Tư Cầu cười hề hề chạy lại nắm tay cô ta dẫn vào chòi:
– Thôi, thôi người ta chịu thua rồi mà! Qua đây có chuyện gì không em?
– Có chuyện mới qua chớ bộ ở không qua đây khơi khôi vậy hả?
– Thì người ta biết rồi mà!
Tư Cầu vừa nói vừa choàng một tay ôm ngang lưng cô ta kéo sát vào mình.
Phấn để yên một hồi rồi xô ra, vùng vằng nói:
– Hồi tối thấy ghét anh quá…
Nói tới đó cô đỏ bừng mặt cúi gằm đầu xuống, tay mân mê mấy cái nút bóp trên áo túi.
Tư Cầu nghe cô ta nói vậy hơ hoảng vì không biết cô ta muốn gì, và rụt rè hỏi:
– Sao em? Có sao không em?
Phấn ngúyt yêu nó:
– Còn hỏi có sao nữa… kỳ quá! Từ nay sắp lên em..
Cô bỏ lửng ngang câu, ôm ghì lấy Tư Cầu rồi sụt sịt khóc.
Tư Cầu vừa gở cô ta ra vừa hỏi:
– Coi kìa, ai làm gì mà khóc?
– Anh không biết anh làm gì hả? Mới có hồi tối đó bây giờ lại dở giọng đó ra rồi…
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Khổ quá, ai có dở giọng gì ra đâu! Thì có cái gì nói phứt ra coi được hông! Thiệt đàn bà con gái hể rờ tới là hay rắc rối tổ mẹ!
– Thì ai biểu rớ tới rồi kêu!
Nói tới đó Phấn lấy tay quệt mạnh chùi nước mắt, nhưng rồi lại mếu máo:
– Tui biết mà! Anh làm bộ vậy chớ có thương yêu gì tui đâu… Bây giờ dĩ lở ra rồi, có sao đi nữa tui cũng phải ráng chịu.
Tư Cầu dậm chân, chắc lưỡi:
– Trời thần ơi! Thì ai có làm gì đâu mà kể lể khóc than hổng biết. Em sao kỳ quá Phấn à!
– Ừ, tui kỳ…
– Em cứ vậy hoài! Có cái gì thì em cứ nói thẳng bạch tuột ra cho anh nghe, chớ em cứ lắt léo quanh co như vậy, bà nội ai cũng không biết đường đâu mà rờ nữa!
– Thì còn chuyện gì nữa! Thằng Năm Sún đó chớ ai!
Tư Câu chồm dậy:
– Sao? Bộ thằng ôn hoàng dịch lệ đó đi mét hả?
Phấn kéo tay nó ngồi xuống lại:
– Hổng phải vậy đâu. Để thủng thỉnh em nói hết đầu đuôi cho anh nghe.
– Chờ nó không đi mét… ờ mà phải, nếu nó đi học lại trong nhà thì tụi mình đã có chuyện lôi thôi rồi chớ đâu êm ru bà rù như vậy!… Vậy chớ thằng bà vật đó còn lộn xộn gì nữa đó?
– Thì yên một chút để người ta nói, chớ chưa gì anh hớt hớt vậy rồi làm sao em nói được.
– Ừ phải.
– Thằng Năm Sún đòi tiền nữa đó!
Tư Cầu trợn mắt:
– Em nói thiệt hay nói chơi đó?
– Bộ giờ giấc nầy người ta ở không sao mà qua đây giởn chớ?
– Ừ… mà em có đưa tiền thêm hông?
– Hổng có sao được?
Tư Cầu tức mình đập tay mạnh xuống nóp:
– Đưa tiền cho nó chi vậy? Thiệt ngu quá mà!
– Ngu, ngu! Anh cái gì cũng nói giỏi hết! Phải hồi nãy em chỉ nó qua anh để coi anh tính làm sao?
– Nó mà vác mặt qua đây thì bà hú nó!
Phấn cười mỉm:
– Giỏi!… Rồi nó về nó mét thì bà cứu tụi mình!
Tư Cầu đuối lý xuống nước:
– Vậy chớ em đưa thêm cho nó bao nhiêu nữa? Nó có đòi bao nhiêu hông?
– Đòi thì nó không dám đòi nhưng nó chỉ xin mình cho nó mượn đở vậy thôi.
Phấn kể lại chuyện làm tiền của thằng Năm Sún cho Tư Cầu nghe hết đầu đuôi rồi nói tiếp:
– Nó nói vậy, tuy mình cũng tức cành hông nhưng cũng đành bóp bụng lòi tiền ra…
Tư Cầu chận hỏi:
– Bộ em cho nó đủ ba cắc hả!
– Chớ bao nhiêu bây giờ?
– Sao không bớt lại đưa cho nó một hai cắc gì đó hổng được sao?
– Cũng nói giỏi nữa! Làm tài khôn hoài…
– Nói vậy thằng ôn dịch đó đòi đủ ba cắc hả?
– Hổng đòi mốc xì gì hết, nhưng mình phải đưa ra cho vậy đó!
Tư Cầu ngồi yên một hồi rồi hỏi:
– Vậy nó được mợi nó đòi hoài rồi tiền đâu mà đưa cho nó?
Phấn chắc lưỡi:
– Bởi vậy nên người ta mới qua hỏi coi anh tính sao đây?
Tư Cầu lúng túng rồi gắt gỏng:
– Tính, tính cái gì nữa bây giờ?
Phấn thở dài:
– Thiệt qua bàn với anh mà anh nói ăn trét hết như vậy thì kể cũng như không!
Tư Cầu chống chế:
– Thì cũng để thủng thẳng rồi tụi mình liệu chớ, hổng lẽ để cho thằng trời đánh đó chơi cha vậy hoài sao!
– Hứ! Việc đến bên đít rồi mà cứ thủng thẳng hoài… Mơi mốt nó ra nẹo tiền nữa rồi mới tính sao?… Anh cái gì cũng không ngơ hết… Cái gì cũng đợi người ta dưng tới miệng hết!
Tư Cầu tìm cách nói lãng ra:
– Ừ cái thằng vạch lở chó nhìn bậy một chút đã sướng con mắt mà còn có tiền xài nữa há!
– Nói bậy nà!
Tư Cầu được trớn cười ha hả rồi với tay ôm lấy vai Phấn. Cô ta gạt phăng anh ta ra, ự nự:
– Thôi đi, đồ quỷ nà! Hổng lo tính tóan gì hết cứ lo giỡn hoài.
Tư Cầu cụt hứng rút tay lại:
– Ừ thì tính… Mà tính cái gì bây giờ hả?
– Mèn đét ơi! Tự nãy giờ nói muốn rả hơi mà bây giờ lại hỏi tính cái gì! Thì tính cái vụ thằng Năm Sún nẹp tiền chớ tính cái gì nữa!
– Ờ phải! Mình phải làm sao cho nó hết đòi tiền nữa…
Phấn gật đầu và nhìn châm bẩm vào nó:
– Phải! rồi sao nữa?
Tư Cầu ngồi thừ người ra một hồi rồi lẩm bẩm:
– Tính làm sao… không cho tiền thì nó mét, mà cho tiền thì nó đòi… Được rồi (đến đây nó nói lớn) để anh đón đường làm bộ hâm he cho nó ngán, hay đập đại mẹ nó một trận thì nó tởn đến già chớ gì!
Phấn xua tay:
– Thôi đi ông nội ơi! Ông làm vậy thì chẳng khác nào xúi cho nó đi mét cho mau để rồi tụi mình chết cả đám hả!
Tư Cầu gải đầu:
– Chà điệu này khó quá ta! Vậy chớ em hông có tính cách nào khác được sao?
– Nếu có cách khác thì người ta chẳng qua đây làm gì cho mệt xác!
– Ờ phải… Mình phải nghĩ cách gì để cho thằng Năm Sún hết dám hé miệng được nữa… Nó nhìn lén mình… rồi nó nẹo tiền…
Nói đến đó, Tư Cầu như chợt nghĩ ra điều gì, vỗ tay xuống đệm một cái bốp rồi nói lớn:
– Phen này chết bà thằng Năm Sún rồi!
Phấn ngạc nhiên hỏi:
– Sao mà chết? Nói ẩu hoài…
Tư Cầu lên mặt:
– Hổng biết đách gì hết cũng la người ta nói ẩu!
Phấn xích lại gần anh ta ngọt ngào hỏi:
– Vậy chớ anh tính làm sao, anh hổng nói rõ cho em nghe với!
Tư Cầu cười mũi:
– Dễ ợt! Hôi đó nó nhìn lén được tụi mình nên nó mới kiếm chuyện làm khó dễ, bây giờ tụi mình phải kiếm cách làm cho nó nhập phe tụi mình thì nó câm họng lại liền…
Phấn ngẫm nghĩ một hồi nhưng không hiểu Tư Cầu tính tóan cái gì, nên tức hỏi lại:
– Cái gì mà nói nhập phe, nhập bọn lung tung ở trong đó?
Tư Cầu nhìn cô ta với nửa con mắt:
– Con nầy sao nó bư hết chỗ nói! Đây nè, vảnh lổ tai lên nghe người ta nói đây: mình phải dụ khị sao cho thằng Năm Sún làm y như cái cảnh của tụi mình… Mình phải “bắt cặp” cho nó, rồi đợi chừng nào nó “ăn câu” mình nhảy ra bắt tại trận… Như vậy, ông cố nó sống dậy biểu met nó cũng hết dám hó hé, và tởn đến già không dám đụng chạm gì tới hai đứa mình nữa! Thiệt là khỏe ru.
Phấn vẫn còn hoài nghi:
– Em với anh thi bắt cặp được chớ thằng Năm còn mũi dãi lòng thòng mà bắt cặp cái nổi gì?… Mà bắt cặp nó với ai mới được chớ? Với nó còn con nít trân biết khỉ khô gì?… Như vậy làm sao nó biết “lẹo-tẹo” như tụi mình được mà bắt “tại trận”!
Tư Cầu chẩm rãi trả lời:
– Ậy, em đừng có lo… Cha, hôm nay không biết Ông gì ứng mà mình nghĩ cái kế này hay quá trời!… Nó không có cặp thì mình kiếm cặp cho nó, thiếu gì!… Nó không biết lẹo tẹo thì mình chỉ bảo cho nó!… Ối cái thằng quỷ đó mà mấy hồi!
Phấn véo nó một cái lên vai:
– Bậy nà anh!… Mà bộ anh tính làm thiệt sao chớ?
– Ê, em làm ơn coi kỹ cái mặt thằng nầy có phải nói giỡn không chớ!
Thấy bộ điệu Tư Cầu, Phấn bắt tức cười, nhưng thích chí. Cô ta ghịt đầu Tư Cầu xuống hôn một cái “chót” lên má rồi nói:
– Cha, bãnh quá ta! Mà anh tính bắt cặp nó với ai?… Anh liệu mà làm chớ cái vụ nầy không phải dễ nghe hông!… Anh để ạch đụi rồi đổ bể tùm lum lên hết thì tụi mình chỉ có nước độn thổ đa!
– Biết mà!… Bắt cặp với ai hả? Ôi thiếu gì: con Bông, con Trọn, con Lài… hằng hà sa số… con nào mà hổng được… Ừ thôi mình lựa con Bông đi! Nó ở gần nhà em đó và cũng thấy thường cập bè cập bạn bên thằng Năm Sún lắm. Đúng rồi… Để cho hai đứa chết luôn!..

°   °
°

Phẩn vừa lấy cái dá quơ đảo nồi chè vừa hỏi con Bông:
– Ăn thêm một chén nữa đi em!
– Thôi no quá chị à.
– Mới có ba chén mà no cái gì.
– Ừa, hổng mấy no nhưng ngán lắm!
Thằng Năm Sún chen vô:
– Ai ngán để đó tui bao hết cho.
Tư Cầu buông chén xuống cười nói:
– Tao cũng chạy luôn. Thôi mầy rán bao chót đi Năm, chớ còn không mấy chút mà đem đổ tội chết.
Con Bông dứng dậy, lấy cái khăn vằn đội lên đầu:
– Thôi tui đi dìa nghen!
Thằng Năm Sún vội vã húp sột sột cho hết chén chè rồi lúng búng nói:
– Đợi tao với mầy!… Dìa gì mà mới chừng nầy mà dìa. Ở chơi một chút mát mát trời đi hổng được sao?
Phấn cũng xen vô:
– Ờ, ở ngoài nầy chơi một chút nữa em. Gấp gì mà gấp quá vậy hổng biểt!
Tư Cầu cũng nói thêm:
– Tụi bây ở ngoài nầy chơi, chớ trời nắng chang chang như vầy lội xình lội nước về tới trỏng mệt hả họng chết. Ừ, hay tụi bây có đứa nào buồn ngũ lấy chiếc nóp dư kia trải ở bóng mát sau hè mà nằm, rồi chiều sẵn tao chống xuồng về nhà lấy thêm lúa, tụi bây quá giang luôn.
Năm Sún hấp tấp trả lời:
– Ừ phải. Ở đây chiều về luôn Bông à! Chớ bây giờ quất một bụng chè rồi lội dìa trỏng giữa cái nắng nầy mệt quá..
Con Bônq còn ngần ngừ:
– Ừ thì cũng được. Nhưng còn ba con heo ở nhà ai cho nó ăn?
– Ối hơi sức nào lo. Em mầy cả đàn cả lũ đó chẵng lẽ tụi nó để cho heo chết đói hay sao mà sợ!
– Nhưng tui còn mắc xắc chuối để sẵn cho heo ăn nữa…
Năm Sún mau miệng đánh tan sự thắc mắc ấy:
– Để đó tao bao hẽt! Chiều dìa mày cứ để nguyên đó cho tao. Hai ba cây chuối gì tao cũng lãnh hẽt.
Rồi nó day qua Tư Cầu:
– À anh Tư, chút nữa ra thăm hầm coi có được con cá lóc nào bự bự hông. Tụi mình đem lên đấp đất nướng trui làm một bữa no nê coi!
Tư Cầu cười:
– Được rồi!… Mà mới ăn chè còn tới cổ họng đó lại đã đòi ăn nữa, bụng dạ đâu mà chứa cho hết hả mậy?
Năm Sún cười hề hề:
– Thì người ta nói một chút nữa chớ bộ liền bây giờ sao! À bữa nào có gài được quốc cho tui một con nghen anh Tư!
– Được rồi… Thiệt tao cũng chạy mầy luôn! Thôi tao đi ngã lưng một chút đây. Ăn chè no rồi gặp thứ gió hiu hiu nầy thiệt nhướng mắt hết nổi!
– Tui cũng vậy.
Rồi nó kêu con Bông:
– Ở lợi chơi nghen Bông! Chiều mình quá giang anh Tư đây dìa luôn phải khoẻ ru hông!
Phấn nghe vậy cũng chêm thêm:
– Lâu lâu ra chơi một bửa thì gấp gì mà dìa vậy!
Con Bông do dự một hồi rồi lột khăn đội trên đầu xuống:
– Ừa… thôi kệ ở đây chơi đợi xế xế trời dìa trỏng cũng được… Cha, tui dìa trể chắc bà già ở nhà chửi tắt bếp!
Thàng Năn Sún chen vô pha trò:
– Ối mình không có trỏng bả chửi mình có nghe đâu mà lo! Mà bả chửi mỏi miệng rồi bả cũng nín chớ gì!
Con Bông háy dài một cái:
– Hứ, nói như vậy hết chuyện!
Đến đây Phấn thấy cần phải chen vô:
– Thôi đi hai đứa bây!… Năm à, em đi lấy chiếc đệm dư bó dựng trong góc kia, rồi đem ra trải phía bóng mát sau hè. Hai đứa bay ra trấn ở đó đi.
Thằng Năm Sún vừa dợm đi lấy đệm bổng đứng sựng lại hỏi vặn:
– Đuổi tụi tui ra sau hè để chổ nầy cho hai ông bà hú hí với nhau chắc?
Phấn chưa kịp mở miệng trả lời thì Tư Cầu đã vọt nói:
– Vậy chớ sao mậy! Cái đó chú em mầy dư biết mà!
Năm Sún gụt gặt đầu:
– Cha, nói nghe ngon lành quá ta!
Tư Cầu cười nói tiếp:
– Thì tụi tao ở trong nầy, hai đứa bây ở ngoãi: đứa nào cặp nấy còn kêu trời kêu đất gì nữa mậy?
Tư Cầu vừa nói vừa liếc Phấn. Cô nầy đứng im mủm mĩm cười.
Năm Sún nghe Tư Cầu nói vậy kêu con Bông:
– Ê Bông! Mầy nghe anh Tư nói không? Ảnh bắt cặp tao với mầy đó.
Con Bông mắt cở nạt ngang:
– Đồ quỷ nà! Nói tầm bậy tầm bạ mà nghe được!
Tư Cầu lại xía vô:
– Tầm phải chớ tầm bậy gì! Làm bộ mại hơi hoài!
À Bông, năm nay mầy mấy tuổi hả?
– Hổng biết!
Thằng Năm Sún nghe vậy trả lời:
– Tết nầy nó mười bốn tuổi chớ phải ít ỏi gì sao!
Tư Cầu nhìn con Bông từ đầu đến chân:
– Hèn chi coi lớn xộn!… cái cở nầy muốn chồng hồi nào hông biết đa!
Con Bông đỏ mặt chạy lại thụi liên hồi vào lưng anh ta:
– Ôn dịch vật anh nầy!… Lớn đầu mà nói bậy hoài hũy hè!
– Ý con nầy, bộ nó nói giởn với nó sao chớ! Đây nè Bông: sang năm tao với chị Phấn cũng tính lấy nhau đó. Mầy với thằng Năm lo trước đi thì vừa.
– Thôi đi anh! Nói bá láp bá xàm hoài! Anh nói vậy tui không thèm ra với thằng Sún đâu.
Tư Cầu làm bộ xuống nước:
– Thôi mà mắc cở gì hổng biết: Ra ngoãi đi em. Thì cũng như mình chơi cất nhà chòi rồi chia đứa làm vợ đứa làm chồng vậy mà. Nhưng tao với chị Phấn, vợ chồng thiệt còn hai đứa bây vợ chồng giã…
Thằng Năm Sún lại xía vô:
– Cha khôn quá há! Anh thứ thiệt còn tui thứ giả há!
Tư Cầu nháy nháy nó và cười rộ.
Từ nãy giờ ngồi im trên nóp, Phấn đợi lúc nầy mới lên tiếng.
– Thôi Năm ơi, hơi sức đâu mà nghe ảnh hổng biết… Đem đệm ra hè trải đi em.
Rồi day qua con Bông, Phấn nói xuôi:
– Thằng Năm nó trải sẵn đệm đó, em ra ngoãi nghỉ lưng một chút chớ tội tình gì mà cứ đứng như trời trồng hoài vậy… Qua cũng nằm ngũ một chút đây. Ra ngoài đi em.
Thằng Năm Sún vừa xách đệm đi ra sau hè vừa ngoắt con Bông:
– Ra đây Bông! Để hai ông bà ở trỏng người ta tù ti tú tí với nhau… Bộ mầy tính ở đây phá đám sao chớ?
Con Bông ngần ngừ… rồi bước theo sau:
– Ừa để tui ra ngoãi ngồi chơi cho mát, cho có bạn với anh. Xê xế một chút dìa nghen!
– Ừ phải đa.
Đoạn hai đứa nó kéo nhau ra sau hè chòi…

°   °
°

… Tư Cầu đến ngồi bên cạnh Phấn:
– Thì xong xuôi y như kế tụi mình bàn nhưng chưa biết màn sau thế nào…
Phấn cười nói:
– Thiệt hồi nãy nghe lõm anh nói phách với thằng Năm Sún tức cười muốn bể bụng!
Tư Cầu xẻn lẻn:
– Ậy, thì người ta cũng học mót ở sách cũa em đó!
– Học cái khỉ gió chớ học gì kỳ vậy! Anh thiệt còn hơn quỷ chùa…
Tư Cầu xích lại ôm siết lấy cô ta:
– Thôi chớ bộ tính ngồi nói chuyện khan hoài sao!… Tụi mình phải đi trước chớ!
Phấn xô anh ta ra:
– Đồ mắc dịch nà! Kỳ quá!
– Đó coi lạ không! Con nầy thiệt rắc rối, sao hôm trước hổng làm ơn “kỳ” dùm một chút cho người ta nhờ!
Phấn véo bấp vế Tư Cầu một cái làm anh ta nhảy nhổm. Anh ta như tức giận chồm tới lấy hai tay xốc nác Phấn kềm ghịt xuống dưới nóp, kê miệng cắn một bên mép áo của cô ta rồi lắc đầu giựt mạnh hàng núp bóp…
Ở phía sau hè chòi thằng Năm Sún nghe rột rẹt bên trong vội lom khom đi lại bên vách rơm. Một lúc nó lại lom khom lùi trở ra thì thầm với con Bông đang ngồì dựa ngữa trên đệm:
– Ê, hai ổng bả ở trỏng cụp lạc dữ lắm nghen!
Con Bông nhường mắt:
– Cụp lạc cái gì mà dữ!
– Thì mầy vô trỏng ngó coi thì biết. Mà đi nhè nhẹ cho khéo hổng thôi động ổ hết nghen!
Con Bông ngần ngừ một hồi, ngó quanh ngó quất thấy đồng trống quạnh hiu, trời mưa nắng đứng gió gây gây nóng, mùi cỏ rơm bốc dậy hơi hăng nồng… Nó lấy tay nắm hai vạt áo quạt quạt vài cái rồi thủng thỉnh đứng lên đi lại chổ thằng Năm Sún chỉ ban nãy.
Con Bông nhìn một hồi rồi ngoe nguẩy bỏ chạy ra đến ngồi phịch xuống đệm và cúi gầm mặt xuống. Nó lại cầm lấy hai vạt áo quạt lia một hồi…
Thằng Năm Sún ngồi xích lại và lấy tay lắc vai nó hỏi:
– Mùi quá Bông há!
Con Bông hắt tay nó xuống:
– Hứ, kỳ thấy mồ!
Nói xong nó lại cúi gằm mạt xuống một tay vói nhổ mấy cọng cỏ cú mọc sát dưới nền đất dẻ khô…
Năm Sún đưa tay chụp lấy bàn tay đó… mấy cọng cỏ từ từ được buông rơi xuống đất…
… Tư Cầu đã lẽn ra phía sau hè tự bao giờ. Anh ta mũm mĩm cười rồi làm bộ mặt nghiêm tằng hắng lên một tiếng thật to…
Con Bông và Năm Sún vội buông nhau ra…
Tư Cầu đứng chống nạnh cười đắc ý rồi gật gù nói trỏng:
– Cha, mùi tận mạng há!
Con Bông mắc cở đỏ mặt tía tai đứng loay quay một hồi rồi chạy vụt vô phía trong chòi, chỉ còn thằng Năm Sún đứng xơ rờ ở đó.
Nó lên tiếng để đánh trống lãng:
– Thiệt anh làm người ta hết hồn… (rồi rụt rè tiếp theo)… mà anh làm gì ra… còn phá đám tui vậy anh Tư! Thiệt anh hết chổ chơi rồi, chửi cha tui không giận chớ anh làm mửng đó… kẹt quá mà!
Tư Cầu cười mùi:
– Vậy hả? Bây giờ mầy mới biết tức hả? Vậy chớ hổm trước thằng nào đi phá đám tao đó chớ!
– Thì giởn chơi một chút chớ phá đám cái gì mà anh nói?
Tư Cầu bước lại gần nó:
– Bây giờ mầy nói nghe ngon ơ hà! Phải bửa hổm mầy làm vang làm phước mở miệng như vậy cho tao nhờ!… Còn bày đặt hăm đi mét, rồi ra nẹo tiền con Phấn nữa…
Năm Sún thấy Tư Cầu đi cái nước đó biết anh ta muốn trả đũa, nên bỏ nhỏ:
– Thôi mà, chuyện cũ rích đó nhắc làm gì hổng biết… Mà ai đi mét chớ.. Bà bắn thằng nào đi mét đó!… Còn tui có đi nẹo tiền nẹo bạc gì đâu mà anh đổ thừa. Chị Phấn chỉ thương tui, chỉ cho chớ tui có đòi hồi nào đâu!
– Thôi, thôi, mầy có đòi hay không thì mầy biết. Nhưng chuyến nầy hết rồi nghen bồ… (Nói đến đây Tư Cầu nhìn thẳng vào mặt Năm Sún gằn từng tiếng). Từ rày sắp lên mà mầy còn làng chàng nữa tao vô trỏng tao mét vời tía mầy thì mầy thắt họng đa.
Thẵng Năm Sún đâm tức:
– Cha. tính khôn qná tổ mẹ người ta há! Xúi biểu đã rồi bây giờ hăm mét người ta hả?… Mới có một chút xíu đó chớ phải nhiều nhỗi gì đâu…
– Một chút đó cũng đũ nứt đít rồi em à! Hông phải một mình mày thôi, mà còn con Bông nữa!
Đến đây Tư Cầu thấy cần phải an ủi nó đôi chút:
– Nhưng tao nói vậy chớ cái thứ tao đâu có thèm chơi điệu đó mậy! Thôi bây giờ tao với mầy có bồ có bịt hết tụi mình một phe hổng có thằng nào được lộn xộn xỉa ra thọc vô chuyện cũa thằng khác nữa nghen mậy!
Năm Sún trả lời yếu xịu:
– Ừa… vậy cũng được. Mà anh chơi cái điệu nầy gác tui quá!
– Thôi bỏ qua hết… trời cũng hơi xế rồi, mầy với con Bông có dìa trỏng không xuống xuồng tao đưa dìa luôn thể.
Thằng Năm Sún “ừa” buông xụi một tiếng rồi ngoái cổ kêu con Bông:
– Đi dìa luôn đi Bông!
Con Bông chẳng nói chẳng rằng cúi đầu đi một mạch xuống mé giồng, bước xưống xuồng ngồi trước.
Phấn chạy theo nói vói:
– Bữa nào rảnh ra chơi nghen Bông!
– Ờ…
Con Bông trả lời tronq họng như vậy rồi không biết làm gì nó lấy tay khuấy khuấy nườc lên be xuồng.
Tư Cầu và Năm Sún nối bước nhau nhảy xuống, rồi đứa mũi đứa lái cầm sào chống xuồng đi..

°   °
°

Trời sập tối Tư Cầu ở trong nhà ra tới. Anh ta tấp xuống ghé lại chòi Phấn rồí hối hả đi lên.
Phấn đang nằm trèo chân trên nóp nghe động ngoái cổ nhìn ra phía cửa chòi:
– Ủa sao ra sớm vậy anh Tư?
Tư Cầu cười đáp:
– Ừ hổng biết sao bây giờ anh muốn ở riết trong nầy…
– Thôi đừng nói dóc tía non!
Tuy nói vậy chớ Phấn cũng thấy sung sướng trong lòng.
Tư Cầu nhìn ngọn đèn rồi hỏi:.
– Ủa bữa nay có dầu đốt rồi hả?
– Ừ, mới dìa lấy hồi sáng, rồi tiện thể mua đường nấu chè ăn hồi trưa đó mà!
Nhìn cây đèn chưn vịt Tư Cầu bắt nhớ đến cây rọi mù-u đêm nào, và tự nhiên anh ta mĩm cười…
Phấn chợt hỏi:
– Sao cái chuyện hồi trưa có ăn thua gì không?
Tư Cầu cười hả hê:
– Đừng có lo! Từ rày sắp lên mình nắm chắc nó rồi, ông nội nó bây giờ cũng không dám hó hé một lời nữa!
Phấn ngồi suy nghĩ một chập rồi nói:
– Kể như vậy cũng êm một bề rồi, nhưng chuyện cũa hai đứa mình còn chông chênh quá anh Tư à!
Tư Cầu ngạc nhiên hỏi:
– Sao?… Cái gì nữa đó? Êm rồi mà!
Phấn xì một tiếng:
– Êm, êm! Không có thằng Năm Sún này thì rồi còn Thằng Năm Sún khác. Lâu ngày chầy tháng thế nào mà không có thằng khác, con khác biết được. Anh thiệt không biết lo xa cái gì hết ráo!
Tư Cầu bị Phấn “xạt” một hơi nên ngồi lặng thinh.
Phấn nói tiếp:
– Mà đâu phải chỉ có cái chuyện Năm Sún, Năm Sún không thôi đâu… Hai đứa mình gần gủi nhau tháng này qua tháng nọ thế nào cũng có bận… có chuyện.
Tư Cầu nhướng mắt hỏì:
– Chuyện gì nữa?… Hổng biết sao hể mở miệng ra là có chuyện, có chuyện hoài hủy vậy hả?
– Hổng biết cái gì hết thì để cho người ta nói. Làm bộ tài khôn xía vô hoài! Còn chuyện gi nữa, tụi minh lẹo tẹo với nhau riết rồi cũng có ngày dính chớ bộ chơi sao!
Tư Cầu quay đầu lại:
– Dính cái gì?
Phấn thở dài chán nản:
– Còn dính cái gì nữa… Người ta nói vậy mà cũng hổng biết. Thiệt nhiều lúc thấy rầu anh quá! Bộ anh không lo có ngày… không lo em… mang bụng hả?
Tư Cầu nhẩy nhổm:
– Mang bụng gì?
– Còn mang bụng gì nữa! Rủi em… có chữa rồi làm sao?
Tư Cầu hỏi dồn:
– Bộ có rồi hả? Bậy nà, mới có chút… mà có gì ngang xương vậy?
Phấn bắt tức cười:
– Còn một chút một xíu gì nữa! Tới chừng nó có, nửa chút bây giờ cũng có chứ đừng nói thứ… làm hà rầm như tụi mình!
Tư Cầu vẫn không yên tâm:
– Sao? Thì nói phứt ra coi có hay không, Chớ cái gì mà lăng nhăng ai hiểu nổi!
Phấn làm bộ xẳng giọng:
– Chưa có, chưa có! Cha, như vậy chắc anh chịu lắm à!… Chưa có chớ không phải hổng có nghen!
Tư Cầu thở “khì” ra một tiếng:
– Vậy mà làm người ta hết hồn hết vía!
– Khoan mừng đã! Em nói chưa có vì hổng biết… nó đã có hay chưa. Có, tới… kỳ rồi mới biết… Mà em hỏi dò người lớn họ nói em lo quá anh à!
Tư Cầu làm bộ tĩnh:
– Lo cái gì mà lo hổng biết!
– Nói như anh vậy hết chuyện! Rủi nó có bất tử rồi thì có nước độn thổ! Về trong xóm nghe nói có gà gáy tối, chắc có đứa chữa hoang quá anh à!
– Ôi hơi sức đâu mà đi tin mấy con gà! Mà nếu gà gáy tối con gái có chữa hoang, thi chắc là đứa nào đó, chớ bộ em sao?
– Hay dữ hôn! Cả xóm chỉ có tụi mình lộn xộn đây chớ còn có đứa nào nữa!
Tư Cầu ngồi làm thinh một hồi rồi ngập ngừng lên tiếng:
– Ối hơi sức nào em lo bá vơ vậy! Đâu có chắc gì… dính đâu mà sợ…
Phấn nói lẫy:
– Ừ thì hổng lo, hổng lo! Để đến chừng cái bụng thè lè ra rồi mới lo hả?
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Chớ bây giờ tính cái gì nè?
Phấn chỉ cười nhạt.
Tư Cầu nhăn nhó:
– Thì em tính làm sao, em nói cho anh nghe coi!
Phấn ngồi tẩn mẩn bẻ từ lóng tay kêu răng rắc như không có việc gi xảy ra hết.
Tư Cầu bực bội, vò đầu bứt tóc, nện gót chân thình thịch dưới đất rồi đứng dậy bỏ đi về.
Nhưng đi được vài bước, không biết nghĩ sao, anh ta quay trở lại đến ngồi gần bên Phấn năn nỉ:
– Thôi mà, có cái gì thì em nói chớ cứ nín thinh như vậy ai biết đâu mà rờ!
Một hồi lâu Phấn mới hé miệng buông xỏng một câu:
– Sao hổng giỏi dìa đi, còn vác cái mặt trở lại làm gì đó!
– Người ta chịu thua rồi mà cứ làm tới hoài!… Em còn tính gì hả em?
– Anh có thèm nghe đâu mà tính với toán!
Tư Cầu kề lổ tai nhủi nhủi vào miệng nó, rồi nói:
– Thì nghe, nghe đây! Làm ơn nói dùm một cái coi, bà Cố, bà Hồng!
Phấn hết giận, mĩm cười gạt Tư Cầu ra:
– Giỏi lí lắc hoài!… Đây, anh nghe em nói nè: rủi mai mốt gì đây em có nghén rồi làm sao?
Tuy nảy giờ xẩu mình xẩu mẩy vì vấn đề “thai nghén” đó, mà nghe Phấn hỏi lại như vậy Tư Cầu cũng đâm bực:
– Thì em định thế nào anh theo thế nấy mà mà!
– Coi nói vậy sao được! Cái việc nầy là cái việc thành vợ thành chồng luôn cả hai đứa mình mà một mình em lo sao được.
Tư Cầu sửng sốt:
– Ủa cái gì mà thành vợ chồng vô đó nữa! Mới nói chuyện bầu bụng đây chưa xong, bây giờ còn xen thêm chuyện vợ chồng nữa! Cha, sao nôn quá vậy Phấn?
Phấn chòm, tới nói:
– Cũng cái giọng đó nữa hả? Chớ bộ anh tính hai đứa cứ ôm nhau ngủ đồng ngủ buội, nhủ lén, ngủ lút như vầy hoài phải không?… Rồi tới chừng tui có bụng, tui kiếm kẹt hốc nào đó để chui vô đẻ như chó như heo vậy phải không? Còn anh, đến chừng đó anh tính phủi đít đi chắc? Thiệt mà, cái thứ đàn ông bạc tình lắm mà!
Nói tới đó Phấn sụt sịt khóc.
Tư Cầu lính quính nắm lấy tay cô ta vỗ về:
– Cái gì đâu mà em khóc! Thì chuyện đâu còn đó, bây giờ em biểu sao anh cũng nghe hết. Thiệt em nghĩ oan cho anh quá mà!
Phấn kéo vạt áo lên lau nước măt:
– Tánh anh thì cứ vậy hoài! Phải nói hết hơi hết sức rồi anh mới chịu nghe.
Tư Cầu cười mĩm:
– Thì em cũng biết rỏ tánh anh kỳ cục như vậy, hơi sức đâu em giận!… Sao em tính cái việc của tụi mình như thế nào?
Phấn sịt mũi xong rồi đáp:
– Bây giờ mình phải phòng xa anh Tư à! Cái việc phá đám cũa thằng Năm Sún thiệt ra đâu có ăn nhằm gì, ở đời, mình còn gặp bao nhiêu chuyện rắc rối hơn đó nhiều nữa. Bởi vậy mình phải lo trước, và Io gộp luôn một cái cho nó êm hoài đi.
Tư Cầu cũng nói đưa hơi theo:
– Ừ phải đa!
– Vì vậy em tính nói với anh tốt hơn hết là anh về nói với hai bác trong nhà qua hỏi cưới em cho anh đi là xong chuyện.
Tư Cầu nhích người ra lạc giọng hỏi:
– Cưới hả?
– Thì thương yêu nhau rồi đi tới chổ cưới nhau cho thành vợ thành chồng, chớ bộ anh tính tụi mình cứ mèo chuột bậy bạ với nhau như vậy cả đời được sao?
Tư Cầu gượng chống chế:
– Nhưng để… thủng thỉnh mình cưới hổng được sao em?
Phấn hơi bực trong mình. nhưng cũng ráng nói dịu:
– Nếu hai đứa mình chỉ thương yêu nhau trơn khơi khơi vậy thôi, thì để thủng thẳng đến năm nào cũng được, đằng nầy tụi mình đã tằng tịu với nhau rồi, thì để lâu… kẹt lắm anh à.
Tư Cầu ngần ngừ:
– Ờ, tính như vậy cũng phải, nhưng ngặt tía anh, ổng khó dàn trời mây, hổng biết ổng có chịu hông!
– Thì có ông nào mà dễ! Nhưng mình cũng phải nói càn đi chớ!… Hay anh sợ bác không cho thì anh cứ nói đại là anh đã… ở với em có bầu rồi…
Tư Cầu giẩy nẩy:
– Ý hổng được đâu! Nói điệu đó ổng dám mần thịt lắm chớ không phải chơi đa!
– Bất quá ổng chửi mắng hay nện sơ sơ vậy, chớ hổng lẽ ổng neo nước sao mà anh sợ!
– Em đừng nói vậy hổng nên! Anh dư biết tánh ổng mà!
Phấn cau mặt:
– Cái gì cũng không được hết, bộ anh tính buông xui nữa phải hông?
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Hổng phải vậy đâu mà! Thế nào rồi đâu để hưởn hưởn anh sẽ nói với ổng.
– Chuyện gắp như trời mà anh cứ hưởn hưởn hoài hủy như vậy rồi tính làm sao cho được đây nè!
Tư Cầu hấp tấp nói:
– Được rồi để anh nói liền với ổng. Còn phần má anh thì dễ lắm…
– Vậy coi phải được hông!
Tư Cầu lắc đầu:
– Được hay không gì để sau nầy rồi biết, chớ anh tính hổng êm em à!
– Cái gì đó nữa hả?
– Còn có nhiều cái khó nữa chớ phải trơn tru như em tưởng sao!
Phấn buông thỏng:
– Có chuyện hoài! Vậy chớ cái gì đó nữa?
– Anh Ba anh, ảnh lớn chồng ngồng đó mà chưa có vợ, còn anh là phận em của ảnh, anh lấy vợ trước coi sao được?
– Cái gì mà hổng được. Trong làng mình thiếu gì người cưới vợ lấy chồng trước anh, trước chị của họ.
Tư Cầu ngập ngừng nói:
– Đã đành vậy rồi, nhưng… ông già anh ổng khó lắm chớ không phải như người ta đâu?… Cái gì đối với người ta cũng dễ ợt hết, còn đối với mình thì… khó nuốt trôi lắm em à!
Phấn cự nự:
– Cái gì mà dễ với khó! Dễ hay khó gì cũng do mình tuốt hết. Anh mà cứ lôi thôi riết rồi cái gì cũng ăn trớt hết. Em nói vậy để rồi coi trúng hết chớ không sai đâu?
Tư Cầu chống chế:
– Thì để rồi anh cũng ráng nói với ông già… Nhưng còn nhiều cái kẹt nữa chớ phải hết sao…
– Còn cái gì nữa hả?
– Còn cái chuyện tiền bạc nữa.
– Cái gì mà có tiền bạc xen vô nữa đó?
– Khó lắm em à, nhà anh mấy năm nay túng lắm. Ông già ổng tính cưới vợ cho anh Ba mà chạy hổng nổi tiền nữa. Đó em coi, như vậy thì tụi mình cũng chịu chết luôn… mà còn cái nầy nữa cũng kẹt lắm anh nói ra thì em đừng có phiền nghen!
Phấn sốt ruột:
– Thì cái gì anh nói tuốt luốt ra hết coi có được hông!
Tư Cầu do dự:
– Bên anh thi nghèo mạt rệp, còn bên em thì bề gì cũng khá giả hơn… Bác gái ở bển cũng hơi… khó khó, bác chỉ có em là con gái, thế nào bác hổng làm eo làm xách nầy nọ… Như vậy bên anh chắc theo hổng kịp đâu.
Phấn cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
– Kể ra cái đó cũng hơi khó thiệt. Nhưng anh đừng có Io, em đã có cách lo liệu làm sao yên về mặt đó cho anh thì thôi. Còn anh, anh phải ráng lo phần bên anh đã nghen!
Tư Cầu quả quyết một cách… yếu xịu:
– Thì… ráng lo mà! Nhưng anh cũng nói trước rằng ông già anh ổng khó lắm, anh nhiều lúc xẩu mình, xẩu mẩy với ổng chớ phải chơi đâu… Huống hồ gì chuyện “động trời” nầy… chắc ổng làm thịt anh quá!

