vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày 25-9-1993)
Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu
Phần 26
Parc Maurice Long Là Vườn Ông Thượng Thì Chưa Đúng
Vườn ông Thượng, cũng gọi công viên Tao Đàn. Tôi không hay giỏi hơn ai, chỉ được cái già (tuổi 92) và là mọt sách. Tôi lại ham nói, nay xin nói về công viên, tên Pháp gọi “Parc Maurice Long” và có một tên Tây nữa là “Jardin de la ville”.
Theo tôi hiểu “parc” là vườn, công viên, hoa viên, gọi như vậy đều được. Có người đã nói và có lẽ nói ẩu là vườn Tao Đàn, có người gọi là vườn ông Thượng, và Thượng đây là toàn quyền Pháp tên Maurice Long.
Tôi nghe thì tức tức, nhưng cãi cọ, cãi giống làm chi, vì cũng là người kiếm cơm bằng viết lách như nhau. Nay tôi nói như dưới đây, nghe hay không, cũng mặc. Theo tôi tra cứu trong sách đã có, thì Maurice Long làm toàn quyền cõi Đông Dương đến hai kỳ, lần 1 từ 21-2-1920 đến 17-11-1920; và lần thứ 2, từ 1-4-1921 đến 14-4-1922. Nhưng Maurice Long khi từ Pháp trở lại kỳ nhì, khi Tàu đến Colombo, ông vướng bịnh và tắt thở ngày 15-1-1923, quan tài được chở về Pháp theo chiếc André Lebon. Cho hay làm đến chức toàn quyền mà cũng bị giặc trời như ai, quả trời xanh có mắt.
Còn danh từ “vườn ông Thượng”, theo tôi, ông Thượng đây là vì kính trọng không dám gọi tên và chỉ gọi theo chức tước, Thượng đây là ông Tả-quân có lăng mộ thờ nơi Bà Chiểu, ngài có miếu thờ trấn chận trước dinh tòa bố của Tây mà không bị Tây phá, và ngày xưa, đất của ngài, chạy dài suốt từ Lăng-miếu đến khỏi dinh Toàn-quyền Tây cũ và ăn lấn luôn vườn Tao Đàn nên dân chúng gọi “vườn ông Thượng” là vậy. Năm 1920, học trò trường Chasseloup-Laubat bỏ trường làm “reo” (grève) lần thứ nhứt ở đây, có tôi trong số nghịch ngợm nầy, thì đã có danh từ “vườn ông Thượng” từ lâu, từ đời cổ hỷ nào cũng không chắc.
Nay tôi xin trích dẫn ra đây lai lịch Parc Maurice Long, nhưng không chỉ tôi cóp theo sách nào.
Đầu tiên, vườn nầy vẫn thuộc và dính liền với hoa viên dinh Toàn-quyền cũ. Vào năm 1869, Phó Thủy-sư đô-đốc Contre-Amiral Ohier, với trách nhiệm làm toàn quyền, ra lịnh cắt đứt phần sau của hoa viên và giao cho đô-thành làm vườn công cộng cho dân chúng dạo chơi, nhưng suốt ba chục năm trường, đô-thành nhận lãnh mà không làm gì theo ý Toàn-quyền là phải nối dài đường Taberd (nay là đường Nguyễn Du) chạy nối giáp tới đường Verdun (C.M.T.8 nay) và khai thông vườn với ba cổng (cửa) lớn Taberd, Verdun, Chasseloup (nay đã có rồi).
Đến năm 1899, hoa viên nầy bị bỏ rơi, đô-thành không thiết tha đến, và vì vậy, có việc vườn bị cắt đất bán chia tam xẻ tứ, và nảy ra có:
– Hội Hiếu nhạc “société philharmonique” chiếm một khoảnh (1896) nay là Quốc-gia âm-nhạc.
– Hội Tam Điểm (Loge Maçonnique) chiếm một phần (1897) và năm nầy có đường Miss Cavell (nay là đường Huyền Trân công chúa);
– Cùng một lúc, có một thực dân Pháp đề nghị xin mướn trọn hoa viên trong 15 năm để lập vườn trồng cây va-ni, và cho dân được dạo chơi trong vườn, chừng ấy đô-thành mới tỉnh ngộ và không chấp nhận lời bao thầu như vậy.
– Năm 1902, Câu-lạc-bộ Thể thao “Cercle Sportif” thành lập chiếm một phần…
Đến ngày 26-2-1923, hội đồng đô thành mới thật thức dậy và để tưởng niệm Toàn-quyền làm khá nhiều việc ích cho xã hội, đã đặt tên là Parc Maurice Long.
Nhưng vườn vẫn còn bị chia cắt vì thống đốc Krautheimer, năm 1926 và 1927 lập nơi góc đường Chasseloup và Verdun Viện Dục-nhi “Institut de Puériculture”, năm 1932 trở nên trụ sở bộ Y tế và hội A.M.A.S.
