Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngoc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 21

Xưa nay nhà có người chết bao giờ chẳng bận rộn, nhiều thứ mệt. Người thân thích đến chịu tang là phải lo cơm nước, rượu chè, cà phê này. Bà con xa hay bạn bè có lòng tốt tới chia buồn phúng điếu, đúng phép thì cũng phải lo trả lễ lại cho đàng hoàng chứ? 
Với những chỗ cần thông báo khắp lượt và kịp thời mà phải do “đại diện tang gia” chính thức cáo phó. Ít nhất cũng phải cho bố già, mẹ già nó bên New Jersey hay đã. Còn bà con họ hàng ở Long Island, còn mấy người bạn thân ở tuốt Tuckahoe … À, mấy người này phải liệu đối xử cho khiêm cung, có một tang gia mà muôn mắt trông vào nên tối kỵ những vụ sơ sót. 
Còn vấn đề tang lễ nữa. Xưa nay chỉ có thứ chân ướt chân ráo mới sang mới làm đám ma ở nhà. Dân ở đây lâu đời là phải để ở một Vãng sinh đường, cắt người trông coi đàng hoàng để có người lại phúng diếu và ít nhất cũng phải có mặt một đại diện túc trực để nhận lễ và đáp lễ. 
Xác thằng Vincenzo đưa về quàn Vãng sinh đường thì để nó cô đơn trên cõi đời này sao được? Nó sống không có bạn … nhưng chết đi lại có nhiều người canh cho đỡ buồn là vì vậy. 
Ngay chiều hôm xảy ra chuyện chẳng lành cho Vincenzo, toàn gia đình Angeluzzi Corbo tụ tập đủ mặt ở căn gác nhà cũ. Cả nhà ngồi dưới bếp lạnh tanh: tối nay sắp đi hết cả nhà thì đốt lò làm gì cho tốn dầu hôi? 
Lucia Santa ngồi xù xụ một đống, rầu rĩ trong bộ đồ đen, mắt sưng húp híp mở không ra. Mụ có cần nhìn tới ai đâu, mặt vàng ra như nghệ. Mụ ngồi uống cà phê mà Octavia phải kê ghế ngồi ngay bên để mẹ có cục cựa hay làm một cử chỉ gì khả nghi là can thiệp gấp. Thấy mẹ cứ ngồi trơ trơ không buồn nhếch mép, nàng lo ngại quá. 
Mụ đưa mắt nhìn mọi người chầm chậm làm như người lạ vậy. Mãi sau mới nói hững hờ: “Cho hai đứa nhỏ cái gì ăn đi”. 
Gino đứng bật dậy “Để tôi lo”. Bữa nay nó mặc bộ đồ tang, đeo băng tang đen ngòm. Nó cố tình đứng khuất sau lưng mụ để bà mẹ khỏi nhìn thấy. Đi lấy đồ ăn là phải ra ngoài chỗ tủ lạnh. Cứ ra khỏi phòng này lúc nào là Gino dễ thở lúc ấy. 
Trọn ngày nó lo ở nhà để phụ giúp mẹ. Việc gì cũng làm mau mắn hết, từ pha cà phê, rửa bát … đến tiếp khách, dọn cơm cho em ăn. Vậy mà Lucia Santa có nói với nó nửa lời? Nó phải hỏi mẹ “Mẹ có ăn chút gì không?” mà còn không được trả lời kia mà. Mẹ nó chỉ nhìn trừng trừng một lát rồi quay ngoắt đi, lặng thinh. Từ lúc đó Gino không nói gì nữa. Nó vẫn ở nhà nhưng cố tình lánh mặt. 
Lúc nó lên tiếng hỏi “Nào cả nhà có ai ăn gì không để tôi làm cho?” Lucia Santa còn giương mắt nhìn nó ai oán. 
Octavia nói khe khẽ “Lấy thêm cà phê cho mẹ”. Cả nhà chẳng ai buồn nói to. 
Gino lẹ làng xách ấm cà phê tới đổ đầy ly cho mẹ. Nó rót cà phê và đứng lên, khẽ chạm vào người mụ mà Lucia Santa rụt người lại né sang bên, cặp mắt sâu hoắm cứ nhìn nó không chớp làm Gino rùng mình, xách ấm cà phê đứng sững xem “quê”. 
Có tiếng Larry hối thúc: “Nào, đi bây giờ là vừa”. Dĩ nhiên tối nay nó phải mặc bộ đồ tang đen, ca vát đen và sơ mi trắng bong. Quái lạ, nó mặc đồ tang mà trông vẫn đẹp trai! Băng tang của nó xem bộ hơi lỏng lẻo, vừa thấy là Lucia Santa đưa tay gài lại giùm cho chặt, Octavia hỏi: 
– Còn dì Teresina thế nào? Có đi cùng không? 
– Để đón sau. Đằng nào tôi cũng còn phải đi đón ông chủ lò bánh và ông già bà già Lousia mà? 
– Để ý nghe Larry … Tới chỗ Vãng sinh đường đừng để con nít bu đông kỳ cục lắm. Nhắc họ đừng dắt con nít đi cả lố nghe? 
Không ai trả lời Octavia. Cả nhà nãy giờ cứ đợi Lucia Santa. Thằng Gino vẫn đứng cửa sổ quay lưng lại cho khuất mặt mẹ … nhưng đầu nó nãy giờ cúi xuống. 
Sau cùng Octavia đứng dậy. Nàng khoác áo vào, cài lại băng tang cho hai đứa nhỏ. Lousia đã chuẩn bị xong nãy giờ và Larry nôn nóng chờ ở bực cửa. Thấy mụ tiếp tục ngồi ỳ một chỗ như tượng đá, tất cả đều ngán hết. 
Nóng ruột quá, Octavia phải giục: “Gino lo vào lấy áo ra cho mẹ chứ”. 
Gino vội vã chạy vào xách chiếc áo ra. Nó đứng sau lưng mẹ, đặt chiếc áo lên tay ghế rồi nghĩ sao lại cầm lên, mở ra sẵn sàng để mẹ chỉ đứng dậy khoác vào. Lucia Santa vẫn cứ lờ đi làm nó phải giục: “Mẹ … mặc áo vào mẹ”. Đây là lần thứ nhất mới nghe nó thương xót mẹ một chút. 
Nhưng lúc Lucia Santa quay lại thì nét mặt mụ xem kinh khủng, rùng rợn quá. Gino mau chân né xa ra một chút đúng lúc mụ lên tiếng khơi khơi: 
– Ủa, mày đấy hả? Mày cũng đi đưa ma nó cơ à? 
Có ai hiểu bao nhiêu căm thù uất ức bấy lâu nay mụ dồn hết vào câu hỏi tầm thường nhưng vô cùng độc địa. Chừng thấy mặt Gino tái mét, đau khổ mới “thấm thía” sự cay đắng nên đứng trơ ra nhìn. Đang cầm chiếc áo đợi mẹ khoác vào, Gino vội cầm chìa ra khoảng giữa như muốn làm cái mốc đỡ đạn vậy! Trời, sao ánh mắt nó dễ sợ thế kia? 
Nhìn lại thì cặp mắt Lucia Santa còn dữ dội, ác độc nhiều hơn. Rất thong thả mụ gằn từng tiếng: 
– Thôi … đưa ma làm gì! Thằng con tao làm gì có hân hạnh thế? 
Cha mày chết mày có thèm về nhìn mặt đâu … mà bây giờ đi đưa ma thằng anh. Còn sống mày chẳng thèm tha thiết đến tình máu mủ ruột thịt, bỏ mặc nó để chạy theo mấy ông bạn quý chơi tối ngày. Mày mà thương xót nó? Mày có giúp được nó cái gì, có bao giờ thí cho nó bất cứ cái gì? 
Lucia Santa ngập ngừng một lúc để nói móc, nói độc địa thêm: 
– Chừng nó chết rồi mày mới làm bộ thương xót! Ra điều cũng thương thằng anh đây. Mày pha cà phê, mày lấy áo tao mặc … À, té ra mày vẫn còn có phần người chưa đến nỗi thú vật! Mày là người thì tao hỏi mày nghe? Mày biết thằng Vincenzo thương mày cỡ nào không … và nó tử tế như thế nào không? 
Mụ dừng lại, tưởng đâu chờ nó đáp. Nhưng không, Lucia Santa chỉ buông ra một câu giản dị, vắn tắt: 
– Mày cút đi … Cái mặt mày tao không muốn thấy. 
Làm gì Gino không biết thế nào mẹ nó cũng gay gắt vậy đó? Biết hết nhưng đành chịu. Đành đứng đờ người ra, chịu trận mà phút cuối cùng đành đưa mắt nhìn quanh, xem có ai lên tiếng bênh chút đỉnh không. Chẳng ai dám hết. Cả nhà đều đứng sững sờ nhìn, mặt mũi người nào cũng nhăn nhó đau khổ như đang phải chứng kiến một tai nạn gì mà nạn nhân chết thê thảm, tàn nhẫn lắm vậy. 
Tự nhiên Gino thấy lóa mắt. Nó đứng ngây đơ người mà có nhìn thấy gì đâu? Hai tay đang cầm chiếc áo đàng hoàng thế mà nó bỏ ra lúc nào không biết. Nó loạng choạng lùi mấy bước, hai tay quờ quạng nắm cứng thành cửa sổ. 
Gino quả thực không hiểu sao mắt nó nhắm lại kỳ cục vậy. Có thể nó không muốn nhìn thấy mẹ, không muốn nghe những lời xỉa xói vô cùng đau đớn nữa. Xem, khi không mẹ nó còn quát lớn: 
– Mày cởi đồ ra! Tao không muốn mày đi đưa đám. Mày phải ở nhà … và thú vật như mày thì chớ chường mặt ra, trốn đi! 
Đúng lúc đó mới có người dám xen vào. Đó là Octavia. Nàng thấy mẹ la lối dữ quá phát sợ nên cũng phải to tiếng … nhưng dĩ nhiên phải xuống nước nhỏ: 
– Mẹ ơi, cho con xin đi. Việc đâu còn đó mẹ làm gì dữ vậy? Mẹ thương tụi con đi … Mẹ đừng nói nữa … 
Đúng lúc đó, bé Lena ré lên khóc phụ họa. Thế rồi Gino vẫn nhắm mắt nhưng rõ ràng thấy những bước chân bước rời khỏi phòng, đi xuống thang gác. Nó đâu đã mở mắt? Loáng thoáng có tiếng quần áo sột soạt rồi giọng cười tai ác của mẹ nó ré lên … 
Chợt có tiếng ai thủ thỉ bên tai. Chị Octavia chứ ai? Chị nó an ủi: 
– Gino … mẹ nói gì thây kệ mẹ nghe mày? Mày cứ ở nhà đợi chút đi, rồi tới ngay đằng Vãng sinh đường nghe? Mẹ la vậy nhưng mày phải đến. Ủa, mày làm sao vậy Gino? 
Octavia nói nó nghe thông hết nhưng Gino chỉ ậm ừ gật đầu. Cố lắm mới thấy lờ mờ, thấp thoáng. Ít nhất cũng nhận ra chiếc bàn tròn nhà bếp bên trên lỉnh kỉnh những ly tách, khăn trải bàn bị mấy vết dơ dáy, ánh đèn vàng vọt như chụp xuống xem vẫn thấy từng mảng một. 
Thôi thì đằng nào cũng phải chờ đợi một lát mới tới Vãng sinh đường được … mà nhà không có ai nên Gino lúi húi dọn dẹp, lau chùi, quét tước cho đỡ bừa bộn vậy. Nó lo làm xong mới mặc quần áo vào, xem lại miếng băng tang tay áo, thủng thỉnh bước ra sau khi khóa cửa chu đáo. Chiếc khóa đồng đúc to tướng chẳng sợ gì trộm cắp … nhưng lỡ có ai về thì sao? Gino phải nhét chìa khóa vào chỗ mọi lần vẫn giấu, cả nhà biết hết là ngay dưới gầm tủ lạnh, đứng ngoài thò tay vào là thấy. Chỗ cầu thang dưới nhà ai đã đặt sẵn một vòng hoa tang phúng điếu vậy nè? Những bông hoa đen ngòm trong bóng đêm. 
Gino chậm chạp đi ven đại lộ 10. Chỗ này trước là cây cầu sắt đây, nhưng bây giờ chỉ còn một khoảng dốc thoai thoải và một đầu sừng sững tòa bin đinh. Nó ngước nhìn lên cột đèn, thấy rõ ràng tấm biển “công viên St John” nhưng ngày giờ này đâu còn một cành cây bụi cỏ? Hồi còn nhỏ anh Larry ưa kể ngày nào cũng lên ngựa từ công viên St John. Nó cứ tưởng đâu phải tàng cây râm mát, lá cành sum suê chứ đâu có trơ trụi thế này? 
Vãng sinh đường nằm trên đường Mulberry. Vậy phải rẽ qua tay phải. Đúng. Đi ngang quầy hàng phải dừng lại mua ít điếu thuốc hút cái đã. Bao nhiêu người đang quây quần chung quanh nhưng toàn dân thợ thuyền ăn mặc tồi tàn hết. Hình như không khí quầy hàng rời rã thế nào ấy. Gino bỏ đi ngang chẳng nán lại. 
Nó lững thững đi giữa đường phố tối mò. Thỉnh thoảng mới có ánh đèn đường vàng vọt. À, đầu đường đằng kia có chữ thập đèn néon nhấp nháy. Chắc đó rồi. Tự nhiên Gino có cảm giác hai chân nhũn ra hết đi nổi. Phải ngồi bệt xuống một thềm nhà châm điếu thuốc hút. 
Ôi chao, cho đến lúc bấy giờ khuôn mặt của thằng anh bất hạnh mới bật ra trong đầu nó. Vincenzo chết rồi. Tự nhiên Gino nhắm mắt lại nhớ những buổi tối như thế này đây … hai anh em leo thành cửa sổ ngồi nếu không nhắm mắt ngủ lơ mơ thì đua nhau đếm những vì sao nhấp nháy dọc bờ biển Jersey. 
Tự nhiên hai hàng nước mắt trào ra. Không hiểu từ đâu. Có mấy đứa con nít ào ào đùa giỡn, chạy nhảy lung tung dưới ánh đèn mờ nhạt. Thấy có người ngồi lù lù đấy bọn chúng bảo nhau dừng lại nhìn cười ầm ầm chẳng sợ hãi gì hết. Gino đứng dậy bỏ đi. 
Ngay trước nhà làm đám tang có màn đen phủ xuống bay phất phơ. Gino băng qua cửa vào phòng đợi, đi dọc hành lang vào một căn phòng lớn có vòm cao vút như nhà thờ, bao nhiêu người đứng lố nhố chực sẵn. 
Dĩ nhiên toàn bà con quen biết lại phúng điếu Vincenzo nhưng nó có nhận ra ai và ai đâu? Nhìn mãi mới ra lão chủ lò bánh mì, mặt mũi, quần áo đen kịt như cục than và thằng con Guido cũng rầu rĩ không kém. Đến điên đầu như thằng cha chủ tiệm hớt tóc cũng ngồi chầm bẫm một đống, chỉ thấy cặp mắt. 
Giáp vách tường là mấy hàng ghế dài, đủ mặt mấy bà hàng xóm láng giềng. Xóm đại lộ số 10 đi hết. Đứng xớ rớ phía sau đám đàn bà ngồi nghiêm trang, cung kính là những thằng bạn đồng nghiệp Hỏa xa cùng làm ca đêm với Vincenzo. 
Có cả vợ chồng bác Piero Santini qua và dĩ nhiên phải có con nhỏ Caterina nhưng ngày giờ này em đã có chồng từ lâu nên có quyền ì ạch, khệ nệ vác cái bụng bầu mặt đỏ hồng hào mắt sáng long lanh xem bộ sung sướng hạnh phúc lắm. Một mình bà chị dâu Lousia ngồi giữa đám con, riêng biệt hẳn ra một góc nhưng vẫn để ý nhìn phía chồng. 
Lúc ấy Larry đang đứng cùng đám viên chức Hỏa xa. Lắng tai nghe thì Gino thấy lạ thay đi đưa ma mà họ lại chuyện trò tỉnh như không, có rầu rĩ chút nào đâu? Họ kể cho nhau nghe nào công việc làm ăn, nào giờ phụ trội, nào mua nhà bên Long Island. Mà Larry cũng tươi tỉnh ứng đối, kể chuyện Nghiệp đoàn chủ lò bánh mì … cứ trông khóe miệng nó và cung cách mấy người kia thì cứ tưởng đâu họ đang ngồi phòng trà đấu láo. 
Thấy mặt Gino là Larry vẫy tay kéo tới, long trọng giới thiệu cùng các viên chức Hỏa xa. Họ bắt tay nó ngon lành, có ý chia sẻ nỗi buồn. Sau đó thằng anh mới ghé tai nó nói khẽ: 
– Mày vào nhìn mặt thằng Vincenzo lần chót đi. Lựa lời mà nói với mẹ. 
Xem, nếu không có chữ lần chót theo đuôi, nó dám có ý tưởng thằng Vincenzo giờ này đang ngồi trong đó, còn sống nhăn răng. Gino lật đật theo chân anh bước tới một phòng nhỏ hơn ở phía trong cùng, vòm nhà cũng cao cao và phía ngoài nhiều người đứng túm tụm che bít cửa vào. 
Vừa dợm bước đi thì Gino suýt bị hai đứa nhỏ rượt nhau đụng phải. Sàn nhà gỗ đánh xi bóng loáng. Có tiếng mẹ chúng nạt nộ và con chị cỡ mười bốn tuổi chạy theo, nắm cứng cả hai đứa lôi về hàng ghế sát vách tường. Gino lách một lúc mới vào được phòng trong và còn phải vào thêm một ngách nữa. Kia rồi, quan tài kê sát vách kia … 
Xác Vincenzo nằm giữa lòng quan tài lót sa tanh trắng. Mấy chỗ gò má, chân mày, sống mũi sưng vù lên bên cạnh hai hố mắt trũng sâu nhắm lại. Dĩ nhiên khuôn mặt còn phảng phất giống … nhưng không phải thằng anh nó nữa. Không còn lấy một nét gì của thằng Vincenzo ngày nào, cái dáng người khom khom, cặp mắt lờ đờ, tính nết nhút nhát, luôn luôn chịu thua thiệt. Dĩ nhiên bao nhiêu dịu dàng, tử tế cũng biến đi mất. Trước mắt Gino nằm lù lù một “pho tượng” bất động, vô hồn, tuyệt đối không gợi được một cái gì. 
Tình cảnh như vậy đó mà mấy con mụ ngồi dựa vách xa xa, đối diện với quan tài còn thì thầm trò chuyện được sao? Gino thấy bực bội. Cả mẹ nó cũng khề khà nói chuyện, dù ít hơn. Để mẹ vui lòng nó cũng phải đứng lặng người phía trước quan tài nhìn mặt thằng anh lần chót. Gọi là “nhìn mặt” nhưng thực ra mặt Gino cúi gầm xuống, mắt nhìn tấm vải nệm phủ sa tanh lót phía dưới đầu nằm thằng anh. Nó nghĩ đây đâu phải thằng Vincenzo anh nó thực? Bảo là biểu hiện chết chóc đúng hơn. 
Gino nhìn sững một lát tính bỏ đi ra thì Octavia bước tới nắm tay nó dẫn về phía mẹ. Lucia Santa quay sang nói với mấy bà bạn: “Đây là Gino … thằng lớn nhất của tôi sau thằng Vincenzo”. Câu đó phải hiểu là thằng này là con đời chồng thứ hai. 
Một mụ già, mặt nhăn nhúm khi không nhân danh bà con xa bảo ngay mặt Gino một câu làm Octavia còn phải mím môi dù chẳng dám cãi. Bà con là có quyền mà?
– Thằng nhỏ … mày thấy con cái làm khổ cha mẹ chưa? Ráng nghe mày? Chớ làm mẹ mày buồn thêm nữa… 
Gino lẳng lặng cúi đầu. May quá mẹ nó không nặng lời mà còn hỏi “Nãy giờ mày ăn uống gì chưa?”. Nó lắc đầu. Không muốn nói gì cũng không thể nhìn thẳng vào mặt mẹ. Xem, mẹ nó quá giận dữ … dám đập cho nó một trận trước mặt đông đủ mọi người lắm chứ? Vậy mà mẹ nó vẫn ngọt ngào: “Thôi, mi đi ra phụ anh Lorenzo đi. Nó bảo gì làm nấy”. Lạ quá, rõ ràng mẹ nó còn có thể khoe với mấy bà bạn bằng một giọng hào hứng: “Thằng Vincenzo nhà tôi đông bạn bè đáo để. Đám tang cỡ này là đông rồi phải không?” 
Nghe giọng mẹ nó, Gino thấy giả dối quá! Bao nhiêu người đến đưa ma thật nhưng mấy ai biết đến thằng anh nó, mấy ai thương xót thằng Vincenzo đâu! 
In hình Lucia Santa đọc được ý nghĩ của Gino. Làm gì mụ chẳng biết bản mặt nó lì lì, chống đối lại những sự giả dối của cuộc đời này. Mụ đành để nó đi, sau này nó sẽ biết. 
Lúc bấy giờ căn phòng rộng có đèn mà vẫn mờ mờ sáng. Gino lãnh việc ra đón khách và dẫn họ vào chỗ mẹ nó ngồi cạnh quan tài Vincenzo. Sàn gỗ nhà trơn quá đi! Mỗi lần có người vào chia buồn dường như mẹ nó thấy an ủi phần nào, dù thực sự chính mấy người đi phúng điếu này có nghĩa gì đâu đối với bà ta hay với thằng anh vừa bất hạnh? Phải chi còn dì Louche thì lại khác. Bà ta sẽ thương tiếc thằng con đỡ đầu thật tình, có điều dì Louche đã chết cả mấy năm nay! Ngay đến chị Octavia cũng chưa chắc có thương xót Vincenzo nhiều như nó tưởng. 

Photo edit by Sơn râu

Như người máy, Gino dẫn bà con đi phúng điếu tới vào sổ, chỉ cho họ chỗ bỏ tiền phúng … Xong việc là nó lại “thả” cho họ trở ra, cũng trên cái sàn nhà trơn trượt đó. Thiếu gì người từ ngày ông già nó chết Gino mới lại thấy mặt. Đây là lần đầu tiên trong đời Gino mới sắm vai trò “người trong gia đình” để đón khách vào, tiễn khách ra. Nó cũng trò chuyện, cũng thăm hỏi vẩn vơ, ai hỏi tai nạn xảy ra ghê gớm thế nào thì cũng được chặc lưỡi lắc đầu kể lại, tuy nhiên vẫn không quên nhìn nhận ngầm nó chỉ là … thằng em cùng mẹ khác c ha, thằng em trời đánh trong gia đình này! Nó cảm thấy vợ chồng bác Piero Santini xem bộ đỡ khổ ra mặt vì hồi đó may không kết thông gia nên bây giờ đỡ phải chia sẻ cái tang đau đớn. Ngay ông bác sĩ Barbato cũng chỉ đến lối vài phút để vỗ vai Gino một cú ra chiều thân mật trong khi lão chủ lò bánh tuy không có bà con nhưng lấy danh nghĩa xóm giềng thân thiết (ít ra cũng có một hồi Vincenzo đã làm công cho lão chứ bộ) để bảo Gino rằng: “Ủa, vậy là tai nạn thật sao mày? Tội nghiệp thằng anh mày, mặt mũi nó lúc nào cũng rầu rĩ!”. Gino không buồn trả lời. 
Trong số những người có mặt, chỉ có một mình bà chằng Teresina là ngồi im không dám hó hé một câu. Mụ ngồi cạnh Lucia Santa, cố thu nhỏ người lại làm như chỉ sợ thần chết ghen ghét, dám nhận ra mụ và bốn thằng con khỏe mạnh … cũng như khám phá ra vụ ăn gian tiền cứu tế hoặc chất chứa đầy một nhà hàng chợ đen. Biết bao nhiêu là bột, là đường, là dầu ăn … sau này chắc chắn một gia sản chứ bộ? 
Thằng Guido cũng đến và mặc đồ lính đàng hoàng. Nó rầu rĩ thực tình nên thấy ngay. Cả xóm mới có một mình nó thời bình cũng bị kêu lính, cũng may vừa được nghỉ phép về thăm nhà. Nó buồn bã ôm hôn Lucia Santa an ủi mà mấy hàng nước mắt ròng ròng. 
Nhân vật hách nhất tới phúng điếu Vincenzo còn ai ngoài ông chủ Di Lucca? Dĩ nhiên để chia buồn cùng “thằng em” Larry. Trong cái hộp gỗ treo trên vách tường đựng tiền phúng điếu, tấm giấy lớn $100 còn của ai vào đấy … dù người sang trọng, lịch sự như vậy ai đi đề tên họ vào tấm thiếp kèm theo? 
Chỉ một lát sau là đám người đi đám đông ngồi chật cả gian phòng rộng. Cũng may là đám con nít đã lăn ra ngủ trên ghế sát tường, khỏi sợ chúng chộn rộn. 
Khoảng gần 11 giờ khuya, khách đã vãn bớt Larry mới khều Gino ra một chỗ ghé tai bảo: 
– Bây giờ tao với mày đi làm mấy cái xăng uých đỡ đi. Tao nhờ Guido xem chừng giùm rồi. 
Hai anh em đi tìm một quán ăn nho nhỏ. Vừa nhấm nháp ly cà phê Larry vừa dặn thằng em: 
– Cứ lờ cái vụ bà già la lối đi nghe mày? Mẹ la đấy mà sáng mai quên hết liền chắc chắn! Cho mày hay là từ nay chị Octavia và tao bàn nhau tháng tháng mỗi người đưa cho mẹ $50 để mẹ khỏi buồn tủi. Mày ráng nghe Gino. 
Thoạt đầu nghe Larry căn dặn Gino có hiểu gì đâu. Mãi sau nó mới vỡ lẽ. Vincenzo chết đi thì nhà chỉ còn mình nó là lớn. Không riêng mẹ nó mà cả chị Octavia và anh Larry cũng trông cậy vào nó để “đứng mũi chịu sào” cho mẹ và hai em nhỏ. Bao năm ăn chơi dông dài vô trách nhiệm thì rút cuộc cũng phải có ngày nay. 
Thế là từ nay nó phải lo kiếm việc làm, phải ăn phải ngủ điều độ và giữa mẹ nó và nó sẽ không còn hàng rào ngăn cách. Nó phải hòa mình nhập một với gia đình để kiếm sống chứ? Hết ở không ăn chơi là cái chắc, cả một cuộc đảo lộn lớn chứ chơi sao? Nhưng không ngờ nó chấp nhận vai trò mới dễ dàng, tất nhiên đến thế! Đã đến lúc nó hiểu đời rồi, mau mắn lắm. Bằng không nó chẳng thản nhiên bảo Larry: 
– Em sẽ kiếm một việc làm … 
– Yên trí đi. Tao sẽ thu xếp cho chú mày. Ngay sở Hỏa xa, trám chỗ Vincenzo cũng được. Làm một buổi, còn thời giờ đi học mà? 
– Đúng vậy … Vậy là hay lắm. 
Tự nhiên Gino nhoẻn miệng cười. Larry khoan khoái nắm chặt vai nó: 
– Tao biết mà! Tao biết mày đâu có phải một thằng hư hỏng? Chưa đến lúc lo đấy thôi. Nhưng mày phải cố tu tỉnh cho thật đàng hoàng nghe Gino? 
Làm gì nó chẳng biết từ nay phải “tu tỉnh” … nghĩa là phải nghĩ đến gia đình cái đã, chẳng thể thích gì làm nấy. Nó phải làm người lớn, phải chiều ý mẹ, phải chấm dứt sự ngỗ nghịch. Có vậy thôi chứ gì? Gino gật đầu. Sau đó mới khẽ hỏi: 
– Anh à … có phải thực sự Vincenzo … tự ý Vincenzo lao đầu vào xe lửa không? 
Larry đâu ngờ Gino hỏi câu này nên đang tươi tỉnh mặt nó tối sầm lại dễ sợ quá. Trông nó vẫn đầy đủ nét đẹp trai nhưng hình như bao nhiêu bắp thịt trên khuôn mặt Larry căng cả ra, nặng thêm và ửng đỏ hết. ưởng chừng như nó giận dữ tới bốc khói được! 
– Bậy bạ quá! Mày biết không, tao đã sửa cho thằng tài xế một trận, luôn cả thằng đốt lò nữa. Từ giờ này nghe đứa nào bịa chuyện vậy … bất cứ đứa nào … nhớ bảo tao ngay nghe! Tao sẽ tính liền, tính cái một … Nhớ nghe mày? 
Larry nhìn tận mặt Gino nghe ngóng … để căn dặn rằng: 

– Mà câu chuyện hôm nọ giữa tao và thằng Fay mày chớ có hở cho ai biết nghe? Mà giả dụ mẹ có hỏi dò bất cứ câu gì và cho dù có bắt thề thốt nữa … mày cũng phải nói hoàn toàn tai nạn nghe? Chớ lộn xộn. 
Dĩ nhiên thấy anh làm dữ vậy Gino phải gật đầu. 
Hai anh em đi trở về Vãng sinh đường. Lúc bấy giờ Larry thân mật khoác vai Gino rỉ tai khẽ: 
– Cho mày hay mình khỏi lo. Mày yên trí cỡ ít năm nữa thế nào tao cũng bốc lớn. Chiến tranh mà mày? Giàu chắc, giàu lớn … dư sức nuôi cả nhà. Chừng đó mày tha hồ muốn làm gì thì làm. Hồi bằng mày tao cũng chơi, cũng phá chứ bộ? 
Vừa về đến chỗ tấm băng tang đen ngòm giăng ngang lối vào đã thấy Octavia đứng ngó chừng, run rẩy sợ sệt. Nàng nói quýnh quáng: 
– Xem, tụi bây rủ nhau đi đâu mà lâu vậy? Nãy giờ mẹ cứ bấn lên, chỉ sợ thằng ranh Gino bỏ đi.
– Trời đất, đâu có chuyện đó? Để tôi vào nói … Gino, mi đứng ngoài chờ chút. 
Khi không thằng Gino hoảng hốt. Không hiểu lại có chuyện gì đây? Nếu không có anh Larry ở một bên lo giùm, chỉ bảo chắc nó cũng dám bấn lên lắm. 
Nhưng sau đó Larry đã ló mặt ra tươi cười: 
– Gớm, bà Octavia là chúa hay quan trọng hóa. Chẳng có quái gì cũng làm như trời sập! Mẹ sợ là sợ ở đây đóng cửa mà chưa thấy mặt tụi này đó … 
Bà con lần lượt ra về. Như một bà con ruột của chết chóc … lão chủ Vãng sinh đường cũng xuất hiện để cùng tang gia đưa tiễn bạn bè, họ hàng. Sau cùng chỉ còn lại mấy người thân. Gian phòng rộng hẳn lên, phòng trong có tiếng kéo ghế lạch cạch là Gino biết ngay đến lượt mẹ nó và mấy bà bạn bồ bịch ra về. 
Vậy là sắp xong hết rồi. Phòng bên yên tĩnh hẳn. Gino đã lo nhanh chân chuồn về trước để khỏi chạm mặt mẹ. Sao một ngày hôm nay nó thấy mẹ dễ sợ quá? Nó sợ như chưa từng sợ một điều gì trên cõi đời này. 

oOo 

Bất ngờ Lucia Santa đi ra. Nó giật mình hãi hùng, tránh không kịp nên đành đứng ngây người. Đúng lúc đó, mẹ hò hét lên thất thanh, khóc bù lu, bù loa rồi kêu tên kể lể: “Vincenzo … con ơi. Con đi đâu bỏ mẹ … Vincenzo …” Tiếng khóc thê thiết, não nùng quá, nó nghe chịu không nổi. Gino chỉ muốn chắp cánh bay khỏi nơi đây. Miễn khỏi phải nghe. 
Ô hay, sao lão chủ nhà đòn mặt tỉnh bơ này lại đoán được ý nó nhỉ? Rất tự nhiên như biết thế nào cũng xảy ra vụ khóc kể, lão đưa tay nắm cứng vai Gino. 
Đột nhiên bốn cái bóng đen ngòm xuất hiện, xoắn xuýt vào nhau, cuốn lấy nhau không chịu rời. Thì ra chỉ có một mình mẹ nó níu kéo nhất định đòi ở lại mà ba người ôm chặt, kéo ra đẩy đi một cách quá khó khăn. Mẹ nó la khóc ghì lại còn ba người Octavia, Lousia và Teresina hè nhau lôi kéo không muốn nổi. 
Trước đó Lucia Santa còn níu cứng, bám chặt mấy ngón tay vào quan tài thằng con. Khuyên bảo thế nào cũng vô ích, mụ nhất định không buông. Bao nhiêu người xúm lại khuyên can hết lời. Bề nào nó cũng chết rồi mà còn năm đứa … hai đứa nhỏ còn phải săn sóc bỏ lại cho ai. 
Khuyên bảo dỗ dành không được thì ba người xúm lại kéo bật ra. Ở lại đâu được? Có phải thương xót con mà thành điên đầu được đâu? Họ kéo thẳng cánh. Người chết chết rồi, người sống còn phải lo sống chứ liều mình đâu được? Phải chia nhau giằng giật. Octavia ôm vai và một cánh tay, Lousia phụ trách tay bên kia nhưng kéo nhẹ tay hơn một chút để người Lucia Santa phải chao nghiêng một bên để mụ Teresina lãnh trọng trách nắm cổ, ôm lưng kéo lết trên sàn gỗ trơn như mỡ. 
Tưởng đâu Lucia Santa cưỡng không nổi. Nào ngờ mụ nín bặt, không cưỡng lời … nhưng cố tình đứng sững một đống ghì người nặng trầm xuống. Mũ, mạng lật qua một bên. Nét mặt mụ trừng trợn dễ sợ, sưng sỉa lên, bướng bỉnh như một loài thú điên. Chưa hề thấy mụ giở quẻ dữ dằn cỡ này bao giờ. Dường như Lucia Santa đau đớn quá, nhất định đòi ăn thua đủ với chính cái chết vậy. 
Cả ba người đều buông mụ ra. Lousia khóc hu hu, còn Octavia ôm mặt đau khổ, phải cầu cứu ngay: “Ê, Larry … Gino lại đây giùm chút xem”. 
Hai đứa bèn sấn tới. Gino đâu dám sờ tới người mẹ? Mụ ngẩng đầu lên, thấy mặt nó là nói thật tỉnh táo: 
– Mày phải ở lại nghe? Đừng để thằng anh mày nằm một mình, tội nghiệp nó! Nó nhút nhát quá mà! Khốn nạn nó tốt quá … thì làm sao mạnh dạn cho được! 
Gino cúi đầu. Nó không đáp … nhưng vậy là bằng lòng rồi. Lucia Santa giọng thêm một câu: “Còn mày … mày chưa bao giờ nghe lời tao”. Gino đành ấp úng: “Được mà … con ở lại sáng đêm nay. Con hứa …” 
Cố gắng lắm nó mới nhích được người tới bên mẹ … để đưa tay sửa lại cái mũ chưa ngay. Giản dị có vậy mà chưa bao giờ nó có cử chỉ đẹp, chiều chuộng mẹ! Rất thong thả, Lucia Santa đưa tay lên lột cái mũ và chàng mạng che mặt ra cầm nơi tay để đi thủng thỉnh bước một ra cửa. Dường như mụ muốn nói lên sự quyết tâm, không cần che đậy nữa … nhất định phải đối phó với cuộc đời đầy trái ngang phũ phàng này. 
Ông chủ nhà đòn bèn đề nghị cho Gino mượn chiếc ghế bố xếp nằm đỡ và xin lỗi phải khóa cửa ngoài, dặn có cần gì cứ nhấn chuông kêu văn phòng, muốn đi ra đường chẳng hạn. Còn ông ta thì ngủ lại ngay căn phòng trên lầu. Gino gật đầu lia lịa để lão ta dông mau mau cho rồi. 
Còn một mình trong gian phòng rộng thênh thang tối mò, phòng bên kia là thằng anh nằm trong quan tài, hai đứa chỉ cách nhau một vách tường, một khuôn cửa tò vò mà tự nhiên Gino vững bụng lại. Nó hí hoáy nhấc mấy cái ghế gỗ đặt sát vào nhau vừa vặn ngả lưng. Lấy áo vét cuộn lại làm gối, nó nằm nghiêng đốt điếu thuốc, một tay dựa vách ngẫm nghĩ sắp phải làm những gì trong mấy ngày sắp tới. 
Gino mổ xẻ lập tức những điều vừa học hỏi được. Điệu này Larry đúng làm “găng tơ”, thiên hạ ngán rõ chỉ sợ bị nó thủ tiêu. 
Larry mà găng tơ cũng lạ! Xưa nay chẳng hề đánh đập, nạt nộ bọn em bao giờ. Mà thằng Fay dám phúc trình ẩu thật. Nhút nhát cỡ Vincenzo lớp sau này ngồi cửa sổ còn ngán sức mấy dám nhảy vào đầu xe? Mà mẹ nó làm ghê gớm quá, khóc lóc kể lể om sòm thật khó chịu … chỉ cốt để ra điều thương xót lắm. Quá đáng và nặng trình diễn rõ! 
Lúc nãy ngồi bậc thềm nó cũng khóc chứ? Nhưng sự thực nó chỉ nhỏ lệ thương xót một thằng anh hồi còn nhỏ, hai đứa cùng chơi đùa, cùng ngồi dựa cửa sổ đếm sao với nhau mà thôi. Còn thằng Vincenzo vừa bất hạnh và đang nằm kia thì trái lại … nó chẳng thấy đau đớn bao nhiêu. Rõ ràng nó có cảm giác là thấm thía niềm đau tử biệt, bất quá chỉ có ít người. Cho nên mới có vụ có người nằm ra chết thì phải có tang ma, bắt buộc phải bày vẽ ra chỉ cốt để giấu nhẹm đi một điều quá thực: một con người thì sống chết nào có ra gì đâu? 
Chẳng hạn như Vincenzo. Tội nghiệp nó, sống có là cái quái gì, có kẻ nào gần gũi đâu? Ngay mẹ nó cũng chịu không nổi sự chậm chạp của nó tới phát cáu lên nhiều phen kia mà? Nếu có thương xót là thương xót một thằng con từng nuôi lớn lên, một thằng Vincenzo từ thuở nào kia. Cũng như nó vừa khóc vậy mà? Nhà này thực sự có ai đau xót cho một thằng Vincenzo lớn lên trong bất hạnh, kể cả Larry, kể cả Octavia? Chỉ có một mình chị dâu Lousia, lạ vậy đó! Còn dì Louche, mẹ đỡ đầu của nó nữa. Mụ này chắc chắn thương Vincenzo lắm. 
Đột nhiên trước khi buồn ngủ Gino muốn chạy vào bên trong cánh cửa tò vò kia để nhìn tận mặt Vincenzo lần nữa xem có đau xót thương nhớ thêm chút nào không. Nhưng chịu thôi, mệt mỏi quá. Điếu thuốc cầm tay còn rớt xuống sàn, tàn than cháy đỏ chút xíu. Hình ảnh lửa hỏa ngục. Gino thiếp ngủ, co quắp trên ghế lạnh dựa lưng vào vách. Cố chống lại giấc ngủ, nó thảng thốt la lớn mà đâu có biết? Nó la đến nỗi lão chủ trên lầu giật mình kia mà? 
Đâu phải vậy? Nó mà giết Vincenzo sao? Nó giơ cái áo lên, chỉ cốt che mặt bà mẹ nhưng sao tay nó mỏi cỡ này. Mắt mẹ nó lại nhìn nó sòng sọc làm nó buộc phải phân bua: “Con cũng khóc nó chứ bộ? Ở thềm cửa lúc nãy đó … nước mắt còn đầy cả mặt đây nè …” Mẹ nó cười gằn: “Láo, mày lại giở trò dóc láo, bịp bợm, quân súc vật!” 
Thế rồi tự nhiên mẹ nó nhìn nó cười cười. Nụ cười dễ thương quá! Suýt nữa nó tưởng bở nói phăng sự thật ra thì hỏng bét! Suýt nữa nó thú nhận bữa đó nó đã đứng chờ dưới nhà mãi, chờ mẹ đưa bố về. Đời nào nó ngu vậy nhỉ? Cứ cúi đầu xuống, không nhìn nữa là xong! Mẹ nó biết đâu mà trách nó nào. 
Gino run rẩy, tự hứa sẽ trở thành một thằng Vincenzo ngoan ngoãn. Nó sẽ làm Hỏa xa, sẽ lấy vợ và mướn nhà ở quanh đâu đó. Nó sẽ bồng đứa con đứng đợi xe điện … nghĩa là sẽ xiềng xích chân nó vào cuộc đời vô vọng, tăm tối mà trong đó nó đã được sinh ra là lớn lên.


Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 20

Cỡ một tuần sau mới sáng dậy, Lucia Santa sao cứ bần thần khó chịu lạ? Điệu này thế nào cũng có chuyện gì? Giờ này thì hai đứa nhỏ Sal và Lena còn ngủ chắc? Còn thằng Gino thì khuya lắm nó mới bò về: rõ ràng mụ có nghe thấy nó thay đồ khua lộn xộn một hồi. Nhưng Vincenzo đi đâu suốt đêm chưa về kìa? Mụ đã lo … nhưng chợt nhớ ra bữa nay thứ ba bèn yên trí ngay. Tối thứ hai nó được nghỉ nên ưa đi chơi khuya lắm. Nhiều khi nó còn về sau thằng Gino mà? 
Dù biết dư là nó chưa về – đêm hôm thật nhưng có ai ra vào nhà này mà qua mặt nổi Lucia Santa – mụ vẫn cứ mở cửa phòng nó nhìn vào cho chắc ăn. Từ ngày Octavia đi lấy chồng, Vincenzo độc chiếm căn phòng duy nhất trong nhà có cửa đóng lại đàng hoàng. Quả nhiên nó không về ngủ thật. Giường nệm vẫn y nguyên … nhưng Lucia Santa vẫn chưa lấy gì làm ngạc nhiên, hốt hoảng. 
Cho mấy đứa nhỏ đi học xong cả, mụ mới ra đứng cửa sổ nhìn xuống, ngóng xem Vincenzo có về không. Về là thấy mặt nó liền chứ gì? Xem, mụ đi ra đi vào và tựa cửa sổ chờ. Chờ đến khi thấy đám phu tan tầm sở ra về lũ lượt – tức là sắp 12 giờ trưa đến nơi – mà vẫn chẳng thấy mặt Vincenzo đâu hết. 
Có bao giờ thằng này dám về trễ thế này? Giờ này chưa thấy mặt nó mụ không nóng ruột sao được kìa? Lucia Santa bèn khoác vội chiếc áo len, tất tả chạy xuống nhà vợ chồng Lorenzo. 
Mụ biết tính thằng con trai lớn. Ngủ dậy là nó bẳn gắt kinh khủng … nhưng cũng phải xuống cho nó hay chứ đợi chờ mãi thì chịu sao nổi? 
Larry đang ngồi uống cà phê sáng, áo ngủ nó mở phanh ra xem lông lá thấy ghê quá! Vừa nghe mẹ nói nó đã cắt ngang: 
– Tưởng gì mà mẹ lo! Nó chưa về bây giờ thì lát nữa nó về … đằng nào nó cũng phải về để làm ca chiều mà? Nó đâu còn con nít mà mới đi có thế mà mẹ đã bấn lên? 
– Mày nói thế … chứ lỡ nó gặp chuyện gì không hay thì sao? Ở nhà làm sao mình biết? 
– Ồ, có gì mà mẹ tưởng tượng quá vậy? Chẳng gì qua mắt bọn cớm được hết! Cái gì tụi nó cũng biết hết và có gì đã cho mình hay rồi … mẹ yên trí đi … 
Lousia pha cho mẹ chồng ly cà phê. Nó nghe chồng nói cứng vậy nhưng chính nó có yên tâm chút nào? Khuôn mặt sáng sủa của nó bỗng tối sầm lại … chứng tỏ nó cũng đang e ngại vì sự vắng mặt bất ngờ của Vincenzo lắm lắm. Ngoài Lucia Santa còn ai hiểu và thương thằng em nhút nhát này bằng nó, dù nó chỉ là chị dâu? Nó biết tính nết Vincenzo quá mà? Có bao giờ thằng này dám đi chơi sáng đêm đến trưa mãi cũng chưa về để cả nhà phải lo? Điệu này dám có chuyện gì … 
Vì nghĩ như vậy và thấy chồng nãy giờ cứ ngồi ỳ ra uống cà phê, Lousia phải lên tiếng hối thúc: “Larry … mình phải đi xem chứ? Đi liền đi!”. Nó chỉ nói có vậy mà lạ thay Larry đứng phắt lên liền … và tới bên mẹ trấn an: 
– Chưa gì mẹ đừng bấn lên chứ? Để con uống xong chỗ cà phê này là con dông thẳng tới sở nó hỏi là ra liền chứ gì? 
Thấy tận mắt thằng con lớn hối hả đi hỏi thăm tin em, Lucia Santa mới yên trí trở lên lầu đứng cửa sổ đợi . 
Đúng ba giờ chiều trẻ con đi học về hết, Gino cũng mò về mà vẫn chưa thấy tăm hơi Vincenzo. Bảo thằng Gino ở nhà nó cũng lờ đi, làm như không hiểu mà còn không nói không rằng lù xù xách cây gậy đi đánh bóng. Hai đứa nhỏ lấy sách vở ra học bài dưới bàn nhà bếp, bữa nay không nấu cơm nên đành mỗi đứa vài miếng xăng uých đổ giấm lên vậy. 
Năm giờ chiều, Larry mới về tới nhà. Nó bảo thằng Vincenzo không đến sở làm chiều nay mà chẳng ai biết nó đi đâu. Lucia Santa liếc nhìn thằng con lớn và thấy chính nó cũng lo lắng ra mặt. Thế là mẹ nóng lòng đi ra đi vào xoắn tay vào nhau kêu trời kêu đất. 
Lát sau Lousia đưa cả mấy đứa con lên, cô trấn an bà mẹ chồng. Vì bọn con nít ríu rít nên cả nhà có ai nhận ra theo sau nó còn có người lạ? Đột nhiên có mấy bóng người sững sờ ngoài cửa. Đi đầu là một viên chức an ninh Hỏa xa đồng phục đen, theo chân có lão chủ lò bánh mì, đột nhiên bước lên mấy bước chặn trước ông lính Hỏa xa làm như cố ý chắn, không để cho Lucia Santa thấy mặt hoặc nghe hắn nói. Lão tự nhiên chìa hai tay ra đằng trước hướng về Lucia Santa điệu bộ muốn an ủi mà nói không nên lời làm mụ đứng chết trân ngó sững. Người hét lớn lên đau khổ chính là Lousia. 
Đang ngồi đấu hót với chúng bạn ở thềm hội quán Hudson, Gino bị thằng Bianco kêu giật ngược: “Về ngay đi, nhà mày đang có chuyện lộn xộn gì đó”. 
Nó chỉ nói vậy rồi quày quả bỏ đi. Gino cũng chẳng buồn kêu nó lại hỏi chuyện gì vì ít lâu nay lớn lên hai thằng hết bồ bịch, gặp nhau không thân thiết nữa mà còn có ý ngượng ngùng. Gino còn không định về kia, nếu không thắc mắc muốn biết “cái chuyện lộn xộn gì đó”. 
Nó đi tắt ngang công viên Chelsea, rảo bước dọc đại lộ số 10 cho tới góc đường 30. Thấy trước nhà có lố nhố nhiều người, Gino bèn bước chậm lại. Dĩ nhiên người nhà nó đâu có ai nên Gino tất tả bay lên tầng. 
Ôi chao, sao nhà nó đông hàng xóm láng giềng thế này? Hai đứa nhỏ đứng như trời trồng ở góc cửa sổ, sợ xanh mặt. 
Mấy người hàng xóm dạt sang một bên, Gino mới thấy mẹ đang ngồi chết trân trên ghế. Larry phải ra sức ghì thật chặt mà mẹ nó vẫn cố vùng vẫy lăn lộn. Bác sĩ Barbato đang rút thuốc vào ống chích giơ lên nhìn. 
Mặt mụ Lucia Santa nhăn nhúm cực kỳ đau khổ trông không dễ gì nhận ra, miệng méo xệch đi và môi cứ lắp bắp, ú ớ. Hai con mắt mở banh nhưng rõ ràng như mắt người đui, có nhìn gì đâu? Có Larry ôm chặt nửa người trên thì nửa người dưới mụ vùng vằng đùng đùng. 
Bác sĩ Barbato vung mạnh tay cắm kim vào bắp tay Lucia Santa. Sau khi thận trọng bơm thuốc còn cẩn thận đứng sang một bên nghe ngóng. 
Quả nhiên nét mặt mụ Lucia Santa ngây dại trong khoảnh khắc rồi bình thản dần dần. Đôi mi mắt nhắm lại, thiếp dần đi, hết vẫy vùng. 
Bác sĩ Barbato ra lệnh: 
– Cho bà ấy vào giường ngủ giùm đi. Ít ra cũng được một giờ. Chừng nào dậy kêu tôi ngay. 
Cùng mấy bà hàng xóm, Larry khiêng mẹ vào phòng trong. Lúc bấy giờ tình cờ Gino đứng cạnh mụ Teresina. Lần đầu tiên từ ngày quen biết nó mới trò chuyện cùng mụ bà chằng này. Nó hỏi khẽ: “Mẹ cháu sao đó, bác?” 
Thốt nhiên Teresina lấy làm khoái chí. Mụ có ý chờ một dịp đau khổ như thế này để cho thằng khốn một bài học làm người … mà nó lại nhè hỏi trước thì tiện quá. Giọng mụ ngập ngừng chua chát: 
– Không, mẹ mi có sao đâu? Thằng Vincenzo đó chứ … Người ta vừa lại cho hay tìm thấy xác nó trên đường ray trong sân nhà ga. Bị một đầu máy cán ngang. Nghe tin dữ là mẹ mày rụng rời vậy thôi … Chuyện, cha mẹ nào nghe tin con chết chẳng vậy? Hãy thương hại mẹ mi một chút … 
Cặp mắt xoi bói trên khuôn mặt diều hâu của mụ Teresina, ngay lúc đó oán hận nhìn nó … Gino làm sao quên nổi? Cái chết đau đớn của thằng anh chẳng làm nó xúc động bao nhiêu. Nó không thấy thương lắm nhưng ngạc nhiên không hiểu tại sao mấy người kể cả mẹ nó – lại đau đớn, khổ sở làm như muốn chết luôn vậy? 
Ở trong phòng ngủ bước ra, Larry đưa tay ngoắc Gino. Nó tất tả đi xuống trước, thằng em chạy theo sau. Không nói một câu, Larry ra hiệu cho em lên xe, rồ máy chạy. Trời sập tối. Chạy tới góc đường 36 và đại lộ số 9, nó cho xe tốp lại trước một căn phố lầu đá ong. Lúc bấy giờ nó mới bảo Gino: 
– Xuống xe đi … lên tầng ba kiếm thằng Lefty Fay bảo nó xuống ngay, tao có chuyện gấp … 
Đúng lúc đó ở cánh cửa sổ tầng ba có ai thò đầu nhìn ra. Larry cúi đầu nhìn qua tấm kính xe, cất tiếng kêu: 
– Fay đó hả? Xuống tao nhờ chút việc … Hạ thấp giọng nó bảo Gino: “Mày xuống băng sau … nhường chỗ cho nó …” 
Lefty Fay người cao lớn, to con gốc Ái Nhĩ Lan. Gã đang làm Hỏa xa và hồi nhỏ cũng chơi với Larry. Đúng ra phải nói cả khu này chỉ có mình Fay đấm ăn anh nó. Lúc hai người mồi thuốc Gino chuồn xuống băng sau. Mấy lời của mụ Teresina còn văng vẳng bên tai nhưng Gino chẳng có cảm giác gia đình nó vừa mất thằng Vincenzo. Fay ngồi vào chỗ của nó cạnh Larry. 
Giọng Larry bình thản, mệt nhọc: 
– Trời ơi, có một ngày hôm nay mà bao nhiêu người mệt. 
Trong bóng tối tiếng Fay cất lên ồ ề như mọi lần nhưng bữa nay rầu rĩ hẳn: 
– Đúng thế! Tao vừa đi nhậu một mách về xong. Ăn hết nổi … 
– Nói thật với mày, tao không hiểu sao mày không biết nó là em tao khi tai nạn đã xảy ra rồi. 
Giọng Larry tuyệt đối không có vẻ oán trách, đổ tội gì cả … nhưng Fay vẫn cằn nhằn: 
– Nữa … mày tính đổ vạ cho tao sao, Larry? Cái vụ này xảy ra ở tuốt trong sân ga, ngang đường 42 lận … Hồi tao với mày chơi với nhau nó còn nhỏ quá, bây giờ nó lớn lên làm sao tao nhận ra em mày? Người nó chẳng có giấy tờ gì hết. 
– Cái gì mà đổ vạ? Thằng an ninh có cho tao hay sau khi tai nạn xảy ra mày viết vào tờ trình rằng thằng em tao lao vào đầu xe. Sự thực thế nào? 
Ngồi băng sau tối om, Gino trông chờ Fay lên tiếng. Xem, nó suy nghĩ gì lâu thế? Mãi sau nó mới ồ ề nói, lần này có pha chút nghẹn ngào: 
– Tao thề với trời đất là có sao tao nói vậy. Phải chi lúc ấy tao nhận ra thằng em mày thì tao viết vào tờ trình làm chi? Nhưng phải nhìn nhận là tự nó lao vào … 
Larry gằn giọng bác bỏ ngay: 
– Tầm bậy! Thằng Vincenzo nhà tao không đời nào làm vậy. Mày chắc còn nhớ nó nhút nhát từ hồi còn nhỏ, sợ cái bóng nó sợ đi. Nói nó say rượu còn có lý … hay nó luống cuống té vào chẳng hạn. Mày làm lại tờ trình đi Fay … 
– Đâu được, Larry? Mày biết tao không thể làm lại được mà? Không thể được … cò bót kiếm chuyện lôi thôi chắc. Và còn đuổi sở nữa kìa! 
– Đuổi sở làm chỗ khác. Tao bảo đảm … 
Larry nói quả quyết lắm. Chờ không thấy Fay nói gì, nó tiếp luôn: 
– Mày nhìn lầm, tao biết! Mày cứ giữ nguyên tờ trình cũ thì chỉ khổ, chỉ tội nghiệp bà già tao. Chắc bà ấy điên mất. Dám chết không chừng! Mày nỡ để mẹ tao vậy sao, Fay? Hồi tụi mình còn nhỏ, mày ăn ngủ tại nhà tao nhiều quá mày biết chứ gì? 
– … Nhưng vợ tao, các con tao ai thương? Mày biết nếu tao làm lại tờ trình thì sở Hỏa xa phải bồi thường cho bà già mày, vậy là tụi nó cứ tao mà gõ, mất việc chắc. Vậy tao làm lại đâu được mà mày đừng ép tao chứ, Larry? 
Giọng Larry lạnh tanh: 
– Tao đâu có ép? Tao chỉ yêu cầu mày thôi. Và phân nửa số tiền bồi thường sẽ là của mày … 
Thế là Fay cười hăng hắc, không cần giấu vẻ bực bội “À há, bây giờ mày cậy làm cho Di Lucca … mày áp lực cả tao nữa đây, phải không Larry?” 
Thằng Fay có ý ngầm thách thức vậy. Nó muốn nhắc lại những ngày mới đây nó còn đánh cho Larry nằm lê nằm lết vỉa hè. 
Đúng lúc đó có một giọng cất lên. Gino nhận không ra nhưng sợ quá, sợ dựng tóc gáy. Người nó chợt lạnh ngắt vì giọng nói ấy rõ ràng nghẹt những tàn ác, độc địa, oán thù chất chứa trong người phải tuôn ra cho hả.

Photo edit by Sơn râu

Dĩ nhiên giọng Larry, anh nó chứ còn ai? Áp lực hay dọa dẫm gì? Rõ ràng một báo hiệu thanh toán nhau không sai chạy và thật bất nhân: 
– Tao không dọa. Tao … xác mày … 
Cảm giác kinh khủng phút chốc ngập ngụa trong xe làm Gino ớn quá. Nó vùng đẩy cửa xe bước xuống. Chịu hết nổi. Nó muốn bỏ đi lập tức … nhưng chỉ sợ nó đi lỡ Larry làm gì Fay thì sao? 
Còn đang chần chờ thì Gino thấy Fay lật đật xuống xe và Larry chìa tay qua thành cửa xe đưa cho nó mấy tờ giấy bạc gấp nhỏ. 
Fay đi khuất là Gino leo lên xe ngồi băng trước song nó không dám liếc nhìn thằng anh. Vừa lái xe về nhà, Larry mệt mỏi nói: 
– Nó nói vậy chứ tin là hố nghe Gino? Tao còn lạ gì, đụng đến tai nạn là thằng nào chẳng nói láo? Chỉ sợ trách nhiệm mà? Thằng an ninh cho tao hay là Vincenzo say rượu, nồng nặc mùi rượu. Thôi thì lỗi nó … nó ráng chịu đi … Nhưng bảo là nó nhảy vào đầu xe là tao không tin, tao không chịu … 
Ngập ngừng một lát như kiếm cách giải thích, Larry cất tiếng than: “Tao chỉ lo cho bà già … Trời đất, lo cho bà ấy quá!”. 
Cả hai anh em không đứa nào nhắc tới Vincenzo hết.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
(viết ngày 15-XI-1993)

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu 16 Jul 2024

Phần 34

Suy Cổ Nghiệm Kim

Ở đời, không có chi là tồn tại, rốt rồi ai ai cũng chết. Duy lúc sống, biết cư xử thì tiếng thơm còn lại, bằng như tung hoành làm cho đã nư, sau rốt vẫn phải trả và còn lại tiếng xấu là khác.

• Hạng Võ, dùng sức mạnh, Hàn Tín, dùng trí, đều chết với số tuổi hơn 30 chưa tới bốn chục.

• Lấy việc gần đây mà xét, Trần Bá Lộc, chém và giết đồng bào và tàn sát dân trong Nam, để dâng sáu tỉnh Nam kỳ cho Tây làm chủ, được thưởng mề-đay của Tây và nay chỉ còn tiếng “phản quốc, làm mọi cho Tây”, ích gì? Con cháu ngày nay, không nghe ai nói, hoặc đã đổi danh diệt tánh từ lâu rồi.

• Trong Nam nầy, ngày xưa có ai giàu hơn hội đồng Trạch ở tỉnh Bạc Liêu? À há! Nay xét lại mới biết, Trạch sanh con đặt tên “cậu Hai Đinh” (con cua đinh), “cậu Ba Huy” (không phải Huy là sáng, là huy-hoàng đâu, mà đích thị là Qui (con rùa), và con trai nhỏ út xưng “cậu Tám Bò”, không cần tìm hiểu.

Nhưng gẫm lại hội đồng Trần Trinh Trạch trong Nam, làm sao giàu và bì kịp nhà giàu đất Bắc, Bạch Thái Bưởi, chẳng là có tàu đi biển và có nhà in đồ sộ.

• Người biết chơi đồ xưa trong Nam, tôi chỉ biết một là bà Hà Minh Phải, quen gọi bà đốc phủ Phải, tôi vẫn nghe mà không biết có quả như vậy hay không và nên điều tra lại, thì mộ bà nầy, an táng tại vùng Chí Hòa, đã bị kẻ trộm đào mả lấy luôn đầu lâu, vì chúng khi đào, mò trong mồm, không tìm được hột kim cương bà ngậm trong miệng và chúng đã rinh sọ bà rồi.

• Một người thứ hai tôi nghe danh mà không biết mặt là Lê Văn Nuôi, nhà giàu lớn đất Vĩnh Long, ông Phán Nuôi nầy, quả có tàu hỏa chạy đường Sài Gòn lên Nam Vang xuống miền Nam và gọi “tàu lục-tỉnh”, tiếng đồn để lại: ông ra Hà Nội, mua đồ xưa, và mua luôn trọn nhà một quan tổng đốc, mua trọn trụm cả thập vật từ khí trong nhà, quan tổng đốc chỉ nhận tiền và xách va-li tế nhuyễn ra và ông Phán Nuôi giao cho người đi theo, lo tom góp chở về đất Vãng cho ông, còn ông Nuôi vẫn trở về Nam bằng tàu máy hãng Tây và hãng Tây cố tình không lấy tiền quá giang chỉ tính tiền chuyên chờ cổ ngoạn của ông mua là đủ. Nhưng rốt cuộc, khi ông Nuôi nằm xuống, sự nghiệp, người kế nghiệp bán trọn cho một thương gia Tàu, độ bốn hay năm triệu đồng bạc đời giao-liên (période de transition) lối 1960 và tỷ như nếu không bán lúc đó và để cho đến năm ni 1993, số bạc ấy tính theo nay, ắt hơn 4 hay 5 tỷ (1 tỷ là 1.000 triệu) thì phải là rất uổng.

Xét lại cho kỹ, chơi đồ xưa, theo ý riêng của tôi, tôi không bàn đến lối chơi của người đất Bắc, thường khoe “biết chơi đã hơn ngàn năm, do ông bà tổ tiên đã biết chơi như vậy rồi”, và cũng không dám nói đến người miền Trung, đất có vua, mà theo tôi, người đất Huế cũng chỉ ham sắm để tiến dâng cho vua, tức chưa lâu lắc gì, và như tôi hiểu và xét theo sự kinh nghiệm đã dạy, thì xin hỏi: ở Bắc, bà Bé Tý, cô Tư Hồng, nay có ai là kế nghiệp nối dòng? Ở miền Trung, những Nguyễn Thân, những Trương Như Cương, có ai nối nghiệp đồ cổ?

Chính trong Nam nầy, không ai giàu được với câu “truyền tử lưu tôn”, chung qui từ Bắc qua Trung chí Nam, người nước ta chỉ lập nghiệp và an hưởng chỉ một hay hai đời là cùng, và đã điêu tàn không nối đến thế hệ thứ 3 được.

Sở dĩ tôi dám nói như vậy, vì theo tôi chiêm nghiệm, người mình có tật lớn là sợ ma, và đồ xưa, đồ cổ, theo quan niệm xưa là vật có ám-ảnh, của ma để lại, và chính mắt tôi đã thấy trong nhiều gia đình vọng tộc trong nầy, khi có người trong nhà quá vãng, thì bao nhiêu vật, y phục, giày dép, đều gởi vào nhà mồ, tức để lộ thiên nơi nhà quàn, tha hồ cho bọn trẻ chăn trâu bò, mặc tình lôi trộm, hoặc bán rẻ cho bọn ve-chai, hoặc lấy chơi, phá phách không tiếc và đã mất.

Theo tôi, người trong Nam, dĩ chỉ gần đây, chỉ học và biết chơi và sưu tập đồ cổ ngoạn, không vì mỹ thuật mà chỉ vì nay bán được nhiều tiền, và cái mốt (mode) làm collectionneur (người sưu tập đồ cổ để tiêu khiển) trước sưu tầm, sau bán cho được nhiều hơn số vốn đã xuất, bọn nầy tôi gọi “con buôn đồ cổ” và không có danh từ gì khác để gọi cho xuôi tai, và bọn buôn đồ cổ nầy, thường hay bị “sanh nghề tử nghiệp”, một lúc làm giàu thơ thới, rồi bỗng suy tàn, tán gia bại sản, vì bán lô một cổ vật ra nước ngoài, bao nhiêu của cải làm ra, đều bị mất, bị tịch, hóa ra vì hám lợi nhỏ mà mất hết những vật tích trữ bấy lâu.

Tóm lại, có ích gì mà đeo đuổi cái gọi là “thú chơi cổ ngoạn”? và theo tôi, cần thiết là nên biết tự túc, chơi một vài món là đủ và mua sắm nhiều chỉ mua sự lo buồn lúc các vật ấy còn tại nhà, và khi sạch sành sanh bị mất trọn, thì nên an ủi lấy mình với câu “Đồ xưa có ma” và như vậy không nên than trời trách đất. Tôi nói như vậy, không phải tôi triết lý đâu, và chính tôi cũng lọt trong vòng luẩn quẩn ấy. Bao nhiêu Gubalkian và các tay tổ Mỹ, Anh cũng thế!!

Câu truyền tụng “Đồ xưa có ma” là thậm phải. Bao nhiêu người danh giá thời thuộc Pháp, ngoài kia như các tổng đốc họ Hoàng, họ Trần, họ Vi, v.v. bao nhiêu kẻ đánh giặc mướn làm mọi cho Tây, Nguyễn Thân, ở Trung, Bá Lộc, Bá Thọ ở Nam, chú Hỏa (Hui-Bon-Hoa), Quách Đàm, họ Huỳnh Đình, họ Quách, Phủ hàm Khiêm ở Gò Công, bao nhiêu công thần triều Nguyễn Phước, như Phạm Đăng (Gò Công), họ Nguyễn ở Sa Đéc, rốt lại cũng không lâu bền như ý muốn. Lăng ông Nhân ở Sa Đéc, may thời lăng mộ nhờ cháu con khéo giữ gìn nên còn, trái lại họ Huỳnh ở Gò Công, lên như diều gặp gió, vì có Huỳnh Tấn bắn Trương Định, nhưng Trương Định ngày nay có tên đặt tên đường ở Sài Gòn để lưu niệm danh trung, và trái lại, Huỳnh Tấn còn bị bêu ríu danh ô đầu giặc.

Cái gương sáng suốt, theo tôi là gương các nhà cầm bút, tỷ như:

• Trương Vĩnh Ký đứng đầu, chí khí như họ Từ đời Tam Quốc, sống đất Tây mà lòng vẫn hiên ngang, không theo phò tá mà vẫn một lòng vì cố-quốc, nước nhà; tuy tượng đồng bị hạ bệ mà nghe đâu sẽ có ngày xây dựng lại như cũ;

• Huỳnh Tịnh Của, có người đã chê ông nầy chức là đốc-phủ-sứ có chưn trong hội-đồng cố-vấn của Pháp, nhưng theo tôi hiểu, và xin cải chánh, ông Đốc-phủ Của làm đốc phủ để có tiền xuất bản bộ tự-vị nhắc danh để đời, thì Của nầy rất có công với văn hóa và nào có tội?

• Một ông Của nữa, là ông Nguyễn Văn Của, sanh được một Nguyễn Văn Xuân, 16 tuổi đậu tú tài Pháp, rất có công trong ngành xuất bản, và bình sanh giúp ích cho nhiều người và không làm hại ai, như vậy Của và Xuân, nào có tội với nước nhà?

• Một bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, theo tôi, tưởng nên xét lại.

