Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

March 12th, 2021

Post by Sơn râu 14 Jul 2024

Kỳ 10

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ. Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

– Mình là người lớn, nói phải giữ lời! Anh nói với ông Hai Lẻ Chín đừng vi phạm cái giao kèo này đấy nhé!

Vài phút sau tôi lên xe cùng với ông Trung tá Hoàng Kim Thanh phóng như bay ra Quảng-Ðức.

Chiều đó xe của tôi trở về Kiến-Ðức chở theo ông cao bồi bắn… dở như hạch, tên là Trần Văn Phước.

Hai ngày sau, ông Ðại tá Từ Vấn bàn giao chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cho ông Trung tá Hoàng Kim Thanh.

Buổi lễ bàn giao liên đoàn diễn ra vô cùng giản dị. Trên cái bàn dài có hai chai rượu Hennessy cùng mấy đĩa thịt gà luộc. Hiện diện quanh bàn tiệc, ngoài năm vị cầm đầu liên đoàn ra, có chừng năm sáu sĩ quan tham mưu.

Diễn văn từ biệt của Ðại tá Từ Vấn vỏn vẹn ba câu ngắn gọn, mà bốn mươi sáu năm sau tôi vẫn còn nhớ nằm lòng,

(1) Hôm nay tôi gặp mặt từ giã anh em để lên đường nhận nhiệm vụ mới.

(2) Tôi chúc tất cả anh em luôn luôn mạnh khỏe, bình an.

(3) Chúc Thiếu tá Long vinh thăng trung tá để giữ chức liên đoàn trưởng!

Sau khi ông Từ Vấn ra đi khá lâu, tôi mới hiểu ý nghĩa những lời giã từ của ông ấy. Thì ra câu, “Chúc Thiếu tá Long vinh thăng trung tá để giữ chức liên đoàn trưởng!” chỉ là một câu nói móc lò. Ông Vấn chắc chắn đã biết cái lon trung tá đặc cách tại mặt trận của tôi đã bị người ta ém nhẹm mất tiêu rồi, nên ông ta cười vào mặt tôi, mà tôi không hay!

Ông Ðại tá Từ Vấn thuyên chuyển, Trung tá Hoàng Kim Thanh đương nhiên được đảm nhận chức vụ Xử Lý Thường Vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, và Trung tá Trịnh Thanh Xuân từ Pleiku tới nhận chức Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24.

Ông Trịnh Thanh Xuân vốn dĩ là Tiểu đoàn trưởng của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân. Trong thời gian Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bị vây ở Pleime thì đơn vị của ông Xuân trú quân vùng Tây Pleiku.

Một đêm tối trời, tiểu đoàn của ông Xuân đã có công đánh lui một mũi Ðặc-Công Việt-Cộng trong lúc chúng đang cố gắng cắt rào, chui vào khu vực phòng thủ của pháo binh ở Căn cứ 333 vùng Tây Pleiku.

Sau khi thất bại, tụi Việt-Cộng đã bỏ chạy và để lại chiến trường bốn cái xác mặc quần áo đen, cùng mấy bánh thuốc nổ, nhưng không có khẩu súng nào.

Thiếu tá Trịnh Thanh Xuân được Ðại tá Phạm Duy Tất và Trung tướng Nguyễn Văn Toàn cho đặc cách thăng cấp trung tá vì công trạng này.

Cùng đi với Trung tá Xuân là một đại úy, dự trù sẽ được bổ sung cho Tiểu Ðoàn 82 thay chỗ Ðại úy Nguyễn Hữu Tài. Ông đại úy này tên là Lê Bá Ngọ mới từ Sài-Gòn thuyên chuyển tới.

Ðại úy Ngọ là “Cố nhân” đồng thời cũng là người chỉ huy tôi ngày tôi mới ra trường.

Ðầu năm 1966 ông Ngọ là Trung úy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/11 Biệt Ðộng Quân, tôi là một thiếu úy trung đội trưởng dưới quyền ông Ngọ.

Tôi với ông Ngọ xa cách lâu rồi, nay ông ta xin về làm tiểu đoàn phó cho tôi, nhưng tôi đã thẳng thắn từ chối, không nhận Ðại úy Lê Bá Ngọ về đơn vị mình.

Hôm sau, tôi lại bị gọi về liên đoàn để nhìn mặt một “Ứng Viên” thứ nhì cho chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Lần này là một đại úy người Nam xuất thân Khóa 10 Trừ Bị Thủ -Ðức.

Vừa bắt tay nhau, ông đại úy đã toét miệng cười, để lộ hai, ba cái răng bịt vàng,

– Tui mới từ Sài-Gòn ra, được lệnh tới Tiểu Ðoàn 95 giữ chức tiểu đoàn phó. Nhưng tui nghe ông cần người phụ tá, tui vội tình nguyện đi ngay.

– Làm phó 95 có khác gì làm phó 82 mà ông lại xin về 82?

– Tui thích ông, phục ông, nên xin về 82. Vả lại tui biết ông từ năm 1966, ngày ông mới ra trường!

– Năm 1966 ông ở tiểu đoàn nào ngoài Vùng 1 mà nói biết tôi?

– Tui ở Ban Ðại Diện Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 1 dưới quyền Thiếu tá Hoài. Tui là anh trung úy đã lái xe ra đón mấy ông thiếu úy Khóa 20 Ðà Lạt ở sân bay Ðà-Nẵng, rồi đem các ông phân phối cho ba tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân của Quân Khu 1. Trong số mấy ông Khóa 20 ngày đó tôi nhớ tên ông nhất, vì tên ông vừa lạ lại vừa đẹp!

– Từ đó tới nay cũng 8 năm rồi, ông còn nhớ tôi thì quả là ông giỏi lắm đó! Nếu có duyên thì mình sẽ có dịp ở với nhau lâu. Tôi nhận ông về làm việc với tôi kể từ giờ này.

Vài ngày sau tôi nhận được công điện xác nhận của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 ghi rõ ràng việc bổ nhậm chức vụ của ba vị sĩ quan có tên dưới đây:

1) Ðại úy Nguyễn Hữu Tài, Khóa 10 Thủ-Ðức, giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân.

2) Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Khóa 10 Thủ-Ðức, giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

3) Ðại úy Lê Bá Ngọ, Khóa 12 Thủ-Ðức, giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân.

Ông tân tiểu đoàn phó của tôi đi đâu cũng đem vợ con theo, tôi phải cho gia đình ông đại úy tá túc trong một căn hầm khá rộng nằm sát vách hầm truyền tin của tiểu đoàn. Gia đình này gồm một chồng, một vợ, một bé gái và một con chó Nhật bé tí teo.

oOo

Đời lính, vinh quang và cay đắng…

Hạ tuần tháng 10 năm 1974 tôi nhận được danh sách những quân nhân được tưởng thưởng do chiến thắng Pleime 1974.

Tôi ngạc nhiên khi thấy trên công điện thông báo thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vỏn vẹn có tên ba người được thăng cấp là ông Tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Tài lên thiếu tá, ông Trưởng Ban 3 Trần Dân Chủ lên đại úy, ông Trưởng Ban 2 Trần Văn Phước lên trung úy.

Những sĩ quan khác đều bị gạch tên, không huy chương, không lên lon, kể cả Thiếu tá Vương Mộng Long và ba ông sĩ quan đại đội trưởng tác chiến.

Vị đại đội trưởng tác chiến duy nhất của tôi được thăng cấp đó là Thiếu úy Phạm Ðại Việt, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82. Thiếu úy Phạm Ðại Việt đã được cấp trên gắn cho cái lon Cố Trung Úy.

Thượng cấp không nỡ gạch tên ông ta, chỉ vì ông ta đã bị trúng đạn pháo kích của địch quân ngày 16 tháng 8 năm 1974 và đã chết mất rồi!

Tôi là người thay mặt Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng gắn ba bông mai vàng lên ve áo của ông Trần Dân Chủ. Ðại úy Ngũ Văn Hoàn thay mặt cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng gắn hai bông mai vàng lên ve áo của ông Trần Văn Phước. Vì Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu không cho tôi biết lý do vì sao những quân nhân còn lại của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã bị loại ra khỏi cái danh sách thăng thưởng mà tôi đề nghị, nên tôi không thể đại diện cho Ðại tướng Cao Văn Viên trả lời thắc mắc của những người lính dưới quyền tôi. Trong cuộc đời 10 năm chinh chiến, tôi đã lên voi xuống chó nhiều lần rồi, vấn đề lon lá tôi không coi trọng.

Nhưng những quân nhân dưới quyền tôi thật là tội nghiệp, họ đã nghiêm chỉnh thi hành lệnh của Ðại tá Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn II và Tổng thống nước Việt-Nam Cộng-Hòa là: “Chọn cái chết chứ không di tản chiến thuật”.

Họ đã quên mạng sống của chính mình để “Tử Thủ” và sẵn sàng chết theo Pleime nếu tiền đồn này rơi vào tay giặc.

Vì thế mà nghe được cái tin “Tất cả quân nhân tham chiến trận Pleime 1974 sẽ được đặc cách thăng một cấp” thì nhiều ông đã thủ sẵn trong túi cặp lon mới sáng chói, chờ ngày “Rửa lon”.

Ai ngờ cấp trên đã nói trước, quên sau, những lời hứa chỉ còn là cái bánh vẽ!

Các ông Trung úy Nguyễn Công Minh, Nguyễn Hữu Anh, Thiếu úy Lê Ðình Khay, Phạm Văn Thủy, Huỳnh Kim Hoàng, Nguyễn Văn Hổ, Chuẩn úy Phan Quốc Thiều, Lê Hữu Ðức, Nguyễn Hữu Ðức, Nguyễn Hữu Phước, Lê Văn Phước, Lê Hữu Bảo, Thượng sĩ Nguyễn Văn Năng, Y Khăm Nier, Y Ngon Nier, Trần Văn Sơn, Lê Hữu Phong, Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Hạ sĩ 1 Mom Sol… cùng với ông Trung úy Pháo binh Biên Phòng tên là Nguyễn Như, khi thấy mình lọt sổ trên danh sách thăng cấp đặc cách thì cũng buồn năm phút, nhưng các vị này hết buồn ngay sau khi biết rằng con chim đầu đàn là Thái Sơn mà còn bị người ta “quên” (!)

Tôi cũng được thông báo rằng, Trung úy Nguyễn Văn Song, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2/81 là đơn vị tăng phái cho tôi đã được đặc cách lên đại úy và ông trung úy Trưởng Ban 3 liên đoàn cũng được lên đại úy.

Khi nghe tin ông Trung úy Y sĩ trưởng của liên đoàn được tưởng thưởng một huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Ðồng, tôi cũng mừng cho ông ấy, vì Quân Y mà có Anh Dũng Bội Tinh thì hiếm lắm!

Nhưng tôi lại rất buồn khi nhìn thấy anh Hạ sĩ nhứt Y tá tên là Chiến của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã không được lên lon mà cũng chẳng nhận được một tờ giấy khen dù là của cấp trung đoàn.

Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân không có sĩ quan trợ y, Hạ sĩ 1 Chiến chính là ông “Bác Sĩ Vĩ Đại” của chúng tôi trong 33 ngày đêm tử thủ. Từ chuyện chữa trị chứng nhức đầu, sổ mũi của anh tân binh sau một đêm dầm mưa, tới chuyện băng bó những vết thương gãy tay, lòi ruột của anh em trong chiến trận, việc gì “Bác Sĩ Chiến” cũng làm được cả. Ðặc biệt là lúc nào trên môi Chiến cũng sẵn nụ cười hiền hoà, và lời an ủi vỗ về “Không sao đâu! Không sao đâu!”

Sau khi kho thuốc của tiểu đoàn bị pháo binh địch bắn cháy thì không còn chai thuốc đỏ, thuốc mê, thuốc tê nào nữa. Nhiều thương binh Pleime ngày đó đã trải qua những ca mổ bụng, ghép xương mà không được chích tê, mê.

Nhờ những lời an ủi dịu dàng và nụ cười của chú Chiến mà các thương binh đã quên đau.

Dưới mắt tôi, Hạ sĩ 1 Chiến là người thầy thuốc lành nghề, siêng năng, tận tâm và can đảm nhứt mà tôi đã thấy trong suốt cuộc đời mười năm trận mạc.

Pleime 1974 là chiến công lớn nhất trong năm của Vùng 2 Chiến Thuật, nên có vài ông sĩ quan văn phòng của Quân Ðoàn II cũng được lên lon “ăn ké”.

Không biết bằng cách nào mà mấy vị sĩ quan này có thể chen vai, luồn lách vào danh sách đề nghị thăng thưởng do Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 thiết lập.

Một anh sĩ quan Khóa 20 Thủ-Ðức, từ ngày ra trường đã liên tục tá túc ở Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II, kỳ này cũng “ké” được cái lon thiếu tá.

Anh ta là một trong vài sĩ quan siêng năng, vất vả nhất của quân đoàn. Cuối tuần nào anh ta cũng phải đi làm thêm giờ ở nhà ông đại tá, sau này là Chuẩn tướng Lê Trung Tường. Anh sĩ quan này là chuyên viên chia Bài Tứ Sắc và Bài Xẹp cho bà Tường!

Thậm chí huy chương tưởng thưởng chiến công Pleime 1974 còn bay tới tận Qui-Nhơn, tới tay những vị có công ký giấy chấp thuận những đơn xin cấp phát lương khô, gạo, đạn, cho các chiến sĩ trú phòng Pleime.

Vì ông Tài đã thuyên chuyển, nên tiểu đoàn chỉ tổ chức lễ “rửa lon” cho hai ông Phước và Chủ, bữa tiệc này cũng là bữa tiệc tiễn đưa Ðại úy Trần Dân Chủ thuyên chuyển lên liên đoàn đảm nhận chức vụ Trưởng Ban 3 liên đoàn thay chân cho ông đại úy cựu trưởng ban mới được lên lon và xin thuyên chuyển về Nam.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã đi Dục-Mỹ tái bổ sung và huấn luyện, thay chân bằng Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân đóng quân ở Bù Binh, trong vùng Nam quận Kiến-Ðức.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân là Ðại úy Ðặng Xuân Tòng. Ông Tòng là một đồ đệ của Ðại tá Phạm Duy Tất.

Ðại úy Tòng còn có biệt danh là “Tòng Xì Ke” vì có một thời gian ông ta vướng víu vào con đường chích choác và hút xách.

Thời điểm này, quân của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân được phân phối trên ba vị trí:

(1) Ðại Ðội 24 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân do Ðại úy Nguyễn Văn Song chỉ huy, trú đóng ở Xã Nghi-Xuân, vùng Bắc Gia-Nghĩa.

(2) Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cùng một nửa Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân do Trung tá Hoàng Kim Thanh, Trung tá Trịnh Thanh Xuân, và Thiếu tá Trần Ðình Ðàng chỉ huy, trú quân trong khu rừng tre, nằm trên Tỉnh Lộ 344 cách Gia-Nghĩa 4 cây số về hướng Tây, và cách Kiến-Ðức 25 cây số.

(3) Phần còn lại của liên đoàn do Thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy kéo dài từ đồi Bù Row hướng Bắc, tới ranh giới Phước-Long hướng Nam, với các đơn vị tham chiến là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân và một nửa Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân.

Nửa Tiểu Ðoàn 63 tăng phái thì có công điện xác nhận, nên tôi cho một đại đội đóng chốt ngay Ngã Ba Mả Thượng và kiểm soát cái cống nước hướng Bắc phi trường Nhơn-Cơ, trên Tỉnh Lộ 344. Ðại đội thứ nhì nằm tại làng Bu M’Bré bên suối Dak Blao.

Riêng Tiểu Ðoàn 89 thì tôi chỉ có nhiệm vụ “để mắt xem nó có cần gì thì giúp nó!” như khẩu lệnh của ông liên đoàn trưởng.

Vì không có lệnh xác nhận bằng công văn, công điện, nên tôi cũng không thèm mua việc.

Từ ấy, mỗi ngày đơn vị này chỉ có hai lần liên lạc với Tiểu Ðoàn 82, năm giờ tối là một công điện báo cáo các điểm đóng quân đêm, năm giờ sáng là đoản văn “Tình hình trong đêm vô sự!”

Tôi nghĩ rằng, dù gì thì sự có mặt của Tiểu Ðoàn 89 cũng là một điều tốt, cứ coi như hướng Nam của tôi có một cái tiền đồn cấp tiểu đoàn. Nếu địch có đánh cái tiền đồn này thì cũng cả giờ sau chúng mới có thể tiến tới chân đồi Kiến-Ðức.

Thực ra, với khả năng của tôi, công việc chỉ huy hai hay ba tiểu đoàn đâu có gì là khó? Tôi đã từng nhiều lần chỉ huy những cánh quân liên binh với quân số trên hai tiểu đoàn rồi. Nhưng hiện nay, tôi không phải liên đoàn trưởng, mà cũng không phải liên đoàn phó, tự dưng khoác lên cổ cái trách nhiệm bá vơ, bá láp này làm gì cho khổ thân! Ðường Liên Tỉnh Lộ 8B đã được khai thông, Quảng-Ðức không còn lo thiếu lương thực.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 5th Mar 2021

Post by Sơn râu 14 Jul 2024

Kỳ 9

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

– Qua biết Biệt Ðộng Quân đối với em không tốt! Em xin về với qua, qua sẽ trình với đại tướng duyệt xét lại chiến công trận Pleime của em, điều chỉnh cho em lên trung tá, sau đó qua sẽ giao một trung đoàn cho em chỉ huy.

Tôi đã được Tướng Toàn và Ðại tá Tất hứa rằng tất cả quân nhân trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ đương nhiên thăng một cấp đặc cách sau chiến thắng Pleime 1974, nên khi nghe Tướng Niệm nói những lời trên, tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi bèn cười cười, đáp lời Tướng Niệm,

– Cám ơn Thiếu tướng! Tôi còn yêu mến binh chủng Biệt Ðộng Quân. Tôi chưa muốn đi đơn vị khác!

Bốn mươi sáu năm sau, tháng 10 năm 2020, tôi còn nhớ như in trong óc những lời Tướng Phan Ðình Niệm nói với tôi lúc giữa trưa ngày 10 tháng 10 năm 1974, cũng là dịp Kỷ Niệm 22 Năm Ngày Thành Lập Quân Ðoàn II.

Chiều 11 tháng 10 năm 1974 tôi về tới Kiến-Ðức thì được báo tin rằng trong thời gian tôi vắng nhà, Trung úy Nguyễn Công Minh và Thiếu úy Trần Văn Phước đã được thuyên chuyển lên làm việc ở Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Trung úy Minh được giữ chức Trưởng Ban Truyền Tin, và Thiếu úy Phước đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban 2.

Cũng trong thời gian này Thiếu úy Lý Ngọc Châu đã mãn khóa Chiến Tranh Chính Trị Ðà-Lạt.

Vừa trở về hôm trước, hôm sau chú Châu đã đôn đốc mấy ông Lao Công Ðào Binh hoàn tất một ngôi nhà lá Câu Lạc Bộ rất khang trang.

Ông Tàu Hỷ đầu bếp, kiêm thủ quỹ của Câu Lạc Bộ đã liên lạc được với một cửa hàng chạp phô dưới Nhơn-Cơ cung ứng mọi thứ hàng cần dùng để bán cho anh em. Chủ cửa hàng này là vợ chồng ông Lâm Văn Cáo người gốc Hoa Chợ Lớn.