Đến đây, tôi nghẹt lối, không biết gì thêm nữa, duy nay còn dư chút giấy, tôi xin thêm về Maurice Long, Tây với Tây phá nhau, nên đã có báo đối thủ, nhạo chơi và đặt tên lại là Maurice Scieur de Long và “scieur de long” là thợ xả súc gỗ thành gỗ ván, nhưng toàn quyền vẫn cười và không giận.
Một đàng khác, năm 1947, từ Sốc Trăng tôi chạy lên đây, và khi chạy lên xóm Cù Lao ở chung với bà Năm Sa Đéc, trên đường Võ Di Nguy, mé trái, từ Viện bảo tàng về xóm, nơi một quán nhỏ bé của một anh thợ hớt tóc quen nhau từ ở Sốc Trăng, khi tôi ngồi cho thợ cắt tóc, chợt tôi thấy treo trên vách, một bức ảnh vẽ dầu màu, là ảnh Maurice Long, miệng ngậm ống điều cối, râu ria xồm xoàm, tóc tai bù rối, tôi chăm chú nhìn thật kĩ, nói ra đây thì tục, và đó là ảnh một con đầm lõa thể nằm lõa lồ, tóc thả xuống, hai vế dựng ngược lên, và mồm của toàn quyền Pháp là cửa mình của mụ đầm. Tôi nài mua, anh thợ hẹn sẽ bán, sau tôi trở lại thì anh thợ nầy dọn đi mất!
Viết thêm 26-9-93:
Công viên Tao Đàn, tên Pháp Parc Maurice Long, tên xưa vẫn là Vườn ông Thượng, và một lần nữa, tôi xin lặp lại rằng ông Thượng đây, chính là ngài Tả-quân có lăng mộ và miếu thờ ở Bà Chiểu, mà xưa kia không một ai dám gọi ngài bằng tên tộc, chính chức phẩm cũng tránh và kính nể gọi ông Thượng là đủ, thậm chí vì ngài làm thái giám, thì dân chúng ở đây cũng kiêng cữ không dám nói chữ “giám” và dùng chữ “giếm” để thay thế.
Một tên Pháp khác là Jardin de la ville, thì rất phân minh rồi, duy còn một danh từ mượn của tiếng Tây là “vườn Bờ-Rô”. Bờ-Rô là gì, đến nay còn phân vân bất nhứt, mạnh ai nấy nói và giải thích, không ai nhượng cho ai:
– Một thuyết, do anh giáo Trần Văn Xường, dạy ở Chợ Lớn, nay đã khuất, Xường, tiếng Tàu, tức là Tường, vẫn cho rằng, hoặc người Tây coi sóc vườn có tên là ông Bureau, hoặc giả, ông nầy làm thêm văn phòng (bureau) và khi người phu làm vườn muốn lãnh tiền thì lên “bureau” mà lãnh, nên gọi vườn như vậy. Nay anh Xường đã không còn, tôi xin miễn luận.
– Một thuyết thứ 2 là theo như tôi đã nghe người tuổi tác dẫn giải cho biết, thì “Bờ-Rô” có lẽ do chữ “préau” của Pháp. Vả lại, hiển nhiên “Préau” là sân có lợp nóc để tránh mưa gió của các tu viện, bịnh viện, ngục thất và học đường, mỗi lycée nào cũng có, trường Chasseloup có một préau, không biết nay ra thế nào, và préau nầy ở mé đường Lê Quý Đôn, sát cửa vào.
Vậy tôi cin chừa danh từ “Vườn Bờ-Rô” cho người cao kiến dạy lại. Riêng như tôi biết và chứng cớ rành mạch thì nơi mé sân túc cầu, phía đường Huyền Trân, lúc đầu tôi thấy có một bệ khá cao và rộng, đời Tây, họ làm nơi diễn tuồng, diễn thuyết, có khi dọn làm sân đánh võ “boxe” và gọi “préau”. Qua năm có bày hội chợ, gọi kermesse, lối những niêm 1930-35 gì đó, thì họ đặt thêm nhiều chậu kiểng cau vàng và lấy préau nầy làm “théâtre de verdure” – “rạp hát ngoài trời hoặc lộ thiên” gì gì đó, và vợ chồng tôi vẫn có đến dự.
Nay nói bắc cầu luôn qua vài địa danh tiếng Tây, nay đã lạc lối, tỷ như:
– Service de pyrotechnie, đã dịch “Sở kho đạn”, tưởng khỏi cần dài dòng…
– Có 3 địa danh đều do chữ “ma” khởi đầu: thành “Ô Ma” là thành lính tập “tirailleurs”, Pháp gọi Camp des Mares. Khu đất rộng bao la hà lãng, nay lấy làm trường Đại học Sư phạm, vân vân, trước kia thuở đàng cựu, có miếu thờ cô-hồn và Ngũ Hành, và nơi mé Nguyễn Cư Trinh, tôi có gặp một trại thật lớn lợp ngói có rất nhiều cột gỗ bị mối ăn, gọi Hiển-Trung-từ do chúa Nguyễn Ánh lập thờ công-thần (có thờ lính Pháp tên Manuel – Mạnh Hòe) nữa và đời Tây thì để luôn làm miếu của Trại Lính Tập, vì Hiển-Trung-từ nầy vẫn liệt vào hàng cổ-tích (monumments historiques), nhưng đến kỳ Tây trở lại thì nhà binh Tây dỡ bỏ…
Chính lối năm 1948 hay 1949, tôi đi với ông Pierre Dupont vào đây tìm miếu HIển Trung, có gặp một ngôi mộ cổ kiên cố và đã lạc lối khó biết đường về.