• Một Nguyễn An Ninh, thà chịu ngồi tù chớ không vì có bằng luật mà ham làm quan.

• Một Hồ Văn Ngà, một Nguyễn Văn Sâm, một Trần Văn Thạch, thảy đều nên điều chỉnh và xá tội oan làm tay sai cho địch.

Chỉ tiếc người trong Nam, những người đi trước, học giỏi, đậu cao, làm chức lớn chỉ biết vinh thân phì gia, và đáng tiếc. Khi ra Bắc, bày ra ca hát cải lương, ăn chơi cho thỏa thích nhưng đều rất tầm thường, và chung qui đều thua người ngoài ấy: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm, vân vân, học nhiều, biết nhiều; nhưng xin nhớ người Nam mất nước từ 1867, còn người Bắc năm 1884 mới bị chinh phục, khiến nên chữ Nho chữ Hán, người Bắc, người Trung hiểu nhiều, còn chúng tôi trong nầy, xin đừng sớm trách chúng tôi và chúng tôi vẫn không lòng vong quốc, nhưng thật sự đã bị Tây cấm học Hán- tự và cấm học võ-nghệ từ 1867 kia mà.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 5-XI-1993)

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 33

Cảm Tưởng Hoang Mang Khi Được Tin Châu Hải Kỳ Vắn Số

Tôi chưa quen, chưa biết mặt lần nào, chỉ thỉnh thoảng đọc trong sách của Lộc Đình-Nguyễn Hiến Lê thì biết Châu Hải Kỳ viết văn gãy gọn và đúng đắn.

Vừa rồi tôi lại được anh Lê Ngộ Châu gởi biếu một cuốn dày 176 trang rộng khổ 12 x 19 nhan là Nguiễn Ngu Í, cuộc đời và văn nghiệp do Châu Hải Kỳ soạn, sách nầy tôi đang đọc chưa xong, đọc đến trang 172 thì hay tin dữ dội Hải Kỳ đã mất ngày 18-7-1993 và khi đọc trở lại nơi trang 2, bìa tập sách, mới rõ tên thật của Hải Kỳ là Võ Văn Côn, quê Quảng Nam nhưng sanh tại Quảng Ngãi, sau năm 1945, đã đậu bằng tú tài Pháp Việt, than ôi, Hải Kỳ còn toan viết, và mình còn trúng mong đọc tiếp những gì anh nầy viết về các nhà văn mình từng quen đọc, thì bỗng bút rơi người mất, khiến khôn xiết xúc động và nhớ lại hai câu tự nhiên khóc bạn của kép Tư Chơi khóc kép Tư út: “Những thằng đáng chết sao không chết, lại chết chi thằng đáng sống lâu?”, và tuổi già sắp tới ngày khao đãi tuổi 93, và cũng chẳng cần muốn ăn khao làm gì, và đang hoang mang với tin dữ thì nhớ lại quyển sách nhỏ đang đọc là nhắc lại cuộc đòi của một nhà văn mình đã từng tiếp xúc và lắm phen bực trí vì anh Hữu Ngư, cũng là Ngu Í nầy, thường ba hoa nói liền miệng, và nay Ngư (Cá) hay Í (í ngu) nầy nào có khác chi mình, cũng thì chích chòe bá láp liền xì, duy chưa biết có ai đã trách mình vẫn cũng có tánh ăn ngay nói thẳng và nói hết không chừa?

Nhớ lại câu nho học lóm “Nhơn sanh vô bá tuế, Uổng tác thiên niên kế”, anh bạn Hải Kỳ có lòng muốn soạn lại một cách đúng đắn để truyền lại cho học trò theo học lớp của anh nơi trường ở Nha Trang thì trời đành dứt số.

Lại nhớ hai câu trong cặp liễn tre treo nơi vách thơ phòng:

“Tối dị hành kim nhựt sự”, “Đắc nhàn độc cổ nhân thư” (khó nhứt việc thường ngày nay, muốn nhàn hãy đọc thơ cổ nhân để lại), lại vẫn làm tàng khách sáo, Sển nầy nay khóc hai hồn chết chưa đáng chết. Huy lụy.

Lời nói thêm ngày 19-XI-1993: Trên đây tôi viết lỡ Hải Kỳ sanh 1945, thọ 48 tuổi, nay rõ lại Hải Kỳ có lẽ sanh 1925 và như vậy thọ 68, là tuổi “cổ lai”, tôi đã sớn sác và xin nhắn độc giả xem mấy lời cải chánh nơi trang nầy.

Còn một trang nầy nữa, viết để vá vào trang thiếu, lại nhớ nghề vá víu của ngày nay là nghề của kỹ sư hay cán bộ cao cấp gọi “cán sự chuyên môn” (agent technique) của sở công chánh, tức một nghề minh minh chánh chánh phải có thực tài mới làm nổi, thế mà ngày xưa nghề nầy đủ bị chê là nghề hạ tiện, năm thật xưa lối 1900, đã có một chức tri huyện làm ở

tòa bố tỉnh Sốc Trăng, chức huyện, làm việc nơi văn phòng thế mà vì quan chủ tỉnh cắt sai quan huyện ra trông coi trồng cây bọc theo đường lộ của châu thành, rồi quan huyện nầy tức giận bèn xin về hưu, mà đã quên rằng thà làm ông đốc công coi trồng cây che mát lộ mà vẫn có ích cho xã hội hơn làm huyện làm phủ mà chỉ biết vinh thân ích gì? Than ôi, cũng vì nạn người mình quá ham làm quan, chỉ trông mong thi đậu làm quan để bóc lột, và chừng sáng mắt biết tỉnh ngộ, biết không làm quan và biết tranh đấu chen vào thương trường mua bán với khách Tàu khách Chà thì cũng đã trễ… Và việc đời nghĩ chẳng hay cùng, xin cho tôi lẻo mép, nói lạc đề: chuyện xưa tích cũ, thánh Gandhi, linh hồn của thuyết “bất chống” đã hy sinh binh vực sự sống còn của nước Ấn, nhưng cũng có đứa thất phu giết… Châu Ân Lai, nhà chánh trị một mực thẳng thán làm cho Trung quốc trở nên hùng mạnh, nhưng khi biết mình không sống mãi thì đã dặn hỏa táng hơn là xây mộ kềnh càng, còn trêu đời nầy ngày nay thiếu chi người, sanh tiền chỉ đục khoét ăn xới, nhưng lại muốn có sinh phần hay phần mộ bê-tông cốt sắt để đời. Giết một mạng bị đưa ra tòa xử về tội sát nhơn, giết cả muôn thiên lại được tiếng Anh hùng. Mấy chữ “sanh vi tướng, tử vi thần” đã làm cho bao nhiêu từ mạng, và đọc sách cũ, tại sao bên Tây, vua không đáng ra vua nhưng nhờ phe võ mạnh mà đi chiếm thuộc địa, chứ phe văn cũng tèm nhèm dơ bẩn nhưng vì viết văn hay nên khi chết được an xác trong diện Panthéon, còn bên nước Việt ta, vua giỏi nhưng quan võ đánh giặc bằng dao mác làm sao cự nổi với súng bắn xa, mousqueton, canon bùm bùm và quan văn ở theo sách biết giữ tiết, không bao giờ sợ chết.

Báo chí ngày nay nhiều như nấm mối gặp mưa rào, tiền đâu đủ mua, mỗi trang mỗi ngày toàn chém giết, chết chóc, nghe mãi về chiến tranh chỗ nầy chỗ kia, đạo nầy đạo nọ, chừng nào mới thấy hòa bình để hưởng những chuỗi ngày nhàn nhã, khoai ngọt cơm tươi, vẫn giết cá ở biển bằng thuốc súng, và dùng súng mạnh tàn sát voi trong rừng để lấy ngà, săn thú bán thịt, ô hô “chữ nhàn bán rẻ thứ ai ưa?”.

Nhạc sĩ Anh Việt Thu & dòng An-Giang hiu hắt

baotreonline.com

Tám Vạn

March 15th, 2024

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật là Huỳnh Hữu Kim Sang, sanh năm 1939 ở Campuchia, nhưng trong giấy khai sanh ghi là 1940 ở An-Hữu, Cái-Bè, tỉnh Mỹ-Tho. Anh Việt Thu nổi tiếng với những ca khúc êm ái, nhẹ nhàng viết về quê hương và tình yêu. Nhạc sĩ Anh Việt Thu sáng tác, dạy nhạc, thực hiện băng nhạc, cộng tác với phòng văn nghệ thuộc Tổng cục CTCT (Chiến tranh Chính trị), đài truyền hình, đài phát thanh Sài-Gòn, đài phát thanh Quân đội Việt-Nam Cộng Hòa. Anh Việt Thu qua đời ngày 15.03.1975 vì một căn bịnh hiểm nghèo.

Nhạc sĩ Anh Việt Thu. nguồn: nhạc vàng

Tháng 3, năm 1975, buổi trưa ở Tăng Nghi Quán nóng đến ngộp thở. Hai má con tôi ngồi bên quan tài người cậu lung linh hai hàng nến trắng. Không có ai viếng thăm người đã khuất vào giữa trưa oi nồng nên không khí yên ắng đến lạ thường. Bà thím ngồi cạnh chiếc quan tài nhà bên cạnh đưa cho tôi tờ nhật báo Trắng Đen đọc cho đỡ buồn. Lật đến trang văn nghệ, cái tin nhạc sĩ Anh Việt Thu qua đời khiến lòng tôi chùng lại. Ông là một nhạc sĩ tên tuổi với rất nhiều bài hát nổi tiếng.

Những cung bậc nhẹ nhàng, du dương của “Dòng An-Giang” đã làm tôi say lòng từ những năm còn ở bậc tiểu học. Các trường tiểu học, trung học thường chọn nhạc phẩm này để học trò ca xang, múa hát vào dịp Tết Nguyên Đán, ngày bãi trường hay lễ lạt …

Dòng An-Giang sông sâu sóng biếc

Dòng An-Giang cây xanh lá thắm

Lả lướt về qua Thất-Sơn

Châu-Đốc giòng sông uốn quanh

Soi bóng Tiền-Giang, Cửu-Long

(“Dòng An-Giang”, 1957)

Anh Việt Thu và thi sĩ Thiên Hà.

Dòng nhạc đó được viết lên từ một tâm hồn rất trẻ nhưng mang nặng tình yêu thương quê hương, dân tộc. Nếu tính đến ngày đất nước rơi vào tay giặc, nhạc sĩ Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng được sanh ra và lớn lên tại miền Nam Việt-Nam. 17 tuổi với ca khúc đầu tiên được công chúng đón nhận đã mở ra cho ông một vòm trời âm nhạc bao la, tốt nghiệp ưu hạng khóa đầu tiên ở trường Quốc Gia Âm Nhạc tại Sài-Gòn và đệ trình luận án âm nhạc học tại Nhật-Bản khi tuổi đời vừa 24. Với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông đã hăng hái hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc như sáng tác, dạy nhạc, tham gia vào các đoàn du ca, thành lập nhà xuất bản và thực hiện băng dĩa nhạc. Hơn 200 ca khúc được viết về tình yêu đôi lứa, tình quê hương và trách nhiệm người trai lớn lên giữa thời ly loạn. Trong thời gian cộng tác với phòng văn nghệ thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, ông đã sáng tác những bản hùng ca phục vụ quân đội VNCH như “Trên đầu súng”, “Vuốt mặt”, “Tiếp nối”, “Đường chúng ta đi” v.v.

Nếu “Trên đầu súng” là bước chân hiên ngang trực diện với quân thù thì “Vuốt mặt” là lời điếu văn ai oán, tri ân những chiến sĩ đã hy sinh vì chính nghĩa tự do:

Tổ quốc vấn khăn tang, mây che phủ đầu

Xin cúi mặt, một phút cho anh

Xin cúi mặt, một phút cho em

(“Vuốt mặt”, 1972)

Với tánh tình phóng khoáng và nghệ sĩ, ông đã trải qua những tháng ngày cơ cực, thiếu thốn, “vất vưởng cù bất, cù bơ” và cũng sống hết lòng với bè bạn cùng trách nhiệm với đàn em thơ dại. Cái tên Anh Việt Thu là bút hiệu, nghĩa là anh của người em trai tên Việt Thu, và cũng để nhắc nhở mình không quên bổn phận lo lắng cho tương lai người em út.

Nhạc của ông thường được viết theo thể điệu Boléro, Ballade hay Habanera thật nhẹ nhàng và lời ca bình dị, rất dễ đi vào lòng khán thính giả khắp nơi trên 4 vùng chiến thuật. Đọc lại từng lời nhạc, nghe lại từng nhạc phẩm, tâm tình của ông cũng là nỗi lòng của hơn 20 triệu đồng bào miền Nam trước cảnh chinh chiến điêu linh:

Đêm hạ vàng long lanh, vòng tay nửa gối

Nghe nắng dậy xôn xao, chinh chiến quê hương bạn bè

Anh sẽ quay về nghe gió vờn quanh mây trắng

Anh sẽ không về chim cũng bỏ đường bay

(“Lời ru tiếng nhớ”, 1968)

Đám cưới nhạc sĩ Anh Việt Thu

20 năm nội chiến, máu lệ chất thành sông, bầu trời quê hương đã xám ngắt một màu tang thương, khói lửa đạn bom cũng khuất lấp chân trời yêu thương ngày cũ. Người dân cùng khổ, lớp trai tráng tâm nguyện một lòng dấn thân ngoài chiến tuyến và ước mong cho non nước sớm được thanh bình:

Một đàn, đàn chim nhỏ

Bay khắp trời Việt-Nam mến yêu

Ôi tiếng chim muông gọi đàn

Mẹ Việt-Nam ơi

Con xin dâng hiến trọn cả đời

(Tám điệp khúc”, 1965)

Hơn 1 tháng trước ngày mất nước, vì căn bệnh hiểm nghèo, ông đã bỏ lại tất cả và đi về một cõi thật xa. Nền âm nhạc nước nhà mất đi một tài năng thiên phú. Nhưng cũng may mắn cho ông, sự ra đi này đã giúp ông thoát được những năm tháng đọa đày, tù ngục trên chính quê hương của mình sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Dòng An-Giang ngọt nước phù sa muôn đời vẫn buồn hiu hắt vì những mùa Xuân thái hòa sẽ không bao giờ trở lại, dù chinh chiến đã qua đi gần nửa thế kỷ.

TV

Những quốc gia chi bạo cho quốc phòng 2023

baotreonline.com

Nhật Quang

Post on January 25th, 2024

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Kỳ 5

Thế giới đang bình an bỗng phút chốc biến thành lò lửa kinh hoàng như địa ngục: Nga bất ngờ tấn công Ukraine rồi mới đây Israel đập nhau với Hamas tanh bành trên lãnh thổ Palestine.

Sự yên bình của nhân loại dường như luôn âm ỉ một cơn bão tố, quốc gia nào cũng âm thầm mài dao chuốt kiếm chuẩn bị cho chiến tranh, đề phòng những láng giềng thiếu thân thiện.

Mời bạn điểm qua một số quốc gia chi cho quốc phòng nhiều nhất trên thế giới trong năm 2023, xếp từ bậc thấp nhất 25 đến 1.

Quân đội Mỹ

Kỳ 5 & hết

Các vị trí trước đây, theo thứ tự gồm: 25. Đức, 24. Thái Lan, 23. Đài Loans, 22. Saudi Arabia, 21. Tây Ban Nha, 20. Poland, 19. Việt Nam, 18. Israel, 17. Iran, 16. Úc, 15. Ukraine, 14. Ai Cập, 13. Indonesia, 12. Brazil, 11. Thổ Nhĩ Kỳ, 10. Ý, 9. Pháp, 8. Nhật, 7. Pakistan, 6. Nam Hàn…

5. Anh

Anh được xem là một trong những cường quốc về quân sự với 2 hàng không mẫu hạm hiện đại nhất thế giới gồm tàu Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales.

Ngoài ra Anh cũng khá “giàu có”, là quốc gia viện trợ cho Ukraine nhiều nhất, sau Mỹ. Anh cũng tích cực tăng cường ngân quỹ quốc phòng theo yêu cầu của NATO với 2% GDP, tương đương 58 tỉ đô la và dự định sẽ tăng lên 2.5% vào năm 2030.

Diện tích nước Anh chỉ bằng khoảng 2/3 Việt Nam và dân số khoảng 67 triệu. Do vậy quân số cũng mỏng hơn, với 142,000 quân hiện dịch, dự bị 37,000, nhưng số thanh niên có thể ra trận khi hữu sự gần 15 triệu mống.

“Tài sản” của Anh gồm 5,000 xe tăng các loại, 1,000 chiến đấu cơ, gần 100 tàu chiến, 10 tàu ngầm….

Quân đội Anh

4. Ấn độ

Ấn Độ là quốc gia tốn cơm nuôi quân chờ thời bậc nhất thế giới, với 1.5 triệu lính tại ngũ. Nếu cần, Ấn có thể bổ sung  thêm gần nửa tỉ quân trong nháy mắt.

Kẻ thù lớn nhất của Ấn Độ là láng giềng Trung Quốc, khi cả hai đụng độ liên miên ở đường biên giới. Ấn Độ “tố” Trung Quốc đã lấn chiếm 38,000 km2 đất của họ ở cao nguyên Aksai Chin.

Ấn có diện tích gần gấp 10 Việt Nam, với 1.3 tỉ dân. Đầu tư cho quốc phòng 66 tỉ đô la (tương đương 2.2% GDP). Lính Ấn hàng ngày phải lau dầu mỡ cho 5,000 xe tăng và 14,000 xe tác chiến các loại.

Ấn cũng cần bãi đáp cho hơn 4,000 máy bay từ chiến đấu cơ đến trực thăng. Lực lượng hải quân gồm 300 tàu chiến các loại, 16 tàu ngầm, 1 hàng không mẫu hạm.

Quân đội Ấn

3. Trung Quốc

Trung Quốc đã âm thầm  tăng cường sức mạnh quân sự trong những năm gần đây. Trung Quốc có trong tay khoảng 2 triệu quân, dự bị 2 triệu và 400 triệu sẵn sàng nhập ngũ. Chi phí quốc phòng ngốn 1.7% GDP tương đương 293 tỉ đô la.

Trung Quốc có trên 30 ngàn xe cơ giới quân sự, trong đó có 6,000 xe tăng. Lực lượng không quân của Trung Quốc khá hùng hậu với 5,000 máy bay các loại, trong đó 1,000 chiến đấu cơ. Khoảng 1,000 tàu chiến, 74 tàu ngầm và 3 hàng không mẫu hạm.

Đội duyệt binh Trung Quốc

2. Nga

Nga là một quốc gia khổng lồ, gấp 52 lần Việt Nam, tuy nhiên dân số chỉ nhiều hơn Việt Nam chừng 50 triệu.

Lính Nga tải thương tại chiến trường Ukraine

Đây cũng là quốc gia có kho vũ khí nguyên tử lớn nhất thế giới. Mặc dầu Nga chi đến 4% GDP cho quốc phòng nhưng chỉ khoảng 66 tỉ đô la. Trong đó phải nấu 3 cữ súp hàng ngày cho 1 triệu quân tại ngũ. Số dự bị khoảng 2 triệu, và 34 triệu sẵn sàng xung trận. Lính Nga phải rửa bụi cho 50,000 xe cơ giới các loại, trong đó có 12,000 xe tăng.

Lực lượng không quân có 10,000 máy bay quân sự, trong đó gần 1,000 chiến đấu cơ. Hải quân hơn 700 tàu chiến, 66 tàu ngầm và 1 hàng không mẫu hạm.

Giàn phóng hỏa tiễn xuyên lục địa của Nga

1. Mỹ

Quân đội Mỹ đứng đầu thế giới về sức mạnh quân sự. Ngân sách quốc phòng gấp 3 Trung Quốc, hơn 750 tỉ đô la. Mỹ hiện có 1.3 triệu quân rải khắp thế giới, gần 700,000 lính dự bị và 73 triệu sẵn sàng nhập ngũ.

Mỹ sở hữu trên 50,000 xe cơ giới quân sự, trong đó có 6,000 xe tăng. 13,000 máy bay các loại, gồm 1,500 chiến đấu cơ, gần 500 tàu chiến và 70 tàu ngầm, 10 hàng không mẫu hạm.

Lính đặc nhiệm Mỹ

Kết

Một vị tướng Mỹ nói, một người lính Mỹ ngày nay có sức mạnh bằng 2000 người trước đây. Ý ông muốn nói về sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật trong chiến tranh. Tuy nhiên, nếu không có một quân đội thiện chiến,  bất kỳ loại vũ khí hiện đại nào cũng sẽ không làm ăn gì được .

Những quốc gia chi bạo cho quốc phòng 2023

baotreonline.com

Nhật Quang

Post on January 19th, 2024

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Kỳ 4

Thế giới đang bình an bỗng phút chốc biến thành lò lửa kinh hoàng như địa ngục: Nga bất ngờ tấn công Ukraine rồi mới đây Israel đập nhau với Hamas tanh bành trên lãnh thổ Palestine.

Sự yên bình của nhân loại dường như luôn âm ỉ một cơn bão tố, quốc gia nào cũng âm thầm mài dao chuốt kiếm chuẩn bị cho chiến tranh, đề phòng những láng giềng thiếu thân thiện.

Mời bạn điểm qua một số quốc gia chi cho quốc phòng nhiều nhất trên thế giới trong năm 2023, xếp từ bậc thấp nhất 25 đến 1.

Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle của Hải quân Pháp, tốn phí khoảng 3.5 tỉ đô la  

Kỳ 4 –Các vị trí trước đây, theo thứ tự gồm: 25. Đức, 24. Thái Lan, 23. Đài Loan, 22. Saudi Arabia, 21. Tây Ban Nha, 20. Poland, 19. Việt Nam, 18. Israel, 17. Iran, 16. Úc, 15. Ukraine, 14. Ai Cập, 13. Indonesia, 12. Brazil, 11. Thổ Nhĩ Kỳ, 10. Ý…

9. Pháp

Pháp ở vị trí thứ 9 về vị trí quân sự trên thế giới, nằm trong một số ít quốc gia có hàng không mẫu hạm và vũ khí hạch nhân.

Pháp có diện tích gần gấp đôi Việt Nam nhưng dân số chỉ 68 triệu.  Tuy vậy vẫn có 200,000 quân hiện dịch, 150,000 lính dự bị và 14 triệu đủ tuổi hành quân.

Pháp chi khá mạnh tay cho quốc phòng với 1.7% GDP tương đương  55 tỉ đô la. Lực lượng phòng vệ khá hùng hậu với 7,000 xe tăng các loại, 1,500 máy bay quân sự, 10 tàu ngầm, 200 tàu chiến, 4 hàng không mẫu hạm.

8. Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về quân sự, mặc dù đã “giã từ vũ khí” sau thất bại trong Thế chiến thứ II.

Gần đây, khi Bắc Hàn và Trung Quốc ho he so cựa, Nhật Bản bắt đầu thay đổi chính sách của mình.

Nhật chi khoảng 1% GDP vào quốc phòng với ngân sách 54 tỉ đô la, và dự trù tăng gấp đôi vào năm 2024, như vậy sẽ xếp hàng thứ 3 toàn cầu.

Nhật có khoảng 250,00 quân, 50,000 dự bị nhưng con số nhập ngũ khi cần sẽ đạt 27 triệu.

Nhật có trên 1,500 xe tăng các loại, 1,500 chiến đấu cơ. vận tải cơ bao gồm 700 trực thăng.  Là một quốc đảo, Nhật có lực lượng hải quân rất hùng hậu, với 22 tàu ngầm, 200 tàu hải quân các loại, 4 hàng không mẫu hạm (hiện có 2 chiếc đang hoàn thiện)…

Quân đội Nhật, hiện nay Nhật mua thiết bị quốc phòng từ Mỹ, Anh và Đức. Trong tương lai, Nhật có thể tự trang bị cho mình

7. Pakistan

Pakistan là một quốc gia nghèo, diện tích và dân số gấp 2.5 Việt Nam. Đã nghèo, Pakistan lại gặp cái eo khi nằm sát nách Trung Quốc và Ấn Độ, giáp Afghanistan, Iran tạo nên những xung đột triền miên.

Chính vì vậy, Pakistan luôn bận rộn bảo trì tu bổ  hơn  3,700 chiếc xe tăng, 1,400 máy bay quân sự, 9 tàu ngầm và nuôi 654,000 quân nhân tại ngũ. Ngoài ra phải kỳ cọ cho hơn 100 tàu hải quân và 6 chiếc tàu ngầm. Tất cả ngốn Pakistan hơn 4% GDP mỗi  năm.

Quân đội Pakistan

6. Nam Hàn

Diện tích quốc gia này  nhỏ hơn Việt Nam 3 lần nhưng khả năng quân sự rất đáng nể, xếp top 5 trên thế giới. Nguyên nhân là nằm sát Bắc Hàn, và khả năng kinh tế và khoa học kỹ thuật của quốc gia này.

Bên cạnh 29,000 lính Mỹ đóng tại đây, Nam Hàn có hơn nửa triệu quân và gần 3 triệu quân dự bị. Đồ chơi gồm có 10,000 xe tăng các loại, 2,000 phi cơ và trực thăng tác chiến, trên 200 tàu chiến và 22 tàu ngầm. Ngốn 3% GDP, tương đương 50 tỉ đô.

Quân đội Nam Hàn tập trận với lính Mỹ. Trong một thỏa thuận với Nam Hàn, Mỹ luôn duy trì khoảng 30,000 quân tại 15 căn cứ quân sự trên quốc gia này.

Những quốc gia chi bạo cho quốc phòng 2023

baotreonline.com

Nhật Quang

Post on January 13th, 2024

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Kỳ 3

Thế giới đang bình an bỗng phút chốc biến thành lò lửa kinh hoàng như địa ngục: Nga bất ngờ tấn công Ukraine rồi mới đây Israel đập nhau với Hamas tanh bành trên lãnh thổ Palestine.

Sự yên bình của nhân loại dường như luôn âm ỉ một cơn bão tố, quốc gia nào cũng âm thầm mài dao chuốt kiếm chuẩn bị cho chiến tranh, đề phòng những láng giềng thiếu thân thiện.

Mời bạn điểm qua một số quốc gia chi cho quốc phòng nhiều nhất trên thế giới trong năm 2023, xếp từ bậc thấp nhất 25 đến 1.

Kỳ 3 – Các vị trí trước đây, theo thứ tự gồm: 25. Đức, 24. Thái Lan, 23. Đài Loan, 22. Saudi Arabia, 21. Tây Ban Nha, 20. Poland, 19. Việt Nam, 18. Israel, 17. Iran, 16. Úc, 15. Ukraine

Tân binhThổ Nhĩ Kỳ tập trận

14. Ai Cập

Quân đội Ai Cập đứng đầu danh sách các nước Ả Rập. Đứng trong 10 quốc gia hàng đầu về khả năng quân sự toàn cầu.

Ai Cập có khoảng 300,000 quân hiện dịch và 375,000 quân dự bị. Sở hữu 1,000 máy bay quân sự, trong đó có cả F-15, F-16 của Mỹ và các máy bay MIG của Nga.

Do chính sách bang giao đa chiều, vũ khí Ai Cập trang bị hơi loạn xà ngầu, từ Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc, Ý, Ukraine và Anh.

Quân đội Ai Cập

13. Indonesia

Indonesia đứng hạng 5 thế giới về lực lượng sẵn sàng tham gia quân đội, cụ thể là trong năm 2023, hơn 112 triệu người Indonesia đủ điều kiện nhập  ngũ, chiếm 40.7% trong tổng dân số 279 triệu người, đông dân thứ 4 thế giới và cũng là quốc gia có số dân theo Hồi giáo lớn nhất trên thế giới.

Indonesia chi 1% cho quốc phòng năm 2023 khoảng 10 tỉ đô la, gồm 600 xe tăng, 470 máy bay chiến đấu các loại, 200 máy bay trực thăng. 200 tàu hải quân, 4 tàu ngầm.

Lính Mỹ (trái) huấn luyện cùng lính Indonesia

12. Brazil

Brazil là quốc gia có số phi trường nhiều thứ nhì thế giới với 4,000 sân bay lớn nhỏ. Ngoài ra Brazil còn có đến 17 cảng biển thuận tiện.

Brazil có 40.3% dân số đủ “tiêu chuẩn” nhập ngũ, khoảng hơn 87 triệu người.

Brazil chi 2% GDP cho quốc phòng, chừng 20 tỉ đô la. “Tài sản” quân đội hiện có 300,000 quân hiện dịch, 1,300,000 dự bị và có thể tuyển mộ thêm 50 triệu quân trong “tích tắc”. Đồ nghề tác chiến của Brazil gồm 500 máy bay, 200 trực thăng, 200 tàu chiến, 1 hàng không mẫu hạm và 7 tàu ngầm.

Quân đội Brazil

11. Thổ Nhĩ Kỳ

Các nhà phân tích quân sự cho biết Thổ Nhĩ Kỳ là một cường quốc quân sự đang lên. Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) được xếp trong top 10 trên thế giới. Với  1,500 máy bay quân sự, 15 tàu ngầm. Ngoài ra Thổ Nhĩ Kỳ là một trong 5 quốc gia thành viên NATO tiếp nhận vũ khí hạch nhân của Mỹ như một phần của thỏa thuận chia sẻ kỹ thuật quân sự.

Thổ Nhĩ Kỳ khá hào phóng trong chi tiêu quốc phòng với 2.1% GDP (khoảng $16 tỉ đô).

Điểm đặc biệt của Thổ Nhĩ Kỳ là giao du kiểu “hắc bạch lưỡng diện” nên thường được sử dụng làm quốc gia đàm phán giữa các thế lực đối đầu trên thế giới.

Lính Thổ Nhĩ Kỳ thực tập tải thương

10. Ý

Ý cũng nằm trong top 10 những quốc gia có “số má” về quân sự. Hiện nay Ý đang nướng cho quốc phòng mỗi năm khoảng 31 tỉ đô la, tương đương 1.5%GDP.

Diện tích nước Ý tương đương Việt Nam nhưng dân số chỉ bằng khoảng phân nửa. Quân số của Ý khá mỏng, hiện dịch khoảng 150,000 quân, dự bị khoảng 20,000, tuy nhiên khi cấp bách, Ý có thể quơ thêm 13 triệu.

Ý đang sở hữu trên 1,200 máy bay chiến đấu, trên 200 tàu chiến, 8 tàu ngầm, 2 hàng không mẫu hạm.

Các xạ thủ Ý tại thao trường

Chú Tư Cầu

vandoanviet.wordpress.com

Lê Xuyên

Post on 27 Sep 2018

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Văn Học Miền Nam 54-75 – Lê Xuyên

Kỳ 4

Lời tựa

Hiện tượng của truyện dài viết từng đoạn, đăng từng kỳ nơi trang trong các nhật báo, như chúng ta đang thấy lan rộnq thành một lan rộng bao trùm toàn diện, đẩy hầu hết những cây bút sáng tác chuyên nghiệp hiện nay tới kiếm tìm một văn thể mới, áp dụng một bút pháp mới. Kỹ thuật được mệnh danh là kỹ thuật viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày, ở mỗi người viết, phơi bày thành một phong cách biểu hiện khác nhau, nhưng mục đích muốn tới và dụng tâm cuối cùng thì giản đơn và sáng rõ là một.
Đó là: tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn, nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện, là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã đầy đặc những tình tiết bốc cháy từ những dòng mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang vòm trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Bằng những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về thì quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một sáo trộn đóng khung trong một cảnh trí này, ném bỗng sáo trộn ấy vào một cảnh trí hoàn toàn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư, nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn sảo thuật hâm nóng cảm giác, làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoản ấy, đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh, bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thức thực hiện phim ảnh. Nói chung, đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quan ta.
Ở ngòi bút Lê Xuyên và tiểu thuyết Lê Xuyên, vì cũng viết ra trước hết cho báo hàng ngày, chúng ta cũng thấy thấp thoáng sự nhập nội vào văn thể những kỹ thuật ấy. Nhưng Lê Xuyên không chỉ giới hạn khả năng trước tác của mình vào xử dụng kỹ thuật tiểu sảo. Và tiểu thuyết Lê Xuyên thật đông người đọc, tất còn phải chứa đựng, một sắc thái độc đáo nào? Câu trả lời là có. Đó là không khí, cảnh trí, những khuôn mặt điển hình, những cuộc đời đặc biệt những danh từ địa phương, cùng lối miêu tả sự việc bằng đối thoại cực kỳ linh động chỉ thấy ở tiểu thuyết Lê Xuyên.
Không khí, bầu trời của văn truyện Lê Xuyên là một không khí rất nước Việt miền Nam, một bầu trời rất miền Nam thôn dã. Đang nắng lửa chói chang, chợt đã mưa rào đột ngột. Phút trước trời còn ngọc thạch, phút sau đã sầm tối mây đen. Kinh rạch chằng chịt, ngòi rạch lang thang. Trong ẩm ướt nhiệt đời, lúa mạ tốt tươi trùm lan thành nườm nượp mùa màng. Trời, đất, cỏ, hoa nồng cháy một hiện tượng giao tình thường trực. Không khí có sấm chớp trên kia và đời sống dưới này là rạo rực hình hài, là thần kinh bốc lửa. Như Cửu Long nước đầy, thiên nhiên và địa hình miền Nam đã là những phát hiện tự nhiên chan hòa sức sống. Bằng những liên hệ biện chứng với ngoại giới, người và đời sống của người, bởi vậy cũng đồng dáng với thiên nhiên và đồng tính với địa hình. Người đọc đã hiểu tại sao là nhân vật và nhưng diễn biến tiểu thuyết Lê Xuyên thật hiếm ít những dấu tích và những đặc thù của văn minh phường phố. Tư Cầu có thể một bữa kia ra tỉnh. Đi coi hát bóng, vào phònq trà. Nhưng nguồn gốc, lẽ phải, hạnh phúc và cái làm nên thế quân bình cho đời sống Tư Cầu và những người đàn bà trở thành đối tượng cho bản năng Tư Cầu bốc cháy là giữa cái lồng Iộng phơi phới đó của trời là màn, chiếu là đất, cỏ cây bằng hữu và trăng sao tình nhân. Thôn dã miền nam trong tiểu thuyết Lê Xuyên không rối rắm những phong tục lâu đời, chồng chất những tập quán cố định. Như ta thấy ở Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc hay ở những tiểu thuyết thôn quê, tiểu thuyết phong tục tiền chiến của Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài. Đó là một thôn dã mộc mạc hơn, còn đằm thắm cái đằm thắm ngu ngơ của sơ khai và tiền sử tính. Nước chảy khônq ngăn giòng. Cỏ mọc trăm bãi bờ. Đó là cái trạng thái tự do của tạo vật. Người sống như tung tăng cá lượn, rất hoang cái hoang của con ngựa hồng không yên cương. Đó là cái trạng thái tự do của con người, mặc dầu la một tự do thấp và vô thức. Nhân vật tiểu thuyết của Lê Xuyên không chạy theo sức xô đẩy của tâm hồn, bởi vì không nâng đời sống tới những rung động tâm hồn, mà ném mình vào những vở và tự nhiên của thú tính. Tôi nhắc lại: đó là một phong cách sống tự do, tuy thấp và vô thức, nhưng không phải không lần lên thành những vết đẹp riêng.
Nhiều người cho rằng, truyện Lê Xuyên hay nhất ở những phần đối thoại. Đối thoại có chuyên chở sự việc, có phân tích tâm lý, nghỉa là có thuật có tả ở trong. Nhận xét trên đúng, và cũng dễ hiểu. Ngôn ngữ tiểu thuyết Lê Xuyên là thứ ngôn ngữ nói chuyện không biến hình bằng những chỉnh bút pháp cho chuốt lọc hay văn hoa bay bướm hơn, cho nên cái khó nhất của nghệ thuật viết chuyện là đối thoại thì Lê Xuyên lại thành công tốt đẹp nhất ở đó.
Đề tựa Chú Tư Cầu, tôi không bảo đây là một tác phẩm nghệ thuật. Đăng từng kỳ trên báo hằng ngày rồi mới được in thành sách, chưa một sáng tác nào của chúng ta xứng đáng với ý nghĩa và thực chất phải có của một tác phẩm nghệ thuật. Ý nghĩ sau cùng của tôi về Lê Xuyên: Anh là một cây bút viết truyện có thật nhiều khả năng đáng quý, và rồi Lê Xuyên sẽ là người nhận thức và phát huy được rực rở những khả năng đáng quý ấy của mình trong những sáng tác được cô đọng lại, có một chủ đề nhất định, một bố cục vững vàng và châu đáo hơn.
Thế giới tiểu thuyết chúng ta hiện nay là một căn phòng bưng bít tức thở. Người viết truyện sống tập trung trong thành phố, chỉ viết về thành phố. Hè đường, mặt nhựa, cột điện, phòng trà, vũ trường, bin-đinh, gái điếm, khách chơi, quần ống tủm và đợt sống mới xếp chồng lên nhau trong những nội dung tiểu thuyết ngột ngạt đồng dáng. Phải phá vở sự giam nhốt choáng váng ấy. Phải đẩy ngòi bút vào những hành trình cần thiết tới những chân trời mới. Phải mở những cánh cửa khác vào đời, cho bắt gặp nhữnq hình thái sinh hoạt thiên hình vạn trạng đang diễn ra không chỉ ở nơi có lửa điện và nhà chọc trời, mà còn ở những vùng có ánh sáng của trăng sao chiếu soi xuống mênh mông ruộng đồng thôn xóm quê hương đất nước chúng ta. Tiểu thuyết ta hiện đang thiếu vắng, nhiều hơn bao giờ, những chủ đề phản chiến và làm sống lại những thực tế phong phú mới lạ khác biệt hẳn với thực tế cảnh trí phường phố.
Thôn dã và đời sống, con người thôn dã cùng những vấn đề, những thực tế, những khát vọng, những vươn tới của con người thôn dã, phải được đặt thành chủ đề sáng tác chính yếu. Tôi nghĩ những người “có thôn quê trong tâm hồn” Lê Xuyên có đủ điều kiện tạo dựng những vòm trời mới bên cạnh vòm trời phường phố đang ngột ngạt phủ trùm lên thế giới tiểu thuyết chúng ta hiện nay.

MAI THẢO

Phần 2.

Từ Cầu lấy chiếc đũa bếp xơ lại nồi cơm, rồi đặt chén mắm chưng trở lại trên mặt lớp cơm, xong xuôi, nó lấy nắp vung đậy lại. Đôi mắt của anh ta cay xè: hôm qua anh ta mắc vô trong nhà để qua bên con Phấn nên bỏ phế ba mớ củi phơi sương suốt đêm, đến chừng sáng nay đem vô chụm khói bay mịt mù…

Với lại suốt trong đêm rồi, sau khi bàn tính với con Phấn một lần chót về chuyện trốn đi vào ngày hôm nay, Tư Cầu về thao thức suốt đêm cho tới khi nghe con gà nòi điều phạch phạch vỗ cánh gáy vang rân ở sau chái hè…

Tư Cầu lấy một nhánh củi cào bớt than ra…

Vừa lúc đó, anh ta nghe tiếng sột soạt phía ngoài sân và liền theo đó là tiếng Phấn hỏi dồn tới:

– Anh Tư, anh thức chưa anh?

Tư Cầu vội chạy ra:

– Dữ hông, sao đến chừng nầy mới lội ra hả?

– Hổng có trễ đâu mà anh lo!… Sao sẵn sàng hết rồi chớ?

– Cái gì đâu mà sẵn sàng! Còn em, mọi việc ở trong êm ru hết hả?

– Nếu có trục trặc thì đã hổng ra đây được!

Nói đoạn, cô ta cầm tay Tư Cầu dắt vô chòi.

Vào đến nơi, Tư Cầu đứng nhìn Phấn không nháy mắt: hôm nay, Phấn mặc quần lãnh đen, áo bà ba vải bông và vắt trên cổ một chiếc khăn bàn lông màu hường lợt mới tinh… Mới đây mà Phấn coi khác hẳn, và khác nhiều cái thời kỳ còn chăn vịt trong chòi.

Đoạn Tư Cầu nhìn đến cái bao giấy nhựt trình mà con Phấn ôm nơi tay. Thấy thế, Phấn nói:

– Gói quần áo đó! Em chỉ đem theo vài bộ mới thôi chớ lấy hết theo kình càng lắm! Còn anh có xách theo cái gì hông?

Tư Cầu chỉ vào một “cuộn” quần áo lớn bằng đầu gối bó chặt bằng dây lạt dừa.

– Có nội bấy nhiêu đó!

– Anh gói gì mà đen một cục đó hả?

– Bộ quần áo vẫn thường mặc trong nầy đó mà.

– Ối thôi, anh liệng mẹ nó đi cho rồi! Lên trển đâu có xài thứ đó được. Nội bộ đồ phèn anh đang mặc cũng tệ mạt rệp rồi.

Tư Cầu tiếc rẻ:

– Thì mình cũng đem theo hờ hờ nó vậy, để rồi sau nầy chừng nào mình muốn quăng đi thì quăng chớ có khó gì!

Phấn gạt ngang:

– Thôi đi anh ơi, anh làm ơn bỏ nó lợi cho em. Em tính lên đến chợ còn kiếm mua một vài bộ quần áo khác cho anh nữa, chớ bộ anh đang bận cũng bạc thích bạc phếch, vác nó lên Sài gòn thiên hạ họ cười cho thúi óc!

Tư Cầu chép miệng:

– Cái điệu nầy ở trển cái gì cũng tốn hao quá cỡ! Chớ phải ở dưới nầy, bộ đồ đó xài ít ra cũng được bảy tám tháng nữa chớ chẳng phải chơi. Mà anh nghe nói ở trển người ta ít bận đồ đen lắm phải không em?

Nghe Tư Cầu muốn hỏi tầm ruồng, Phấn sốt ruột hối anh ta:

– Thôi đi, để lên trển rồi hãy biết… Anh thổi tắt đèn đi rồi mình dông cho sớm chớ!

Tư Cầu hấp tấp níu Phấn lại:

– Khoan đã! Để chờ anh dở cơm đem theo ăn dọc đường chớ hông thôi chết đói còn gì!

Phấn bực mình dậm chân chắc lưỡi:

– Ối thôi đi, từ đây lội qua lộ xe có xa xói gì mà anh phải bọc cơm theo như là đi ăn cấy vậy!

– Nhưng còn lên Trà-ôn hay đi xe dọc đường thì sao?

– Thôi đi ông nội ! Anh thiệt nhà quê nhà vườn dốt mít đặc… lên trển tiệm cơm, tiệm cháo thiếu gì hay là mình mua bậy một ổ bánh mì với măm cắc đường cát ăn đỡ cũng được, mà lại gọn bân.

– Nhưng anh lỡ nấu cơm hồi khuya rồi bỏ lợi lòi chết! Với có món mắm chưng nữa… Em nán đợi anh một chút để anh dở mang theo chớ bỏ uổng lắm… Nghe nói lên trên Saigon người i ta ăn đồ tây đồ tàu không hè. Như vậy biết chẳng nào mình mới nếm lại được món mắm chưng nầy nữa!

Nghe Tư Cầu than thở như vậy, Phấn cùng không nở làm gắt:

– Thôi cũng được! Anh vô gói mau mau đi, mà cái món mắm chưng đó, anh liệu làm sao cho vén khéo chớ để nó đổ ra dính quần áo hôi rình đó nghen!

Tư Cầu vội vả chạy vô bếp dở cơm ra gói trong tấm lá chuối xanh, đoạn để vào trong một cái mo cau cùng với chén mắm. Xong xuôi anh ta xách chạy ra.

Phấn tay ôm gói quần áo chực sẵn ngoài sàn chòi:

– Sao xong hết rồi hén!

Tư Cầu dợm trả lời nhưng rồi lại nín thinh, đứng khựng lại.

Phấn cau mày hỏi lớn:

– Cái gì đó nữa hả?

Tư Cầu lắp bắp nói

– Anh tính để di thăm qua bầy vịt và con trâu rồi hãy đi…

– Trời đất quỷ thần ơi! Vịt trâu gì cũng thây kệ mẹ nó anh cứ cà rà hoài thì đến trưa mới đi được ! Vậy mà hồi nãy làm bộ kêu là ra trễ, ra muộn!

Thấy Tư Cầu cứ dùng dằng không chịu đi, Phấn nhún vai lắc đầu thở dài:

– Thôi anh muốn đi thăm cái gì đó thi làm ơn đi cho mau đi! Anh thiệt hết nước… Bị lỡ tính trốn với anh nên phải ráng chịu, chớ anh cứ cái mửng đó hoài thì có ngày cũng xọc dưa ráo trọi…

Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng dựng mo cơm bên cột chòi rồi chạy đi thăm sơ qua bầy vịt.

Thấy anh ta tới, bầy vịt tưởng đâu được cho ăn nên kêu cạc cạc vang ràn. Tư Cầu lính quýnh ngó tớ ngó lui một hồi rồi bỏ chạy qua bên con trâu Sấm.

Thấy con trâu vừa khịt khịt mũi vừa ve vẩy đôi tai, Tư Cầu quặn đau trong ruột. Anh ta chạy đến mở niệt buộc con Sấm ra, rồi vừa vổ vào cổ con trâu vừa nghẹn ngào than thở:

– Thôi mầy ở lại nghen Sấm! Tao mở hết giày buộc mầy ra đó, mơi sáng mầy có đói bụng thì liệu mà lội đi kiếm ăn…

Hai đứa nó vừa bước chân lên bờ mẩu để băng qua đồng hướng về phía lộ xe dưới La-Ghì lên thì nghe có tiếng ai chống xuồng ào ào phía bàu nước.

Phấn vội níu lấy tay Tư Cầu ngồi thụp xuống và kề tai anh ta hỏi nhỏ:

– Anh coi ai chống sồng ra đó?… Cái điều nầy sợ ở trỏng hay rượt theo tụi mình thì kể như… lúa hểt cả đám!

Tư Cầu hồi hộp nghểnh cổ lên nhìn về phía người chống xuồng và nó thở phào một cái rồi vui vẻ nói:

– Hổng sao đâu em ơi, cái thằng cha Sáu Giò nó đi gở câu đó mà!

– Vậy hả? Thiệt hai hú hồn hú vía… Nhưng mình cũng để cho nó mất dạng rồi hãy đứng dậy đi, chớ để nó thấy được thì phen này chỉ có nước… cạo đầu đi tu!

Tư Cầu lặng thinh ngoái cổ canh chừng cho xuồng câu đi khuất rồi khều Phấn:

– Bây giờ đi được rồi em à.

Hai đứa nó lại đứng dậy tiếp tục đi. Phấn ôm gói đồ dẫn tưuớc, còn Tư Cầu xách mo cơm lúc thúc theo sau… Và hai đứa nó cấm cổ rảo bước bước không trò chuyện gì hết, tuy mỗi người đều theo đuổi trong đầu những ý nghĩ riêng tư…

… Đên chừng thấy lố dạng hàng cây còng dọc theo bai bên bờ lộ xe thì trời đã sáng bét.

Tư Cầu chỉ về phía cây rơm chất bên bìa vườn cau ừ trước mặt rồi bảo Phấn:

– Hay mình vô đó lật cơm ra ăn lót dạ rồi hãy ra lộ xe nghen em!

Phấn định không nghe theo. Nhưng khi nhìn đến mo cơm tòn ten dưới tay Tư Cầu cô ta bèn đổi ý gật đầu :

– Anh tính vậy cũng được… Phải rồi, mình ăn phứt rồi liệng mo cơm nầy cho rồi chớ đem nó theo len xe coi hổng được!

Tư Cầu muốn mở miệng hỏi lại Phấn lại vi sao “coi hổng được” nhưng lại thôi, rồi rảo bước về phía cây rơm.

Đến nơi Tư Cầu chọn chỗ khuất ánh nắng chiếu, ngồi xuống mở banh mo cơm ra lấy chén mắm lóc chưng đặt ra một bên. Đoạn anh ta chạy đi bẻ một nhánh tre nhỏ để làm hai đôi đũa tạm.

Xong xuôi anh ta phủi tay và mời Phấn:

– Em ngồi xuống ăn bậy bạ hột chớ hông thôi lát đói nữa chết!

Thấy Phần còn đứng xớ rớ như muốn tìm chỗ ngồi anh ta lại chạy đi bẻ một ngọn lá chuối đem trải xuống cỏ rồi bảo:

– Em ngồi xuống đó hông thôi lấm quần hết.

Phấn thò lay rút xuống một chiếc guốc sơn mài dắt kèm sau sợi dây buộc gói đồ đem đặt trên tâu lá rồi rón rén ngồi xuống.

Cô ta nhìn mo cơm, chén mắm rồi nói:

– Thôi anh ăn một mình đi, em hổng đói…

– Coi, em phải ráng ăn dằn bụng ba hột chớ mình đi xe thi còn lâu mới tới chợ, như vậy đói rả ruột chớ phải chơi sao… Ở dưới nầy mình quen ăn cơm đi mần sớm, em nhịn, chịu sao được!

Thấy Tư Cầu nài ép như vậy. Phấn cũng tội nghiệp nên nói:

– Thôi được, để em ăn với anh cho có bạn!

Tư Cầu vội lấy hai cọng tre đưa cho Phấn:

– Em cầm đở cái nầy để gấp mắm ăn.

Phấn miễn cưỡng cầm lấy gấp chút xíu mắm chưng, đưa tay nhóm lấy chút cơm bỏ vô miệng nhai chẩm rải.

Trong lúc đó, Tư Cầu vừa bốc cơm vừa gấp mắm ăn ngon lành… Thỉh thoảng anh ta ngước lên giục Phấn ăn thêm, và cô chỉ gật đầu mỉm cười và ăn cầm chừng vậy thôi…

… Tư Cầu buông đôi cọng tre xuống, lấy tay quẹt miệng, rồi vừa xô mo cơm lại gần bên Phấn vừa bảo:

– Còn một chút, em vét hết đi kẻo tội!

Phấn lắc đầu:

– Em nuốt hết vô, thôi anh ráng ăn cho hết đi, nếu không thi bỏ đại lợi đó chớ gì!

Tư Cầu tiếc rẻ nhìn mo cơm, chén mắm rồi tẩn-mẩn đi gói lại đem nhét vô đóng rơm..

Phấn thấy vậy lên tiếng hỏi:

– Anh mần gì vày hả anh Tư?

– Ờ… anh đem nhét vô đây để có ai qua… muốn ăn thì lấy ăn…

– Ối anh sao lo chuyện bá vơ hoài, ai đâu mà đi ăn dọc đường dọc xá hổng biết!

– Ậy, mình ăn hổng hết thì để cho người khác họ ăn… Thiệt lừ cha sanh mẹ đẻ tới bầy giờ, hổng có lần nào anh đem đi quăng gần một chén mắm chưng ngon lành như thế nầy!

Phấn xí nhột tiếng đứng lên, nhét chiếc guốc vô chỗ cũ rồi hối nó:

– Thôi mình đi lên lộ để đón xe, chớ cà rà mãi ở đây để nó chạy huốt đợi chuyến sau lâu lắm!

Tư Cầu bẻ một cọng tre xỉa răng rồi vừa vung vai vừa nói:

– Bây giờ no bụng rồi… muốn đi đâu thì đi!

Rồi anh ta ngó quanh ngó quất:

– Cha, hông có chỗ nào có nước làm bậy vài ngụm thì đã quá!

Phấn chạy lại lôi anh ta đi:

– Thôi đi tía, để chút nữa lên trên rồi tía muốn uống năm ba lô nước trà huế gì đó uống ! Đi mau đi hông thôi trễ hết bây giờ…

… Hai đứa nó vừa ra gần tới lộ cái thì chiếc xe đò dưới La-Ghì lên cũng vừa chay trờ tới.

Anh lơ trên xe thấy có người ôm gói nên dơ tay kêu lớn:

– Đi Trà Ôn hông cô Hai?

Tư Cầu thấy xe chạy ầm ầm tớii rồi có người chỉ tay về phía anh ta la hét nên vội ngồi thụp xuống dưới lên bờ mẩu.

Phấn tức mình vừa lôi nó lên vừa tưa tay ngoắt xe lại.

Chiếc xe còn lê xa lộ mười thước rồi mới ngừng hẳn.

Phấn vừa rảo bước vừa cằn nhằn Tư Cầu:

– Anh mần gì kỳ cục vậy! Xe nó mời khách chớ bộ nó ăn thịt ăn cá gì anh sao anh lại trốn hả?

Tư Cầu xẻn lẻn đáp:

– Vậy hả!… Thuở giờ anh có đi xe đi cộ gì đâu mà biết. Vậy mà anh tưởng nó chỉ chỏ tính bắt tụi mình chớ!

– Hổng biết thì coi theo em mà bắt chước, chớ anh làm cái điệu đó thiên hạ họ cũng sanh nghi thêm. Tư Cầu vừa bước lẹ lẹ vừa cúi mình xuống với tay gỡ đám cỏ gay may mắc dính trên ống quần từ đầu gối trở xuống mà ban nãy vì ngồi thụp xuống một bên bờ mẩu nên không để ý.

Phấn liếc mắt thấy vậy véo nó một cái đau điếng:

– Để chút nữa lên xe rồi gỡ hông được sao!

Tư Cầu giựt mình bỏ vội ống quần xuống rồi chạy lúp xúp theo Phấn.

Đến nơi, anh lơ đã mở sẵn cửa xe ở hàng băng thứ nhì và đứng đợi một bên:

– Cô Hai đi Trà Ôn hả cô Hai? Đây có chổ ở trước này tốt lắm!… Cô có hành lý gì hông cô Hai?

Phấn vừa xăng xái bước lên xe vừa đáp:

– Tui chỉ có gói nầy đem theo mình đây thôi.

Cô ta vừa bước lên xe thì anh lơ đã đóng cửa xe lại cái rầm rồi hô “chạy”.

Phấn vội kêu giựt ngược:

– Khoan đã! Còn một người đi nữa nghen!

Anh lơ lại vội hô lớn lên Tốp! Tốp! Rồi anh ta quay qua hỏi Phấn:

– Bộ cái anh đừng lớ ngớ đó cũng có đi nữa sao?

Phấn quắt mắt nhìn nó:

– Bộ anh hổng cho đi sao?

– Đâu phải vậy… nhưng ảnh chẳng nói năng gì hết ai biết…

Anh lơ nói xuôi theo vừa nhảy xuồng ngoắt Tư Cầu lại.

Tư Cầu chạy lới đứng thở hổn hển lóng ngóng nhìn lên xe kiếm Phấn.

Anh lơ vừa chạy lại mở cửa phía băng sau và kêu Tư Cầu:

– Lại đây nè anh Tư.

Anh lơ vội chạy lại vừa nhìn bộ quần áo mốc thích của Tư Cầu vừa nói:

– Cô Hai để ảnh ngồi băng sau với tui hổng được sao cô Hai?

Phấn sẵng giọng đáp:

– Để ảnh ngồi đây với tui!… Anh tui đó mà!

– Vậy hả… cô hổng nói trước ai biết đâu!

Anh lơ vói tay mở cửa băng trước cho Tư Cầu leo lên, nhưng vẫn ngó chăm bẳm anh ta với đôi mắt đầy hoài nghi… Rồi anh ta nhún vai, đóng rầm cửa lại và vừa đeo tòn ten bên hông xe vừa hướng về phía sớp phơ la lớn “chạy”…

Chiếc xe đò lại cà rịch cà tang tiếp tục cuộc hành trình…

Hành khách ngồi trên xe chứng kiến cảnh “lộn sộn” ban nãy nên đầu ngoái cổ nhìn cặp Tư Cầu.

Phấn thì ngồi thản nhiên như không, ngó thẳng về phía trước, còn Tư Cầu mắc cở lúng túng cúi gầm mắt xuồng gỡ đám cỏ may còn dính cứng trên hai ống quần…

Chiếc xe được trớn mổi lúc càng chạy mau thêm.

Đầy là lần đầu tiên Tư Cầu mới được dịp đi xe hơi.

Gió tạt ù-ù làm cho nó lùng bùng hai lỗ tai. Nhưng xe chạy được mười cây số thì tiếng giỏ ù-ù ấy hoà lẫn với tiếng máy xe nổ đều đều làm cho anh ta thấy buồn ngủ, nhướng mắt hết nổi và phải gục lên gục xuống mấy lần.

Và mỗi lần anh ta sắp sửa ngoẻo cố qua một bên là Phấn lấy cùi chỏ thúc vô hông anh ta một cái làm cho anh ta giựt mình mở choàng mắt ra.

Lối gần 11 giờ thì xe lên đến chợ Trà-ôn.

Như đã sắp đặt sẵn đâu ở trên xe, liền khi bước xuống đất là Phấn dẫn Tư Cầu đến thẳng tiệm hót tóc.

Đời nào tới giờ Tư Cầu quen hớt lóc theo lối vườn: ở trần trời ngồi trên ghế đầu để hớt với cái tong-đơ lục nhách, với con dao cạo cùn mằn, và ít lắm là ba tháng mới hớt một lần nên lúc thường phủ ót dày bịt.

Phấn nhét vào tay anh ta cái giấy năm đồng:

– Đây nè, anh cầm tiền vô hớt tóc đi để em qua chợ lo sắm sửa một vài bộ quần áo cho anh.

Tư Cầu lựng khựng đứng lại hỏi:

– Em đi nhớ trở lại đây mau mau nghen!

– Ừ mà nếu anh có rồi trước cũng ngồi đó đợi chờ đừng có đi đâu bậy bạ nghen!

– Ừ mà hổng biết ở đây họ hớt cái đầu ăn bao nhiêu tiền bả em?

– Ối, ai biết đâu mà anh hỏi! Thì chút nữa hớt rồi hỏi người ta… mà thế nào cũng mắc hơn ở dưới minh đó nghen ! Thôi đi vô hớt cho mau đi!

Tư Cầu xớ rớ đi vô tiệm.

Một anh thợ đã chực sẵn, thấy khách vô vội lấy tấm khăn choàng phủi phạch phạch lên trên chiếc ghế trống và nói:

– Ngồi đây cậu Hai!

Tư Cầu ấp úng:

– Dạ tui… hớt tóc!

Anh thợ nhìn cái đầu chùm bum của anh ta mĩm cười, dơ tay chỉ lên ghế:

– Mời cậu Hai ngồi vô!

Tư Cầu rón rén ngồi lên mép cái ghế có nệm êm, có lưng dựa và tay lựa đàng hoàng, và ngồi cứng đừ giữ lưng thẳng băng.

Anh thợ sẽ kéo nó xích vô và choàng khăn vào.

– Cậu Hai hớt kiểu nào? đờ thi cua, ma-ninh, hay ca-rê?

Tư Cầu lúng túng không biết trả lời làm sao nên đành nói đại:

– Chú hớt như kiểu cũ.

– Dạ, bị đầu cậu tóc ra bùm xùm quá mất hết cái chớn cũ nên tôi hổng phân biệt nó ra kiểu nào hết…

– Vậy hả… À, mà hớt chải cũng được đó chú!

– Được rồi, hớt chải… nhưng cao hay thấp?

Tư Cầu nghĩ bụng ở trên nầy sao hớt lóc mà cũng rắc rối quái, ở dưới vườn hể leo lên ghế là anh thợ rút tong-đơ đẩy liền… không biết phải hớt cao thấp như thế nào nên nên cậu trả lời phóng chừng:

– Chú hớt cho… vừa vừa cũng được…

Anh thợ đoán sơ cũng hiểu được người khách hàng mình mới ở dưới vườn lên nên không hỏi thêm nữa và bắt tay vào việc.

Tư Cầu ngồi ngó châm bẩm vô tấm kiểng lớn đằng trước mặt để coi anh thợ hớt làm gì.

Anh thợ lấy bông phấn chậm chậm nơi mặt và xung quanh rìa tóc làm cho Tư Cầu thấy nhột nhột và mùi phấn bay thơm phức. Anh ta nghĩ bụng: cái điệu nầy mà lau không sạch, lát nữa ra đường mặt mày quằng quện hết… Rồi cái tong-đơ hớt tóc êm rơ chớ không phải vừa kêu kéo két vừa giựt tóc như thứ xài ở dưới vườn…

Chưa gì mà một đống tóc đen nghịt, lớp mắc trên khăn choàng, lớp rơi đầy dưới đất.

Đến chừng tỉa tóc, anh thợ lại hỏi:

– Cỏ để ngọn hông cậu Hai?

Tư Cầu lắp bắp nói:

-… Sao cũng được.

Anh thợ đưa kéo xởn luôn xuống một mớ tóc ngọn nữa.

Đến chừng cạo. Tư Cầu ngạc nhiên và thích thú khi nhận thấy con dao cạo trên nầy sao bén và đến lúc anh thợ kéo cho anh ta nằm ngửa ra ghế để cạo mặt, anh ta càng lấy làm lạ : ở vườn quen ngồi khom lưng trên ghế đẩu chớ đâu có được dựa bật ngửa một cách… êm ru như thế nầy… và anh thợ cạo mặt, cạo vành lỗ lai thật khoái khiến Tư Cầu lim dim ngủ…

… Anh thợ vừa đỡ anh ta lên vừa hạ cái miếng dựa cổ xuống nghe cái “rẹt” làm anh la giựt mình mở choàng mắt ra, và tưởng là hớt xong rồi nên nhỏm người đứng dậy. Anh thợ nhẹ tay giữ anh ta lại, và vò chút xíu dầu thơm trên tóc rồi lấy bình nước bơm xịt tứ tung lên tóc lên mặt Tư Cầu làm anh ta thấy nhột nhột… mùi dầu thơm rẻ tiền bay hăng hăng và Tư cầu nghĩ thầm: chắc thứ nầy mình nghe thiên hạ thường kêu là “nước đái xẩm” đây mà! Và tự nhiên anh ta mĩm cười…

– Chải bảy ba, hay năm năm hả cậu Hai?

Nghe anh thợ hớt tóc hỏi bất tử như vậy. Tư Cầu giựt mình và không biết phải trả lời làm sao. Túng quá. anh ta nói đại:

– Thì chú liệu chải làm sao coi… cho được đó thì chải!

Từ hồi nào tới giờ, nghĩa là lừ hồi còn cạo trọc để chôm mỏ ác, qua thời kỳ hớt ca-rê cho đến khi để chải, anh ta cũng chẳng để ỷ chải bảy ba, năm năm gì đâu mà biết để trả lời cho anh thợ hớt tóc! Hồi còn ở nhà mỗi lần nhảy xuống rạch tắm xong là anh ta chỉ ngữa đầu xuống nước để “xước lông gà”, rồi lấy hai tay vuốt vuốt tóc cho ráo… thế là xong, chớ có rờ mó tới cây lượt hay săm soi trước mặt kiếng để lấy “đường” trên tóc đâu!

Phần anh thợ hớt tóc nghe anh ta nói vậy mĩm cười rồi chải bảy ba đại.

Xong xuôi, anh thợ lấy bàn chải quào quào vài cái trên cổ, trên mép tai của Tư Cầu, rồi tháo khăn choàng ra phủi phành phạch lên trên quần áo anh ta và nói:

– Xong rồi đó cậu! Cậu coi tui o bế cái đầu cậu kỳ này bảnh tỏn lắm đa nghen!

Nghe nói vậy, Tư Cầu ngó lên mặt kiếng ngoẻo đầu qua lại để ngắm nghía rồi nói:

– Ừ… coi bộ cao ráo và nhẹ nhỏm lắm!… Chú lấy bao nhiêu vậy chú?

– Dạ có ba đồng thôi cậu à!

Tư cầu chưng hửng:

– Ý lấy gì mà lấy cao vậy chú?… Dưới tui người ta ăn có đồng rưỡi hè!

Anh thợ vẫn cười ngọt ngào nói:

– Hổng ai ăn mắc đâu cậu à! Trên nầy tụi tui hớt đàng hoàng và xài toàn đồ tốt nên hớt êm rơ… đó cậu coi !

Tư Cầu nghe anh thợ nói vậy cũng xuôi tai nên móc tờ giấy năm đồng của Phấn trao cho hồi nãy đưa ra :

– Đây, chú thối lại tui hai đồng đi!

Lấy hai đồng bạc bỏ vô túi rồi, Tư Cầu bèn đi ra đằng trước tiệm đứng chờ Phấn trở lại.

Thấy anh ta đứng lóng ngóng, anh thợ hớt tóc bèn lên tiếng:

– Cậu có đợi ai thì vô trong này ngồi nghỉ chưn chờ hơi sức đâu mà đứng hoài vậy!

Tư Cầu lủi thủi đi vô.

Anh thợ hớt tóc chỉ mấy cái ghế đặt dựa theo vách rồi nói:

– Cậu ngồi đó chơi ! Có tờ nhựt trình mới cậu cầm đọc cho đỡ buồn… À mà có cái tin “ăn cắp năm lượng vàng cuốn gói theo trai” ở dưới Giá-Rai Bạc-Liêu đó hay quá cậu à!

Tư Cầu giựt mình quơ lấy tờ bảo, miệng hỏi dồn:

– Đâu ? Cái tin đó đăngg ở chổ nào chứ?

Anh thợ ghé đầu vào và lấy ngón tay chỉ trên tờ báo:

– Đây nè ! Cái tin đăng lớn bằng chiếc chiếu bông đó bộ cậu hổng thấy sao?

Rồi anh lại chép miệng than:

– Thiệt con gái đời này quá sức!… Mà cái thằng nào quơ được con đó kể cũng giỏi chớ phải chơi đâu! Giỏi vậy chớ cũng bị ông cò Bạc-Liêu chốp óc rồi, phen nầy chắc nó ở tù rục xương!

Tư Cầu nghe anh thợ nói một hơi nên càng… rối ruột. Anh ta vội nắm chặt lấy tờ báo, gục sát đầu xuống mặt giấy và lầm thầm đánh vần cái tin… giựt gân ấy!

Tư Cầu đọc còn độ mười hàng nữa thì Phấn đã đến và đứng ở ngoài cửa tiệm kêu vọng vô:

– Anh Tư!

Tư Cầu nghe tiếng Phấn kêu vội ngoái cổ ra đường:

– Đứng đó đợi một chút để anh coi hết cài nầy rồi ra liền!

Phấn tức mình nói lớn:

– Coi sướng hông! Đứng đây đợi anh đè rồi trễ nải hết, rồi làm sao lên Cần-thơ cho kịp trước tối hả?

Nghe Phấn nói vậy Tư Cầu hoảng hốt buông tờ báo xuống, rồi vừa lấm lét liếc xéo anh thợ hớt tóc vừa lấy tay khoát khoát ra hiệu bảo Phấn im.

Phấn ngấc nhiên vì thấy sao bổng nhiên anh ta sanh chứng như vậy, đứng chống nạnh châm bẩm trước cứa để chờ anh ta ra…

… Phấn đã chực sẵn:

– Anh mê cái gì ở trỏng mà tui kêu năm lần bảy lượt anh hổng chịu ra chớ hả?

Tư Cầu níu nó đi cho khuất cửa liệm mới đứng lại ngó dáo dác bốn phía rồi hạ giọng nói:

– Coi chừng nguy tới nơi rôi đa em!

Phấn ngạc nhiên hỏi lại:

– Anh nói cái gì mà nguy tới nơi?

– Anh mới coi nhựt trình trong tiệm hớt tóc đây nè… ở trỏng người la đăng cái vụ cuốn gói theo trai đó !

Phấn cau này:

– Ủa lạ vậy cà! Sao mới đây họ lại biết mình đi trốn mà đăng tin liền… Anh nói sao chờ nhựt trình hai ba ngày mới gởi xuống tới dưới nầy mà!

Tư Cầu vội giảng giải:

– Ậy hổng phải vậy đâu! Anh nói em nghe chưa có kịp… Vụ cuốn gói theo trai là ở dưới Giá-rai đó mà!

Phấn thở phào ra:

– Hèn chi! Cái chuyện xảy ra tít mù ở dưới ăn nhập gì với mình mà anh cũng nói làm em hồn vía lên mây!

Tư Cầu sực nhớ đến hòàn cảnh hiện tại của mình nên đâm ra lo ngang:

– Thiệt anh đọc xong cái tin đó rồi tứ chí bủn rủn hết trọi… không khéo mình vướng cái cảnh đó thì nguy. Em coi chừng cho kỹ nghen, chớ để hai đứa mình mới ló mặt lên Cần Thơ kế bị nắm chóp thì kể như chết một cửa tứ đa em!

Phấn gạt ngang:

– Ối, sao anh cứ lo tầm xàm hoài! Năm thuở mười thì mới có xảy ra một chuyện như vậy chớ bộ ai cũng vậy hết sao?

Tư Cầu nhăn nhó nói:

– Biết đâu mình gặp cáí giờ xui xẻo thì sao ! Mà anh ngán quá em à… hồi đó, anh đã cản em đừng lấy vòng vàng theo mà một hai gì em cũng hổng chịu nghe hết? Cái chuyện đó ở tù thắt họng chớ bộ giởn sao!

Phấn bực mình:

– Cái anh nầy kỳ quà! Bộ bây giờ tinh đổ thừa hả? Người ta đã nó hông sao mà cứ theo cằn nhằn cửi nhửi hoài hè!

Mãi đến bây giờ Phấn mới để ý đến cái đầu mới cúp của Tư Cầu nên đứng khựng lại, ngắm nghía một hồi rồi gật gù khen:

– Ừ họ cúp đầu cho anh, coi được ớn! Phải bây giờ tóc tai cao ráo, mặt mày sáng láng hơn không!… Chớ hồi trước anh để sao u trệ quá mà!

Tư Cầu xẻn lẻn đưa tay vuốt vuốt phía sau ót rồi cười xòa…

Phấn vui vẻ đưa tay níu nó:

– Thùi đi chớ!

– Ừ… mà đi đâu hả em?

– Em dẫn anh xuống mé sông cho anh tắm cái đã!

Tư Cầu ngần ngại:

– Nhưng ở dưới nghe xuồng rầm rầm rồi tắm chỗ nào được hả em?

– Ối thiếu gì chỗ! Anh xuống lấy chỗ bực thạch tắm sướng lắm!

– Ừ, cũng được, chớ hớt tóc rồi hổng tắm xót trong mình ghê!

Rồi Tư Cầu nhìn thấy một cái gói mới nữa dưới tay Phấn nên nó lấy làm lạ hỏi chêm:

– Mới đây mà em mua cái gì ôm kè kè đó?

– À, chút nữa em quên khuấy! Em mới mua cho anh hai bộ quần áo mới đó mà!

– Cha, chưa gì mà em sắm chi tới hai bộ cho tốn hao quá vậy! Bộ quần áo anh đang bận và thêm một bộ mới nữa cũng dư quá rồi…

– Phải rồi, ở dưới vườn mình quanh năm tứ mùa tám tiết gì quết một bộ đồ cũng được nhưng bây giờ mình đi lên trên nầy thì phải có cái thay đổi mới được. Em mua cho anh một bộ bi-ra-ma xọc và một bộ bà ba trắng đó anh à!

Tư Cầu nhăn nhó chắc lưỡi:

– Trời ơi cha sanh mẹ đẻ tới bây giờ có lần nào anh bận bi-ra-ma đâu mà em mua hổng biết! Mà em mua chi đồ trắng bận mau dơ lắm! Phải chi em mua cho anh một bộ bà ba vải ủ đen thì còn được hơn…

Phấn vỗ vè nói:

– Anh sao kỳ quá… con trai mới lớn đứa nào cũng ham ăn diện se-sua, còn anh cái gì anh cũng bác ra bết!… Mà ở trển có lội ruộng lội đồng gì đâu mà anh sợ mặc đồ trắng mau dơ chớ!

Tư cầu buồn bả đáp:

– Thì cũng biết vậy rồi… nhưng bị hồi nào tới giờ mình quen bận quần cụt ở trần trùi trụi, ngồi đâu chà lết đó được, chớ bây giở dếch vô một bộ đồ trắng tinh… bứt rứt lắm em à!

– Biết rồi nó cũng quen chớ gì mà anh lo!

Tư Cầu làm thinh vừa đi vừa ngoái cổ nhìn kẻ mua người bán trong nhà lồng chợ…

… Phấn vói tay kéo kéo vạt áo và ống quần của Tư Cầu lại cho ngay ngắn, suông sẻ đoạn nó hỏi:

– Anh bận có vừa hông ? em mua độ chừng vậy mà coi bộ cũng hổng rộng lắm.

– Rộng thùng thình đây chớ hổng rộng!

– Vừa chớ rộng gì mà rộng kiều áo bi-ra-ma thì nó phải vậy coi mới được.

– Vậy hả ?

– Ý quên nữa dây nè, em mới chạy đi mua cho anh mọt đôi guốc nữa đó. Xuống rửa chưn lại rồi mang vô đi!

Vừa nói Phấn vừa đưa cho nó một đôi guốc vuông buộc tòn ten bằng một sợi ây lác.

Tư Cầu miển cưởng cầm lấy đôi guốc và cằn nhằn nói:

– Em bày đặt mua chi nữa hổng biết!

– Coi ! Ăn bận vầy rồi đi chưn đất cho ma coi hả!

Tư Cầu tháo dầy buộc đôi guốc ra rồi lủi thủi đi xuống mé nước rửa chân.

Xong xuôi anh ta lách-cách đi lên. Đến trước mặt Phấnanh ta thở phào một cái, rồi hỏi xụi lơ :

– Bây giờ đi đâu nữa đây?…

Phấn thấy bộ điệu của anh ta như vậykhông vừa ý, nhưng thản nhiên đáp:

– Đi kiếm ba hột cơm ăn chớ đi dâu nữa bây giờ!

– Ừ đi thì đi…

Tư Cầu lại lủi thủi ôm gói quần áo đi theo Phấn.

Hai đứa nó vừa ngồi yên trên băng xe, thì có thêm một người hành khách nữa bước lên ngồi khít bên Phấn.

Đó là một anh khách trú trạc hai mươi lăm tuổi, mặc áo sơ-mi, quần tây dài, tay xách cặp da căng phồng.

Thấy có người chen bên cạnh, Phấn nhíu mày nhích vô sát bên cạnh Tư Cầu. Cô ta càng bực mình hơn nữa khi thấy anh khách này lại còn ló ra ngoài cửa xí xô xí xào một hồi với một người đứng dưới đất, có lẽ là bà con ra tiễn chân.

Sau khi người nhà đi về rồi, anh khách mới quay nhìn sang Phấn và có vẻ muốn bắt chuyện làm quen.

Anh ta cầm cái nón cối vừa quạt quạt vừa nói bâng quơ:

– Cha, nóng nực quá ! Không biết chừng nào xe mới chịu chạy cho! Phấn ngạc nhiên vì sao anh khách nầy nôi tiếng ta sao sõi quá. Mới hồi nãy đây, ảnh còn tía lia như… chìm tàu kia mà.

Anh khách thấy Phấn có vẻ bớt cau có như lúc đầu nên làm gan ướm thử một câu:

– Dạ, cô Hai đi Cần Thơ?

Phấn làm mặt nghiêm chỉ khẽ gật đầu.

Anh khách như được trớn tươi cười xoay hẳn người về phía Phấn và một tay choàng gác lên đầu băng dựa:

– Nếu như vậy tôi cũng chung đường với cô Hai…

Thấy Phấn vẫn không hé môi, anh ta lại châm thêm một câu nữa:

– Cô Hai đi một mình hay đi với ai?

Phấn bắt buộc phải trả lời, giọng cộc lốc:

– Đi với anh tui đây…

Vừa đáp, Phấn vừa nắm lấy tay Tư Cầu và làm ra vẻ hết sức thân mật hỏi luôn:

– Anh có buồn ngủ hông anh Tư? Nếu anh muốn ngủ, anh dựa lên vai em đây nè…

Đằng này, anh khách nghe thay cái “cảnh” đó, nhíu mày cỏ vẻ hơi bực, rút cánh tay để trên bàng dựa xuống và ngồi lại ngay ngắn…

Còn Tư Cầu nãy giờ ngồi thừ mặt nhớ… đủ thứ hết ở dưới nhà. bỗng nhiên thấy Phấn níu tay và ăn nói… mùi mẫn quá nên anh ta đâm ra mắc cở. Anh ta liếc mau qua hai bên hành khách như để dò xem có ai để ý không, rồi hạ giọng nói:

– Ban ngày ban mặt, thiên hạ tứ giăng như vậy mà em làm gì kỳ quá…

Anh khách nghe lọt được câu ấy (vì tuy ngồi ngay lại chớ anh ta vẫn lóng tai, liếc mắt canh chừng bên phía cô gái) gục gặc đầu mỉm cười… Và anh ta mới soi mói nhìn kỹ Tư Cầu… Anh ta có vẻ suy nghĩ trong vài giây rồi như khám phá ra điều gì anh ta lại cười suýt bật thành tiếng và xoay người trở lại bên phía Phấn, cánh tay lại được gác vào chỗ cũ…

Phấn thấy Tư Cầu ăn nói tréo ngoe như vậy, tức đỏ mặt, nhưng vẫn giữ một giọng ngọt ngào nói tiếp thêm liền để khỏa lấp câu trả lời của Tư Cầu:

– Bộ anh mệt hả anh Tư? Hay là anh chóng mặt ? Đây nè, anh cầm lấy chai dầu Nhị-thiên-đường nầy mà xức cho nó đỡ.

Tư Cầu toan gạt đi nhưng quay lại thấy mặt Phấn hầm hầm, nó ngơ ngác chẳng hiểu gì ráo. Anh vừa định lên tiếng thì thấy Phấn mím chặt môi, quắc mắt nhìn như xoáy vào mắt anh ta và khẽ hất hàm chỉ về phía chai dầu. Tư Cầu vội cầm lấy chai dầu mở nút ra lấy ngón tay trỏ bịt miệng chai chấm lấy dầu đoạn xoa xoa lên mũi và hai bên màng tang, rồi trả chai dầu lại cho Phấn.

– Sao, anh thấy có đỡ bớt chút nào hông anh Tư?

Suýt chút nữa thì Tư Cầu trả lời lại rằng: “Đau ốm gì đâu mà đỡ với bớt” nhưng tốp lại kịp thời và lại nói xui lơ:

– Ờ… coi bộ cũng đỡ bộn…

Bên nầy, sau khi chứng kiến một cách kín đáo cái cảnh đó từ đầu đến cuối anh khách cũng định mở miệng nói châm chích hai đứa nó một vài câu nhưng anh lại thôi và tươi cười đưa tay trái móc túi áo sơ-mi lấy ra cặp kiếng mát, đon đả chìa ra cho Tư Cầu vòng qua trước mình Phấn.

Cô này tò mò liếc xuống nhìn cặp mắt kiếng tròng màu xanh đậm và thấy luôn chiếc đồng hồ đeo tay mạ vàng lấp lánh trên cườm tay của anh khách.

– Đây anh Hai, anh lấy kiềng này mà đeo cho nó khỏi chói mắt. Như vậy cũng đỡ chóng mặt nhức đầu lắm anh à…

Tư Cầu đưa mắt nhìn Phấn để xem ý tứ như thế nào, thì thấy cô nầy lắc đầu nhưng nét mặt đã hết cau có. Anh ta đánh bạo trả lời:

– Cám ơn chú, tui thấy trong mình cũng dễ chịu rồi…

– Vậy hả? Nhưng khi nào anh Hai có cần nói với tôi nghen!

Tư Cầu mỉm cười gật đầu. Anh khách lại cầm lấy nón quạt lia lịa và nói như than một mình:

– Cha! Xe đầy hết mà sao mấy chả không chịu chạy cà! Cái điệu nầy lên Cần Thơ chắc trễ chuyến xe Saigon chiều rồi!

Bên nầy, Phấn nghe như vậy, quay phắt lại hỏi liền :

– Hổng dám nào chú cho tui hỏi thăm một chút…

Anh khách thấy Phấn chịu “mở miệng” mừng rơn và sốt sắng đáp:

– Dạ được mà cô Hai! Cô Hai muốn hỏi thăm chuyện chi?

Phấn ngập ngừng:

– Hồi nãy chú nói trên Cần-Thơ còn có chuyến xe chiều lên Saigon nữa phải hông chú?

Anh khách không trả lời mà hấp tấp hỏi lại:

– Bộ cô Hai cũng tính đi Saigon nữa phải không?

– Dạ phải.

– May quá… nếu vậy thì tôi cũng đi cùng đường rồi. Đi có bạn cũng vui hén cô Hai!

Phấn không biết trả lời sao nên lúng túng “dạ” một tiếng rồi nín thinh. Anh khách nhớ trực lại câu hỏi của Phấn nên vội nói tiếp:

– Chút nữa tôi quên phứt rồi: thường thường trên Cần-Thơ còn có chuyến đi Saigon nữa cô Hai à! Nhưng chiếc xe mình đi đây nó cứ nằm chưa chịu chạy thì tới chừng lên trển chắc trễ hết.

Thấy Phấn có dáng suy nghĩ anh khách lại hỏi thêm:

– Chắc cô Hai cũng bị lỡ chuyến xe đi Saigon dưới nầy như tôi nên mới tính lên Cần-Thơ chớ gì!… Thiệt nhà ai ác ôn, nhè cái ngày mình đi Saigon mà ra bao xe đi rước dâu mới ngặt chớ!

Phấn mỉm cười:

– Tui cũng bị lỡ xe như… chú vậy.

Anh khách do dự một lát rồi lại lên tiếng:

– Tôi hỏi câu nầy cũng hơi… kỳ một chút, chẳng hay cô Hai và anh Hai đây đi lên trên có việc chi?

Phấn hơi luống cuống:

– Dạ, tui với anh Tư đây lên trển… thăm bà con.

– Người bà con đó ở đường nào vậy cô? Tôi hỏi vậy để nếu phải đường tôi biết, tôi chỉ sơ trước cho cô Hai lên trển kiếm dễ hơn.

– Dạ tui nghe nói dì Tám tui bán trái cây trong chợ Cầu-ông-Lãnh…

– Ý trời ơi! Nhà cửa ở trên Saigon mà cô chỉ biết lơ mơ như vậy rủi tìm không ra, bơ vơ không nơi nương tựa… kẹt lắm đó cô Hai! ở trển, người ta đâu có ăn ở thiệt thà như dưới mình!

Phấn cúi đầu có vẻ suy nghĩ, còn Tư Cầu lo âu khi nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người.

Thấy thế, anh khách tìm lời an ủi:

– Tôi nói là nói phòng xa vậy chớ không đến nỗi nào đâu. Nếu cô Hai nói có dì… dì Tám phải không cô… bán trái cây trong chợ Cầu-ông-Lãnh thì tìm chắc phải ra. Mà đến nước cùng đi nữa, cái nước tứ cố vô thân thì còn có tôi đây chi!… Tôi nói như vậy là nói thiệt tình chứ không phải khoe khoang hay có ý gì khác đâu…

Phấn không biết trả lời làm sao nên nín thinh nhưng cũng thấy an tâm rất nhiều về việc lên Saigon.

Vừa lúc đó xe bắt đầu chạy. Anh khách vớ được dịp này để bắt chuyện lại với Phấn:

– Dữ hông! Bây giờ nó mới chịu chạy cho!

Phấn thấy xe chạy cũng hớn hở nên trả lời câu nói của anh khách bằng một nụ cười mỉm.

Anh khách cười đáp lại, rồi lim dim đôi mắt ranh mãnh nhìn lại Phấn và buông thõng hai tiếng nho nhỏ:

– Dữ hông…

Phấn hiểu ý, mắc cỡ đỏ mặt và cúi gầm xuống nhìn vào gói quần áo để trên đùi..

Đường xấu, máy cũ, chiếc xe đò chạy vừa dằn vừa kêu điếc tai. Một hồi lâu, Phấn làm gan quay mặt qua bên anh khách hỏi:

– Hổng biết chừng mình lên tới nơi có còn kịp chuyến xe nào đi Saigon nữa hông hả chú ?

Anh khách nghe không rõ vì tiếng máy xe, thùng xe kêu ầm ầm, nên nhích lại gần Phấn chút nữa và vừa nghiêng đầu xuống kề bên mặt Phấn vừa hỏi lại:

– Cô nói gì đó cô Hai?

– Mình lên trên Cần-Thơ có kịp chuyến xe Saigon hông chú? Anh khách đưa tay lên xem đồng hồ rồi đáp :

– Cha, cái điệu nầy cũng một may một rủi cô Hai à! Nhưng tôi sợ trễ quá!

Phấn lo ngại hỏi thêm:

– Nếu rủi trễ rồi còn có cách nào khác để lên Saigon hông chú?

– Thiếu gì, hoặc mình đón tàu đi hay là mình kiếm chỗ ngủ lại một đêm rồi đi chuyến xe khuya lên Saigon…

Phấn thật thà hỏi tiếp:

– Nhưng tui hổng có ai quen ở trên hết…

Anh khách cười:

– Ối, cô hơi sức đâu mà lo chuyện đó. ở trên nhà ngủ lền khên mình mướn phòng ngủ đỡ một đêm rồi đến khuya hay sáng gì cũng có chuyến xe lên Saigon hết. Được rồi, để lên tới Cần-Thơ, có gì tôi sẽ sắp đặt cho… Tôi cũng đi cùng đường với cô Hai mà!

– Cám ơn chú lắm! Thiệt tôi cũng hên lắm nên mới gặp chú…

Anh khách thích thú cười thành tiếng và nhích lại sát gần Phấn thêm một chút nữa và nói:

– Phần tôi, tôi cũng hên lắm nên mới gặp cô Hai… Ai dè đâu lỡ chuyến với cô Hai như vầy…

Phấn nghe anh khách nói nín thinh nhưng không thấy bực mình chút nào. Một hồi lâu như nhớ trực lại, cô quay mặt qua hỏi anh khách:

– À tui hỏi câu nầy chú đừng giận nghen!

– Sao cô Hai nghĩ vậy! Tôi đời nào dám giận cô Hai…

– Hồi xe chưa chạy sao tui thấy chú nói chuyện với người bà con châm rặt là tiếng Tàu, mà tự nãy giờ chú lại sõi tiếng Việt quá vậy?

Anh khách chờ cho Phấn hỏi hết câu, cười lớn:

– Tưởng cô Hai hỏi cái gì chớ! Nói thiệt với cô Hai tôi là người Tàu rặt ròng nhưng ông già tôi ổng lại cho tôi đi học ở trường Việt từ lớp Năm cho đến khi thi Tiểu-học, tôi đậu bằng Tiểu-học rồi đó cô Hai! Vì vậy hiện nay tôi đọc viết chữ Việt cũng xuôi róc chớ đừng nói gì đến việc “nói” không thôi!

Phấn gật đầu:

– Hèn chi chú ăn nói thạo quá!

Anh khách cười càng thêm tươi và cánh tay anh gác lên chỗ dựa sau lưng Phấn lại được hạ lần xuống thêm một chút.

Trong lúc đó, tiếng xe chạy êm tai và gió thổi mát mặt làm cho Tư Cầu thấy bắt đầu buồn ngủ. Anh ta lấy gói quần áo đặt lên băng dựa rồi kê đầu gối lên cho đỡ đau cổ mỗi khi xe xóc dằn. Xong anh ta khoanh tay lên trước ngực và bắt đầu lim dim…

Phấn để ý thấy, định kêu anh ta dậy nhưng không biết nghĩ sao lại thôi và bỗng dưng cô ta lại mỉm cười một mình.

Một hồi lâu sau, anh khách lại lên tiếng:

– Anh ngồi bên cô Hai đó chắc là bà con trong nhà phải không cô Hai? Phấn không biết trả lời sao cho xuôi nên nói mập mờ:

– Hổng phải bà con thiệt, nhưng… cũng như bà con…

Anh khách có vẻ không vừa ý về câu trả lời lơ lửng đó, nên soi mói nhìn hai gói quần áo của Phấn và Tư Cầu như dò xét:

– Cô Hai lên Saigon rồi lâu mau mới về?

– Dạ… chắc hơi lâu lâu…

– Ủa, bộ cô Hai không tính trước chừng nào về sao?

Phấn do dự một hồi rồi đáp:

– Hổng nói dấu gì chú, hai đứa tôi tính lên kiếm chuyện mần ăn…

– Mà cô Hai với anh… anh Tư đây tính lên trển làm ăn gì đây? Ở trển của khó người đông, cái gì một chút cũng phải mua, phải sắm hết chớ bộ dễ dãi như dưới mình sao!

Rồi như khám phá điều gì, anh ta hỏi vặn lại Phấn:

– Cô Hai ở Trà-ôn ở nhằm xóm nào vậy cô?

– Tui hổng có ở tại chợ. Tui ở dưới Rạch Chiếc mà!

– Ủa, lóng nầy lúa sắp chín đông ken rồi mà cô Hai với anh Tư đây lại bỏ đi lên Saigon kiếm việc làm ăn… Sao không đợi qua Tết rảnh rang rồi đi có tiện hơn không cô Hai?

Phấn bị anh khách hỏi dồn như vậy, nổi dóa:

– Chú nầy kỳ hông! Tui muốn đi chừng nào thây kệ tui, mắc mớ gì mà chú hỏi tới chớ!

Anh khách xuống nước:

– Ậy, cô Hai nghĩ bậy cho tôi rồi! Tôi hỏi đây không phải là tôi muốn xía vô chuyện riêng của cô Hai, nhưng tôi có lên xuống Saigon bỗ hàng cho ông già tôi hoài nên tôi biết rành lắm cô Hai à. Ông già tôi là chủ tiệm chạp phô, tiệm chú Ựng nên hông nhà lồng chợ đó cô Hai! Tôi đi Saigon chuyến nầy là lên ở luôn, tôi lên làm tài phú cho một tiệm bán sắt vụn trong Chợ lớn.

Phấn tò mò hỏi chận:

– Vậy chú đây là con của chú Ựng? Mà sao chú hổng ở nhà coi sóc cái tiệm lại lên Chợ lớn, Saigon đi mần công cho người ta vậy?

Anh khách thấy Phấn để ý đến việc riêng của mình nên phấn khởi kể luôn:

– Không nói dấu gì cô Hai, ở dưới nầy thì đã có hai vợ chồng anh Hai tôi lo phụ giúp ông già rồi. Như vậy nữa rồi ảnh cũng kế vị làm chủ luôn cái tiệm đó. Phần tôi, chưa vợ chưa con lổng chổng một mình, chẳng lẽ già đời ở đó để làm công trong tiệm của ông già? Tôi nghĩ xa nghĩ gần hoài, rốt cuộc rồi phải tính đến việc bay nhảy với người ta chớ! Năm nay tôi hai mươi ba tuổi đầu rồi chớ phải nhỏ nhít gì sao! Thời may, tôi có ông chú buôn sắt trên Chợ lớn mới gởi thơ xuống kêu tôi lên làm tài-phú cho ổng. Tôi không do dự gì hết, đi liền. Lên trển rồi mới lập nghiệp với người ta được chớ ở dưới nầy chạy hiệu hoài cũng buồn trong bụng lấm cô Hai à!

Phấn tán thành:

– Vậy là phải lắm! Tui cũng ở trong cảnh như chú vậy…

– Hèn chi!… Nhưng phần tôi thì đã có sẵn chỗ ăn chỗ làm, chớ cô Hai với anh Tư đây… đi lên trên đại như vậy kể ra cũng… gan lắm! Tôi nghĩ tới chỗ đó nên mới… xía vô công việc riêng của cô Hai như hồi nãy cô Hai cự nự tôi đó!

Nói đến đó, anh khách mỉm cười nhìn thẳng vào mất Phấn rồi tiếp:

– Chắc bây giờ cô Hai hiểu rõ bụng tôi, hết giận tôi rồi chớ? Tôi thấy hoàn cảnh của cô Hai và anh Tư đây tôi ái ngại nên tôi lo bá vơ vậy… Tánh tôi kỳ vậy cô Hai à!

Phấn lấc đầu:

– Không đâu, như vậy là chú tốt lắm!

– Cô Hai nói thiệt hay là nói xâm nói xéo tôi đó?

Phấn cười đáp:

– Thiệt mà ! Tôi nói xâm chú té vàng té bạc gì chớ!

Anh khách ngập ngừng một hồi rồi nói một hơi:

– Thiệt tình tôi thấy hoàn cảnh của cô Hai và anh Tư tôi không sao yên tâm được. Tôi tuy không lỏi đời gì cho lắm nhưng đi lại đó đây cũng đã nhiều, nhìn sơ qua cảnh của cô Hai, tôi cũng đoán được một vài phần… Bởi vậy từ đây cho tới Cần-Thơ rồi lên Saigon, nếu cô Hai thấy có bỡ ngỡ chuyện gì thì xin cô Hai đừng ngại, cô Hai cứ nói thẳng với tôi, tôi sẽ xin hết lòng lo liệu…

Thấy Phấn lặng thinh anh khách hạ thấp giọng hỏi nhỏ bên tai con Phấn:

– Tôi nói như vậy có điều gì không phải sao cô Hai? Bộ cô Hai còn giận tôi sao hả cô Hai?

Phấn mỉm cười lắc đầu, rồi khẽ thở dài cúi đầu ngó xuống gói quần áo và lấy tay vân vê mối dây buộc phía trên gói…

Một hồi lâu, cô ta liếc mắt nhìn qua Tư Cầu. Tư Cầu vẫn ngủ ngon lành, thỉnh thoảng đầu của anh ta từ từ gục xuống trước ngực rồi lại giựt dội trở lại ngả lên trên như cũ.

Phấn thấy gói quần áo của Tư Cầu kê sau cổ đã tuột xuống chèn sau lưng nó nên vói tay kéo ra. Tư Cầu giựt mình ngồi ngay lại, lấy tay dụi mắt rồi hỏi Phấn:

– Bộ gần tới rồi hả?

Phấn tức cành hông định mở miệng cự anh ta nhưng rồi lại ngao ngán thở dài và lắc đầu buông thõng một câu:

– Chưa tới đâu…

Chiếc xe chạy tới khoảng đường xấu nên dằn dữ… và bỗng nhiên Phấn nhận thấy một bên vai của mình được dựa êm vào một bên ngực của anh khách, không biết từ hồi nào!

Chiếc xe càng xóc, cô càng có một cảm giác dễ chịu và sao thấy được an tâm thêm rất nhiều.

Và cũng thật kỳ lạ chưa bao giờ Phấn thấy Tư Cầu xa cách mình như vậy.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Post on 26th Mar 2021

Post by Sơn râu 15 Jul 2024

Kỳ 12

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Qua những chiến dịch dẹp loạn Bình Xuyên, dẹp loạn Ba Cụt, người chiến sĩ xuất sắc có tên Ngô Thái Bình được thượng cấp cứu xét cho phục hồi cấp bậc trung sĩ.

Năm 1960 Trung sĩ Ngô Thái Bình tình nguyện sang đơn vị mới thành lập có tên Biệt Ðộng Ðội, tức là Biệt Ðộng Quân sau này. Không lâu sau ông Bình được thăng cấp trung sĩ nhất.

Chỉ vì cái tật ngày nào cũng say mèm, say khướt, ông trung sĩ 1 đã bị đá đít lăn từ tiểu đoàn này tới tiểu đoàn khác, đi từ binh chủng này sang binh chủng khác, rồi dừng chân ở một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân vùng Bắc Bình-Ðịnh.

Sau một thời gian mưa thuận gió hòa ở Qui-Nhơn, con ma men lại cầm tay ông Bình nã súng vào chân ông tiểu đoàn trưởng của ông. Ngay lập tức, ông đáo nhậm đơn vị sau cùng là Quân Lao Nha-Trang.

Tôi đã ngồi im, chú tâm theo dõi câu chuyện kể lại cuộc đời ly kỳ của một cựu Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 Nam-Ðịnh. Tôi thấy thành tích quậy phá mấy chục năm nay của ông già này quả là có một không hai.

Kết thúc bản tóm lược tiểu sử, Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình vừa cười, vừa nói với tôi,

– Tôi hy vọng sẽ được ông chỉ huy mới để yên cho tới ngày đáo hạn giải ngũ. 

Ðể trả lời câu hăm dọa của ông ma men, tôi từ tốn nói,

– Tôi để Trung sĩ ở tạm với Thiếu úy Hoàng, Ðại đội trưởng Ðại Ðội Chỉ Huy trong thời gian một tuần cho quen với không khí của đơn vị. Sau đó ông muốn ra đại đội nào, tôi sẽ cho ông đi.

Ba ngày sau ông Bình tới cửa lều của tôi gõ cửa xin vào.

– Tôi muốn xin Thiếu tá cho ra đại đội. Ở đây tù túng quá!

Nghe vậy, tôi cũng cười,

– Ở đây còn thấy dân chúng đi qua, đi lại, xuống đại đội thì chỉ thấy núi, thấy rừng, còn buồn hơn. Ông đã đi rồi thì đừng có xin xỏ quay trở lại đó nhé!

– Một đi! Không trở lại! Tôi muốn ra đại đội của Thiếu úy Nhơn.

– Ðược! Ði đi!

Mấy bữa nay tôi thấy ông già này cứ thậm thụt lên xuống con dốc từ đồi chính xuống cây cầu sập trên suối Blao, tôi tưởng ông ta đi tắm rửa hay đi múc nước, hóa ra ông ta xuống thăm Thiếu úy Nhơn.

Giữa trưa ngày hôm sau, đứng trên ụ pháo binh, tôi nghe tiếng súng M16 bắn “Lóc chóc! Lóc chóc!”  dưới chân đồi, rồi thấy mấy anh lính nhào vào nhau mà vật lộn.

Tiếp đó, Chuẩn úy Lê Văn Phước, sĩ quan Ban 3, từ hầm truyền tin chạy tới báo cáo,

– Trình Thái Sơn, ông Nhơn vừa cho hay Trung sĩ Bình say rượu bắn lung tung dưới Ðại Ðội 4. Ông Nhơn đã cho người bắt trói ông Bình đem lên cho Thiếu tá xử phạt.

Mười phút sau, có hai Biệt Ðộng Quân ì ạch leo dốc, trên vai khiêng một cái đòn treo tòn ten một ông Biệt Ðộng Quân hai tay, hai chân đều bị trói.

Thoạt nhìn, tôi cứ tưởng hai ông lính kia đang khiêng trên vai một con heo tổ nái!

Tới trước lều của tôi, sau khi đếm, “Hai! Ba!”

Hai anh lính thả cái đòn ra, “con heo người” rơi xuống đất, miệng la oai oái, “Ối! Ðau! Ối! Ðau!”

Tôi ra dấu cho hai chú lính vác đòn trở về đơn vị, rồi ra lệnh cho Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng,

– Cho nó gáo nước để tỉnh rượu!

Sau khi hứng ba mũ sắt nước tạt vào mặt, con sâu rượu Ngô Thái Bình mới tỉnh hẳn. Tôi hất hàm ra lệnh cho chú Hoàng,

-Tống nó vào chuồng cọp!

Ở đâu, nếu đóng quân lâu, tôi đều có một cái hầm lộ thiên rào kẽm gai xung quanh, gọi là chuồng cọp. Chuồng cọp của tôi mục đích là nhốt những tay nghiện ma túy, xì ke. Mấy con ma xì ke bị nhốt ở đây, ngày ngày chỉ có ly nước đường thay cơm, lâu nhất là mười ngày hay hai tuần thì khỏi bệnh.

Từ khi chúng tôi tới Kiến-Ðức, cái chuồng cọp này được dựng lên nhưng chưa có ai đặt chân vào.

Con ma men Ngô Thái Bình là khách hàng đầu tiên của căn hầm này.

Ba ngày sau, tôi cho ông già Bình xuống suối tắm rửa rồi vào trình diện.

Cái ngang tàng, hỗn xược vô kỷ luật của ông cựu Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 Nam-Ðịnh đã không còn.

Trước mắt tôi, là hiện thân của một ông già thảm hại, râu tóc đã ngả màu hoa râm.

Ông Bình đưa tay chùi nước mắt rồi sụt sịt,

– Tôi xin lỗi Thiếu tá! Tôi sai!

– Tốt! Biết sai thì tốt! Nhưng biết sửa sai mới tốt hơn! Qua đồi Tây ở với Trung úy Danh, Ðại Ðội 2!

Sóng lặng, gió yên được ít lâu, một hôm tôi đang ngồi trong hầm truyền tin thì nghe tiếng súng M 16 nổ “Lốp! Bốp! Lốp! Bốp!” dưới đường. Tôi đưa mắt tìm Trung úy Trần Văn Phước thì được biết Phước có chuyện vắng nhà.

Tôi ra lệnh cho Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng chạy xuống xem có chuyện gì, chỉ hai phút sau chú Hoàng đã chạy vào, mặt tái mét,

– Trình Thái Sơn! Ông Bình lại say! Ông ta đang tìm ông Trung úy Danh để bắn cho chết!

Tôi chỉ thị cho đại úy tiểu đoàn phó,

– Ông Hoàng ra giải quyết vụ này cho tôi!

Cũng hai phút sau, cùng với tiếng M16 “Chíu! Chíu!’ là tiếng kêu cứu của ông tiểu đoàn phó,

– Không xong rồi Thái Sơn ơi! Thằng này điên rồi! Nó bắn cả tui!

Tôi với cái dây ba chạc khoác vào vai rồi bước ra khỏi hầm, đứng trên bờ đất nhìn xuống đường. Tay tôi để trên báng súng sẵn sàng. Khẩu Colt của tôi lúc nào cũng có đạn lên nòng.

Ðang giơ súng lên trời, bất thình lình nhìn thấy tôi, Trung sĩ 1 Bình vội vàng bóp cò cho những viên đạn sau cùng bay lên không.

Ông ta vừa bấm chốt cho băng đạn rỗng rơi ra để thay băng đạn mới.

Kẹp đạn mới của ông ta chưa kịp nằm vào ổ súng thì tôi đã quát lên:

“Bình!… ìng!… ìng!… ìng!…”

Tiếng hét của tôi lớn lắm. Tiếng hét đã khiến con ma men tỉnh táo hẳn, ông ta đứng đờ người như phỗng đá.

Tôi quát tiếp,

– Bỏ súng xuống! Quay lưng lại!

Như cái máy, ông Bình lảo đảo quay người 180 độ. Khẩu súng rời tay ông ta, rơi trên mặt lộ.

Nhân lúc ông ta vứt vũ khí, ông Tàu Hỷ, đầu bếp của Câu Lạc Bộ chạy ra nhặt vội khẩu M 16 rồi chui vào căn gia binh.

Tôi lại hét,

– Nằm xuống! Dang hai tay ra!

Ông Bình riu ríu thi hành lệnh. Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng liền chạy xuống lục soát hết người ông Bình để xem có vũ khí gì nữa hay không. Tôi ra lệnh tiếp,

– Lên đây!

Trung sĩ Bình ngồi dậy, rồi loạng choạng leo lên tam cấp. Cái đầu ông trung sĩ vừa nhô lên bực thang cao nhất đã bị tôi đá một phát như búa bổ trúng cằm. Ông Bình ngã lăn xuống chân đồi.

– Lên đây!

Mặt trận Tây Quảng Đức tháng 1 năm 1975

Miệng đầy máu, nhưng ông trung sĩ vẫn phải tiếp tục khật khưỡng leo.

Hai mắt ông Bình trợn lên nhìn tôi, đôi mắt có vẻ như đã đờ đẫn, mất hồn.

Cái đầu ông Bình vừa nhô lên bực thang cuối cùng, tôi lại đá thêm một phát nữa, con ma men lại lăn xuống đường, nhưng đã nằm im, không cục cựa.

Ngay sau đó, chiếc xe GMC của tiểu đoàn được trưng dụng để giải giao tên lính côn đồ cho Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Ðức.

Nhìn chiếc xe lao đi, tôi buông một tiếng thở dài.

Thực tình, tôi không nhẫn tâm tuyệt tình, tận nghĩa, ra tay giết Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình.

Dù gì thì ông ta cũng không phải là một tên Việt-Cộng.

Nếu tôi muốn giết người lính vô kỷ luật này thì tôi chỉ cần nhẫn nại, chờ một giây đồng hồ, sau khi nó nạp xong băng đạn, với một phát Colt 45 tôi đã lấy mạng nó rồi.

Giết nó trong tư thế nó giương súng tấn công mình, mình sẽ được coi là tự vệ chính đáng.

Còn bắn nó chết sau khi nó chịu đầu hàng, thì mình sẽ can tội sát nhân.

Ðây là lần đầu tiên tôi nặng tay như thế đối với một thuộc cấp vô kỷ luật.

Và tôi biết rằng, từ đây tôi đã có một kẻ thù phải đề phòng.

Vì cứ cái đà tuyển quân vô trách nhiệm như hiện nay của quân đội, thì có khi, chỉ năm bữa, nửa tháng sau, ông Bình sẽ quay lại đây.

Nhưng chuyện đời đã không diễn ra như những điều mà ta dự đoán.

Chỉ vài tháng sau ngày ấy, Nha-Trang thất thủ, Quân Lao Nha-Trang mở rộng cửa cho tù tự do thoát ly.

Tôi vừa rút quân từ Xuân-Lộc về tới Long-Bình thì đã thấy ông trung sĩ ma men xuất hiện trong toán quân nhân di tản của Vùng 2, cùng vài anh quân phạm vừa thoát khỏi quân lao, rồi tình nguyện về bổ sung cho tiểu đoàn tôi.

Có điều, ông Trung sĩ 1 Bình đã thay da, đổi thịt. Ông ta mặc bộ quần áo hoa mới tinh, ủi hồ thẳng nếp.

Mái tóc hoa râm của ông ấy đã được húi cao như mái tóc của Cố Ðại tướng Ðỗ Cao Trí.

Gương mặt nhẵn nhụi mày râu của ông Trung sĩ 1 Bình giờ đó, nếu đem so sánh, có lẽ còn sáng sủa hơn mặt của những người đồng lứa tuổi của ông, đã từng một thời là thanh niên Hà-Nội, như Hoàng Thọ Nhu và Hoàng Kim Thanh.

Ông trung sĩ 1 mạnh dạn bước tới trước mặt tôi rồi nói,

– Trình Thiếu tá, tôi biết, gia đình Thiếu tá còn kẹt ở Ban Mê Thuột. Vợ con tôi cũng còn kẹt ở Qui-Nhơn.

Bao nhiêu năm qua tôi đã mang tội với tổ quốc, với gia đình. Tôi biết Thiếu tá sẽ chiến đấu cho tới chết, tôi cầu xin Thiếu tá cho phép tôi được chết cùng ông! Tôi van xin ông!

Nói tới đây, ông Bình khóc lên thành tiếng,

– Tôi chỉ biết đem cái chết để chuộc những lầm lỗi mà tôi đã gây nên trong suốt cuộc đời này! Hu! Hu! Hu!

Thế là trước mắt tôi, không còn bóng dáng một con ma men đầu trâu, mặt ngựa nữa.

Thay vào đó, là một người, từ thời Pháp Thuộc, đã là một công tử con nhà giàu nứt đố, đổ vách, của tỉnh Thái-Bình, một thanh niên Việt-Nam nói tiếng Tây như gió, có bằng “Bắc Ðơ” tức là bằng Tú Tài 2 của Pháp, và đã là bạn đồng môn, đồng khoá, của những ông tướng, những ông lãnh đạo quốc gia thời Ðệ Nhị Cộng-Hòa.

Ngày 24 tháng 4 năm 1975, những ông lãnh đạo quốc gia, những ông tướng cùng lớp, cùng thời với ông Ngô Thái Bình, cựu Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 Nam-Ðịnh, đang chen lấn nhau, dắt díu vợ con tìm đường đào thoát khỏi Việt-Nam, thì ông Bình lại đi tìm cái chết ở chiến trường.

Ðêm 28 tháng 4 năm 1975 Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã bị chiến xa Cộng-Sản nghiền nát thây trên đỉnh một ngọn đồi trọc nằm về hướng Nam của cây cầu gãy bắc ngang sông Lá Buông sau lưng Trường Bộ Binh Long-Thành.

Trước khi chết, ông Bình đã tự tay bắn cháy một chiếc tank T54 bằng khẩu súng M 72 mà ông ấy cứ mang kè kè bên hông từ chiều 24 tháng 4 năm 1975.

Từ chuyện say sưa của ông Trung sĩ 1 Ngô Thái Bình mà tôi phát giác ra cái tài kinh doanh, buôn bán của hai ông đại đội trưởng Nguyễn Nhơn và Võ Hữu Danh.

Tôi được báo cáo rằng, ngày nào chuyến xe đò Gia-Nghĩa đi Bù Binh cũng đậu lại ít phút dưới chân Ðồi Nam.

Anh phụ tài xế lanh tay bỏ những cái can bằng nhựa xuống lề đường để cho ông Thượng sĩ Nguyễn Ðả, Hạ sĩ quan Thường vụ của Ðại Ðội 2/ 82 tiếp nhận. Những cái can 20 lít bằng nhựa này chứa toàn rượu đế.

Từ ngày nhận chức chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, tôi đã ra lệnh cấm bán rượu đế trong Câu Lạc Bộ của tiểu đoàn.

Biết thế, nên hai ông Danh và Nhơn đã có sáng kiến kinh doanh món hàng hiếm này để kiếm lời.

Rượu đế mà hai ông Danh và Nhơn có được là do một nhà nấu rượu ở dưới Gia-Nghĩa sản xuất.

Ông Nhơn và ông Danh chỉ cần bỏ ra một vốn thì có thể thu vào tới bốn lời, đôi khi còn lời hơn thế nữa.

Tôi đã gọi hai ông đại đội trưởng vào lều, bắt hai vị này hứa sẽ không được tái phạm nữa. Tuy hai ông sĩ quan này đã lớn lời hứa hẹn nhưng tôi vẫn không thấy yên lòng chút nào.

Giữa tháng 11 năm 1974, tôi hoàn trả Thiếu úy Nhơn cho liên đoàn. Thiếu úy Phạm Văn Thủy quay trở lại chỉ huy Ðại Ðội 4/82.

Còn Trung úy Võ Hữu Danh bỗng nhiên khai có bệnh sốt rét kinh niên, ở Kiến-Ðức vài ngày, lại xin về nằm bệnh xá liên đoàn vài ngày, tôi đành miễn cưỡng để cho Chuẩn úy Gấm chỉ huy Ðại Ðội 2/82.

Tiếp đó Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ phải lên đường theo học khóa Tổng Quản Trị, tôi liền cho Trung úy Trần Văn Phước thay thế chức vụ Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82.

Vì đã có thời gian gần hai năm đảm nhận chức vụ Trung đội trưởng Trung Ðội Viễn Thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, nên chú Phước không ngỡ ngàng gì với nhiệm vụ mới.

Ngày lãnh lương cuối tháng 11 năm 1974 cũng là ngày có tiếp tế định kỳ.

Hai đại đội tăng phái của Tiểu Ðoàn 63 cũng được tiếp tế cùng lúc.

Thực phẩm của Tiểu Ðoàn 82 được vận chuyển bằng xe GMC, thực phẩm của Tiểu Ðoàn 63 được vận chuyển bằng một xe Dodge 4×4.

Hai bãi nhận hàng cách nhau không xa.

Tôi cho lệnh Ðại Ðội 4/82 được ưu tiên nhận tiếp tế trước, rồi lên Bù Row thay quân cho Ðại Ðội 3/82.