Hiện thời, tình hình Tây Quảng-Ðức hoàn toàn lắng dịu, ta không thấy tên địch nào xuất hiện trong vùng, mà địch cũng không dám bén mảng tới gần để quấy rối ta.

Bỗng một hôm, tôi đang ngồi trong hầm hành quân chỉ dạy cho Thượng sĩ Nguyễn Phường, Hạ sĩ quan Ban 2 cách điều hành công tác tham mưu tình báo tiểu đoàn thì Trung úy Trần Dân Chủ, Ban 3 chạy vào báo cho tôi biết Chuẩn úy Trần Quảng, vừa quá giang xe đò từ Gia-Nghĩa tới Kiến-Ðức và muốn gặp mặt tôi để thông báo một tin quan trọng.

Chuẩn úy Quảng đang đứng dưới đường. Tôi cho phép chú Quảng vào Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn chờ gặp.

Thấy tôi, Quảng liên tục phát ngôn,

– Anh Long ơi! Sáng nay ông Thiếu úy Trần Văn Phước đã vác súng đuổi bắn Ðại tá Vấn và Trung úy Hạp làm cho hai ông này chạy bán sống, bán chết!

Tôi ngạc nhiên,

– Vì lý do gì vậy? Chẳng lẽ thằng Phước lại say rượu nữa hay sao?

– Dạ không! Anh Phước tỉnh táo lắm! Sáng nay em trực hành quân, em thấy anh Phước mắt đỏ ngầu, tay cầm khẩu Colt 45 bước vào phòng họp, miệng la oang oang, “Ðại tá Vấn đâu? Ra đây! Tui cho ông biết thế nào là chạy! Thế nào là chết!” Nghe tiếng hét của anh Phước, Ðại tá Liên đoàn trưởng sợ quá, vội chạy ra khỏi phòng tránh mặt. Ông Trung úy Hạp, Trưởng Ban 3 Liên đoàn, tiến tới khuyên can thì bị anh Phước bắn bốn phát sượt qua vai. Ông Hạp phóng ra sân, anh Phước đuổi theo, nhưng bị vấp ngã, khẩu súng văng khỏi tay. Lập tức, anh Phước bị mấy người lính ôm vật rồi trói lại. Ðại tá đã chuyển anh Phước đi Gia-Nghĩa nhốt trong Ty An-Ninh Quân-Ðội. Biết chuyện này, em phải chạy ngay về đây báo cho anh hay ngay.

Chuẩn úy Trần Quảng trước đây là trung đội trưởng của Tiểu Ðoàn 82. Trong trận Căn cứ 711 tháng 4 năm 1974, Quảng bị thương, sau khi xuất viện, Quảng được chỉ định làm Sĩ quan Phụ tá Ban 3 của Liên Ðoàn 24.

Khác với những quân nhân trong đơn vị, lúc nào gặp tôi, Quảng cứ gọi tôi bằng đại danh từ “Anh” vì Trần Quảng là em của Trần Ðờn, một anh bạn cùng trường, cùng lớp của tôi từ thời 1956 ở Hội-An. Tôi biết Quảng từ ngày chú ấy còn mặc quần thủng đít. Tôi nhìn Quảng gặng hỏi,

– Vậy chú có biết vì lý do gì mà thằng Phước lại nổi điên như thế không?

– Em nghe nói anh Phước muốn giết ông đại tá là vì trong thời gian Tiểu Ðoàn 82 bị vây ở Pleime, ông Vấn có than phiền và “trù ẻo” cho Tiểu Ðoàn 82 sớm chết mất xác, sớm bỏ đồn gì đó! Vì thế mà anh Phước muốn trả thù ông Vấn!

Nghe Quảng giải thích, tôi nhớ lại ngay chuyện Ðại tá Từ Vấn đã “trù ẻo” chúng tôi như thế nào trong thời gian ấy.

Số là, hồi tháng 8 vừa qua, vòng vây của địch quanh Pleime càng lúc càng siết chặt, số mệnh của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân lâm vào tình trạng mong manh như ngàn cân treo sợi tóc, khiến cho ông Ðại tá Liên đoàn trưởng phải vất vả, âu lo với nhiều đêm thức trắng. Một hôm, quá nản lòng, thối chí, ông đã buột miệng than:

“Mẹ nó! Chết thì không chết! Chạy thì không chạy!  Cứ dở dở, ương ương, làm cho người ta mất ăn, mất ngủ!”

Lúc mới nghe được chuyện này tôi cũng bất mãn và tức giận lắm, sau này tôi bỏ nó ra ngoài tai, vì tôi nghĩ rằng ông Ðại tá Từ Vấn là người ăn nói vung vít, bụng để ngoài da, phát ngôn vô tội vạ, chứ cũng chẳng có ác ý gì.

Ðâu ngờ người đàn em của tôi cũng biết chuyện này, nên ghìm nỗi uất hận trong ruột, nay có dịp là bùng phát ra ngay.

Thiếu úy Trần Văn Phước là một trong những đàn em mà tôi đem theo từ ngày đầu nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.

Tính tình của Phước rất là vui vẻ, dễ thương, nhưng cũng không ai dễ dàng bắt nạt được chú ấy.

Phước có cái tật thích uống rượu, rượu vào rồi, dù có việc phải nhảy vào lửa đỏ, chú ấy cũng không từ nan.

Thêm vào đó, là cái lòng cương trực thẳng băng như ruột ngựa, khiến cho những người quen chú ấy đã thương thì thật là thương, đã ghét thì thật là ghét.

Ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 chỉ có mình tôi là người độc nhất chỉ huy được con ngựa bất kham này.

Cuối năm 1972, sau khi tốt nghiệp Khóa Tình Báo Căn Bản từ Trường Quân Báo Cây Mai, Chuẩn úy Trần Văn Phước đáo nhậm Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và theo chân tôi từ đó.

Thời gian ở Pleiku, Phước chỉ huy Biệt Ðội Biên Vụ, có 18 anh Viễn Thám trực thuộc Phòng 2 dưới quyền tôi.

Có một tối cuối năm 1973, trong quán bún bò cũng là nhà riêng của ông Ðại úy Hải, Sĩ quan Phòng vệ của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, Phước mở tiệc khoản đãi một toán Biên Vụ vừa thoát chết trở về.

Tới khuya mà bọn này còn cười nói oang oang, khiến cho ông Sĩ quan Tổng trực, cũng là Thiếu tá Trưởng Phòng 3 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 nghe được.

Ông thiếu tá này bước vào quán, ra lệnh cho mấy anh lính Phòng 2 giải tán.

Gia đình Th/tá Vương Mộng Long tại Đà Lạt – tháng 10/1974.

Thiếu úy Phước và Ðại úy Hải chủ quán vội vàng lên tiếng năn nỉ,

– Xin Thiếu tá cho phép anh em được ngồi thêm vài phút nữa để ăn cho xong mỗi người một tô bún bò.

Nghe xong, ông Sĩ quan Tổng trực tức quá hét lên,

– Không được! Phải dẹp ngay! Mai tôi sẽ làm phúc trình đề nghị đại tá ra lệnh đóng cửa vĩnh viễn cái quán bún bò này của ông Hải! Ngày nào cũng bán tới khuya, ồn ào, mất trật tự!

Cùng lúc đó, bà vợ Ðại úy Hải bưng ra mâm bún bò bốc khói để trên bàn ăn.

Vị Sĩ quan Tổng trực thấy mấy chàng lính Thượng râu ria xồm xoàm, tóc dài, ngổ ngáo, cứ giương mắt nhìn ông, ông bèn ra oai, cầm tô bún bò nóng bốc hơi, đổ lên đầu anh chàng Phước, miệng ông la,

– Ðủ mẻ! Tao ra lệnh cho tụi mi giải tán mà tụi mi cứ trơ mắt ngó! Không thi hành lệnh của tao hả!

Kết quả hành động oai hùng của ông thiếu tá đã đưa tới một kết cục không hay. Thiếu úy Trần Văn Phước sau khi giơ hai tay vuốt cho sạch mớ bún trên đầu tóc, đã thẳng tay đấm vào mặt ông thiếu tá một cú thôi sơn, khiến ông thiếu tá lăn quay ra đất, nằm giãy đành đạch.

Bi hài kịch này xảy ra vào lúc khá khuya, trong quán bún bò ông Hải, khán giả chỉ có trên dưới mười người. Xóm giềng của ông Hải đã ngủ yên. Giờ đó gia đình tôi cũng ngủ lâu rồi.

Sáng hôm sau, ông Thiếu tá Trưởng Phòng 3 mặt mày bầm tím, bước vào Phòng 2 gặp mặt tôi,

– Tui biết Trường An (Ðại tá Tất) thương Long, nhưng lính của Long kiêu binh quá! Ðêm qua lính của Long mới đánh tôi đây! 

Nhìn cái mặt bầm giập của ông Trưởng Phòng 3, tôi tá hỏa, ngạc nhiên,

– Chuyện xảy ra làm sao? Anh cho tôi biết để tôi trừng trị bọn hỗn hào, bá láp này!

– Tối qua tụi nó tụ tập nhậu nhẹt la hét om sòm trong quán bún nhà ông Hải. Tôi tới ra lệnh cho tụi nó giải tán, tụi nó xúm nhau vào đánh tôi! Cầm đầu là thằng Phước!

Tôi ra lệnh cho anh Viễn Thám gác cửa,

– Thằng Ba đi gọi Thiếu úy Phước lên đây trình diện tao!

Ba mươi giây sau, Thiếu úy Phước lấm lét đứng trước mặt tôi,

– Tối qua ông Sĩ quan Tổng trực làm nhục em, em chỉ phản ứng tự vệ!

Tôi nhìn thẳng vào mặt Thiếu úy Phước rồi dõng dạc,

– Kể hết đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe! Sau đó phải có lời xin lỗi ông Thiếu tá Sĩ quan Tổng trực!

Phước có vẻ nửa bất mãn, nửa sợ sệt, kể lại toàn bộ diễn tiến sự việc xảy ra tối hôm trước cho tôi nghe, cuối cùng Phước nhìn tôi buồn bã,

-Thái Sơn có thể đá đít, bạt tai em, hay đem em đi nhốt, vì tội lỗ mãng, nhưng Thái Sơn đừng bắt em phải xin lỗi ông thiếu tá này.

Nghe hiểu chuyện, tôi thấy nóng mặt, giơ ngón tay trỏ, chỉ ngay trán Thiếu úy Phước rồi hét lên,

– Mi là thằng hèn! Mi là thằng hèn!

Phước giật mình thụt lui lại đằng sau một bước run lẩy bẩy, miệng lắp bắp,

– Em …Em…

Tôi quát tiếp,

– Em! Em! Em cái gì? Em là một thằng hèn! Người ta đổ bát bún lên đầu em mà em chỉ dám đánh người ta! Em có súng mà không dám bắn người hạ nhục em thì em không xứng đáng là em của Thái Sơn! Ðáng lý ra em phải bắn vỡ đầu nó! Em là một thằng hèn! Nghe rõ chưa! Cút đi!

Tôi bực tức quay lưng bước vào ngồi trên chiếc ghế sau bàn làm việc.

Lúc tôi quay mặt lại thì không còn thấy bóng dáng ông Thiếu tá Trưởng Phòng 3 và anh Thiếu úy Trần Văn Phước đâu cả.

Ít ngày sau, tôi cho Thiếu úy Phước vào Pleime trước chờ tôi.

Gần hai tháng sau đó, tôi nhận chức chỉ huy căn cứ này.

Từ ấy tới nay chú Phước sống vào khuôn vào phép, không làm mích lòng ai.

Vậy mà mới sểnh tay tôi ra vài ngày là có chuyện!

Tôi chưa biết làm cách nào để cứu thằng em thì Trung sĩ 1 Lưu Ðức Hoàn, Hạ sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn xuống đồi tìm gặp,

– Hai Lẻ Chín mời Thái Sơn về liên đoàn có việc cần.

Tôi tới bộ chỉ huy liên đoàn thì phòng hội đã đầy người.

Trung tá Hoàng Kim Thanh đứng giữa phòng họp, thấy tôi xuất hiện thì ông vỗ hai tay vào nhau, rồi cao giọng, tuyên bố,

– Ðại tá liên đoàn trưởng bận đi họp trên tiểu khu, ủy quyền cho tôi chủ tọa buổi họp này. Tất cả anh em đang chờ Thiếu tá Long, giờ này mình bắt đầu khai mạc hội đồng kỷ luật được rồi!

Tôi ngồi xuống ghế thắc mắc,

– Kỷ luật ai vậy?

– Thì mình xử anh sĩ quan vô kỷ luật là Thiếu úy Trần Văn Phước của Tiểu Ðoàn 82 chứ ai?

– Thiếu úy Phước không phải là sĩ quan của Tiểu Ðoàn 82!

Trung tá Thanh nhìn sững ngay mặt tôi,

– Vậy chứ anh Phước là lính của ai?

– Thiếu úy Trần Văn Phước đã thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn, không còn thuộc quân số của Tiểu Ðoàn 82 nữa!

– Sáng nay Thiếu úy Trần Văn Phước đã bắn phá lung tung ở đây, nguyên nhân gây ra bắt nguồn từ Tiểu Ðoàn 82, Thiếu tá Long là Tiểu đoàn trưởng nên liên đới chịu trách nhiệm!

Tôi đứng dậy, gằn từng tiếng,

– Tôi đã biết rồi! Chuyện này là thù hằn riêng tư giữa Ðại tá Vấn và Thiếu úy Phước, không liên quan gì tới tôi!

Dứt lời, tôi đứng dậy bước ra ngoài, trước con mắt ngạc nhiên của mọi người có mặt.

Nửa giờ sau tôi đã về tới Kiến-Ðức, có vài lần Trung tá Thanh gọi tôi vào máy để nói chuyện. Tôi bắt máy nhưng chỉ ậm ừ vài tiếng rồi dứt khoát,

– Nếu không phải chuyện hành quân, tôi sẽ không tiếp ai cả.

Hôm sau Trung tá Thanh lên Kiến-Ðức tìm gặp tôi, anh Thanh nói,

– Ông Hai Lẻ Chín ra lệnh cho chú tới An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Ðức ký giấy lãnh thằng Phước ra.

Tôi lắc đầu,

–  Ông Vấn nhốt nó thì ông Vấn phải ký giấy thả nó! Tôi không rảnh mà làm chuyện này!

Thấy tôi nhất mực từ chối, Trung tá Thanh bèn vào hầm truyền tin nói chuyện với Ðại tá Vấn một lúc lâu rồi kéo tôi vào Câu Lạc Bộ.

– Nếu bây giờ liên đoàn hoàn trả nó cho 82 thì chú có lãnh nó không?

– Ông Vấn ký lệnh thuyên chuyển cho nó về lại 82 thì tôi sẽ lãnh nó ngay!

– Chú có dám bảo đảm rằng được tha ra, nó sẽ không làm loạn nữa chứ?

– Tôi bảo đảm, với điều kiện ông Vấn không phạt nó, và bỏ qua chuyện vừa rồi.

– Thì ông Vấn hứa với anh rằng ông ấy cũng có ý định như thế!

Tôi nhìn ngay mặt Trung tá Thanh,

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 14 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 17