Khu Thành Ô Ma gồm khu rộng chung quanh theo tên cũ là đường Arras, Frères Louis, Nancy và đường xe lửa Biên Hòa – Hà Nội, mé đường ngang rạp chớp bóng thẳng lên nhà thương bà Từ Dũ ngày nay và dọc theo đường sắt cũ, trước kia thường ngập lụt, và gọi “Đường Nước Nhĩ” tên ấy chọn thật đúng, vì nước ứ đọng thường. Trong sách Trương Vĩnh Ký để lại và tạp chí Excursions et Reconnaissances cũ, có nói trước khi biến ra thành Ô Ma, thì Tây có lập sở Nuôi Ngựa (Haras) sau dời về Tân Sơn Nhứt.
Một địa danh cũ nữa là Mares aux Poissons, truy ra ngày xưa khi Tây qua đây, ngày được nghỉ lễ hoặc ngày chủ nhựt, để giết thì giờ, họ ít đi săn bắn vì ít an ninh, nên thông thường họ thích đi câu cá, còn phụ nữ Pháp thì chiều chiều ngồi xe song mã, thắng hai ngựa, chạy vòng chung quanh Sài Gòn/Gia Định và gọi Tours de l’Inspection, dạo vòng quanh đường tuần tra. Quan viên, nhứt là kỹ sư quan võ thì câu nơi Thành Ba Son, tiếng Pháp là Mares aux Poissons, nhưng đã có người diễn khác và rằng có một thợ tên “Son” thứ 3, nên đặt gọi Ba Son. Tôi biết một giai thoại có một thợ sở Ba Son, có tánh lập dị, thích hút xì-gà (cigar, thuốc cuốn để nguyên lá), và ngày nào, chiều ra sở đón xe lửa về Gò Vấp ai ai cũng vẫn thấy cụ ta ngậm xì-gà, sau mới rõ một tuần cụ chỉ ngậm duy nhứt một điếu, cứ lên xe là quẹt đốt rồi để tắt, v.v… chừng ấy dân Gò Vấp mới đặt tên cho cụ là “Ông Xi-gà tuần”!
Một thuyết nữa là Trại chữa ghe tàu Ba Son, Pháp vẫn gọi “Bassin de radoub”, bassin là ụ nước, radoub là sửa chữa ghe tàu, từ Bassin biến ra Ba Son, dễ ợt!
Vậy tôi xin chừa độc giả mặc tình chọn lựa. Ngày xưa, chúa Nguyễn lập và tàu đi biển vẫn gọi tàu ô, vì lập nơi Ba Son, nên nay khó làm cầu bắc ngang qua Thủ Thiêm, khiến Thủ Thiêm ngó ngang Sài Gòn mà không phát triển được.
Một địa danh nữa là Ô Cắp tức Pháp là “je vais au cap”, và cap là cap Saint-Jacques, tức đi Vũng Tàu. Tôi không cần nói dài, độc giả dư biết.
Còn 6, 7 cơ sở nhà binh cũ của Tây, xưa thuộc cơ mật, ít cho nói, nay xin kể mà không dẫn giải:
– IIème R.I.C Onxième Infanterie Coloniale là thành Sơn Đá, khu Đại học Lâm Nông tên chánh thức là Caserne Martin des Pallières (lập lối 1870 đến 1873). Sau khi binh Tây rút lui về xứ, tôi đề nghị và kiến trúc sư Lê Văn Lắm cắt thành Sơn Đá làm thông thương và có đường Đinh Tiên Hoàng nối dài tới Chasseloup như hiện nay.
– Khu lính thủy (Marine) gọi Garnier;
– Trại San-đầm Gendarmerie Le Lièvre;
– Khu Pháo-thủ (Artillerie) (camp Virgile);
– Tòa án nhà binh (Tribunal Militaire, Justice Militaire);
– Direction du Génie;
– Direction d’Artillerie;
– Bureau de recrutement La Grandière, v.v…
Khi Tây qua đây, ở miền Nam, vẫn do quan võ cai trị nên dinh họ ở gọi dinh phó soái, vì chánh soái, tức là quan toàn quyền Đông Dương. Chính trạng sư (luật sư) Blancsubé (đường Lăng Xi Bề) (1834-1888) năm 1879 tranh đấu và thắng được, giành quyền cai trị trả về quan văn mới bỏ chức Phó Soái (La-Lăng-De: de La Grandière) và gọi dinh thống đốc v.v… Blancsubé ở Tòa binh vực cho nhóm Chà bán vải, trước đây còn rao hàng “Première qualité! mêm xôi (Même chose) Blancsubé!” và vải bán vo vo.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.