This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Một Chuyện Tình Xảy Ra Ở Vũng Tàu Sáu Chục Năm Về Trước
Tôi đến Cấp chiều hôm qua. Phòng tôi ở năm ngoái, đã có gia quyến một ông giáo già choán rồi. Mấy phòng kia đều có người mướn, tôi đành đi kiếm chỗ khác. Người quản gia nhà dưỡng bịnh ở Bãi Sau chỉ cho tôi một biệt thự nhỏ hiện chủ ở Sài Gòn giao cho một tớ già coi giữ, có thể hỏi ở tạm được. Và tôi đã được ở ngay, nhà tầm thường lắm, kiểu bánh ếch một mái, không chi đặc sắc nhưng được cái là day mặt tiền ra biển), tứ bề là bốn vách tường vôi trắng, trơ trẻn không tranh ảnh, một bụi trúc đồi-mồi lơ thơ che cửa, bàn ghế lôi thôi, hai chiếc giường đồng Hồng Kông, nhưng thảy đều sạch, không chút bụi, mò-hóng hay váng nhện một chiếc bàn viết cẩm-lai kiểu bàn thượng-thơ (bureau-ministre), một tủ kiếng “hột vịt” (tủ áo có kiếng soi bầu-dục), hai kệ và bốn ghế mây đan, ghế nầy đều bọc vải bố trắng che bụi, đủ biết sự kỹ lưỡng tiêm tất của chủ gia. Tôi nhận lời chia mướn nhưng còn e ngại và hỏi: “Rồi đây chủ nhà ra đây thì tôi làm sao?” Đã có trả lời: “Đừng ngại. Chủ nếu ra thì sẽ có giây thép cho hay, sợ gì!”
Và quả thật, tôi đã chẳng sợ gì và đã ở đây tự hôm nào…
Sớm mai nầy, nhơn lục soạn xốc xáo kiếm hột nút áo măng-sết rơi dưới ngăn tủ bàn viết, tôi khuân luôn hộc tủ ra và dòm tận trong đáy, vừa gặp nút áo đang tìm kiếm và cũng gặp một cuộn giấy tròn tròn bèo nhèo màu xanh da trời, rõ ra là một cuốn sổ tay nhỏ, nằm từ đó tự bao giờ, bụi đóng lem dơ, và vì cái ngăn kéo ra kéo vô đã bao phen đè ép vò cuốn quiếu, chẳng ra hình, và đã nhờ tay tôi hôm nay thấy lại mặt trời và được giải phóng từ đây!
Ban đầu, tôi định không đọc không coi làm gì, biết chuyện của người khác làm gì, nhưng tánh tọc mạch khó dằn và vơ vẩn mãi, rốt lại, buổi trưa khi trở về và ngồi vào bàn, tôi đã vừa lua cơm vừa lấy ra đọc.
Chữ viết mềm mại như yếu đuối, chữ t gạch dài, chữ n kéo dài… khiến tôi định tác giả biết đâu và há chẳng là một người ắt đẹp và hữu tài, nhưng tiếc thay, trong tập, mỹ danh không đề rõ và chỉ vỏn vẹn hai chữ tắt “K…C, Kim Chi, Kim Cương, Kim Cúc, đều có thể được và cần thiết họ là gì, không viết.
Lẽ ra tôi nên nín giấu ém nhẹm chuyện nầy luôn mới phải, nhưng như vậy thì đóa hoa thơm nầy làm sao tỏa đặng mùi hương? Sau rốt, tôi không dám giữ làm của riêng, nên mạn phép sao lục ra đây, gọi “món hải vị” từ Cắp mang về cống hiến cho người nào hữu duyên thưởng thức.
Quả tim son của một hương-khuê, nếu thỉnh thoảng lâu lâu được giãi bày, như tấm lòng của “quí nương” nầy, thì biết đâu trong vườn hoa nữ giới, há không điểm xuyết thêm xiết bao hoa thơm cỏ lạ, và họ chẳng cho chúng ta hưởng vài trang đặc sắc?
Mai sau, nếu mấy hàng thô kệch nầy may lọt vào dưới mắt tác giả tập “Cuốn sổ tay” thì xin cười mà tha lỗi cho. (Xin xí xóa cho nhau, ấy vậy mà!)
Và sau đây là mấy trang “ký sự” ký K.C. và xin chép y nguyên văn:
“Cap… 24 juillet 193… Vì sao tôi đến chốn nầy? Vì sao tôi lại sấn thân vào chỗ sơn cùng thủy tận nầy? Non kia thấp bé, như xứng với chút thân phận mọn mày của tôi! Biển nước ồn ào, với tấm lòng thổn thức của tôi rất là tương đối. Đến cái chợ quê mùa thấp bé kia cũng hữu tình cùng tôi trách sao tôi không lưu luyến chốn nầy. Từ rày tôi sẽ được thỏa thích mặc lòng đem quả tim tê tái gột rửa với gió non, bọt biền nầy! Trong đám rừng lé đé bọc theo bãi, thỉnh thoảng ngọn gió mát nhẹ nhàng đem lại những tiếng ì ầm, những tiếng vọng toàn là buồn thảm thiết tha thật xứng thật hạp với mảnh tình u uất trong lòng tôi biết mấy! Thôi thì từ rày, xin thề chẳng biết thương ai nữa được! Cái mối sầu nầy há chẳng vì tình mà ra?
Vô tình bạc lang ôi! Vậy mà tôi tưởng anh thương tôi thật. Tôi đã lầm, lầm to rồi! Bao nhiêu lời anh bày tỏ, êm ái ngọt ngào làm sao, lên bổng xuống trầm làm sao… nay rõ lại, toàn là lời học thuộc lòng và đã nói đi nhái lại biết bao nhiêu lần cùng những ai vị nhẹ lòng và đã như tôi,… mấy phen thất tiết, nói nghe mắc cỡ quá! Ớ cái người bạc tình làm sao? Tôi mừng chưa kịp no thì cái tòa hạnh phúc của hai ta đã đổ nát. Khốn nạn vậy thay! Rồi từ đó trách ai vắng mặt biệt hình, không một lời giã từ cho mát dạ! Thôi rồi, còn gì nữa mà vui với đời? Tôi còn vừa đủ đảm lực để gượng sống… Tôi nay xiết bao mờ mệt, đau đớn, ê chề chỉ còn một phương là dun rủi đi mãi đi hoài, để trốn sao khỏi lương tâm cắn rức. Tôi đi, đi mãi, đi hoài, mà khi đến chốn nầy sao lại ngừng chơn chi đây cũng lạ! Hay là tại cảnh trí nầy? Bãi lặng, đêm thanh, trời vẫn xanh ngắt một màu, sóng vẫn đánh lô nhô không thôi vào chân núi, và có phải vì vậy rồi tôi tưởng là phải chỗ cho tôi nương náu, để yên ủi tấm lòng nát ngướu chưa nguôi!
26 juillet…. Chỗ nầy thanh tịnh thật! Đẹp nhứt là vào buổi chiều. Đứng dựa cửa sổ phòng mà dòm ra, thì nơi khá xa có một lùm cây giăng ngang… mặt trời vừa nhận nửa vành xuống nước, bao nhiêu nhánh cây tàu lá đều chói ánh một màu hồng, ngoài kia mặt biển lóng lánh nhấp nhô như đơm vảy bạc. Nắng dịu lần, gió hiu hiu thổi, giờ đó là giờ tôi mến nhứt. Nhiều buổi tôi lấy sách ra đọc, mà cơ khổ, tôi có đọc được chữ nào đâu? Tôi chỉ thẫn thờ nghĩ xa nghĩ gần rồi tôi xếp sách mặc tình cho trí óc nhẹ nhàng bay theo cánh buồm mấy chiếc ghe bầu lả lướt trên ngọn sóng, khi lại phơi phới theo làn khói một chiếc tàu… Ôi! biết bao tình ái tôi đã gởi sang Tây sang Tàu, bông lông theo mây theo gió! Hoặc tôi là con én nhẹ nhàng, bay liệng qua đảo nọ đảo kia, hoặc đậu trên cọng rác cánh bèo, như vậy mà tự do thong thả! Có khi tôi đọc lớn thơ cũ, rồi theo giọng lá cây xào xạc và tiếng chim rủ rỉ đâu đó… rồi mảnh tim tôi ầm ỹ ra ra từng miếng một! Than ôi! Chớ chi tôi còn có thể gọi là có phước trên thế gian nầy!
29 juillet. Thôi rồi! Tôi tưởng là đến đây để hưởng thanh nhàn vắng vẻ, tôi lại một phen lầm to nữa rồi! Hồi chiều nầy, tôi gặp một người dáng bộ thơ sanh trên con đường mòn đi ra Bãi Sau. Dáng còn non trẻ lắm. Trên mặt in sâu cái nụ cười của… chưa biết gì!
Người ấy khi thấy tôi thì có vẻ ngạc nhiên. Lúc giở nón chào tôi, tôi có ý dòm và thấy cặp má đỏ ửng. Con mắt y ngó xuống đất, nhưng đủ cho tôi thấy sáng quắc, như lưỡi gươm… Mắt đẹp làm sao! Thôi, mai nầy tôi phải lên đường… Tôi không ở đây nữa làm chi… Tôi đi kiếm buồn, kiếm thảm, tôi muốn để một mình tôi lặng lẽ đối với mạch sầu không nguôi nầy…
Ai cầu, ai mượn cổ tri-âm tri-kỷ?
30 juillet. Tôi lại gặp người đó nữa… Gặp trước cửa nhà hàng…
– Cảnh quê mùa như vầy, dạ thưa cô, có làm cô cảm động chút nào không?
Tôi không nhớ tôi đã trả lời làm sao và đã nói những gì? Tôi chỉ nhớ tôi đã cho biết tôi đi tìm sự vắng vẻ tịch mịch… nhưng người đó đã mạnh dạn ngó tôi ngay mặt và nhỏ nhẹ:
– Thưa đẹp và trẻ như cô lại phép nào được chất chứa sự buồn vào lòng!
– Ôi! Tôi không biết tôi còn đẹp còn trẻ nữa hay không! Tôi chỉ biết là hiện giờ tôi mờ mệt lắm. Mà còn muốn đẹp muốn trẻ để làm gì nữa chớ? Tôi còn thương ai được nữa chớ? Mối sầu nầy chất chứa bên lòng, gạt hoài nhưng vẫn còn hoài… Ngày dài không đủ để ru cơn sầu, có đâu…
1 août… Sớm nay y đem xe thổ mộ lại và mời tôi lên núi lựa mãng cầu chín bói và xem pháo đài trên đảnh. Y phải thể người lắm. Bộ tịch mỹ miều mà quá quỉ! Buổi chiều khi đưa tôi về chỗ ở, hình như mái tóc tôi có bị phớt nhẹ. Thằng cha gì, nhát quá chừng chừng!
3 août… Có nhát nữa đâu! Cặp mắt trong ngần như muốn nuốt… Tay vụt chạt… nhột mà không cản ngăn kịp!
Y có vẻ tuổi lớn hơn tôi, mà còn bợ ngợ lầm. Chao cha! Mà tôi phải đề phòng, kẻo lại sa vào bẫy nữa? Không mà! Không sao mà! Sầu kia tôi lại há quên!
5 août… Tôi thương da thương diết nữa rồi? Thế mà tôi đã quá thề không thương ai nữa hết! Mà làm sao chống cho lại cặp mắt nài rủ với gương mặt non nhẻo khẩn cầu kia? Mặt non thêm mái tóc dìu dịu, êm êm kia.
Tôi có nói vào buổi chiều cho ông già giữ nhà biết, tôi phải dọn đi chỗ khác, một cái phòng nhỏ hay một gian nhà u tịch, tôi muốn làm sao cho chẳng có một ai khuấy rầy, làm rộn tôi buổi nầy. Cái sầu của tôi không dung tha cho ai được lại gần tôi cả!…
Nhưng ông lão bộc quân gia già đáng kính, cười cười chỉ cho tôi ba chữ bảng “Nghinh Phong Đình” viết quốc ngữ, khen ai khéo lựa cho nhà nầy!
Y, người đó họ Mai, tôi đặt đại là Mai Sanh. Tôi và Mai Sanh sẽ ở đây đến bao giờ? Ôi, hạnh phúc quá mỏng manh! Cảnh trí nầy, gặp gỡ nầy, phải chăng có thể gọi một kỳ ngộ “tam sánh hữu hạnh” được chăng? Còn kén chọn gì nữa! Chỗ nầy chẳng là nơi tôi đã hẹn gặp. Và trong giây phút nữa Mai Sanh sẽ tới! Trong vài phút nữa thì sẽ có người thương cùng ngồi bên nhau trên chiếc ghế nầy! Trong không bao lâu nữa tôi sẽ dòm trong cặp mắt Mai Sanh xem muốn gì? Mà chính tôi đây tôi cũng không biết tôi đang muốn gì! Nhưng kìa tiếng giầy ai đang đi lại… Kìa tiếng giày trợt trên đá sỏi… Tiếng ai nhón gót…
Tiếng ai đang ngập ngừng… Nhưng ủa kìa Mai Sanh! Mai Sanh đây rồi.
Ký tên K.C.
(chép y nguyên văn mấy trang bèo nhèo gặp lại trong hỗ sơ giấy má cũ giữ từ 1932)
Dẫn.
Đây là mấy lời dẫn giải, viết lại nơi sau để dễ bề dài dòng. Tôi hiện nay đang bối rối việc nhà, tiền không đủ chi độ, tôi lục soạn tìm tư liệu để viết cho báo xuân bỗng gặp lại trong hồ sơ bản thảo “Hơn nửa đời hư”, lúc trước tôi chê nên gác lại và nay nói về báo “Vũng Tàu chủ nhựt” lại thấy có chỗ dùng. Như báo nhận và cho đăng vào báo dịp “Xuân Giáp Tuất 1994” thì tốt, hoặc trong số báo đặc biệt thì cũng hay, bằng không đăng, xin tòa soạn vui lòng trả mấy trang nầy lại cho tôi, tôi sẽ không đăng báo nào khác và chỉ giữ làm của nhà và xin vạn tạ. Riêng tôi, tôi đã biết Vũng Tàu từ hơn nửa thế kỷ, từ những thập niên 1925 đến 1935, và quãng thời gian ấy từ Sài Gòn muốn ra ngoài ấy, vẫn đường bộ chưa thông và chỉ có một đường thủy, tàu đậu bến gần “Dơi Tán Dóc” (Pointe des Blagueurs), lối trưa khởi chạy, và chạy cà xích cà xạc trải qua những làng xóm tên nghe rất lạ, tổng gì tổng ăn thịt, hỏi ra vì có cọp nhiều… tổng Dương Hòa Thượng vẫn không phải do vị sải chùa họ Dương mà kỳ trung có Thượng và Hạ, hai tổng, v.v. Và khi ra tới Vũng Tàu thì trời đã sụp tối, và vẫn không có khách sạn, không quán bán cơm Việt, phải có nhà quen, và nếu là công chức thì vẫn có Nhà Nghỉ Mát nơi Bãi Sau, cũng chỉ vẫn có độ 4 hay 5 phòng nhưng rộng lớn có khá đủ tiện nghi, có giường mùng khang trang, nước sạch để tắm sau khi giằm mình vào nước biển, nhưng khách đến ở phải viết thơ dặn chỗ trước, và phải cụ bị sẵn trà bánh, thức ăn (đồ nguội ba-tê xúc-xích cho đủ lâu dài), chớ quán cơm Tàu chỉ vẫn thịt xá xíu, vịt quay, canh cải xanh, không bán thịt bò, 4 giờ chiều đã tan chợ, đêm đèn lèo hèo, du lịch chưa biết, gọi đi chơi dạo cảnh thì vỏn vẹn leo đảnh xem Pháo Đài rọi đèn dẫn độ tàu thuyền, đi một vòng xe thổ mộ lên vườn mua mảng cầu là hết cuộc vui, vả lại thời ấy ra Vũng Tàu tiếng là đi nghỉ để dưỡng sức nhưng đến nơi có mệt và mỏi thêm thì có, vì khách ra đây hoặc trọn gia đình hoặc vài ba bạn đồng chí hướng rủ nhau ra đây để vui với bồ bịch, bài bạc, đờn ca, nhậu nhẹt, vả lại Vũng Tàu thuở đó là nhượng địa của Tây-u tắm biển, là tỉnh nhỏ bé tên Pháp là Cap Saint Jacques, tôn lên làm thị thành (municipalité), quen gọi Ô Cấp, tên chữ là “Thuyền Úc” mà tên nho nầy có con ma nào biết, những nhà có máu mặt, vẫn chuộng ra Bãi Nước Ngọt, Bãi Long Hải xây dựng vi-la, nhà riêng để mặc sức tưng hoành, v. v… Nhưng nay Vũng Tàu là “Đất Cũ đãi Người Mới”, tôi xin miễn bàn. Còn mấy trang trên đây là sự có thật. Tác giả trước là một học sinh trường Áo Tím, nay có mộ ở Gò Công, biết làm thơ Đường, giọng êm dịu và mấy trang nầy là tâm sự…
Mới chín giờ sáng, nắng đã gắt. Lại một ngày nóng dữ. Hàng chục nữ tù nhân đổ năm bao tải chặt cứng những túi ni-lông ra cạnh bể nước trước phòng. Đó là những túi ni-lông gia đình các phạm nhân đựng quà gửi vào. Họ rửa sạch sẽ từng túi một, rải ra phơi khắp sân. Ngoài khoản ni-lông, còn có khoản dép nhựa. Tù ở các buồng chung phải đi chân đất. Giầy dép thu, vất vào kho. Ban giám thị Hỏa-Lò đem bán hai khoản này. Tiền thu được, mua lợn, nuôi cạnh nhà bếp. Bọn cấp dưỡng có trách nhiệm phải nuôi chúng bằng cơm tù, rau tù. Trong chuồng, lúc nào cũng ủn ỉn bảy, tám “ông ỷ” béo nục nịch. Thỉnh thoảng, quản giáo, công an võ trang lại thịt một “ông”, liên hoan. Tù không được một miếng. Mùa hè, sân gạch nóng bỏng. Tù không giầy dép, ngồi ăn quà, ăn cơm, chân dát rộp. Mùa đông, sân gạch lạnh ngắt, chân buốt giá, tê tím, như kim châm.
Chẳng mấy khi được ngồi ngoài hiên thoáng đãng, cạnh bể nước. Tha hồ vốc nước lên mặt, lên cánh tay, cho nó mát da, mát thịt. Các ả vừa thủng thẳng làm, vừa chuyện trò:
– Thằng bé tội quá. Gầy còm, ghẻ lở đầy mình.
– Hôm mới vào, trông nó kháu khỉnh. Cái mồm lúc nào cũng toe toét cười.
– Nó giống mẹ nó nhỉ. Tao cũng ước có một đứa con.
– Có con, để mày mang đầy nó vào tù với mày!
– Khổ thân thằng bé, mới có mười tháng đã là tù nhân rồi!
– Mẹ nó không có sữa nuôi nó.
– Ăn uống thế, mà đòi có sữa!
– Không ai có sữa hộp để cho nó.
– Dạo này, nó ốm, khóc quấy quá.
– Bố nó đi chiến đấu ở Căm-pu-chia, bị mìn chết. Mẹ nó chỉ có một bà chị. Bà này nghèo dớt mồng tơi, lại đông con, không dám nhận nuôi nó.
– Gia đình bố nó ở tận Quảng-Bình. Nghe đâu cũng đói lắm. Đường xá xa xôi. Tiền đâu tầu xe mà ra tận Hà-Nội đón nó về.
– Kể nó cũng liều. Là giáo viên, mà dám đem cả “Nghĩa vụ quốc tế” của Đảng ra chửi. Bị bắt là phải.
– Liều cái gì? Được tin chồng chết, nó đau khổ quá, hoá điên, mới làm vậy. Nó bảo vợ chồng nó yêu nhau lắm.
Tiếng mụ quản giáo, the thé:
– Mấy con đượi, nhanh tay lên, rồi vào. Đừng có lợi dụng ngồi mát, tán hươu, tán vượn với nhau. Bận sau, để những đứa khác làm. Không khiến chúng bay nữa. Có tí ni-lông, mà dềnh dàng, từ sáng đến giờ chưa xong. Quen thói nằm ngửa, ăn sẵn.
Các ả vội vã nhanh tay. Một lúc sau, xong việc, kéo nhau vào.
Đương ở ngoài, bước vào phòng như bước vào lò hấp. Phòng nữ tuy không quá đông như các phòng nam, nhưng cũng chật ních. Mùi cầu tiêu, mùi mồ hôi, mùi máu mủ ghẻ lở, lậu, giang mai, kinh nguyệt, quện vào nhau, lan tỏa. Tệ hơn phòng nam. Các ả đói meo, gầy teo, da dẻ nhăn nheo, ghét bẩn, đầu tóc bù xù. Những đường cong tuyệt mỹ trở thành những đường thẳng khẳng khiu. Không thể gọi là phái đẹp được nữa. Trừ những mụ tự giác, những mụ tham ô, buôn bán, và dăm bảy “nữ quái” trấn lột được của người khác mà ăn, là còn có da, có thịt. Buổi chiều, đếm tù xong, mụ quản giáo khóa phòng lại. Trong phòng, gần hai trăm ả, kẻ cởi quần, kẻ cởi áo, nằm, ngồi ngổn ngang, lấy những miếng giẻ con, thấm máu mủ, ghẻ lở cho nhau. Mấy mụ tự giác, mấy nữ quái, phanh ngực, ngồi ở đầu phòng, gần cửa, chuyện trò.
Mụ trưởng phòng đã ngoài bốn mươi, nhưng vóc dáng thanh mảnh, trông còn tươi mát, bế đứa nhỏ trong tay, nựng:
– Cô thương cháu quá. Tí hon thế này, mà đã tù. Chỉ tại mẹ cháu trẻ người non dạ, ăn nói dại dột. Ngoan nào! Cô sẽ kiếm sữa cho cháu. Cười đi! Khổ thân cháu tôi quá. Ăn toàn cháo loãng. Mẹ nó có còn đường không? Cô giáo đừng ăn của con đấy nhé.
– Cảm ơn các chị thương cháu, cho nó. Em đâu nỡ ăn của con. Đường còn đủ nó ăn vài hôm nữa. Cháu nó ghẻ lở quá. Lại sốt. Em lo lắm. Ông y sĩ cho uống át-pi-rin, nó cứ ọe ra. Thuốc bôi ghẻ, thì đợi mãi chưa có. Nó quấy suốt đêm, không chịu ngủ. Gầy xọp đi. Không hiểu mẹ con em kiếp trước phạm tội gì, mà trời đầy đọa đến thế này. Bố nó bỏ mạng xứ người. Mẹ con em thì vào tù đã năm tháng rồi.
Nói xong, cô giáo ôm mặt, nức nở.
Mụ trưởng phòng an ủi:
– Đừng khóc nữa. Sẽ được về thôi. Trên thế nào cũng xét, chiếu cố cho mẹ con em. Em thật là dại. Bao nhiêu người chồng chết, con chết. Có ai dám cả gan chửi như em đâu. Em phải làm đơn, nhận hết khuyết điểm. Xin Đảng khoan hồng cho mẹ con em.
– Em đã nhận hết tội lỗi. Làm hai lá đơn rồi. Có thấy gì đâu. Thực ra, em không chửi. Em chỉ kêu khóc là “nghĩa vụ quốc tế” đã giết chồng em. Thế rồi, bị bắt ngay.
– Giữa trường học, mà kêu thế, ảnh hưởng lắm. Em phải thấy tội em nghiêm trọng.
Một nữ quái trẻ măng, thân hình thon thả, mặt trái xoan, mũi dọc dừa, da trắng mịn, đôi mắt to, đen láy, bĩu môi:
– Nói một câu như thế, mà cũng bỏ tù mẹ con người ta! Em cũng vậy. Có làm hại gì tới chế độ đâu, mà cũng bắt bớ. Em ngủ với bọn sứ quán Tây phương, thì việc gì tới Đảng? Em không có sức đi công trường đắp đường, gánh đá. Em kiếm tiền theo lối của em. Thuận mua, vừa bán. Có ăn trộm, ăn cắp của ai đâu.
– Mày là “phò tây” còn kiếm ra tiền. Bọn tao, ngày đi lao động, tối đi “kiếm thêm”, vẫn chưa đủ tiêu. Thế mà cũng tù ra, tù vào. Có lần, gặp thằng đểu. Nó đèo tao ra tận ngoại thành. Đã chơi quỵt thì chớ. Nó còn lấy cả quần, phóng xe đi mất. Lần ấy, may gặp một bác già cứu. Bác cho tao cái quần của bác, mặc quần đùi, đèo tao trở về. Tao nhớ ơn suốt đời. Tiếc rằng không gặp lại được bác ấy.
– Mày tưởng “phò tây” không nguy hiểm à? Mỗi lần ra vào sứ quán, tao phải nằm phục xuống sàn xe. Lần này, vừa ra khỏi xe, xuống đường, là bị “chôm” ngay. Còn bị nghi là gián điệp nữa!
Mụ trưởng phòng thở dài, nhớ lại thời xa xưa:
Photo by Sơn râu
– Nói thực với các em, chị cũng tiếp Tây nhiều lắm. Chúng nó sang trọng, lịch sự. Cho chị nào tiền, nào ra-đi-ô, đồng hồ, xe đạp. Chị sống như một bà hoàng. Chị không phải lén lút như các em bây giờ đâu. Hồi đó, chị ở Hải-phòng. Bố Mẹ chị bán thuốc tây. Chị được ăn học. Nói tiếng Pháp khá trôi chảy. Chị tích cực hoạt động nên được kết nạp vào Đoàn. Chị được điều sang làm việc ở khách sạn Bắc-Kinh, gần ngang cầu Hạ-Lý. Đó là nơi các đồng chí chuyên gia y tế Tiệp-Khắc ở. Trước khi nhận công tác, chị được gặp một đồng chí trong Ban Bí-Thư thành-ủy, căn dặn là phải phục vụ các đồng chí chuyên gia hết mình. Đồng chí đó giơ ngón tay lên, nhấn mạnh: “Nhớ rằng phục vụ vô điều kiện. Thỏa mãn mọi yêu cầu của các bạn Tiệp. Chắc cháu hiểu chú muốn nói gì? Đây là công tác cách mạng. Đòi hỏi phải hy sinh. Bao đồng chí đã hy sinh cả cuộc sống cho cách mạng cơ mà. Nhiệm vụ của cháu rất vẻ vang”. Nhìn thấy người Tiệp họ ăn uống, mà thương cho các cán bộ của mình. Các loại thịt, các loại hải sản, thừa mứa. Bữa nào cũng phải đổ đi. Mứt sen mình biếu, họ chê ngọt, đổ đầy thùng rác. Cán bộ mình ăn có 18 đồng một tháng. Họ ăn những 180 đồng. Lại hưởng giá cung cấp, rẻ thối. Hoa quả, đồ hộp, bia rượu, không tính. Lương bác sĩ của họ hai nghìn đồng. Lương đầu bếp, sáu trăm đồng. Trong khi lương bác sĩ mình có sáu mươi đồng. Đầu tiên, chị tưởng có mình chị được giao trách nhiệm đó. Sau, chị mới biết có nhiều cô trẻ đẹp cũng làm như chị. Họ không làm việc ở khách sạn. Họ chỉ được ô-tô đưa tới vào buổi tối, hoặc buổi trưa. Tùy theo yêu cầu. Cô nào, cô ấy áo dài tha thướt, nước hoa thơm ngát. Trong đời phục vụ cách mạng của chị, chỉ có giai đoạn đó là vinh quang nhất. Mấy năm sau, chị được kết nạp vào Đảng. Được Đảng giới thiệu, cho lấy chồng. Lần này, bị tù, chỉ vì tham ô hai mươi tấn gạo. Nhân viên của chị ngồi bán hàng, đứa nào cũng giầu. Chúng nó ăn cò con, năng nhặt, chặt bị. Chẳng ai bắt được cả. Tiêu chuẩn nhân dân mười cân một tháng. Chúng cân cho chín cân rưỡi. Mỗi ngày, bán ra bao nhiêu là tấn gạo. Chúng kiếm vô số. Có điều, chúng phải biếu xén đủ mặt.
Nữ quái bất bình:
– Chị cũng làm như em, thì chị được coi là làm nhiệm vụ vẻ vang, được kết nạp vào Đảng. Em thì bị bêu rếu, bị bắt bỏ tù. Chẳng còn trời đất nào cả!
– Chị làm theo lệnh của Đảng. Còn em, là tự ý em. Khác nhau là ở chỗ đó. Nhưng thôi, chúng ta hãy tìm cách kiếm sữa cho thằng bé này.
Mụ đu đưa thằng bé, nựng:
– Khổ thân cháu cô. Còm quá! Thương quá!
– Ai mà chẳng thương. Nhưng những người có tiếp tế, không ai có sữa. Biết làm thế nào?
Nữ quái hớn hở:
– Em đã có cách. Tụi công an đi tuần ban đêm, biết chúng ta mùa hè không mặc quần áo. Chúng thường trèo lên chỗ song sắt trên cao nhòm vào. Thèm ứ tới tận họng. Tại sao chúng ta không giở nghề ra, kiếm sữa cho thằng cháu? Đêm, em sẽ ra đứng ở cửa dụ chúng. Thằng nào muốn đụng vào người em, em bắt phải đưa hai hộp sữa. Lão chánh giám thị ra lệnh bắt phải mặc quần áo. Làm như nghiêm lắm! Nhưng chính em, một lần đi tiểu ban đêm, nhìn thấy nó trèo lên, nhìn vào. Một hôm, em đi cung về, mắt lão hấp ha, hấp háy, vờ vẫn hỏi chuyện, còn giáo dục em. Mồm sặc hơi rượu.
– Lão ta đứt mạch máu não, chết hơn một tuần rồi. Lão đã trắng trợn tán tỉnh chị mấy lần. Đàn ông toàn một ruộc cả. Sáng kiến em hay đó. Bắt đầu ngay đêm nay đi.
Cô giáo nhìn nữ quái, ngập ngừng:
– Chị cảm ơn lòng tốt của em. Không ngờ em thương cháu đến như vậy. Nhưng chị không muốn em gặp phiền phức. Lộ chuyện, em có thể bị cùm.
Nữ quái cong cớn:
– Vì thằng bé, cùm, em cũng không sợ. Phục vụ nó còn tốt hơn phục vụ cách mạng!
Mụ trưởng phòng cười:
– Em nói xỏ xiên chị. Nhưng em nói đúng. Chị không giận. Nhớ phải thành công. Thận trọng một chút.
Đêm đó nữ quái ngồi ngay ở cửa. Cả phòng đã ngủ. Muỗi vo vo từng đàn, tha hồ hút máu trên tấm thảm người trần trụi, nham nhở ghẻ lở. Những tiếng mê sảng, thảng thốt, thỉnh thoảng bật ra, ú ớ, nức nở. Nghe tiếng giầy, nữ quái gục đầu xuống đùi gối.
– Đêm hôm không ngủ, ngồi ở đây làm gì?
Ả ngẩng đầu lên, cười:
– Báo cáo cán bộ, nóng quá, em không ngủ được. Ngồi đây cho thoáng một chút. Phòng bí quá.
Ả đứng lên. Chiếc áo không cài khuy tự động phanh ra. Hai tên công an không rời mắt khỏi hai trái tuyết lê chắc nịch, núm hồng hấp dẫn.
– Em có chuyện muốn báo cáo riêng với một trong hai cán bộ.
Một tên đưa mắt nhìn tên bạn, nói:
– Cậu ra ngoài canh.
Tên kia đi khỏi. Ả nói ngay, nũng nịu:
– Mấy hôm nay không có cơm. Em không ăn được bo bo. Em bị đau ngực lắm. Em muốn xin cán bộ hai hộp sữa.
Tên võ trang, giọng nhân đức:
– Phải cố mà ăn, giữ sức khỏe chứ. Được, ba giờ đêm mai, tôi sẽ cho sữa. Đau thế nào? Tù mà ốm đau là khổ lắm.
– Cảm ơn cán bộ. Em đau ở chỗ này. Nhức lắm.
Ả chỉ tay vào ngực. Tên võ trang thò ngay tay vào, mân mê.
Ả để yên khoảng một phút, rồi lùi lại:
– Thôi, em đi ngủ. Đêm mai, em đợi cán bộ. Nhớ cho em hai hộp sữa. Em sẽ đền bù lại thỏa đáng.
Ả đi vào. Tên võ trang đứng tần ngần một lúc, rồi bỏ đi.
Sáng hôm sau, như thường lệ, gã nhà bếp tới lấy thùng nước đặt ngoài cửa mang đi.
Mụ trưởng phòng gọi lại:
– Anh bạn cấp dưỡng, tôi muốn nhờ anh một việc.
Gã nhà bếp dừng lại, nhìn quanh, vẻ e ngại:
– Có việc gì, nói nhanh lên.
– Phòng tôi có một cháu bé mới mười tháng. Nó không ăn được. Chúng tôi có kẹo, bánh. Anh đổi dùm cho một hộp sữa để nó uống. Nếu có thể, anh kiếm cho ít kháng sinh. Nó sốt cao mấy hôm rồi. Ông y sĩ bảo trại hết thuốc kháng sinh, phải đợi. Anh làm phúc giúp hộ.
– Được, tôi sẽ cố.
Gã xách thùng về nhà bếp, nghĩ ngợi. Cánh nhà bếp thường được ông quản giáo phụ trách dẫn ra phố mua bán. Kiếm hộp sữa, không có gì là khó. Nhưng nội quy cấm ngặt việc liên lạc với các phòng. Mồm đàn bà bép xép. Lộ ra thì bị tống đi trại lập tức. Vợ gã phải mất mười cây vàng mới mua được chân làm bếp ở Hỏa-Lò. Gã cũng muốn giúp thằng bé. Nhưng bản thân gã quan trọng hơn nhiều. Không thể làm liều được. Còn chuyện thuốc kháng sinh, thì gã đã có sẵn. Ông y sĩ mới đưa cho gã ba chục viên tétra, dặn gã nghiền ra, rắc lên chỗ mông con lợn bị chuột gậm. Con lợn này béo quá, không đi đứng được. Cứ nằm ềnh ra. Ban đêm, chuột tới gậm mông ăn. Nhà bếp đã phải cấp tốc đan chiếc lồng bàn tre, úp lên nó. Cho thuốc thằng bé uống, nhỡ nó làm sao, thì đại họa. Thôi, việc thiên hạ, không nên bận tâm tới.
Đêm hôm đó, trước giờ hẹn, nữ quái đã đợi sẵn.
Tên võ trang hôm qua mò tới, cười nhăn nhở:
– Anh bận quá, chưa có thì giờ ra phố. Hẹn em đêm mai, khoảng một giờ. Tuy không phải phiên tuần tra của anh, nhưng vì em, anh sẽ mang sữa tới. Cho anh xem chỗ đau của em đi.
Nữ quái ức lắm, định chửi. Nhưng cố kìm lại. Vì hy vọng có hai hộp sữa đêm mai, ả chiều lòng, cho hắn mân mê một phút. Hắn hăng máu, đưa tay xuống phía dưới.
Ả lùi lại, nói nhỏ:
– Trong phòng có người vừa dậy. Hẹn anh tối mai.
Rồi đi vào, mặc tên võ trang đứng đờ đẫn ngoài song sắt.
Nữ quái về chỗ nằm, uất ức, mặt bừng bừng.
Mấy cô bạn nằm cạnh thì thào hỏi:
– Thế nào? Thất bại à?
– Gặp phải thằng bọ, chỉ muốn gỡ gạc, không muốn chi, phải không?
– Phải có cách nào chứ? Chẳng lẽ chịu lỗ với nó sao?
Nữ quái thì thầm, bàn tán kế hoạch tác chiến với mấy cô bạn. Tất cả đồng tình, quyết tâm phải làm bằng được. Phải thu hoạch lớn là đằng khác.
Sáng dậy, thấy không có sữa, mụ trưởng phòng than thở với nữ quái:
– Chị đã nhờ thằng nhà bếp. Nhưng nó sợ, không dám giúp. Em thì đã mất công toi hai đêm. Thôi, để chị xin phép bà quản giáo viết thư về gia đình. Chồng chị sẽ gửi sữa cho chị. Nhưng sớm nhất là tận cuối tháng mới có.
Nữ quái tươi cười:
– Chị cứ an tâm. Em hứa với chị đêm mai là có sữa. Có thể đêm nay đã có, không biết chừng.
Gần một giờ đêm, nữ quái đợi ở cửa. Ả đã mất hai đêm công cốc rồi, nên hận lắm. Ả nhất định không chịu thất bại. Gặp thằng đểu, ả phải đểu hơn. Vỏ quít dầy phải có móng tay nhọn.
Tên võ trang cay cú lại mò tới, tay không.
Ả đon đả:
– Em nhớ anh quá. Chỉ sợ anh không đến. Em đâu có phải vì hai hộp sữa, để em bỏ cả ngủ, chờ anh. Chỗ đau của em đã đỡ rồi. Nhờ anh xoa hộ lần này nữa là khỏi.
Tên võ trang vui mừng:
– Nếu em thật lòng yêu anh. Khi ra tù, chúng ta sẽ cưới nhau.
Hắn thò tay qua song sắt, say sưa xoa bóp. Hai tay nữ quái giữ chặt cánh tay hắn. Một cô bạn nấp sẵn ở bên tường nhẩy tới, nhanh như cắt, tháo chiếc đồng hồ đeo tay của hắn. Đó là nghề chuyên môn của ả. Tất cả diễn ra chớp nhoáng vài giây.
Nữ quái vểu mỏ, nói vào cái mặt nghệt ra của tên võ trang:
– Đồ bọ chó! Mỗi lần hai hộp. Đúng 11 giờ tối mai, mà không mang sáu hộp sữa tới, bà sẽ mang cái đồng hồ Seiko này báo cáo với Ban Giám-Thị. Bà không dọa mày đâu. Đúng 11 giờ, bà không thức đợi được!