°   °
°

Nội cái chuyện “cưới xin” đó, Tư Cầu mất ngũ đến ba ngay, mà vẫn chưa dám đi để thưa rõ đầu đuôi tự sự vớt tía nó…
Buổi chiều hôm đó, về đến nơi, Tư Cầu thấy tía anh ta còn ngồi bên mâm cơm. Anh ta tính đánh liều đến nói lại đầu đuôi câu chuyện của Phấn và mình, rồi đó ra sao thì ra, chớ cứ nhấp như như vầy hoài thật khó chịu.
Anh ta xúc lúa xong đem để dưới xuồng rồi cứ cà rà đi lên đi xuống từ dưới bếp lên nhà trên mà mắt cứ lấm lét nhìn về phía tía anh ta như rình cơ hội thuận tiện để thưa chuyện…
Má anh ta thấy vậy hỏi:
– Sao mầy lấy đủ lúa thóc gì chưa mà đứng xớ rớ ở đó hoài vậy hả?
Tư Cầu trả lời buông thỏng:
– Lấy đủ rồi!
– Coi kìa, lấy rồi sao không chịu về sớm trông nom ở trỏng, chớ bộ mày tính bỏ phế hết hả?
Tư Cầu ngập ngừng:
– Bửa nay con lo cho ba con vịt xong xuôi hết rồi nên ở trong nầy chơi lâu lâu một chút…
Má anh ta gạt ngang:
– Thôi đi mầy! Tao chắc mầy có chuyện gì đây chớ chẳng không. Chuyện gì đó hả?
Tư Cầu dợm bỏ đi lên nhà trên:
– Đâu, có chuyện gì đâu má!
Má anh ta kêu lại:
– Tao đẻ ra mày mà tao hổng biết sao! Tao đi guốc trong bụng mày nữa… Chuyện gì đó mày?
Tư Cầu lúng túng trả lời:
– Hổng có thiệt mà… Mà có thì phần má cũng dễ…
Má anh ta ngạc nhiên hỏi lại:
– Phần tao cái gì mà dễ với khó đó hả?
Tư Cầu thở dài:
– Dạ bị rắc rối đó mà con lo muốn chết đây nè…
– Đó, mầy coi tao nói đâu là có đó, vậy hồi nãy mầy cứ chối leo lẽo… Chuyện gì đó hả?
Tư Cầu do dự một lát rồi nói:
-… Dạ chuyện nầy là chuyện riêng, con tính nói với tía.
– Ý trời, sao mầy dại quá vậy! Mầy nói với tao trước để tao coi ra sao, chớ theo cái bộ điệu của mầy nãy giờ tao dư biết là mầy… ngán ổng lắm. Vậy mà còn làm bộ dấu quanh hoài!
Tư Cầu gải đầu gải tai:
– Dạ, cái chuyện nầy khó nói quá!
Má anh ta nói lẫy:
– Ờ nếu mầy cứ nói “khó” thì thôi… Mầy giỏi lên nói thẳng với ổng đi!
– Dạ bị nó… kẹt qná má à!
– Quỷ thần thiên địa ơi! Thì mầy cứ nói hụych tẹt ra cho tao nghe coi có được không! Nếu mầy sợ ổng thì để tao còn liệu mà nói lợi vời ổng… Mầy cũng lớn đại rồi chớ bộ nhỏ nhít gì đâu mà để tao phải năn nỉ hoài với mầy vậy hả?
Rồì thím Hai như nói một mình:
– Cái nầy thì kỳ quá… Hổng biết thằng nầy nó muốn cái gì… Ờ, chắc phảì rồi… (đến đây thím Hai kêu Tư Cầu)… có phải mầy mèo chuột với con nào rồi không? Cái điệu bộ mầy như vậy là đúng y như vậy chớ không sai chạy đi đâu nữa!
Tư Cầu ngạc nhiên hỏi lại:
– Ủa sao má biết tài vậy?
Thím Hai cười mũi:
– Hứ, tao đẻ mầy ra mà tao hổng biết sao chớ! Vậy chớ mầy mèo chuột với con nào đó hả?
Tư Cầu do dự môt hồi rồi nói:
– Chuyện đã lở rồi, má cũng biết vậy má đừng rầy con làm gì cho thêm mệt…
– Mà tao hỏi mầy mèo chuột với ai hả?
– Dạ, phải mèo chuột không thôi thì con hông lo…
Thím Hai hỏi sẳng:
– Mà với con nào đó hả?
– Dạ, với Con… con nầy thì má cũng biết rồi…
– Coi kìa, con nào mà tao biết rồi hả thằng chúa ôn kia?
– Dạ… con Phấn bên bác Bảy đó má hổng biết sao.
Thím Hai dội ngược người ra:
– Ý trời, bộ mầy hết chuyện chơi rồi sao chớ? Con nhà ngườì ta như vậy mà sao mầy dám rờ tới hả?
– Thì nó cũng như mình chớ bộ con rồng con phụng, con quan con quyền gì mà mình rờ tời hổng được má!
– Hứ, đến nước nầy mà mầy còn nói giỏi cái lổ miệng! Con ngườì ta là con nhà có gia thế, bề gì cũng thóc lúa đầy bồ, quần áo phũ phê, tiền bạc rủng rỉnh, chớ bộ như nhà mình vậy sau?
Tư Cầu Còn ráng cải bướng:
– Thì nó cũng đi chăn vịt trong đồng như con vậy chớ bộ hơn gì sao?
– Mầy sao ngu quá, hổng biết thì hỏi tao nói cho mà nghe: con Phấn nó chăn vịt là để kiếm thêm vốn riêng vốn tư cũa nó… Chớ mầy không thấy nó có tiền riêng để cho bạc lúa góp đó sao.
Tư Cầu chưa chịu thua:
– Con cũng biết vậy chứ sao không. Con có nói với nó như vậy rồi chớ! Nhưng đâu có sao má… Tụi con thương nhau thiệt mà!
Nghe con trai nói vậy thím Hai như sực nhớ điều gi, hấp tấp hỏi:
– Mà hai đứa bây có… gì chưa? Tao chắc là chỉ mới… đá bóng đá gió vậy thôi phải không hả Cầu?
Tư Cầu ấp úng:
– Dạ… thì cũng có…
Thím Hai hỏi dồn tới:
– Có, mà có cái gì?
– Dạ tụi con thương nhau thiệt…
Thím Hai nổi dóa:
– Mầy thương hay không, thiệt hay giả thì thây kệ thằng cha mầy… Tao hỏi tụi bay đã… lẹo tẹo với nhau chưa? Mầy làm ơn làm phước nói cho tao nghe coi Cầu?
Tư Cầu vặn mình, vặn mẩy một hồi rồi trả lời:
– Dạ, thì cũng có… Chút đỉnh…
Thím Hai châm bẫm:
– Chút đỉnh… là làm sao hả?
Tư Cầu trả lời vòng vo:
– Dạ, thì má cũng biết, tụi con thương yêu nhau cũng mới ràng ràng đây nè… Tụi con thương yêu nhau như vợ với chồng thì cái việc… tằng tịu ăn nằm với nhau… má nghĩ lại mà coi… làm sao tránh khỏi. Bởi vậy…
Thím Hai chận ngang:
– Nghĩ cái thằng tía mầy ở trên kia chớ nghĩ!… Mà… có rồi hả?
Tư Cầu thở dài, thú nhận:
– Dạ… Có rồi, dạ thiệt…
Thím Hai “hừ” một tiếng rồi rên rĩ:
– Trời đất, thánh thần ơi ngó xuống mà coi đây nè! Con cái gì nuôi cho nó lớn chần vần như vậy rồi nó không kể gì đến cha đến mẹ hết nè Trời!… Ờ thì thôi, tao hổng dám nói nữa, mầy muốn tự tung tự hoành gì đó thì làm đi!
Tư Cầu năn nỉ:
– Má giận má nói vậy chớ tự nãy giờ con còn nán lợi đây là để cho tía má hay, chớ bộ con dám dấu êm sao…
– Hứ, còn dấu với diếm gì nữa… Mầy làm tầy quầy ra rồi mầy mới cho thằng cha già với con mẹ già nầy hay hả! Sao mầy không đợi…
Nói đến đó, thím Hai như chợt nghĩ đến điều gì, thím nhìn chăm chăm vào mặt Tư Cầu hỏi:
– Bộ nó có nghén rồi hả?
Tư Cầu lắc đầu lia:
– Dạ không, chưa đâu…
– Sao mầy blết là không?
– Dạ thì nó nói vậy mình hay vậy… Nhưng nó nói thế nào rồi cũng có.
– Ý trời, sao lại thế nào rồi cũng có?
– Thì nó nói với con vậy con biết vậy, chớ thiệt tình con cũng không rành lắm. Và cũng vì vậy mà nó hối thúc con dìa trong nầy để nói với tía má tính cho rồi cái chuyện vợ chồng của tụi con, chớ sợ để lâu ngày chầy tháng nó… tùm lum lên thì nguy lắm má à!
Thím Hai nhổ mạnh bả trầu:
– Đó mầy thấy không, ai biểu mầy làm ẩu rồi tía mầy hay được thế nào ổng cũng cho mầy nát xương!
Tư Cầu đành hạ giọng năn nỉ:
– Thôi bề gì cũng lở rồi má à! Trờì xui khiến cho con và Con Phấn thương nhau thì bây giờ phải tính sao cho êm thắm… chắc má coi Con Phấn cũng được chớ hả má?
Thím Hai hơi dịu giọng:
– Ừ, Con nhỏ coi cũng được!
Tư Cầu bọc theo:
– Con biết thế nào má cũng ưng ý mà!
Thím Hai thở dài:
– Tao thì đối với con cái đứa nào cũng vậy, tao cũng muốn cho tụi bây sớm nên vợ nên chồng hết thảy… Nhưng ngặt nổi, nhà mình mấy năm nay chật vật lắm nên đành bóp bụng chịu… Đó mầy coi, riêng cho anh Ba mầy, tía mầy với tao cũng chấm sẵn mấy đám rồi nhưng rốt cuộc rồi cũng để trớt luôn… mình không làm sao đũ tiền để cho đồ cho đạc đằng gái và làm đám cưới được… ý là toàn những chỗ quen biết nhiều nên người ta cũng hiểu tình cảnh nhà mình và chỉ đòi cho đũ lể một chút thôi, vậy mà tao với tía mầy cũng để cho trôi luôn…
Nghe thím Hai nói một thôi một hồi như vậy, Tư Cầu rầu rầu nét mặt:
– Vậy mình còn bày đặt đám cười, đám hỏì làm gì cho nó thêm rắc rối vậy hả má?
– Cái thằng nầy nói như vậy mà nó nghe được chớ! Cái gì cũng phải có lể có nghi cũa nó! Chớ bộ mầy nói hể trai gái thương nhau rồi cứ dắt càn dắt đại dìa nhà như chó tháng bảy vậy hả!… Mầy nói cái điệu đó tía mầy ổng nghe được ổng chửi cho thục sình đa! Với lại tía mầy cũng ngặt lắm: đã nghèo mạt rệp mà cái gì ổng cũng không muốn chịu thua ai hết. Bị vậy mà mấy lần hỏi vợ cho anh Ba mầy cũng đều ắn trét hết, bây giờ lại tới chuyện cũa mầy nữa, thiệt tao hết biết tính làm sao!
Tư Cầu thở than:
– Nếu vậy thì chuyện cũa con với con Phấn cũng ăn trớt luôn sao hả má?
Thím Hai khuyên lơn:
– Thôi Cầu à, mầy cũng còn nhỏ chớ bộ già xòm gì mà phải sợ ế vợ… không được con nầy thì để thủng thỉnh má chấm chỗ khác cho… thiếu gì chớ hết đâu mà sợ!
– Nhưng con với con Phấn thương nhau mà má! Nó có nói với con: bên nhà mình đừng lo gì cái khoản đám cưới đám hỏi hết. Chỉ làm cho lấy có vậy thôi…
Thím Hai chận ngang:
– Nó nói vậy sao mà mầy tin được hổng biết… Mà làm lấy có sao được, tía của mầy ổng đâu có chịu vậy. Còn có bà con bên nội bên ngoại, hàng xóm láng giềng nữa chớ!
– Sao kỳ vậy má? Cưới vợ là cưới vợ cho con chớ bộ cưới cho cô bác, ba con hàng xóm sao mà mình phải lo như vậy!
Thím Hai “xì” một tiếng:
– Nói như mầy vậy thì hết chuyện rồi… Bộ mầy ở một mình mầy được chớ hổng cần bà con lối xóm gì hết sao?… Mầy mà nói cái điệu đó thì già đời mầy chăn vịt ở giữa đồng đó mầy à!
– Con đâu có ngán cái chuyện đò má! Nhưng kẹt một cái là con lở thương con Phấn thiệt rồi…
– Thì nếu “lở thương” thì mầy phải ráng lo… Mày bày đặt thương với yêu gì mà hổng biết… Thiệt đời bây giờ con nít thành tinh thành quỷ hết… mầy coi tao với tía mầy hồi đó có thương yêu nhau gì đâu mà cũng ăn ở với nhau hai ba chục năm trời nay…
Nói tới đó, thím Hai có vẻ cảm động. Thấy vậy Tư Cầu “tấn công” thêm:
– Làm sao mà cũng ráng lo dùm con cho sớm chớ để lâu ngày rủi con Phấn có xảy ra điều gì thì khó lòng lắm má à!… Má lên nói liền bây giờ được hông má! Chớ con Phấn nó hối thúc con mấy bửa rày thiếu điều ê minh ê mẩy hết!
– Thì mầy muốn gấp, mầy vô trỏng nói đại với nó là mầy đã nói với tía mầy rồi và ổng hổng chịu…
Tư Cầu dẫy nẫy:
– Ý hổng được đâu, con nầy nó khôn lắm. Con dấu với nó hổng nổi đâu!
Thím Hai thấy điệu bộ Tư Cầu như vậy cũng bắt phì cười:
– Cái mửng nầy thì trời cản bây giờ mầy cũng bị cỏn xỏ mũi. Để tao nói rồi mầy coi có hông!
Tư Cầu chống chế:
– Má nói vậy chớ con đâu có nổi tệ quá.
– Thế để rồi coi, tao lớn từng tuổi nầy mà tao hổng biết sao mầy! Thôi mầy vồ trỏng đi, có cái gì tao kêu em mầy nó vô cho hay sau…
Thím Hai khẽ thở dài nhìn Tư Cầu lẽn đi ra cửa sau để lấy xuồng…
… Tư Cầu nhổ sào chống xuồng đi chậm chậm về trong chòi.
Bầy đom đóm nhấp nháy trên hàng bần dọc theo mé rạch như những chòm sao bị vướng trên cành cây… Ánh sáng cũa những con đom đóm đó lập loè trong đêm như những tia hy vọng sáng lên rồi lại tắt, và cứ thế mà sáng, tắt trong màn tối đen dầy đặc của cuộc đời…
Tư Cầu tằng hắng mấy tiếng định bụng sẽ ca chơi vài câu vọng cổ “ruột” của mình. Nhưng sao hôm nay giọng tiếng gì cũng đàm hơi hết làm anh ta không xuống tới nổi chữ “xề”.
Anh ta nghĩ tới Phấn và bỗng nhiên thấy mất hứng thú không muốn về gấp trong chòi như mọi khi. Anh ta ước gì con rạch nầy kéo dài vô tận để không bao giờ mình chống xuồng vào tới trong ngọn hết!…
Về dến ngang chòi cũa Phấn Tư Cầu tính đi êm luôn chớ không dám ghé lại, nhưng vô ích!
Phấn, ý chừng cũng nóng lòng về kết quả chuyến đi ban chiều của Tư Cầu nên khi nghe tiếng xuồng cọ rào rào vào mấy đám lục bình khi Tư Cầu chóng lướt qua, vội vã chạy khỏi chòi hỏi lớn:
– Anh Tư Cầu mới dìa đó hả?
Biết không thoát được, Tư Cầu đành lên tiếng:
– Ừ.
Phấn hỏi dồn tới:
– Sao câu chuyện mình tính đó ra thế nào?
Tư Cầu do dự một lát rồi đáp:
– Cũng… xập xụi vậy… Thôi để anh dìa bển chớ khuya rồi…
Phấn gắt lớn:
– Anh ghé lại đây nói rõ đầu đuôi câu chuyện lại cho em nghe coi! Chớ cái gì mà lừng khừng như vậy, ông nội ai mà hiểu nổi!
Biết không thể tránh được, Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng chống xuồng ghé vào.
Đến bờ anh ta nhảy phóc lên rồi lũi thũi đi vào trong chơi, còn Phấn thì lúc thúc theo sau.
Đến nơi Tư Cầu ngồi phịch xuống chiếc nóp thở dài sườn sượt.
Phấn ngồi xuống theo và hỏi liền:
– Bộ không êm hay sao mà em thấy anh buồn xo vậy?
Tư Cầu uể oẳi lắc đầu:
– Êm thì cũng chưa êm, mà không thì cũng không phải là không… Thì như anh nói hồi nảy đó, việc gì nó cũng lừng khừng ở đó… Thiệt thấy ghét quá!
– Gì mà ghét hả cưng?
Tư Cầu lạì lắc đầu:
– Nội có má anh không thôi mà còn muốn chết đây nè…
Phấn sốt ruột:
– Sao? Anh mới nói với bác gái không thôi hả?
– Ừa.
– Còn bác trai đâu? Sao anh hổng nói luôn một thể coi ra sao?
Tư Cầu dẩy nẫy:
– Ý trời, nói luôn với ổng để ổng ăn thịt luôn anh chắc? Anh đoán đâu có đó mà bửa hôm em hổng chịu tin… Ý là anh chưa nói với tía anh đó đa! Má anh cũng ngại bên má em lắm!
Phấn cúi đầu mím môi có vẻ suy nghĩ, đoạn nói:
– Thiệt tình thì cũng hơi khó đó, nhưng để em phải dìa trong dọ ý bà già xem sao.
– Ừ thì em cũng phải lo… dọn đường bên em đi, để xem coi nó có ăn khớp phần nào bên anh không… Sao anh lo hai bên tréo ngoe với nhau hết em à!
Phấn làm thinh. Thấy vậy Tư Cầu nói tiếp theo:
– Đã vậy bên anh còn kẹt cái chuyện anh Ba cũa anh chưa cưới vợ nữa… Tía anh ổng gắt về cái chuyện này lắm… Thiệt ông già ổng khó dàn trời mây, cái gì ổng cũng bắt phải răng rắc theo ổng hết, mà lại phải theo đúng y bon mới chết một cửa tứ chớ!
Phấn nắm lấy tay Tư Cầu kéo để trong lòng mình rồi âu yếm nói:
– Thiệt em làm cho anh lo xăng văng xéo véo chớ phải chơi đâu… Hổng phải em vui sướng gì mà muốn vậy nghen anh!
– Biết rồi mà!
– Nhưng hổng lo như vậy hổng được anh à, anh hiểu bụng em chớ?
Tư Cầu cười và ôm lấy Phấn vuốt ve đôi vai tròn lẳn:
– Nếu hổng hiểu làm sao thương mình được! Nhưng em cũng phải ráng dìa nói trước vời bác gái đi em… Nếu bác gái mà sẵn lòng đôi chút thì tụi mình cũng đỡ khổ lắm, vì chẳng lẽ bên đàng gái người ta dễ mà ba anh ổng đành làm khó sao… Ổng ngán cái chuyện nghèo giàu đó mà, chắc em cũng biết chớ!
– Nghèo giàu cái con khỉ gi hổng biết.
– Đã đành rằng vậy, nhưng bề gì bên em cũng dư dã, còn bên anh mấy năm nay ạch đụi quá em à… Mần ăn thất bại nên ông già ổng hay nổi khùng lắm! Em nhớ về nói với bác gái nghen! (và Tư Cầu cười nói tiếp theo) Bây giờ đến phiên anh hối em đó!
Phấn nhỏng nhãnh ngã đầu lên vai anh ta rồi nói:
– Cha, giỏi quá há! Anh hổng hối bây giờ người ta cũng phải lo, chớ bộ như anh…
– Bộ như anh là sao?
-… Bộ như anh thấy ghét quá!
Vừa nói Phấn vừa cắn vào vai Tư Cầu và ôm riết lấy anh ta… Tư Cầu khẽ xô cô ta dang ra và làm mặt nghiêm:
– Để yên mình còn bàn tính chớ!… Chớ công việc xong xuôi rồi em muốn lu bù gì đó thì anh cũng chịu, chớ bây giờ còn… đăng đăng đê đê như vậy mà vui sướng gì nổi… Em làm cái gì mà nôn quá vậy!
Phấn mắc cở vì lở bộ nên nhào xô tới véo nó một cái đau điếng rồi nhiếc “yêu”:
– Ôn dịch vật anh!… Đồ quỷ đồ ma gì nói chuyện nghe phát ghét…
Rồi cô lên giọng… hăm he:
– Ờ… anh hổng muốn hén I Được rồi để nữa đứa nào chàng ràng vào tui thì tui đạp ra à nghen!
Tư Cầu cười lớn:
– Ờ để coi hổng biết đứa nào đạp đứa nào đa!
Phấn ưởn ngực ngồi chống hai tay ra phía sau lưng nhìn Tư Cầu bằng một cặp mắt vô cùng khiêu khích, rồi cô gục gặt đầu hỏi Tư Cầu qua kẻ răng:
– Thiệt như vậy hả?
Đoạn không đợi Tư Cầu trả lời, cô ngồi xổm dậy vói tay bưng cây đèn ống khói trứng vịt… và vừa nhìn xéo Tư Cầu vừa kê miệng vào gần đầu ống khói thổi nhè nhẹ…
Ngọn đèn nhỏ chao đi chao lại mấy cái rồi tắt phụt…

°   °
°

Sáng hôm sau, sau khi lùa vịt cho ăn xong xả, Phấn lấy xuồng đi về trong nhà.
Phấn về tới nơi thì thấy bác Bảy má của cô ta nằm trên bộ ván trong, đắp mền trùm kín mít.
Cô đến gần khẽ giở một bên mép mền lên và hỏi:
– Bữa nay má có thấy trong mình có bớt chút nào hông má!
Bác Bảy cựa mình mở mắt ra hỏi:
– Mầy về đó hả Phấn?
– Dạ… Má có uống thêm thuốc của ông thầy Năm hông má?
Bác Bảy thở dài:
– Tự hổm nay uống hà rầm đó mà chẳng thấy ăn thua gì hết… Cả đêm con mắt cứ mở trao tráo… mấy ngày rày tao có nuốt được miếng cơm miếng cháo nào đâu!
– Sao má hổng nói với chị Hai mua một hộp sữa con chim về uống hả má!
– Nó có mua rồi đó, nhưng tao cũng ráng uống chút chút thôi, mầy coi tự thuở giờ tao có quen uống thứ đó đâu.
– Má cũng ráng uống chớ má bỏ cơm bỏ cháo hết thì chịu sao nổi… Má à, hay con biểu thằng Tư (em của Phấn) ra ngoải coi chừng vịt đở ít bữa để con ở nhà trong này chăm lo săn sóc cho má, chớ lóng nầy chị Hai mang bầu lớn xộn rồi, để chỉ nghỉ ngơi chút đỉnh chớ!
Bác Bẩy “xì” một tiếng:
– Mầy nói cái đó mới dốt đa! Thứ đẻ con so mà không chịu nhúc nhích cục cựa cứ ăn rồi ngủ tới chừng đẻ mới rặn đứt ruột!… Mà mầy coi ở trong này, ngày chí tối nó cũng chỉ lạo xạo ba cái cơm nước chớ có giã gạo, xay lúa gì đâu mà sợ nặng nhọc. Sẵn đây tao mới nói luôn, anh Hai của mầy cứ đội nó lên hoài cho nên nó được mới làm tới, nhỏng nha nhỏng nhảnh suốt ngày.
– Má nói vậy chứ con thấy đâu đến nỗi quá tệ. Nhà mình cũng có kẻ ăn người làm đăng đăng đê đê ra đó thì chị Hai chỉ cũng… rảnh rang đôi chút thiệt…
– Rảnh rang thì rảnh rang chớ nó cũng phải biết cái gì nó cũng không ngơ hết! Cái gì cũng phải có tao ngó, tao dòm ráo trọi, hể tao xảnh ra một chút thì nó bỏ mứa hết… Còn mầy nữa… năm nay mầy cũng lớn chồng ngồng đó mà tao coi cũng không ra tích sự gì hết… Chẳng lẽ tao sống đời để lo hoài cho tụi bây sao!
– Chớ má biểu con làm gì nữa bây giờ? Nội cái chuyện theo ba con vịt cũng đủ hụt hơi rồi… má coi những đứa cỡ như con và khá giả như nhà mình, có đứa nào ở biệt suốt tháng ngoài đồng không? Đừng nói gì đến chuyện giăng nắng dầm mưa chi cho mắc công, má coi có đứa nào mần cái gì động đến ngón tay hông?
– Vậy nên tụi nó mới hư thúi cả lũ!… Mà tao có bắt mày phơi nắng phơi mưa hồi nào không mà mầy nói cái giọng đó hả? Mầy ham kiếm thêm tiền để riêng thì mấy ráng chịu, chớ tao có dính tới đồng bạc cắc nào không chớ?
Nghe mẹ nói như vậy, Phấn nín thinh.
Một hồi lâu sau, Phấn mới tìm cách nói lảng ra:
– Má à, má để con ở vài ba bữa trong này coi sóc cho má. Thằng Tư vô trong thế con trông nom ba con vịt cũng được chứ hổng sao má à!
– Nó mắc đi học chớ có rảnh rang gì đâu?
– Hổng có má à, mai mốt gì đây bãi trường, Tết tới rồi…
– Vậy hả?
– Dạ phải…
Bỗng bác Bảy thở dài nhìn con gái:
– Năm nay mầy cũng lớn rồi, tao cũng tính lo kiếm chỗ nào tử tế để cho mầy được yên nơi yên phận… nhưng khổ quá, hồi trong năm tới giờ tao cứ bị đau ốm rề rề hoài… Cứ nằm một chỗ hoài như vầy có đi tới đâu được mà lo cho mầy…
Nghe mẹ nói vậy, Phấn bồn chồn trong lòng, cô tính xen vô nói chuyện của mình và Tư Cầu nhưng lại sợ bị cự nự, nên đành chêm vô một câu để đợi dịp thuận tiện:
– Má đau thì má nằm nghỉ cho khỏe. Còn cái chuyện đó thì để thủng thỉnh rồi má lo sau cũng được…
– Phấn à, má biết rõ trong mình má lắm… Bịnh già này thì dẫu cho có thuốc tiên đi nữa cũng không ăn thua gì. Bởi vậy, hôm trước tao có mời bác Năm mầy qua, tao có nói đầu đuôi câu chuyện lại hết cho bác; nếu tao có bề gì thì nhờ bác lo liệu cho mầy… Ba mầy mất thì còn bác Năm mầy là người lớn trong họ trong hàng, mình nhờ bác đứng ra lo thì cũng phải…
– Má sao cứ lo bao đồng hoài, bộ ai đau rồi cũng chết hết sao!
Bác Bảy không thèm chú ý đến câu nói của con mà lại nói tiếp:
– Tao nghĩ thôi chấm đại cái đám dưới Rạch Chiếc, cái thằng Tường con anh Hương Thân ở dưới coi bộ cũng hiền lành, nhà người ta cũng khá giả và lại được cái cũng gần gũi đây nữa… Mầy được chỗ đó thì không phải cực khổ làm dâu làm con gì, mà ở dưới họ đã cho mai mối lên thúc hối liền mấy bận rồi. Bác Năm mầy bác cũng chịu đám đó lắm. Tao để kỳ này họ lên tao nhận lời phứt cho rồi.
Phấn sốt ruột nói đại:
– Má để thủng thỉnh rồi tính chớ làm gì gấp vậy… Với lại con hổng chịu cái đám dưới Rạch Chiếc đâu!
Bác Bảy ráng lồm cồm ngồi dậy dựa vào vách:
– Sao mầy hổng chịu? Bộ mầy chê hả? Mầy là bà chúa bà hoàng gì mà chê người ta hả?
Phấn cúi đầu ngập ngừng nói:
– Hổng phải con chê người ta…. nhưng con thấy hổng hợp má à!
Bác Bảy đập mạnh tay lên mặt chiếu:
– Trời thần ơi! Mầy biết người ta ra sao hay không mà mầy nói hợp hay không hợp?… Mà hợp hay không hợp có ăn nhằm gì hả? Hồi đó tao với ông già mầy lấy nhau có ai nói hợp hay hổng hợp gì đâu, sao bây giờ mầy lại rác rối như vậy chớ!
– Nhưng con hổng thương người ta được…
Bác Bẩy nhổm người tới:
– Sao mầy biết mầy hổng thương người ta được? Hổng thương rồi cưới về ăn ở với nhau rồi thương sau chớ gì!… Tụi bây bây giờ bị ba cái tiểu thuyết nó làm cho lậm quá mà!… Nói cho nghe bảnh cái lỗ miệng, chớ về ăn ở với nhau rồi ông nội ai cũng không cạy rứt ra được! Mầy đừng nói cái điệu đó tao nghe không thông đâu!
Phấn xuống giọng năn nỉ:
– Con nói thiệt mà má! Má làm phước xét dùm con chớ con hổng ở với đám dưới Rạch Chiếc đâu má à…
– Sao lạ vậy cà! Ai cấm ai cản gì mầy hả? Mầy có thân thì mầy rang lo chớ không phải con mẹ già này sống đời mà lo cho mầy hoài nghen mậy!
Phấn do dự rồi nói:
– Con cũng biết vậy… nhưng con thưa với má có chỗ này người ta cũng thiệt thà làm ăn và ở gần khít bên mình…
– Ý trời bây giờ để cho mầy chọn mầy lựa hả? Bộ mầy nói mầy khôn hơn tao, hơn bác Năm mầy nữa phải hông?
Rồi bác Bẩy lại nói lẫy:
– Được mầy muốn tự tung tự hoành gì đó thì mầy làm, rồi đừng ngó đến mặt con già này nữa?
Phấn vội bào chữa:
– Con đâu dám nói vậy má… Vì vậy con mới đem… bàn với má để coi má tính ra sao.
– Bàn với tao cái gì mới được chớ! Tao đã lo đã liệu hụt hơi hết sức tìm cho có chỗ ăn ở biết điều để mầy được yên thân, mà mới nói ra là mầy gạt ngang rồi… Đó công nuôi dưỡng cho mầy nên hình nên vóc rồi mầy trả ơn như vậy đó!
Thấy mẹ giận, mệt ngồi thở dốc, Phấn cũng bất nhẫn trong lòng. Cô đi róc một chén nước trà mang lại cho mẹ:
– Má uống một miếng cho khỏe trong mình má!
– Mầy đem thuốc độc cho tao uống đó chớ nước nôi gì!
Tuy nói lẫy nhu thế, bác Bảy cũng lấy chén nước uống vài hớp. Phấn đỡ lấy chén đặt xuống ván ngựa:
– Thôi má nằm nghỉ cho khỏe chớ hơi sức đâu mà ngồi hoài.
– Phải mầy muốn tao nghỉ khỏe thì mầy không bất hiếu bất mục như vậy… Mầy muốn tao nghỉ thở sớm thì có!
Phấn kéo gối đặt lại cho ngay ngắn, rồi đỡ bác Bảy nằm xuống:
– Má sao kỳ quá, con đã nói cái gì đâu mà má giận hổng biết!
– Vậy mà nó còn chối leo lẻo nữa chớ!
Phấn lấy mền đắp lại cho mẹ và nói:
– Có cái gì đâu mà con chối! Thì tại con muốn thưa thiệt với má, chớ đáng lẽ con mần thinh dấu luôn cũng được chớ phải không sao!
Bác Bảy nhổm đầu dậy:
– Cái gì nữa đó? Mầy nói thiệt là nói cái gì, còn dấu cái gì hứ con kia?
Phấn tìm cách nói quanh:
– Con nói thiệt là hồi nãy con nói với má, con hổng chịu cái đám dưới Rạch Chiếc đó mà…
– Rồi sao nữa?
Phấn ấp úng nói:
– Thì có sao đâu má!… Con nói với má để má rõ trước vậy mà… Để có cái gì má liệu má nói với người ta.
– Cho tao biết trước hả! Cái điệu này mầy là bà nội tao chớ đâu phải là con!
– Má sao cứ vậy hoài! Thì má để cho con nói hết đầu đuôi, chớ hồi nãy con mới đụng tới là má gạt phứt đi thì làm sao con nói rõ…
Bác Bảy thở hất ra rồi nói:
– Thì mầy nói đại đi để tao nghe rồi tao chết cho vừa bụng mầy!
– Thôi con hổng nói đâu!
– Mà tao biểu mày nói!
– Nói cái gì mà cứ mở miệng ra má cứ… cản hoài.
Bác Bảy thở dài, hạ thấp giọng:
– Thôi mầy làm ơn làm phước có cái gì nói phứt cho tao nghe đi rồi còn để tao nằm nghỉ một chút, chớ cứ nói cù cưa với mầy hoài thì có lúc đâm chận họng tao chết tốt!
Phấn lấy ngón tay cào cào mấy cọng lát màu xanh đỏ trên chiếc chiếu bông và khẽ lên tiếng:
– Con đã nói với má là con không chịu cái đám dưới Rạch Chiếc… má à, gần mình đây cũng có chỗ người ta thiệt thà làm ăn… mà người ta cũng quý trọng mình lắm! Phải má chịu chỗ đó thì… tiện quá.
– Hừ, lấy chồng là phải lựa cho phải nơi phải lứa chớ cái gì mà tiện với hổng tiện ở trỏng hả? Mầy có để cho tao lo cho hay không thì nói, chớ đừng làm bộ tài khôn tài khéo với tao!
– Má để con nói hết coi chớ!… Con nói tiện là vì… là vì… thiệt ra… con cũng có… quen biết với người ta.
Bác Bảy ngoái đầu lại:
– Thì đầu trên xóm dưới chỗ nào mà nhà mình hổng quen biết… Mà mầy nói quen biết làm sao hả?
Phấn cúi gầm mặt xuống ấp úng nói:
– Con nói quen biết là tại… thiệt ra là vì con…
– Mầy làm sao hả?
– Con thương người ta…
Bác Bảy tốc mền tung ra, ngồi phắt dậy:
– Sao? Mầy nói cái gì mầy nói lợi coi?
Phấn đáp một hơi:
– Con nói con thương người ta mà người ta cũng thương con nữa… con ưng cái chỗ này đến chết, con hổng lấy con ông Hương Thân dưới Rạch Chiếc đâu!
Bác Bảy rên rỉ:
– Trời cao đất thấp gì ngó xuống đây mà coi nè? (Rồi bác ngó về phía bàn thờ bác Bảy trai) – ông ơi, có giỏi ông có linh thiêng ông dìa coi con gái cưng của ông đây nè?… Phấn à ba mày có nghe mầy nói như vậy ổng cũng phải đội mồ mà sống dậy nữa… Còn tao, mấy muốn giết tao sao Phấn!… Mầy làm ơn xuống bếp lấy con dao phay lên thọc cổ cho tao chết, tao còn mát thân, còn sung sướng hơn Phấn à!… Phải rồi mày lựa lúc tao đang đau ốm rề rề như vầy để mày trù ẻo cho tao chết sớm để mầy rảnh tay muốn lấy ai thì lấy cho vừa ý mầy mà!
Nghe bác Bảy nói giận nói hờn như vậy Phấn cũng đâm ra lính quýnh. Cô vừa tội nghiệp cho mẹ mà cũng vừa lo sợ cho công việc dự tính bất thành.
Nước mắt rưng rưng, Phấn nhìn mẹ van vỉ:
– Má có chửi mắng gì con thì con cũng chịu nhưng cái chuyện này của con thì nó đã… dĩ lỡ ra rồi…
Bác Bảy hỏi dồn:
– Mầy nói sao?
Phấn vặn vẹo mấy ngón tay rồi ngập ngừng nói:
– Dạ… con đã lỡ thương người ta rồi…
Bác Bảy thở dài dựa lưng vào vách, nói trống không bằng một giọng vô cùng chán nản:
– Tao biết mà, thứ con gái lớn lên thả cho nó đi lu ầm như vậy hèn chi nó hư cũng phải… Chuyện này thiệt tao có chết cũng không nhắm mắt được!
Rồi bác lại hỏi:
– Mà mầy đã lỡ thương thằng nào hả? Xung quanh đây tao thấy có thằng nào sạch nước cản đâu mà mê người ta nhạy quá vậy?
– Đã cũng gần đây má à…! Chắc má biết anh Tư con bác Hai…
– Mầy nói thằng Tư Cầu đó hả? Chèn đét ơi, cái thằng lù khù như rắn mùng Năm đó mà mầy mê nó sao? Bộ thằng ôn dịch đó có bùa mê thuốc lú gì sao mà!
Phấn sốt sắng binh vực Tư Cầu:
– Má nói vậy chớ ảnh cũng… khôn ngoan lịch thiệp, giỏi lắm chớ? Bề ngoài coi như vậy chớ anh tốt bụng lắm? Con biết rõ lắm má à!
– Hừ, vậy mà mầy còn dám mở miệng binh nó nữa?… Thì mầy biết rõ lắm! Biết rõ cho nên mới tác tệ như vậy! Tao hỏi mầy: mọi khi mầy khôn ngoan như bà nội người ta vậy, sao bây giờ mầy u mê ám chướng gì mà lại mê cái thằng mắc toi đó hả?
– Má nói vậy chớ ảnh đâu có đến nỗi tệ gì…
– Ừ phải nó không tệ! Mầy có muốn cho con mẹ già mầy lọt tròng té nổ không; thấy nó khôn, nó giỏi… thì mầy nói phứt cho rồi!… Mà nếu nó khôn nó ngoan thì nó là một thằng điếm thúi quyến rũ mầy mà mầy cứ đâm đầu vô… Thứ đồ con gái đứng đường!
Phấn bị mẹ làm cho một hồi đâm ra tức, nhất là khi nghe má mình kêu Tư Cầu là “thằng điếm thúi”:
– Má nói như vậy là má không biết xét người chút nào! Mới hồi nãy mà má kêu người ta lù khù, bây giờ má nhiếc người ta là điếm thúi… Anh Tư, thiệt ảnh… không rủ rê con gì hết, tại con thương ảnh nên ảnh mới… thương lại con chớ bộ ảnh rù quến gì con sao mà má nói oan cho người ta như vậy!
Bác Bảy cười khẩy:
– Ờ mầy nói vậy tao mới biết! Bị mầy nập nợn quá mà! Cái nầy cũng tại tao hết, tao thả lỏng mầy quá… Thứ con cái như mầy thiệt là con ranh con lộn gì đầu thai lên báo đời tao. Đẻ mầy ra để đẻ trứng gà, trứng vịt gì bán còn có lợi hơn. Tao phải dè như vầy, hồi đó tao bóp mũi mấy chết phứt đi cho rảnh! Thứ đồ oan gia tương báo gì đâu hổng biết.
Phấn làm thinh.
Thấy con không trả lời, bác Bảy càng nổi dóa thêm:
– Sao bây giờ mầy á khẩu ngồi đó. Mầy giỏi binh nó cái gì nữa thì nói đại đi! Mầy coi con mẹ già nầy đâu có trượng bằng nó! Mầy giỏi thì mầy cuốn gói theo nó luôn đi chớ bày đặt nói với tao làm gì cho mắc công.
– Đâu phải con binh ảnh má?… Con chỉ nói thiệt hết ra cho má rõ vậy thôi… Má coi con có dám dấu diếm cái gì đâu! Cái gì con cũng thưa lại với má để coi má tính sao…
– Tao hổng tính cái gì hết trọi! Phải mầy kể đến tao thì mầy không bêu xấu tao như vậy!
Phấn nhỏ nhẹ cự nự:
– Con làm gì mà má nói bêu xấu?
– Hứ, mầy không có làm gì hết! Chớ mầy tính đi theo thằng chết dầm đó không đủ xấu tông môn họ hàng sao hả?
– Má nói vậy sao được… người ta cũng là người làm ăn chớ bộ ăn trộm ăn cướp hay cùi phong què quặt gì mà má nói xấu!
Bác Bảy cười lạt:
– Đến nước này mà nó còn binh chớ!… Mầy thử coi thằng Tư Cầu đó có tới mắt cá thằng con anh Hương Thân dưới Rạch Chiếc không chớ?
– Má so sánh như vậy sao được! Anh Tư ảnh nghèo thiệt, nhưng chắc má cũng nhận thấy từ trước tới giờ ảnh có tai tiếng gì trong bà con lối xóm đâu! Người ta nghèo nhưng người ta là người thiệt thà làm ăn, như vậy cũng… quý rồi… Chớ má hạ nhục ảnh như vậy thì cũng tội nghiệp.
– Hừ tội nghiệp! Tội nghiệp thì mầy rước người ta về mà thờ chớ nói với tao làm gì!
– Má cũng nói vậy hoài… Má nói má lo việc cưới hỏi cho con thì sẵn đó con nói luôn… Con lỡ thương anh Tư rồi, vậy má xét lại dùm con… Bác Bảy nói lẫy:
– Sao mầy hổng đợi mang cái bụng chè lè ra rồi hẵng nói với tao…
Rồi như nhớ sực lại điều gì, bác Bảy vội hỏi, giọng hết hoảng:
– Mà mầy chỉ mới… thương nó vậy thôi chớ?
Phấn ngơ ngác:
– Dạ, thì con đã nói với má… con thương ảnh.
– Thì tao biết rồi! Nhưng nó có… thương… gì với mấy không?
– Dạ… con thương ảnh, ảnh thương lại con… Hai đứa con thương nhau, nên con mới thưa lại với má…
Bác Bảy chắc lưỡi:
– Hai đứa bây thương nhau gì đó thì thây kệ tụi bây! Tao hỏi là tao hỏi tụi bây có lộn xộn gì chưa? Thằng mắc ôn đó làm gì mầy chưa? Mầy làm ơn mầy trả lời giùm tao coi!
– Dạ ảnh hiền khô đâu dám bắt ép gì con. Nhưng sở dĩ con nói với má là vì con quá thương ảnh, thương thiệt tình má à!
– Thôi đi bà nội! Mầy đừng có giả mù sa mưa với tao… Tụi bây đừng tưởng lọt qua mất con già này? Tao hỏi mầy một lần chót: chớ tụi bây đã có ăn ngủ gì với nhau chưa? Có hay không mầy cứ nói phứt với tao một tiếng.
