Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 15-XI-1993)

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Phần 36

Thử So Sánh Lại Nhân Vật Đông-Tây Đời Vua Tự Đức Và Đời Vua Pháp Napoléon III

Tôi đã hứa ngày 11 vừa rồi rằng không viết nữa, nhưng nay lại sai lời hứa, và viết sơ lược so sánh vì sao năm xưa đời Tự Đức, nước ta đánh thua nước Pháp.

Và nay tôi viết đây, chỉ làm việc nói lại những gì xét thấy riêng sau khi đọc lại các sách báo cũ đã có.

Một nhận xét cần nói liền, là ngày nay người sanh sau thường xúc phạm và nói hỗn, chê bai người đã chết, chẳng qua là đã mất niềm tin. Một việc còn nóng hổi trong nước là tượng hình Trương Vĩnh Ký bị hạ bệ khi binh Giải phóng vào đây, nay tượng đồng ấy vẫn còn hay đã không còn, tôi chưa biết, và chỉ biết vừa rồi một nhà cách mạng đã mạnh dạn viết sách phục hồi danh dự T.V.K. và tiếp theo đó, một nhà làm chánh trị khác lại tỏ ý kiến đòi trả tên T.V.K. cho trường trung học cũ… và tôi nay vốn là một tên già được người ta tha cho được sống yên ở đây, mắc mớ gì tôi, lại ọ-ẹ viết mấy hàng nầy.

Thuở nay trong trường dạy học và ở ngoài đời, thì những Victor Hugo (V.H.), những văn hào Pháp như Balzac, Flaubert, Maupassant v.v… đều được tôn như thần như thánh, V.H – được nằm trong điện Panthéon, nhưng từ ngày Pháp quốc bị Đức quốc đánh bại và chiếm rồi Pháp được phục hồi, thì nhà văn André Gide (A.G.) lại lớn tiếng chê dè V.H. (xin xem “Hương sắc trong vườn văn” của Nguyễn Hiến Lê, q.1, nơi tr.29); André Gide giận và chê thơ văn V.H. là nhạt nhẽo, là giả tạo, là quá dễ dàng… là không đáng kể, và A.G. sở dĩ nói như vậy là vì mấy trận chiến tranh tiếp nối và nay vẫn còn tiếp nối đó đây, chiến tranh đã thay đổi hết cả, nhưng André Gide là gì mà dám chê Victor Hugo? Và tôi đã đọc một sách khác nay không nhớ rõ tên sách để nói lại nơi đây, và nhớ mại một nhà văn khác lại chê A.G. rằng “Nó sẽ được bia danh về hậu thế vì nó đã từng chuyên đi cửa “hậu môn”, tôi không ghi lại được nguyên văn câu nói tiếng Tây, nhưng đi cửa hậu môn là gì, xin độc giả hiểu ngầm lấy. Riêng trở lại V.H. thì quả V.H. vẫn lem nhem, có vợ và bà ấy lại có gì gì đó với Sainte Beuve và với Benjamin Constant hay nhà văn gì đó, và như vậy có xứng đáng chút nào? Nhưng nên hiểu đời Cách mạng 1789 bên Pháp, dân tâm biến đổi, đàn bà, mạng phụ giao thiệp với đàn ông, bạn thân của chồng là chuyện thường và tục người Pháp vẫn luôn luôn rộng lượng với phụ nữ, lấy câu tha thứ “sức bực tu-mi nam-tử mà còn sa sút, thì trách làm chi sự “phụ nữ quá lạt lòng”. Trong khi ấy bên nước ta, nhiễm tục người Tàu trong sách Khổng-Mạnh, vẫn lấy chữ “Trinh” cho phái nữ và chữ “Trung” cho phái nam, làm căn bản.

Bỏ qua việc tranh luận và xin tóm tắt: đời Tự Đức dĩ chí đời Napoléon III, vua ta trong sạch hơn, nhưng làm sao lấy dao cùn-nhụt, gậy tre bỡ rệt mà chống với súng mạnh, đạn bay xa mà mong thắng được? Mừời ông khác, chính tỷ như mấy ông mạnh miệng chê bai ngày nay, cũng không chuộc đất “ba tỉnh miền Nam” lại được, trong khi bên ta thì vua bo bo dạy Phan Thanh Giản phải than nghèo không tiền trả nợ chiến tranh, còn bên họ, bên Pháp vẫn lấy khoa học và quyết tâm giành đất. Sở dĩ Phan Thanh Giản dám nhận lãnh đi sứ chuộc đất là trông cậy vào lời hứa của Bonard nhưng Bonard đã chết, còn tướng De Genouilly đánh thắng vì nhờ tàu đồng, nhờ súng mạnh, thêm nhờ tay trong hết lòng ám trợ, chỉ chọc chỗ yếu cho biết.

Tôi đọc khá nhiều sách sử, nhưng vỡ lẽ ngày nay là nhờ thấy trong một cuốn sách Pháp nọ, sở dĩ ta mất ba tỉnh miền Tây, là tại vận xui khiến cho ông vua đời đó, nay tôi không nói tên ông vua nầy ra là để tránh dính líu vào vấn đề chánh trị…, vua nầy ban đầu không nghe lời khuyên của tướng Pháp và nhứt định xin đầu hàng vua nước Xiêm, rồi ông cất bước sang Xiêm nhưng khi ông đi được nửa khúc đường, rồi bỗng đổi ý và trở bước lại và chịu đầu hàng Pháp quốc… và nếu vua nầy chịu theo về bên Xiêm vương, Xiêm quốc, thì phe Tây đâu có dịp để nuốt trọn sáu tỉnh Nam kỳ lúc ấy.

Rốt lại tôi cho là vận rủi của nước ta, chớ vua Pháp Napoléon III vẫn bê bối và thua xa về đạo đức vua mình, nhưng vẫn mạnh nhờ có tướng giỏi và người làm ngoại giao khéo. Vua Tây dâm dật, bê bối, nhưng có người tài phụ lực nên thắng.

Nghe Phan Thanh Giản tâu “bên nước Pháp, có thiết-kiều, thạch-lộ”, thì các quan trong trào chê “đi xa về nói khoác”, nước ta “phú hữu tứ hải” mà họ làm gì có cầu xây bằng sắt thép (ta không đủ thép làm gươm!), và họ làm gì có đá để lát đường, trong khi nước ta không đủ để mài gươm cho thêm sắc bén!

Phan Thanh Giản than: “Bá ban xảo kế tề thiên địa” “Duy sự tử-sanh, tạo hóa quyền”. (Câu nầy tôi nhớ thuộc lòng, không ắt đúng nguyên văn).

Còn Nguyễn Trường Tộ thì vì theo đạo Mới, nên vua không tin dùng, bao nhiêu người Pháp qua đây để dạy về kỹ thuật, mỹ nghệ, vua ta đều nghe lời các quan trong triều đề nghị xin đuổi về xứ và không dùng, và chỉ bo bo trông cậy vào viện trợ của nhà Thanh mà ta tôn là thiên triều và đã không biết rằng nhà Thanh lúc ấy chỉ còn hư danh sức đuối và yếu như bún thiu, chính họ vẫn không tự giữ mình được mà trông mong gì trợ giúp.

Tôi mải nói bắt quàng, chính tôi không dám đọc lại những hàng đã viết và sau đây tôi xin gom vào đây những trang đã viết ngày 31-7-93 và 12-8-93 cùng một vấn đề “luận về nhơn vật đời hai vua Tự Đức và Napoléon III”, mặc dù những gì tôi viết đây phải cần tra cứu kỹ càng lại.

Vua Tự Đức, mặc dầu có vụ Hoàng Bảo bị bức tử, nhưng còn khá hơn và hơn nhiều Napoléon đệ tam, lúc bị giam trong ngục cấm cố thì mò ti con đòi, lúc lưu vong qua Ăng-lê, nhờ một ả giang hồ bao thầu đủ mọi mặt, nhưng khi lên ngôi làm ông vua ở Pháp thì vong ân và cưới cho được dòng quý tộc Eugénie de Montigo để được dựa hơi cành vàng lá ngọc, và gương “muốn sang bắt quàng…” nầy vẫn là bắt chước bác là Napoléon I, bỏ bà De Beauharnais để cưới bà Marie I.ouise de Lorraine – Autriche, việc lộn xộn các đế Tây nầy tôi còn nhớ là vì năm 1917, tôi thi rớt Xẹt (certificat nói tắt) (vì tôi viết Les Maries-Louise, lính mộ năm 1814, Marie Louise là tên tộc nên không viết có chữ “s”).

Napoléon đệ tam nầy dâm hết chỗ nói, lúc làm hoàng đế được rồi lại sanh sửa đặt làm phòng riêng để ngủ gái, ông ăn nói lệt bệt nhưng nhờ tướng tài như Rigault de Genouilly, sai qua đánh nhà Thanh bên Tàu, đánh không xuể lại kéo binh xuống chinh phạt đánh và chiếm thành Sài Gòn, rốt cuộc nước chúng tôi bị mất lục tỉnh Nam kỳ, nhưng chung qui đế Napoléon đệ tam vẫn thu nặng và mất ngôi, kéo luôn nước Pháp bồi thường nặng cho Phổ và mất hai tỉnh Alsace và Loraine; và Phổ Bismark, muốn cho Pháp đừng nhớ trả thù, Bisnark lại xúi Pháp chiếm đất chúng tôi làm thuộc địa.

Bà hậu cùa Napoléon đệ I vẫn không chung tình với vua khi vua đã mất ngôi, sánh lại sao bì với bà phi vua Chiêu Thống, vua thua bỏ chạy, bà cam thủ tiết, và khi vua mất bà chết theo vua để lại câu “Gió đưa bụi cải về trời, rau răm (là bà) ở lại chịu lời đắng cay”. Chuyện xưa kể làm sao cho hết, nay tôi chỉ nhớ ông Nguyễn Tri Phương, dáo và mác thông làm sao chống nổi Mousqueton, tàu đồng…; nay nói qua phe văn, bà Huyện Thanh Quan,… và chính như Hồ Xuân Hương cũng không như bà George Sand của Pháp. Vừa rồi, ông Lê Ngộ Châu có gởi biếu tôi một tập của Lộc Đình “Các cuộc đời ngoại hạng”, tôi đọc và thích thú, biết được George Sand, trước học trường Nhà Kín, khi lấy chồng đêm hiệp cẩn, bà không biết làm tình, còn chồng thì cũng vẫn không biết cách ngủ đêm tân hôn phải làm thể nào, phận sự làm chồng, chung qui cũng vì tục người Pháp, khi đứa trẻ hỏi cha mẹ “em tôi (gái hay trai) từ đâu có?” thì cha và mẹ vẫn không nói thật và có tục lệ gói kỹ đứa hài-nhi trong khăn bó kín và dối rằng “em mầy từ bụi cải bắp sanh ra” khiến nên khi George Sand hiểu được sự “ái ân” thì sanh tánh lăng loàn không thể nói ra đây được, và xin cho phép tôi văng tục, trước bà cặp với thi sĩ Alfred de Musset, sau nằm với đại nhạc sư Chopin, nhưng cả hai tỏ ra không đủ sức cung cấp, nên George Sand, về viết văn thì thật tài, nhưng về đường tình thì rõ là có tánh ham trai tơ và bà là người đàn bà gần như mở đầu cho tục “gái mặc y phục của trai” (Mạnh Lệ Quân, Sở Vân trong bộ “Anh hùng náo…” thua bà rất xa), và nhảy qua Victor Hugo, thì đêm tân hôn với vợ là bà Adèle, cả hai xuất trận đến cửu phen, hơn xa vua Minh Mạng “nhứt dạ ngũ giao…” và khiến tôi bắt quàng nói qua André Gide, vẫn có tật “kê gian” nên có câu Pháp văn nầy của Duhamel nói với Maurice:

Photo edit by Sơn râu

“Cet André Gide a su par sa dextérité passer du postérieur à la postérité”, câu nầy xin dộc giả cho tôi dịch phóng: “Lão André Gide, tay ngón lanh, nhờ “cửa sau” mà để danh về sau, và nói cách khác, nói chữ chút chơi: “nhờ hậu-môn mà lưu danh hậu-thế”.

Xuống đến Victor Hugo hoang dâm vô độ, nhân tình từ đào hát qua tôi đòi, bất dung tha mặt nào, và vẫn để cho vợ cắm sừng với bạn là Sainte Beuve rồi chuyền qua Théophile Gautier, trong khi Hugo thì dang díu với Juliette Drouet qua Léonie d’Aunet, đúng là “khi ông ăn chả thì bà ăn nem” và khi vợ chết, trên mộ bia vẫn khắc vỏn vẹn hai hàng: “Adèle” (hàng trên) và hàng dưới: “Vợ của Victor Hugo” (trang 100 của Lộc Đình) và Lộc Đình vẫn ghi “Tolstoi và Hugo, sao mà giống nhau thế?”. Và tôi xin độc giả hãy tìm mua mà đọc lấy, duy tôi xin thêm có sách Pháp đã viết “Napoléon I và Hitler, về môn tình dục, thì bộ kín họ Hích vẫn tong teo, còn đối với anh hùng bạt-tụy Nả, thì một hôm có nữ danh ca tên Mlle Mars đến, vua sai truyền lịnh “hãy chực sẵn trên long sàng” và khi đêm gần sáng, vua mắc lo việc quân sự lại ra lịnh “hãy xếp xiêm y, vì bãi chiến, trẫm không đủ thì giờ…”. Xét ra nếu nói thêm chi cho khỏi phạm tội bày chuyện tồi phong bại tục, nên ngưng viết là vừa.

Viết ngày thứ tư, 17 novembre 1993

Tôi đang bực tức vì mấy bữa rầy viết lục đục không ra lời, và đang lúng túng kẹt đề tài, bỗng tôi vớ được chút tư liệu tình cờ nầy, nào dè đây là mấu chốt của trang sử về đoạn gay cấn duyên do ta mất ba tỉnh miền Tây, và nỗi oan ức quan Phan Thanh Giản làm mất ba tỉnh ấy, nay đã có lối giải nghĩa và hiểu được.

Sự việc xảy ra và ít có sách sử nào cắt nghĩa cho rành, nhưng nay đã có lối giãi bày như dưới đây, tôi cho là vận mạng nước Nam thuở 1867 ấy, chỉ tùy cử chỉ một ông vua đã có tên đặt cho đường Tôn Đức ‘Thắng rồi đổi lại là đường Lê Duẩn như ngày nay, và tôi nói lòng vòng như vậy, một là vì tránh nói tên ngay e đụng chạm về vấn đề chánh trị, và hai là ý muốn để độc giả tự tìm và hiểu lấy.

Theo tôi, nước Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang) là nhờ kỳ công của người nầy. Tôi xin thuật sơ lược và viết lòng vòng như đã nói, mặc cho người nào đọc mấy trang nầy, muốn tin và hiểu thế nào cũng được.

Theo tôi, trứớc là Bonard, kế tiếp lả Rigault de Genouilly, khi đã chiếm ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) thì họ đã thỏa nguyện lắm rồi, và chính Bonard chơi thân với Phan Thanh Giản, đã tỏ cho biết ý kiến là khi về Pháp, sẽ tâu với vua Tây, nên cho chuộc đất để mua lòng vua Nam và cũng để cho những ai đã theo đạo Mới (Da-tô) sẽ được yên ổn làm ăn. Chính vì tin nơi lời hứa đó mà quan Phan nhận lãnh sứ mạng đi điều đình. Ngờ đâu có hai trở ngại xảy ra:

1) Bonard về tới xứ thì mất,

2) Bên triều đình Pháp, sanh ra hai phe, phe chiến – giữ đất đã chiếm được, và phe hòa – muốn cho chuộc đất, vì chính trong nước Pháp vẫn thiếu hụt tài chánh, đang có giặc nơi Crimée kéo dài lôi thôi…

Khổ một nỗi khác là ở bên ni (nước Nam), tình hình bất yên, vẫn có khuấy rối chọc phá từ miền Tây, lội qua Tiền Giang, đánh phá…; và trong lúc ấy, bỗng ở trên kia, ông vua của xứ có đền Đế-Thiên, ông vua nầy đang bị vua nước Xiêm-la áp bức và vua Chùa Tháp có lòng nửa theo Xiêm, nửa lại muốn đầu hàng Người Mới, và Người Mới đây là tôi nói trớ, đó là giặc Tây, người Pháp đang đánh chiếm miền Dưới nước An Nam. Như đã kể nơi trên, Bonard và Genouilly đang lưỡng ước…

Đang khi chưa quyết định, Genouilly bèn sai một quan võ thủy binh đi do thám tình hình. Người ấy tôn là Doudard de Lagrée, sau nầy được lấy tên đặt làm tên đường, và bia tượng vẫn bị dời đi nhiều chỗ tôi sẽ nói nơi sau.

De Lagrée lên đất Chùa Tháp bằng một chiếc tàu trận tên gọi l’avise Gia Định. Nhiệm vụ của De Lagrée thật là khó, nhưng ông tướng Tây nầy quả có chơn tài. Ông vua Chùa Tháp, xin cho tôi gọi đây theo tên Việt đã tặng cho ông là Hoàng Lân. Ngày 3 mars 1863, Hoàng Lân kéo binh và gia tướng lên đường trực chỉ Vọng Các (Bangkok), ông đi được nửa lộ trình, thoạt hay tin De Lagrée đã kéo cờ ba sọc lên đỉnh đền vua và đã bắn 21 tiếng súng hiệu lịnh. Khi hay được tin như vậy, vua Hoàng Lân sai dừng binh hạ trại giữa lộ trình, và sau vài ngày suy nghĩ cạn kẽ, ông bèn thối bộ, kéo róc bộ hạ trở về đất Tháp và ngày 11 août 1863, đã ký chịu thần phục nước Pháp… và một năm sau, nước Xiêm-la sai sứ đem mão-ấn trả và ngày 3 juin 1864, chính De La Grandière tự tay trao mão-ấn cho vua.

Những việc kế tiếp tôi xin độc giả xem lại trong quyển “Việt Nam” Trần Trọng Kim và tôi chỉ tóm tắt lại đây ít hàng về De Lagrée.

Nhà nước Pháp nhớ công lớn nên thăng De Lagrée lên chức capitaine de vaisseau (4 lon) và sai cùng với Francis Garnier, đi thám hiểm Biển Hồ (Tonlé-Sap) (Tonlé là hồ bể, Sáp là nước ngọt, còn Mékong, tiếng Miên là Mì-côn: sông mẹ của các sông nhỏ khác).

Rồi De Lagrée cùng với Francis Garnier lên Thượng Hải (Trung quốc) năm 1868 nhưng cả hai đều chết. Prancis Garnier được dựng tượng đồng nơi đầu đường Bornard, trước Nhà Hát Tây, còn De Lagrée, vẫn truân chuyên nhiều nỗi:

– Sơ khởi, đô thành Tây dựng bia kỷ niệm nơi đại lộ Charner, nhưng năm 1890, bia được dời qua đường Bonard (chỗ Nhà Hát), và bị lấy chỗ lập nhà hát, khiến nên bia De Lagrée lại dời đi nữa và dựng lên trong khu sau lưng hình đồng De Genouilly, và chính mắt tôi năm 1919, đã đến nơi nầy và đã thấy bia đá hoa De Lagrée, nhưng cái số bia nầy không ở đâu được bền, vì khi chúng ta phá hình đồng De Genouilly để lấy chỗ dựng hình Đức Thánh Trần (như ngày nay đã thấy), thì cả khu bia De Degrée và hình đồng De Genouilly cũng đã dẹp mất.

Tôi xin nói luôn, chính cái tượng đồng De Genouilly cũng có lắm tin đồn. Vốn là trước đây, vào đời Tây còn ở đây, dân ở xóm Thủ Thiêm ngang cái tượng tướng Tây gọi “Một Hình” nầy, dân Thủ Thiêm thường bị hỏa hoạn, và có người mê tín bịa chuyện rằng vì tại hình đồng De Genouilly lấy tay chỉ ngay qua xóm Thủ Thiêm nên bà Hỏa đốt nhà, và tin đồn khi Tây nghe như vậy thì có sai người thổi đồng và kéo cái tay ác quái ấy chỉ xuống! Hình đồng nầy nay đã bị thủ tiêu, nhưng tôi đây xin đứng làm chứng, từ sơ khởi hình De Genouilly vẫn nặn ra với tay mặt chỉ ngay xuống đất ý nói nơi đây là nơi đỗ bến của Tây chớ hình bằng đồng dễ gì nấu chảy và nếu nấu thì hình hư chớ nào kéo lên kéo xuống như lời đồn.

Khi tôi viết, thì tôi chẳng biết ngừng, và bài nầy cũng như bao nhiêu bài tôi đã viết, đều “đầu Ngô, mình Sở”, luộm thuộm và bời rời tựa như cơm nếp nát, chung qui là tại khi đang viết và tờ giấy đã không còn chỗ trống, duy có một đôi tứ mới vừa nghĩ ra, thì lúc ấy, chẳng đặng đừng, tôi vẫn lấy trang mới để ghi lại những tư tưởng vừa nghĩa ra ấy, và xin độc giả thông cảm và bỏ qua cho.

Sở dĩ tôi muốn nói thêm là để nhắc lại nơi chỗ dựng hình Đức Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo đại vương ấy, khi chúng dân hạ bộ hình De Genouìlly thì vẫn dựng hình Hai Bà Trưng, nhưng không hiểu lúc đó ai kia đã nịnh mụ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu và đã nịnh bợ thêm một lần nữa là đưa thêm con gái mụ Nhu lên đứng gần mẹ để thay Hai Bà, và việc tày trời, trời bất khả dung, khiến khi lật đổ họ Ngô, dân chúng phẫn nộ và đã chém đứt hai đầu Lệ Xuân và Lệ Thủy và lôi xuống đất và kéo bù lăn bù lóc một quãng đường thật xa thì dân mới đã nư.

Và chuyện dân bên Thủ Thiêm cho đến nay chưa phát triển gì được là tại khó xây một chiếc cầu nối liền Thủ Thiêm qua vùng thị thành, ấy chẳng qua vì nếu xây cầu thì làm sao cho tàu bị hư sẽ kéo lên sở Ba Son cho được. Xét ra khu Ba Son đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh và đó là khu gọi Tàu Ô. Cũng như trong câu hát thường và vẫn còn người truyền tụng là câu “Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm…” thì con đò xưa ấy có phải chăng ở ngay bến phà ngày nay?

Lại nữa một địa danh khác cũng trong vùng nầy là “Cột cờ Thủ Ngữ” Tây trước đây gọi “Pointe des Blagueurs” – tôi dịch “Mũi Tán Dóc”, thì đó là Bến Tắm Sông của vua Miên ngự tại Sài Gòn, tên Bến Ngự là do ta đặt và phiên dịch tiếng Miên Kompong-Luông (Kompong là Vũng nước, Luông là Vua). Tôi lại nói sa đà nữa rồi và nhắc lại năm trước lúc tôi còn làm việc nơi viện bảo tàng, một buổi sáng sớm khi đạp xe tới mé sông Sài Gòn khu gần Ba Son nầy, tôi vẫn thấy một chiếc xe nhà binh đangdùng máng lớn xúc từ dưới đất lên một mớ bình vôi loại có quai thời Tự Đức hoặc xưa hơn nữa và tôi đã không kịp xin máy ngừng và những bình vôi đó đã rớt rơi bể nát tan tành, cũng như gần đây, nhơn đào đất vùng nầy để đặt ống dẫn nước cống, thì phu đào đất vẫn còn gộp vô số bình vôi loại có quai như vậy và các việc ấy chứng tỏ vùng mé sông Sài Gòn từ Cầu Mống đến sở Ba Son, vốn là di tích của Sài Gòn đời Đàng Cựu vậy.

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessneger.com

Vương Hồng Sển
(Gia Định ngày 28 October 1993)

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 35

Thơ Gởi Cho Hoàng Và Thắng Về Chữ Viết Tắt Địa Danh, Nhân Danh Cũ Đất Nam Kỳ

Hai em mến,

Hồi sáng nầy, khi hai em về rồi, tôi soạn lại các bản thảo đã viết, rõ ràng trong tập số 11, viết năm 1978 đến 1982, nhan là:

Tôi biết gì về:

1) địa-danh Cao Miên và nhân-danh cũ đất Nam kỳ Lục tỉnh.

2) Đồng Tháp Mười,

(tiếp theo là bộ “Tự-vị Tiếng miền Nam”)

mở đầu có một bản đầy đủ: cách sắp xếp, lối viết tắt, và lời dặn thêm của Lê Ngọc Trụ, v.v…

Thế mà hai em nào có đọc và tuy vậy vẫn cong lưng in thành trang quyển tự-vị và sáng nầy lại làm cho tôi hết hồn, và dặn tôi viết dùm những chữ viết tắt. Việc hai em làm như vậy, xin cho tôi nói và nhấn mạnh:

“Vous avez mis la charrue avant les boeufs”

Và tôi buồn trong lòng là hai em quá cẩu thả và làm lấy có, nếu chịu khó đọc trước khi in tự-vị, bản “Tôi biết gì về…” thì đã không có việc đến nhà sáng hôm nay.

Cũng như bản “Hơn nửa đời hư”, đã cắt bỏ, và in sai nhiều chỗ, hôm qua tôi được thơ Hà Nội của Nguyễn Huệ Chi, có đoạn viết:

“Mong bác bớt buồn về việc cuốn sách in ra bị cắt xén. Đó hình như là tình trạng chung của bất kỳ cuốn sách nào khi chịu qua lưỡi kéo kiểm duyệt để ra mắt độc giả, ở bất kỳ nước nào, ít ra là trên mảnh đất Á Đông còn nhiều “ông hoàng bà chúa” (bỏ đoạn sau)…

“Cháu hi vọng bản thảo của bác vẫn còn giữ được và đến một lúc nào đây ta sẽ khôi phục lại đầy đủ. Sách của bác rất hay, cách viết có phong cách riêng khó lẫn, nếu gặp được một tay biên tập cừ chắc sẽ không cắt đi như tay biên tập sách của bác.

“Cháu kính chúc bác dồi dào sức khỏe để tiếp tục cho ra mắt những “cuốn sách đặc sắc khác”.

Nếu trên đây tôi chép lại bức thơ của Huệ Chi, sự thật không phải để khoe mà kỳ trung là lời thân mật cảnh cáo hai em, qua đây năm nay định bỏ ăn khao và đang chờ xem lời phán đoán thế nào về việc gia-đạo kia, vậy xin hai em kể đây như là lời trối vậy.

Kính cẩn và trân trọng

Ng.Q.Thắng và Ng.Minh Hoàng.

Vương Hồng Sển

Chú Tư Cầu

vandoanviet.wordpress.com

Lê Xuyên

Post on 27 Sep 2018

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Văn Học Miền Nam 54-75

Kỳ 4

Lời tựa

Hiện tượng của truyện dài viết từng đoạn, đăng từng kỳ nơi trang trong các nhật báo, như chúng ta đang thấy lan rộnq thành một lan rộng bao trùm toàn diện, đẩy hầu hết những cây bút sáng tác chuyên nghiệp hiện nay tới kiếm tìm một văn thể mới, áp dụng một bút pháp mới. Kỹ thuật được mệnh danh là kỹ thuật viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày, ở mỗi người viết, phơi bày thành một phong cách biểu hiện khác nhau, nhưng mục đích muốn tới và dụng tâm cuối cùng thì giản đơn và sáng rõ là một.
Đó là: tuy đăng từng ngày, mỗi ngày một tiểu đoạn, nhưng cách viết và lối dựng truyện phải là những bí quyết sắc bén giam nhốt không rời thần trí và ham thích người đọc, đã bước chân qua cửa truyện, là không thể trở lui, phải từng số từng ngày đợi chờ đọc tiếp. Người người viết truyện trữ tình đăng trên nhật báo bây giờ thảy đều mơ tưởng trở thành một Kim Dung kiếm hiệp. Một mở đầu đã đầy đặc những tình tiết bốc cháy từ những dòng mê đắm thứ nhất. Chuyển đoạn vừa đố vừa giảng. Chuyện đang vòm trời hiện tại thoắt đã chân trời tương lai. Bằng những diễn biến bây giờ, bằng hồi tưởng, đột ngột kéo ngược hết về thì quá khứ. Bất ngờ cắt đứt một sáo trộn đóng khung trong một cảnh trí này, ném bỗng sáo trộn ấy vào một cảnh trí hoàn toàn khác biệt. Đang thuật đang tả chuyển thành viết thư, nghiêng sang nhật ký. Và thuật tả cũng luôn luôn phải đối thoại len vào. Trăm nghìn sảo thuật hâm nóng cảm giác, làm ngỡ ngàng mọi tưởng trước, sai lạc mọi phán đoản ấy, đã được chuyên chở bộn bề vào tiểu thuyết đăng báo chúng ta hiện nay, bằng con đường điện ảnh, bằng vay mượn và phối hợp cách thức viết với cách thức thực hiện phim ảnh. Nói chung, đó là kỹ thuật của loại phim truyện trinh thám, nghẹt thở, giật gân, bao giờ cũng tạo được tác dụng làm căng thẳng giác quan ta.
Ở ngòi bút Lê Xuyên và tiểu thuyết Lê Xuyên, vì cũng viết ra trước hết cho báo hàng ngày, chúng ta cũng thấy thấp thoáng sự nhập nội vào văn thể những kỹ thuật ấy. Nhưng Lê Xuyên không chỉ giới hạn khả năng trước tác của mình vào xử dụng kỹ thuật tiểu sảo. Và tiểu thuyết Lê Xuyên thật đông người đọc, tất còn phải chứa đựng, một sắc thái độc đáo nào? Câu trả lời là có. Đó là không khí, cảnh trí, những khuôn mặt điển hình, những cuộc đời đặc biệt những danh từ địa phương, cùng lối miêu tả sự việc bằng đối thoại cực kỳ linh động chỉ thấy ở tiểu thuyết Lê Xuyên.
Không khí, bầu trời của văn truyện Lê Xuyên là một không khí rất nước Việt miền Nam, một bầu trời rất miền Nam thôn dã. Đang nắng lửa chói chang, chợt đã mưa rào đột ngột. Phút trước trời còn ngọc thạch, phút sau đã sầm tối mây đen. Kinh rạch chằng chịt, ngòi rạch lang thang. Trong ẩm ướt nhiệt đời, lúa mạ tốt tươi trùm lan thành nườm nượp mùa màng. Trời, đất, cỏ, hoa nồng cháy một hiện tượng giao tình thường trực. Không khí có sấm chớp trên kia và đời sống dưới này là rạo rực hình hài, là thần kinh bốc lửa. Như Cửu Long nước đầy, thiên nhiên và địa hình miền Nam đã là những phát hiện tự nhiên chan hòa sức sống. Bằng những liên hệ biện chứng với ngoại giới, người và đời sống của người, bởi vậy cũng đồng dáng với thiên nhiên và đồng tính với địa hình. Người đọc đã hiểu tại sao là nhân vật và nhưng diễn biến tiểu thuyết Lê Xuyên thật hiếm ít những dấu tích và những đặc thù của văn minh phường phố. Tư Cầu có thể một bữa kia ra tỉnh. Đi coi hát bóng, vào phònq trà. Nhưng nguồn gốc, lẽ phải, hạnh phúc và cái làm nên thế quân bình cho đời sống Tư Cầu và những người đàn bà trở thành đối tượng cho bản năng Tư Cầu bốc cháy là giữa cái lồng Iộng phơi phới đó của trời là màn, chiếu là đất, cỏ cây bằng hữu và trăng sao tình nhân. Thôn dã miền nam trong tiểu thuyết Lê Xuyên không rối rắm những phong tục lâu đời, chồng chất những tập quán cố định. Như ta thấy ở Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc hay ở những tiểu thuyết thôn quê, tiểu thuyết phong tục tiền chiến của Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài. Đó là một thôn dã mộc mạc hơn, còn đằm thắm cái đằm thắm ngu ngơ của sơ khai và tiền sử tính. Nước chảy khônq ngăn giòng. Cỏ mọc trăm bãi bờ. Đó là cái trạng thái tự do của tạo vật. Người sống như tung tăng cá lượn, rất hoang cái hoang của con ngựa hồng không yên cương. Đó là cái trạng thái tự do của con người, mặc dầu la một tự do thấp và vô thức. Nhân vật tiểu thuyết của Lê Xuyên không chạy theo sức xô đẩy của tâm hồn, bởi vì không nâng đời sống tới những rung động tâm hồn, mà ném mình vào những vở và tự nhiên của thú tính. Tôi nhắc lại: đó là một phong cách sống tự do, tuy thấp và vô thức, nhưng không phải không lần lên thành những vết đẹp riêng.
Nhiều người cho rằng, truyện Lê Xuyên hay nhất ở những phần đối thoại. Đối thoại có chuyên chở sự việc, có phân tích tâm lý, nghỉa là có thuật có tả ở trong. Nhận xét trên đúng, và cũng dễ hiểu. Ngôn ngữ tiểu thuyết Lê Xuyên là thứ ngôn ngữ nói chuyện không biến hình bằng những chỉnh bút pháp cho chuốt lọc hay văn hoa bay bướm hơn, cho nên cái khó nhất của nghệ thuật viết chuyện là đối thoại thì Lê Xuyên lại thành công tốt đẹp nhất ở đó.
Đề tựa Chú Tư Cầu, tôi không bảo đây là một tác phẩm nghệ thuật. Đăng từng kỳ trên báo hằng ngày rồi mới được in thành sách, chưa một sáng tác nào của chúng ta xứng đáng với ý nghĩa và thực chất phải có của một tác phẩm nghệ thuật. Ý nghĩ sau cùng của tôi về Lê Xuyên: Anh là một cây bút viết truyện có thật nhiều khả năng đáng quý và rồi Lê Xuyên sẽ là người nhận thức và phát huy được rực rở những khả năng đáng quý ấy của mình trong những sáng tác được cô đọng lại, có một chủ đề nhất định, một bố cục vững vàng và châu đáo hơn.
Thế giới tiểu thuyết chúng ta hiện nay là một căn phòng bưng bít tức thở. Người viết truyện sống tập trung trong thành phố, chỉ viết về thành phố. Hè đường, mặt nhựa, cột điện, phòng trà, vũ trường, bin-đinh, gái điếm, khách chơi, quần ống tủm và đợt sống mới xếp chồng lên nhau trong những nội dung tiểu thuyết ngột ngạt đồng dáng. Phải phá vở sự giam nhốt choáng váng ấy. Phải đẩy ngòi bút vào những hành trình cần thiết tới những chân trời mới. Phải mở những cánh cửa khác vào đời, cho bắt gặp nhữnq hình thái sinh hoạt thiên hình vạn trạng đang diễn ra không chỉ ở nơi có lửa điện và nhà chọc trời, mà còn ở những vùng có ánh sáng của trăng sao chiếu soi xuống mênh mông ruộng đồng thôn xóm quê hương đất nước chúng ta. Tiểu thuyết ta hiện đang thiếu vắng, nhiều hơn bao giờ, những chủ đề phản chiến và làm sống lại những thực tế phong phú mới lạ khác biệt hẳn với thực tế cảnh trí phường phố.
Thôn dã và đời sống, con người thôn dã cùng những vấn đề, những thực tế, những khát vọng, những vươn tới của con người thôn dã, phải được đặt thành chủ đề sáng tác chính yếu. Tôi nghĩ những người “có thôn quê trong tâm hồn” Lê Xuyên có đủ điều kiện tạo dựng những vòm trời mới bên cạnh vòm trời phường phố đang ngột ngạt phủ trùm lên thế giới tiểu thuyết chúng ta hiện nay.

MAI THẢO

Phần 3

Tới Cần Thơ rồi, bà con cô bác ai có đồ đạc gì để trên mui không, tôi lấy xuống cho!

Anh lơ xe vừa la vừa leo tót lên mui để chuyển đồ đạc xuống cho hành khách…

– Cô Hai có gởi cái gì trên mui xe không cô Hai? (Anh khách sốt sắng hỏi Phấn).

– Tui và anh Tư, mỗi đứa chỉ ôm theo một gói quần áo thôi, chớ hổng có gì khác hết chú à.

– Ờ như vậy cũng tiện. Tôi đi đâu cũng xách cái cặp da này thôi.

Phấn ngó quanh quất một hồi rồi hỏi anh khách:

– Ủa bộ xe không qua tới chợ Cần Thơ sao chú?

– Đâu có cô Hai! Xe nó chạy tới đây thôi, bây giờ mình phải qua bắc để xuống chợ Cần Thơ.

– Vậy mà tui tưởng xe nó chạy thẳng tới bến chớ ! Rồi bây giờ mình làm sao đi đây?

– Cô Hai để tôi lo cho!

Rồi anh khách căn dặn Phấn:

– Cô Hai với anh Tư đứng đợi tôi ở đây nghen? Tôi đi mua giấy bắc và luôn tiện tôi đi hỏi thăm coi chuyến xe Sàigòn chót chiều nay chạy chưa để rồi mình còn liệu.

Phấn vội mở cây kim tây gài túi áo, móc cái bóp nhỏ ra:

– Chú cầm tiền theo để mua dùm hai cái giấy bắc cho tui chớ

Anh khách vừa quay lưng đi vừa khoát tay:

– Được mà cô Hai, tôi mua luôn cho ba người mà! Chút đỉnh chớ có bao nhiêu mà cô Hai phải đưa tiền.

Nói xong anh khách rảo bước đi thẳng. Phấn tần ngần nhìn theo rồi cúi xuống cất cái bóp vô túi, gài kim tây lại.

Thấy vậy, Tư Cầu lên tiếng:

– Cha, chú đó coi bộ tốt quá…

Phấn nghe Tư Cầu khen như vậy, quay lại nhìn anh ta rồi bỗng dưng bực mình nạt ngang :

– Hứ, tốt! Anh hổng biết khỉ khô gì hết mà cũng nói tốt!

Tư Cầu ngạc nhiên cãi lại:

– Coi kìa, người ta mắc công lo cho mình như vậy là tốt chớ còn gì nữa!

Phấn nhìn nó, chắc lưỡi, lấc đầu rồi dịu dàng nói:

– Đâu phải vậy là tốt.. Anh hổng biết đâu… Chỉ có anh là tốt thiệt tình mà… anh cũng hổng biết tới nữa!

Tư Cầu lẩm bẩm:

– Sao kỳ vậy, anh có làm cái gì đâu mà tốt cà!

Phấn gượng cười đáp:

– Không, em nói thiệt mà! Anh hổng có nhúc nhích, cục cựa gì hết mà anh vẫn tốt như thường…

Rồi bằng một giọng tha thiết, cô nói tiếp:

– Em còn nhớ có bận anh cho rằng anh hổng bằng em, anh hổng bao giờ theo kịp em… nhưng đến bây giờ em mới biết rõ là em còn thua xa anh rất nhiều! Hổng có bao giờ em bì kịp với anh hết!

Tư Cầu ngơ ngác rồi gượng cười:

– Thôi đi, bộ em tính bơm ngọt hay nói móc lò anh hả?

Phấn nghiêm mặt đáp:

– Em nói thiệt mà! Bây giờ em nói như vậy mà cho chừng mười hay hai chục năm về sau nữa, em cũng vẫn nói y như vậy. Anh hơn em nhiều…

Tư Cầu chặn ngang:

– Đừng nói giỡn chớ! Hồi má em còn sống, bác hay nói anh sánh hổng tới mắt cá của em kia mà!

Phấn lắc đầu và buồn rầu nói tiếp:

– Thôi anh nhắc làm chi chuyện cũ mèm đó! Ngay đến em đây mà tới bây giờ em mới biết là em thua anh xa… Em hổng xứng đáng chút nào đối với tấm tình yêu thương của anh. Cái gì em cũng so đo hết, chớ còn anh, anh thương em mà hổng suy tính thiệt hơn gì hết….

Nghe Phấn kể lể một hồi như vậy. Tư Cầu nhăn nhó nói:

– Thiệt đối với em, anh hổng biết đâu mà rờ… Hồi trước em cự nự anh thì cũng rắc rối, mà bây giờ em lại khen lao anh, thì cũng vẫn… rắc rối như thường! Hèn chi anh nói hoài: đàn bà con gái là hay rắc rối tổ mẹ… Thôi, chú gì đó, chú đi lợi kìa! Em hỏi chú coi còn xe cộ gì hông, hay là hết luôn nữa đi thì tụi mình xui xẻo tận mạng rồi!

Vừa lúc ấy, anh khách đi xăm xăm tới, tay xách cặp, tay cầm mấy cái giấy bắc vừa kêu:

– Mau đi xuống bắc, cô Hai ơi!

Phấn vội khều Tư Cầu và hai đứa rảo bước đi theo anh khách xuống bắc…

Chiếc bắc từ từ tách bến, đâm thẳng ra giữa dòng sông Bassac.

Phấn đứng dựa vào thành lan can sắt thẫn thờ nhìn dề lục bình lững lờ trôi trên mặt nước mênh mông…

Tư Cầu nghe chiếc bắc chạy kêu xình xịch tò mò rề lại bên hầm máy đứng xem.

Anh khách thấy Phấn đứng một mình nên đi xịch lại gần gợi chuyện:

– Chà, ra giữa sông cái gió mát quá cô Hai há!