Nói xong, ả bỏ vào phòng, không thèm nghe hắn ấp úng xin xỏ.
Sau khi nhận đủ sáu hộp sữa, giả lại đồng hồ cho tên võ trang, nữ quái đưa tất cả cho mụ trưởng phòng, vẻ đắc thắng:
– Chị giữ lấy. Mỗi ngày pha cho cháu nhỏ nửa hộp. Hết, em lại kiếm “con bò sữa” khác.
Mụ trưởng phòng thán phục:
– Công nhận em có bản lĩnh. Mưu kế thực. Xứng đáng với danh hiệu “nữ quái”. Bọn võ trang rồi sẽ khốn đốn với em.
– Từ nay trở đi, em phải chơi lối tiền trao, cháo múc. Không để rắc rối như lần này nữa.
Thằng bé có sữa uống, đã mập ra đôi chút. Mụ trưởng phòng kiếm được thuốc ghẻ, bôi cho nó. Ghẻ cũng đỡ. Không thuốc men gì, cơn sốt của nó cũng tự nhiên khỏi.
Cô giáo đưa con cho nữ quái bế, cảm động:
– Từ nay, em là mẹ nuôi của nó. Lớn lên, chị sẽ kể chuyện cho nó, bảo nó phải coi em như mẹ. Em đã cứu sống nó đấy.
Nữ quái nâng niu thằng bé trên tay, cười rất tươi. Ả vui trong lòng, vì thấy mình đã làm được một việc tốt.
Ngày lại ngày trôi đi. Trong vòng một tháng, đã có thêm ba tên võ trang nộp sữa cho nữ quái.
Mụ trưởng phòng cười vui:
– Đúng là một “đàn bò sữa”. Nữ quái chăn bò cừ thật!
Những ngày đầu tháng tám. Thời tiết nóng lạ thường. Mặt trời chói lóa dội lửa xuống. Tường, sàn xi-măng, mái ngói, phả hơi nóng ra, hầm hập, ngột ngạt. Trong phòng đầy người, mùi hôi tanh nồng lên.
Mụ quản giáo ngồi dưới quạt trần, cau có:
– Trời đất gì mà như cái lò lửa. Quạt máy chỉ toàn quạt hơi nóng vào người. Tắt mẹ nó đi. Đài nói nhiệt độ lên tới bốn mươi độ. Đợt nóng này còn kéo dài nhiều ngày.
Các nữ tù nhân, mình mẩy nổi mụn đỏ. Ngứa. Rát. Ban đêm không thể ngủ được. Thằng bé lại sốt cao. Át-pi-rin, sữa, uống vào, đều ọe ra. Rôm sẩy đầy người. Nó khóc tới nghẹt thở. Mẹ nó chỉ còn xương với da, mắt quầng thâm, ôm con, lo lắng. Mất ngủ nhiều đêm liền, quá mệt.
Một buổi sớm, cô giáo thiếp đi. Khi tỉnh dậy, thấy thằng con bé bỏng há hốc cái miệng nhỏ xíu, mắt trợn lên, bất động. Hai bàn tay tí hon nắm chặt. Cô sợ quá, ôm con vào lòng. Nó đã tắt thở. Cô hoảng loạn, kêu ầm lên, nước mắt dàn dụa:
– Con tôi chết rồi! Con tôi chết rồi!
Cả phòng xôn xao. Trưởng phòng, nữ quái, mấy ả nữa đổ xô tới. Nó đã chết thật. Cô giáo gục đầu vào ngực con, ngất xỉu. Nữ quái úp mặt vào hai bàn tay, nức nở.
Trưởng phòng nước mắt dòng dòng, ra cửa kêu:
– Báo cáo cán bộ! Phòng nữ có người chết!
Một lúc, mụ quản giáo cùng một tên tù tự giác tới. Mụ mở cửa, hỏi:
– Ai chết?
– Báo cáo cán bộ, thằng bé con.
– Đưa nó ra.
Trưởng phòng vào, định bế thằng bé ra. Mẹ nó đã tỉnh lại, ôm ghì con trong lòng, gào lên, điên loạn:
– Con của tôi, nó phải ở với tôi! Không ai có quyền đưa con tôi đi đâu!
Thấy cô giáo mắt trợn trừng, ôm chặt con không rời.
Trưởng phòng bối rối, dỗ:
– Em bình tĩnh lại. Cháu nó đã mất. Nên để người ta đưa đi chôn cất, cho nó được mồ êm, mả đẹp. Em giữ đây làm sao được. Nghe chị. Chị cũng đau khổ, thương cháu lắm.
Cô giáo ôm chặt con hơn:
– Không, không được, tôi phải giữ nó với tôi!
Mụ quản giáo ngoài cửa sốt ruột, bảo tên tự giác:
– Vào mang nó ra!
Tên tự giác vào phòng. Nó giật đứa bé khỏi tay cô giáo, đẩy cô ngã chúi xuống. Rồi ôm đứa bé đi ra. Cửa khóa lại.
Cô giáo vùng dậy, chạy theo, gào thét:
– Trả con tôi! Trả con tôi! Tôi tự tử chết!
Cô đập đầu vào song sắt. Trưởng phòng, nữ quái ôm chặt lấy cô. Máu từ đầu chảy xuống, hòa với nước mắt, đỏ lòm. Hai người khiêng cô vào, đặt lên sàn. Nữ quái xé áo mình, băng vết thương trên đầu, lau máu trên mặt cô.
Khi tỉnh lại, miệng cô lảm nhảm:
– Trả con tôi, trả con tôi. Con ơi, mẹ thương con quá!
Sợ cô giáo tự sát, suốt ngày, suốt đêm, nữ quái cùng mấy ả thay nhau ngồi bên, an ủi cô.
Sau cái đập đầu vào song sắt. Cô giáo không chết. Cô chỉ trở thành người mất trí. Lúc cười, lúc khóc, lúc ngồi thừ ra, lúc ôm túi quần áo trong tay như ôm con, hôn hít. Ngày nào cô cũng múa hát. Giọng cô khàn. Nhưng cô múa rất dẻo. Cô chỉ hát một bài duy nhất. Bài hát đã được các thầy, các cô dạy, từ thủa cô còn là một nhi đồng sáu, bảy tuổi. Cô vừa múa, vừa hát, miệng tươi cười:
Ai yêu bác Hồ-chí-Minh hơn các em nhi đồng
Bác chúng em, dáng cao cao, người thanh thanh
Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài
Bác chúng em, vì đất nước, quên thân mình
Bác nay tuy đã già rồi
Già rồi, nhưng vẫn vui tươi
Mong sao Bác sống muôn đời
Để dìu dắt nhi đồng thành người…
Một hôm, ăn cơm ngoài sân, cô đứng lên múa hát. Mụ quản giáo đương đọc tờ “Nhân Dân” cũng phải ngừng đọc, nhìn. Mụ khen cô múa hát giỏi. Thấy tờ báo có ảnh Bác Hồ to tướng, cô năn nỉ xin mụ quản giáo. Cô mất trí, nhưng hiền, không phá phách, mất trật tự. Mụ cũng thương hại. Mụ cắt hình Bác ở báo ra cho cô.
Từ đó, đêm đêm, cô đặt ảnh Bác ở đầu chỗ nằm, quỳ xuống, xụt xùi khóc lóc, cầu khấn: “Cháu lạy Bác. Chồng cháu đã hy sinh vì cách mạng. Bác thương tha cho mẹ con cháu! Mẹ con cháu biết có tội với Đảng rồi. Xin Bác khoan hồng, thương tha cho! “
Nhìn cảnh tượng đó, trưởng phòng, nữ quái, nước mắt ứa ra.
Thế rồi, một sáng đầu tháng mười, ông y sĩ vào dẫn cô đi. Cô được đưa tới một trại giam người điên bên Châu-Quỳ, Gia-Lâm.
Trưởng phòng thì thầm với nữ quái:
– Chắc nó được đưa đi bệnh viện Việt-Đức điều trị. Bác Hồ phù hộ đấy. Bác thiêng lắm. Hôm Bác mất “Người tuôn nước mắt, Trời tuôn mưa” 1 cơ mà!
Đáng lẽ ra nó theo tàu Phước Châu đi thẳng một mạch cũng được, nhưng vì chuyến đi về của nó ở dưới nhà không có ai hay biết, mà tàu thì chỉ có thể ngừng tạm ngoài giữa sông cái. Hành khách muốn xuống phải dặn trước người nhà chực sẵn tam bản hay xuồng gì đó để xông ra rước vào khi tàu tới.
Tư Cầu xuống tàu đi một vòng chợ Trà Ôn. Đối với một người từng sống trên chợ Nam Vang thì chợ Trà Ôn bây giờ nhỏ xíu, đâu có những cái gì hấp dẫn đủ để cho Tư Cầu phải đi ngắm nhìn. Nhưng Tư Cầu vẫn muốn xem qua cảnh cũ, qua những nơi mà Phấn đưa anh ta đi tới để bắt đầu cho một cuộc phiêu lưu quá bất ngờ…
Anh ta trầm tĩnh xách va-li đi trong một vài đường phố như… một du khách muốn đi chiêm ngưỡng một vài di tích cổ thời: kìa là tiệm hớt tóc, nọ là quán cơm khách trú và xa đằng kia là bực thạch ở mé sông… bao nhiêu kỷ niệm cũ bỗng dưng sống dậy.
Tư Cầu thấy lòng buồn vô cùng và hơi ngạc nhiên khi tự nhận thấy: nó không nôn nao hay lo âu chút xíu nào khi trở về gần tới nhà.
Vừa đi, Tư Cầu vừa thẫn thờ nghĩ đến con Ba, đến Sáu Cẩu, thằng Năm: không biết giờ này bọn chúng làm gì ở trên Nam-Vang… và nhớ đến con Phấn nữa! Ờ không biết số phận của Phấn bây giờ ra sao… bề gì thì Tư Cầu cũng yên thân trở về nhà và trở về một cách khá… đàng hoàng nữa, nhưng còn Phấn? Tư Cầu lo ngại không biết Phấn gặp may gặp rủi thể nào trên bước phiêu lưu…
… Tư Cầu ghé vô nhà lồng chợ mua một cân thịt heo quay, mấy ổ bánh mì. Khi nghĩ tới tía anh ta hay nhậu nhẹt, anh ta trở lại mua thêm một cái giò heo quay con vàng lườm, rồi tiện đường bước qua tiệm trà hỏi mua thêm mấy gói Nghi Bồi Nhâm, Trung quốc kỳ chưởng, một cân vừa thèo lèo vừa bánh tai heo rồi xách tòn ten đi xuống mé sông kiếm mướn đò về nhà dưới Rạch Chiếc…
Khi chiếc đò chèo từ ngoài vàm sông cái vô tới trong rạch, Tư Cầu bò ra đứng trước mũi ngắm nhìn lên hai bên bờ.
Đến giờ phút này anh ta mới thấy hồi hộp trong lòng và nghĩ lung tung về cái phải ăn nói khi tới nhà, nhứt là khi đụng đầu với tía mình… Tuy vậy anh ta cũng thấy vững bụng một phần nào khi nhìn đến… bộ vó của mình, đến chiếc va-li, đến mấy gói bánh… và bỗng nhiên anh ta đưa tay sờ nhẹ qua túi quần sau, nơi có cái bóp căng phòng lên.
Trẻ con hai bên bờ rạch thấy có chiếc đò chèo trên chợ chở một người khách lạ nên rủ nhau chạy dọc theo trên mé để xem khách ghé nhà ai, vì ngọn rạch cũng gần mút rồi.
Tư Cầu quay ra sau bảo người lái đò:
– Thôi tới nơi rồi chú! Chú ghé chỗ cây cầu dừa đó cho tui.
Bọn trẻ con trên bờ thấy chiếc đò tấp vô nên reo ầm lên:
– Nhà của thằng Năm Kiều có khách trên chợ xuống tụi bây ơi!
Từ nãy giờ vẫn chưa có đứa con nít nào nhận được Tư Cầu, một Tư Cầu mặc quần tây xanh áo sơ mi trắng bốp với chiếc nón tây trên đầu. Phải mà, Tư Cầu bây giờ không giống một chút xíu nào với Tư Cầu bận bộ đồ bà ba đen lên phèn, đội nón lá rách teng beng… một Tư Cầu đen thủi đen thui của cái thời chăn vịt giữ trâu ngoài đồng trống.
Thằng Năm Kiều (em của Tư Cầu) ở trong nhà nghe tụi con nít lao xao ngoài mé và nghe chó sủa vang rân, cũng tất tưởi chạy ra:
– Đâu, khách trên chợ nào đó tụi bây? Ủa, ai như anh Tư vậy cà?
Vừa lúc đó Tư Cầu cũng trông lên thấy em nó, và vội kêu lên:
– Ê Năm! Tao đây nè mậy! Coi, bộ mầy nhìn hổng ra sao?
Thằng Năm Kiều đừng trố mắt nhìn sững Tư Cầu một hồi lâu như không tin là… có thật, rồi nó chẳng nói chẳng rằng gì hết chạy tọt vô nhà.
Nó vừa cắm đầu chạy vừa la bài hãi:
– Anh Tư dìa! Anh Tư dìa!
Tía nó đang cầm mác vót tre đương lờ trước thềm nhà nghe thằng Năm kêu lên như vậy vội liệng cái mác xuống đất đứng phắt dậy hỏi liền một hơi:
– Sao? Mầy nói thằng Tư nó dìa hả? Nó dìa hồi nào? Mà dìa ở đâu? Có thiệt hông hay mầy thấy ba chùm ba cháng…
Thằng Năm vừa thở hào hển vừa trả lời:
– Thiệt mà tía! Tui thấy ảnh rõ ràng mà! Ảnh còn kêu tui nữa… ảnh đi đò dìa tới dưới mé rạch kìa tía! Tía hổng tin đi ra coi…
Bác Hai, tía của Tư Cầu, vừa dợm chân bước đi nhưng không biết nghĩ sao bác lại đứng khựng lại, mặt mày bỗng nhiên cau có… rồi bác ngồi xệp xuống chỗ cũ vớ lấy cái mác vót lấy vót để một nan tre xù xì.
Thằng Năm Kiều thấy vậy ngạc nhiên hỏi:
– Ủa, bộ tía hổng ra coi anh Tư dìa sao tía?
Bác Hai nạt ngang:
– Nó dìa thì thây kệ mồ nó, tao ra coi làm gì hả? Ừ… để rồi tao cho nó biết tay!
Thằng Năm nghe nói nó chưng hửng, nhưng rồi nó lại len lén rút lui về phía mé rạch để đón Tư Cầu. Vừa lúc đó, bác Hai gái đang nấu cơm ở nhà sau cũng te te chạy lên và réo thằng Năm Kiều lại:
– Năm ơi, có phải thằng Tư dìa thiệt không mậy?
Thằng Năm Kiều quay đầu lại đáp bằng hai tiếng “thiệt mà”, rồi dông tuốt ra mé rạch…
Bác Hai gái chợt thấy bác Hai trai ngồi vót tre như không có việc gì xảy ra hết nên lấy làm lạ bước vội lại hỏi:
– Coi, thằng Tư nó dìa tới kìa, bộ ông hổng hay sao?
– Hay chớ sao không! Mà nó dìa thây kệ mồ nó, bà nói với tui làm chi cho mệt!
Bác Hai gái phật ý nói sẵng lại:
– Hứ, nói như ông vậy thì hết chuyện rồi. Con mình nó đi biệt gần hai năm trời, nay nó dìa ông cũng phải ra hỏi thăm hỏi nom nó coi ra làm sao chớ! Ông có giận chín xe mười vàng gì thì cũng dẹp qua một bên để thủng thẳng rồi mình sẽ nói với nó…
Bác Hai trai cười lạt:
– Tui hổng dám giận ai hết… mà sao thằng chết dầm đó nó hổng đi biệt luôn đi còn xách đầu dìa đây làm gì nữa! Nó đi đã rồi tính dìa đây để ăn hại nữa phải không?
– Ông sao kỳ quá…
Bác Hai gái chưa kịp nói hết câu, thì Tư Cầu tay xách va-li bươn bả đi lên tới, còn thằng Năm thì lễ mễ vừa xách mấy gói thịt, trà, vừa ôm mấy ổ bánh mì, hí hửng chạy lúp xúp theo sau.
Thấy có đông đủ tía má ở đó, Tư Cầu vội kêu lên:
– Thưa tía má con mới dìa!
Bác Hai gái thấy Tư Cầu khác hẳn lúc ra đi và có vẻ… phong lưu nên không giấu được sự ngạc nhiên và vui mừng:
– À, con, con mới dìa tới hả con! Dữ hông, tao mong mầy hụt hơi hết sức… Tía mầy, ổng giận mầy lắm đa Tư!
Vừa nói tới đó bác Hai gái liếc mắc nhìn sang bác Hai trai để xem xét vẻ mặt của chồng như thế nào.
Tư Cầu lúng túng để va-li xuống lột nón ra và tiến lại gần tía anh ta:
– Tía… vót tre đương chi đó tía?
Bác Hai trai đặt cái mác xuống từ từ đứng dậy nhìn Tư Cầu từ đầu đến chân. Những nét cau có trên mặt của bác dịu đi lần, nhưng bác cũng hất hàm hỏi:
– Sao, mầy đi biệt ở đâu bây giờ mới vác mặt dìa đây? Còn con Phấn đâu? Mầy dụ dỗ con gái người ta đi để ở nhà họ đào mồ cuốc mả ông bà ông vải mầy lên hết, mầy có biết không?
Bác Hai gái và thằng Năm đứng dang ra hồi hộp chờ đợi câu trả lời của Tư Cầu. Tư Cầu vừa lần lần cái vành nón trong hai bàn tay vừa ấp úng đáp:
– Dạ… con dụ dỗ ai đâu tía. Con muốn đi xa mần ăn, sẵn dịp con Phấn nó đi đó, con… quá giang theo, rồi lên tới Cần Thơ… mỗi người đi mỗi ngã…
Bác Hai gái vội ngó chồng và nói chen vô:
– Đó ông coi, nó nói đúng mà! Nó có mần cái gì quấy đâu? Nó đi mần ăn bây giờ khá giả rồi nó dìa thăm nhà (bác day qua Tư Cầu) có phải vậy hông Tư?
Nghe má mình nói vậy, Tư Cầu ngạc nhiên đứng trố mắt nhìn, đến chừng bác Hai gái hỏi tới, anh ta giựt mình ấp úng đáp:
– Dạ… phải… nhưng… bộ con Phấn…
Bác Hai gái chận ngang:
– À con Phấn hả? Bây giờ nó có chồng ở Chợ Lớn khá lắm, nó có dìa đây thăm bà con một lần rồi. (thấy Tư Cầu chưa hết vẻ ngạc nhiên, bác lại tiếp) Chắc mầy hổng hay biết gì ráo, vậy để thủng thẳng tao sẽ kể rõ lại đầu đuôi ngọn ngành cho mầy nghe.
Tư Cầu nghe sơ qua như vậy nên cũng vững tâm. Anh ta thở phào ra rồi tươi cười nhìn bác Hai trai hỏi:
– Tía má ở nhà chắc được mạnh giỏi? Còn hai vợ chồng anh Hai, anh Ba ở đâu mà con hổng thấy?
Bác Hai gái hớt trả lời trước:
– Ối, tao với tía mầy cũng mạnh cùi cụi vậy hoài. Vợ chồng anh Hai mầy thì ra ở riêng, còn anh Ba mầy thì đi chơi đâu trên lối xóm… Cha, bà con dưới nầy ai ai cũng hỏi thăm tới mầy dữ lắm nghen!
Tư Cầu quay qua hỏi thằng Năm:
– Mầy còn đi học không Năm? À, bầy vịt và con trâu Sấm trong đồng… ra sao mậy?
Bác Hai gái cũng đáp thế liền:
– Thằng Năm thi tiểu học đậu rồi đó! Tía mầy ổng cũng ráng cho nó đi học tới, chớ hổng lẽ con cái ba bốn đứa để… “Quốc trì cung” hết hay sao! Còn bầy vịt thì tía mầy ổng bán mất đất đi rồi, con trâu Sấm thì anh Hai mầy bắt nuôi ở bển. (rồi bác nhìn thẳng vào mặt Tư Cầu chậm rãi hỏi thêm) À, chuyến nầy, mầy dìa đây thăm nhà rồi chừng nào đi hay tính ở luôn?
Tư Cầu cười đáp:
– Dạ, chắc ở luôn.
Bác Hai gái mừng rỡ khều bác Hai trai nói:
– Đó, ông có nghe hông: nó nói nó ở nhà luôn…
Bác Hai trai nãy giờ cũng thấy vui lây cái không khí đoàn tụ, nhưng bác cũng làm bộ cự nự bác gái:
– Thì bà làm gì mà lăng xăng vậy! Để tui hỏi nó coi chớ bà cứ hớt hớt hoài…
Bác Hai trai làm bộ cự nự bác gái nhưng rồi bác cũng lúng túng đứng đó nhìn Tư Cầu.
Tư Cầu thấy vậy lên tiếng hỏi lảng ra:
– Thưa tía, công việc ruộng nương ra sao tía?
Bác Hai trai nhún vai thở dài:
– Thì cũng nai lưng ra mần đầu tắt mặt tối năm nầy qua tháng nọ, nhưng cũng lẳng nhẳng như hồi mầy còn ở dưới nầy. Khổ hơn nữa là anh Hai mầy lại ra ở riêng, anh Ba mầy thì cứ suốt ngày đầu trên xóm dưới hổng chịu lo mần ăn gì hết. Tao với má mầy la rầy nó riết rồi cũng như nước đổ lá môn, chứng nào vẫn tật nấy! Nay mầy dìa rồi… thiệt cũng đỡ lắm, chớ tao với má mầy một ngày một già, em mầy thì mắc đi học…
– Vậy chớ nhà mình còn nợ nần gì hông tía?
Bác Hai chép miệng than:
– Sao hông mậy! Thì hồi nào tới giờ có chút trăm đồng bạc tiền lúa góp mà mùa lúa nầy qua mùa lúa nọ, trả hoài vẫn hổng hết! Mầy nghĩ coi: mình mần chỉ đủ lủm chớ có dư dả đâu, vì vậy mà trả hổng dứt được số vốn cho người ta.
– Hổng nói dấu gì tía má, con dìa đây cũng có đem theo chút đỉnh tiền riêng, tía má để con lo món đó cho rồi mình tính công chuyện mần ăn lại…
Bác Hai gái hỏi chen vô:
– Mầy có tiền dư hả Tư? Bao nhiêu vậy mậy?
Tư Cầu chưa kịp trả lời thì bác Hai trai lườm vợ và rầy liền:
– Bà sao kỳ quá! Chưa gì mà bà hỏi phăng tới! (rồi như để tránh sự ngượng nghịu, bác Hai trai vừa nhìn về phía thằng Năm vừa hỏi Tư Cầu) À mầy mua cái gì đem dìa mà thằng Năm nó xách lũ khũ đó Tư?
Tư Cầu vui vẻ đáp:
– Dạ có chút đỉnh trà bánh và thịt heo quay con mới mua trên chợ Trà Ôn. (rồi nó day qua bảo em nó) Thôi Năm, mầy xách đồ vô trong nhà đem cất đi chớ!
Bác Hai trai cũng hối vợ:
– Thôi, bà vô lo cơm nước đi! Xế chiều rồi chớ bộ còn sớm lắm sao!
Bác Hai gái quay qua hỏi Tư Cầu:
– Mầy ăn cơm chưa Tư?
– Chưa má à?
– Ý chết, vậy mầy đói meo rồi chớ gì?
Tư Cầu cười đáp:
– Hổng có đâu má… Hồi sáng nầy con đã ních một bụng hủ tiếu, bánh bao trên chợ Cần Thơ rồi dìa ghé qua Trà Ôn con làm sơ qua hết hai tô hoành thánh mì nên cũng lửng dạ…
Bác Hai trai lại chen vô cự nự vợ :
– Bà hổng lo đi nấu cơm đi chớ cứ đứng đó hỏi tầm ruồng hoài! Thằng Tư nó quen ở chợ ở búa đâu có ăn cơm sớm như mình mà bà sợ nó đói! Mà từ Cần Thơ dìa đây còn qua chợ Trà Ôn: quán cà phê, tiệm cao lâu thiếu gì, nó muốn ăn uống giờ nào hổng được!
– Thôi mầy cũng cất va-li đi Tư, rồi tắm rửa nghỉ ngơi để chút nữa ăn cơm.
Tư Cầu “dà” một tiếng rồi vừa nhổm xách va-li lại đặt vội xuống và kêu lên:
– Ý, còn chút nữa con quên mất! Con có mấy món hàng… Nam Vang đem dìa cho tía má đây nè!
Bác gái chưng hửng kêu lên:
– Ý trời, bộ mầy đi tới Nam Vang lận hả?
– Dà phải.
– Mèn đét ơi, đi chi dữ vậy mậy? Hèn chi con Phấn nó dìa đây, tao hỏi mầy ở đâu nó cũng nói mờ ớ chớ hổng biết rõ là đâu đâu hết!
Bác Hai trai cũng lên tiếng:
– Tao tưởng mầy đi lớ quớ đâu ở mấy tỉnh miệt trên chớ có dè đâu mầy bung xa quá vậy! Cha, thằng nầy coi lù khù vậy mà dữ đa!
Tư Cầu cười tủm tỉm cúi xuống mở va-li ra… nhưng má anh ta lại cầm lấy cánh tay anh ta lôi lên:
– Mầy đem vô trong bộ ngựa mở ra hổng được sao chớ làm gì mà như bày hàng ngoài nầy vậy!
Tư Cầu nghe theo lời má mình xách va-li vô đặt trên bộ ván giữa rồi rút chìa khóa ra lạch cạch mở nắp…
Lúc đó, bà con lối xóm nghe tin Tư Cầu về kéo nhau qua thăm đầy nhà, nhứt là mấy đứa con nít chen lấn nhau xem Tư Cầu mở va-li… Trước cảnh tượng đó mặt của thằng Năm Kiều… vác hất.
Tư Cầu rút ra cái xà-rông tơ và cái ống vố trịnh trọng đưa ra trước mặt của tía nó:
– Dạ thưa tía, con có chút đỉnh nầy đem dìa cho tía… Dạ, của mấy đứa bạn con cho đó tía à!
Có tiếng ai trầm trồ gần đó:
– Cha, bạn của Tư Cầu bảnh quá há!
Bác Hai trai cầm lấy hai món đồ xăm xoi một hồi rồi hỉ hả day qua nói với Tư Cầu:
– Mấy món nầy tao coi bộ mắc tiền đa Tư!
Tư Cầu thản nhiên đáp:
– Dạ phải, toàn là thứ thượng hảo hạng đó tía! (rồi tự nhiên Tư Cầu mỉm cười khi nghĩ tới bọn con Ba và nó nói tiếp) Tụi bạn con ở trển biết… lựa đồ lắm tía à!
Bác Hai trai gật gù nói:
– Chắc mấy người đó cũng thuộc dân xài sang đa!
Tư Cầu nghe tía nó nói vậy không nín được cười, nhưng rồi nó vội cúi xuống va-li lấy ra một xấp lãnh mang lại đưa cho má nó:
– Đây má, cái nầy của con xuất tiền túi mua để đem dìa cho má may quần… ăn Tết đây!
Bác Hai gái vội chùi tay lia lịa vào vạt áo túi trước khi cầm xấp lãnh:
– Trời mẹt ơi, mầy mua chi thứ nầy cho tốn tiền quá vậy Tư? (rồi bác rưng rưng nước mắt, hết ngó bác trai đến nhìn Tư Cầu và nghẹn ngào nói tiếp) Hồi nào tao với tía mầy cưới nhau, tao cũng có cái quần lãnh như vầy… nhưng thứ lãnh mặc nưa chớ hổng phải trơn, phải hông ông nó?
Bác Hai trai cảm động vội đáp:
– Phải, mà sao bà nhớ dai quá cỡ vậy!
Vừa lúc đó, mấy bà ở lối xóm chạy ra lại lôi bác Hai gái ra ngoài mé hàng ba, chỗ có nhiều ánh sáng hơn, để cùng xăm xoi và trầm trồ xấp lãnh.
Thằng Năm Kiều thấy trống người nên bước rề lại gần chiếc va-li và lên tiếng hỏi anh nó:
– Còn phần tui, anh Tư?
Tư Cầu đang xấp xếp lại quần áo phải ngừng tay lại nhìn thằng Năm rồi cười đáp:
– Phần của mầy, tao hổng quên đâu, nhưng để bữa nào rảnh tao dắt mầy đi chợ rồi mầy muốn cái gì đó tao mua cho!
Thằng Năm cười lỏn lẻn:
– Ý trời, nếu anh để tui muốn thì tui muốn đủ thứ hết; nhưng thôi, anh mua cho tui một cây viết máy cũng được…
Bác Hai trai nghe nó đòi như vậy, nói chen vô:
– Thôi đi mầy! Mầy chữ nghĩa bao lăm mà đòi mua viết máy cho uổng tiền hổng biết!
Nhưng Tư Cầu đã vội lên tiếng:
– Được mà tía, để con sẽ lựa mua cho nó một cây “kaolo” ngòi chai . (rồi nó day qua thằng Năm) Mầy chịu thứ đó hông Năm?
Thằng Năm gật đầu lia lịa:
– Chịu! Ý chà, có thứ đó bảnh lắm nghen!
Bác Hai trai lại gọi bác gái:
– Bà ơi, bà có vô lo cơm nước không hay là cứ đứng đó ngó xấp hàng mới mà no bụng được?
Bác Hai quày quả trở vô:
– Ông nầy kỳ quá! Làm cái gì ông réo tui giựt một giựt hai hoài vậy! Miễn có đủ cơm nước kịp cho ông ăn thôi mà!
Bác Hai trai cười trừ:
– Ừ thôi… tui biết bà giỏi mà!
Rồi như để đánh trống lảng, bác kêu thằng Năm:
– À Năm, mầy chạy ra quán chú Ựng mua cho tao một xị rượu… mầy hỏi má mầy coi có… tiền lẻ hông đưa cho mầy vài đồng…
Bác Hai gái “hứ” một cái nhưng rồi cũng móc tiền ra, nhưng Tư Cầu đã vội chận lại:
– Thôi má, con có tiền lẻ đây.
Bác vừa bước đi xuống nhà dưới, vừa ngoái cổ lại buông thõng một câu:
– Mầy có đưa thì đưa ít ít nó, chớ đưa nhiều cho ổng uống đã rồi ổng nói cà nhựa hoài nhức xương nhức cốt chớ hổng ích lợi gì đâu!
Bác Hai nhìn Tư Cầu rồi trề môi, nhún vai như không thèm chấp nhứt làm gì:
– Má mầy thì… giỏi có bấy nhiêu đó…
Tư Cầu mỉm cười rồi móc bóp ra kêu thằng Năm:
– Đây nè Năm, mầy cầm năm đồng đây ra biểu chú Ựng chú lựa bán cho một chai rượu thuốc thứ thiệt ngon đó nghen!
Tía nó giơ tay cản lại:
– Thôi đi Năm, mầy mua cho tao rượu công-xi cũng được…
– Ối lâu lâu… vui một chuyến, có tốn hao là bao nhiêu! (anh ta móc tiền đưa cho thằng Năm) Tiền đây Năm, mầy chạy đi mua như tao dặn hồi nãy đó.
Bác Hai trai cũng dặn vói theo:
– Mầy hỏi mua thứ rượu thuốc hiệu “con bò nằm” á Năm!
Rồi bác đứng nhìn thằng Năm tất tưởi chạy đi và chép miệng liền mấy cái như thưởng thức trước một bữa rượu ngon vậy.
Thấy lũ trẻ con hàng xóm còn đứng bu xung quanh đó, Tư Cầu chạy đi lấy gói bánh mở ra phát cho mỗi đứa một chiếc bánh tai heo. Y như một bầy sẻ tha mồi, lũ trẻ chạy tứ tán về nhà để… khoe và Tư Cầu nghe chúng nó reo lên tíu tít:
– Chú Tư Cầu cho tao bánh bây ơi!
– Chú Tư Cầu giàu lắm bây ơi!
Tư Cầu mỉm cười một mình, rồi bỗng để ý đến tiếng “chú” mà tụi trẻ con gọi mình… Tự nhiên, anh ta đưa tay sờ sờ cằm rồi cúi xuống nhìn từ ngực đến chân và tự hỏi: “Có lẽ mình già rồi chăng? Hay tụi con nít mới lớn lên thấy mình… lạ mắt nên gọi như vậy?!”
… Tối hôm đó, bác Hai trai kêu nấu sẵn nước để mời vài ông bạn già bên hàng xóm qua uống nước trà với thèo lèo mà Tư Cầu mới mang về hồi xế trưa. Lại một phen nữa, Tư Cầu phải trả lời những câu hỏi thăm hỏi lom về sự sanh sống ở trên Nam Vang! Anh ta trả lời đẩy đưa cầm chừng chớ nóng ruột muốn đi ra nhà sau tìm má mình hỏi thăm rõ thêm về chuyện của… Phấn, mà Bác Hai gái mới có nói sơ qua lúc anh ta mới về tới nhà.
Đợi cho bác Hai trai và mấy ông khách bắt chuyện với nhau như bắp rang, Tư Cầu lén rút êm đi. Tư Cầu đi thẳng xuống dưới bếp và thấy bác Hai gái đang lui cui bên mấy chiếc cà ràng ông táo, dưới ánh đèn dầu lù mù.
Anh ta cất tiếng hỏi:
– Má còn mần gì ở trong bếp đó má?
Bác Hai gái quay đầu lại:
– Thằng Tư đó hả? Sao mầy hổng ở trển tiếp khách mậy?
– Ối, mấy ổng cứ nói chuyện trên trời dưới biển hoài… nghe ngán thấy mồ! Mà sao má không lên uống nước trà cho vui?
Bác Hai phủi tay đứng dậy bưng cây đèn đặt lên trên bộ ván rồi đáp:
– Tao đời nào biết uống nước trà mậy! Hễ có khát thì ực đại một tô nước lạnh cho xong chớ hơi sức đâu mà ngồi cà rề ở đó nhâm nhi hết chén này đến chén khác, đã chát quánh mà còn mất thời giờ nữa!
Tư Cầu cười nói:
– Nếu ai cũng như má thì mấy chỗ bán trà… xập tiệm hết. (rồi nó ngồi xuống bộ ván và hỏi thêm) Mà má hơ cái gì trên bếp đó má?
– Ờ, tao sấy mớ cau… hồi chiều phơi nó chưa được ráo, sẵn có chút than dư bỏ uổng.
Tư Cầu từng có dịp thấy những bà ở chợ suốt ngày chỉ biết đi dông đi dài để ăn hàng vặt hay đậu chến, chớ không biết làm gì cho động đến móng tay, nay thấy má mình đã có tuổi mà còn tham công tiếc việc như vậy, lòng xót thương vô cùng. Anh ta chép miệng thở dài:
– Má hơi sức đâu mà mần cùi cụi suốt ngày suốt đêm như vậy hổng biết! Sao ở nhà má hổng lo cưới vợ cho anh Ba để có thêm người đỡ đần đôi chút hả má?
Bác Hai gái đang têm trầu bỗng dừng tay lại:
– Lo chớ sao hổng lo mậy! Nhưng mà lo… hổng nổi! Phần tiền nong đâu có dư dã gì, phần anh Ba mầy nó cứ lông bông hoài chẳng biết chí thú mần ăn gì ráo, thét rồi tao với tía mầy cũng bỏ trôi xuôi chuyện ấy luôn. (nhưng rồi bác gái lại tươi tỉnh nét mặt, trỏ Tư Cầu và nói tiếp) Chuyến nầy mầy dìa đây, thế nào tao với tía mầy cũng phải tính chuyện vợ con cho mầy gấp đa!
Tư Cầu cười lắc đầu:
– Tía má lo cho anh Ba trước đi! Phần của con đang… mê mê đây nè, gấp gì má!
Bác Hai gái hăng hái nói thêm:
– Ý, đâu có được mậy! Phải lo vợ để nó cầm chưn buộc cẳng mầy lợi chớ!
Tư Cầu cười xòa:
– Chuyện đó thì má khỏi lo: con bây giờ… bỏ neo luôn ở nhà rồi má à!
Nhưng rồi như nhớ trực lại điều gì, Tư Cầu bỗng nghiêm mặt lại và rụt rè lên tiếng hỏi bác Hai gái:
– Má à… hồi xế má nói để rảnh má kể lại cho con nghe cái chuyện ấy đó má!
Bác Hai gái chạy đi nhổ cốt trầu vào góc nhà rồi vội trở lại hỏi:
– Coi, chuyện gì mậy?
– Chuyện… của con Phấn đó mà!
Bác Hai gái thở hắt ra :
– Dữ hông! Thì mầy nói phứt ra hổng được sao lại cứ nói chuyện đó, chuyện đó hoài… tao biết đường đâu mà rờ. (rồi bác mỉm cười nhìn Tư Cầu một hồi lâu rồi nói tiếp) Thiệt mầy liều mạng hết sức! Tại sao mầy dám cả gan theo ngang con Phấn vậy hả, vậy mà hồi đó mầy hổng chịu nói thiệt với tao…
Tư Cầu hơi mắc cở nên xẻn lẻn đáp:
– Ối, chuyện đó… cũ xì má nhắc lại làm gì hổng biết! (nhưng anh ta bỗng đâm tức ngang) Mà thử thời hồi đó con có nói thiệt với má… cũng ăn trét hết!
Bác Hai gái cũng bực mình với nó:
– Cha, mầy nói cái giọng nghe coi sướng hông! Chớ hồi đó mầy ra đi như vậy, bên nhà con Phấn, người ta qua đào mồ cuốc mả lên, biết ai ở nhà mà nghe cho hết đây?
Tư Cầu đành xuống nước vuốt giận má mình:
– Thôi mà má! Chuyện đã dĩ lỡ ra rồi… bộ má nói con hổng rõ cái khổ đó sao, nhưng… bây giờ êm hết rồi.
Bác Hai gái còn nói lẫy:
– Ờ nếu êm hết thì thôi…vậy chớ mầy còn muốn hỏi tao chuyện gì nữa cho mất công.
Tư Cầu ấp úng:
– Con muốn hỏi má… chuyện con Phấn đó mà!
Bác Hai gái xem Tư Cầu còn nhớ con Phấn, nên bác cũng thấy cảm động và không nỡ rầy rà cự nự thêm nữa:
– Phần nó cũng… thuận chèo mát mái chớ hổng có sao hết, mầy khỏi lo.
– Con Phấn có trở dìa đây nữa hả má?
– Ừ, sau đó gần một năm nó có dìa đây… và có bồng theo một đứa con trai đầu lòng được bốn năm tháng gì đó… Đứa nhỏ cũng ngộ lắm, mà sao tao coi bộ nó… giống mầy đó Tư?
Tư Cầu giựt mình la hoảng lên:
– Ý trời… trời, má đừng đề “án tử” như vậy hổng nên?
Bác Hai gái giơ tay như muốn kềm nó lại và hạ thấp giọng xuống bảo nó:
– Mầy làm cái gì mà la bài hãi vậy! Tao đã nói êm hết rồi, con Phấn nó đã chịu thiệt với tao như vậy.
– Con gì ăn nói ẩu tả quá! Rủi cho ai hay biết có phải thêm lùm tùm lên hông?
– Ậy, tao đã nói hổng sao mà! Vợ chồng của nó ăn ở đề huề với nhau lắm chớ hổng có cái gì cắn đắn nhau về việc… đứa nhỏ ấy đâu? Mầy nghĩ coi: ngoài nó, tao và mầy ra thì còn ai vô đó mà biết được chuyện đó?
Tư Cầu cãi liền:
– Phần con thì mới nghe má nói đây chớ chẳng biết ất giáp gì ráo và hổng có… dính líu gì vô cái chuyện ấy hết!
Bác Hai gái trợn mắt:
– Coi, thằng nầy ăn nói ngang ngược vậy mà nó nghe được chớ! Mầy nói mầy hổng dính líu gì hết… vậy chớ chó nó vô đó hả? Ai mắc đền mắc bồi gì đâu mà chưa gì mầy chối leo lẻo hổng biết!
Tư Cầu cũng ráng nói thêm:
– Nhưng rủi con của nó ăn ở với thằng chồng bây giờ, rồi nó… hô là của con, đâu có được!
Bác Hai gái xì một tiếng:
– Thằng gì ăn nói lãng òm! Tao hỏi mầy: nó “hô” là con của mầy để gỡ vàng gỡ bạc gì đây chớ! Đằng này nó còn thương còn nhớ mầy nên gặp tao nó mới thú thiệt như vậy…
Tư Cầu gãi đầu suy nghĩ:
– Nhưng có lẽ nào… mau vậy cà? Nó… có hồi nào sao con hổng biết cà?
– Xời ơi, hồi đó mầy là con trai mới lớn lên u mê ám chướng, “nhảy a thần phù” đâm đầu vô chớ biết đách gì… mà bây giờ mầy bươi óc ra cho mất công hổng biết!
Nhưng Tư Cầu vẫn còn thắc mắc:
– Mà sao hồi nó rủ con đi, nó hổng nói thiệt cho con biết?
– Nó thương mầy, nó hổng muốn nói ra sợ mầy lo quýnh đít lên, rồi đổ bể tùm lum hết. Nó muốn giữ kín để sau nầy yên bề yên phận rồi nói ra cũng không muộn gì.
Tư Cầu bỗng nổi nóng:
– Cha, nó nói leo lẻo cái miệng như vậy chớ tại sao nó cho con… leo cây dọc đường để theo cái thằng chó đó?
Bác Hai gái chắc lưỡi:
– Mầy hổng biết: tại nó thương mầy đó Tư à!
Tư Cầu hỏi vặn lại:
– Nó nói hay má vẽ duyên ra như vậy?
– Coi, tao bày đặt bày điệu tế mồ tế tổ gì tao hả? Mà tao nghĩ lại cũng phải Tư à: nó thương mầy, nó không muốn cho mầy phải lao đao vì nó.
– Nó tốt quá há!
Bác Hai gái như không thèm để ý đến câu mỉa mai của Tư Cầu, nói tiếp:
– Nó nói: nó cũng đứt ruột bầm gan chớ bộ vui sướng gì sao… Nó nghĩ đến đứa con của mầy trong bụng. Phải làm sao cho nó nên người sau nầy, chớ chẳng lẽ khi đẻ nó ra rồi để cho nó sống cù bơ cù bất đầu đường xó chợ hay sao? Phần mầy, nói thiệt tình mà nghe, mầy cũng quá thiệt thà, như vậy hai đứa bây dầu có muốn đeo đẳng với nhau nữa, thì liệu mầy xoay trở làm sao khi lên tới Sài Gòn? Còn con Phấn nó túng thế phải bỏ nhà đi càn như vậy… Tuy nó có nhà bà con trên Cầu Ông Lãnh nhưng thử hỏi ai dám chứa tụi bây! Mầy phải biết: hễ là đàn bà thì hay… tính toán thiệt hơn, nên sẵn có dịp… quen biết với thằng chồng nó bây giờ, nó đành… tính như tao nói với mầy đó Tư!
Nghe Tư Cầu cười gằn, Bác Hai gái thở dài nói tiếp:
– Nghĩ cho cùng nó làm như vậy cũng hơi… ngặt. Nhưng nó tưởng mầy quay trở lộn lại dưới nầy cho được yên thân: đến chừng mẹ con nó dìa đây thăm bà con nó mới chưng hửng khi hay tin mầy biệt vô âm tín….
– Phải con chết bờ chết bụi chắc nó mát ruột lắm!
– Đừng nói bậy nà! Mầy hổng biết chớ lúc nó dìa đây gặp tao, nó khóc bù lu bù loa, nó thề bán mạng rằng: nó thiệt tình chỉ muốn lo cho mầy… mà không dè mầy lại dông luôn!
Tư Cầu nghe má mình nói như vậy hả dạ một phần nào, nhưng nó cũng ráng chêm thêm một câu cay đắng:
– May mà nó lo cho con có bấy nhiêu đó, chớ phải chi nó lo nhiều nhiều nữa chắc con bỏ xác luôn trên Nam Vang quá!
Bác Hai gái kiếm cách nói cho xuôi theo:
– Thôi Tư à, dầu sao phần nó cũng như phần mầy, ai nấy thảy đều êm thắm hết, thì mầy cũng nên… xính xái cho rồi.
Thấy Tư Cầu lặng thinh, bác Hai gái lại nói tiếp:
– Tao thường nghĩ rằng: chắc duyên số của hai đứa bây như vậy… Mà có lẽ như vậy tốt hơn Tư à!… Ý, tao quên nói việc nầy nữa: hồi con Phấn nó dìa đây, trước khi trở lên Chợ Lớn nó có đưa cho tao một trăm đồng bạc, tội nghiệp… tao hổng chịu lấy mà nó cứ nài ép hoài… Nói nào ngay, nhờ có số tiền ấy mà hồi tía mầy ổng đau liệt giường liệt chiếu mới có chút đỉnh để lo thuốc thang cho ổng, hông thôi cũng chịu chết!
Tư Cầu không biết nói năng gì thêm, nên chỉ hỏi lại cầm chừng:
– Vậy hả! À má, hồi nó dìa đây có chồng nó đi theo hông má?
– Hai mẹ con nó đi một mình hè! Thằng chồng của nó mắc trông coi công chuyện mần ăn ở trển đâu có bỏ ra được. Nghe nói chồng của nó mở một tiệm bán cây khá lớn mầy à! Nó có viết thơ cho con vợ nó cầm dìa đưa cho anh Năm ở bển.
– Có phải bác Năm của con Phấn hông má?
– Ờ phải, nó viết thơ dìa ăn nói đàng hoàng lắm! Thằng đó tuy là thằng khách trú, mà lời lẽ của nó có lễ nghĩa mực thước lắm chớ hổng phải theo điệu phang ngang bửa củi như mấy cha bán thịt heo dưới nầy đâu!
Tư Cầu mỉm cười đáp:
– Tưởng cái gì chớ cái đó con… dư biết rồi.
Bác Hai gái lại nói tiếp:
– Nó cũng có đem cái hình thằng chồng nó ra cho bà con lối xóm dưới này xem mặt nữa… Cha, cái thằng mặt mũi coi cũng… bảnh trai lắm chớ phải chơi đâu!
Tư Cầu lại cười:
– Cái đó thì con cũng… biết rồi nữa!
Rồi nhớ trực lại đứa con của Phấn, anh ta tò mò lên tiếng hỏi bác Hai gái:
– À má, về vụ… đứa con của con Phấn, bộ thằng chồng nó… hổng soi mói nọ kia gì hết sao?
Bác Hai gái cười xòa:
– Ối, sao thằng nầy nó hay lo từng chút hổng biết! Soi mói cái gì mới được chớ?… Mầy nghĩ coi: nó cũng… xê xích đâu đó chút đỉnh thì làm sao mà biết được!
Tư Cầu gật gù:
– Ờ, cũng phải… (rồi anh ta lại hấp tấp hỏi thêm) à má, má coi thằng nhỏ đó thế nào hả má?
– Thế nào là sao hả?
– Má coi nó có… khá hông, có… giống ai hông vậy mà!
Bác Hai nắm vội lấy tay của Tư Cầu và hạ giọng đáp:
– Trời ơi, phải mầy thấy coi, nó giống mầy y như đúc, tao trông thằng nhỏ là tao nhận ra liền… Nhứt là cái miệng y hệt miệng mầy! Nó dễ thương lắm mầy à!
Tư Cầu nghe vậy cũng thấy nao nao trong lòng. Anh ta cảm động hỏi bác Hai gái:
– Như vậy, con đây cũng… có con rồi à?
Bác Hai gái không nhịn cười được:
– Chớ sao! Bộ có cái gì lạ lắm sao mà mầy hỏi?
Tư Cầu cũng lắc đầu cười:
– Không má! Nhưng… khi không mà mình có con, nên cũng… kỳ kỳ!
– Thôi đi mầy! Cái gì mầy cũng nói “khi không” hết!
Vừa lúc đó bác Hai trai ở trên nhà trên đi xuống lên tiếng hỏi:
– Má bầy trẻ mần cái gì ở dưới đó?
– Lo nấu nước cho ông uống trà, rồi sấy ba mớ cau chớ mần gì nữa!
– Coi, bà nầy kỳ hông! Tui hỏi vậy thôi chớ có nói gì đâu mà bà cự nự chớ? Tui xuống mời bà lên trên nầy uống nước chơi.
– Bữa nay ông tử tế quá há!
Bác Hai trai như không để ý đến lời nói chanh chua của vợ, day qua bảo Tư Cầu:
– Tư à, mầy mời má mầy lên uống nước Tư, rồi cầm siêu nước theo luôn.
Bác Hai gái hỏi lại:
– Mà ở trển bạn bè của ông rần rần ra đó, tui lên mần cái gì?
– Bà khỏi lo, họ dìa ráo rồi!
Nhưng bác Hai gái còn tìm cách thoái thác:
– Nhưng tui hổng quen uống nước trà mà! Uống vô đây rồi thức trỏm lơ suốt đêm ai mà chịu nổi!
Bác Hai trai nhìn Tư Cầu cười hề hề:
– Ối dầu có thức đến sáng cũng hổng sao! Lâu lâu mới có dịp vui mừng như vầy chớ bộ ngày nào cũng có sao bà nó! Bà lên đây uống bậy một vài chén rồi tui bàn tính với bà một chuyện nầy.
– Chuyện gì thì ông cứ nói phứt ra cho tui nghe hổng được sao mà còn bày đặt…
Thấy tía má mình cứ nói cù cưa với nhau hoài, Tư Cầu bèn lên tiếng:
– Thôi, má lên trển uống nước ăn bánh một chút để coi tía nói cái gì đó…
Bác Hai nghe con trai nói vậy đành thở dài bước lên nhà trên…
– Má nó ngồi xuống đây… Còn thằng Tư, mầy cũng xáp vô uống nước chơi chớ đứng xớ rớ đó làm gì! Chuyện nầy cũng là chuyện của mầy nữa…
Tư Cầu vừa ngồi xuống một bên mép ngựa vừa ngạc nhiên hỏi tía mình:
– Thưa tía, cái gì mà có con ở trỏng nữa vậy?
Bác Hai trai đặt chén trà xuống khay nước:
– Thì để thủng thẳng tao nói tới rồi mầy biết… Cái thằng gì sao mà nóng nảy quá!
Bác Hai gái thấy vậy cũng bực mình:
– Có cái gì thì ông nói phăng ra hổng được sao? Tánh ông cứ khề khà hoài tui thấy xốn con mắt quá!
Bác Hai trai bị vợ cự nự nên cũng nổi dóa:
– Sao bà hay xía vô quá hổng biết! (rồi không biết nghĩ sao, bác lại dịu giọng nói tiếp) Tui kêu bà với thằng Tư lên đây là để bàn tính chuyện lo vợ con cho nó đó!
Tư Cầu vội nói:
– Việc gì chớ việc đó… tía để thủng thỉnh rồi tính hổng được sao? (rồi nó nhìn sang bác Hai gái) Như hồi nãy con đã có nói với má: con dìa đây ở luôn chớ đâu có đi nữa…
Bác Hai trai chận ngang:
– Thì đành rằng vậy rồi… nhưng tao muốn lo vợ cho mầy, trước là để có người đỡ đần má mầy một tay, sau là nó… buộc chưn mầy lại. (bác quay sang hỏi vợ) Tui tính như vậy, má nó nghĩ coi có được hông?
Lần đầu tiên, bác Hai gái hăm hở tán thành:
– Tía mầy nói phải đa Tư!
Tư Cầu hơi bực mình:
– Vậy tía má lo cho anh Ba trước hổng được sao?
Bác Hai trai vội đáp:
– Ối thằng chết dầm đó mà kể số gì! Nó có nên thân nên hình gì đâu mà mầy biểu tao lo!
Bác Hai gái nói chêm vào:
– Nè Tư, mầy phải cưới vợ đi rồi mới tính chuyện mần ăn lâu dài được chớ nếu mầy cứ một thân một mình hoài thì đâu có biết lo xa dành dụm để gầy dựng cơ nghiệp như người ta được!
Liếc nhìn thấy tía mình vừa nhâm nhi uống trà, vừa gật gù ra vẻ vừa lòng về những lời của má mình, Tư Cầu bắt tức cười vì sự… tương đắc hiếm có của song thân:
– Thôi được… nếu tía má đã nhứt định lo kiếm vợ cho con thì con đâu dám cãi, nhưng con xin tía má để ra giêng rồi hãy tính kỹ lại, bây giờ tới đó, tía má lo… chọn lựa đám nào đó cho có sẵn đi thì vừa.
Bác Hai trai đặt chén nước xuống:
– Coi, cái chuyện vợ con là chuyện quan hệ cả đời chớ bộ chơi sao, mà tao thấy mầy có vẻ xụi lơ vậy?
Tư Cầu cười đáp:
– Thì tía biểu con cưới vợ, con chịu cưới vợ chớ có cái gì đâu…
– Thôi đi mầy, tao từng tuổi nầy hổng biết sao mà mầy tính mà con mắt tao chớ? Thói thường, trai mới lớn lên nghe nói tới chuyện vợ con thì mừng rơn hay mắc cở, rồi đòi chọn lựa cho xứng đôi vừa lứa… còn đằng này, tao thấy mầy lơ lơ lừng lững như không…
– Thì con chịu cưới vợ đó, tía hổng thấy sao?
– Mầy “chịu” cái điệu đó tao nghe sao… xốn lỗ nhĩ quá vậy?
Tư Cầu dịu giọng phân trần:
– Thì tía má nghĩ lợi coi: con tuy chưa có già gì nhưng đời của con kể cũng như chán chê lắm rồi. Nay tía má muốn kiếm vợ cho con để yên bề gia thất lo tu chỉnh mần ăn với người ta… thì con xin vưng lời, chớ tía má biểu con chọn canh kén cá hay làm eo làm sách gì nữa!
Nghe Tư Cầu nói vậy, hai vợ chồng bác Hai yên lặng nhìn nhau. Một hồi lâu sau, bác Hai gái mới lên tiếng:
– Tư à, mầy nói như vậy cũng phải, nhưng tuy rằng tao với tía mầy lo kiếm chỗ đàng hoàng để hỏi vợ cho mầy, nhưng dầu sao mầy cũng phải xem coi có vừa mắt, hạp dạ hông, chớ mầy hổng chịu ngó ngàng gì tới hết sao được! Rủi sau nầy dìa ăn ở với nhau có điều gì hổng vừa ý rồi mầy đổ thừa nầy kia nọ, hay hất hủi người ta thì… kỳ lắm nghe!
Tư Cầu gãi đầu cười đáp:
– Má hay lo xa quá! Con cam đoan là hổng có như vậy đâu! Hễ tía má ưng chỗ nào thì con ưng chỗ nấy chớ khỏi có lộn xộn gì hết! Đó bây giờ tới Tết, tía má cũng còn rộng thì giờ để đi… coi vợ cho con.
Bác Hai trai chép miệng than:
– Thiệt tánh của mấy thằng lù khù như thằng Tư cũng khó chịu lắm chớ phải chơi đâu: hễ nó bướng lên thì can hổng nổi, mà nó có xuôi theo thì nghe cũng hổng… êm! Tư à, bộ mầy hết ham chuyện vợ con sao hả mậy?
Tư Cầu chắc lưỡi trả lời:
– Thưa tía, ham cưới vợ thì chắc hổng ham, nhưng… cần cưới vợ thì chắc là cần rồi.
Bác Hai trai Tư Cầu nói như vậy, nhìn vợ cười:
– Thằng nầy, bây giờ nó ăn nói trặc trẹo quá phải hông bà!
– Sao bà, bà có chấm chỗ nào để hỏi vợ cho thằng Tư chưa?
Nghe bác Hai trai hỏi vậy, bác Hai gái ngừng tay xỉa thuốc đáp:
– Cái đó thì tùy ông, chớ tui biết đâu là đâu!
– Coi, cũng phải hỏi qua bà mới được chứ!
– Vậy ông đã để ý đến đám nào chưa?
Bác Hai trai trầm ngâm một hồi rồi đáp:
– Kể ra thì cũng có nhiều nơi ngấp nghé muốn gả con cho thằng Tư lắm, nhưng tui chỉ chấm có nhà nầy…
– Coi, nhà nào mà tui hổng biết cà?
Bác Hai trai cười đáp:
– Tui chưa nói ra mà làm sao bà biết được! Với lại năm này qua tháng kia, bà cứ lúc thúc ở nhà hoài thì biết ai là ai. Cái đám nầy ở gần bên La-ghì, đứa con gái của vợ chồng anh Bộ Ngỡi đó mà!
Bác Hai gái ngạc nhiên:
– Ủa, sao ông lại chọn đám đó? Có phải con đó là đứa con gái Miên lai mà hai vợ chồng ảnh chỉ xin đem về nuôi từ hồi còn bú đó hông?
– Phải đa bà!
Bác Hai gái chắc lưỡi:
– Bộ hết nơi rồi sao mà ông lại nhè lựa cái con ấy cho thằng Tư?
– Coi con nhỏ ngộ lắm chớ bộ tệ sao? Tuy nó gốc người Miên nhưng bây giờ thì nó cũng y như mình.
Bác Hai gái cằn nhằn:
– Thiếu gì đứa khác coi được mà sao ông lại chấm chỗ đó hổng biết!
– Ậy, bà để tui nói hết cái đã! Ban đầu tui cũng nghĩ như bà, nhưng tính đi tính lai tui thấy chỗ đó là được hơn hết. Nhà người ta cũng thanh bạch như mình và từ trước tới giờ ăn ở có nhơn có đức, nhứt là con nhỏ đó nó chất phác thiệt thà.
– Thiệt thà quá rồi dìa đây nó biết mần ăn khỉ gì!
– Ý trời, con gái bây giờ nó tinh ma quỉ quái lắm nếu gặp đứa hổng nên nết dìa đây nó ngựa suốt ngày rồi bà có chịu đựng nổi hông? Nó thiệt thà quá thì có bà đó chi? Bà chỉ dẫn dạy bảo nó lần lần rồi quen chớ gì!
– Cái gì cũng tui hết!
– Coi, bà… giỏi thì tui mới nhờ cậy bà! Thôi bà ráng chịu khó đi bà! Bà hổng biết chớ sở dĩ tui lựa con đó cho thằng Tư là cũng có duyên cớ khác chớ hổng phải tui điên khùng gì đâu!
– Bà thiệt hổng suy tính gì ráo! Cái gương sờ sờ trước mắt đó mà chưa tởn! Bà phải biết thằng Tư nhà mình là một thằng hay dại gái, cái thứ đàn ông con trai mà coi lù khù như vậy thì thường hay u mê ám chướng vì đàn bà. Tui hỏi bà: nếu mình muốn kiếm vợ cho nó mà lại nhè lựa một con sắc sảo, khôn lanh, tui đố khỏi rồi đây nó bị con vợ nó xỏ mũi cho mà coi! Và chẳng sớm thì muộn, cửa nhà tan nát hết, tui nói như vậy bà nghĩ coi có phải hông?
Thấy vợ ngồi làm thinh, bác Hai trai lại nói tiếp:
– Thằng Tư nó đã có cái “huông” đó rồi thì bây giờ mình phải… chận trước mới được, và cũng vì vậy mà tui tính bàn với bà để mình đi qua bển coi vợ cho nó.
– Ông nghĩ như vậy cũng phải…
Bác Hai trai thở phào một cái rồi cười nói:
– Dữ hông! Hồi nào tới bây giờ tui mới nghe bà nói câu đó!
Bác Hai gái cũng vui vẻ đáp:
– Thì ông phải… tui nói phải chớ có cái gì đâu mà ông kêu rêu như vậy! (rồi bác nghiêm giọng hỏi thêm) Còn về cái việc vợ con cho thằng Tư, theo ý tui, kể ra như ông đã.. coi vợ cho nó rồi còn định ngày định giờ gì nữa cho rắc rối thêm nữa!
Bác Hai trai nhíu mày:
– Bà nói như vậy sao được! Cái chuyện vợ chồng ăn đời ở kiếp với nhau chớ bộ chơi sao mà lôi thôi được! Bề gì mình cũng phải hẹn ngày sang gặp hai anh chị ở bển để nói với người ta một câu cho phải lễ, với lại để cho thằng Tư nó sang chào hỏi người ta và xem mắt sơ qua con vợ nó sau này nữa chớ!
Bác Hai gái ngập ngừng nói:
– Nhưng… rủi thằng Tư nó… xem con đó hổng hạp nhãn thì sao?
– Ối, việc đó bà khỏi lo! Tui cũng đã nói… mí với nó rồi. Nó trả lời xụi lơ, nhưng mà tui biết là được.
Bác Hai gái thắc mắc:
– Ông coi chừng đa, rủi sau này có chuyện gì thì… ông lãnh chớ tui hổng có dính vô đó nghen!
– Bà khỏi lo chuyện đó! Nó nói vợ Miên, vợ Lèo gì cũng được hết. Cái thằng coi bộ chán đời dữ đa!
Bác Hai gái thở dài:
– Thì thôi, ông liệu sao đó cho xong thì liệu…
° ° °
Sáng hôm mùng bẩy, Tư Cầu mặc bộ đồ bà ba trắng, đầu đội nón tây, tay xách một cặp vịt đi theo tía má nó sang bên nhà ông Bộ coi vợ.
Nhà ông Bộ tuy ở gần chợ La-Ghì, nhưng nếu đi theo mấy bờ mẫu băng đồng thì chỉ cách xa nhà Tư Cầu độ bốn cây số là cùng.
Bác Hai trai, áo dài vắt trên vai, tay cầm dù che đi trước, hai chiếc guốc cây thì móc vào chỗ cái ngoéo cán dù, bác Hai gái mặc chiếc áo dài the đen, đầu đội khăn rằn đỏ, tay xách giỏ mây nhỏ đựng trầu cau, còn Tư Cầu lững thững đi phía sau như… một kẻ bàng quan. Đôi vịt bị xách dộng đầu xuống đất, thỉnh thoảng kêu lên “cáp cáp” làm cho Tư Cầu nhớ đến bầy vịt khi xưa của mình…
… Ờ, cũng chính theo mấy bờ mẫu nầy mà mình và Phấn dắt tay nhau lội băng qua đến đường cái để đón xe trốn lên Trà Ôn đây.
– Tư à, chừng qua tới bển rồi mầy liệu lời mà ăn nói thưa gởi với anh chị Bộ nghen Tư !
Tiếng của bác Hai trai kêu dặn làm cho Tư Cầu giựt mình và vội đáp :
– Dà…
– Anh chị Bộ ở bển cũng đã nghe nói sơ sơ về mầy và người ta cũng chịu mầy lắm, vậy mầy cũng ráng giữ gìn cho đàng hoàng một chút chứ cứ lù khù, lờ khờ hoài hổng có… lợi đa Tư !
– Dà.
Tư Cầu cứ dà dà hoài làm cho tía anh ta cũng bắt bực mình, và không biết nói năng sao nữa, bác Hai trai đành hậm hực rảo bước…
Đến nhà bác Bộ, hai bên ông bà suôi tương lai chào hỏi nhau rối rít. Tư Cầu tay cầm cái nón tây, tay xách cặp vịt đứng lựng khựng ở đó, lúng túng trả lời mỗi khi hai ông bà Bộ hỏi đến.
Chưa gì mà anh ta liếc thấy phía sau tấm màn che cửa đi vào nhà trong có bóng người lấp ló chen lấn nhau để nhìn trộm ra phía mình, rồi lại có tiếng cười khúc khích. Tư Cầu dự đoán đó là đám con cái của bác Bộ tò mò muốn xem mặt chú rể tương lai, và cảm thấy lúng túng, ngượng nghịu thêm lên.
Bác Bộ gái bỗng lên tiếng gọi vọng vào phía nhà trong:
– Con Thơm đâu rồi, bưng nước ra cho anh chị Hai và thằng Tư uống nghen con !
Tiếng gọi của bác Bộ gái dẻo nhẹo mà tiếng của con Thơm (ý chừng đã chực sẵn đâu phía sau màn) “dạ” vọng ra cũng… dẻo đeo. Nghe tiếng dạ trong trẻo và kiểu cách ấy, tự nhiên Tư Cầu bắt mỉm cười và nói thầm: “À té ra con đó tên Thơm, cái tên nghe cũng hay mà chẳng biết mặt mũi ra thể nào!”
Vừa lúc đó con Thơm vén màn bưng khay nước ra. Nó cúi đầu chào tía má Tư Cầu, nhưng làm bộ như không thấy có Tư Cầu đứng như trời trồng ở gần đó. Tư Cầu liếc nhìn nhanh về phía người vợ tương lai cả mình: ờ, kể ra cũng… coi được, trong ngày trọng đại nầy con Thơm… tóc tai láng mướt, quần áo sát rạt, Tư Cầu để ý nhứt đến đôi mắt to và hơi sâu, đến nước da bánh ít, đến mái tóc hơi dợn sóng của nó… những nét đặc biệt của một thiếu nữ gốc Miên.
Bác Bộ gái lại kêu con gái nuôi:
– Coi, sao con không mời thằng Tư uống nước vậy Thơm! Còn cháu Tư, ngồi xuống đó cháu!
Con Thơm bưng một tách nước cúi gầm mặt xuống đi lại phía Tư Cầu, khi đến nơi nó để cái tách xuống bàn trước mặt anh ta nghe một cái “cộp” rồi quày quả đi vô nhà trong.
Tư Cầu vẫn còn đứng xớ rớ chớ chưa ngồi xuống. Anh ta đang lúng túng không biết để cặp vịt vào đâu vì nãy giờ tía má anh ta mải lo ngồi trò chuyện với hai vợ chồng bác Bộ ở trên bộ tràng kỷ nên cũng quên khuấy đi mất vấn đề đó.
Tới chừng nghe tiếng vịt kêu cáp cáp bác Hai trai mới vội vàng nói:
– Ý chết, có cặp vịt tui kêu thằng Tư nó xách qua đây để cho anh chị… nấu cháo ăn chơi…
Bác Bộ gái vội đỡ lời:
– Thiệt anh ở bển bày đặt chi mắc công quá vậy hổng biết!
Bác Bộ trai thật thà hơn, vội đứng dậy gọi con gái:
– Con Thơm đâu rồi, sao mầy hổng ra đem cặp vịt xuống nhà sau đi, chớ để cho thằng Tư nó xách hoài mỏi tay chết nó sao!
Rồi bác chép miệng than:
– Bậy quá! Từ nãy giờ tui cũng sơ ý !
Tư Cầu chờ con Thơm… xông ra nhưng chẳng thấy đâu hết mà mãi một lúc sau mới có một đứa bé trai (ý chừng là em của nó) cười ngỏn ngoẻn đi ra xách cặp vịt mang vào… Tư Cầu thở hắt ra, nhẹ nhõm cả người.
Trong lúc tía má anh ta và hai vợ chồng bác Bộ ngồi nói chuyện như không bao giờ… rứt ra được ở phía bộ trang kỷ, thì Tư Cầu ngồi một mình bên này bàn, thơ thẩn hết nhìn con cu cườm đang gù gù trong chiếc lồng tròn treo dưới mái hiên. Bỗng Tư Cầu để ý đến tấm màn che cửa trong… một hàng bàn chân, lớn có nhỏ có ló ra phía mép dưới. Thỉnh thoảng lại có bàn tay khẽ vạch he hé vải màn qua một bên để dòm ra ngoài, và mỗi khi Tư Cầu quay phắt đầu lại, thì người ở phía trong cũng buông vội mép màn xuống như cũ…
Chẳng mấy lúc mà cơm nước đã dọn lên. Tư Cầu lại đành miễn cưỡng phủi chân ngồi lên bộ ngựa để… ăn cầm chừng. Rất may là con Thơm không có ngồi cùng mâm mà chỉ lo chạy tới chạy lui trông chừng bữa ăn.
Hai bác trai ngồi đối diện nhau, chén chú chén anh như hai người bạn cố tri, còn hai bác gái xầm xì nói chuyện nhà cửa, chuyện đầu trên xóm dưới.
Tư Cầu thấy không ai chú ý đến mình nữa nên cảm thấy dễ chịu và không còn lúng túng hoặc sượng sùng như khi mới đến. Nó thản nhiên ngồi nhìn, cố nhiên là bằng một cách kín đáo, con Thơm chạy đi chạy lại… và riết rồi anh ta cũng thấy con nhỏ… hay hay.
Sau bữa cơm, thừa lúc đi rửa miệng ở dãy lu nước phía bên hông nhà, Tư Cầu lẻn luôn ra phía sau vườn để… xả hơi một chút. Hồi sáng tới giờ ở riết trong nhà bác Bộ nên anh ta thấy tù túng vô cùng.
Đứng một hồi mỏi chân, Tư Cầu ngó quanh ngó ngó quất thấy có cây rơm mới chất ở gần gốc mấy cây măng cụt rợp bóng mát, nên anh ta rề lại trèo lên, ngồi nhún nhún trên lớp rơm một vài cái rồi ngả lưng xuống. Anh ta duỗi thẳng hai chưn và thở hắt ra một hơi dài khoan khoái. Mấy con cò trốn nắng trong bụi tre kế cận nghe động cất cánh bay vụt lên và kêu “cò cò” vang dậy…
Gió thổi hiu hiu làm cho Tư Cầu buồn ngủ nhướng mắt lên hết nổi. Anh ta ngáp mấy cái liền rồi ngoẻo đầu ngủ quên đi chẳng biết từ lúc nào…
… Mấy tiếng chó sủa phía trong nhà làm cho Tư Cầu giựt mình tỉnh giấc. Anh ta dụi mắt lia lịa và lấy làm ngạc nhiên sao mình nằm ngủ trên đống rơm. Anh ta bỗng nhớ trực lại… ờ, phải rồi lúc nãy mình trèo lên dây để nằm nghỉ lưng chơi một lát không dè ngủ quên đi một giấc khá lâu… Bóng nắng rọi qua các cành cây đã xế xế rồi còn gì.
Tư Cầu ngồi nhỏm dậy, và bây giờ anh ta mới để ý đến một chiếc mền ai đem đắp ngang bụng trong lúc anh ta ngủ quên. Anh ta dáo dác nhìn bốn phía và bắt gặp con Thơm và đứa em trai của cô ta đang đứng lấp ló sau gốc dâu để… rình mò mình. Tư Cầu vừa mắc cở vừa tức mình.
Con Thơm chạy vụt vào trong nhà còn đứa em trai của nó thì đứng lựng khựng lại đó. Thằng nhỏ vói tay bức mấy cái lá dâu ngắt năm ngắt bảy và xem ra bộ… muốn… làm quen.
Tư Cầu dơ tay ngoắc nó lại:
– Em ơi, lợi đây qua hỏi thăm chút em!
Thằng nhỏ cười lỏn lẻn rồi đi vè vè lại phía cây rơm.
Tư Cầu tuy nổi dóa trong bụng lắm, nhưng cũng ráng lấy giọng dịu dàng hỏi nó:
– Chắc qua… ngủ quên tự nãy giờ cũng hơi lâu lâu phải không em?
Thằng nhỏ gật đầu. Tư Cầu làm bộ thản nhiên hỏi thêm:
– Ai đem cái mền nầy đắp cho qua vậy em há?
Thằng nhỏ lại cười, rồi vừa quay đầu nhìn vô phía trong nhà vừa đáp:
– Chị Hai tui đó!
Tư Cầu nghe vậy giựt mình và nửa như hỏi thêm, nửa như cằn nhằn:
– Mà khi không đắp mền cho người ta làm chi vậy hổng biết!
Thằng nhỏ láu táu trả lời:
– Chị Hai chỉ thấy anh ngủ quên, sợ anh lạnh rồi bị trúng gió bất tử nên chỉ lấy mền ra đắp cho anh đó!
Tư Cầu nghe thằng nhỏ trả lời như vậy cũng cảm thấy mát ruột. Và anh ta mỉm cười nhìn thằng… em vợ tương lai:
– Vậy hả! Thôi em đem cất nó dùm qua cái em! À, em coi có còn cọng rơm cọng rạ nào dính ở trển hông để tối ngủ xót chết!
Tư Cầu vói lấy cái mền trao cho em con Thơm, và bỗng nhiên nó nghi ngờ hỏi thêm:
– Mà cái mền nầy của ai vậy em há?
– Của chỉ chớ của ai!
– Vậy hả! Hèn chi…
Tư Cầu bỏ lửng giữa câu, rồi giữ cái mền lại trong đôi bàn tay thêm một lúc nữa, đoạn mới trao hẳn cho em con Thơm.
Thằng nhỏ vừa quay lưng đi thì Tư Cầu kêu giựt ngược lại:
– Nè em ơi! Khoan vô đã, để qua hỏi thăm cái này chút xíu coi!
– Gì vậy anh?
– Ông già bà già của qua mần gì ở trỏng vậy em?
Thằng nhỏ vội đáp:
– Hai bác dìa mất đất rồi!
– Ý trời, thiệt sao em?
Không đợi thằng nhỏ trả lời, Tư Cầu tuột cái rột xuống đất và chạy lại níu vai nó hỏi dồn một hơi:
– Dìa hồi nào vậy? Mà tại sao lại đi dìa ngang xương vậy cà?
Thằng nhỏ đâm hoảng, ấp úng trả lời:
– Dìa cũng có cả tiếng đồng hồ rồi… Tui tính ra kêu anh nhưng hai bác nói để anh… ở bên này chơi… chiều mát trời dìa cũng được…
Tư Cầu chắc lưỡi liền miệng:
– Ổng bả muốn trát mình đây mà! Chơi khỉ khô gì mà chơi!
Rồi bỗng nhớ trực lại còn có em con Thơm đứng đó Tư Cầu vội nói gượng:
– Thôi em đi vô đi, để qua đi rửa mặt rồi qua cũng dìa luôn…
– Ủa bộ anh hổng ở lợi ăn cơm chiều rồi hãy dìa sao?
Tư Cầu lắc đầu:
– Thôi em à, để qua dìa cho sớm…
Thằng nhỏ thở dài:
– Vậy mà chị Hai chỉ lo vô nấu cơm rút lên cho anh ăn chớ!
Tư Cầu nhăn nhó chắc lưỡi:
– Ai biểu lo cơm nước làm chi cho mất công hổng biết!
Nói xong anh ta vùng vằng đi vô nhà, còn thằng em con Thơm thì lốc cốc ôm cái mền rảo bước theo sau…
Tư Cầu đi thẳng lên nhà trên lấy cái nón tây. Đến nơi nó đụng đầu với bác Bộ trai đang ngồi hút thuốc ở bộ tràng kỷ.
– Ủa Tư, cháu lấy nón đi đâu nữa đó?
Tư Cầu lần lần cái vành nón trong tay và ấp úng nói:
– Dạ… cháu xin bác… cho cháu dìa.
– Coi, làm gì gấp dữ vậy? Ở đây ăn cơm chiều rồi hãy dìa. Còn sớm bửng mà!
– Dạ… cám ơn bác, cháu phải dìa liền vì có chút công chuyện…
– Ối công chuyện gì cũng dẹp qua một bên hết. Mấy thuở cháu qua đây chơi! Với lại hồi nãy hai anh chị Hai ở bển có dặn cháu ở bên nầy đến sẩm tối dìa cũng được…
– Dạ… để khi khác… thưa bác cháu dìa!
Vừa nói Tư Cầu vừa rút đi xuống phía nhà dưới để tìm bác Bộ gái. Thấy vậy bác Bộ trai cũng tốc đứng dậy đi theo sau. Bác Bộ gái đang lui cui nấu nướng bên bếp nghe động vội quay lại và khi thấy Tư Cầu xách nón đi thẳng về phía mình, bác vội hỏi:
– Ủa, cháu tính dìa sao Tư? Ở nán một chút đi cháu, cơm nước con Thơm nó nấu cũng gần xong rồi!