Nghe mẹ hỏi gắt như vậy, Phấn cúi đầu vân vê mép chiếu và ấp úng nói:
– Thì con đã nói với má, tụi con thương nhau cũng đã khá lâu rồi…
– Ý trời, sao mầy hổng đợi vài ba năm nữa rồi mầy hẵng nói!… Cái điệu này thì hư hết rồi còn gì đâu! Vậy mà mầy còn ráng vác cái mặt về đây nói bảnh với tao nữa chớ! Thứ đồ hư thân mất nết. Tao có dạy mày đứng đường như vậy không chớ!
Phấn còn ráng chống chế:
– Phải con hư thì con đâu có dìa nói lại với má đàng hoàng như vầy!
– Coi nó nói vậy nghe sướng hông! Bộ mầy nói mầy ngủ với trai đã rồi mầy dìa học cho tao hay là mầy nết na lắm hả?… Đàng hoàng cái thằng cha mầy chớ đàng hoàng!… Sao mầy không đợi vác cái bụng như cái trống chầu rồi đìa đây cho tao hay một thể? Mầy nói như vầy cũng còn sớm lắm con à!
– Thiệt má nói sao kỳ quá… Bộ con đi theo tào kê làm đĩ làm điếm gì sao mà má kêu là hư là thúi! Con mới thương người ta… có chút đỉnh mà thiếu điều má muốn la làng lên! Nói như má hễ thương yêu nhau là hư, thì thiên hạ là đồ bỏ hết chắc? Con biết má giận má nói vậy chớ thế nào má hổng xét lại…
Bác Bảy cướp lời:
– Thôi mầy đừng có ngựa nữa! Tao biết mầy khôn lắm mà! Thứ đồ đội quần người ta mà hổng biết mắc cỡ…
Rồi bác lại than thở:
– Thiệt nó sanh chứng như vầy, tui còn mặt mũi nào nói chuyện với bên đàng trai ở dưới Rạch Chiếc chớ!
Nghe vậy, Phấn lại cự nự:
– Sao má hay lo bá vơ quá hổng biết! Chưa gì hết mà má kêu đằng trai đằng gái rùm beng lên… Người ta hỏi mình hổng chịu thì thôi chớ ăn thịt mình được sao mà má sợ! Bị má cứ lo cái mừng đó hoài mà má đau thêm…
– Bộ bây giờ mầy tính rủa cho tao mau chết để mầy theo trai cho gấp, hả Phấn?
Phấn nhăn nhó:
– Thôi con lạy má! Má có muốn con nằm cúi xuống cho má đánh mấy trăm roi gì đó cho đã nữ thì má nói một tiếng, thiệt con không dám cãi… Chớ má cứ nói hờn nói lẫy, nói xiên nói xéo hoài thì biết đâu mà tính nữa!
– Sướng hông! Bây giờ nó lại dạy khôn tui nữa chớ!… Mầy là má tao mới phải! Chắc hồi đó ông Trời ổng sanh lộn mà!… Ai coi nó theo trai cho đã rồi mà hễ nói động tới là nó nói lại xoi xói trên đầu trên cổ… Đây tao nói cho mầy nghe: mầy phải bỏ liền tức khắc cái thằng ôn dịch vật đó, chớ hông thôi thì hổng còn mẹ con gì nữa? Tao nói có ông bà làm chứng: mầy mà còn đeo theo cái thằng chết đói đó nữa, thì một là tao giết mấy, hai là tao cắn lưỡi tao chết để mầy muốn theo ông bà ông vãi gì mầy đó thì theo. Đó, chỉ có như vậy thôi để mầy liệu!
Phấn dịu giọng năn nỉ:
– Má nói như vậy thì ngặt cho con quá. Con đã lỡ thương người ta rồi má cũng châm chế phần nào với con chớ nếu má cứ thắng băng như vậy thì con chỉ có nước đâm đầu xuống sông chết phứt cho rồi…
Bác Bảy cười lạt:
– Bộ bây giờ mầy tính dọa tao hay sao thì mầy nói! Tao nói thiệt: cái thứ như mầy có chết nằm xấp đống đó tao cũng không màng.
Phấn còn ráng van nài:
– Má có giận con thì cũng giận một ngày hay đôi ba bữa gì thôi chớ hổng lẽ má giận hoài. Con xin má bằng lòng gả con cho anh Tư đi rồi sau này có cực khổ đói rách gì con cũng cắn răng chịu chớ không đám quấy rầy má nữa đâu.
-Phấn à, bộ mầy nói tao còn con nít hay sao mà mầy dễ gạt… tao già từng tuổi này tao đâu có ngu hơn mầy được.
– Con đâu có dám nói như vậy! Cái gì má cũng nói hết…
Bác Bảy ngồi xích lại gần con và hạ giọng vỗ về:
– Con nên nghĩ lại cho chín Phấn à! Con còn nhỏ dại nên con hay hấp tấp – đứa con gái nào lớn lên mà hổng vậy – chớ má đây già rồi má biết con à! Đâu phải hễ thương nhau là bắt buộc phải cưới nhau đâu!… Mà cũng hổng phải hễ cưới nhau trơn, không có tằng tịu với nhau trước là không thể sống đời với nhau được!… Thì tao với ba mấy hồi đó chỉ thấy dạng xa xa chớ có nói với nhau một lời, một tiếng nào đâu mà cũng ăn đời ở kiếp với nhau vậy. Tụi bây bây giờ bày đặt theo tân thời, theo tiểu thuyết, chớ ông già bà cả lúc trước cho đến thời của tao với ba mầy đâu có nói cái ngữ đó được!… Mà tao nghĩ: hễ cưới gả nhau rồi tới chừng đó yêu nhau mấy hồi! Tao nói đây để nữa mầy nghiệm coi có đúng không…
Bác Bảy ngừng lại để thở, rồi lại tiếp:
– Phấn à, má lo đây là lo hậu cho con, chớ má già rồi lại đau yếu biết chết nay, chết mai gì đây! Bởi vậy má muốn lựa chỗ tử tế, gia đình có bề thế một chút để sau nầy con có chỗ mà nương tựa an nhàn, khỏi phải cực khổ và mở mày mở mặt với họ hàng lối xóm người ta… Má nói ra đây chắc con cũng dư biết: nhà mình tuy không giàu có cho lấm nhưng cũng không phải túng thiếu đồng tiền chén gạo, bởi vậy má đâu còn ham muốn gì nữa mà gả ép con để té vàng té bạc thêm! Má mà chọn cái đám dưới Rạch Chiếc là vì má thấy ở dưới người ta đàng hoàng, ăn ở từ nào tới giờ có âm đức. Hai vợ chồng anh Hương Thân thương con thì phải quý dâu. Con mà dìa dưới làm dâu thì khỏe ru; trong nhà người ta kẻ ăn người ở đăng đăng đê đê, con khỏi phải làm gì động tới móng tay hết… Má nói thiệt: thiếu gì đám đem con gái gả cho thàng con anh Hương Thân nhưng ở dưới hai vợ chồng ảnh và thêm thằng con trai nữa không chịu đám nào hết. Họ chỉ ưng có nhà mình thôi. Đó con coi, mấy tháng nay họ cho mai mối lên liền liền mà má cũng mới có ừ hữ để đó chớ cũng chưa nhứt quyết gì hết. Má muốn đợi cho hết đau hết ốm rồi hãy tính, với má thấy con cũng còn nhỏ tuổi, mà cũng không xấu xa gì thì đâu có sợ ế chồng má phải hấp tấp! Đó coi, con nghĩ má tính như vậy có phải không hả Phấn?
Phấn miễn cưỡng trả lời:
– Má nói vậy thì cũng phải nếu con… chưa lỡ thương anh Tư…
Bác Bảy hơi bực mình nhưng ráng nói ngọt:
– Cái gì mà… cũng phải? Phải hết ráo trơn ráo trọi chớ hổng có nếu gì hết! Má nói con còn trẻ người non dạ, còn lóc chóc lắm chớ chưa biết nghĩ suy như người trọng tuổi… Con để má nói hết cho mà nghe… Đâu phải má muốn gả ép con để té ra lợi lộc gì đâu? Má đã nói với con: hổng biết má chết nay chết mai gì đây, như vậy má còn ham giàu sang gì nữa! Má lo là lo cho con, cho đời con sau này… Anh Hai con đã yên phận chồng vợ rồi, giờ đến phiên con, má cũng phải ráng lo cho xong rồi mới nhắm mắt buông tay được con à?
Nghe nói đến chuyện vợ chồng của anh Hai mình, Phấn mỉm cười nói chen vô:
– Đó má nói má lo chuyện vợ chồng cho anh Hai, vậy mà má cứ chê chị Hai rậm rề hoài…
– Coi mầy nói vậy sao được! Tao kén chọn chỗ tử tế đàng hoàng cho nó, ai biểu nó hổng biết dạy vợ nó thì nó ráng chịu, chớ tao phải làm sao bây giờ? Ối thôi cũng tại anh Hai mấy nó u mê ám chướng quá nên con vợ nó mới sanh tệ vậy, chớ phải nó biết nghe lời tao thì đâu có đến đỗi!
– Má nói cái gì nghe cũng xuôi hết?
Bác Bảy sượng lại rồi nói tiếp:
– Để nữa mầy có con cái lớn lên rồi mầy sẽ biết: phận má là phận làm cha mẹ thì phải lo đầy đủ cho con cái, rồi nó tới đâu hay tới đó, chớ để buông xui hết sao nên! Về phần của con cũng vậy Phấn à!…
Với một giọng tha thiết. bác Bảy tiếp:
– Má nói thiệt với con hổng phải má khinh khi chê bai gì thằng Tư đâu! Má cũng biết nó là người thiệt thà chơn chất làm ăn từ nào tới giờ… Nhưng ở đời đâu phải có bấy nhiêu đó là đủ. Má lớn rồi, má từng trãi nhiều má biết. Hơn nữa má đẻ con má hổng biết rõ tánh của con sao: con thương thằng Tư đó thì con nằng nặc đòi cưới, chớ để tụi bây ở chung vài ngày thì cũng rã đám sớm. Mà con nên nhớ rằng chuyện vợ chồng là chuyện ăn đời ở kiếp chớ đâu phải chuyện một ngày một bữa gì mà mình hấp tấp cho được. Bây giờ còn mới, tụi bây còn ham mê nhau, nhưng đến chừng dìa ở chung nhau rồi, tụi bây hổng chỏi nhau như mặt trời mặt trăng thì đừng kể tao là con người.
Phấn chen vô:
– Má nói bộ ai cũng như vậy hết sao? Mà sau nầy có cái gì thì con cắn răng chịu hết má khỏi lo!
Bác Bảy cười lạt:
– Thì mầy chịu chớ chẳng lẽ tao đưa cái thân già nầy vô đó mà hứng lấy cho mầy!… Con nầy nó nói sao dễ nghe quá!… Bây giờ thì nói cái gì mà mầy hổng chịu, mầy chịu bừa chịu càn hết để nữa có xảy ra chuyện gì cứ nhè con mẹ già này mà kêu mà réo! Cái sách đó xưa quá mà đừng đem ra xài với tao chi cho mất công!
Phấn quả quyết đáp:
– Không, con nói thiệt mà má! Con… thương anh Tư mà con hổng hiểu tánh nết của ảnh sao! Nhưng cái gì cũng có qua có lại… con nghĩ con chịu đựng được ảnh mặt này thì ảnh cũng chịu đựng lại con mặt khác. Con đâu phải vẹn toàn gì! Bởi vậy sau nầy nếu có chuyện gì lộn xộn thì con xin ráng chịu, chớ hổng dám đổ thừa, đổ bù gì đâu mà má lo.
Nghe con cứ nhắc câu “thương anh Tư” hoài, bác Bảy như thấy gai trước mắt:
– Hứ, mấy cứ nói cái giọng như bà nội người ta! Tao biết cái thứ mầy lì lợm lắm mà!
Nhưng rồi bác Bảy lại dịu giọng:
– Phấn à, tao nói đây hổng phải lợi ích gì cho tao hay tao can mầy để tao mừng, tao sướng gì! Hổng có đâu con à! Con nên nhớ rằng cái chuyện vợ chồng hổng phải ăn ở với nhau một ngày một bữa gì mà mình tính sao cũng được… Con nói con thương thằng Tư thì má cũng nghe vậy đi. Nhưng đâu phải chỉ mình thằng Tư không thôi. Nó còn ông già bà già nữa. Mà chắc con cũng biết ông già nó khó dàn trời chứ chẳng phải dễ dàng gì như người ta đâu! Má sống ở đây mấy chục năm nay má hổng biết sao! Ông già của thằng Tư tánh tình hay câu mâu kỳ cục lắm! Tuy ổng không làm gì ai nhưng đầu trên xóm dưới ai ai cũng chạy mặt ổng hết. Để rồi con coi, không dễ gì ổng cho thằng Tư lấy con. Má nói với con không tin thì bữa nào con thứ xúi thằng Tư dìa nói với ổng coi!
– Dạ con cũng có biểu ảnh rồi…
– Vậy thì mầy giỏi động trời rồi! Cái điệu nầy thì mầy lo lấy một mình chớ còn bày đặt vô đây nói với tao làm gì nữa…
Thấy con làm thinh, bác Bảy lại xuống giọng vỗ về:
– Sao con khờ quá vậy Phấn? Má đã hết lời nói với con: đâu phải thương nhau là lấy nhau được. Còn ông già nó chi!… Rồi còn công việc mần ăn sau nầy nữa… Chẳng lẽ ngày tới tối, tụi bay cứ ôm lấy nhau mà sống đời hay cạp đất mà no bụng được! Má thử hỏi con: nếu tụi bây ăn ở với nhau thì vợ chồng bây lấy cái gì mà sống? Cái thằng Tư nó không có miếng đất cấm dùi, từ hồi nào tới giờ nó làm phụ cho gia đình nó vậy mà nó cũng đầu tắt mặt tối quanh năm. Bây giờ còn thêm cái miệng ăn của con vô đó nữa, thì má thử hỏi nó xoay trở bàng cách nào?… Má cũng biết con có chút đỉnh vốn liếng, nhưng bất quá cũng chỉ để xây xài trong đôi ba năm là cùng chớ buôn bán mần ăn gì khác được. Hổng lẽ tụi bây ra ở riêng rồi thiếu cái gì cũng về đây mà nẹt tao! Rồi nữa mầy sanh con đẻ cái cả bầy cả lũ, lấy gì mà nuôi tụi nó hả? Hay lại để rách rưới, trần truồng bò lê bò lết như cái đám con của anh Hai thằng Tư đó!… Cái gương sờ sờ trước mắt mầy hổng thấy sao mà còn tính đút đầu vô đó nữa hả? Tới chừng đó hổng cắn rứt nhau ra từng miếng thịt, chớ đừng nói chảnh rảnh là thương là yêu nhau! Phấn à, má có qua cái cảnh đó, má có thấy nhiều người qua cái cảnh đó rồi nên má biết rõ lắm con à… con nên nghe má, sau nầy con yên phần gia thất rồi, con sẽ thấy lời má nói đây là đúng, là má thiệt thương con, thiệt lo cho con nên má mới tính như vậy…
Phấn ngập ngừng đáp:
– Thì con cũng biết má thương, má lo cho con lắm chớ phải không đâu! Nhưng ngặt nỗi con lỡ thương anh Tư rồi…
Bác Bảy nổi nóng đập tay xuống ván ngựa:
– Lỡ thương! Lỡ thương ông bà ông vải mầy chớ lỡ thương hoài à!…
– Tao nói ngon nói ngọt, mầy hổng chịu nghe, thì bây giờ tao biểu mầy: một cũng phải bỏ, hai cũng phải bỏ cái thằng đó. Mầy còn nói “lỡ thương” nữa thì chổi chà tao quơ thấy mụ nội mầy đa nghẹ!
Thấy mẹ nổi giận, Phấn không dám nói xía vô nữa mà chỉ ngồi làm thinh. Bác Bảy phần giận, phần la hét nhiều nên cũng nín lại để nghỉ mệt. Rồi một lát, không biết nghĩ sao hay nhớ trực tới điều gì, bác vội kêu con hỏi ngang:
– Mà mầy làm gì mà nhứt quyết phải lấy cái thằng mắc toi đó chớ hả? Hay là… Cái điệu nầy tao nghi quá! Phấn, tao hỏi mầy: bộ mầy lỡ mang bầu với nó rồi hả?
Bác Bảy hỏi câu đó với một giọng run run và bác nhìn thẳng vào mặt con hồi hộp mong chờ câu trả lời…
Phấn muốn vọt miệng nói là “có” để cho mẹ bắt buộc phải gả gấp cho Tư Cầu hầu che lấp tiếng xấu, nhưng nhớ đến cảnh đau ốm cùng thấy dáng điệu thiểu não của mẹ, cô đâm ra bất nhẫn và không đành tâm dùng đến chước “sự đã rồi” như đã dự tính trước đây.
Còn bác Bảy thấy con làm thinh, lại càng nghi thêm:
– Sao, mầy có cái gì thì nói thiệt để tao lo liền cho mới kịp, nếu không thì tao chỉ có cái nước đội quần người ta chớ tao còn mặt mũi nào dòm ngó ai nữa? Hèn chi, hổm rày tao thấy mầy cứ nhè ba cái chùm ruột, khế chua mầy ních hoài…
Và bằng một giọng cố giữ vẻ thản nhiên, bác Bảy chậm rãi hỏi thòng một câu:
– Có phải vậy không Phấn?
Phấn vội chồm tới nắm lấy hai bàn tay gầy gộc của mẹ và hấp tấp dáp:
– Không, không có như vậy đâu má…
Và cô khóc òa lên.
Bác Bảy thở dài một hơi, vừa như trút một mối lo âu và cũng vừa như xót thương ái ngại cho tình cảnh con mình… Một hồi lâu, bác Bảy mới gỡ tay con ra và dịu dàng nói:
– Thôi nín đi, hổng có thì thôi chớ cái gì đâu mà khóc… Đó con coi, đâu phải má ác nghiệt với con cái. Nếu con lỡ dại làm tùm lum lên thì má cũng phải ngậm miệng ráng lo sao cho êm thắm mọi bề. Còn nếu như con chỉ mới có… phải lòng thằng Tư thì… chẳng có sao hết. Hổng phải má chê bai ai, nhưng người nào cũng có phận nấy. Má để con khuây khỏa một thời gian rồi thế nào con cũng nghĩ lại và con sẽ thấy lời má nói đây là đúng. Má nói cái nầy con chịu khó nghe: thằng Tư nó không lấy được con, nó đâu có chết mà còn mập cùi cụi như thường. Chớ còn con, con rủi làm bậy bạ, con sẽ khổ suốt một đời con à!
Phấn không biết nói gì thêm, chỉ ngồi cúi đầu làm thinh, thỉnh thoảng lấy vạt áo chùi nước mắt hoặc xịt mũi.
Bác Bảy lại ôn tồn nói tiếp:
– Hồi nãy, con nói con muốn ở trong nầy thì cũng được… Ờ, con nên ở luôn trong nầy thì tiện hơn, chớ nếu không có gì hết mà con cứ qua lại với thằng Tư hoài thế nào hổng có ngày thiên hạ họ xầm xì bàn tán bậy bạ… Để lát nữa má biểu thằng Năm vô trong coi sóc mọi việc thế cho con. Con có cái gì thì dặn lợi nó. Thôi, con sửa gối lại để má nằm nghỉ một chút… À, con xuống bếp nhắc chị Hai con canh chừng siêu thuốc chớ không thôi nó để cạn khô hết… Thiệt cái con hư hết cỡ, hôm trước nó sằc thuốc làm sao mà để cạn quánh, rồi tống đại nước thêm vào để cho tao uống ba cái nước giảo! Như vậy có thuốc tiên, thuốc thánh cũng không ăn thua gì chớ đừng nói đến cái thứ thuốc mình hốt ở đây…
Phấn thẫn thờ buông một tiếng “dạ” nho nhỏ rồi vói tay lấy chiếc mền đắp lên cho bác Bảy.
Xong xuôi, cô lững thững đi xuống nhà dưới, lòng buồn chán như chưa từng có như thế bao giờ…
Trời chuyển mây đen kịt và mưa lác đác đổ hột…