Phấn khẽ gật đầu.

– Năm nay nước rong lớn quá không khéo mấy miếng ruộng ở bìa sông ngập ướt lúa hết và lại còn có cái nạn ba con cá rô lên rỉa lúa nữa…

Phấn cười hỏi lại:

– Sao chú ở chợ mà rành chuyện ruộng quá vậy!

– Ý cô Hai đừng chê tôi! Mấy năm trước tôi theo ghe đi lúa nên ruộng đồng, kinh rạch nào mà tôi không lội vô!

– Vậy hèn chi cái gì chú cũng biết hết!

Anh khách vừa sung sướng vừa mắc cỡ cúi đầu, cười nói:

– Cô Hai khen như vậy… chết tôi! À, tự nãy giờ tôi quên hỏi thăm coi ở dưới nhà cô Hai cô làm ruộng vườn gì không cô Hai?

– Hổng nói dấu gì chú, má tui cũng có chút đỉnh đất điền, nhưng cửa nhà đơn chiếc, anh Hai tui mấy lo làm vườn, thằng em tui thì còn đương đi học nên cho họ mướn lợi hết chú à… Bà già tui cũng mới mãn phần đây nên ở nhà, trước sau chỉ có ba anh em với chị Hai, vợ của anh Hai tui nữa thôi…

Anh khách vội sốt sắng hỏi thăm:

– Ủa, nếu vậy hai bác đều qua đời hết hả cô Hai? Thiệt tội nghiệp quá!

Phấn lặng thinh, mặt dàu dàu.

Anh khách vô tình nói thêm:

– Vậy sao cô Hai không ở nhà phụ coi sóc ba cái đất điền vườn tược đó cũng đủ ăn thong dong rồi chớ lên Sàigòn…

Rồi như chợt thấy mình lỡ lời, anh khách lại nói trở lại:

– Ờ mà phải, ở nhà còn có hai vợ chồng người anh của cô Hai nữa mà lo gì! Coi vậy chớ nhiều người lên Sàigòn mua bán làm ăn mau phát lên lắm cô Hai à!

Thấy Phấn vẫn đứng nín thinh, anh ta tìm cách hỏi lảng:

– À cô Hai, tôi còn tính hỏi cô Hai cái nầy nữa: cô Hai ở dưới ruộng mà sao trắng tươi như con gái ở chợ vậy? Tôi để ý lấy làm lạ nên hỏi… cho biết vậy mà!

Nghe anh khách rào trước đón sau như vậy, Phấn cũng bật cười:

– Chú cứ ngạo tui hoài. Mấy tháng trước, hồi tui còn lo nuôi vịt (nói tới đây Phấn ngước mặt nhìn về phía Tư Cầu) tui cũng đen thùi vậy, nhưng tới khi má tui đau nặng, tui dìa ở cấm cung riết trong nhà nên nước da cũng nhả nắng được chút đỉnh…

– Ý cô Hai cũng nuôi vịt hãng nữa hả cô Hai?

– Tui nuôi một bầy khá bộn để làm vốn riêng nhưng bây giờ đi bỏ lại hết cho thằng em tui coi… nhiều lúc nghĩ tới thiệt tiếc hùi hụi…

Anh khách nghe vậy không dám hỏi rõ thêm và tìm cách nói lảng ra:

– Thiệt tôi không dè cô Hai khéo chịu khó làm cho sanh lợi thêm như vậy… Cái điệu nầy lên Sàigòn cô Hai mua bán làm ăn nổi lên mây hồi!

Phấn thật thà hỏi lại:

– Chú thì quen rành ở trển, vậy chú thử coi tui lên trên đó có mần ăn gì được không?

– Ối, với cô Hai thì tôi biết dư sức mà! Cô Hai cứ tin tôi đi, để lên trển tôi liệu dò hỏi rồi chỉ vẽ cho cô Hai cách làm ăn, thì khỏi sợ thất báị gì ráo trọi! Tôi nói thiệt chớ không phải thấy cô Hai mới lên Sàigòn rồi kiếm cách nói bông lông cho vui bụng cô Hai đâu.

Phấn vội nói:

– Tui biết mà chú! Để lên trển rồi thế nào tui cũng nhờ chú chỉ học cho cách thức buôn bán… Ờ, tự nãy giờ mắc lo nói chuyện tui quên hỏi chú coi còn chuyến xe chiều nào lên Sàigòn nữa không chú?

Anh khách vỗ đầu, chắc lưỡi:

– Ý, tôi cũng quên khuấy đi! Trễ hết rồi cô Hai à!

Phấn lo ngại kêu lên:

– Trời ơi, nếu vậy rồi tối đêm nay lóng nhóng chờ suốt một đêm cho đến sáng mới có xe sao?

Anh khách ôn tồn đáp:

– Cô Hai đừng có lo, mình mướn nhà ngủ ở tạm thời ba, bốn giờ sáng thì có xe “đề-ba” rồi, hay là mình muốn đi tàu thì xuống mướn ghế bố nằm nghỉ cũng được, nhưng đường tàu thì vòng vo và chậm chạp hơn.

Phấn làm thinh lấy chân chà chà lên sàn bắc và cúi đầu suy nghĩ…

Một lát, như đã quyết định điều gì, Phấn ngước mặt lên nhìn thẳng vào mặt anh khách và chậm rãi nói:

– Thiệt tui mới gặp chú đây chớ tui… trọng chú lắm! Thôi thì nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt, hổng nói dấu gì chú, tui với anh Tư đây chưa cưới hỏi gì hết… và cũng vì vậy mà hai đứa tui… đi như vậy!

Anh khách nghe nói như vậy nở một nụ cười thích chí:

– Tôi đoán không sai mà…

– Bộ chú biết hả?

– Thì sờ sờ ra đó làm sao hổng biết được! Tôi nói thiệt với cô Hai, dầu tôi có đứng cách xa một cây số, tôi cũng nhận ra liền..

Phấn lo lắng hỏi:

– Chèn ơi, lộ quá như vậy sao chú! Mà tui chắc chú cũng… giữ kín việc nầy cho tui. Tui tin chú lắm nên mới nói rõ sự tình như vậy…

Anh khách dợm đặt tay lên vai cô Phấn nhưng lại rút về kịp và nói:

– Cô Hai yên tâm! Đó là việc riêng của cô Hai với anh Tư, tôi xen vô làm gì. Tôi mà có ý gì khác xin Trời đừng để mạng tôi…

Phấn vội khoát tay:

– Thôi… thôi, ai nghi ngờ gì đâu mà chú phải thề chớ ! Bộ tui đui sao hổng thấy chú hết sức lo lắng giúp đỡ từng ly, từng chút cho hai đứa tui.

Anh khách hỉ hả đáp:

– Nếu cô Hai đây biết rõ lòng dạ tôi như vậy thì còn gì bằng!

… Thấy chiếc bắc sắp cập bến, Tư Cầu rời chỗ hầm máy để đi lại đứng gần bên Phấn:

– Cha, con sông cái lớn minh mông như vậy, chiếc bắc lại chở khẩm đừ mà nó cũng chạy mau quá!

Anh khách góp lời với anh ta:

– Nếu mình đi lên Sàigòn bằng đường xe thì còn qua lại cái bắc này và còn thêm cái bắc ở Mỹ Thuận nữa.

– Vậy hả chú!

Vừa lúc đó, Phấn chen vô hỏi anh khách:

– Còn chút nữa tui quên khuấy mất! Hổng dám nào chú cho hai đứa tui biết chú thứ mấy, để tụi tui kêu nó phải phép một chút, chớ cứ kêu “chú’; trống không hoài cũng kỳ quá!

Anh khách vui vẻ đáp:

– Ôi cái đó có sao mà cô Hai phải để ý! Nhưng nếu cô Hai muốn biết thì tôi cũng không đám dấu và thật ra thì tôi cũng muốn y như ý của cô Hai để cho nó được… thân mật hơn. Tôi thứ ba, cô Hai à!

– Ủa, chú cũng thứ ba nữa hả?

– Ờ tôi thứ ba, mà sao hả cô Hai?

Phấn hơi xẻn lẻn cúi mặt đáp:

– Tui cũng thứ ba nữa chú à!

Anh khách bật cười lấy tay vỗ mạnh vào cái cặp đang xách:

– À tôi nhớ rồi! Hồi nãy, trong lúc tôi hỏi thăm về ở dưới nhà, cô Hai đã có cho tôi biết là cô còn có một người anh và một người em. Vậy mà tôi quên mất tiêu chớ! Vậy ra tôi với cô Hai cộng đồng một thứ với nhau à?

Phấn mỉm cười sửa lại:

– Cô Ba chớ cô Hai hoài!

Anh khách cười nghiêng ngả:

– À quên nữa cô Ba!

Rồi anh ta vừa ngó Phấn vừa gật gù nói nhỏ:

– Ừ phải… tiếng “cô Ba” hay hơn nhiều!

Khi chiếc xe lôi từ cầu bắc chạy đến nhà đèn để qua chợ Cần Thơ, anh phu xe lên tiếng hỏi:

– Mấy cô cậu xuống ở đâu đây?

Anh khách vọt miệng nói:

– Chú đạp xuống dưới nhà ngủ Tây Hồ cũng được.

Phấn nghe anh khách bảo anh xe lôi như vậy, ái ngại hỏi:

– Bộ chú Ba tính mướn phòng ngủ ở thiệt sao chú?

Anh khách gật đầu:

– Thì bây giờ mình chỉ có nước đó thôi… hay là cô Ba có nhà bà con hay quen biết gì ở trên nầy không?

Phấn lắc đầu lia lịa:

– Không, không có đâu! Mà dầu có nữa thì… (nó mỉm cười nhìn người khách) ông nội tui cũng hổng dám chui đầu vô lữa!

Anh khách cũng cười:

– Ừ phải…

Rồi như nhớ trực lại điều gì, anh khách nhổm người lên nghiêm mặt nói nhỏ với Phấn:

– Tôi nghĩ lại rồi cô Ba à, mình có mướn phòng cũng không êm nữa mới chết chớ!

Phấn lo lắng hỏi:

– Sao! Cái gì nữa hả chú Ba?

– Mình mướn phòng thì lại kẹt gắt chớ không phải chơi, vì thế nào họ cũng hỏi giấy tờ để biên tên họ mình vô sổ.

Tư Cầu nghe lỏm được nói chen vô:

– Tui biết mà ! Cái điệu đó mình đút đầu vô ở thì bị lòi chành ra liền.

Phấn bực mình chặn ngang:

– Hứ, biết vuốt đuôi vậy mà cũng nói biết! Anh mà nói ầm ầm lên thiên hạ hay ráo trọi hết bây giờ.

Tư Cầu bực mình:

– Thì cũng phải để anh nói cái đã chớ! Đó, em tài khôn tài khéo lôi đi ẩu hổng biết tính trước đường đi nước bước ở dọc đường, nên bây giờ sượng hết đó!

Phấn ngó nó chăm bằm và hỏi gằn:

– Bây giờ tính đổ thừa hay sao đây?

Tư Cầu cười mũi:

– Đổ thừa khỉ gì!… Đều nói cho biết vậy thôi!

Phấn gục gặc đầu:

– Bây giờ tui coi bộ anh giỏi đa!

– Hổng giỏi gì mà… vừa xài vậy thôi.

– Ê anh Tư! Hổng phải tui nói vậy rồi anh được mới làm tới nghen! Tui cho anh hay con nầy chưa chắc cần đứa nào nghen!

Tư Cầu thủng thắng đáp:

Thì thằng nầy cũng chưa chắc cần đến đứa nào…

Nhưng rồi không biết nghĩ sao, anh thở dài dịu giọng nói với Phấn:

– Thôi, tui lạy bà nội! Thôi, anh xin em vuốt giận. Chẳng lẽ tụi mình dắt nhau lên đây để nói chanh nói chua với nhau sao? Em dư biết rằng nếu anh hổng thương em thi anh đâu có nhắm mắt mà đi theo bừa lên đây.

Anh khách nãy giờ lẳng lặng chứng kiến cảnh đó, nên tìm cách nói xen vô để tỏ ra mình là người sỏi đời hơn hết:

– Thôi, tôi xin can hai đàng… Tôi xía vô đây, thiệt ra thì không phải, nhưng dầu sao tôi cũng được quen biết với anh Tư và cô Ba trên xe, dầu mới quen nhưng cũng đã là quen rồi! Vậy mình nên bàn tính chuyện ăn ở cho qua đêm nay trước đã, rồi có việc gì thì để phân giải sau. Tôi nói vậy cô Ba và anh Tư nghe có phải hông?

Tư Cầu thở dài:

– Chú nói vậy thì phải rồi…

Phấn mặt hầm hầm ngồi lặng thinh. Anh khách ngó Phấn hỏi:

– Sao cô Ba, cô tính thế nào?

Phấn nói lẫy:

– Tui bây giờ hổng tính gì hết!

Anh khách mỉm cười:

– Coi bộ cô Ba tính buông xui hết sao? Bây giờ thì mình phải gạt hết cái chuyện mướn phòng qua một bên rồi. Điệu này chỉ có nước đón tàu đi thôi.

Phấn hỏi lại:

– A, bộ đi xe hổng được nữa sao?

– Được thì cũng được rồi, nhưng kẹt vấn đề nghỉ lưng đêm nay. Mình đi tàu được cái tiện là xuống mướn ghế bố ở dưới nghỉ luôn, rồi chừng nào nó chạy thì chạy. Như vậy khỏe ru, nhưng hơi chậm chạp một chút.

Phấn nhún vai:

– Được rồi chú tính sao đó thì tính chớ thiệt tui hết biết rồi!

Anh khách tươi cười đáp:

– Cô Ba để tôi lo hết cho, miễn sao cô Ba… và anh Tư đến Sàigòn bình an vô sự thì thôi!

Vừa lúc đó anh xe lôi hỏi:

– Sao mấy cô cậu xuống nhà ngủ Tây Hồ phải hông?

Anh khách mau miệng đáp:

– Chú cho tụi tôi xuống cầu tàu Lục Tỉnh cũng được!

Khi xuống xe lôi rồi, anh khách lẹ tay móc bóp trả tiền cuốc xe rồi ngó ngoái xuống bến tàu:

– Ối tàu hai ba chiếc thiếu gì! Thế nào cũng có chiếc khuya nay chạy lên Sàigòn… Ờ phải rồi, có chiếc “Nguyễn văn Kiệu” kìa!

Rồi anh ta dặn Phấn và Tư Cầu:

– Cô Ba và anh Tư đứng đây để tôi xuống dặn chỗ mướn ghế bố trước nghen!

Nói xong anh ta xăng xái xách cặp đi xuống bến tàu…

Tư Cầu ôm gói quần áo rề lại đứng dựa vào lan can cầu tàu lơ đảng nhìn xuống mặt nước sông… Bầy cá lòng tong và cá he con nhởn nhơ lượn đi lượn lại gần sát bên mé bực thạch để kiếm mồi, như không đếm xỉa cái không khí chuyển động của bến sông Cần Thơ…

Tư Cầu cảm thấy nhớ tiếc đến đến cái chòi con trên giồng cheo leo giữa đồng trống. Anh ta đã sống bao nhiêu nam ở đó mà không biết trên đời này còn có một con Phấn, một chuyến xe đò, một chú khách và… một con đường lên Sàigòn.

Phấn đến sau lưng anh ta lúc nào mà anh ta cũng không hay:

– Coi cái gì đó anh Tư?

Tư Cầu giựt mình quay lại hỏi:

– Mua giấy tàu rồi hả?

Phấn chau mày:

– Bộ anh mớ hả? Người ta hỏi coi cái gì đó mà anh nhè nói lại ăn trét hết!

Tư Cầu xẻn lẻn:

– Vậy hả? Thì anh có coi cái gì đâu… Buồn buồn ngó bậy ba con cá lòng tong chơi vậy mà!

– Mẹ ơi, cái chuyện quýnh bên đít mà coi cá lội chơi chớ!

Tư Cầu chậm rãi hỏi lại:

– Vậy em làm ơn nói cho anh biết coi anh phải lo cái gì bây giờ?

Rồi không đợi cho Phấn trả lời, anh ta nói tiếp:

– Mua giấy tàu thì đã có chú gì đó chú lo rồi, bây giờ mình chỉ có nước là đứng đây chờ chú trở lên coi ra sao, chớ lo cái khỉ mốc gì nữa!

Phấn không biết nói sao nên tìm cách bắt bẻ:

– Người ta là chú Ba, mà anh cứ kêu chú gì, chú gì hoài!

Tư Cầu trề môi, nhún vai:

– Ừ thì chú Ba, chú Ba!… Rồi sao nữa?

Phấn quay mặt đi:

– Thì sao anh biết đó! Tui biệt thèm nói tới nữa đâu!

Tư Cầu cười mũi:

– Cha, phải hồi đó hổng nói tới… sớm sớm cho người ta nhờ một chút!

Phấn lo mắt nhìn nó:

– Đừng có nói cái giọng đánh đầu đó nghen! Nói thiệt với anh: tui đâu phải cá tôm gì mà sợ ế, sợ sình, sợ thúi!… Cha, mới đây mà coi anh lên mặt dữ đa!

Tư Cầu gục gặc đầu nói trổng:

– Phải mới đây mà coi bộ khác đa!

Nghe Tư Cầu nói vậy, Phấn khựng lại một hồi thở dài:

– Em nói đây có Bà Cậu làm chứng: thiệt tình thì em thương anh lắm… nhưng có lẽ tuổi của hai đứa mình hổng chạp. Hễ xa nhau thì nhớ mà lợi gần thì cắn đắng nhau hoài…

Tư Cầu chép miệng:

– Đến nước nầy, hổng chạp cũng phải cho nó… chạp, chớ để… chặt dây, bứt đỏi với nhau sao?

Liếc thấy anh khách lơn tợn đi lên, Tư Cầu nói tiếp:

– Thôi chú… chú Ba chú đi lên kìa! Mình dẹp cái chuyện ạch đụi này qua một bên đi, rồi em hỏi chú cái việc tàu bè ra làm sao…

Vừa đi gần tới, anh khách đã tươi cười nói lớn:

– Xong hết rồi! Khuya nay lối bốn giờ tàu chạy, tôi có đặt cọc trước ba cái ghế bố cho đám mình rồi đó!

Phấn tươi tỉnh lên tiếng:

– Vậy hả? Mà chú dặn trước chi tới ba cái ghế lận?

– Thì ba người ba cái chớ sao?

– Phải rồi, nhưng sao chú không mướn phòng ở để sáng đi xe lên Sàigòn cho sớm hông thôi trễ nải công việc mần ăn của chú hết! Chú để hai đứa tui đi tàu cho cũng được mà!

Anh khách lắc đầu, chắc lưỡi liên hồi:

– Coi, làm vậy sao được! Tôi đã hứa lo cho cô Ba thì phải lo cho… trót chớ! Đã đành rằng đi tàu nó hơi vòng vo tam quốc một chút, nhưng thây kệ… công việc của tôi có trễ một ngày hay hai ba bữa nữa thì cũng hổng ăn nhằm gì hết mà cô Ba! Thôi bây giờ tôi xin mời cô Ba và anh Tư đi ăn cơm với tôi, mình cũng phải kiếm ba hột cơm chiều lót dạ cái đã rồi tới đâu thì tới chớ… phải hông cô Ba?

Phấn mỉm cười lắc đầu:

– Thôi, chú Ba đi ăn cơm một mình đi! Tụi tui xuống dưới tàu trước, rồi kiếm bánh mì hay bánh dừa, bánh ú gì ăn qua loa cũng được mà!

Anh khách liền lôi Tư Cầu đi:

– Đi anh Tư! Đi cô Ba! Tôi đã nói tôi bao trọn hết mà ! Bây giờ cô Ba muốn ăn cơm dĩa hay cơm thố đây ?

Phấn lúng túng không biết trả lời làm sao vì lên Trà Ôn thì cô ta còn rành đôi chút, chớ tới Cần Thơ thì cũng… chịu phép luôn như Tư Cầu. Sau cùng cô đành trả lời… nước đôi :

– Thì chú Ba liệu coi ăn cái gì tiện đó thì ăn…

– Được rồi, để tôi dắt cô Ba và anh Tư đi “tiên lầu” ăn cơm thố một bữa cho nó lạ miệng và chắc bụng…

… Bước chân ra khỏi tiệm cơm, Tư Cầu lên tiếng hỏi anh khách:

– Bây giờ mình đi đâu chú Ba?

Phấn hớt trả lời:

– Thì còn đi đâu nữa! Bây giờ chỉ còn nước xuống tàu để nằm nghỉ cho khỏe.

Anh khách cũng nói theo:

– Mình đi xuống tàu, anh Tư à!

Tư Cầu buông thõng một câu rất là yên phận:

– Ừ đi thì đi!

Xuống dưới tàu, anh khách dẫn hai đứa nó đi thẳng ra phía sau lái, chỗ riêng dành cho các hành khách mướn ghế bố nghỉ lưng.

Anh khách chỉ một hàng ba cái ghế bố ở ngoài bìa:

– Đây chỗ của mình đây ! Cô Ba với anh Tư nằm ở cái bên trong đi và để tôi trấn cái ngoài bìa nầy cho.

Tư Cầu kéo anh khách vô phía trong:

– Chú… chú Ba vô trong đi, để tôi ở mé ngoài nầy hút thuốc cho tiện.

Phấn lên tiếng hỏi:

– Vậy tui nằm đâu đây?

Anh khách mau miệng đáp:

– Cô Ba nằm giữa chớ nằm đâu nữa! Để tôi với anh Tư thủ hai bên cho ăn chắc, chớ đi tàu đi bè ban đêm nầy cũng phải phòng xa cái nạn móc túi hay bối nữa cô Ba à!

Phấn ôm gói quần áo đến ngồi bên chiếc ghế giữa rồi tươi cười nói:

– Được rồi, để tui làm… cục nhưn cho!

Thừa lúc Tư Cầu quay lưng đi để lui cui kéo sửa chiếc ghế bố của anh ta lại cho ngay ngắn, anh khách kề bên tai Phấn nói nhỏ:

– Cục nhưn nầy coi bộ ngon lắm đa!

Phấn vội dang đầu ra và chau mày háy anh ta một cái.

Anh khách liếc sơ qua thấy bộ tịch làm ra bộ màu mè của Phấn như vậy, nên yên tâm và lại còn nói lớn lên :

– Thiệt là ngon đa!

Tư Cầu quay vội lại hỏi:

– Cái gì mà chú la ngon rùm trời đó hả chú Ba?

Phấn vội đáp thế:

– Người ta nói bữa cơm chiều vừa rồi ngon chớ cái gì mà hỏi hồng biết!

Tư Cầu nhìn anh khách gật gừ:

– Ừ cơm ngon gật đa chú Ba!

Anh khách vừa ngả lưng lên ghế bố vừa tươi cười đáp:

– Tôi dắt đi thì phải ngon rồi!

Rồi anh ta quay đầu qua phía Phấn:

– Sao cô Ba hổng nằm nghỉ lưng đi! Trời tối rồi…

Phấn ngồi lên một bên mép ghế, chân bỏ thõng dưới đất, xẻn lẻn trả lời:

Cái ghế bố nầy giống ghế xích đu, nằm ngửa chê hê ra coi kỳ cục quá!

Anh khách nhổm đầu lên:

– Coi cái gì đâu mà kỳ! Thiên hạ cũng nằm loạn xạ ra đó chớ phải một mình mình sao mà cô Ba mắc cỡ! Hay cô Ba muốn nạm nghiêng cũng được nhưng thế nào rồi cái mình cô cũng dồn cục xuống và bị cấn chơn… Thì nằm dài ra gác chân lên chỗ sạp cây phải sướng hông!

Phấn lấy chiếc khăn bàn lông đội lên đầu rồi nằm xuống, bỏ hai đầu khăn phủ lên ngực. Cô đặt gói quần áo lên bụng, hai tay ôm giữ lấy và đôi chân cô gác chéo lên nhau.

Chiếc quần lãnh trơn đen mướt rượt hơi kéo vén lên trên để lộ ra chót bắp chuối và những nếp hàng lãnh mềm mại rủ xuống chiếc bấp vế tròn lẳn gác đè lên nhau…

Ở bên này, Tư Cầu nằm duỗi chân, vun vai làm chiếc ghế bố kêu răng rắc. Anh ta ngáp dài rồi than

– Cha, mỏi chưn quá!

Nghe vậy, Phấn lên tiếng nói:

– Hứ, ở dưới anh lội suốt ngày ngoài đồng hổng sao, bữa nay ngồi xe từ sáng tới chiều, đi bộ có mấy bước mà anh lại kêu trời như bộng!

Tư Cầu vừa vói tay đưa bàn chân lên bóp nắn, vừa đáp:

– Ai hổng biết sao mà giỏi cằn nhằn quá vậy! Ở dưới lội ruộng cả ngày hổng sao là vì lội chưn không, còn hôm nay bị kéo lê hai chiếc… tam bản nầy theo (vừa nói Tư Cầu vừa hất hàm chỉ xuống đôi guốc) nên phồng chưn, phồng cẳng thấy mồ thấy tổ đây, chớ bộ sướng ích gì sao!

Phấn nghe Tư Cầu nói vậy bắt tức cười:

– Hèn chi!… Ai biểu anh hổng nói nên ai mà biết được!

Tư Cầu buông phịch chân xuống chỗ gác:

– Hứ, nói ra để cho bà nội bà chụp lấy cự nự nữa hả?

– Ai mà cự nự hồi nào hổng biết!

Tư Cầu lấy tay xua xua trước mặt:

– Thôi, thằng này dư biết mà!

– Ừ dư biết vậy thì tốt!

Nói xong, Phấn vùng vằng trở mình quay lưng đưa về phía Tư Cầu.

Thấy vậy, Tư Cầu còn nói ráng một câu:

– Hổng nói nữa thì ngủ cho khỏe cái thân chớ có gì mà lo!

Ở phía bên nầy, anh khách thấy Phấn quay qua nên lên tiếng gợi chuyện:

– Cha, cô Ba nằm theo điệu tôm kho tàu như vậy mỏi chết đa!

Phấn nhắm mắt lại làm như muốn ngủ.

… Trời đã sụp tối. Đèn điện dọc theo con đường mé sông đã bật cháy. Ở dưới tàu, người ta cũng đã lên đèn. Vài ngọn đèn bão mắc đó đây lờ mờ soi đám hành khách, kẻ nằm ngủ, người tụm năm tụm ba bắt đầu làm quen trò chuyện…

Tư Cầu ngồi xổm dậy móc túi thuốc ra vấn hút.

Anh ta tò mò nhìn lên cái khung cảnh rộn rịp của bến tàu, lên con đường mé sông sáng trưng và nghĩ thầm: “Chắc trên Sàigòn đèn điện còn sáng hơn nhiều nữa!”

Tư Cầu quay mặt ra phía ngoài sông để liệng tàn thuốc.

Anh ta hơi ngạc nhiên khi nhận thấy mé sông bên chợ sáng sủa, ồn ào bao nhiêu thì mé sông phía Xóm Chài tối om và tĩnh mịch bấy nhiêu. Đó đây vài chấm đèn nhỏ nhấp nháy qua màn đêm làm Tư Cầu thấy nhớ dưới Rạch Chiếc lạ!

Ờ, nó mới xa nhà có một ngày chớ bao nhiêu!

Anh ta khẽ thở dài rồi nằm phịch xuống ghế bố.

Tiếng rao lanh lảnh của mấy chị bán hàng trên máy chiếc xuồng chè đậu, cháo gà cặp theo tàu làm Tư Cầu chú ý lắng tai nghe. Nhưng rồi tiếng phì phì đều đều của cái ống xả hơi nước dưới tàu làm anh ta êm tai ngủ khò hồi nào không hay…

Bên nầy, anh khách nhổm đầu lên thấy bên Phấn và Tư Cầu lặng trang nên tằng hắng một tiếng rồi bảo :

– Bộ anh Tư ngủ rồi hả anh Tư?

Không nghe Tư Cầu trả lời, anh khách ngồi hắn dậy kê đầu sát vào mặt Phấn hỏi nhỏ:

– Cô Ba cũng ngủ rồi nữa sao cô Ba?

Phấn cũng làm thinh, nhưng anh khách nhìn kỹ thấy đôi lông mi của Phấn nhấp nháy nên tức cười nói tiếp :

– Thôi, người ta thấy rõ hết, còn làm bộ ngủ làm chi nữa hổng biết!

Phấn vẫn không trả lời. Thấy vậy, anh khách đưa tay khều nhẹ vào vai cô ta:

– Bộ tính ngủ luôn thiệt sao chớ!

Phấn hắt tay anh khách ra và làm bộ phủi phủi trên vai. Anh khách mỉm cười mừng rơn vì biết rằng… không đến đỗi gì và đánh bạo cầm lấy đầu khăn lông của Phấn đấp lên vai cô ta:

– Bộ lạnh hay sao mà cô Ba co ro vậy cô Ba?

Phấn vói níu lấy đầu khăn ghịt chặt sát vô ngực và lẩm bẩm cằn nhằn:

– Lạnh hay không thì thây kệ người ta, ai khiến mình lo hổng biết!

Anh khách được trớn nói luôn:

– Ý không lo sao được! Nói thiệt với cô Ba, hồi mới bước chân lên xe dưới Trà Ôn, gặp mặt cô Ba là tôi bắt đầu… lo liền, chứ không phải để đến bây giờ mới… săn sóc đâu!

Phấn chỉ “hứ” một tiếng, chớ không trả lời.

Là một người sỏi đời, anh khách nghe tiếng “hứ” ngọt xớt đó của Phấn (chớ không phải thứ tiếng “hứ” cộc lốc) dư biết rằng cô ta không có ác cảm chút xíu nào với mình và trái lại là khác!

Làm ra vẻ rất tự nhiên, anh đặt tay lên vai Phấn và lay lay gọi:

– Ngủ làm chi cô Ba! Mình thức nói chuyện chơi, để chừng nào tàu chạy rồi mặc sức ngủ thả cửa…

Anh khách cảm thấy rõ rệt dưới lòng bàn tay một bên vai tròn lẳn, âm ấm và chắc nịch của Phấn, và giọng anh trở nên run run:

– Bộ ngủ thiệt… sao cô Ba?

Để trả lời, Phấn rùn vai, nửa như muốn co rút người lại, nửa như muốn hất nhẹ bàn tay của anh khách xuống, và bàn tay này từ từ tuột xuống ghế bố để rồi nằm yên trên chéo khăn bàn lông mà Phấn vẫn còn giữ chặt hai đầu khăn ấp trên ngực.

Anh khách muốn rút tay ra, nhưng rồi lại để yên.

Đây đâu phải lần đầu tiên anh gần một cô gái trong một trường hợp tương tự như thế này, nhưng anh vẫn thấy hồi hộp như thường. Anh khách nhích tay vào gần thêm một chút, và thêm một chút nữa…

Phấn đã buông nới hai đầu khăn lông từ hồi nào…

Anh khách chắc lưỡi nho nhỏ  thứ da thịt tròn vun, xăn cón…

Phấn hơi ngạc nhiên khi nhận thấy anh khách không có vẻ gì bộp chộp hết!

Cô vặn vẹo mình để né tránh nhưng bề ngang của chiếc ghế bố quá hẹp chỉ đủ nằm vừa khít một thân người. Cô chép miệng rút so thêm hai đôi vai lại và nằm yên nhắm nghiền mắt lại…

Một hồi lâu, thấy sao quá bứt rứt trong mình và sợ người chung quanh để ý Phấn xoay lưng nằm ngửa ra.

Anh khách bắt buộc phải rút tay về. Anh ta nằm phịch xuống ghế bố, nhưng rồi lại quay mặt liền qua bên phía Phấn và nhăn nhó nói:

– Em Ba làm cái gì kỳ quá! Đang yên…

Phấn đỏng đảnh chận ngang:

– Cha, mới có chút đó mà kêu “em” liền!

Rồi đưa mất liếc qua một vòng không thấy ai để ý, cô ta lấy ngón tay xỉa một cái vào trán anh khách :

– Xí ! Vậy mà còn nói người ta kỳ nữa chớ ! Còn mình ẩu tả đó chắc hổng có gì “kỳ” hết phải hông ?

Anh khách vừa cười nho nhỏ vừa vòi tay qua định nắm lấy tay Phấn nhưng bị cô hất mạnh ra :

– Thôi nghen! Hổng phải được mợi rồi làm tới hoài đa!

Anh khách vẫn cười mơn:

– Cha, làm bộ mại hơi hoài… Người ta thấy người ta biết hết..

Phấn nhổm đầu lên sẵng giọng hỏi khẽ:

– Biết hết là biết cái gì hả?

Anh khách gật gù:

– Được rồi, muốn biết thì người ta khai hết ra đây mà biết. Nội cái chuyện mới đụng tới…

Phấn vội khoát tay chân lại:

– Thôi đi anh! Anh kiếm chuyện nói tầm bậy hoài…

– Tầm phải chớ tầm bậy gì!

Rồi anh ta vỗ đùi như muốn reo lên:

– Mà được rồi! Nội cái tiếng “anh” ngọt như mía lùi đó cũng đủ… “phẻ” rồi!

Phấn vói tay véo anh ta một cái:

– Cái anh mắc dịch nầy!… Chớ chẳng lẽ tui kêu bằng chú hoài coi cũng kỳ…

– Thì cũng như tôi vậy! Tôi kêu bằng cô Ba hoài… nghe sao chói tai quá mà!

Phấn làm bộ nghiêm:

– Thôi đi anh ! Anh kêu ầm ầm lên thiên hạ ngó lợi hết bây giờ!

Rồi nhớ trực lại còn có Tư Cầu nằm ngủ bên cạnh, Phấn sa sầm mặt lại, liếc qua phía anh ta. Tư Cầu vẫn ngủ yên, nhưng có lẽ vì gió lạnh nên co quắp người lại, hai bắp đùi kẹp chặt hai bàn tay.

Phấn thở dài, nhẹ tay rút cái chăn tấm quấn lỏng lẻo nơi cổ Tư Cầu xuống, rồi đem đắp phủ lên mình anh ta.

Thấy động, Tư Cầu cựa quậy, ú ớ vài tiếng trong miệng, nhưng rồi lại ngủ luôn như cũ.

Anh khách thấy thế cũng đâm ra ái nại và nỗi vui của anh ta ban nãy bỗng nhiên như thấy vơi đi đôi ba phần…

Phấn day qua bắt gặp anh khách đang nhìn mình và Tư Cầu.

Cô xẻn lẻn cúi gầm mặt xuống và rồi như không biết làm gì khác hơn nữa, cô ngã phịch người xuống ghế bố. Nằm gối đầu lên cánh tay khoanh lại sau gáy, Phấn nhìn trân trân lên phía cây đèn bão treo tòn ten trên trần tàu gần chỗ ống khói. Vài con bướm cánh lông nhỏ lòe xòe bay chung quanh ngọn đèn, và vài con than lằn xun xoe bò đi bò lại để chực mồi… Phấn khẽ thở dài.

Cô thầm biết ơn anh khách đã nhìn mình với Tư Cầu lúc ban nãy bằng cặp mát đầy vẻ ái ngại, chớ nếu không, cô sẽ bực tức và buồn tủi hơn biết bao nhiêu!

Một hồi lâu, anh khách rụt rê gọi nho nhỏ:

– Em Ba, em Ba…

Thấy Phấn làm thinh, anh khách ngồi nhổm dậy:

– Em Ba, bộ em ngủ rồi sao hả?

Phấn cựa mình rồi khẽ lắc đầu:

– Ngủ gì được mà ngủ…

Anh khách do dự một hồi rồi nói:

– Tôi có câu chuyện này muốn nói với em Ba không biết em có ưng nghe không…

– Thì anh cứ nôi phứt ra đi. Mà chuyện gì anh phải rào đón như vậy chớ? Lúc nãy anh lanh lợi lắm mà!

Anh khách chắc lưỡi:

– Thôi mà em Ba! Lúc nãy khác, lúc nầy khác! Em Ba đừng thấy tôi vậy rồi đổ riết cho tôi là… nầy nọ nghen!

Phấn mỉm cười:

– Chớ sao bây giờ?

– Tôi thấy em Ba cũng không phải khù khờ gì, chắc em cũng dư biết xét người xét của… Em Ba đừng thấy tôi… lăng nhăng hồi nãy rồi cho tôi là thuộc hạng… mèo chuột bậy bạ đó nghen!

– Cha, anh tốt quá há!

Anh khách xua tay, lắc đầu:

– Cái đó thì tôi không dám nhận rồi! Thật ra, tôi không tốt lắm và cũng không xấu lấm… Tôi… vừa vừa vậy thôi và đủ để xài với đời.

– “Xài” theo điệu của anh cũng đủ chết thiên hạ rồi!

Anh khách nhăn nhó:

– Thôi mà em Ba! Em cứ nói dần lân hoài thì… chết tôi. Tôi có câu chuyện này muốn bàn với em Ba, chớ không phải giỡn đâu! Chớ bộ tui giỡn với anh hả?

Anh khách ngồi bẻ ngón tay rôm rộp một hồi rồi nhìn thẳng văo mặt Phấn chậm rãi nói:

– Em Ba, tôi nói đây em Ba đừng giận, tôi suy xét thấy cái tình cảnh của em Ba và anh Tư đây, tôi ái ngại quá em Ba à!

Phấn chau mày:

– Đó là việc riêng của tụi tui mà anh ái ngại cái khỉ mốc gì! Đáng lẽ anh mừng mới phải!

– Ấy em Ba nghĩ vậy là sai bét hết rồi! Phải, đáng lẽ ra tôi mừng mới phải nhưng chắc em Ba cũng dư biết : tôi đâu phải thuộc hạng chơi qua đường, hạng mèo đàng chó điếm, thấy đâu thì xâu tới mà không kể gì đến ai hết! Tôi gặp em Ba đây, đâu phải chỉ gặp nội có một chuyến xe, một chuyến tàu, rồi ngoảnh mặt làm lơ mỗi người mỗi ngả!

Phấn cười hỏi lại:

– Vậy chớ sao nữa?

Nghe Phấn hỏi vậy, anh khách có vẻ không vừa lòng:

– Em Ba cứ nói cà rỡn hoài!… Tôi gặp em Ba đây còn có thể gặp nhau cả đời nữa chứ không phải chỉ nội có một chuyến xe, chuyến tàu nầy đâu!

– Cha, chưa gì mà anh nói coi bộ chắc ăn quá vậy?

Anh khách lắc đầu:

– Em Ba lại muốn nói đánh đầu tôi rồi! Thiệt tình ra, thì không có cái gì là chắc ăn hay không chắc ăn hết… Rồi đây, nếu không phải với nhau thì phần tôi vẫn lên Chợ-lớn lãnh cái chưn tài-phú trong tiệm sắt của ông chú tôi, còn em và anh Tư vẫn lên Sàigòn kiếm công ăn việc làm… như không có việc gì xảy ra hết. Em Ba nghĩ tôi nói như vậy có đúng không?

Phấn gật đầu thở dài:

– Thì đúng rồi!

– Đó em Ba coi: giữa em Ba và tôi… và cả anh Tư nữa, không có ai ép buộc ai cái gì được ráo… Nhưng riêng phần tôi… thôi tôi cũng nói thiệt ra đây chớ không dấu diềm làm gì nữa, phần tôi… tôi thương em Ba. Phải, em Ba đừng cười, tôi thương em Ba thiệt tình, thương một cách bất ngờ, mà ngay chính tôi cũng không dè nó mau chóng như thế được!

Phấn cúi đầu làm thinh, tay vân vê chót khăn bàn lông.

Anh khách sốt ruột chờ đợi câu trả lời của cô rồi hỏi tiếp luôn:

– Em Ba, bộ tôi nói vậy em Ba không tin chút xíu nào hết sao?

Phấn mỉm cười lắc đầu:

– Thiệt anh hỏi tui một câu khó trả lời quá! Tui biết bụng dạ anh làm sao mà tin hay hổng tin… Anh nói vậy thì tui hay vậy…

Anh khách lộ vẻ bực tức, nhổm hẳn người lên, nhích chiếc ghế bố lại gần ghế Phấn thêm chút nữa:

– Coi chẳng lẽ tôi thề em Ba mới tin sao? Mà tôi tội tình gì phải thề thết chớ? Đây tôi nói câu nầy để em Ba nghĩ lại coi : nếu tôi không thiệt anh thương em Ba, không muốn tính chuyện lâu dài mà chỉ muốn chơi qua đường thôi thì… thú thiệt với em Ba, tôi có thiếu gì cách…

Bên nầy, Phấn nghe nói như vậy “xì” một tiếng. Anh khách vội dơ bàn tay ra đập đập vào khoảng không như để chân trước những lời chanh chua của Phấn sắp sứa thốt ra :

– Em Ba không tin hả? Tôi nói đây không phải tốt lành gì mà khoe, chớ nếu muốn chơi qua đường thôi thì… thiếu gì cách!… Chắc em Ba cũng biết sơ sơ được rằng tôi đâu phải vụng về gì lắm trong việc… o bế một cô gái, nhứt là cô gái ấy tứ cố vô thân bơ vơ một mình…

Phấn chấn ngang:

– Thì anh muốn nói tui nói đại đi, chớ bày đặt bày điều nói vòng vo làm gì cho mất công hổng biết!

Anh khách cười:

– Tôi xin lỗi em Ba, nghen em !

Rồi nghiêm giọng, anh nói tiếp:

– Tôi nói câu nầy chắc em Ba cũng dư biết: hoàn cảnh hiện nay của em Ba… kẹt lắm chớ hổng phải chơi đâu… Và nếu gặp người khác thấy em Ba ngộ như vậy sanh tâm bậy bạ thì… dễ ợt chớ không khó khăn gì !… Ấy, em Ba khoan nóng để tôi nói hết đã!… Thiệt à em Ba, không chóng thì chầy, em Ba cũng phải xiêu lòng… hay vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải làm khác ý mình…

Phấn cười khẩy:

– Chắc anh thấy tui hơi… dễ dãi buông thùa hồi nãy nên bây giờ anh mới dám nói càn nói mạng như vậy chớ gì phải hông?

Anh khách nhăn nhó:

– Em Ba nói vậy chết tôi rồi! Em Ba nghĩ lại coi: nếu tôi là một thằng bậy bạ tính làm chuyện đóng cứa rút cầu thì đời nào tôi khai thiệt hết ra như vậy để em Ba sanh nghi thêm hay sao? Như vậy lộ tẩy hết còn gì hả em Ba?

Thấy Phấn làm thinh, anh khách hăng hái nói tiếp:

– Sở dĩ tôi nói vậy là vì tôi đã từng mắt thấy tai nghe rất nhiều cảnh ấy. Nội con đường dưới mình lên Sàigòn này, tháng nào mà tôi không có lên xuống để bổ hàng cho tiệm của ông già tôi…

Phấn chen vô một câu:

– Hèn chi anh rành về chuyện… móc ngoéo người ta quá!

Anh khách vừa cười, vừa chắc lưỡi:

– Thôi mà em Ba! Em Ba cứ cản mũi, cản lái hoài làm sao tôi nói hết được! Tôi đã có dịp thấy biết bao cô gái từ miệt đồng bỏ nhà bỏ cứa tuôn lên trên nầy để rồi bơ vơ lỡ đường lỡ xá ; muốn đi nữa thì không còn một xu ten dính túi, mà muốn quay lộn trở về nhà thì không dám, rốt cuộc rồi sa vào xóm điếm hết ráo ! Đó em Ba coi, mấy cô chơi bời ở trên mấy cái nhà ngủ mà hồi chiều em Ba nói là ngán đó, mấy cổ cũng ở trong cái đám ấy ra chớ đâu!

Phấn nghe anh khách nói vậy, cũng hơi lo ngại, nhưng còn làm bộ hỏi cứng lại:

– Anh nói vậy mà có thiệt hông? Hay là anh tính dọa tui đó hả? Tui cũng nói thiệt với anh Ba, tui đâu có ngán chuyện đó: tui đi đây đâu phải nhắm mắt đi càn, mà đã có cụ bị sẵn đâu đó hết rồi. Mà theo như anh nói, bộ ai bỏ nhà ra đi cũng bị… như vậy hết sao chớ?

– Em Ba cứ nghĩ bậy hoài! Tôi dọa em Ba thì có ăn chung gì không chớ? Nếu tôi mà không đàng hoàng như người khác đời nào tôi khai ra như vậy! Đời bây giờ tinh ma quỷ quái lắm em Ba à; kẻ thương mình thì hổng có bao nhiêu, chớ kẻ muốn hại mình thì, ôi thôi, thiếu gì! Bây giờ sắp lên, nếu em Ba không gặp tôi thì chắc chắn cũng sẽ gặp những thằng sát nhơn ác đứt khác. Tôi nói đây không phải để khoe mình “song tàn”, hay là Thánh Thần Tiên Phật gì mà… hổng bậy bạ được, nhưng chẳng qua vì tôi thương em Ba. Phải, tôi thương em Ba thiệt tình… tôi nói đây có thiên địa quỷ thần hai vai làm chứng!

Phấn cười bảo:

– Ai mà dám chứng ẩu cho anh!

– Tôi nói vậy mà em Ba không tin sao? Đây, tôi thề độc một câu: Tôi Lâm Sanh, năm nay 25 tuổi, tôi mà có gian dối một điều gì thì xin Ông Bổn vật tôi hộc máu chết liền đi.

Phấn vội níu tay áo anh ta giựt giựt :

– Thôi, thôi, anh Ba! Tui nói chơi mà anh làm gì thề bán mạng như vậy ?

Rồi cô dịu giọng hỏi thêm:

– Bộ anh 25 tuổi hả? Cha, cái điệu này anh lớn hơn tui gần chục tuổi lận! Tui mới 16 à!

Anh khách hớn hở hỏi lại:

– Vậy hả? (rồi anh ta chép miệng than) Em còn nhỏ tuổi quá mà sao dám tính chuyện động trời động đất vậy hổng biết! Không phải tôi khi dễ em Ba cái gì đâu, tôi biết em Ba lanh lợi lắm nhưng – không phải tôi nói đây để chê bai gì – như vậy cũng chưa đủ để đối chọi với đời đâu, em Ba à! Tôi thấy chỗ đó, tôi càng thương em Ba. Tôi nói đây cũng kỳ một chút : tôi thấy sao bứt rứt trong lòng nếu tôi không lo bao bọc trọn vẹn cho cuộc đời của em Ba, kể từ giờ phút nầy trở đi…

Nghe anh khách nói dài dòng như vậy, Phấn cũng cảm động. Cô đặt một tay lên đầu gối của anh ta và ngập ngừng nói:

– Thiệt tui cảm ơn anh lắm… Tui hiểu rõ bụng của anh lắm. Tự nãy giờ tui nói xóc hông, đó là để chọc anh Ba chơi, chớ bộ tui mù hay sao mà không thấy hả anh Ba?

Nói đến đây, Phấn thở dài nhìn qua Tư Cầu rồi quay lại nói tiếp:

– Nhưng chắc anh Ba quên rằng tui đây đâu phải chỉ có một thân một mình! Anh Ba thấy còn có anh Tư nữa đó ! Hai đứa tui thương nhau nên mới dẫn đi như vậy chớ nếu không tui lên Sàigòn làm tế gì? Tui…

Không để cho Phấn dứt lời, anh khách chận ngang nói luôn:

– Đó cũng vì chỗ đó mà tôi dám nói thương em Ba gắt tình đa! Chớ nếu có một mình em Ba trơn thì… kể số gì! Đáng lẽ tôi thương em Ba một, mà có thêm anh Tư nữa thì tôi thương em Ba tới mười lần!

Phấn xô đầu gối anh ta ra:

– Cái anh quỷ nầy! Thôi đi anh, để nói chuyện đàng hoàng, chớ anh cứ đâm chịa hoài…

Anh khách nghiêm nghị đáp:

– Coi bộ em Ba nói tôi giởn sao chớ! Tôi nói thiệt mà! Tôi thương em Ba một phần vì em Ba… hạp nhãn tôi, một phần vi hoàn cảnh tứ cố vô thân của em Ba và một phần nữa vì em Ba còn có anh Tư… Tôi xót xa cho em Ba và cho anh Tư về cái hoàn cảnh ngang trái của hai người lắm…

– Tụi tui thương nhau thì dắt lên Sàigòn kiếm công ăn việc mần chớ có cái gì đâu mà anh cho là ngang trái… anh Ba nói thương tui thì tui biết vậy. Mà nếu anh có thiệt tình thương tui thì tui cản cũng hổng được. Nhưng cái chuyện anh Ba nói thương tui một phần vì tui có anh Tư thì sao… nghe khó thông quá!

Anh khách mỉm cười, chậm rãi đáp:

– Tôi nói nghe sao trái cựa quá phải không em Ba? Nhưng sự thật là đúng như vậy. Tôi thương em Ba mà tôi lại thương cả anh Tư nữa ! Tôi có kể cho em Ba nghe là mùa lúa năm nào cũng vậy, tôi lội khắp miệt vườn để mua lúa cho ông già; đời sống dưới ruộng rẫy ra sao tôi dư biết hết, vì vậy khi thấy anh Tư đây, tôi nghĩ ngay rằng ảnh khó mà chịu đựng nổi cái lối sống chôn rộn ở thị thành.

Phấn chống chế.

– Anh Ba nói vậy, rồi cái gì cũng phải quen hết chớ!

– Đành rằng như vậy rồi, nhưng nhiều khi nó mất vui và còn sanh ra lục đục với nhau là đằng khác. Tôi thấy anh Tư đây là người hiền hậu thiệt thà, như vậy lên trên ảnh còn khổ nhiều, và chắc em Ba cũng không được sung sướng gì! Ban đầu thì cái gì cũng được, cũng êm cũng ráng với nhau hết, nhưng lâu ngày chầy tháng, tránh sao cho khỏi cái chuyện vấp váp và tới chừng ấy sanh ra cắn đần nhau! Lúc đó, dầu có tính khôn tính dại, tính thiệt tính hơn gì nữa thì cũng đã lỡ ra rồi… Đến nước nầy chỉ còn cách ráng chịu đựng nhau được chút nào hay chút nấy…

Phấn rầu rầu nói:

– Anh Ba nói vậy nghe cũng phải nhưng tui với anh Tư thương nhau…

Anh khách chân ngang:

– Ai mà không biết em Ba với ảnh thương nhau ! Nhưng thương nhau cái điệu đó để mà chết chùm với nhau hả em Ba? Em Ba à, ở đời thương nhau thì dễ nhưng thương nhau cho trót, thương nhau cho êm thắm cả đôi bề mới thật là khó! Em Ba là người biết suy nghĩ chắc em Ba cũng dư biết rằng: đâu phải hễ nói thương nhau là nhảy a thần phù lại ôm xà nẹo với nhau mà sống đời được!

Ngừng một giây, anh ta cười nhẹ, nói tiếp:

– Mình thương nhau mà cha mẹ, làng xóm, tiền bạc…và cả tánh tình nữa cũng không… thương nhau được nữa với mình, thì dầu tài giõi cách mấy cũng chết nhăn răng ra nữa, em Ba à!

Phấn chớp mắt liền mấy cái rồi ngập ngừng thú nhận:

– Hổng phải tui ngu dại gì mà không biết những điều anh Ba nói đó… Nhưng cái chuyện của tui với anh Tư đây… khó lắm chớ không phải dễ dàng gì đâu!

– Sao mà em Ba nói khó với dễ?

– Thôi, đến nước nầy tui cũng không dấu anh Ba làm chi nữa; thiệt ra vì có tui rủ rê nên anh Tư ảnh mới đám bỏ nhà đi như vầy.

Anh khách cười bảo:

– Em Ba không nói tôi cũng biết!

Phấn chau mày nhưng rồi lại nói tiếp:

– Bởi vậy, dầu sao tui cũng hổng đành tâm… có ý nọ kia gì khác với anh Tư. Tui lôi kéo ảnh đi như vầy cũng quá quắt lắm rồi!

Anh khách gật gù như có vẻ tán thành:

– Em Ba nói như vậy kể ra cũng phải lắm nhưng… (đến đây anh khách nói tiếp với một giọng quả quyết) nếu nghĩ kỹ lại khó lắm em Ba ơi! Đó là tôi không muốn nói là nó còn tai hại biết cơ man nào mà kể…

Phấn trố mắt hỏi:

– Sao? Tai hại cái gì, anh làm ơn nói thử cho tui nghe coi?

Anh khách vỗ nhè nhẹ vào vai Phấn:

– Khoan, em Ba đừng nóng! Việc đâu còn có đó mà! Tôi nói tai hại là ở chỗ về sau nầy. Tôi không dám cho rằng em Ba và anh Tư không ở bền được với nhau, nhưng điều mà tôi có thể nhứt quyết nói được là hai người sẽ chỉ làm khổ cho nhau thôi!

– Hứ, nếu có khổ tui cũng cắn răng mà chịu!

Anh khách vẫn ôn tồn:

– Thì đành như vậy rồi! Bộ em Ba nói tôi hổng biết em Ba là một người… gan lì hay sao? Nhưng tôi thử hỏi em Ba: em Ba với anh Tư dắt nhau đi như vầy để làm gì, nếu không là để được thong dong sống có cặp sung sướng hú hí với nhau, mà khỏi phải để cho ai cản trở dòm ngó… có phải vậy không em Ba?

Phấn gật đầu.

Anh khách lại tiếp:

– Cái chuyện mình tính là như vậy đó. Nhưng ở đời có nhiều chuyện mình tính một đàng thì nó lại đi một nẽo! (Rồi bằng một giọng tha thiết, anh khách chậm rãi nói thêm) Em Ba, tôi thiệt tình thương em Ba và… anh Tư nên tôi mới nói ra điều nầy : cái chuyện của em Ba và anh Tư khó ăn đời ở kiếp được với nhau đâu!

– Sao vậy?

– Em Ba, tôi nói đây không phải để dìm ai, nhưng chắc em Ba đã có lần suy nghĩ đến: rồi đây vì hoàn cảnh đẩy đưa, chưa chắc gì em Ba và anh Tư lên Sàigòn sẽ sống… dễ chịu liền, thêm vào đó, tánh tình hai người như mặt trời, mặt trăng… như vậy hai người càng sống với nhau càng làm khổ cho nhau thôi!

Phấn thở dài:

– Chắc anh Ba biết: tui hổng có cách gì khác vì chuyện đã dĩ lỡ ra rồi, và dầu sao thì tui với anh Tư cũng thương yêu nhau…

– Thương yêu nhau phải để làm hại đời nhau. Tôi dám nói chắc điều nầy với em Ba: dắt anh Tư đi lang bang như vậy là em hại đời ảnh. Tôi biết chắc rằng anh Tư không thể nào sống sung sướng trên Sàigòn. Như vậy có phải em Ba hại đời ảnh hay không? Mà em hại luôn đời của em Ba… Tôi biết em Ba là một người chung tình, em Ba không nỡ lòng nào buông rơi anh Tư, và cũng vì vậy mà rồi đây hai người sẽ khổ lây với nhau, bỏ thì thương, vương thì tội…

Phấn đáp buông thõng:

– Tui cũng biết như vậy nhưng đầu dây mối nhợ gì cũng tại tui hết, tui thương anh Tư và tui phải ráng lo làm sao cho vuông tròn…

– Đúng như vậy rồi! Em Ba phải lo cho ảnh và em Ba nên để cho ảnh… trở về dưới nhà…

Phấn dây nẩy:

– Ý vậy hổng được đâu!

– Ấy mà được! Ảnh trở về thì được, còn em Ba trở về hết được nữa rồi. Bất quá thì ảnh bị ở nhà rầy la năm bảy ngày hay nhiều lắm một tháng là cùng chớ gì, rồi đâu cũng vô đó… ảnh có thương nhớ em thì rồi cũng khuây khỏa, hay có lậm lắm thì cũng chỉ buồn buồn vậy thôi, chớ ảnh mà theo dính luôn em Ba, ảnh sẽ khổ sỡ và không chừng ảnh sẽ còn cảm thấy ân hận một đời nữa là khác!

Không nghe Phấn nói gì hết, anh khách chêm thêm:

– Phải, em Ba à. anh Tư có theo em lên Sàigòn thì thế nào rồi ảnh cũng khổ tâm mà em cũng chẳng sung sướng gì!

Phấn nói xụi lơ:

– Tui cũng biết như vậy, nhưng…

Anh khách chận ngang:

– Nhưng em Ba còn nặng anh với ảnh phải không? Như vậy, em Ba cần phải… hy sanh cái tình của mình để tránh trước cho đời anh Tư qua khỏi một cơn sóng gió ê chề. Tôi đây cũng vậy, em Ba à, tôi thấy anh Tư thiệt thà nhơn chất mà dám liều mạng ra đi như thế nầy, lòng tôi đâm ra bất nhẫn. Em Ba à, tôi nghĩ sao nói vậy chớ không phải vì thương yêu em Ba rồi đặt điều xía vô để xúi biểu nầy nọ đâu, xin em Ba đừng ngờ oan tôi tội nghiệp! Cha, phải chi anh Tư lanh lợi xảo trá và chính ảnh dụ dỗ em Ba đi thì dễ xử cho tôi biết mấy!

– Sao lại dễ xử?

Anh khách cười:

– Vì tôi chỉ cần… lôi tuột em Ba đi chớ khỏi phải phân trần dài dòng gì ráo!

– Anh thiệt là thứ quỷ! Chưa gì mà tui thấy ớn anh quá!

– Em lại nghi bậy cho tôi rồi!

Rồi anh khách nghiêm giọng lại:

– Sao em Ba? Em tính thể nào? Mà em có tính gì thì tính gấp gấp bây giờ đi chớ để sáng mai thì… hết xoay xở nổi đa em!

Phấn nhăn nhó đáp:

– Thiệt khó cho tui quá! Anh Ba hổng biết tui kẹt như thế nào…

– Sao lại không! Em Ba kẹt nên phải gỡ liền bây giờ chớ nếu để dây dưa riết rồi thì chỉ có nước chịu trận đa! Em Ba thương anh Tư, nhưng cái việc “thương” đó không thuận cho hai đàng, còn nếu em Ba bằng lòng đi với tôi tuy bây giờ em Ba chưa có thương tôi đi nữa cái việc ấy lại thuận cho cả ba người.

– Sao lại kỳ cục vậ?

– Đây nè, anh Tư trở về sống thong dong như cũ, còn em Ba quay về hết được thì đã có tôi, dầu ở chỗ lạ nước lạ cái có tôi cũng… đỡ lắm em Ba à! Em Ba biết tại sao tôi dám nói chắc như vậy không?

Phấn ngước mặt lên hỏi:

– Tại sao hả anh Ba?

– Thì có gì đâu, tôi đã có sẳn chỗ làm ăn trên Cbợ-lớn. Như vậy, trong lúc đầu, dầu hèn cũng thể mình đã có nơi ăn chịu rồi phải không em Ba?

– Được như vậy cũng hay rồi! Thiệt tình tui nhắm mắt đi liều, chớ càng gần lên tới trên chừng nào tui càng lo quýnh thêm… Anh Tư ảnh lại thiệt thà quá! Bây giờ tui nghĩ lại mới thấy giựt mình: nếu sau nầy ảnh có bề gì thì cũng tại tui hết (và nó ngó qua Tư Cầu lắc đầu chép miệng than)… Thiệt tội nghiệp cho anh Tư quá!

Anh khách vói nắm lấy tay Phấn:

– Thôi em Ba à, mình thương ảnh thì mình phải tính cho ảnh… Rồi đây tôi dám nói chắc với em Ba rằng: mình sẽ có ngày trở về thăm ảnh và lo gây dựng cho ảnh làm ăn khá giả với người ta…

Phấn vội hỏi:

– Anh tính mình ra sao mới dìa ngó mặt bà con xóm giềng được, chớ bộ vác thây dìa khơi như vậy được sao?

Anh khách cười đắc ý:

– Vậy chớ sao! Ít ra mình cũng phải bằng năm bằng mười lúc ra đi thì mới dám ló mặt về dưới chớ! Như em Ba đây thì tệ lắm cũng phải là một bà chủ nho nhỏ để dẫn tôi về ra mắt họ hàng…

Phấn thò tay véo anh ta một cái:

– Anh nói cho quá rồi nữa hổng có cái mốc xì gì hết, chết với tui đa nghe!

Anh khách hí hửng xiết mạnh lấy bàn tay của Phấn:

– Vậy em Ba bằng lòng rồi phải không?

Phấn rút nhẹ tay và ngập ngừng nói:

– Có cái gì đâu mà… bằng lòng hay hổng bằng lòng. Bây giờ mình cần lo cho anh Tư trước nên phải tính với nhau vậy thôi…

Anh khách hiểu ý Phấn nên không làm bức quá, liền nói xuôi theo:

– Em Ba nghĩ như vậy cũng phải, mình nên lo cho anh Tư trước cái đã.

Phấn vội hỏi:

– Anh Ba có nghĩ cách nào cho… êm thắm hông?… Chớ chẳng lẽ tui nói thẳng với anh Tư thì… ngặt lắm! Tui hổng đành tâm làm như vậy đâu! Bề gì ảnh cũng thương tui…

– Thì ai mà làm như vậy được! Cũng may là mình ở đây còn gần dưới nhà anh, chớ nếu để đi tuốt lên Sàigòn thì khó xử dữ đa!

Anh khách nghĩ ngợi một hồi rồi nói tiếp:

– Cố nhiên là mình không thể để cho ảnh biết trước được rồi! Vậy thì chỉ còn cách là làm sao em trao êm cho ảnh một số tiền, rồi tụi mình… tách ra đi riêng… Như vậy thế nào ảnh cũng quay trở về chớ không dám đi tới nữa đâu… Mình tính như vầy kể ra cũng kỳ lắm nhưng không có cách gì khác hay hơn em Ba à! Đó là một việc dầu cho tôi thương em Ba hết sức, tôi cũng vẫn áy náy vô cùng… Thôi mình đành ráng chịu như vậy miễn làm sao cho anh Tư được trọn vẹn thì thôi, phải không em Ba?

Phấn ủ rũ gật đầu:

– Thì chỉ còn cách đó! May mà tui chỉ làm phiền ảnh có bấy nhiêu thôi chớ nếu còn đeo đẳng nữa tui hại trọn đời ảnh…

Rồi cô thở hắt ra một hơi và nói tiếp một cách gọn lỏn:

– Thôi được rồi, để tui lo phần nầy sao cho xong thì thôi!

Tiếng tàu xúp-lê làm Tư Cầu giựt mình ngồi nhổm dậy. Anh ta ngáp một hơi dài, vươn vai rồi đưa tay dụi mắt quay qua hỏi Phấn:

– Bộ tàu sắp chạy hả em?

– Mới có xúp-lê một mà chạy nỗi gì! Chắc cả giờ đồng hồ nữa nó mới mở đỏi.

Tư Cầu để ý thấy chiếc ghế bố của anh khách trống không nên lên tiếng hỏi:

– Ủa, còn chú Ba chú đi đâu rồi hả em?

Phấn lúng túng đáp:

– Chú Ba hả? Chú lên trên chợ mua cái gì đó mà! Chắc không chừng chú đi uống cà phê…

Tư Cầu nhìn quanh quất một hồi rồi hỏi thêm:

– Bộ chiếc tàu đậu cặp theo tàu mình đi cũng sắp chạy hay sao mà thấy thiên hạ họ lên xuống rần rần vậy em?

Phấn ngó qua chiếc tàu bên cạnh:

– Chắc vậy chớ gì! Tàu bên kia là tàu đi Nam Vang đó mà!

– Vậy hả! Chắc nó cũng chạy một lượt với tàu của mình…

Một hồi lâu sau, Tư Cầu nhìn qua chiếc ghế bố trống rồi lại khều Phấn hỏi nữa:

– Em có nghe chú Ba, chú nói đi bao lâu không em? Rủi chú xuống trễ thì sao?

Phấn gạt ngang:

– Ối, sao anh hay lo bao đồng thiên hạ quá hổng biết! Thì chú đi, chú cũng phải liệu mà trở xuống cho kịp chớ ! Chú có đồng hồ thì đâu có trễ được.

Tư Cầu vội gật đầu:

– Ờ phải, mà có đi quanh quẩn đâu đây nghe tàu xúp-lê chạy dìa cũng còn dư kịp.

Một lát sau, Tư Cầu thấy mắc hỏi thêm:

– Bộ chú Ba chú hổng có để cái cặp da của chú lợi sao em?

Phấn chắc lưỡi:

– Để lợi làm tế gì hay sao mà để chớ! Cái cặp của người ta thì người ta xách theo chớ ăn nhập gì với mình mà anh hỏi cho mắc công hổng biết! Em hỏi anh, nếu trong cặp họ có để tiền bạc hay đồ gì quý rồi họ có dám giao cho mình giữ không hả?

Tư Cầu gượng cãi lại:

– Tại họ hổng dám giao, chớ nếu mình có giữ dùm thì đâu có suy xuyễn đồng xu cắc bạc nào mà sợ!

Phấn xì một tiếng:

– Anh nói sao nghe dễ ợt… Nhưng em hỏi anh: ai dám tin mình chớ?

Tư Cầu gân cổ hỏi lại:

– Coi bộ bú Ba chú không tin mình sao?

Phấn lắc dầu thở dài:

– Nói điệu như anh đó mà khổ hổng hay…

– Sao lạ vậy? Cái gì mà khổ với sướng chen vô trong đó nữa?

Phấn xua tay:

– Thôi, thôi… hổng có gì hết đâu!… mà em có nói cũng hổng… ích lợi gì hết!

Đến lượt Tư Cầu lấc đầu:

– Thiệt em nói cái gì lăng nhăng, mà hễ hỏi ra thì em nói ăn trớt hết…

Phấn vói tay vỗ nhẹ lên vai Tư Cầu:

– Ở đời có những chuyện… khó nói ra cho rõ ràng được anh Tư à! Mà anh hỏi thăm chú Ba làm chi dữ vậy?

– Thì có gì đâu! Anh sợ chú đi quá trớn trễ tàu thì nguy tụi mình!

– Tưởng anh nói cái gì khác chớ ! Chuyện đó anh hơi sức nào lo, nếu chú Ba chú xuống trễ thì chú đón xe đi chớ có sao!

– Thì đành như vậy rồi, nhưng chú đi bỏ tụi mình bơ vơ như vậy cũng… ngán lắm chớ!

Phấn cười đáp:

– Nói như anh vậy, rủi mình đi chuyến này hổng gặp được chú Ba đó thì sao? Mình có chưn có cẳng chớ bộ không sao mà sợ! Không có chú thì mình cũng đi tới trển vậy!

Rồi cô ta ngập ngừng nói thêm:

– Mà cùng lắm thì… quay trở dìa dưới chớ gì!

Tư Cầu chận liền:

– Ý không nên đâu! Đến nước nầy mà em biểu quay lộn dìa nhà nữa thì có nước thắt họng!

Phấn lặng thinh một hồi rồi lên tiếng hỏi:

-… Mà rủi có trở dìa dưới, anh liệu có biết đường hông?

Tư Cầu cười khì:

– Bộ em nói anh tệ lậu lắm sao mà hổng biết đường trở dìa dưới! Anh đâu có đến nỗi gà mở cửa mã lắm em!

Phấn thở ra như trút gánh nặng:

– Nếu anh biết như vậy thì… giỏi lắm!… Thiệt ra, mình ở đây mà muốn đi trở xuống Trà ôn thì dễ ợt : cứ đợi đến lối mười hai giờ trưa mai xuống tàu Phước Châu! là êm…

– Ối thôi! Bây giờ em bàn đến đường đi nước bước lên Sàigòn có phải hay hơn không, chớ hơi sức đâu mà nói chuyện đi lộn trở dìa cho mất công hổng biết!… Nó có ăn nhập gì nữa đâu!

– Thì vui miệng nói luôn vậy mà!

Tư Cầu như nhớ trực lại điều gì, lên tiếng hỏi Phấn:

– À, từ hồi hôm tới giờ em có ngủ được giấc nào hông?

Phấn ngả lưng nằm xuống ghế bố, ngập ngừng đáp:

– Thì cũng mơ mơ màng màng một chút vậy thôi. Còn anh, em thấy anh ngủ ngon quá!

– Bị suốt ngày hôm nay… xáo trộn nhiều quá nên anh mới đặt lưng xuống là ngủ… bất kể quân thần. Nếu có ai chơi cắc cớ khiêng anh liệng xuống sông, anh cũng hổng hay nữa!

Phấn chép miệng than:

– Thiệt anh ngủ mê quá đỗi mà! Kể như vậy cũng sung sướng…

Tư Cầu quay lại nhìn Phấn:

– Cái gì mà em nói anh sung sướng chớ?

Phấn tìm cách trả lời cho xuôi:

– Thì… trong lúc ai nấy đều thao thức thì anh ngủ thẳng cẳng như vậy là sung sướng chớ gì nữa!

Tư Cầu trợn mắt :

– Ý trời, suốt ngày nay lên xe, xuống xe hai ba bận, giằng giật cái thân còn hơn đi cày năm bảy công ruộng nữa, mà em biểu hổng mệt mỏi sao được?

Phấn hỏi lãng ra :

– Chớ bộ anh hổng… lo cái chuyện mình lên Sàigòn hay là anh hổng nhớ nhà hay sao?

Tư Cầu nhún vai:

– Thì mình đi đây rồi còn lo cái gì nữa! Hễ tới đâu thì lo tới đó, chớ dầu anh có muốn lo trước cũng hổng biết đường đâu mà rờ… Còn cái việc nhớ nhà thì… có nhớ cũng có để bụng chớ chẳng lẽ la bài hãi lên sao ? Mà bây giờ có nhớ… cũng hổng ăn chung gì ráo!

Phấn hỏi thêm:

– Chắc anh… hối tiếc cái chuyện ra đi như vậy lắm phải không?

Tư Cầu thở dài:

– Đến nước nầy mà còn hối tiếc khỉ khô gì nữa! Em kêu đi thì anh đi… Mình có thương yêu nhau thì phải ráng chớ biết sao bây giờ!

Phấn cắn môi suy nghĩ một hồi rồi rụt rè hỏi:

– Giả tỷ bây giờ anh… rảnh tay rảnh chưn hổng còn bận bịu gì hết, anh còn trơ trọi một thân một mình… anh có lên Sàigòn nữa hông hay là quay trở dìa dưới?

Tư Cầu lỏ mắt nhìn Phấn nhưng rồi cũng trả lời:

– Nếu có một mình anh thì anh đi lên trên tế mồ tổ hay sao chớ?… Mà em hỏi gì kỳ quá vậy? Còn em nữa chi hả?

– Thì em.. giả tỷ vậy mà! Giả tỷ như mình… lạc nhau, coi anh tính thế nào…

Tư Cầu lắc đầu cười:

– Cha, giả tỷ cái điệu gì ác nhơn ác đức quá mà! Anh đeo dính cứng theo em thì lạc khỉ gì được!

Phấn vói tay nắm chặt lấy bàn tay Tư Cầu trong một giây rồi buông thõng xuống và thẫn thờ nói lập lại:

– Ừ, dễ gì lạc được…

Tư Cầu thấy xốn xang vì những cử chỉ và lời nói lụp chụp của Phấn nên định hạch hỏi thêm, nhưng liền theo đó, hai tiếng xúp-lê rền tai vang lên làm cho anh ta phải bỏ dở ý định ấy. Tiếng còi tàu vừa dứt, anh ta lo lắng hỏi liền Phấn :

– Nè em, tàu xúp-lê hai rồi mà sao chú Ba chú cũng chưa trở xuống nữa hả em?

Phấn cũng ngồi nhỏm dậy:

– Ôi, còn sớm chán sớm chê! Ít lắm là nửa giờ nữa tàu mới mở đỏi, chú Ba chú xuống tới mấy hồi…

Tư Cầu vẫn chưa yên tâm:

– Em Ba à, hổng biết tàu xúp-lê như vậy mà trên chợ họ rần rần, mình có nghe được hông em?

– Gì mà nghe hông được! Chớ anh hổng thấy ở dưới mình, tàu chạy ngoài vàm xúp-lê mà mình ở tuốt trong ngọn kinh còn nghe rõ mồn một đó sao!

– Ừ phải há!

Một lát sau, Phấn ngồi dậy hỏi Tư Cầu:

– Anh đói bụng chưa anh Tư?

– Đói thì cũng chưa có gì đói lắm, nhưng nếu có cái gì dằn bụng thì chắc hơn!

Phấn mở cây kim tây gài nơi túi móc bóp ra, đếm đưa cho Tư Cầu ba cái giấy bạc 20 chục đồng:

– Đây nè, anh cầm tiền nầy lên trên chợ mua bậy vài ổ bánh mì và thịt xá xíu hay cái gì đó…

Tư Cầu xô tay Phấn lại:

– Anh có biết chỗ nào bán đâu mà em kêu anh mua? Em đi dùm hổng được sao?

Phấn nói sẵng:

– Coi kìa, anh đi lên trển mua rồi ai ăn thịt anh sao mà sợ vậy! Em ở dưới nầy… giữ chỗ cho anh và chú Ba chớ cái điệu anh lớ ngớ để anh dưới nầy họ chiếm hết ghế, anh có nước đứng đó mà ngó chớ làm gì được!

Tư Cầu nhăn nhó:

– Nhưng anh có biết chỗ bán ở đâu mà đi mua!… Anh thấy người ta bưng bán dưới tàu, rao om xòm sao em hổng kêu mua để bắt anh đi lên trển cho cho mất công quá trời vậy hổng biết!

Phấn xì một tiếng:

-Ở dưới nầy họ bán của hôi của thúi, bán tấn bán ép rồi mình cũng đâm đầu vô mua hả?

Rồi cô dịu giọng:

– Đây nè, anh lên trên cầu tàu, có con đường đi thẳng trước mặt đó, anh đi chừng một đỗi, chỗ gần có cái ngã quẹo đó, anh thấy hông?

– Ừ… ừ…

– Đó, gần chỗ quẹo có lò bánh mì anh vô hỏi mua thì có bánh nóng đòn liền, tội tình gì vác tiền mua ba cái bánh mì cũ dưới nầy, đã ăn dai nhách, chua lòm mà còn… khó tiêu nữa anh à…

– Ối thây kệ, mua bánh mì cũ ăn rồi chết sao chớ! Ở dưới mình ăn cơm nguội để cách đêm, ăn đồ sống đồ sính hà rầm đó mà có sao đâu…

Phấn trừng mắt:

– Nói liều mạng như anh vậy thì hết chuyện rồi! Ở nhà thì sao cũng được, có mặc dịch mắc gió thì bất quá nằm một đống đó, chớ bây giờ mình đang lỡ đường lỡ xá thì lại khác hơn nghen anh!… Mà em hỏi anh : mình bỏ đồng tiền ra mua thì tội gì hổng lựa của ngon của tốt mua hả? Chớ bộ điên hay sao mà vừa tốn tiền vừa rước ba cái bánh mì cũ ăn cho nó trẹo xương quai hàm chơi chớ?

Tư Cầu trả lời yếu xịu:

– Ừ, thì thôi đi mua bánh mới… Mà mua mấy ổ hả?

– Hai ba ổ gì cũng được, thứ ổ lớn đó nghen!

– Chi nhiều dữ vậy?

– Gì mà dữ, hai ba người ăn chớ bộ ít sao, mà nếu còn dư thì đem theo ăn dọc đường, ế ẩm gì đâu mà anh sợ!

– Em còn biểu mua thêm cái gì nữa đó?

– Anh mua thêm 100 thịt xá-xíu, chỗ bán cũng gần đó, anh hỏi thăm ở lò bánh mì thì họ chỉ cho.

– Mua cái gì tới một trăm lận?

– Ý trời ơi, một trăm là một trăm cà-ram. Anh cứ nói vậy là họ biết mà! Đây nè, anh cầm tiền đi rút lên mua đi…

Tư Cầu dơ ba tấm giấy bạc lên gần phía ánh đèn bão, rồi ngạc nhiên hỏi:

– Em đưa chi cho anh nhiều tiền dữ vậy? Tới sáu chục đồng lận nghe, em xem kỹ lại coi chừng đưa lộn đa!

Phấn lúng túng giữ tay Tư Cầu không cho anh ta đưa trả lại, rồi làm bộ hỏi lại:

– Sáu chục lận hả… Thôi anh cầm lấy hết đi. Mua bánh mì còn dư bao nhiêu, anh bỏ túi để xài lặt vặt gì đó thì xài…

Tư Cầu dục dặc không chịu lấy:

– Thôi đi em! Em đưa nhiều quá, rủi anh làm mất thì uổng lấm! Anh đâu có xài cái gì đâu mà giữ tiền; có cần mua chút đỉnh gì anh sẽ hỏi em lấy sau cũng được… Giữ kè kê tiền trong mình khổ lắm!

Phấn lấy ba tờ giấy bạc nhét vào túi Tư Cầu, rồi vừa xuống giọng van lơn vừa xô nhẹ nó đi:

– Thôi mà anh, anh cầm lấy đi chớ để em nói hoài sao! Bây giờ đây, đâu phải như hồi còn ở ngoài đồng chăn vịt nữa mà hổng cần tiền. Nói như anh vậy, rủi hổng có mặt em rồi anh mới hỏi mượn ai được chớ! Thôi đi lên mua bánh mì cho mau đi tàu sắp chạy bây giờ nghen!

Vừa lúc đó, một hồi còi tàu vang lên làm Tư Cầu đứng khứng lại:

– Ý chết, cái gì mà xúplê nữa đó! Rủi anh xuống trễ rồi làm sao?

Phấn lấy tay xua nó đi:

– Tàu Nam Vang đậu khít một bên xúp-lê một đó mà! Anh đi cho mau đi hổng trễ đâu mà sợ… có gì thì em kêu họ đợi cho!

Tư Cầu rảo bước đi lên tới cầu thang, nhưng rồi lại chạy vòng qua bên hông tàu kêu vọng xuống :

– Em ơi!

Phấn vội chạy lại hỏi:

– Cái gì nữa đó hả?

– À, anh quên dặn em coi chừng dùm gói quần áo của anh để trên ghế bố đó.

– Dữ hông! Vậy mà hớt hơ hớt hải làm người ta hết hồn!

Tư Cầu vội vã quay đi thì Phấn lại kêu giựt ngược lại:

– Nè, anh Tư, anh ôm gói quần áo của anh đi theo luôn cho… tiện hơn.

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Trời thần đất địa ơi, chớ em ngồi đó coi chừng luôn dùm một chút hổng được sao!

Phấn trao gói quần áo ngang qua lan can của chiếc tàu cho Tư Cầu :

– Thôi anh chịu khó ôm theo đi ! Hổng phải em muốn làm khó làm dễ gì anh đâu, nhưng kẹt chút nữa em phải… đi cầu chẳng lẽ em mang theo hết được sao!

Rồi cô ngập ngừng nói thêm:

– Anh Tư à… để rồi sau nầy anh sẽ rõ… em tính đâu đó cái gì cũng đủ, cũng tiện cho anh hết, vì dầu thế nào đi nữa, em cũng không quên được rằng em đã… rủ rê anh theo lên tới đây…

Tư Cầu cầm lấy gói quần áo:

– Ý cha, có đưa đây thì đưa phứt cho rồi. Còn cái chuyện em nói lằng nhằng đó bộ ai hổng biết sao mà em nhắc! Thôi anh đi đây nghen!

Phấn lại kêu vói theo:

– Anh Tư! Anh Tư!

Tư Cầu ngoái cổ lại:

– Gì nữa đó… bà nội?

Phấn ngước mắt nhìn Tư Cầu rồi rầu rầu nói:

– Anh Tư, anh đừng oán trách em nghen…

Tư Cầu lo trễ tàu nên chắc lưỡi đáp sẵng lại:

– Người ta nói ừ mà!

– Anh Tư!… Dầu mai kia mốt nọ giữa tụi mình có xảy ra sự gì thì anh nên xét lại dùm em. Em có tính cái gì đi nữa thì em cũng nghĩ đến anh trước, em hổng muốn cho anh phải lụy nhiều vì em. Em nói đây có đất trời làm chứng, dầu sao đi nữa, em cũng thương anh trước nhứt, nhiều nhứt, em nhớ anh hoài hoài… em nói vậy, anh có tin được hông anh Tư?

Tư Cầu một tay cắp gói quần áo, một tay buông thõng xuống, sốt ruột nói một hơi:

– Tin, tin rồi! Mà còn nói cái gì nữa thì tuôn ra luôn thể đi! Hôm nay sao sanh chứng nói cái gì mà nghe như trối trăn vậy cà!

Phấn buồn bã lắc đầu:

– Thôi, anh đi đi! Và nhớ những lời em nói… với lại nhớ coi chừng tiền để trong túi đó nghen!

Tư Cầu vội đưa tay lên thọc vào túi để tiền, rồi cằn nhằn:

– Thiệt là kỳ! Người ta gấp thấy bà mà cứ kêu đi kêu lại hoài! Cái điệu nầy trễ tàu một cái thì… hút gió hết kêu!

Nói xong, anh ta quay quả đi lên chợ. Phấn nghẹn ngào cất tiếng kêu nho nhỏ:

– Anh Tư! Anh Tư!

Tư Cầu đã đi xa… Phấn lắc đầu, ngẩn ngơ đứng nhìn theo và đưa tay lên quẹt mắt. Đợi cho Tư Cầu khuất vào đám đông trên lộ, Phấn quay lại chiếc ghế bố lấy gói quần áo lên rồi hối hả đi tuốt lên trên cầu tàu…

– Em Ba, tôi đây nè em!

Anh khách núp sau quán bán sách ở mé sông ló đầu ra gọi Phấn. Phấn hấp tấp chạy lại. Anh khách hỏi tiếp:

– Sao em Ba! Mọi việc đều… êm hết phải không em Ba?

Phấn gật đầu, mặt buồn xo. Anh khách thấy vậy đâm ra lúng túng:

– Thôi em Ba, bây giờ mình phải tính… tới chứ hơi sức đâu mà… nghĩ sụt lui nữa. Tuy rằng việc xảy ra hơi bất ngờ một chút, nhưng bề gì thì cũng… êm hết rồi, mình đã lo cho anh Tư đâu đó trọn vẹn. (Nói đến đó, anh khách vỗ trán như nhớ ra điều gì) Thiệt tôi quên lú mất; hồi nãy tôi tính gởi cho em Ba năm chục để em Ba trao thêm cho anh Tư, nhưng bị lụp chụp quá thành thử quên lửng đi mất!

Phấn thẫn thờ đáp:

– Cái đó tui lo xong rồi, tui có đưa cho ảnh sáu chục đồng, như vậy cũng tạm đủ. Tui có tính đưa thêm chút đỉnh nữa nhưng sợ ảnh sanh nghi…

– Em Ba nghĩ vậy cũng phải. Thôi để sau này mình kiếm dịp giúp đỡ ảnh làm ăn. Em Ba, bây giờ mình đi tìm chỗ nghỉ để sáng mai đón xe lên Sàigòn chớ cứ đứng xớ rớ đây hoài cũng bất tiện lắm em Ba à!

Phấn ngần ngừ không chịu đi:

– Thôi mình đứng đỡ đâu đây cũng được. Tui muốn coi anh Tư ảnh xuống tàu thế nào…

Anh khách chen vô liền:

– Ý, vậy không nên đa! Em Ba với tôi đứng làng chàng ở đây rủi gặp anh Tư ảnh trở xuống thì có môn… chết cứng đó chớ hết xoay trở gì nữa được nghen!… Còn nếu em Ba muốn rình coi anh Tư tính toán như thế nào, thì em Ba cứ việc theo tôi lên mướn một phòng trên nhà ngủ Tây Hồ gần xích bên cầu tàu đây nè. Em Ba lên trên lầu mặc sức mà nhìn xuống…

Phấn có ý xiêu lòng nhưng còn hỏi lại:

– Nhưng hồi chiều anh Ba nói mướn phòng thì họ hỏi giấy tờ gì đó mà!

– Ối thứ chuyện đồ bỏ đó mà em Ba lo cho cho mệt! Mình lo là lo cho đàn ông con trai chớ đàn bà con gái ai thèm để ý đến đâu mà sợ. Mà nếu họ có hỏi tới thì cái miệng mình đây để làm chi và còn cái nầy nữa (vừa nói anh khách vừa vỗ vào túi quần sau chỗ để bóp tiền) rồi cái gì cũng xuôi róc hết.

Phấn gật đầu:

– Nếu vậy thì được… Thây kệ, tui cũng liều một chuyến để coi anh Tư ảnh quyết định tới lui như thế nào, rồi tui mới yên tâm được.

Anh khách vỗ nhè nhẹ vào cánh tay Phấn:

– Thiệt em Ba lo xa quá! Tôi cam đoan với em Ba là mọi việc sẽ êm ru hết. Thế nào anh Tư ảnh cũng quay về dưới hay nói cho cùng đi nữa, nếu ảnh có tính đi đâu thì cũng có sẵn một số tiền em Ba trao cho ảnh đó… Không có sao đâu em Ba à, em Ba đừng quá buồn phiền không ích lợi gì hết vì dầu sao thì chuyện cũng đã lỡ ra rồi…

Vừa lúc đó ba hồi còi tàu vang lên.

Phấn vừa đi theo anh khách vừa ngoái cổ nhìn xuống cầu tàu. Cô móc túi lấy cái khăn mùi xoa vải ba-tích có rua bốn góc ra chặm chặm nơi mắt…

Nghe tàu xúp-lê dồn tới, Tư Cầu hối hả ôm ba ổ bánh mì và xách tòn ten gói thịt chạy xuống.

Anh ta rảo bước, né tránh người qua lại và đi tuốt ra phía sau lái tàu. Anh sắp sẵn vài câu khi gặp Phấn là cự nự liền về cái việc sai đi mua bánh mì suýt chút nữa trễ tàu nầy.

Đến nơi, Tư Cầu thấy ba cái ghế bố trống không nằm liền một hàng với nhau, nó lẩm bẩm nói:

– Ủa, đến giờ nầy mà chú Ba hổng chịu trớ xuống nữa, như vậy trễ hết rồi còn gì!… Còn bà nội nầy (anh ta nhìn qua ghế của Phấn) chắc bả đi cầu rồi…

Tư Cầu thong dong chất ba ổ bánh mì lên chỗ gác chân của ghế bố rồi nằm phịch xuống có vẻ hỉ hả lắm : suốt thời gian anh ta lên chợ, anh ta cứ lo ngay ngáy về việc trễ tàu!

Đến chừng tàu xúp-lê dồn một hơi nữa, Tư Cầu đâm ra nóng ruột. Ngó qua mấy dãy ghế bố bên cạnh, thiên hạ vẫn còn ngủ, Tư Cầu lễ mễ ôm mấy ổ bánh mì và gói quần áo lên đi lần xuống tầng dưới tàu để kiếm Phấn.

Anh ta không thấy Phấn đâu hết nên rề lại trước cầu xí đưa tay giựt cửa ra.

Biết cánh cửa bị móc chặt cứng ở phía trong, Tư Cầu bèn vừa gõ cộp cộp vừa lên tiếng kêu:

– Em Phấn! Em ở trong hả?

Một giọng đàn ông ồ ồ vang ra:

– Thằng cha nào kỳ vậy? Cửa cầu móc trong nầy rồi mà còn giựt kêu rầm rầm vậy cà!

Không phải Phấn! Tư Cầu điếng hồn vội tháo lui chạy riết trở lên tầng trên tàu.

Lên đến nơi, Tư Cầu ngó quanh ngó quất thấy một bà già đang ngồi ngoái trầu ở chót dãy băng kế cận chỗ để ghế bố bèn chạy đến hỏi thăm:

– Thưa bác, hổng dám nào bác cho cháu…

Bà lão ngước đôi mắt nhấp nháy lên:

– Chú em muốn hỏi cái gì đó?

– Tự nãy giờ chắc bác đã thức, bác có thấy cái cô ngồi ở ghế khít bên cháu hông bác?

Bà lão gật gù:

– À phải rồi, cái cô đội khăn bàn lông cũng có ôm gói đồ đi chung với chú em với cái chú bận đồ tây xuống tàu hồi chiều…

Tư Cầu sốt ruột cắt ngang:

– Phải đó bác! Bác thấy cổ đi đâu hông bác?

– Ờ… bác thấy cổ ôm gói đi lên cầu tàu… bộ cổ hổng gặp chú em mầy ở trển sao?

Tư Cầu đổ mồ hôi hột lập cập hỏi thêm:

– Mà… bác có biết cổ đi đâu hông bác?

– Hổng biết chú em à! Phải dè chú em cần, hồi nãy bác hỏi dùm cho… Mà có chuyện gì vậy chú em?

Thấy vẻ mặt Tư Cầu ngơ ngác, bà lão cũng lo ngại nói thêm :

– Hay là chú em lên quán trà Huế ở đầu cầu tàu hỏi thăm coi, hổng chừng cổ lên trển uống nước ngồi đợi chú em mà chú em đi huốt hổng thấy chăng?

Tư Cầu nhăn nhó:

– Thiệt khổ cho tui quá, bây giờ tàu sắp chạy tới nơi rồi…

– Chưa đâu chú em à! Tàu nó xúp-lê liên tu để hối khách chớ chửa có chạy liền bây giờ đâu… mà quán trà Huế trên đầu cầu tàu cũng gần xịch đây chú em chạy lên đó hỏi thăm mấy hồi…

Tư Cầu lách cách ôm gói quần áo và ba ổ bánh mì bươn bả đi lên cầu tàu.

Lên đến nơi, anh ta cũng vẫn không thấy tăm dạng Phấn ở đâu hết. Anh ta đứng xớ rớ trước sạp bán trà Huế một hồi, rồi rề lại:

– Bán cho tui một tô nước trà, dì ơi!

Bà bán nước trà múc trao cho anh ta một tô. Tư Cầu vừa đỡ tay bưng lấy vừa hỏi:

– Tự nãy giờ dì bán ở đây, dì có thấy cô nào ôm gói đồ đi ngang qua đây hông hả dì?

Bà bán nước trà nhổ toẹt cổ trầu xuống mé sông rồi cười đáp như phân bua với mọi người ở xung quanh:

– Ý trời ơi cậu hỏi tui câu đó tui làm sao trả lời cho được! Đó cậu coi, ở đầu cầu tàu nầy “thiên bang vạn lũng” người qua lại, tui dầu có thấy cũng hổng nhớ ai với ai hết!

Tư Cầu chán nản gật đầu:

– Ờ phải…

Vừa lúc đó tàu xúp-lê dồn một hơi bốn năm tiếng, Tư Cầu vội vã móc túi trả tiền cho bà bán trà Huế.

Một anh phu xe lôi ngồi uống nước bên cạnh tự nãy giờ nghe rõ câu chuyện mới lên tiếng hỏi Tư Cầu:

– Cậu muốn kiếm cái cô đó hả? Cậu đi chung với cổ phải hông!

Tư Cầu hấp tấp trả lời:

– Phải tui đi chung với cổ đó mà! Bộ chú có thấy hả?

– Phải cô mặc áo dài hường hường hông cậu?

Tư Cầu thở dài:

– Nếu vậy thì hổng phải rồi… Thôi, tui trở xuống tàu kẻo trễ…

Anh phu xe lôi níu tay Tư Cầu lại:

– Ối, tàu chưa chạy đâu mà cậu lo, tui ở đây hoài, tui biết mà, nó xịch tới xịch lui năm lần bảy lượt rồi mới tách bến. Mà cậu đi với cô gì đó, cổ chưa xuống, cậu tìm chưa ra thì ví dầu cho có trễ tàu đi nữa cũng chẳng ăn nhằm gì hết!

Tư Cầu rối ruột không biết tính thế nào. Trong lúc đó tiếng tàu xúp-lê cứ vang lên từng chập làm cho anh ta lính quýnh thêm, anh ta vừa ngoái cổ trông chừng phía dưới cầu tàu, vừa ngó mong lên trên phía đường lộ.

Anh phu xe lôi lại chêm thèm vào:

– Chưa chạy đâu mà cậu! Phải cô bận áo bà ba hông cậu?

Tư Cầu quay phắt lại:

– Sao? Bộ anh ngó thấy hả?

Anh xe lôi hơi ngập ngừng một giây rồi đáp luôn một hơi:

-… Phải, tui thấy cổ đi lên chợ, cậu có kiếm mời cậu lên xe tui chạy chỉ đường cho!… Cậu đừng sợ trễ tàu… Mà tui hỏi cậu : cậu hổng kiếm ra cô gì đó thì dẫu cho trễ hay không trễ tàu thì có ăn thua gì nữa chớ?

Tư Cầu nghe nói có lý nên lật đật theo anh xe lôi lên trên lộ.

Anh xe lôi đưa nó đi năm đồng bảy đổi rồi mà gặp cô nào mặc áo bà ba, Tư Cầu cũng lắc đầu cả.

Cuối cùng, Tư Cầu bảo anh xe lôi đạp trở về cầu tàu.

Anh xe lôi cằn nhằn một mình:

– Sao kỳ quá vậy cà? Cô đó có đi thì cũng lẩn quẩn mấy con đường nầy hay cùng lắm thì ở phía bến xe chớ đâu nữa! (rồi anh ta hỏi Tư Cầu) Hay cậu lên bến xe kiếm một bận nữa coi cậu?

Tư Cầu lắc đầu:

– Tui chắc cổ lên chợ mua sắm cái gì đó chớ gì, bây giờ thì hổng chừng cổ xuống tàu rồi mà mình hổng hay.

Tới cầu tâu, Tư Cầu vội trả tiền cuốc xe. Tiếng xúp-lê dồn dập làm cho anh ta càng nôn ruột thêm. Anh ta vừa chạy đến nơi thì chiếc tàu cũng vừa mở đỏi.

Tư Cầu tay xách tay ôm vừa nhảy lên kịp trên sàn tàu thì chiếc tàu cũng từ từ tách bến quay mũi trở ra sông cái. Anh ta hồi hộp đi rút về phía sau lái để xem Phấn có trở xuống chưa…

Ba chiếc ghế bố hồi nãy trống không bây giờ đã có mấy người lạ hoắc chiếm hết!

Tư Cầu chết điếng trong lòng, đứng khựng lại đưa mắt ngó quanh, rồi nhìn kỹ từng người đàn bà mặc áo bà ba một… Không, không thấy Phấn đâu hết! Anh ta chuyền mấy ổ bánh mì qua để ôm chung luôn với gói quần áo và đưa tay vuốt mồ hôi trán.

… Ờ… hay Phấn và chú Ba bị người ta chiếm mất ghế nên đi chỗ khác rồi hay là cô ta chơi ác núp đâu đó để làm cho mình điếng hồn một lúc chơi!

Tư Cầu vội vã dớn dác đi tìm Phấn và chú Ba, hết đằng phía mũi tàu rồi xuống tầng dưới… trước mũi, rồi sau lái… vẫn không thấy tâm dạng ai hết.

Anh lại quay trở lên tầng trên đi về phía sau lái để rồi đứng sững lại đó. Anh ta trừng mắt nhìn lại ba chiếc ghế bố nằm song song kia, nay đã có người khác đến nằm… Tư Cầu như không tin cái cảnh trước mắt mình là có thật.

Anh ta lắc lắc đầu, đưa tay dụi mắt năm ba lượt… Không, cảnh ấy quả có thật mà! Anh ta đứng lựng khựng một hồi như người bị chóng mặt cố giữ lấy thăng bằng cho khỏi ngã rồi chập choạng đi rề lại phía chiếc ghế bố đã nằm ban tối.

Lúc bấy giờ trời đã sáng mờ mờ…

Người ngồi trên chiếc ghế bố đó cũng trang lứa tuổi như Tư Cầu. Anh ta đến gần lên tiếng hỏi:

– Xin anh… anh cho tui hỏi thăm một chút..

Anh kia mau mắn ngước mặt lên. Tư Cầu rụt rè hỏi tiếp:

– Anh cho tui hỏi thăm… cái ghế nầy anh mướn lại hồi nào vậy? Hồi tối tui đã ở đây mà…

Anh kia ngồi quay lại:

– Ủa sao lạ vậy! Tôi cũng nằm đây từ hồi chập tối mà ! Ghế nầy tôi mướn, anh hổng tin đi hỏi người dưới tàu coi! Chắc anh lộn đa!

Tư Cầu lấc đầu:

– Mà thôi… cái đó cũng hổng cần gì lắm… À anh, anh có thấy cô nào bận áo bà ba, đội khăn bàn lông, tay ôm gói như tui vậy nè – đến đây… hỏi thăm ghế bố… cũng như tui vừa rồi hông anh?

Anh kia chau mày suy nghĩ rồi lắc đầu đáp:

– Cô nào mặc áo bà ba, ôm gói… không, tôi không thấy có cô nào lảng vảng tới đây hết…

Rồi ngó thấy Tư Cầu có vẻ chưa tin, anh mỉm cười nói luôn:

– Không có thiệt mà! Không phải khoe với anh, chớ nếu có cô nào đến đây thì dễ gì lọt qua mắt tui được!

Tư Cầu thở dài:

– Thôi được… cám ơn anh nghen!

Tư Cầu tính dợm bước đi, nhưng đôi chân như mắc cứng một chỗ. Anh ta đứng thừ người ra đó, thẫn thờ nhìn vào một dãy ba chiếc ghế bố… như muốn tìm giải một câu thai đố ác độc, bí hiểm của số mạng…

Anh kia thấy Tư Cầu chưa chịu đi nên nói thêm:

– Anh Hai ơi! Về vụ ghế này, anh không tin, anh đi hỏi người dưới tàu lại coi… không phải tôi nhận ẩu đâu!

Tư Cầu không trả lời, khẽ nhún vai bỏ đi chỗ khác; đến Phấn, chú Ba kia còn có thể lạc mất thì chiếc ghế bố kia dầu cho có bị người khác chiếm, anh cũng chẳng thấy lạ gì…

Đi được mấy bước, Tư Cầu nhớ trực lại bà lão ngồi nơi đầu băng cây hồi trước khi tàu chạy. Nó quay lại kiếm, nhưng bà lão cũng không còn ngồi đó nữa. Chắc lại đổi chỗ rồi !

Buồn nản, Tư Cầu lủi thủi ôm gói quần áo, ba ổ bánh mì và xách tòn ten gói thịt xá xíu đi tìm một chỗ ngồi đỡ.

Tầng trên, băng nào cũng chật cứng người. Anh ta lần xuống tầng dưới và đi thẳng ra phía mũi tàu.

Chỗ này lộng gió nên ai nấy cũng chê. Tư Cầu rề lại ngồi phịch lên băng cây, đặt gói áo, bánh mì lên gần chỗ bên cạnh rồi ngả lưng dựa vào vách buồng tàu ở phía sau. Anh ta cảm thấy mỏi mệt vô cùng…

Không có Phấn, bây giờ anh ta đi đâu đây?

Tư Cầu muốn nuốt nước miếng như để dồn ép xuống sự ấm ức đang dâng lên tới cổ, nhưng miệng thì khô quánh, lưỡi thì đắng ngòm…

Anh ta ngoái cổ nhìn về phía chợ Cần Thơ: chợ Cần Thơ đã khuất vào trong hàng dương và anh ta chỉ còn thấy dãy tiệm cưa ngoài vàm.

Chiếc tàu đã chạy được một khoảng khá xa, và chạy giữa sông chớ không cặp theo bờ. Khúc sông Bassac nầy trống trơn không vướng cồn, cù lao nên càng thêm mênh mông.

Tư Cầu ló đầu ra ủ rũ nhìn xuống mũi tàu đứng phăng phăng rẽ nước.

Một dề lục bình tấp vô mũi tàu bứt ra làm đôi, bị sóng giạt ra hai bên, trồi lên hụp xuống, rồi lềnh bềnh trôi một cách riêng rẽ và bơ vơ trên mặt nước sông…

Hồi lúc nãy, trong lúc Tư Cầu xăng xái ôm bánh mì đi xuống tàu thì trên nầy Phấn cũng lúc thúc theo anh khách lên nhà ngủ Tây Hồ kiếm mướn phòng.

Tới cửa nhà ngủ, Phấn mắc cỡ đứng khứng lại ngoài lề đường không chịu đi vô. Anh khách quay lại ngoắc nó:

– Vô đây em Ba!

Rồi thấy Phấn vẫn còn ngần ngừ, thêm mấy anh bồi phòng ngủ chạy ra ngó chăm bằm hai người nên anh khách vội quay lại gần Phấn nói nho nhỏ:

– Đi vô đại đi em Ba! Em Ba cứ… mạnh dạn đi theo tôi như thường chớ em Ba cứ ké né hoài, người ngoài họ nhìn vô dễ… sanh nghi này khác lắm!

Nghe nói vậy, Phấn làm gan cúi gầm mặt xuống lùi lũi theo anh khách đi vô.

Đến nơi, anh khách xí xô xí xào tiếng Tàu một hồi với người quản lý khách sạn, rồi một người bồi cầm chìa khóa dắt hai người lên phòng trên lầu…

Khép cửa phòng lại đàng hoàng, anh khách quăng nón và cặp da lên trên nệm giường rồi tiến đến gần Phấn tươi cười hỏi:

– Sao em Ba, em Ba coi chỗ nầy có được không? Đó, em Ba coi tôi nói có đúng boong hông? Tôi chỉ cần nói qua vài tiếng là mình có phòng ở liền khỏi mắc công mắc linh gì hết!

Phấn không trả lời mà đứng nhíu mày nhìn các đồ vật bày biện trong phòng : từ chiếc giường Hồng-kông rộng thênh thang có trải ra trắng đến cái tủ có kiếng soi nửa bên cánh, thau nước, cái ống nhổ… tất cả những món đó sao có vẻ lạnh lẽo, trơ trẽn và… dễ sợ làm sao!

Và bỗng nhiên Phấn rùng mình. Liếc mắt thấy thế, anh khách vội nghiêm nét mặt lại và dịu dàng bảo Phấn:

– Em Ba, em đưa gói quần áo đó cho tôi để tôi cất vô tủ chớ làm cái gì mà em ôm kè kè hoài vậy?

Phấn lẳng lặng trao gói đồ cho anh khách và đợi khi anh nầy quay ra, cô mới rụt rè hỏi:

– Anh Ba!… Hổng biết mình mở cửa ra đằng trước đứng được hông hả anh?

Anh khách nhăn mặt nhưng rồi lại sốt sắng đáp:

– Ý tôi quên nữa! Em Ba cứ mở cửa ra đại phía đàng trước đi. Mình đứng ở đó ngó xuống… dưới bến tàu thấy rõ lắm mà!

Phấn vừa đưa tay vặn cái hột xoài cửa thì anh khách vội chạy lại mở dùm…

Cứa mở hé, Phấn lách ra phía ngoài bao lơn rồi quay vào nói với anh khách:

– Thôi anh Ba vô nằm nghỉ đi! Anh để thây kệ tui ngoài nầy một mình được rồi!

Anh khách do dự một giây, rồi gật đầu:

– Được rồi, em Ba ở ngoài đi… mà em Ba nhớ đứng nép qua một bên nghen!

Vừa lúc đó, có tiếng tàu xúp-lê liên hồi. Anh khách ló đầu ra:

– Cha, không biết chiếc nào chạy mà xúp-lê dữ quá!

Phấn bồn chồn ngó mong xuống bến tàu:

– Ừ, hổng biết chiếc nào chạy đó…

Anh khách lặng lẽ rút vào trong phòng và khép cửa lại.

Ở ngoài nầy, Phấn nhìn kỹ từng người một lên xuống dưới cầu tàu, nhưng cái mái nhà lồng ở khoảng đầu cầu che khuất rất nhiều và càng làm cho cô thêm sốt ruột. Bỗng Phấn thấy Tư Cầu từ dưới mái nhà lồng chạy ra leo lên xe lôi:

– Ủa, anh Tư ảnh tính đi đâu nữa cà!

Cô dợm mở miệng reo tên Tư Cầu nhưng lại thôi, rồi cô vói tay định mở cửa phòng chạy tuốt xuống với Tư Cầu… nhưng vừa ngoái cổ nhìn lại, cô đã thấy chiếc xe lôi chở Tư Cầu đi được một khoảng xa về phía nhà lồng chợ.

Cô chồm ra, nghiêng mình trên lan can lầu nhìn mút mắt theo hướng đi của Tư Cầu….

Đoạn cô tất tả mở cửa chạy vô kêu anh khách:

– Anh Ba, hổng biết anh Tư ảnh lên xe lôi chạy thẳng xuống chợ làm chi hả anh? Hay là ảnh đi kiếm tụi mình?

Anh khách đang nằm hút thuốc trên giường vội ngồi nhổm dậy:

– Chắc là vậy rồi! Nhưng… không sao đâu em Ba, không dễ gì ảnh mò ra chỗ này… Mà thôi, muốn cho chắc ăn, tôi đi xuống dưới lầu dặn trước mấy anh bồi hễ có ai hỏi thì nói không biết. không thấy gì hết!

Nói xong, anh ta vội vã đi xuống dưới lầu, Phấn đứng thừ người ra đó một hồi rồi mở cửa ra phía trước lan can ngó chừng xuống phía cầu tàu.

… Tiếng tàu xúp-lê “tun, tun” từng chập càng làm cho Phấn thêm nôn nao, thêm bứt rứt, thêm xót xa trong lòng.

Cô lính quýnh thò ra thụt vô, chạy tới chạy lui nội cái khoảng bé nhỏ trong lan can trước lầu… Cuối cùng, cô mở cửa định chạy xuống đường để kiếm Tư Cầu, nhưng vừa lúc cô lập cập bước xuống bực thang lầu, thì anh khách cũng vừa ở dưới hối hả đi lên…

Phấn ngơ ngác nhìn anh khách. Anh này chưng hửng nhìn lại cô ta:

– Ủa, em Ba đi đâu đây?

Phấn thấy cứng họng nhưng cũng ráng đáp cho xuôi:

– Ờ… tui đi kiếm anh đây… Sao, anh xuống nói với họ xong chưa?

Anh khách vồn vã trả lời:

– Có cái gì đâu mà hổng xong! (rồi anh ta hỏi thêm) Tự nãy giờ em Ba có thấy cái gì… lạ không?

Phấn lắc đầu:

– Hổng có gì ráo anh à! Anh Tư ảnh đi đâu mà chưa thấy quay trở lại…

Thôi để tui trở lên ra đằng trước canh chừng coi !

– Ừ phải đa !

… Phấn đứng ngóng chừng mười phút thì chiếc xe lôi chở Tư Cầu cũng vừa quay trở lại.

Cô vội nép mình xích vô trong và nhón chân nhìn kỹ xem Tư Cầu xoay trở ra làm sao.

Và đứng trên này, Phấn nghe tiếng xúp-lê vang rền, máy tàu đã bắt đầu chạy xình xịch. Cô lại thấy người ta lăng xăng đi mở đỏi tàu.

Trong lúc đó ở trên bờ, Tư Cầu còn lui cui đếm tiền trả cuốc xe và còn chỉ chỏ qua lại gì đó với bác xe lôi.

Phấn hồi hộp nói lẩm bẩm một mình: Trời đất ơi, tàu chạy bên đít mà sao ảnh cứ đứng cù cưa cù nhầy ở đó hoài vậy kìa!

Vừa lúc đó, Tư Cầu ba chân bốn cẳng chạy ùa xuống dưới cầu tàu rồi nhảy phóc lên kịp trong lúc tàu đã đang ra khỏi bến hơn một thước tây…

Phấn vuốt ngực thở ra, rồi nhìn trân trối vào tầng trên chiếc tàu để ráng phân biệt Tư Cầu trong đám hành khách để tìm xem Tư Cầu đứng đâu, ngồi đâu, nhưng hoài công…

Chiếc tàu đảo một vòng để quay mũi chạy thang ra ngoài vàm, và khi nôó đi ngang trước nhà ngủ Tây Hồ, Phấn cảm thấy đau nhói trong lòng. Hai tay cô vịn chặt lấy thành lan can lầu. Cô muốn gào to lên “anh Tư, anh Tư”, nhưng mấy tiếng ấy nghẹn ừ nơi cổ họng..

Gần tới vàm và sấp chạy ra ngoài sông cái, chiếc tàu xúp-lê lên mấy hồi.

… Rồi Phấn chỉ thấy mấy ngọn đến đỏ nhấp nháy sau lái tàu và đám tàn lửa lốm đốm thỉnh thoảng bay túa ra theo từng bựng khói đen…

… Chiếc tàu đã ra ngoài sông cái mất dạng nhưng còn ráng gởi lại một hồi xúp-lê dài dặc và rên rỉ…

Đúng là tiếng xúp-lê của chiếc tàu có Tư Cầu đi! Tiếng xúp-lê quá quen thuộc mà cũng quá thê lương đối với Phấn…

Và vừa chống tay níu chặt lấy lan can lầu vừa nghe những tiếng xúp-lê cuối cùng còn vang vọng lại, tự nhiên Phấn nhớ trực mấy câu hát đưa em của một ngày xa cũ nào:

” Tàu xúp-lê một còn mong còn đợi.
” Tàu xúp-lê hai còn đợi còn chờ.
” Tàu xúp-lê ba, tàu ra biển bắc,
” Tay vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng…

Phấn đứng yên không nhúc nhích, để mặc cho hai dòng lệ từ từ lăn trên má…

Anh khách đã mở cửa ra tự lúc nào. Trước tình cảnh đó, anh ta đứng yên.

Một hồi lâu sau, anh ta lên tiếng tằng hắng, rụt rè đưa tay ra nắm nhẹ lấy cánh tay của Phấn rồi gọi nho nhỏ :

– Em Ba! Thôi vô đi em, chớ đứng hoài ở ngoài cảm sương đau chết…

Phấn vẫn đứng như trời trồng, cặp mắt không rời nhìn về khoảng mù mịt ngoài vàm sông cái. Anh khách lay nhẹ cánh tay cô ta:

– Em Ba! Thôi đi em Ba! Như vậy mọi việc kể ra cũng… êm thấm hết rồi. Bây giờ có đứng đó thương tiếc cũng không ích lợi gì cho ai hết em Ba à!

Phấn quay mặt lại, nước mắt đầm đìa. Thấy vậy, anh khách móc khăn mùi xoa đưa cho cô ta :

– Em Ba cầm lấy khăn nầy lau nước mắt đi.

Phấn không nói không rằng đưa tay áo lên quẹt mắt.

Anh khách thở dài đút chiếc khăn vô túi quần trở lại.

Rồi bỗng nhiên Phấn nổi lên khóc tấm tức tấm tưởi, xô mạnh cánh cửa chạy tuốt vô phòng.

Anh khách cũng te te chạy theo. Anh tiến đến gần Phấn, dìu cô ngồi xuống giường, rồi lại rút mùi-xoa ra chăm chút lau nước mắt cho Phấn.

Phấn như thêm mũi lòng, khóc mùi. Anh khách thấy vậy chắc lưỡi luôn miệng:

– Cha, cái điệu nầy thì khổ cho tôi quá! Thôi nín đi em Ba… Cái việc nầy đầu dây mối nhợ gì cũng tại tôi hết..

Phấn mếu máo chận ngang:

– Tại tui hết chớ hổng phải tại anh đâu! Tại tui nhẹ dạ yếu lòng… Tại tui hổng dám cùng chịu khổ với anh Tư…

– Coi, em Ba nói gì lạ vậy! Thiệt ra thì không tại ai hết, hay nếu có “tại” thì cũng tại… cả ba… Tôi đã nói với em Ba hoài: thà bây giờ mình chịu đau, chịu khổ đôi chút mà nữa rồi sẽ được xuôi cho thuận mái hết em Ba à! Thì thế nào anh Tư cũng… buồn phiền đôi chút, nhưng sau nầy ảnh suy nghĩ lại ảnh sẽ thấy… không có gì đáng trách cho lắm em Ba à. Tôi nói cái nầy thì hơi kỳ một chút: để nữa rồi anh Tư ảnh sẽ cho rằng cái việc nầy cũng có điều… hay riêng của nó (rồi anh ta ngó Phấn, rụt rè nói thêm)… Luôn em Ba cũng vậy!

Phấn ngước mắt lên nhìn anh khách: nét mặt vừa sượng sùng, vừa lo âu của anh ta làm cho cô thấy tội nghiệp :

– Thiệt anh Ba anh đèo bồng tui làm chi cho thêm rắc rối, phiền lụy như vầy nè! Anh có tiền có bạc, có công ăn việc làm, một thân một mình như vậy hổng sướng, hổng khỏe hơn sao?

Anh khách cười giả lả:

– Ối biết sao mà sướng mà khỏe! Chắc là tại cái… số kiếp nó như vậy!

Và anh ta nghiêm nghị nói thêm:

-… Mà theo tôi, sướng hay khổ gì cũng do mình hết chớ không ai đâu chen vô đó được ! Bởi vậy, mình phải… ráng em Ba à!

Phấn thở dài, cúi đầu xuống và buồn bã nói theo:

– Thì bây giờ mình phải ráng chớ biết sao!

Anh khách thấy Phấn khuây khỏa đôi chút, hí hửng đưa tay kéo Phấn đứng dậy:

– Thôi tạm dẹp cái chuyện đó qua một bên đi! Bây giờ em Ba có đói bụng hông…. Hay là tôi với em Ba thả rề xuống chợ kiếm đồ ngọt hay mì cháo gì ăn lót dạ đi, chớ còn trên hai giờ nữa mới có chuyến xe chạy lận!

Phấn nghe nhắc đến chuyện ăn uống bắt nhớ lây sang việc sai Tư Cầu đi mua mấy ổ bánh mì.

Cô ngồi rị trở lại xuống giường chớ không chịu đứng dậy theo anh khách, rồi thẫn thờ lắc đầu đáp:

– Thôi anh Ba có xót ruột thì đi ăn một mình đi! Phần tui thì… hết nuốt cái gì vô nữa được. Anh Ba đi đi, để tui nằm nghỉ một mình ở đây cũng được mà!

Nghe Phấn nói vậy, anh khách ngồi phịch xuống ở bên cạnh:

– Em Ba không đi thì tôi cũng ở lại vậy! Thôi mình nằm nghỉ một chút để sáng mai còn có sức mà ngồi xe gần suốt ngày nữa chớ phải ít ỏi gì sao!

Nói xong, anh ta nằm lăn lên chiếc gối phía trong giường, rồi xô nhẹ một chiếc gối khác lại gần Phấn:

– Thôi nằm xuống nghỉ đỡ một chút đi em Ba!

Phấn ngó xuống mặt giường trải ra trắng tinh và không mấy gì rộng rãi cho lắm, e ngại hỏi anh khách:

– Bộ… nằm nghỉ luôn ở đây hết sao?

Anh khách ngóc đầu lên chống tay lên má và hơi mỉm cười đáp:

– Thì em Ba coi: nội trong phòng có một cái giường Hồng-kông này thôi thì mình cũng phải… nằm đỡ cho qua một vài giờ nữa vậy thôi, chớ chẳng lẽ tôi với em ai nhường cho ai bây giờ… hay là hai đứa cứ ngồi cú xụ đó cho tới sáng hay sao?

Phấn vừa dợm đứng dậy vừa nói:

– Hay là anh Ba mệt anh nằm nghỉ đi, để tui ngồi chơi đằng trước cũng được rồi, chớ thiệt ra tui ngủ nghê gì được nữa!

Anh khách vội níu cô xuống:

– Ậy, em Ba làm vậy coi sao được! Hay nếu em Ba muốn ngồi suốt đêm thì tôi cũng ngồi theo luôn!… Mà ngồi như vậy, muỗi cắn chết chịu gì thấu! Mình đã chịu tiền phòng thì tội gì phải đưa lưng ra hành thân hành xác như vậy! Thôi… chịu khó nằm nghỉ một chút đi em Ba!

Phấn thở ra:

– Thì đành vậy! Nhưng kỳ quá…

Anh khách làm bộ cau mày:

– Coi có cái gì đâu mà kỳ! Ở đây, quanh đi quẩn lại chỉ có em Ba với tôi có ai đâu nữa chen vô mà em Ba cho rằng kỳ?

Rồi anh ta lấy tay vỗ vỗ xuống dưới nệm như để chỉ chỗ cho Phấn ngả lưng:

– Nằm xuống đây đi em Ba! Trước hay sau gì thì… cũng vậy chớ có cái gì khác nữa mà em Ba mắc cỡ hay ngại ngùng hổng biết!

Phấn rón rén nằm chò co một bên và đâu mặt lại với anh khách, rồi đỏng đảnh nói:

– Đó tui nằm rồi anh có vừa ý hông? Thiệt mới ràng ràng đây mà anh bắt ép tui đủ chuyện hết đó nghen!

Anh khách, mắt thì lim dim nhìn Phấn, còn miệng thì cười mím chi:

– Em Ba đừng có nói lố cho tôi quá đa nghen! Chưa có chút xíu gì hết mà “đủ chuyện” sao được?

Vừa nói xong, anh ta đưa tay qua quàng lấy cổ Phấn. Phấn vội thụt né ra sau làm cho chiếc nệm lò xo rung rinh như bị ai xô lắc. Cô hoảng hồn vội đưa tay chụp níu lấy mép giường, rồi xẻn lẻn nói:

– Cha, cái thứ giường nầy nằm thì êm, mà coi bộ không được vững chãi như mấy bộ ván dưới mình…

Anh khách cười lớn, nhún mình lên xuống trên nệm mấy cái rồi nói:

– Ý trời ơi, giường Hồng-kông của người ta mà em Ba dám chê chớ! Đó, thử thời em Ba nhào lộn ở trên cũng không hề hấn gì hết.

Phấn nghe nói vậy, ưỡn người lên xuống nhè nhẹ trên chiếc nệm như để thử xem sao, rồi quay đầu lại liếc nhìn anh khách và mỉm cười một cách bí hiểm.

Anh khách làm gan ngóc mình lên ôm nghiến lấy cô và hôn một hơi lên má, lên cổ… Phấn ngồi vụt dậy vừa xô nhẹ anh ta ra rồi làm bộ bĩu môi nói:

– Kỳ quá… thì để thủng thẳng hổng được sao? Tui có biến đi đâu mất được mà anh chộp rộp quá vậy?

Rồi cô lấy ngón tay xỉa vào trán anh khách:

– Xí ! Làm như chết thèm chết khát hồi đời nào vậy.

Anh khách ra vẻ nhăn nhó:

– Em Ba ác lắm nghen!… Cái điệu nầy thì chết còn sướng hơn!… Không thèm mà làm sao tôi lại bỏ công ăn việc làm qua một bên, để giờ phút nầy còn ở đây với em Ba như vầy hả!

Anh ta đặt bàn tay lên vai Phấn, rồi từ từ xoa nhẹ xuống cánh tay tròn lẳn.

Thấy Phấn ngồi yên, anh ta đâm ra lúng túng ngang… Anh ta ngước mắt lên nhìn bóng đèn điện trên trần nhà đoạn ấp úng hỏi:

– Tôi… tắt đèn nghen em Ba!… Mình ngủ để đèn… chói mắt lắm!

Nghe anh khách nói vậy, Phấn để ý nhìn lên ngọn đèn sáng trưng và gật gù đáp :

– Ừ phải, đèn khí sáng quá há!

Anh khách vội nhoi người lên vói tay nhận vào quả nút điện treo ở đầu giường. Phấn vừa nghe tiếng “cắc” là gian phòng tối om:

– Ủa, anh tắt đèn gì mau…

Cô chưa nói dứt lời thì anh khách đã ôm ghì lấy và lôi cô cùng nằm vật xuống. Phấn định tông ra, nhưng lại nằm yên: sớm hay muộn gì đằng nào thì cũng phải vậy, anh khách đã lo xăng văng xéo véo vì mình đâu lẽ để cho anh ta… không ngờ!

Phấn bất giác thở dài, ruổi chân ra và cảm thấy bình tĩnh một cách lạ lùng.

Cô nghe rõ mồn một tiếng thở dốc của anh khách ở bên tai, tiếng trái tim của anh khách đập dồn dập như gõ liền lên trên ngực cô ta.

… Anh khách đã nâng niu, ôm ấp Phấn một cách đầy đủ và đậm đà như cô ta chưa từng được hưởng như thế bao giờ… Nhưng mắt cô vẫn mở trừng trừng nhìn lên khoảng nóc mùng và còn tự nhủ rằng: dẫu sao trong tương lai được gần gũi chung chạ với một người đàn ông như anh khách cũng không phải là một sự không ưng ý!

Phấn bỗng để ý lắng tai nghe tiếng gió thổi vi vu qua hàng dương dọc theo mé sông gần phía cầu tàu…

Và tự nhiên cô thấy nhớ lạ lùng một tiếng gió khác: tiếng gió thổi lào-xào qua đám cây chưn bầu trên giồng vắng… với một Tư Cầu vụng về, nhưng cảm động hơn biết bao nhiêu!

…Anh khách luồn tay dưới nách Phấn ghì chặt lấy đôi vai của cô, rồi kề miệng sát tai hỏi nho nhỏ:

– Em Ba, em còn… ngủ hay thức?

Phấn định trả lời một tiếng “thức” gọn lỏn, khô khan nhưng rồi cô lại chỉ ừ hữ ú ớ trong miệng…

Anh khách siết mạnh lay đôi vai ấy thêm một chút nữa… Và Phấn một tay đặt nhẹ lên lưng của anh ta, một tay quơ níu lấy mép nệm giường.

Những tiếng xúp-lê của một chiếc tàu nào ở biệt mù ngoài sông cái vang vọng lại từng hồi một, những tiếng xúp-lê rời rạc, u hoài…

Chút tình xưa – tác giả Bùi Bích Hà (viết về Nhạc sĩ Từ Công Phụng)

Phạm Tín An Ninh    

Post on July 17, 2021   

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

 Thương Tiếc Nhà Văn Bùi Bích Hà
từ trần ngày 14/7/2021 tại Orange County, California, Hoa Kỳ

(VGD.magasine)

(Nhiều người vẫn thắc mắc về sự tan vỡ của cặp đôi Ca Nhạc sĩ Từ Dung & Từ Công Phụng… và đây, một chút sự thật qua ngòi bút của nhà văn Bùi Bích Hà – bà vừa ra đi, thọ 83 tuổi)

CHÚT TÌNH XƯA.

Bùi Bích Hà

Trong không khí hoang mang, buồn bã của những ngày đầu sau biến cố 30 Tháng Tư 1975, chúng tôi tình cờ quen biết nhau.

Từ ngã năm Bình Hòa, Gia Ðịnh, gia đình đôi song ca Từ Từ – như cái cách họ được gọi bởi bạn bè thân quí và các thính giả ái mộ – gồm Từ Công Phụng, Từ Dung và cháu Ý Uyên, thường đến nhà tôi ở khu cư xá Phú Nhuận vào buổi chiều, khi trời đã sẫm tối. Cả ba cùng nôm trên chiếc Honda 50 phân khối, chồng lái, vợ ôm lưng, cô con gái nhỏ ngồi trên cái bình xăng. Có hôm xe hết xăng, Phụng nhìn tôi, cười thay cho câu hỏi: “May ra chị còn?” Chúng tôi thân nhau đến nỗi Phụng biết tôi có mẹ già, nhà lúc nào cũng phải dự trữ một chai xăng phòng khi đêm hôm cơ lỡ cần di chuyển. Có hôm đúng bữa, mẹ con tôi đang chuẩn bị ăn cơm, kéo luôn 3 nhân khẩu nhà anh vào, vét nồi niêu sạch bóng.

Dù ăn hay không ăn, cứ mỗi khi tới nhà, dựng xong cái xe và vào bên trong là Phụng co chân ngồi lên ghế, vớ cây đàn ghi ta dựng ở một góc và nẩy vài nốt nhạc mở đầu rồi hát theo. Có khi Từ Dung phụ họa, tôi và các con tôi lắng nghe. Giọng của Phụng trầm ấm, đôn hậu, phảng phất buồn, mang trong nó tình yêu, ước mơ hiền hòa và chút ray rứt nhẹ nhàng về một điều gì mãi trôi chảy ngoài tầm tay. Giọng của Dung trong trẻo, tôi nghĩ chỉ để làm nền cho Phụng, như đường phèn làm nền cho những hạt đậu phọng rang chín tới, đậm đà, nhiều hương vị.

Chúng tôi ngồi với nhau đến khuya, dưới ánh đèn dầu lù mù của những đêm cúp điện, chia nhau nỗi lòng của những người thấy mình lơ lửng ở một quãng đường không biết sẽ đưa họ về đâu? Những khi không có câu hỏi và câu trả lời, trong không gian im ắng của căn nhà đóng cửa, mỗi người yên lặng theo đuổi ý nghĩ riêng mình.

Tính Phụng ít nói nhưng khi nói, anh hay bắt đầu với một nụ cười đọng ở khóe môi và ánh nhìn lấp lánh của đốm lửa nhỏ trong lò sưởi.

Thời gian chúng tôi quen biết nhau không bao lâu, giữa khoảng 1977 cho đến khi gia đình Phụng vượt biển cuối năm 1979, chia cắt bởi nhiều biến cố đau thương cho cả hai gia đình.

Ðó cũng là quãng đời ghi dấu nhiều kỷ niệm của một tình bạn dệt bằng quá nhiều mất mát và khổ đau mà bây giờ, mỗi khi có dịp nhìn lại, tiếc nhớ dâng lên tràn ngập lòng tôi như biển mặn.

Bề ngoài xem ra Phụng là người dễ thích nghi với hoàn cảnh nhưng tôi đoán không do bản tính mà do kinh nghiệm Phụng biết phải đối phó với những điều bất như ý cách nào để bảo vệ mình cho những điều anh chọn lựa, yêu quý và muốn gìn giữ.

Nói cách khác, Phụng chấp nhận trả giá cao cho những gì anh nhận được từ con người và cuộc đời. Tôi không biết những năm tháng tuổi trẻ của anh ở Ðà Lạt với rừng cao, suối sâu, quanh năm mưa phùn và sương mù, có để lại ảnh hưởng nào trên nhân sinh quan của anh hay không song ở anh có sự ẩn mật nhưng không khó hiểu, sự giản dị không có dấu hỏi nào đi kèm cho người quen biết anh.

Tôi còn nhớ buổi trưa mùa Hè nắng nung nấu cả một Sài Gòn sau 75, khô khốc, nghèo nàn, trần trụi, tôi ghé thăm gia đình anh ở ngã năm Bình Hòa. Tôi đến bất ngờ, Phụng khoe nhà có gạo và có miếng thịt bò ai mới cho. Phụng bảo Dung thổi cơm, bảo tôi thái thịt hộ (cho đúng sứa kẻo dai) và Phụng xách cái cà mèn ra đầu ngõ mua cà chua với bát canh gì đấy để bữa ăn có tý nước.

Sau bữa ăn, chúng tôi nói năm ba câu chuyện trên trời, dưới đất xong, Phụng lại cầm đàn và hát. Dường như nỗi vui được hát, được đàn cho mình và cho nhau nghe, đã bắt đầu ngay từ lúc Phụng ung dung cầm cà mèn đi ra nắng để mua mấy thứ lặt vặt.

Tôi nghiệm ra, thay vì ngồi đấy mà than trách cuộc đời ngắn ngủi và nhiều thử thách cam go, Phụng biết làm cho mỗi khoảnh khắc sống là một giá trị, ít nữa cũng là một điều tốt lành.

Ở bên cạnh anh, không ai cảm thấy có điều gì phải phàn nàn.

Có một lúc chúng tôi mở chung một quán cà phê nhỏ trên đường Trương Tấn Bửu. Mỗi tối, quán mở cửa lúc 6 giờ. Tôi pha chế thức uống, Dung phụ tiếp khách và Phụng làm công việc hầu bàn. Vì bận các con còn bé, tôi chỉ giúp anh chị vài tháng để anh chị quen công việc. Ðêm Noel năm cuối cùng, sau khi tiệm đóng cửa, anh chị tạt qua nhà tôi, rủ nhau xuống phố xem thiên hạ đón Giáng Sinh thế nào?

Chúng tôi chạy xe lang thang qua nhiều ngả đường tối om, vẫn thưa thớt có nhà còn treo đèn ngôi sao ngoài cửa, thấy nơi nào có tiệm cà phê là gọi nhau dừng lại xem giá cả của họ rồi cả bọn phá ra cười ngặt nghẽo vì không biết làm gì khác.

Tôi nói Noel cuối cùng vì sau đó, nhiều bất trắc đã xảy ra, đẩy chúng tôi về những hướng đi cách biệt.

Lúc ấy, trong hoàn cảnh ảm đạm của Sài Gòn những năm cuối thập niên 1970, không ai nhìn thấy dù chỉ le lói chút ánh sáng ở cuối con đường tuyệt vọng nên cả thành phố nhao lên chuyện vượt biên. Gia đình Phụng đi một chuyến bất thành, trở về.

Phụng nói: “Thủy triều lên quá nhanh, nước dâng ngập quá ngực, tôi đôn cháu Uyên trên vai nhưng mọi người chen chúc hỗn loạn mà thuyền lớn thì đậu xa bờ vì sợ người đi hôi tràn ngập nên đành phải quay lại thôi!”

Phụng kể bằng một giọng bình thản, vẫn nụ cười trên môi và ánh mắt lấp lánh. Ðối với Phụng, dường như thất bại trong một ước muốn hay toan tính là chuyện đời bình thường.

Sau lần thử thách này, chúng tôi ít gặp nhau vì Phụng thường xa thành phố để tự lo kế hoạch vượt biển cho gia đình. Quán cà phê đóng cửa. Kế hoạch của Phụng không thành công và gia đình anh chị tan vỡ trong lặng lẽ. Như chiếc bong bóng nước vỡ rất khẽ trong cơn mưa giông bất ngờ.

Thời gian trôi qua không biết bao lâu, một hôm tôi lại nhìn thấy Phụng trên chiếc xe Honda quen thuộc nhưng thiếu cháu Ý Uyên trên cái bình xăng và sau lưng anh không còn Dung mà là một phụ nữ khác với khuôn mặt sáng và nụ cười đầy đặn. Chúng tôi chào nhau, mừng gặp gỡ rồi chia tay.

Ít lâu sau, một buổi tối đã khá muộn, Phụng đột ngột đến nhà tôi. Anh bước thẳng đến chỗ cái sofa quen thuộc tôi đang nằm dưỡng bệnh vì cháu Thái Hà vừa mất, ngồi thụp xuống, cầm tay tôi và nói nhỏ đủ cho hai chị em nghe: “Chị H, ngày mai tôi và cháu Uyên đi rồi, tôi đến thăm và chào chị. Chị cố giữ gìn sức khỏe kẻo tội bà cụ và mấy đứa bé.”

Phụng dúi vào tay tôi số tiền tôi nhớ là nhiều lần hơn số tiền tôi san sẻ cho Phụng cầm đỡ khi cháu Ý Uyên phải vào nhà thương vì sốt viêm màng não. Tôi từ chối thì Phụng úp bàn tay tôi lại, điềm đạm và cương quyết: “Không là bao nhiêu nhưng chị sẽ cần.” Rồi Phụng vội vã ra về.

Nước mắt ướt đầm tay áo, tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho Phụng, cháu Uyên và gia đình mới của anh lên đường được bình an. Qua bữa sau, Dung đến tìm tôi lúc xế trưa, thì thầm: “Em nhờ chị đến cái địa chỉ này, xem Phụng và cháu Uyên đã đi chưa?”

Tôi gượng dậy, thuê xe đi ngay. Giờ đây, nhắc lại chuyện cũ, tôi nhớ mang máng là tôi đã đi bộ qua một khu chợ nghèo sình lầy, chỉ còn mấy dãy lều trống hoác trong ánh chiều tà hiu hắt.

Căn nhà mang số Dung ghi cũng trống trơn, không có người. Tôi đứng bơ vơ trên cái sàn gỗ ghép bằng những mảnh ván thưa, nhìn xuống thấy mặt nước đen ngòm bên dưới.

Một người đàn bà đi qua, nhìn vào và nói bâng quơ: “Kiếm mấy người vượt biên úm ở đây hả? Ði hết rồi.” Lộn trở ra con đường lầy lội cũ trong buổi chiều đã tắt nắng, tôi vừa mừng cho bạn, vừa nghe lòng nhẹ hẫng, trống trải, như vừa mất mát một điều gì từng khăng khít với tôi vô cùng nhưng từ nay không còn nữa.

Thời gian sau, tuy vẫn còn lây lất sống trong thành phố nhưng tôi không có lần nào gặp lại Dung. Qua bạn bè chung, tôi biết tin gia đình Phụng tới đảo bình an và Dung sinh thêm một con gái.

Tuy kỷ niệm buồn vui giữa chúng tôi không nhiều nhưng tình thân của chúng tôi đẫm nước mắt của những cuộc chia ly xé lòng không hẹn trước, khiến phần tôi, dù không biết cách nào để diễn tả, mỗi khi ký ức ôn lại quãng đời này, tôi không thể ngăn được nỗi đớn đau cồn lên trong ngực, làm nước đầy lên hai mắt.

Phụng là một người bạn trung hậu, trọng thâm tình và chữ tín. Anh nói ít, nghĩ nhiều, làm đầy đủ. Anh giao du với ai, cũng để lại mỹ cảm khi rời xa, không quá đậm đà nhưng bền bỉ.

Phụng là một nghệ sĩ mực thước, theo tôi, khá hiếm hoi. Anh yêu vẻ đẹp của đời sống nên biết tạo ra sự hài hòa để vẻ đẹp ấy tồn tại và rực rỡ. Anh nhường nhịn, sẵn sàng quên mình. Một mai xa nhau, người cho tôi tạ lỗi… thấy trong sự quên mình ấy, hình ảnh con phượng hoàng bay lên từ lửa đỏ.

Phụng là một nhạc sĩ tinh tế. Cứ đọc nguyên tác những bài thơ do Phụng phổ nhạc để thấy khả năng chọn lọc chữ nghĩa và thi tứ của Phụng, hoàn hảo đến ngạc nhiên, từ “Hạnh Phúc Tôi” đến “Tạ Ơn Em.” Cảm giác như Phụng là một người làm vườn mạnh tay khi cần. Anh tỉa cắt đến tận cùng để chỉ giữ lại tinh hoa tuyệt mỹ của một dáng cây bonsai nghệ thuật.

Phụng là một ông bố kham con và thương yêu con hết mực. Tất cả niềm vui sống của anh, ngoài cung đàn, tiếng hát, khuôn nhạc, dành hết cho con, kể cả tự do của một ông bố nghệ sĩ, sống tràn đầy và ít bộc lộ.

Sau cùng, Phụng là một người đàn ông thủy chung. Anh viết nhạc, anh hát cho tình yêu đời đời, kiếp kiếp. Tình yêu như suối nguồn, róc rách, trong trẻo, dịu dàng len qua những ghềnh đá, nuôi dưỡng tâm hồn anh và không bao giờ cạn.

Dù sau này ra hải ngoại, nhiều lần tôi được nghe và nhìn Phụng hát trên sân khấu, trong thính phòng đầy ắp người hâm mộ nhưng với tôi, tiếng hát của anh luôn là tiếng hát rất cô đơn, thật thà, không son phấn, của riêng bạn bè với một cây ghi-ta gỗ.

Tiếng hát của anh xa vắng, như gió lùa qua vòm cây, đánh thức những khóm lá cho chúng đùa vui dưới ánh trăng. Tiếng hát của anh làm lay động những khóm hoa, cho chúng thả hương bát ngát giữa trời khuya.

Tiếng hát của anh gọi dậy vùng ký ức ru êm những mơ ước không đạt của đời người. Mà anh không chỉ hát, anh diễn tả bằng thanh âm một nội dung đầy tình tự, khắc khoải, cố vươn tới người nghe như một đền tạ mọi ân tình đã đến cùng anh.

Ðứng trên sàn diễn, trong những bộ complet may cắt khéo, dường như Phụng luôn có nỗi ngượng ngùng của một người không đứng ở đúng cái chỗ của mình.

Khoảng giữa năm 2010, bạn bè được tin anh lâm bệnh sau chuyến về trình diễn ở Cali.

Vợ con lo lắng.

Bạn bè quan tâm.

Anh nghĩ gì, không ai biết. Qua điện thoại, vẫn được nghe cái giọng điềm đạm cố hữu, thấp thoáng nụ cười hiền hậu đã gắn liền với nhân dáng anh như từ khi mọi người biết anh.

Riêng tôi mừng cho anh vì chị Ái là một người vợ tận tụy trong tình yêu. Tôi biết anh được chăm sóc kỹ lưỡng, được bảo bọc trong tình gia đình là tổ ấm đúng nghĩa của danh từ này. Anh là người cẩn trọng, chắt chiu dành dụm, nào biết để khi cần, được nhận lại.

Bởi vì, anh sẵn sàng làm chiếc que diêm, một lần lóe lên, thắp đời em sáng lung linh… Phần anh, buồn một cõi riêng…

Từ Công Phụng là một trong những nhạc sĩ được yêu thích từ thập niên 1960, 1970. Nhạc của ông lãng đãng, bàng bạc như hơi thở của người yêu, với giai điệu sâu lắng cùng lời hát trữ tình làm say mê giới trẻ trên làn sóng điện, tại các quán cà phê, phòng trà ca nhạc miền Nam sau năm 1963.

Từ Công Phụng với nhạc bản đầu tay “Bây giờ tháng mấy” sáng tác năm 1960, khi ông mới 18 tuổi và được phổ biến lần đầu tiên trên đài phát thanh Đà Lạt ba năm sau đó đã đưa người nghe vào một thế giới tuyệt vời, huyền diệu của tình yêu. Nhưng ông cho biết không có bóng dáng một thiếu nữ nào đằng sau tình khúc này, mà đó là kết tinh của những bản nhạc ông thường nghe hàng đêm của các nhạc sĩ nước ngoài lẫn trong nước như những tình khúc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Phạm Duy ..

“Hồi đó mình mới lớn mình đâu có dám yêu ai đâu. Nhát thấy mồ,” ông tâm sự với VOA.

Sau “Bây giờ tháng mấy” bản tình ca “Mùa Thu mây ngàn” ra đời kế tiếp cũng được giới yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng bị kẹt lại miền Nam Việt Nam sau ngày 30/4/1975 và mãi đến năm 1980 ông và gia đình một vợ 8 con mới vượt biên thành công, sang Mỹ định cư. Trong thời gian 5 năm sống dưới chế độ cộng sản, ông vẫn tiếp tục sáng tác tình ca.

“Vẫn là những bài tình ca nhưng nó đượm một cái vẻ cuộc đời nhiều hơn là thuần túy tình ca. Sau này khi đời sống mình tạm thời ổn định rồi thì tôi viết lại tình ca nhưng nó cũng phảng phất những đời sống ở trong đó với cái nhìn sâu sắc hơn ví dụ như bài ‘Đời bỗng phù du’ với những câu như ‘Tôi như người du mộng trong cuộc đời bềnh bồng, ngó theo đời quạnh hiu, buồn vây theo năm tháng,’ nhạc sĩ Từ Công Phụng chia sẻ.

Với tâm hồn nghệ sĩ nhìn đâu cũng thấy nhạc, nghe nhạc, nên trong những ngày lênh đênh trên biển trong hành trình vượt biên, ngắm nhìn những cánh chim bay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã dệt nên những ca từ của nhạc bản ‘Qua vùng biển nhớ’

“Như cánh chim bay giữa vùng biển nhớ mênh mông,
Dạt về đây nghe sóng vỗ hồn sầu…”

Đặt chân lên đất Mỹ, ông đã cho ra đời bài hát ‘Khi tôi đến nơi này’ để mô tả sự khác biệt lớn lao giữa lối sống tại Mỹ và cuộc sống ở Việt Nam.

“Khi mình sống ở dưới thời Cộng sản nó khác, nhưng qua bên này nó khác, khác lắm. ‘Khi tôi đến nơi đây, nắng rực rỡ ngoài khoan trời xa, mà lòng tôi thấy rộng mở những thiên đường’.”

Thời gian đầu tới Mỹ, ông cư ngụ tại tiểu bang Iowa, đi học nghề in trước khi chuyển sang bang Oregon. Tại đây, ông đã mở nhà in kiếm sống, lo cho gia đình.

“Lúc đi qua đây, tôi phải đi kiếm một cái nghề tôi học, tôi làm để kiếm tiền. Đời sống của tôi không phải là một đời sống nghệ sĩ. Tôi không thích phải làm nghệ sĩ để kiếm tiền tại vì mình là sinh viên ngày trước và mình có khả năng mình học mà, tại sao mình không đi học. Tôi kiếm một nghề thực tế lúc bấy giờ là nghề in. Tôi có mấy cuốn sách muốn in và thích tự mình ấn loát mấy cuốn sách của mình. Tôi học in ở Iowa, tôi sửa soạn xong hết mới qua Portland. Lúc bấy giờ tiền bạc không có, nghèo lắm, hai vợ chồng một đàn con, phải kiếm sống hàng ngày, làm bất cứ việc gì cũng được miễn sao đúng nghề của mình để kiếm tiền nuôi gia đình. Cũng có một thời gian tôi đi dạy học ở mấy trường trung học,” ông hồi tưởng trong cuộc trò chuyện với VOA.

Từ Công Phụng trong một buổi sinh hoạt văn nghệ

Cuộc sống vất vả, nhưng ông vẫn sáng tác.

“Mình vẫn viết đều lắm, khi nào cảm thấy hứng là viết, tại vì không ai bắt buộc mình viết cả.”

Được hỏi là trong giai đoạn ấy, giữa khung cảnh phải vất vả vì cơm áo gạo tiền, những cảm tác của ông có gì thay đổi không, nhạc sĩ Từ Công Phụng cho biết: “Dĩ nhiên là mình càng sống mình càng cảm thấy có sự thay đổi trong đời sống mình. Mình nhìn đời sống sâu sắc hơn. Cơm áo là một chuyện, âm nhạc là một chuyện khác. Khi nào mình viết nhạc, mình không bị những cái đó nó ảnh hưởng đến mình. Có nhiều người nhờ tôi làm thế này, làm thế kia tôi không làm, trả tôi một số tiền tôi không lấy, đại khái như vậy. Tôi không lệ thuộc vào cái đó.”

Nhạc sĩ Từ Công Phụng sử dụng thành thạo cả đàn guitar lẫn đàn piano, nhưng khi sáng tác, ông thường dùng đàn guitar và đôi khi tự xướng âm và sau đó dùng đàn để trau chuốt lại.

“Thường thường cảm giác từ âm nhạc tới và một câu nhạc đầu tiên nào đó. Xong mình ghi lại, mình phát triển ra. Thỉnh thoảng hay có những dòng âm thanh nó bay ngang trong đầu mình, mình thấy hay mình viết lại nhưng thỉnh thoảng nó lướt qua trong đầu rồi nó biến mất không biết ở đâu nữa. Cảm hứng suy nghĩ ra âm nhạc của mình là những kỷ niệm.”

Về cung bậc của những nốt nhạc được sử dụng trong các bản nhạc của Từ Công Phụng, nhạc sĩ cho biết ông thích sử dụng âm giai trưởng (major) hơn là thứ (minor).

“Thường thường những bài hát của tôi, tôi viết bằng major nhiều hơn là minor. Major mỗi gam mỗi khác, nhưng nhạc cũng có thể buồn được bằng major hay minor, nhưng minor buồn da diết, nó thảm lắm, tôi không thích. Mình buồn nhưng là buồn man mác là được rồi, không có bi lụy.”

Hiện nay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đang phải chống chọi với 2 căn bệnh ung thư kéo dài đã 12 năm và bệnh tật đã ảnh hưởng nhiều đến nội lực sáng tác của ông.

“Nó cũng ảnh hưởng vì sức khỏe. Bây giờ tôi ngồi lâu không được, ngồi lâu mệt lắm. Người ngó mạnh khỏe vậy nhưng ngồi lâu mệt trong người. Muốn viết nhạc phải ngồi lâu, phải suy nghĩ nhiều, phải chọn lựa những âm thanh nào tốt, dễ nghe. Mình không ngồi lâu được nên sức sáng tác cũng kém đi. Tuy nhiên lâu lâu cũng được một vài bài, kiếp tầm nhả tơ mà. Có một số bài mới tôi tính in thêm một tập nữa nhưng chưa thực hiện được. Một trong những bài mới đó có tên gọi là ‘Bên dòng đời tịch liêu’ nói về cái cô đơn của mình trong cuộc đời, có câu kết luận như thế này ‘Ngồi đây một mình bên dòng đời tịch liêu và tôi bỗng thấy hồn mình sẽ tan vào vời vợi thinh không’.”

Từ Công Phụng và phu nhân

Ông cho biết nhạc khúc ‘Tình tự mùa Xuân’ là kết quả của mối tình của ông với bà Kim Ái, người vợ ông gặp sau biến cố 1975 và cùng đồng cam cộng khổ cho đến ngày nay, nên ca từ của bài hát rất tha thiết, mô tả sự gắn bó của đôi tình nhân.

“Em, lại đây với anh
ngồi đây với anh
trong cuộc đời này
nghe thời gian lướt qua
mùa xuân khẽ sang
chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng…”

Triết lý sáng tác của nhạc sĩ Từ Công Phụng gói gọn trong hai chữ ‘tình yêu.’

“Tôi quan niệm tôi ca ngợi tình yêu hơn là tôi chối bỏ tình yêu. Tôi ca ngợi tình yêu vì tôi nghĩ là rốt cuộc chỉ có tình yêu mới làm nên giá trị con người thôi. Không có tình yêu làm sao có được sự tiếp nối dòng đời, nhân loại. Tình yêu là cái tốt nhất trong cuộc đời người ta mà không ca ngợi thì ca ngợi cái gì nữa. Chính trị rồi cũng qua đi, chiến tranh rồi cũng qua đi, khác biệt về chính kiến làm nổ bùng chiến tranh rồi cũng hết, chỉ là giai đoạn thôi. Nhưng cái vĩnh cửu từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời kia cũng vẫn là tình yêu thôi.”

Chính vì tâm niệm đó, tác giả của ‘Mắt lệ cho người,’ ‘Giọt lệ cho ngàn sau,’ ‘Trên ngọn tình sầu,’ ‘Mùa xuân trên đỉnh bình yên’ cùng nhiều ca khúc trữ tình nổi tiếng khác nữa xứng đáng được mệnh danh là một trong những ‘nhạc sĩ của tình yêu’ của miền Nam trước 1975 và có lẽ là của nhiều thế hệ sau này nữa.

Câu chuyện về Võ Văn Ba, điệp viên hàng đầu của VNCH và CIA ở miền Nam

Phạm Tín An Ninh

 Tina Hà Giang

21 tháng 11 2021

(Nguồn hình ảnh: Frank Snepp)

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

(CIA Frank Snepp nhận huy chương của VNCH)

Chỉ gần đây mới có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người từng được coi là ‘điệp viên hàng đầu của CIA ở Nam VN’, khi báo chí Hà Nội gọi đây là ‘tên nội gián nguy hiểm’, bí số X92, Frank Snepp đã biết chắc về cái chết sẽ đến của điệp viên này từ ngày 17/4/1975.

“Lúc ấy tôi biết tính mệnh của Võ Văn Ba đang lâm nguy, và có đủ lý do để tin là một nhân viên CIA biết rõ về nhiệm vụ của ông đã bị phe cộng sản bắt tại Phan Rang, và ngờ rằng khi bị tra tấn, người này sẽ khiến ông bị lộ. Một trong những ác mộng kinh hoàng nhất của tôi trong những ngày cuối cuộc chiến – là người anh hùng này, người đã liều lĩnh làm mọi thứ để hỗ trợ đồng minh – và đảm bảo sự thành công của đợt không vận khẩn cấp cuối cùng đưa nhiều người Việt di tản khỏi VN – có thể đã không sống sót.

Thiếu tá Cảnh sát VNCH Phan Tấn Ngưu, trong một bài viết về Võ Văn Ba trên trang CanhsatQuocgia.org đã gọi ông là “điệp viên giỏi nhất của VNCH, và nhớ lại ông Võ Văn Ba hay nói ‘Nếu cộng sản chiếm được miền Nam, tôi sẽ tự tử!’ và đó chính là điều ông đã làm, khi bị bắt giữ chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.”

“Giờ đây tôi nhiều lần tự trách là đã không khăng khăng bắt Võ Văn Ba phải cùng mình rời khỏi Việt Nam,” nhà phân tích chính của CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) trong cuộc chiến Việt Nam thổ lộ điều vẫn còn khiến ông bị dằn vặt.

Cùng là gián điệp hai mang, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến.

Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng” (báo Nhân Dân hồi 2015, và báo Công an Nhân dân về điệp viên X92).

Võ Văn Ba là ai? Ông đã làm gì trong cuộc chiến Việt Nam mà được mệnh danh là điệp viên hàng đầu của CIA, giỏi nhất của VNCH ở Nam Việt Nam?

Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, người từng nhận lệnh của CIA đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để rời VN tháng 4/1975, nói điệp viên Võ Văn Ba là một trong những lý do ông đang viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến cho đến giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí ông.

Frank Snepp: Võ Văn Ba là một người yêu nước, được CIA đặt cho biệt hiệu ‘TU Hackle’ và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch.

Ông từng là một đảng viên cộng sản tận tụy vào cuối thập niên 1940, chuyên tuyển mộ thành viên trẻ tại một tỉnh phía nam Sài Gòn. Ông làm việc với Việt Minh, rồi trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Chán ngán việc phe cộng sản dùng giết chóc và đe dọa như một chiến thuật chiêu mộ, Võ Văn Ba rời bỏ hàng ngũ.

Tạm biệt chủ nghĩa cộng sản năm 1954 vào thời điểm Hiệp định Geneva, Võ Văn Ba trở thành người đốn cây trồng rẫy, và dọn về tỉnh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn. Tây Ninh là một tỉnh quan trọng, vì đó là địa bàn hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam, từ một hang ở Núi Bà Đen.

Khi cán bộ Bắc Việt đi qua rẫy của Võ Văn Ba ở chân đồi, ngay bên dưới căn cứ chỉ huy Trung Ương Cục để tham dự các cuộc họp, ông dần dà quen biết họ. Cảnh sát VNCH trong khu vực này, biết lý lịch của Võ Văn Ba, nhận ra ông ở một vị trí lý tưởng. Họ tìm đến ông và nói: chúng tôi muốn ông giúp chúng tôi theo dõi cộng sản, và Võ Văn Ba trở thành gián điệp nhị trùng năm 1960.

Thoạt đầu Võ Văn Ba hợp tác với cảnh sát VNCH. Ông nhanh chóng là một điệp viên hiệu quả, làm việc với cấp chỉ huy cộng sản. Võ Văn Ba đóng vai người cộng sản lầm đường muốn trở lại Đảng, và mới đầu chỉ được tiếp cận với vòng ngoài của Trung ương Cục Miền Nam, nhưng sau đó đi hẳn vào trung tâm của Cục. Nhờ vậy, ông thu thập được mọi động tĩnh từ cơ quan này, biết hết các điệp viên hai mang của họ, và những điều họ đang làm.

Năm 1965, CIA bắt đầu bắt đầu đưa Võ Văn Ba vào quỹ đạo của mình sau khi nhận thấy ông là một nguồn tin có giá trị. Ông từ đó làm việc cho cả An ninh Cảnh sát VNCH lẫn CIA.

Năm 1968, Võ Văn Ba báo trước cho cảnh sát VNCH năm ngày về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Thông tin tương tự đến được Đại sứ quán Hoa Kỳ, người Mỹ không đánh giá cao tin này lắm, nhưng cảnh sát VNCH thì có. Và đó là lý do tại sao khi lực lượng cộng sản tấn công Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cảnh sát VNCH đã chuẩn bị trước và có mặt để đối phó.

BBC: Ông có thể kể lại kinh nghiệm làm việc với Võ Văn Ba?

Frank Snepp: Năm 1969, tôi đến VN làm chuyên viên phân tích cho CIA. Một trong những điều đầu tiên tôi phải làm là phân tích tài liệu chúng tôi vừa tịch thu được, một tài liệu của Cộng sản quan trọng nhất mà chúng tôi từng có.

Tài liệu đó là Nghị quyết 9, phân tích của Bắc Việt về những gì xảy ra năm 1968, cũng như hoạt động quân sự sau đó. Bắc Việt nhận định rằng quá nhiều quân sĩ của họ đã tử trận, nhiều đến mức họ dự trù phải thúc thủ trong vòng hai năm. Nói cách khác, họ không thể có cuộc tấn công lớn nào nữa. Khi CIA tịch thu được toàn bộ tài liệu này, tôi được giao nhiệm vụ cùng với ba hoặc bốn đồng nghiệp, cũng thuộc CIA, phải tìm hiểu xem tài liệu có xác thực hay không.

Chúng tôi nghĩ tài liệu đó thật, nhưng không chắc 100%. Làm thế nào để xác định được là tài liệu đó có giúp chúng tôi biết ý định sự thật của phía cộng sản không rất quan trọng, vì chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, chính sách mới của Nixon về việc rút lực lượng Mỹ và đưa lực lượng Việt Nam lên tuyến đầu, chỉ mới bắt đầu. Nếu tài liệu này đúng, có nghĩa là trong thời gian hai năm, khi Cộng sản không thể hoạt động mạnh trên chiến trường, chúng tôi sẽ rảnh tay thực hiện chính sách Việt Nam hóa.

Chúng tôi gặp Võ Văn Ba và được Võ Văn Ba xác nhận đó là tài liệu đúng. Đó là một đột phá tình báo lớn. Tôi biết Võ Văn Ba trong hoàn cảnh đó. Trong vòng hai năm, tôi bắt đầu gặp trực tiếp ông ta, không phải vì tôi giỏi, không phải vì tôi nói được tiếng Việt, tôi luôn phải có thông dịch viên khi làm việc với Võ Văn Ba, nhưng vì tôi đã nắm sẵn được nhiều bí mật. Là một nhà phân tích của CIA, tôi được truy cập vào những bí mật quan trọng và bạn phải biết bí mật thì mới có thêm được bí mật. Vì vậy CIA cử tôi đến nói chuyện với nhiều nguồn tin, trong đó có Võ Văn Ba, để lấy tin và xác minh xem những gì chúng tôi nhận được có chính xác không.

Tôi bị Võ Văn Ba mê hoặc. Ông có trí nhớ phi thường, có thể xem một tài liệu và nhớ nguyên văn mọi thứ cần nhớ về tài liệu đó. Không cần phải cầm tài liệu trong tay, chỉ cần đọc nó một lần, ông sẽ có thể mang tài liệu đó đến cho chúng tôi trong đầu của ông.

CIA huấn luyện cho ông tất cả những kỹ thuật căn bản trong nghề tình báo.

Phải nói rõ là Võ Văn Ba có người phụ trách trực tiếp tức ‘handler’ là Cảnh sát Đặc biệt của VNCH. Ông cũng có một “handler” khác là một nhân viên CIA người Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng người Mỹ này không thể trực tiếp gặp ông, bởi nếu Cộng sản nhìn thấy ông với một người da trắng, họ sẽ nghi ngờ.

(Hai ông Frank Snepp và Phan Tấn Ngưu tại California Hoa Kỳ chụp gần đây)

Vì vậy, để gặp ‘handler’ người Mỹ, Võ Văn Ba phải vào một bệnh viện ở Tây Ninh, trèo lên một băng ca, kéo tấm trải giường lên người, giả như người đã chết. Sau đó, các nhân viên phụ trách người Việt của ông sẽ chuyển băng ca ra ngoài, đưa lên máy bay. Máy bay sẽ đưa Võ Văn Ba vào Sài Gòn nơi ông cải trang để gặp tôi hoặc một người Mỹ khác. Ông sẽ mặc áo dài nam hay đội bộ tóc giả lớn khiến ông trông giống một phụ nữ và đeo cặp kính đen khổng lồ giống như Greta Garbo, rồi đến gặp chúng tôi tại một nơi an toàn.

BBC:Ngoài trí nhớ phi thường như ông nói, Võ Văn Ba là người như thế nào và có đặc điểm gì, thưa ông?

Frank Snepp: Võ Văn Ba có hai nhược điểm. Một là rất thích bia Budweiser. Ông được bảo là người Mỹ thả bia Budweiser dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để làm chậm tiến độ xâm nhập của Bắc Việt, vì đang di chuyển họ phải dừng lại uống bia (cười). Chẳng biết điều đó có đúng không, tôi cho rằng đó là sự thật, dù không bao giờ kiểm chứng được. Dẫu sao Võ Văn Ba rất mê Budweiser.

Nhược điểm thứ hai là rất thích thuốc Salem. Nghe nói ông Hồ Chí Minh cũng mê thuốc lá Salem, và thường bỏ thuốc Bastos hoặc thuốc lá Việt Nam trong túi áo, và mời những thứ này cho các đồng chí. Nhưng khi muốn hưởng chút lạc thú, ông sẽ lấy Salem ra hút. Vì vậy, Võ Văn Ba, người thích trò trớ trêu, luôn đòi chúng tôi cung cấp bia Budweiser và thuốc Salem trước khi trao cho chúng tôi những bí mật.

Và những bí mật ông có được thì thật tuyệt vời. Toàn những tin từ nội bộ. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nỗi được tham gia các cuộc họp bên trong Bộ chỉ huy ở Núi Bà Đen.

Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng để giúp chúng tôi, và để giúp ông đóng được vai trò một thành viên Cộng sản tốt, CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH dàn dựng nhiều việc. Chúng tôi tấn công vào các trạm kiểm soát của cảnh sát VNCH, tất cả đều là giả, và sau đó loan tin là phe cộng sản đã làm điều đó, dĩ nhiên Võ Văn Ba kiếm được điểm, vì vậy, tín nhiệm của ông ngày càng tăng trong giới chỉ huy Bắc Việt. Họ cho rằng ông đã thi hành tất cả những điệp vụ kinh tởm cho họ, trong khi thực sự ông làm việc cho chúng tôi

BBC:Những tường trình của Võ Văn Ba đã giúp công việc của ông ra sao?

Frank Snepp: Tôi dần dà ủng hộ tuyệt đối những tường trình của Võ Văn Ba. Lúc trở về trụ sở CIA ở Mỹ vào năm 1971, tôi là thành viên của một đơn vị phân tích lớn, chuyên viết bản tường trình hàng ngày (Daily Brief) cho Tổng thống. Tôi quảng bá báo cáo của Võ Văn Ba, vì là một trong số ít người trong ban phân tích của CIA đã gặp được ông, và vì tôi biết ông là vàng ròng.

Năm 1972, chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo lạ của Võ Văn Ba. Lạ vì nó cho thấy Cộng sản đang làm một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ làm. Họ cho cán bộ biết là có thể sẽ có một hiệp định hòa bình mà không cần phải có điều kiện họ luôn coi là tiên quyết, đó là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Tôi sửng sốt khi đọc điều đó, vì tôi biết Võ Văn Ba là người đáng tin.

Tôi viết ngay bản tường trình hàng ngày cho tổng thống nói rằng tôi nghĩ một hiệp định hòa bình đang trong quá trình được thực hiện. Lúc ấy Henry Kissinger đang bí mật đàm phán ở Paris, nhưng không nói cho ai biết mình đang làm gì. Báo cáo của Võ Văn Ba là dấu hiệu đầu tiên cho chúng tôi thấy đã có bước đột phá trong cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. CIA, dù ít nhất là ở cấp của tôi, không ai biết gì về điều này. Vì vậy, chúng tôi đã được điệp viên giỏi nhất của mình báo về tiến trình các cuộc đàm phán tại Paris.

(Lê Dức Thọ nói chuyện với Henry Kissinger tại Paris năm 1972)

Sau đó tôi lại được cử về Sài Gòn vào mùa thu năm 1972 để thẩm vấn một tù binh Bắc Việt giỏi nhất mà chúng tôi bắt được. Vào tháng 10/1972, khi tôi đã có mặt ở Sài Gòn, chúng tôi nhận được một báo cáo hết sức sửng sốt của Võ Văn Ba. Báo cáo cho biết Kissinger đã có một thỏa thuận khủng khiếp với phe cộng sản, cho phép Bắc Việt giữ lực lượng của họ ở miền Nam.

Bản báo cáo của Võ Văn Ba không chỉ đến Tòa Đại sứ, mà còn đến tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khiến ông Thiệu vào tháng 10/1972 phản ứng mãnh liệt, hỏi chuyện gì đang xảy ra, Kissinger đang làm gì? Ông Thiệu nhất quyết phản đối, nói sẽ không chấp nhận thỏa thuận mà Kissinger đang đàm phán dù đó là thỏa thuận gì, vì ông không được tham dự vào việc thương lượng. Khi ông Thiệu nhất quyết phản đối thì đến phiên Bắc Việt hỏi chuyện gì đang xảy ra, người Mỹ chắc đang lừa chúng ta.

Khi thấy thỏa thuận có nguy cơ bị hỏng, vì Võ Văn Ba đã cho chúng tôi biết sự thật, Nixon quyết định dội bom Bắc Việt để chứng minh với ông Thiệu rằng Mỹ vẫn đứng về phía ông, và cũng để làm cho Bắc Việt phải tiếp tục thương lượng, và họ đã trở lại đàm phán.

Võ Văn Ba đã cung cấp cho tổng thống VNCH thông tin đầu tiên về những gì Kissinger đang làm, và quan trọng nhất là quyết định cho phép quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam của Kissinger.

BBC: Ông có tiếp xúc với Võ Văn Ba thường xuyên không?

Frank Snepp: Trong thời kỳ ngừng bắn 1973 đến 1975, tôi thỉnh thoảng gặp ông để biết những kế hoạch mới nhất của cộng sản. Tôi cũng được trao một trọng trách mới, là giúp quản lý một đặc vụ mà chúng tôi đang có ở Hà Nội. Phải nói rõ rằng người phụ trách Võ Văn Ba là một nhân viên CIA khác rất giỏi, nhưng tôi được cử đến gặp ông định kỳ để kiểm chứng những phát hiện của ông với nguồn trực tiếp của chúng tôi ở Hà Nội. Tôi không giỏi gì, nhưng chỉ vì tình cờ mà tôi được liên lạc trực tiếp với điệp viên giỏi nhất của CIA và có dịp kiểm chứng những tin những điệp viên gửi về.

Khi Nixon từ chức, Võ Văn Ba cho chúng tôi những dấu chỉ đầu tiên về những gì Cộng sản sẽ làm vào cuối năm 1974. Ông nói Bắc Việt sẽ thử nghiệm để xem khả năng phòng thủ của VNCH lúc ấy yếu đến độ nào.

Ngày 8/4/1975, Võ Văn Ba cho chúng tôi báo cáo đầu tiên về những gì phe cộng sản sẽ làm để dứt điểm cuộc chiến. Tôi không được tin này trực tiếp, mà nhận qua người ‘handler” của ông. Tôi gửi ngay yêu cầu cho Võ Văn Ba thông qua người Mỹ này để hỏi thêm.

(Sài Gòn hai hình ảnh 1975 và 2020)

Sau đó, ngày 17/4, tôi trực tiếp gặp Võ Văn Ba và nhận được toàn bộ kế hoạch kết thúc chiến tranh của Cộng sản: Sẽ không có thỏa thuận nào, ông Thiệu từ chức hay không không thành vấn đề, cũng không thành vấn đề nếu chúng tôi muốn thành lập một chính phủ liên hiệp, Cộng sản nhất quyết tiến chiếm Sài Gòn kịp sinh nhật Hồ Chí Minh vào giữa tháng 5, và sẽ tấn công trước ngày 1/5, đúng y như những gì đã xảy ra.

Tin đó khiến các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đã bị sốc mà phải tức thời lập chương trình cho những chuyến trực thăng khẩn cấp đưa người di tản. Vì vậy, với những ai đã được đưa ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Võ Văn Ba là người đã cứu họ…

Trong phần hai của cuộc phỏng vấn, ông Frank Snepp, năm nay 78 tuổi, so sánh hai điệp viên Võ Văn Ba và Phạm Xuân Ẩn. Cuộc nói chuyện do Tina Hà Giang thực hiện cùng cameraman Dân Huỳnh tại Nam California, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2021.

Trong Cuộc chiến Việt Nam có nhiều câu chuyện về gián điệp, tình báo mà phải về sau này người ta mới có thêm thông tin.

Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu dự hội nghị Mỹ – Nam Việt Nam tại Honolulu ngày 20/7/1968

CIA đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Hoa Kỳ bảo vệ đồng minh VNCH, cho đến tháng 4/1975.

Cùng là gián điệp nhị trùng, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến.

Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng”

Võ Văn Ba là ai và số phận ông ta ra sao sau 30/04/1975 khi lực lượng chính quy của Bắc VN tiến vào Sài Gòn, xóa sổ chế độ VNCH.

Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, nhà phân tích chính của CIA trong chiến tranh VN, kể những gì ông biết về Võ Văn Ba, nêu ra ý kiến cá nhân về điệp viên này và chia sẻ những gì ông tin là ông biết được thêm sau 1975.

Frank Snepp: Theo thông tin mà chính Cộng sản đưa ra sau đó, Võ Văn Ba bị một nhân viên CIA, một người Mỹ bị bắt hai tuần trước khi cuộc chiến kết thúc làm lộ. Theo bản dựng lại vụ án của Cộng sản, được công bố sau chiến tranh, nhân viên CIA này, khi bị tra tấn đã khai ra Võ Văn Ba. Ngoài ra, hành tung của Võ Văn Ba cũng bị một thông dịch viên người Việt tiết lộ. Đây là người từng làm việc với Võ Văn Ba, người này bị bắt, tôi nhớ là ở Ban Mê Thuật. Tóm lại, hai cá nhân liên quan đến CIA, khi bị tra tấn đã khai ra vai trò của ông.

Khi tôi gặp Võ Văn Ba hôm 17/4, mạng sống của ông đang bị nguy hiểm nghiêm trọng, vì trong vòng vài ngày đó ông có lẽ đã gặp những người đã bị bắt, trong đó có một số người Mỹ. Khi Sài Gòn thất thủ, Võ Văn Ba chưa di tản. Với thông tin thu thập được từ các tù nhân, phe cộng sản bắt giam ông, và họ công bố trong các phân tích thời hậu chiến là ông đã dùng thắt lưng treo cổ tự tử để khỏi bị tra tấn. Vợ ông bán hoa ở Tây Ninh dường như không bị sát hại, và tôi tin là con trai của Võ Văn Ba cũng không bị cộng sản bắt bớ, mặc dù điều này không rõ ràng.

(Sài Gòn ngày 27.5.1975)

Với tôi, Võ Văn Ba là một người hùng, một người thực sự yêu nước. Ông là một Nathan Hale (1755-1776, sĩ quan, nhà hoạt động tình báo thời cuộc chiến Cách mạng Mỹ) của miền Nam Việt Nam, và cho đến gần đây, khi Bắc Việt công bố những tài liệu riêng của họ, công chúng vẫn biết rất ít về ông. Tôi đã viết về Võ Văn Ba trong cuốn Decent Interval, nhưng lúc ấy tôi rất cẩn thận, không tiết lộ bất kỳ chi tiết nào, không công bố danh tính hay thông tin xác định nào ngoại trừ việc nói rằng ông ở tỉnh Tây Ninh và là điệp viên tốt nhất của CIA. Lý do là khi viết sách, tôi không biết chắc số phận Võ Văn Ba lúc đó ra sao.

BBC: Có phải Võ Văn Ba là một trong những lý do khiến ông viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến Việt Nam. Ông biết tin Võ Văn Ba treo cổ tự tử vào lúc nào?

Frank Snepp: Kể chuyện Võ Văn Ba, tôi hy vọng sẽ tạo chất xúc tác để những người Việt tị nạn và người Việt sống ở hải ngoại tôn vinh người đàn ông này. Ông là một người miền Nam yêu nước một cách phi thường, nhưng chưa ai biết nhiều về ông, ít nhất là cho đến nay.

Tôi chỉ biết tin Võ Văn Ba chết khi an ninh Việt Nam ở Hà Nội công bố tài liệu của họ về vụ án. Trong bốn năm qua, Hà Nội đã công bố gần như tất cả những khám phá của họ về ông. Họ đã kiểm tra lời khai của tù nhân, thu giữ tài liệu và tổng hợp lại những chiến dịch mà họ cho là đã gây tổn hại cùng cực, và kết luận Võ Văn Ba là điệp viên nguy hiểm nhất từng hoạt động chống cách mạng. Họ xác nhận những gì tôi biết, đó là việc ông đã tiết lộ các tài liệu về kế hoạch và thiết kế quan trọng của Cộng sản từ năm 1965 đến khi kết thúc chiến tranh. Ông đã cung cấp hết cho CIA, vấn đề là CIA không phải lúc nào cũng tin ông.

Sài Gòn trước 1975 là nơi có nhiều hoạt động tình báo của các bên ‘theo bám’ lẫn nhau

BBC:Ông Phan Tấn Ngưu, người phụ trách liên lạc với Võ Văn Ba từ phía VNCH, viết là CIA có lúc không tin Võ Văn Ba là vì ông gặp vấn đề bị thử bằng máy phát hiện nói dối (lie detector test). Điều đó đúng không?

Frank Snepp: Vào năm 1971, có nghi ngờ rằng Võ Văn Ba là gián điệp nhị trùng hoạt động cho Cộng sản. Tôi đã có cuộc gặp kéo dài ba ngày với ông và xem qua tất cả những gì chúng tôi biết về ông, cùng với ông Phan Tấn Ngưu, sĩ quan cảnh sát của VNCH, ”handler” của Võ Văn Ba, hiện đang sống ở Quận Cam (California) và cũng là người đã công bố những gì ông biết về Võ Văn Ba kể cả việc chúng tôi đã gặp nhau.

Vào đầu năm 1971, tôi đã có thể xác minh rằng Võ Văn Ba đúng là những gì ông đã tuyên bố. Điều gây nghi ngờ là Võ Văn Ba đã đưa một số báo cáo cho các cơ quan tình báo khác của VNCH, như Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và có thể cả cho cơ quan an ninh quân đội. Võ Văn Ba làm như vậy vì họ trả ông một ít tiền.

Ông cung cấp cho chúng tôi những bí mật chính, nhưng cũng kiếm thêm tiền bên ngoài. Và vì vậy, khi làm ‘lie detector test’, đồ thị của ông có những vết nhấp nhô. Ông cũng không nói với chúng tôi rằng ông trao một số bí mật cho những cơ quan đồng minh để kiếm thêm chút tiền. Đó là nguồn gốc những nghi vấn về ông. Nhưng những nghi ngờ này phần lớn đã được giải tỏa, chủ yếu là qua cuộc gặp gỡ ba ngày của tôi với ông ấy vào năm 1971.

BBC: Ông có thể so sánh Võ Văn Ba với Phạm Xuân Ẩn, điệp nổi tiếng hoạt động cho phe cộng sản Bắc Việt cũng trong cuộc chiến VN?

Frank Snepp: Phạm Xuân Ẩn nói chung là một hacker. Ông ta làm việc chống lại mục tiêu mềm yếu nhất ở miền Nam Việt Nam, đó là giới báo chí. Ông Ẩn thu thập những thông tin có giá trị mà báo chí lấy được từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, và chuyển nó cho Bắc Việt.

Nhưng so sánh Phạm Xuân Ẩn với Võ Văn Ba, thì xin đừng làm thế. Võ Văn Ba là thứ thiệt. Ông như nhân vật trong phim James Bond. Võ Văn Ba nằm ở ngay Trung ương Cục Miền Nam của phe cộng sản, đầu não chính của họ ở miền Nam, giống như một điệp viên nằm ngay trong Lầu Năm Góc. So với Võ Văn Ba, Phạm Xuân Ẩn không là gì cả. Ý tôi là, Phạm Xuân Ẩn được ca tụng vì giới báo chí Mỹ kinh ngạc không thể tin được là họ đã bị ông ấy lừa. Vậy à? Nhưng, việc đưa ra đề xuất so sánh hai người, tôi nghĩ, là một xúc phạm với Võ Văn Ba. Thật đấy. Không phải là tôi muốn hạ giá trị Phạm Xuân Ẩn. Tôi biết ông ta là một điệp viên thông minh, nhưng xét về tầm cỡ, ông ấy không thể so với vai trò của Võ Văn Ba.

BBC:Theo ông, Võ Văn Ba đã có những thành tích đáng gì đáng ghi nhớ?

Frank Snepp: Võ Văn Ba cho Nguyễn Văn Thiệu dấu chỉ đầu tiên là Henry Kissinger đang đánh lừa miền Nam Việt Nam. Ông đã cảnh báo cho chúng tôi về Tết Mậu Thân năm 1968 mặc dù Đại sứ quán Hoa Kỳ không công nhận tất cả những điều ông nói. Ông đã giúp chúng tôi chứng thực tài liệu cho thấy phe cộng sản đã chịu những thương vong khủng khiếp vào năm 1968 và sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với mức độ ác liệt như cũ. Điều đó giúp chúng tôi khởi động chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Ông đã cho chúng tôi biết phản ứng đầu tiên của phe cộng sản về việc Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8 năm 1974.

Võ Văn Ba báo cho chúng tôi mọi quyết định quan trọng Cộng sản đưa ra. Đây không phải là nhận định của tôi mà là nhận định của chính Bắc Việt. Họ lập một danh sách, nói là Võ Văn Ba đưa cho CIA kế hoạch cho các năm 1969, 1970, cuộc tấn công lễ Phục sinh… Võ Văn Ba cung cấp tất cả thông tin về kế hoạch ngừng bắn của họ. Bạn không cần tin tôi, mà hãy đọc những phân tích của họ, những phân tích của chính phe địch.

Ngay Bắc Việt cũng phải công nhận là Võ Văn Ba qua mặt được họ là điều rất phi thường. Đại sứ Graham Martin dần dà cũng quý mến Võ Văn Ba, vì ông cho rằng thành công của Võ Văn Ba cho thấy phe cộng sản cũng dễ bị tổn thương và có điểm yếu kém, có lỗ hổng. Vì vậy, khi Đại sứ Martin cuối cùng quyết định không tin vào cảnh báo của Võ Văn Ba là sẽ không có thỏa thuận, điều đó làm tôi sửng sốt, vì ông đã từng tin rằng điệp viên này giỏi nhất trong số những người giỏi nhất.

Việc Đại sứ Martin và xếp CIA Polgar giảm tầm quan trọng của những gì Võ Văn Bá cảnh báo làm tôi kinh ngạc. Nhưng những điều Võ Văn Ba nói với chúng tôi hôm 17/4, cuối cùng cũng đã được gửi về cho tổng thống trong bản tóm tắt hàng ngày, và nhờ đó đã thúc đẩy ngay kế hoạch cho trực thăng bốc người, giúp nhiều người trong chúng ta vượt thoát.

Tóm lại, chúng ta không thể kể về Chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến thành tích của Võ Văn Ba. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được kể lại nhiều lần, nhưng không mấy ai có thông tin về Võ Văn Ba, ngoại trừ những gì tôi viết cuốn hồi ký ban đầu, nhưng cũng không dám viết gì nhiều như bây giờ.

Giờ đây tôi đã viết về Võ Văn Ba, và đến nhiều viện bảo tàng và viện nghiên cứu khác nhau để nói rằng, quý vị phải cập nhận tài liệu của quý vị về chiến tranh Việt Nam, phải kể về một số đóng góp của người đàn ông này, bởi vì những gì Võ Văn Ba báo với chúng tôi đều là tin chính xác vào những thời điểm quan trọng. Và lịch sử phải ghi rõ những gì chúng ta biết, những gì không biết, những tin chúng ta đã vì đó có hành động thích hợp, và những tin chúng ta đã phớt lờ. Phải làm thế, vì sự thật là điều then chốt của lịch sử.

(Cuộc nói chuyện với với ông Frank Snepp, năm nay 78 tuổi, do Tina Hà Giang thực hiện cùng cameraman Dân Huỳnh tại Nam California, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2021.)

Biệt Hải – những anh hùng bị lãng quên

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

(Huy hiệu lực lượng Biệt Hải QLVNCH)      

        Qua giới thiệu của người bạn tù, nguyên là một sĩ quan thâm niên thuộc Nha Kỷ Thuật, tôi biết được Biệt Hải Nguyễn Châu. Người từng được tuyển chọn là chiến sĩ xuất sắc của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (trực thuộc Nha Kỷ Thuật BTTM). Chỉ nghe qua đôi điều về anh cũng đủ làm cho tôi ngưỡng mộ và tò mò muốn được gặp anh, để được nghe anh kể về quãng đời chiến đấu trong âm thầm, nhưng rất hào hùng của những chiến sĩ Biệt Hải. Một lực lượng ít người biết đến, mặc dù họ đã từng bao lần vào sinh ra tử, mỗi lần ra đi đều không hẹn trở về. Họ chiến đấu can trường, dũng cảm không thua kém bất cứ một binh chủng thiện chiến nào của QLVNCH và kể cả trên thế giới, cho dù với những cấp bậc rất khiêm nhường.

        Nguyễn Châu, sinh ngày 02.10.1933 tại làng Nhượng Bạn, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Theo ông bà cha mẹ vào Nam, đến định cư tại Đà Nẵng vào đầu tháng 10 năm 1949.

        Năm 1962, Nguyễn Châu tình nguyện vào lực lượng Biệt Hải với vai trò một Dân Sự Chiến Đấu. Tháng 6 năm 1970, có lệnh giải tán các toán DSCĐ, nên anh xin được cải tuyển vào Hải Quân. Sau hơn tám năm chiến đấu trong một lực lượng dũng cảm, đầy hiểm nguy bất trắc, với nhiều công trạng, nhưng khi cải tuyển sang Hải Quân không được một ân huệ đặc biệt nào, anh vẫn vui vẻ và hãnh diện nhận lấy cấp bậc thấp nhất: Thủy Thủ Tập Sự (Binh Nhì), và tiếp tục phục vụ trong Lực Lượng Biệt Hải, thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải trực thuộc Nha Kỷ Thuật Bộ TTM. Chỉ trong vòng ba năm, anh đã được Đô Đốc Tư Lệnh HQ đặc cách thăng cấp tại mặt trận liên tục 3 lần lên Hạ Sĩ I, cùng tưởng thưởng 4 Anh Dũng Bội Tinh và 1 Chiến Thương Bội Tinh. Với cấp bậc quá khiêm nhường đó, nhưng Biệt Hải Nguyễn Châu đã làm cho kẻ thù khiếp sợ, mọi người – từ các cấp chỉ huy Việt, Mỹ đến đồng đội – phải kính nể, với những chiến tích lẫy lừng, mà chỉ có những người dám sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình mới có thể giành lấy được.

        Từ lúc còn là một Dân Sự Chiến Đấu, anh đã nhiều lần xâm nhập miền Bắc, từ Hải Phòng, Thanh Hóa, đến Đồng Hới, Đông Hà, thám sát tình hình, bắt sống cán bộ CS mang về miền Nam cho Cơ Quan Tình Báo khai thác, phá hủy nhiều nhà máy, cầu cống, tiêu diệt một số đồn bót công an, tàu thuyền của CSBV.  Anh cũng đã tham dự các cuộc hành quân bí mật để giải cứu những phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi hoặc những quân nhân Hoa Kỳ bị bắt làm tù binh bên kia vĩ tuyến 17 hay trong các vùng địch chiếm. Đặc biệt trong trận hải chiến với Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974, chính anh đã điều động toán Biệt Hải đổ bộ đầu tiên lên các đảo Cam Tuyền và Quang Hòa, cấm lá cờ Tổ Quốc, sẵn sàng tử chiến với quân thù. Với những thành tích phi thường đó, ngoài những huy chương, tưởng thưởng và đặc cách thăng cấp tại mặt trận của Quân Lực, Chính phủ VNCH (đặc biệt đã được đích thân Thủ Tướng trao gắn Hải Dũng Bội Tinh vào ngày 24.4.1974), anh Nguyễn Châu đã được Chính Phủ và Quân Đội Hoa Kỳ ân thưởng:

–   1 huy chương của Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ ngày 07.02.1966

–  1 giấy ban khen của Chỉ Huy Trưởng Biệt Đội Cố Vấn Hải Quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương ngày 29.9.1969

–   đặc cách theo học khóa người nhái tàu ngầm tại Subic Bay vào tháng 8/1972

–   huy chương cao quý của Tổng Thống Hoa Kỳ (Presdidental Unit Citation – P.U.C) ngày 20.01.2006 (đặc biệt được tưởng thưởng sau hơn 10 năm định cư tại Hoa Kỳ)

Trong Tưởng Thưởng Lục ngày 29.9.69 dành cho BH Nguyễn Châu, vị Chỉ Huy Trưởng Biệt Đội Cố Vấn Hoa Kỳ Thái Bình Dương đã ghi như sau:

(Your skillful execution of missions assigned in this erea serves as an example of bravery and devotion to duty that speaks highly of your personal conduct. In areas long denied Free Word Force you bravely ventured forth and inflicted grave casualties on the enemy. Only through your superior skill in these military operations were you able to surpass previous attempts made by others penetrate this area…

You have carried the flag and name of the Coastal Security Service to the enemy’s doorstep and there you implanted it with honor. You have brought honor and respect to your organization and your country. Your heroic actions and dedication to duty will long be remembered by the military organizations that you assisted in the area and will serve as an example of success in their future efforts…)

Mặt sau Tưởng Thưởng Lục được dịch ra Việt Ngữ:

“Cách thức đảm trách công việc tài tình trong các chuyến công tác tại vùng này và sự hoạt động siêng năng trong công vụ của bạn là tấm gương quả cảm, nói lên tinh thần trách nhiệm cao cả của bạn. Trong những vùng mà từ lâu các lực lượng đồng minh vắng bóng, bạn đã anh dũng đột nhập và gây cho lực lượng địch tổn thất nặng nề. Chỉ có tài năng xuất chúng của bạn mới có thể vượt qua những trở lực mà các đơn vị khác đã vấp phải để xâm nhập vùng này…

Bạn đã mang màu cờ Sở Phòng Vệ Duyên Hải đến ngưỡng cửa địch và ở đó bạn đã cấm lên một cách vinh dự. Bạn đã đem lại vinh quang cho Đơn Vị và Tổ Quốc của bạn. Những hành động can đảm và sự tận tụy công vụ của bạn sẽ khiến cho các tổ chức quân sự mà bạn hằng trợ giúp luôn luôn tưởng nhớ và sẽ là tấm gương cho họ noi theo…”

         Và chỉ trong 4 năm, sau ngày được cải tuyển để chính thức trở thành một người lính Hải quân, anh Nguyễn Châu đã được toàn thể quân nhân các cấp tuyển chọn là Chiến Sĩ Xuất Sắc nhất của Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Một số thành tích của Nguyễn Châu, được HQ Đại Tá Nguyễn Viết Tân, Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải tường trình lên Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân vào ngày 07.05.1974 để anh được tuyển chọn là chiến sĩ xuất sắc của đơn vị đặc biệt này trong năm 1974:

   – Trong cuộc hành quân Bạch Đằng 3/73 do Sở PVDH tổ chức. Với quân số chỉ 5 người do đương sự làm Tổ Trưởng. Đương sự đã gan dạ khai hỏa vào trung đội tiền phong của một Tiểu Đoàn Đặc Công VC di chuyển qua vị trí của đương sự. Kết quả hạ hơn 30 Cộng quân, tịch thu nhiều vũ khí và quân dụng, đồng thời bảo toàn lực lượng 100%.

   -Trong cuộc hành quân Biệt Hải tại Cửa Việt (tọa độ YD-266634), đương sự đã xâm nhập vào vùng địch, hăng say quyết chiến với một lực lượng địch đông đảo, giết chết 1 Cộng quân, tịch thu 5 lựu đạn, 3 thanh TNT/TC, phá hủy 100 kg chất nổ. Đồng thời đương sự đã hướng dẫn phi pháo oanh kích chính xác, gây thiệt hại nặng nề cho địch.

   – Trong cuộc hành quân tại Điện Bàn, Quảng Nam ngày 19-09-1971, đương sự đã điều động đồng đội bắt sống 10 cán bộ Cộng sản, tịch thu một số tài liệu quan trọng.
– Trong cuộc hành quân Biệt Hải tại Cà Mau, từ 06.11 đến 09.11.1971, khi đến mật khu địch, đương sự đã chọc thủng phòng tuyến cuối cùng, chế ngự hoàn toàn hỏa lực của địch và tiên phong tiến chiếm mục tiêu, hạ 7 VC tại trận, băt sống 1 tù binh và thu nhiều tin tức quan trọng.

    – Trong cuộc hành quân xâm nhập mật khu VC tại U Minh Hạ (WQ-371757) ngày 11.02.72, đương sự là tiền sát viên hướng dẫn đơn vị vào khu an toàn VC, chính đương sự gan dạ một mình lội ra giữa lòng sông đột kích 01 ghe giết 01 VC tại chỗ.

    – Trong cuộc hành quân Bạch Đằng 3/73 do Sở PVDH tổ chức khai diễn lúc 23.15 giờ ngày 09.5.1973 tại Ấp Thủy Tú xã Hòa Lạc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Toán công tác Biệt Hải do anh làm phó trưởng toán đã chạm súng ác liệt với 01 Tiểu Đoàn Đặc Công CS. Tổ phục kích “khóa đầu” do anh chỉ huy đã nổ súng vào đội tiền phong địch, dồn địch vào ổ phục kích chính của Toán Biệt Hải. Kết quả hạ sát 30 Cộng quân tại chỗ, tịch thu 09 K-54, 01 WZ-63, 02 AK-59, 20 lựu đạn và 95 bao gạo 95 kg, cùng nhiều tài liệu quan trọng.

     – Trong cuộc hành quân Vì Dân 74 ngày 16.01.74 tại Hoàng Sa do BTL/HQ tổ chức, Toán Biệt Hải gồm 24 người do anh làm phó trưởng toán. Ngày 17.01.74, Toán Biệt Hải đầu tiên đổ bộ tái chiếm đảo Cam Tuyền (Robert), chính đương sự là người tiên phong xung kích lên đảo và tịch thu lá cờ Trung Cộng cùng bảng ghi chủ quyền của họ. Hành động quyết liệt và dũng cảm của anh cùng đồng đội khiến lực lượng Trung Cộng trên 2 Tiếp Tế Hạm không dám phản ứng, phải rút lui. Ngày 19.01.74 Toán Biệt Hải được lệnh tiến chiếm đảo Quang Hòa (Duncan), nơi có doanh trại và quân Trung Cộng phòng thủ chặt chẽ, đương sự đã tiến lên lập đầu cầu cho đồng đội tiến vào đảo, và cũng chính đương sự dựng lá quốc kỳ VNCH mà anh đã thủ sẵn trong người. Trong lúc địch quân dàn lực lượng bao vây đơn vị nhỏ bé của anh, đương sự luôn ở tuyến đầu, quyết liệt không cho địch tiến chiếm các vị trí của ta. Chính khí thế hào hùng của anh đã giúp đồng đội phấn khởi làm cho quân Trung Cộng không dám dùng quân số đông đảo của họ tràn ngập tuyến kháng cự của ta.

Với thành tích này, đương sự đã được chính Thủ Tướng Chính Phủ trao gắn Hải Dũng Bội Tinh với Mỏ Neo Đồng vào ngày 24.4.1974

Nhớ lại trận đánh lịch sử tại Quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1/1974, anh Châu tâm sự:

Lúc ấy tôi đang nghỉ phép. Vào một buổi sang đẹp trời đang ngồi sau nhà thì nhận được lệnh phải cấp tốc trở về trình diện để đi công tác. Kinh nghiệm trước đây cho tôi biết, mỗi lần được gọi khẩn cấp như thế này thường có công tác hết sức đặc biệt, khó khăn. Chẳng hạn như chuyến đi giải cứu hai phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi tại sông Cam Lộ, Đông Hà, Quảng Trị vào tháng 4 năm 1972 trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Lúc ấy toán của tôi chỉ có 5 người, nhưng đã phải len lỏi qua mặt mấy Sư Đoàn Bắc Việt, đi vào địa điểm công tác để cứu được hai phi công này mang ra an toàn, cho mãi đến bây giờ, nghĩ lại thấy còn hú vía. Sau khi nhận lệnh, lòng tôi cứ thấp thỏm, không biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi vội thay quần áo, hôn phớt các con rồi từ giã bà xã lặng lẽ ra xe.

       (BH Nguyễn Châu – 2010)

Khi vào đến trại mới biết anh em trong toán chuẩn bị súng đạn xuống tàu để ra công tác tại Hoàng Sa. Chuyến đi này tộng cộng có 24 Biệt Hải. Tôi làm toán phó kiêm tiền sát. Tất cả đều trang bị toàn súng AK-47 của CS. Ngoài ra mỗi người còn được phép mang thêm mấy khẩu M-72. Vì tôi không có mặt trong lúc toán nhận lệnh đi Hoàng Sa, do đó trước khi chuẫn bị lên xe, tôi được CHT Biệt Hải, Thiếu Tá Hồ Xuân T, và Trưởng Toán Nguyễn N. cho biết sơ qua về tình hình trên đảo, và nhiệm vụ của toán Biệt Hải là đổ bộ lên đảo để lấy lại chủ quyền và kiểm soát các vị trí trên đảo, nơi đang có những đơn vị Hải Quân Trung Cộng (TC) chiếm giữ bất hợp pháp.

Chiếc Khu Trục Hạm HQ-4 Trần Khánh Dư dưới quyền Hạm Trưởng Vũ Hữu San, phụ trách chở toán chúng tôi, được lệnh rời bến tàu Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải vào sáng hôm ấy. Đến xế chiều thì vị trí của tàu không còn cách xa hải đảo Hoàng Sa là bao. Nghĩa là chiếc HQ-4 đang nằm trong phạm vi của nhóm đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Vào buổi chiều cùng ngày, 17.01.74, Khu Trục Hạm HQ-4 đã bắt gặp 2 giang thuyền của HQ Trung Cộng, giả dạng làm các ghe thuyền đánh cá. Trên đài chỉ huy, Hạm Trưởng ra lệnh cho tàu chạy đến gần để kiểm soát, trong khi toán Biệt Hải cùng một số thủy thủ đứng trên thành tàu chăm chú theo dõi, đều nhận thấy 2 giang thuyền Trung Cộng có nhiều điểm đáng nghi ngờ. Ngay lúc ấy, đài chỉ huy trên HQ-4 phóng loa kêu gọi 2 giang thuyền TC ngừng lại, nhưng bọn họ vẫn phớt lờ. Anh em Biệt Hải chúng tôi lúc ấy rất muốn được cấp trên cho nhảy xuống để lục soát các giang thuyền này, tương tự như những chuyến Loky soát ghe bắt người tại Vịnh Bắc Việt trước đây.

        Lúc này, chiếc HQ-4 và một giang thuyền của TC đều đã chạy chậm lại, khoảng cách không quá một mét. Tuy nhiên, lệnh của Hạm Trưởng không cho chúng tôi nhảy xuống tàu TC lục soát. Bất ngờ, một con sóng lớn ập đến khiến hai tàu húc vào nhau khá mạnh. Tàu của TC thấp hơn nên lan can tàu của chúng bị hư hại khá nặng. Do đó, bọn thủy thủ TC nổi nóng, một số xăn tay áo, một số cởi hẳn áo ra vất xuống sàn tàu. Ra dấu thách thức thủy thủ và toán Biệt Hải chúng tôi nhảy xuống đánh tay đôi. Đứng trên tàu, toán Biệt Hải chúng tôi thấy vậy liền cởi áo và bảo đám thủy thủ TC ở dưới trèo lên tàu nếu chúng muốn đọ sức. Đây là màn khẩu chiến đầu tiên trong buổi chiều, lần đầu hai bên gặp nhau.

        Hôm sau, ngày 18.01.74, lúc xế trưa, toán Biệt Hải gồm 24 người, có cả Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Hải đi theo. Tất cả trang bị súng đạn đầy đủ, nhận lệnh xuống 3 chiếc hobo thẳng hướng chạy vào đổ bộ lên đảo Cam Tuyền (Robert). Sau khi lên đảo, đi lục soát một vòng không thấy có quân TC trú đóng, toán Biệt Hải khám phá một lá cờ TC đã cũ và một tấm bảng (mạo nhận chủ quyền) viết bằng chữ Hán, nét mực còn mới toanh, cấm trên đảo trước khi toán Biêt Hải đổ bộ lên. Ngoài ra không có dấu vết gì khác.

        Sau khi CHT/BH báo cáo cho HạmTrưởng ngoài tàu biết, chúng tôi được lệnh trở lại tàu, và một toán HQ được lệnh đổ bộ vào để canh giữ đảo. Chiếc HQ-4 nhận lệnh tiếp tục chạy sang đảo Quang Hòa (Duncan). Suốt đêm hôm ấy, trên tàu đã cho mở những bản nhạc hùng ca, toàn lời hay ý đẹp, như để nhắc nhở những người lính Hải Quân VNCH và Biệt Hải chúng tôi phải hết sức gìn giữ lãnh hải và hải đảo Hoàng Sa do tiền nhân để lại, dù có phải hy sinh tính mạng.  Những bản nhạc càng làm chúng tôi nức lòng để sẳn sang chiến đấu, hy sinh.

        Sáng sớm ngày 19.01.74, lúc 5 giờ 40, toán Biệt Hải chúng tôi nhận lệnh đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan). Toán đã vào bờ, nhưng trời còn tối, nên tất cả nhận lệnh nằm lại chờ trời sáng. Bọn lính gác Trung Cộng có lẽ không ngờ toán Biệt Hải đổ bộ ban đêm nên không để ý và hay biết gì cả. Trước khi xuống thuyền vào đảo, chúng tôi được cấp trên cho biết trên đảo đang có quân TC trú đóng. Thừa lúc trời còn tối, tôi liền dẫn vài anh em đi một vòng lục soát trong phạm vi của toán, phòng khi đụng trận sẽ dễ dàng bảo vệ nhau hơn. Lúc 7 giờ 30 sáng, khi mặt trời từ hướng đông ló dạng, trong nhiệm vụ tiền sát, tôi đi đầu, mon men dò dẫm, phát giác một giao thông hào do quân TC đào sẵn. Tôi tiếp tục dẫn toán đi lên, nhưng vừa đi khoảng 60 mét thì gặp quân TC đang đứng chặn đầu. Hai bên đều thấy mặt nhau nhưng chưa bên nào nổ súng. Phía trước mặt, chúng tôi nhận diện được quân số của TC khá đông, tất cả đều nằm dưới các hầm phòng thủ trong tư thế sẵn sàng tác chiến, chăm chú nhìn chúng tôi với vẻ nghi ngờ, không biết chúng tôi thuộc phe nào. Vì cách trang phục của Biệt Hải chúng tôi giống bộ đội du kích Bắc Việt, kể cả vũ khí trang bị.

        Khi khoảng cách hai bên cách nhau không tới 4 mét, thì một số cấp chỉ huy TC rời hầm phòng thủ, vừa đi ra vừa nói tiếng Hoa và ra dấu đuổi toán Biệt Hải chúng tôi rời khỏi phạm vi hải đảo. Ý chúng muốn nói đảo Quang Hòa thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Ngược lại toán Biệt Hải chúng tôi cũng ra dấu đáp trả, ý nói đảo này thuộc chủ quyền VNCH, quân TC phải rời khỏi đảo. Một bên tiếng Tàu, một bên tiếng Việt, lúc đầu chẳng ai hiểu ai. Có lúc lời qua tiếng lại rất hăng, hai bên đã quơ tay đụng nhau. Rất may, trong toán Biệt Hải chúng tôi có anh Trần A Lộc, người Việt gốc Hoa, hiểu và nói sành sỏi tiếng Hoa, đứng ra thông dịch. Hai bên khẩu chiến gần một tiếng đồng hồ. Tình thế mỗi lúc một căn thẳng, nhất là khi quân TC biết chúng tôi, lực lượng đang đứng trước mặt chúng thuộc VNCH, quyết tâm dành lại chủ quyền trên đảo. Một số lính TC liền có thái độ rất hung hăng, nhưng không dám nổ súng vì có lẽ không biết rõ lực lượng chúng tôi, có còn ở nào khác chung quanh đây không. Cũng may, nếu chạm súng trong tình huống này, sự thiệt hại của Biệt Hải chắc chắn không phải là nhỏ. Thấy vậy, trưởng toán liền hội ý với vị CHT/BH, và ông đã gọi ra tàu báo cáo cho Hạm Trưởng để trình bày sự việc. Chúng tôi được lệnh rút lui. Trước khi đi tôi đã tìm một cành cây khô buộc lá quốc kỳ VNCH vào rồi cắm xuống trước mặt chúng.

        Khi xuống thuyền đi ra được nửa đường, chúng tôi gặp toán Hải Kích của Trung úy Đơn từ ngoài đi vào. Chúng tôi liền liên lạc cho Trung úy Đơn biết rõ tình hình quân TC trên đảo. Ngay khi toán Biệt Hải lên tàu HQ-4 thì bỗng nghe tin toán Hải Kích của Trung úy Đơn có 2 người bị tử thương ở phía ngoài bờ biển. Biết tình thế sẽ đánh nhau, tôi đề nghị CHT/BH lên đài chỉ huy trình với Hạm Trưởng. Khi nào sẵn sàng khai hỏa, thì cho HQ-4 chạy sát gần tàu của TC, khoảng cách từ 50 đến 100m, để toán Biệt Hải chúng tôi dùng M-72 bất ngờ triệt hạ các tàu của chúng. Theo ý tôi đây là cơ hội bằng vàng để tiêu diệt bọn lính TC, nhưng cuối cùng Hạm Trưởng không chấp thuận. Ông cho biết, khi nào có hải chiến, thì sẽ dùng súng lớn và nên chạy cách xa tàu TC khoảng 300 m.

        Đến 10 giờ sáng thì lệnh khai hỏa bắt đầu. Khẩu đại bác 125 ly của HQ-4 ở giữa boong, gần đầu mũi tàu chỉ bắn được 9, 10 quả thì bị trở ngại tác xạ! Ngay lúc ấy tôi bị một mảnh đạn văng trúng đầu, máu chảy xuống đầy hai mí mắt. Tôi vội đứng nấp sau khẩu súng lớn đã bị hư hại, lấy khăn lau sạch vết thương, tìm y tá nhờ băng bó, rồi trở lại vị trí các ổ súng lớn trợ giúp các pháo thủ. Trong lúc giao chiến, tôi nhìn thấy Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng bị thương khá nặng, được anh em dìu vào phía trong. Cuộc hải chiến tiếp tục cho mãi hơn 30 phút sau mới chấm dứt. Chiến hạm HQ-4 được lệnh rời khỏi vùng, quay mũi hướng Nam đi về Đà Nẵng. Khi tàu đã đi khá xa quần đảo Hoàng sa, thì bỗng nhiên không hiểu vì lý do gì, HQ-4 được lệnh quay trở lại vùng hải chiến sáng nay. Lúc ấy vào khoảng 1 giờ trưa.

        Nghe tin này, một số anh em bị thương nặng tỏ vẻ xúc động, nhưng những anh em khác, tuy bị thương nhẹ, nhưng còn khả năng tác chiến, rất hăng say sẵn sàng vào vị trí tác chiến. Toán Biệt Hải bây giờ đặt dưới quyền Hạm Trưởng, đưa bổ sung vào các chỗ khiếm khuyết tùy theo khả năng. Phần tôi, tuy bị thương, nhưng vẫn được giao sử dụng một cậy đại liên 50. Sau khi nhận lệnh, chiếc HQ-4 quay đầu trở lại theo hướng Đông Bắc, trực chỉ quần đảo Hoàng Sa để tái nhập cuộc. Tuy nhiên sau hơn một giờ hải hành, HQ-4 lại được lệnh quay trở lại Đà Nẵng một lần nữa. Toán Biệt Hải chúng tôi nghe loáng thoáng, lý do có máy bay MIG và tàu chiến Trung Cộng trên đường đến trợ chiến quân đội của chúng tại Hoàng Sa. Mãi đến sau này, khi đã định cư tại Hoa Kỳ, chúng tôi mới biết rõ nội vụ: Lý do khiến HQ-4 phải đột ngột quay lại Đà Nẵng: “Tùy viên Quân Sự Hoa Kỳ tại Sài gòn (DAO) cho biết radar của Đệ Thất Hạm Đội ghi nhận, một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG của Trung Cộng từ Hải Nam đang tiến về Hoàng Sa. BTL/Hải Quân VNCH yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội trợ giúp, nhưng không thành công. Các chiến hạm của VNCH được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa (Kiem Do and Julie Kane, Countarpart, AVietnamese Neval Officer’s War – Đất Mẹ)

        Khi HQ-4 trên đường xuôi nam thì Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng từ trần, vì vết thương khá nặng. Anh ra đi để lại người vợ mới cưới và đứa con nhỏ.

Cuộc hải chiến hào hùng của các chiến sĩ Hải Quân, các toán Hải Kích Người Nhái và toán Biệt Hải thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỷ Thuật, tại quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19.0174 đã nói lên ý chí và sự quyết tâm của người lính VNCH, quyết chiến đấu để giữ gìn lãnh hải, hải đảo do Tiền Nhân để lại, không bao giờ sợ hãi trước giặc ngoại xâm Trung Cộng.

Biệt Hải Nguyễn Trâm, một đồng đội đã kể về anh Nguyễn Châu:

        Nguyễn Châu được chính thức gia nhập Lực Lượng Biệt Hải giữa năm 1962, phục vụ dưới danh nghĩa của một nhân viên dân sự vào tình nguyện công tác, và cũng là chiến sĩ Biệt Hải cuối cùng bất đắc dĩ buộc rời khỏi toán mà không cần chứng chỉ giải ngũ sau ngày oan nghiệt tháng 4. Mặc dù cuộc chiến của hai miền Nam-Bắc trên quê hương Việt Nam đã sang trang từ lâu, nhưng trong ký ức của anh vẫn không thể nào quên những giây phút hào hùng nhưng cũng nhiều bi lệ trước đây, mà trong suốt thời gian gần 13 năm anh đã phục vụ dưới màu cờ sắc áo của Lực Lượng Biệt Hải.

        Nhớ lại những ngày đầu của thập niên 60, anh cùng bạn bè đồng đội nhiều lần được gởi ra thực hiện các công tác tại miền Bắc, đặc biệt chuyến đột kích mở tay đầu tiên: ban đêm xâm nhập vào tiêu diệt một đồn công an biên phòng tại Cửa Khẩu, Hà Tĩnh, chỉ cách làng Nhượng Bạn, nơi chôn nhau cắt rốn, đã từng một thời nuôi anh lớn khôn không mấy bao xa trước khi anh theo gia đình di cư vào Nam.Thời tiết đêm hôm ấy thật tĩnh lặng nên hết sức thuận tiện, đã giúp tinh thần  mọi người thêm phấn chấn, lẹ làng di chuyển, lúc ẩn lúc hiện, như những bóng ma dưới ánh trăng mờ. Trên vai xạ thủ, những khẩu đại bác 75 ly không giật nặng chĩu, cùng số đạn pháo mang theo đủ để tập kích mục tiêu. Giờ này, nơi miền Nam tự do, bạn bè, người thân quen và vợ con anh, tất cả vẫn thanh thản hồn nhiên đi vào giấc ngủ, đâu có biết ở phương này hiện giờ anh cùng đồng đội đang tận lực tranh đua cùng thời gian để được sống còn, trên vùng đất nhiều rủi ro cho định mệnh.

        Toán đến được mục tiêu vội vàng tìm chỗ ẩn núp, đồng thời quan sát địa thế đặt các khẩu 75 ly không giật hướng vào vị trí đồn Công An Cộng Sản. Tất cả cùng khai hỏa theo lệnh trưởng toán. Trong khoảnh khắc, tất cả các cứ điểm quanh đồn địch bốc cháy, địch quân hoàn toàn bị tiêu diệt.

        Giữa tháng 6 năm 1964, toán của anh được lệnh phối họp cùng một toán bạn, tiếp tục thi hành chuyến công tác mới. Với kinh nghiệm và sự thành công của chuyến trước, đã giúp anh và đồng đội tăng niềm tin, nhưng những ưu tư lo lắng vẫn cứ chập chờn và ám ảnh mọi người. Suốt gần hai tuần, anh em học cách xâm nhập bơi vào bờ ban đêm, đội hình di chuyển, tập tác xạ đại bác 75 ly không giật, tập điều chỉnh tọa độ nhắm bắn các mục tiêu giả định trong Nam, v.v…để sẵn sàng cho mục tiêu chính tại miền Bắc trong những ngày sắp tới. Vì thế đã khiến anh cùng mọi người linh cảm chuyến xâm nhập này chắc đầy cam go nguy hiểm, “lành ít dữ nhiều”. Mọi gian truân thử thách đó như đang chờ đón đâu đây… Ngày cuối, trước giờ khởi hành, tất cả được cấp chỉ huy Việt & Mỹ đích thân xuống thuyết trình lần chót, đồng thời cho biết rõ mục tiêu quan trọng mà toán xâm nhập phải thực hiện đêm nay: triệt hạ nhà máy nước Bầu Tró, Đồng Hới theo kế hoạch của Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Tiếp đến, trưởng toán cặn kẽ hướng dẫn trên mặt sa bàn cùng một số không ảnh U-2 và phân nhiệm cho từng cá nhân. Kết quả lần này cũng tương tự như chuyến trước đây. Với yếu tố bất ngờ và chính xác đã giúp toán hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi những trái đạn 75 ly thoát ra khỏi nòng, tất cả đều tìm đến xoáy nổ vào các mục tiêu đã định. Những cơ sở trong khu vực nhà máy nước Bầu Tró phút chốc hoàn toàn sụp đổ, đã làm mọi người hết sức phấn khởi cùng hướng nhìn về phía mục tiêu quan sát, trông thấy ngọn lửa mỗi lúc một bốc cao sáng rực cả một góc trời, mặc dù hiểm nguy đợi chờ trước mặt, bởi lúc này con đường về Nam càng cảm thấy trở nên xa thẳm mịt mờ.