Tư Cầu chưa kịp trả lời, thì bác Bộ trai ở phía sau đi trờ tới và nói hớt:
– Thằng Tư nó nằng nặc đòi dìa đó bà, tui cầm giữ hết sức mà nó cũng không nghe.
Tư Cầu vội xuống giọng khẩn thiết để tìm cách thoái thác:
– Xin hai bác đừng bắt lỗi… thiệt tình thì cháu có chuyện cần lắm nên mới phải dìa gấp như vậy… Chiều nay, cháu có hẹn với người quen về công chuyện buôn bán mần ăn… Dạ, muốn mần ăn lâu dài mà mới có lần đầu mình ăn nói sai chạy với người ta thì… coi cũng kỳ.
Bác Bộ trai vừa ý gật gù:
– Phải đa cháu… chơi bời là chơi bời, còn mần ăn là mần ăn, cái nào cái nấy phải cho rành rẽ đàng hoàng! Thôi, nếu cháu hổng có rảnh như vậy thì bác đây cũng chẳng nài ép làm gì.
Tư Cầu lúng túng “dà” một tiếng, nhưng rồi bác Bộ trai lại hỏi:
– À cháu Tư, còn cái việc… vợ con của cháu… cháu nghĩ như thế nào vậy cháu?
Bác Bộ gái tự nãy giờ đứng yên, đến chừng nghe chồng hỏi Tư Cầu câu đó, bác cười nói chen vào:
– Để thủng thỉnh chớ ông! Chưa gì ông hỏi… nôn như vậy làm sao thằng Tư nó trả lời cho được?
Nhưng Tư Cầu đã vội đáp:
– Dạ thưa hai bác, cháu thì… sao cũng được!
Bác Bộ trai ngửng thẳng đầu lên nhìn anh ta:
– Coi, cháu nói mờ ớ như vậy sao được! Ừ hay không thì cháu nói một tiếng… Bác hổng nói dấu gì cháu: con Thơm, tuy nó là con nuôi nhưng hồi nào tới giờ hai vợ chồng bác đây coi nó như con ruột, vậy cháu có thuận cùng không thì cháu cũng nên nói qua cho bác biết để bác còn liệu…
– Dạ, thiệt tình thì đối với cháu… sao cũng được hết. Phận của cháu như vầy, cháu đâu có dám kén cá chọn canh gì nữa! Dạ tánh cháu cũng… dễ lắm hai bác à!
Bác Bộ gái lại chen vào:
– Thằng Tư nó nói vậy là nó chịu rồi đó ông à! (rồi bác quay qua Tư Cầu) Phải vậy hông cháu Tư?
Tư Cầu bắt tức cười:
– Dạ… dạ phải đó bác!
Bác Bộ trai hớn hở vỗ nhẹ vào vai… chàng rể tương lai:
– Vậy thì cháu dìa thưa lại với hai anh chị ở bển rằng: mọi việc kể như xong xuôi hết, hai anh chị lo coi ngày tốt lần đi thì vừa…
– Dà… thôi cháu thưa hai bác cháu dìa.
– Ừ, cháu dìa đi… Mà nhớ lời bác dặn dò đó nghen cháu!
Bác Bộ gái cũng niềm nở bảo Tư Cầu:
– Bữa nào rảnh cháu lội qua đây chơi… bên đó với bên này cũng gần xịch chớ xa xiếc gì. Cháu đừng ngại chi hết, nói cho cùng mà nghe: bây giờ thì kể ra… cháu đâu còn là người dưng kẻ lạ gì nữa! Nhớ nghen cháu, bác trông lắm đa!
– Dà…
Bác Bộ gái lại quay ra gọi con Thơm đang rửa rau ngoài sàn nước ở cạnh nhà bếp:
– Thơm a… anh Tư mầy dìa nè Thơm!
Con Thơm xách rổ rau dền chạy vô nhưng rồi lại đứng khựng lại ở ngưỡng cửa bếp.
Tư Cầu lần lượt chào hai vợ chồng bác Bộ, và khi đi ngang qua chỗ con Thơm đứng, anh ta khẽ cúi đầu. Con Thơm háy anh ta một cái rồi làm ra tuồng giận lẫy ngoe nguẩy xách rổ bỏ đi ra ngoài sàn nước…
Thế là xong một chuyến đi coi vợ của Tư Cầu.
Hôm nay là ngày đám cưới của Tư Cầu.
Anh ta chẳng thấy vui chút nào, và lại hơi bực mình là đằng khác, vì suốt từ sáng tới khi rước dâu xong anh ta luôn luôn bận rộn tiếp khách. Ông bà khách nào gặp anh ta cũng hỏi chuyện dằng dai, chuyện nọ xọ qua chuyện kia và khổ nỗi… toàn là những thứ chuyện mà Tư Cầu không muốn ai nhắc tới nữa…
Trong không khí ồn ào rộn rịp của đám cưới, đôi lúc Tư Cầu cảm thấy lòng mình bâng khuâng như thế nào ấy… Anh ta như nhớ như tiếc, như không vừa ý một cái gì…
… Tư Cầu thở phào ra rồi nằm lăn ra trên chiếc chõng cây mới đóng rộng thinh thang và có trải một chiếc chiếu Cà Mau cũng mới tinh. Tất cả đồ đạc gì trong buồng… tân hôn cũng đều mới cắt chỉ cả: từ cái mùng, cặp gối, cái mền đến tấm vải màn màu hường che ở cửa buồng cũng vậy.
Nhìn những đồ đạc ấy, tự nhiên Tư Cầu bắt mỉm cười. Ngọn đèn dầu ống khói trứng vịt treo ở cây cột dựa vách tỏa ra một thứ ánh sáng vàng vàng càng làm cho gian buồng mới tinh ấy thêm vẻ ấm cúng đặc biệt.
Giờ nầy những khách khứa thuộc vào hạng đến làm giúp đã rủ nhau về hết. Tía má Tư Cầu và một vài người bà con gần nhứt cũng lo sửa soạn đi ngủ vì mấy ngày rày bận lo cho đám cưới nên ai nấy cũng đều thấm mệt hết. Cô dâu mới thì lo sắp dọn lại mớ chén bát, và tuy công việc cũng xong xuôi hết rồi, con Thơm vẫn ráng cà rà mãi ở dưới bếp. Sau khi bác Hai gái hối nó tắt đèn đóng cửa lại đến năm lần bảy lượt, nó mới chịu thu xếp để lên nhà trên… Và khi lên đến nhà trên nó cũng còn quanh quẩn riết ở đó cho đến khi mọi người vô mùng hết, nó đành chịu phép… đi lần vô buồng riêng.
Thấy con Thơm vén màn bước vào Tư Cầu vội ngồi nhỏm dậy hỏi trống không:
– Bộ công việc xong rồi hết hả?
Con Thơm “ừa” một tiếng trong cổ họng rồi đứng lựng khựng ở đó.
Tư Cầu ngồi vấn một điếu thuốc rồi đứng lên bước lại kê vô đèn đốt. Xong xuôi anh ta lên tiếng bảo con Thơm:
– Thôi đi ngủ đi chớ cũng khuya rồi đa!
Con Thơm chẳng nói chẳng rằng quay lưng đi ra phía cửa buồng. Tư Cầu vội hỏi:
– Coi, đi đâu nữa đó?
– Đi… uống nước!
Nói xong nó vội vã đi thẳng y như là khát nước từ tám mươi đời vương nào vậy. Tư Cầu thấy vậy nhún vai rồi ngồi lên mép chõng.
Độ mười lăm phút sau con Thơm mới ló mặt lên. Tư Cầu mỉm cười hỏi:
– Cha, uống nước gì lâu quá vậy? Chắc đi lên tới chợ mới có nước uống phải hông?
Con Thơm “hứ” một cái rồi ngồi phịch xuống ở đầu nầy chõng. Tư Cầu ngáp liền mấy cái dơ tay dán đuôi thuốc vào kẹt cột rồi hối con Thơm:
– Thôi đi ngủ đi, chớ bộ tính ngồi vầy hoài tới sáng sao!
Con Thơm ngó lên nóc nhà đáp:
– Ai buồn ngủ thì ngủ trước đi, tui còn thức!
– Thức chi vậy?
– Thức… chơi, bộ hổng cho sao?
Tư Cầu “xì” một tiếng rồi đứng lên đi lại chỗ treo cây đèn dầu và nói:
– Tui tắt đèn nghen!
Con Thơm vội cản liền:
– Thôi thôi… để đó cho tui!
– Để chi vậy?
– Tối thui… tui ngủ hổng quen!
Tư Cầu thở dài:
– Thì thôi! Muốn để đèn thì… để đèn!
Rồi không biết nghĩ sao nó dịu giọng bảo con Thơm:
– Thôi em đi nghỉ đi, suốt ngày hôm nay mần hổng hở tay mệt hụt hơi còn gì!
Đó là lần đầu tiên Tư Cầu dùng “em” để gọi… vợ mới cưới. Anh ta dùng tiếng “em” không phải vì muốn tỏ vẻ âu yếm với vợ, mà chính vì muốn làm lành cho… êm chuyện.
Con Thơm nghe anh ta nói như vậy cũng dịu giọng đáp:
– Tui chưa buồn ngủ… Anh đi ngủ trước đi!
Tư Cầu vói tay buông hai cửa mùng xuống rồi nằm ở phía ngoài và dặn con Thơm:
– Chút nữa em có ngủ, em vô nằm ở phía trong nghen!
– Ừa.
… Tuy vậy, khi Tư Cầu thấy con Thơm cứ ngồi lì ra nên cũng sốt ruột:
– Thôi em đi nghỉ đi, chớ ngồi ở đó hoài muỗi cắn chết còn gì!
Thấy con Thơm vẫn ngồi làm thinh, Tư Cầu chắc lưỡi ngồi rột dậy. Anh ta vén mùng chui ra ngồi bỏ thõng hai chân xuống đất, chống hai tay lên thành chõng để ý xem con Thơm làm gì. Con Thơm nghiêng đầu như mải mê nhìn theo bàn tay của mình đang tước tước một cọng lác ló ra ngoài mép chiếu. Tư Cầu lắc đầu mỉm cười. Và khi anh ta ngắm nghía cái cườm tay tròn lẳn của con Thơm, anh ta bỗng nhớ trực lại món quà của con Ba tặng cùng những lời dặn dò cảm động khi anh ta xuống tàu để rời khỏi Nam Vang. Anh ta vỗ “bách” vào đùi rồi vội vã đứng vậy và kêu lên:
– Chết cha, còn chút nữa quên lú cái nầy!
Con Thơm ngước mặt lên nhìn nó như để hỏi han. Nhưng Tư Cầu đã bước thẳng lại chỗ để va li và mở nắp lục lọi lấy ra chiếc vòng bạc chạm.
Anh ta tươi cười nắm chặt lấy chiếc vòng trong tay một hồi lâu: Thật ra không phải Tư Cầu vui thích vì sắp tặng một món nữ trang cho người vợ mới cưới của mình mà chính thật ra anh ta hài lòng vì đã thực hiện đúng lúc, kịp thời lời căn dặn đầy chân tình của con Ba trong lúc vĩnh biệt…
Tư Cầu hí hửng cầm chiếc vòng bạc đến gần con Thơm và ngồi xuống bên cạnh:
– Đây tui cho riêng em cái nầy đây!
Con Thơm tuy thấy rõ chiếc vòng bạc trong lòng bàn tay của Tư Cầu nhưng nó cũng làm bộ hỏi lại:
– Cái gì đó nữa?
Tư Cầu thận trọng cầm lấy chiếc vòng trên mấy đầu ngón tay ra:
– Chiếc vòng bằng bạc chạm chớ cái gì? Em đưa tay ra để tui đeo cho.
Con Thơm tuy thấy thích trong lòng nhưng vẫn ngồi ì ra đó. Thấy vậy, Tư Cầu mở khóa vòng ra, rồi trịnh trọng đeo vào cườm tay trái của con Thơm. Đeo xong, anh ta buông tay ra, hơi ngửa đầu ra phía sau một chút để ngắm nghía:
– Tui đeo cho rồi đó! Sao, em coi có được hông?
Con Thơm chúm chím cười và gật đầu. Đoạn nó dơ tay lên phía có ánh đèn để nhìn kỹ lại món nữ trang ấy:
– Vòng nầy là vòng kiểu Miên phải hông… anh?
– Ừ.
Con Thơm dần dà hỏi thêm:
– Sao hôm lễ hỏi cho đồ bên đàng gái anh hổng đưa luôn?
Tư Cầu ấp úng đáp:
– Ờ… tại… cái nầy là của… riêng của tui…
Con Thơm cau mày:
– Vậy hả! Mà sao anh biết sắm thứ nầy? Anh sắm hồi nào vậy?
Tư Cầu gãi đầu:
– Ối thứ nầy thiếu gì… hồi tui đi Nam Vang… mần ăn, tui thấy ngộ nên mua để sẵn chơi vậy mà!
Rồi Tư Cầu hỏi lảng ra:
– Mà sao em biết vòng nầy kiểu Miên?
Con Thơm cười đáp:
– Anh khéo quên thì thôi! Tui gốc người Miên mà!
– Ở phải… lúc qua bển rước dâu, có tía má ruột của em đến nữa mà tui quên chớ! (rồi anh ta hỏi thêm) Nghe nói tía má ruột của em cũng ở gần đó phải không?
– Phải, hai ổng bả ở trong sóc cách đó lối non hai cây số… hồi còn ở bển tui dìa thăm hoài!
– Em đi lấy chồng như vầy chắc hai ổng bả nhớ lắm!
Con Thơm rầu rầu nét mặt đáp:
– Ổng bả thương tui lắm, nhưng vì nghèo quá nên để tui ở luôn với tía má tui bây giờ cho được sướng tấm thân hơn…
Tư Cầu chép miệng than:
– Tội nghiệp quá há!
Rồi nhận thấy con Thơm đã quên khuấy không hỏi phăng tới về… gốc tích của chiếc vòng bạc nữa, và giữa hai người cũng đã có không khí… quen quen nhau hơn, Tư Cầu bèn đứng dậy đi lại bên cây đèn rồi kê miệng vô thổi tắt ngóm.
Con Thơm vội kêu lên:
– Coi, ai biểu anh tắt đó hả?
Tư Cầu vừa lần mò lại phía chõng vừa nói nho nhỏ:
– Em mà la om sòm như vậy, ở ngoài người ta tưởng tụi mình… cãi lộn thì kỳ lắm đa!
Con Thơm ý chừng cũng chợt nhận thấy mình đã quá to tiếng nên hạ giọng cằn nhằn:
– Tui đã nói đừng có tắt đèn mà! Quẹt ống quẹt lên đốt lại đi anh!
Tư Cầu ngồi lên chõng và xì xào nói:
– Thì đằng nào mình cũng phải đi ngủ cho nó xong cái đêm nay đi, chớ chẳng lẽ tui với em cứ lằng nhằng như vầy đêm này qua đêm nọ… đến suốt cả đời được hay sao! Thôi nằm xuống ngủ đi em…
Vừa nói Tư Cầu vừa luồn một tay qua bên hông con Thơm để kéo nó chui vô trong mùng. Con Thơm vội hất tay nó ra ngồi nhốm dang ra xa thêm một chút nữa. Nhưng rồi không biết nghĩ sao nó lại vén mùng lên chun tọt vào rồi bò mau về phía trong cùng chõng nằm xuống, y như là sợ bị Tư Cầu… vớ ngang bất tử vậy.
Tư Cầu cũng vô mùng nằm ở đầu ngoài chõng.
Trong nhà, ai nấy đều đã ngủ say. Tư Cầu lắng nghe rõ tiếng ngáy rồ rồ như tiếng máy xay lúa của tía nó ngoài bộ ngựa giữa, tiếng nghiến răng ken két từng chập của thằng Năm và đôi lúc tiếng lụp cụp lạc cạc của ba con chuột lục lọi nơi giàn bếp…
Chiếc đồng hồ trứng dái ngựa cũ kỹ treo trên vách buồng ngoài bỗng kêu lên xè xè mấy tiếng như để lấy hơi, rồi khàn khàn đổ kiểng từng tiếng một như có vẻ cố gắng lắm mới đánh lên…đủ số giờ!
Và trong nầy, Tư Cầu kiên nhẫn đếm từng tiếng… một, hai… ba… cho đến tiếng thứ mười hai. Tư Cầu nghe đồng hồ gõ đúng mười hai tiếng nên càng thêm bực mình. Thật ngủ cũng chẳng yên mà thức cũng chẳng xong.
Một hồi lâu sau, anh ta lên tiếng hỏi con Thơm:
– Ngủ hay thức đó em?
Không nghe con Thơm nhúc nhích hay trả lời gì hết, Tư Cầu vói tay qua vừa lắc nhẹ vai nó vừa hỏi lại:
– Em ơi, còn thức hay ngủ hả?
– Ngủ rồi! (Con Thơm vừa trả lời vừa dùng vai hất mạnh bàn tay Tư Cầu ra).
Tư Cầu bắt tức cười và nghĩ thầm: “Cha, làm bộ e lệ, mại hơi hoài!”. Và anh ta lại đưa tay qua xoa nhẹ lên vai con Thơm…
Con Thơm vội nép mình sát vô thành chõng phía trong vách và cự nự:
– Anh nầy kỳ quá! Bộ anh hổng để tui ngủ hả?
Tư Cầu ngạc nhiên hỏi:
– Coi, em nói thiệt hay nói giỡn đó?
– Nói thiệt!
Nghe giọng nói của con Thơm có vẻ sẵng, Tư Cầu đâm ra nổi nóng. Anh ta vội đưa tay qua nắm lấy vai con Thơm lật mạnh trở về phía mình… con Thơm vùng lại, rồi nhanh như chớp nó quơ lấy cái mền rũ ra, quấn chặt lấy người và lăn qua sát phía trong thò tay níu chặt thành chõng hầu lấy thế rị lại một khi Tư Cầu còn muốn lôi kéo nữa…
Tư Cầu rất bực mình: đêm càng khuya mà hai đứa nó cứ xô qua kéo lại như thế này thì biết đến bao giờ mới chợp mắt ngủ được. Không phải anh ta ham muốn hay rạo rực gì cho lắm ở cái đêm tân hôn nầy, nhưng trước đây, anh ta không muốn cưới vợ mà rốt cuộc cũng phải cưới vợ thì cái đêm có vợ đầu tiên nầy cũng phải cho nó…. rồi đi, chớ cứ để mưa mứa như vầy hoài… thật khó mà yên tâm được. Nhứt là khi Tư Cầu nghĩ đến những lần đầu tiên con Phấn rồi con Ba ôm ấp lấy mình… Thiệt sao mà dễ dàng quá đỗi! Giờ đây, hồi tưởng lại những giây phút ấy, Tư Cầu vẫn thấy còn hồi hộp trong lòng…
Còn bây giờ với con Thơm thì sao lại… rắc rối, trục trặc như thế này? Ờ, Tư Cầu mới nghĩ ra: đàn bà thiệt là khó hiểu, thiệt không biết đâu mà rờ. Đứa dễ đứa khó… đứa nào cũng làm cho Tư Cầu, nếu không sợ sệt, không lo âu thì cũng phải bực mình.
Mà Tư Cầu thuận lấy vợ đây cốt là để cho được rảnh trí yên thân…
Nghĩ đến đó, anh ta càng thêm nổi nóng. Và không thèm suy tính gì nữa anh ta bỏ gối lăn qua ôm ghịt lấy con Thơm kéo lôi ra phía giữa chõng… Nhưng mặc cho anh ta kéo, con Thơm nắm cứng lấy thành chõng và hai chân nó còn chòi đạp nghe rầm rầm. Tư Cầu tức mình lấy chân quặp chặt lấy chân của con Thơm không cho nó cựa quậy gì nữa…
Bỗng con Thơm buông hai tay níu thành chõng ra để chụp lấy bàn tay của Tư Cầu. Tư Cầu định giật ra nhưng con Thơm đã lẹ làng quay đầu ra cắn mạnh một cái vào cườm tay của anh ta. Tư Cầu vừa kêu “ái” vừa thuận chân đạp luôn con Thơm một cái. Anh ta quay về nằm ở chỗ cũ và vừa xoa xoa trên chỗ bị cắn đau vừa hít hà liền miệng.
Đoạn anh ta vùng ngồi dậy định chuyến nầy làm cho lại gan với con Thơm, nhưng vừa lúc đó anh ta nghe có tiếng tằng hắng của tía mình ở ngoài nhà trên, rồi tiếp theo những tiếng ho, tiếng trở mình của mấy người khác ở trong nhà… Đúng là ai nấy đều thức hết rồi. Tư Cầu lẩm bẩm: “Ở trong nầy con mắc dịch nầy nó làm rầm rầm như vật lộn vậy, mà ở ngoài người ta không thức hết sao được!”.
Anh ta lại nằm trở xuống lại, thở dài sườn sượt rồi lẩm bẩm:
– Ứ hự, bậy bạ lăng nhăng cũng hổng xong mà cưới hỏi đàng hoàng cũng hổng… êm!
Đoạn anh ta lăn mình quay mặt ra phía ngoài…
Trời về khuya càng thêm lạnh. Tư Cầu quơ tay định tìm cái mền để đắp, nhưng anh ta nhớ trực lại con Thơm đã lấy cái mền ấy quấn chặt lấy mình rồi còn đâu!
Tư Cầu lắc đầu quay ra, nằm chò co đánh một giấc luôn cho tới sáng….
Sáng hôm sau, cả Tư Cầu lẫn con Thơm đều có vẻ xẻn lẻn nhứt là khi mọi người trong nhà, ai ai cũng đều liếc nhìn hai vợ chồng anh ta như để dò xét, để tò mò muốn tìm hiểu một cái gì…
Con Thơm thì cứ cúi gầm mặt xuống suốt ngày. Thừa những lúc rảnh rang hay vắng vẻ, Tư Cầu tính mon men lại để hỏi han làm lành với vợ, nhưng lần nào cũng bị con Thơm tìm cách lánh mặt trước, hoặc ngoe nguẩy bỏ đi sau một vài cái nguýt, cái háy!
Và sau mỗi lần như vậy, Tư Cầu chỉ biết đứng sựng ở đó, chép miệng than:
– Con này sao… lạ quá vậy cà!
Tối đêm đó vẫn cái cảnh lôi kéo giằng co để rồi mạnh ai nấy ngủ quay mặt đưa lưng lại với nhau… Và Tư Cầu càng thêm ngơ ngác, càng thêm vững tin rằng đàn bà vốn thật khó hiểu, y như là trước đây đã có mấy lần anh ta nhận xét như vậy.
Qua đêm sau nữa, Tư Cầu vào buồng để đèn y nguyên, leo lên chõng nằm đúng vào chỗ cũ mọi khi rồi thản nhiên nằm ngủ như không biết có con Thơm bên cạnh.
Con nầy nằm yên một hồi, nhưng sau đó, khi nó thấy Tư Cầu có vẻ muốn ngủ thật chớ không đá động gì đến nó hết, nó lại đâm ra… bực mình trở ngược lại. Tuy rất bực mình nhưng con Thơm không biết làm gì khác hơn là: hết trở mình đến bẻ mấy ngón tay kêu răng rắc, rồi giơ tay đập muỗi… tưởng tượng nghe bôm bốp…
Tư Cầu vẫn không nhúc nhích và con Thơm lắng tai để ý còn nghe rõ hơi thở của anh ta đều đều y như là sắp sửa ngáy đến nơi vậy. Tuy vậy, con Thơm vẫn tin rằng Tư Cầu chưa ngủ và đó là điều làm cho nó thêm… tím ruột bầm gan. Nó day qua trở lại một hồi, rồi kê mặt lại gần lưng Tư Cầu hỏi nho nhỏ:
– Bộ anh ngủ rồi hả anh Tư?
Tư Cầu bắt đầu ngáy đều đều…
Con Thơm tức quá nói lớn:
– Thôi! đừng có làm bộ ngủ… cha, bộ dễ gạt con nầy lắm há!
Tư Cầu lăn trở mình qua, nói ú ớ trong miệng những gì không rõ…thật y như là một người đang mớ ngủ vậy.
Con Thơm hết nhịn nổi. Nó kê sát vào lỗ tai Tư Cầu nói… gần như là la lên:
– Bà bắn đứa nào làm bộ ngủ!
Tư Cầu suýt bật cười, nhưng ráng giữ lại kịp và làm như rên ư ư trong miệng rồi day mặt ra phía ngoài chõng nằm chèo queo lại ngủ.
Con Thơm hết biết nói sao nên đành nằm về chỗ cũ. Nó thở dài sườn sượt rồi vớ lấy cái mền liệng tung vào phía dưới chõng.
Tờ mờ sáng hôm sau, Tư Cầu còn nằm lim dim trên chõng thì nghe có tiếng rột rạt ở phía tủ. Anh ta nhỏm đầu dậy nhìn ra thì thấy con Thơm đang sắp xếp quần áo để gói vào trong một chiếc khăn bàn lông to.
Anh ta vội tốc mùng ra hỏi:
– Làm cái gì mà mới mở con mắt ra em lo gói ghém quần áo vậy hả?
Con Thơm hứ một tiếng rồi hỏi lại:
– Bộ… cấm hả?
Tư Cầu chắc lưỡi:
– Ai mà nói cấm cản gì đâu… nhưng thấy kỳ nên tui hỏi cho biết vậy mà.
Con Thơm ôm gói quần áo lên rồi cười lạt:
– Anh muốn biết… tui cho biết luôn: tui dìa bển đây!
Tư Cầu trợn mắt hỏi lại:
– Em nói thiệt hay nói chơi đó? Cái gì vợ chồng cưới nhau còn mới ràng ràng, còn nằm chưa đủ ấm chỗ, mà em lại đòi dìa… là dìa làm sao hả?
Con Thơm lại cười mũi:
– Ờ… bị còn mới ràng ràng nên mới dìa gấp đó!… Hứ bộ anh nói con nầy cần đến ai lắm hả? Có chồng hay hổng có chồng thì thôi, chớ bộ chết hay sao mà sợ!
Tư Cầu biết vợ mình giận lẫy, nên xuống nước phân trần:
– Coi, em nói vậy sao! Bề gì tui với em cũng thành vợ chồng do cha mẹ đôi bên đặt để, bây giờ em bỏ đi ngang xương như vậy… coi sao phải!
Con Thơm không biết trả lời sao khác hơn là tìm cách nói xiên nói xéo:
– Chớ người ta… hổng phải với tui thì được hả?
Tư Cầu bắt tức cười:
– Coi, cái gì mà phải với hổng phải xen vô đó nữa?
– Cái đó thì… anh dư biết, anh cần hỏi tui làm chi cho hao hơi tổn tiếng vậy!
Tư Cầu lắc đầu:
– Coi, em nói vậy sao được! Em nghĩ kỹ lại xem: đâu phải cái gì cũng tại tui hết ráo trọi! Em có làm sao mới sanh ra rắc rối như vậy…
Con Thơm vội chận ngang:
– Thôi, thôi, bây giờ khỏi nói gì nữa cho mất công, tui đi dìa đây!
– Em nghĩ cho chín chắn chớ làm như vậy… kỳ lắm đã nghen! Thiệt tình thì đối với tui… hổng ăn thua gì hết nhưng còn tía má ở bển cũng như ở bên nầy, và bà con cô bác xóm giềng nữa!
– Ối, ai giỏi nói thì nói chớ trời cản tui cũng đi… (rồi nó nói gằn thêm…) Ờ, đối với anh hổng ăn thua gì hết há! Cha, anh nói cái giọng đó nghe bảnh đa! Anh hổng ăn thua gì hết… thì tui cũng hổng cần gì hết! Thôi, tui đi dìa đây.
Tư Cầu vội chạy ra chận cửa:
– Em có muốn đi tui không cản, nhưng… em chịu khó vô nói qua với tía má một tiếng…
Con Thơm xô tay nó qua một bên:
– Thôi, để tía má nghỉ… anh chịu khó anh nói lợi dùm tui đi!
Nói xong, nó xăng xái ôm gói quần áo đi ra.
… Tư Cầu ráng đi theo vợ ra tới ngoài sân:
– Bộ em đi thiệt hả?
– Thì đi đây nè, còn thiệt với giả gì nữa!
Tư Cầu đứng khựng lại:
– Mầy đi thây kệ mầy, bộ nói tao cần lắm hả! Thứ đồ làm bộ…
Con Thơm cười lạt rồi… đỏng đa đỏng đảnh đi luôn.
… Chiều hôm đó, Tư Cầu đang ngồi xe sợi nhợ để sửa soạn đi câu rê ở bờ đập trong ngọn kinh, thì nghe má anh ta gọi ở dưới nhà:
– Tư ơi, mầy xuống đây tao nói cái nầy một chút coi!
Tư Cầu còn nán xe xong sợi nhợ để tóm lưỡi câu rồi mới đứng dậy lững thững đi xuống nhà dưới:
– Má kêu con có chuyện chi vậy má?
Bác Hai gái thở ra:
– Thì còn chuyện gì lọt vô đây! Mầy phải ráng làm sao chớ bắt tao lo hoài sao? Tao chạy đi cưới vợ cho mầy rồi, bây giờ đến phiên mầy… ăn ở làm sao cho êm thuận với cỏn chớ!
Tư Cầu tuy không dám cự nự lại nhưng cũng cằn nhằn:
– Đó má nhớ kỹ lại coi: chuyện cưới vợ nầy đâu phải do con đòi. Tía với má sắp đặt đâu đó hết phần con con chỉ biết… nhắm mắt đi theo; thiệt tình thì con cũng muốn cho nó xuôi rót hết cho rồi, nhưng bây giờ nó trắc trở như vậy thì biết làm sao?
Bác Hai gái đành nói lảng ra:
– Nói cho cùng mà nghe thì việc nầy cũng do tía mầy hết.
– Vậy tía đi đâu mất mà hồi trưa tới giờ con hổng thấy hả má?
– Ối thôi, hơi sức đâu mầy hỏi ổng! Ổng thấy con nhỏ bỏ dìa bển, ổng nói láp giáp một hồi rồi cũng kiếm chuyện đi mất… Con dâu quý của ổng do ổng lựa chọn mà! Và cũng vì vậy mà ổng mới đi gấp chớ sợ ở nhà bị tao moi móc đổ thừa… Cha, cũng may mà tao hổng dính dáng gì tới chuyện lựa vợ cho mầy hết, chớ không thôi ổng cằn nhằn nhức xương nhức cốt chịu gì thấu!
Tư Cầu nghe má mình nói một thôi như vậy cũng bắt tức cười và tìm lời đẩy đưa cho xuôi theo:
– Má nói như vậy… kể ra cũng đúng! Nhưng thôi má ơi, tại cái phần của con… đụng đâu cũng hư đó. Bây giờ thì… thây kệ mồ nó!
Bác Hai gái cau mày:
– Coi, bộ mầy tính… bỏ luôn sao chớ?
– Vậy má tính phải làm sao nữa bây giờ?
Bác Hai gái nói hơi lớn tiếng:
– Tía mầy ổng kêu mầy qua bển rước nó dìa đó!
Tư Cầu vênh mặt lên:
– Ủa sao lạ vậy! Con có xua có đuổi nó hồi nào đâu mà biểu con đi rước đi đón nó dìa cà?
Bác Hai gái liệng phăng cục thuốc rê đang xỉa xuống đất:
– Mầy nói như vậy có chó nó nghe được! Nó là vợ của mầy thì mầy đi rước nó dìa, chớ bắt tao với thằng tía của mầy đội mâm trầu rượu đến đón nó dìa cho mầy sao hử?
Tư Cầu thấy má mình nổi nóng la rầy nên trả lời xụi lơ:
– Đâu phải con nề hà gì chuyện đi rước nó dìa nhưng cũng tại nó hết, nó kiếm chuyện giận lẫy, chớ con có dám gây sự đâu! Con cũng chưa đụng tới mình nó nữa!
Bác Hai gái cũng dịu giọng lại:
– Tao cũng biết vậy rồi… nhưng mầy làm sao mà dở khẹt, cái gì vợ chồng mới ăn ở với nhau có hai ngày hai đêm là có chuyện rồi hả? Chớ hồi mầy với… con Phấn lẹo tẹo nhau, sao tao coi bộ nhấp nháy vậy?
Tư Cầu gân cổ lên cãi:
– Con Phấn nó… dễ, còn con nầy sao nó rắc rối quá… hay tại nó gốc người Miên nên như vậy hả má?
Bác Hai gái xì một tiếng rồi nói gạt ngay:
– Đừng nó bá láp mầy! Người nào bây giờ thì cũng vậy hết. Tại mầy dốt quá hổng rõ tánh ý đàn bà. (rồi bác hạ thấp giọng xuống) Nè, tao hỏi thiệt mầy: mầy có cãi lộn với cỏn cái gì hông?
Tư Cầu lắc đầu một cách thiểu não:
– Trời ơi, má nghĩ coi: mới cưới nhau có một hai bữa thì có chuyện gì đâu mà cãi hả má!
Bác Hai gái chắc lưỡi:
– Hổng có chuyện gì hết chớ tại sao nó giận lẫy bỏ đi dìa bển chớ?
– Cái đó má… hỏi nó chớ con… chịu thua rồi!
Bác Hai gái nín thinh ngẫm nghĩ một hồi rồi chăm chú hỏi lại Tư Cầu:
– Mầy nghe kỹ đây: chớ tự hồi cưới dìa tới giờ hai đứa bây có… ngủ chung với nhau hông, tao muốn nói là… tụi bây có như… các cặp vợ chồng khác vậy hông mà?
Tư Cầu xẻn lẻn trả lời:
– À cái đó thì chưa…
– Coi, sao lại chưa?
Tư Cầu lúng túng đáp:
– Con nầy nó… kỳ lắm má à! Con thú thiệt với má: cái chuyện… đàn bà thì con cũng có trải qua rồi, nhưng con thấy hổng ai giống như vợ con bây giờ hết. (Tư Cầu nhíu mày rồi hỏi lại bác Hai gái)… Mà cái chuyện đó có ăn nhập gì đến chuyện nó giận lẫy bỏ đi dìa bển hả má?
Bác Hai gái thở ra như trút một gánh nặng, rồi ái ngại nhìn Tư Cầu nói:
– Tao đoán có sai đâu! Tao nói mầy không biết chút xíu nào hết về tánh ý của đàn bà con gái… Đâu phải đứa nào cũng giống như con Phấn hết! Mầy phải hiểu: đứa vầy đứa khác, mình phải… tùy theo mà ăn ở cho nó êm thắm mới được!
Tư Cầu chắc lưỡi than:
– Cha, con có dè đâu nó rắc rối quá đỗi như vậy! Cái điệu này chắc con… chịu phép, chớ rước nó dìa rồi mơi chiều gì đây nó bỏ đi nữa thì biết làm sao!
Bác Hai gái ân cần nói với nó:
– Cái gì mà mầy rên rỉ quá vậy! Tại mầy hổng biết rành: tánh con nhỏ nầy nó nhút nhát, thứ con gái mới lớn lên suốt ngày bó rọ ở trong nhà có biết khỉ mốc gì đâu (đến đây bác Hai gái mỉm cười nhìn nó rồi nói tiếp)… Bộ mầy tưởng đứa con gái nào cũng lồng lên như ngựa sút chuồng… giống điệu con Phấn, hễ động tới là xách gói dông liền! Hay như thứ…. đứng đường nào khác ở trên Nam Vang mà mầy nói mầy có trải qua rồi đó!
Tư Cầu cất tiếng cự nự:
– Má nói bậy hoài… mấy chuyện đó ăn nhập gì đâu hổng biết!
– Nè Tư, tao nói thiệt chớ hổng phải vui miệng rồi nói tầm xàm đâu! Bởi vậy, đốùi với con vợ của mầy, mầy phải… dịu lời, dịu tiếng, khéo tay khéo chơn lắm lắm mới được, chớ mầy cứ bộp chộp quá hổng xong đâu. Mầy chịu khó nghe lời tao rồi thử coi… có êm không!
Tư Cầu nín lặng một hồi rồi thở ra:
– Má nói nghe cũng phải, để con ráng một keo nầy nữa coi ra sao! Thiệt bị ba con đàn bà nầy mà hết mần ăn gì được!
– Thôi lát nữa mầy chịu khó lội qua nói với anh chị ở bển cho rước con vợ mầy dìa…
– Chớ má hổng đi sao?
– Coi, vợ của mầy thì mầy đi rước chớ bắt tao vô đó làm gì! Mà tao có đi qua bển cũng hổng tiện: bên đàng trai mình có lầm lỗi gì đâu mà bà suôi bên nầy phải qua bển để cầu lụy chớ!
Tư Cầu cằn nhằn:
– Thiệt có chuyện hoài! Hồi đó con đã nói khoan cưới vợ cho con mà tía với má cứ làm tới… Bây giờ đây cũng bắt một mình con chịu trận chớ ai vô nữa đây!
Bác Hai gái như không để ý đến những lời “oán trách” đó, dặn dò tiếp luôn theo:
– Mầy có qua bển thì cũng liệu lời ăn tiếng nói sao cho nó đàng hoàng một chút, chớ đừng có ỷ y là con vợ mầy quấy rồi mầy cự nự tứ tung ngũ hoành làm mích lòng mích bề đến người lớn đó nghen!
Tư Cầu thở dài:
– Má khỏi lo điều đó. Con đi tới đâu thì cũng… tam tứ bái tới đó, chớ đời nào con dám cự nự ai đâu! Vậy mà còn hổng êm thay!
… Tư Cầu vừa mới ló đầu ra khỏi hàng rào me keo trước nhà thì gặp ngay bác Bộ gái xăng xái đi trờ tới và con Thơm thì ôm gói quần áo lúc thúc đi theo sau cách đó chục bước.
Tư Cầu chưa kịp mở miệng thì bác Bộ gái đã chụp hỏi liền:
– Sao, hai đứa bây làm cái gì mà mới còn… nóng hổi đó đã lục đục, cắn đắn với nhau rồi?
– Dạ thưa má mới qua! Dạ việc đó…
Tư Cầu chưa hết lời thì bác Bộ gái đã hỏi tiếp:
– Có ảnh chỉ ở nhà hông con?