°   °
°

Tư Cầu ngạc nhiên vì cơn mưa bất thường ở cuối mùa nầy, anh ta vội xua bầy vịt về.
Và cũng may khi về tới chòi là cơn mưa lớn đã ào tới. Bầy vịt được thêm nước mưa tha hồ rỉa lông rỉa cánh, nô giởn vang rân…
Tư Cầu rút khăn tắm lau lia lịa cùng mình, lấy áo xỏ vào rồi ngồi bệt xuống nóp vấn thuốc hút.
Mưa rơi rào rào trên mái tranh để rồi chảy ton tỏn xuống mặt đất càng làm tăng thêm vẻ cô tịch của căn chòi bơ vơ trong đồng trống.
Tư Cầu nhổm lên kéo chiếc nóp xê vô trong để tránh mưa vào. Đoạn anh ta ngồi bó gối trầm ngâm phì phèo hút thuốc…
Bỗng ngoài sân có tiếng bầy vịt kêu dớn dác. Tư Cầu ngó ra thì thấy Phấn, tay giữ nón lá, tay xăn hai ống quần hấp tấp chạy vô.
Tư Cầu vội đứng phắt dậy. Anh ta muốn nhảy tưng lên reo mừng nhưng lại lựng khứng đứng đó, rồi miệng bập bập điếu thuốc vấn đã tắt queo từ hồi nào…
Phấn chạy ào vô trong chòi, đứng lại mỉm cười nhìn anh ta rồi thở khì một cái. Tư Cầu cũng cười cười theo rồi lên tiếng:
– Dữ hông! Sao hổm rày mất biệt vậy?
– Ờ, mất biệt thì anh vừa lòng lắm hả?
– Trời ơi, mình đợi người ta muốn chết mà ra đây nói cái ngữ đó nữa chớ!
Phấn lột nón lá xuống rảy cho ráo nước rồi dựng bên vách chòi. Đoạn cô vo quần lên đưa chân ra ngoài giọt nước mưa để rửa cho sạch bùn.
Xong xả, cô lột chiếc khăn rằn buộc chéo trên đầu xuống để lau mặt và quết cho quần áo bớt ướt.
Tư Cầu chăm chú nhìn Phấn: cái thân hình tròn trìa, chắc nịch dính sát vào lần quần áo ướt đẫm kia, đối với anh ta quá quen thuộc mà cũng quá… mới mẻ sau non một tuần lễ cách biệt.
Phấn liếc lên bắt gặp cái nhìn đó nên đâm ra mắc cỡ và làm bộ hối Tư Cầu:
– Hay dữ hông! Người ta lạnh muốn chết mà anh đứng như trời trồng ở đó hả?… Đưa cái khăn tắm đây cho em mượn lau đỡ một chút coi!
Tư Cầu lúng túng rút chiếc khăn tắm đưa ra:
– Thì đây nè, ai biểu hổng hỏi!
– Hứ, có vậy mà cũng phải hỏi!… Mà anh còn bộ quần áo khô nào hông cho em mượn bận đở coi!
– Ủa, bộ hổng dìa liền sao?
– Muốn vậy lắm hả?
Thấy Phấn dợm đi, Tư Cầu hấp tấp kêu lên:
– Hổng… hổng có đâu! Thì anh hỏi chơi vậy mà. Để tạnh rồi hãy dìa chớ bây giờ mưa gió ầm ầm như vầy mà đi đâu! Đây anh còn bộ quần áo máng trên cột kia, em lấy thay đi.
Phấn háy xéo anh ta rồi mới chịu bước lại lấy bộ đồ xuống, đoạn vùng vằng hỏi:
– Cái chòi của anh lớn bầng… cái lỗ mũi của người ta và trống hốc như vầy rồi thay đồ ở chỗ nào bây giờ hả?
Tư Cầu “xì” một tiếng rồi nói:
– Ý trời ơi… thì “bà” thay đại ở đó hổng được sao! Làm như người ta hổng biết… Thôi đây nè, lấy cái xà-rông đó tròng vô thay đỡ đi…
Phấn xẻn lẻn đáp:
– Ừ thì đưa đây!
Thay xong, Phấn nắm hai vạt áo chéo lại cho bó sát vào người rồi nói:
– Quần áo gì rộng thùng thình, kỳ quá!
Tư Cầu bất tức cười:
– Áo của người ta chớ phải của mình đâu mà chê hổng biết!… Thôi lại gần đây, anh hỏi một chút coi!
Phấn ngoan ngoãn đến ngồi ép mình bên cạnh anh ta.
Tư Cầu nhìn người yêu, chậm rãi hỏi:
– Sao tự hổm nay mất tăm mất dạng ngoài nầy vậy?… Bộ chuyện em tính nói với bác Bảy đó hổng… êm rồi hả?
Phấn đang tươi rồi nghe hỏi thế xụ mặt xuống. Cô không lên tiếng trả lời mà chỉ sẽ gật đầu rồi thở dài não ruột.
Tư Cầu nhăn nhó hỏi thêm:
– Bộ bác Bảy hổng chịu hả? Đầu đuôi như thế nào em kể lại cho anh nghe coi!
Phấn xẵng giọng đáp:
– Thì hổng chịu chớ còn “bộ” gì nữa! Bà già bả hổng chịu… là hổng chịu chớ anh bắt kể cái gì nữa chớ!
Rồi như thấy mình giận dỗi một cách vô lý, Phấn chép miệng nói tiếp:
– Bà già bả nhứt định hổng cho tụi mình lấy nhau anh à! Em cũng đã lựa lời nói vô hết sức, năn nỉ ỉ-ôi hết lời mà cũng ăn trớt luôn…
– Sao hôm trước, em nói em có cách gì đó?
Phấn thở dài:
– Thì có chớ chẳng không, em tính bắt non bà già rằng em đã… mang bầu với anh…
Tư cầu dẫy nẩy:
– Ý trời em dám nói vậy hả?… Nói vậy hổng nên đa em!
Thấy bộ điệu Tư Cầu như thế, Phấn dầu buồn thiu cũng nhếch mép cười:
– Anh làm gì nhảy tưng tưng như bị ong vò vẽ chích vậy? Người ta chỉ mới tính nói chớ có nói đâu! Mà chỉ “nói” thôi chớ bộ có thiệt đâu mà anh hoảng kinh như vậy!
Tư Cầu làm mặt bảnh:
– Sợ cái gì mà sợ! Anh hỏi cho biết sự thể ra sao vậy mà! Nhưng tại sao em tính nói mà rồi nín êm luôn vậy!
Phấn lại thở ra:
– Thì anh coi má em đau rề rề, em thấy vậy cũng không đành tâm nói tới chuyện đó.
Tư Cầu biết phần mình nói với người nhà cũng không xong như phần của Phấn, nên bọc xuôi theo:
– Em nghĩ như vậy là phải lắm rồi. Mấy năm nay, anh thấy bác Bảy đau lên đau xuống hoài… thiệt tội nghiệp quá! Em hổng nói cái chuyện đó ra là… nên lắm!
Phấn làm thinh. Tư Cầu dụ dự một hồi rồi hỏi:
– Bộ… hổng êm rồi bác Bảy giữ riết ở tròng hổng cho ra ngoài nầy nữa hả?
Phấn gật đầu. Tư Cầu cũng thở ra:
– Hèn chi hổm rày em mất tiêu hổng thấy ló dạng ra ngoài nầy nữa!
– Thì bà già bả sợ em xáp lại anh nữa nên bả canh riết lắm, hổng đi đâu được hết. Bữa nay nhờ trời mưa. em làm bộ đi cầu rồi dông luôn ra đây. Trời nầy thì biết sợ ai nom theo mình nên vững bụng lắm!
Rồi Phấn lại hỏi Tư Cầu. giọng hờn mát:
– Còn anh, anh hổng thấy em ra rồi cũng ở biệt luôn ngoài nầy chớ hổng thèm vô thăm nom gì hết hả?
Tư Cầu cự nự:
– Hứ, hổng biết cái mốc xì gì hết mà cũng nói! Anh có vô trỏng mấy lần, đi qua đi lợi trước nhà em mấy bận mà có thấy em ló mặt ra để hỏi thăm, hỏi nom!
– Vậy hả?
– Có bữa, anh tính vô đại, nhưng rồi cũng đứng xớ rớ đằng trước một hồi, kế thấy anh Hai của em đi ra, anh hoảng kinh đi luôn một hơi…
– Ừ phải, chớ anh đi vô càn, rủi bà già bả gặp được, bả chửi cho thục sinh!
– Bác Bảy có chửi thì mình cũng ráng vảnh lỗ tai nghe chớ ngán cái nước bác đem méc tía anh thì thấy bà! Ổng đã mần anh một trận quá xá!
Phấn tò mò hỏi:
– Ủa, bộ bác trai ở bển hay hết công chuyện của mình rồi hả?
– Chớ sao! Má anh có nói chuyện với ổng rồi, cho nên bữa hổm, ổng kêu anh dìa cạo sát ván. Ổng nói từ rày sấp lên hễ anh mà còn làng chàng với em nữa, ổng gặp đâu ổng giết đó!
Phấn cười bảo:
– Ối ổng hăm he vậy, chớ hổng lẽ làm thiệt sao mà sợ!
– Ý em hổng biết tánh ổng! Ổng nhậu vô ba ngù rồi ổng dám “rang” mình thiệt chớ hổng phải chơi đâu!
Phấn khoanh tay gác lên đầu gối, rồi vừa đong đưa thân mình, vừa nhịp nhịp đôi bàn chân, mắt nhìn vào những giọt mưa nối tiếp nhau từ trên mái lá rơi xuống…
Tư Cầu thấy cô có dáng suy nghĩ nên không dám nói thêm nữa. Một hồi lâu Phấn mới lên tiếng:
– Phen nầy tụi mình ắt phải tính đến cái kế đã bàn hôm trước…
Tư Cầu ngồi ngay lại:
– Kế gì đó?
– Kế… cuốn gói chớ còn kế nào nữa!
– Bộ em tính trốn thiệt hả?
Phấn nhìn anh ta hỏi lẫy:
– Chớ còn thứ nào trốn “chơi” nữa. anh làm ơn nói thử nghe coi!
Tư Cầu ấp úng đáp:
– Thì em nói… thình lình quá nên anh hỏi vậy mà!
– Xí! Bàn tính lại cả trăm, cả ngàn lần rồi mà còn thình lình cái nỗi gì lữa!
Tư Cầu không biết trả lời làm sao đành nín thinh giơ tay gãi đầu…
Phấn nhìn anh ta không vừa lòng chút nào, rồi bực dọc nói tiếp:
– Cũng vì chuyện đó mà bữa nay em dầm mưa ra cho anh hay để anh sửa soạn trước đó!
Tư Cầu hỏi liền:
– Ủa, bộ tính gấp lắm sao?
– Hổng biết gấp hay trễ gì hết, hễ có dịp thì mình dông liền; bởi vậy nên anh phải lo đâu đó cho sẵn đi, chớ đến chừng đó anh cự nự nầy nọ hay đổ thừa bị tại gì thì hổng được đâu nghen! Cái gì em cũng nói trước hết, anh có ưng thì theo, không thì thôi chớ đừng để lâm chuyện rồi sanh chướng bất tử cho sọc dưa hết thì đừng trách sao em nầy nọ đa!
Nghe Phấn buộc ngặt như vậy, Tư Cầu không biết nói làm sao đành ừ hữ xuôi theo:
Phấn vẫn chưa chịu:
– Cái gì anh cũng ừ càng, ừ mạng hết! Để nữa rồi anh bỏ xuôi lơ hết thì anh biết!
Tư Cầu lớn tiếng:
– Thì người ta nói “ừ” rồi hổng chịu nữa sao? Biết cái gì nữa chớ hả? Có vậy mà cằn nhằn cửi chửi hoài như chó cạp miểng vùa!
Phấn bĩu môi:
– Cha, giỏi quá há! Muốn biết cái gì thì để nữa rồi hay, chớ bây giờ đừng cô giỏi câu mâu…
– Bà xẹt đứa nào câu mâu tự nẩy giờ đó!
Phấn nghe Tư Cầu thề ngang như vậy hết giận, cười xòa:
– Thôi đừng thề ẩu!… Bà có xẹt anh thì em ở với ai hả cưng?
Tư Cầu được nư nên vẫn ngồi xụ mặt xuống đó. Phấn nhích lại gần, dơ tay vuốt ngực anh ta và nhõng nhẽo nói:
– Thôi vuốt giận đi cưng!… Để rồi em thưởng cho! Bộ em dầm mưa lội vô đây để ngồi cãi lộn hay nói dần lân khan vậy thôi hả?
Thấy Tư Cầu mặt mày vẫn còn chù ụ, Phấn làm bộ xô nó ra:
– Vắng mặt người ta cả tuần nay, bộ anh hổng nhớ, hổng thương, hổng… thèm hả?
Nói đến đó, cô ôm ghịt lấy Tư Cầu, mắt long lanh, giọng lẳng lơ hỏi dồn thêm:
-… Bộ anh hổng thèm em hay sao, anh Tư?
Một cơn gió lùa qua làm hắt mưa lên rìa nóp. Phấn rùng mình ghì sát vào lưng Tư Cầu:
– Ý lạnh quá anh Tư! Anh ngồi xê vô trong nầy một chút chớ quay mặt ra ngoài ướt hết còn gì!
Tư Cầu giận hết nổi. Đến chừng đó, anh ta mới cảm thấy mưa lạnh ngoài trời và làn da nóng hổi phía sau lưng… Anh ta quay phắt lại, choàng tay thịt lấy cổ Phấn.
Cả tuần nay, Phấn “cấm cung” trong nhà nên nước da mặt, da cổ nhả nắng hết và vì lạnh nên trắng xanh.
Mấy sợi tóc ướt dính sát trên trán, trên má của Phấn. Tư Cầu khẽ lấy đầu ngón tay khều ra và vuốt lại cho xuôi theo mái tóc của người yêu; đến bữa nay anh ta mới để ý tới những sợi lông măng mướt rượt dính sát theo vành tai hồng hồng của Phấn.
Mới cách nhau có một tuần lễ mà sao Tư Cầu thấy Phấn mới mẻ vô cùng: Một con Phấn xinh đẹp hơn. nồng nàn hơn, tình tứ hơn!
Cũng đôi mắt, cũng đôi má, cũng đôi môi, cũng thân hình ấy mà anh ta tưởng chừng như quá quen thuộc, thì bữa nay, bỗng nhiên lại quá khác và như… mới tinh!
Tư Cầu hồi hộp lạ lùng, hồi hộp y như lần đầu tiên đêm nào Phấn đưa chân đạp ngã cây rọi mù-u! Hồi hộp nhưng hết còn nhát sợ nữa! Bên ngoài, trời mưa mỗi lúc một thêm to.
Tư Cầu cúi xuống hôn rất lâu lên má của Phấn… rồi chậm rãi hôn lại một cái nữa. Xong anh ta ngửng đầu lên, mỉm cười nói:
– Ừ, bữa nay thơm mùi xà-bông Cô Ba quá, chớ hết… khét nắng như mọi khi!
Phấn giơ hai tay quàng lấy cổ Tư Cầu rồi buông người nằm ngã xuống kéo anh ta theo. Mở mắt he hé, Phấn hỏi nhỏ lại:
– Như vậy, anh có chịu hông?
Tư Cầu vừa gật đầu. vừa úp mặt xuống vai người yêu… Phấn khúc khích cười rồi lấy tay nâng mặt Tư Cầu lên bảo:
– Anh chịu khó ra xập tấm cà-rèm xuống hông thôi mưa tạt ướt hết… Rồi mau vô đây với em nghen!
Tư Cầu cằn nhằn:
– Thây kệ nó mà! Tạt đâu mà tạt hổng biết nữa!
Phấn xô nhẹ anh ta ra:
– Giỏi đi cưng… Mau đi rồi vô đây em mắc đền cho!… Bộ mất mát gì sao mà sợ hổng biết…
Tư Cầu vùng vằng đứng lên, bước nhanh lại lấy tay hất cái cây chống tấm cà-rêm xập xuống nghe một cái rầm, rồi chạy ào vô.
Phấn nằm trên nóp giơ tay đón anh ta và nói:
– Dữ hông!… Đó, bây giờ có giỏi làm gì thì làm đi, ai cản…
Không có lần nào hai đứa nó yêu nhau một cách vừa cuồng nhiệt, vừa đậm đà như vậy. Có lẽ một phần để đền bù cả tuần xa cách và một phần để gắn bó nhau trong quyết định “bỏ trốn” mà hai người đã bàn nhau ban nãy…
Phấn sẽ rút tay ra, nâng đầu Tư Cầu đặt xuống đệm và hết hoảng kêu lên:
– Ý trời, tạnh mưa hồi nào mà hổng ai hay hết!
Tư Cầu nhướng mắt lên:
– Tạnh đâu mà tạnh! Còn mưa lắc rắc đó bộ em hổng nghe sao?
Phấn hấp tấp đứng dậy vói tay quơ lấy bộ quần áo bị ướt mưa đem phơi gió đỡ hồi nãy.
Tư Cầu níu cô kéo xuống:
– Làm gì mà gấp dữ vậy? Để cho bộ đồ nó ráo một chút và chờ cho mưa dứt hột rồi hảy dìa…Vô đây nằm ủ một chút chớ đứng vậy lạnh chết đa nghen!
Phấn vừa thay quần áo vừa cười ngạo Tư Cầu:
– Cha, tốt bụng quá há!… Bộ bấy nhiêu đó chưa… đã thèm sao hả cưng?
Rồi cô chạy lại lấy ngón tay xỉa vào trán Tư Cầu nhiếc yêu:
– Anh coi vậy mà dữ lắm nghen!
Tư Cầu với tay định nắm giữ Phấn lại, nhưng cô ta đã chạy vọt ra phía cửa quơ lấy cái nón lá rồi xô hé tấm cà-rèm để đủ chui lọt người ra ngoài. Tư Cầu lồm cồm ngồi dậy kêu giựt ngược lại:
– Khoan dìa đã Phấn!
Phấn ngừng lại:
– Gì nữa đó tía non?
Tư Cầu chạy đến hỏi:
– Bữa nào ra đây nữa hả em?
Phấn cười đáp:
– Anh hỏi vậy, ông nội ai trả lời cũng hổng được! Bà già bả giữ riết lắm, tiện lúc nào em vọt ra lúc nấy chớ có biết đâu mà nói trước được… Mà cũng hổng chắc gì ra thường đâu, em nói trước để anh khỏi mong. Năm thuở mười thì mới có một đám mưa lớn như vầy, chớ bộ ngày nào ông Trời ổng cũng… mưa cho tụi mình một đám như vầy sao?
Tư Cầu sa sầm mặt xuống:
– Cha, lâu quá ai đợi nổi!
Phấn đưa tay quết má anh ta:
– Thì đó, em cũng nghĩ như vậy nên mới tính kỳ nầy nếu hổng êm thì hai đứa mình… dông luôn. Thôi em dìa nghen! Chớ để trễ quá bà già bả sanh nghi sai anh Hai ảnh bò ra đây kiếm thì chết dính chùm hết hai đứa.
Đi được vài bước, cô còn đứng lại nói với với Tư Cầu:
– Ở ngoài nầy, hễ anh có nhảy mũi tức là em nhắc lầm thầm anh đó nghen!
Tư Cầu mỉm cười gật đầu rồi cũng ráng dặn thêm:
– Nếu có ra được thì ra liền nghen em!
Phấn “ừa” một tiếng lớn rồi phăng phăng chạy đi lội xuống ruộng…
Tư Cầu thở dài nhìn theo.
Một luồng gió tạt qua hắt nước mưa vào thân mình trần trụi của Tư Cầu làm anh ta ớn lạnh.
Anh ta vội so vai rút cổ chạy thụt vào trong. Tư Cầu thờ thẫn nhìn chiếc nóp xiên xẹo trong góc chòi. Chưa bao giờ anh ta thấy căn nhà trống trải một cách… chán chường như vậy…

°   °
°

… Trưa hôm đó, trong lúc Tư Cầu ngồi vót lạt tre thì thằng Năm em nó hớt hơ hớt hải chạy ra. Chưa tới nơi, nó đã réo hồi một:
– Anh Tư ơi anh Tư! Sửa soạn mau đi rồi dìa trong.
Tư Cầu vội bỏ cái mác xuống chạy ra hỏi:
– Chuyện gì đó hả?… Thì cái gì mầy nói cho tao nghe coi, chớ chưa chi đã kêu dìa là dìa làm sao?
Thằng Năm đứng thở dốc một hồi rồi lập cập đáp:
– Má chị Phấn chết rồi…
Tư Cầu sửng sốt nắm lấy vai của em nó lắc đi lắc lại và hỏi lại:
– Mầy nói sao? Má con Phấn chết rồi hả?
– Ừ má chỉ chết rồi anh Tư à!
– Mà bác Bảy chết hồi nào mà bây giờ mầy ra cho tao hay vậy?
– Nghe đâu mới hồi tưng bửng sáng nầy.
Tư Cầu lẩm bẩm một mình:
– Thiệt mau quá… mới đây con Phấn nó nói bà già đau nặng, mà bây giờ lại chết rồi…
Thằng Năm làm tài khôn:
– Ối bịnh già như… ngọn đèn trước gió, tắt nay tắt mai gì hổng được!
Tư Cầu lườm nó:
– Mấy biết cái mốc xì gì mà cũng xía vô hổng biết!
Rồi anh ta hỏi luôn thằng Năm:
– Mà ai kêu mầy cho tao hay vậy hả Năm?
– Tía chớ ai!
Tư Cầu thò lò con mắt hỏi:
– Tía hả? Mà sao ổng lại biểu mầy ra đây cho tao hay cà?
– Hổng phải cho anh hay không đâu mà còn kêu anh dìa gấp ở trong nữa!
– Tao dìa làm cái gì mới được chớ? Mầy có nghe tía nói sao không?
– Thì tía sai tui ra đây mà hổng “nói” sao được! Tía biểu anh dìa để qua phụ giúp dọn đẹp bên đám ma đó!… Ở trỏng chòm xóm lại phụ rần rần. Mới đây mà họ đã chặt tàu dừa dựng rạp trước nhà rồi đó… Nghe nói đám ma nầy làm xôm lắm anh Tư à!
Tư Cầu nhăn mặt:
– Làm chi hổng biết! Chết rồi thì không đi chôn phứt cho rồi còn bày đặt chi cho rắc rối thêm hổng biết! Mà ai đứng lo cái đám ma nầy mầy có biết hông?
– Có ông bác gì của chị Phấn lên lo đó mà!
– Ờ nếu vậy thì Phải rồi… Mà người ta đã mần xong đâu đó hết rồi, tao còn vác cái mặt vô đó làm gì nữa.
Thằng Năm nhún vai đáp:
– Ai biết đâu! Tía biểu kêu anh thì tui kêu anh…
Ngẫm nghĩ một hồi, nó nói tiếp:
– Chắc tía kêu anh qua phụ mần gà, mần vịt chớ gì… Người ta đến ì ì ở bên thì cũng phải đãi đằng chớ!
Tư Cầu gật đầu:
– Mầy nói cũng có lý… À, mà từ hồi sáng tới giờ, mầy có thấy con Phấn không hả?
Thằng Năm mau mắn đáp:
– Ý chút nữa tui quên khuấy đi mất!… Ối thôi anh ôi, chị Phấn chỉ khóc bù lu bù loa. Chỉ có biểu kiếm cách nhắn vô cho anh rằng chỉ cũng muốn gặp anh gấp lắm… Hổng biết chuyện gì vậy anh?
Tư Cầu hỏi lấp:
– Sao mầy không hỏi nó mà đi hỏi tao? Cái thằng nầy kỳ cục quá!
Thằng Năm sượng lại và tìm cách nói lảng:
– Thôi tui dìa trước nghen! Anh nhớ vô gấp nghe anh Tư! Tía biểu tui nói với anh vậy đó!
Thì mầy chờ tao một chút để tao coi sơ qua ba con vịt rồi dìa luôn một lượt hổng được sao!
– Anh mần cái gì thì mần xăng lên đi, tui đợi cũng được… chớ có dìa trước một mình ông già ổng hỏi bất tử… ngầy ngà lắm!

°   °
°

Về đến nhà. Tư Cầu đi thay một bộ đồ bà ba đen vải ú lành lặn để sang bên nhà bác Bảy.
Thằng Năm lúc thúc đi theo sau để qua coi như bao đứa trẻ khác trong xóm đã chộn rộn bên ấy từ sáng, nhứt là bọn chúng đã chầu chực ở dưới nhà sau để chờ làm heo giành xin bong bóng mang về thổi phơi khô đá banh chơi…
Đến nơi, Tư Cầu ngó quanh quất tìm xem Phấn ở đâu. Anh ta thấy Phấn mắc lo tiếp họ hàng bà con ở nhà trên nên không tiện nói năng chi hết.
Tư Cầu làm bộ đi xớ rớ lên để Phấn trông thấy. Anh ta vừa trở lên là Phấn biết ngay, sẽ gật đầu như… chào khách:
– Anh Tư mới qua…
– Dạ, tui mới hay nên vội vã qua liền đây.
Phấn liếc nhìn anh ta lấy mắt ra hiệu rồi thản nhiên nói:
– Chực chiều nay sau khi phát tang xong, tui sẽ nhờ anh Tư coi dùm cho việc mần thêm gà vịt để đãi bà con tới đi đám…
Tư Cầu khẽ gật đầu:
– Dạ được! Cô Ba để tui lo việc đó cho, có cái gì cần thì cô Ba cứ biểu… đừng ngại gì hết…
– Thiệt cám ơn anh Tư nhiều lắm.
– Dạ hổng có chi… chòm xóm láng giềng nhau thì chỉ nhờ nhói trong mấy cái lúc nầy, bởi vậy người ta thường nói: nhứt cận thân, nhì cận lân… (Tư Cầu nhớ đến câu nầy trong bài vọng cổ vô dĩa: “Mẹ khuyên con về nhà chồng” nên đem ra xài luôn)
Tư Cầu nói xong là quay đi qua gian nhà bên để cho Phấn còn tiếp khách đến thăm viếng và chạy lên chạy xuống trông nom việc nước nôi trà lá hoặc chi tiền để mua sắm thêm món này món nọ cần thiết trong lúc ma chay.
Vừa quay đi, Tư Cầu suýt bật cười lớn lên khi nó nghĩ rằng: sao bữa nay nó ăn nói… chững chạc quá đỗi! Có lẽ khi người ta có một chủ đích gì rõ rệt thì trong bụng cũng hết đánh… lô tô!
Đến gian nhà bên, Tư Cầu thấy mấy người trọng tuổi đang lo tẩm liệm bác Bảy. Một đống bông gòn vấn kèn trong giấy súc chất bên cạnh chiếc hòm sơn đen dở sẵn nắp…

°   °
°

Tư Cầu đang ngồi làm vịt trên cây cầu dừa dưới mé sông thì đã nghe kèn trống nổi lên trong nhà. Chắc là lễ phát tang bắt đầu…
Tư Cầu vừa lấy dao cạo mề vịt vừa suy nghĩ đến lời nói “nhắn xéo” của Phấn hồi trưa nầy: không biết Phấn muốn gặp riêng để nói chuyện gì…
À hay là Phấn sắp bàn với nó là chuyến này khỏi phải đi đâu hết. Bác Bảy nhắm mắt rồi thì còn ai cản mũi cản lái gì nữa mà sợ! Nếu được như vậy thì êm… quá!
Tư Cầu lo nghĩ miên man như vậy và để bầy cá lòng tong rỉa rút mất chùm ruột non của con vịt hồi nào mà không hay. Anh ta dơ con dao yếm chém mấy cái xuống mặt nước làm bầy cá lòng tong nhảy tứ tung, nhưng rồi cũng bu lại để kiếm mồi hoặc ăn móng đầy rật ở xung quanh đó.
Tư Cầu bỏ con vịt vừa làm xong vào rổ xúc, rồi quơ lấy con vịt khác nhổ lông.
Vừa lúc đó, Phấn ở trên nhà đi xuống dưới mé sông.
Tư Cầu nhìn sững Phấn trong bộ đồ vải sô trắng rộng thùng thình, đầu vấn khăn tang… Trong bộ đồ ấy, Phấn cô vẻ gầy ốm, bệ rạc hơn hồi còn ở ngoài đồng nhiều.
Đôi mắt cô đỏ hoe và khi nhìn thấy Tư Cầu, miệng cô méo xệch và sụt sịt khóc…
Tư Cầu thấy thương hại vô cùng. Tay cầm con dao, tay xách cổ vịt, nó đứng sững dậy để đón Phấn.
Anh ta định tìm một vài lời gì an ủi người yêu nhưng lại lúng túng, để rồi nhăn nhó nhìn trân Phấn với một vẻ mặt vô cùng xót cảm. Phấn cũng vẫn đứng gục đầu xuống khóc thút thít.
Một hồi lâu, Tư Cầu mới lên tiếng:
– Thôi nín đi em, người ta ai già thì cũng phải…
Anh ta chưa nói dứt lời thì Phấn khóc rống lên. Tư Cầu nhìn cô ta van lơn:
– Thôi mà em… em làm quá thiên hạ họ nghe họ bu lại thì… mệt lắm! Mà em tính gặp anh để nói chuyện gì đó?
Nghe nói vậy. Phấn cũng ráng nín lại và lấy vạt áo đưa lên lau nước mắt rồi hỉ mũi. Xong cô ta nhìn Tư Cầu:
– Anh Tư à, má em mãn phần rồi đó… như vậy đã đến lúc tụi mình phải lo toan cái chuyện đã bàn với nhau hôm trước…
Tư Cầu ái ngại:
– Sao em hổng để thủng thỉnh rồi mình tính sau việc đó, chớ bây giờ ma chay còn ề ề ra đó mà mình nghĩ vậy cũng… không phải đạo cho lắm em à!
Phấn rầu rầu đáp:
– Em cũng biết vậy lắm chớ phải không đâu. Nhưng đằng nào em cũng có tội bất hiếu lớn lắm đối với má em, dầu mình có đợi thêm năm bảy tháng hay cho đến mãn tang đi nữa thì cũng vậy thôi anh à… Má em qua đời rồi thì sau này chuyện gì cũng phải qua tay bác Năm em hết. Bác là người đằng cựu nên gắt gao với con cháu lắm… Thôi thì trốn sau cũng mang tiếng là trốn, mà trốn trước cũng không khác gì, bởi vậy em tính chờ ba bữa mở cửa mả cho má em rồi tụi mình liệu đường đi luôn anh à!
Tư Cầu để con vịt đang làm lông và con dao vô rổ, khoát nước rửa tay rồi đi lên chỗ Phấn đứng.
Anh ta lắc đầu nói với người yêu:
– Em tính như vậy thì cũng… phải, nhưng mình làm nôn quá trong lúc này thiên hạ họ cười chê thúi óc em à!
– Thì phải chịu vậy chớ biết sao! Mà họ có chê cười thì chê cười em đây hư thân mất nết chớ còn anh thì lo gì!
– Đã đành như vậy rồi nhưng em đâu mà anh đâu? Có gì thì hai đứa mình lãnh đủ hết chớ phải riêng một ai sao! Em nên nghĩ kỹ lại đi em… Tụi mình đi thì cũng có ngày trở về đây chớ bộ bỏ xứ sở biệt dạng hay sao?
– Ối anh hơi sức đâu mà lo xa quá vậy hổng biết! Em nói thiệt, nếu bà già còn sống thì em còn nấn ná ở đây, chớ bây giờ bả qua đời rồi thì đâu có cái gì buộc chân buộc cẳng em nữa được. Nếu mình hổng nhơn cái dịp nầy mà tông đi, lẩn khân lâu ngày chầy tháng đâu đó yên hết, thì chưa chắc hai đứa mình có đi mà trốn thoát được.
– Sao vậy em?
– Vậy mà cũng hỏi! Thì đến chừng yên việc ma chay rồi họ canh riết mình thì em hỏi anh bộ dễ kiếm dịp trốn lắm hả? Mà có trốn được thì bất quá năm ba ngày hay một tuần lễ gì đó họ cũng đi theo chộp cổ dìa hết!
– Ờ phải…
– Thì bị kẹt ở chỗ đó, nên em mới bàn gấp với anh, chớ nếu không thì tội gì mà để cho mang tai mang tiếng thêm cho ngập đầu ngập cổ nữa hả anh!
Tư Cầu không biết nói sao nên đành nín thinh. Thấy vậy, Phấn nói:
– Khi nào dìa nhà, anh nhớ lo sửa soạn đâu đó cho sẵn sàng đi, quần áo đồ đạc gì đó tom góp cho gọn đem dấu lần ở ngoài chòi trước đi, để đến giờ mình đi thiên hạ không ai để ý.
Tư Cầu mau mắn đáp:
– Cái đó thì em khỏi lo rồi! Anh chỉ có bộ đồ nầy là lành lặn đôi chút chớ ba cái kia thì… cá rô rỉa hết. Hễ có đi là anh xách cái thân đi liền chớ khỏi phải sửa soạn gì hết.
Nghe Tư Cầu nói vậy, tuy buồn đứt ruột, Phấn cũng phải mỉm cười:
– Như vậy thì tiện lắm… Nhưng anh cũng chẳng cần gì mang theo ba cái đồ rách chi cho nó kình càng thêm. Để khi ra tới chợ rồi, em lo sắm quần áo khác cho anh, chớ chẳng lẽ lên Sài gòn mà anh cứ vác ba cái bộ đồ phèn ở ruộng lên đi ngờ ngờ coi sao được. Ăn bận như vậy đi lên phố xá thị thành, thiên hạ họ để ý xăm xoi đến mình lắm anh à!
– Vậy hả! Cha, cái điệu đó thì ở chợ họ cũng… rắc rối dữ há! Nếu em nói vậy thì mình may sẵn đồ mới ở đây trước đi cho nó tiện.
– Em lo là lo cho phần anh, chớ quần áo của em thì thiếu gì… Mà cắt trước cho anh ở đây sao được! Anh mà lo le đi may quần áo mới ở đây thì càng chết nữa! Em nói để em bao hết cho mà! Tới chừng ra đến chợ rồi, quần áo họ may sẵn bán thiếu gì!
Tư Cầu do dự một hồi rồi nói:
– Em tính vậy thì tươm tất lắm rồi, nhưng phải chi em đợi làm tuần xong cho bác Bảy rồi hãy đi cho nó cách hơi… xa xa một chút hả em?
Phấn ngẫm nghĩ rồi đáp:
– Nếu anh muốn vậy thì… cũng được, chớ phần em thì em muốn đi liền. Chớ ba ngày hay bảy ngày thì cũng vậy.
Tư Cầu không biết an ủi Phấn ra sao, chỉ đứng lựng khứng ở đó, rồi lắp bắp nói:
– Em nói vậy cũng phải. Bây giờ bác Bảy nằm xuống rồi chắc bác cũng hỉ xả cho tụi mình… Anh thường nghe người ta nói: hễ nhắm mắt buông tay là hết, là bỏ qua hết thảy… Em có thương nhớ má em thì em thương nhớ để trong bụng, chớ bộ phải ở miết lại đây mới thiệt là thương, là nhớ đâu!
Phấn nghe nói vậy xúc cảm khóc mùi rồi mếu máo nói:
– Thiệt em chỉ làm khổ cho má em thôi. Như anh có đi, thì mai sau nầy có làm ăn khá giả còn trở về đền ơn báo nghĩa với hai bác ở nhà được, chớ còn em… em thiệt bạc phước hơn nhiều, làm sao mà má em sống dậy nữa được….
– Thôi đừng khóc nữa em… người ta ai cũng có số mạng hết. Ông trời bắt sao thì mình chịu vậy…
Vừa lúc ấy, kèn trống lại nổi lên trong nhà. Phấn lấy vạt áo lau nước mắt rồi nói:
– Chắc có ai đến đi cúng vậy để em chạy vô mới được, chớ tự nãy giờ em ra ngoài nầy lâu quá!
Tư Cầu gật đầu.

°   °
°

Lật bật mà đã tới ngày làm tuần đầu cho bác Bảy.
Nhơn dịp nầy Tư Cầu cũng qua xớ rớ bên nhà Phấn để phụ giúp công việc dọn dẹp, đãi đằng và cố nhiên cũng là để nghe ngóng… tình hình. Tư Cầu không dám qua sớm sợ đụng đầu với tía anh ta, mà chỉ sang đúng vào lúc cúng chiều. Anh ta lần mò lên nhà trên và xen vô đứng gần đám cúng.
Trên bàn thờ đèn nến sáng trưng, khói hương mịt mù, trái cây đồ ăn bày đăng đăng đê đê…
Phấn quỳ trên chiếu với chị dâu, sau lưng anh Hai cô đang đội sớ, trong lúc ông thầy ê a xướng lễ…
Tư Cầu cố ý đứng dình dàng ra để cho Phấn trông thấy.
Quả nhiên cô này liếc lên bắt gặp anh ta liền, nhưng rồi lại cúi gầm mặt xuống như không để ý đến.
Lễ tất, đốt sớ, đốt vàng bạc, nhà minh khí, quần áo giấy….
Nhìn ngọn lửa bừng bừng cháy đưa từng bựng khói đen trên khoảng không, Phấn bỗng nhiên khóc thút thít. Cô khóc vì cảnh từ biệt của má mình thì ít, mà chính là khóc vì sấp phải cáo biệt người chết để ra đi thì nhiều…
Hôm nay đã đến kỳ hẹn của cô ta với Tư Cầu về việc ra đi. Một kỳ hẹn mà Phấn đã có lúc muốn cho sớm hơn nữa, nhưng đến khi tới, cô không khỏi thấy đau xót trong lòng, đau xót hơn cả lần cô cầm từng khối đất sét ướt buông cho rơi xuống nấp quan tài của mẹ đã đặt yên dưới huyệt sâu…
Đống tiền vàng bạc, nhà minh khí, đồ mả… chỉ còn là mớ tro lấm tấm chút lửa tàn. Anh Hai của Phấn chạy lên bàn thờ lấy nhạo rượu đem xuống chế lên mớ tro tàn ấy cho nó tắt ngỏm…
Xong xuôi đâu đấy, người lớn mời nhau, trẻ nít rủ nhau xuống nhà dưới ăn chè đậu, cơm nếp lót dạ…
Thừa lúc mọi người chộn rộn dưới nhà sau, Phấn khều Tư Cầu rồi đi luôn ra sau hè. Tư Cầu liếc mắt thấy không ai để ý bèn rảo bước theo. Trời đã tối hẳn tự lúc nào…
Tư Cầu đang dào dác tìm Phấn thì nghe cô ta gọi nho nhỏ:
– Em đây nè anh Tư!
Tư Cầu đi ngay lại bụi chuối hột, tàu lá um tùm khiến cho chỗ Phấn đứng đã tối lại càng tối thêm.
Đứng bên Phấn, Tư Cầu hồi hộp hỏi liền:
– Sao, chuyện gì đó em?
– Bộ anh quên ngày hôm nay là ngày gì rồi sao?
– Cái gì mà quên! Hôm nay đã đến kỳ mà mình bàn tính hôm trước chớ gì!
– Anh còn nhớ như vậy cũng khá! Em tưởng anh quên tuốt luốc rồi chớ!
– Ý trời, cái chuyện gắt mấu như vậy mà quên nỗi gì! Sao em, em đã định như thế nào chưa?
– Còn định cái gì nữa! Bữa hổm anh nói để qua đám tuần hẳn đi, thì bây giờ cúng quảy xong rồi đó, mình chỉ có nước là dông gấp. Mà sao anh hỏi vậy, bộ tính dây dưa lần hồi nữa sao hả?
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Thì ai nói gì đâu, đi thì đi chớ bàn tán gì nữa. Mà em đinh chừng nào mình khởi sự đây?
– Sáng sớm ngày mơi chớ còn đợi ngày nào nữa?
Tư Cầu hỏi lại:
– Sáng sớm mơi nầy hả? Cha, cận quá há!
– Đọ coi… bộ tính bàn ra cho ăn trét nữa hay sao chớ? Em nói thiệt, anh không đi thì thây kệ anh chớ em đã nhứt quyết rồi. Chuyến này thì khỏi có ai níu kéo hay năn nỉ ỉ ôi gì nữa được nghen!
– Muốn mơi đi thì đi chớ ai nói gì đâu mà em nói hành nói tỏi hổng biết.
Phấn bình tĩnh nói thêm:
– Đi gì mà nghe anh nói cái giọng xuôi lơ thiệt hết ham. Đây nè, anh suy nghĩ kỹ lần chót đi, chớ để nữa rồi nói là bị một bắt ép hổng được đâu nghen! Hai đứa mình bề gì cũng người lớn rồi, chớ hổng phải mỏ ác còn dính cứt trâu đâu mà nữa rồi đổ thừa đổ bồi nầy nọ…
Tư Cầu xẩu mình ngắt ngang:
– Thôi, thôi… người ta đã nói “đi” mà sao em kiếm chuyện cằn nhằn hoài vậy cà!
– Nói vậy mà cằn nhằn hả? Mà thôi sáng mơi đi sớm đó nghen!
– Ừ đi sớm. Mà anh vô đây chờ em hay em lội ra ngoải kêu anh hả?
– Vô đây làm cái gì! Anh cứ sửa soạn sẵn ở trỏng đi, lối gà gáy canh tư hay sớm hơn nữa thì có em vô rồi mình đi luôn. Mà anh có giấy tờ gì lận lưng không?
– Có ba tờ giấy quyến vấn thuốc đây chớ hổng có khỉ khô gì khác nữa…
Rồi anh ta đâm lo hỏi thêm:
– Nghe nói đi đường thì lính quận, còn lên Sài gòn thì lính mã-tà hay xét bắt giấy thuế thân lắm phải không em?… Cha. Cái điệu nầy bị mấy ổng chận lại thộp cổ đóng trăn hay bắt đi làm xâu thì nguy quá. Hồi nào tới giờ anh chưa lấy giấy thuế thân, ông già ổng nói chưa đủ tuổi với lại tiền bạc hổng có, vác đem đi đóng một lần mấy đồng bạc thì kẹt quá!… Mà thuở giờ mình cứ ru rú ở xó ruộng xó rẫy chớ có thò mặt đi đâu mà giấy với tờ!
Phấn “trấn an” nó:
– Em hỏi là hỏi vậy chớ hổng sao đâu. Rủi có ai hỏi thì bất quá mình cứ nói đại là chưa đủ tuổi chớ lo gì!
Tư Cầu còn thắc mắc:
– Nhưng rủi họ hổng tin rồi làm sao?
– Ối sao anh cứ lo bao đồng hoài! Thì họ nhìn cái mặt mình còn non xoẹt thì họ cũng phải biết chớ. Mà cái việc nầy dễ ợt, rồi đây thế nào em cũng lo đóng phứt cái thuế thân cho anh.
– À mà hồi nãy, em nói để em vô chớ anh khỏi ra ngoài này. Sao kỳ vậy? Anh tưởng đi thì mình ra ngoài sông cái đón tàu Phước Châu dưới Cầu Kè lên giấc khuya để đi thẳng lên Cần Thơ luôn rồi tính đi đâu nữa thì đi, chớ em tính lội trở vô trong đồng tréo đường hết rồi làm sao?
Phấn “xì” một tiếng rồi đáp:
– Lâu lâu anh chịu khó “tính” một cái mà cũng chẳng ăn nhằm gì ráo! Bộ em điên khùng gì mà hổng biết ra đón tàu dưới Cầu Kè lên để đi cho tiện hay sao? Nhưng nếu tiện cho mình thì cũng tiện cho thiên hạ. Mình mà xớ rớ ra ngoài vàm đón tàu thì chém chết cũng có đứa đi vô học lại, mà người nhà có đi kiếm thì cũng dễ hỏi phăng ra để theo kịp lôi cổ mình dìa. Mình mà có đi rồi thì thế nào họ cũng cho là mình xuống tàu Phước Châu chớ không có trợt đi đâu hết! Anh nghĩ coi em nói như vậy có đúng hông.
Tư Cầu mau mắn đáp:
– Ừ phải rồi đa! Nhưng nếu vậy thì mình đi bằng cách nào bây giờ?
– Còn có cách khác chớ! Bởi vậy nên em mới kêu anh chờ sẳn ở trỏng để em vô rồi hai đứa mình cùng đi…
– Nhưng nếu mình hổng đi đường tàu để lên Cần Thơ thì tính đi đâu?
– Thì trước hết mình cũng phải lên Cần Thơ rồi mới lên Sài gòn sau. Theo em tính thì hai đứa mình phải đi sao cho ngoắt ngoéo để rủi có ai đi kiếm cũng hổng mò cho ra được. Sáng mới em vô trong anh sớm rồi mình lội băng đồng qua mé La Ghi đón xe đò đi về Trà Ôn. Sau đó, từ Trà Ôn mình quá giang xe đi luôn Cần Thơ. Chừng tới trên rồi mình sẽ liệu tính sau… Anh coi em tính như vậy có được không?
– Chà, em tính cái gì rắc rối quá… mà thôi như thế cũng được? Có rắc rối như vậy thiên hạ mới hổng biết đâu mà lần.
Tư Cầu do dự một hồi rồi hỏi thêm Phấn:
– À, mà em có cụ bị sẵn chút đỉnh tiền nong gì theo không? Chớ anh nói thiệt, phần anh, anh chỉ vác cái mình không đi thôi đa nghen!
Phấn gượng cười:
– Ối tưởng cái gì chớ việc đó anh khỏi phải nhắc. Em có tom góp theo được ba mớ tiền để dành riêng của em: tiền cho bạc lúa, cho heo nuôi rẽ đó mà! Cha, còn còn kẹt bầy vịt của em giao cho thằng Tư coi ở trong nữa. Bị gấp quá chớ phải để thủng thỉnh em tìm mối bán phứt đi thì mình cũng thêm được số tiền khá bộn nữa!
Tư Cầu nói đưa hơi theo:
– Ừ, nội bao nhiêu đó cũng đủ xài rồi!
– Biết sao đủ sao thiếu! Bộ anh nói mình đi năm ba bữa, một tuần gì sao mà tính được chuyện thiếu đủ. Mình phải nghĩ phòng xa đến mấy tháng mình ăn dầm nằm dề ở trên Sài gòn nữa chớ! Đâu chắc lên trển là mình có công ăn việc mần liền… Bởi vậy nên ngoài số tiền riêng em còn gói đem theo một mớ vàng vòng cũng kha khá anh à…
Tư Cầu nói giựt ngược:
– Ý làm vậy hổng nên đa em! Tiền riêng của em thì em đem theo gì đó thì đem, chớ vàng bạc ở nhà em tóm luôn nữa thì… kỳ lắm! Cái đó là mình có ý… tham gian quá cỡ rồi, và nếu sau nầy cái chuyện tụi mình trốn đổ bể ra, anh Hai em hay bác của em đem thưa kiện thì hổng dễ dúng gì đâu em!
Phấn gạt ngang:
– Ối thôi, đến cái nước nầy mà anh còn e sợ như vậy thì hết chỗ nói! Mình túng thế thì phải liều chớ bộ như không mà ai muốn vậy hay sao?… Mà anh nói kỳ là “kỳ” cái nỗi gì? Nội cái chuyện mình bỏ trốn đây bộ hổng “kỳ” hay sao! Đàng nào cũng lỡ rồi thì cho nó lỡ luôn, chớ cứ cà xịch cà lụi như anh vậy hoài rồi chết chùm cả đám hết cho coi!
Tư Cầu không biết trả lời làm sao nên đành nói xuôi theo:
– Thôi em tính gì đó thì tính… miễn xong xuôi thì thôi. Mà chắc sáng mơi đi thiệt phải hông?
Nghe Tư Cầu hỏi lại như thế, Phấn tức lặng người một hồi, rồi nói sẵng:
– Anh thiệt hết chỗ chê! Người ta đã căn dặn năm lần bảy lượt là sáng sớm mới đi, mà anh còn hỏi đi thiệt hay đi giả nữa! Hay anh hổng muốn đi thì anh ở lợi chớ hổng ai ép! Bộ anh nói con nầy hổng có giò có cẳng sao chớ!
Tư Cầu vội năn nỉ:
– Thì anh hỏi là hỏi… để lo liệu sắp đặt trước công việc ở trong vậy mà… Em đi thì anh cũng đi chớ hổng có em thì anh ở lại đây làm cái gì!
Rồi anh ta than thở:
– Cha, hổng biết mơi anh đi rồi, con trâu và bầy vịt để đó ai biết mà ra trông nom cho nó ăn uống đây!
– Sao mà hổng biết! Anh thiệt khéo lo! Em mà mất dạng trong nhà thế nào họ cũng tủa xua vô trong tìm kiếm. Và khi vô tới trong rồi mà lại hổng thấy anh nữa thì họ biết tụi mình… làm sao rồi! Chừng đó, thế nào mấy bác ở bền hổng sai thằng Năm ra thế anh để chăn trâu, chăn vịt… anh có lo thì lo tụi mình ra đi phen nầy có… chết đói hay không chớ anh lo gì thứ ba con vịt, con trâu sợ hổng có ăn! Mà thử thời anh bỏ phế nó hai ba ngày cũng hỏng sao hết. Nước, cỏ, cua, còng… ê hề đó, lo gì!
Tư Cầu thở dài làm thinh.
Phấn ngóng nhìn vô nhà rồi nói:
– Thôi em vô đây! Anh nhớ dìa trong lo sắp đặt cho sẵn sàng đi nghen!… Mà anh có ghé qua nhà nhớ làm tỉnh chớ đừng chôn rộn cái gì để cho ở bển sanh nghi nghen anh!… Em dặn hờ như vậy chớ chắc hổng ai để ý đâu cái chuyện của tụi mình bất ngờ quá mà!
Tư Cầu thẫn thờ đáp:
– Ừ thôi em vô đi… mơi có vô thì vô sớm nghen em, chớ để sáng bửng rồi mình đi ngờ ngờ vậy hổng tiện.
– Em biết mà!
Rồi nắm chặt lấy tay Tư Cầu, Phấn nói tiếp:
– Anh coi từ trước tới giờ cái gì em cũng ăn ở tận tình với anh hết vậy anh ráng cho em chuyến này nữa thì tụi mình khỏi lo gì nữa hết!… Anh chắc dư biết, đâu phải em muốn chi cái chuyện trốn tránh nầy nhưng ngặt nỗi… hai đứa mình thương yêu nhau thì phải tính sao cho vuông tròn. Với lại em cũng ngán ngẩm cái đời sống ở đây quá. Thôi thì hai đứa mình liều một chuyến cho nở mày nở mặt với người ta…
Tư Cầu cướp lời:
– Hay là cho chết dính chùm với nhau thì cũng vậy!
Phấn siết mạnh tay anh ta:
– Chết dính chùm với nhau cũng được, cũng mát ruột!
Tư Cầu vội giựt tay bịt lấy miệng Phấn:
– Ý đừng nói vậy không nên chớ em! Nói bậy như vậy xui xẻo lắm nghen!
Phấn sẽ gỡ tay nó ra:
– Hứ, anh sao hay tin bá láp hoài!
Vừa lúc đó, có tiếng kẹt cửa và có người lần mò bước xuống bậc thềm nhà để ra sau hè, Phấn kề sát vào tai Tư Cầu nói nhỏ:
– Thôi để em vô… chớ để ai ra ngoài nầy đụng đầu với tụi mình thì đổ bể công chuyện hết. Anh ở lại đi dìa sau nghe anh Tư! Và nhớ cái em dặn dò đó nghen!
Dứt lời Phấn vội chạy tuốt vô.
Tư Cầu đứng lặng yên bên bụi chuối. Như thế, một hồi lâu anh ta mới hay bị muỗi cắn tới tấp nên vội đưa tay đập túi bụi vào khắp mình mẩy từ trước ra sau, từ trên xuống dưới.
Nhưng đến chừng nghe tiếng đập bôm bốp của đôi bàn tay, anh ta hoảng kinh ngó dào dác về phía trong nhà. Thấy đâu đó vẫn êm ru, Tư Cầu vội nhón chân đi lủi trở về nhà…
Qua khỏi rào nhà Phấn rồi, Tư Cầu mới chậm bước lại. Anh thẫn thờ đưa mắt nhìn cảnh vật bao quanh lờ mờ như bóng đêm như muốn gởi lại những lời từ biệt.
Trong đêm tối mà sao anh ta như thấy rõ ràng cảnh vật ấy. Anh ta có thể chỉ được chỗ nào có cái mô đất nhô lên trên đường, chỗ nào có cái bộng cây khô, chỗ nào trên bờ rạch có nhiều hang cá thòi lòi… và khi vừa đặt chân lên chiếc cầu tre bắc qua cái xẻo nhỏ, anh ta liền nhớ ngay đến cái tay vịn gãy cả tháng nay mà không có ai buộc lại.
Tiếng cót két của thân tre trên cầu vang ra khi anh ta lần bước đi qua làm cho anh ta vừa lo âu, vừa bực bội mà cũng vừa xót xa trong lòng…

Chữ và Nghĩa!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Jul 2024

Bà con mình, già già cỡ tui, hồi xưa chắc đều biết các danh hài của sân khấu miền Nam mình như: hề râu Thanh Việt, hề nhựa Thanh Hoài, hề Tùng Lâm, hề Phi Thoàn,  hề Xuân Phát. Mấy danh hài nầy có cách diễn, cách giễu rất duyên và rất riêng. Không ai lẫn vào ai; không y chang, giống đồ hộp sản xuất hàng loạt danh hài như trong nước sau nầy.

Riêng hề Xuân Phát còn là soạn giả cải lương nữa đó. Ðâu hồi ngàn chín trăm sáu mươi mấy gì đó Xuân Phát viết tuồng ‘Tình Chú Thoòng’, diễn trên sân khấu Dạ Lý Hương của bầu Xuân. Hùng Cường, vai chú Thoòng, xuống vọng cổ, phát âm lơ lớ, hịt Ba Tàu. “Ai có răng vàng pể bạc pể đồng hồ hư pán hông?”. Dễ tính như chú Ba… “Hà cái lầy xính xái, nó chọc mình mê gái Việt Nam, chổng khu làm bao nhiêu đưa cho em ăn hết (mà hổng làm vậy thì cách chi để đỉa đeo chân hạc cho được chớ?) Xuân Phát cười mình ‘dại gái’ là viết đúng, chớ hổng có sai thì hà cái lầy cự cãi làm gì!

Tuồng ăn khách quá xá, quà xa. Xu hào rủng rỉnh nên soạn giả Xuân Phát hăng hái soạn thêm tuồng ‘Tình Anh Bảy Chà’ cũng na ná, chỉ chuyển từ chú Ba qua anh Bảy mà thôi. Nhưng lần nầy bị tổ trác (chắc ông quên cúng Tổ!) Anh Bảy Chà do kép Thành Ðược đóng (chắc ngầm đua với kép Hùng Cường); cũng ca vọng cổ, giọng lơ lớ hịt ‘Cà ri Chà’. Nhưng hội Ấn Kiều lại hổng chịu cách Xuân Phát chọc quê như vậy, làm mất mặt bầu cua cả đám Chà Và. Hăm đi thưa Xuân Phát ra ba tòa quan lớn. Rét quá! Xuân Phát đành viết thư dà lỗi tại tôi muôn phần!

Melbourne, thủ phủ đa văn hóa của tiểu bang Victoria, Úc Châu, có hà rầm Ấn Ðộ. Có đứa đội ‘turban’, để râu rìa, nói: “Tui là Sikh chớ không phải Ấn Ðộ.” Vậy Sikh ở đâu?  Nó nói ở gần Ấn Ðộ (He he!). Rồi Ấn Ðộ Bombay; nhưng cữ chữ ‘bom bay’ nầy rồi, (ghê quá mà) bèn đổi thành Mumbai. (Ối cái nào cũng ‘bay’ hết mà bày đặt đổi tới đổi lui chi cho nó mệt? Huỡn quá hè!)Sikh không ăn thịt, chỉ ăn rau. Ấn Ðộ, đạo Bà La Môn (Hindu), không ăn thịt bò. Ấn Ðộ, đạo Hồi, không ăn thịt heo. Người đạo Hồi trước khi giết trừu mần thịt luôn làm nghi thức; giống như bà con miền Tây mình trước khi cắt cổ gà, nấu cháo, xé phai, cũng lâm râm khấn vái cho ‘con gà’ kiếp sau nó đầu thai… thành ‘con vịt’.

Cái thịt đó gọi là ‘halah meat’. Không phải ‘halah meat’ nhứt định không mua. Nên có Chú Ba từ đại lục gom được một mớ kha khá, chạy trốn Hoàng đế Tập Cận Bình qua định cư vùng Coburg, phía Bắc thủ phủ Melbourne. Nơi đây nhiều dân Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Li Băng (Lebanon), toàn theo đạo Hồi, nên không ăn thịt heo; thịt mà chú Ba rất ‘hẩu xực’, coi là ‘quốc nhục’ (nhục là thịt chớ hổng phải nhục nhã đâu nhe bà con). Chú Ba nầy bèn mở cái tiệm bán thịt heo. Nhưng ế nhệ hè. Nhìn qua bên đường, thấy một tay Thổ Nhĩ Kỳ bán thịt không kịp hở tay hè. Nhìn lên bảng quảng cáo của nó chú Ba thấy đề ‘Halah Meat’.Sáng hôm sau, chú Ba khệ nệ khiêng cái bảng quảng cáo ‘Halah Pork’ đặt chình ình trước cửa tiệm mình để cạnh tranh câu khách. Ðúng là ngu như heo!

Chữ và nghĩa nó quan trọng dường nào trong buôn bán, thương trường mà ngay cả trong chính trường cũng vậy. Mới đây nè tờ ‘Wall Street Journal’ của Mỹ, vô tình hay cố ý chơi chữ, gọi Tổng thống Nga là “Vladimir Trump” (ám chỉ hai ông ‘thần thừ’ nầy là bà con cật ruột, cùng họ với nhau)  Sau đó phải xin đính chính, do lỗi của thằng đánh máy viết lộn họ Putin với họ Trump. Có một chú Sam cũng rất thâm, biểu nhà báo là tên Tổng thống Mỹ nên viết nhầm là “Donald Putin” luôn đi. (Xin phụ đề Việt ngữ! ‘Putin’ cắt thành hai âm ‘Pu’ và ‘tin’; nếu phát âm theo kiểu Mỹ thì ‘pu’ đồng âm với ‘poo’ là tiếng lóng của chữ ‘phân’; còn ‘tin’ nghĩa là cái hộp thiếc. Do đó ‘poo’ ‘tin’ là hộp đựng cái gì thối lắm). Ai mà nói mấy thằng Yankees cạn sợt, không có óc hài hước, hổng biết chọc quê thâm thúy như người Anh là lầm to đó.

Tóm lại, nếu nhờ chữ nghĩa để kiếm sống, tui xin mấy nhà văn mình nên cẩn tắc để vô áy náy. Lạng quạng là bị phang hoài hè! Tác giả nhờ nhà phê bình, mới viết càng lúc càng ít rác. Viết văn, lựa chữ như đãi cát (trong bãi rác đời) để tìm những mảnh vàng nhỏ li ti hầu kết lại thành một đóa bông hồng vàng tươi thắm, dâng hiến cho người đọc.

Ða số những nhà phê bình, cầm cân nẩy mực như một quan tòa chánh trực, công minh. Chẳng bao giờ phê bình tác phẩm mà lại lôi tác giả ra chửi cha, mắng mẹ họ bao giờ. Tui thường tôn kính một anh bạn văn như ngọn Thái sơn sừng sững, bởi kiến thức về miền Lục tỉnh quê mình, ổng chỉ chịu đứng hạng nhì, sau nhà văn Sơn Nam mà thôi. Tuy nhiên chỉ vì chữ ‘Chà Và’ có một tay ăn nói cộc cằn, thô lỗ phạng ảnh thiếu điều lọi tay, hết muốn viết luôn. “Chà Và không phải là Ấn Ðộ; mà là người đến từ Java thuộc Nam Dương. “Viết vậy mà dám nhận vơ là giáo viên!”

Thiệt là lời phê bình cà chớn, cà cháo và cà pháo. Miền Nam mình, xưa, dạy trung học được gọi là ‘giáo sư’ chớ không phải ‘giáo viên’như miền Bắc. Chữ ‘nhận vơ’ người miền Nam hổng có xài; bà con mình dùng chữ ‘nhận ẩu’; ai khoái chơi từ Hán Việt thì xài chữ ‘mạo danh’. “Trước khi chê tui dốt, sao ‘giả’ hổng chịu tra tự điển của Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa: người Chà ở cù lao Java (Nam Dương) đang sinh sống ở Việt Nam, nghĩa rộng chỉ chung người da đen, gốc Ấn Ðộ, Malaysia hay Indonesia tới sống ở Việt Nam!”

Anh nói đúng đó! Ða phần người da ngăm ngăm, đến nước mình sinh sống là Ấn Ðộ.  Quê tui nè, Mỹ Tho nhỏ xíu hè, vậy mà anh chạy qua cầu quay về hướng Gò Công, gần chợ Cũ cũng thấy có cái nghĩa địa Ấn Kiều đó. Rồi còn người Chăm, tức người Chiêm Thành, con cháu của Chế Bồng Nga, sau khi bị Ðại Việt thôn tính, chạy tùm lum, tùm la qua Miên rồi về Châu Giang, Châu Ðốc. Người Việt gọi những người Chăm mất nước đó là ‘Chà Châu Giang’.

Nếu có là buồn buồn chọc ghẹo nhau chơi cho vui; chớ không hề ác ý như: “Chà và, ma ní tí te. Cái bụng thè lè, con mắt ốc bươu” hoặc “Chà và ma ní tí te. Hàm răng trắng nhách, con […] đen thùi”. Những người Chà Và (Ấn, Chàm…) đó sống chan hòa với bà con người Việt từ miền Trung vào; bà con người Minh Hương, phản Thanh phục Minh thất bại, chạy qua; rồi bà con Khmer đã bao đời sống trên vùng Thủy Chân Lạp.

“Thôi bỏ qua đi Tám! Tui phục tài anh lắm. Dùng câu nào ra câu nấy, chữ nghĩa sáng trong!” Nhưng mới đây tui đọc chỉ vài câu (văn hay đâu nệ ngắn dài!) của một tác giả ‘nặc danh’, thấy cách dùng chữ cũng hay quá xá. Tả cơn bão số 9, rớt ở Sài Gòn, ổng tường trình như vầy nè: “Ðường Kha Vạn Cân ngập tới chân. Ðường Huỳnh Thúc Kháng ngập tới háng. Ðường Khương Hữu Dụng ngập tới bụng. Ðường Trần Phú ngập tới vú. Ðường Phạm Văn Hai ngập tới vai. Ðường Nguyễn Thị Minh Khai ngập tới tai (Cha, ‘khai’ dữ nghe vì lỗ tai gần cái lỗ mũi).  Ðường Cao Văn Lầu ngập tới đầu. Ðường Võ Thị Sáu ngập hết ráo…” (Nghĩa là ngập từ chân lên tới đầu). Mà còn hay hơn nữa! Ðường Trần Ðình Xu ngập tới […] và đường Vân Ðồn ngập tới […]

Tác giả không chịu viết ra ba cái ‘chấm chấm’ nầy mà ai cũng hiểu; không có người không hiểu. Thiệt hổng biết ổng muốn ăn gì để tui cúng… He he!

đoàn xuân thu.

melbourne

Anh Hai Nổ

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on March 1st, 2024

Post by Sơn râu 12 Jul 2024

Cách đây 30 năm, năm 1995, hồi mới qua Úc, tui tình cờ quen anh Hai Nổ, một ‘cu li’. Hai Nổ vì ảnh thứ hai tên Nổ. Chớ không phải là hay nổ; đụng đâu nổ đó. Ca đêm 12 tiếng, ảnh ‘clean’ phòng sơn của hãng xe Ford. Lương cao gấp hai lần lương cu li lắp ráp, ca ngày 8 tiếng. Kiếm tiền nhiều, Hai Nổ lại khoái nhậu. Mới qua, thấy tui có cái đít không, ảnh lấy làm tội nghiệp tui lắm lắm. Cuối tuần, Hai Nổ hay vác thùng VB (Victoria Bitter) 24 lon tới nhà tui. Beer Úc không thua gì beer Mỹ, beer Đức. Em yêu tui xào cho dĩa thịt bò bún tàu đậu phộng. Thịt bò Úc ngon có tiếng trên thế giới. Làm cu li, tưởng Hai Nổ dốt, tui có phần khi dễ. Nhưng tui giữ kín trong bụng, không nói ra; vì ảnh luôn mang beer tới. Một hôm cuối tuần, đổi không khí, hai thằng ra ‘pub’. Lần đầu nghe Hai Nổ nổ tiếng Anh bồi ‘no star where’ giòn giã như súng AK 47 của tên đao phủ Hoàng Phủ Ngọc Tường nổ ở Huế hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Tui ngạc nhiên há hốc mồm ra. Nước miếng nhểu tùm lum hai bên mép? Tui hỏi bí quyết? Thì Hai Nổ nổ: “Muốn như dân khoa bảng bằng cấp đầy mình thì coi ti vi Úc mỗi ngày” Tui cãi lại: “Nghe không hiểu thì làm sao nghe?” Ảnh sửng cồ lên, chê tui ngu như bò. Ảnh nói: “Coi truyền hình là học cái cử chỉ: buồn vui, giận hờn, thương ghét của mấy em Úc. Rồi nghe cái giọng xuống trầm, lên bổng. Nó hỏi cái gì, ở đâu, làm cách nào? Hoặc ‘yes’ để tán đồng hay ‘no’ để từ khước. Thả dê, rủ đi ăn tối mà em ‘say no’ thì dắt con dê kiếm cây so đũa khác. Rượt theo hoài, coi chừng lính bắt mình: tội sách nhiễu tình dục. Lúc nói tiếng Úc, mình cũng lập trình y hịt vậy. Chừng 50 năm, chú mầy sẽ giỏi tiếng Anh thầy chạy như anh mầy đây”

Còn muốn học tiếng Úc tục tĩu, bậy bạ, chửi thề tá lả, chuẩn bị đời ‘homeless’ vì thua cờ bạc thì học trên giường với con vợ thổ dân xấu hoắc.

Còn muốn học tiếng Anh tiếu lâm mặn thì đi ‘pub’ nhậu, dẫu chai beer tốn tới 9 đô la. Đến để nghe thằng Mái Cồ (Michael) phang ngang bửa củi, trên không kính trời; dưới không nể đất. Chửi tưới hột sen từ thủ tướng Úc trở xuống.

Tranh Bảo Huân 

Nhưng Mái Cồ, mặt gà mái, không dám chửi vợ; chỉ dám xỏ xiên thôi. Mái Cồ chở con Su (Sue), bông Lily, vợ của nó về quê chơi. Su làm mặt giận không nói một câu. Xe qua một đàn heo, Mái Cồ bắt chuyện: “Phải bà con của em đó không?” Su gục gặc cái đầu xù lông nhiếm: “Phải! Bà con bên chồng!”

Rồi tuần sau, hai vợ chồng nó đi xem triển lãm tranh. Con Su nó nói: “Cha nào vẽ con heo nái nầy sao mà xấu hoắc?” Mái cồ quay lại nói: “Đâu phải là bức tranh. Nó là cái gương soi mặt đó!”

Bữa sau, Hai Nổ báo hung tin: Mái Cồ nằm phòng cấp cứu trong bịnh viện, tui vào thăm. Mặt Mái Cồ xức đầy thuốc đỏ; môi sưng chù vù. Má nó nhìn còn hổng ra, huống chi tui?

Rồi bẵng đi một năm, gặp lại Hai Nổ, tui xổ tiếng Anh nhát cho ảnh hết dám chê tui ngu như bò. Tốn tiền đi nhậu chừng một năm thôi là tui đã giỏi bằng 4 năm mài đũng quần trên giảng đường đại học.

Hai Nổ hỏi: “Ủa chú mầy học ở đâu mà khá quá vậy?” Tui nói trong ‘pub’. Tiện thể khoe cái vốn tiếng Anh chưa đầy cái lá mít, tui kể cho ảnh nghe vài cái ‘jokes’. Mai Cồ đang ngồi nhậu trong pub cũng xúm lại nghe tui giễu dở.

“Sau gần 50 năm chung sống, một buổi tối nọ, đang nằm trên giường, đột nhiên con vợ thấy tay của chồng mình bắt đầu rờ rẫm theo cái cách mà đã lâu rồi anh ta không làm. Nhột nhột, em cảm thấy ‘đa đã’ quá khi những ngón tay như chuối ngự ở trên cổ rồi từ từ xuống. Sau đó, anh vuốt ve cái vai rồi dừng lại ngay chóc cái rún sâu hun hút giữa cái bụng của em. Sau đó, anh lại đặt tay mình lên bên trái, lần xuống bên hông em, nhẹ nhàng lướt qua mông và xuống tận bắp chân em. Sau đó, anh tiến lên đùi em, dừng lại ở phần trên cùng của chân em. Anh tiếp tục làm như vậy ở bên phải em, rồi đột ngột dừng lại, lăn người ra và thở phào mãn nguyện. Bị vuốt ve kích thích nên khá là phấn khích; em hỏi, giọng đê mê: ‘Honey! Thật tuyệt vời! Tại sao ‘babe’ dừng lại?’ Chồng trả lời: Anh đã tìm được cái ‘remote control’ của cái ti vi rồi.’

Tranh Bảo Huân

Chuyện thứ hai: bà con ai cũng biết: Tín đồ Công Giáo, Tin Lành kiêng không làm việc vào ngày Chủ Nhựt! Ai theo đạo Do Thái sẽ kiêng không làm việc từ tối thứ Sáu cho đến tối thứ Bảy. Nên có chuyện rằng: “Một ông thắc mắc: “Liệu tù ti tú tí; dú dí vô cung ngày Chủ Nhựt có phải là tội lỗi hay không? Ông ta bèn đến gặp một vị linh mục để hỏi ý kiến. Sau khi tham khảo Kinh thánh, vị linh mục nói: “Nè con! Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, cha khẳng định rằng quan hệ tình dục là làm việc, do đó con không được phép làm vào ngày Chủ Nhựt!”

Ông ta nghĩ: “Linh mục không có vợ thì làm sao biết quan hệ tình dục là gì?” Thế nên, ông đến gặp một mục sư, người được quyền có vợ. Ông nghĩ mục sư chắc có kinh nghiệm về chuyện này. Vị mục sư trả lời: “Quan hệ tình dục hẳn nhiên là làm việc nên không được phép làm vào ngày Chủ Nhựt!”

Không hài lòng với câu trả lời, ông bèn kiếm hỏi một giáo sĩ đạo Do Thái, một người theo truyền thống và có kiến thức cả hàng ngàn năm. Vị giáo sĩ suy nghĩ khá lâu rồi nói: “Nè con! Chắc chắn chuyện quan hệ tình dục không phải là làm việc; nó là chuyện chơi thôi!”

“Thưa giáo sĩ, làm sao ông có thể chắc chắn nó là chuyện chơi khi nhiều người khác nói với con đó là làm việc?”

Vị giáo sĩ đạo Do Thái trả lời: “Là chuyện chơi nên vợ tui giành làm. Nếu cho rằng quan hệ tình dục là làm việc, thì vợ tôi đã để cho em giúp việc làm việc đó cho tui rồi.”

ĐXT