        Một điều không may đã xảy ra: Lúc toán hành động đang trên đường di chuyển, thì bất ngờ được toán ở lại cất giấu và canh giữ thuyền (hobo) ngoài bờ biển (làm điểm hẹn cuối cùng để chuyên chở anh em ra chiến đỉnh PFT đậu chờ ngoài khơi, sau khi hoàn thành nhiệm vụ) cho biết là có khả nghi bị địch phát giác. Cả toán ngừng lại giây lát, nhưng cuối cùng trưởng toán quyết định hết sức táo bạo: vẫn phải tiếp tục di chuyển vì mục tiêu đã gần kề. Sau khi hoàn toàn dứt điểm mục tiêu, toán trên đường rút ra, không may bị đám dân quân tuần tiễu phát hiện, chặn đường. Hai bên đồng loạt khai hỏa. Biệt Hải Nguyễn Bảy (tự Nguyễn Học) người em họ của Châu, bị trúng đạn tử thương tại chỗ, và Biệt Hải Vũ Văn Sắc bị chúng bắt sống sau đó. Trong giờ phút thập phần nguy hiểm, mọi người phân tán tìm đường thoát ra bờ biển nên không thể cứu nguy đồng đội. Hơn nữa lúc này sóng gió bắt đầu thổi tới. Tuy công tác này mang lại kết quả ngoài dự đoán của Bộ Chỉ Huy Sở, nhưng với riêng Nguyễn Châu và bạn bè cùng toán, quả là một mất mát lớn lao. Về phía chính quyền Cộng Sản (mấy hôm sau nghe được trên đài phát thanh Hà Nội), sau đêm thất bại chua cay, chúng càng tỏ ra hết sức căm thù các toán Biệt Hải, và chỉ thị dân quân các cấp vùng duyên hải: “Phải luôn đề cao cảnh giác bọn Biệt Kích gián điệp, chuyên xâm nhập đường thủy đầy cực kỳ nguy hiểm”. Đồng thời, thiết lập “tòa án nhân dân” xử tử Biệt Kích Vũ Văn Sắc ngay trong cùng một tuần.

        Mùa hè năm 1968, thêm một biến cố đau thương nữa bất ngờ lại xãy đến cho vợ chồng Nguyễn Châu: đó là Biệt Hải Phạm Việt, người em vợ mà anh hằng thương mến và đưa vào Biệt Hải, thuộc toán Nimbus bị tử trận trong chuyến Loki tại bờ biển Thanh Hóa.

Những vết thương chiến tranh theo thời gian cứ liên tục đeo đuổi gậm nhấm tinh thần của anh, khiến bạn bè ai cũng đều nghĩ thầm, sau lần khế ước này, thế nào Nguyễn Châu cũng rời Biệt Hải

(những ai phục vụ trong Lực Lượng Hải Tuần & Biệt Hải đều phải ký hợp đồng), nhưng anh đã làm tất cả mọi người hết sức ngạc nhiên. Không những thế, Nguyễn Châu còn dốc hết khả năng phục vụ và trở thành chiến sĩ xuất sắc nhất của Sở Phòng Vệ Duyên Hải sau này, đồng thời cũng là một toán viên thâm niên thuộc LLBH, được các cấp chỉ huy kính nể và tất cả anh em thương mến. Đặc biệt, chị Châu, người bạn đời của anh thì thật tuyệt vời. Lúc nào chị cũng vui vẻ hiếu khách, bất luận là ai, miễn người đó là bạn của chồng mình, khiến tất cả anh em đều một lòng quí mến.

        Cuối năm 1968, các công tác miền Bắc hoàn toàn chấm dứt, sau khi chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh được thi hành. Các cố vấn Mỹ của LLBH lần lượt về nước, đồng thời các quân nhân thuộc Lục Quân và số dân chính tình nguyện được lệnh thuyên chuyển, hoặc xin sang hoạt động trong các Đoàn Công Tác ( vì muốn thay đổi đơn vị hoặc để tìm những cảm giác mới lạ trên rừng núi Trường Sơn bạt ngàn), trừ một số rất ít vì nặng gánh gia đình, xin rời khỏi toán, trở về nguyên quán, vô tình để lại một khoảng trống cho các Toán nói riêng và Lực Lượng Biệt Hải nói chung. Phần nhân viên phụ trách huấn luyện cho các khóa Biệt Hải kế tiếp cũng thiếu, nên CHT Biệt Hải đã mau mắn đề cử Nguyễn Châu vào làm phụ tá huấn luyện viên cho cả hai Khóa Biệt Hải 70 và 72. Một số đông vẫn yêu thích phiêu lưu với đại dương, đã quyết định gia nhập binh chủng Hải Quân, chờ đợi được tái hoạt động ra Bắc.

        Cũng từ thời gian này, các công tác Biệt Hải hoàn toàn chỉ hoạt động ở miền Nam. Thỉnh thoảng có những công tác hết sức quan trọng, nên Bộ Chỉ Huy cần tuyển gấp một số nhân viên ưu tú tham dự, và lúc nào Nguyễn Châu cũng kéo tôi theo, đủ để chứng tỏ thân tình đồng đội anh em, không những nơi bàn nhậu mà ngay cả những giờ phút tử sinh cũng cần có bên nhau, qua nhiều chuyến công tác khó quên: Các chuyến giải cứu tù binh Mỹ tại La Ngà, Phan Thiết, tại Mật khu U Minh Hạ, năm 1970-1971, hay lần đặc biệt đi cứu hai phi công Hoa Kỳ ở Cam Lộ, mùa hè 1972(*).

(BH Nguyễn Văn Kiệt và Thomas Norris cứu sống Tr. Tá Hambleton đưa về phòng tuyến VNCH)

 (*LTG) Đây là kế hoạch Rescue of BAT 21 Bravo đã được thực hiện thành công với 5 Biêt Hải VN và 1 US Navy Seal, cứu được hai phi công HK: Trung Úy Mark Clark và Trung Tá Iceal Hambleton. ngay trong vùng đất địch. Người có công lớn nhất là BH/Người Nhái Nguyễn Văn Kiệt, khi ấy mang cấp bậc Hạ sĩ 1. BH Kiệt đã cùng Trung úy (US Navy Seal) Thomas Norris tìm và cứu được Trung Tá Hambleton trong tình trạng vô cùng nguy hiểm khó khăn dưới sự truy sát của kẻ thù. Với sự quả cảm phi thường ấy, anh Kiệt được Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng Navy Cross, một trong những huy chương cao quý nhất dành cho quân đội đồng minh. Câu chuyện này rất nổi tiếng và đã được một nhà đạo diễn Mỹ thực hiện thành phim BAT 21 vào năm 1988. Điều đáng buổn và đáng tiếc là người thực hiện cuốn phim đã thiếu lương tâm và sự công bình, khi không nói đến chiến công thực sự của những Biệt Hải Việt Nam!)

Cuộc tao ngộ kỳ thú:

        Sau này, tại Mỹ, cựu Biệt Hải Nguyễn Châu đã bất ngờ tái ngộ một ngư phủ Quảng Bình, người đã từng bủa lưới trúng anh trong lúc anh đang xâm nhập vào bờ, trong chuyến công tác 1966.

        Anh kể lại cuộc trùng phùng hi hữu này như sau:

        Tình cờ vào tháng Giêng năm 2009. trong dịp tết Nguyên Đán, sau Thánh Lễ, Hội Đồng Giáo Xứ nơi tôi ở

 (Beaumont-TX) tổ chức một buổi tiệc trà đầu năm tại Hội trường, để giáo dân gặp gỡ, cùng nhau hàn huyên tâm sự về một năm đã qua. Tiệc nửa chừng, anh Sương, một giáo dân trẻ đi từ miền Bắc, giới thiệu cha mẹ từ Việt Nam sang thăm con. Tôi được may mắn ngồi chung bàn với ông bà Dương, thân sinh của anh Sương. Và khi biết ông bà là người làng Xuân Hòa, Quảng Bình, tôi liền làm quen và tìm hiểu, xem ông ta có biết gì về các chuyến công tác của Biệt Hải ở vùng này, đặc biệt là chuyến công tác cuối tháng ba năm 1966: vào một đêm tôi và Hiển lội vào thám sát đã bị dân làng đánh cá bủa lưới bao vây, nhưng sau đó đã để chúng tôi bơi đi. Ông Dương bèn kể lại:

      –    Đêm hôm ấy, bọn tôi đang chuẩn bị thả lưới đánh cá trước bờ biển làng Xuân Hòa, xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch, thuộc tỉnh Quảng Bình, thì vào khoảng 11 giờ đêm, tôi và mọi người trên ghe nhìn ra trông thấy một bầy cá từ ngoài khơi đi vào gần bờ. Khi bủa lưới xong, đến gần thì mới thấy hai con cá voi.

        (Những điều ông Dương kể đều đúng với những nhận định của chúng tôi ngày ấy: vì khi bơi xâm nhập vào bờ, chúng tôi mang áo quần bơi và chân vịt cao su, màu đen, trông giống như những con cá voi)

        Tôi nghĩ rất may cho ông Dương và những người ở trên ghe. Vì nếu hôm ấy mà họ tới để bắt hay có hành động gì khác, chắc chắn tất cả sẽ không còn ai sống sót, vì khi ấy súng hảm thanh trong tay chúng tôi đã sẵn sàng nhả đạn. Và tôi đã hỏi thẳng ông Dương:

–           Nếu hôm đó ông Dương bắt được hai chúng tôi ông sẽ làm gì?

Ông Dương nhìn tôi mỉm cười:

      –     Giả như hôm ấy mà tôi bắt được các chú thì tôi sẽ dẫn vào trình cha xứ để xin cho các chú được trà trộn sống trong giáo xứ một thời gian và sau đó tìm lập gia đình thì bọn chính quyền sẽ không biết được.

        Nghe xong, tôi một phần tin ông vì cùng là người công giáo, và thầm cám ơn ông. Nhưng thời gian cũng đã hơn 40 năm và bây giờ lại gặp nhau tại đất nước Hoa-Kỳ. Còn chuyện ngày xưa trên đất Quảng Bình, sống trong chế độ Cộng Sản, nào ai biết được người ta còn có tấm lòng và sẽ hành động những điều tốt đẹp?

        Dù sao đây cũng là một cuộc tao ngộ bất ngờ, tạo cho tôi cảm giác thú vị và man mác nhớ lại một thời cùng đồng đội âm thầm vào sinh ra tử trên phần đất của kẻ thù.

Điều mong ước cuối cùng:

        Sau hơn 13 năm phục vụ trong Lực Lượng Biệt Hải, đã bao phen cùng đồng đội vào sinh ra tử, xem cái chết nhẹ như sợi tóc, Biệt Hải Nguyễn Châu hằng ước mơ được phục vụ trong đơn vị thầm lặng nhưng rất kiêu hùng này suốt cả một đời, vậy mà anh đành phải nuốt lệ khi nghe Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng vào ngày 30.4.75 oan nghiệt. Không thể nào chấp nhận sống với Cộng Sản, anh cùng gia đình vượt biên sang Thái Lan, rồi Mã Lai và tới Tân Gia Ba. Được chính phủ Hoa Kỳ đón nhận cho định cư đặc biệt vào ngày 31.10,75. Hiện gia đình, gồm vợ chồng, tám người con (5 trai 3 gái) và chín đứa cháu nội ngoại, cư ngụ tại thành phố Beaumont, Tiểu Bang Texas. Hơn 35 năm tha hương, anh luôn sống mẫu mực và nuôi dạy con cháu nên người, biết yêu quê hương và trọng danh dự. Được trang bị thêm đức tin của người Công Giáo ngoan đạo, anh đã xây dựng một gia đình lễ nghĩa, biết yêu thương chia sẻ với tha nhân. Tâm sự với mọi người, nhất là các đồng đội cũ, anh vẫn hối tiếc là đã không còn phục vụ được cho Tổ Quốc, để quê hương và dân tộc bị khốn khổ tang thương dưới sự cai trị của bọn Cộng Sản man rợ, sẵn sàng bán nước cầu vinh.

         Điều ước mong cuối cùng là khi nhắm mắt, anh xin được các đồng đội phủ cho anh lá Quốc Kỳ VNCH mà anh cùng các chiến sĩ Biệt Hải đã từng sẳn sàng xả thân bảo vệ.

         BH Nguyễn Châu rất xứng đáng được đồng đội của anh đáp ứng điều mong ước cuối cùng này. Đã có nhiều vị ở hải ngoại, dù cấp bậc lớn hơn anh rất nhiều, nhưng chẳng có công trạng đặc biệt gì với đất nước, có khi còn bỏ cả thuộc cấp vào những giờ phút sinh tử nhất, khi chết còn được vài tổ chức long trọng phủ lá quốc kỳ lên quan tài. Huống hồ, một chiến sĩ, cả một đời vào sinh ra tử, sẵn sàng xả thân để bảo vệ quê hương như BH Nguyễn Châu, chẳng lẽ không được đón nhận điều vinh dự đó hay sao?

        Bài viết này, như là một thể hiện lòng ngưỡng mộ của tác giả đối với Biệt Hải Nguyễn Châu cùng tất cả các chiến sĩ Biệt Hải anh hùng khác của QLVNCH, và xin được thay một nén hương tưởng niệm anh linh những anh hùng Biệt Hải đã âm thầm hiến thân cho Tổ Quốc, mà nắm xương tàn của rất nhiều anh em, đến giờ này vẫn không biết đang gởi ở nơi đâu. Cũng xin thay một đóa hoa hồng tươi thắm nhất, gởi đến chị Nguyễn Châu cùng tất cả các phu nhân Biêt Hải, dù còn sống hay đã chết. Tất cả đều rất xứng đáng cho lòng biết ơn và trân trọng của tất cả mọi người.

Phạm Tín An Ninh

Anh Về Từ Thung Lũng Tử Thần Ashau

hoiquanphidung.com

Đinh Văn Tiến Hùng

Posted by Longhai  December 13, 2018 

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

(Kỷ niệm Ngày Quân Lực VNCH 19/6, để ghi nhớ công lao và tinh thần hy sinh cao cả của các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi xin giới thiệu bài viết dưới đây trích trong Nguyệt San Bốn Phương/Lực Lượng Đặc Biệt năm 1969)

Dáng người nhỏ, da đen sạm, 25 tuổi, độc thân, sinh tại Hà Tây, Quảng Ngãi, thuộc bộ lạc Hả, 8 tuổi lính, từ Bộ Binh qua Biệt Kích rồi Thám Kích Tiền Phong. Đó là những nét đầu tiên tôi ghi nhận nơi Đinh Đó, người toán phó Thám Kích/Lực Lực Đặc Biệt, bị Cộng quân giam giữ suốt 45 ngày nhưng đã can đảm thoát vùng tử địa và hướng dẫn oanh kích sào huyệt Cộng quân gây tổn thất nặng nề cho địch.

Trong không khí yên lặng buổi ban mai đẹp trời, nơi chiếc ghế băng ngoài sân TTHQ/Delta, tôi được Đinh Đó kể lại quãng thời gian 45 ngày chung sống với Cộng quân trong thung lũng tử thần Ashau.

Cuộc đồi thoại không mang tính cách phỏng vấn, mà là một buổi trao đổi tâm tình cởi mở.

* Nhảy vào vùng tử địa.

Ashau nằm cách biên giới Lào Việt không đầy 10 cây số và cách thị trấn Huế trên 40 cây số về phía Tây.

Với địa thế núi rừng hiểm trở, mây mù bao phủ quanh năm, tiện đường chuyển vận quân và vũ khí của Cộng quân. Qua nhiều năm CSBV dùng nơi đây làm sào huyệt xuất phát những trận đánh phá nhiều tỉnh thuộc Vùng I Chiến Thuật, nơi Cộng quân cho là bất khả xâm phạm với địa thế lòng chảo, một tiền đồn và một phi trường bỏ hoang còn ghi dấu lại. Nhưng đối với các chiến sĩ Lực Lượng Đặc Biệt và BKQ thì danh từ ‘vùng tử địa’ hay ‘bất khả xâm’ cũng bị xoá bỏ. Chính nơi thung lũng tử thần này, tháng 3/68, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 91 Biệt Kích Dù đã phục kích phá tan đoàn xe Cộng quân gồm 8 chiếc chuyển vũ khí lương thực xâm nhập miền Nam. Đến nay trong khuôn khổ hành quân Delta vẫn còn nối tiếp, các toán Delta và Thám Kích Tiền Phong luôn được tung vào hoạt động trong vùng rừng núi tử thần này.

Trưa ngày 2/4/69, một toán Thám Kích Tiền Phong gồm: Toán Trưởng Nguyễn văn Son, Toán Phó Đinh Đó và hai toán viên Lê Văn Bang cùng Đinh Đức, được trực thăng thả bằng thang giây xuống hoạt động tại vùng thung lũng Ashau. Bốn chiến sĩ được trang bị súng AK, y phục kaki, đi dép râu, đầu trần giống như Cộng quân. Buổi trưa bầu trời quang đãng không có những lớp mây mù giăng phủ như thường ngày, nhưng khí rừng vẫn xông lên hơi lạnh ẩm ướt. Đứng dưới hố bom, Toán trưởng mở bàn đồ để xác nhận lại vị trí và ra lệnh cả toán gióng hướng Bắc 32 độ. Núi rừng âm u, tàn cây che kín chỉ để lọt xuống những khoảng nắng nhỏ, im lặng đến nỗi nghe rõ từng tiếng chim gõ mõ từ xa vọng lại và cả tiếng chân mình khua động lá rừng cùng hơi thở đồng đội. Ở đây núi đồi không cao lắm, chỉ dưới ngàn thước, nhưng đường đi chênh vênh dốc và vướng mắc nhiều rễ cây rất khó di chuyển. Mồ hôi đã thấm lưng áo, nhỏ giọt từ trán xuống, bốn người dừng nghỉ. Rừng chiều xuống, những đám mây giăng trên đầu và sương rừng bắt đầu rơi lạnh. Son ra hiệu cho các bạn tiêp tục lên đường để tìm một vị trí an toàn nghỉ đêm. Màn đêm chụp xuống thật mau, xoá nhoà cảnh vật chung quanh. Bốn người dò dẫm đi gần nhau, vì chỉ một khúc quanh, một hốc núi, một gốc cây là lạc nhau. Son đứng lại và cả toán dừng theo. – ‘Đêm nay nghỉ tạm trong hốc núi này!’.

Son ghé tai nói với Đinh Đó, anh gật đầu đồng ý và cả toán dừng theo.

Đêm rừng huyền bí lạ. Bốn bề yên lặng nghe rõ tiếng côn trùng rên rỉ dưới cỏ, sương rơi trên lá. Những con đom đóm rừng bay vật vờ ma quái. Tiếng vỗ cánh của con chim say ngủ. Khí lạnh từ trong lòng đất và hang đá toát ra khiến mọi người rùng mình vội kéo tấm áo lạnh khoác vào người. Đêm đầu tiên dựa vào nhau mà ngủ cho ấm và để dễ liên lạc. Một người ôm súng canh chừng cho ba người ngủ. Cứ thế thay phiên nhau tới khi những tia nắng đầu tiên lọt qua khe đá dội xuống. Cả bọn tiếp tục lên đường. Cứ ngày đi đêm nghỉ băng qua nhiều đồi núi. Tới ngày thứ ba, cả toán đang đi bỗng trời xám dần, rừng cây lay động mạnh. Những cơn gíó ào ào xoáy lốc giật lá cây trút xuống, những tia chớp loé lên kèm theo tiếng nổ vang động núi rừng. Cơn mưa đổ như trút nước. Bốn người nép mình vào hốc đá vẫn không tránh khỏi ướt sũng. Trận mưa dai dẳng kéo dài suốt đêm. Một đêm giấc ngủ chập chờn với những tiếng động ầm ầm của đất trời và núi rừng.

*Hai lần thoát chết trong gang tấc.

Sáng ngày 5/4/69, trận mưa đêm dứt hẳn, nhưng lá cây còn ướt sũng, thỉnh thoảng rùng mình trút nước dưới những cơn gíó ào ào. Một dòng suối róc rách chảy đâu đây, cả toán tiếp tục lên đường. Đổ đồi thật vất vả, ướt và trơn tượt, phải níu vào rễ cây mà đi xuống. Đó dừng lại, chú ý đám cỏ thấp nghiêng rạp hai bên. Anh giơ tay chỉ một nhánh cây non mới bị bẻ gẫy. Dấu người vừa đi qua gần đây, anh nhìn khả nghi lùm cây phía trước, đưa mắt ra hiệu đồng bạn thận trọng. Bỗng một tràng AK từ trên đồi dội xuống, Đó lăn mình vào hốc cây, ria một băng đáp trả. Rồi từng loạt đạn từ bốn phía thi nhau nổ giòn. Địch hình như phát giác được quân số phía toán. Tiếng đạn rít lên từng hồi, tiếng hô xung phong bắt sống, phá tan bầu khí yên tĩnh ban mai núi rừng. Bốn tay súng can đảm chống trả, nhưng không thể cầm chân địch từ bốn phía tràn lên.Vài tên gục ngã, tiếng rên bi thảm.Tíếng súng dưới chân đồi thưa dần, chứng tỏ địch đã cận kề. Phải mở một đường máu liều chết để thoát ra ngoài. Son ra hiệu dồn hoả lực về phía trước để cầm chân địch. Bốn khẩu AK nổ giòn. Cả toán lăn nhanh xuống đồi như những con sóc rừng. Từng loạt đạn vút theo. Hai tiếng hét phía sau: Bang và Đức trúng đạn chúi xuống, một loạt đạn bồi theo. Toán Trưởng Son và Toán Phó Đinh Đó biết là hai toán viên đã bị hạ, nhưng không sao tiếp cứu nổi, vì những loạt đạn vẫn nối tiếp đuổi theo với tiếng hò hét phía sau. Son và Đỏ thoát xuống chân đồi, lẩn vào khu rừng kế cận. Tiếng súng xa dần…

Nắng lên cao, nhưng hai người vẫn không dám dừng chân nghỉ, vì biết địch còn bám sát phía sau.

Gói cơm chiều hôm trước còn dở hai người chia nhau vừa đi vừa ăn. Đỏ hỏi Son:

– Bây giờ tính sao?

– Chúng ta đã mất hai, còn hai lạc hướng không thể nào tiếp tục như kế hoặch đã định trước.

Máy truyền tin mất, phải tìm một vị trí dựng ‘pano’ báo hiệu phi cơ đến tiếp cứu.

Đó chỉ ngọn núi phía trước, hai người trực chỉ. Phải lên tới dỉnh núi trước khi trời tối mới hy vọng.

Ngọn núi trông xa sườn thoai thoải, nhưng tới gần dốc đứng, lên thật vất vả, vô ý một chút là trượt chân té xuống vực. Gần 5 giờ hai người mới lên tới đỉnh. Sương mù xuống lạnh, giăng giăng trên đỉnh che khuất ánh nắng chiều. Cố lắng nghe tiếng phi cơ từ xa vọng lại, nhưng im vắng bao phủ triền miên núi rừng. Hai người tháo ba lô lấy thức ăn. Gói cơm lạnh ngắt, mùi cá hộp tanh nồng nhưng cố nuốt. Thèm một ngụm cà phê, một điếu thuốc biết chừng nào! Nhưng giữa cảnh núi rừng này, tìm đâu ra. Son giơ ‘bi đông’ nước lên uống một ngụm, dòng nước chưa kịp trôi xuống cổ họng thì anh bị một viên đạn bắn trúng đầu gục xuống. Nhanh như cắt, Đó chụp lấy khẩu AK ria một loạt về phía tên Cộng quân vùa từ dưới bò lên. Tên địch chới với lăn xuống phía dưới. Đỏ vội giựt khẩu AK trên đùi Son rồi biến mất. Anh không kịp mang ba lô theo và biến vào sương chiều đang vây phủ núi rừng. Có tiếng nói lao xao phía trên. Anh nép mình vào hốc đá và thoáng nghĩ “đây là lần thứ hai mình phải bỏ đồng đội ở lại. Thế là mất ba, chỉ còn một mình, chắc khó thoát. Nhưng dù sao cũng phải cố gắng ra khỏi vùng này ngay trong đêm nay”.

Đỏ lần mò trong bóng đêm. Một hòn đá lăn dưới chân, một con đom đóm đêm cũng đủ làm anh giật mình. Thật là một đêm kinh hoàng nhất trong đời quân ngũ. Anh đã từng xông pha nguy hiểm nhiều lần, nhưng chưa bao giờ anh phải chiến đấu đơn độc như lần này, nói đúng hơn là anh phải tự bảo vệ cho mình.

Khi tiếng chim rừng hót vang anh mới biết trời đã sáng. Anh nhớ bao đạn đã tuột mất và khẩu AK đã bắn hết viên đạn cuối cùng. Thật là vô dụng mang theo thêm nặng, anh tìm một hốc đa vùi xuống và lấp lá cây lên. Giờ thì nhẹ nhõm, nhưng mạng sống đành trao cho số mệnh. Lúc này có thể gặp bất cứ ai bạn hay thù.

Người toán phó Thám Kích cứ lầm lũi đi theo bóng mặt trời lên. Người mệt lả, bụng đói vì hết lương thực, mắt mờ đi, tay chân bủn rủn….

*45 ngày sống với Cộng quân.

Buổi trưa, Đỏ dừng lại đang lấy tay vục nuớc uống từ một dòng suối chảy qua khe đá, bỗng có tiếng quát lớn phía sau:

-Giơ tay lên!

Như một cái máy, anh quay lại từ từ đứng lên giơ tay cao. Lúc này không còn thoát được nữa. Hai người mặc kaki vàng cầm súng AK từ sau hốc đá nhảy vọt ra. Chúng lục soát người anh thấy không tìm được gì quan trọng, liền bắt anh cởi bỏ quần áo, chỉ cho mặc chiếc quần cụt và dùng giây trói tay quặt về phía sau.

Không đầy một phút sau, một tóan chừng 20 tên kéo đến. Tất cả đều ăn mặc và trang bị giống như hai tên trước. Tên mang khẩu Colt Trung Cộng- chắc là cấp chỉ huy- lên tiếng hỏi:

-Bắt được có một tên hay sao?

-Vâng chỉ có một tên thưa đồng chí! Tên kia đã bị bắn chết trên núi, chỉ còn tên này trốn thoát.

Nghe tên kia trả lời, Đỏ biết là chúng đã cho một Trung đội theo sát Son và anh trong mấy ngày nay. Tên chỉ huy hỏi anh:

-Mày là lính Biệt Kích Mỹ?

-Không, tôi là Biệt kích Việt Nam.

-Súng đạn đâu?

-Tôi đánh mất tất cả.

-Tên mày và chức vụ?

-Đinh Đó, toán phó Thám Kích.

Hỏi mấy câu vắn tắt rồi hắn hất hàm ra lệnh:

-Thôi giải hắn đi!

Toán người do tên chỉ huy hướng dẫn đi trước và Đinh Đó được bốn tên áp giải theo sau. Đoàn người theo đường mòn mà đi, hình như chúng đã thông thuộc với những lối đi quanh co này. Trưa hôm đó tới một căn nhà dùng làm trạm giao liên. Đây không có người ở, chỉ dùng làm chỗ dừng chân nghỉ ngơi. Cả bọn ăn cơm và một tên mang đến cho Đó một chến cơm với ít muối. Ăn xong chúng ngồi nói chuyện một lúc rồi tiếp tục lên đường. Khi trời vừa tối tới trạm giao liên thứ hai. Trạm này có chừng một trung đội đang đóng giữ. Sau khi trao đổi vài câu cùng trưởng trạm, chúng nghỉ đêm tại đây… Cứ như thế, tiếp tục ngày đi đêm nghỉ và tiến về hướng đông. Dọc đường anh để ý cứ hai trạm bỏ trống tới một trạm có người, mỗi trạm cách nhau từ 2 tới 3 cây số. Anh được biết trong câu chuyện chúng trao đổi: Đơn vị này thuộc Tiểu Đoàn 50 CSBV và chúng đang áp giải anh về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn.

Qua ngày thứ ba, anh dược lãnh mỗi ngày nửa lon gạo và một gói muối nhỏ, trong khi chúng lãnh mỗi người 1 lon gạo kèm 1 gói đồ ăn khô. Giờ chúng để anh thong thả hơn vì đây là vùng hoạt động của chúng.

Ban ngày anh được cởi trói, tự nấu lấy cơm dưới sự giám sát của 4 tên. Đêm đến chúng trói lại và nằm cạnh để canh giữ….

Năm ngày qua đã tới Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn của chúng. Nơi đây không một hàng chữ, không một cổng ra vào vì bốn phía đều trống trải. Năm dẫy nhà mỗi dẫy chừng 10 căn cách nhau từ 50 đến 100 mét. Nhà dựng sơ sài bằng cây, lợp lá rừng trông đã cũ. Anh thấy những người lính qua lại cõn rất trẻ chừng 15,16 tới 21, 22 tuổi là nhiều. Đứa mặc quần áo, đứa cởi trần, tỏ ra rất thong thả. Có vài người chống nạng hay bó tay chân. Anh thoáng thấy có cả nữ cán bộ, nhưng không biết họ làm nhiệm vụ gì ở đây. Các cô mặc quần đen, áo nâu, chit khăn theo lối người miền Bắc. Nhưng một đặc điểm là bọn này ngừơi nào cũng gày gò da vàng bủng. Anh đoán chừng đây là cơ sở hậu cần trung đoàn. Những người qua lại đưa mắt tò mò nhìn anh rồi bỏ đi.

Một tên bước tới hỏi:

-Mày là lính ở đâu?

-Lính Việt Nam Cộng Hoà.

-Đi lính có sướng không?

-Không đến nỗi khổ cực.

-Quần áo và ăn uống thế nào?

-Đầy đủ.

-Hút thuốc này?

Tên cán bộ vừa nói vừa giơ điếu thuốc cuốn theo lối đồng bào Thượng thường dùng.

-Không! Tôi hút Salem.

-Ồ khá nhỉ!

Hắn thoáng lộ nụ cười với nét mặt nham hiểm và ra lệnh:

-Đưa vào khu 1, không cho tiếp xúc với bộ đội.

Chúng dẫn anh vào phồng số 1 trong khu đầu tiên. Trong nhà không có giường chiếu, không bàn ghế, chỉ có bóng tối tràn ngập…Anh bị giam tại đây đúng 5 ngày. Chỉ được ra ngoài giờ ăn và lo vệ sinh cá nhân, có người đi theo giám sát. Đỏ đã nghĩ đến cách trốn thoát, nhưng vì bị kiểm soát chặt chẽ và anh cũng chưa định ra vị trí nơi mình bị giam nên chưa thể quyết định được. Qua ngày thứ 6, chúng tiếp tục áp giải anh đi về hướng đông. Anh bỡ ngỡ không hiểu chúng đưa mình đi đâu…

Vào cuối tháng, cả trung đội tới trạm giao liên nằm duới chân ngọn đồi và xa xa phía bên kia là một con sông chảy ngang qua. Trong khi dừng đợi anh đã nhận ra vị trí nơi đây. Cách một tháng trước anh đã bay qua vùng này khi Toán Thám Kích của anh ngồi trên trực thăng tìm vị trí đổ quân. Đó là dòng sông chia đôi vùng ranh giới giữa Quốc Gia và Cộng Quân, thuộc quận Đức Dục, cách thị xã An Hoà chưa đầy 20 cây số. Trong những cuộc hành quân trước đây những toán Delta và Thám Kích đã quen thuộc địa thế vùng này.

Một tia hy vọng loé trong đầu, anh phải tìm cách trốn thoát. Cần chờ thời gian thuận tiện và lúc địch sơ hở.

Đây là trạm tiếp liên, chúng chờ tiếp tế hơn 10 ngày. Vào một buổi sáng, chúng bắt anh đi vác gạo từ bờ sông về. Chắc gạo được chuyển từ vùng Quốc Gia vào đây. Được tiếp tế rồi chúng vẫn đóng lạí chờ lệnh.

*Thoát vùng tử địa.

Trong những đêm nằm tại đây, Đinh Đó để ý thấy bốn tên áp giải càng ngày càng tỏ ra không lưu tâm đến anh như trước. Nhiều lúc trông coi anh qua loa và đêm đến lại nằm cách xa. Hai tuần trôi qua. Vào một đêm tối trời, sau khi một tên trói anh lại và tìm một góc tối nằm ngủ. Anh giả vờ nhắm mắt, rồi một lát sau ngáy gỗ. Về khuya, bốn bề im lặng chỉ còn nghe tiếng côn trùng và tiếng người thở đều đều. Anh mở rộng đôi mắt nhìn vào màn đêm, những bóng đen bất động. Bọn chúng đã ngủ say như chết. Đỏ khẽ cựa mình trút bỏ sợi giây buộc tay lỏng lẻo. Anh tìm một cục đá ném về tên áp giải nằm gần, không có phản ứng gì. Anh từ từ bò về phía trước rất nhẹ và nín thở. Thoát chốc anh đã lẩn vào bóng đêm tiến về phía sông. Con sông không rộng lắm nên chỉ một lúc sau anh đã sang tới bờ bên kia. Thế là yên tâm, vì bên này vào vùng kiểm soát của Quốc Gia. Xa xa có ánh lửa, anh lầm lũi về phía đó. Một ngôi nhà nhỏ có tiếng từ trong vọng ra. Có cả tiếng radio. Anh cố gắng lắng nghe những bài ca và giọng nói quen thuộc Đài Quốc Gia. Anh vững tâm gõ của. Tiếng bên trong hỏi vọng ra:

-Ai ngoài đó?

-Thưa tôi.

-Tôi là ai?

-Tôi đi lạc đường.

Tiếng dép lẹp xẹp, một người đàn ông chừng ngoài 40 ra mở cửa:

-Mời vào trong.

Ông đưa mắt nhìn bỡ ngỡ vì thấy người anh còn ướt và mặc độc nhất chiếc quần đùi. Anh vội lên tiếng:

-Thưa ông đây là đâu?

-Vùng Quốc Gia kiểm soát.

-Có quân đội…

-Không có lính bên kia, chỉ có quân đội VNCH đóng thôi. Vậy anh là…?

-Thưa ông tôi là lính Cộng Hòa bị bắt, trốn thoát và đi lạc. Tôi đói ông có gì cho ăn…

-Được anh ngồi đợi đó.

Rồi ông xuống bếp lấy cơm và đồ ăn mang lên. Vì đói nên anh ăn rất ngon lành không cần khách sáo.

Anh rất cảm động về thái độ ông đối với mình:

-Chắc anh bị lính bên mặt trận bắt và tìm cách trốn?

-Dạ vâng.-

-Thế giờ anh định về đâu?

-Tôi sẽ nhờ chính quyền địa phương gíúp trở về đơn vị ở Đức Dục, gần khu Kỹ Nghệ Nông Sơn.

-Thôi để trời sáng, tôi sẽ đưa anh lên trình diện hội đồng xã, quận Đức Dục gần đây.

-Cám ơn ông nhiều.

Sáng sớm người đàn ông dẫn anh lên trình diện hội đồng xã. May mắn dọc đường anh gặp một chiếc xe nhà binh, anh nhận ra ngay chiếc xe Toán
Delta thường lên Quận. Xe dừng lại đưa anh về căn cứ hành quân Đức Dục.

Cấp chỉ huy và đồng đội rất ngỡ ngàng khi thấy anh trở về. Họ tưởng anh mất tích hay đã chết rồi. Đồng đội hân hoan bao quanh hỏi thăm sức khoẻ và tin tức. Anh cảm động biết bao khi gặp lại mọi người trong tình huynh đệ nồng nàn đầm ấm.

*Người chiến sĩ Thám Kích Tiền Phong ghi công đầu.

Ngay trưa hôm ấy, Đinh Đó ngồi trên trực thăng cùng thiếu tá chỉ huy trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta đi thám sát khu vực địch đóng quân anh đã ghi nhận đêm trước. Căn cứ địch đóng phía bên kia sông cách làng An Hoà chưa đầy 10 cây số, nằm dưới chân một ngọn đồi. Anh đã nhận ra vị trí. Chiếc HU1B bay lượn vòng phía trên, rồi lao xuống thấp dần. Dấu vết Cộng quân được xác nhận. Một loạt AK phía dưới vọt lên, hai khẩu đại liên từ trên phi cơ đáp trả giòn vang.

Vài tiếng sau chiều hôm ấy 18/5/69, pháo binh ta đã nã vào vùng địch hàng trăm trái đạn. Tiếp theo là những phi vụ B52 oanh kích rung chuyển núi đồi… Chắn chắn những phi vụ oanh kích và trọng pháo đã gây cho địch tổn thất nặng nề. Đó cũng là nhờ công lao của:

-Toán Phó Đinh Đó.

-Người chiến sĩ gan dạ Thám Kích Tiền Phong, đã hai lần lọt vào tay Cộng quân (lần trước bị bắt giam 7 ngày trong cuộc hành quân Delta năm 1967, anh cũng trốn thoát)

-Một lần bị thương trong cuộc hành quân Tết Mậu Thân tại Nha Trang.

-Chính tay anh trong đời binh nghiệp đã hạ 30 tên Việt Cộng,

Nhưng anh đã san sẻ vinh dự cho đồng đội và chỉ nhận một số huy chương thật khiêm tốn gồm một Ngôi Sao Bạc – một Chiến Thương Bội Tinh, cùng một số tiền thưởng do Thiếu Tá Phan Văn Huân chỉ huy trưởng/Trung Tâm Hành Quân/Delta trao tặng trong dịp trốn thoát vừa qua.

Tôi nhìn huy hiệu anh mang trước ngực: Chiếc dù mở rộng phía trên đôi cánh chim đại bàng bạt gíó, chiếc sọ người dấu tử thần cùng lưỡi lửa biểu hiệu lòng nhiệt thành quả cảm, ba tia sét tượng trưng 3 lối xâm nhập: Không- Thủy –Bộ và hàng chữ dưới cùng Thám Kích Tiên Phong.

Anh nở một nụ cười tươi trong dáng điệu còn mỏi mệt vì đang thời gian nghỉ bồi dưỡng sức khoẻ.

Tôi ghi nhớ câu anh nói khi chia tay tạm biệt:

-Nghỉ ngơi sau ít ngày phép, tôi sẽ trở về cùng đồng đội tiếp tục cuộc sống như cũ.

Nghĩa là anh lại đi toán vô rừng, tiếp tục gian khổ và có thể lại bị bắt, thất lạc, mất tích hay ra đi vĩnh viễn…. nhưng anh chấp nhận tất cả, vì cuộc sống của những chiến sĩ Delta hay Thám Kích Tiền Phong Lực Lượng Đặc Biệt luôn là thế. Huy hiệu Anh và các bạn mang trên ngực áo đã nói lên lòng quả cảm và sự hy sinh của tuổi trẻ dâng hiến cho Quê Hương Tổ Quốc.

Phóng Viên Chiến Trường Đinh Quân
Dinh_Van_Tien_Hung

(*) Ghi chú thêm của tác giả Đinh Văn Tiến Hùng, bút hiệu Đinh Quân.

– Và tại nơi đây hơn 1 năm sau, trên ngọn đồi Abia đã xảy ra trận chiến ác liệt giữa Quân đội Hoa Kỳ và Cộng Sản Bắc Việt kéo dài từ 1/7 đến 23/7/70, mà người Mỹ đã gọi là Ngọn đồi Thịt Băm (Hamburger Hill)

-Năm 1987, đạo diễn John Irvin đã dựng thành phim mang cùng tên.

-Rồi mới đây, trong dịp kỷ niệm 40 năm Quốc Hận, cuốn phim Ride the Thunder đã được công chiếu rộng rãi và nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt. Phim dựa theo tác phẩm của Richard Botkin, do đạo diễn Fred Koster thực hiện, nói lên tinh thần chiến đấu can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 8th Apr 2021

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Kỳ 14

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ. Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Chính vì có mài, có giũa, có bạn bè tốt đi kèm, mà chỉ ít lâu sau khi tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, những tân binh mặt búng ra sữa, đã thành những tay súng thiện nghệ, gan lỳ.

Những ngày cuối năm 1974 tôi phải lo tăng cường an ninh tối đa, vì cứ tới dịp Lễ, Tết, thế nào Việt-Cộng cũng quậy phá.

Gần tới Giáng-Sinh tin tức tình báo tới tấp gửi tới. Nào là địch sẽ đánh Quảng-Ðức, sẽ đánh Kiến-Ðức, nên ông liên đoàn trưởng ra lệnh cấm quân, không cho ai đi phép.

Ðể yên tâm, tôi liên tiếp tung các toán Viễn Thám thăm dò địch trong bán kính tối thiểu là bốn cây số từ Kiến-Ðức, khoảng cách đó là tầm bắn trung bình của cối 82 ly và 75 ly mà địch hay sử dụng.

Một buổi trưa, toán 825 của Hạ sĩ 1 Nguyễn Tuấn báo cáo có địch. Tôi đích thân cầm máy,

– Mô tả mục tiêu!

– Em thấy có người đang leo lên dốc! Em tính gài Claymore nhưng tụi nó tới gần quá rồi!

– Bắn như bài đã học!

– Dạ!    

“Bài đã học” là, khi chạm trận, người ở giữa sẽ bắn 30 độ trái, rồi bắn 30 độ phải, còn hai tay súng bên cạnh thì người bên trái bắn về bên phải, người bên phải bắn về bên trái, hai lằn đạn sẽ giao nhau. Những tên địch xuất hiện trong xạ trường trước mặt chắc chắn sẽ chết.

Máy truyền tin của tôi có cần ăng ten cao nên dễ dàng liên lạc với 825 và trung đội đóng trên Bù Row, nhưng tai tôi không nghe được tiếng súng nổ.

Bẵng đi mười phút, là tiếng Hạ sĩ Tuấn vừa thở hổn hển vừa nói,

– Trình Thái Sơn! Em hạ được ba con! Thu ba AK 47! Em đã về tới chân Bù Row!

– Tới Bù Row thì hết lo rồi! Ði chậm lại cho đỡ mệt!

Chiều đó tôi đãi mỗi chú của toán 825 một tô mì ăn liền Vị Hương và một chai la ve.

Ba chàng Viễn Thám này đều ở cùng quê Bình-Ðịnh nên thân thiết với nhau lắm.

Ông Tàu Hỷ chủ Câu Lạc Bộ tiểu đoàn lục ngăn kéo lấy ra 15 nghìn đưa cho Thiếu úy Lý Ngọc Châu.

Chú Châu thay mặt tôi trao cho mỗi Viễn Thám viên 5 ngàn.

Ðây là thông lệ, tôi đề ra, cho mỗi khẩu súng chiến lợi phẩm là 5 ngàn, bất kể súng lớn hay súng nhỏ.

Ngày đánh Ðạo-Trung tiểu đoàn thu được nhiều chiến lợi phẩm hơn, nhưng do công của đồng đội, nên tôi chỉ cho lệnh ông Tàu Hỷ mua cho mỗi người một bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ gọi là hút cho “lấy hương lấy hoa” Chứ thưởng theo cái giá 5 nghìn một khẩu súng thì Câu Lạc Bộ bị lủng vốn mất.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 có nhiều người trùng tên lắm. Ông Ðại úy Ngũ Văn Hoàn cầm quyển sổ điểm danh vừa cười vừa nói với tôi,

– Tui đố ông biết trong tiểu đoàn này tên gì là nhiều nhất?

Tôi đáp liền,

– Tuấn! Mình có bốn thằng Tuấn!

– Sai rồi! Tên Hoàng (Hoàn)! Mình có năm tên Hoàng! Tui đọc tên cho ông nghe nhé: Ngũ Văn Hoàn, Huỳnh Kim Hoàng, Nguyễn Phượng Hoàng, Lưu Ðức Hoàn và Phan Thành Hoàng…

– Ông lầm rồi! Hoàng có “G” khác với Hoàn không có “G” Như vậy mình chỉ có ba “Hoàng” và hai “Hoàn” thôi.

– Vậy tui đố ông, mình có mấy tên Phước.

Tôi trả lời không cần suy nghĩ,

– Mình có ba ông tên Phước là, Trần Văn Phước, Lê Văn Phước và Nguyễn Hữu Phước!

– Ông sai rồi! Còn thằng Binh nhì Phan Phước nấu cơm cho tui!

Lâu lâu, có dịp ngồi chuyện gẫu, tôi với ông Ðại úy Hoàn hay trao đổi với nhau những đề tài chẳng đâu vào đâu, chẳng ăn nhậu gì với nhau, nhưng cũng vì thế mà vài chục năm sau, tôi còn có thể hình dung ra mặt thằng Tuấn Nhí ở Ðại Ðội 4/82 như thế nào, mặt thằng Triệu Tân ra làm sao, và trên cổ thằng Liêu Chí Cường có cái khăn màu gì, ai đã cho nó?

 oOo

Cuối năm, đầu năm…

Hai ngày lễ quan trọng đi qua, tình hình thật là yên. Sáng sớm 26 tháng 12 tôi lên xe phóng về Ban Mê Thuột.

Ngày mai, 27 tháng 12 là kỷ niệm 4 năm ngày cưới của vợ chồng tôi, nhưng tôi lại không dám giao đơn vị cho người khác trông coi, nên tôi báo cho vợ tôi biết rằng tôi sẽ về đón nàng và hai đứa con gái lớn lên Kiến-Ðức chơi vài bữa.

Xế chiều 26 tháng 12 năm 1974 xe của tôi về tới tiểu đoàn.

Hai đứa bé thấy mấy bụi hoa móng tay ở trước cái lều tranh thì thích lắm, cứ quanh quẩn bên các chậu hoa.

Các chú lính trong đội cận vệ cũng thích hai đứa bé, cứ tíu tít hỏi han,

“Hai cháu có thích kẹo không? Hai cháu có thích bông móng tay không?” – “Cháu lớn mấy tuổi rồi? Cháu bé mấy tuổi rồi?”

Chắc nhìn thấy hai đứa con tôi, mấy chú lính cũng thấy nhớ con của họ, gia đình họ còn ở Pleiku! Chúng tôi xa Pleiku đã hơn ba tháng rồi!

Chiều 27 tháng 12 tôi chở vợ và hai đứa con đi thăm cái đập đá nằm cách quận Nhơn-Cơ nửa cây số về hướng Ðông. Mấy cô gái Thượng giặt áo quần dưới suối thật là hiếu khách, giơ tay vẫy chào hai cô du khách tí hon.

Hai cháu bé thấy thế cũng giơ tay cười đáp lại.

Cảnh đang vui thì cái loa truyền tin trên xe oang oang tiếng của đài Tam Quái đặt trên núi lửa Ðức-Lập,

– Thái Sơn đây Tam Quái!

– Thái Sơn nghe!

– Trình Thái Sơn! Ông cụ Trung tá Bố vợ của Thái Sơn vừa vào tiền cứ gọi cho tụi em để thông báo cho Thái Sơn một câu nhắn nguyên văn như sau: “Tụi mày mau báo cho vợ chồng nó biết, đứa con gái út của chúng nó bị ỉa chảy cả ngày, cả đêm! Nếu vợ nó mà không về thì chắc con bé chết mất đấy!”

Thế là hết vui. Chúng tôi quay về đồn. Ðêm đó pháo binh và súng cối không bắn phát nào nên hai cháu bé ngủ ngon. Vợ chồng tôi lại lo lắng, thức trắng, chỉ mong trời mau sáng.

Cháu bé Tiên Giao đang ở nhà với ông bà ngoại, nó vừa dứt sữa mẹ, tập uống sữa bột SMA. Chắc nó chưa quen uống sữa bột nên bị đau bụng.

Trưa 28 tháng 12 vợ chồng tôi và hai đứa con về tới nhà. Bé Tiên Giao vừa thấy mẹ đã khóc oà, rồi rúc vào ngực mẹ.

Vợ chồng tôi vội chở cháu Tiên Giao vào hậu cứ Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân để nhờ Bác sĩ Thại chữa trị cho cháu.

Hôm đó chỉ với một liều thuốc Cloramphenicol cháu Tiên Giao đã qua cơn nguy kịch.

Từ ấy, vợ tôi không dám để bé Tiên Giao rời xa mẹ nữa.

Sau khi tái huấn luyện, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân trở về thay thế cho Tiểu Ðoàn 89, tôi không còn lo theo dõi tình hình hướng Nam nữa. Ông Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nhận lệnh trực tiếp từ liên đoàn và chỉ giữ liên lạc hàng ngang với tôi thôi.

Những ngày đầu năm 1975 tôi cứ thấy bồn chồn lo lắng vô cớ.

Tôi liên tục xin Tiểu Khu Quảng-Ðức ưu tiên cho tôi mỗi ngày một chiếc L 19 để tôi đích thân quan sát vùng trách nhiệm, thay vì giao việc này cho sĩ quan điều không tiền tuyến của tiểu khu.

Tôi đã bay liên tục nhiều ngày trên trời Bù Binh, Kiến-Ðức, Bù Bông mà không thấy gì nghi ngờ.

Nhưng tôi lấy làm lạ là, mỗi khi tôi bay chếch về hướng Tây, giáp ranh Cam-Bốt, hay hướng Nam, giáp ranh Vùng 3 Chiến Thuật thì máy bay của tôi chạm phải phòng không của địch ngay.

Tôi báo cáo chuyện này cho liên đoàn, liên đoàn chuyển tiếp tin này cho tiểu khu.

Vì chuyện này, tôi bị thượng cấp khuyến cáo rằng đừng dính dáng tới chuyện của Vùng 3 làm gì, hãy lo hoàn thành nhiệm vụ của mình trước đã.

Ðâu ngờ, chỉ một tuần lễ sau, tôi nghe tin Phước-Long thất thủ.

Nhiều Quân, Cán, Chính của tỉnh Phước-Long đã lẩn trốn trong rừng, rồi chui ra Quốc Lộ 14 để tìm về với đơn vị bạn.

Trong số những người mà tôi đã tiếp cứu ngày đó có ông Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng ty Cảnh Sát tỉnh Phước-Long.

Sau khi Phước-Long rơi vào tay Cộng-Quân, tôi bị đưa vào thế lưỡng đầu thọ địch, hướng Bắc là Trung Ðoàn 271 Việt-Cộng đã hiện diện từ lâu, hướng Nam lực lượng địch chắc chắn lớn hơn nhiều.

Ðịch bắt đầu chuyển binh bao quanh vùng Tây Quảng-Ðức với tốc độ thực là nhanh. Từ đỉnh những ngọn đồi vùng Tây Bắc, chính Bắc, và Ðông Bắc của tiền đồn Bù Row đã xuất hiện ít nhứt là mười vị trí 12.7 ly. Thời gian này tình hình vùng Ðức-Lập và Tây Ban Mê Thuột lại rất yên tĩnh.

Bỗng một hôm Ðại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư Ðoàn 23 Bộ Binh đã ghé Kiến-Ðức thăm tôi.

Ðại tá Quang nói rằng, ngày nào ông cũng có một phi tuần A 37 hoặc F 5 dự trù, nếu tôi cần thì ông sẵn sàng chia sẻ.

Tôi thắc mắc,

– Ðại tá yểm trợ thẳng cho tôi có làm phật lòng Ðại tá Nghìn không?

Ðại tá Quang lắc đầu,

– Không sao đâu! Anh cho chú toàn quyền, muốn đánh đâu thì đánh! Nhưng đừng cho thằng Nghìn biết!

Sau này tôi tìm hiểu được lý do vì sao Ðại tá Vũ Thế Quang lại cho tôi những phi tuần oanh tạc mà không thông báo cho Ðại tá Phạm Văn Nghìn. Chỉ vì thời gian này Ðại tá Quang có một cánh quân nằm trong Chi Khu Ðức-Lập, đó là một nửa Trung Ðoàn 53 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Xung quanh Ðức-Lập chưa có chỉ dấu nào của địch, nhưng ông Ðại tá Tư lệnh phó Sư Ðoàn 23 Bộ Binh có đầy đủ tin tức kỹ thuật trong tay.

Ông đã biết địch đang tăng cường quân số vùng Bắc Kiến-Ðức. Lực lượng địch tập trung ở đây càng nhiều thì quân của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh càng bị đe dọa. Chỉ sau vài giờ động binh, chúng có thể có mặt ở Ðức-Lập rồi.

Kẹt một điều là vùng Bắc Kiến-Ðức lại nằm trong tay Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng-Ðức.

Ông Nghìn không thích đánh nhau, nếu ông Quang có giao những phi tuần oanh tạc cho ông Nghìn, thì chưa chắc ông Nghìn đã chịu nhận.

Vì thế ông Quang đành lén giao bom đạn cho tôi. Có bom đạn trong tay, tôi sẵn sàng, vui vẻ, thay quân của Ðại tá Quang ngăn cản quân địch từ xa, không cho chúng tiến về Ðức-Lập.

Trung tuần tháng Giêng năm 1975, ròng rã suốt một tuần lễ, trưa nào tôi cũng ngồi sau lưng ông phi công thám thính, bay trên trời cả tiếng đồng hồ,

Hầu như ngày nào chúng tôi cũng bị phòng không bắn.

Ông phi công hình như không nghe tiếng đạn réo, hoặc là ông ta quá lỳ?

Ðại liên phòng không nổ liên tục mà ông ta cứ tỉnh bơ!

Tôi thì cứ nghe “Choác! Choác! Choác!” là thấy lạnh gáy. Chiếc máy bay thì nhẹ tênh, nếu trúng một viên phòng không chắc nó rách toang thành từng mảnh?

Sau năm ngày, với năm phi tuần, mười phi xuất, chúng tôi đã khóa mõm được vài khẩu 12.7 ly.

Nghỉ khỏe được hai ngày, chúng tôi bay trở lại.

Hôm đó trời trong xanh, tôi nhìn thấy trên đường Quốc Lộ 14, cách Kiến-Ðức chừng mười cây số về hướng Bắc có một vật lạ, với cành lá nguỵ trang. Tôi chỉ cho ông trung úy phi công,

– Ðánh theo hướng Bắc Nam thì dễ trúng mục tiêu hơn, nhưng đánh theo hướng Ðông Tây thì an toàn hơn!

Ông pilot chọn hướng đánh Bắc Nam, “Ùm! Ùm!” hai quả bom đánh trật! Bụi đất bay lên cao.

Phút sau, hai chiếc F 5 lại lao xuống! “Ùm! Ùm!” Một quả bom rơi trúng mục tiêu!

Ðó là một xe Molotova chở đạn. Xe bốc cháy, đạn trên xe phát nổ, lửa khói chói lòa.

Bỗng đâu, tôi tối tăm mặt mũi, hoa đăng nổ rợp trời trên đầu tôi!

Từ vùng rừng cây hướng Tây, đạn phòng không 37 ly của địch đua nhau nở hoa “Bụp! Bụp! Bụp!”

Hai chiếc oanh tạc cơ bay vút lên cao rồi biến mất trong vùng mây trắng hướng Bắc.

Chiếc L19 dạt về Nam rồi đáp xuống phi trường Nhơn-Cơ, chiếc xe Jeep của tiểu đoàn đang chờ ở đây để đưa tôi về đồn Kiến-Ðức.

Bẵng đi mấy ngày không có không yểm, một hôm, tôi đang ngồi trên lô cốt theo dõi Ðại Ðội 1/82 thực tập tác xạ súng chống tank XM 202 thì được anh phi công L19 báo cho biết sẽ có hai phi xuất F 5 tới yểm trợ cho Kiến-Ðức.

Tôi yêu cầu,

– Target (mục tiêu) là khe suối nằm sát Quốc lộ 14 cách đỉnh Bù Row 1 cây số về hướng Bắc. Phòng không của địch di động dọc Quốc Lộ 14. Trục đánh an toàn là từ Tây sang Ðông. 

Tiền đồn Bù-Row vừa thả một trái khói vàng theo yêu cầu của Không Quân thì phòng không của Việt-Cộng đã nổ rền trời.

Chiếc L19 đã thấy vị trí chính xác của những cây 12.7 ly đang nhả đạn, nên lập tức, nó phóng ra một trái rocket.

Khói trắng bốc lên! Hai chiếc F 5 theo nhau chúc xuống khu rừng cây xanh.

Từ xa, tôi nhìn rõ những cột khói của những trái bom mới nổ.

Bất ngờ, tôi thấy những tia đạn lửa 12.7 ly đan nhau, rồi một chiếc dù bung ra từ một chiếc F 5! Chiếc máy bay bốc cháy trước khi đâm đầu xuống đất.

Giờ này gió đang thổi từ Ðông Bắc xuống Tây Nam. Chiếc dù lững lờ bay. Vài phút sau, cánh dù hạ xuống khu đồng tranh và bãi sậy, vùng hướng Tây, cách Kiến-Ðức chừng năm cây số.

Tôi vội ra lệnh cho Trung úy Trần Văn Phước đem Ðại Ðội 3/82 và một toán Viễn Thám xuống núi trực chỉ hướng Tây để cứu bạn.

Cũng lúc này có tiếng trực thăng từ Nhơn-Cơ. Tôi được thông báo rằng Trung tá Hoàng Kim Thanh đang trên đường bay tới chỗ tôi.

Trực thăng đáp trên Tỉnh Lộ 344, tôi xách cái máy PRC 25 leo lên đứng sau ghế của người hoa tiêu chính.

Tôi chỉ cho ông phi công vùng chiếc dù mới đáp xuống.

Chiếc L19 và chiếc C&C bay vòng vòng hồi lâu mà không thấy dấu vết gì của anh phi công lâm nạn.

Khoảng nửa giờ sau một hợp đoàn gồm 2 chiếc UH1 và hai trực thăng võ trang xuất hiện. Trong đó có một chiếc là trực thăng tản thương.

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

1st Apr 2021
Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Kỳ 13

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi.Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Trong Câu Lạc Bộ tiểu đoàn, tôi đang ngồi nghe ông Trung úy Ðăng, sĩ quan tiếp liệu trình báo hồ sơ chứng minh ẩm thực thì thấy Thiếu úy Thủy thò đầu vào,

– Trình Thiếu tá! Lính của Tiểu Ðoàn 63 đang gom súng giữa đường, ngồi biểu tình, đòi Thiếu tá ra giải quyết vấn đề nuôi ăn.

Tôi đứng dậy, vừa bước khỏi cửa, đã chạm mặt ông Ðại úy Ðại đội trưởng của Tiểu Ðoàn 63 tăng phái.

Ông đại úy mặt đỏ tía tai, không thèm chào kính, giơ ngón tay trỏ chỉ vào mặt tôi rồi giận dữ, quát lớn,

– Thiếu tá có tham nhũng thì cũng vừa vừa thôi! Nếu có ăn bớt, ăn xén thì cũng phải che đậy, đừng lộ liễu quá! Ông mà làm quá, chúng tôi không còn nể nang ông nữa đâu!

Bất ngờ đối mặt với một sĩ quan cấp dưới dám vô cớ lớn tiếng sỉ nhục mình, tôi định ra lệnh cho mấy anh cận vệ xông vào trói ông đại úy lại để hỏi chuyện, nhưng mắt tôi bất chợt nhìn thấy trên mặt Quốc Lộ 14 có một đống súng cá nhân và cộng đồng chất xung quanh những phần thực phẩm tươi mới chia.

Cách đó không xa, là những Biệt Ðộng Quân vừa quan, vừa lính, ngồi bệt thành từng hàng trên mặt đất.

Tôi nghiêm giọng hỏi ông đại úy,

– Các anh muốn gì?

Ông đại đội trưởng 63 bước ra giữa đường, vừa nhảy tưng tưng, vừa giơ tay chỉ vào một đống thực phẩm tươi đang nằm trên tấm poncho, miệng la toáng lên,

– Chúng tôi muốn Thiếu tá giải thích rõ ràng, nguyên nhân vì sao một phần thực phẩm tươi của 63 lại không bằng một nửa của các bạn 82?

Sau đó anh ta đưa tay vẫy tôi với thái độ vô cùng hỗn xược,

– Ra đây! Thiếu tá ra đây để thấy hai phần tiếp tế của 82 và 63 cách biệt như thế nào?

Những quân nhân trong đoàn người ngồi tụ họp nơi ngã ba cũng phụ họa theo,

– Bất công! Bất công!

Thì ra, quân nhân đơn vị này đang biểu tình ngồi.

Họ chờ tôi xuất hiện để họ xử tội “Chặn bớt tiền ăn của lính!”

Tôi nén cơn giận, vừa bước tới quan sát những vật nằm trên mặt cái poncho, vừa lớn tiếng gọi,

– Trung úy Ðăng! Ra đây cho tôi hỏi!

Ông sĩ quan tiếp liệu của Tiểu Ðoàn 82 vội vàng chạy tới.

Tôi chỉ vào hai phần thực phẩm tươi vừa tiếp tế, một lớn, một nhỏ, quả là có sự chênh lệch rất xa,

– Chú có nhận tiếp tế cho hai đại đội của 63 tăng phái không? Sao có sự chênh lệch lạ kỳ thế này?

Trung úy Ðăng chưa kịp mở miệng, ông đại úy đã phang ngang,

– Thày trò ông còn bày trò giải thích, giải nghĩa dài dòng. Ðối xử bên trọng, bên khinh chình ình như thế này mà còn giả mù sa mưa gì nữa!

Thấy ông đại úy này hỗn hào quá, tôi tức mình quát lớn,

– Châu! Khóa mõm thằng này lại!

– Dạ!

Ông Thiếu úy Lý Ngọc Châu từ nãy tới giờ cứ hằm hằm chờ, nay được lệnh của tôi, lập tức khoát tay, bốn anh cận vệ lập tức xông vào khóa tay ghịt đầu ông đại úy bắt chúi mũi xuống đất.

Trung úy Ðăng bực bội hét lên,

– Ðù mạ tụi mi! Sĩ quan tiếp liệu 63 tiếp tế cho tụi mi chứ 82 có dính dáng gì tới chuyện này đâu mà tụi mi đòi biểu tình, đòi khởi nghĩa, đòi chống đối?

Nghe thế, tôi hất hàm hỏi ông đại úy,

– Nghe hiểu chưa? Hai đại đội của 63 chỉ tăng phái hành quân cho 82 thôi! Tiểu Ðoàn 82 không nuôi ăn các anh! Các anh muốn kiện tụng thì về gặp ông Thiếu tá Ðàng.

Lúc này ông đại úy mới vỡ lẽ ra, mặt ông ta hiện rõ vẻ ngượng ngập, sượng sùng. Ông ta ấp úng,

– Trình thiếu tá! Em xin lỗi Thiếu tá!

Tới khi đó tôi mới để ý nhìn kỹ, trên mặt Quốc Lộ 14 có hai phần tiếp tế mười ngày thực phẩm tươi nằm cạnh nhau.

Phần ăn của một người lính 82 gồm có một cái bắp cải, một chai xì dầu, mười con cá khô, một gói mắm ruốc, một con gà còn sống, cùng một phần sẽ được chia từ hai con heo to đang bị trói nằm kêu “Eng! Éc!” ở đầu hồi của Câu Lạc Bộ.

Bên cạnh đó là phần tiếp tế cũng mười ngày ăn cho một Biệt Ðộng Quân 63 gồm có mười con cá khô, một chai xì dầu, một gói mắm ruốc, một cái bắp cải, một gói muối mè, không có miếng thịt nào cả.

Sự chênh lệch quá đáng này đã là nguyên nhân làm mờ mắt ông đại úy nóng tính. Tôi nói nhỏ,

– Chú Châu thả ông đại úy ra!

Lúc này mặt mày ông đại úy đại đội trưởng tăng phái trông thật là thảm hại, ông ta cứ cúi đầu, liên tục nói một câu hối lỗi,

– Em xin lỗi Thiếu tá! Em xin lỗi Thiếu tá!

Tôi cũng thấy tội nghiệp cho cái ông sĩ quan ruột ngựa này, nên ôn tồn,

– Thôi! Bỏ qua đi! Chú cho anh em lấy súng ống rồi trở về vị trí! Anh sẽ nói chuyện với Thiếu tá Ðàng về chuyện này.

Không cần vòi rồng, không cần hơi cay, đoàn người biểu tình ngồi tự động giải tán.

Ngay trưa hôm đó anh sĩ quan tiếp liệu của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã có mặt ở Ngã Ba Kiến-Ðức, trên tay anh ta là tờ cam kết chỉ tính tiền tiếp tế kỳ này cho các Biệt Ðộng Quân 63 tăng phái với cái giá là ba ngày.

Hôm sau, Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân chạy lên Kiến-Ðức năn nỉ tôi cho phép các quân nhân tăng phái của ông được tiếp tế chung với Tiểu Ðoàn 82 suốt thời gian họ ở với tôi.

Hai sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn sẽ thanh toán tiền bạc với nhau.

Trước lễ Giáng-Sinh năm 1974 tôi nhận được cái đơn xin thuyên chuyển tập thể của hơn một trăm quân nhân của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân tăng phái xin về phục vụ dưới quyền Thái Sơn.

Ðọc cái đơn đó tôi chỉ mỉm cười, vì tôi biết, dù tôi có dang đôi tay chào đón họ, thì cấp trên cũng chẳng bao giờ đồng ý cả.

Tôi đã được Thiếu tá Trần Ðình Ðàng tâm sự về nỗi khổ tâm mà anh ấy đang gánh chịu.

Nguyên nhân của sự tiếp tế thiếu hụt này xảy ra chỉ vì ông sĩ quan tiếp liệu 63 đã lỡ đốt cháy hết tiền ăn tháng đó trên chiếu bạc!

Anh Ðàng mới từ Vùng 3 thuyên chuyển ra đây, lạ nước, lạ cái, nên bị bọn tham nhũng thâm căn, cố đế của vùng này qua mặt.

Chúng nó ăn tới cái khố của người lính mà anh Ðàng không hay!

Mỗi khi tiếp tế, chúng nó mua đủ thứ ngon ngọt, thơm tho cho ông tiểu đoàn trưởng, trong khi đó thì lính tráng bị bóp hầu, bóp họng, ăn chặn, ăn bớt mà không dám kêu ca.

Anh Ðàng hỏi tôi làm sao chấm dứt tình trạng này? Tôi chỉ cố vấn cho anh một câu thật ngắn,

– Hãy trừ tiền ăn tất cả mọi người trong tiểu đoàn, từ ông thiếu tá cho tới anh binh nhì, không ngoại trừ ai.

Hãy chia đều khẩu phần cho tất cả mọi người giống nhau, kể cả tiểu đoàn trưởng.

Có như thế, khi nhìn vào phần ăn của chính mình, ông chỉ huy mới biết kỳ tiếp tế đó, người lính được nuôi ăn ra làm sao.

Nghe rồi, anh Trần Ðình Ðàng mới hiểu nguyên nhân vì sao cũng đồng thời là người chỉ huy, mà có người được lính hết lòng thương yêu, quý mến, lại có người bị lính ghét cay, ghét đắng.

Anh gật gù,

– Chuyện này thực là giản dị, vậy mà bao lâu nay anh đã ơ hờ, không chịu để ý.

Tôi còn chỉ cho ông đàn anh cách thức khước từ lời mời chào của các nhà thầu, bất kỳ người đó là ai.

Ngày đó, năm 1973-1974, ở Pleiku, người đứng thầu cung cấp thực phẩm tươi cho các đơn vị Biệt Ðộng Quân là cựu Ðại tá Nguyễn Văn Huy, Nguyên chỉ huy phó Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 đã giải ngũ.

Không qua tay nhà thầu, thực phẩm sẽ tươi ngon hơn, và dễ thay đổi tùy theo ý thích của anh em.

Ðiều chắc chắn giá hàng sẽ rẻ hơn là nhận của nhà thầu. Vì lý do đó mà lúc nào phần ăn của quân nhân 82 cũng nhỉnh hơn phần ăn của các bạn ở đơn vị khác.

Cựu Chuẩn Úy Nguyễn Hữu Phước – USA 2019

oOo

Ngọc bất trác bất thành khí…

Từ khi về Kiến-Ðức, tôi giao chú bé chết nhát, đứng khóc lúc xuất quân bên đồi Ðạo-Trung ngày nào cho hai anh lính đã trưởng thành trong khói lửa Pleime 1974 kềm kẹp. Hai anh này là Binh 1 Liêu Chí Cường và Binh 1 Ðức Ðiếc. Ba chàng này có vẻ hợp nhau lắm.

Trung đội trưởng của ba chú này là Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước người đã kéo lá quốc kỳ lên ngọn cột cờ trên đỉnh núi Chư Hô, ở Pleime vào lúc nửa đêm mùng 2 tháng 9 năm 1974 sau khi tái chiếm ngọn đồi này.

Ngày tiếp tế định kỳ tháng 11 cũng là ngày hoán đổi vị trí trú quân của các đại đội.

Ðại đội thượng phiên sẽ lãnh thực phẩm trước, đại đội hạ phiên sẽ nhận hàng trễ hơn.

Nhận tiếp tế xong, Ðại Ðội 4/82 rời Kiến-Ðức lên thay quân cho Ðại Ðội 3/82 ở làng Bù M’Bré.

Riêng Trung đội 3/4/82 của Chuẩn úy Phước sẽ tách ra khỏi đại đội để lên thay thế cho một trung đội của Ðại Ðội 3 trấn giữ tiền đồn Bù Row.

Ðại úy Ngũ Văn Hoàn là người theo dõi vụ đổi quân, chờ mãi mà vẫn chưa thấy trung đội của Chuẩn úy Phước tới mục tiêu. Ông Hoàn cứ đi ra, đi vào không yên, rồi chạy tới lều của tôi,

– Trình Thiếu tá, Ðại Ðội 3 về tới Ðồi Tây rồi mà thằng Phước còn chưa tới Bù Row, khiến cho tôi lo quá!

Tôi lấy làm lạ, từ Bù M’Bré tới Bù Row chỉ cần hai mươi phút di chuyển bình thường thôi, vậy mà cả giờ đồng hồ rồi mà Phước chưa tới không biết vì sao?

Cũng lúc đó trung đội của Ðại Ðội 3/82 trên đỉnh Bù Row báo cáo có tiếng súng bắn nhau vùng hướng Bắc Bù Row.

Tôi cho lệnh Thiếu úy Thủy đem thành phần còn lại của Ðại Ðội 4/82 cấp tốc di chuyển tới Bù Row để tiếp cứu cho Chuẩn úy Phước.

Từ đồi Kiến-Ðức tới Bù Row xa gần bốn cây số, không nghe được tiếng súng giao tranh, nên tôi đem theo toán Viễn Thám 821 chạy xuống vị trí của Ðại Ðội 2/63 bên suối Dak Blao để theo dõi tình hình.

Nếu Ðại Ðội 4/82 đụng lớn tôi sẽ mang Ðại Ðội 2/63 lên tăng cường.

Tôi tới chân cầu Dak Blao thì có tin Chuẩn úy Phước đã về tới chân đồi Bù Row, tất cả anh em đều có mặt, chỉ một người bị thương đó là ông Chuẩn úy Trung đội trưởng.

Biết tin này, tôi cho pháo binh bắn hai chục tràng đạn nổ trên vùng một cây số Bắc Bù Row, nếu địch còn lẩn quất trong khu vực này thì cũng phải sợ.

Sau đó, tôi cho Ðại Ðội 4/82 cắt cử một trung đội khác làm nhiệm vụ giữ Bù Row; Trung đội của Chuẩn úy Phước cùng thành phần còn lại của Ðại Ðội 4 thì rút về tuyến phòng thủ Bắc Kiến- Ðức.

Gần một giờ sau, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước về tới chân cầu Dak Blao.

Vừa thấy cái mặt sưng vù của chú Phước, tôi vội vàng hỏi,

– Có đau lắm không? Chuyện đầu đuôi ra sao? Kể cho anh nghe đi!

Miệng bị nhét một cục bông gòn tổ chảng, nhưng ông Chuẩn úy Trung đội trưởng cũng cố gắng kể cho tôi hay toàn bộ sự kiện.

Ðây không phải là lần đầu Phước dẫn quân lên điểm Bù Row. Vậy mà kỳ này chú ấy đi lạc!

Cách Bù Row gần nửa cây số thì Quốc Lộ 14 tẻ ra hai nhánh, một nhánh đi chếch về Tây tới chân Bù Row, nhánh thứ nhì đâm thẳng về hướng Bắc.

Quân ta nhắm mắt đi về Bắc! Tới khi nghe có tiếng hô “Ðứng lại!” mới biết mình đã lạc vào vùng địch.

Trung đội trưởng Nguyễn Hữu Phước chưa kịp gỡ khẩu M 16 ra khỏi vai thì ba tay khinh binh đi đầu đã nhanh như máy, bóp cò.

“Ðùng! Ðùng!  Ðùng!” đạn nổ.

Tên Việt-Cộng gác trên chòi canh bị bắn chết ngay. Quân ta quay đầu chạy.

Vài phút sau, địch từ trong rừng túa ra, bắn như mưa. Cùng với tiếng AK réo là tiếng la: “Hàng sống! Chống chết!”

Phước nói,

– Kỳ này đi tiền đồn, sợ bị địch tấn công bất ngờ nên em cho đem theo nhiều lựu đạn lắm! Khi biết mình bị lạc, lại thấy địch ào ra đông quá, em bèn cho hai tiểu đội chạy trước, em và tiểu đội còn lại, luân phiên đánh lựu đạn cản địch, rồi nhanh chóng rút lui theo chiến thuật sâu đo. Mấy thằng Việt-Cộng này cũng nhát lắm, không dám xung phong, chỉ mạnh miệng la hét thôi!

Kỳ lạ là, chú Phước không bị bắn trúng mặt, trúng đầu, trúng má, nhưng lại bị gãy một cái răng! (?) Chẳng biết cái răng đã bị gãy vì trúng đạn hay trúng mảnh lựu đạn?

Phước ôm cái má sưng vều,

– Trong khi súng đạn nổ ầm ầm, bụi khói mù mịt, em bỗng cảm như có cái búa đập vào hàm, rồi máu tuôn ra miệng. Em cũng chẳng biết vì sao mà em bị bể mất một cái răng?

Phước đưa tay chỉ cho tôi ba anh lính đi sát sau lưng,

– Em có ba thằng đồ đệ giỏi lắm! Ðánh giặc như ciné! Kỳ này Thái Sơn nhớ khen thưởng tụi nó nhe!

(Ciné: phim ảnh)

Thì ra ba thằng đồ đệ của chú Phước chính là Binh 1 Liêu Chí Cường, Binh 1 Ðức Ðiếc và anh chàng lính chết nhát.

Trong lúc súng nổ ran, nhìn thấy miệng ông trung đội trưởng đầy máu thì ba anh này la lên,

– Chuẩn úy chạy đi! Tụi em đoạn hậu!

Hôm đó ba anh lính trẻ được dịp trổ tài thao lược, bằng cách luân phiên nhau, vừa bắn vừa lui, hộ tống ông trung đội trưởng, an toàn về tới chân đồi Bù Row.

Nghe chú Phước kể lại chuyện này, tôi thích quá, bèn kêu “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” lên Câu Lạc Bộ cùng tôi cụng ly, mỗi người một chai cổ cao.

Anh chàng Biệt Ðộng Quân chết nhát uống chưa hết nửa chai bia Con Cọp, mặt mày đã đỏ gay, giơ hai tay lên trời, “Em xin chịu thua!”  

Người xưa nói rằng “Ngọc bất trác bất thành khí: Ngọc mà không mài giũa thì cũng chẳng có giá trị gì!”

Nhìn thằng em, tôi thấy ấm áp trong lòng.

Thế là, chỉ sau hai tháng mài giũa, cục đá thô kia đã thành một viên ngọc quý.

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 16 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 22

Cũng như mọi đêm hè ấm áp, mấy mụ sồn sồn ở đại lộ số 10 quây quần tụ họp nói chuyện tào lao. Đêm nay chủ đề xung quanh vấn đề thời sự những nỗi bất hạnh của gia đình Angeluzzi Corbo. 
Mới đầu là thương xót chứ? Đời mụ Lucia Santa khổ quá. Chồng thứ nhất tử nạn. Chồng thứ hai chết trong nhà thương điên. Có đứa con trai ngoan ngoãn đang kiếm ra tiền thì xe lửa đụng chết. Bao nhiêu xui xẻo dồn dập là “họa vô đơn chí”. Như vậy thì có trời, có đất ở chỗ nào? 
Bao nhiêu cái đầu gật gù khen phải. Cho đến khi một cái đầu bạc khẽ lắc … là ngưng lại hết. Một mụ già bạc trắng đầu vì những đau khổ chồng chất của cuộc đời – ai chẳng phải công nhận – sau mấy cái lắc đầu mới gật gù: đúng hết … song đã chắc gì Lucia Santa khổ. 
Này nhé, mụ có đứa con gái lớn có học đàng hoàng. Thằng chồng nó cũng tử tế quá chứ? Còn đám con trai thì ở đây đã chắc có ai bằng? Thằng lớn Lorenzo thật ngon lành, vợ ngoan ngoãn, con một đống … giờ này hiếu thuận chính cống con trai gốc Ý: nó làm Hỏa xa chăm chỉ, có lộn xộn với cò bót hồi nào? Thằng Sal ư? Khỏi nói là đi học toàn phần thưởng danh dự, mai sau giáo sư chắc. Còn Lena đứa con gái út thì nết na vậy là kiểu mẫu còn gì? Vâng lời mẹ, chăm làm … việc gì trong nhà khỏi tay nó? 
Thử hỏi còn muốn gì? Có ai nghe thấy đám con Lucia cãi lời mẹ đâu? Hai đứa lớn ra ở riêng cả mà tháng nào không gửi tiền biếu mẹ đâu? Còn thằng Gino phong bì lĩnh ra là đưa về nguyên vẹn. 
Năm đứa con được cả. Đồng ý là hai đời chồng không đậu … nhưng chồng con mà như mấy thằng đàn ông trời đánh xóm này thì thà ở góa cho sướng. 
Dĩ nhiên mới có chừng ấy con chưa phải là có phúc. Nhưng đừng quên là ngay thằng Vincenzo chết rồi cũng chưa dám làm gì để mất danh giá gia đình nghe? Nó đau … nó đi không vững té vào đường ray xe lửa quả là rủi ro . Nhưng tai nạn mà, biết nói sao? Đám ma đông đủ, chôn đất thánh đàng hoàng chứ bộ? Kể ra thằng bé cũng tội nghiệp! Số mệnh bắt nó thế … ngay từ hồi nhỏ cũng đã rầu rầu tối ngày. 
Phải nói có bắc đồng cân lên cũng khó nói Lucia Santa sướng hay khổ. Đúng thế, bà con lối xóm này thiếu gì người cực khổ hơn mụ quá nhiều … và nói cho ngay có một người nào không từng chôn ít nhất là một đứa con? Chồng tử nạn thiếu gì? Con cái sinh ra tật nguyền … bệnh sơ sơ cũng lăn cổ ra chết mới là đau kia! 
Phải công nhận là Lucia Santa khôn ngoan, dạy dỗ con cái được lắm chứ? Đâu có nạn con gái lớn mang bầu mà tìm thủ phạm, tác giả mấy ngày không ra? Con trai có đứa nào ra tù vào khám hay cứng đầu đến một chiều … lên chơi ghế điện đâu? Rượu chè, cờ bạc, trai gái còn không hề mà? 
Đời đàn bà sinh ra để gánh chịu nhục nhằn, khổ sở mà tránh né được đến như Lucia Santa là nhất! Đám con cái lành mạnh, tương lai bảo đảm, sáng sủa rõ … chỉ nay cho mẹ nhờ, tha hồ khá. 
Chẳng qua là phải can đảm. Đây là Mỹ quốc chứ đâu phải Ý Đại Lợi? Số mệnh có khắt khe vẫn còn chiến thắng được mà? Ở đất nước này con trai lớn lên có quyền cổ cồn ca vát đi làm, mưa không đến mặt, nắng không đến đầu. Con gái có quyền cắp sách đi học, giày cao gót, tất lụa chứ đâu phải chân heo tối ngày và vác củi quần quật tới cong lưng … mang sức người thay cho lừa, ngựa? 
Bởi vậy, sung sướng biết hưởng thì khổ sổ phải chịu chứ? Vả lại, mấy ai sinh ra đời mà không khổ, không khóc một lần? Họa chẳng chỉ có mấy người chết! Phải rồi chết là hết khổ, chết được là sướng thân. 
Mấy mụ già thấy cái chết bỗng được hoan nghênh bèn vỗ tay loạn, mắt tóe lửa … bao nhiêu tinh thần vận dụng hết. Chuyện gì xảy ra trong xóm cũng biết rành, biết hết và động mang ra kể là cãi om sòm, nghe con cái nhà nào dám làm bậy là chửi ào ào. Tuy nhiên có ly cà rem lạnh buốt hay miếng xăng uých nóng hổi cũng không quên chiếu cố mạnh mẽ, thản nhiên. Mấy hàm răng già lão đâu chịu tha lớp bánh mềm mại phết đầy sốt cà chua béo bổ hay pho mát nóng chảy ngon lành? Những quân láo lếu dám đụng đến đời sống của họ hay của con cái họ dĩ nhiên cũng bị nghiến ngấu tương tự. 
Họ còn phải sống. Cả cái thành phố xi măng, sắt thép, thủy tinh này … cũng như lề đường đá xanh, mặt đường đá tảng kia vững chắc là vậy một ngày nào sẽ trở thành tro bụi chắc! Nhưng họ, họ còn sống và sống vững.