Georgy bức ảnh của năm

baotreonline.com

Đào Duy Hòa

Post on November 4th, 2023

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Bức ảnh mang tên Georgy của Salwan Georges, nhiếp ảnh gia, phóng viên, đã được chọn là “bức ảnh của năm” trong cuộc thi giải thưởng ảnh quốc tế uy tín Sipa, Ý. Bức ảnh thể hiện một cảnh tượng sâu sắc, bất tử diễn ra hồi năm 2022 ở Odessa, sau khi Nga khai triển cuộc chiến Ukraine.

Georgy, tên bức ảnh đoạt giải Sipa 2023,   

Người phụ nữ rơi nước mắt sau cửa kính toa tàu. Trên sân ga, một người đàn ông đứng bên ngoài cửa kính, đối diện với chị ấy. Chị nhìn thẳng vào mắt anh, bàn tay hai người dường như vẫn còn chạm vào nhau dù ngăn cách bởi tấm kính cửa sổ toa tàu. Cuộc chia ly đang đến gần. Và trên hết là nỗi đau đớn tột cùng.

Bức ảnh thật sâu sắc này vừa đoạt giải trong cuộc thi ảnh quốc tế Siena (Sipa: Siena International Photo Awards), Sipa) danh giá. Cuộc thi diễn ra hàng năm tại Siena, Ý, đã trao giải thưởng cho các nhiếp ảnh gia trên thế giới kể từ năm 2015. Năm ngoái, ban tổ chức đã nhận được gần 48,000 bức ảnh được chụp bởi những nhiếp ảnh gia tài tử và chuyên nghiệp đến từ 156 quốc gia.

Ngày 30 tháng 9 năm 2023 vừa qua, nhiếp ảnh gia, nhà báo người Mỹ gốc Irac, Salwan Georges được vinh danh là người chiến thắng cuộc thi ảnh năm 2023, với bức ảnh mang tên Georgy. Chính anh là người đã bất tử hóa cảnh tượng chia ly ấn tượng cảm động giữa người đàn ông và người phụ nữ trên sân ga Odessa.

Biểu tượng Giải thưởng ảnh quốc tế Sipa 2023,

Câu chuyện diễn ra ở Odessa vào tháng 3 năm 2022, vài ngày sau khi chiến tranh giữa Nga và Ukraine bùng nổ. Người đàn ông, trong ảnh, có thể nhìn thấy từ phía sau, tên là Georgy Keburia. Anh từ biệt gia đình, cả nhà anh buộc phải rời bỏ ngôi nhà của mình ở Odessa. Bên kia tấm kính, vợ anh, Maya, và con gái đều buồn bã và xúc động. Họ bỏ chồng, cha để đi ẩn náu ở một nơi an toàn hơn. Ban tổ chức Sipa nhận xét:”Nỗi buồn và sự lo lắng sâu sắc của một người cha buộc phải xa cách những người thân yêu của mình để ở lại bảo vệ quê hương. Tất cả được bức ảnh thể hiện rõ ràng, không còn gì phải bàn cãi nữa”.

Chỉ trong một bức ảnh, Salwan Georges đã tóm tắt được bản chất nghiệt ngã và đau lòng của cuộc chiến. Nhiều bức ảnh khác trong loạt ảnh ghi lại bối cảnh buồn thảm này cũng được đăng trên tài khoản Instagram của Salwan Georges.

“Một người đàn ông nói lời tạm biệt đầy xúc động với một người phụ nữ vừa lên tàu. Tôi đặt máy ảnh xuống. Đây có thể là lời tạm biệt cuối cùng của họ, tôi không có quyền làm gián đoạn. Nhưng người đàn ông đó gật đầu ra dấu đồng ý nên tôi cầm máy lên và bắt đầu chụp ảnh. Tôi thấy mình đang khóc sau chiếc máy ảnh của mình”, Salwan Georges nói với phóng viên tờ The Guardian của Anh, người đã bình chọn bức ảnh này trong số 20 bức ảnh đẹp nhất chụp năm 2022. Theo nhiếp ảnh gia, những người đàn ông khác cũng rơi vào tình cảnh tương tự vào tối hôm đó tại nhà ga Odessa. Tất cả họ đều đang chuẩn bị lên đường chiến đấu chống quân Nga.

Salwan Georges, người Mỹ gốc I-Rắc, nhận giải Sipa 2023

Các bức ảnh đoạt giải khác

Ngoài “bức ảnh của năm”, những người chiến thắng khác cũng nhận được khen thưởng của ban giám khảo bao gồm một hội đồng quốc tế quy tụ các nhiếp ảnh gia, biên tập viên và nhà sưu tập ảnh nổi tiếng. Các tác phẩm lọt vào vòng chung kết ở các hạng mục sau: “Du lịch và phiêu lưu”, “Những khuôn mặt và nhân vật quyến rũ”, “Vẻ đẹp của thiên nhiên”, “Động vật trong môi trường của chúng”, “Thể thao hành động”, “Phim tài liệu và ảnh phóng sự”, “Nhiếp ảnh đường phố”, “Cuộc sống dưới nước”, và “Phim tài liệu ngắn”, “Thiên nhiên, môi trường và các vấn đề bảo tồn” cùng với giải tác giả xuất sắc nhất, giải dành cho tác giả dưới 20 tuổi, và video hay nhất.

Salwan Georges trả lời phỏng vấn trong đêm nhận giải thưởng Sipa 2023

  ĐDH

Một thời cuồng ngông

baotreonline.com

Đào Anh Dũng

Post on November 4th, 2023

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Mặt trời ló dạng khi toán tù cải tạo cuối cùng đã rời trại ra rẫy trồng khoai mì. Bóng đen của đoàn người nối đuôi nhau, lếch thếch đi trên con đường mòn dưới ánh thái dương màu cam sẫm tạo nên một phong cảnh tương phản thật bi đát giữa tù đày và tự do. Sa bỗng có cảm nghĩ tự do là một thiên đường không có lối đến, rồi anh vội gạt bỏ tư tưởng yếm thế ấy ra khỏi tâm tư, nhủ thầm rằng mình cần có hy vọng. Anh cần có hy vọng để sống còn.

Sa bước vào lán bệnh xá trại Cây Cầy. Anh ngao ngán nhìn số tù nhân hơn chục người được miễn lao động vì bệnh nằm liệt giường. Từ ngày được chỉ định làm y tá cho trại, anh chỉ có thể  chăm sóc và an ủi tinh thần bệnh nhân, còn việc chữa trị cả những căn bệnh thông thường anh đành phải bó tay vì không có thuốc men, ngoại trừ những viên xuyên-tâm-liên và các vị thuốc Nam từ lá và rễ cây anh tự học hỏi, tìm kiếm và chế biến qua kinh nghiệm.

Trong số bệnh nhân vô phước ấy có nó, một thằng bạn từ thuở tiểu học. Ôi, làm sao Sa quên được cái thời vàng son ấy!

oOo

Thằng bạn ấy, Lê Việt Chiến, chơi thân với Sa, Lê Châu Sa, trong những năm cùng ăn, cùng ngủ, cùng chơi, cùng học một lớp, bắt đầu bằng cái tên. Hai đứa được cha mẹ gởi vào một trường dòng, theo học nội trú, chương trình Pháp. Thầy Bề trên (Hiệu trưởng) Jean Pierre là người Pháp. Vào ngày thứ Bảy đầu tháng ông đến mỗi lớp để đọc bảng thứ hạng của học sinh sắp theo điểm bài thi. Ông đọc họ và tên học sinh không có dấu nên tên của Chiến ông đọc nghe như “le chien” (con chó), còn tên của Sa, mặc dầu phát âm không phải là “le chat” (con mèo) nhưng bạn bè trong lớp lấy đó làm biệt danh cho hai thằng.

Đa số học sinh vào trường nội trú với hai lý do chính: một là vì cha mẹ có ước vọng cao, hai là bị «đày». Sa thuộc nhóm một, cha mẹ anh muốn anh có một số vốn liếng Pháp ngữ thật vững để sau này vào trường Thuốc; Chiến nằm vào nhóm hai, vì quá ngỗ nghịch nên cha mẹ bỏ nó vào trường nội trú cho các thầy dòng nghiêm trị.

Mà Chiến ngỗ nghịch thật! Trốn rào trường ra chợ uống la-de, thụt bi-da – có nó. Gây sự, chặt giò nhau trong các trận đá banh – nó cầm đầu. Đang đêm trèo vào nhà vệ sinh, phá hệ thống dội cầu cho nước chảy suốt rồi khóa cầu lại – cũng nó. Nói về phá phách, Sa với Chiến có một kỷ niệm khó quên vào dịp lễ Giáng Sinh năm học lớp 6è (lớp Đệ Thất chương trình Việt).

Năm ấy Sa được chọn vào nhóm đóng kịch cảnh cha mẹ Chúa Giê-Su phải về quê vì có lệnh kiểm tra dân số. Trời tối, rét buốt, người quá đông đúc nên không tìm ra chỗ trọ, Đức Mẹ phải sinh Chúa trong hang lừa và bò. Chiến cũng được chọn để đóng kịch nhưng đó là việc phụ, lý do chính là các thầy muốn cầm chân nó, không cho nó lông bông ngoài đám khán giả mà phá thầy, chọc bạn. Sa đóng vai ông chủ lữ quán, Chiến đóng vai người bồi phòng. Vai của nó rất đơn giản, khi Sa hỏi nó có phòng trống hay không lúc Thánh Giu-Se đến hỏi mướn phòng, nó chỉ cần nói: “Dạ!” thật lớn rồi từ cánh gà chạy ra nói không có phòng trống. Chiến bàn với Sa rằng năm nào cũng xem một vở kịch, xem đi xem lại chán bỏ xừ. Rồi nó bày tuồng với Sa, sửa kịch bản ngay trong đêm trình diễn cho các thầy hoảng hốt chơi, có gì nó chịu bị phạt. Thấy trò chơi không hại ai, lại có dịp cho các bạn cười một phát cho vui, các thầy không nỡ lòng phạt tội, nên Sa đồng ý.

Vở kịch “Đêm Thánh Vô Cùng” hôm ấy diễn ra bình thường đến đoạn Chiến dạ rân rồi chạy ra sân khấu nói lớn: “Dạ, thưa ông chủ, còn một phòng trống!” Tội nghiệp thằng Thanh đóng vai ông Thánh Giu-Se, nó luýnh quýnh không biết làm gì, chẳng lẽ dẫn thằng Nhờ, trong vai Đức Mẹ, vào phòng trọ, rồi phải chấm dứt vở kịch vì đã đi sai kịch bản rồi. Trên sân khấu Sa liếc nhìn xuống khán giả đang im phăng phắc, các thầy ngồi hàng ghế đầu với Cha tuyên úy hầu như ai cũng há miệng ngạc nhiên, riêng thầy phó Bề trên đang kề tai nhỏ to gì đó với thầy Bề trên. Sa làm bộ lật đật la to: “Cái thằng lười biếng, mầy nói ẩu hả? Đi kiểm lại!” Chiến chạy lúp xúp vào cánh gà nhưng ở lì trong đó làm cho Sa cũng nóng ruột, thoáng sợ mình đã mắc mưu thằng lỏi này. Lát sau, khi khán giả gần như nhốn nháo, nó mới chạy ra, nói: “Dạ, thưa ông chủ con xem lộn. Dạ, không còn phòng nào trống hết!” Sa thở phào, tiếp tục vở kịch, nói với Thánh Giu-Se câu rất tiếc nhưng chắc không ai nghe vì khán giả học sinh đang cười rần rộ đến khi thầy giám học đứng lên huýt còi mọi người mới im lặng.

Một chuyện phá phách khác, khá vui ở tuổi mới lớn, cũng do Chiến bày tuồng, xảy ra vào mùa hè trước năm học cuối, năm thi bằng Brevet (Trung học đệ nhất cấp). Năm ấy, Sa học hành bê bối nên phải trở lại trường một tháng theo học lớp hè. Lẽ dĩ nhiên, Chiến cũng không khá hơn nên nó cũng có mặt. Trong nhóm quý thầy mới ra trường đến tập sự, có một thầy trẻ tuổi hay mắc cỡ nên Chiến bày ra cách phá thầy như sau: khi đến phiên vị thầy trẻ này gác nhà ngủ nó xúi cả bọn cùng lớp tắm truồng thay vì mặc quần đùi trong phòng tắm chung. Lần đầu thành công mỹ mãn vì thầy đỏ mặt, vội ngó đi nơi khác, không có lấy một lời quở phạt. Nhưng, “trời bất dung gian đảng”, lần sau ăn quen, khi đang trêu phá thầy thì có một thầy già đột nhiên bước vào (hay là do thầy trẻ báo cáo?)  Kết quả là một hình phạt tởn tới già: 100 cái hít đất, tại chỗ, trần truồng và Chúa Nhật không được phép ra phố. May thay, cả bọn mới hít được có 30 cái, có lẽ thấy cảnh tượng quá buồn cười nên thầy già búng tay, đuổi đi: “Allez-vous en!”

Tranh Bảo Huân

oOo

Sau buổi học tập hàng đêm tù nhân trở về lán. Thoáng đó mà trại tù im lặng như tờ. Sa nhìn Chiến nằm thiêm thiếp, thân hình nó mỏng dính, dán sát xuống chiếc giường ọp ẹp trông thật tội nghiệp. Ánh trăng lưỡi liềm không sáng lắm nhưng đủ rọi vào một gương mặt hốc hác, xanh như tàu lá. Sa sờ trán bạn, thấy nóng hổi, lấy khăn nhúng nước lau cho bạn. Lòng anh chùng xuống, thương bạn. Đã xảy ra quá nhiều ca tử vong vì kiết lỵ trong trại tù này rồi. Lá cây thuốc Nam như rau sam, bông bụp, lá mơ … Sa biết nhưng tìm đâu ra cho đủ uống. Thuốc Tây trụ sinh chỉ thấy trong mơ. Điều kiện vệ sinh trong trại tù là con số không. Sa liếc mắt ngó quanh rồi anh kín đáo làm dấu Thánh Giá, lẩm bẩm câu kinh, cầu xin lòng thương xót của Chúa.

“Le chat, mầy theo đạo rồi hả?”

Chiến bỗng hỏi Sa, giọng thều thào, yếu ớt nhưng nó cũng ráng mỉm cười sau khi gọi Sa bằng cái biệt danh thời học sinh. Nụ cười ngông nghênh ngày xưa vẫn còn đó.

“Ừ, cha Nhân rửa tội ‘chui’ cho tao hôm lễ Phục Sinh. Tao tệ thật, trong cơn hoạn nạn mới chịu làm con của Chúa. Còn le chien, mày bỏ đạo luôn rồi à? Từ ngày gặp lại mày tao chưa bao giờ thấy mầy đọc kinh, xem lễ.”

Chiến không trả lời, nó nói lảng sang chuyện khác:

“Tội cho cha Nhân. Tụi nó tìm đủ mọi cách để đì mà ổng cứ lén lút đọc kinh, dâng lễ.”

Câu nói của bạn làm Sa nhớ đến một kỷ niệm thời trung học; nhìn Chiến, anh không kềm được một nụ cười, dù rất héo hon:

“Mầy còn nhớ bài thơ của Jacques Prévert không, le chien?”

“Chuyện xưa! Thời cuồng ngông!”

Ừ, Sa ngẫm nghĩ, cái thời trung học ấy thật có quá nhiều chuyện ngông cuồng mà Chiến quả là một tên ngông số một.

Ở trường đạo, học sinh đọc kinh trước và sau mỗi buổi học là việc hàng ngày. Những đứa “không có đạo” như Sa, nhập gia tuỳ tục, đọc theo, riết rồi thuộc lòng, không đứa nào thắc mắc. Chiến là đứa “có đạo” nhưng nó ngầm chống đối, không chịu đọc kinh lại còn mắng những đứa “không có đạo” đang bị thầy dòng “tẩy não.” Năm ấy, trong một giờ Văn chương Pháp thầy Phước giảng ngoài chương trình vài bài thơ mới của Jacques Prévert. Chiến tìm tòi thêm, gặp bài thơ tựa đề Pater Noster của thi sĩ này với câu mở đầu là:

Notre Père qui êtes aux cieux.

Restez-y.

và nó dịch ra thành:

Lạy Cha chúng con ở trên trời.

Chúng con nguyện xin Cha ở đó.

(thay vì “Chúng con nguyện danh Cha cả sáng.”)

rồi ngang nhiên đọc xen vào khi lớp đọc kinh, kéo thêm vài tên bạn khác đọc theo, cười khúc khích. Cũng may, trò phá phách này không mấy thú vị nên sau vài lần thì bị cả lớp cho vào quên lãng; nếu tiếp tục, có ngày Chiến sẽ bị các thầy phạt.

Trong những năm tháng sống đời học sinh nội trú “vô tư” ấy, Sa có thắc mắc nhưng anh chưa bao giờ hỏi Chiến tại sao nó “chống đạo” như vậy. Hai năm trước, lúc mới gặp lại bạn trong tù, Sa hỏi thì nó hỏi ngược lại:

“Cái tên Việt Chiến của tao, mầy không nghĩ ra điều gì à?”

“Việt Chiến… Việt Chinh… Việt Minh… Vậy là bác trai đi theo cách mạng?»

Sa đoán mò mà trúng phóc. Hôm ấy, Chiến tâm sự cùng Sa rằng cha nó bỏ gia đình, đi vô bưng, rồi tập kết ra Bắc. Mẹ nó ở lại, buôn bán tảo tần nuôi con. Năm nó lên 10, bà gặp dượng ghẻ tương lai của nó. Hai người yêu nhau rồi cùng nhau chung sống, không được phép chuẩn của giáo hội. Vì thế, khi đã biết suy nghĩ, Chiến cảm thấy bất mãn, nhất là mỗi khi đi lễ, anh em nó khoanh tay đi lên Cung Thánh rước lễ còn mẹ nó và dượng ghẻ phải ở lại bàn quỳ. Đó đâu phải do lỗi của mẹ nó mà giáo hội lại khắt khe như thế. Chiến cho rằng người đáng trách là cha của nó. Ông ta là một kẻ vô trách nhiệm, cưới mẹ nó, sanh ra nó làm gì để rồi phủi tay ra đi, để rồi hai mươi mấy năm sau trở về tìm nó, gặp lại nó trong trại tù cải tạo? Đó là lý do Chiến mất lòng tin vào giáo hội và hận cha của nó. Khi ông đến thăm với ý định bảo lãnh nó ra tù, nó từ chối gặp ông. Tuy nhiên, Chiến cũng công nhận rằng ban quản giáo có vài sự biệt đãi ngầm đối với nó, chắc cha của nó là người có “thớ” trong chánh quyền mới.

Sa bước ra khỏi lán bệnh xá, đi lấy nước đã đun sôi cho  Chiến uống. Không có thuốc men chữa trị, anh chỉ còn cách giúp bạn mình không bị thiếu nước trong khi cơ thể tự chống lại vi khuẩn mà thôi. Tuy nhiên, sức khoẻ của Chiến đang suy sụp đáng ngại và Sa nghĩ rằng, nếu không chữa chạy kịp thời, có thể nó sẽ không qua khỏi. Vì thế, anh quyết định trình báo sự việc với ban quản giáo. Hai ngày sau, bỗng nhiên có lệnh chuyển Chiến đến trại khác.

Từ đó, Sa không được tin tức gì của Chiến. 3 năm sau, Sa được trả tự do, rồi anh vượt biên tìm tự do, tự do thật sự…

oOo

Vợ chồng Sa lên đường từ sáng sớm, lái xe đến 5 giờ chiều mới đến tu viện Thánh Bonaventure ở thành phố Cincinnati. Hai người sẽ ở 2 ngày trong nhà khách của tu viện này, cùng với 3 cặp phụ huynh khác, để tham dự buổi lễ Tim, con trai của hai người, và 3 bạn tập sinh của nó chánh thức mặc áo tu sĩ dòng Thánh Phanxicô vào ngày mai. 7 giờ chiều, họ tham dự một buổi tiếp tân của nhà dòng, với sự có mặt của toàn thể tu sĩ, tập sinh của tu viện. Vợ chồng Sa đang hầu chuyện cùng Cha Jim, người đỡ đầu của Tim, bỗng có tiếng gọi bên tai:

“Le Chat!”

Sa giật mình, quay mặt lại, bắt gặp một tu sĩ Á Đông trong chiếc áo dòng Phanxicô màu nâu, chiếc lúp sau lưng và sợi dây thừng trắng buộc quanh bụng. Ông thật không ngờ vị tu sĩ ấy là Chiến, người bạn thân của mình năm xưa. Tay bắt mặt mừng nhưng, lẽ dĩ nhiên, hai người không thể thăm hỏi nhau lâu vì buổi tiếp tân phải diễn tiến theo chương trình. Họ hẹn gặp lại để hàn huyên vào chiều ngày hôm sau.

Tối hôm ấy, khi có giây phút riêng tư với con, Sa hỏi thì Tim cho biết thầy Chiến là một friar, một thầy dòng, chứ không phải linh mục. Thầy Chiến mặc áo dòng được khoảng 15 năm, là một bác sĩ tâm lý làm việc ở bệnh viện The Good Samaritan (Người Samari Nhân Hậu) và là một giáo sư của tu viện. Tim cũng kể rằng, qua chương trình huấn luyện tập sinh, nó có dịp hầu chuyện với thầy Chiến nhiều lần. Sau khi biết tên tuổi và vài chi tiết gia cảnh, thầy nói rằng cha của Tim có thể là một người bạn cũ của thầy. Tuy nhiên, thầy yêu cầu Tim đừng tiết lộ điều gì về thầy vì nếu đúng vậy thì thầy muốn tạo một sự ngạc nhiên, một ngạc nhiên dễ thương (a lovely surprise) cho bạn. Nghe đến đó, Sa không có chút ngạc nhiên, không nhịn được nụ cười. Cái thằng đến già vẫn còn ngông!

Vậy mà khi gặp lại Chiến, câu nói đầu tiên của Sa là trách bạn sao không liên lạc ngay khi nhận ra mình. Chiến cười, trả lời rằng, tao biết mầy có công việc làm vững chắc, gia đình hạnh phúc, riêng tao cũng hạnh phúc không kém vì được đồng hành với Chúa mỗi ngày thì vội gì mà liên lạc. Rồi hai người bạn kể cho nhau nghe những đoạn đường họ đã trải qua từ lúc chia tay ở trại tù. Chiến siết tay bạn, ngậm ngùi cảm ơn bạn đã cứu ông thoát lưỡi hái tử thần năm ấy. Nhờ ban quản giáo trại tù thông báo, cha của Chiến đã lập tức vận động đưa ông về Sài Gòn chữa trị và sau đó đã giúp ông vượt biên, đoàn tụ với mẹ, dượng ghẻ và hai người em cùng mẹ khác cha. Chiến kể rằng cha của ông đã tận tình chăm sóc, ngày nào ông cụ cũng đến thăm, ngồi hàng giờ bên con. Nhờ đó, hai cha con ông mới có cơ hội giãi bày những uẩn ức trong lòng, thấu hiểu tình cảnh, nỗi khổ của mình và đi đến việc tha thứ cho nhau.

Riêng việc hiến thân cho Chúa, Chiến tâm sự rằng, Chúa đã mở tim ông nhiều lần, qua 3, 4 lần ông thoát chết trong đường tơ kẻ tóc nơi chiến trường và lần cuối cùng khi ông lâm trọng bệnh ở trại tù, nhưng ông vẫn không biết. Cho đến khi ông mở lòng mình, tha thứ cho cha, và nhất là khi ông đọc lá thư của cha gởi cho mẹ, xin bà tha thứ và xin chịu mọi trách nhiệm, ông mới nhận ra lòng nhân từ của Chúa. Chính nhờ lá thư ấy của cha, sau bao năm cuộc hôn nhân của mẹ và dượng ghẻ mới được phép chuẩn của giáo hội. Từ ngày Chiến mở lòng mình, cuộc đời ông bỗng nhiên thay đổi. Ông sang Mỹ, kiếm được việc làm rồi ông có cơ hội đi học lại, ông chọn môn Tâm Lý Học vì ông có ước vọng giúp tha nhân mở lòng và thay đổi cuộc sống như ông đã trải qua. Chiến có người yêu là một bạn học, một sinh viên “già” đồng nghiệp nhưng tình yêu Thiên Chúa trở nên mãnh liệt hơn và ông gia nhập dòng Phanxicô sau khi tốt nghiệp cử nhân. Quý cha Phanxicô đã giúp ông toại nguyện, trở thành một bác sĩ Tâm Lý, hiến thân cho Chúa, cho đời.

Đêm đã khuya, Sa đành phải tạm biệt người bạn học, bạn tù năm xưa. Ngày mai ông bà cần thức sớm để lái xe trở về Minneapolis nghỉ ngơi lấy sức hôm sau đi làm. Chiến gọi thời trung học là thời cuồng ngông, thời nông nổi của tuổi trẻ nhưng Sa nghĩ rằng đó chẳng qua là những chuỗi ngày tháng thử thách của Chúa, của cuộc đời. Ngoài kia, đêm Cincinnati dày đặc bóng tối nhưng trên không trung vì sao Bắc Đẩu vẫn sáng chói như muôn thuở. Ông mừng cho bạn đã vượt qua mọi trở ngại và tìm lại được ánh sáng soi đường.

ĐAD

Xe có thể quay 360 độ

baotreonline.com

Bảo Sơn

Post on January 26th, 2024

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Hệ thống điều khiển hướng của xe hiện nay khá giới hạn. Xe chỉ có thể quẹo sang trái hay phải với một góc độ nhỏ, vì vậy khó xoay trở khi vào parking hay lúc quay đầu xe đổi hướng.

Hãng xe Hyundai mới giới thiệu một loại xe mới tên Mobion có hệ thống xoay bánh xe đặc biệt giúp xe có thể chạy ngang hay xoay tròn 360 độ. Hệ thống bao gồm động cơ điện, hệ thống xoay chuyển bánh xe và dàn nhún gộp chung gắn vào bánh xe. Với hệ thống này, bánh xe trước và sau có thể xoay chuyển theo góc độ khác nhau tùy theo điều khiển của người lái xe. Khi đang chạy, có thể dừng xe lại và cho xe chạy ngang một góc 90 độ so với hướng đang chạy, nhờ vậy vào các parallel parking rất dễ dàng. Khi cần xoay xe về hướng ngược lại, chỉ cần cố định bánh trước, đổi góc bánh sau và xe có thể quay một góc 360 độ không cần phải chạy lùi lại trở đầu từ từ. Ngược lại, có thể cố định bánh sau và xoay bánh trước để xe quay 360 độ.

Hãng cho biết loại Mobion đã sẵn sàng để được sản xuất hàng loạt nhưng chưa cho biết giá bán xe này.

Băn khoăn về giải thưởng nhiếp ảnh

baotreonline.com

Andy Nguyễn

Post on March 4th, 2022

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Photo by: Andrea Zappia

Kết quả của Giải thưởng 2021 Nhiếp ảnh Phong cảnh Quốc tế (2021 International Landscape Photographer of the Year) vừa mới được công bố. Hơn 4,500 nhiếp ảnh gia (NAG) đã tham dự cuộc thi này. Tất cả đều hy vọng rằng tên tuổi của họ sẽ được nổi tiếng khắp thế giới và nhận được một phần của số tiền thưởng lên đến $10,000. Tổng cộng 11 NAG đã trúng thưởng, với duy nhất một người nhận giải độc đắc. Tiêu chuẩn của những tác phẩm thắng giải rất cao. Tuy nhiên, trong đó đang ẩn một vấn đề trọng yếu.