Bảy năm trời nhờ nằm nhà thương điên nên Frank Corbo không gieo tai họa cho gia đình. Rồi một đêm hắn đột ngột trở chứng. 
Đang yên lành trong Dưỡng trí viện Pilgrim ở tuốt bên Long Island một đêm hắn quyết định tìm lại tự do. Hắn đã lựa lúc tối trời nhất để cố vận dụng bộ óc bệnh hoạn để thoát đi từ cái gường cũi bằng sắt. Không hiểu hắn đã tính toán thế nào mà chui lọt qua hàng chấn song, lén lút bò ra ngoài phòng nhốt bệnh. Thoát ra ngoài cũi sắt rồi hắn mới chịu thở hơi cuối cùng. Đúng lúc đó điểm linh hồn chợt le lói sáng của Frank Corbo mới rời bỏ thân xác để vĩnh viễn từ giã cuộc đời … 
Điện tín báo tử đến nhà Lucia Santa vào giữa buổi sáng, lúc mụ đang uống cà phê đợt hai cùng bà chằng Teresina. Có bao giờ bà bạn mới này chịu tiết lộ đọc được tiếng Anh, hiểu đàng hoàng đâu? Thấy mụ cầm bức điện tín đọc vanh vách, Lucia Santa còn ngạc nhiên hơn là tin chồng chết. Ra mụ Teresina này ghê gớm thực. Ánh mắt mụ nhìn lạnh lùng, tuyệt đối không thương xót giả tạo. 
Một người từng gửi gắm vận mạng cho mình nay có tin đột ngột từ giã cõi đời … nghĩa là từ nay hết nhờ cậy, hết phải lo lắng giùm nữa thì tránh sao khỏi xúc động? Đồng ý vậy. Nhưng Lucia Santa thẳng thắn nói ngay thà hắn chết được vậy còn đỡ khổ, đỡ thấp thỏm e ngại có ngày hắn vuột ra rồi lại phải đau khổ tống vào nhà thương điên lần nữa. Mụ nhìn nhận khiếp sợ lắm rồi, suốt ngày nơm nớp sợ hắn về gây họa cho đàn con nên hắn sống còn lo ngại thêm là khác. 
Hơn nữa nếu đời này có thể tin được ở Thượng đế, ở sự chết đi là hết tội thì thà rằng Frank Corbo chết đi cho rảnh nợ. Cứ mỗi lần lâu lâu đi thăm chồng về, nhìn thấy hắn bị nhốt trong cũi sắt là một lần Lucia Santa cụt dần hy vọng, không mong gì hắn lành mạnh trở về đời. 
Đó là lý do mụ không buồn vì chồng chết mà chỉ thấy trút bỏ được một gánh nặng. Vì trong tim mụ người chồng đầu gối tay ấp, có với mụ ba mặt con là Frank Corbo đã chết dần chết mòn từ ngày nằm Dưỡng trí viện. Có nhìn thấy hắn Lucia Santa cũng chẳng nhìn như một người sống mà chỉ là một cơ thể đang chết dần. 
Chắc hẳn không lạ gì hoàn cảnh của Lucia Santa nên bà bạn Teresina bèn có đề nghị rất thiết thực. Đồng ý là chồng chết phải chôn. Nhưng tội gì phải làm rình rang, mướn người đưa xác về tận nhà để làm đám tang, tốn tiền nhà đòn vô ích? Bộ muốn khoe với bà con lối xóm là “thằng chồng tội chết trong nhà thương điên” đây? Tốt hơn là cả gia đình kéo sang Dưỡng trí viện Pilgrim, làm đám tang ngay tại chỗ. Vả lại Frank Corbo đâu có bà con dòng họ gì bên này mà sợ phiền nhiễu, có ai phúng điếu không đã chứ? 
Theo ý Teresina thì làm vậy vừa giản dị, đỡ tốn cả mấy trăm đô la, vô ích mà thiên hạ hết còn xầm xì. Mụ tính gọn gàng thiết thực vậy đó … không nghe theo sao? 
Tối hôm đó cả gia đình Lucia Santa quây quần quanh bữa cơm tối hơi cầu kỳ một chút vì đang giữa mùa hạ . Nhà có “đám ma”? 
Nghe tin Frank Corbo từ trần, cả nhà cũng chẳng buồn thảm mấy, dù hắn trên nguyên tắc là chồng, là cha … nghĩa là chủ nhân gia đình. Ngay Gino nghe tin bố chết chỉ nhìn mẹ một lát rồi nhún vai, xem như chuyện ắt phải xảy ra. Sự hờ hững ngoài mặt của nó làm Lucia Santa đau xót. Thà còn nhỏ chưa biết gì như Sal và Lena đi. Hồi đưa bố nó đi nhà thương Gino đã mười một tuổi chứ phải đâu không biết? 
Gia đình Angeluzzi Corbo bình thản lo cho người chết, vừa ăn vừa bàn tính phải làm gì. Trước đó chính Larry đã phone tới bệnh viện cho hay đám tang sẽ cử hành trưa hôm sau và đặt trước một bia mộ. Về vấn đề chuyên chở đã có sẵn chiếc xe của sếp Di Lucca cho mượn – ép buộc phải mượn – để Larry lái đưa cả nhà sang Long Island. Phải đi từ bảy giờ sáng mới kịp về trong ngày dù Frank Corbo được chôn ngay nghĩa trang của bệnh viện. 
Như vậy có hơi gấp gáp … song chỉ mất đúng một ngày. Đi đưa đám ông cha ghẻ về, vợ chồng Octavia sẽ ngủ lại một đêm ở căn phòng cũ, bé Lena sẽ vào ngủ với bà mẹ là xong. 
Sau khi hối hả cho xong bữa, Gino lặng lẽ thay quần áo có chuyện đi. Nó ra tới cửa Lucia Santa phải gọi giật lại, dặn tối nay phải về sớm để sáng mai còn phải lo nhiều việc. Gino chỉ ậm ừ: “Nhớ chứ! Làm sao quên được?” 
Nó đi rồi, Larry mới lên tiếng với mẹ: 
– Cái thằng kỳ quá. Đêm nay nó còn tính đi chơi được? 
– Đêm nào nó chẳng tới hội quán Hudson! Quen chân rồi! 
– Quen sao được? Ông già chết còn nằm đó mà? Mấy buổi tối tôi còn về ngang câu lạc bộ Hudson vẫn thấy tụi nó tụ họp chơi giỡn với mấy đứa con gái. Nhưng đêm nay nó đi đâu có được? Ít ra mẹ cũng phải bảo cho nó biết chứ? 
Nghe Larry nghiêm trang đặt vấn đề luân lý, Octavia cười phá lên: “Sao mày không bảo nó? Không phải … ở tuổi nó mày mê gái đi tối ngày sáng đêm hả?” 
Thấy chị nói đúng tim đen, Larry nhoẻn miệng cười nhưng mắt không quên liếc chừng con vợ. May quá, Lousia mắc bận đứa nhỏ! 
“Sao chị trù tôi quá xá vậy?” Larry chỉ nói có thế và câu chuyện gia đình lại xoay qua kể lại những chuyện xưa tích cũ trong khi Sal và Lena đứng lên lo dọn dẹp. Anh Norman Bergeron lại mở cuốn thơ và đọc vài bài để thằng Vincenzo rầu rĩ úp mặt vào trong lòng bàn tay nghe chăm chú. Đúng lúc đó mụ Teresina bước vào. Lucia Santa bèn xách ra chai rượu, một mớ hạt dẻ và ít chai nước ngọt. Có mặt mụ là cả nhà trở lại những mẩu chuyện về người vừa khuất bóng Frank Corbo. Vụ điên đầu của ông cha ghẻ được chính Octavia gợi nhớ lại trước hết: “Biết sao không? Thấy ông ta khen thằng Vincenzo nào “ngoan ngoãn … được lắm” là tôi biết đầu óc lộn xộn rồi!” 
Sáng sớm hôm sau, Lucia Santa ngạc nhiên vì thằng Gino không về nhà ngủ. Hồi này nó ưa đàn đúm chúng bạn đi chơi suốt đêm là thường lắm. Ai mà biết nổi chúng làm trò ma mãnh gì? Nhưng thằng khốn nạn nhè đúng lúc ông bố già nó chết, cả nhà phải đợi một mình nó để đi đưa đám ma cho kịp giờ … thì mụ chịu sao nổi? 
Mọi người bảo nhau ăn cho xong bữa sáng vẫn chưa thấy mặt nó. Bộ quần áo của nó đã được ủi sẵn để nằm kia! Nóng lòng quá, Lucia Santa sai hai anh em Larry, Vincenzo xách xe đi nắm đầu nó về gấp. Biết nó ở đâu mà tìm bây giờ, nhưng Larry vẫn cho xe chạy rề rề chỗ hội quán Hudson kiếm thử. Tụi nó ưa tụ họp chơi ở đây sáng đêm và ở tiệm kẹo bên đại lộ số 9 nữa. 
Nơi đây lão chủ tiệm mắt lấp láy cho hay Gino vừa ở đây xong. Cách đây cỡ một giờ còn thấy mặt nó và nghe tụi nó rủ nhau đi xem cinema xuất sáng, không hiểu ở rạp Paramount, Capitol hay Roxy nữa! 
Hai đứa trở về lập tức cho mẹ hay. Dường như Lucia Santa choáng người. Mụ bảo vắn tắt: “Vậy mình đi. Chờ nó đâu được?” 
Lúc cả nhà ra xe thì đột nhiên mụ Teresina từ đường 31 chạy tới. Mụ mặc toàn đồ đen, mặt mũi rầu rĩ, đúng là “đi đưa đám ma”. Mụ chỉ tính thò đầu vào cửa xe bảo “Thôi, mẹ con ráng đi chôn cất hắn cho mồ yên mả đẹp” nhưng xe còn một chỗ trống, Lucia Santa mới cho đi luôn. 
Rõ ràng Teresina cảm động ra mặt. Vừa đi đưa ma cho trọn tình nghĩa, vừa có dịp đi chơi nguyên ngày cũng hay. Mụ mở cửa xe lên liền, ngồi kế bên Vincenzo và hứng thú ra mặt. Phải đi cùng với họ mới biết chuyện gì xảy ra để sau này có quyền kể lể mẹ con Lucia Santa bữa đó làm đám tang cho Frank Corbo như thế nào, thằng con ruột lớn nhất của hắn mê chơi làm sao “nghĩa tử là nghĩa tận” mà bố chết không xem mặt một lần chót. Mụ sẽ kể lể khỏi sót một chi tiết và nhấn mạnh cả nhà chẳng có ai khóc trừ mụ Lucia Santa … mà xem ra mụ đổ lệ chẳng phải vì thương xót ông chồng mà vì quá uất giận thằng con nên khóc lóc cho hả. Chắc chắn Teresina sẽ lắc đầu cho hay trước: 
– Cái vụ này là không xong chắc! Ai chứ mụ Lucia Santa đời nào chịu chấp nhận thứ con độc địa, trời đánh đó?

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Photo edit by Sơn râu

Chương 16

Đám cưới cô gái đầu lòng Octavia thì Lucia Santa đâu dám tiếc tiền? Phải thật là rình rang, phải làm sao cho đẹp mặt cả. Nội khoản rượu chát thì lấy ở kho của lão chủ lò bánh ra, bao nhiêu vò bự bày chật hành lang. Cả núi dăm bông hạng nhất, cả mâm pho mát toàn thứ chiến! Bàn tiệc thì dĩ nhiên phải trải khăn đàng hoàng cho nổi bật từng đĩa bánh ngọt đủ màu, xen vào những đĩa kẹo hạnh nhân đám cưới đúng truyền thống. Còn nước ngọt thì phải nhiều hơn, chất đống cao tới trần nhà bếp, từ vỉ ba hộp một: nước cam, kem sô đa, nước dâu … Nhà Lucia Santa có đám cưới thì bà con tới đủ mặt, có thể nói là không sót một nhà ở đại lộ số 10 . Mấy người họ hàng, quen biết từ lâu nay làm ăn khá giả tậu nhà bên Island được mời ăn đám cưới cũng tới chia vui. Đi đám cưới gặp bà con nói dóc chơi đã vui, huống hồ lại được dịp thấy tận mắt một thằng vô thần chịu làm rể nhà này! 
Dưới lớp lớp hoa đèn giăng kín phòng khách, bọn trẻ được dịp ôm nhau khiêu vũ bằng thích. Máy hát, đĩa hát đã có ông chủ tiệm hớt tóc hy sinh cho mượn. Người lớn chia nhau ngồi chật kín nhà, bàn ghế đi mượn về cũng bầy chật cứng, không còn có chỗ đi lại. Mỗi lần bà con tới mừng, đưa phong bao cho cô dâu là Octavia lại mau mắn chạy đưa cho bà mẹ để Lucia Santa khoái chí, bao nhiêu cũng thầu hết vào chiếc túi lụa đeo tòn ten ngang hôn. Mỗi lần long trọng kéo khóa sắt rèn rẹt cho túi mở banh ra nuốt thêm một phong bao là một lần khuôn mặt bà mẹ vợ sáng rõ. Nếu đám cưới là một ngày vui thì đời Lucia Santa đã có lần nào vui như thế này, dù đám cưới là thế nào cũng có chuyện bất ưng hơi phiền lòng một chút. 
Chẳng là Octavia có một con bạn từ hồi còn đi học trung học tên Angelina. Con này nhà giàu, trong nhà gắn telephone kia mà? Nghe tin Octavia lấy chồng, nó tới chia vui, đưa đồ mừng thật hậu. Ông nào, cậu nao cũng nhấp nhổm hết! 
Xem khuôn mặt Angelina đã ngộ sẵn mà con nhỏ còn trang điểm hơn cả cô dâu nữa! Phấn hồng đánh thật nổi, cặp mắt tô đậm như đào xinê mà cặp môi chỉ phơn phớt chút son hồng vừa đủ để che cái miệng quá rộng và nổi bật nét ngây thơ. Môi nó mòng mọng như nho vừa chín tới. Đến bộ đồ đi đám cưới của nó mới tối tân. Không có mốt nào hết, chỉ để hở gần nửa bộ ngực, dĩ nhiên ở phía trên cho thiên hạ ngắm chơi. 
Vì vậy bà con tranh nhau mời người đẹp Angelina khiêu vũ không kịp thở. Thằng Larry mê tít bèn lờ luôn con vợ để bản nào cũng nhảy với nó khiến Lousia phát khóc mới thôi. Con vợ chịu sao nổi cảnh hai đứa ôm nhau đi lả lướt, nhè thằng chồng còn giở đủ mọi ngón duyên dáng, lịch thiệp để tán tỉnh, lúc nào cũng nhe hàm răng trắng nhởn ra cười khoái trá. 
Được cái Angelina không khoái riêng ông nào, cậu nào. Ai mời cũng chiều lòng hết. Nó liên tiếp nhảy với lão chủ lò bánh góa vợ, với thằng con Guido cũng mùi mẫn như với gã chủ tiệm hớt tóc mắt ti hí. Ngay cụ chủ tiệm kẹo Angelo năm nay bảy mươi lăm tuổi cũng phải ráng nhảy với nó một bản mới chịu kia mà.
Phải công nhận Angelina là cây đinh bữa đó. Đàn ông con trai mắt la mày lét, đang nhậu nhẹt hay đấu láo cũng bỏ hết để bám lấy người đẹp, không được hân hạnh nhảy một bài thì cũng đứng trơ ra nhìn cho đã! Thế rồi Angelina nhảy đến mỏi chân, nhảy nóng cả người và còn sợ lớp phấn sáp làm mặt dám rã rời loang lổ đến nơi đành phải rỉ tai Octavia xin cho về sơm sớm chút kẻo hết xe về Island. 
May quá! Octavia lẹ làng ôm hôn cô bạn một cái rồi từ biệt cho rồi, chậm trễ dám sinh giặc vì ngay chú rể Norman Bergeron chỉ ngày cưới vợ mới chịu buông cuốn sách ra mà nãy giờ còn giương mục kỉnh nhìn người đẹp Angelina lom lom bằng đôi mắt thật thi sĩ kia mà? 
Sau cùng cũng chẳng chuyện gì xảy ra, bất quá cũng chỉ là một chuyện bất ưng vốn đầy rẫy trên cõi đời này. Lộng lẫy như thế đó rồi Angelina chồng con vào cũng đến mái sề, cũng ngồi lê la nói chuyện tào lao như các bậc đàn chị để nhường chỗ cho lớp nhỏ lên thay. Tạm thời thì người đẹp có quyền cho rơi các đàn anh xóm đại lộ số 10 để vào chào từ biệt bác Lucia Santa, nhí nhảnh như một nàng con gái Mỹ chính cống biết mình trẻ đẹp. Trong khi đó bà mẹ Octavia chỉ mỉm cười đáp lễ với dáng điệu lạnh lùng, cao ngạo trưởng giả. Mụ thầm hài lòng với ý nghĩ tao còn con nhỏ Lena … Rồi đây lớn lên đâu chịu thua mi, nhà nó cũng sẽ ở Long Island như mi và chắc chắn nó cũng duyên dáng Mỹ rặt vậy chứ? 
Chao ôi, tai họa thường bất chợt vào phút chót. Đúng lúc Angelina dậm bước trở ra thì tình cờ chạm mặt Gino. Nó đâu đã đủ 16 tuổi nhưng người to con, vạm vỡ, rắn chắc. Bộ complê xám mới toanh, đặc biệt mua của dân “nhảy dù” bến tàu nhân đám cưới chị Octavia càmg làm cho nó người lớn hơn nhiều. 
Suốt ngày hôm nay nó tình nguyện lãnh chân mở rượu, khui nước ngọt hầu hạ khách khứa. Nó cứ lầm lầm lì lì làm như máy, lo chu toàn nhiệm vụ nên ai cũng tưởng đâu nó ngoan ngoãn, dễ thương lạ! Chỉ một mình Lucia Santa hiểu tính thằng con vì Gino làm xem xôm vậy nhưng ngần này người quây quần ở đây đối với nó có nghĩa gì đâu? Nó chẳng buồn nhìn ai, chẳng muốn nghe chuyện gì … muốn nghĩ nó xấu hay tốt bất cần cũng như ai sống ai chết nó chẳng quan tâm. Làm như chỗ của nó chẳng phải ở đây, nó lạc lõng và bị cầm chân trong một ngày nên đành phải nhận làm một cái gì đó cho qua thì giờ. 
Dĩ nhiên ý nghĩ riêng của Gino chẳng ai đọc được nên bà con thấy nó “ngoan” vậy là chịu lắm, nhất là ông bác họ Piero Santini lập nghiệp bên Tuckahoe. Ông này râu rậm đêm ngày lo làm việc quá nhiều nên người quắt lại như một cây đinh. Chẳng gì cũng làm chủ bốn cái xe vận tải chứ ít sao? Bà vợ mập ú, tính ba trợn đeo đầy người đồ vàng giả và tiêu thụ bánh kẹo thì như điên trong khi đứa con gái mười bảy tuổi thẹn thùng ngồi xen giữa bố mẹ mà ánh mắt rời anh Gino không nổi! 
Nãy giờ con nhỏ Caterina mê mệt Gino làm sao qua mắt ông già nó nổi? Giữ gìn nó bao lâu nay làm gì Santini không biết tính nết cô gái cưng? Mới đầu thì bực bội, sau đó đổi ý ngay. Con nhỏ bị bố kiểm soát kỹ, đúng lề lối con nhà làm ăn bên Ý chứ đâu được phép ăn chơi buông thả như gái Mỹ, nay xin phép đi chơi, đi xem hát với anh này anh kia? Nhất là vụ xin đi “khiêu vũ” gia đình thì cấm tiệt vì ông bố Santini đầu óc nặng trĩu thành kiến: “Chúng nó mà … nhảy cái quái gì? Bọn nhãi con bây giờ chỉ gỡ gạc!”. 
Kinh nghiệm quá mà? Santini tuyên bố chẳng còn lạ gì đầu óc mấy thằng nhãi con đời nay? Chúng chỉ muốn có mỗi thứ con gái mà nhẹ dạ cả nể với chúng là chém chết cũng lãnh một bầu sống dở chết dở chỉ làm khổ cha mẹ. Nhưng phải nhìn nhận là con bé Caterina đã “chín mùi” rồi, cấm cản nó mãi không nổi! Mụ vợ thì chẳng trông cậy được tí gì … mà hắn lại sắp phải mua sắm thêm hai chiếc xe nữa mới là kẹt nặng. Thêm xe là thêm việc và tiền cũng vào thêm chắc. Lại phải bận rộn đếm tiền đến sáng đêm và xem chừng mấy chú em giúp việc cũng đủ mệt. Sơ sẩy, ỷ y vào người làm là có chầu bị chúng rút ruột. 
Chúng làm sao qua mặt nổi đàn anh Piero Santini? Hắn quá rành cái nghề có xe vận tải chạy mướn theo thời thế mà xoay như chong chóng. Cái gì có ăn là nhào vào liền. Đang chuyên chở mướn xoay qua đổ rác … mà chở uýt ky lậu cũng ok miễn có kẻ chịu chi tiền đúng mức. 
Vụ con Caterina làm hắn suy nghĩ nhanh như chớp. Không chừng đi ăn đám cưới bữa nay lại hóa hay. Thằng Gino ít lời và làm luôn tay luôn chân nhanh nhẹn thế kia nhất định dai sức: Mình nó lên hàng xuống hàng dám bằng cả thằng tài xế lẫn hai thằng lơ làm biếng cộng lại! Nếu vậy người nó đúng là vàng khối, có giá lắm. 
(Phải chi ông bác họ Piero chịu hỏi ý kiến Lucia Santa và bà con lối xóm đại lộ số 10 về giá trị lao động của cậu cháu quý Gino thì chắc chắn họ sẽ cười rũ ra và phong liền cho nó chức vô địch thất nghiệp toàn khu, cam đoan hết thuốc chữa). Santini vẫn nhìn Gino đăm đăm. Lúc mụ vợ hắn xề lại gần đĩa bánh mới, bỏ trống chiếc ghế là hắn ngoắc nó lại bảo rót ly rượu và ra hiệu ngồi xuống nói chuyện chơi. 
Bà con thấy thằng cháu nghèo mạt khi không được ông bác nhà giàu chiếu cố, kêu lại nói chuyện thân mật thì chú ý lắm. Bao nhiêu con mắt nhìn xâu xé. Dù hiền lành, dù nhà quê chẳng biết gì mà được bồ Teresina nháy nhó điểm chỉ một phát là Lucia Santa biết ngay chuyện gì đang xảy ra. 
Không ai bảo ai sau khi nhìn hai bác cháu Gino là bao nhiêu con mắt lại tự động “chiếu tướng” con nhỏ Caterina. Chỗ người đồng hương với nhau còn ai không biết tấm gương sáng lạn của Caterina Santini? Lâu nay nó chẳng từng được tiếng con nhà làm ăn “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” đó sao? Nghe nói nó đã có nết mà tài tề gia nội trợ cũng đảm lắm. Mới tí tuổi đầu mà nấu bếp rất cừ. Chủ nhật nào bố nó chẳng có một món ăn đặc biệt? Ngay mì ống Caterina còn cán lấy ở nhà kia mà? Nó lại chẳng phấn son, tối kỵ đi thứ giày cao gót mà theo truyền thống chỉ làm lệch lạc xương hông! 
Nhưng chừng mê thì nó cũng mê vậy. Đến thánh cũng còn bị mà. Xem nó mê mết ra mặt thế kia còn giấu nổi ai? Mặt đỏ bừng bừng, ngực phập phồng lên xuống dữ, cả cơ thể nó như muốn vỡ ra. Cặp mắt to long lanh ướt rượt giả vờ nhìn xuống, nhìn cặp chân bắt chéo, người nó hừng hực bốc lửa được. 
Trước cảnh đó, Lucia Santa mừng húm. Mụ mừng giùm cho thằng con mặt mũi vô duyên, chỉ được cái khổ người sống động – kết quả của mấy năm chạy nhảy dông dài phơi nắng thay vì làm việc! Đám cưới con chị không ngờ lại may thằng em! Như một con sói đánh hơi thấy máu, Lucia Santa cố nghển người vểnh tai ra nghe xem gã cáo già Santini nói gì với thằng nhỏ nhưng tiếng nhạc ầm ầm chẳng nghe thấy gì hết. 
Lúc ấy bác Piero dùng tiếng mẹ đẻ ngọt ngào hỏi thằng cháu: “Thế hiện giờ cháu làm gì, cháu dự tính làm gì … hay chỉ ngày ngày đi học?”. Quái lạ, nó cứ giương mắt nhìn mãi. Nó làm như không biết nghe tiếng Ý vậy. Mãi sau mới mỉm cười ngượng. Santini hiểu ngay: ra cu cậu bất ngờ được ông bác hỏi đến lấy làm cảm động và ngượng ngùng nói không nên lời! 
Để nó mạnh dạn, tự nhiên mà cũng để tiến dần vào đề, bác Piero bèn thân mật vỗ vai Gino trách yêu: “Cháu để con gái bác, con Caterina chết khát hay sao đây mà không cho uống một cái gì? Một ly kem sô đa chẳng hạn? Mà con khát nước phải không, Caterina?” 
Con nhỏ ngượng chín người. Nó đâu dám nhìn lên mà chỉ cúi mặt gục gật đầu. 
Gino cũng vậy. Nó chỉ nghe mỗi tiếng “kem sô đa” và thấy con nhỏ gật đầu là đứng lên, đi bưng tới mời một ly. Nó đâu biết gì mà sự thực biết làm sao được … vì chính nó có để ý đến sự hiện diện của ai đâu ? Đưa xong ly nước là nó lẹ làng quay ngoắt đi, chẳng thấy ông bác Piero đập đập xuống mặt ghế ra hiệu ngồi xuống nữa. 
Piero Santini xem vậy là mất mặt bèn nhăn nhó, nhún vai cho bà con thấy hết ra điều: “Quân chết đói bày đặt làm tàng! Hà tất tao thèm hạ m ình trò chuyện …” Chắc bà con cũng đồng ý với ông bác nhà giàu bị thằng cháu xem chẳng ra gì và còn có ý thương hại con nhỏ hiền lành nết na đang ngồi chết cứng chúi mũi vào ly kem sô đa. Ai cũng thấy vẻ giận dữ của Lucia Santa và thằng con đốn đời, cung cách dở người này rồi cũng đến … Dưỡng trí viện như thằng bố! 
Lúc bấy giờ người đẹp Angelina đang từ giã ra về bỗng khựng lại. Rõ ràng con nhỏ này cũng khoái Gino ! Dù sao cái vụ thứ nhì này còn dễ hiểu. Đám đàn ông con trai bữa nay già trẻ đều quấn quýt lấy nó … chỉ một mình Gino lạnh lùng cao ngạo, được người đẹp ban cho một ánh mắt cũng không buồn nhìn lại một cái . Làm gì Angelina không để ý thấy?
Vả lại biết bà con nãy giờ hầu hết đố kỵ mình, Angelina còn cố tình chọc vào mắt họ bằng cách tiến tới thằng con nhưng ngỏ ý thẳng với bà mẹ: “Chà, bác có cậu Gino đẹp trai quá đi thôi! “. 
Nó làm thằng nhỏ rùng mình sững sờ vì hơi ấm của lòng bàn tay truyền sang, vì mùi nước hoa ngào ngạt, vì đôi môi tô mòng mọng như trái nho chín gần gụi quá. Chưa biết là cái gì song Gino chịu quá, đứng đờ người ra. Lúc Angelina cần khoác tấm áo ngoài vào để ra về biết bao anh chàng tình nguyện chạy đi lấy áo, mặc giùm … và còn có anh hào hoa đề nghị xin một chân hộ vệ viên đưa người đẹp ra tận nhà ga xe điện ngầm. 
Angelina chẩu mỏ nói: “Thôi cảm ơn mấy người . Để nhờ cậu Gino đây, đỡ ngại có chuyện!”. 
Vì nhà chật ních nên lấy chỗ đâu xếp áo ngoài, cất đỡ dù mũ cho khách? Phải để nhờ dưới căn của vợ chồng Larry nên Angelina thản nhiên nắm tay Gino: “Đi xuống dưới nhà lấy áo đi …” 
Hai đứa nắm tay đi. Cuộc vui lại tiếp tục, Lucia Santa nhìn theo e ngại. Mụ đã tính bảo thằng Vincenzo xuống nhà dưới canh chừng song nghĩ đi nghĩ lại thì Gino cũng đã lớn rồi, có đi cùng một đứa con gái đẹp cũng có sao đâu mà sợ? Có khi còn là một dịp thử thách có lợi vì trước sau nó cũng phải gần gũi đàn bà! Nó có thiệt thòi gì đâu mà đã phải lo ngại giùm? Thây kệ nó. 

Photo edit by Sơn râu

Đúng như lời hứa bữa trước, ngày cưới Octavia là phải có mặt ông bác sĩ Barbato. Người tới để chia vui với gia đình này, để nhảy với cô dâu vài bài và để “ăn miếng bánh, uống ly rượu nhạt”. Người đưa mừng một bao thư thì Lucia Santa chỉ hờ hững cảm ơn, cầm lấy nhét ngay vào túi lụa phong bao. Bà chủ nhà bữa nay được săn đón quá nên ông bác sĩ cảm thấy mình bị lơ là đâm buồn bực. Bực mình thật đấy chứ, cứ tưởng đâu ông bác sĩ ân nhân tới chia vui thì toàn gia phải nồng nhiệt đón rước! Nào ngờ bị lờ đi … 
Thảo nào ông cụ thân sinh hồi đó ưa nói: “Đừng nói chuyện ân nghĩa với giống lừa và bọn nhà quê” – Ức thật. Một ly rượu, hai ly rượu và làm Barbato mềm lòng. Tội gì buồn bực họ cho mất công? Họ là vậy, đời sống của họ là như vậy mà! Thực tế là nghèo mạt như gia đình này thì ai họ chẳng ít nhiều chịu ơn? Nếu ai cũng “ân đền nghĩa trả” thì e Lucia Santa chỉ lạy cảm ơn mà gãy lưng mất! 
Người nghèo quan niệm ân oán là thực tế cuộc đời. Trời sinh ra như vậy. Có đứa xấu phá hại thì phải có người tốt làm ơn … sự đời hiển nhiên như vậy, hà tất phải khư khư mỗi chút mỗi ân oán cho mệt? Chẳng hạn như vụ làm ơn chữa bệnh miễn phí của ông bác sĩ hồi đó … 
Bác sĩ Barbato ngồi ngay người lại, đưa tay vuốt hàng ria mép. Lâu nay chữa bệnh cho thiếu gì đứa ở bên nhà nghèo mạt di cư qua đây, chúng có xem cái nhà ông bác sĩ ra gì? Đại khái cũng như đám cho vay lời cắt cổ, chủ đất bóc lột … hay chủ nhà đòn đám ma, nghĩa là thấy người là thấy mất tiền, bắt buộc lắm mới phải vời đến … dù miệng họ ngon ngọt: “Dạ … thưa bác sĩ” đàng hoàng. 
Chính những kẻ đó đã gieo cho bác sĩ Barbato cảm giác “làm ra tiền trên sự đau khổ của chúng” hoặc “Chúng có ốm đau bác sĩ mới có tiền”. Đối với những quân nhà quê vô học đó chỉ có gần chết mới phải triệu đến ông thầy thuốc và nghề thuốc là nghề cao thượng “cứu nhân độ thế” chứ đâu phải mua bán tiền bạc như ở chợ?
Chúng đâu thèm biết muốn hành nghề thuốc là ông bác sĩ cũng phải học, phải tốn rất nhiều tiền ăn học cái đã? Còn phải cắm cúi gò gẫm tử công phu mấy năm trời trong khi chúng chỉ ăn chơi tà tà suốt ngày, không nhậu nhẹt thì cờ bạc thỏa thích. 
Nếu muốn không mất tiền bác sĩ thì sẵn nhà thương thí đó. Cứ việc đi. Cứ việc vào Bellevue để họ chữa thí cho. Đừng kêu bác sĩ Barbato. Bên Long Island còn thiếu gì con bệnh đàng hoàng, sẵn sàng chi tiền rất đẹp cho ông bác sĩ để được săn sóc tận tình? 
Chính vì tư tưởng thiết thực đó mà bác sĩ Barbato sẵn sàng bỏ qua cho đám người nghèo mạt đánh giá quá thấp nghề nghiệp cao đẹp của mình. Đâu cần phải sống với chúng kia? Barbato bèn cúi đầu chào rất lịch thiệp, dùng tiếng mẹ đẻ của những người trí thức để nói đôi lời chào từ biệt nên bà con có hiểu gì đâu? Chỉ thấy ông ta ra về là nhẹ nhõm cả người! 
… Dưới nhà Larry nãy giờ, Angelina và Gino cứ lục đục kiếm mãi chưa ra tấm áo khoác. Quái, quần áo ở đâu ra mà chất đống nhiều đến thế này? Đồng ý là trong nhà vắng vẻ, chỉ có hai đứa … nhưng chẳng có chuyện lộn xộn! Angelina xem vậy chứ đâu đã đến nỗi hư thân mất nết “cọc chạy tìm trâu”. Cũng như thằng Gino đâu đã dám lơi dụng cơ hội vắng vẻ tấn công sảng? 
Khoác áo vào chuẩn bị xuống thang ra xe, người đẹp Angelina rất tự nhiên ôm hôn Gino. Một nụ hôn dài nghe nong nóng trên môi. Hai cơ thể áp sát vào nhau ấm cúng khoan khoái thế này họa có nằm mơ may ra Gino mới được hưởng. 
Đám cưới Octavia là một thành công. Một trong số mấy đám cưới lớn nhất hồi nào tới giờ ở đại lộ số 10. Dĩ nhiên đó là một thành tích chung cho gia đình Angeluzzi Corbo, một điểm son cho riêng Lucia Santa. Một chiến lược gia như mụ thì lập xong thành tích là phải khai thác tiếp chứ? Thấy trước mắt bố con Caterina Santini như vậy … tại sao không thể kết chặt tình bà con, trưa chủ nhật này mời vợ chồng con cái hắn sang chơi! Con nhỏ lâu nay bị bố giữ rịt, ru rú một xó Tuckahoe hẻo lánh xa xôi, tại sao không bảo thằng Gino đưa nó đi chơi một vòng thành phố cho biết! 
Trưa chủ nhật Santini đưa vợ con sang sớm. Vụ thằng nhãi con hạ nhục trước mặt đông đủ bà con nhớ làm chi cho mệt? Cứ mỗi cái nhục, không chịu mềm dẻo cái lưng đúng lúc thì ngày giờ này đâu có làm chủ bốn xe vận tải, có khế ước thầu đổ rác? 
Sáng ra thằng Gino đã bị mẹ quất cho một cú muổng cây lên đầu tét một đường dài. Đồ ngu như chó, mẹ đã mời khách sang chơi, họ sắp tới liền tức thì mà con chỉ lăm le chạy xuống đường đánh bóng! Mụ lo đánh một mớ sốt thấy vua chúa … và mì ống phải cán lấy ở nhà bằng một thứ bột ngoại hạng. Mụ sẽ cho vợ chồng con gái nhà này biết mùi xà lách trộn dầu dấm “nhà quê”. Lấy đâu ra thứ dầu ô liu béo bở này? Năm nào ở bên nhà dì xấp nhỏ chẳng tự tay lựa từng trái ép bằng tay gửi sang biếu chị, dù nghèo mạt cũng ráng mỗi năm vài chai! Phải quý vợ chồng Santini lắm mụ mới đặc biệt khui một chai ô liu ép nước nhất trăm phần trăm! 
Dĩ nhiên Gino phải bận bộ đồ xám bữa đám cưới. Con Caterina diện váy lụa đỏ lộng lẫy được ép ngồi sát bên Vincenzo tiếp khách chu đáo lắm, mấy bà mấy cô chịu là phải. Bà bác dở người mập ú vậy đó mà nó vẫn cố chiều, lấy bộ bài tây ra xem bói. 
Dọn bàn ăn, chùi rửa chén đĩa dĩ nhiên là công việc chung của Sal và Lena, chẳng trút cho ai được! Cuối cùng, đúng như mẹ đã dặn trước và không nói là tackeril … thằng Gino bèn đàng hoàng, điềm tĩnh hỏi Caterina có đi xem xinê không. Đương nhiên con nhỏ đâu dám có ý kiến! Bố ngồi bên thì phải nhìn xem xem có được phép gật đầu không đã chứ? 
Piero Santini lấy làm khó nghĩ. Hắn nôn nao làm như chỉ sợ hố là mệt. Rõ ràng hắn nóng lòng hệt như những lần cho mướn xe chở uýt ky lậu, tự nhiên xe đi biệt tăm năm bảy ngày mà không biết nằm đâu, vì sao. Bây giờ cho con gái đi xem hát với Gino cũng vậy. Nhưng biết sao được … giữ nó mãi đâu được? Đất này là đất Mỹ mà? 
Sau cùng Santini phải nghiêm nét mặt bảo con: 
– Được, tao cho đi … nhớ về sơm sớm, mai còn nhiều việc. 
Thấy hai đứa cùng đi xem hát với nhau, Lucia Santa cười hả hê. Mụ hân hoan đập mấy trái hạt dẻ rang ngọt béo để thưởng công cho hai đứa nhỏ vừa hoàn thành công việc dọn dẹp. Ông anh họ bèn được mụ rót thêm rượu mời và bà chị thì … cả đĩa bánh kẹo đầy đặt kế bên. Vợ chồng Larry cũng lên góp mặt, uống cà phê và bữa nay Lucia Santa đặc biệt pha thật đậm, đổ thật nhiều rượu hồi thơm phức. 
Lucia Santa và ông anh Piero Santini đưa mắt nhìn nhau. Ánh mắt láo liên của hai người xem thân tình hẳn và chuyện trò cũng bồ bịch hơn nhiều! Ô hay, chưa tới một giờ sau … sao đã nghe tiếng chân con nhỏ rầm rập lên thang và một mình Caterina nhào vào, mắt ngơ ngác và còn nguyên dấu nước mắt thế này? Nó ngồi đại xuống ghế, chẳng buồn nói một tiếng. 
Cả nhà sững sờ, Santini buột miệng chửi thề, còn Lucia Santa thì hốt hoảng chắp tay lạy cầu trời. Chuyện gì thế này? Bộ thằng súc sinh Gino dám làm hỗn con nhỏ trong rạp hát … hay ngay ngoài đường? Ôi chao, thằng khốn này dám dắt con nhà người ta lên tầng thượng lắm! Trời đất ơi, sao vậy? 
Hỏi mãi con nhỏ vẫn ỳ ra. Sau cùng hỏi Gino đâu thì nó bảo … đang ngồi xem xinê. Phim gì đâu mà xem chăm chú, chán quá Caterina phải bỏ ra về. Chuyện chỉ có thế. 
Tuy nhiên ai mà tin nổi nó? Mấy người lớn đang hăm hở chuyện trò dứt không ra bỗng lạnh nhạt hẳn và ngồi trơ ra nhìn nhau. “Chuyện gì vậy … mày phải nói cho thực?” thì Caterina đáp … thực thà chỉ có vậy mà! Ra bọn con nít bây giờ ghê gớm thật! Mới có thế nó đã lì lợm không chịu nói thật sao? Gặng hỏi và nạt nộ mãi cũng vẫn có thế nên sau cùng vợ chồng Santini đành sững sờ xin phép ra về. 
Xem, chính danh thủ phạm Gino đi đâu mất biệt không buồn về? Chỉ chờ nó về hỏi một câu là ra ngay nhưng thằng trời đánh đi một hơi bốn giờ đồng hồ liền! Cả nhà nôn nóng ngồi chờ nó, kể cả vợ chồng Larry và hai đứa nhỏ, để Gino ló về là hạch hỏi ngay lập tức. Nó về kia … 
Nó bực tức nhảy mấy bậc thang một lúc chạy về, vừa bước vào vừa la đói quá, bốn giờ liền ngồi xem hát chẳng có cái gì vào bụng. Chừng giương mắt lên thấy cả nhà ai cũng nhìn dữ quá, Gino đứng khựng lại như xe phanh quá gấp vậy. 
Lucia Santa tính nhảy lên làm dữ phủ đầu, cho nó một trận. Nhưng mụ rụt ngay lại. Nó có làm gì không đã chứ? Phải hỏi xem nó làm giống gì mà con nhỏ phải tất tả bỏ về … nào lỗi có phải ở nó không đã chứ? 
Chưa biết chắc nó có lỗi hay không, Lucia Santa phải hỏi chặn đầu: 
– Thằng khốn … mày làm gì con nhỏ ở cinema? 
Gino trợn tròn mắt ngạc nhiên: 
– Ủa, có làm gì đâu! 
Xem nét mặt bơ bơ của nó, mụ biết thằng Gino không nói dối. Nhưng nó làm điên cái đầu, trái hay phải không biết lắm. Lucia Santa đành phải nén giận vặn hỏi tới: 
– Mày không làm gì sao con nhỏ bỏ về trước? 
Nó nhún vai đáp: 
– Nó tự nhiên nói đi vào phòng vệ sinh chút mà lại xách cả áo ngoài theo. Thế rồi nó không trở lại, con chắc là nó không ưa con. Vậy thây kệ, cho nó đi luôn cho rồi, con cứ ngồi xem xinê. Mà mẹ cũng kỳ quá, nó vậy sao còn bắt con đưa nó đi xem xinê … mà cả ông già nó cũng cho đi? Con nhỏ cũng kỳ cục, từ lúc đi nó chẳng nói một câu! 
Larry lắc đầu thương hại thằng em và nói cà giỡn với mẹ: 
– Cái thằng cù lần quá đi. Mẹ thấy không, phải tay con thì cam đoan có chắc một cái xe xách về nhà rồi ! 
Lousia háy chồng một cái. Vincenzo bảo Gino: 
– Mày ngu quá. Con nhỏ chịu mày quá mà! 
Mỗi người nói vào một tiếng thành câu chuyện đang nghiêm trang bỗng trở thành trò chơi! Trừ Lucia Santa thì nổi giận thật tình vì thấu đáo sự đời quá nên mụ bực bội cho thằng con cứng đầu, ngu dốt. Thằng này phải cho nó một chầu tackeril cho mở mắt mới được … bằng không lại phát cuồng như thằng bố. 
Nếu nó không điên đầu ngu ngốc sao dám nói khơi khơi là con Caterina không chịu nó mà không tự ái, giận hờn? Bộ nó tưởng đâu nó hách lắm, nó xem con nhà người ta không ra gì chắc? Nó há không biết vớ được con vợ nhà giàu như Caterina là tương lai bảo đảm ấm no? Mà con nhỏ người ngợm xem được quá, khỏe mạnh tốt nái lắm chứ? 
Con nhà người ta nết na ngoan ngoãn như vậy mà nó chê? Nó là thằng mất dạy, ăn hại đái nát … cái thằng chỉ có lên ghế điện … mà cứ tưởng đâu là ông hoàng nước Ý chắc? Con nhỏ nhìn nó nồng nàn đến vậy mà nó không biết gì hết thì thằng này điên khùng hệt như thằng bố, rồi lại đến khổ một đời. 
Phải lấy cây tackeril ra quất cho nó một hồi cho đã, cho hả giận chứ con cái ngu đần như nó thì chịu sao nổi? Lucia Santa xách cây roi ra, chưa kịp hỏi tội thì nó đã chạy vù một mạch. Đúng là quân có máu bất lương, không có tội gì mà bị rượt cũng cứ cắm đầu chạy lấy được! Nó chạy như bay như biến xuống dưới đường. 
Lucia Santa thở hắt ra chán chường. Cái vụ gán ghép này đúng là điên đầu, chẳng ra sao mà còn pha tính chất hài hước nữa. Tuy nhiên là lần đầu tiên mụ cảm thấy uất hận thằng Gino. Quân cứng đầu, làm sụp đổ cả một giấc mơ tốt đẹp.


Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
(viết tiếp ngày 28 Septembre 1993)

Post by Sơn râu 14 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 29

Vài Chuyện Cũ Còn Nhớ Về Đường Phố Sài Gòn Ngày Xưa

Cách nay vài năm, trong báo có đăng tin người bỏ xứ đi xa, nay muốn biết địa chỉ một thân nhơn, cho địa chỉ số nhà số mấy? và đường gọi “d’Adran”, nhưng báo chí không đăng trả lời, tôi định là vì không biết. Nay tôi tìm ra, vậy xin cho hay, nhưng đã muộn:

Đường ở chợ Cũ Sài Gòn tên gọi “đường d’Adran” đó là đường gọi “rue Georges Guynemer” tức đường bắt đầu sau tòa tạp tụng và nối liền mối đường Đỗ Hữu Vị chạy tuốt xuống đụng mé sông mang tên đường mé sông ấy là quai de Belgique, chỗ cầu móng cũ nay đã hư tệ. Tên mới tôi xin chừa vì tôi không rành.

Georges Marie Guynemer là phi công Pháp, sanh trưởng tại Paris (24-12-1894) tuổi vừa 22, đã bắn hạ rất nhiều máy bay của địch (a-lơ-măng), chức đại úy đeo ba lon và đã có ngũ đẳng bửu tinh, và sau tử trận mất tiêu thi-thể và xác máy bay, đất không chôn được xác anh hùng và hồn thiêng bất tử vẫn tồn tại phiêu phiêu trên mây bạc.

Ngày 26 avril 1920, Hội-đồng Đô-thành Sài Gòn chọn tên người vị quốc vong thân, đặt thay tên đường cũ “rue d’Adran”, nhờ đó mà tôi biết được, vì lúc nhỏ, theo ba tôi lên trên nầy năm 1919, đã từng cha con dạo phố và để chưn nơi đường nầy, và nhớ bên mé hữu, kể từ đường Đỗ Hữu Vị đi xuống mé sông thì sau và ngang miếng đất trống Tổng Ngân Khố, (đất trống do phá bỏ chợ cũ còn đất lại) và mé tay mặt đó có một tiệm thợ bạc lớn, treo bảng hai chữ “Kim Ngọc” và thân phụ tôi dạy cho biết đó là lò ông thợ cha của hội đồng quản-hạt tên Khá (Trần Văn Khá) tức rể của đốc phủ Vịnh (Nguyễn Văn Vịnh, trước có ngồi làm ở tỉnh Sốc Trăng), ông Vịnh là bào huynh của Duyên (giáo sư), của Liễn (dược sư) người gốc làng Tân Trụ (Chợ Lớn) v.v…

Tên d’Adran kéo qua nhắc lại Bá-Đa-Lộc, nay đã bị phá mồ (lăng Cha Cả) nhưng tưởng nên ghi lại để cho người đến sau được rõ.

Những chỗ cũ, tên cũ cần ghi lại để biết:

1) Trường gọi “collège d’Adran” ở đâu?

2) Place Pigneau de Béhaine?

3) Statue Pigneau de Béhaine?

1. Collège d’Adran

Danh từ nầy thay đổi nhiều lần và nhiều người lầm lộn với trường gọi “des stagiaires” v.v… Tôi biết sao thì nói vậy. Collège d’Adran: năm 1862, qua năm 1910 đổi làm École des Filles Françaises; qua năm 1922 xây cất thêm và đặt École Normale d’instituteurs (đào luyện giáo viên) sau thêm lớp cao cấp gọi Écoles primaires supérieures để qua nhiều trào cai trị và nôm na vẫn gọi “trường Sở Cọp” vì cọp Sở Thú gầm kế bên. Năm 1942, đời thống đốc Tây Rivoal, lấy tên cũ gọi “collège d’Adran” nhưng tên nầy không tồn tại…

2. Place Pigneau de Béhaine

Đó là chỗ trước Nhà thờ, tượng đồng hình Bá-Đa-Lộc đứng che chở cho đông-cung Cảnh, tuy bị hạ bệ từ lâu, nhưng bệ đá màu đỏ tươi rất đẹp, vẫn không hề hấn và giữ lại làm bệ tượng Maria bằng thạch cao nay còn thấy.

Nhắc lại đây, Place nầy trước ở chỗ gọi Place de l’Horloge (đời Amiraux) là chỗ có vườn cây nơi đường Đồng Khởi, giữa hai đường La Grandière và Espagne, đồng hồ chỉ giờ đời Tây qua sau dẹp vì đã có đồng hồ lớn tòa Bưu chính (Hôtel des Postes).

Xin nhắc luôn cathédrale (Nhà thờ lớn) đặt tên Vương-cung thánh-đường ấy, thì khởi công xây cất từ năm 1877, (như vậy đã trên 100 năm), nhưng vườn ấy có lúc bị bỏ thiếu sự chăm nom, đợi đến 1893, vườn mới được tu bổ lại, và tên đặt làm Place Pigneau de Béhaine là có từ 1920.

3. Status Pigneau de Béhaine

Đã nói tượng đồng nầy ở trước Nhà thờ lớn. Đó là tượn do Dormier chế tác và được dựng mars 1902.

4. Bia đá bên hông Viện bảo tảng Bách thảo

Nói tại đây, có stèle (bia đá) đặt nơi hông Viện bảo tàng Bách thảo, là do Taboulet xin dựng lên để ghi chỗ ở xưa của Đức Cha Cả, bia nầy dựng vào 3 octobre 1936, có Phạm Quỳnh chứng kiến. (Chữ Pháp “décédé” đối với một chức sắc lớn của Công giáo, lựa dịch trên bia “tịch” thì là chữ mượn của đạo Phật?)

Năm trước ra Huế, tôi gặp một tượng d’Adran và Đông-cung, tượng giấy bồi và giấu trong kho kín Tôn-Nhơn-Phủ…

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết tiếp từ 27 septembre 93)

Post by Sơn râu 14 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 28

Tôi Viết Ba-Lăng-Nhăng Trối Mặc Tôi, Các Bạn Trẻ Xài Được Thì Cứ Xài…

Nay tôi nhớ lại, khi tôi được chấm cho vào học nơi trường Trung học tây Chasseloup-Laubat, lúc ấy chưa có người quen ở Sài Gòn ưng làm correspondant tức người bảo chứng cho học trò ở xa nhà là tôi, (sau tôi xin được ông Thanh, em ông Cao Đắc Lỹ là chú của bạn đồng song tên Tệt (Trước, Tre) nhận cho tôi ở đậu ngày nghỉ lễ hay chủ nhựt, nhưng tôi cũng ít đến vì sẵn tánh nhút nhát. Nhà ông Thanh nầy số 90 đường d’Espagne, và có chứa ông Nguyễn Văn Sâm, làm chánh trị bị giết trên xe buýt, cũng người Sốc Trăng, nhắc lại năm 1919, tôi thường ghé một nhà ở đường Mac Mahon, ngang dinh Toàn-quyền, mỗi khi ra trường ngày nghỉ lễ, nhà nầy là trụ sở của một trường do một ông Tây làm quan to ở Bắc, vì về hưu nên vô Sài Gòn xin được lập trường lớn dạy nghề thêu thùa, nhưng tuyển học trò trong Nam không ai vào học, vỏn vẹn năm 1919 ấy, chỉ có bốn ngoe học trò, một nữ ba nam, trong số đó có anh Hải, con ông Quản tên Đủ, làm nghề đóng sách cho tòa bố ở Sốc Trăng, anh Hải nầy có tên khác là Chơn, nhận làm correspondant cho tôi, về sau anh học lươn-khươn không ra gì, rồi bỏ học, lại trở nên đứng dọn bàn rồi thăng lên là đầu bếp cho Busssière, tham-biện chủ-tỉnh tỉnh Sốc Trăng, ông nầy có dắt Chơn (Hải) sang Pháp làm bồi (boy à tout faire), bồi dọn bàn mà lãnh nấu bếp luôn, chính anh Chơn, khi đi bên Tây rồi trở về, đã nói với tôi, ông chủ Busssière, chức ở bên nầy là quan cai trị chủ tỉnh, thế mà ở bên Pháp, ông chỉ có duy nhứt một con bò cái nuôi để lấy sữa, và nhà ở của ông và vườn của ông là nhà mướn, vườn mướn, còn lúc học thêu ở Sài Gòn, học trò gì mà chỉ một nữ ba nam, không thấy thầy đến dạy, bốn người ở chầu chực, chờ lãnh tiền cơm rồi thua buồn lần hồi bỏ học, ông chủ trường là ông George Bois, lặn hụp rồi cũng mất tăm mất dạng, và trường dẹp luôn, day qua tôi có bạn là Tăng Thiện Lăng, học lớp nhứt ở Sốc Trăng, năm 1919, lên đây học trường Máy của ông Rosel, Lăng trong lúc học năm đầu (1ère année), lén lấy sắt lấy thép, lấy chì của nhà trường, rối lén lút đúc bàn tay sắt (tên tiếng Pháp là coup de poing américain) và đúc lưỡi búa thép, lưỡi bề ngnag 4 hay 5 cm, cán bằng gỗ cứng, búa lợi hại và bén ngót, dùng để khi đánh lộn giữa học trò các trường tại Sài Gòn thì chém hay búa đầu nhau, học trò trường Chasseloup-Laubat chia ra có hai phe, phe dân tộc Nam, gồm hai nhóm, nhóm có học bổng chánh phủ hoặc làng xã tỉnh hạt cấp, nhóm khác không học bổng và do cha mẹ khá giả xin được cho con vào học, hai nhóm nầy nói chí tình, đều lo học hành và giữ hạnh kiểm tốt, duy trường Chasseloup vẫn có một nhóm thứ 3 mà có lẽ là nhóm chánh, gồm học trò dân tộc Âu Pháp, chữ gọi “quartier européen” nhưng kỳ trung đó là dân tộc phức tạp Tây lai có, Chà-và đen dân Pháp có, và phần lớn phần đông là Ba Tàu, con chệt nhà giàu trong Chợ Lớn hoặc con các bang trưởng Quảng Đông hay Triều Châu ở Lục Tỉnh gởi lên, thảy đều có máu mặt, thảy đều con nhà giàu xụ, tốp lại thảy đều là công tử mất dạy, không lo học chữ và nghĩa mà học những thói xấu, tập làm công tử bột, làm trai hư “có mèo” có bồ bạn gái trường Áo Tím (nữ trung học Gia Long) hoặc bạn gái “đầm lai” trường Áo Trắng Nhà Phước (do các dì phước, cũng bọi bà phước (sœur ou révérende-mère carrmélites gọi tắt là Nhà Phước, Nhà Trắng), hoặc học trò nữ quốc tịch Âu Pháp trường Ecole des filles françaises, sau gọi trường Marie Curie, nhưng nói đây là tôi nói tầm-ruồng vô trật tự và xin nói cho chính đáng (hay chí đáng), riêng phần tôi, ai mặc ai, tôi giữ phận tôi, và ba tôi hy sanh, nhịn ăn nhịn mặc, gởi tôi lên đây để học chữ Tây, cơm nhà áo mẹ, tôi học rất cần và rất phát, không dám làm phụ lòng ba tôi, cho nên nói chí tình, Chơn (Hải) rồi Tăng Thiện Lăng, mỗi chủ nhựt hay ngày nghỉ lễ, thường đến đón tiếp tôi từ cổng cửa lớn trường Chasseloup là để cùng nhau đi hoặc ăn sáng, tôi hủ tíu ba xu, hoặc uống giải khát “Au Rendez-vous des Poilus” là quán ở đường Amiral Courbet, chuyên bán cà phê, nước ngọt, sau nầy Lăng học đủ ba năm nơi trường Máy Rosel và được bổ nhiệm làm đội máy coi tàu và giữ kho gọi Vọng Thoàn, nơi tỉnh nhà Sốc Trăng và phân tay với tôi, thi đậu và làm thơ ký quét bu-rô làm tôi mọi cho chánh phủ Tây, Hơn nửa đời Hư là vậy, nói càng xấu nhục…

Trở lại như đã nói, trường Trung học Collège Chasseloup-Laubat lập ra từ năm 1874, nhưng tương đương với trường công và chánh thức của Tây bày ra, nhưng một vì khó có phương tiện nhập học trường công nầy, hai là theo lẽ riêng hiểu của tôi là dạy chữ mà ít lo và để tự do phóng túng về đạo đức, một lẽ thứ ba là về sau có phong trào Tây không theo Thiên Chúa giáo, hoặc theo đạo Tam Điểm (loge maconnique), ghét và nghịch với đạo Da-tô, nên bên Công giáo nảy lập ra một trường nay đồ sộ và còn lại chỗ duy đã đổi cách dạy dỗ khác, tôi muốn gọi và nói cám ơn tuy không học trường nầy và đó là Institution Taberd, trường chọn tên như vậy, nhưng người tạo lập, sáng tạo và tự xuất tiền lập công đức lớn thật lớn nầy là ông Kerlan, mà tôi xin kể sơ lược như vầy:

Kerlan, trước tiên là người thế tục (laique) không theo đạo Da-tô. Tên họ đủ là Henri, Marie Thérèse, Alexandre Juhel des Isles de Kerlen. Sanh năm 1844 tại Angers (Maine et Loire), khu paroisse de la Trinité. Học trường collège de Combrée, và tuy không theo đạo nhưng được tuyển cho nhập học ngày 26 Septembre 1864 nơi trường chủng viện Séminaire des Missions Etrangèrres. Được phong mục sư prêtre ngày 15 juin 1867 và ngày 16 août được cắt về xứ Nam kỳ.

Đến địa phận nầy, đức Cha Michel sai đi Bà Rịa, trước giữ chức trợ tế (vicaire) rồi lên làm mục sư (curé). Tiếp theo đó, được làm phụ tá cho cha R.P. Gernot, giữ họ đạo dòng Cái Mơn. Đến năm 1871, được làm mục sư (curé) địa phận Sài Gòn. Kể từ đây, ông chuyên làm toàn việc thiện. Ông xuất tiền nhà, lập Institution Taberd nầy năm 1874 (đồng thời đồng niên với trường bổn-quốc collège Chasseloup). Trường chuyên dành cho trẻ lai bị bỏ rơi…, tiếc thay danh ấy thọ nhưng mạng lại yểu, Kerlan về với Chúa ngày 27 mars 1877, lên trái-trời (petite vérole noire (trái đen), tức lên trái (variole) do một bịnh nhơn lây cho.

Trường Taberd mở rộng, xây lầu, cất cao và rộng thêm mãi, nhưng nay tôi không vào bên trong được và không biết nơi sân trong của trường có tồn tại tượng đồng bán thân của Kerlan chăng, tượng nầy do Thủy-sư Đề-đốc Duperré dựng lên và đến ngày 14 mai 1877 Duperré dặt tên Kerlan cho một con đường mới nối đại lộ Norodom qua đường Lucien Mossard.

Trường Taberd hữu ích và đã đào tạo khá nhiều công chức cho chánh phủ thuộc địa Pháp. Môn dạy chữ rất hay, thi đậu rất nhiều, nhưng cũng dạy kinh, các thầy dòng có tục hết lòng dạy bọn đẹp trai, gọi tục ấy là “cộ”. Ra trường quen kinh và theo Công giáo cũng bộn.

Từ những năm 1920 về sau, trong Nam người và của cải phát mạnh, lúa có giá, dân sanh đẻ mau, nhà nước thuộc địa mở ra lớp dạy và luyện thi tú tài, gọi “tú tài bản xứ”, lớp ấy mở tại trường Chasseloup, sinh viên học tấn pháp, thi đỗ bằng Brevet Supérieur, Baccalauréat français rồi “lô-canh” rồi tăng collège thành lycée trường lang-sa, tách nhóm Việt qua lập trường Pétrus (1928) và môn dạy lấy cấp bằng thấy kiếm ăn được, trường mở ra:

• Trường Nguyễn Xích Hồng, mời giáo sư Pháp dạy, lương tính mỗi giờ 5$00;

• Trường Huỳnh Công Phát nối lấy chỗ và N.X.H. chạy vô Gia Định;

• Trường Chấn Hưng hay Chấn Thanh ở Cầu Muối, Ông Lãnh;

• Trường Huỳnh Khương Ninh, học trò ương ngạnh, giấu thầy nghề võ, học mô xành-tả (thần-đả) thử sức chém đứt lưng xảy ra án mạng…

• Trường Nguyễn Phan Long, ông chọn rể, gả con, nghĩa-tế, công tử con nhà giàu lớn ở Sốc Trăng, tên Giang Đông Đẩu; ông Long thấy không dạy được, vận động cho Đẩu qua Pháp, Đẩu trở về chở theo một ô-tô nhớ như hiệu Alpha-Roméo, đăng bộ tại Paris, qua Sài Gòn, lính cò phạt, phải gởi giấy phạt sang Paris, lính tây, cò (cẩm) Pháp chịu thua. Đẩu về làm công tử tại quê nhà ở quận Long Phú (Bang Long), chủ quận đốc phủ Lê Quang Trường cũng chạy mặt.

• Trường mở rộng xuống Cần Thơ như trường Hậu Giang Bassac của Phạm Văn Bạch; rồi Long Xuyên có trường tư người dạy có kết quả tốt là học giả Nguyễn Hiến Lê, xuất thân công-cán ủy-viên công-chánh, vân vân…

• Rồi nào trường của Cao Đài, của Hòa Hảo, trường Nguyễn Tích Thiện ở châu thành Sốc Trăng, giám thị trường là Phan Văn Hùm, sau trường đổi chủ và giao cho thầy cũ lớp nhứt trường tỉnh Sốc Trăng là ông Trần Văn Điền, là thầy đào tạo ra tôi ngày nay, với ân sư dạy lớp nhì (cours moyen) là ông Trần Tấn Chức.

Dạy nhiều, nhồi sọ, không cho tấn phát, đẻ ra lối dạy bằng-bằng, gọi Plan horizontal, thi ra trường quá nhiều mà sở làm kiếm không ra, và nhà nước thuộc địa chưn đất sét bị xô ngả, mới có xã hội như nay.

Thiên-địa tuần hườn

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
(viết ngày 21-09-1993)

Post by Sơn râu 14 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 27

Nhắc Lại Những Trường Dạy Nghề Đời Tây Tôi Đã Biết

Theo tôi hiểu, chánh phủ thuộc địa Pháp, khi đặt chơn vào nước mình, (tôi muốn nói đất Nam kỳ), sau khi lấy được sáu tỉnh, họ chỉ mong đào tạo một số người để làm tay sai cho họ. Tỷ dụ đầu tiên là đào tạo người coi việc biên chép (thơ ký) và người làm thông ngôn giữa họ và người bổn xứ (indigènes), thì họ lập ra trường dạy chữ Tây và tiếng tây, tiêu biểu là trường Trung học gọi collège Chasseloup-Laubat và sở dĩ họ chọn tên ông nầy đặt tên cho trường là để nhớ ơn và công của lão, với chức bộ trưởng bộ gì đó, có lẽ là bộ Thủy binh (Marine) và tuy chẳng hề đến Nam kỳ, nhưng lão khăng khăng một mực xin hoàng đế Napoléon III, đừng nghe lời nhượng hay bán lại cho ta và quyết giữ lấy đất nầy làm thuộc địa. Chasseloup-Laubat đột ngột chết năm 1873 và được dựng hình nơi quê quán ở Marennes năm 1874, trong khi tại Sài Gòn nầy, tên ông được chọn để đặt tên cho con đường và cũng tên trường, và đường nầy thay cho đường cũ kỳ cựu nối liền làng Phú Mỹ vô tới Chợ Lớn trước gọi “boulevard”, sau đổi còn là “rue” và nay gọi đường Nguyễn Thị Minh Khai, thay thế cho tên cũ. “Xách Lu” (Chasseloup), qua Hồng Thập Tự, rồi xuống làm đường Chữ Thập Đỏ, một thời gian sau tôi nhớ lại đường nầy lại mang tên Xô Viết Nghệ Tĩnh gì gì đó, và đến đây, muốn viết có chút ích lợi, tôi sẽ ghi: vào đời Tây, đường ban sơ đặt tên là đường Stratégique (đường Chiến lược), lần hai đổi gọi đường số 25, qua lần ba đặt thiệt thọ là rue Chasseloup-Laubat kể từ năm 1865, và tới năm 1995 mới có tên là đường Hồng Thập Tự. Và tôi rất mừng vì đã tuổi 92 khỏi đi học nơi nhà trường, vì thú thật làm sao nhớ nổi bao nhiêu tên đổi thay liền liền như vậy. Không phải tôi dám nói đụng chạm, nhưng quả trước đây tôi từng viết và tưởng riêng mình là thổ-công đất Sài Gòn nầy, nhưng nay tôi mới rõ và tự thẹn sức học và biết về môn Sử-Địa của tôi, vẫn còn kém và thua xa sức biết của một anh làm nghề đạp xe xích-lô đương thời, vì anh xích-lô phải thuộc làu và biết rành tên đường tên phố hiện hữu thì mới mong hành nghề và kiếm đủ tiền nuôi vợ nuôi con, chớ như tôi đã già, thì làm sao theo dõi và biết được.

Như phần viết trên đây, vì tật ham nói sa đà, tôi đã kéo dài và nói nhiều về đường và suýt lạc đề quên nói tóm lại, khi người Pháp đã có thơ ký và thông ngôn, khi đó họ mới nghĩ qua mớ tay sai khác và họ đã đào tạo, lập ra mấy trường sơ đẳng và dạy nghề ở Nam Kỳ, tại Sàn Gòn, như sau:

a) Trường dạy về máy tàu và máy xe ô tô, tên gọi Ecole des Mécaniciens Asiatiques, sau đổi gọi Ecole Rosel (tên người sáng lập) nay là trường Trung học Cơ khí, ở đường Huỳnh Thúc Kháng;

b) Trường dạy bá nghệ, tên Pháp là Ecole Pratique d’Industrie đường Hồng Thập Tự;

c) Trường dạy vẽ ở Gia Định (Ecole de desin à Gia Định);

d) Trường dạy về đồ mộc ở Thủ Dầu Một, vì nơi đây có gỗ danh mộc nhiều;

e) Trường dạy về nghề đồ gốm ở Biên hòa, vì đất sét ở đây nhiều và hạp nghề.

Tôi kể như trên mà không biết trường nào có trước, trường nào có sau, duy tôi xin kể nhiều về trường Rosel, vì ông nầy là ân nhơn đỡ đầu cho tôi khi tôi thi đậu ra trường, và cũng nên gọi ông là ân nhơn của nhiều thế hệ người hành nghề về máy, máy tàu cũng như máy xe hơi, chính ông Tôn Đức Thắng là môn đệ của Rosel trong khóa dạy ban sơ, như tôi đã hiểu.

Rosel, người lùn, không hơn 1 mét 50, nhưng có bề ngang, đi đứng nhậm lẹ, tay bằng miệng miệng bằng tay, tiếng nói rổn rảng như máy nổ, có thể nói ông là thực dân xấu nhứt, vì ông hay rầy và quở các học trò trường ông, nhưng xin cho tôi cải chính minh oan cho ông và tôi dám quả quyết Rosel là người thương và giúp ích cho người Việt ta nhiều hơn các Tây ở đây tôi đã biết. Rosel là kỹ sư về máy nơi sở Ba Son (Arsenal), ông xin tách khỏi bộ Thủy binh và ông đã lập ra trường, ban đầu đặt vị trí ở chung với trường Bá Nghệ đường Chasseloup-Laubat, năm tạo lập kể là 1906, nhưng qua năm 1908, là thiệt thọ ở nơi hiện nay (đường Huỳnh Thúc Kháng) và năm 1948 nhớ công cán đào tạo nên đặt trường tên là Ecole Rosel. Theo tôi Rosel giỏi nghề giao thiệp, nhờ sửa chữa máy tàu máy xa mà ông thân thiện với các tay to mặt lớn, và nhờ giúp nhiều cho thống đốc, khiến nên khi sắp hạng và định lương cho học trò trường, Rosel đã òn ỹ và xin được sắp hạng người học trường của ông được ăn lương ngang hàng với lương thơ ký ngạch Soái-phủ (ông cắt nghĩa phải được lương cao thì ông mới tuyển được nhiều người học nghề máy). Ngoài số lương hậu hỷ, thầy thợ dạy nơi trường, ông đều cấp nhà ở khỏi tiền.

Vào năm 1924, hai trường dạy nghề đều giao cho Rosel làm hiệu trưởng và gọi chung là Ecole Technique Spéciale de Sàigòn. Rosel sanh năm 1866 ở Toulon, đậu bằng diplôme trường Quốc gia Mỹ nghệ của tỉnh Aix, đi lính thủy dưới quyền Thủy-sư đề-đốc Amiral Courbet, dự trận đánh ở Tonkin, xin lên bộ nhận chức đốc-học trường Máy từ 1906 và năm về hưu 1924, được phong chức mécanicien en chef và đặc biệt phong chức mécanicien-inspecteur (thanh-tra các trường dạy máy). Lúc kẻ hèn là tôi làm việc giấy, coi về mua vật liệu cho trường tôi ngán vì học tiếng Pháp mà lần hồi quên mất vì quanh năm chỉ quen với nào bù-lon (boulon), nào long-đền (rondelle), một phần khác vì nợ bao đồng quá nặng, tôi xin thuyên chuyển và đổi về làm bút toán nơi tòa bố tỉnh Sa Đéc, thì tại trường máy còn hai công chức kỳ cựu là ông Phạm Công Nghiệp, coi về trả tiền mua vật liệu, ông Nghiệp suốt ba chục niên làm nơi trường, sau mắc bịnh tâm thần, ông Rosel cho ở nhà dưỡng bịnh ngót đôi ba tháng, lãnh lương đủ và trọn. Một ông nữa là Đinh Văn Long, gọi Nhứt Long, vì chức giáo viên nổi tiếng dạy Pháp văn, đào luyện nhiều thế hệ sốp-phơ lái ô-tô và thầy đội coi máy tàu các tỉnh Nam kỳ và cấp bằng có gạnh chữ “ancien élève de l’Ecole dé Mécaniciens Asiatiques”, chữ viết tay mực son, những chuyên viên ấy đều được trọng dụng, tỷ như người tôi mang ơn nuôi cơm không nhận tiền là Phạm Văn Lẫm, nhiều năm làm sếp máy hãng mía làm đường ở Hiệp Hòa, và như Tư Dền, Sáu Hòa, Hòa Nhỏ, cả ba lái xe cho quan tây lớn và lương rất cao. Dền sốp-phơ mà lương 60$ mỗi tháng và chức là major dạy lái và chạy xe cho thống đốc Cognacq đến Pagès.

Rosel, thình lình đang mạnh khỏe, một đêm vào năm 1939 ông dùng cơm tối, bị mắc nghẹn, phu nhơn định sai người đi rước bác sĩ Viel, Rosel cản lại rằng họ ăn giá mắc (10$ thay vì giá ban ngày là 5$), hà tiện năm đồng bạc, đêm ấy ông nghẹn thở, và năm ấy tôi không hay và rất tiếc không được tiễn một quan thầy đỡ đầu tốt bụng. Duy anh Nguyễn Văn Thành, có nhà ở Kho Đạn gần vườn thảo cầm, một tay lo việc tẩm liệm và quan tài của Rosel được đưa xuống tàu chở về an táng ở quê nhà tại Toulon. Khu trường Máy do Rosel tạo lập, chiếm trọn một vuông đất bao gồm bốn đường cái quan trọng, mặt hậu trổ ra đường Hàm Nghi, và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to, sở Ba Son hiện được tôn trọng và có tượng đồng ông Tôn Đức Thắng. Tôi tiếc và viết lại đây không rõ tượng đồng bán-thân của Rosel có còn hay đã dẹp nơi lầu thượng trên căn phòng trường Máy cũ, nhà nầy đã cất lại làm trường trung học Huỳnh Thúc Kháng.

Nhắc lại ông Emmanuel Rosel, tuy được kể về hưu năm 1924 như đã nói nơi đoạn trên, nhưng ông vẫn được lưu dụng tại chức cho đến ngày mãn phần, thọ 73 tuổi, vả lại những gì tôi nói đây đều do ký ức nhớ chớ không thấy hoặc riêng tôi chưa gặp sách nào kể cho rành về mấy trường công nghệ ở miền Nam nầy, vậy tôi kể luôn, nơi đường cũ Chasseloup-Laubat, vẫn có một trường tên Pháp gọi Ecole Professionnelle d’Industrie sau gọi Ecole Pratique d’Industrie, tôi không biết lập năm nào và hiệu trưởng tên gì, duy tôi biết lối 1928, vẫn đặt dưới quyền thanh tra của ông Rosel, và trường dạy về làm đồ mộc, học trò ra trường vẫn được tuyển vào xưởng mộc của kỹ sư Tây là Foinet và một hãng gọi Etablissement Lamorte, đóng bàn, ghế gỗ giá tỵ rất khéo, hãng nầy có đặc quyền mua gom gỗ giá tỵ và khi nào hàng nầy dư dùng mới bán gỗ giá tỵ ra cho các tiệm Tàu mua về đóng thùng đựng nước và bàn ghế cho dân dùng. Theo tôi biết, trường Bá Nghệ đường Chasseloup nầy có một Tây chức là phó giám đốc tên Robert, và một phó giám đốc khác tên Thưởng (đốc Thưởng); ông nầy, tôi xin kể lại là thân phụ của ba người trai thảy đều khác lạ: một người là Nguyễn Văn Huấn, làm thơ ký Ngân khố vào đời tổng thống Pétain, có lịnh sa thải công chức bê bối, Huấn làm việc ở kho bạc Cần Thơ, viên kho bạc Pháp công trực, không ưng hạ cấp Tuấn và phúc trình binh vực Huấn rằng Huấn làm việc trôi chảy, còn tánh tình cứng cỏi, thì không đáng phải bị khiển trách; một người trai nữa là Nguyễn Văn Thìn là người đã kết bạn với danh kỹ Ba Trà, tôi đã kể trong quyển Sài Gòn Tạp-pín-lù; một người trai thứ ba là Nguyễn Văn Khai, làm thông ngôn tòa đại hình Sài Gòn, đẹp trai, nói tiếng Pháp rất thành thạo, người vợ là một huê khôi, nhưng mạng yểu, thường ngồi xe ô-tô dạo phố với Ba Trà, khi mãn phần, chồng là Khai khóc và đề bia mộ đá: “Elle a vécu ce que vivent les roes, l’espace d’un matin”, (câu nầy tôi nhớ lại và không ắt đúng nguyên văn).

Một trường thứ ba tôi biết là trường dạy vẽ ở Gia Định, nay vẫn còn, vẫn đào tạo và dạy môn vẽ dessin, luyện công chức sau nầy bổ qua trường Công lộ (Travaux Publics) vẽ họa đồ nhà, vẽ kiểu xây cầu cống, v.v… và trường nầy cũng đào tạo dessinateur du cadastre et arpenteur, dạy vẽ địa đồ ruộng, đo đất ruộng vườn.

Tôi nói đây có phần lộng ngôn nói hỗn, nhưng già rồi nên sợ ai mà không nói? Sở dĩ theo tôi hiểu, người Tây qua đây là để khai thác thuộc địa, gánh vàng gánh bạc về nước họ, nhưng luật trời chí công, như mẹ gà, ấp mớ trứng vịt, nay vịt con đã trộng và đều nhảy xuống nước lội te-te trong khi mẹ gà trên bờ kêu trời mà chịu. Những năm 1930 lối đó, bên Pháp có phong trào “Mặt trận bình dân” (Front Populaire), và ở đây, học trò đã trưởng thành và trở nên sinh viên, Pháp muốn giữ sự kềm chế, nên phải mở ở Hà Nội các trường từ Cao đẳng (écoles supérieures) đổi lên làm Đại học (Lycée, Faculté, vân vân) khi ấy mới có nhơn tài bản xứ học với những họa sư giỏi Tardieu, v.v… và trở nên những Nguyễn Gia Trí, những Nguyễn Sáng, v.v… nhưng đến vấn đề nầy, tôi xin nhường lời cho các nhà nghề thuật lại, à tôi chỉ biết những chuyện vặt vạnh, những chi tiết nhỏ, thuật lại nghe chơi, và xin nói cho công bình, người Pháp qua đây bỏ xác và đổ máu rất nhiều, nhưng kết quả vẫn ngoài ý muốn của họ.

Kể sơ như về ruộng điền thì ngoài Bắc có Puginier, trong Nam có Evêque d’Adran, hội Mission Evangélique miền Hậu Giang và trên Nam Vang làm chủ.

Về tiền tệ, bày ra đúc tiền điếu, đúc bạc trắng, thì Ba Tàu ở Chợ Lớn làm đầu nậu, đúc tiền Chinh (do Sùng Trinh nhà Minh), ăn trên đầu Tây thuộc địa, và Tây thuộc địa mảng chạy giấy tờ sang bên Tây, ru chánh phủ và nội các Tây ngủ say, ở bên nầy bày ra lấy độc trị độc, cho phép hội lập ra, nào Cao Đài, nào Hòa Hảo, nào Phật, nào Da-tô, tranh nhau giành nhau, rốt cuộc binh Nhựt thua ở đâu mà vẫn chạy tràn về đây, gom lúa, thâu cao-su, lật đổ toàn quyền Đơ-cu (một cu còn chịu không nổi!) và rốt cuộc như ngày nay đã thấy, tôi không cần nói nhiều.

Riêng về trường Mỹ nghệ, tôi nhớ ở Thủ Dầu Một trước có lập trường dạy làm đồ mộc, và nhờ đó sanh ra những nhà làm đồ mộc nhờ khai thác và đốn cây danh mộc thiên niên trên rừng, tỷ như rừng vùng Bình Thuận (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận), có cây quí, gỗ trắc, cẩm lai, mun, gõ đỏ (gọi cây Bên theo tiếng Thổ) nay còn địa danh Tánh Linh, theo tôi là viết và nói sai, chớ thật ra đó là “đất Tấn Linh” vì theo tôi biết ngày xưa ông bà ta để lại và để lại rất phân minh và rất rành rọt, tiếc thay chúng ta không nghe và không biết áp dụng, tỷ như ở Lục Tỉnh ngày xưa, mỗi bên kinh rạch, mé sông thì đặt ra tỷ như mé tả là chữ Nhiêu (tổng Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa), mé hữu là chữ Phong (Phong Mỹ, Phong Điền) hễ đọc ra là biết ngay thuộc bên nào, và hễ dưới sông thì chữ Tấn (Vàm Tấn là Đại Ngãi (Sốc Trăng), Vàm Tấn lại là tiếng mượn của Đàn Thổ, Cơ-me)… và Tấn Linh mới có nghĩa, chớ Tánh Linh, theo tôi thì vô nghĩa. Và nơi Tấn Linh nầy ngày xưa Pháp định mở đường xe lửa (xe hỏa) và dạy đốn gỗ rừng, lúc đó rừng nầy cây gốc thật to thật quá lớn, vả lại rừng thường ngập lụt nên thợ rừng hủy hoại gỗ súc, bày ra làm giàn trò cao và chỉ đốn nội khúc trên của cây gỗ lớn, đổ thừa dưới cây có đỉa có vắt, có thú dữ (cọp voi), tre trúc cũng dùng câu liêm móc giựt chỉ dùng đoạn trên và về sau, khi gỗ đã trở nên quá quí, mới nhớ lại mà cho thợ rừng đào móc lấy lại những gốc cây bỏ lóng trước, và khi ấy mới biết tiết kiệm, cưa lại theo mặt gỗ đứng, lấy từng lớp mỏng và dùng làm mặt bàn tròn, có thứ to lớn, đến 1 mét 80 cm kính tâm hoặc đến 2 mét, nay rất quí hiếm và trước đây còn lại nơi Thủ Dầu Một và nơi Lái Thiêu, hai nhà của hiệu Thuận Hòa và của nhà Nguyễn Long Thao, làm và bán bàn viết mặt đá, ván ngựa (gọi ván ba tức gồm ba tấm ván), ván hai hay ván đôi (có hai tấm) và ván một (chỉ một tấm) v.v…

Photo edit by Sơn râu

Ở Thủ, tôi biết có một người thợ rất khéo và đã chế tạo ra một chiếc xe đạp, chỉ sợi dây sên (chaine) là bằng thép, còn sườn, vành, … đều toàn bằng gỗ, xe vẫn chạy như xe kim khí, và người thợ mộc nầy đã được phần thưởng xứng đáng. Nhưng xe không được phổ biến và chỉ để thấy người thủ công của ta vẫn hoa tay giỏi.

Tóm lại, nghề như vẽ tranh nay đang thạnh hành, thì có lúc, trong xứ vẫn thiếu vật liệu (thiếu màu vẽ, thiếu giấy thiếu đất trắng và đồ nội hóa kém sút, cho nên trường dạy làm đồ gốm ở Biên Hòa, theo tôi biết, một đoạn lối 1950-1960, lò gốm Biên Hòa sản xuất gốm kém thua lúc Pháp còn ở đây, vì phải nói Pháp dạy rất kỹ và rất khó tánh, sinh viên làm món chưa vừa ý, họ đều bỏ không cho nung, còn ngày nay, tôi chịu thua và không biết được.

Nay việc cũ, nhắc lại về bốn ngành mỹ-nghệ, và xin độc giả bỏ qua cho:

1) Về máy móc, tôi làm nơi trường Máy ông Rosel ngót sáu năm từ 1923 đến 1928, tôi mua tôle thiếc lợp nóc chuồng gà Mỹ của thống đốc, được đặc hạng 18 tháng mà thăng lên một cấp, ông Favier phó và ông Rosel cho tôi theo xe để học lái xe, nhưng tôi thừa dịp để xe đi dạy người khác, còn tôi thì xuống xe và dùng thì giờ đi với chị em và đến nay tôi vẫn không biết lái xe;

2) Về tranh, tôi xét không đủ tiền theo kịp các tay điên tiền. Khi làm nơi Viện bảo tàng ở Vườn thú ở đây, tôi thấy cả mấy chục tấm tranh vẽ màu, mực Tàu, vẽ dầu, có một bức màu ba phụ nữ Bắc, Trung, Nam, ngồi chùm nhum trên sàn nhỏ, tôi cho là rất khéo, những tranh ấy đều do họa sư Pháp vẽ, không biết hiện nay về đâu?

3) Về gốm, mặc dầu tôi chơi gốm cổ, nhưng tôi không sắm gốm Biên Hòa, chỉ có đôi gốm do đời Tây để lại, và nay rất khó kiếm. Nay gốm mới tôi không quan tâm nữa.

4) Rốt cuộc, tôi thích đồ mộc, vì theo tôi đồ mộc Thủ và Lái Thiêu, gỗ tự nhiên trắc, cẩm lai, lâu niên thành cổ. Mộng mẹo cho thật khít khao, để lâu năm thì quí.

Nhà Tân Hanh, trước ở đường Nguyễn Trãi, khi chủ mất, nhà bị bán, chủ xin được yên thân vùi xác trong một chiếc hòm cây giá tỵ, kỳ dư liễn, hoành sơn son thiếp vàng, vô số kể, treo đầy vách, nay về tay ai.

Tôi đã bỏ qua nhiều dịp tốt, nay tiếc đã muộn. Nhà Tái Hiệp Hòa ở Chợ Lớn, tôi gặp năm nọ đã lâu, 12 (mười hai) chiếc ghế gỗ mun, do thợ Bà Rịa làm năm 1900 hay lối đó, ra giá mỗi ghế 600 bạc cũ đời Thủ hiến Trần Văn Hữu, cả thảy giá 7.200, tôi cò kẻ trả bớt không được, khi về nhà lấy tiền trở lại chủ nhựt sau thì ghế đã bán mất, tiếc quá.

Nhà Huê Hưng chứ cả kho đồ mộc kiểu đời Thanh, sập ba thành, bàn mặt đá quí, giá rẻ mạt, nhưng mua về không chỗ chứa, nay đâu còn? Nhà Huê Hưng cũng đã dẹp.

Lúc ở Sa Đéc, chủ Quảng Đông tiệm mộc tên Đăng Quán, quen thân, một hôm tôi mời chơi bài thiên cửu, Quán nói mắc dỡ nhà cũ cho kịp sáng chủ nhận tiền, sau đó Quán cho biết phải dỡ nhẹ lấy bộ cột cho kịp lúc vì cột ấy toàn gỗ mun, mà người chủ bán nói cột sơn dầu hắc bán giá cột chụm củi, và rõ lại người chủ ấy là bạn học bên Tây đồng song với bác vật Lưu Văn Lang, tên Lương Văn Mỹ, kỹ sư công chánh.

Tôi gần đây đã gặp một bộ ghế cây trắc giả bắt chước bàn ghế dây mây đan (rotin tresssé) mộng khít rịt, tôi mua không kịp, nay về đảo Đài Loan, đáng tiếc, hoặc tại tôi vô duyên.

First Day Cover stamps collections by Sơn râu

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Paralympics First Day Cover 2024

Paralympics First Day Numismatic Cover

Paralympics First Day Numismatic Cover -2

Paralympics First Day Cover details

Paralympics Postcards

Austalia in Space-1

Australia in Space-2

Marine emlems Fist Day Cover-1

Marine Emblems First Day Cover-2

Marine Emblems Fisrt Day Cover-2

Baramundi Postcards

Weedy Seadragon Postcards

Whale Shark Postcards

Norkfold Island Fishing Firts Day Cover-1

Norkfold Island First Day Cover details-2

Norfolk Island First Day Cover -2

Sky Country The Seven Sisters First Day Cover -1

Sky Country The Seven Sister First Day Cover details-2

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

February 26th, 2021

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Kỳ 8

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Khi bàn giao, Trung tá Nguyễn Lang, biệt danh là “Lang Trọc” Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân nói với tôi rằng vùng này yên tĩnh lắm, quân ta và quân địch nằm cách nhau chỉ một con suối, uống chung giòng nước Dak Blao mà không hề bắn nhau.

Nghe chuyện này tôi vô cùng ngạc nhiên. Kể từ khi Việt-Cộng vi phạm nghiêm trọng hiệp định ngưng bắn Paris, xua quân đánh chiếm Lệ Minh, và Bù Bông năm 1973, thì cái vụ hòa hợp hòa giải này đã hết hiệu lực từ lâu.

Chắc chắn ông Lang đã biết tôi vừa thoát chết ở Pleime, ông Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di mất xác ở Dak Pek, Thiếu tá Hà Văn Lầu tử trận ở Thượng-Ðức?

Vậy mà không hiểu vì lý do gì mà ông Lang dám cho lính dưới quyền ông ta sinh hoạt chung với địch mà không sợ bị địch trở mặt bất ngờ, và ông ta cũng không sợ bị thượng cấp trách phạt hay sao?

Tôi và Trung tá Nguyễn Lang là đôi bạn vong niên, chúng tôi gặp nhau thời gian Ðại tá Lê Khắc Lý là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Thời gian này tôi là Trưởng Phòng 2, còn Thiếu tá Lang là Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị.

Sau đó ông Lang ra thay ông Thiếu Tá Quang giữ chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.

Mùa Hè năm 1972 Thiếu tá Lương Văn Ngọ bị Tướng Trần Văn Hai truất quyền chỉ huy Chiến Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân thay thế bằng Thiếu tá Nguyễn Lang.

Dưới quyền Thiếu tá Nguyễn Lang, Chiến Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân đã có công giải tỏa Quốc Lộ 14 tiếp cứu Kontum nên ông Lang được vinh thăng cấp trung tá.

Sau một thời gian, có lẽ đã hơn một năm rồi, tôi và ông Trung tá Lang mới gặp lại nhau.

Tôi nghĩ rằng chắc có ẩn tình gì đó, nên ông Lang đã giấu giếm không cho tôi biết nguyên nhân vì sao ông ta dám cho quân lính dưới quyền bắt tay giao du với giặc.

Tôi chưa kịp tìm hiểu tình hình thực sự của vùng này như thế nào thì sáng sớm hôm sau, 5 tháng 10 năm 1974 tôi đã nghe Thiếu úy Thủy mật báo rằng đêm qua đại úy tiểu đoàn phó đã ngồi nhậu cả giờ đồng hồ với một tên cán bộ Việt-Cộng trong căn lều tranh “Hòa Hợp, Hòa Giải” trên bờ Nam suối Dak Blao dưới chân đồi 700. Căn lều này đã được Tiểu Ðoàn 96 bàn giao lại!

Lập tức tôi cho Thiếu úy Phước xuống đồi gọi ông Tài lên trình diện.

Vài phút sau, trước mặt tôi, ông tiểu đoàn phó của tôi đã phân bua với tôi một cách thật ngây thơ,

– Tôi được Thiếu tá Hiển, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 96 Biệt Ðộng Quân bàn giao rằng trong vùng này, quân hai bên sẽ sống chung hòa bình, không bên nào xâm phạm bên nào. Tối qua tôi có nói chuyện với thằng chỉ huy Việt-Cộng, y ta đã đồng ý không tấn công mình trước. Tôi chưa kịp báo cáo với Thái Sơn chuyện này thì ông đã biết rồi!

Tôi nhìn mặt ông phó của tôi mà chỉ biết lắc đầu chán nản:

– Thôi! Ông khăn gói về nằm với thằng Danh trên ngọn đồi Tây. Tôi cấm ông bén mảng tới bờ suối! Cãi lệnh, tôi xử tử đó!

Ngay trưa hôm ấy tôi cho Ðại Ðội 3/82 tràn xuống chiếm cái làng Thượng có tên Bu M’Bré đã bỏ hoang, nằm bên hướng Tây Quốc Lộ 14, đối diện với đồi 700.

Hai ông Ðại đội trưởng 3/82 và 4/82 được mật lệnh tắt máy từ chiều hôm đó cho tới khi kế hoạch hoàn thành.

Kế hoạch đề ra là, đúng 10 giờ đêm 5 tháng 10 pháo binh sẽ bắn 200 trái đạn 105 ly trên một tuyến dài theo hướng Ðông Tây vùng Bắc suối Dak Blao.

Tới lúc pháo binh ngưng tác xạ, sẽ có những trái đạn 81 ly chiếu sáng soi đường cho Trung đội Viễn Thám vượt suối làm đầu cầu. Tiếp đó, Ðại Ðội 4/82 sẽ men theo cây cầu gãy, tiến chiếm cái làng Thượng đã bỏ hoang nằm trên khúc quanh của Quốc Lộ 14 cách suối Dak Blao hai trăm thước.

Ðại Ðội 3/82 sẽ làm trừ bị, sẵn sàng tiếp cứu Ðại Ðội 4/82 khi cần.

Trong khi quân ta tiến chiếm mục tiêu thì khẩu cối 106 ly của tiểu đoàn cứ thủng thỉnh rót từng viên đạn nổ trên khúc đường Quốc Lộ 14 nằm dưới chân núi Bù Row để tiêu diệt và áp đảo tinh thần những tên địch chạy khỏi vùng.

Tôi đã nghe ông Trung tá Lang cảnh cáo rằng, nếu ta bắn 1 viên đạn pháo hay cối vào vùng địch, ta sẽ bị địch đáp trả từ 10 tới 20 lần hơn.

Nhưng hình như đêm 5 tháng 10 Việt-Cộng đã bị hoàn toàn bất ngờ trước vụ tấn kích của tôi.

Tôi không nghe tiếng súng lớn nhỏ nào của địch cả.

Tuy vậy sáng ra, chúng tôi cũng chỉ phát giác được năm cái xác Việt-Cộng chết trong một chòi gác bên suối.

Ta thu được vỏn vẹn ba cây AK 47 và một khẩu súng B40.

Chẳng lẽ lâu nay trong vùng này chỉ có một cái tiền đồn với 5 tên Việt-Cộng mà ta đã phải huy động tới hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân để trấn giữ hay sao?

Trời sáng rõ, tôi tiếp tục xua quân lên tiến chiếm cao điểm Bù Row có cao độ 750 mét, nằm về hướng Tây, sát mép Quốc Lộ 14.

Ðồi Bù Row là một cái đồn cũ từ thời Pháp, có ba cái lô cốt và hàng rào mìn xung quanh.

Tuy vậy, sau hơn một năm làm chủ khu vực này, Việt-Cộng đã gỡ hết mìn bẫy trong vùng.

Xung quanh Bù Row giờ đây là những vạt vườn trồng khoai mì rộng mênh mông. Vùng này đã trở thành khu vực canh tác sản xuất của Trung Ðoàn 271 Cộng-Sản.

Trưa 6 tháng 10 năm 1974 tôi đang ngồi ôm cái ống nhòm, theo dõi hai đại đội tiền phương tiến quân, thì có một chiếc xe Dodge 4×4 từ Nhơn-Cơ chạy tới.

Tới chân đồi Kiến-Ðức, có vài người bước xuống. Một lúc sau, Trung úy Trần Dân Chủ chạy ra khu pháo binh báo cho tôi biết có một ông trung tá của tiểu khu muốn gặp mặt tôi.

Tôi ra lệnh cho ông Chủ xuống đường, dẫn ông trung tá lên đây nói chuyện, vì tôi đang bận điều quân.

Th/tá Vương Mộng Long và con gái Băng Điền – Dalat 10/1974. 

Ông Trung tá Chỉ huy phó Tiểu Khu Quảng-Ðức bắt tay tôi, rồi dịu dàng,

– Anh Long có khoẻ không?

Tôi hớn hở khoe:

– Tôi khỏe như vâm! Tụi tôi đang đuổi bọn Việt-Cộng chạy như vịt! Tôi tái chiếm đồi Bù Row rồi! Nếu tiểu khu yểm trợ pháo cho tôi, và cho tôi một tiểu đoàn trừ bị, tôi lấy lại đồn Bu Bông trong vòng 24 giờ!

(Đồn Bù Bông nằm về hướng Bắc Quận Lỵ Kiến-Đức khoảng 20 cây số, do Địa Phương Quân phòng thủ. Đồn này đã bị Cộng-Quân chiếm giữ từ cuối năm 1973)

Ông tiểu khu phó lắc đầu thở dài,

– Ông Nghìn sai tôi ra đây để nói với anh rằng, ngừng cái hành động lấn đất dành dân ngay đi! Ông ấy sợ Sài-Gòn mà nghe biết tình hình vùng này đột nhiên mất an ninh, họ sẽ khiển trách ông tỉnh trưởng đấy!

Nghe ông tiểu khu phó nói, tự nhiên tôi thấy cụt hứng, bao nhiêu hào khí phút chốc tan như hơi sương.

Nhưng tôi vẫn cương quyết,

– Nhờ Trung tá về nói với Ðại tá Nghìn rằng, tôi đã lấn tới Bù Row. Vì từ đỉnh Bù Row địch có thể đặt cối và súng không giựt bắn vào Kiến-Ðức, nếu các ông mà bắt tôi trả Bù Row cho Việt-Cộng thì tôi sẽ xin đem quân đi chỗ khác, không trấn đóng vùng Tây Quảng- Ðức nữa!

Ông trung tá già nhìn tôi buồn rầu,

– Em là một sĩ quan lý tưởng của quân đội, tiếc rằng thời buổi này người ta không ưa những con người như em!

Rồi ông bắt tay tôi, từ giã.

Từ ấy cho tới ngày tàn chiến tranh, tôi không còn dịp nào gặp mặt ông nữa. Hình như sau đó ít lâu ông trung tá này đã thuyên chuyển đi nơi khác.

o O o

Ðêm 6 tháng 10 từ trong rừng hướng Bắc suối Dak Blao có tiếng loa của Việt-Cộng oang oang:

– Ðả đảo Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Ngụy đã vi phạm cam kết hòa hợp hòa giải! Ðả đảo tên Tiểu đoàn trưởng 82 Biệt Ðộng Quân khát máu!

Chỉ mười phút sau, tiếng loa tắt phụt sau một loạt đạn M16 nổ giòn.

Sáng ngày 7 tháng 10 toán Viễn Thám 823 của Trung sĩ Nguyễn Chi tiến vào rừng khai thác kết quả, chỉ thấy một thằng giặc nằm chết cong queo bên chiếc loa tay.

Từ đêm 7 tháng 10 trở đi không còn cái loa nào léo nhéo nữa….

Sáng 8 tháng 10 tôi đưa cho Ðại úy Nguyễn Hữu Tài cái sự vụ lệnh hoàn trả ông ta về liên đoàn, với lý do kém khả năng. Tôi không còn kiên nhẫn để ông đại úy này tiếp tục làm việc dưới quyền mình nữa. Ðại úy Nguyễn Hữu Tài là người đầu tiên từ giã Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân mà không có tiệc tiễn đưa.

Th/tá Vương Mộng Long và con gái Đông Miên – Dalat 10/1974.

Trước giờ Ðại úy Tài vào chào tôi để giã từ, tôi đã tự tay xé cái giấy phạt 15 Trọng Cấm xin gia tăng tối đa mà tôi đã phạt ông Tài với tội danh “Bắt tay với địch quân”

Tôi làm chuyện này, vì tôi vừa hồi tâm, nhớ lại những lời ông trung tá già, Tiểu khu phó Tiểu Khu Quảng-Ðức: “Ông Nghìn sai tôi ra đây để nói với anh rằng, ngừng cái hành động lấn đất dành dân ngay đi! Ông ấy sợ Sài-Gòn mà nghe biết tình hình vùng này đột nhiên mất an ninh, họ sẽ khiển trách ông tỉnh trưởng đấy!”

Tôi không biết hành động sống chung hòa bình với kẻ thù của Trung tá Lang đã có sự đồng tình của ông tỉnh trưởng hay không? Tôi không biết ông Nghìn đã làm ngơ, hay ông Nghìn đã ngầm ra lệnh cho ông Lang bắt tay với địch để cho Sài-Gòn yên trí rằng: “Mặt Trận Miền Tây Quảng-Ðức vẫn bình yên” (?)

Tôi cũng không biết, nếu ngày đó người nhận bàn giao vùng Bắc Kiến-Ðức không phải là tôi, mà là Thiếu tá Mẫn hay Thiếu tá Ðàng thì quân ta và quân địch có tiếp tục chung sống hòa bình, uống chung một giòng nước suối Dak Blao hay không?

Mãi lâu lắm, sau này, tôi mới nghe biết Trung tá Nguyễn Lang đã bị Tư Lệnh Quân Ðoàn II phạt 40 ngày Trọng Cấm vì đã bắt tay với địch, nên bị buộc tội “Vi Phạm Huấn Lệnh Quân Sự”.

Sau khi bị phạt, ông Trung tá Nguyễn Lang đã bị giải ngũ, loại ra khỏi quân đội.

Còn Thiếu tá Huỳnh Công Hiển, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 96 Biệt Ðộng Quân cũng bị phạt nặng không kém gì ông Trung tá Lang, nhưng không bị giải ngũ.

Mãi tới năm 1979 tôi và ông Nguyễn Lang mới gặp lại nhau trong Trại tù Cải tạo Nam Hà A, ngoài Bắc Việt. Trong lúc ngồi ôn chuyện xưa ở Kiến-Ðức, ông Lang không phiền trách chuyện tôi đã xua quân qua suối Dak Blao phá vỡ hiệp ước bất tương xâm mà ông Lang và Việt-Cộng đã giao ước với nhau. Ông Lang chỉ bặm môi, chửi thề:

“Ðù má thằng Nghìn! Chơi xấu! Chạy tội! Ðổ lỗi lên đầu moa!”

Nghe ông Lang nói thế, tôi cũng chẳng thèm tìm hiểu thêm xem, ngày đó ông Lang và ông Nghìn đã có gì vướng víu, khúc mắc với nhau không? Có phải chính ông Nghìn đã làm ngơ trước lỗi lầm của Thiếu tá Hiển và Trung tá Lang không? Có phải tới khi chuyện xấu vỡ lở, ông ta lại phủi tay, chạy tội hay không?

Về phần tôi, hiển nhiên, ngày đó tôi đã bị ông Nghìn khóa tay, không cho đánh nhau nữa.

o O o

Đời lính, vui và buồn…

Ngày 9 tháng 10 năm 1974 tôi và ba quân nhân khác đại diện Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được trực thăng chở về hậu cứ Pleiku chuẩn bị tham dự ngày lễ thành lập Quân Ðoàn II.

Trong ba ngày 9,10 và 11 tháng 10 Trung tá Hoàng Kim Thanh thay thế tôi chỉ huy Ngã Ba Kiến-Ðức.

Buổi lễ kỷ niệm ngày thành lập Quân Ðoàn II đã diễn ra thật đơn giản.

Tổng thống đã không có mặt, các tỉnh trưởng trực thuộc Quân Khu 2 cũng không có ai.

Trên khán đài chỉ có hai ông tướng, là Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân Ðoàn II, và Thiếu tướng Phan Ðình Niệm, Tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Trong khi Tướng Toàn đang bận gắn cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu lên hiệu kỳ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, thì Tướng Niệm nài nỉ Tướng Toàn,

– Biệt Ðộng Quân không dùng Thiếu tá Long thì Trung tướng cho anh Long về làm việc với tôi đi!

Ông Toàn có vẻ bực mình, càu nhàu,

– Ông thích nó thì nói với nó, duyên cớ gì mà phải năn nỉ tui?

Nghe ông Toàn cự nự, Tướng Niệm bèn bước tới bắt tay tôi,

– Chúc mừng Tiểu Ðoàn 82 vừa được tuyên dương công trạng trước quân đội! Chúc mừng Thiếu tá Long!

Sau đó ông Tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh hạ giọng, vừa đủ cho tôi và mấy người đứng bên tôi nghe được.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

February 19th, 2021

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Kỳ 7

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ. Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Trong thời gian 100 quả đạn cối 81 ly của Thượng sĩ Năng theo nhau rơi trên mục tiêu, tôi dàn quân và bắt đầu leo dốc.

Sau trận oanh tạc và pháo kích chiều nay, cánh đồng tranh đã cháy thành bãi đất đen.

Tôi đi sau lưng trung đội Viễn Thám, Thiếu úy Phước đi sau tiểu đội cận vệ.

Không lâu sau chúng tôi đã tới con đường xe be, bên kia đường là cánh rừng tả tơi vì bom đạn.

Gió đang thổi từ Ðông qua Tây, thật là thuận lợi cho chúng tôi vô cùng.

Tôi chỉ đem theo một khẩu Colt, không có súng dài, trận này trên dây ba chạc của tôi treo tòn ten bốn quả lựu đạn lân tinh.

Tôi rút chốt quả lựu đạn sáng, ném thẳng tay qua hàng cây. Trái lựu đạn rơi trên triền đồi.

“Bóc!” một chùm sáng chói lòa phụt lên!  Tiếp đó là những tiếng “Ùm! Ùm! Ùm!” của lựu đạn M26 đua nhau nổ rền.

Trái sáng của tôi chính là hiệu lệnh khai hỏa.

Ðợt tiến công phủ đầu là lựu đạn M 26. Nhờ có trái lựu đạn lân tinh mà chúng tôi đang ở ngoài sáng mà hóa ra ở chỗ tối. Ðịch bị ánh sáng lựu đạn làm chói mắt nên không nhìn thấy gì cả. Quả lựu đạn chiếu sáng thứ hai vừa bùng lên thì quân của tôi đã nằm sát bìa rừng. Theo đúng quy định, một khẩu súng chĩa về phải, còn khẩu kia chĩa về trái cứ thế mà bóp cò. Bắn đã năm phút mà không nghe phát đạn nào của địch đáp lại, tôi cho lệnh ngưng.

Lúc này Ðại Ðội 3/82 đã tiến tới đường xe be. Tôi cho Ðại Ðội 3/82 tràn vào lập thêm một hàng rào thứ hai.

Sau đó, tôi cho Trung đội Viễn Thám và tiểu đội cận vệ quay mặt ngược lại 180 độ, hướng về con đường xe be để giữ lưng cho Ðại Ðội 3/82.

Từ ấy, dưới ánh hỏa châu của pháo binh, Ðại Ðội 3/82 chậm rãi thanh toán từng hầm cá nhân của địch.

Mỗi cái hầm của Việt-Cộng lãnh một trái lựu đạn M 26.

Ðến khi trăng lên tới đỉnh đầu thì chúng tôi đã hoàn toàn làm chủ ngọn đồi 898.

Làm chủ Mục Tiêu 1 xong, tôi gọi cho Ðại úy Tiểu đoàn phó, ra lệnh cho ông ta đưa quân lên chặn đường, hốt gọn những tên địch vừa thoát chạy từ đây ra. Tôi gọi hoài mà không có đài nào của cánh quân thứ nhì trả lời.

Cùng lúc này Thiếu úy Ðặng Thành Học báo cho tôi hay, trên Mục Tiêu 2 có ánh đèn pin nhấp nháy. Tôi bước ra mặt đường xe be thì thấy trên đồi 880 có một ánh đèn pin chớp rồi tắt như đang tìm cách truyền tín hiệu với đồng bọn trên đồi 898.

Tôi nghĩ, chắc tụi này đã thấy đồi 898 bị đánh phá tơi bời, nên chúng dùng tín hiệu đèn để xin lệnh chăng?

Nhân cơ hội này mà mình tấn công chớp nhoáng, chắc chắn sẽ thắng ngay. Ngặt một điều là cho Ðại Ðội 1/82 tham chiến thì tôi không còn đơn vị nào trừ bị.

Nếu dùng hỏa lực mà đuổi được chúng nó thì công việc ngày mai của Ðại Ðội 1/82 sẽ nhẹ đi nhiều.

Nghĩ thế, tôi liền gọi máy cho liên đoàn xin thỏa mãn gấp 100 quả đạn 105 ly trên Mục Tiêu 2.

Hứng chịu 100 quả đạn đại bác chắc bọn Việt-Cộng đóng chốt trên đồi 880 cũng táng đởm, kinh hồn!

Một tiếng đồng hồ sau, trên mặt đường xe be từ hướng Nam có nhiều tiếng chân rầm rập, cùng với tiếng la: “Các đồng chí đừng bắn! Bạn đây!”

Hóa ra bọn này là đơn vị Việt-Cộng vừa thoát chạy từ Mục Tiêu 2!

Phút chốc, toán người này đã tới tuyến phòng ngự của tiểu đội cận vệ.

“Bạn đây! Bạn đây!” – “Ðùng! Ðùng! Ðùng! Rẹt! Rẹt! Rẹt! Cành! Cành! Cành!…”

Trong bóng đêm, bỗng có hai người bên cạnh đưa tay đè vai tôi xuống, rồi nhoài mình ra phía trước.

Hình như hai người lính này cố ý lấy thân mình để che chắn và bảo vệ người chỉ huy của họ.

Trước mặt tôi, hai anh này quỳ gối sát cánh nhau, tác xạ liên tục, một người sử dụng súng M79 bắn đạn chài, người kia sử dụng súng M16.

Súng nổ liên thanh cùng với những thân người ngã xuống.

“Ối! Ối! Ðừng bắn! Bạn đây! Chết tôi! Ối! Ối!…”

Cách tôi chỉ vài thước, trên mặt đường, có mấy cán binh Cộng-Sản đè lên nhau, quằn quại trên mặt đất.

Cũng có những tên địch nhanh chân phóng mất hút trong rừng đêm.

Bất ngờ từ mặt lộ, một tên Việt-Cộng đã bị thương bỗng ngồi dậy.

Một băng AK 47 nổ giòn. Tôi nghe tiếng đạn bay sát mang tai.

Hai Biệt Ðộng Quân che trước mặt tôi bị trúng đạn, chỉ kịp la lên hai tiếng “Ối! Ối!” rồi nằm vật sang bên.

Quân ta lại bắn tiếp, thằng Việt-Cộng bị thương lại gục xuống. Kỳ này thì y chết luôn!

Tiếng súng ngừng, dưới ánh hỏa châu, tôi thấy trước mặt mình có hai người chết.

Một người là Trung sĩ Y Thon Nier, người kia là Trung sĩ Nguyễn Minh!

Sáng 1 tháng 10 sau khi gọi mãi mà không nghe ông tiểu đoàn phó cùng hai Ðại Ðội 2/82 và 4/82 lên tiếng, tôi liền ra lệnh cho khẩu 81 ly bắn một trái đạn khói trên khu đồng cỏ tranh nằm cách vị trí đóng quân cũ của ông Tài chừng nửa cây số về hướng Tây.

Tôi bắn trái khói này cốt ý để hù dọa ông Tài, nếu ông ta có đem quân đi trốn thì cũng phải lòi mặt ra vì sợ tôi nã pháo vào đầu!

Quả đúng như tôi dự liệu, tôi chưa thấy khói bốc lên cao, ba cái máy chính của cánh quân này đã la lên oai oái,

-Xin ngưng tác xạ! Xin ngưng tác xạ! Các anh đã bắn vào đầu chúng tôi rồi!

Giận quá, tôi vội cầm ống liên hợp lên quát lớn,

– Rút ra đường! Kỳ này tụi mày sẽ ra tòa, đi tù hết!

Sau đó, tôi cho Thiếu úy Hổ tung quân ra lục soát toàn thể Mục Tiêu 1.

Triền Tây Nam của đồi 898 là vị trí chỉ huy của một tiểu đoàn Việt-Cộng, với hệ thống giao thông hào hình cánh cung. Có nhiều hầm hố đã bị bom và pháo binh đánh sập với nhiều vũng máu chưa khô. Chúng tôi thu được 17 khẩu AK 47, một bàn tiếp hậu cối 82 ly, một nòng đại bác 57 ly còn tốt, cùng gần chục khẩu AK và B40 gãy nát.

Thêm vào đó là vài chục viên đạn 57 ly cùng hàng trăm thủ pháo và bộc phá ném tay, chất đầy một căn hầm.

Trên tử thi của địch để lại, tôi tìm được một tờ giấy thấm máu, ghi tên đơn vị Việt-Cộng này, nhưng đọc không rõ là Tiểu Ðoàn D 407 hay D 401 Ðặc Công?

Sau khi kiểm soát toàn bộ diện tích đồi 898 và khu vực xung quanh, tôi cho Toán Viễn Thám 823 và 825 men theo con đường xe be dẫn về Tây Bắc. Từ đồi 898 tới điểm mà tôi đã ra lệnh cho hai Ðại Ðội 2 và 4/82 chặn nút có chiều dài gần hai cây số. Viễn Thám báo cáo rằng có nhiều dấu máu tươi trải dài trên mặt đường, cùng nhiều bông băng rơi rớt. Nếu cánh quân thứ hai của tôi đã thi hành đúng kế hoạch thì những tên địch rút chạy kia hết đường thoát.

Vì đêm trước tôi đã chứng kiến bọn Việt-Cộng đóng chốt trên Mục Tiêu 2 bỏ chạy rồi, nên chiều 1 tháng 10 tôi xin pháo binh bắn thêm 100 trái đạn nữa lên đồi 880, sau đó Ðại Ðội 1/82 tiến lên chiếm ngọn đồi này.

Nửa giờ sau Ðại Ðội1/ 82 đã làm chủ Mục Tiêu 2. Trên mặt đất chỉ còn ba cái xác cán binh Việt- Cộng chết không toàn thây, ba khẩu AK gãy nát cùng mấy cái nón cối thủng.

Tám giờ sáng ngày 2 tháng 10 Thiếu úy Ðặng Thành Học bàn giao đồi 880 cho tiền quân của Tiểu Ðoàn 81.

Mặt trận Tây Quảng Đức tháng 10 năm 1974.

Ðoạn đường còn lại từ đồi 880 tới Nghi-Xuân tuy dài, nhưng không còn bóng dáng tên Việt-Cộng nào, do đó chưa tới 4 giờ chiều ngày 2 tháng 10 quân ta đã tới cổng Ấp Chiến Lược Nghi-Xuân.

Xế chiều ngày 2 tháng 10, một chiếc trực thăng đáp xuống mặt đường xe be, bên cạnh đống lửa của thày trò tôi.

Trung tá Hoàng Kim Thanh Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 thả xuống cho tôi một két La Ve Con Cọp và một cây nước đá. Trung tá Thanh hét lên, át cả tiếng của động cơ máy bay,

– Ông Nghìn (Tỉnh trưởng) gửi cho chú món quà này!

Tôi có cái tật khác người, thích uống bia cổ cao có hình Con Cọp hơn là uống Bia 33 hay các thứ rượu Martell hoặc Hennessy.

Nhưng tối 2 tháng 10 năm 1974, tôi đã không đụng tới những chai bia này, chỉ vì giờ đó cách chỗ tôi ngồi không đầy mười thước là hai cái poncho gói xác hai thằng em, một đứa người Kinh tên là Nguyễn Minh, đứa kia người Thượng tên là Y Thon Nier.

Nhìn cái poncho gói xác thằng Y Thon Nier, tôi nhớ lại khuôn mặt nhạt nhòa nước mắt của nó ngày thầy trò tái ngộ.

Có lẽ những giọt nước mắt đó chưa khô mà nó đã vội vã bỏ tôi mà ra đi rồi!

Bên cạnh nó là hình ảnh thằng em gốc Quảng-Nam, vừa cười cầu tài, vừa năn nỉ tôi cách đây không lâu,

– Nhà em ở Nghi-Xuân, sau chuyến hành quân này Thái Sơn du di cho em nghỉ vài ngày thăm nhà.

Tôi đã gật đầu và hứa với nó,

– Nơi này cách Nghi-Xuân hơn mười cây số thôi, nhưng đường lại bị Việt-Cộng đóng chốt. Chờ hôm nào bứng xong mấy cái chốt, trên đường về Gia-Nghĩa anh sẽ thả chú xuống, cho chú ghé thăm gia đình mấy bữa.

Hôm nay Liên Tỉnh Lộ 8B đã khai thông, ngày mai, hoặc ngày kia, chắc chắn thằng em tôi sẽ được về gặp mẹ nó và các em nó. Nhưng nó sẽ trở về với cái áo quan bằng gỗ, có lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ bên trên, và có cả một Tiểu Ðội Chung Sự của Tiểu Khu Quảng-Ðức với kèn trống đưa chân nó tới tận bàn thờ gia tiên.

Bao năm sau chiến tranh, tôi vẫn thường tự hỏi, có phải ngày đó ông Trời đã sai khiến hai thằng em Y Thon Nier và Nguyễn Minh về trình diện Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân chỉ với sứ mạng là chết thay cho ông thầy của chúng nó hay không?

Sáng 3 tháng 10 năm 1974 tôi rút quân về vị trí cũ của tiểu đoàn nằm bên cạnh tỉnh lộ, rồi cho gọi ba ông sĩ quan của cánh quân hướng Bắc về trình diện.

Vừa chào kính xong, Trung úy Võ Hữu Danh đã lớn tiếng tố cáo,

– Trình Thái Sơn, em và anh Thủy chỉ nghe lệnh ông Ðại úy Tài, ổng bảo gì, tụi em làm vậy. Tụi em không tự ý tắt máy rồi đi trốn đâu!

Thiếu úy Phạm Văn Thủy chỉ cúi mặt nhìn xuống đất, không mở miệng nói gì.

Còn ông tiểu đoàn phó thì mặt mày tái mét lấm lét nhìn tôi ra chiều lo âu lắm.

Tôi ra lệnh,

– Ðại úy Tài ở lại đây gặp tôi, Trung úy Danh và Thiếu úy Thủy đi về đơn vị!

Chờ cho hai anh đại đội trưởng đi khỏi, tôi mới nhìn vào mặt ông tiểu đoàn phó rồi gằn từng tiếng,

– Tôi sẽ đưa đại úy ra Tòa Án Binh vì tội “Vi phạm huấn lệnh quân sự”

Ðại úy Nguyễn Hữu Tài vội rối rít van xin,

– Xin Thái Sơn tha cho lần này! Chỉ vì tôi thấy cánh quân của tôi có nhiều lính mới quá, sợ vừa nổ súng chúng nó đã chạy, nên tôi đành cho tụi nó chui vào bụi trốn, chờ khi nào yên mới chui ra.

Không chờ tôi cật vấn nhiều lời, ông tiểu đoàn phó kể rằng, lúc nghe tiếng súng của Ðại Ðội 3/82 và Viễn Thám bắn nhau với địch quân, có vài anh lính mới vì sợ quá, nên rủ nhau bỏ vị trí, rồi ôm súng, tìm đường chạy ra liên tỉnh lộ.

Vì thế mà ông ta đành cho lệnh hai đại đội dưới quyền tắt máy truyền tin, trốn mất tăm, mất tích.

Câu trả lời thật lòng của ông tiểu đoàn phó làm tôi nhớ lại hình ảnh anh tân binh run rẩy cách nay vài ngày.

Cơn giận của tôi chợt nguôi ngoai, tôi giơ tay phất một cái ra lệnh,

– Ði đi!

Nghe thế, ông Tài vội lụp chụp đứng nghiêm, vừa chào tôi xong là chạy biến đi ngay.

Sáng 4 tháng 10 năm 1974 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được lệnh lên xe để về vùng hành quân mới.

Dọc đường từ Nghi-Xuân, qua Gia-Nghĩa tới Kiến-Ðức chúng tôi đã chứng kiến cảnh dân chúng vui mừng đổ xô ra mặt lộ, vẫy tay reo mừng, chào đón các chiến sĩ vừa khai thông xong Liên Tỉnh Lộ 8 B. Con đường Liên Tỉnh 8 B này chính là mạch sống của toàn thể cư dân Quảng-Ðức.

o O o

Bên suối Dak Blao …

Trưa ngày 4 tháng 10 chúng tôi tới chân đồi Kiến-Ðức. Ðoàn xe chở quân ngừng lại trên mặt Tỉnh Lộ 344, dưới chân một ngọn đồi có cái cây khô cao sừng sững.

Phong cảnh ở đây buồn quá, khiến cho tôi nhớ lại lời nói của ông Trung tá Nhu trước ngày tôi dẫn quân rời Pleiku:

“Chắc đi khỏi đây rồi, chú sẽ nhớ Pleiku lắm nhỉ?”

Nhẩm tính lại, nếu không bị cản đường, chỉ cần một ngày di chuyển bằng xe chúng tôi đã có thể đi từ Pleiku tới Gia-Nghĩa. Vậy mà trải qua nửa tháng trời vất vả chúng tôi mới có mặt ở chốn này.

Tại đây chúng tôi sẽ thay thế hai tiểu đoàn trực thuộc Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân giữ nhiệm vụ phòng thủ Chi Khu Kiến-Ðức và khu vực phụ cận.

Hướng Bắc vùng này do Tiểu Ðoàn 96 Biệt Ðộng Quân bàn giao. Tôi cho Bộ chỉ huy nhẹ của Ðại úy Tiểu đoàn phó và Ðại Ðội 4/82 trấn giữ khu vực này. Ðại Ðội 4/82 chiếm giữ ngọn đồi có cao độ 700 mét nhìn xuống con suối lớn có tên là Dak Blao.

Hướng Nam là khu vực do Tiểu Ðoàn 72 Biệt Ðộng Quân bàn giao.

Nơi đây có ba ngọn đồi nằm giữa Ngã Ba Kiến-Ðức. Tôi cho các đại đội còn lại phòng thủ ba ngọn đồi này.

Bộ chỉ huy tiểu đoàn nằm với Ðại Ðội 3/82 trên đồi chính, cũng là khu có bốn khẩu pháo 105 ly tăng cường.