– Dạ, tía má con đi khỏi hết rồi má à.
Bác Bộ gái tỏ vẻ thất vọng:
– Đi khỏi hết rồi! Cha, tao nôn nả đi gấp qua đây để giáp mặt ảnh chỉ rõ, kẻo có chuyện hiểu lầm nhau thì mất cái thân tình giữa hai bên suôi gia đi!
Tư Cầu ấp úng:
– Dạ… mời má vô nhà uống nước.
Bác gái như không nghe thấy lời mời của con rể, tiếp tục phân trần:
– Ối thôi, con vợ mầy mới vác mặt dìa tới bển là bị ông già nó rầy quá cỡ… tao cũng có nói: việc đâu còn có đó, chớ chưa gì xách gói bỏ đi như vậy thì tao với tía mầy ở bển còn ăn nói làm sao với hai anh chị bên nầy! Cái con vợ của mầy coi lớn chồng ngồng như vậy mà còn dại lắm Tư à!
– Dà…
Vừa lúc đó con Thơm cũng đi tới và lựng khựng đứng nép sát bên hàng rào me keo.
Bác Bộ gái lại nóng nảy hỏi thêm Tư Cầu:
– Sao, có chuyện gì giữa hai đứa bây vậy con?
Tư Cầu gượng cười đáp:
– Dạ… có chuyện gì đâu má!
– Coi, bây đừng có dấu tao!
– Dạ, má hỏi con vợ con xem sao chớ phần con thì không ngơ… không có chuyện gì hết!
Bác Bộ gái gật gù như nói một mình:
– Ờ… nếu vậy thì đúùng rồi, tao đoán có sai đâu! Cái thứ vợ chồng mới cưới. (rồi bác nói to lên) Được rồi, để tao lo cho!
Tư Cầu nghe nói vậy đứng cười mủm mỉm và liếc nhìn con Thơm… Con này đứng quay vô hàng rào mặt mày chầm dầm như là còn hờn lẫy chuyện gì dữ lắm vậy.
Bác Bộ gái lại hỏi nữa:
– À, nè Tư, con vợ mầy nó dìa bển, nó có hỏi qua hai anh chị ở bên này hông con?
Nghe má hỏi câu nầy, con Thơm quay đầu lại nhìn về phía Tư Cầu như để chờ đợi câu trả lời. Tư Cầu liếc mắt nom thấy, và nó mỉm cười đáp:
– Dạ, thưa má… có.
– Thôi, thôi, mầy đừng binh nó!
– Dạ thiệt như vậy à má!
Tư Cầu vừa nói đẩy đưa với bác Bộ gái vừa nhìn xéo con Thơm… Thấy vậy con nầy làm ra vẻ tỉnh khô nhưng cũng không dấu được nụ cười chúm chím làm hơi lúm đồng tiền trên má…
Tư Cầu lại cất tiếng mời:
– Thưa má, má vô trong nhà nghỉ chơn…
Tới chừng đó, bác Bộ gái như nhớ trực đến con Thơm, vội quay đầu lại gọi:
– Còn con chết dầm kia, sao hổng vô nhà đi còn đứng đó làm gì nữa hả?
Con Thơm vói tay bứt bứt mấy đọt me keo và đáp:
– Má vô trước đi!
– Coi, nhà nầy cũng là nhà của mầy chớ bộ nhà lạ sao mà mầy đốc thúc tao vô trước!
Con Thơm vò nát mấy cái đọt me liệng xuống đất rồi vùng vằng bước đi vô sân….
Bác Bộ gái và Tư Cầu nối bước đi theo sau.
Con Thơm ôm gói quần áo đem cất trong buồng rồi đi thẳng xuống nhà bếp ở riết dưới đó.
Bác Bộ gái ngó quanh ngó quất một hồi rồi hỏi Tư Cầu:
– Nè Tư, dẫn má vô buồng của hai đứa bây để tao xem qua một chút coi!
Tư Cầu do dự:
– Dạ, chi vậy má?
– Ậy, mầy cứ dắt tao coi rồi hãy hay!
Tư Cầu đành miễn cưỡng tuân lời.
… Đến cửa buồng, Tư Cầu đứng lại:
– Dạ buồng riêng tụi con đây má.
Bác Bộ gái nhìn kỹ rồi gật gù khen:
– Được lắm! Bốn bề kín mít như vầy còn muốn gì nữa!
Nói đoạn bác bước vô trong buồng. Tư Cầu cũng lúc thúc theo sau. Bác Bộ gái đi thẳng lại đứng kề trước cái chõng, chống nạnh, nhíu mày quan sát hết bốn bề ngang….
Thấy vậy, Tư Cầu ngạc nhiên lẩm bẩm: “Cái chõng đó mình đóng bằng cây thường và đóng vội đóng vã, thì có gì quý giá hay khéo léo đâu mà bả đứng xăm xoi dữ quá vậy cà?”.
Bác Bộ gái bỗng quay lại hỏi Tư Cầu một câu gọn lỏn:
– Ở nhà có sẵn đồ nghề thợ mộc hông Tư?
– Đồ nghề thợ mộc… dạ có. Mà chi vậy má?
Bác Bộ gái như không để ý đến câu hỏi của Tư Cầu mà lại nói:
– Được rồi, mầy đi lấy đem vô đây cho tao!
– Đem vô đây! Mà đem vô làm chi vậy má?
Bác Bộ gái đáp một cách tỉnh khô:
– Thì mầy cứ đi lấy đem vô đây rồi sẽ biết mà!
Tư Cầu đứng lựng khựng ở đó rồi cũng đành tuân theo lời sai bảo của bà mẹ vợ.
… Một lát sau, anh ta trở lên xách hộp đồ nghề thợ mộc để nghe một cái “cộp” xuống đất:
– Dạ thưa má, con đem đồ nghề lên đây…
Bác Bộ gái nhìn sơ qua một lượt rồi hỏi:
– Bộ ở nhà không có cái cưa sao Tư?
– Dạ… có, (và nói hỏi tiếp thêm bằng một câu xụi lơ)… có cần con đi lấy lên liền hông má?
Bác Bộ gái vội lắc đầu:
– Thôi khỏi! Để chút nữa mầy lấy đem ra cũng được… (rồi bác nghiêm trang bảo Tư Cầu như là… truyền lịnh) Bây giờ mầy chịu khó cuốn mùng dẹp chiếu, rồi tháo hết cái chõng nầy ra cho tao!
Tư Cầu trố mắt hỏi liền một hơi:
– Má nói sao má? Tháo cái chõng nầy ra phải hông má?… Mà tháo làm chi vậy má?… Cái chõng nầy tuy con đóng vội nhưng cũng tốt chắc lắm chớ có gì đâu…
Bác Bộ gái chận ngang:
– Ậy tao biểu mầy tháo ra thì mầy cứ nghe lời tao đi!… Tao từng tuổi nầy mà hỏng biết suy nghĩ chín chắn sao mậy! (rồi bác dịu giọng) Hổng phải tao chê mầy đóng vụng về cái chõng nầy đâu, nhưng có chuyện khác rồi mầy sẽ rõ mấy hồi đó Tư!
Tư Cầu thở dài leo lên chõng cuốn mùng, dẹp gối, cất chiếu, dở hai miếng vạt dựng xuống đất, đoạn lấy búa nện mạnh vào mấy thành chõng để tháo cho rời mấy cái mộng ra… Tư Cầu vừa làm vừa liếc nhìn bác Bộ gái như muốn tìm hiểu, muốn dự đoán ý định của bác nhưng nét mặt của bác vẫn thản nhiên như không…
Thấy Tư Cầu đã tháo xong cái chõng, bác Bộ gái liền lên tiếng:
– Bây giờ mầy chịu khó vác nó ra đằng trước sân cho được sáng sủa và rộng rãi hơn ở đây, rồi tao sẽ chỉ cho mầy cách thức làm.
Tư Cầu chịu thua không thể nào hiểu nổi dự tính của bà mẹ vợ nên chẳng nói chẳng rằng vác luôn mấy cái thành chõng đi thẳng ra phía sân trước nhà. Bác Bộ gái thì xăng xái rảo bước sát theo sau…
Ra tới sân, Tư Cầu quăng mớ cây ván xuống đất nghe cái rầm. Bác Bộ gái như không để ý đến và thản nhiên bảo con rể:
– Bây giờ mầy vô đi lấy cây cưa đem ra đây!
Tư Cầu đứng xổng lưng ngó mẹ vợ một vài giây, rồi quay lưng lựng khựng đi trở vô nhà.
… Một lúc sau, Tư Cầu xách lõng thõng cây cưa đi ra:
– Có cưa rồi đây nè má!
Bác Bộ gái chỉ đống cây ván dưới đất:
– Bây giờ mầy chịu khó cắt thâu lại bề ngang cái chõng nầy lối năm bảy tấc gì đó cho tao!
Tự nãy giờ, Tư Cầu cố gắng nín thinh để cho bà mẹ vợ sai đâu làm đó, nhưng khi nghe bác Bộ gái “hạ lịnh” như thế, anh ta cũng phải vọt miệng hỏi lại:
– Coi, dạ thưa má… khi không cắt thâu bớt lại cho hẹp làm chi vậy má? Hồi đóng cái chõng nầy, con chắt mót, lựa chọn từng khúc cây, miếng ván một để cho nó được rộng rãi… bây giờ má lại kêu cưa bớt đi…
– Ậy, mầy cứ nhắm mắt nghe theo lời tao một chuyến nầy coi! Không phải tao ngu dại gì mà hổng biết điều đó, nhưng mầy để cho tao… sửa sang ni tấc cái chõng nầy lại thì hai vợ chồng tụi bây mới hòa thuận êm ấm với nhau được, (rồi bác dịu giọng nói tiếp) Tư à tao có qua… cái cảnh của tụi bây hiện nay nên tao biết: con Thơm nó cũng thương mầy chớ hổng phải không, nhưng ngặt cái vợ chồng tụi bây mới cưới ràng ràng, con nhỏ chưa quen. Mầy hổng biết chớ ông già bà cả hồi xưa thường nói chỗ ăn chỗ nằm cũng có điều kỵ điều hạp ghê lắm đó Tư à!
– Dà…
Bác Bộ gái lại hối:
– Thôi mầy làm xôm xôm lên đi Tư để tao còn trở dìa bển cho kịp.
Tư Cầu không biết nói sao đành lui cui lo cưa, đục thâu bớt bề ngang của cái chõng lại.
Sau khi thử mấy cái mộng cho ăn khớp với nhau. Tư Cầu chất gọn lại đống cây ván và phủi tay nói với bác Bộ gái:
– Dạ thưa xong xuôi hết rồi má.
– Bây giờ mầy vác vô ráp lại như cũ đi Tư!
Tư Cầu vác mớ cây lên nhưng còn đứng lại hỏi:
– Có vậy thôi… hay còn có gì nữa hông má?
Bác Bộ gái mỉm cười đáp:
– Vậy là đủ hết rồi… mọi chuyện kể như êm hết rồi đó Tư
Tư Cầu xốc lại mớ cây ván trên vai, chắc lưỡi:
– Má nói êm là êm làm sao thiệt con hổng hiểu nổi!
Bác Bộ gái lại cười:
– Thì để rồi mầy sẽ biết… Tao biểu mầy làm như vầy cũng gần như là người ta… đốt phong long xổ xui vậy!
Tư Cầu lắc đầu kêu trời đoạn vác mớ cây vô buồng ráp chõng lại.
Bác Bộ gái đợi cho anh ta làm xong xuôi đâu đó hết rồi mới trở xuống nhà dưới tìm con gái.
Tư Cầu đoán chừng mẹ vợ muốn gặp con gái để dặn điều gì nữa chăng, nên không theo xuống.
Độ năm phút sau, bác Bộ gái quày quả trở lên:
– Thôi má đi dìa bển đây con!
– Má hổng ở chơi một chút nữa, tía má của con cũng sắp dìa bây giờ má à!
Bác Bộ gái vẫn bước ra phía cửa:
– Thôi được, lát nữa ảnh chỉ có dìa mầy nhớ nói lại có tao đưa con vợ mầy qua. Đáng lẽ tao phải giáp mặt hai ảnh chỉ để nói qua một lời nhưng sợ tối trễ nghen Tư?
– Dà.
Bác Bộ gái nhìn Tư Cầu cười nói tiếp:
– Với lại cái việc tao qua bên nầy cũng chỉ có một chút đó. Bây giờ thì xong xả hết rồi thì đến lượt hai đứa bây phải làm sao cho… êm thắm hết đó thì làm!
Vừa lúc đó, con Thơm ở sau bếp lò mò đi lên để tiễn má nó về.
Bác Bộ gái liền nói lớn với con gái như để phân bua cùng Tư Cầu:
– Nè, Thơm, tao đã dặn kỹ thằng chồng mầy rồi đó nghen! Mầy mà còn lộn xộn xách gói dìa bển chuyến nữa thì mầy chết với tao… Tao nói mầy có chịu nghe không hả?
Con Thơm chù ụ cái mặt nói ú ớ trong họng:
– Con nói con có nghe mà!
– Cái con gì thiệt dị hợm! Con gái gì mà hổng biết tiếng dịu tiếng dàng, hễ hỏi tới nó là nó trả lời giựt một giựt hai.
Rầy con gái một hồi, bác Bộ gái như nhớ trực lại chuyện đi về, nên vội vội vàng vàng đội khăn lên, day qua nói với Tư Cầu:
– Thôi má dìa đây con! À, nhớ thưa lại với ảnh chỉ về cái việc hồi nãy má dặn đó nghen!
– Dà, má dìa…
Tư Cầu đưa bác Bộ gái ra tới ngoài đường rồi lững thững quay vào. Thấy con Thơm đứng dựa vai ở ngưỡng cửa, Tư Cầu vừa đi xớt ngang qua vừa mỉm cười nói bông lông:
– Cha, dìa bển sướng quá há!
Con Thơm háy xéo anh ta một cái rồi ngoe nguẩy bỏ đi một mạch xuống nhà bếp để lo bữa cơm chiều.
Tối hôm đó, thấy người trong nhà rục rịch đi ngủ. Tư Cầu bèn vô buồng để nghỉ lưng vì hồi chiều phải “vật lộn” với cái chõng nên cũng hơi oải gân oải cốt.
Tư Cầu nằm phịch xuống dang tay ra có vẻ dễ chịu lắm… bỗng anh ta để ý nhận thấy đầu chót bàn tay mặt mình cũng gần chí mép chõng phía bên trong, và tự nhiên anh ta cười phá lên và kêu lên một mình:
– Hèn chi…
Vừa lúc ấy, con Thơm vén màn đi vào buồng. Nó đi thẳng lại tủ quần áo làm bộ lục lọi, sắp xếp một hồi lâu cho đỡ xẻn lẻn khi giáp mặt lại với Tư Cầu. Và khi không còn việc gì khả dĩ để nó mó tay mó chân nữa, nó mới chịu đi rề lại gần phía chõng nhưng mắt vẫn tìm cách ngó xiên ngó xéo làm như… không để ý đến Tư Cầu nằm ở đó.
Tư Cầu vội nhốm người nằm gọn lại qua một bên bìa ngoài chõng để nhường chỗ cho vợ. Con Thơm cau mày nhìn chỗ nằm của mình một hồi lâu, môi mấp máy như muốn cự nự, muốn cằn nhằn một cái gì…
Thấy vậy, Tư Cầu bèn lên tiếng:
– Thôi em vô ngủ đi em…
Con Thơm nhìn chăm bẳm vào cái chõng nói như giận dỗi:
– Chật thấy mồ!
Tư Cầu cười đáp:
– Má đó à!
Con Thơm không biết nói sao nên chỉ buông thõng hai tiếng “kỳ quá”! rồi ngồi lên mép chõng. Tư Cầu vội co quắp chân lại để nhường chỗ. Thấy thế, con Thơm có vẻ yên tâm và thong thả nhoai người bò vô nằm ở bên trong.
Tư Cầu tìm cách gợi chuyện:
– À em, em dìa bển có ai… cự nự gì hông?
Con Thơm cười lạt:
– Sao không!
Tư Cầu nín thinh một hồi rồi tìm cách hỏi lại:
– Ở bển có gì… lạ hông em?
– Mới có mấy ngày mà có cái gì “lạ” được!
– Vậy hả!
Tư Cầu chỉ “vuốt đuôi” bằng hai tiếng “vậy hả” rồi hết biết nói thêm gì nữa. Thời may đến lượt con Thơm hỏi lại anh ta:
– Nè anh, tui… đi như vậy ở bên nầy có… ai nói gì hông?
Tư Cầu cười đáp:
– Ối, em hơi sức đâu lo chuyện đó! Ba má bên nầy đâu có lạ gì chuyện… chuyện lặt vặt như… kiểu đó! Ổng bả cũng dư biết là hai đứa mình… kỵ chút đỉnh vậy thôi chớ ăn thua gì!
Con Thơm quay mặt qua tò mò hỏi:
– Dư biết là dư biết làm sao, anh giỏi thử nói cho tui nghe coi?
Tư Cầu lúng túng nên nói lảng ra:
– Ối chuyện… chút đỉnh đó vậy mà!
Con Thơm hỏi riết tới:
– Mà tui hỏi chuyện gì?
Tư Cầu vừa cười lỏn lẻn vừa vặn vẹo mấy ngón tay:
– Thì chuyện… hai đứa mình lục đục với nhau trong hai đêm liền mà hổng… ăn thua gì hết trọi đó mà!
Con Thơm mắc cở quay ngoắt mặt trở vô trong:
– Quỷ đâu! Anh nói bậy không hè!
– Coi, bậy cái gì mà bậy? Chớ tui hỏi em: tụi mình mới ăn ở với nhau có hai ba bữa chớ nhiều nhỏi gì đâu, thì còn có chuyện gì vô đó nữa, để cho hai đứa mình phải sanh ra rầy rà với nhau hả?
Con Thơm nóng nẩy quay mặt trở ra:
– Mà anh chắc có như vậy hông?
Tư Cầu nhìn nó cười:
– Phần tui thì chắc mẻm rồi còn phần em thì tui… bất biết!
Con Thơm quơ cái mền đắp lên ngực:
– Hứ, lãng òm! (nhưng rồi nó lại hỏi tiếp) Mà tía hay má có nói thêm gì không anh?
– Ví dầu ông già ổng biết ổng cũng hổng nói, chỉ… chỉ có má để ý đến thôi.
– Mà má nói sao anh?
– Thì còn nói cái gì nữa bây giờ! Má biểu ráng ăn ở cho êm thắm với nhau hông thôi thiên hạ người ta cười cho thúi óc! Còn má em chắc cũng có… dặn dò em cái gì chớ?
Con Thơm ngập ngừng một vài giây rồi nói:
– Thì má cũng dặn… giống như vậy!
Tư Cầu cười rộ lên:
– Nếu như vậy thì… đúng rồi!
Con Thơm lại quay mặt vô trong:
– Anh nói tầm xàm hoài!
Tư Cầu không trả lời gì hết mà ngóc đầu hỏi nhỏ con Thơm:
Tư Cầu cười thầm và khoan thai ngồi dậy đi thổi tắt ngọn đèn treo trên cột rồi trở vô nhẹ nhàng nằm gọn vào chỗ cũ.
Thấy yên yên, anh ta đưa tay qua lôi nhẹ vai con Thơm:
– Nằm xích lại đây em, chớ em để tay sát mùng muỗi chích chết!
Con Thơm hất tay anh ta ra:
– Hổng thèm đâu!
Rồi nó toan nhoai mình định lăn ra xa nhưng đành chịu phép vì cái chõng đã không còn rộng thênh thang như trước để nó có thể dễ… có cớ xoay trở, lăn qua lộn lại được nữa. Thêm vào đó, con Thơm cũng thấy nóng hổi ở sau lưng, vì dư biết Tư Cầu nằm sát bên cạnh tuy nó quay mặt vô trong vách.
Con Thơm không thấy bực mình như mấy lần trước, mà chỉ thấy hơi khó chịu như khi nó thử ăn chơi một miếng trầu… Và nó tự nghĩ: “Phải mà cái chõng chật thì Tư Cầu, chồng mới cưới của mình nằm sát khít một bên chớ sao!”. Còn Tư Cầu cũng nhận thấy con Thơm không quá vùng vằng như trước nữa, tuy con nầy vẫn còn cự nự đôi chút, nhưng đó là một thứ cự nự không làm phật ý Tư Cầu! Trái hẳn lại, Tư Cầu còn thấy thêm… khoái khoái và thầm mang ơn bà mẹ vợ: “Bà già ở bển mà hay đa!”.
Thật ra, cũng chẳng có gì lạ lùng chung quanh việc sửa bớt ni tấc chiếc chõng mà bác Bộ gái cho là giống như “đốt phong long”. Đó chẳng qua là một thứ… tác động tâm lý mà ông già bà cả ngày xưa chỉ biết đem ra áp dụng, vì kinh nghiệâm, để mong… xổ xui và cho mọi việc được tốt lành.
Tư Cầu thấy con Thơm nằm im nên lên tiếng hỏi:
– Em ngủ rồi hả em?
– Ai mà ngủ yên được với anh!
Cũng thời một câu nói “không ngủ” nhưng câu nói lần này, trong cái đêm nay, nghe không có chút xíu gì chói tai mà lại có vẻ hơi trách móc một cách thật dễ thương.
Tư Cầu mỉm cười trong bóng tối và nói giỡn:
– Hổng ngủ được thì tụi mình thức với nhau vậy!
– Hứ, ăn nói coi dễ nghe hông!
Tư Cầu không đáp mà chỉ quay mình qua, đưa tay đặt một cách nhẹ nhàng lên vai con Thơm. Thơm không hất mạnh ra như mọi khi mà chỉ nhích vai vô phía trong vách để tránh, nhưng… lần nầy bàn tay của Tư Cầu không rơi tuột xuống chiếu mà chỉ theo cái đà vai của con Thơm từ từ chuồi về phía trước…
Con Thơm cằn nhằn nho nhỏ:
– Anh nầy thiệt…
Nhưng rồi nó lại nín thinh rồi nói ú ớ cái gì trong miệng không rõ và co quắp người lại. Một lát sau, Tư Cầu se sẽ dìu Thơm nằm nhích ra bên ngoài…
Một năm sau khi Miền Nam thất thủ, hàng ngàn sĩ quan QLVNCH đã bị lưu đày lao động khổ sai nơi Làng Đá, Cẩm-Nhân, đầu nguồn hồ Thác-Bà, Yên-Bái, Hoàng-Liên-Sơn.
Sau đây là một truyện kể về đời tù nơi ấy năm 1977…
Tháng Năm, trời không còn lạnh lắm, hoa đậu phọng đã rụng, râu bắp đã teo, nhưng mùa màng chưa thu hoạch. Đối với những người tù cải tạo trong trại T4 Cẩm-Nhân, thì mùa này ngày dài hơn, cơn đói cũng kéo dài hơn…Nơi khúc quanh con lộ đá, sát mé nước hồ Thác-Bà, có một bãi tăng gia sản xuất “cải thiện” đời sống của bộ đội thuộc Đoàn 776 Cộng-Sản.
Vườn bắp nơi đây tốt giống, tốt nước, nên trái nào, trái nấy no tròn, mập mạp thấy phát thèm…
Một ngày, giờ đứng bóng, có một anh tù đứng bên một đống lửa đang cháy lớn trên triền đồi; anh ta đang nướng bắp non. Bắp anh đang nướng là bắp ăn trộm từ cái rẫy bên hồ của cán bộ.
Những bạn tù khác vác củi đi ngang qua khúc quanh, đều được anh ném tặng một, hai cái bắp nướng, nóng hổi, thơm ngon, ngọt lịm.
Không ai nhìn rõ mặt anh tù vô kỷ luật đó, vì anh ta đội nón sụp tới mắt; mặt và cổ anh lại quấn một vuông khăn đen, mặc dù trời không lạnh.
Anh ta khôn lanh đứng giữa khoảng trống, có thể quan sát tới khúc quanh rẽ vào Trại 4, đồng thời nhìn rõ cả những bóng người di chuyển nơi cổng Trại 9 bờ bên kia.
Sau lưng anh là rừng già. Bìa rừng già có một nhà sư ẩn mình canh gác cho anh.
Nhiều người biết nhà sư này là cựu Đại Úy Lê Thái Bình, Tuyên-Úy Phật-Giáo của Tiểu-Khu Phú-Bổn.
Những người tù vác củi về sớm không được phép nhập trại, họ phải tập trung nơi chuồng lợn, cách trại chừng hai trăm mét chờ tới hết giờ lao động.
Không rõ có anh “ăng-ten” nào lẻn về báo cáo gì với cán bộ trại hay không, nhưng gần một chục tay súng AK đã hộc tốc, vội vã chạy ra bờ hồ truy lùng anh tù “phá hoại”.
Họ uổng công thôi! Tìm anh ta không được đâu! Anh “phá hoại” nhanh như cheo. Chẳng thế mà, Trung Tá Nguyễn Công Luận (K12 VB) ở tù chung Lán 11 với anh ta, đã gán cho anh ta cái biệt danh “Con Beo Trại 4″.
Hôm đó, toán vệ binh chỉ nhìn thấy trên triền đồi, một bếp lửa lớn đang cháy hừng hực và một đống bắp chưa kịp nướng.
Dưới chân đồi, bên con đường mòn, nằm trơ hai trái bắp nướng, vỏ còn bốc hơi. Hai trái bắp này được ném cho anh tù cải tạo tên là Nguyễn Hữu Sủng cựu Đại Úy An-Ninh Quân-Đội.
Anh Sủng không dám lượm bắp ăn, vì anh là một tín đồ Thiên-Chúa rất ngoan đạo. Cho dù lúc đó bụng đói muốn chết, anh vẫn sợ phạm tội với Chúa.
Toán bộ đội hăm hở lùng sục “phạm trường”. Ngón nghề của người trộm bắp quả thực là quá khéo tay. Cả trăm trái bắp non bị hái mang đi không dấu vết.
Anh trung úy cán bộ quản giáo tên Thu giận quá, nghiến răng trèo trẹo,
“Đúng là quân phá hoại! Ông mà tóm được mấy thằng này, ông ‘dần’ cho hộc máu!”
Toán vệ binh đứng bên đống bắp cao nghệu bên đường, tiếc ngẩn ngơ.
Trên không, có đám mây ngàn hững hờ chứng kiến. Bên hồ, vài con trâu trầm mình trong bùn, vẫy đuôi đuổi ruồi, mắt lừ đừ…
Biết hỏi ai để tìm ra kẻ “phá hoại” bây giờ?
Mười phút sau, toán bộ đội đành rút lui về trại.
Buổi chiều, đoàn tù vác củi theo chân nhau vào cổng dưới đôi mắt xoi mói của anh trung úy quản giáo Thu.
Quản giáo Thu lục túi từng người kiếm cái khăn đen. Chẳng ai có cái tang vật màu đen ấy cả.
Tối đó, cựu Đại Úy An-Ninh Quân-Đội Nguyễn Hữu Sủng lẻn vào Lán 4, ngồi cầu nguyện bên chân linh mục Khổng Tiến Giác, cựu Tuyên-Úy của Cụ Diệm. Cha Giác cũng bị giam ở trại này.
Anh Sủng hỏi cha,
“Cha ơi! Con đói quá! Nếu con ăn trộm một trái bắp của trại ăn cho đỡ đói thì con có phạm tội không cha?”
Cha Giác ôn tồn,
“Con ơi! Con là con của Chúa. Bắp cũng là của Chúa. Con ăn bắp của Chúa để cứu cái thân con của Chúa thì con có tội tình gì đâu!”
Những ngày sau đó, trong hàng ngũ những kẻ phá hoại vườn sắn, khoai lang, rau đậu của cán bộ, có thêm hai hung thần nữa, đó là cựu Đại Úy Nguyễn Hữu Sủng và người bạn tù nằm kế bên anh, cựu Đại Úy Tuyên-Úy Tin-Lành Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Mục-Sư Võ Ngọc Thiên Lộc.
Một năm sau (1978), tay ăn trộm bắp trốn trại lần thứ hai, lại thất bại, lại bị cùm, lại bị chuyển trại.
Tới trại Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên, bạn bè cũ gặp lại nhau, có người hỏi anh ấy rằng ngày đó cái khăn đen anh dấu đâu?
Anh ta (BĐQ Vương Mộng Long) cười hì hì, tiết lộ rằng anh đã dắt cái khăn đen dưới mái chuồng trâu nhà một người dân Tày, dưới chân dốc Ngàn, ngoài cổng trại.
Anh chỉ lấy khăn ra khi hành nghề ăn trộm, cứu giúp bạn tù đang đói.
Xong việc, anh lại dấu cái khăn vào nơi cũ.
Khi đi trốn trại lần thứ hai, vội quá, anh không kịp đem cái khăn theo.
Không rõ mấy chục năm qua, cái khăn đen có còn nằm dưới mái chuồng trâu nhà Tày nơi cuối dốc Ngàn hay không?
Nhưng chắc chắn cái khăn đen đó vẫn chưa quên người, vì người vẫn còn nhớ khăn…
Ðúng là cuộc đời như vở kịch, diễn biến không ngừng, thực thực, hư hư.
Chỉ có thời gian mới cho ta nhìn thấy ai là người đã sống thật tình với ta.
Cái đói khiến chúng ta phân biệt được sự khác biệt giữa con người và con vật. Cái khổ giúp chúng ta đánh giá được sức chịu đựng và nhân cách của mỗi con người.
Chúng tôi đã qua hơn bốn năm bị giam cầm.
Ở Trại Nam Hà A chúng tôi đã thấy những cái mặt nạ rớt rơi, để lộ nguyên hình những con người dối trá, lúc thịnh thời chúng đã đè đầu, cưỡi cổ chúng tôi, lúc sa cơ chúng chẳng khác gì những con dòi.
Ðã có nhiều trang anh hùng hào kiệt ngày xưa giờ đây biến thành cái thứ gì vô cùng đê tiện và hèn mạt. Chúng hại nhau, nói xấu nhau, thậm chí còn đánh nhau để giành giựt những chức vụ nhàn nhã hơn, no bụng hơn và thân cận với cai tù hơn.
Hình như trại nào cũng có ăng ten, thi đua, trật tự, cò mồi?
Ði tới đâu mấy tên này cũng bị người ta nhiếc móc, sỉ vả.
Vậy mà vẫn có người cắm đầu đi theo con đường tà, mới lạ?
Có ai dọa giết đâu mà một cựu trung tướng và một cựu chuẩn tướng cứ phải đóng vai tù cò mồi, lâu lâu lại từ Trại Hà Tây, dẫn xác tới trại này, đầu chải láng coóng, áo quần bảnh bao tiếp phái đoàn nọ, phái đoàn kia, miệng thì rối rít ca tụng những tên đang giam giữ mình là khoan hồng nhân đạo?
Ðôi khi tình cờ gặp lại vài cấp chỉ huy cũ, thấy họ đã đổi thay, tôi đành cúi mặt, rồi quay đi. Ðúng là đối diện gian nan mới rõ đá, rõ vàng.
o O o
Truyện cái radio ở Nam Hà…
Thế rồi bỗng dưng rộ lên cái tin người Mỹ đang điều đình với Việt-Cộng để các tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa được đi Hoa-Kỳ tỵ nạn.
Thế rồi tù xầm xì với nhau, rủ nhau gom tiền mua một chiếc radio để theo dõi tin tức tống xuất…
Thế rồi, một hôm tôi đã nhìn thấy cái radio xuất hiện ở Buồng 16…
Vào một buổi trưa, có anh nhà bếp đẩy xe cơm tới Buồng 16, mắt lấm lét nhìn quanh, rồi trao nhanh cho anh Nguyễn Ðình Tuy một cái túi vải.
Anh Tuy giấu vội món đồ vào sau lưng những cái bao bì, túi da, rương gỗ, thùng nhôm của tù ở sát tường.
Tối hôm đó anh Tuy giao chiếc túi vải cho cựu Thiếu tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Nghiêm.
Từ ấy, góc trái nơi cuối phòng, chỗ tôi và Trần Tiến Bích nằm, trở thành vị trí an toàn để nhận tin phát đi hàng đêm từ VOA và BBC.
Nhân viên thường trực nghe đài là cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Nghiêm, cựu Ðại úy Trần Tiến Bích, cựu Ðại úy Tạ Văn Quang và cựu Ðại úy Nguyễn Văn Ninh. Nghiêm và Ninh là một cặp. Bích và Quang là một cặp. Hai cặp cứ luân phiên nghe đài rồi tường thuật lại mỗi đêm.
Ngay sau khi VOA và BBC chào tạm biệt thính giả thì tin tức nóng hổi đã được truyền khắp buồng.
Sáng hôm sau, trước giờ tù xuất trại đi làm, thì tin tức đã bay đi khắp trại.
Tin tức được truyền tới tai tất cả mọi người khiến cho ai cũng hy vọng.
Ai cũng mong có ngày được đưa ra khỏi tường rào rồi được bay sang Mỹ.
Cái radio ở Buồng 16 đúng một tuần, rồi Tạ Văn Quang được trao nhiệm vụ mang nó đi buồng khác. Một hay hai tuần sau cái radio lại quay về Buồng 16.
Tôi không có phận sự nghe đài.
Nhưng những đêm có chiếc radio thì tôi phải làm nhiệm vụ một anh lính gác.
Tôi phải ngồi sát bên cửa sổ, mở mắt cho thật to để theo dõi xem có thằng Công An nào đi tuần tra xuất hiện không?
Tôi cẩn thận và chăm chỉ như vậy mà chút xíu nữa đã để xảy ra một tai nạn. Số là một đêm trăng tỏ, có hai tên Công An đi tuần bước xuống dốc để vào sân.
Chúng mặc quần áo màu vàng, ánh trăng màu vàng, tường vôi thì màu trắng, nên áo quần của chúng nó lẫn với màu trăng và màu tường, làm cho tôi không nhận ra.
Tới lúc tụi nó vào tới giữa sân, nghe tiếng “Sạt! Sạt! Sạt” của giày đạp trên sỏi cùng lúc với hai cái bóng người in trên sân, tôi mới hoảng hồn vỗ lưng Tạ Văn Quang,
“Tắt! Tắt! Chèo! Chèo!”
Ông nội Tạ Văn Quang đang nghe máy một cách mê say bị tôi vỗ lưng bất ngờ nên giật mình hỏi lớn,
– Cái gì thế?
Tôi vừa giơ tay đè cái volume tắt máy thì bên hiên đã có tiếng người gắt gỏng,
-Cái gì à? Các ông đi tuần chứ cái gì mà hỏi? Tại sao tụi mày không ngủ đi? Khuya rồi mà còn om sòm!
Buổi thâu thanh đêm đó bị chấm dứt trước giờ một cách bất ngờ.
Thật là hú hồn! Hú vía!
Mỗi ngày, khi mọi người ra sân tập họp để xuất trại thì cái radio đã được tôi nhét vào bao, giấu dưới đáy thùng vôi bột trong cầu tiêu.
Cái radio đã cũ, âm thanh phát ra lại nhỏ nhí, rất là khó nghe.
Lâu lâu cái máy lại giở trò, á khẩu, không chịu nói, thế là chúng tôi phải mở nó ra, nối dây, nối nhợ, trét nhựa thông, hàn lại.
Nhân việc này mà tôi biết người cung cấp nhựa thông để sửa máy là cựu Nghị sĩ có tên là Trần Tấn Toan.
Anh Toan là người chuyên sửa chữa đàn của đội văn nghệ.
Anh Toan thường xuyên được cán bộ cung cấp nhựa thông để trét các vết nứt trên những cây đàn. Chiếc radio thu sóng đều đều cũng nhờ có bàn tay góp sức của anh Trần Tấn Toan.
Mấy anh bạn ôm đài thu thanh cứ hết lời ca ngợi anh Toan, làm cho tôi cũng thấy có cảm tình với anh ấy quá.
Tới một hôm, tôi và Trần Tiến Bích đi qua phòng văn nghệ, Bích chỉ cho tôi biết mặt người có tên là Toan.
Hóa ra, anh Trần Tấn Toan chính là ca sĩ Trần Tiên Sinh!
Từ ấy, tôi bắt đầu yêu giọng hát của Trần Tấn Toan Tiên Sinh…
Chiếc radio tiếp tục đi từ buồng này qua buồng khác, đem hy vọng cho mọi người.
Cho tới một sáng ngày Thứ Hai đầu tuần, cả trại không phải đi làm, mà bị tập trung trong sân để xếp hàng, chờ kiểm tra tài sản cá nhân.
Chúng tôi phải đem tất cả tư trang vào trong buồng, xếp thành hai hàng trên bục xi măng, cũng là giường nằm.
Sau đó, khi cán bộ đi tới chỗ để tư trang của ai thì anh Nguyễn Ðình Tuy sẽ gọi người đó vào đứng bên túi xách, bao bị, va ly, nón mũ, áo khoác của mình để cán bộ lục soát cả thân mình và đồ đạc.
Ai được kiểm tra rồi thì tự do rời chỗ bước ra sân, thay thế bằng người khác.
Sau ba tiếng đồng hồ, ở Buồng 16, cán bộ Hồng cùng hai vệ binh đã làm việc rất cẩn thận và chăm chỉ nhưng kết cục họ vẫn không tìm được vật mà họ muốn tìm.
Tất cả trại viên Buồng 16 đều vô tội, không ai tàng trữ thứ mà cán bộ đang truy cứu.
Kiểm tra kết thúc, chúng tôi bị tập trung dưới sân, cán bộ Hồng đứng trên hiên nhà, có vẻ hài lòng.
– Mục đích cuộc khám xét hôm nay là tìm xem ai đã vi phạm nội quy, cất giữ cái đài. Tôi đã kiểm tra kỹ, các anh trong hai Ðội 18 và 19 đều là người tốt. Tôi có lời khen ngợi các anh. Các anh có thể tự do sinh hoạt trong sân. Ðợi khi nào tất cả các buồng kiểm tra xong, tôi sẽ mở khóa cổng cho các anh ra sân trại.
Tới xế trưa chúng tôi được mở khóa cổng để đi ra sân trại.
Sau khi dò hỏi, tôi thở ra khoan khoái vì biết rằng cái radio đã không bị khám phá.
Tuy nhiên chuyện vì sao cái radio không bị tịch thu cũng đã bị anh em truyền tai cho nhau. Chuyện bí mật như thế mà chỉ vài bữa sau đã bị “bật mí”
Ði tới phòng nào tôi cũng nghe anh em bàn tán và ca ngợi anh cải tạo viên Hồ Hoàng Khánh đã vô cùng can đảm, lanh trí, lanh tay, giúp cho cái radio không rơi vào tay kẻ địch.
Ngày khám xét vừa qua ở Buồng 15, thì anh cựu Trung sĩ Hồ Hoàng Khánh đứng sau anh cựu Thiếu tá Trần Tấn Hòa, trong cái bao tải đựng áo quần của anh Hòa để lại giữa đường đi có chiếc radio.
Ðang khám tư trang của Khánh thì ba tên Công An tạm ngừng để ra sân họp bàn chuyện gì đó.
Chỉ cần một giây đồng hồ, cái bao tải đã bị Khánh ném nằm gọn trong đống đồ đã kiểm tra phía trước. Ngay trưa hôm đó cái radio đã biệt tăm.
Nếu ai cũng coi cuộc kiểm tra vừa qua là chuyện bình thường ở trại, nếu không có những cái miệng ngồi lê đôi mách, thì chuyện cái radio chắc cũng đi vào lãng quên rồi.
Nhưng quân ta có những cái dở không thể bào chữa được.
Quân ta đã quá ơ hờ, không cảnh giác, không kín tiếng, không đề phòng.
Những gì mà ta đã biết, thì qua báo cáo của bọn ăng ten hay cò mồi, địch cũng biết.
Người đầu tiên bị gọi lên hỏi tội là anh cựu Ðại úy Cảnh Sát Nguyễn Hữu May.
Anh Nguyễn Hữu May là đội trưởng Ðội 17 ở Buồng 15, cũng là người đã móc nối với cán bộ Việt-Cộng để mua chiếc máy thu thanh.
Chỉ mấy ngày sau khi Ðội trưởng Nguyễn Hữu May bị cán bộ tra hỏi thì tên cán bộ trực trại cùng hai vệ binh có đeo AK47 dẫn theo một anh tù đã bị còng tay là cựu Thiếu tá Lâm Minh Ðức đi tới trước cổng dẫn vào Buồng 15 và 16 rồi lớn tiếng gọi,
-Anh Tần, anh Tuy đâu? Ra nhận lệnh gấp!
Trực Buồng 15 là cựu Trung tá Nguyễn Ngọc Tần, Trực Buồng 16 là cựu Thiếu tá Nguyễn Ðình Tuy vội chạy lại,
-Dạ có mặt!
-Hai anh mau gọi ba anh Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa và Nguyễn Tấn Á thu dọn hành trang cá nhân ra gặp tôi ngay!
Năm phút sau, với ba lô, nồi niêu, ca cóng trên vai, ba anh tù cựu Ðại úy Nguyễn Tấn Á của Buồng 16, cựu Thiếu tá Trần Công Hạnh và cựu Thiếu tá Trần Tấn Hòa của Buồng 15 đã bị còng tay đứng giữa sân bên cạnh anh Lâm Minh Ðức.
Tôi cảm thấy lo, vì Trần Tấn Hòa và Trần Công Hạnh đều là bạn cùng khóa 20 Võ Bị với tôi. Hai bạn tôi đều biết, hai ông tù đàn anh có đóng góp tiền bạc để mua cái radio và mua pin cho radio là cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, và cựu Ðại tá Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Thành Trí.
Nếu không chịu nổi cực hình khảo đả, tụi nó mà khai ra, thì hai vị này chắc nguy to. Tôi tới gần, dúi vào ba lô của Trần Tấn Hòa bao thuốc lá Cửu Long rồi nhắn với hai đứa bạn:
– Nếu không chịu nổi thì cứ khai tao với thằng Bích, hay thằng Nghiêm, đừng hé răng cho tụi nó biết rằng mấy ông già đã liên quan tới vụ này!
Hòa gật đầu, rồi nhìn tôi, khẳng khái,
– Tới đây là hết! Tụi tao thề rằng thà chết sẽ không khai thêm! Mày nói với anh em đừng tố cáo nhau dây chuyền! Ðừng giết nhau! Ðừng bỏ nhau!
Nghe Hòa nói quả quyết như thế, tôi cũng thấy yên tâm.
Chúng tôi thấy anh Nguyễn Hữu May bị bắt để hỏi cung mới vài ngày trước. Vậy mà chỉ mấy ngày sau bốn người bạn của tôi đã bị còng tay đem đi thì anh em trong Buồng 16 có liên hệ tới cái radio vội vàng họp mặt lại và cam kết với nhau rằng, bất cứ ai bị bắt để điều tra sẽ không khai người khác, dù có chết.
Từ đó, bầu không khí nặng nề, và khó thở đã bao trùm khắp trại.
Chúng tôi cứ sống một cách phập phồng, lo lắng, không biết cái chuyện khai báo dây chuyền này sẽ dẫn tới đâu? Không biết khi nào sẽ tới phiên mình bị trói tay dẫn đi?
Ngay sau khi Nguyễn Tấn Á, Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa và Lâm Minh Ðức bị áp giải đi, tôi và Trần Tiến Bích cũng tự đặt mình trong tình trạng báo động.
Tôi viết sẵn một cái thư gửi cho vợ tôi, báo cho nàng biết rằng tôi đã bị chuyển trại, không rõ sẽ đi đâu, để nàng không ra thăm nữa.
Thư này nằm sẵn trong lưng của cựu Thiếu tá Lê Văn Chánh.
Ngày nào Chánh cũng phải xuất trại đi đổ phân. Ngày nào Chánh cũng có dịp gặp thân nhân của tù để gửi thư chui.
Trong thời gian căng thẳng này, cứ rảnh rang tôi lại đem hình ảnh của bốn đứa con ra xem.
Lê Văn Chánh thấy cái ảnh thằng con trai út của tôi thì trầm trồ,
– Ồ thằng bé đẹp trai quá! Nó có cặp chân mày và đôi mắt giống bố y hệt! Nhìn qua là biết con trai Vương Mộng Long rồi, không lẫn vào đâu được!
Thằng con trai út của tôi sinh ra ba tháng sau ngày tôi bị bắt đi tù, không biết suốt đời tôi có dịp nhìn mặt con tôi hay không?
Các bạn Nguyễn Tấn Á, Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa đã bị đưa về Hà-Nội, kiên giam trong nhà tù Hỏa Lò.
Sau này gặp lại nhau, thằng bạn Trần Công Hạnh của tôi đã kể cho tôi nghe rằng, thời gian ở Hỏa Lò nó đã phải viết hằng ngàn tờ khai về những gì liên quan tới cái máy thu thanh ở Nam-Hà.
Nó than rằng nằm kiên giam trong Hỏa Lò thì đói lắm.
Vì quá đói, nó đã ăn hết 8 ngàn… con gián!
Trong nhà tù Hỏa Lò chỉ có một sinh vật muốn thân thiện với người, đó là loài gián.
Gián thích những manh áo tả tơi nặng mùi, quần áo anh tù nào mà không nặng mùi tả tơi? Gián ở Hỏa Lò thì đông vô kể!
Thằng Hạnh là vua câu cá, nó biết gián là mồi nhử mà loài cá thích ăn. Nó nghĩ rằng cá ăn gián được thì người cũng ăn gián được! Thế là nó bắt gián mà ăn.
Nó ăn gián bằng cách này: Một tay nó giữ thân mình con gián, tay kia nó vặn đầu con gián rút ruột gián ra thật là nhẹ nhàng.
Nó vứt ruột, đầu, chân, cánh, cẳng của gián xuống sàn nhà để làm mồi nhử những con gián khác. Nó chỉ giữ lại những cái bụng của gián để ăn. Vậy mà nó cũng đã sống sót sau những ngày đói khát, kiên giam ở Hỏa Lò!
“Một lần qua sông Đáy” là bức tranh sống động, mô tả thật chi tiết và rõ ràng một quãng đời đầy khổ ải, buồn đau, và tủi nhục sau ngày Miền Nam sụp đổ của những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa bị lưu đày nơi đất Bắc.
Diễn tiến sự việc theo từng thời gian và không gian đã được những người trong cuộc tường trình lại một cách thật chính xác. Vì thế, đây có thể coi như một tài liệu lịch sử đáng tin cậy để lưu truyền lại cho lớp hậu sinh.
Kỳ 1
Biết đá, biết vàng…
Thời gian trôi tựa nước của một dòng sông, mãi mãi không quay trở lại, thoáng chốc ba mươi năm đã đi qua.
Tôi xa quê hương đã ba mươi năm, tôi ở Mỹ đã ba mươi năm, vậy mà tưởng chừng như tôi vừa mới rời quê hương hôm qua.
Bây giờ đang là mùa lễ Thanksgiving năm 2022.
Ðứng nơi bến phà nối đôi bờ Mukilteo và Whidbey Island vùng Tây Bắc Hoa-Kỳ, tôi để tâm hồn phiêu du…
Nhìn hình ảnh chiếc phà rời bến, tôi chợt chạnh lòng nhớ lại chuyến phà đã đưa tôi qua sông năm xưa.
Chuyến phà này đã chở những người không phải Kinh Kha, không là Hạng Võ trong sử ký của Tàu, mà là những cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa sau ngày thua trận. Trong số những người qua phà năm đó, có nhiều người đã không còn sống sót để trở về.
Con sông trong ký ức của tôi có tên là sông Ðáy…
Sông Ðáy còn được gọi là Hát Giang. Hát Giang là con sông lịch sử, nơi Hai Bà Trưng trầm mình tuẫn tiết thời Nam Hán.
Vào đầu năm 1979 Hát Giang đã chứng kiến một đoàn xe Zin, và Molotova chở đầy tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa từ Trại Phú Sơn 4, Thái Nguyên di chuyển xuống, rồi qua phà, chạy về Trại Nam-Hà.
Tôi, cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân Vương Mộng Long là một trong số những người đã ngồi phà vượt Hát Giang năm đó, để rồi cho tới cuối cuộc đời vẫn mãi mang trong lòng những kỷ niệm đau buồn không thể nào quên.
Trại Nam-Hà có ba phân trại A, B và C. Tôi được đưa về Ðội 18 Trại Nam-Hà A. Ðội 18 và Ðội 19 ở cùng Buồng 16 nằm sát với tường bệnh xá cuối sân.
Ngày tôi tới đây thì nhân số của Trại Nam Hà A này ước lượng khoảng trên dưới 1500 người.
Trừ ra khoảng năm chục tù hình sự và Phục Quốc thì số còn lại toàn là cựu nhân viên Quân, Cán, Chính của Việt-Nam Cộng-Hòa.
Phía quân đội, người có cấp bậc cao nhất là cựu Trung tướng Nguyễn Hữu Có, người có cấp bậc thấp nhất là cựu binh nhì chột một mắt tên là Bùi Bằng Ðoàn.
Bên hành chánh thì người chức vụ cao nhất là cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc, người có chức vụ thấp nhất là anh Nguyễn Văn Mạnh, giữ chân chạy giấy của Phủ Thủ Tướng.
Cuộc sống ở Trại Nam-Hà A thoải mái hơn là ở Trại Phú-Sơn 4 rất nhiều.
Ở đây chúng tôi được làm việc có giờ, có giấc, không phải chịu đựng chế độ thi đua làm nhiều, ăn nhiều, làm ít, ăn ít như ở Phú-Sơn 4.
Sau một ngày xuất trại trở về, trước giờ điểm danh tối, tôi có thể tự do đi từ buồng này sang buồng khác thăm hỏi người quen.
Tôi đã tới Buồng 1 và Buồng 2 gặp lại những cựu sĩ quan đã từng chỉ huy tôi như Thiếu tướng Lê Minh Ðảo, Ðại tá Cao Văn Ủy, Ðại tá Trần Công Liễu, Ðại tá Hoàng Thọ Nhu.
Ðiều vui mừng nhất là tôi được tái ngộ với chú tôi là cựu Ðại tá Trần Phương Quế.
Nơi ồn ào nhất, vui nhất ở Nam Hà A có lẽ là cái giếng.
Cái giếng có đường kính chừng hai chục mét, có thành tường xây bằng bê tông cao tới đầu gối, sân tắm giặt xung quanh giếng cũng chiếm một khoảng đất rất rộng nơi góc sát cổng.
Tù cứ cởi truồng tồng ngồng tắm rửa, chuyện trò cùng nhau. Tin tức thời sự quốc nội, quốc ngoại cũng được tung ra vô cùng thoải mái không phân biệt sẽ rót vào tai ông trung tướng hay tai ông binh nhì.
Tôi tới trại này chưa được bao lâu thì ông cựu Trung tá Nguyễn Văn An Liên Ðoàn Trưởng sau cùng của Liên Ðoàn 12 Biệt Ðộng Quân trốn trại.
Ông An vượt ngục, tìm về quê Phủ Lý nhưng chỉ ba ngày sau đã bị bắt lại.
Ông An bị nhốt đói hai ngày, bị đá đít mấy cái, rồi bị đuổi về lại Buồng 15 nằm cạnh ông cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân tên là Ðỗ Văn Mười.
Cuộc vượt trại của Trung tá An có lẽ chỉ ảnh hưởng tới ba người là tôi, Vương Mộng Long, Trần Văn Cả và Ðặng Quốc Trụ.
Ba đứa tôi có tỳ vết đã vượt ngục hai lần, nên bị chú ý không cho ra ngoài rào lao động dã ngoại nữa.
Cựu Thiếu tá Ðặng Quốc Trụ bị đưa về đội bóng chuyền, phải tập dượt suốt ngày bất kể nắng hay mưa.
Cựu Ðại úy Trần Văn Cả giữ chân nhặt rác quanh sân, dưới quyền ông cựu Nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu là tổ trưởng tổ văn hóa.
Còn tôi thì nằm dưới quyền ông Trực Buồng 16 là cựu Thiếu tá Ðịa Phương Quân Nguyễn Ðình Tuy. Anh Tuy là một người rất tốt bụng, nhưng trầm lặng và kín tiếng.
Thiếu tá Nguyễn Ðình Tuy, dân Bắc Di Cư, là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Yểm Trợ và Tiếp Vận của Tiểu Khu Pleiku. Tôi cũng là dân Bắc Di Cư, cũng là dân Pleiku, do đó ông Tuy đối với tôi có chiều ưu ái, nương tay.
Tôi được giao cho một công tác thật là khoẻ re, nhẹ nhàng.
Mỗi ngày, khi anh em đã xuất trại, tôi chỉ có việc đi quanh buồng, sửa lại những chiếc gối đầu nằm của trại viên cho ngay ngắn, thẳng hàng. Nhiệm vụ của tôi chỉ có vậy thôi!
Mặt khác, đúng 12 giờ trưa hằng ngày tôi cùng với Ðặng Quốc Trụ và Trần Văn Cả đều phải ghé Nhà Văn Hóa để trình diện tên trung úy Công An phụ trách an ninh trại một lần.
Nếu hôm nào tên Công An này vắng mặt, thì cựu Trung tá Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Lê Bá Ðịnh sẽ nhận mặt ba đứa tôi rồi ghi vào sổ chứng nhận rằng chúng tôi còn chưa trốn.
Ông Trung tá Ðịnh là phụ tá của ông Nghị sĩ Tửu.
Cũng vì công việc hằng ngày khỏe re, nên tôi tha hồ la cà hết buồng này tới buồng kia. Cứ tạt vào buồng này thăm một ông bạn, sang buồng kia thăm một ông bạn, thế là quay qua, quay lại, đã hết một ngày.
Ở đây thì nhà cao, tường xây, nhưng đói lắm, vì tù không có dịp đào củ mài, mót củ khoai, hái mớ rau má hay rau tàu bay như thời còn ở lán trại, nhà tranh vách đất do quân đội quản lý.
Gặp nhau, chúng tôi chỉ bàn tán quanh co chuyện thăm nuôi và chuyện ăn uống.
Ông cải tạo viên trực Buồng 12 vừa thấy tôi đã tay bắt mặt mừng,
– A! Anh Long! Anh còn nhớ tôi không?
– Dạ thưa Trung tá tôi nhớ!
– Hồi đó anh dẫn tiểu đoàn tăng phái cho tôi, tôi đã xuất kho cho anh 500 thùng dầu ăn. Tôi tưởng anh đem bán để lấy tiền tiêu Tết, vậy mà anh lại đem chia cho lính hết. Ðáng khen! Ðáng khen!
Chẳng lẽ sau bao nhiêu năm xa cách, kỷ niệm thời chinh chiến giữa tôi và ông cựu tỉnh trưởng này chỉ có một chuyện để ông nhớ là ông đã xuất kho yểm trợ cho đơn vị tôi 500 thùng dầu ăn loại 4 lít hay sao?
Tôi cười nửa miệng,
– Thế sự đổi thay, tôi thấy giờ này tâm hồn nào cũng chứa đầy thực phẩm, trí óc nào cũng nghĩ tới thực phẩm, và kỷ niệm nào cũng chất đầy thực phẩm. Ngày xưa Trung tá đâu có thế?
Ông cựu tỉnh trưởng ứng đối liền tay,
– Gặp thời thế, thế thời phải thế mà Long! Hãy quẳng gánh lo đi mà vui sống cho qua ngày đoạn tháng!
Tôi chưa tìm được câu nói móc lò nào để đáp lại, thì ông cựu trung tá đã kéo tay tôi ra góc hiên, nơi đây có cái bàn con và bốn cái ghế con, ông lớn tiếng,
– Nào! Ngồi xuống đây uống một ly cà phê cơm cháy với tôi đi!
Không đợi tôi trả lời, ông cựu trung tá nhìn tôi rồi thấp giọng,
– Lâu lắm rồi anh em mình mới gặp lại nhau. Gia đình chú có bình an không?
Trại này ăng ten như ruồi. Chú cẩn thận giữ mồm giữ miệng!
Hóa ra từ nãy tới giờ cái ông trực Buồng 12 này đã đóng vai một người khác, bây giờ trước mặt tôi mới thật là ông cựu Trung tá Nguyễn Văn Nghiêm, cựu Tỉnh trưởng Phú-Bổn mà tôi đã có dịp được phục vụ dưới quyền một thời gian ngắn hồi đầu năm 1971.
Anh Nghiêm pha cho tôi một ly cà phê, cà phê thứ thiệt, không phải là cơm cháy. Anh khuyên tôi nhất cử, nhất động phải cẩn trọng vì lúc nào bọn chó săn, ăng ten cũng rình rập những người có tiền tích vượt ngục như tôi.
Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể bị đưa ra làm con vật hy sinh để răn đe người khác. Từ ngày biết tôi có mặt ở trại này, anh Nghiêm đã tìm gặp tôi mấy lần để khuyên bảo nhưng chưa có dịp. Anh nói gia đình anh tiếp tế cho anh rất đều, nếu tôi có thiếu thốn thì cứ tới nói với anh, giúp được gì cho tôi thì anh sẵn sàng ngay. Anh khuyên tôi có hai điều nên tránh, một là tránh cờ bạc, hai là tránh dính líu vào mấy chuyện buôn bán lia chia kiếm lời, khiến người khác khinh khi.
Từ biệt anh Nghiêm, tôi qua Buồng 10 thăm anh La Hoàn Võ.
Cựu Thiếu tá La Hoàn Võ và tôi cùng là dân cựu sinh viên sĩ quan của Ðại Ðội B Võ Bị, anh Võ khóa 19, còn tôi khóa 20.
Cứ nhìn mặt anh Võ, tôi lại thấy thương hại anh. Lúc nào anh Võ cũng ôm bụng, nhăn nhó, anh ấy mang chứng bệnh đau dạ dày kinh niên.
Vì mang bệnh kinh niên nên anh Võ không bị xuất trại đi lao động.
Anh thổ lộ cho tôi hay, vừa nghe anh khai bị bệnh đau dạ dày, cán bộ quản giáo liền chấp thuận cho anh nghỉ ngay, vì người đau dạ dày sẽ không ăn được. Người bệnh mà không ăn được, thì trại sẽ đỡ một khẩu phần cơm mỗi ngày.
Nói thế chứ làm gì có ai xuống kiểm tra xem người đau dạ dày có lãnh cơm hay không lãnh cơm hằng ngày đâu?
Anh Võ lúc nào cũng tỏ ra thương con, nhớ vợ. Gặp tôi anh cứ than:
– Tội nghiệp bà xã của tôi! Lâu không nhận được thư của tôi, bà ấy buồn rầu, nhớ thương, khổ sở lắm. Do đó, tuần nào tôi cũng phải viết thư an ủi bà ấy. Tôi chỉ sợ bà ấy buồn rầu quá mà chán đời thì mấy đứa con tôi sẽ thành mồ côi…
Một hôm, anh Võ đưa cho tôi xem lá thư mà vợ anh từ Sài Gòn mới gửi ra, trong thư có đoạn:
“Lạ quá! Bất cứ lúc nào em ngửng đầu nhìn lên tường, thì cái kim đồng hồ nhà mình cũng chỉ đúng hai giờ. Hai giờ đêm! Sao cái đồng hồ không chịu chạy? Sao đêm dài quá vậy? Sao trời không chịu sáng? Anh ơi! Bao giờ trời mới sáng? Bao giờ anh mới về?”
Tôi gật gù,
– Bà chị quả là một người giàu tưởng tượng, một người có tâm hồn, nếu có cơ hội, và môi trường thích hợp, chị sẽ thành một nhà văn nổi tiếng.
Anh bùi ngùi,
-Chắc đêm nào vợ tôi cũng thức rất khuya rồi nhắc tới tên tôi? Có lẽ vì thế mà lâu lâu tôi lại bị máy mắt, xốn xang trong gan, trong ruột? Người ta nói xa mặt, cách lòng là sai! Tôi thì thấy những người thực sự yêu nhau mà càng ở xa nhau, càng thương nhớ nhau nhiều hơn.
Trước mặt một người đã hơn bốn năm ở tù Cộng-Sản mà còn mơ màng, còn sống lênh đênh như bay trên mây, tôi cũng làm ra vẻ thạo đời, uyên bác, có chữ, có nghĩa, và có… tâm hồn,
– Quân Tương Giang đầu, thiếp Tương Giang vỹ… Nếu đã là người có gia đình rồi thì ai cũng mang tâm sự như vậy thôi!
Thấy tôi cũng có vài câu thơ lận lưng, cũng ra vẻ có…tâm hồn, nên anh Võ cảm động lắm. Anh gật gù,
– Anh em mình đồng cảnh, nên mới thông cảm nhau, thương mến nhau, còn bọn du thủ, du thực thì chỉ nghĩ tới cái ăn.
Tôi gật gù theo anh,
– Ðúng rồi! Ðúng rồi!
Tuy miệng a dua theo anh Võ, nhưng trong lòng tôi lại nghĩ khác.
Bị đi tù mút mùa, bình thường thì ai mà không nhớ nhà? Ai mà không thương vợ, thương con? Nhưng mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau.
Anh Võ khai đau dạ dày không bị đi lao động nên có thời gian rảnh mà nhớ vợ, nhớ con. Chứ nếu là người khác, cứ suốt ngày ngâm mình dưới sình, đào ao, khai mương, hay phơi thây dưới nắng cháy da mà cuốc đất với cái dạ dày trống rỗng thì trong đầu chỉ nghĩ tới bát bo bo của nhà bếp mà thôi.
Tuy suy nghĩ vậy, nhưng nhìn anh Võ, tôi thấy thà cứ mơ mơ, màng màng như anh có lẽ đời sẽ bớt muộn phiền, sầu khổ, bon chen…
Ðang nói cười rổn rảng, anh Võ bỗng nhăn nhó ôm bụng, rồi cáo lui. Thì ra anh vừa phát giác trước cổng có ông nhân viên văn hóa Hoàng Xuân Tửu.
Không rõ ông nhân viên văn hóa này đã có mặt ở đây từ lúc nào.
Ông ta đang vểnh tai ghi âm những gì mà hai đứa tôi vừa phát thanh.
Tôi thấy ông Tửu đang quay mặt về bên trái, nhưng tôi biết chắc rằng ông đang nhìn về bên phải vì ông là một “thằng” có đôi mắt lác.
Vậy là “vèo!” lắc mình một cái, tôi đã biến mất về hướng trái của ông cựu Thượng Nghị sĩ.
Tôi chui vào phòng văn nghệ đúng lúc ca sĩ Trần Tiên Sinh đang gầm thét bài “Lá đỏ”.
Tôi không biết tên khai sanh của anh ca sĩ này là gì.
Vì có lần tôi nghe bạn Ðặng Quốc Trụ gọi anh ta là Trần Tiên Sinh, nên tôi cũng gọi anh ta là Trần Tiên Sinh!
Ðặng Quốc Trụ còn nói rằng ca sĩ họ Trần cũng là một cựu Nghị sĩ Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa.
Ngày xưa anh ta làm nghề gì thì bạn Trụ không biết, nhưng chắc chắn anh ta không phải là ca sĩ.
Anh ca sĩ giơ tay lên,
“Gặp em! Trên cao lộng gió! Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ…”
Rồi anh hạ tay xuống, dang tay ra, như sắp ôm cô em nào đó vào lòng,
“Chào em! Em gái tiền phương! Ơi em gái tiền phương! Hẹn gặp nhé! Giữa Sài-Gòn”
Tôi vỗ tay,
– Mừng ông! Ông đã gặp em của ông ở giữa Sài-Gòn rồi, nên tụi mình mới có mặt ở đây!
Ðang cơn phấn kích trổ tài, bị tôi phá bĩnh, anh ca sĩ trợn mắt nhìn tôi,
– Anh…anh là ai mà giờ làm việc lại vào đây quấy rối?
Sợ tôi quấy rầy, không cho ban văn nghệ tập dượt, ông nhạc trưởng là cựu Ðại tá Trần Văn Tín bèn ngừng tay đàn, đứng dậy kéo tôi ra cửa,
– Chú mi mà cứ vào đây phá rối thì anh gọi thi đua bắt chú đó!
Nghe ông Tín đem thi đua ra dọa, tôi cũng teo, chuồn êm.
Ra tới sân, tôi thấy mấy anh văn hóa, thi đua, đang hè nhau trương cái bảng nền đỏ chữ vàng to tổ bố:
“Hoan nghênh phái đoàn quan khách tới tham quan Trại Nam Hà A!”
Ngoài mấy tên cò mồi tép riu vô danh tiểu tốt, tôi còn thấy các ông cựu Nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, cựu Ðại tá Không Ðoàn Yểm Cứ Pleiku Võ Quế, cựu Ðại tá Tỉnh trưởng Pleiku Hoàng Thọ Nhu, cựu Trung tá phi công Lê Bá Ðịnh đang tranh nhau nêu ý kiến ý cò là nên treo cái biểu ngữ này hướng Bắc hay hướng Ðông, nên treo cao hay treo thấp?
Có ông còn cho ý kiến viết một câu chào mừng bằng Pháp Văn, vì nghe nói quan khách kỳ này là Cha Gagnon. Cha Gagnon là một ông linh mục người Tây.
Thời gian gần đây chúng ta thường nghe nói nhiều tới một tổ chức mà hoạt động của nó không chỉ bó gọn trong phạm vi một quốc gia, mà đã trở thành một thực thể liên quốc gia với những đường dây liên lạc vô cùng tinh vi và chặt chẽ, với những thủ đoạn vô cùng quỉ quyệt và tàn bạo, có dư sức khuynh đảo giới cầm quyền chóp bu của chính phủ – đó là tổ chức Mafia. Vậy về thực chất Mafia là gì? Trong tay các bạn có thể có nhiều loại hình dẫn liệu để tiếp cận thực thể đó: Mafia – một tác phẩm tư liệu, Bố Già – một hình tượng văn học ở một góc độ nào đó đã được coi là cổ điển và Bạch tuộc – một tác phẩm điện ảnh vô cùng cuốn hút người xem… Các tác phẩm này đã phần nào cho chúng ta một định nghĩa cơ bản về cái tổ chức khủng khiếp đó. Mới đây Mafia ở Côlômbia ngang nhiên thách đố nhà cầm quyền nước này và trắng trợn đe doạ giới luật sư và báo chí, ở đây lại càng khẳng định tính bạo ngược, vô nhân đạo, vô đạo lý, bất chấp pháp luật của chúng. Trong ý niệm của đông đảo mọi người trên thế giới, Mafia là một tổ chức khủng bố bí mật ở Italia mà quê hương gốc gác của nó là đảo Sicily với thủ phủ là Palermo. Các biện pháp sở trường của Mafia là đe doạ phát giác, cưỡng bức và sát hại. Chúng hoạt động chủ yếu ở các thành phố lớn với những đường dây buôn lậu ma tuý, các ổ chứa gái mại dâm, các sòng bạc v.v… và điều đáng sợ hơn là hoạt động của chúng bao giờ cũng gắn liền với các mục tiêu chính trị. Tuy nhiên, ta cũng cần hiểu thêm xuất xứ của các khái niệm Mafia. Mafia, theo Mario Puzo, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng Bố già nguyên là một từ gốc Ả Rập, có nghĩa là “nơi tôn nghiêm”, “cung thánh”. Từ này nhập vào Sicily khi con cháu của nhà tiên tri-Mahomed xâm lược đảo này vào thế kỷ 10. Nhiều thế kỷ sau, Sicily bị nhiều thế lực khác nữa giày xéo, áp bức, bóc lột. Để trả thù, người dân Sicily đã thành lập các “hội kín” dưới tên gọi Mafia. Các “hội kín” này trở thành một chính quyền trong bóng tối, và được dân chúng nghe theo, trọng nể hơn cả chính quyền công khai. Các “hội kín” này thực thi suốt nhiều thế kỷ luật omerta mà theo luật này, đối với người Sicily, tội lớn nhất là tội cung cấp cho chính quyền bất cứ tin tức gì về bất cứ hành động nào của Mafia. Sicily vào những năm 40 của thế kỷ chúng ta với hoạt động của Mafia và một lực lượng nhất thời tự phát dám đối mặt với Mafia và cả chính quyền Roma, chính là bối cảnh cuốn tiểu thuyết giàu sức hấp dẫn của Mario Puzo – Sicily, miền đất dữ. Giới thiệu với bạn đọc cuốn tiểu thuyết “Sicily- miền đất dữ”. Nhà xuất bản Thanh niên không chỉ muốn đưa đến bạn đọc một tác phẩm có sức cuốn hút nữa của Mario Puzo, mà điều chúng tôi muốn các bạn chú ý là hãy cảnh giác với Mafia cùng mọi quan niệm, và thủ đoạn của cái tổ chức mà có thể len lách vào mọi lĩnh vực và có thể chi phối cả đường lối của giới cầm quyền không phải chỉ của một quốc gia, hãy cảnh giác qua việc làm quen một cách có phê phán những phẩm chất và số phận cuộc đời của chàng trai Turi Guiliano – người đứng đầu lực lượng dám đối mặt với Mafia cùng luật omerta hà khắc và chính quyền Rome lúc đó. Vốn là một chàng trai thông minh, đẹp như tượng người Hy Lạp, Guiliano cũng đồng thời là một con người tốt bụng và nghĩa hiệp. Lẽ ra chàng được sinh ra ở đất Mỹ, nơi cha chàng đã từng được giúp việc đắc lực cho Bố Già Corleone lừng danh và được Bố Già ưu ái. Nhưng do buồn nhớ quê hương Sicily, cha mẹ chàng đã quyết định về đó sinh chàng và sống nốt những năm cuối đời, cũng như nằm xuống ở nơi chôn rau cắt rốn. Vừa đến tuổi vào đời, nhu cầu kiếm tiền để nuôi thân và để giúp đỡ gia đình của chàng trai nghĩa hiệp đó đã bị những kẻ thừa hành công vụ của chính quyền Rome chặn đứng: chàng bị bắn tưởng chết. Viên đạn của chính quyền nhằm giết chàng đã mở ra một bước ngoặt quyết định trong đời chàng, dẫn chàng đến con đường ăn cướp và chàng đã trở thành một tướng cướp kỳ tài: cướp của nhà giàu (mà các nhà giàu ở đây phần lớn đều là những thành viên cốt lõi của Mafia) chia cho người nghèo, chứ không phải cho riêng chàng hoặc băng cướp của chàng. Do được lòng dân, do thông minh và dũng cảm nên nhiều lần Turi Guiliano đã thoát khỏi những mưu toan hãm hại của chính quyền Rome ngoặc chặt với tổ chức Mafia ở đây. Không hãm hại được chàng, nhưng chúng đã lợi dụng băng của chàng để phá vỡ sự ủng hộ của dân nghèo đối với những người cộng sản và những người xã hội cánh tả ở Sicily. Và vô tình chàng đã bị tiếng oan trong công luận. Lòng căm thù của chàng đối với Mafia, chính quyền Rome và những kẻ phản bội chàng càng tăng và được thể hiện bằng những sự trừng phạt để cảnh cáo và để trả thù. Tác giả có ý nhắc và bạn đọc chúng ta cũng nên tỉnh táo trước những “đam mê” trả thù bằng bạo lực của Guiliano và băng của chàng, để giữ cho những nét nhân bản luôn luôn là những nét riêng cao đẹp của mỗi con người và của cả loài người. Nhưng Turi Guiliano cũng đã nắm được khá nhiều tư liệu của chính phủ, của giáo hội và của tổ chức Mafia về những hoạt động xấu xa, hèn hạ của họ. Những tư liệu này được gọi là “chúc thư” của Guiliano, mà mỗi trang của nó, kỳ lạ thay, là có chữ ký xác nhận của chính Hồng y giáo chủ Palermo. Nếu “chúc thư” được tung ra trước công luận, thì ngay cả chính quyền Rome và đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đang cầm quyền sẽ có nguy cơ bị sụp đổ. Việc thanh toán Guiliano càng trở nên cấp thiết đối với chính quyền Rome và tổ chức Mafia ở Sicily. Bố già Corleone từ Mỹ nghĩ tình bạn với cha mẹ Guiliano, đã liên lạc với trùm Mafia ở Sicily để tìm mọi cách cứu Guiliano và đưa chàng sang Mỹ. Cả con trai của Bố Già cũng trực tiếp tham gia vụ ứng cứu này, vì càng ngày anh ta càng thấy quý mến Guiliano cùng với nhân cách của chàng đã trở thành huyền thoại trong đời sống tình cảm và tinh thần của dân đảo Sicily này. Nhưng thế lực Mafia vẫn còn lớn, và mưu đồ của chúng hết sức xảo quyệt. Mafia phản bội Guiliano và tạo mầm phản bội ngay trong lòng tên phó tướng thân cận đồng thời là con bà dì ruột của Guiliano. Guiliano bị giết chết, cái chết của chàng chấm dứt một băng cướp “từ thiện” nhưng tự phát, tuy nó “vì dân” (chia của cho dân nghèo), nhưng không biết dựa vào dân, không biết tổ chức, tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân, không biết liên kết với các tổ chức cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo. Guiliano đã chết, dù có sự can thiệp, giúp đỡ của Bố Già Corleone lừng danh từ Mỹ. Vì dù rất thương yêu huyền thoại Guiliano, nhưng khi phải cân nhắc giữa mạng sống của “huyền thoại” và của đứa con trai cưng kế vị của mình, Bố già không mảy may đắn đo nghiêng về phía con mình… Bài học mà Bố Già muốn con phải ghi lòng tạc dạ, đó là: “Sống là để khỏi chết, chứ không phải là để trở thành anh hùng”. Với nội dung trên, Sicily – miền đất dữ đã được thể hiện qua nhiều loại nhân vật: từ các trùm Mafia đủ cấp bậc đến các đầu lĩnh của băng cướp, từ thủ tướng, bộ trưởng của chính quyền Rome đến Hồng y giáo chủ Palermo và các kiểu thầy tu khác, từ các cỡ chỉ huy cảnh sát đến đại diện cho các đảng phái chính trị… nhưng mỗi nhân vật đều không thể trộn lẫn với người khác được. Các mưu đồ thanh toán nhau, các cuộc mưu phản thừa bẫy hiểm kế độc và cả các cuộc tình không kém phần lãng mạn và dữ dội… đều được gắn kết với tính cách của từng nhân vật, tạo nên một mạch đọc khó dứt trong bạn đọc. Tuy khó dứt, nhưng mong bạn đọc lưu ý tinh thần mà chúng tôi giới thiệu ở những phần trên khi đọc cuốn sách này.
Nhà Xuất Bản Thanh Niên
Chương 1
Đứng trên cầu tàu bằng gỗ bến cảng Palermo, Michael Corleone nhìn con tàu xuyên đại dương đang sửa soạn nhổ neo đi Mỹ. Lẽ ra hắn đã phải đáp chuyến tàu đó. Nhưng Bố Già đã chỉ thị cho hắn phải ở lại, đợi. Hắn đưa tay vẫy chào từ biệt những người đã đưa hắn đến đây và còn đang ngồi trên chiếc thuyền đánh cá. Cũng chính những người này đã bảo vệ hắn trong suốt thời gian sống lưu vong tại Sicily. Chiếc thuyền đánh cá chờn vờn bên hông chiếc tàu biển nom như một con vịt con bì bõm bên vịt mẹ. Những người ngồi trên thuyền đánh cá vẫy tay chào lại hắn. Rồi họ lại bơi thuyền đi mất hút. Trên bến tàu, những người bốc vác, đầu đội mũ lưỡi trai, mặc những bộ quần áo rộng thùng thình, đang tới tấp dỡ hàng từ trên tàu và chất lên những chiếc xe vận tải dậu thành hàng dọc theo cầu tầu. Nom họ thoăn thoắt và có vẻ là người Ả Rập hơn là người Ý. Cái mũ lưỡi trai kéo sụp xuống gần như là che kín cả khuôn mặt. Trong đám ấy, chắc chắn là có những vệ sĩ ngầm bảo vệ hắn cho đến khi hắn gặp được ông Trùm Croce Malo, “Chúa Trùm” của tổ chức “Người anh em” ở xứ Sicily này. Chỉ có báo chí và mấy “người ngoài” mới gọi tổ chức ấy là Mafia, chứ tại chính trên xứ Sicily thì chẳng có ai sử dụng tên gọi ấy. Ngay cả thường dân Sicilian cũng vậy. Cũng như không bao giờ họ gọi Ông Trùm Croce Malo là Chúa Trùm cả, mà gọi là Ông Địa. Trong hai năm sống lưu vong trên xứ Sicily này Michael đã được nghe nói nhiều về lão Croce này. Có những chuyện tưởng như hoang đường đến mức khiến cho hắn đã không còn tin là có thể có một con người như vậy. Nhưng chỉ thị của Bố Già gửi đến cho hắn thì ghi rõ là ngay chính ngày hôm nay, hắn sẽ phải dùng cơm trưa với Ông Trùm Groce Malo. Và cả hai trong số tay chân bộ hạ của lão sẽ bố trí để một tay anh chị lừng danh nhất của xứ Sicily – tức là Salvatore Guiliano – thoát khỏi vòng vây để cùng đi Mỹ với hắn. Michael Corleone được lệnh không được rời khỏi Sicily mà không có Guiliano đi theo. Phía cuối cầu tàu, cách chỗ hắn đang đứng khoảng năm chục mét, có một chiếc xe hơi to sơn màu đậm đang đậu lù lù trên một đường phố nhỏ. Trước xe có ba người đàn ông đang đứng. Michael đi về phía họ. Đang đi, hắn bỗng dừng lại, giả bộ châm điếu thuốc để đưa mắt quan sát. Thành phố Palermo nằm gọn trong thung lũng lòng chảo do núi lửa đã tắt tạo nên. Ba phía bị núi bao bọc, còn một phía thì chập chờn trong màu xanh lấp loáng của Địa Trung Hải. Thành phố lung linh trong ánh nắng chói chang của mặt trời ban trưa trên xứ Sicily. Những con đường đất đỏ ngoằn nghèo, nom như những dòng máu đã đổ ra trên đất Sicily từ bao thế kỷ nay. Nắng chói chang, rực rỡ chan hoà trên hàng cột cẩm thạch trắng toát của ngôi đền Hy Lạp, trên các ngọn tháp dăng đầy mạng nhện của các đền thờ Hồi giáo, trên các mặt tiền nhà thờ có những hoa văn rắc rối kiểu Tây Ban Nha. Và ở cả sườn núi phía kia, thấp thoáng bóng một pháo đài cổ, lỗ chỗ những lỗ châu mai của người phương Bắc. Tất cả những cái đó là di tích của nhiều đạo quân hung bạo kể từ trước cả thời công nguyên đã từng xâm lăng và cai trị xứ Sicily khốn khổ này. Phía bên bức tường pháo đài là dãy núi với những đỉnh nhọn hoắt, ôm choàng lấy thành phố Palermo như đôi tay của tình lang ghì siết tấm thân kiều nữ, cả hai như trong tư thế đắm say và đầu gối cũng từ từ khuỵu xuống, hoặc nom như một chuỗi ngọc đeo chểnh mảng trên vòng cổ người đẹp. Xa hơn nữa, tít trên cao trên thinh không, bầy diều hâu đỏ vun vút bay ngang nền trời trong xanh. Michael đi về phía ba người đang đợi hắn ở cuối cầu tàu. Nét mặt và thân hình của họ nổi bật trong bóng nắng. Mỗi bước hắn lại nhìn thấy họ rõ hơn. Và, đang đứng chụm lại, họ như bỗng tách rời nhau ra, để quây lại đặng ôm hôn hắn. Cả ba đều biết rất rõ lai lịch của Michael. Chẳng hạn, họ biết rằng hắn là con trai út của “Ông Trùm” Corleone, tiếng tăm lừng lẫy chẳng những trên khắp nước Mỹ, mà cánh tay quyền lực của lão còn vươn tới tận xứ Sicily này. Rằng, trong lúc thanh toán một kẻ thù của “Đế quốc Corleone” thì hắn cũng đã “lật gọng” một tay “cớm gộc” của thành phố New York. Rằng, chính vì cái thành tích động trời ấy mà hắn phải ẩn mặt, sống lưu vong tại Sicily này. Nay thì sự việc đã được “thu xếp” ổn thoả, nên hắn đang trên đường trở về quê nhà để đảm nhiệm ngôi vị “đông cung thái tử” trong “Đế quốc Corleone”. Họ chăm chú nhìn Michael, cái cách di chuyển mau lẹ, nhẹ nhàng của hắn, cái bộ mặt nhăm nhúm, rúm ró của hắn khiến cho hắn có cái vẻ của một người đã từng trải nhiều đau khổ và hiểm nguy. Hiển nhiên, hắn là một tay tổ đáng gờm chớ không phải tay mơ, tài tử. Khi Michael đi đến cuối cầu tàu thì người đầu tiên đến chào đón hắn là một “giáo sĩ”. Ông ta mặc áo thầy tu, đầu đội chiếc nón đen bạc phếch dính đầy bụi bặm và cáu bẩn. Chiếc cổ “cồn” trắng của giáo sĩ đã đổi màu vì bụi đất đỏ của xứ Sicily. Cái mặt ngồn ngộn thịt của ông ta nom rất chi là trần tục, chẳng có vẻ gì là thầy tu. Đó là cha Benjamino, em trai của Ông Trùm Croce Malo. Điệu bộ của cha Benjamino thì đạo hạnh như thể nhút nhát. Nhưng thật ra ông rất táo tợn và rất nhiệt tình trong cái sự nghiệp đâm chém, dao búa của ông anh tăm tiếng lẫy lừng nọ. Và ông chẳng bao giờ ngần ngại khi phải tiếp xúc với quỷ dữ lúc nào cũng hờm sẵn trong lòng ông. Những đứa “thối mồm” còn dám kháo với nhau là ông đã dám tiết lộ cho ông anh của ông ta những điều mà con chiên bổn đạo đã xưng tội với ông trong toà giải tội. (1) Cha Benjamino mỉm cười và nồng nhiệt bắt tay Michael. Ông ta dường như ngạc nhiên và bớt căng thẳng khi thấy nụ cười có vẻ hồn nhiên, cởi mở và thân thiện của Michael thật trái ngược với cái tiếng tăm giết người không chùn tay của hắn. Người thứ hai đón Michael là một người lịch sự có thừa, nhưng không có vẻ thân thiện bằng cha Benjamino. Đó là ngài thanh tra Velardi, “sếp sòng” đám cớm trên toàn cõi Sicily. Ông ta là người duy nhất trong số ba người ra đón Michael đã không có được lấy một nụ cười xã giao trên môi. Vóc người mảnh khảnh, ăn mặc cực bảnh so với dân “cạo giấy” ăn lương nhà nước “ba cọc ba đồng”. Đôi mắt xanh, lạnh của những người lai dòng máu Viking phương Bắc từ thời xa xưa đã từng xâm chiếm, cướp bóc xứ này. Thanh tra Velardi có lý để không khoái thằng “mẽo” này, vì nó đã “lật gọng” một “cớm gộc” nếu không hơn thì cũng ngang tầm cỡ ông ta chớ không ít. Hắn đến xứ Sicily chẳng qua là để đợi thời chớ đâu phải là mai danh ẩn tích để đi tu. Bắt tay Michael là một gã có khổ người to lớn dềnh dàng hơn hai người kia. Đứng bên cạnh hai người vừa nói, nom gã như một ông khổng lồ. Gã siết chặt tay Michael, buông ra, rồi thân mật ôm chầm lấy hắn. – Chú em – gã nói, thật là mừng khi được gặp lại chú tại Palermo này. Rồi đẩy Michael xích ra, nhìn vào mặt Michael vừa âu yếm, vừa e dè: – Tôi là Stefan Andolini. Ông già của chú và tôi cùng lớn lên tại làng Corleone. Tôi đã gặp chú ở bên Mỹ, lúc đó chú còn nhỏ xíu xiu. Chú có nhận ra tôi không? Thật là kỳ diệu, Michael nhận ra gã. Có gì đâu, dân Sicilian rất hiếm người có râu tóc đỏ như râu bắp của gã. Và đó là điểm độc đáo của gã, và dân Sicilian cứ nhất định tin rằng Judas bán Chúa phản thầy xưa kia cũng có mái tóc đỏ như vậy. Và người nào đã nhìn thấy lão dù chỉ một lần thì cũng khó mà quên được. Cái miệng rộng toác hoác, lại bị méo, cặp môi trông như con đỉa trâu và đỏ lói như miếng thịt ngựa, bên trên cặp môi ấy là hai lỗ mũi có lông rậm rì thò dài ra, đôi mắt trũng sâu ẩn dưới hàng lông mày chổi xể rậm rì như hai con sâu róm. Ngay cả cái cười của gã cũng khiến người ta thấy rờn rợn và bắt người ta phải nghĩ đến chết chóc. Với vị giáo sĩ, Michael còn hiểu được mối liên hệ, chứ với “cớm gộc” Velardi thì mắc mớ gì mà cũng có mặt ở đây? Andolini, người có trách nhiệm liên lạc, đã vội vã và cẩn thận giải thích cho Michael về tư cách của “cớm gộc” trong vụ này. Dù vậy, Michael vẫn cứ cảnh giác. Ngài thanh tra đã chẳng nổi tiếng là một tay săn đuổi gắt gao anh chàng Guiliano đó sao? Và rõ ràng là ngài thanh tra và cái gã Stefan Andolini chẳng ưa gì nhau. Cái lịch sự họ đối đãi với nhau là cái lịch sự của hai đối thủ sẵn sàng giao đấu chí tử một mất một còn. Anh tài xế mở cửa xe cho họ. Cha Benjamino và Andolini vỗ vai trịnh trọng mời Michael ngồi vào ghế sau. Bằng cái giọng khiêm nhường của một con chiên của Chúa, cha Benjamino nhấn mạnh là cha ngồi vào giữa để Michael ngồi cạnh cửa “đặng ngắm phong cảnh thành phố Palermo cho tiện”. Andolini ngồi phía cửa bên kia. Còn ông thanh tra thì ngồi ghế trước với tài xế. Michael để ý thấy ông thanh tra lúc nào cũng lăm lăm cầm cái núm cửa đặng có thể mở thật nhanh bất cứ lúc nào. Michael chợt thoáng nghĩ là cha Benjamino cố ý ngồi vào giữa để che bớt đạn cho hắn, nếu bất ngờ bị bắn lén. Giống như một con hắc long, chiếc xe từ từ chuyển mình qua các phố xá của thành phố Palermo. Hai bên phố là nhà cửa xây theo kiểu Maure (2), những toà công thự với hàng cột kiểu Hy Lạp và nhà thờ kiểu Tây Ban Nha. Những ngôi nhà thường dân sơn vôi màu lục, màu trắng, màu vàng. Tất cả đều có ban công trồng các dây hoa leo, làm cho người đi dưới đường có cảm tưởng như đang đi luồn dưới gầm một giàn hoa. Phố xá có thể nói là đẹp, nếu đừng có những đội bảo an, những đội cảnh sát quốc gia Ý đang đi tuần trên từng góc phố. Và trên các ban công cũng có lính nữa. Những chiếc xe khác chạy bên xe của họ nom hoá ra lùn hẳn đi, nhất là những chiếc xe do lừa kéo của nông dân chở rau quả tươi từ quê ra tỉnh. Những chiếc xe này phết sơn sặc sỡ từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ cái càng xe cho đến cả những cây căm xe bằng gỗ. Phía hai bên xe thường vẽ cảnh một hiệp sĩ mặc áo giáp và ông vua đội vương miện. Ấy là tranh kể lại tích vua Charlemagne và hiệp sĩ Roland, vị anh hùng trong các truyện cổ tích dân gian Sicily. Nhưng ở một vài xe, Michael lại thấy vẽ nguệch ngoạc hình một anh chàng trông tuấn tú, mặc quần da, áo sơ – mi cụt tay, thắt lưng sề sệ hai cây súng lục và vai đeo lủng lẳng khẩu tiểu liên. Nhưng dù đó là cổ hay kim thì các bức tranh đó bao giờ cũng có một hàng chữ đỏ kính cẩn ghi tên “Guiliano”. Trong thời gian sống lưu vong ở Sicily, Michael đã được nghe kể nhiều điều về cái anh chàng Salvatore Guiliano này. Ngày nào trên báo chí cũng thấy có tên anh ta. Khắp cả cái xứ Sicily này, ai ai cũng nói về anh ta. Ngay cả Apollonia, cô bồ của Michael cũng thú nhận rằng hằng đêm, cô – cũng như hầu hết mọi đứa con nít và đám thanh thiếu niên choai choai của cái đảo Sicily này – vẫn cầu nguyện cho Guiliano được bình an. Chúng tôn thờ chàng ta và ngày đêm mơ ước được trở nên người như chàng. Còn trẻ mới ngoài hai mươi chứ mấy chàng đã được đám bình dân tôn phong là “tướng”, vì đã đương cự nổi cả một đạo binh được chính phủ phái tới để tiêu diệt chàng. Đã đẹp trai thì chớ, tánh nết chàng lại còn hào hiệp, vì chàng đã đem phân phát lại cho đám dân nghèo gần hết những gì mà chàng đã kiếm được bằng tội ác của mình. Ngoài ra chàng còn tỏ ra đạo hạnh, đàng hoàng. Cánh đàn em của chàng, đứa nào dám làm phiền đến các giáo sĩ và các phụ nữ là biết tay chàng liền. Độc đáo hơn hết là mỗi khi chàng “hoá kiếp” cho một tên mật báo viên hoặc một tên phản bội, chàng đều dành cho bọn này ít phút để ăn năn tội lỗi và cầu nguyện đặng làm hoà với các vị cai quản thế giới bên kia. Tất cả những điều này, Michael đã nghe hết, nhưng không rõ chi tiết cụ thể. Khi họ đã rời đại lộ về hướng khác, thì thấy một tờ áp – phích đã đập vào mắt Michael. Nhưng hắn cũng chỉ nhìn thoáng thấy chữ Guiliano ở phía trên. Cha Benjamino nghiêng mình tựa vào cửa nhìn ra xa và nói: – Đó là một trong những bản tuyên cáo của Guiliano đấy. Nhà nước đã làm đủ cách rồi mà, ban đêm, Palermo vẫn dưới quyền kiểm soát của anh ta. – Tuyên cáo ấy nói gì vậy? – Michael hỏi. – Anh ta cho phép dân chúng lại được sử dụng xe điện, – cha Benjamino đáp. – Cho phép? – Michael mỉm cười hỏi tiếp. – Một tên sống ngoài vòng pháp luật mà lại cho phép? Ngồi phía bên kia, Stefan Andolini bật cười lớn: – Mấy cha cảnh vệ lái xe điện thì Guiliano đặt mìn. Nhưng trước đó, dân chúng cũng được cảnh cáo trước chớ có đi xe điện. Bây giờ thì hứa không đặt mìn nữa, thế thôi. Michael hỏi cộc lốc: – Xe điện đầy “cớm” như vậy thì làm thế nào anh chàng Guiliano ấy đặt mìn được? Ngài thanh tra quay đầu lại, đôi mắt xanh rờn chiếu thẳng vào Michael: – Bởi vì, trong cơn xuẩn ngốc của mình, Rome (tức chánh phủ trung ương của Ý – ND) đã tống giam ông già, bà già nó vì cái tội “kết giao với đại trọng phạm” – tức là kết giao với ông con trai của họ. Chính quyền cộng hoà rồi mà vẫn chưa huỷ bỏ đạo luật phát – xít ấy. Cha Benjamino nói với giọng ngầm kiêu hãnh: – Ấy, cũng vì cái vụ ấy mà ông anh tôi, ông Croce ấy mà, trách Rome hết sức vậy đó. – Trời đất! – Michael thầm nghĩ. – Trùm Croce mà lại dám trách Rome? Trùm Croce là cái quái quỉ gì, ngoài cái gọi là “điều hợp viên” trong đám Mafia với nhau?
Chiếc xe ngừng lại trước một toà nhà đồ sộ sơn vôi màu hồng. Mỗi góc đều có tháp kiểu Hồi giáo sơn xanh nhô cao lên. Trước lối vào, một tấm vải bạt lớn, sọc xanh viết chữ “Khách sạn Umberto”, có cả hai tên gác cửa mặc gia phục có cài nút đồng sáng loáng. Tuy nhiên, Michael đâu có “ngợp” trước cái vẻ đồ sộ, huy hoàng, lộng lẫy và oai nghiêm ấy. Hắn đưa mắt “chụp” nhanh quang cảnh, đường phố phía trước khách sạn. Hắn nhận ra ngay có ít nhất một chục vệ sĩ, từng cặp đi đi lại lại dọc theo phía ngoài hàng rào song sắt. Bọn này chẳng thèm giấu giếm nhiệm vụ của mình, mở banh nút áo vét để lộ vũ khí lủng lẳng bên hông. Hai người hút thuốc lá đã chặn lối Michael khi hắn rời khỏi xe. Họ nhìn hắn, xoi mói như thể coi hắn là một nhân vật đáng lo ngại. Họ cũng tỏ ra chẳng cần biết Andolini và ngài thanh tra là ai. Khi ba người đã đi vào bên trong thì lập tức, cửa đóng sập ngay lại phía sau lưng họ. Trên hành lang, bốn vệ sĩ khác xuất hiện và dẫn họ đến một hành lang khác. Bọn vệ sĩ này có điệu bộ vênh váo kiểu như bọn đầy tớ trong cung hoàng đế. Cuối dãy hành lang lại một cánh cửa gỗ sồi nặng nề chặn ngang, đóng kín. Một người ngồi trên cái ghế cao nom như cái ngai vội đứng dậy và rút chiếc chìa khoá bằng đồng sáng loang ra, mở cửa. Hắn cúi đầu cười và mỉm cười, cái cười ra vẻ ăn ý – với cha Benjamino. Ông này cũng mỉm cười chào lại. Cánh cửa mở dẫn vào một dãy phòng lộng lẫy. Những cửa sổ kiểu Pháp mở trông ra vườn. Ngoài vườn, hoa chanh toả hương thơm ngào ngạt. Khi họ vào dãy phòng ấy, Michael thấy hai người ngồi sẵn phía trong. Michael tự hỏi tại sao Ông Trùm lại phải canh gác kỹ đến thế. Lão là bạn của Guiliano, đồng thời cũng là thủ túc thân tín của ngài bộ trưởng Bộ Tư Pháp ở Rome. Vả lại, chính cảnh vệ dăng dăng phủ kín đường phố Palermo. Vậy thì ai, cái gì đã khiến cho Ông Trùm phải “rét” đến thế? Kẻ thù của lão là ai vậy? Đồ đạc trong phòng khách được chế tạo đặc biệt cho phù hợp với toà lâu đài kiểu Ý. Ghế bành lớn, ghế tràng kỷ dài và sâu như một chiếc tàu nhỏ, bàn cẩm thạch lớn như thể nó vừa được “rinh” từ viện bảo tàng về. Tất cả những thứ ấy đều ứng với khuôn khổ của một con người vừa từ ngoài vườn đi vào để chào đón họ. Hai tay lão dang rộng, ôm chầm lấy Michael. Lúc đứng, Ông Trùm Croce Malo nom có chiều ngang hơn là chiều cao. Mái tóc rậm ngả màu và xoắn tít như tóc mấy anh “nhọ” nhưng được cắt tỉa cẩn thận. Mái tóc ấy phủ lên cái đầu to và tròn như đầu sư tử. Đôi mắt lão toát ra vẻ nham hiểm. Hai con mắt như hai trái nho gắn trên cặp má nung núc những thịt nom như hai mảnh gỗ gụ ốp vào mặt. Má bên phải thì nhẵn nhụi nhưng má bên trái thì hằn lên mấy vết thẹo. Nhưng cái miệng thì lại duyên không ngờ. Môi trên có một hàng ria con kiến. Dưới cằm một chòm râu rậm như để gắn chặt các bộ phận trên mặt của lão lại làm một. Nhưng ngoại trừ cái đầu có vẻ vương giả ấy ra, từ cổ lão trở xuống thì đúng là nông dân “rặt nòi”. Cái quần rộng thùng thình, mặc dù đã cố hết sức để ôm lấy cái bụng “bự” như cái thùng nước lèo của lão, nhưng vẫn cứ chực bung ra nếu không có hai sợi dây đeo choàng vắt lên vai. Cái áo sơ – mi cũng rộng thùng thình, tuy giặt sạch sẽ trắng bốc, nhưng nhàu nát như vừa lấy ở thùng đồ giặt ra và cứ thế mặc vào, chứ chẳng có ủi gì ráo. Lão không thắt cà – vạt, mà cũng chẳng mặc áo vét. Lại còn đi chân đất nữa chứ. Cứ nhìn hình dạng bên ngoài, thì lão ta chẳng có cái vẻ gì của một người đã “nhúng mỏ” vào đủ mọi chuyện làm ăn lớn nhỏ, thượng vàng hạ cám, chợ đen chợ đỏ từ trên các đường phố cho đến các quảng trường của thành phố Palermo. Cứ nhìn điệu bộ của lão, thì khó mà tin rằng lão có trách nhiệm về cả ngàn cái chết, rằng lão lại có thể cai trị miền tây Sicily còn ngon lành hơn cả chính phủ trung ương tại Rome, rằng lão giàu có hơn cả mấy ngài quận công, bá tước chủ nhân các lãnh địa mênh mông ở Sicily. Lão ôm hôn sơ qua Michael, rồi vội vã nói: – Chú và ba của cháu quen nhau từ hồi hai người còn để chỏm. Chú thật vui khi thấy ba cháu có cậu con trai bảnh thế này. Rồi ông ta quay ra hỏi han về những khổ cực mà Michael vừa trải qua trong chuyến đi ngày hôm ấy. Và hỏi xem hắn có cần gì không… Michael mỉm cười đáp mình đã lót dạ bằng khúc bánh mì và nhâm nhi lai rai vài ly rượu nho rồi. Lập tức sau đó, Ông Trùm dẫn hắn ra vườn. Cũng như mọi người dân Sicily, lão thích ăn ngoài trời mỗi khi có thể. Bàn ăn được dọn ra gần một gốc cây chanh. Ly tách pha – lê sáng lấp lánh, khăn ăn, khăn trải bàn trắng muốt. Những chiếc ghế lớn bằng tre được các đầy tớ đem lại. Đích thân Ông Trùm kiểm tra lại cánh bày biện bàn ăn một cách lịch sự. Lão nom trẻ hơn cái tuổi ngoài lục tuần của lão. Lão kéo Michael ngồi xuống bên phải và ông em “giáo sĩ” ngồi phía bên trái lão. Ngài thanh tra và Stefan Andolini ngồi đối diện. Lão nhìn hai người này bằng đôi mắt lạnh nhạt. Mọi người dân Sicilian đều là những tay ăn nhậu khoẻ, nếu họ có đủ thực phẩm. Và một trong những chuyện khôi hài về Ông Trùm mà người ta dám kể trước mặt lão là lão thích ăn hơn là thích giết kẻ thù. Lão ngồi vào bàn ăn, nụ cười đôn hậu nở trên khuôn mặt mãn nguyện, tay cầm thìa dĩa chờ đầy tớ đem thức ăn đến. Michael đưa mắt liếc nhanh khắp khu vườn. Khu vườn có tường đá cao bao kín và có ít nhất cũng một chục vệ sĩ rải rác trên khắp bàn ăn khác đặt quanh vườn, nhưng không bàn nào có quá hai tên và cách khá xa bàn ăn của Ông Trùm và các vị khách của lão. Khu vườn ngào ngạt hương hoa chanh và ô – liu. Đích thân Ông Trùm sẻ thức ăn cho Michael. Món gà quay với khoai tây chiên bơ. Lão nếm thử món phó-mát nghiền, rồi mới sới vào đĩa mì Spaghetti, rót rượu nho “đặc sản địa phương” vào ly của Michael… Lão làm tất cả các động tác đó một cách hết sức thích thú và chân thành, cứ như thể điều quan trọng nhất của lão trong lúc này là làm sao để người bạn mới của lão cảm thấy thoải mái, ăn uống ngon lành. Michael cảm thấy đói, vì từ lúc rạng đông đến giờ hắn đã có cái gì nhét vào bụng đâu. Ông Trùm cứ rót thêm rượu, tiếp thêm thức ăn cho hắn. Lão cũng không quên đưa mắt nhìn đĩa của mấy người kia, để nếu cần thì đưa mắt ra hiệu cho đầy tớ tiếp thêm thức ăn hoặc tiếp thêm rượu cho họ. Khi đã ăn xong, lúc ngồi nhâm nhi rượu tiêu thực, thì cũng là lúc Ông Trùm sẵn sàng để bắt tay vào việc. Lão nói với Michael: – Vậy là cháu đến giúp Guiliano rời Sicily để đi Mỹ? – Cháu đã nhận được chỉ thị như vậy, – Michael đáp. – Cháu phải làm thế nào để đảm bảo an toàn cho anh ta đi đến Hoa Kỳ, không được để cho có một sơ sẩy nào. Lão Croce gục gặc đầu. Bộ mặt nung núc những thịt của lão bỗng ỉu xìu, chảy dài ra. Giọng nói ồm ồm của lão bỗng cất lên: – Mọi sự đã được ba cháu và chú sắp xếp đâu đó xong xuôi rồi chớ. Chú sẽ giao Salvatore Guiliano cho cháu. Nhưng… Ở đời đâu có phải lúc nào mọi sự cũng xuôi chèo mát mái, không có những trục trặc bất ngờ, trái ý xảy ra. Bởi vậy, về phía chú bây giờ có phần khó thực hiện được giao ước với ba cháu. Lão đưa tay ngăn Michael đang định ngắt lời lão, và tiếp: – Lỗi không phải tại chú mà cũng chẳng phải tại ba cháu. – Qua cũng như ba cháu thì vẫn chẳng có gì thay đổi. Nhưng, Guiliano chẳng chịu tin ai, ngay cả chú đây nó cũng không tin. Từ mấy năm qua, nhất là cái thời gian đầu cuộc sống giang hồ, ngoài vòng pháp luật của nó, nhờ có chú mà nó thoát chết nhiều phen. Nó với chú có lúc kể như đồng hành, đồng sự đấy. Cũng nhờ có chú mà ngày nay, mới chưa đầy ba chục tuổi đầu, nó đã trở thành một tay giang hồ lừng danh vào bậc nhất của cái xứ Sicily này. Nhưng, lúc này nó cũng hết thời rồi. Năm ngàn lính bảo an và cảnh sát dã chiến đang ngày đêm lùng sục trên núi. Đến nước ấy, mà nó vẫn không chịu để cho chú đỡ nó một tay… – Nếu vậy thì cháu cũng vô phương giúp đỡ gì cho anh ta, – Michael nói, – cháu được lệnh đợi hắn trong vòng không quá một tuần. Sau đó, được hay chăng, cháu cũng phải bay về Mỹ. Tuy nói vậy, nhưng Michael vẫn thắc mắc tự hỏi không hiểu việc đào thoát của thằng cha Guiliano này có gì quan trọng đối với ông già hắn, mà đến nỗi… Sau mấy năm sống lưu vong, hắn nóng lòng mốn trở về nhà. Hắn rất e ngại tình hình sức khoẻ của ông già hắn. Lúc hắn rời Hoa Kỳ đi lưu vong thì ông già hắn bị lãnh một vố nặng, bị trọng thương phải nằm chết gí ở bệnh viện. Ít lâu sau thì ông anh thứ hai của hắn – Sonny – bị bọn kia ria cho một tràng, “đi tong” luôn. “Gia đình Corleone” bị bắt buộc phải lao vào cuộc chiến sinh tử và tuyệt vọng: chống lại cả năm “gia đình” khác ở New York. Cuộc chiến ấy không chỉ thu gọn trên đất Mỹ mà còn lan tới tận cái xó Sicily này bằng cuộc mưu sát chính cô vợ trẻ của hắn. Theo tin tức từ ông già cho biết, thì lúc này vết thương của ông đã lành và ông cũng đã làm hoà được với năm “gia đình” kia rồi. Và những rắc rối của hắn cũng đã được thu xếp êm xuôi bằng cách ém nhẹm nội vụ, rồi cho “chìm xuồng” luôn. Nhưng, Michael cũng biết là ông già hắn đang nóng lòng chờ hắn về để đặng làm cánh tay mặt của ông. Mọi người trong nhà – từ cô em gái, thằng em trai và ông anh rể Tom Hagen, và nhất là bà già hắn vẫn còn đứt từng khúc ruột vì cái chết của Sonny – đều nôn nóng chờ hắn về. Michael thoáng nghĩ tới Kay. Không hiểu sao hai năm trời cách mặt hắn, cô nàng có “xa lòng” không, có lúc nào nghĩ tới hắn không. Nhưng điều làm cho hắn thắc mắc nhất vẫn là tại sao ông già trì hoãn ngày trở về của hắn. Nhất định là phải có cái gì đó hết sức quan trọng và có liên quan đến Guiliano. Bỗng hắn thấy cặp mắt xanh rờn của “cớm gộc” Velardi đang chòng chọc nhìn vào hắn. Cái mặt xương xương có vẻ quí phái của ông ta khinh khỉnh nhìn Michael như thể nhìn một thằng “thỏ đế nhút nhát”. – Ấy, bình tĩnh, – lão Croce nói, – ông bạn Andolini đây chính là sợi dây liên lạc giữa chú và ông già của Guiliano và chính nó. Và, đâu phải là mọi người đã hoá điên cả. Khi rời khỏi đây, cháu sẽ đến gặp ông bà già nó hiện đang ở tại Montelepre. Cũng tiện, Montelepre nằm trên lộ trình của cháu đi Trapani. – Lão ngừng nói và mỉm cười. Nhưng nụ cười vẫn chưa đủ sức để lay động hai tảng thịt ú nú trên hai gò má của lão. – Chú đã được cho biết kế hoạch của cháu. Toàn bộ kế hoạch! – Lão nhấn mạnh vào chữ “toàn bộ”. Nhưng, Michael nghĩ bụng: – “Dóc, biết thế đếch nào được toàn bộ kế hoạch của người ta.” Vì, hắn luôn luôn hành động theo đúng phương châm hành động của “Bố Già” là trong mọi trường hợp không vì bất cứ lý do gì mà tiết lộ toàn bộ ý đồ, kế hoạch của mình cho bất cứ ai. Ông Trùm Croce lại rỉ rả nói tiếp: – Ở đây, ai thương Guiliano thì cũng thấy rằng một là nó không còn có thể dung thân tại Sicily này nữa, hai là nó phải di cư sang Mỹ “làm ăn” thôi. Ngài thanh tra đây cũng nhất trí như vậy! – Cái xứ Sicily này thật lạ lùng, – Michael mỉm cười đáp. – Chính ngài thanh tra, đầu ngành cảnh sát an ninh của Sicily, đã thề bắt Guiliano cho bằng được. Thế mà bây giờ lại… Ông Trùm bất giác cười lớn: – Ai dám tự hào hiểu được cái xứ Sicily này chứ? Nhưng trong vụ này thì hoàn toàn đơn giản, chẳng có gì rắc rối, phức tạp cả. Rome muốn cho Guiliano sống “êm êm” ở bên Mỹ hơn là đưa nó ra làm ồn ào trước toà án ở Palermo trong tư cách… nhân chứng, để Rome khỏi bị đem ra làm trò cười cho thiên hạ. Cũng là chính trị cả đấy thôi! Michael nghe mà ngớ ra. Chính trị? Hắn cảm thấy lúng túng, khó xử. Điều này thật là ngoài dự liệu, kế hoạch của hắn. “Tại sao thằng cha “cớm gộc” Velardi kia lại chịu để cho Guiliano “vọt” qua Mỹ? Cái chết của Guiliano có gì là nguy hiểm?” Giọng khinh khỉnh, ngài thanh tra nói: – Có thể đó là một giải pháp của tôi. Nhưng chính ông Croce đây thương cái thằng ấy như con trai cưng của ông vậy. Stefan Andolini ném cái nhìn hằn học, đầy ác cảm của mình vào ngài thanh tra. Còn cha Benjamino thì giả bộ cầm ly rượu lên “nốc”, đặng né cái nhìn ấy. Nhưng Ông Trùm đã vội nghiêm giọng nói với ngài thanh tra: – Ngồi lại đây bây giờ đều là bạn bè, anh em cả. Do đó, chẳng có gì cần phải giấu giếm chú em Michael đây. Thế này, số là thằng Guiliano nó nắm được “cái tẩy” của ông nhà nước. Đại khái, nó có một tập “nhật ký”, “nhật trình” gì đó mà nó phóng đại ra nào là “chúc thư” nào là “bảo bối” của nó, trong đó nó trưng ra được bằng chứng mấy ông bự trong chính phủ đã có sự “giúp đỡ” nào đó, đặng lợi dụng nó vào mục tiêu “chính chị chính em” riêng tư của mấy cha. Nếu tài liệu này mà được tung ra thì không những chính phủ hiện đương quyền của Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo “đi tong”, mà ngay cả cái đảng ấy cũng “thân bại danh liệt” luôn. Và, thế là Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Ý sẽ lên nắm quyền, chắc ngài thanh tra cũng đồng ý với tôi là phải làm tất cả những gì có thể làm được, đặng ngăn tình hình ấy xảy ra. Bởi vậy, ngài thanh tra đây mới thuận để giúp cho Guiliano “vọt” qua Mỹ, với sự hiểu ngầm là cái tài liệu chết tiệt kia phải được ém nhẹm. – Thế chú đã nhìn thấy “chúc thư” ấy chưa? – Michael hỏi. Đồng thời trong lòng hắn cũng tự hỏi là không hiểu ông già hắn ở bên Mỹ có biết cái chỗ lắt léo này không? Trong chỉ thị gửi cho hắn, không thấy ông đả động gì đến “chúc thư” hay “bảo bối” gì cả. – Chú đã biết nội dung của chúc thư ấy, – Ông Trùm Croce đáp.
Lúc đó, ngài thanh tra cũng chen vào nói một cách cay cú: – Nếu tôi mà toàn quyền quyết định, thì tôi cứ cho lệnh giết chết thằng Guiliano, rồi nó bị “chết chỉm” vì cái “chúc thư” của nó cũng cam. Stefan nhìn chòng chọc vào ngài thanh tra với một sự căm thù không cần giấu giếm và một sự hằn học đến nỗi lần đầu tiên, Michael nhận chân được Andolini thật là một tay hiểm độc, bất nhân chẳng thua gì lão Croce. Andolini nói: – Dứt khoát là Guiliano chẳng bao giờ chịu đầu hàng. Còn tài trí và tầm cỡ của ông, xin lỗi ông thanh tra, còn khuya mới đủ sức đưa hắn vào quan tài. Khôn ngoan ra thì chính ngài nên liệu cái phần hồn của ngài ấy thì hơn. Lão Croce từ từ đưa tay lên ra hiệu yêu cầu mọi người im lặng. Và ai nấy quanh bàn đều nín bặt. Rồi, như không cần biết những người khác đang có mặt tại đó, lão quay ra nói với Michael: – Có thể là chú không thể giữ lời hứa với ba của cháu là giao Guiliano cho cháu. Tại sao lão Croce này lại dính dáng vào vụ này làm gì, thì điều này chú chưa thể trả lời cháu bây giờ. Nhưng cháu cứ yên trí rằng lão Croce hành động như vậy là có lý do và lý do ấy là chính đáng, là tốt. Bây giờ thì chú có thể làm gì nhỉ? Chiều nay cháu sẽ đi gặp ông bà già của Guiliano. Cháu ráng thuyết phục họ khuyên con trai của họ nên tin chú. Và, nhắc cho họ nhớ là chính chú đã lôi họ ra khỏi nhà tù, chứ không phải ai khác. – Lão ngưng một chút, rồi lại nói tiếp: – Và nếu họ khuyên con trai của họ tin chú thì đó cũng là cách họ giúp đỡ chính con họ vậy. Trong những năm sống lưu vong, lén lút, Michael đã tập và phát triển được cái bản năng của một con thú trước những cạm bẫy nguy hiểm. Hắn không ưa gì cha “cớm gộc” kia đã đành, mà cái lão Andolini hiểm độc này cũng chẳng phải là người mà hắn có thể tin cậy. Nhưng trong số những người đang có mặt tại bàn này thì Ông Trùm Croce vẫn là tay cần phải tỉnh táo đề phòng cẩn mật hơn hết. Khi nói với Croce, mọi người có mặt tại đây – kể cả cha Benjamino, em trai của lão – đều phải nói nhỏ nhẹ, đều phải quay mặt về phía lão mà nói, mà đầu phải hơi cúi xuống mà chờ đợi lão phán, thậm chí đang nhai thức ăn mà thấy lão nói thì cũng phải ngưng nhai. Đầy tớ vây quanh lão như hành tinh quay quanh mặt trời. Các vệ sĩ tản mát trong vườn, nhưng mắt vẫn lấm lét nhìn về phía lão và sẵn sàng nhảy bật lên như cái lò xo để xé xác bất cứ kẻ nào, theo lệnh của lão. Michael dè dặt nói: – Chú Croce, cháu ở đây để sẵn sàng theo sự chỉ dạy của chú. Ông Trùm gục gặc cái đầu tròn lu và đồ sộ ra điều mãn ý. Lão đan hai bàn tay và đặt lên cái bụng phệ, rồi nói bằng giọng kẻ cả: – Mình phải tuyệt đối thành thật với nhau. Cháu cứ cho chú biết rõ cháu định sắp đặt cho Guiliano “vọt” như thế nào? Cháu cứ nói với chú như nói với ba cháu, vì chú với ba cháu thì… Michael đưa mắt liếc nhanh ngài thanh tra. Đời nào hắn chịu nói thật trước mặt một thằng “cớm gộc”, xếp sòng ngành cảnh sát an ninh của xứ Sicily. Ông Trùm hiểu ngay vấn đề. – Ngài thanh tra đây cũng là người nhà thôi, – lão nói, – cháu cứ tự nhiên như nói với chú vậy, không sao. Michael đưa ly rượu lên môi đặng tính kế. Qua ly rượu, hắn thấy đám vệ sĩ đang chòng chọc nhìn họ như đám khán giả dán mắt nhìn các diễn viên trên sân khấu. Hắn cũng thấy ngài thanh tra khẽ cau mặt coi bộ không khoái cái lối thân mật kiểu xỏ lá của Ông Trùm. Như vậy, rõ ràng là chính Ông Trùm đã lãnh đạo ngài thanh tra và lãnh đạo luôn cả cái cơ quan của ông ta nữa. Hắn cũng thấy cái vẻ khó chịu trên khuôn mặt có đôi môi như hai con đỉa trâu của gã Andolini hiểm độc. Chỉ có cha Benjamino là cúi đầu xuống tránh tia nhìn của hắn. Michael nốc cạn ly rượu nho trắng đục lờ đờ. Và đám đầy tớ rót tiếp đầy ly khác. Thoắt chốc, khu vườn bỗng trở thành khu hiểm địa đối với hắn. Hắn thừa biết Ông Trùm mở miệng ra là “nói thật, thành thật…”, chứ trong bụng ông nghĩ khác. Tại sao mọi người có mặt tại bàn ăn này chẳng ai tin cha cớm gộc kia, mà gã vẫn có mặt ở đây? Guiliano thì sao? Lịch sử của Sicily dày đặc những vụ lừa lọc, phản trắc. Michael chua chát nhớ tới cái chết của cô vợ trẻ của hắn. Thì cũng chính tại cái xứ Sicily, chứ đâu phải nơi nào xa xôi. Vậy, tại sao “Ông Trùm” lại có vẻ thành thật như vậy? Lão là “Chúa Trùm” Mafia. Lão có những liên hệ chặt chẽ và đầy thế lực với các tay “bự” ở Rome. Và thực tế, lão đã hành động như một đại biểu bán chính thức của Rome tại Sicily. Vậy, Ông Trùm Croce sợ cái gì? Nhất định chỉ có thể là lão sợ chính Guiliano. Ông Trùm nhìn xoáy vào Michael, chờ đợi. Michael cũng ráng nói với cả vẻ hết sức chân thành: – Kế hoạch của cháu cũng đơn giản thôi. Cháu sẽ chờ ở Trapani cho đến khi nào Salvatore Guiliano được chính chú hoặc người của chú trao lại. Một chiếc tàu tốc hành sẽ chở tụi cháu đi châu Phi, tụi cháu sẽ được một máy bay riêng “bốc” đi Mỹ. Tụi cháu sẽ được thu xếp để nhập cảnh Hoa Kỳ mà không cần phải qua những thủ tục thông thường. Cháu hy vọng là mọi sự trôi chảy êm xuôi… – Hắn ngừng một chút, rồi lại tiếp. – Ngoại trừ chú có lời chỉ dạy khác. Ông Trùm thở dài hắt ra, và cầm lấy cái ly, uống. Rồi lão lại nhìn xoáy vào Michael. Lão chậm rãi và có vẻ tâm tình: – Sicily là một vùng đất bi thảm, không bao giờ có sự tin cậy! Không bao giờ có trật tự. Chỉ có bạo lực, lừa lọc và phản trắc. Cháu dè dặt, cảnh giác là phải. Và cháu có quyền như vậy. Và Guiliano cũng vậy. Nhưng, để chú nói điều này cho cháu nghe: nếu đã không có sự che chở của chú thì chưa chắc gì Guiliano còn sống sót cho đến giờ này. Nó và chú đây như hai ngón tay trên một bàn tay. Thế mà bây giờ nó coi chú như kẻ thù của nó. Chà, cháu không thể nào biết thằng nhỏ này đã gây cho chú biết bao bực bội. Ước mơ của chú là một ngày nào đó, Turi Guiliano có thể ung dung quay trở về và được tung hô như một tay vô địch của xứ Sicily này. Thật ra, nó là một con chiên bổn đạo thuần hành và là một con người đảm lược với một trái tim dịu dàng khiến mọi người dân Sicilian quý mến. Lão ngừng lại, tợp thêm một ly rượu nho nữa, rồi lại tiếp tục nói: – Nhưng bây giờ thì gió đã xoay chiều bất lợi cho nó. Một mình ở trên núi với một dúm tay chân bộ hạ mà phải đương cự với cả một đạo quân được chính phủ phái tới để tiêu diệt: chịu gì thấu? Trong khi đó, mỗi bước nó đi là một cạm bẫy, mỗi lừa lọc, mỗi phản trắc. Vậy mà nó vẫn không chịu tin vào một ai, kể cả vào chính nó. Trong giây lat, Ông Trùm lạnh lùng nhìn thẳng vào mặt Michael, rồi nói: – Thật tình, giá như chú đã không quá thương xót cái thằng Ruri liều lĩnh dại dột ấy thì có lẽ chú đã phải nói thẳng cho cháu hay là cháu hãy về Mỹ đi, không có Guiliano đi theo đâu. Ở đây, tấn bi kịch đã kết thúc, nên chẳng dám làm phiền đến cháu nữa. Ông Trùm lại ngừng nói, thở dài, rồi lại tiếp: – Nhưng, dĩ nhiên, cháu là hy vọng độc nhất của chú, và chú nài nỉ cháu hãy ở lại, giúp chú một tay. Chú sẽ hỗ trợ cháu bằng mọi cách. Chú sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi Guiliano. Ông Trùm lại nâng ly rượu nói: – Ước gì nó sống đến ngàn tuổi. Mọi người đều uống. Và Michael suy tính. Thực sự Ông Trùm muốn hắn ở lại hay bỏ rơi Guiliano? Stefan Andolini lên tiếng: – Nên nhớ là tụi mình đã hứa với ông già Guiliano là mình sẽ đến thăm họ tại Montelepre. Ông Trùm dịu dàng đáp: – Dĩ nhiên là thế rồi, bằng mọi giá, mình phải cho ông già bà già nó một hy vọng gì đó chứ. Cha Benjamino rụt rè góp ý: – Và có lẽ họ cũng sẽ biết phần nào về cái “chúc thư” ấy chứ? Ông Trùm thở dài: – Phải, cái “chúc thư” của Guiliano. Nó cứ nghĩ là cái đó có thể cứu mạng nó, hay ít ra cũng báo thù được cho cái chết của nó. – Lão quay sang nói thẳng với Michael: – Cháu nên nhớ điều này, Rome có sợ bản chúc thư ấy thì sợ, chớ còn qua thì không. Cứ nói với ông già bà già nó là những gì viết trong “chúc thư” ấy có thể ảnh hưởng đến lịch sử, chứ có ăn nhằm gì đến cuộc đời này hay không lại là một chuyện khác. Quãng đường từ Palermo đến Montelepre không quá một giờ lái xe. Nhưng chỉ trong khoảng thời gian ấy, Michael và Stefan Andolini đã từ thế giới văn minh hiện đại mà lùi về một nền văn hoá sơ khai của Sicily. Hai gò má cạo nhẵn nhụi, nhưng cái cằm thì đầy những chân râu đỏ rậm rì, nom như một đám lửa bám vào đấy, Andolini lái chiếc xe Fiat nhỏ một cách cẩn thận và chầm chậm như một người vừa học lái xe. Chiếc Fiat rì rầm như muốn hụt hơi khi bò ngoằn ngoèo qua những rặng núi lớn. Dọc đường, họ bị năm chốt của cảnh sát chặn lại. Ở mỗi chốt như vậy có ít ra cũng một tiểu đội mười hai người, có cả xe thiết giáp bố trí súng đại liên yểm trợ. Nhưng giấy tờ của Andolini giúp họ qua trót lọt cả năm chốt. Đối với Michael, cái xứ sở này thật là lạ lùng. Một vùng hoang sơ, bán khai như vậy lại chỉ ở cách một thành phố lớn như thành phố Palermo có một quãng đường ngắn. Họ đi qua những ngôi làng nhỏ với những căn nhà tường bằng đá đẽo sơ sài, nằm chênh vênh trên triền núi. Và, ngay cả những triền núi cũng được cẩn thận chia manh chia mún thành những mảnh vườn với những luống rau sít chặt vào nhau. Những ngọn đồi nhỏ thì lố nhố những tảng đá vôi ẩn hiện trong các bụi tre hoặc lấp lửng rêu phong. Xa xa, nom những tảng đá ấy chẳng khác gì những ngôi mộ không được đẽo gọt sửa sang. Và toàn cảnh thì nom như một cái nghĩa địa lộn xộn chẳng ra hàng lối gì cả. Dọc đường, từng quãng lại có một cái miếu, hoặc một cái “trang thờ” bằng gỗ có khoá cẩn thận, bên trong là bức tượng Thánh Nữ Đồng Trinh Mary hoặc tượng một vị thánh nào đó. Ở mỗi miếu thờ như vậy, Michael đều thấy thấp thoáng một bóng người đàn bà quì cầu nguyện, trong khi đó ông chồng ngất ngưởng ngồi chờ trên một chiếc xe do lừa kéo chất đầy chai rượu óng ánh. Đầu con lừa rũ xuống như đầu vị thánh tuẫn đạo. Stefan Andolini đưa tay thân mật vuốt tay Michael và nói: – Tôi thật sự sung sướng được gặp lại chú em. Chú em có biết là gia đình nhà Guiliano với anh em mình có họ hàng bà con với nhau đấy. Michael biết là nói xạo. Nụ cười toát ra từ đôi môi dày và đỏ lói như miếng thịt ngựa kia nom có vẻ láu vặt và đểu làm sao ấy. Michael đáp: – Không, tôi chỉ biết là hồi còn bên Mỹ thì ông già của Guiliano có làm việc cho ông già tôi. – Thì chính tôi cũng vậy, – Andolini nói, – tụi này đã giúp ông già của chú làm cái nhà ở Long Island đó. Lão Guiliano coi vậy chứ, một tay thợ nề ngon lành đó, nghen. Mặc dù ông già của chú có cho lão một chân làm ăn trong cái vụ dầu ô – liu, nhưng lão cứ bám chặt vào cái nghề thợ nề của lão, chứ không chịu nhận đề nghị của ông già chú. Lão làm hùng hục như trâu trong suốt mười tám năm trời và bóp mồm bóp miệng, dè sẻn từng đồng xu. Rồi lão quay về Sicily tính chuyện dưỡng già. Ai dè chiến tranh và Mussolini làm cho đồng tiền lạm phát. Thế là số tiền dành dụm của lão trở thành mớ giấy lộn. Hiện giờ lão chỉ còn có mỗi căn nhà nhỏ và vài mảnh ruộng nhỏ. Bây giờ, ngày ngày lão cứ ngồi tặc lưỡi, hít hà hối tiếc vì đã ngu dại rời bỏ nước Mỹ để quay về cái xứ “chó ăn đá, gà ăn sỏi” này.
Một bạn nhỏ trao cho tôi một cuốn sách Pháp và mời đọc.
Ban đầu tôi từ chối, vì sách dày gần 500 trang (484 tr.) và thời giờ còn lại của tôi không được dài như vậy, nhưng khi đọc lại say mê và đã quên mất tuổi già. Đó là cuốn: L’Epoque 1900 (Thời đại 1900, Thế hệ 1900) của André Billy (Talandier, 1931), nếu dịch lại và cho xuất bản ở đây, không khỏi bị cắt bỏ bôi xén không cơ man nào nói được, vì ở đây in sách là để giữ chặt túi tiền bất chấp văn nghệ, còn sách Pháp nầy gồm toàn tên họ, danh tánh khó đọc khó nhớ của những người làm cách mạng là nghề và làm văn-hóa là cơ bản giữ gìn dân-tộc-tính và văn-hóa nghệ-thuật.
“Cân quắc anh hùng” thời đại nào cũng có và nước nào, Đông như Tây, vẫn có, nói cách khác, cần chi kể nhiều khăn yếm, có bằng Brevet Supérieur, con của một quan triều đình, nhưng nhảy ra làm cách mạng và đã hy sinh cho tổ quốc, thi thể xiêu lạc nơi nào nào ai rõ được duy danh còn tạc làm tên đường N.T.M.K.
Tôi đọc L’Epoque 1900 và xin ghi lại đây gương một “anh-thư lỳ lợm” như sau:
Từ trang 420 đến tr.422 sách dẫn thượng chép lại gương lỳ lợm cứng đầu:
Nàng tên Louise Michel, có biệt hiệu là “La Vierge Rouge” (Nữ Xích-tử), từng làm cách mạng, chung đảng với Rochefort, cùng xuất ngoại qua xứ Nouméa rồi trở về đất Pháp với Rochefort. Năm 1883, nàng bị kêu án “sáu (6) năm cấm cố và mười (10) năm bị quản thúc”, trước bị giam ngục thất Saint Lazare, rồi dời qua khám Clennent.
Đến năm 1886, có giấy “tha bổng”, nhưng nường từ chối không chịu bước ra khỏi chốn ngục tù. Người ta sai trưởng tòa đến rao bản án, truyền lịnh nếu vi lịnh nường sẽ bị phạt 15 ngày từ và phạt 1.899 francs, kế đó có lịnh không cho nước uống cơm ăn, và mở toát cửa ngục thất, nường cũng không rời ngục xá. Quan bộ trưởng Nội vụ ra lịnh cho xông khói, un như un jambon, bít cửa, khói cay làm nàng sặc sụa… rồi dùng nhà nước chánh phủ không làm cách nào đề trục xuất và phải dùng cấp bực tối cao là phá bằng khám Saint Lazare, sai lính sen đầm vào thì nường nắm tay hai người lính và cười to “vẫn còn ở tù…”.
Gương bất khuất còn dài, tôi xin chấm dứt, để khỏi nhức mắt độc giả…
Trong bài nầy tôi viết tầm ruồng vì uất ức, chỉ nhớ ba việc:
1) Nhà xuất bản Pháp năm 1833 v.v… vẫn tôn trọng ý kiến của người viết, tác giả;
2) Nhà xuất bản năm 1993 ở t.p.H.C.M. chỉ tôn trọng cái gì làm ra tiền;
3) Chỉ có tinh thần bất khuất của hai nữ anh hùng (anh thư) cách mạng là:
• đời xưa bên Pháp, Louise Michel;
• đời nay nơi đất nầy, Nguyễn Thị Minh Khai nay đứng tên thế Chasseloup Laubat, Hg.T.Tự.
Hôm nay 1er septembre 1993, là Ngày Báo Hiếu của lễ Vu Lan PL. 2537, và vừa rồi, tôi có đọc bài nói về bác sĩ Phạm Văn Ngỡi, anh bạn kèo dù già Thái Bạch. T.B. nói về cuộc đời của thầy thuốc Ngỡi từ năm 1945 cho đến 1970 (năm tạ thế), vậy tôi xin viết tiếp lời T.B. và nhắc lại những gì tôi đã biết về quãng trước tức kể từ 1928 đến 1945. Tóm tắt lại, thầy thuốc Ngỡi, khi tôi biết, chưa gọi với chức “bác sĩ”, vì ông học trường thuốc ở Hà Nội, thi đậu ra trường với chức “médicin auxiliaire”, phiên âm là “lương-y-phụ-tá”, và phận sự là giúp tay đỡ việc cho quan thầy thuốc tây, mới gọi “docteur en médicine”, chức “thầy thuốc” teo tôi hiểu, là danh từ bác tôi là Dr. Trần Ngọc Án, tự Diên Hương đã chọn và tự xưng đề trên bảng gác trước cửa nhà góc đường Nguyễn Du và Thủ khoa Huân, là “thầy thuốc Án”, và sau nầy, khi Cách mạng năm 1945 lất đổ chánh phủ thuộc địa Pháp, mới có danh từ “bác sĩ” trong khi từ lâu ngoài Bắc đã có sẵn từ “quan đốc” (docteur) và xin nói luôn nay gọi là “y tá” thì trước đây trong Nam, chức “infirmier auxiliaire” vẫn gọi nôm na là “phạm nhe” và khi nào tâng bốc để rửa ghẻ ít đau, vân vân, khi ấy mới tặng từ “thầy điều dưỡng”.
Nhắc lại năm 1928, thì thầy thuốc Ngỡi đã có mặt từ lâu tại châu thành Sa Đéc, ông có hai căn phố lầu một từng tại đường Vĩnh Phước, hai bên lầu ông có xây mỗi bên là bốn căn phố trệt, và mé hữu ông có dọn riêng hai căn làm phòng coi mạch và trị bịnh nhỏ và gấp rút, đặc biệt ông có sáng kiến dọn hai căn phòng tuốc y hệt nhau, nhưng một căn là dành cho người ưng trả tiền 2 đồng bạc (2$00) mỗi lần coi mạch và căn kế bên là chừa cho người không có tiền trả công coi mạch, tôi không dám gọi đó là người nghèo, còn từ “bình dân” hoặc “lao động” lúc ấy chưa có. Lối tháng juillet (tháng 7 dương lịch) năm ấy, tôi từ Sài Gòn, tách rời trường Máy của ông quan Năm Rosel, đổi về tùng sự nơi tòa bố (dinh hành chánh tỉnh lị Sa Đéc), với trên tay một gói áo quần nhục nhục và một bộ đồ y phục Tây, bỏ lại đất Sài Gòn nợ lút đầu lút cổ, nếu ở lại Sài Gòn là chờ ngày ngồi khám: kể sơ ba tháng tiền mướn phố chưa trả, nợ mua chịu một xe hơi hiệu Fiat của hãng Laurend Gay, giá 2.700$00, nhưng mua chịu, vừa trả được hai ba tháng và còn thiếu hơn hai ngàn bạc, phố và xe là tôi đứng tên, nhưng xe ấy ông nhạc bà nhạc sử dụng để đêm đêm đi đánh bạc và hai đứa tôi khi được ngồi xe là để đi mời tay bài về chứa lấy xâu, ngoài ra tối chưa kể số nợ hỏi tiền góp và vay bạc chà sét-ty trên số muôn,… Bữa tôi đến trình diện nơi phòng thuốc, tôi cung kính chào và thưa tôi là con rể của bà Kính, mẹ vợ tôi tên Dương Thị Thìn, vốn thân thuộc với Dì Tư Ngỡi, ông Ngỡi chưa nghe tôi dứt lời đã gọi tôi bằng cháu và mời cứ dọn đồ lại ở, Dượng cho tôi một căn phòng có giường sắt nệm bông mùng tàn ong trắng phếu, vài ngày sau vợ tôi là cô Tư Tuyết từ Sài Gòn xuống, hai đứa ở nhà Dượng Ngỡi mà ngỡ ngàng muốn rút lui nhưng đã trễ, vì cơm dọn trưa cơm ta chiều cơm tây, ba bồi (boy) phục dịch, tôi còn nhớ tên hai người là Cư và Ngân, hai người nầy tuy mặc quần áo bà ba, nhưng sạch trắng, ủi là sắc lẻm, còn vợ tôi thì y phục lòn xòn ngồi vào bàn không xứng, riêng tôi thì mặc bộ đồ tây bèo nhèo cả tuần nhựt mới thay một lần, và tôi quên nói, khách ôi là khách, cứ đôi ba bữa là có ông Tây hoặc vợ chồng ông Phó chủ tỉnh đến dự tiệc và hai đứa tôi không phương từ chối và Dượng tôi cứ ép có mặt mỗi khi có khách dự tiệc, để cho rậm đám và bữa tiệc thêm vui, trong khi tôi tủi thầm và nát ngướu tâm can… Dì và Dượng quá tử tế, nhưng tôi thì nhột nhạt vài tháng sau tôi kiếm được phố trống gần và cùng một dãy nhưng con ma nghèo chưa dứt khoát, ở Sài Gòn tôi lãnh 80 lương mỗi tháng thêm 60 bạc tiền dạy tiếng Ta cho quan Tây, nay về Sa Đéc lương còn 65 bạc vì mất 15$ tiền phụ cấp đắt đỏ, tiền dạy Tây cũng mất luôn, thêm hãng xe hơi gởi thơ đòi tiền thiếu, thơ gởi ngay cho chủ tỉnh nhưng ông nầy độ lượng, dạy tôi điều đình sao cũng được vì là việc đời tư, cứ tháng nào tôi hụt tiền chợ, tôi đến tìm Dượng Tư Ngỡi tại phòng mạch, hỏi khi mười khi năm đồng, Dượng kéo ngăn tủ trao số bạc và khi lãnh lương tôi đến xin trả, Dượng Tư vẫn cười tít toét và mắng yêu: “Bộ giàu lắm hả? Nhớ đừng cho Dì hay”. Ôi! lòng rộng như mặt nước Sông Tiền, nay Dượng đã khuất mà ơn kia vẫn nặng.
Thầy thuốc Ngỡi mất đã lâu, Thái Bạch kể sự tích thấy cử chỉ có nhiều bê bối, nhưng phải nhìn nhận Đảng rất là lượng, còn dân chúng đất Sa Đéc, những người kỳ cựu nhắc và khen thầy thuốc Ngỡi: “tay bằng miệng miệng bằng tay”, nghề tuy chẳng hơn ai, nhưng ông có tánh dễ dãi, lạc quan, không có bệnh nhơn nào làm cho ông chạy, và với bịnh nào ông cũng coi là nhẹ và nhờ ông vui tánh mà bịnh nhơn tin theo mà lành mạnh không hay. Ông lại có tánh mau biết lòng người, mỗi lần thấy tôi buồn buồn là biết tôi cạn tiền, ông thường bày chước dạy tôi dọn bàn dọn bài, và tối lại, ông cùng ba ông bạn già kéo đến nhà, chà bài thiên cửu, đánh tới sáng hôm sau là tôi có đủ tiền xâu đắp đổi qua tiền chợ tiền cơm. Khi có người rước về nhà trị bịnh, gặp người kéo xe đi quá chậm, ông bèn biểu hạ gọng, ông cho tiền hậu hỷ rồi nhảy qua xe khác chạy mau chạy lẹ hơn, vì ông nói: “cứu bịnh như cứu lửa!”. Nhưng ông có tật ham vui bài bạc, ông thường dùng xe nhà, xe đua hiệu Bugatti sáu máy, mỗi trưa ngày thứ bảy, ông năng lên Sài Gòn đánh bạc, xe của ông khi chạy gần tới bến đò Mỹ Thuận, ông ra hiệu kèn thì đò máy dầu sắp mở lỏi, cũng nán lại chờ rước xe ông vì tán thưởng dồi dào. Năm chót trước khi tôi rời tỉnh Sa Đéc, nhớ vào dịp Tết tôi đến từ giã ông để về Sốc Trăng thăm Ba tôi, và tôi hay tin ông kẹt tiền tôi vụt mời ông hãy nhận một số bạc lớn (độ 7.000$00) mà tôi sẽ lấy ở tủ bạc nhà nước để ông mượn dùng đỡ, khi tôi ở Sốc Trăng trở lên, hết Tết, nhà băng mở cửa làm việc, ông sẽ hoàn số tiền nọ, ban đầu ông không chịu, nhưng khi tôi mang tiền đến thì ông từ chối không nhận với câu: “Tiền của nhà nước, khó lòng và lôi thôi lắm. Hãy trả vô tủ lại đi!”. Mấy lời chí thiết nầy, tôi nhắc lại đây để cho thấy tấm lòng ông Ngỡi, và nhờ vậy mà tôi khỏi mất chức, khỏi ngồi tù. ông Ngỡi thường dùng ngôn ngữ Pháp và chơi thân với Tây, không phải vì nịnh bợ, nhưng theo ông, chơi với quan Tây cho ăn và đãi tiệc thường là để mua lòng, khi nào có người cậy ông, ông vào quan và can thiệp thì quan nhượng và bỏ qua ngay… Sau rốt, ông mắc nợ lớn lúc đó có tục bắt giam con nợ vào tù chờ trả nợ, ông Ngỡi vào khám Vĩnh Long, ngày mãn hạn, xe ô tô nườm nượp kéo từ Sa Đéc qua Vãng mừng và rước ông Ngỡi như lễ thỉnh sắc thần. Tây tà đều ngán… Một khi ông hay quan thầy cũ, đốc-tờ Le Roy des Barres từ Hà Nội về xứ, ông mời des Barres và quan thống-đốc Blanchard de la Brosse, xuống Sa Đéc cho ông tiễn hành. Ông bày hội chợ “kermesse” tại sân túc cầu, chủ tỉnh Bartoli đọc diễn văn lập cập còn ông ứng khẩu nói dòn tiếng Tây nổ như bắp rang, người nào không biết thì sẽ chê ông ưa bợ đỡ, nhưng tánh người miền Nam thì phần đông đều như vậy, vì ở với bọn thuộc địa, ngôn ngữ như chúng thì chúng phải kiêng. Sở dĩ thầy thuốc Ngỡi như đốc-tờ Nguyễn Văn Thinh, và như bác sĩ Trần Văn Đôn, vào Hội đồng Tư vấn, vân vân là vì bị Tây gạt mớp, khi biết được thì việc đã lỡ, đèn nhà ai nấy sáng, xin khoan lên án và sau nầy sẽ hay.
Đời ông Ngỡi kết cuộc rất bi quan. Ông mắc bịnh nước tiểu có đường, ngày tôi đến thăm, gặp ông ngồi ăn canh hẹ tào hủ, ông chan cơm lua vài đũa rồi buông đũa ngó tôi lưng trồng. Tôi là thằng ở bạc, ngày đưa đám tôi không hay để tiễn Dượng tôi. Khi ông ở Hà Tiên, ông đặt tên con Hà và Tiên (nay còn bà quả phụ Tiên) và về Sa Đéc, con là Sa và Đéc nay Sa vẫn còn nhưng đã trên bảy mươi và vẫn không được dồi dào sức khỏe. Tôi viết bài nầy nếu có sơ sót là ngoài ý muốn, và còn một chi tiết nhỏ, tôi không đảm bảo là đúng sự thật nhưng vẫn thuật lại đây và không làm bớt uy tín Dượng Tư Ngỡi được, là có người thuật lại rằng Ngỡi trước tiên là y tá ở dưỡng đường Chợ Rẫy, một đêm Ngỡi gác trại sanh, một phụ nữ sanh cảnh đẻ ngược, chạy đi tìm bác sĩ Tây thì không gặp, lên tìm ông An-Nam thì cũng vắng mặt, tự Ngỡi đảm đương, sáng ngày hai bác sĩ thấy “mẹ lành con vuông”, bác sĩ Tây phấn khởi quá, đề nghị cho y tá nầy vượt bực được khỏi có đít-lôm, ra Hà Nội học nghề thuốc, gặp thí nghiệm quan thầy Tây dạy sinh viên chỉ chỗ của đầu đứa trẻ trong bụng mẹ, các sinh viên kia đều kẻ trật người trúng, riêng y tá nầy khi nắm chắc đầu đứa trong thai thì tay nắm cứng, miệng hô: “Voici la tête”, bác sĩ Tây cười, và khen trí lanh y tá nầy.
Giấy còn thừa, xin kiếu lỗi vì viết quá dài, nay viết thêm: Sở dĩ trong Nam, khi nói “Ngỡi”, Phạm Văn Ngỡi, khi lại nói Ngãi, như Vàm Đại Ngãi ở Sốc Trăng, như Quảng Ngãi, ở miền Trung, và tránh dùng và hát chữ “Nghĩa” và chuyện nầy là do người bạn quá cố Năm Sa Đéc truyền cho biết, như câu Lữ Bố với nàng Điêu: “… đây mong kết ngỡi, đó đành vong ân!”, vẫn hát “ngỡi”, kéo dài nghe êm, chớ “nghĩ…ỉa” (nghiĩa) thì thối lắm.
Mùa nầy, tháng 8 âm lịch, bánh Trung Thu, bánh Bắc, bánh Ba Tàu Chợ Lớn rầm rộ bày bán, cũng là mùa sầu riêng đang rộ bán, hãy mua và nếm cho biết mùi đi, các bạn nhỏ cán bộ có tiền. Trái sầu riêng tôi nói đây, không phải một loại với “Mì ăn liền”, mà cũng xin đừng lầm lộn với “Lá Sầu Riêng” của nghệ sĩ Kim Cương, không khéo tôi bị kiện trộm tuồng trộm nhãn hiệu, vì cũng mùa rộ như nấm, loại sách trụy lạc mà có thứ quay ronéo bán lén giá năm chục ngàn và thứ in lỡ bị cấm phát hành, nhưng cũng có người lén mua cho được, vì phong trào Đời Mới, cái gì bị cấm, thì cái đó bán chạy như tôm tươi.
Vả lại, bài tôi viết đây, nửa theo khoa học, nửa viết cà rỡn giỡn chơi, cà-lơ háp nắng, vì tánh tôi quen pha lửng, tuy tuổi đã 92, nhưng còn hơn lão tướng Huỳnh Trung trong Tam Quốc chí, xơi cơm mỗi bữa một tô đầy, mặc dầu răng cỏ không còn và đã thôi gặm chí-quách, chữ là “Trư cốt”.
Không có trái cây nào như trái sầu riêng. Không ăn không biết ngon, khi biết ăn rồi vẫn nhớ và ghiền còn hơn ghiền xì ke châm chích.
Tên khoa học trong sách là “Duric Zibethinus Murray”, các bạn nhỏ cũng đừng nhớ chi danh từ nầy. Tên thông thường Pháp ngữ là “Duric”, người Miên đất Kăm-bù-chia nhại lại và gọi “Thu ren”, còn tiếng Việt ta là “Sầu riêng”.
Tôi không đủ tài đủ sức dịch nguyên văn bài chữ Tây sách nghiên cứu của tác giả Alfred Petelot, bốn cuốn xuất bản năm 1952, nhan là: “Les, plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” (Cây có vị thuốc của Miên, Lào, Việt). Những danh từ chuyên môn về thảo-mộc-học, tôi xin chừa cho các nhà học cao sẽ dịch lại cho đúng, riêng tôi, tôi xin tóm tắt đại lược những gì ông Petelot đã ghi: “Cây cao độ 25 mét. Lá dày cộm, lốm đốm nổi mục (lông)…, hoa nhiều và rụng, tách rời rơi xuống, trái khá to, gai lổm chổm, mỗi gai có chứa 3 hay 5 hột (hạt) li ti. Khi trái chín thì tự nứt xé ra (là lúc vừa ăn…). Thường thấy trồng nhiều ở miền Nam đất Việt và ở Kăm-bù-chia. Có lẽ gốc gác của quần đảo Ấn Độ”
Sầu riêng, trái lại là giống cây ăn quả được trồng nhiều nhứt ở Mã-lai-á. Cơm (thịt) của trái nầy, ngoài Bắc dùng từ “cùi” để gọi mớ “thịt” ấy, tỷ như “nhãn cùi” thay vì ở Nam gọi “nhãn nhục”. Trở lại về sầu riêng, thịt màu trắng như sữa, dẻo và béo gần như “cà-rem” (crème), gần như sorbet thơm mát, và sầu riêng có một mùi đặc biệt, vừa như lê-ghim, như hoa quả, như cà-rem cây. Mùi đặc biệt khó tả của sầu riêng, không trái cây nào giống, là sầu riêng có mùi “thủm thủm” khi chưa biết ăn thì phải giựt mình tưởng đâu là mùi phẩn (phân của loại động vật), nhưng khi dùng quen, ăn quen rồi, quen mùi ấy rồi, thì cái mùi thủm thủm khó chịu ấy, lại là mùi riêng bắt nhớ bắt thèm!
Đặc biệt khác nữa là sầu riêng, khi chín thì từ trên cây rụng xuống cội nhưng chưa dùng được và phải chờ trái tự nứt ra, thì “thịt” mới dịu và ngon hảo hạng, bằng như tiếc để lại ngày sau, thì thịt “trở nên có rượu” lên men, nhớt, và mất ngon. (đoạn cuối là của tôi viết thêm).
Sầu riêng có tánh cách bổ khỏe dục tình (propriétés aphrodisitiques).
Rễ và lá, ở Mã-lai-á, người thổ dân dùng để trị bịnh sốt rét (theo thuyết của ông Burkill và Haniff) (Card Bull. S.S. 1930, p. 176), và lá sầu riêng nấu lấy nước để tắm thì trị được bịnh da vàng (jaunisse). Hột (hạt) sầu riêng dùng làm thức ăn được, khi nấu hoặc chiên cho chín. Ở đảo Java (trước đây ông cha ta dịch là Chà-và), hột sầu riêng đâm hay giã nhỏ nát như bột, thì dùng trộn với đường, và làm thành bánh ngon.
Một đoạn trên đây, sau mấy câu mở đầu, là tôi cố dịch thật sát những câu Pháp văn của Petelot, và xin nói thêm, người Âu, người Pháp, khi viết về nghiên cứu như vầy, văn vẫn khúc chiết, khó dịch cho thông, và cái tánh mình nên bắt chước là luôn luôn khi mượn hay dựa theo ý kiến của ai thì vẫn nên rõ nguyên gốc đã mượn, (không như ở đây, lấy của người rồi vẫn làm như của mình!).
Phần viết thêm của tôi.
Trong một tạp chí Pháp cũ, hình như trong Revue Indochinoise, tôi đã quên niên-số rồi, có tích người đồng bào Thượng ở miền Trung, khi di cư đi qua vùng rừng núi khác để sinh sống, vẫn đúng ngày đúng tháng khi sầu riêng chín, thì cơm ghe bè bạn, họ kéo cả gia đình, cả lũ về nơi vùng họ đã lìa, để thưởng thức, và không bỏ sót năm nào dầu xa xôi cách mấy cũng lặn lội về…
Lúc mới có sầu riêng, tôi nói đây là lúc tôi còn bé thơ, ở nhà cha mẹ tại châu thành chợ Sốc Trăng, lối những năm 1910-1915, ở đất nầy chưa có trồng và trái sầu riêng vẫn do từ Nam Vang (Kăm-bù-chia) dùng tàu Lục Tỉnh chở xuống, hoặc do các thủy thủ đi Thái Lan chở qua, trái to tướng, nặng trên hai ký hoặc tới ba kí-lô, giá bánđếm từ mấy đồng bạc con đầm xòe (bạc Con Cò trong nầy, cân 27 cờ-ram) chưa hơn cinq piastres, nhưng vẫn cắn răng hít hà giành giựt tranh nhau mua ăn, thân phụ tôi nói có khi có người cầm quần bán áo để mua, lúc ấu thơ, tôi cho là nói thêm và nay tôi đã gần xuống lỗ, mới hiểu lời nói không ngoa. Nhưng cảm tưởng và kinh nghiệm riêng xin nói ra đây, các độc giả đừng cười:
Vào năm 1932 đến 1938, tôi còn làm việc nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Cần Thơ, nhơn tháp tùng theo chủ tỉnh Pháp là quan cai trị (administrateur, tên Colas), nhơn ghé biệt thự một phó tổng giàu sụ quận Phụng Hiệp, người chủ nhà tấn ơn, lấy sầu riêng trong vườn vừa được trái chiến, Colas đặt múi sầu riêng lên dĩa bàn trắng phếu, rồi dùng nĩa và muỗng, xúc, múc mà ăn (tôi xin vô lễ dùng chữ “khều”, tuy khiếm nhã nhưng đúng hơn…), tôi đã làm “tôi” cho Tây thì phải theo phong tục của họ, nên tôi cũng khều sơ sơ và người dọn bàn bưng dĩa đem vào trong mà tôi vẫn tiếc, và nay xin nói luôn, vì chút như vậy mà tôi xin đổi chỗ làm và xin trở về làm nơi Soái-phủ ở Sài Gòn cho khỏi cảnh ăn sầu riêng theo Tây-tà.
Và nay xin nói ra, người đồng bào Thượng biết trở về chỗ cũ để thưởng thức sầu riêng chín muồi dưới gốc, đừng cười họ là người rừng, và theo tôi, muốn ăn sầu riêng mà biết ngon, thì phải giữ theo tục ông bà của mình thuở nay, ăn xoài, ăn mít ướt, nhứt là ăn sầu riêng, phải biết đừng gớm, đừng sợ bị cười là chưa văn minh, và phải làm như lời ông Diệp Văn Cương, người đất Hanh Thông Tây 2 xứ Gia Định, trước ra Huế thay ông Trương Vĩnh Ký, làm thầy dạy Việt văn cho vua Đồng Khánh, sau lui về Sài Gòn giữ chức giáo sư dạy tiếng An-Nam nơi trường Chasseloup-Laubat (các môn đệ của ông Cương đều ham làm đốc-phủ, duy một Phan Văn Hùm nối nghiệp và học được với Cương về lối chánh tả nên Hùm được Phan Khôi khen là viết ít sai chánh tả), chính ông Cương nầy đã dạy, tôi nhờ học lỏm, đọc sách của ông mà biết, thì có câu: “ăn thịt chồn đèn ngon “riết”, “mút hột mít ướt ngọt điên”, nói huỵch tẹt ra là phải ngậm vào miệng và mút trơ mút trít sạch hột mít, hột sầu riêng, thì mới là người biết nếm, biết thưởng thức mùi lai đặc biệt của giống trái cây (mít ướt, sầu riêng) nầy.
Tôi xin thêm lời chót tuy kém nhã là “phải biết mút tay bà mụ” thì mới là người thành thạo, và xin nói tục thêm có gì dơ hơn tay bà mụ trầu đời trước.
Châu thành Gia Định, nơi nhà tôi, có hai cây sầu riêng trồng năm 1949, cho trái mỗi mùa, nhưng năm rồi, bị dơi cắn khi trái còn non. Trồng làm cây kiểng, chớ trái rụng rơi trúng nóc nhà lợp tôn fibre, tiền sửa nóc lại còn mắc hơn mua ở chợ! Sầu riêng có hai loại, vỏ màu xanh hoặc màu vàng, thảy đều ngon (V.H.S).
Hạnh Thông Tây (thuộc Gia Định xưa) theo thời gian đã bị viết và đọc thành Hạnh Thông Tây. Hiện nay một số dấu tích của làng Hanh Thông xưa kia vẫn còn, điển hình là đình Hanh Thông, ở chợ Gò Vấp, Tp.HCM. (bt).
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.