Những tác phẩm thắng giải 2021 Nhiếp ảnh Phong cảnh Quốc tế

Trước tiên là một điều cần nói cho cặn kẽ: chúng tôi không hề thiên vị hoặc có hiềm khích với bất cứ người nào thắng giải thưởng 2021 Nhiếp ảnh Phong cảnh Quốc tế. Vì tính chất cân đối và sự giản dị, chúng tôi thích tác phẩm này của Ben Goode, thắng giải ba trong thể loại hình đơn. Và khi nói về cái nhìn nghệ thuật và sáng tạo, mỗi NAG đều nhận điểm cao cho tác phẩm của họ. Vậy thì, vấn đề là gì?

Photo by: Ben Goode

Một điều khá hiển nhiên khi nhìn qua những hình ảnh này: chúng đã được (bị?) chỉnh sửa đến nỗi nhìn không giống cảnh thiệt. Tôi không ngạc nhiên tí nào nếu nhiều thời gian đã bỏ ra để sửa hình hơn là đi thăm dò địa điểm, thám thính phong cảnh, và rồi chọn góc cạnh đẹp để chụp tấm ảnh. Chỉnh sửa hình (vừa phải) thì không sao, nhưng khi tấm ảnh trở thành sản phẩm của sự chỉnh sửa hơn cả sản phẩm của chủ thể, thì nó là một vấn đề.

Các bạn hãy nhìn qua một số tác phẩm thắng giải dưới đây, và chỉ cho tôi một tấm ảnh nhìn thật như ngoài đời (bạn sẽ không thể!)

Photo by: Tanmay Sapkal

Photo by: Aytek Cetin

Photo by: Andrea Zappia

Photo by: Max Rive

2021 International Landscape Photographer of the Year cần sự đa dạng

Chúng tôi không khẳng định rằng thể loại nhiếp ảnh này không có chỗ đứng trong thế giới chụp hình phong cảnh. Nhưng khi những hình ảnh đã được chỉnh sửa nặng nề chiếm ưu thế trong một cuộc thi lớn, đó là một cái tát tai đối với nghệ thuật nhiếp ảnh xác thực và gian dối đối với khán giả. Thay vào đó, cuộc thi có lẽ nên có một thể loại gọi là “tác phẩm Photoshop” thì tất cả những hình ảnh này đều có thể trở thành vô địch xứng đáng. Tuy nhiên, nếu gọi đây là “nhiếp ảnh” cao siêu nhất trong thể loại phong cảnh thì đó là một thất vọng không nhỏ đối với những ai muốn nhìn thấy thế giới thật.

Kết luận

Thế giới chúng ta có đầy những phong cảnh đẹp tuyệt vời. Vậy tại sao chúng ta không được nhìn thấy thêm nhiều hình ảnh phản ánh thế giới thật? Tại sao các NAG không trình bày cho chúng ta thấy cảnh đẹp của những nơi khác trên thế giới? Hẳn nhiên sự xác thực nên là tiêu chuẩn của một cuộc thi lớn như 2021 International Landscape Photographer of the Year?

AN

Hỏa Lò

vietmessenger.com

Nguyễn Chí Thiện

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

1. Những bài ca cách mạng

Lại tết! Đây là cái tết thứ hai gã ăn ở Hỏa-Lò.

Gã thở dài. Chắc giờ này, vợ gã buồn lắm! Có lần đi công tác xa gần bốn tháng, đêm nằm, gối đầu lên tay gã, vợ gã đã khóc, tâm sự là trong nhà thiếu bóng một người đàn ông, nó trống vắng thế nào ấy. Và bắt gã hứa sẽ không bao giờ được để nàng một mình một bóng lâu như vậy. Nàng không cần địa vị, danh vọng, giầu có. Chỉ cần hai vợ chồng sống gần-gũi nhau. Thế mà lần này, gã vào tù đã 21 tháng trời. Người đàn bà yếu mềm, mau nước mắt ấy, chắc phải đau đớn, khóc thầm trong cô đơn đến cạn nước mắt. Vợ chồng gã không có con. Bao yêu thương, chăm sóc, vợ gã giành cho gã cả. Gã tự biết mình bất tài, vô tướng, nghèo. Con số không lăn giữa cuộc đời. Được một thiếu nữ vừa nhan sắc, vừa dịu hiền, yêu và bằng lòng lấy mình, gã thấy gã thực tốt số. Những lúc vợ chồng âu yếm nhau, để tỏ lòng biết ơn, gã thường đọc cho vợ nghe một câu thơ của ai làm không rõ :”Nhờ có em, một tà áo đã bay vào đời anh”. Vợ chồng ăn ở với nhau đã 19 năm, chưa bao giờ có một lời nặng nhẹ. Hàng xóm láng giềng ai cũng khen sự hòa thuận hiếm có đó. Gã dạy học, vợ gã đan len. Hai vợ chồng hợp-lực, dè xẻn, mà còn thiếu thốn trăm bề.

Đã 21 tháng, gã nằm tù, vợ gã vẫn tiếp tế đều. Khi thì mấy cân mì rang, mấy lạng đường, vài quả chanh. Khi thì mấy cân cám rang, gói muối vừng, mấy quả chuối. Ăn những thứ nặng tình, nặng nghĩa đó, gã cảm thấy tội lỗi như đang ăn xương, uống máu vợ. Đã vài lần, gã nhờ mấy người được tha, tới nhà nói với vợ gã là không phải gửi quà nữa. Gã được may-mắn làm tự giác, không đến nỗi đói khổ. Không biết họ có tới không. Nhưng vợ gã vẫn đều đặn tiếp tế. Hôm nay đã 29 tết. Muộn lắm là ngày mai, vợ gã sẽ gửi quà. Gã không được viết thư, gặp người nhà, vì vụ gã chưa xét hỏi xong. Gã muốn gặp vợ quá! Nhiều đêm trằn trọc suốt, vì thương, vì nhớ. Chắc nàng phải xanh gầy lắm. Mắt phải quầng thâm vì khóc, vì mất ngủ.

Từ trên bầu trời xám đục, ủng sũng, mưa xuân rắc bụi xuống chiếc áo bông xanh đã bạc phếch của gã…

– Đi cung!

Tiếng tên quản giáo làm gã giật mình, ngừng tay chổi, ngửng đầu lên:

– Thưa cán bộ, cán bộ gọi tôi?

– Không anh thì còn ai nữa.

Gã dựa cái chổi tre vào cây bàng, vội vã bước vào nhà kho. Gã cởi hết quần áo, mặc vào bộ đồ vẫn dành cho các phạm nhân đi cung. Một cảm giác ghê tởm, rờn rợn, khi phải khoác lên mình bộ quần áo lính dù đó, một chiến lợi phẩm mang ra từ miền Nam. Mấy bộ đồ đi cung này, hàng năm mới giặt một lần. Không biết bao thân hình ghẻ lở, giang mai, lậu đã mặc!

Gã lặng lẽ đi theo tên công an thường trực, lòng hồi hộp. Bảy tháng rồi, không đi cung. Nay đột nhiên 29 tết lại gọi lên. Chắc có vấn đề. Có thể được tha không chừng! Thường thường vào dịp tết, người ta vẫn tha một số nhỏ ra. Và bắt một số lớn vào. Có thể được tha lắm! Gã phấp-phỏng dự đoán. Và nghe rõ cả tiếng tim gã đập trong ngực. Qua khỏi giàn nho, là tới dẫy phòng hỏi cung. Một cành đào to tướng, hồng phớt, tươi tắn, đặt trước phòng chánh giám thị, đối diện với một cây quất, lá xanh rờn, quả vàng xum xuê. Mấy nam nữ công an đứng bàn chuyện tết nhất, vui cười. Gã chỉ nhìn thoáng qua.

Tên chấp-pháp thụ lý vụ gã, tay cầm cặp da, ngừng nói chuyện với một nữ cán bộ chấp-pháp, ra hiệu bảo gã đi theo. Hắn dẫn gã vào căn phòng quen thuộc, trỏ một chiếc ghế đẩu, cho phép gã ngồi. Hắn ngồi đối diện với gã, lưng dựa vào ghế, mở cặp, lôi ra một tập hồ sơ, một bao thuốc Sông-Cầu, rút một điếu châm hút. Một tên công an trẻ bưng bộ đồ trà và phích nước đặt lên bàn, rồi lặng-lẽ bỏ đi. Hắn rót đầy hai tách trà, nhã-nhặn, vui-vẻ, mời:

– Anh uống trà đi. Hút thuốc chứ? Tôi mừng là thấy anh vẫn khỏe. Chị ấy chắc vẫn tiếp tế đều?

Trong Hỏa-Lò, trước phòng 10, hàng trăm túi quà đã được quẳng ra sân. Hàng trăm con ma đói lần lượt ra ngồi trước túi quà của mình. Một tên tự giác ra lệnh mở túi. Tất cả vội gấp, cởi dây buộc, lôi đồ ăn ra, ồ ạt bốc tay đưa lên mồm, nhai nuốt trợn trạo. Có những tên nghẹn ứ họng. Thời gian ăn chỉ vẻn vẹn mười phút. Phải làm thế nào nhét cho đầy cái dạ dày khoẻ tới mức tưởng có thể nghiền nát cả thép!

Trong đời tù, gói quà là tin tức, là xương máu, là tình thương, là hơi ấm của gia đình. Nó chứng tỏ mối liên hệ ân ái, ruột thịt, còn tồn tại. Thằng tù cảm thấy chưa bị bỏ rơi, bớt cô đơn. Nó còn là nguồn tiếp sức tối cần thiết cho sự sống còn trong địa ngục đói. Nan giải nhất là những tên ăn mì rang, gạo rang, cám rang. Toàn những thứ nó lủng củng, nó lổn nhổn, bết lại trong mồm. Không nhanh, không vội được. Trong mười phút, dù trệu trạo qua loa rồi nuốt, cũng khó lòng nhét nổi một khối lượng tối thiểu vào cái dạ dầy háo hức, rừng rực, cho nó đỡ dằn vặt, đỡ hành hạ mình. Cái đói lưu cữu, cái đói triền miên, cái đói kinh niên, cái đói nghiền nghiến, khiến mọi tế bào trong cơ thể, mọi khứu giác, vị giác, mọi tuyến, mọi hạch, cứ nhao nhao lên, đòi thỏa mãn!

Mấy tên tù có máu mặt ngồi cạnh nhau, lấm lét, thì thầm rất nhỏ:

– Quẳng bánh chưng sang đây. Tao quẳng cho túi kẹo.

– Nó bắt được thì bỏ mẹ.

– Chúng nó đang quay đi. Quẳng cho tao mấy miếng thịt quay.

– Không sợ. Chúng nó không biết đâu. Tao quẳng cho chả. Mày quẳng đây mấy quả cam.

– Giấu được thuốc lào à? Đưa đây, tao yểm cho. Bọn tự giác nó nể tao.

Những đường ban đưa ngang, đưa dọc, rất kín, rất đẹp, từ bên này sang bên kia, từ phía trước xuống phía sau, từ phía sau lên phía trước.

– Hai thằng kia ném quà cho nhau. Tịch thu hết!

Tên trưởng phòng chạy tới, quát.

– Không, chúng em có trao đổi gì đâu. Oan cho chúng em. Mong anh xét lại.

– Còn chối hả? Chính mắt tao nhìn thấy. Buộc túi quà lại. Vào phòng!

Hai tên bị thu quà, mặt thiểu não đứng dậy, đi vào phòng.

Trưởng phòng xách hai túi quà vào phòng quản giáo, ném vào một góc.

Gã giáo viên đang thu dọn bộ đồ trà, lau bàn của tên quản giáo, giọng buồn rầu:

– Cán bộ không có đây. Thôi, tết nhất, tội nghiệp, linh động cho chúng nó.

Trưởng phòng cằn-nhằn:

– Bọn chúng ngu như lợn! Quà gia đình gửi cho, không biết giữ lấy mà ăn, còn vi phạm nội quy. Được, lần này tha cho chúng. Sao từ lúc đi cung về, cậu ủ rũ thế?

– Tớ bị tập trung cải tạo. Lão chấp pháp còn bảo sẽ cắt tiếp tế. Nghĩ tới cảnh vợ mình mang quà đi, lại mang quà về, khóc lóc, van xin, tớ khổ tâm quá, thương nó quá!

– Cậu cương với nó chỉ thêm thiệt. Thôi thì thân lươn chẳng quản lấm đầu. Đường tù còn dài. Cố nhẫn nhục, chịu đựng. Cậu xem tớ đây, đáng tuổi bố gã quản giáo, mà phải xưng cháu với nó. Nhóc con, mới có thiếu uý, mà hỗng hách, oai vệ hơn cả thiếu tướng!

Gã giáo viên thở dài:

– Nào có cương càng gì đâu. Nhũn như con chi chi ấy chứ! Nhưng vô tội mà nó buộc mình phải nhận là có tội, chẳng lẽ lại nhận à?

Trong phòng, mấy gã thanh niên đầu gấu đang lồng lộn như hổ đói. Hay đúng hơn, như chó đói. Vì chúng giống mấy con chó dữ trong cũi, gầm gừ đòi ăn. Chúng bò dài xuống đất, mặt căng ra, thèm khát, mắt long lên nhìn qua song sắt cửa, chỗ mấy hàng đầu ngồi ăn, cách độ hai thước, rít lên qua kẽ răng:

– Ném bánh chưng, ném kẹo lạc vào đây!

– Đ… mẹ mày, không quẳng gói giò mỡ vào, ông đánh gẫy xương sườn!

– Biết điều thì để túi thịt lại. Không, bố sẽ nện không còn cái răng mà nhai!

– Ném vào! Không, ông sẽ giần cho mày ựa mì tôm ra!

Dù rất sợ bọn đầu gấu, những tên ngồi ăn chỉ lấm lét nhìn quanh. Không đứa nào dám trả lời, dám ném quà vào phòng. Chúng sợ bị tịch thu hết quà!

– Buộc túi!

Một tên tự giác hô lớn.

Tất cả buộc túi quà lại. Lần lượt từng tên vào phòng, mồm còn nhồm nhoàm. Tên trực trong đứng ở cửa, sờ nắn, khám xét từng đứa. Ba bốn tên tự giác xách các túi quà, nhét vào cái tủ to trong phòng quản giáo.

Từ phía bệnh xá, tên y sĩ và một nữ y tá trẻ, mặc áo choàng trắng, bưng khay thuốc tới.

Tên trưởng phòng mang giấy bút vào phòng, nói to:

– Đứa nào ốm đau, ghi tên.

Hơn một chục đứa lần lượt xướng tên. Rồi một lũ lếch thếch ra ngồi xuống sân. Trời tự nhiên hoe nắng. Cảnh vật sáng lên làm nổi rõ vẻ tiều tụy của những khuôn mặt hốc hác, xám xịt, xám nhợt, xám bủng, đương ngồi xổm, co ro trên sân.

Tên y sĩ cầm giấy gọi từng đứa một đứng dậy:

– Thằng này, bệnh gì?

– Báo cáo bác sĩ, cháu bị ghẻ lở khắp người.

– Giơ tay ra xem!

Tên tù chìa mu bàn tay sưng vù, đầy mụn lở gớm ghiếc ra:

– Thưa bác sĩ, cháu ghẻ, không cầm nổi cả thìa ăn.

Tên y sĩ lấy chiếc dùi cui Liên-Xô mà các quản giáo Hỏa-Lò vừa được trang bị, vụt nhẹ một cái vào bàn tay. Tên tù kêu lên một tiếng, rụt phắt tay lại.

Cô y tá trẻ bật cười:

– Đã nói thuốc bôi ghẻ, ngoài tết mới có. Những thằng ghẻ lở vào phòng.

Năm, sáu tên lổm ngổm đứng dậy, đi vào.

– Còn thằng này, thế nào?

– Báo cáo bác sĩ, cháu sốt cả đêm.

Tên y sĩ đưa cái nhiệt kế cho gã:

– Ngậm vào mồm!

Độ một phút sau, hắn nhìn qua nhiệt kế, mắng:

– 37 độ 2 sốt gì. Vào!

Bốn, năm tên nữa khai sốt. Chúng lần lượt thay nhau ngậm vào miệng cái nhiệt kế không lau, không rửa. Bọn này đều sốt cao. Cô y tá đưa cho mỗi đứa một gói thuốc nam, bắt chúng dốc cả vào miệng. Một tên tự giác chạy ra bể, múc một bát nước lã để chúng uống.

– Còn thằng kia, thế nào?

– Báo cáo bác sĩ, cháu đi lỏng.

– Những thằng nào đi lỏng nữa?

– Báo cáo bác sĩ, cháu, cháu, cháu nữa ạ.

– Còn cháu đi ra mủ máu. Bụng đau quặn.

Tên y sĩ đưa cho mỗi đứa một mẩu giấy bằng bàn tay:

– Bọn mày ra kia thử phân!

Bọn chúng đi ra một chỗ hơi khuất. Cô y tá đi theo, đứng gần đấy, quan sát.

Một lúc sau, đi xong, không chùi, không rửa, chúng kéo quần lên. Cô y tá tới nhìn qua mấy bãi phân trên các mảnh giấy. Rồi dẫn chúng trở về, nói với tên y sĩ:

– Chỉ có thằng này kiết lỵ. Tất cả bọn kia, phân chỉ hơi nhão.

Tên y sĩ cho gã kiết lỵ uống tại chỗ hai viên ga-đi-năng. Rồi trỏ tay vào mặt những tên khác:

– Bận sau mà còn khai ốm nữa, tao cho vào nằm bệnh xá!

Bọn tự giác cười ồ lên.

Ở Hỏa-Lò, ai cũng biết bệnh xá được dùng làm “con ngáo ộp” để dọa những thằng tù hay khai ốm, xin thuốc. Đó là một căn phòng tối tăm, kín mít. Chỉ có một cửa ra vào nhỏ được mở trong giờ hành chính. Có sáu giường cá nhân, rộng chừng tám mươi phân. Giát giường đều bị long gẫy. Những cái chiếu cói tả tơi, bẩn thỉu giải lên. Thông thường hai bệnh nhân nằm một giường. Khi đông tới ba. Chỉ có những thằng tù ho lao, kiết lỵ quá nặng mới bị đưa vào bệnh xá. Hiếm có kẻ vào đó mà lại sống sót ra nổi. Tù nhân gọi bệnh xá là “Phòng chờ chết”. Ngày cũng như đêm, một mùi tanh thối khủng khiếp bao trùm. Tên y sĩ không bao giờ bước vào. Khám bệnh, phát thuốc, đã có một phòng con, cách bệnh xá chừng mươi thước. Một tên tù tự giác chuyên lo việc vệ sinh bệnh xá, dìu bệnh nhân ra đó, khi cần thiết.

Tên y sĩ và cô y tá bê khay thuốc sang phòng 12.

Đến lượt bọn tự giác lấy quà tiếp tế của họ ra ăn. Gã giáo viên cắm điện, đun một ca nước sôi, đổ vào bát mì rang, rồi rắc ít muối vừng lên. Gã ngồi nhai, lòng đau xót thương vợ, nên không thấy tủi vì gói quà nghèo nàn của mình. Bọn tự giác đều là các cán bộ can tội kinh tế, nên tiếp tế của họ to. Cá, thịt, đường, sữa, kẹo, bánh, trái cây, đủ cả. Được làm chân quét dọn vệ sinh, chia cơm, rửa xoong, rửa bát, đã là một may mắn bất ngờ. Phúc cho gã. Tất cả bọn tự giác khác đều phải đút lót nặng mới được làm. Phần cơm tự giác bao giờ cũng nhiều gấp mấy phần tù bình thường. Gã không đến nỗi quá đói. Chất bột coi như tạm đủ. Chỗ nằm, một mình một chiếu, ở tận đầu phòng, đỡ khai thối. Trong khi những tù khác, ba, bốn người một chiếu 70 phân, chèn lấn nhau. Khi từ xà-lim 2 chuyển ra phòng này, tên quản giáo nhận ra gã là thầy học cũ của hắn. Và ưu tiên cho gã được làm tự giác. Bản thân gã, tuy nhận ra hắn, nhưng không dám nói trước. Tên quản giáo này thích học hỏi. Khi xem sách, xem báo, có điều gì không hiểu, thường hỏi gã. Gã tận tình giảng giải. Vì vậy, ít nhiều cũng có sự nể nang. Tuy nghề nghiệp đã làm tên quản-giáo thay đổi rất nhiều. Cậu học sinh tinh nghịch, nhưng khá ngoan ngoãn, đã biến thành một tên cai ngục ngạo mạn, rông rỡ, đôi khi còn độc ác. Gã cũng thông cảm với môi trường sống của tên học trò cũ. Ngay cô y tá trẻ kia, khi mới vào làm việc ở Hỏa-Lò, hiền lành là thế, gặp gã, còn chào gã là chú, xưng cháu! Thế mà chỉ hai tuần sau, đã cong cớn, mắng gã là ngu như lợn! Và bây giờ đã được tù đặt cho một biệt danh là “Mụ Ôn-Dịch”!

– Chuẩn bị cho chúng nó đi tắm.

Tên quản giáo cầm tờ báo, bước vào phòng, ra lệnh cho trưởng phòng.

Trưởng phòng cười nịnh:

– Ông chiếu cố cho tắm một cái tất niên.

Tên quản-giáo không để ý tới, vì đã quá quen với các kiểu xu-nịnh, căn dặn:

– Mai tôi về quê ăn tết. Mùng bốn mới ra. Trong mấy ngày tôi vắng mặt, các anh phải bảo đảm trật tự cho tốt. Xảy ra điều gì, đừng trách tôi!

Trưởng-phòng xoa hai bàn tay vào nhau:

– Ông an tâm. Chúng cháu sẽ làm hết sức mình. Không phụ lòng tin cậy của ông.

– Thôi được, cho phòng tắm, và làm vệ sinh phòng một thể. Không quá một tiếng. Còn anh, pha ấm trà.

Gã giáo-viên “vâng” một tiếng, rồi chuẩn bị ấm, tách, nước sôi.

Trưởng phòng vào buồng, ra lệnh:

– Chuẩn bị tắm. Từng đợt năm mươi người một. Bê hết nội vụ ra để cọ sàn!

Gã chỉ định mười tên để xách nước, lau cọ sàn nằm, nhà mét. Tất cả bọn tự-giác đều bận rộn sắp xếp, điều khiển cuộc tắm giặt của hơn hai trăm tù nhân.

Gã giáo viên đặt bộ đồ trà xuống bàn:

– Báo cáo cán bộ, trà này là trà búp Lạng-Sơn. Cán bộ uống thử xem.

– Của thằng bộ đội buôn thuốc phiện lậu phải không?

– Vâng, vợ anh ta mới tiếp tế hôm qua.

Tên quản giáo nhấp một ngụm trà, gật gù, vẻ sành sỏi:

– Khá lắm. Không thua gì trà Tân-Cương Thái-Nguyên. Này, chữ “xen-đầm quốc-tế” nghĩa là gì?

– Thưa cán bộ, xen-đầm là tiếng Pháp đã Việt hóa, giống như chữ xà phòng. Nó có nghĩa là hiến binh, lính giữ trật tự.

– À, tôi hiểu rồi. Thế còn báo “Mặt-Trời Ban-Ti-Mo” là nghĩa gì?

– Mặt-Trời Ban-Ti-Mo là tên một tờ báo bên Mỹ. Ban-Ti-Mo là một địa danh, như Hà-Đông, Sơn-Tây của mình chẳng hạn.

Tên quản giáo tỏ vẻ hài lòng, chỉ bao Thăng-Long trên bàn:

– Anh hút một điếu đi.

Gã giáo viên cảm ơn, lấy một điếu châm hút. Khoan khoái cả người. Thăng-Long là loại thuốc hiếm, sang nhất trong các loại thuốc Việt-Nam. Gã biết tên quản giáo là con một thiếu tướng công an. Nhưng gã không hiểu sao hắn lại chọn cái nghề cai ngục này. Bố hắn thừa sức xếp cho hắn một chỗ tốt hơn. Kinh tế gia đình chắc phải sung túc, nên hắn không kiếm chác của tù như các quản-giáo khác. Trà, nước chanh, nước cam hắn uống hàng ngày là do cánh tự giác tự động cung cấp cho hắn. Hắn không đòi hỏi.

– Tôi vẫn nghe bọn lưu manh nói Mari-Sến. Mari-Sến là cái gì? Tôi hỏi lũ chúng, chẳng thằng nào giải thích được cả.

– Thưa cán bộ, đây là tiếng lóng. Hồi thanh-niên, chúng tôi thường dùng. Sến là do chữ Sen đọc chệch đi, có ý đùa rỡn, khinh bỉ. Sen là con sen, chỉ đầy tớ trẻ, các gia đình khá giả trước thường nuôi giúp việc chợ búa, nấu ăn, giặt giũ, quét dọn nhà cửa. Còn Marie là một tên riêng của phụ nữ, rất hay gặp ở Pháp, chẳng khác gì tên Oanh, tên Yến ở Việt-Nam. Tóm lại là một tên đầm. Thời thuộc Pháp, đầm được coi là sang trọng, cao quý. Hai chữ Marie-Sến hợp lại với nhau thành một danh từ khôi hài, miệt thị một cô gái nào đó. Hồi trước, ngoài chữ Marie-Sến ra, còn có chữ Sến-Nương. Ý nghĩa cũng tương tự. Nương là cô nương, thường chỉ một tiểu thư khuê các.

Tên quản giáo mắt sáng lên, cười:

– Anh biết nhiều thật. Tiếc rằng lại nằm tù.

– Tôi chỉ biết chút đỉnh thôi. Biển học mênh mông. Học cả đời cũng chưa thấm gì. Muốn hiểu sâu tiếng Việt, cần phải biết chữ Hán. Trước cán bộ đã học Trung-văn. Nên tiếp tục hoàn thiện nó.

– Học tiếng của bọn bành trướng Tầu để mua lấy rắc rối à? Trước khác, bây giờ khác. Tôi muốn học tiếng Nga. Anh có giỏi tiếng Nga không?

– Thưa cán-bộ, tiếng Nga, tôi chỉ biết qua loa.

Ngoài bể tắm tự nhiên ồn lên.

Tên quản-giáo khó chịu, chau mày:

– Anh ra bảo bọn chúng câm ngay. Nếu không, tôi cắt tắm, đuổi mẹ chúng nó vào tất cả!

Gã giáo viên nhanh nhẹn đi ra bể tròn, nói lớn:

– Ông quản giáo ra lệnh trật tự! Ầm ĩ, đuổi vào hết!

Tiếng cãi cọ ồn ào lắng xuống.

Hơn năm chục thằng tù trần truồng, ghẻ lở đầy thân, chen lấn nhau quanh cái bể tròn đầy nước, chu vi tới 15 thước. Trời rét căm căm. Nhiệt lượng trong người bốc hơi, lan tỏa như sương khói. Như một bầy điên loạn, tay chúng kì cọ liên tục, cuống quýt, chân chúng nhẩy, giẫm bành bạch lên quần áo vất ở phía dưới. Thời gian chỉ có mười phút. Bắt buộc phải vừa tắm, vừa giặt như vậy.

Tên trực trong cao lớn, đứng trên một cái trụ giữa bể, tay lăm lăm một chiếc dép lốp:

– Múc nước đợt hai! 1, 2, 3, 4…

Lũ tù, mỗi đứa một cái bát men, múc nước dội lên người theo đúng nhịp đếm, hai chân vẫn nhẩy, giẫm lên đống quần áo phía dưới, một tay vẫn kỳ cọ.

– 5, 6, 7, 8, 9,10. Đặt bát xuống!

Một thằng cố múc thêm một bát. Chiếc dép lốp từ tay tên trực trong bay thẳng vào mặt.

– Tiên sư mày, gian lận. Mặc quần áo, đứng ra ngoài! Đưa chiếc dép đây!

Tên tù quăng chiếc dép cho tên trực trong, lùi ra xa, mặc vội quần áo.

– Đợt ba, kết thúc! 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,10. Đặt bát xuống! Chuẩn bị về phòng!

Tất cả để bát xuống thành bể, vắt qua loa bộ đồ giặt bê bết máu mủ, mặc quần áo, kéo nhau, run bần bật ngồi xếp hàng ở sân, theo lệnh của một tên tự giác.

Trong phòng, gã buôn thuốc phiện lậu chỉ huy chín tên khác múc nước từ bể con gần phòng, mang vào cọ rửa. Chúng vừa cọ sàn, vừa tranh thủ tắm giặt, tất bật, nhộn nhạo. Đó là những tên tù giầu, được ưu tiên. Tắm giặt ở bể tròn rất nguy hại. Tên phụ trách bệnh xá, thường đem quần áo, chăn chiếu đầy phân kiết lỵ của bệnh nhân, nhúng thẳng vào trong bể để giặt. Bọn đầu gấu ở các phòng cũng thường vò giặt quần áo chúng trong bể. Gần ba nghìn tên tù thay phiên tắm giặt ở cái bể đó. Một tuần mới thay nước, cọ bể, một lần. Phòng 10 của gã giáo viên phải tắm bốn đợt mới hết. Mấy tên đầu gấu được bọn tự giác ưu tiên cho tắm giặt thời gian gấp ba tù thường. Nghĩa là chúng được đứng ở bể suốt ba đợt. Chúng trấn giữ chỗ gần vòi nước to bằng cổ chân, múc nước sạch thẳng từ vòi để tắm. Chúng chưa đủ lực, đủ thế, để cướp chánh quyền, biến tự giác thành tay sai. Nhưng bọn tự giác cũng chờn chúng, phải đối xử với chúng mềm mỏng, làm lơ, mặc chúng đe dọa, trấn lột các tù khác. Phần nữa, chúng cũng kiềng tên quản giáo. Tên này không xoay sở của tù, xử phạt rất nặng tay, và bảo vệ bọn tự giác. Thời cơ chưa tới để chúng lên làm chủ. Trong khi chờ đợi, chúng đành tạm sống hòa bình với đám tự giác.

Tới 11 giờ sáng, tất cả mọi việc xong xuôi. Tên quản giáo có chuyện phải đi, cho phép tù mang khẩu phần bánh mì vào phòng ăn. Hắn khóa cửa, cảnh cáo mấy tên đầu gấu, nếu gây chuyện trong mấy ngày tết, hắn sẽ cho đi cát-xô cùm!

Ở Hỏa-Lò, hai chữ “cát-xô” là mối kinh hoàng với mọi thằng tù. Tất cả các đầu gấu chỉ nể có cái đó. Chỉ cần nằm cát-xô một tuần là phải có tù khác cõng ra. Cổ chân đã bị nghiền vỡ. Được mang bánh mì vào phòng là một dịp hiếm hoi đối với bọn tù muốn kéo dài “phút sung sướng”. Chuyện đó chỉ xảy ra vào những ngày mưa to, không ngồi ăn được ở ngoài sân. Đa phần tù, khi cầm cái bánh mì con trong tay, không cưỡng nổi sức hút cực mạnh của nó, nhai ngấu, nhai nghiến, ăn như điên! Cái bánh cứ lem lém bị gậm tới tấp từng miếng lớn, chỉ trong nháy mắt đã chui hết vào họng, mất hút! Một số nhỏ âu yếm, nâng niu nó. Chúng không ăn. Chúng chỉ đưa cái bánh lên môi hôn, hít. Mỗi cái hôn lại cắn yêu một miếng nhỏ xíu bằng hạt đỗ, nhấm nháp, ngậm “hạt bánh” đó trong mồm tới khi nó hòa tan vào nước bọt, trôi xuống cổ, thơm ngậy! Rồi lại tiếp tục cái hôn nồng nàn khác. Cuộc “làm tình” này thường kéo dài bốn năm tiếng đồng hồ mới kết thúc.

Được cọ rửa, phòng đỡ hẳn mùi. Những manh chiếu tơi tả, cáu ghét được trải ra. Riêng bọn tự giác, bọn đầu gấu, và một số tù có tiếp tế sụ, là có những cái chiếu xứng đáng được gọi là chiếu. Chúng ngồi quây quần lại với nhau, run cầm cập vì rét.

Tên trưởng phòng xuýt xoa:

– Tắm xong, rét quá! Làm một hơi cho nóng người lên đi.

Tên trực trong ngăn lại:

– Thong thả, tên quản giáo có thể còn quanh quẩn đâu đây. Cố đợi một lúc nữa.

Gã bộ đội buôn thuốc phiện lậu đồng tình:

– Thằng này hay lảng vảng rình mò lắm. Phải cẩn thận.

Tên trùm đầu gấu chửi:

– Đ… mẹ nó, động một tí, là đem cát-xô ra dọa!

Gã giáo viên tò mò:

– Cát-xô nó thế nào, mà nói đến, ai cũng có vẻ sợ thế?

Tên trùm đầu gấu kéo ống quần lên: – Ông anh nhìn vào cái sẹo ở cổ chân em đây thì biết. Gân đứt, thọt mẹ nó rồi, không chữa được. Cát-xô ở phía góc Hỏa-lò, đằng kia kìa. Có hai lần tường bọc. Ban ngày phải bấm đèn pin, mới nhìn được. Vào cát-xô chỉ được mặc quần đùi. Không được mang theo bất cứ thứ gì, kể cả khăn mặt. Bọn em nằm trên sàn xi-măng. Thực tế là trên một bể chứa phân. Phía dưới chân là một rãnh nước. Ngày đêm, một mùi thum thủm, khắm khú bao trùm. Mỗi ngày chỉ được ăn một bữa. Chúng em gọi là ăn “dồn toa”, hai bữa làm một. Ăn bốc, không thìa, không bát. Cơm đựng trong một túi ni-lông. Không có bô. Đi ngoài ngay lên chỗ mình nằm. Rồi lấy tay bốc phân, ném xuống rãnh. Hồi đó, cách đây hai năm, phụ trách cát-xô là một thằng quản giáo trung uý lùn, mắt híp. Chúng em gọi là “thằng Híp”. Ở cát-xô có tám lỗ cùm bằng bê-tông nham nhở. Lỗ số 8 là lỗ khốn nạn nhất, nhỏ nhất. Em bị đưa chân vào lỗ đó. Khi ba thằng chúng em để cổ chân vào lỗ cùm rồi, nắp cùm là một thỏi bê-tông dài ba thước, được ập xuống. Một tên tự giác đứng ở trong coi. Thằng Híp ra ngoài khóa cùm. Nó nhẩy lên nắp cùm, bên kia tường, để nắp cùm sập hẳn xuống, rồi khóa lại. Khi nó nhẩy, nó cười như một thằng điên. Còn chúng em thì rú lên, ngất đi. Cổ chân đã bị nghiền vỡ. Em bị cùm lỗ số 8, nên chỉ có 12 tiếng là được đổi sang lỗ khác. Cùm ở cát-xô lâu nhất là một tuần. Sức người không chịu quá nổi. Có tên đến ngày thứ ba đã toi mạng.

Cả bọn ngồi nghe. Nỗi kinh hoàng lộ rõ trên mặt.

Trưởng phòng hỏi:

– Chú mày can tội gì mà bị cùm ở cát-xô?

– Em đánh lại quản giáo. Nó nện em đau quá. Em van xin, nó cũng không tha. Ức quá, em cho nó một quả. Đo ván ngay! Còn hai thằng kia, một, bị tịch thu quà, chửi quản giáo. Một, chọc thủng con ngươi của một tự giác. Thôi, bây giờ chúng ta có thể làm một hơi. Vật quá rồi!

Cả bọn đồng ý.

Một tên tự giác lấy mảnh giấy báo, cuộn một điếu to, dài như cái bút máy. Gã giứt ở áo bông gã, một dúm bông, xé thật tơi. Rồi gã móc túi lấy “máy” ra. “Máy” là một cái khuy to bằng nhựa, có lồng một sợi dây dứa. Một lỗ của khuy đã được gắn vào một viên đá lửa. Gã cuốn sợi dây vào ngón tay trỏ để cầm cái khuy thật vững, rồi dùng một mảnh thủy tinh con, bật mạnh vào viên đá. Tia lửa bắn vào bông, bùng cháy. Gã bò xuống chiếu, châm điếu thuốc vào lửa, hút một hơi. Điếu thuốc cháy đỏ. Gã đưa cho tên trưởng phòng. Lần lượt mười lăm tên thay nhau hút. Còn một tí tóp, tên hút cuối cùng vất cho sáu, bảy tên đứng vây quanh. Chúng giành giật nhau loạn xạ. Cả bọn đang say, tận hưởng cái thú lao đao, ngây ngất, mạch máu trong người nóng lên, thì khóa cửa phòng kêu loảng xoảng, rồi mở tung.

Tên quản giáo cầm dùi cui bước vào, mặt hầm hầm, mắt long lên:

– Chúng mày láo thật! Ông đã thấy tất cả. Dám hút giấu ông. Thằng trưởng phòng ra đây!

Trưởng phòng sợ hãi:

– Mong ông tha cho. Vừa tắm xong, rét quá, chúng cháu có trộm hút một điếu. Xin ông thông cảm.

– Thông cảm cái tiên sư mày! Quỳ xuống!

Trưởng-phòng vội quỳ xuống sàn. Một đợt dùi cui thẳng tay quật xuống vai, xuống lưng gã.

– Đến thằng kia!

Lần lượt mười bốn tên quỳ xuống sàn, hứng chịu mỗi đứa vài chục dùi cui. Đánh đã mỏi tay, tên quản giáo lau mồ hôi trán:

– Chúng mày xin phép tao, tao có hẹp gì không cho chúng mày điếu thuốc. Nhưng giấu tao là không được!

Hắn nhìn gã giáo viên đang ngồi chết lặng một chỗ:

– Đ… mẹ anh. Tôi nể anh quá đấy!

Hắn ném cái dùi cui vèo một cái về phía người thầy giáo cũ của hắn, đùng đùng bỏ ra ngoài, khóa cửa lại. Tên trưởng phòng vội nhặt cái dùi cui, kính cẩn đưa cho hắn.

Đám tự giác bàn tán, lo lắng, không biết có bị đuổi vào phòng không. Không được làm tự giác, phải ăn ở như bọn tù bình thường kia thì nguy nan. Chúng xì xầm, dự đoán tương lai. Chúng đều mặc áo bông. Vài chục dùi cui không hề hấn gì. Nhưng mất chân tự giác thì đời mới thực khốn nạn!

Gã giáo viên an ủi:

– Các cậu không nên quá lo. Tính tên quản giáo này thích ra oai. Thích mọi người phải hoàn toàn thuần phục, để chứng tỏ uy quyền của mình. Bắt mọi người phải quỳ xuống hắn đánh, là hắn thỏa mãn rồi. Các cậu rồi xem. Hắn sẽ bỏ qua tất.

Tên buôn thuốc phiện lậu phân tích:

– Chắc nó đứng ngoài, mở cái cửa con cuối phòng nhìn vào, nên thấy rõ hết. Chúng ta cũng sơ hở, không che cái “cửa ngó đểu” ấy lại. Cả phòng chỉ chăm chăm nhìn vào điếu thuốc, nên không ai biết, nó mới bắt được “quả tớm” (quả tang). Thôi bây giờ làm một hơi giải sầu. Giờ này, chắc chắn nó đang ăn trưa, không còn ở đây nữa.

Trưởng phòng gạt phăng:

– Con xin bố! nó chộp được nữa thời khốn đốn với nó!

Nhưng bọn đầu gấu và đa số bọn tự giác tán thành ý kiến của gã thuốc phiện lậu. Cuối cùng quyết định khai hỏa!

Tên tự giác, xé bông, cuốn thuốc, cười ha hả:

– Vũ khí vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị tổn thất. Đánh địch vào lúc địch không ngờ tới. Nhất định thắng lợi!

Cả bọn lại xúm vào, thay nhau hút. Cấm ngặt không cho thằng nào tới “bắt tóp” (nhặt tóp thuốc).

Hai giờ trưa, tên quản giáo tới mở khóa phòng, mặt bình thường, như không có gì xảy ra. Tên trưởng phòng mở cửa, lễ phép chào.

Tên quản giáo nói nhỏ:

– Hôm nay có thể khám phòng. Liệu đấy.

Tên trưởng phòng “Vâng” một tiếng. Gã rất mừng. Như thế là tên quản giáo đã bỏ qua. Hắn còn báo trước cho gã biết việc khám phòng, để yểm những thứ vi phạm nội quy đi. Bọn tự giác kéo ra ngoài làm việc. Chúng không lo. Ngoài gói thuốc lào, máy đánh lửa, ít giấy báo, không có gì để giấu. Chúng mang cất mấy thứ đó ra ngoài. Gã giáo viên, nét mặt rầu rầu, rửa ấm chén, đun nước sôi pha trà cho tên quản giáo.

Thấy gã có vẻ buồn, tên quản giáo hỏi:

– Anh suy nghĩ về chuyện trưa nay phải không? Chắc anh cho là tôi làm quá?

– Thưa cán bộ, không phải vậy. Tết nhất, tôi nhớ nhà, nên hơi buồn.

Tên quản giáo trỏ vào chiếc điếu cầy ở góc phòng:

– Tôi mang chiếc điếu này vào đây. Từ nay cho phép các anh được hút mỗi ngày bốn điếu. Cấm ngặt, không được hút trong phòng.

– Thưa cán bộ, nội quy cấm. Cán bộ tốt với chúng tôi. Nhưng nếu Ban Giám thị biết, sợ phiền tới cán bộ.

Tên quản giáo đanh mặt lại:

– Phiền tới tôi? Tôi cho hút là hút! Lão chánh giám thị cũng còn nể mặt tôi. Tôi không “sơi” họ thì thôi. Chứ họ dám trêu vào tôi à?

Hắn hút một hơi thuốc lá, nhả khói ra thành hình vòng tròn, vẻ tự tin.

Một lúc, hắn hỏi:

– Trưa này, nếu tôi đánh anh, anh sẽ phản ứng thế nào? Cứ nói thật.

Gã thành khẩn:

– Tôi là tù nhân. Cán bộ đánh, cán bộ cùm, tôi phải chịu. Nhưng bắt tôi quỳ, tôi sẽ không quỳ. Dù có bị đánh chết. Nó nhục nhã quá. Tôi không là con người nữa. Tôi sẽ tự khinh tôi suốt đời. Trên thế gian này, không có sức mạnh nào bắt được tôi quỳ. Từ nhỏ tới giờ, tôi chỉ quỳ trước bàn thờ tổ tiên tôi thôi.

Tên quản giáo cười ầm lên.

– Khá lắm, khá lắm. Vào trường hợp tôi, tôi cũng như anh. Những tên kia cứ luôn luôn xưng cháu với các cán bộ. Lúc nào cũng khúm núm. Tôi khinh. Chính vì tôi khinh, nên tôi mới đánh. Uống trà, hút thuốc đi!

Gã giáo viên cám ơn, lấy thuốc hút và uống một tách trà.

Tên quản giáo có vẻ hơi ngượng:

– Lúc tôi nóng, có gì không đúng, anh đừng để ý. Tội trạng anh ra sao mà giữ ở đây lâu thế? Sáng nay, đi cung thế nào?

Gã kể lại đầu đuôi hoàn cảnh của vợ chồng gã, và vụ việc gã.

Tên quản giáo lắc đầu:

– Chuyện chẳng đâu vào đâu! Tôi tin anh. Hồi tôi học anh mấy năm, anh là một giáo viên tận tình, có phản tuyên truyền bao giờ đâu. Để tôi nói với ông cụ tôi. Ông ấy có thể can thiệp. Cứ hy vọng. Đừng phiền muộn quá. Còn chuyện cắt tiếp tế, không thành vấn đề. Chiều nay tôi sẽ tới nhà anh, mang tiếp tế vào đây cho anh.

Gã mừng rỡ:

– Nếu ông giúp, minh oan được cho, thì vợ chồng tôi lại được xum họp. Ơn ấy, tôi không bao giờ dám quên. Còn tiếp tế, ông nói hộ với vợ tôi là không cần thiết. Vợ tôi đan len 12 tiếng mỗi ngày, chỉ kiếm được có bốn chục đồng một tháng. Nuôi thân còn chưa đủ!

– Ơn huệ gì! Tôi thấy cần làm là làm. Được, tôi sẽ trình bày rõ với ông cụ tôi. Dù sao, anh cũng là thầy cũ của tôi. Tôi sẽ nói với vợ anh theo đúng ý anh.

Thấy sáu tên công an võ trang đi tới. Tên quản giáo gọi trưởng phòng:

– Khám phòng!

Trưởng phòng vào phòng, hô lớn:

– Mang hết nội vụ ra!

Hơn hai trăm thằng tù xách bị, xách túi, lần lượt đi ra, chất nội vụ thành một đống, cạnh cây bàng, rồi ngồi xếp hàng đầy sân. Hai tên võ trang đeo khẩu trang vào phòng, lục soát các xó xỉnh, các lỗ thủng trên tường, kể cả trong nhà mét. Bên ngoài bọn tự giác đổ các túi, các bị ra sân. Toàn những quần áo dơ bẩn, hôi mốc. Sau khi khám xong, tên tù ấn đồ của mình vào túi hoặc bị. Tiếp tục khám người. Lại cởi quần, cởi áo, sờ nắn. Những thân gầy lở lói, mình trần, run rẩy đứng giữa sân ướt lạnh. Mưa xuân vẫn lây phây rắc bụi nước xuống. Những tên khám rồi, bê nội vụ ngồi riêng ra một chỗ, dưới hàng trăm bộ đồ giặt ban sáng, vắt chồng chất lên nhau trên một đoạn dây thép dài độ bốn thước. Mùi thối ủng bốc ra, tanh tởm. Nước lỏng tỏng rỏ giọt xuống đầu, xuống vai. Mấy tên võ trang khác, đeo khẩu trang đứng quan sát cuộc khám xét.

Một tên tự giác giơ chiếc áo sợi của một gã tù dở điên, dở dại, kêu lên, khiếp sợ:

– Toàn rận với trứng! Phải hàng nghìn con!

Tên quản giáo ngồi trong phòng uống trà, ra lệnh:

– Đốt nó đi!

Gã tâm thần giằng lại rên rỉ:

– Rét lắm! Để chúng nó cắn tôi! Tôi thương chúng nó lắm! Tôi chỉ có cái áo đó. Không được đốt.

– Đốt! Cho nó một cái áo cung!

Tên tự giác chạy vào kho, lấy ra một cái áo dù, quẳng cho gã thần kinh, rồi bật lửa châm đốt cái áo ngay tại sân. Gã thần kinh ngồi một chỗ, khóc nức nở.

Cuộc khám xét kéo dài chừng hơn một giờ. Hai gã nhà bếp gánh cơm tới. Gã giáo viên lau bệ xi-măng, đổ cơm lên, chia đều mỗi phần một bát con. Tiếp tục tới rau muống nấu muối. Rau muống đã hết mùa từ lâu. Đây chỉ là những gốc còn sót lại trên ruộng, lờm xờm những rễ, khô cứng. Nước rau mặn chát, đen xì. Tên quản giáo nhìn đống cơm canh, lắc đầu.

Hắn quay sang dặn trưởng phòng:

– Cho phòng ăn sớm, vào sớm. Chiều nay nhiều quà tiếp tế đấy.

Rồi hắn bỏ đi.

Một tên tự giác chửi:

– Rau cỏ cái con mẹ nó! Chúng nó coi tù không phải là giống người nữa. Đổ mẹ đi!

Gã giáo viên cũng lường trước bọn tự giác không nhá nỗi thứ rau này, nên không chia phần họ.

Những ngày giáp tết, không khí Hỏa-Lò thảm đạm. Ai cũng nặng chĩu trong lòng nỗi hoài niệm quá khứ, nỗi lo sợ tương lai. Nhớ vợ, thương con, ngổn ngang trăm mối. Còn phải ăn bao cái tết trong tù? Cảnh ly tán thương tâm bao giờ mới hết? Ngày đoàn viên, xum vầy bao giờ mới tới?

Tiếng pháo từ phố xá vọng vào, ngơ ngác. Cây bàng đã nhú những lộc non mừng xuân. Mặt tù tối sầm những ưu tư đón tết.

Bầy ma đói ngồi dưới bụi mưa xuân, vục đầu nhá sạch ít gốc rau muống dai, cứng, uống ừng ực cạn bát nước muối chát sè, đen xậm hơn cả nước bùn. Người chúng run bắn. Trong tù, ăn xong, bao giờ cũng cảm thấy rét dội lên. Đói cũng dội lên. Khẩu phần ăn chỉ đủ làm kích thích vị giác, dạ dầy, để chúng hành hạ thằng tù dữ dội hơn.

Một lão tù già, lưng còng, gầy đét, da mặt nhăn nheo, thở dài, giọng bùi ngùi:

– Tôi năm nay đã sáu mươi nhăm tuổi. Bây giờ mới thấm thía câu: “lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da”. Hồi trẻ, cứ đọc hoài, nghe hoài, mà thực ra chẳng hiểu gì cả.

– Bố đã nhận quà tết chưa?

– Nhận từ hôm qua. Cháu nó cho cái bánh chưng, ít thịt, mấy củ hành.

– Dầu sao cũng hưởng tí hơi hướng gia đình, ấm áp cõi lòng rồi. Không như con, trần trụi giữa bầy sói!

– Đ… mẹ cái con vợ tao. Sáu tháng nay nó cho tao vêu mõm. Tết này, mà nó lờ nữa, ra tù, tao sẽ bỏ!

– Tao sợ nó đã bỏ mày rồi đấy! Đâu đợi đến lúc mày về, mày bỏ nó. Tưởng bở!

– Bao nhiêu thằng đi tù mất vợ. Có gì là lạ!

– Này bố già, tội gì mà tù? Hiếp dâm trẻ con phải không?

Lũ ma đói cười sặc sụa.

Tiếng tên trưởng phòng oang oang:

– Vào phòng!

Thế là hết ngày. Lại vào ngồi xếp hàng nghiêm chỉnh trên sàn.

Một tên tù đẩy một xe cút-kít, chất đầy mấy chục túi quà tới. Trưởng phòng tiếp nhận, rồi đọc tên ghi trên các túi quà, gọi tất cả ra sân. Mấy gã nghe thấy tên mình, nhảy cẫng lên:

– Lão xọm vẫn còn thương thằng con đầu trộm, đuôi cướp này!

– Có thế chứ! Con vợ tao chưa bị thằng khác bế mất!

– Tưởng tết này mà không tới thì ông từ. Chẳng mẹ thì đừng mẹ!

– Đúng là thứ nhất được về, thứ nhì tiếp tế!

Một số đã lâu lắm không có tiếp tế. Nghe gọi đến tên mình thì ngơ ngơ, ngác ngác, bàng hoàng, tưởng như trong mơ, cảm động không nói nên lời.

Sau khi đã khám xét mấy chục gói quà, gã giáo viên vào phòng đi tiểu. Một tên đầu gấu, tuổi độ ngoài hai mươi, trông dắn dỏi, nhanh nhẹn, da ngăm đen, đầu húi cua, mắt sắc lạnh, tươi cười hỏi:

– Ông anh chưa có quà à?

– Chưa, thế mày cũng chưa có à?

Gã thanh niên cười, hàm răng trắng đẹp, rất tươi:

– Mai em về rồi, cần gì quà!

– Mừng cho mày. Nhưng sao biết trước? Đã được báo rồi à?

– Nói thật với ông anh. Ông anh biết nhà thơ Nguyễn-xuân-Sanh không?

– Ông ta, trước năm 45, ở trong nhóm “Xuân-Thu” cùng với Đoàn-phú-Tứ. Tao có đọc thơ ông ta, biết tiếng ông ta thôi, chưa gặp mặt bao giờ. Xem nào, tao còn nhớ câu thơ: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Thơ ông ta đấy.

– Em là con ông ấy đấy!

– A, thế mày là con ông ấy à! Tiêu chuẩn mày là được đi Nga, đi Tiệp học. Sao lại vào nằm đây?

– Học hành quái gì! Máu em thích ăn chơi sả lán. Cách đây hai tháng, em “đánh quả” ở một sứ quán, bị chộp.

Gã giáo viên, vẻ nghi ngại:

– Tội này ít ra cũng mười năm tù. Mày có chắc mày về không?

– Chắc như đinh đóng cột! Ông cụ đã cứu em nhiều lần. Ông cụ bảo lần này là lần chót.

Gã thanh niên hạ giọng, nói nhỏ:

– Ông cụ làm việc cho công an đấy!

– À, tao hiểu! Nhưng tao khuyên mày dừng lại ở đây. Ông cụ không xin mãi cho mày được đâu. Gia đình mày có túng thiếu gì mà phải…

– Ông anh không biết. Chúng em đập phá mạnh lắm. Gia đình nào cung cấp xuể. Ngay thằng con ông Huỳnh-tấn-Phát cũng phải xách súng đi ăn cướp. Bố nó xin cho nó nhiều lần rồi, có chừa được đâu! Nó ở phòng 12. Mới về sáng qua đấy. Thằng ấy đẹp trai thật!

Gã giáo viên vỗ vào vai con trai nhà thơ Nguyễn-xuân-Sanh:

– Mày cũng đẹp trai. Đẹp một cách cứng cáp. Chúc mày may mắn. Tao đi tiểu, rồi còn ra làm việc.

Trời đã về chiều, mưa bay bay, rét lịm. Bọn nhận quà ăn uống xong đã vào phòng từ lâu. Thằng nào, thằng ấy, no căng rốn. Chúng ăn trả thù, bù cho những tháng dài đói meo, đói mốc. Có thằng bội thực đã vào cầu tiêu nôn mửa. Lâu ngày mới được một bữa thỏa thuê. Chất mỡ lẫn chất ngọt nốc vào. Thằng nào cũng tháo tỏng, mặt xanh, nanh vàng. Khổ hơn lúc đói! Nhưng dù sao cũng đã sướng khẩu!

Gần 6 giờ chiều. Tên quản giáo đi tới, vội vã:

– Vào phòng tất cả. Tôi phải về quê tối nay. Chúc các anh ăn tết vui vẻ. Mùng bốn, tôi bắt đầu làm việc.

Trưởng phòng chắp hai bàn tay vào nhau, vẻ trân trọng:

– Thay mặt anh em tự giác, chúng cháu chúc cán bộ đạt nhiều thành tích, được thăng cấp, được…

– Cảm ơn, cảm ơn. Đây, quà của anh đây. Chị ấy nhất định gửi cho anh. Còn cái thư, đây.

Tên quản giáo đưa một túi quà nhỏ cho gã giáo viên. Gã cất vào trong tủ đựng quà.

– Cảm ơn ông. Thưa ông, nhà tôi có khoẻ không?

Hắn hơi ngập ngừng:

– Nói chung là khoẻ. Hơi gầy một chút.

Một tên tự giác lễ độ:

– Thưa cán bộ. Cháu sợ giờ này không còn xe ca.

– Tôi đi xe máy. Thôi, vào đi, muộn rồi.

Cửa phòng khóa lại.

Cả Hỏa-Lò, chỉ có vài cán bộ quản giáo có xe máy. Tên quản giáo vẫn tự hào về chiếc xe Dream Nhật-Bản của hắn. Tên cán bộ phụ trách nhà bếp cũng có. Tên cán bộ phụ trách phòng các tù đã thành án cũng có. Đó là hai chân nhiều “mầu” nhất ( kiếm chác được nhiều nhất ).

Sau khi đã trà thuốc xong, viện cớ nhức đầu, gã giáo viên buông màn đi nằm. Thực ra gã muốn yên tĩnh một mình để nghĩ tới vợ. Đây là lần đầu tiên, sau hai mươi mốt tháng xa nhau, gã nhận được thư vợ. Dù chỉ ngắn ngủi vài hàng viết vội, nhưng bao tình, bao nghĩa thấm đọng trong đó! Gã nằm trong màn, đọc đi, đọc lại bức thư, tới mức thuộc lòng. Nước mắt ứa ra. Nàng khuyên gã uốn thân, nuốt nhục, cố chịu đựng mọi nghịch cảnh, không nên thẳng thắn quá. Thì từ bao năm rồi, gã đã chẳng sống như vậy sao! Thủa xa xưa, nàng là học trò gã. Nàng yêu gã, lấy gã, cũng chỉ vì quý cái lòng dạ chân thành của gã, cái tận tụy với công việc của gã, cái tính ngay thật, nghĩ sao nói vậy của gã. Rồi sau, thấy xung quanh, nhiều người bị bắt đi tù vì vạ miệng, nàng lại van vỉ gã phải sống khác, phải biết đeo mặt nạ, biết cười giả, nói giả, và nhất là phải biết ca ngợi giả! Phần thương vợ, phần bản thân gã cũng hiểu không thể sống thật được, nếu không muốn tai họa ập lên đầu. Dần dà năm tháng, gã trở thành một kẻ sống giữa cuộc đời mà như câm, như điếc. Khiêm tốn, lịch sự cả với những tên vô học, vô hạnh, vô sỉ. Riêng khoản ca ngợi những điêu trá, đốn mạt, gian manh, ca ngợi những tội ác, những hạ nhục nhân phẩm, những chà đạp đạo lý, gã chịu không luyện nổi! Gã chỉ có thể giữ sự im lặng lạnh lùng, khinh bỉ. Thái độ sống đó, tuy không làm hài lòng Ban Lãnh Đạo nhà trường, chính quyền khu phố, nhưng cũng đủ bảo đảm được sự an toàn cho bản thân. Lần này đi tù, đúng là tai bay, vạ gió ở đâu đưa tới. Không đỡ nổi.

Vào nằm Hỏa-Lò, gã mới nhận ra là tuy sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhiều năm, gã vẫn chưa hiểu biết sâu sắc về chế độ. Gã không ngờ rằng việc gã giỏi Trung-văn, đọc báo, nghe đài Trung-Quốc, giao thiệp với những người hàng xóm Trung-Hoa, như gã vẫn làm từ mấy chục năm trước, nay bỗng trở thành trọng tội. Gã đã thiếu nhạy bén trước những bước ngoặt của lịch sử. Khi tình nghĩa đào viên Trung-Việt đã tan tác, đáng lẽ gã phải sống khác. Sai lầm của gã là ở chỗ đó. Vợ chồng gã chia lìa cũng là ở chỗ đó.

Trong thư, vợ gã viết “bất cứ tình huống nào, em vẫn mãi mãi là của anh, chỉ là của anh”. Nghĩ tới tương lai ngàn trùng cách biệt, gã đau lòng, đau lòng thật sự! Bây giờ gã mới hiểu hai chữ “đau lòng” không phải chỉ là một cách nói để diễn tả sự đau đớn về tinh thần, về tình cảm. Mà là đau trong ruột thật sự! Gã thấy ruột gã quặn thắt lại từng hồi.

Nhà tù đã dạy gã nhiều. Việc tên quản giáo hứa nhờ bố hắn can thiệp, thoạt nghe, gã cũng khấp khởi, hy vọng. Nhưng suy nghĩ một tí, gã thấy đó chỉ là chuyện hão huyền. Các vụ gọi là chính trị, không ai dại can thiệp hộ hết, ngay cả anh em ruột thịt. Những Huỳnh-tấn-Phát, Nguyễn-xuân-Sanh xin xỏ được cho con họ, vì con họ chỉ đi ăn cắp, ăn cướp. Nếu là chính trị, những loại “Chủ tịch cây cảnh”, “Nhà thơ mật thám” đó làm sao dám hé răng! Gã nhớ hồi gã mới bị bắt, nằm xà-lim 1, người ta có dẫn Huỳnh-tấn-Phát tới thăm hai buồng kỷ niệm Hoàng-văn-Thụ, Trần-đăng-Ninh. Y đến một cái, là cắm đầu đi ngay. Không dám nhìn ngang, nhìn ngửa. Không dám đưa mắt tới các buồng khác!

Gã nằm trong màn, bất động, suy nghĩ miên man, mặc những tiếng trò chuyện ồn ào bên ngoài. Suốt đêm không ngủ. Gã sống trong tưởng tượng với vợ. Gần sáng, gã thiếp đi một lúc, mê mệt.

Suốt ngày 30 tết, thời tiết đẹp. Khi tù ra sân, ăn cơm, ăn quà gia đình, nắng xuân vàng mượt, óng ả, tỏa lên những mái tóc bù xù, xác xơ, những cái đầu trọc lốc, những cái mặt vêu vao, nghệt ra vì đói khổ. Những manh áo xỉn mầu, cáu bẩn, những bàn tay, bàn chân ghẻ loét, nứt nẻ. Đám tù hệt như một bầy gia súc gầy ốm, lở lói, sống loi nhoi, vật vờ, hau háu chờ ăn.

Tin buồn, từ nhà bếp đưa lên, gieo một nỗi thất vọng, cay đắng trong lòng nhiều người. Tết năm nay không có gì, ngoài ít xương lợn nấu với bắp cải! Thế là bao ngong ngóng chờ đợi suốt mấy tháng tiêu tan! Tết ở Hỏa-lò, năm nào sang nhất, cũng chỉ vào mồm thằng tù độ một lạng thịt lợn, tí lòng, tí xương, tí xu hào. Tất cả chia làm hai bữa: chiều ba mươi và sáng mùng một. Nhưng những thằng tù đói dài, đói rạc, vẫn khao khát chờ đón. Trong quãng đời triền miên khô kiệt, héo hắt, được liếm láp tí chất nhờn, đối với họ đã là một sự cải thiện lớn lao, một niềm vui, một ngày hội. Hơn nữa, vào mấy ngày thiêng liêng này, họ được hưởng những phần cơm của những người tù thừa mứa tiếp tế không đụng tới. Cũng được ấm lòng một chút. Khi người ta đói, thì mong muốn duy nhất, trước nhất, là ăn! Mọi chuyện khác, xét sau.

Buổi trưa, bọn tự giác, bọn đầu gấu, mấy tên tù giầu, họp bàn. Chúng định tổ chức đón giao thừa một cách thực rôm rả, ra trò. Tên quản giáo đã về quê. Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm.

Tên trưởng phòng mở đầu:

– Năm nay, chúng ta có cái may là đã khám phòng hôm qua, không sợ gì nữa. Có thể mang vào phòng các món ăn để đón giao thừa thực vui vẻ, quên nỗi nhớ nhà, xa vợ, xa con. Ai có thứ gì, tùy lòng đóng góp cho vui. Các cậu tính sao?

Gã bộ đội buôn thuốc phiện lậu, sốt sắng:

– Mang của tôi vào con gà quay, hai bánh chưng, một hộp mứt!

Gã giáo viên, khiêm tốn:

– Tôi xin góp một bánh chưng, một gói trà Hồng-Đào.

Tên trực trong hăng tiết:

– Tất cả chúng ta có 15 người. Tôi mang vào 15 gói mì tôm, 1 cân kẹo nu-ga.

Trưởng phòng lắc đầu:

– Mì tôm không tiện. Đun nước cách rách lắm. Chúng ta chỉ mang một xoong con vào đun nước pha trà thôi.

– Nếu vậy, tôi thay mì tôm bằng 15 phong bánh đậu xanh, một gói giò lụa.

Tên nào cũng nhiệt tâm đóng góp. Cuối cùng tính ra quá nhiều không thể ăn xuể. Gã giáo viên đề nghị:

– Chúng ta có thể bớt giò, chả, thịt, bánh chưng đi. Mang thêm kẹo, bích quy, phát cho những tên không tiếp tế. Nhưng riêng bọn ta, không thể đủ nổi. Tôi có ý kiến cho những tên có tiếp tế mang ít quà vào, với điều kiện mỗi đứa phải góp ít kẹo bánh, cho có đủ số phân phát. Chúng mình ăn uống mà để chúng nó ngồi chầu, tội lắm. Chúng ta nên tổ chức để cả phòng đón một cái tết vui vẻ. Các bạn nghĩ thế nào?

Tên trùm đầu gấu hứng khởi:

– Đúng, cả phòng chung vui! Em sẽ cho bọn chúng mỗi đứa hai vê thuốc lào. Thiếu khoản khói này, tết đéo coi là tết nữa!

Tất cả đồng ý. Bữa ăn quà gia đình chiều hôm ấy, bọn tự giác cho phép mỗi đứa mang vào phòng ít quà của mình, dặn phải cất giấu cẩn thận. Rồi chúng thu thập những món liên hoan đón giao thừa vào một bao tải lớn, nhét vào giữa đống nội vụ ở góc phòng.

Bữa cơm tất niên chiều ba mươi tết cũng giống như buổi sáng. Một bát cơm con nguội tanh và một bát nước muối đen chát. Ngồi ăn, bọn tù nguyền rủa, chửi bới không tiếc lời:

– Đểu, cực đểu, dã man thật! Tết nhất mà thế này!

– Làm con chó của thằng Tây, thằng Mỹ, còn tốt hơn!

– Người với người thực quá chó sói!

– Thịt, cá, Ác Thú ăn mẹ nó cả rồi, còn đâu nữa!

– Có điều kiện, phải lột da, nhồi chấu chúng nó! Cho hả giận!

– “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai!” “Thù muôn đời muôn kiếp không tan!”

– Đ… mẹ mày, sung sướng lắm đấy, mà còn đọc thơ Tố-Hữu!

Sáu giờ chiều, một tên quản giáo tới, lùa bọn tự giác vào phòng, khóa cửa lại.

Trưởng phòng mừng rỡ:

– Thế là êm xuôi! Chúng ta phát kẹo bánh cho những thằng không có tiếp tế, cho nó xong đi. Phát cả thuốc lào luôn thể.

Tất cả hơn bảy chục thằng vô gia cư ngồi xếp hàng. Mỗi đứa được phát mười hai cái kẹo, bảy bánh quy, hai vê thuốc lào.

Trực trong tuyên bố:

– Im lặng, im lặng! Chúng mày ăn ngay, hay đợi đón giao thừa, tùy thích. Còn thuốc lào, tất cả chuẩn bị bắn phát thứ nhất!

Cả buồng tưng bừng hẳn lên. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no.

Đã bắt đầu có không khí tết. Tiếng pháo ngoài phố lác đác từng tràng vọng vào, ấm áp. Một tên tự giác phát giấy báo cuốn thuốc, đem mồi lửa tới từng nhóm, cho cả phòng hút. Tất cả say mềm. Đứa lăn đùng. Đứa ngã ngửa. Đứa dựa vào tường. Đứa gục vào đứa khác, dớt dãi chảy ra, mắt trợn ngược. Hơn hai trăm con người như vậy. Một cảnh tượng hiếm thấy. Lũ đầu gấu, lũ tự giác cười ngặt nghẽo.

Tên trùm đầu gấu thích chí:

– Lâu không có. Được một hơi, say thế mới gọi là say! Giao thừa, cho lũ mày bắn phát thứ hai. Tống cựu, nghênh tân!

Đám tự giác, đám đầu gấu và mấy tên tù nhà giầu bắt đầu ngồi quanh, trà thuốc, thoải mái. Gã trực trong tâm sự:

– Tớ ăn ở Hỏa-Lò, tết này là ba tết. Phải nói tết năm nay là đạt yêu cầu nhất! Mọi năm, chiều ba mươi tết mới khám phòng. Khám xong là lùa vào ngay. Không yểm nổi thứ gì. Điếu thuốc cũng không có. Buồn như chấu cắn!

Gã giáo viên thừa nhận:

– Đúng vậy. Tết năm ngoái, đêm ba mươi, cả phòng nằm vật vờ. Không ai buồn nói với ai.

Gã bộ đội buôn thuốc phiện, thở dài:

– Tớ đã ăn nhiều cái tết trong rừng. Nhưng chẳng bao giờ chán như ở Hỏa-lò này. Cách đây bốn năm, tớ đã trả lại cái lon đại úy, xin giải ngũ về lấy vợ. Chán đời lính quá rồi. Phải giã từ vũ khí, để xây dựng lại cuộc sống của mình. Không may bị tóm quả này, có thể mười năm tù. Không biết mấy thằng tướng, thằng tá, cùng làm ăn với tớ, có cứu tớ không?

Cả phòng trò chuyện râm ran, ồn ào như cái chợ vỡ. Tạm quên kiếp tù, tạm quên gia đình.

Thình lình, tiếng khóa sắt loảng xoảng. Cửa phòng bật tung. Năm tên công an võ trang ập vào, quát:

– Tất cả ngồi im tại chỗ!

Chúng lục soát các nơi. Chúng không khám người. Kẹo, bánh, giò, chả, thịt, bánh chưng, gà quay, mứt, được ném vào hai túi ni-lông lớn. Một cuộc tập kích bất thần. Diễn ra trong vòng năm phút. Chúng xách hai túi chiến lợi phẩm đi, khóa cửa lại.

Một tên nói, giọng ban ơn:

– Ngày tết, chúng tôi chỉ tịch thu. Tha cho các anh tội vi phạm nội quy, mang đồ ăn vào phòng!

Cả phòng im phăng phắc, bàng hoàng trước sự việc không ngờ. Một lúc, gã bộ đội buôn thuốc phiện lậu, chửi:

– Tiên sư nó, chúng ta bị sa bẫy rồi! Trúng kế dụ địch của chúng. Rơi đúng vào ổ phục kích! Phải nói, đòn đểu thật!

Tên trực trong hầm hầm:

– Mất trắng! Chúng nó đêm nay sẽ chè chén no say. Còn có quà mang về cho vợ con nữa! Khốn nạn thật! Cướp cả của tù! Đúng là ma không thương người ốm, kẻ trộm không thương người nghèo.

Trưởng phòng than thở:

– Ai mà lường được! chúng âm mưu nhỏ nhen, đểu đến như vậy. Dù sao cũng là quân đội nhân dân anh hùng!

Gã trùm đầu gấu càu nhàu:

– Em mà không nhanh giấu kịp gói thuốc lào thì vỡ mặt! Không có gì hút mấy ngày tết nữa! Bọn lưu manh chúng em phải phục kế hoạch của chúng đấy! Thấp cơ, thua trí, đành chịu vậy thôi.

Gã giáo viên an ủi:

– Cũng may mình đã phân phối cho bọn vô gia cư rồi. Chúng ta thất bại. Nhưng ít nhiều, bọn chúng cũng được vui. Có tí ăn, tí hút. Đỡ tủi thân.

Than thở, oán thán chán, cả bọn nằm dài, vắt tay lên trán, uất ức. Căn phòng trở nên tẻ lạnh, ảo não. Gã trùm đầu gấu ngồi phắt dậy:

– Thôi quên đi! Nghĩ ngợi thêm hận. Thằng ca sĩ đâu, hát một bài tiêu sầu. Tao sẽ thưởng một vê thuốc lào!

Một tên tù mặt xanh nhợt, đầu bù tóc rối, mắt lồi, hầu lộ, ria mép lún phún, đứng dậy.

– Lại đây! Hút trước, để có khí thế!

Sau khi rít một hơi đã đời, gã ca sĩ, đằng hắng, lấy giọng, bắt đầu:

Đàn bò vào thành phố

Reo buồn tiếng nhạc chuông…

Gã buôn thuốc phiên lậu quát:

– Tắt máy! (Câm đi). Rên rỉ bài con bò ấy làm gì? Đúng là ngu hơn bò!

– Thế các anh muốn em hát bài nào?

– Bài nào chiến đấu dũng mãnh ấy. Rên rỉ, ỉu sìu, nước mẹ gì! Mở đầu, Tiến Quân ca, Quốc Tế ca, rồi Diệt Phát-xít, rồi Chiến Sĩ Lục Quân Việt Nam. Hát to lên.

Tên ca sĩ gân cổ, há mồm:

Đoàn quân Việt Nam đi, sao vàng phấp phới…
Đứng đều lên, gông xích ta đập tan
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn
Thề phanh thây, uống máu quân thù
Tiến lên, cùng thét lên!

………

Hết bài, gã hát tiếp:

Vùng lên, hỡi các nô lệ thế gian!
Vùng lên, hỡi ai cơ khổ, bần hàn!
Sục sôi nhiệt huyết trong tim đầy chứa chan
Quyết phen này sống thác mà thôi…

…………

Lời ca làm cả phòng hăng bốc. Hằng trăm tên rầm rộ cùng hát. Không khí phòng giam như chất đầy chất nổ.

Tiếp liền theo là bài Diệt Phát-xít:

Việt Nam bao năm dòng rên xiết, lầm than
Dưới ách quân tham tàn, đế quốc, sài lang
Loài phát-xít cướp thóc lúa, cướp đời sống dân mình
Nào nhà tù, nào trại giam, biết bao nhiêu cực hình…
Diệt phát-xít, với bầy chó đê hèn của chúng…
Đã tới ngày trả mối thù chung.

Giọng ca sĩ sôi nổi, cuồn cuộn. Những bài hát này ai cũng thuộc. Cả phòng bị lôi cuốn, đứng lên hát theo, như sấm động:

Nào nhà tù, nào trại giam, biết bao nhiêu cực hình..
Đồng bào tuốt gươm vùng lên
Đã tới ngày trả mối thù chung!

Đúng tâm trạng của mọi người. Tất cả, không phải hát, mà gào lên, sùng sục, say máu. Khí thế trở nên hừng hực, rực lửa. Phòng bên cạnh ầm ầm vỗ tay tán thưởng. Từ xà-lim xa xa, bọn tử tù gào lớn, cổ võ…

Chuyển sang bài Chiến-Sĩ Lục-Quân Việt- Nam:

Lời kêu thiên thu, phá hết lao tù!
Giết hết quân thù!

Câu hát này, hơn hai trăm thằng gầm vang, dữ dội, lập đi, lập lại nhiều lần, chấn động cả Hỏa-lò!

Đoàng! Đoàng! Đoàng! Năm, sáu phát súng vang lên, xé trời đêm. Tất cả im bặt. Cửa phòng bật mở. Hàng chục công an võ trang, súng AK lăm lăm, tiến vào phòng, quát lớn:

– Chúng mày muốn nổi loạn! Thằng nào hát? Thằng này! Thằng này! Thằng này!

Gặp thằng nào, chúng lôi thằng ấy ra khỏi phòng. Bọn tự giác, bọn đầu gấu, gã thuốc phiện lậu, đứng ở phía đầu phòng, đều bị lôi xềnh xệch đi hết. Qua khỏi giàn nho, chúng đẩy tất cả vào một căn phòng rộng, đèn điện sáng trưng. Giữa phòng, một tên công an võ trang đứng tuổi ngồi bên một chiếc bàn lớn. Trên bàn, các món ăn la liệt, cùng mấy chai rượu trắng. Chúng bắt cả bọn dựa lưng vào tường, rồi dùng báng súng nện vào ngực, vào vai:

– Nổi loạn này! Nổi loạn này! Phải đập chết bọn mày!

Bọn tù ngã gục xuống. Chúng dùng gót giầy giậm lên người, một cách tàn bạo, hung dữ, dồn dập.

– Chúng tôi có tội gì! Các ông không có quyền đánh người dã man như vậy!

Bọn tù thét lên. Lần đầu tiên họ không xưng cháu, không van xin.

Gã thuốc phiện lậu vùng đứng dậy, mặt bừng bừng, mắt long lên như điên, chỉ tay vào con gà quay ăn dở trên bàn, thét lớn:

– Tao là đảng viên, là một đại úy trong quân đội, từng chiến đấu vào sinh ra tử! Ai cho phép chúng bay ăn cướp của tù để chè chén! Con gà này là của tao. Tao sẽ tố cáo việc này lên ban giám thị, lên sở, lên bộ! Chúng mày có gan cứ đánh chết tao đi! Tao sẽ tố cáo bọn mày. Đánh đi, giết đi!

Gã vừa thét, vừa phanh áo ra, thách thức.

Cả bọn công an võ trang ngừng lại, ngơ ngác…

Bọn tù lổm ngổm bò dậy, nói lớn, nhốn nháo:

– Chúng tôi sẽ đồng loạt tố cáo, đồng loạt tố cáo. Cả phòng hơn hai trăm người sẽ tố cáo!

Gã giáo viên, lau máu trên mặt, đanh thép:

– Các ông đã làm nhục danh hiệu công an nhân dân. Dù chết, chúng tôi cũng tố cáo. Nhân chứng, vật chứng đủ cả. Đảng, Nhà nước, nhất định không tha thứ cho hành động cướp của, đánh người vô cớ này. Chúng tôi chỉ hát những bài hát cách mạng. Ai nổi loạn?

Tên đứng tuổi đeo lon thượng úy từ nẫy vẫn ngồi ở bàn, bên chén rượu, đứng dậy, ôn tồn:

– Các anh hô: “Phá hết lao tù! Giết hết quân thù!” Không phải là nổi loạn sao? Các đồng chí đây cũng hơi nóng, hơi nặng tay, tôi sẽ cho kiểm điểm. Các anh cứ yên tâm. Tôi sẽ không báo cáo việc này với Ban Giám Thị trại. Không ai sợ các anh tố cáo đâu. Các anh là những kẻ đương phạm pháp. Nhưng thôi, ngày tết, nên vui vẻ cả!

Nói xong, y đi lại cái tủ, mở ra, lấy một tút thuốc lá Sông-Cầu, một gói trà Ba Đình, đưa cho tên trưởng phòng. Rồi quay sang bọn cấp dưới, ra lệnh:

– Đưa họ về phòng!

Bốn tên công an võ trang cầm AK đưa họ đi. Chúng đi phía sau, cách khoảng năm, sáu thước, im lìm. Đám tù lê bước, lếch thếch, chậm chạp. Bọn võ trang vẫn kiên nhẫn, yên lặng. Bình thường chúng đã quát tháo, thúc giục, chửi mắng.

Trời đêm rét thấu xương. Gió bấc từng cơn hắt bụi mưa vào mặt, ướt, lạnh. Sau khi đã khóa cửa phòng lại, một tên võ trang nhẹ nhàng nói:

– Sáng mai chúng tôi sẽ cho các anh thuốc xoa.

Đám tù không lưu ý, không trả lời. Chúng về chỗ, nằm vật ra. Cả phòng nhổm ngồi dậy, ngơ ngác nhìn. Mấy tên gần nhà mét, xì xào:

– Chắc đã no đòn cả!

– Ai bảo vẽ chuyện hát với hỏng!

– Chuyện chưa kết thúc đâu. Còn màn kế tiếp!

Lão già lưng còng, da mốc nhăn, lò mò tới chiếu gã giáo viên, ái ngại:

– Các anh chắc đau lắm. Để tôi xoa bóp cho. Đỡ ngay. Đấy là nghề chuyên môn của tôi. Giá có dầu cao, thì kiến hiệu lắm.

Gã giáo viên rên:

– Ngực tôi nhức lắm! Chúng nó dã man thật. Vợ tôi mới gửi cho tôi hộp dầu hôm qua. Bác xoa giúp hộ một tí.

– Anh nằm ngửa lên. Phanh áo ra, tôi xem. Trời, thâm tím cả! May mà các anh mặc áo bông đấy. Nếu không, chắc gẫy hết xương sườn.

Lão bôi dầu, xoa xoa, bóp bóp một lúc. Gã giáo viên thấy đau nhức giảm hẳn. Gã nói với cả bọn:

– Dậy, cho ông cụ xoa bóp hộ. Đỡ lắm.

Lão lần lượt làm cho từng tên. Chúng cảm thấy bớt ê ẩm, khó chịu. Xong việc, lão già định đứng dậy về chỗ, thì gã trùm đầu gấu ngăn lại:

– Bố già làm với chúng con một hơi đã!

Gã nhìn tên bộ đội buôn thuốc phiện lậu vẫn còn đương hầm hầm tức giận, cười:

– Tối nay, mới biết cái gan của ông anh nó lớn đến cỡ nào! Đàn em xin nghiêng mình bái phục. Nhờ khí phách của ông anh, mà bọn võ trang phải chờn chúng ta!

– Chờn à? Tao còn kiện lũ chúng, cho chúng rơi lon, không tha được!

Lão già buồn rầu:

– Các anh còn trẻ, chưa hiểu thời thế. Con kiến mà kiện củ khoai. Chẳng ăn thua gì, có khi còn mang vạ. Cứ nghe dại lão già này. Bỏ qua đi là hơn cả. Cái nghề cai ngục nó bất nhân lắm!

Gã bộ đội buôn thuốc phiện lậu bậm môi, trừng mắt:

– Bất nhân? Nếu trời đất mà thay đổi, lũ chúng phải vào tù, tôi chỉ có một nguyện vọng, là được làm một “viên cai ngục nhỏ bé”!

Gã trùm đầu gấu, chồm lên:

– Em cũng thế!

Năm, sáu tên, hăm hở:

– Em cũng thế! Em cũng thế! Em cũng thế! Cả em cũng thế!

Bên ngoài, vài tiếng pháo vang lên, lẹt tẹt, đơn lẻ, trong trời đêm mênh mông…

Chú Tư Cầu

vandoanviet.wordpress.com

Lê Xuyên

Post on 27 Sep 2018

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Văn Học Miền Nam 54-75 – Kỳ 4

Phần 4

Trời đã sáng rỡ từ bao giờ.

Tư Cầu ngồi dựa lưng vào vách buồng tàu và gục đầu lên đầu gối, ngủ mê mệt. Gió ào ào lùa vô trước mũi tàu làm Tư Cầu co rút thêm vì lạnh. Sau một ngày đi xe mỏi mệt và một đêm đầy những xúc động, anh ta ngủ say đi lúc nào cũng chẳng rõ… Thêm vào đó còn có tiếng máy tàu xình xịch chạy đều, tiếng nước reo rào rào hai bên mũi tàu…

…Một bàn tay nắm lấy vai Tư Cầu lắc mạnh mấy cái liền:

– Ê nị! Thức dậy chớ!

Tư Cầu giựt mình, buông vội chân xuống, ngửng đầu lên hỏi lại:

– Cái gì đó? Bộ tới rồi hả?

Những tiếng cười hô hố trả lời cho câu hỏi của anh ta.

Đó là hai anh khách đi bán giấy tàu: một người ôm cái hộp đựng tiền tròn dài hình dáng như một ngăn gào mên bằng thau sáng nhoáng có nắp đậy chia hai ngăn, còn người kia chỉ cầm một tập giấy vé tàu và một cây viết chì. Cả hai đều vận xà rông và mặc áo sơ mi trắng bỏ vô trong.

Anh ôm hộp tiền lên tiếng:

– Tới đâu mà tới!… Mua giấy tàu đi nị!

Tư Cầu ngồi ngay lại:

– Ủa, chú nói gì lạ vậy? Mua giấy tàu gì nữa hả?

Anh khách có vẻ bực mình:

– Thì nị đi, nị phải mua giấy tàu chớ cái gì mà hỏi! Bộ tính đi cọp hả?

Anh khách cầm xấp vé tàu cũng nói chêm vào:

– Thôi mua giấy đi cha nội để tụi tui còn ra sau lái nữa!… Hay là anh mua rồi thì đưa tui coi đi!

Tư Cầu nhớ lại vụ ghế bố bị chiếm mất hồi tối nên sẵn dịp cự nự lại luôn:

– Hồi chiều, tụi tui có mướn ba cái ghế bố trên từng trên… tụi tui mới có đi lên bờ một chút mà dưới nầy mấy chú để cho người khác dành hết! Bị có… một mình tui đi chớ hai người kia… ở lợi, nên tui hổng thèm nói tới vậy mà bây giờ mấy chú còn bắt tui mua giấy tàu nữa chớ!

Hai anh khách ngơ ngác nhìn nhau, lắc đầu.

Anh cầm tập vé tàu quay lại hỏi Tư Cầu:

– Anh nói vậy tui cũng hay vậy anh làm ơn cho tui coi giấy tàu rồi mới biết được.

Nghe hỏi đến vụ giấy tàu, Tư Cầu giựt mình tự nghĩ: “Chết cha! Chú Ba chú cất giấy tàu mà chú lại đi xuống trễ bị kẹt trên chợ Cần Thơ bây giờ mình lấy đâu ba cái giấy mà đưa cho họ”!

Anh khách hỏi thêm:

– Sao, bộ hổng có giấy hả?

Tư Cầu lúng túng đáp:

– Có… chớ sao không! Nhưng bị chú Ba chú cất hết rồi…

– Chú Ba nào?

– Chú Ba đi với tui, chú Ba… cũng như hai chú vậy.

Anh khách ôm hộp tiền cự nự:

– Nị đừng giởn nghen! Thôi hổng nói on đơ gì hết, nị có giấy thì đưa ra mà nếu chưa thì nị chịu khó mua đi!… Hay là nị đi tàu mà hổng có tiền trả, thì cũng nói thiệt để rồi tụi tui tính?

Tư Cầu nổi cáu:

– Tui nói thiệt mà! Bộ mấy chú nói tui hổng có tiền hả?

Anh khách cầm tập vé tàu giơ tay vỗ nhè nhẹ lên vai Tư Cầu như để vuốt giận:

– Thôi, nếu bây giờ anh có mua giấy tàu rồi thì chịu khó đưa ra cho tụi tui coi, còn nếu chưa, thì sẵn anh có tiền đó, anh làm ơn mua giấy cho xong đi, để khỏi nói qua nói lại gì cho mất công.

Tư Cầu đành chịu:

– Bị chú Ba chú trễ tàu, bây giờ tui mua giấy khác chớ sao…

Rồi Tư Cầu vừa móc túi lấy tiền vừa hỏi:

– Bao nhiêu tiền vậy chú?

– Anh đi đâu, anh nói tui mới biết mà tính chớ!

Tư Cầu thở dài rồi lẩm bẩm:

– Thiệt cũng chẳng biết đi đâu bay giờ…

Anh khách nghe được, tròn xoe mắt hỏi lại:

– Coi, sao lạ vậy! Anh đi đâu anh hổng biết sao?

Tư Cầu ngập ngừng một hồi rồi nói:

– Thôi được, chú bán cho tui một cái giấy đi tuốt lên Sàigòn cũng được…

Cả hai anh khách ngó sửng nó và hỏi dồn một lượt:

– Nị đi Sàigòn?… Anh đi Sàigòn?

Tư Cầu thản nhiên gật đầu:

– Phải, tui đi Sàigòn.

Rồi thoáng thấy vẻ mặt ngơ ngác của hai anh khách, anh ta hỏi thêm:

– Mà cái gì nữa đó?

Anh khách ôm hộp liền vọt miệng nói một hơi:

– Tàu nầy là tàu đi Nam Vang mà nị nói đi Sàigòn hả? Bộ nị muốn phá tụi tui hay sao chớ?

Anh khách kia ôn tồn hơn:

– Phải, anh à, tàu nầy chạy đường Nam Vang bộ anh hổng biết sao?

Tư Cầu đứng phắt dậy, lắp bắp hỏi lại:

– Bộ đi Nam Vang thiệt sao hai chú?

Rồi không chờ câu trả lời, anh ta nhăn nhó kêu lên:

– Như vậy chết cha tui rồi! Cái điệu nầy tui lộn mẹ nó rồi còn gì!

Anh khách ôm hộp tiền cằn nhằn:

– Bây giờ nị mới biết nị lộn hả? Nị lộn xộn hết cỡ mà. Hết kêu bị chiếm mất ghế bố, bây giờ lại đòi đi Sàigòn, mà tàu thì chạy lên Nam Vang… Phải ngộ gặp mười người như nị thì có môn dẹp tàu sớm chớ làm ăn gì được!

Tư Cầu cầm xấp giấy bạc trong tay đứng như chết rồi.

Anh khách bán vé tàu gục gặc đầu ngó anh kia giảng giải:

– Thôi đúng rồi! Cha nội nầy đi trễ rồi chạy xuống nhắm mắt nhắm mũi phóng đại lên tàu của mình chớ không dè tàu chạy Nam Vang. Phải mà, hai chiếc đi Sàigòn và Nam Vang đậu khít nhau, giờ chạy cũng xê xích nữa nên chả mới dễ bị lộn…

Rồi anh ta quay lại hỏi Tư Cầu:

– Bây giờ anh tính sao đây?

Tư Cầu ủ rũ đáp:

– Thiệt tui bây giờ… hết biết rồi! Hay có chỗ nào tàu ghé lại để tui đi trở lại Cần Thơ, hay có đường nào khác lên Sàigòn hông chú?

– Có thì cũng có rồi… nhưng anh có xuống thì cũng lông chông ở đó chớ có đi đâu được. Giấc nầy đâu còn xe cộ nào chạy nữa, anh phải đợi ít lắm là qua sáng ngày mai mới tính được.

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Cha, như vậy kẹt cho tui quá há!

Anh khách ôm hộp tiền lại hối thúc:

– Bây giờ nị tính thể nào thì tính mau đi, để ngộ còn đi bán giấy cho hành khách nữa chớ bộ có mình nị đi sao?

Tư Cầu ngó tới ngó lui khoảng trước mũi tàu để tìm một người đồng hành may ra họ có chỉ vẽ cho được chút gì chăng, nhưng chung quanh anh ta trống trơn: hành khách sợ gió lạnh không một ai chịu ra đó ngồi hết.

Anh khách kia thấy vậy ái ngại nên lôi anh cầm hộp tiền đi:

– Thôi mình đi để cho ảnh suy tính khi nào bán giấy phía sau lái xong xuôi, mình hỏi lại ảnh cho chắc hơn…

Anh kia cằn nhằn trong miệng một vài tiếng rồi cũng nghe lời bước đi, nhưng còn quay đầu lại dặn Tư Cầu:

– Nị muốn xuống đâu thì tính cho đàng hoàng đi, một hồi nữa ngộ trở lại nghen!

Tư Cầu đang xụ mặt nhìn ra mặt sông bỗng quay phắt trở vô vừa đưa tay ngoắc vừa kêu:

– Ê, hai chú? Trở lại đây bán giấy luôn cho tui đi!

– Gì nữa đó cha nội?

Tư Cầu sẵng giọng:

– Bộ tính cho tui đi không hả?

Anh khách ôm hộp tiền te te chạy lại:

– Mà bận nầy nị tính đi đâu mới được chớ?

Tư Cầu buông thõng một câu:

– Tui đi Nam Vang.

Anh khách trợn mắt:

– Nị đi Nam Vang?

– Thì tàu của chú chạy Nam Vang thì tui đi lên Nam Vang chớ sao?

Anh khách cầm vé tàu hỏi chen vào:

– Như vậy anh nhứt định đi luôn lên Nam Vang chớ không quay trở lại chớ?

Tư Cầu gật đầu:

– Phải, đây nè tiền đây, (nó rút ra một tấm giấy hai chục) chú thối lại cho tui đi.

Anh khách liền lấy tiền trao cho anh kia và lấy bút chì biên vài chữ trên giấy tàu đoạn xé ra đưa cho Tư Cầu:

– Đây, anh cầm giữ cho kỹ giấy nầy (rồi anh ta ngập ngừng hỏi thêm)… mà bây giờ anh tính lên Nam Vang làm chi đó ?

– Ờ… tui lên trển đi… mần ăn. Hổng lên Sàigòn thì lên Nam Vang vậy… chớ bộ chịu chết sao!

Anh khách thâu tiền đếm mấy tờ giấy bạc trao cho Tư Cầu, rồi như còn thắc mắc điều gì, anh ta lại hỏi thêm:

– Nị lên Nam Vang thiệt chớ?

Tư Cầu nổi nóng quắc mắt, hỏi lại:

– Ừ, tui đi Nam Vang đó rồi sao?

Anh khách vội kéo anh bán vé rảo bước đi:

– Nị đi thì… đi chớ ai nói gì đâu…

Tư Cầu thở ra như trút một gánh nặng, rồi cẩn thận cặp tấm giấy tàu vào trong xấp giấy bạc bỏ luôn vô túi áo.

Anh ta nhìn quanh quẩn một hồi bỗng chợt thấy mấy ổ bánh mì để trên băng cây gần gói quần áo.

Anh ta hầm hầm bước lại chụp bó bánh mì dơ lên tính dục luôn dưới sông, nhưng rồi như nghĩ ra cách trả thù… hợp lý hơn, anh ta đặt trở lại chỗ cũ, và xăng xái ngồi xuống băng mở phăng gói thịt xá xíu ra ăn ngon lành một hơi hết gần một ổ bánh mì dài…

Xong xuôi đâu đó, Tư Cầu móc túi nhái ra tẩn mẩn vấn một điếu thuốc lớn gần bằng đầu ngón tay cái, rồi khom lưng dùng hai bàn tay vừa bật quẹt vừa che gió đốt điếu thuốc.

Đoạn anh ta đứng dậy ôm luôn gói quần áo và mớ bánh mì còn lại lên, lách cách đi về phía sau lái để kiếm nước uống.

Đi được vài bước, anh ta cúi xuống vòi tay xách tuốt hai chiếc guốc mà Phấn mua cho anh ta dưới chợ Trà Ôn lên, rồi lại thong dong vừa đi vừa phì phà điếu thuốc rê trên miệng…

Tàu chạy gần tới Nam Vang thì có một người hành khách đứng tuổi mon men ra phía trước mũi tàu.

Tư Cầu thấy vậy cà rà lại làm quen:

– Chú cũng đi Nam Vang phải hông chú?

Người kia mau mắn trả lời:

– Phải, còn chú em cũng vậy chớ?

– Tui cũng đi Nam Vang… Chú lên trên để mua bán hay có việc chi?

– À, qua lên thăm người chị của qua buôn bán ở ngoài chợ Nam Vang… chỉ bán cơm dĩa, bánh hỏi, bánh đập cũng khá ớn…

Rồi người kia cười hỏi lại luôn:

– Còn chú em lên trển làm gì vậy? Nam Vang đi dễ khó dìa đó nghen!

Tư Cầu cũng gượng cười đáp:

– Có lẽ chú nói đúng. Tui đi phen nầy chắc ở biệt luôn chớ hết quay dìa được…

Nói xong, anh ta ngó mông ra ngoài sông và thở dài sườn sượt.

Người kia thoáng nghe thấy như vậy, tò mò quay lại hỏi:

– Coi sao vậy? Qua vui miệng nói chơi vậy mà chú em!… Hay là chú em có chuyện gì trắc trở chăng? Qua… hỏi như vậy kể ra cũng hổng phải, nhưng qua thấy chú em mầy còn nhỏ tuổi…

Tư Cầu vội đáp:

– Ối có gì đâu mà chú phải nói như vậy… Thiệt tình, tui hổng dám nói dấu gì chú, chuyến nầy tui liều mạng đi càn vậy thôi chớ có tính lên trên nầy tế mồ tế tổ gì… Dưới nhà tui công ăn việc làm đăng đăng đê đê đó chớ bộ rảnh rang gì sao mà tui phải bỏ xứ đi như vầy…

Người kia nghe Tư Cầu nói vậy ái ngại nắm lấy tay nó:

– Chú em có việc gì… trặc trẹo đó, chú em nói cho qua nghe có được chăng? Chú em lên Nam Vang lạ nước lạ cái rồi biết xoay xở ra sao? Qua có bà con ở trển có bề gì qua chỉ bảo giúp cho… Qua thiệt tình nói ngay như vậy, chớ qua không sợ mích lòng mích bề gì hết! Dầu sao qua cũng trọng tuổi hơn chú em…

Tư Cầu cảm động để yên bàn tay mình trong bàn tay nhăn nheo nhưng chai cứng của ông khách lạ rồi buồn bã đáp:

– Chú đừng nói vậy, chú tuổi tác cũng đáng bực cha chú của cháu rồi (bây giờ Tư Cầu mới xưng là ” cháu”).. câu chuyện của cháu thiệt cũng lắm éo le, chú có lòng thương thì cháu hổng dấu diếm nữa làm gì! Đầu đuôi nó như thế nầy đây chú…

Rồi Tư Cầu ngập ngừng kể lại chuyến đi của anh ta với Phấn cho đến lúc đi lộn tàu cho người khách lạ nghe không sót mảy may.

Ông khách nghe xong như thích chí điều gì cầm cái nón cối gõ đánh cốp xuống băng cây rồi cười ha hả :

– Thật sao giống cái chuyện của qua hồi xửa quá! Xin lỗi chú em… qua nhớ hồi qua trạc tuổi như chú em nầy, đã có lần qua lén bán gần cả trăm giạ lúa của ông già qua để qua dắt con mèo của qua dông tuốt lên Châu Đốc…

Tư Cầu vội hỏi:

– Rồi sau ra sao chú?

Ông khách nhăn nhó rồi lại cười khì:

– Còn ra sao nữa? Mồ tổ cha nó, nó ăn xài đã đời rồi nó cho mình leo cây thấy ông bà ông vải…

– Rồi sao chú?

– Còn sao nữa ! Rồi chú cụp đuôi trở dìa thiếu điều bị ông già ổng cạo đầu, rồi ổng bắt cưới vợ liền… Đó, thím của chú em bây giờ đó (nói đến đây, ông khách có vẻ mơ màng)… Thiệt con vợ của qua bây giờ tốt hết sức, một tay bả lo liệu hết chú em à! Chớ đừng nói ham mấy cô huê dạng bóng dáng chú em ơi… Tốt mã thì rã đám sớm đó chú em à!

Tư Cầu nghe ông khách lạ nói như vậy ngồi làm thinh.

Ông khách ái ngại đến vỗ vai anh ta nói thêm:

– Việc đời nó như vậy đó chú em ơi, hơi sức đâu mà mình buồn. Hổng có con nầy thì còn con khác, làm thân con trai mà sợ gì chú em nó!

Tư Cầu trầm ngâm một hồi rồi nói:

– Chú à… ý, cháu quên hỏi chú thứ mấy để cháu kêu cho tiện?

– Ờ, chú thứ bảy.

– Chú Bảy à, cái việc của cháu với con Phấn mà cháu nói hồi nãy đó, coi vậy chứ cũng còn có chỗ mập mờ, bán tín bán nghi…

– Cái gì mà mập mờ? Nó è è ra đó!

– Vì cháu đi lộn tàu, cháu sợ con Phấn lên chợ xuống kịp tàu đi tuốt lên Sàigòn rồi và hổng chừng bây giờ đang lóng ngóng hổng biết cháu lạc ngả nào rồi!

Chú Bảy xì một cái rồi hăng hái nói:

– Lóng ngóng cái khỉ khô họ! Chú em sao thiệt thà quá đỗi… Cái con ngựa bà trời với thằng điếm bảy da đó sắp đặt đâu sẵn hết rồi : đứa đi trước, đứa còn lại bày đặt sai chú em mua bánh mì để khơi luôn cho có cặp… Mà lẫm ngẫm ra tụi nó coi vậy mà ăn ở cũng có nhơn lắm, nó còn để lại cho chú em sáu chục đồng để ăn đường dìa xứ, chớ qua hồi đó lội bộ thấy mồ… Mà sao chú em hổng trở dìa nhà, chớ dông lên trên nầy làm gì ngang xương vậy?

Tư Cầu nhún vai:

– Cháu có ba đầu sáu tay cũng hổng dám trở dìa dưới nữa chớ đừng nói như vầy. Với phần cháu đi lộn tàu, cháu tức mình đi tuốt luôn để coi lụi nó bỏ cháu như vậy mà cháu có chết hông!

Chú Bảy lại vỗ về Tư Cầu:

– Ôi thôi chú em ơi, tình đời nó chó đẻ như vậy đó, hơi sức đâu mình tức. Chú em đi chuyến nầy ráng lo làm ăn đi rồi coi đám nào tử tế chấm một đám… Tụi mình đàn ông con trai đâu có sợ ế vợ!

Tư Cầu buồn bã đáp:

– Cái gì chớ cái chuyện vợ con hay đàn bà con gái đó, thì cháu tởn tới già rồi… Mà dầu cho con Phấn nó bỏ cháu, cháu thề không ngó tới ai nữa hết…

Chú Bảy nhăn nhó xô nhẹ vai Tư Cầu:

– Coi, sao lạ vậy? Mất con nầy thì kiếm con khác, chớ bộ cần nó lắm sao! Có mợ thì chợ cũng đông, mà bằng không có mợ thì chợ cũng không thua gì… Bộ chú em tính ở vậy suốt đời để thờ nó sao?… Đó, hồi qua mới lâm vô cảnh như chú em bây giờ, ban đầu qua cũng nghĩ như vậy, nhưng thỏn mỏn rồi cũng êm ru hết! Dao chém còn để thẹo chớ thứ mắc toi đó hễ nó đi qua là đi tuốt luốt đó chú em ơi!

Tư Cầu nghe chú Bảy nói như vậy không cãi lại, mà cũng… không tin, nhưng anh ta buông thõng một câu để khỏi làm phật lòng ông khách mới quen:

– Dạ, chú Bảy nói vậy để cháu ráng thử coi…

Chú Bảy gật gù:

– Ừ phải đa chú em! Chú em nghe theo lời qua đi, con đường đó qua có trải qua rồi nên mới biết. Hổng nói dấu gì chú em, qua thấy chú em nhỏ tuổi hiền lành nên qua cũng thương lắm! (rồi như nghĩ ngợi đến một dự định gì chú Bảy lẩm bẩm như nói một mình)… Phải chi chú em chịu theo qua, sau khi qua lên Nam Vang thăm bà con rồi cùng trở dìa dưới Châu Đốc ở với qua… Thế nào má bầy trẻ, con Thắm và mấy đứa nó ở nhà cũng… quí chú em như qua đây vậy.

Tư Cầu cảm động nắm nhẹ tay chú Bảy:

– Thiệt cháu gặp chú Bảy đây cũng là do phước lớn ông bà để lợi. Để yên rồi đây, thế nào cháu cũng hỏi thăm lần mò đến thăm chú, thím Bảy và mấy… anh chị ở nhà. Nếu chuyến này mà cháu hổng gặp được chú Bảy, lên tới Nam Vang cháu cũng lên ruột cả nùi chớ phải chơi đâu!

Chú Bảy thương hại nhìn Tư Cầu:

– Có qua đây, chú em mầy đừng lo gì ráo trọi. Để lên tới trển qua dắt chú em dìa luôn đằng nhà chị Năm của qua, rồi để thủng thỉnh qua nhờ chỉ kiếm chỗ hay chỉ cách cho chú em kiếm công ăn việc làm, thiếu gì! Hay là sẵn chỉ bán cơm đó, chú em có muốn phụ giúp chỉ để qua nói vô cho.

– Cháu xin đội ơn chú Bảy. Bây giờ thiệt hổng biết ra sao mà nói trước được, để lên tới trển rồi cháu sẽ tính. Mà có sao đi nữa, thì cháu cũng phải nhờ chú Bảy chỉ dẫn cho. Thiệt cháu gặp được chú Bảy đây kể ra là may hổng biết đâu mà kể!

Chú Bảy đội lại chiếc nón cối lên đầu rồi vui vẻ đáp:

– Ở đời hễ có ông Ác thì phải có ông Thiện chớ! Nếu ai cũng như nấy hết thì… qua đây với chú em làm gì có dịp… gặp nhau như vầy!

Chiếc tàu cất tiếng xúp-lê từng hồi rộn rã. Bến Nam Vang đã thấy trước mặt.

Chú Bảy nắm lấy cánh tay Tư Cầu:

– Tới rồi đó chú em! Chú em coi lại đồ đạc, có quên sót lại cái gì không, để rồi mình cụ bị đi lên từng trên trước.

Tư Cầu ôm gọn lỏn cái gói quần áo trong tay nhưng cũng ngó quanh một vòng:

– Xong rồi chú Bảy. Cháu chỉ có cái gói nầy thôi. Còn chú có đồ đạc gì nhiều hông để cháu xách phụ cho?

Chú Bảy lắc đầu

– Thôi được rồi cháu! Qua chỉ có vái va-li mây nhỏ nầy thôi. Ờ, với thêm cái giỏ xách đựng mấy ốp trầu mỡ gà, một buồng cau hòn… với lại đâu chục khô lóc vậy thôi… mấy thứ nầy ở trển thiếu gì, nhưng đó là những món “cây nhà lá vườn” đem lên cho chị Năm qua cho có vị vậy mà!

Tư Cầu nói vô:

– Ăn thua là ở cái lòng thành của mình đó chú Bảy! Thôi chú để cháu xách tiếp cho mấy thứ lặt vặt đó.

Chú Bảy ngắm nghía buồng cau và xâu khô cá lóc một hồi rồi trao cho Tư Cầu:

– Đây, chú em xách dúm hai món này cho qua vậy… Thôi, tàu sắp cặp bến rồi, mình lên tầng trên sẵn đi, để hông thôi hồi nữa chen lấn mất công lắm!

Chú Bảy bập bập vài hơi thuốc trong ống điếu cối, tằng hắng lấy giọng rồi kêu Tư Cầu:

– Tư à!

Tư Cầu đang trầm ngâm nhìn ra dãy ghe hàng lố nhố dưới bến sông, quay đầu lại:

– Chi đó chú Bảy?

Chú Bảy hất hàm hỏi:

– Sao, tự hổm nay đi coi phố xá, chợ búa Nam Vang đã chưa?

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Ý cha, ngán quá rồi chú! Loanh quanh có mấy con đường đây mà sao cháu đi muốn rã giò. Hồi còn ở dưới vườn, ngày nào cháu hổng lội đồng, lội ruộng, chớ đâu có được thong dong trên đường phẳng phiu, cao ráo như vầy, mà sao lại hổng có bết như ở đây vậy?

Chú Bảy gật gù:

– Chú em nói cũng phải… Lên trên nầy có mấy bữa mà sao qua thấy tù túng quá! Ăn ở, tắm rửa… cái gì sao cũng bó rọ… Đây, qua nói rồi thằng Tư mầy nghĩ coi có đúng hông: ở dưới mình nội cái cầu tiêu vườn mát mẽ, rộng rãi… thấy cũng đủ sướng rồi. Chớ còn thứ cầu tiêu máy, hay tệ lậu hơn nữa, thứ ông nội cầu tiêu thùng… cái gì mà như ngồi trong hộp, rồi lớp nào gián, chuột, dòi, tửa… bò lển nghen trông phát gớm quá ! Đó, qua lên trên nầy có mấy bữa mà… bón thấy cha cũng vì vậy.

Tư Cầu nghe chú Bảy nói như vậy cũng bắt tức cười :

– Thiệt cháu cũng nghĩ như chú vậy! Cái “chất” ở trên nầy coi bộ nó hổng hạp với mình chú à!

Chú Bảy ngó Tư Cầu hỏi:

– Vậy bây giờ chú em tính sao đây?

– Tính cái gì chú?

– Thì tính chuyện làm ăn ở trên nầy như thằng Tư mầy nói bữa hổm đó!

Tư Cầu “à” một tiếng rồi lặng thinh.

Thấy thế, chú Bảy nắm lấy tay anh ta, rồi ân cần nói:

– Hay là chú em tính dìa dưới qua ở thì hơn chú em à  Ở dưới qua, làm ruộng làm rẫy hay làm mắm làm cá gì cũng dễ chớ ở trên này qua coi bộ cũng khó lắm…

Tư Cầu buồn rầu đáp:

– Cám ơn chú Bảy có lòng tốt đối với cháu, nhưng hổng nói dấu gì chú, cháu muốn đi sao cho biệt xứ luôn…

– Coi, sao lạ vậy ? Có cái gì đâu mà thằng Tư mầy chán đời quá đỗi… Hổng nên đâu Tư!

Tư Cầu nhích mép cười một cách chua chát rồi lắc đầu đáp:

– Không phải đâu chú Bảy à! Có gì đâu mà chán đời!… Hay nói cho đúng hơn, cháu… tức đời. Phải, cháu tức đời, và cháu quyết đi tuốt luôn, để coi tụi nó hại thằng nầy như vầy, thằng nầy có chết hông!

Chú Bảy đang đi bỗng dừng lại, chắc lưỡi nhìn Tư Cầu nói:

– Thôi mà chú em ! Cái chuyện đó nên dẹp qua một bên cho rồi, chớ hơi sức đâu mà tức nữa ! Nếu như chú em nhứt quyết ở lợi trên nầy thì để qua nói với chị Năm qua kiếm coi ở ngoài quán bán cơm của chỉ có chỗ nào chú em chen vô giúp việc được không…

Tư Cầu vội ngắt lời chú Bảy:

– Thôi chú à! Tự hổm rày ăn dầm nằm dề ở nhà cô Năm như vậy cũng là quá rồi…

Chú Bảy chận ngang:

– Coi sao chú em mầy nghĩ như vậy! Bề gì chú em cũng là khách của qua, qua mời tới nhà mà!… Thằng Tư mầy đừng nói vậy, chị Năm nghe chỉ phiền lắm đa!

Tư Cầu do dự một hồi rồi nói:

– Nhưng dầu sao cũng… hổng được chú Bảy à! Cháu thấy quán cơm của cô Năm ngoài chợ đã có đủ người làm hết rồi. Bây giờ chú Bảy nói vô thì thế nào cô Năm cũng nể lời để cháu chen vô giúp việc nhưng như vậy… kỳ quá cháu hổng muốn…

Chú Bảy có vẻ không bằng lòng:

– Thằng Tư mầy cứ nói cái điệu đó hoài! Có cái gì đâu mà nể với nang? Nói cho cùng mà nghe thì đó cũng là một cách chỉ giúp người đồng xứ lỡ bước trên đất lạ quê người chớ có gì là quá đáng đâu?

Tư Cầu thở dài:

– Đã đành rằng trong lúc này mà cháu nương tựa nơi cô Năm thì cũng đắp đổi qua ngày được. Nhưng cháu nói ra đây hổng phải để chê bai hay kén chọn gì: cháu đi chuyến này cháu hổng muốn nhờ một ai hết ráo !

Rồi như sợ chú Bảy không hiểu, anh ta tha thiết nói tiếp:

-…Cháu muốn thử với đời để coi cháu chịu đựng được đến mức nào! Thiệt tình thì cái chuyện không may vừa rồi của cháu như đã buông cháu từ chín tầng mây rớt xuống đất! Đó, chú Bảy coi: cháu bò dìa nhà thì cũng được, bất quá bị ông già ổng cạo cho năm bảy bữa hay một tháng là cùng chớ gì! Hay là bây giờ cháu theo chú về dưới Châu Đốc ẩn thân một thời gian thì cũng khỏe. Nhưng cháu hổng thèm làm vậy chú Bảy à! Cháu muốn sống… “bạt mạng cô hồn” một thời gian coi ra sao!

Chú Bảy lắc đầu như nói một mình:

– Cha, cái điệu nầy “lậm” dữ rồi đa!

Rồi chú lại nói tiếp:

– Thôi qua hiểu rồi Tư! Một là chú em mầy muốn hành xác, hai là muốn làm cho lợi gan con nhỏ mắc dịch đó phải hông Tư?

Tư Cầu cúi đầu lặng thinh.

Chú Bảy thân mật vỗ vai nó, rồi cười nói bông lơn:

– Thiệt thằng Tư mầy bảnh tỏn hơn qua hồi đó nhiều! Nhưng cái gì cũng nên giữ cho có chừng có mực chớ đừng đi quá lố… bể bạc hết! Ở đời mà hổng sợ chết là tài dách lắm rồi… Nhưng thiếu gì chuyện… đáng chết lại nhè chết vì cái lỗ… chơn trâu thì ẹ lắm nghen Tư!

Tư Cầu cũng cười đáp lại:

– Chú Bảy nói gì quá vậy! Cháu “dầu hèn cũng thể, dầu bể cũng còn… cành cạch”, chớ bộ bỏ bê gì sau chú!…

Chiếc tàu Nam Vang đi về Lục Tỉnh xúp-lê inh ỏi và bắt đầu mở đỏi, tách bến.

Chú Bảy đứng dựa lên lan can sắt tàu còn ráng nói vói lên:

– Thôi tui dìa nghen chị Năm! Qua dìa nghen Tư! Chú em ở lợi mạnh giỏi, khi nào có dịp kiếm nhà qua ghé thăm chơi nghen!… Mà có còn nhớ chỗ qua dặn hông hả?

Tư Cầu nói lớn:

– Nhớ rồi! Thôi chú Bảy dìa mạnh giỏi, cháu gởi lời thăm thím và bà con cô bác ở dưới nghen!

Chú Bảy còn muốn nói vọng lên nữa, nhưng chiếc tàu đã trở lái quay mũi ra giữa sông để quanh trở lại rồi chạy thẳng…

Ở trên cầu tàu, cô Năm hối Tư Cầu:

– Thôi, cô cháu mình đi dìa đi Tư!

Tư Cầu ” dà ” một tiếng, ngoái cổ nhìn ra con tàu lần nữa rồi mới chịu cất bước đi theo cô Năm về nhà.
Cô Năm ngồi trên bộ ván vừa têm trầu vừa lên tiếng gọi Tư Cầu:

– Tư à!

Tư Cầu đang đứng xớ rớ ngoài ngạch cửa ngó mông ra đường, vội chạy vô:

– Cô kêu cháu?

– Ngồi lại đây Tư! Sao, bây giờ chú em tính thế nào? Hay là ở lại đây phụ giúp ngoài quán cơm của qua?

– Dạ, chú Bảy cũng đã có biểu cháu như vậy, nhưng cháu xin với cô Năm cho cháu ngủ đỡ ngoài hàng ba một ít lâu để cháu đi kiếm công việc làm…

– Coi, sao kỳ vậy? Thì bây giờ vô phụ giúp cho qua hổng được sao?

– Cháu xin đội ơn cô Năm có lòng thương tới cháu, nhưng để cháu… cựa quậy một thời gian coi thế nào, và nếu hổng êm thì chừng đó, cháu xin nghe theo lời cô Năm vậy…

Hằng ngày, Tư Cầu thả rề dọc theo bến sông để kiếm mối khiêng vác hàng hóa lên xuống cho các chủ ghe. Đến tối, anh ta trở về lật chiếc ghế bố ra ngủ ở trước hàng ba nhà của cô Năm.

Như vậy anh ta cũng tạm sống lây lất qua ngày.

Một bữa trưa nọ, sau khi phụ chất hàng lên bờ cho một chiếc ghe chở mắm ruốc, anh ta xin người chủ ghe một miếng mắm gói vô lá chuối, rồi rề lên hàng me trèo lên bẻ một mớ đem xuống ngồi dựa gốc cây chấm ăn ngon lành.

Cắn ăn được vài trái, Tư Cầu đã thấy ê răng và khi nó vừa với tay tính liệng xuống sông gói mắm ruốc thì có một thằng nhỏ xách hộp đánh giày tắm dưới sông lên đi trờ tới.

Thấy vậy, thằng nhỏ vừa chạy rút lại phía Tư Cầu, vừa la lên:

– Ê, khoan liệng anh Hai ơi! Để đó cho tui!

Tư Cầu để gói mắm xuống:

– Thì đây nè! Đó, mầy ăn bao nhiêu cho vừa sức thì ăn đi!

Thằng nhỏ cầm một trái me lên, vừa nuốt nước miếng, vừa nói với Tư Cầu:

– Trời đất ơi, me chấm với mắm ruốc ngon lành như vầy mà anh tính vụt đi, uổng quá!

– Ối, thứ nầy ở đây thiếu gì. Tao thấy thèm thì ăn bậy vài mắt me chơi, chớ chở nhiều nữa thì hổng nổi!

Tư Cầu ngồi nhìn thằng nhỏ đánh giầy cắn ăn ngấu nghiến mớ me mà bắt ê răng thêm. Anh ta tò mò kéo cái ngăn hộp đánh giày ra xem xét một hồi, rồi nói:

– Cha, coi bộ mầy làm ăn khá hơn tao đa! Mới hồi sáng tới giờ mà giấy bạc nằm xếp lớp ở trong nầy rồi!

Thằng nhỏ nhăn răng cười:

– Thì gặp bữa tổ đãi nó vậy, chớ gặp bữa bị mã tà đá văng hộp đánh giày, ôm đầu máu chạy thì… khác hơn nhiều!

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi lại:

– Cái gì mà đá mình mậy? Mình mần ăn chớ bộ đi ăn cướp, ăn trộm gì sao?

Thằng kia vẫn thản nhiên vừa cắn thêm mắt me vừa đáp:

– Ối, làm ăn như tụi tui rắc rối như vậy là thường. Còn nhiều cái trật bảng họng nữa chớ bộ thôi sao!

Rồi nó hỏi lại Tư Cầu:

– Còn anh Hai, anh làm cái gì đây mà coi bộ ung dung quá vậy?

– Mầy kêu tao thứ tư cho nó… đúng hơn, tao vác hàng lăng nhăng dưới bến sông nầy, mệt thấy bà chớ ung dung gì mậy!

– Có khá không anh Tư?

Tư Cầu lắc đầu:

– Thì cũng lây lất qua ngày vậy, nhưng hổng khá hơn mầy đâu!

– Hổng khá hơn cái nghề đánh giày này hả? Vậy anh muốn nhập bọn với tụi tui kiếm ăn thêm hông?

Tư Cầu cười vỗ vai nó:

– Kiếm thêm tiền ai mà hổng muốn, nhưng tao… hổng quen mần cái nghề của tụi bây.

Thằng nhỏ đánh giày sốt sắng nói:

– Hổng quen thì tụi tui chỉ cho! Làm vương làm tướng, làm thầy làm bà thì khó, chớ làm thứ đánh giày nầy tui chỉ sơ sơ là anh biết liền…

Tư Cầu lắc đầu:

– Tao nói mầy chưa nghe ra… Tao nói tao hổng… khoái mần cái công việc đó, chớ tao có nói là khó hay dễ gì đâu ! Hổng nói dấu gì mầy: tao thuộc cái hạng ôm cày vác bừa quen đi rồi. Mầy biểu tao mần cái gì nặng nhọc tao hổng ngán chút xíu nào hết, chớ bắt tao cầm cái bàn chải phủi phủi ba đôi giày của thiên hạ, hay bắt tao mần công việc lắt nhắt gì khác… tao chạy tét đa mầy!

Thằng kia chắc lưỡi than:

– Nói cái điệu như anh còn nghèo lâu!

Tư Cầu ngả lưng dựa vào gốc me duỗi chưn ra và mỉm cười đáp:

– Thì nghèo thì ráng chịu chớ sao mậy!

Thằng nhỏ đánh giày đưa tay áo quẹt miệng, xách hộp đánh giày đứng dậy:

– Thôi tôi đi nghen anh Tư. Để hôm nào rảnh tôi xuống chơi… Mà anh có ở đây thường hông?

– Ừ khi nào rảnh mầy thả xuống đây chơi, tao đóng đô hà rầm ở bến sông này mà!

Thằng kia đi được mấy bước thì Tư Cầu kêu giựt ngược nó lại:

– Ê bồ! Mầy tên gì mà từ nãy giờ mắc nói chuyện lăng xăng tao quên hỏi cho biết?

Thằng kia đứng lại:

– Ờ… tên tui hả? Anh kêu tui là thằng Năm Bò Bía cũng được. Hay là bữa nào anh muốn kiếm tui, anh cứ hỏi thăm mấy thằng đánh giày tên tui thì đứa nào cũng biết hết.

Tư Cầu nhíu mày:

– Năm Bò Bía? Tên gì mà nghe trúc trắc quá vậy mậy? Từ thuở giờ tao ở ruộng, nội mấy thứ bò chỉ có bò hóng là hơi lạ một chút, chớ tao chưa nghe nói tới thứ… bò đó lần nào hết!

Thằng Năm Bò Bía cười… bò lăn:

– Thôi cha nội ơi, hổng phải bò… có sừng đâu. Bò bía là một món đồ ăn, cái thứ… cuốn cuốn của mấy chú chệt đẩy xe “cốc kẻng” bán đó mà! Để bữa nào dư tiền tui mời anh ăn thử một lần cho biết.

Tư Cầu xẻn lẻn hỏi thêm:

-Vậy hả! Mà sao cái tên của mầy lại… dính líu đến cái món cuốn cuốn đó?

– Có gì đâu… tại có một bận tui kẹt tiền xài quá giựt bậy cái hộp lon đựng tiền của thằng cha bán bò bía nên tụi nó kêu riết rồi thành danh luôn…

– Cha sao mầy dám liều mạng vậy hả?

Thằng Năm thản nhiên đáp:

– Ối năm thì mười họa thì làm bậy có chút đỉnh đó chớ gì đâu anh Tư! Tụi nó còn làm những chuyện động trời nữa!

Tư Cầu lắc đầu lia lịa:

– Thiệt tao phục mầy sát đất! Mà mầy làm chi vậy? Mình có nghề kiếm ăn đàng hoàng chớ bộ…

Thằng Năm hơi ngạc nhiên nhìn Tư Cầu một hồi rồi nhún vai đáp:

– Phải như anh nói vậy thì hổng có chuyện gì hết.

Tư Cầu tìm cách nói lảng:

– Thôi mầy có đi đâu thì đi đi! Ờ, tao thứ Tư tên Cầu, tao nói rõ thêm để cho mày biết, chớ hông thôi mầy thấy tao cho ăn mắm ruốc rồi mầy “a thần phù” kêu tao là Tư Mắm Ruốc thì… bậy bạ lắm đó nghen!

Thằng Năm cười hề hề rồi bước đi.

Tư Cầu còn nói vói theo:

– Nhớ xuống dưới này nói chuyện chơi nghen mầy Năm?

– Ừa!

Một buổi chiều nọ, trong lúc Tư Cầu hết mối vác hàng đang ngồi dựa lưng vô gốc me ở bờ sông nghĩ ngợi vẩn vơ, thì bỗng thấy thằng Năm Bò Bía hớt hơ hớt hải chạy từ phía đường Quai Picquet xuống mé sông, và nó nhìn dớn dác bốn phía như muốn tìm ai.

Tư Cầu đứng phắt dậy kêu lớn:

– Ê Năm!

Thằng Năm xăm xăm chạy lại hào hển nói:

– Anh Tư! May quá tui đương kiếm anh đây nè!

– Kiếm tao chi mậy?

Rồi khi nhận thấy cái áo của thằng Năm rách toạc ba bốn chỗ, còn mặt mày thì chỗ bầm tím chỗ sưng vù, Tư Cầu hốt hoảng hỏi dồn một hơi:

– Trời ơi, sao kỳ vậy mậy? Bộ mới quánh lộn với đứa nào hả? Hay là mầy vừa đi… chụp giựt cái gì nữa để cho chúng đập đó phải hông?… Còn cái hộp đánh giày của mầy mất tiêu rồi hả?

Tháng Năm lấy tay vuốt vuốt lên mấy chỗ bị thương trên mặt, rồi định thần lại nói:

– Nguy quá anh Tư ơi. Tui bị cái thằng ôn hoàng dịch lệ vật đó đập tui một trận quá xá!

Rồi như nghĩ ra điều gì nó đâm ra tức ngang, cung gân cổ nói tiếp:

– Nó ỷ nó lớn hơn tui, chớ phải nó bằng trạc tui thì quánh tay đôi, tui biệt có ngán thằng nào!

– Mà thằng nào quánh mầy? Tại sao nó quánh mầy mới được chớ?

Cái thằng Châu Tiếp đầu gà đít vịt ở Chợ-lớn mới trở lên trên nầy, anh hổng biết đâu ! Nó tính làm ông hoành ông trấn bắt tụi đánh giày phải đóng thuế cho nó để nó giữ gìn cho thằng nào ở mé nào thì làm ăn ở mé đó, chớ hổng được chộn rộn gì hết.

– Bộ tụi bây chịu sao?

– Tụi nó chịu răng rắc hết, chớ hổng chịu thì… mang đầu máu như tui vậy nè! Nó còn đập mẹ cái thùng đánh giày của tui rồi nữa!

– Còn mầy sao lại hổng chịu?

– Tụi nó, thằng nào thằng nấy cu-ky một mình thì phải ráng mà bóp bụng chia chác cho nó để yên thân kiếm cơm ăn chớ tui biệt có sợ nó! Bị hồi nãy tui… kẹt đường rút lui dìa cho chị Ba tui hay…

Tư Cầu lấy làm lạ hỏi chận:

– Mầy về mét với chị Ba mầy thì ăn nhằm khỉ mốc gì hả?

Thằng Năm nghinh mặt lên đáp:

– Thằng Châu Tiếp nó đụng tui như chọc đến ổ ong vò vẽ mà nó hổng hay! Chị Ba tui chỉ làm trời cả một khu nhà lồng chợ cũ, em út rần rần, phen nầy tui cho chỉ hay thì bà hú thằng mắc toi đó!

– Vậy sao mầy hổng dìa cho hay đi còn chạy xuống đây chi vậy?

Thằng Năm hơi sượng nói:

– Bị nó rượt ví tôi… kẹt quá tui tông chạy càng xuống đây và khi nhớ trực lại có anh ở dưới nầy tui cũng hơi vững bụng.

– Bây giờ mầy tính sao đây?

– Thì để chờ coi yên yên bò dìa phía chợ cũ, chớ tui mà vác mặt lên bây giờ nó thấy nó mần thịt nữa chớ hổng phải chơi đâu! Nó cấm tiệt hổng cho tui lảng vảng đến các tiệm cơm nhà hàng nữa…

Tư Cầu nghe nói vậy nổi nóng:

– Tụi gì ngang như ông kẹ vậy? Mầy đánh giày kiếm cơm ăn cũng đổ mồ hôi xót con mắt, nhà nước hổng lấy thuế gì thôi chớ mắc mớ gì nó mà nó đòi nạp tiền cà?

Rồi anh ta nghi ngờ hỏi lại thằng Năm:

– Mà có thiệt như vậy hông, hay mầy… quơ quào bậy bạ ở đâu bị chúng đập rồi bày đặt nói cho xuôi vậy thôi! Có lý nào ai mần nấy ăn rồi có thằng chơi cha vậy được?

Thằng Năm tức tối đáp:

– Coi, tui bày đặt bày điều làm gì? Anh hổng tin, anh thử hỏi mấy thằng đánh giày khác coi có như vậy không?

Tư Cầu xuống giọng nói:

– Thì thôi, mầy nói vậy tao hay vậy! Hay là mầy để tao đưa mầy đi chợ cũ cho. Để rồi tao có gặp cái thằng đầu gà đít vịt đó, tao nói phải quấy với nó để yên cho tụi bây mần ăn chớ như vậy coi sao được!

Thằng Năm lùi lại một bước, nhìn Tư Cầu từ đầu xuống chân rồi chậm rãi nói:

– Cái chuyện này hổng ăn nhập gì lới anh hết mà anh xía vô làm gì… dám bị họa lây lắm anh à! Tui coi bộ anh cũng bự con và thân thể liền lạc lắm nhưng… đụng với nó hổng nổi đâu!

– Coi, cái gì mà “đụng'” chớ? Phải nói phải quấy cho nó biết chớ? Tao hỏi mầy rủi mai chiều gì đây có thằng nào đó cũng đòi “bao” trọn cái bến sông nầy như kiểu mầy nói đó, rồi tao cũng chịu êm luôn hay sao?

Thằng Năm đứng suy nghĩ một hồi rồi thở dài nói với Tư Cầu:

– Anh Tư nói như vậy cũng phải, nhưng để tới đâu hay tới đó thì… chắc ăn hơn! Bề gì thì cái việc nầy cũng là chuyện riêng của tui chớ hổng can dự gì tới anh hết ráo. Tui chịu thua nó keo nầy, nhưng để vài bữa nữa nó sẽ biết tay!

Tư Cầu đứng thẳng người lên, cau mặt nhìn thằng Năm:

– Coi, việc của mầy cũng là việc của tao. Vậy chớ tao với mầy quen biết với nhau làm khỉ gì? Nói cho cùng mà nghe thì cái “việc” của mầy cũng là cái “việc” của những thằng muốn yên thân kiếm cơm ăn mà bị ba cái đứa trời ơi đất hỡi đó cản mũi cản lái hoài!

Thằng Năm nghe nói bùi tai cũng gật đầu theo:

– Ừ phải đa anh Tư!

– Đó mầy coi, nếu để cho ba cái thằng cà phách chó đó lừng lên thì có nước rủ nhau đi cạp đất mà ăn chớ còn mần gì nữa được! Tao nghĩ nội có bao nhiêu đó mà tao cũng đủ nóng mũi rồi đa Năm ?

Rồi Tư Cầu nắm lấy tay thằng Năm lôi đi:

– Đi mầy Năm ! Mầy dắt tao đến chỗ bị quánh hồi nãy, để tao coi mặt cái thằng du côn đó rằn ri như thể nào mà nó tính mần cha nội người ta vậy!

Thằng Năm giựt tay lại:

– Ý hổng được đâu anh! Thôi tui xin anh vuốt giận. Anh có thương tui thì nên để bụng, chớ anh mà làng chàng lại đó… hổng nên đâu! Thằng Châu Tiếp đó có võ Tiều, võ Hẹ chớ hổng phải chơi đa!

– Tao đây cũng có võ… rừng chớ bộ lơ mơ sao mậy! Thôi đi mầy!

Thằng Năm tò mò hỏi lại:

– Võ rừng có phải là võ Thiếu… Lâm không anh? Tui nghe nói “lâm” là rừng…

– Thì… chắc cũng đâu đó!

Thằng Năm vẫn chưa chịu đi:

– Hay là khoan đi anh Tư à! Để tui dìa nói với chị Ba tui chỉ sắp đặt tụi nó ở trong chợ rồi mình “chơi” với nó cho chắc ăn hơn…

Tư Cầu “xì” một tiếng:

– Nói như mầy vậy thì mình cũng là một thứ… ăn hiếp chó chớ có khác gì nó đâu !… Mà mầy khỏi lo gì hết: tao chỉ đến đó để nói phải quấy với nó vài lời vậy thôi mà!

Thằng Năm lắc đầu ngần ngại:

– Mình “phải quấy” mà nó hổng chịu “phải quấy” với mình rồi làm sao?

Tư Cầu lôi mạnh nó đi:

– Mầy sợ vậy thì dắt tao tới xem cho biết mặt nó một chút thôi!

Thằng Năm do dự đáp:

– Thì anh để bữa khác hổng được sao? Bữa nay có… huông rồi, lỡ nó làm bậy thì mệt lắm anh Tư à!

Tư Cầu buông tay thằng Năm ra, xăng xái bước đi:

– Mầy hổng chịu dẫn tao đi thì thôi. Để tao lên trển hỏi thăm ra vậy!

Thằng Năm thấy vậy nhăn nhó chạy theo:

– Nếu vậy để tui dẫn anh đi còn có ích hơn. (rồi nó van lơn) Mà anh ráng đừng có nói năng lộn xộn gì hết nghen!

Tư Cầu nhìn nó cười nói:

– Ừ mà!

…Đi gần tới vũ trường Rex, thằng Năm đứng lại chỉ cho Tư Cầu nhìn kỹ:

– Nó còn đứng kia kìa! Đó, cái thằng bận đồ “các chú” đứng dựa cột đèn đang nói chuyện với một thằng đánh giày! Anh thấy chưa anh Tư?

– Ờ… ờ… tao thấy nó rồi. Cha, cái thằng coi bộ cũng bậm trợn quá há?

– Nó đó anh! (rồi nó lôi Tư Cầu quay trở lại) Thôi, như vậy cũng đủ mãn nhãn rồi, tụi mình trở dìa bờ sông đi.

Tư Cầu đứng khựng lại:

– Được rồi, mầy dìa trước đi, để tao lại hỏi thăm nó một chút.

Thằng Năm rút cổ, nhăn mặt nói:

– Thôi đi cha nội! (rồi nó dợm chạy đi) Chết cha rồi! Nó chỉ chỏ về phía tụi mình kìa! Đố cho khỏi nó đến sanh sự…

Tư Cầu chẳng nói chẳng rằng xô thằng Năm trở lui rồi xăm xăm đi thẳng về phía vũ trường Rex.

Thằng Năm kêu trời, định chạy theo níu Tư Cầu lại, nhưng rồi không biết nghĩ sao nó đứng dang ra xa một chút, hồi hộp vừa nhìn theo từng bước đi của Tư Cầu, vừa ngóng đằng phía có thằng Châu Tiếp đứng…

Đi gần tới, Tư Cầu khoan thai bước từng bước một để rộng thì giờ sắp đặt lời lẽ đem ra “ăn nói” với Châu Tiếp.

Thấy có người đi thẳng lại phía mình, Châu Tiếp sẽ đưa tay vuốt lại mớ tóc hớt theo điệu “bom bê” có ngọn vắt lên hai bên mép tai.

Rồi nó đứng chống nạnh, nửa như chờ đợi, nửa như khiêu khích.

Còn chừng ba bước nữa tới nơi, Tư Cầu đứng lại nhìn kỹ “đối thủ”.

Châu Tiếp vóc vạc cũng cỡ Tư Cầu nhưng hơi gầy ốm một chút : nó mặc một bộ đồ xá-xẫu thứ hai da mướt rượt, mấy khuy áo không gài ở phía trên để hở một khoảng ngực có xăm hai hàng bùa Miên ngoằn ngèo.

Châu Tiếp đeo lủng lẳng ở nơi cổ một sợi dây chuyền lòi tói vàng có tượng Phật nhỏ xíu bằng ngà chạm.

Khói của điếu thuốc ngậm méo một bên mép bay xông lên làm cho nó nheo nheo cặp mắt.

Tư Cầu đứng lại, tằng hắng rồi lên tiếng chào:

– Mạnh giỏi “boòn”, (anh)!

Châu Tiếp làm thinh.

Tư Cầu lại nói tiếp:

– Tui muốn nói với anh câu chuyện nầy…

Châu Tiếp khoan thai đưa tay lên lấy mẩu thuốc lá trên mép xuống, búng văng ra xa rồi hỏi lại:

– Chuyện gì đó mậy?

– Chuyện của thằng Năm đánh giày hồi nãy đó mà!

– À!… Nhưng nó có ăn thua gì đến mầy hông mà mầy xía miệng vô chớ?

– Thằng Năm nó là… bạn của tui, nên tui muốn kiếm anh để phân trần với anh…

Châu Tiếp mỉm cười đắc chí:

– Bộ nó chịu phép rồi hả? Nó nhờ mầy nói với tao vậy hả?

Tư Cầu vội đáp:

– Hổng phải vậy đâu! Thằng Năm hổng có nhờ nhỏi tui gì hết. Tui thấy tình cảnh nó tui tội nghiệp nên lợi đây nói với anh… đừng làm như vậy coi kỳ quá. Mình là người lớn mà!

Châu Tiếp đang chống nạnh nghe Tư Cầu nói vậy buông tay xuống, rồi vừa tẩn mẩn xăn tay áo lên vừa chậm rãi hỏi lại Tư Cầu:

– Vậy té ra mầy đến đây để nạp mạng luôn phải hông?

Tư Cầu nhíu mày:

– Coi, tui nói chuyện với anh tử tế quá mà!

– Tử tế thì kệ tía nội mầy, chớ công chuyện của tao làm ăn thì mầy đừng có thọc mỏ vô đó nghen!

Thằng nhỏ đánh giày ban nãy đứng nói chuyện với Châu Tiếp còn đứng xớ rớ ở đó, thấy hai người có vẻ găng với nhau bèn xách hộp bước dang ra xa.

Tư Cầu cũng nóng mũi dơ tay chỉ vô mặt Châu Tiếp và bắt đầu “mầy tao”:

– Ê, từ nãy giờ tao nói chuyện với mầy đàng hoàng quá mà!… Mầy cũng còn tay chưn đầy đủ hết chớ bộ cùi què gì đâu, mà bắt mấy thằng nhỏ nai lưng ra mần nuôi cho mầy ăn mập thây như con trâu chương đó hả?

Châu Tiếp ngạc nhiên trợn mắt nhìn Tư Cầu một hồi rồi phá ra cười, và nói như phân bua với thằng nhỏ đánh giày còn đứng gần đó:

– Ê ta, bộ thằng nầy khùng ba trợn rồi sao mà? (rồi nó quay qua Tư Cầu) Mầy hổng biết ông nội mầy đây là ai hả?

– Mầy là thằng đách nào mà bắt tao phải biết chớ! Tao nói thiệt với mầy: mầy phải bỏ cái mửng cũ đi, bằng không thì…

Tư Cầu chưa nói hết câu thì nhanh như chớp. Châu Tiếp tống nó một thoi xéo qua cằm nghe cái bốp, Tư Cầu té bật ngửa ra sau, đầu óc quay mòng mòng…

Anh ta vừa lồm cồm chống tay ngồi dậy thì bị Châu Tiếp thuận chân bồi luôn một đá nữa…

Bị đòn đau. Tư Cầu tức như điên lên. Anh ta lăn mình lùi lại phía sau, rồi vùng dậy phóng người thẳng lại phía Châu Tiếp và cứ bám sát lấy địch thủ.

Anh ta nghiến răng dùng hết sức thoi càng đấm bừa tới tấp vào người Châu Tiếp, bất kể trúng trật và bất kể những cú đầu gối và cùi chỏ như trời giáng của thằng nầy!

Không dè bị Tư Cầu liều mạng sấn riết tới như thế, Châu Tiếp đâm ra lúng túng và lui dần vào mé tường.

Rồi không biết Tư Cầu thoi trúng chỗ nghiệt nào, mà chỉ nghe nó “hự” lên một tiếng, ôm lấy bụng và từ từ quị chân xuống nghiêng người về phía đằng trước.

Như hăng máu, Tư Cầu tống một đạp vào lưng Châu Tiếp làm cho tên nầy té nhủi xuống mặt lề đường và nằm gục luôn ở đó…

…Tư Cầu đưa tay vuốt mồ hôi trán, phủi phủi đất cát dính trên quần áo, đoạn đứng nhìn Châu Tiếp “bèo nhèo” một đống dưới đất.

…Rồi một tiếng chửi thề đầu tiên tuôn ra xuôi rót từ cửa miệng của Tư Cầu:

– Đ.m. cho mầy giỏi làm tàng nữa đi! Thôi ngồi dậy đi chớ, bộ tính nằm vạ luôn sao bồ?

Vừa nói tới đó thì thằng Năm cũng vừa chạy tới níu vạt áo sau của anh ta giựt giựt.

Tư Cầu quay lại thấy, mỉm cười và vừa chỉ xuống phía Châu Tiếp nằm vừa nói:

– Đó, mầy thấy hông? Có cái gì đâu mà ngán nó!

Thằng Năm không trả lời mà cúi mình xuống Châu Tiếp xem xét, rồi nó bỗng kêu hoảng lên:

– Chết cha rồi anh Tư ơi! Tui coi bộ nó… hết thở rồi anh à!

Nghe nói vậy, Tư Cầu giựt mình nhưng làm tỉnh hỏi lại:

– Cái gì mà chết? Mầy coi ba chớp ba nháng rồi nói bậy hoài!

Thằng Năm chắc lưỡi:

– Anh hổng tin tui thì nguy đa! Chắc anh đá nó dập lá mía hay bể bọng đái gì rồi…

– Coi, rõ ràng là tao đạp lên lưng nó mà mậy!

Thằng Năm chụp lấy câu nói đó:

– Như vậy đúng rồi, chắc anh đá bể phổi nó chớ gì!

– Bậy nà!

Tuy nói vậy chớ Tư Cầu bắt đầu lo quýnh không biết phải làm sao bây giờ, anh ta không dám cúi xuống để xem thằng Châu Tiếp đã chết thật hay chưa, mà cũng không chịu bỏ tránh đi chỗ khác…

Tháng Năm ngó dáo dác xung quanh rồi nhón chân kề tai Tư Cầu thì thầm:

– Coi bộ hổng êm anh Tư à! Thằng Châu Tiếp nó “ngủm cù đèo” rồi, thiên hạ bu lại coi rần rần mà tụi mình còn đứng xớ rớ ở đây thì kẹt lắm đa anh!

Nghe thằng Năm nói vậy, Tư Cầu liếc nhìn ra bốn bên thì thấy lớp thì bọn đánh giày, lớp thì khách đi đường hiếu kỳ đứng bao quanh chỉ chỏ, xầm xì bàn lán…

Anh hỏi nhỏ lại thằng Năm:

– Bây giờ tính sao đây mậy?

– Thì dông mẹ đi chớ còn tính gì nữa!

Rồi hai đứa nó lách đám đông đi ra.

Bỗng nhiều tiếng “tu hít” vang lên cùng với tiếng giày đinh chạy lốp cốp trên lề đường.

Tư Cầu đứng lại nghe ngóng:

– Cái gì mà om sòm vậy Năm?

Thằng Năm lôi anh ta đi:

– Thôi chạy cho mau đi cha nội ơi! Lính “phú-lích” tới rần rần đó? Tụi nó mà chốp được mình thì ở tù rục xương…

Vừa nói thằng Năm vừa co giò phóng nước đại về phía bờ sông.

Tư Cầu thấy vậy cũng lao mình theo…

Đến nơi, hai đứa nó ngồi núp sau một đống nồi chất dọc theo mé để… thở dốc!

Một lát sau, Tư Cầu ló đầu lên ngóng về phía Quai Picquet rồi nói với thằng Năm!

– Tao coi bộ êm rồi Năm à!

Thằng Năm cũng nghểnh cổ lên:

– Hổng biết êm thiệt hay êm chơi đó! Rủi mã-tà, phú-lích nó canh chừng đâu đó, mình lớ ngớ dẫn lên nạp mạng cho nó thì… đời tàn đa anh Tư!

– Bộ mầy ngán ở tù sao chớ? Mà tao lỡ tay làm cho nó chết chớ phải mầy sao?

Thằng Năm nắm lấy tay Tư Cầu:

– Thì cũng tại tui mới có chuyện rắc rối này! Còn cái việc tù rạc ăn cắp ăn trộm năm ba tháng là cùng thì tui biệt có ngán… Ở tù như vậy kể số gì! Còn cái chuyện thằng Châu Tiếp… “xẩy” đây khác anh à…

– Gì khác mậy?

– Ở tù rục xương chớ cái gì nữa!

Tư Cầu cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:

– Cha, cái số của lao năm nay sao xui cùng mình! Hết chuyện nọ lại xọ vào chuyện kia…

Thằng Năm cự nự:

– Thì hồi nãy tui nói anh hổng chịu nghe?

– Coi, nếu tao hổng quánh nó thì phe của chị Ba mầy cũng “mần” nó chớ bộ tha luôn sao?

Thằng Năm chắc lưỡi:

– Thì phải vậy rồi. Nhưng quánh dằn mặt nó thôi chớ ai biểu anh nện cho nó… bể phổi đâu!

Tư Cầu ngồi làm thinh.

Thằng Năm thấy vậy ái ngại nói:

– Thiệt ra việc này cũng tại tui hết!

Tư Cầu buồn bã lắc đầu:

– Hổng phải đâu mầy! Cái việc nó như vậy thì phải… như vậy. Mầy hay thằng khác… tao cũng hổng thể làm ngơ được. Thôi mầy liệu đi dìa đi, để đó cho tao, chớ ngồi đây chết cả chùm sao?

Thằng Năm còn đứng lựng khựng đó chưa chịu đi.

Thấy vậy Tư Cầu hỏi nó:

– Thôi đi đi mầy! Mầy đứng ở đây có ích lợi gì đâu!

– Ừa… nhưng anh liệu giữ thân, để tui đi dìa nghe ngóng coi ra sao rồi tui trở lợi cho anh hay…

– Ừa!

Thằng Năm lủi thủi bỏ đi về phía đường Ang-Dong để quanh về phía chợ cũ.

Tối đêm đó, Tư Cầu ngủ luôn dưới bến sông chớ không dám về nhà.

Anh ta nằm chò co giữa hàng hũ đường chảy chất thành từng chồng dọc theo một khoảng gần mé sông.

Mắt anh ta mở trao tráo trong đêm và lúc nào cũng tưởng chừng như có lính tráng sắp tới bắt mang đi.

Đôi ba lần tiếng cười nói của mấy anh lái buôn đi chơi về khuya làm cho anh ta hoảng kinh nín thở nằm sát xuống đất.

Bầy muỗi đói xông vào cắn đốt mà anh la chỉ lấy tay quơ quơ chớ không dám đập mạnh…

Mãi đến gần sáng anh ta thỏn mỏn ngủ thiếp đi lúc nào không hay…

Bỗng một con chuột cống bò lên gậm vào ngón chân út của Tư Cầu làm anh ta giựt mình la ú ớ, ngồi vụt dậy láo liên nhìn ra bốn phía…

Đến khi nhận thấy con chuột lủi thủi bò về phía miệng cống, Tư Cầu mới yên tâm và đưa tay xoa bóp ngón chân đau…

…Lối chín giờ sáng hôm sau, trong lúc Tư Cầu đang ngồi khuất trong mui của một chiếc ghe hàng quen để ngóng chừng lên bờ, thì anh thấy thằng Năm lững thững đi xuống mé sông.

Tư Cầu ló cổ ra ngoài đưa tay ngoắc ngoắc cho thằng Năm thấy, rồi thụt vô trong mui ngồi chờ.

Anh ta ngạc nhiên khi thấy thằng Năm không có vẻ gì lo sợ hết mà lại quơ chân múa tay, cười hố hố, nghinh ngang đi xuống…

Tư Cầu nhón chân ló đầu ra, hất hàm hỏi thằng Năm:

– Sao vậy? Bộ mầy hổng ngán sao mà đi xà nghinh xà ngang đó?

Thằng Năm nhảy tót xuống ghe cười đáp:

– Cái gì mà ngán? Dân nầy bảnh mà?

Tư Cầu nắm lấy tay nó lôi vô trong mui:

– Thôi đi tía non! Chuyện nầy đâu phải chuyện chơi mà mầy nói cà rỡn hoài hả?

Thằng Năm nhìn lại nó, rồi làm bộ cự nự:

– Tôi có nói chuyện chơi hồi nào đâu?

Nhưng khi thấy vẻ mặt của Tư Cầu vừa cáu kỉnh, vừa lo sợ, nó vói tay vỗ nhẹ lên vai Tư Cầu, rồi cười nói:

– Tui phá anh chơi đó! Êm hết rồi anh Tư à.

Tư Cầu vội hỏi lại:

– Êm rồi hả? Mà êm ra làm sao mầy nói lợi cho tao nghe coi Năm?… Bộ người ta đem chôn nó rồi hả?

Thằng Năm cười rộ lên rồi nói:

– Ối cái thằng Châu Tiếp đó, thiên lôi đả nó bảy búa cũng hổng chết nữa, mấy cái đá của anh mà ăn thua gì…

Tư Cầu chụp lấy vai thằng Năm, vừa lắc lắc mấy cái vừa hỏi dồn :

– Sao, bộ nó chưa chết hả? Nó còn sống thiệt hả mầy?

Thằng Năm mỉm cười gật đầu.

Tư Cầu xô mạnh nó ra rồi thở khì một cái dài như trút hết mọi nỗi lo âu.

Rồi anh ta cự lại thằng Năm:

– Đó mầy thấy hông? Tao nói nó hổng chết mà một hai gì mày cũng nói nó “ngủm” hết… Tao đạp nó một cái lên đằng sau lưng nhẹ xều mà!

Thằng Năm nghinh mặt cãi lại :

– Thôi đi, anh đạp nó một cái long phổi chứ nhẹ cái con khỉ họ! Nó không chết luôn nhưng lúc đó nó chết giấc. Anh nghĩ lại coi, lúc đó gấp bên đít, mình có thời giờ đâu mà đứng đó chờ xem kỹ coi nó chết thiệt hay chết giả… Mình thủ trước cho chắc ăn thì hơn.

Tư Cầu nghe thằng Năm nói vậy cũng xuôi tai nên gật đầu nói:

– Mầy nghĩ vậy cũng phải… (rồi anh ta lo ngại hỏi thêm) nhưng bây giờ nó ở đâu? Nó chết thì cũng nguy, mà nó còn sống thì cũng rầy rà cho tui mình đa!

– Cái gì mà rầy rà hả anh?

– Thì thế nào nó cũng kiếm chuyện trả thù, rồi mình hổng lẽ nhịn nó! Như vậy mà sanh chuyện rắc rối hoài…

– Ối tưởng chuyện gì chớ chuyện đó anh vững bụng đi! Thằng Châu Tiếp nó cuốn gói dông tuốt xuống Chợ-lớn rồi!

– Vậy hả? Nếu vậy thì êm…

Thằng Năm vênh váo nói:

– Thì êm… Nhưng thử thời nó còn ở lợi trên nầy, bộ ngán nó sao? Tụi nầy đủ sức chơi hết mình với nó mà!

Tư Cầu xua tay:

– Thôi mầy ơi! Nó làm quá quắt lắm thì mình buộc lòng phải… lên tiếng một chút vậy thôi. Mình cốt được yên thân kiếm ba hột cơm cho qua ngày ba buổi, chớ tranh bá đồ vương gì đó mậy!

– Phải ai cũng nói như anh vậy thì làm sao sanh chuyện được (rồi nó nắm tay lôi Tư Cầu đi lên bờ) Thôi đi lên chợ chơi một chút anh Tư, bữa nay tụi tui bao anh ăn cơm đó đa!

– Thôi đừng bày đặt ra nữa mầy! Để tao còn phải dìa nhà cô Năm cho cổ hay, chớ hồi tối tao hổng có ngủ ở nhà chắc cổ mong lắm!

Thằng Năm không nghe cứ lôi bừa Tư Cầu đi:

– Thì anh cứ lên chợ với tui một chút, rồi lát nữa trở dìa nhà cũng được mà. Đằng nào cũng trễ thì cho nó trễ luôn, với lại cũng gần đến giờ cơm nước rồi, bộ anh hổng đi ăn cơm hay sao?

Tư Cầu thở dài:

– Thiệt tao cũng ráng theo mầy một lần nữa!

Thằng Năm nhăn răng ra cười:

– Anh cứ nói vậy hoài!… Mà chuyến này vui vẻ lắm chớ hổng có cái gì mà rắc rối nữa đâu mà anh ngại. Hổng nói dấu gì anh: chị Ba tui chỉ muốn gặp mặt anh để cám ơn anh đó.

Nghe nói vậy, Tư Cầu thêm ngần ngại:

– Thôi để bữa khác Năm à!

Thằng Năm không nghe lôi tuột nó đi:

– Bữa khác sau được anh Tư! Cốt mời anh đi hôm nay cho nó sốt dẻo vậy mà!

Tư Cầu đành chịu thua. Anh ta vừa lắc đầu vừa nói với thằng Năm:

– Thiệt tao gặp mày là có chuyện rắc rối hoài! Thôi đi mầy!

Thằng Năm cũng cười đáp lại, rồi xăng xái xông đi lên trước…

Thằng Năm dắt Tư Cầu đi sâu vào trong một con đường hẻm chật hẹp, dơ bẩn.

Gần đến một cái chái ngăn che bằng ván thùng, giấy dầu và tôn bể, thằng Năm đưa tay chỉ cho Tư Cầu thấy:

– Nhà của tui đó anh Tư!

Tư Cầu nheo mắt như để nhìn kỹ thêm rồi hỏi:

– Ý trời, cái chái nhỏ bằng bụm tay mà mầy kêu là “nhà” của mầy đó hả?

– Chớ sao anh! Giữa châu thành mà kiếm được một cái như vậy ở cũng bảnh lắm rồi!

Tư Cầu trề môi:

– Bảnh mốc xì họ?… Thiệt hổng bằng phân nửa cái chòi chăn vịt của tao ở dưới đồng…

Nói đến đó Tư Cầu nín bặt.

Những kỷ niệm cũ bỗng nhiên dựng dậy làm Tư Cầu mất hứng trong câu chuyện đang nói dở với thằng Năm, và xụ mặt xuống.

Thằng Năm thấy vậy thiệt thà hỏi:

– Sao khi không đang vui mà mặt mày anh bí xị vậy? Bộ nhớ nhà hả anh Tư?

Tư Cầu ủ rũ gật đầu:

– Ừ.

– Ối, thì anh coi như là hổng có nhà ở đâu hết như tụi tui đây thì… hơn hết! Mà ở đâu riết rồi cũng quen đó, hơi sức đâu nhớ hoài cho mệt đó anh Tư!

Tư Cầu gượng cười nhìn nó đáp:

– Thì để tao cũng ráng quên lần lần… Nhưng cái chuyện nầy tao thua mầy xa đa!

…Thằng Năm nắm tay Tư Cầu dẫn vô “nhà” của nó:

– Tới rồi anh Tư! Anh chịu khó cúi đầu xuống đi vô cửa hông thôi vập trán đa anh!

Tư Cầu ké né làm theo lời thằng Năm dặn, khẽ lách nhẹ mình vô cửa. Anh có cảm tưởng nếu mình đi đứng, xoay trở mạnh dạn trong cái chái nhà nầy thì tất cả sẽ đổ ập xuống hoặc xiêu vẹo đi!

Thằng Năm lại lên tiếng giới thiệu:

– Đây chị Ba tui đây anh Tư… Chỉ muốn gặp anh để cám ơn anh về cái chuyện hôm qua đó mà!

Tư Cầu chớp mắt mấy cái liền để nhìn kỹ vì vừa ở ngoài sáng chóa mắt nay chui đầu vô trong nhà tối om om… Anh ta thấy trước mặt một người con gái mặc áo xẩm, để tóc xõa lên hai bên vai và đang thản nhiên ngồi trên sạp ván cầm một khúc trái ô môi cạp ăn ngon lành.

Thằng Năm quay lại phía chị Ba nó:

– Anh Tư lợi đó chị Ba à!

Chị thằng Năm vẫn ngồi vừa cạp ô môi ăn như không, vừa đưa mắt ranh mãnh nhìn Tư Cầu như để… ước lượng con người đang đứng trước mặt mình.

Còn Tư Cầu, một khi quen với bóng tối trong nhà, cũng đứng yên nhìn người con gái mà trong một vài câu chuyện thằng Năm đã cho nó biết đó là tay… không vừa.

Tư Cầu để ý ngay đến đôi mắt sắc như dao sáng ngời ngời đang nhìn mình, như cặp con mắt của một con thú dữ đang rình mồi, kế đến đôi hàm răng đang nhe ra cạp cạp lấy mấy mắt ô môi.

Tư Cầu tưởng tượng như là đôi hàm răng ấy nhọn lểu, bén lẻm và trắng bóng một cách lạ thường…

Phải rồi, đứng trước chị thằng Năm, Tư Cầu có cái cảm giác như là đứng trước một con cọp cái tơ…

Thằng Năm thấy hai người, không ai mở miệng ra nói năng lời nào hết nên chạy lại gần Tư Cầu níu tay nó lôi đến gần sạp ván và nhắc lại:

– Chị Ba tui đó anh Tư!

Tư Cầu đâm ra luống cuống và như để làm tỉnh, anh ta nói nho nhỏ một câu bông lơn với thằng Năm :

– Cha, chị Ba mày lớn xộn há!

Rồi anh ta tằng hắng lên tiếng chào chị thằng Năm:

– Cô Ba… mạnh giỏi…

Con Ba điềm nhiên cạp thêm một miếng ô môi nữa, dẩu môi mút mút ngon lành, rồi cầm liệng mạnh khúc ô môi còn lại vào góc nhà nghe cái “xạc” làm Tư Cầu dợm muốn né qua một bên.

Xong xuôi nó phủi tay đưa lên chùi miệng rồi ngoắc Tư Cầu lại:

– Lợi đây anh… (nó day qua hỏi thằng Năm)… anh Tư phải không mầy?

Thằng Năm gật đầu.

– Ngồi đây chơi anh Tư!

Tư Cầu rề lại đứng gần bên sạp ván rồi ấp úng đáp:

– Dạ… cô Ba để đó tui…

Con Ba cười ngất bỏ chân xuống đất đứng dậy:

– Mèn đét ơi! Dạ với thưa gì hổng biế !… Mà anh kêu tui bằng cô nghe chỏi tai quá! Lần đầu tiên tui mới nghe có người kêu tui bằng “cô” nên… tức cười thấy bà!

Thằng Năm cũng chen vô:

– Phải đa anh Tư! Tụi nầy nghe chửi và nghe thiên hạ kêu bằng thằng kia con nọ quen rồi, bây giờ anh… sửa đổi cách kêu như vậy nghe sao nó… lạch cạch kỳ lắm!

Tư Cầu chưa gì bị hai chị em thằng Năm dồn cho một hồi như vậy, đứng xụi lơ rồi cất giọng thở than:

– Cha, ở trên nầy cái gì cũng… lộn đầu lộn đít ráo, thiệt tui hết biết đường đâu mà rờ!…

Chị thằng Năm nghe Tư Cầu nói như vậy cười ngất, còn thằng Năm thì chắc lưỡi:

– Anh phải tập cho nó… quen chớ ! Anh cứ kêu là con Ba, hay Ba Xá-Lị cũng được (rồi nó day qua hỏi chị nó) Phải hông chị Ba?

Con Ba mỉm cười gật đầu.

Còn Tư Cầu nghe nói đến mấy tiếng “Ba Xá-Lị” thì nghĩ thầm rằng… danh hiệu ấy cũng do một cái “tích” gì đây, nhưng thấy không tiện hỏi và chỉ tìm cách trả lời cho xuôi:

– Được rồi, để thủng thỉnh tao sẽ kêu như vậy… chớ mới nóng hổi đây mầy bắt tao theo liền thì ngại miệng quá mà!

Con Ba bước lại đứng gần một bên Tư Cầu, vừa vói tay bới lại tóc vừa nheo nheo mắt nhìn anh ta từ đầu đến chân rồi ngừ ngừ trong miệng và kêu thằng Năm nói:

– Năm à! Mầy coi anh Tư ảnh liền lạc khỏe mạnh như vậy chớ tụi bây cứ lo ăn hút hoài nên đứa nào đứa nấy ốm tong ốm teo như cò ma, rồi đến khi lâm chuyện có môn đưa lưng cho chúng đập hay là chạy tét hết như mầy mới rồi đó!

Tư Cầu vội đỡ lời cho thằng Năm:

– Dạ… tui là dân mần ruộng nên nó phải như vậy đó, cô Ba à! Tui mà ở đây thét rồi da thịt gì cũng bệu ra hết!… Còn thằng Năm nó phải chạy… là vì thằng kia cao lớn dình dàng sấp đôi nó. Đến như tui đây mà thiếu chút nữa cũng bị nó… nuốt trọng rồi chớ phải chơi sao!

Thằng Năm cũng hăng hái nói thêm:

– Phải chị có ở đó chị mới ngán! Nếu hổng có anh Tư đây, tui chắc ba bốn đứa trong đám tụi mình có hạ được thằng Châu Tiếp thì cũng trầy vi tróc vảy chớ hổng phải chơi  Còn anh Tư đây, ảnh liều mạng xông vô như con trâu cui…

Con Ba cười chận lời thằng Năm:

– Sao mầy nói anh Tư vậy mậy!

Tư Cầu cũng cười theo:

– Được mà cô Ba! Tui là dân mần ruộng, thằng Năm ví như vậy cũng hạp ý tui lắm…

Còn thằng Năm như nhớ trực ra điều gì, kêu rầm lên:

– Thôi, tui đói bụng thấy bà đây nè! Đi ăn cơm đi chớ!

Tư Cầu ngó quanh quẩn rồi lên tiếng hỏi thằng Năm:

– Ủa, bộ trong nhà chỉ có hai người thôi sao Năm?

– Ừ, có hai chị em tui thôi. Anh Hai tui thì nghe nói đi mần trên sở cao su của Tây, còn anh Tư tui thì ảnh đi… nghỉ mát rồi!

– Đi nghỉ… mát?

Con Ba cười nói vô:

– Đi… ăn cơm gạo lức đó anh Tư! (rồi thấy Tư Cầu vẫn còn ngơ ngác, nó nói thêm)… Đi nằm khám đó mà.

– Vậy hả? Mà tại sao kỳ vậy?

Thằng Năm vội trả lời:

– Thì.. cái nghề tụi tui nó vậy đó, anh Tư à!

Tư Cầu nhăn mặt:

– Cha, như vậy… hổng nên đa Năm!

Con Ba mỉm cười, lắc đầu nhìn Tư Cầu :

– Thì mình dư biết là hổng nên, nhưng rồi cũng bắt buộc phải nên ! Cái gì riết rồi thành quen hết anh Tư à !

– Cha, quen cái điệu đó… ớn quá?

Rồi Tư Cầu hỏi thêm

– Còn hai bác ở đâu cô Ba?

Con Ba thản nhiên trả lời:

– Ối, ông già tui ổng chết đâu hồi đời cố lũy nào rồi; còn má tui thì nghe nói đi lấy chồng khác… Tui cũng hổng biết bây giờ bả xiêu lạc ở đâu nữa!

Tư Cầu ngạc nhiên:

– Ủa, sao lại “nghe nói”?

Con Ba nhún vai:

– Thì hổng “nghe nói” sao được, hồi ông già tui chết tụi nầy còn nhỏ xíu, rồi mạnh ai nấy bò… sống cù lăn cù lốc cho tới bây giờ…

Tư Cầu chép miệng than:

– Cha, như vậy khổ quá há!

Con Ba nhìn nó cười:

– Coi, cái anh nầy mới thiệt kỳ! Tự nãy giờ, chuyện của tụi tui mà nghe anh than luôn miệng… Có gì khổ đâu? Tụi tui cũng sống sởn sơ vậy!

Tư Cầu ái ngại nhìn lại con Ba:

– Nói như vậy thì hết chuyện rồi! Bộ mấy người tính sống… bạt mạng cô hồn như vậy tới già sao?

Con Ba dơ tay đập nhẹ vào vai Tư Cầu, rồi vừa liếc xéo nó vừa hỏi trêu:

– Mấy người nào hả? Anh cứ hỏi bá vơ hoài tui hổng thèm nói nữa đâu

Tư Cầu ấp úng:

– Tui… thiệt tình, tui nghĩ sao nói vậy…

Con Ba vôi nói:

– Tui nói cà rỡn chơi, đừng có để bụng nghen anh Tư!

Rồi nó rầu rầu nói thêm:

– Thì anh nghĩ coi: tụi tui hổng thể chọn cách sống nào khác được nữa anh Tư à! Với lại thét rồi nó quen đi… Tui cũng chẳng biết sống như vậy là sướng hơn hay cực hơn, là phải hơn hay là quấy hơn nữa!

Tư Cầu và thằng Năm đứng lặng thinh nhìn nhau…

Con Ba bỗng tươi nét mặt lại, nhanh nhẹn bước ra cửa và ngoắc Tư Cầu:

– Thôi đi kiếm cơm ăn chớ! (rồi nó làm bộ xụ mặt nói giọng như trách móc)… Cũng tại anh khơi ba cái chuyện mắc dịch đó ra… mất vui đi !… Còn thằng Năm, bộ mầy hổng đói hả? Sao hồi nãy mầy hối nong hối nả lên vậy?

Thằng Năm ừ một tiếng bước theo ra cửa.

Tư Cầu đứng xớ rớ rồi lên tiếng hỏi:

– Ủa, bộ ở nhà hổng có nấu cơm hay sao?

Thằng Năm vọt miệng hỏi lại:

– Ai nấu bây giờ?

– Thì… chị Ba mầy chi?

Thằng Năm ngó chị nó rồi cười đáp:

– Ý trời, chỉ nhúm lửa cũng còn chưa cháy nữa, chứ nấu cơm khỉ gì được!

Con Ba chạy vụt lại cú trên đầu thằng Năm một cái nên thân:

– Cái thằng dịch bắt nầy, mầy đổ tệ cho tao quá vậy mậy!

Rồi nó quay qua phía Tư Cầu cười xẻn lẻn:

– Thôi đi anh Tư! Hơi sức đâu mà ở đó nghe cái thằng mắc toi đó nói bá láp! Tụi tui ở đây quen… ăn cơm quán, cơm tiệm cho nó tiện… Dân ăn quán ngủ… thớt thịt mà!

Tư Cầu cũng nói xuôi theo:

– Thì tui đây cũng vậy…

Rồi anh ta theo hai chị em thằng Năm bước ra khỏi cửa…

Thằng Năm còn dừng lại lấy chân khều tấm cằng-tăng kẹp nẹp tre dùng làm cửa, rồi tống mạnh cho nó đóng ập vào nghe một cái xình…

Thấy vậy, Tư Cầu thắc mắc hỏi:

– Bộ mầy hổng có khóa cửa lợi sao?

Thằng Năm dơ tay níu lôi anh ta đi và đáp:

– Ối, trong nhà có khỉ khô gì mà sợ bị ăn cắp! Mà tụi tui là dân… tổ sư về cái vụ đó thì còn ai mà vô đó nữa!

Tư Cầu lắc đầu rồi rảo bước theo chị em tháng Năm…

…Đi qua đám đông ở chợ, con Ba lách người nầy, tránh người kia, lấn người nọ… vóc mình bó sát trong bộ đồ xẩm uốn éo dẻo đeo và gọn bân làm Tư Cầu đi theo sau phải để ý trầm trồ thầm : “Con gái ở chợ dầu sao cũng không ô dề kịch cợm như con gái ở đồng!”.

Nghĩ vậy, tự nhiên nó mỉm cười và nhìn kỹ từ mái tóc xức dầu mướt rượt bới lơi trên lưng của con Ba, đến cánh tay trần, tuy không được mấy no tròn nhưng trắng hồng và loang loáng lông măng mịn nhuyễn, đến cườm tay bên trái có đeo một chiếc vòng bạc to tướng làm bằng nhiều hình vũ nữ Aspara chạm dính liền lại…

Rồi bỗng nhiên, như nhớ trực lại điều gì, Tư Cầu lắc đầu mấy cái liền, thở dài, đoạn rảo bước vượt qua con Ba để tiến lên đi cặp kè với thằng Năm ở phía trước…

… Cả tháng nay, Tư Cầu thôi không đi bắt mối vác hàng cho mấy chiếc ghe buôn dưới bến sông nữa.

Cô Năm bán quán cơm ở ngoài chợ vì có người làm công xin thôi nên kêu Tư Cầu vô giúp việc.

Làm chỗ đó, tuy tiền nong có khá hơn và có đều đều hơn, nhưng Tư Cầu vẫn không thấy thích, vì anh ta vẫn ngại sự ràng buộc.

Đi vác hàng dưới bến sông, tuy bữa đói, bữa no, nhưng được cái muốn đi dọc đi ngang gì cũng được, vui thì làm, buồn thì thôi… chẳng ai kềm cặp hay rầy la quở trách, tiếng nặng tiếng nhẹ gì đến mình hết.

Nhưng chỗ cô Năm là chỗ ơn nghĩa: hồi anh ta mới chân ướt chân ráo lên đây thì cũng nhờ nơi đó, và sau này anh ta vẫn ngủ đậu ở hàng ba nhà cô Năm. Hơn nữa, thiệt ra thì ý cô Năm cũng thương tình muốn giúp đỡ cho anh ta công ăn việc làm vững chắc một chút.

Tuy vậy, đối với Tư Cầu công việc làm mới nầy cũng chỉ có tính cách tạm bợ.

Anh ta biết rằng từ đây mình có thể bươn chải được với cuộc sống ở thị thành, nhưng đồng thời cũng hiểu rõ rằng: mình chỉ có thể tìm được sự thảnh thơi giữa chốn ruộng đồng quen thuộc mà thôi…

…Thường thường mỗi đêm, vào khoảng mười hai giờ rưỡi khuya, Tư Cầu và mấy người làm công trong quán của cô Năm mới bắt đầu dọn dẹp để về nghỉ.

Một đêm nọ, trong lúc Tư Cầu đang lui cui lo xếp cất mấy chồng dĩa bàn thì nghe tiếng hút gió… “ám hiệu” quen thuộc của thằng Năm.

Anh ta vội quay đầu ra nhìn thì thấy, ngoài thằng Năm ra còn có con Ba và một gã thanh niên nữa cũng trạc tuổi như nó.

Thằng Năm đã te te chạy lại:

– Rồi chưa anh Tư?

Tư Cầu chỉ mấy chồng dĩa chén:

– Còn có chút đỉnh nầy nữa là phần của tao kể như xong đêm nay.

– Nếu vậy thì anh làm xăng xăng lên đi. Có chị Ba tui và thằng Sáu Cẩu chờ ngoài kia kìa!

Tư Cầu ngước mắt nhìn ra rồi hỏi lại:

– Thằng Sáu Cẩu nào đó mầy

– Ối, cũng bồ nhà hết mà! Nó cũng ở trong bọn tụi tui…

Tư Cầu mỉm cười:

– Hèn chi tao thấy cái bộ vó của nó tao nhận ra liền..

Thằng Năm làm bộ nói lẫy:

– Thôi đi anh! Anh cứ nói cái điệu móc lò đó hoài… (rồi nó hối Tư Cầu) làm mau đi cha nội, chị Ba chỉ kéo tụi tui tấp vô đây để rủ anh đi chơi đó!

Tư Cầu đang bưng chồng dĩa vội đặt xuống:

– Rủ đi chơi ? Mầy biết bây giờ mấy giờ hông mà còn kéo nhau thả rề ngoài đường nữa ! Thôi mầy ơi, mầy làm ơn ra nói với chị Ba mầy để khi khác… Mình mệt thấy bà trông mau mau dìa nghỉ cho khỏe cái xương sống mà nó còn rủ rê đi chơi chớ!

Thằng Năm đứng chống nạnh và làm mặt nghiêm:

– Ê, chị Ba tui chỉ.. mời anh chớ hổng phải tui đa nghen! Mà tui nói cho anh biết: nội cái chợ cũ nầy, hễ chị Ba tui chỉ ra lịnh thì từ già đến trẻ cũng phải nghe răng rắc hết nghen ! Đến lính mã-tà, phú-lích còn chạy tét chỉ nữa chớ đừng nói ai…

Tư Cầu cười rộ lên:

– Mầy khỏi quảng cáo tao cũng nghe đồn rồi ! Cái điệu này thì chị Ba của mầy còn bảnh hơn… bà Chúa Xứ ở dưới tao nữa.

Thằng Năm nguýt nó:

– Thôi đi anh! Đừng có nói tầm xàm hổng nên đa!

Rồi nó xuống giọng năn nỉ :

– Nói chơi vậy chứ anh ráng làm mau mau đi chớ chị Ba tui chỉ đợi ngoài kia kìa. Với lại còn có thằng Sáu Cẩu nữa.

– Hứ, mày nói chị mày chờ thì tao nghe còn lọt tai… Mười Cẩu nữa tao cũng hổng ngán chớ đừng kể là thứ Năm, Sáu Cẩu gì đó!

Thằng Năm chắc lưỡi:

– Cha nội nầy sao bữa nay sanh chứng quá cỡ vậy cà!… Mà thôi, anh muốn nói gì cho sướng miệng thì nói, chớ cũng phải đi với tụi tui mới được!

– Mà đi đâu ? Gần một giờ khuya mà còn đi chơi nỗi gì

– Chị Ba tui tính lợi rủ anh đi kiếm chè cháo gì ăn chơi đó mà! Tụi tui mới đi coi hát bóng ra rồi đi thẳng lại đây.

– Vậy hả!… Thôi tao cũng ráng đi, chớ hổng lẽ chị Ba mầy và mầy mất công lại đây mà tao để… xách xe dìa không thì coi cũng kỳ.

Thằng Năm thở hắt ra:

– Dữ hông!

Tư Cầu vội dọn dẹp rút, rửa tay lau mặt qua loa rồi lên tìm cô Năm cho hay để theo ra đi với thằng Năm.

…Vừa thấy Tư Cầu ló ra tới, con Ba đã lên tiếng trước:

– Cha làm gì lâu dữ vậy anh Tư!

Rồi nó nhỏng nhảnh nói tiếp:

– Anh bắt người ta đợi mỏi chân thấy mồ!

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Dạ…

– Dạ, dạ… hoài ! Thiệt thấy ghét anh quá !

– Bị mắc lo dọn dẹp nhiều quá cô Ba à…

Con Ba lắc đầu tỏ vẻ thương hại :

– Tội nghiệp dữ hông!

Rồi nhận thấy Tư Cầu đưa mắt nhìn về phía Sáu Cẩu, con Ba vội giới thiệu:

– Ý quên chớ! Đây là thằng Sáu anh em trong bọn tụi tui… (rồi day qua Sáu Cẩu) Anh Tư đó Sáu, anh Tư đã hạ thằng Châu Tiếp mà tao nói với mầy bữa hổm đó?

Để trả lời cho sự giới thiệu đó, Sáu Cẩu thọc hai bàn tay vô túi áo bi-ra-ma sọc, lườm lườm nhìn Tư Cầu và ngừ ngừ trong miệng, còn Tư Cầu cũng đứng xổng lưng “nghinh” lại nó một hồi rồi khẽ gục gặc đầu, nửa như để chào, nửa để đánh giá… thầm người đối diện. Đoạn, anh ta mỉm cười nói:

– À ra đây là… anh Sáu… Mạnh giỏi anh!

– Ờ… cũng như thường…

Con Ba thấy cái không khí… kém thân mật giữa hai người nên vói tay kéo Tư Cầu đi:

– Thôi mình đi kiếm cái gì ăn chớ!

Thằng Năm vọt miệng nói:

– Đi kiếm cháo ăn đi chị Ba.

Tư Cầu thiệt thà bàn vô :

– Thôi đi mầy, tao mần ở quán cơm, nên nghe nói tới cơm cháo là tao đủ ngán rồi. Theo tao thì mình nên đi kiếm ba cái chè hay đồ ngọt gì đó ăn cho nó nhẹ bụng dễ ngủ…

Con Ba vội nói xen vào:

– Ừ phải, mình đi ăn cho nó… khỏe nghen mầy Năm?

Nhưng Sáu Cẩu lại xía vô :

– Tui ăn cháo hè ! (rồi nó lên giọng cằn nhằn) Đói bụng thấy mồ mà đi ăn chè thì ăn thua gì!

Con Ba vừa đi vừa nhìn lại nó và nói sẵng:

– Thì mầy muốn ăn cháo thì ăn chớ ai cản. Tao nói với… thằng Năm chớ bộ nói với mầy hả?

Sáu Cẩu ấp úng đáp:

– Thì mình đi chung với nhau nên tui cũng bàn vô như vậy…

– Bàn đách gì vậy mà bàn! (nói đến đây con Ba đứng lại nhìn thẳng vào mặt Sáu Cẩu rồi chậm rãi nói tiếp)… Anh em với nhau, tao nói với mầy hoài: với tao thì cái gì cũng phân minh đâu đó hết. Tao cho mầy cái gì thì mầy cứ biết hưởng cái đó đi, chớ đừng lằng nhằng đòi hỏi lôi thôi rắc rối gì khác nữa. Tụi mình đâu phải là thứ hạng đàn bà con gái, đàn ông con trai bắt buộc phải sống cho có đầu có đuôi, có luật có lệ như thiên hạ vậy được… Tao nói sơ sơ vậy chắc mầy dư hiểu rồi. Tụi mình ở chung với nhau lâu quá mà!

Sáu Cẩu xụ mặt :

– Nhưng cái chuyện nầy đâu phải chuyện… làm ăn đó Ba ? (nó định nói thêm nữa nhưng lại thấy có Tư Cầu nên lại thôi)

Con Ba cười vang lên:

– Thiệt tao không dè mầy già đời rồi mà còn nói cái giọng… công tử bột đó. Với tao cái gì cũng là chuyện… mần ăn hết ráo!

Rồi nó nghiêm mặt nói tiếp:

– Đây, tao nói cái nầy mầy thử nghĩ coi: khi mầy lắc hầu bao của một anh lái buôn, hay khi mầy xí gạt một người con gái lỡ bước bơ vơ ở miệt tỉnh mới lên để đoạt tiền bạc, nữ trang của người ta… như vậy có phải là chuyện mần ăn hay không?

Sáu Cẩu gật đầu.

Con Ba lại tiếp:

– Đó, mầy coi là chuyện mần ăn! Nhưng nếu mầy nghĩ rằng: mầy đoạt tiền của người ta như vậy, ông lái buôn có thể đâm đầu xuống sông tự vận rồi để khổ cho cả gia đình vợ con ở nhà, cô gái vườn mới lên có thể sa chưn vô xóm điếm rồi ở riết trong đó cho tới chui vô nhà thương thí nằm… Nếu mầy nghĩ như vậy thì có phải là chuyện mần ăn không mậy?

Sáu Cẩu nhăn nhó đáp:

– Ối ai hơi sức đâu mà nghĩ… bậy bạ như vậy để rồi chết đói hết cả đám hả?

– Đó cái chuyện của tao với mầy thì cũng tương tợ như vậy!

– Chuyện của tui với Ba… khác.

Con Ba cười thương hại :

– Đó, cái gì mầy cũng “cái nọ xọ vô cái kia” hết nên mới sanh ra rắc rối !

Thằng Năm với Tư Cầu đã đi vượt lên trước vài bước cũng đứng lại chờ.

Thằng Năm bèn nói:

– Thôi để tui với anh Sáu đi ăn cháo, còn chị với anh Tư đi ăn chè là êm hết.

Tư Cầu cũng chen vô nói:

– Thôi, tui ăn cháo luôn cũng được, như vậy cho chắc bụng…

Nghe Tư Cầu muốn “hùa” theo cho êm chuyện như vậy, con Ba càng thêm bực mình với Sáu Cẩu.

Nó vùng vằng bước đi và kêu Tư Cầu:

– Thôi mình đi anh Tư! (rồi nó hướng về phía Sáu Cẩu để nói lẫy thêm)… Tự nãy giờ tui nói là nói vậy, chớ chè với cháo gì cũng ở gần một bên đó, ai muốn ăn thứ gì thì cứ việc xề qua ăn thứ nấy khỏi phải lôi thôi gì hết!… Thiệt mấy cha nội nầy rắc rối quá!

Sáu Cẩu lủi thủi bước theo sau…

Sau khi ăn uống xong xuôi, cả bọn bốn đứa: con Ba, Tư Cầu, thằng Năm và Sáu Cẩu thả về trên đường Boon để đi xuống phía bờ sông.

Tư Cầu thấy mỏi mệt và buồn ngủ nên lên tiếng nói với con Ba

– Thôi khuya rồi, cô Ba và… anh em để tui đi dìa nghỉ vì sáng mơi tui còn đi mần công chuyện…

– Mới có gần hai giờ mà khuya khỉ gì anh Tư!

– Ý trời, gần hai giờ sáng mà cô Ba còn cho là sớm nữa sao?

Con Ba cười đáp:

– Ờ phải… bị tụi tui quen sống như vạc ăn đêm nên hết biết giờ giấc gì ráo ! Mà thôi, mai anh Tư còn mắc đi làm, vậy để tui với anh Tư cùng đi lợi đằng đẳng rồi tui dìa sau cũng được.

Tư Cầu lắc đầu lia lịa :

– Thôi cô Ba… Như vậy mắc công lắm! Đây với đó có mấy bước, cô Ba để tui đi dìa một mình cũng được mà!

Con Ba không trả lời Tư Cầu mà quay sang phía thằng Năm và Sáu Cẩu nói:

– Sáu à, mầy với thằng Năm cùng đi dìa bước đi để tao đi với anh Tư… có chuyện một chút.

Sáu Cẩu năn nỉ:

– Thì Ba để tui với thằng Năm đi theo để một lát dìa chung một lượt hổng được sao?

Con Ba sẵng giọng:

– Coi, sao tao nói cái gì mầy cũng “cài” hết vậy Sáu? Tao đi với anh Tư có… công chuyện chớ bộ chơi sao hả?

Sáu Cẩu nhăn nhó và ráng nói thêm:

– Thì sẵn dịp tui với thằng Năm đi theo luôn cho nó… vui chưn vậy mà.

Con Ba chận ngang:

– Tao đã nói tao đi để bàn tính công chuyện mần ăn với anh Tư, tụi bây theo rần rần như vầy lính tráng thấy nó để ý rình mò thì có phải “hôi ổ” hết hông?… Sáu à, mầy lớn rồi chớ phải còn con nít đâu mà đòi theo tao nhèo nhẹo hoài vậy hả?

Sáu Cẩu xuống nước ấp úng nói:

– Bề gì tui với Ba cũng đã…

Con Ba cướp lời nó và gằn gằn từng tiếng một:

– Thôi tốp tốp lợi nghen Sáu! Hổng phải có lúc tao… rộng rãi với mầy rồi mầy được mợi đòi hỏi nhiều quá nghen mậy!

Thằng Năm thấy vậy vội lôi Sáu Cẩu đi:

– Thôi mình đi dìa trước ngủ sớm cho khỏe anh Sáu à! Mà anh còn dìa nhà ở xóm dưới nữa mà!

Sáu Cẩu biết không thể làm gì khác hơn được nên đành đi theo thằng Năm và nói xụi lơ:

– Đi thì đi…

Nãy giờ thấy con Ba và Sáu Cẩu lời qua tiếng lại, Tư Cầu bèn rút ra đứng xớ rớ cách đó vài bước và giả bộ như ngửng đầu đếm sao trên trời…

Thằng Nam và Sáu Cẩu đi rồi, con Ba hớn hở chạy lại nắm cánh tay Tư Cầu kéo đi:

– Thôi mình đi anh Tư!

Tư Cầu rị nhẹ lại và nói:

– Cô Ba làm như vậy… mích lòng anh Sáu… coi kỳ quá!

Con Ba háy nó:

– Hứ, kỳ khỉ gì hổng biết ! Lâu lâu tui mới gặp anh một lần mà!…

Tư Cầu vừa đi vừa cằn nhằn :

– Thì đã đành như vậy rồi… Nhưng thế nào rồi anh Sáu ảnh cũng sanh thù sanh oán với tui cho mà coi ! Tui thiệt ngán cái chuyện đó thấy trời…

Con Ba cự lại nó :

– Cái gì mà anh nói là sanh thù sanh oán hả?

Tư Cầu ngập ngừng đáp:

– Thì tôi với cô Ba… đi như vầy…

Con Ba vảnh mặt lên :

– Ớ lãng nhách!… Đi như vầy rồi có làm sao hông? Có gì hông?

Tư Cầu lúng túng đáp:

– Thì tui nói… giả tỷ, nói… phòng xa vậy mà?

Con Ba bỗng luồn tay cặp ghịt lấy cánh tay của Tư Cầu, rồi đỏng đa đỏng đảnh nói:

– Nói chơi vậy chớ, dầu cho… có gì đi nữa thì cũng kệ mồ nó!

Tư Cầu vội rút tay lại:

– Đâu có được cô Ba!… Bề gì cũng chỗ anh em với nhau…

Con Ba làm bộ giận lẫy xô nó dang ra:

– Mại hơi hoài! Hổng phải ai cũng được tui cặp kè đi như vầy nghen!

Tư Cầu nhăn nhó đáp:

– Thì tui biết rồi! Và cũng vì chỗ đó mà tui rầu thúi ruột đây nè!

Con Ba lại níu lấy tay nó:

– Xới ơi, anh sao dỡ khẹt! Bộ anh ngán thằng Sáu Cẩu hả?

Tư Cầu cười mũi:

– Cô Ba đừng nói giởn chứ! Đến thằng Châu Tiếp kia tui còn hổng đếm xỉa tới nữa là thằng Sáu Cẩu! Nhưng thiệt tình thì tui hổng muốn đụng chạm tới nó… Cô Ba nghĩ coi: trong đời nầy, bộ hổng còn chuyện nào cho xứng đáng hơn một chút để… đập lộn với nhau sao chớ!

Con Ba lớn tiếng cự nự:

– Cha, anh nói cái điệu đó, bộ anh chê tui đây là đồ bỏ chắc?

Tư Cầu vội nói chữa:

– Hổng phải vậy đâu! (rồi nó cười mím chi ngó con Ba từ đầu đến chân) Cô Ba cao ráo… ngon lành như thế này, còn đòi tiên sa phụng lộn gì nữa, nhưng tui… ngán lắm cô Ba à!

– Coi, anh ngán cái gì hả?

Tư Cầu thở dài làm thinh.

Con Ba lại hỏi thêm:

– Thì có cái gì anh nói đại đi! Bề gì tui với anh cũng là chỗ quen biết nơi xứ lạ…

– Hổng nói giấu gì cô Ba, tui mà trôi giạt lên đây cũng tại một con đàn bà. Tui bị một lần đó cũng đủ tởn tới già rồi!

Con Ba nghe nói cười rộ lên.

Tư Cầu ngơ ngác nhìn nó hỏi:

– Coi, sao cô Ba cười dữ vậy?

Con Ba cố nín cười lại:

– Thấy cái điệu bộ anh như vậy, rồi nghe anh nói bị… thất tình, ai mà hổng tức cười ! (rồi nó tò mò hỏi thêm) Sao anh, chắc chỉ ngộ lắm phải hông anh?

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Ừ… kể ra thì cũng coi được được.

– Chắc hơn tui phải không anh, nên mới dễ câu anh như vậy?

Tư Cầu cười xòa:

– Hơn gì nổi! Nhưng thiệt ra thì khó… so sánh quá! Nó mặn mòi, còn cô Ba thì sắc sảo.

– Hứ, anh nói dóc tổ! Mà đầu đuôi câu chuyện ra sao anh kể lại cho tui nghe coi.

Tư Cầu lắc đầu:

– Ối, cái chuyện nó cũng rắc rối lắm cô Ba ơi! Mà nó qua rồi kể lại làm gì cho thêm phiền.

Nhưng con Ba nằng nặc đòi nó thuật lại, nên cuối cùng Tư Cầu cũng phải chìu theo.

Anh ta nhìn ra khoảng tối mịt mù ngoài sông như để hồi tưởng lại cuộc tình duyên cũ, rồi chậm rãi kể sơ lại từ khi nó với Phấn mới thương nhau cho đến lúc bị bỏ rơi và đi luôn lên Nam Vang…

-… Đó cô Ba, cô Ba tính coi như vậy mà biểu tui hổng cạch tới già sao được!

Con Ba gật gù rồi chắc lưỡi nói:

– Phải mà, tại anh gặp con ngựa sút chuồng đó…

– Ý, đừng nói bậy nà!

– Cha, bây giờ còn binh nó nữa hả?

– Binh khỉ gì hổng biết? Nhưng cô Ba nói như vậy làm chi!

Con Ba gân cổ nói:

– Thì tui tức cho anh nên tôi mới nói! (rồi nó nắm lấy tay Tư Cầu và dịu giọng xuống) Nhưng anh đừng tưởng con đàn bà nào cũng vậy nghen! Tui khác đa!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Cái đó còn để… hỏi lợi coi!

Con Ba lắc tay nó hai ba cái:

– Tui nói khác thiệt chớ không phải tính chuyện mà con mắt anh đâu! Đời tui như vầy, tui hổng cần rù quến ai hết, tui vừa ý ai và ai khoái tui thì… ráp nhau lại chớ hổng nói on đơ gì hết, rồi khi nào muốn dang ra thì… mạnh ai nấy đi chớ hổng ai cột buộc với ai gì ráo!

Tư Cầu lắc đầu:

– Nói như cô Ba vậy nghe coi dễ quá! Bộ cô hổng tính tới chuyện chồng con ăn đời ở kiếp với nhau sao?

Con Ba xì một tiếng:

– Cảnh sống như tui mà chồng con lùm đùm lề đề… coi sao được!

– Thiệt tui cũng… chạy tét cô Ba!

– Coi, vậy mới hổng có chuyện rắc rối, mới hổng khóc lên khóc xuống… như anh vậy!

– Cô Ba cứ kêu ngạo tui hoài… Chuyện của tui cô làm sao hiểu dược!

Con Ba cười đáp:

– Hiểu làm đách gì cho mệt! (rồi nó đưa tay ôm lấy ngang hông của Tư cầu) Mà thôi, bây giờ có tui đây để tui mắc đền đỡ cho anh một thời gian có được hông hả?

Tư Cầu sẽ gỡ tay con Ba ra :

– Ý cha, tui bị một lần cũng xấc bất xang bang rồi, bây giờ cô “mắc đền” nữa thì chắc sụm luôn quá!

Con Ba cứ ôm ghịt lấy nó và vừa kè nó đi vừa thì thầm bên tai:

– Anh sao thấy ghét quá! Người ta mắc đền cho, chớ bộ ai đòi hỏi cái gì hay… rủ rê anh trốn đi đâu nữa mà anh sợ!

Nghe nói vậy, Tư Cầu vừa mắc cở, vừa thấm ý giơ tay chọc lét con Ba, làm nó vừa kêu ái ái, vừa cười sặc sặc, rồi vùng ra chạy lên trước.

Nó đứng bới lại đầu tóc và nói với Tư Cầu:

– Thôi, tui hổng giỡn nữa nghen!

Tư Cầu rảo bước đến gần:

– Ai biểu cô Ba nói tầm bậy chi?

Con Ba vảnh mặt lên:

– Cha, nói tầm bậy mà trong bụng khoái chí tử!

Tư Cầu nắm lấy tay nó lôi đi:

– Thôi hổng nói đến chuyện đó nữa!

– À, anh hổng nói thì thây kệ anh chớ tui nói hoài hoài…

– Tính làm trận làm thượng chắc?

– Thì cũng đâu đó!

Tư Cầu chắc lưỡi thở hắt ra.

Nghe vậy, con Ba quay đầu lại hỏi:

– Bộ tui quấy rầy anh hả?… Hay là tui hổng được vừa mắt anh hả anh Tư?

Tư Cầu vội đáp:

– Hổng phải vậy đâu!

– Chớ anh làm gì mà coi bộ bệu rệu quá vậy?

Tư Cầu mỉm cười nhìn con Ba:

– Thiệt tui cũng chạy cô? Cái gì cô cũng hay hỏi tới quá!…

– Thì tui có thương, có quý anh tui mới hỏi, chớ phải thằng nào khác, tui hỏi làm đách gì cho mệt!

Tư Cầu cảm động ngập ngừng nói:

– Tui biết như vậy rồi… và cũng tại chỗ đó mà tui hổng… yên trong bụng.

Con Ba trố mắt hỏi lại:

– Coi, tại chỗ đó… làm sao? Anh nói rõ cho tui nghe đi!

– Thì… cô Ba quen biết thiếu gì người khác bảnh tỏn gấp bội tui, sao cô Ba lại…

– Lại chấm anh, phải hông?

…Rồi nó cười rộ lên và đưa tay véo má Tư Cầu:

– Hứ, có vậy mà cũng hỏi tới hỏi lui! Thì tại anh có chỗ… khác người ta nên tui mới thương anh đó! Chớ nếu anh cũng… xen kẹ như tụi nó, thì thử thời anh rờ tới cái móng chưn tui cũng hổng cho!

– Cha, sao kỳ quá há!

– Con nầy vậy đó?

Nhưng Tư Cầu còn thắc mắc hỏi lại:

– Cô Ba nói tui “khác” là “khác” ở chỗ nào?

Con Ba đâm ra lúng túng:

– Thì anh khác là ở chỗ anh hổng giống tụi nó. Anh thiệt bảnh, mà bề ngoài anh… như thường. Anh hổng có lấc cấc nè, anh hổng làm tàng nè, anh thiệt thà nè, anh tốt bụng nè, anh… nghĩa là anh… ngon lành mà hổng giống chút xíu nào cái tụi… đá cá lăn dưa của tui. Tui khoái anh là ở chỗ đó!

Tư Cầu cũng bắt tức cười và nói chọc con Ba:

– Chắc cô Ba muốn… đổi món ăn để trở bữa chớ gì!

Con Ba véo anh ta một cái đau điếng:

– Bà vật anh. Anh dám nói vậy hả?

Rồi nó phụng phịu làm bộ bỏ đi. Tư Cầu vội te te chạy theo níu lại:

– Người ta nói có… chút xíu đó mà giận hả?

Con Ba lên giọng hăm he:

– Được rồi, để tui cho anh… biết tay tui!

Tư Cầu vuốt vuốt lấy cánh tay trần mát lạnh của nó:

– Thôi mà, vuốt giận đi… em cưng…

Con Ba bỗng nhảy xổ lại ôm chầm lấy anh ta và thủ thỉ bên tai :

– Tụi mình dìa thẳng nhà… em đi anh Tư!

Tư Cầu sẽ gỡ tay con Ba ra:

– Thôi khuya trễ quá rồi… Mơi tui còn đi mần công chuyện nữa.

Giọng nói âm ấm của con Ba vẫn phều phào bên tai Tư Cầu:

– Thây kệ nó anh! Em hổng biết đâu… Đi anh…

Tiếng “em” ngọt xớt của con Ba làm Tư Cầu thấy mát ruột. Anh ta như ngây ngất vì bóng đêm, vì mùi dầu bông lài từ mái tóc của con Ba xông lên, và vì cái thân mình gọn nhỏ nóng hôi hổi kia…

Bỗng một hồi còi tàu vọng lại từ nơi xa xa… Tiếng xúp-lê tàu rền rĩ, u hoài và dư âm của nó như mắc dính vào màn sương khuya mỗi lúc mỗi thêm dầy đặc…

Tư Cầu ngẩn ngơ nhìn về phía khoảng tối mịt mù ngoài sông…

Con Ba thấy lạ khẽ đưa tay đập nhè nhẹ vào vai anh ta:

– Gì vậy anh Tư?

Tư Cầu giựt mình luống cuống đáp:

– Ờ… có cái gì đâu…

– Anh làm cái gì mà giống như ai hốt hồn anh vậy hả?

Tư Cầu thở dài rồi gượng cười nói:

– Hổng biết tại sao, mỗi khi nghe tiếng tàu xúp-lê… anh bắt nhớ ông bà ông vải gì đâu á!

Con Ba ôm ngang lưng anh ta lôi đi :

– Chắc anh nhớ nhà chớ gì! Thôi lợi đằng em nói chuyện chơi cho đỡ buồn đi anh!

Tư Cầu quay trở người lại, xuống giọng năn nỉ:

– Để anh dìa em à!

Mãi đến bây giờ con Ba mới để ý đến hai tiếng xưng hô “anh, em” của Tư Cầu, và nó cảm thấy hởi dạ được một phần nào.

Nhưng nó cũng phụng phịu nói thêm :

– Thì anh lợi đằng em ngủ cũng vậy… cũng nhà cửa, cũng giường chõng chớ bộ khác gì sao!

Tư Cầu mỉm cười lắc đầu:

– Khác chớ sao hổng khác? Nhưng bị bữa nay anh… nhức đầu và sao thấy đau bụng lẩm nhẩm nữa… Như vậy có lợi đằng em ngủ cũng hổng… sướng ích gì!

Con Ba tát một cái vào miệng anh ta:

– Dịch bắt anh! Người ta rủ anh dìa nhà cho có bạn chớ bộ… (rồi nó lo lắng hