Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
(viết ngày 5-10-1993)

Post by Sơn râu 13 Jul 2024

Phần 24

Luận Về Đồ Xưa, Sách Cũ Và Nói Thêm Về Lăng Phạm Đăng Hưng Ở Gò Công

– Xin hỏi đồ xưa là gì, và sách cổ khác với sách cũ thế nào?

– Tôi trả lời lẹ, những việc ấy tôi đã có nói rồi trong bộ Hiếu cổ đặc san, sách ấy đã bán hết, nay không cần lặp lại và xin tóm tắt gọn.

Lấy một tỉ dụ nhỏ, khi tôi năm 1947 bỏ chạy từ Sốc Trăng lên Sài Gòn, kết bạn với Năm Sa Đéc, mướn một chòi lá mỗi tháng trả ba đồng, ở xóm Cù Lao đường Võ Di Nguy cũ, trước chòi có một dây bầu, lúc ấy vận cũng vừa đỏ, viện bảo tàng trong thảo cầm viên mời tôi vô làm thơ ký trả lương công nhựt, tôi thấy giàn bầu kết chà tre, tôi bèn lựa một nhánh con, cắt làm cán bút, trở vô làm theo lối tạm bợ chạy gạo qua ngày, cán bút ấy là một nhánh tre quèn, nhưng đối với tôi nay là vật kỷ niệm, trở nên vật xưa.

Xin lấy một tỉ dụ khác, cũng lúc ấy, tôi lượm một miếng gỗ trắc đáng cho vào bếp chụm, tôi đưa cho một thợ dân làng Đình Bảng tôi tuyển vào viện bảo tàng làm phu gác đêm, và gặp tay khéo có hoa tay, miếng gỗ trở nên một cây dao rọc giấy, và cây dao ấy tôi vẫn giữ, kể như hai vật nầy, nếu rớt rơi giữa đường, ít ai ngó ngàng đến, chẳng qua biết giá trị hay là không, cũng tùy người.

Cán bút tre và dao rọc giấy nầy, nay đổi bút Waterman hoặc dao rọc mạ vàng, tôi cũng không ưng. Trái lại đời Tây trở qua, Bollaert và ông Bảo Đại kéo nhau ra một hải đảo, ký kết với nhau gì đó và đổi nhau hai cây bút máy mắc tiền, nhưng tôi dám chắc hai ông không giữ hai bút kia đâu, ngai vàng còn bỏ, huống hồ vật ti-tiểu, có tiền muốn mua lúc nào lại chẳng được.

Và nghĩ lại cũng buồn, trên kia một nước lân bang nọ, người ta biết củng cố ngôi, còn ông nầy lại bỏ ngôi, âu cũng vận mạng gì đó, chớ chi ông biết nhẫn nại và chịu khó một thời gian, thì ắt cũng được đất phong hầu, nói nữa không hay.

Mấy hàng trên đây, tôi cố viết để tả nỗi lòng, nhưng độc giả khi đọc ắt là nhức mắt vì tôi nói quá mơ hồ, làm sao hiểu được nỗi lòng của tôi, ấy chẳng qua là tại tôi bất tài, viết không được hết ý, kỳ trung tôi muốn giải thích, “chơi đồ cổ” cũng như “chơi sách xưa, sách cũ” đều là phải có chút năng khiếu và chút ít thiện chí, chớ không phải vì có nhiều tiền, rồi ỷ của, mua quấy mua quá, rồi tụ hào “đã biết và thành thạo chơi đồ xưa!”

Tôi xin lấy tỷ dụ của tôi mà nói, năm 1928, khi tôi từ trường Máy (Ecole des Mécaniciens Asiatiques) ở Sài Gòn, được thuyên chuyển về làm bút toán nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Sa Đéc, lúc ấy, tôi quả có lòng ham muốn và muốn học chơi đồ xưa, nhưng tôi nào biết ất giáp gì, và mấy lần tôi có dịp đi ngang hai nhà buôn đồ xưa, nhà ông Tư Muôn và nhà ông Thợ Thiệu, tôi vẫn thấy trưng bày nhiều dĩa “ám-long” (cũng gọi dĩa long-ám), có mây xanh xanh vẽ trên lòng dĩa màu trắng đẹp, hỏi giá, trả lời “mỗi dĩa 5$00” nhưng nào tôi dám mua, vì xin nhớ 5$00 lúc ấy (lối 1928) giá trị tương đương hoặc nhiều hơn 50.000 đồng giấy ngày nay (1993); lại nữa, lúc ấy, tôi đang không đủ tiền chợ tiền cơm, tiền đâu có mà sắm sanh đồ chơi quý giá.

Trái lại ngày nay, những dĩa ám long long ám ấy đã không còn thấy nữa, hoặc đã xuất ngoại, hoặc đã cất giấu trong tủ “nhược thâm trân tàng” chăng?

Về sách báo cũ, sau ngày Giải phòng 30-4-1975 cũng đã biến mất, nay mấy nhà bán sách cũ, nếu còn giữ được thì bán giá “mắc như vàng” tôi nào dám rớ. Chung qui, mọi vật đều tương đối, thay đổi về giá tiền và về giá trị tùy thời. Người biết chơi, không nên tị hiềm và phải ở theo thời mới được.

Vừa rồi, tôi nhơn đọc báo, thấy trên tờ Văn Nghệ số 110 (từ 7 đến 13 th.10, 1993) có bài “Nỗi buồn Lăng Mộ” của Nguyễn Hoài Nhơn viết và tỏ ý than tiếc cho mộ Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức bị phá hư và không ai lo tu bổ; nay tôi không có ý làm quảng cáo nhưng xin tán đồng ý kiến của tác giả Hoài Nhơn và tôi thầm trách làng xã ở Gò Công, có di tích cũ mà không biết giữ gìn, trái lại tỉ như hạt Sa Đéc vẫn có lăng mộ ông Nguyễn Thành Nhơn (ông Nhơn nầy là quan lớn đời vua Gia Long) vẫn không nghe bị phá phách gì, và theo tôi chẳng qua vì hai chữ may và rủi, và có lẽ mộ lăng ông Nhơn được ở về địa phận một vùng yên tịnh, có làng xã biết giữ gìn di tích cũ xưa, và trái lại ở Gò Công, làng xã đã không biết bảo tồn mộ lăng P.Đ.H và thêm nữa cháu con dòng họ Phạm cũng không biết bảo thủ lăng mộ của ông bà để lại, và nhứt là từ ngày họ Nguyễn Phước đã có người bất tài (B.Đ) kế vị, không được như trên kia, hoàng tử đất Angkor, B.Đ. đã bỏ nước ra đi, và nhà Ngô Đình lên ngồi ghế tổng thống chỉ lo củng cố địa vị họ mình và thêm nữa chính Ngô Đình Nhu, học bên phương Tây mà áp dụng trật lất lấy gương Khu Chiến Lược của Mã-Lai-Á hay của Nam Dương quần đảo đem về đây thi hành lỏng lẻo, khiến nên đã đuổi dòng Phạm Đăng không cho ở nơi nhà cũ, bỏ trống nhà nầy vì phải theo lịnh Đình Nhu ra ở dưới quyền kiểm tra của ấp chiến lược tai hại kia, và đến đây xin cho tôi nhắc lại chuyện xưa. Năm đó, Tây còn ở đây, tôi đã làm tài khôn dẫn dắt đưa nhơn viên và hội viên hội Pháp Société des Etudes Indochinoises (hội Cổ học Ấn Hoa) đến Gò Công viếng di tích “nhà cổ Phạm Đăng Hưng”, thì năm ấy, nhà cửa dòng họ của bà Từ Dũ thái hậu đã tiêu điều, đồ từ khí trong nhà, như lư hương và đồ thờ phượng (chưn đèn, lư đồng), đã bán hoặc bị mất cắp từ trước, (buổi đó tôi không xem phần lăng mộ, nên nay xin miễn bàn đến). Và trở lại nếu mộ cũ P.Đ.H. ngày nay bị phá bị làm cho hư tệ, tôi xin qui tội cho nhà Ngô Đình trước và sau đó xin mạn phép trách làng xã Gò Công thật là quá lơ là và không lo gìn giữ bảo tồn di tích cũ xưa. Nay thì đã muộn, lăng mộ điêu tàn, dầu có xuất tiền muôn bạc triệu sửa chữa cũng không làm sao còn y như cũ. Ở Huế thì lăng mộ Kiên Thái Vương cũng điêu tàn, duy như tôi đã từng thấy nhiều nơi từ Thổ Nhĩ Kỳ nơi Istanbul, qua La Mã (Rome), Pháp, đền đài vua chúa nơi nơi đều giữ lại kỹ càng và lấy đó làm chỗ khai thác du lịch, vân vân; duy có nước mình, dân ương ngạnh quá nhiều, khiến lăng bà Thái hậu Từ Dũ thì bị đào và ăn cắp vàng nữ trang, mộ cấp nhà giàu như mộ bà Hà Minh Phải ở Tân Sơn Nhứt cũng bị đào và kẻ trộm đã lấy cắp đầu lâu của bà H.M.P vì miệng có ngậm kim cương lớn hột mà tên trộm lúc đào tìm không thấy, và những việc hư tệ phá hoại như vậy, chỉ tạm nên trách giáo dục còn non, dân tín còn thiếu, và vì không tiền không bề thế thì trách làng trách xã cũng nên tội nghiệp cho làng cho xã và riêng tôi, tôi phải chịu tội nói oan…

Trở lại vẫn đề chơi đồ cổ và chơi sách hiếm, theo tôi phải có bản lĩnh trước đã rồi sẽ nói về phương tiện và may rủi về sau. Chung qui tôi có phần dị đoan và xin độc giả bỏ qua cho. Và âu cũng là “vận, hạn”!

Tôi đã bắt quàng nói về lăng mộ cũ, nay nói qua đồ cổ và sách cũ, theo tôi, chánh phủ nên cứ cho chơi, cho dân chơi líp (libre) mà khỏi làm chánh trị! Lời nói ấy là lời một kẻ già nói tầm xàm bá láp, xét lại ngày xưa già nên nết nên trên cao chấp nhận lời của hội nghị Ziên Hồng, còn nay già như tôi, tưởng nên câm miệng lại là hơn, tuy vậy, đã trót và lỡ nói, thì cũng nên nói luôn, còn chấp nhận cùng chăng là của người cao kiến khác. Điều cần nhứt là không nên ở trên tuyên bố mà không thực hành. Trước đây, cho phép đào mả lấy chỗ trồng trọt cho có hoa lợi, nhưng khi áp dụng, nhà nước coi không xuể không xiết, vả chăng con nhiều cha không lo giỗ và cha nhiều con thì con mảng lo chia gia tài và đã quên tuân theo lịnh cha, câu ví dụ đã sai mà thật ra dân ngày nay cũng có phần khó trị, trên dạy và cấm thì dưới giả tuân lời mà vẫn tréo ngoe làm trái lịnh trên, tốt hơn là làm sao đừng có Tuấn Đen, Tuấn Trắng lủng đoạn nơi không cảng T.S.N. và tốt nhứt một lẽ khác là nên giáo dân cho biết tuân lịnh trên, vân vân. Lời nói mấy trang nầy là dư thừa, gẫm lại chánh phủ có đường lối của chánh phủ và như tôi đây, không nên xía vào việc lớn.

Tôi viết mấy trang nầy, bằng như may lời nói được xét và nghe theo, thì tóm tắt lại tưởng nên “đừng cấm việc chơi đồ cổ và đừng cấm việc chơi sách cũ, sách xưa, để chỗ trống cho dân có chỗ để thở, và cấm quá có ngày nồi súp-de (chaudière) nước sôi quá tự biết mở nắp thùng xòa, e tràn lan cả đám”.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply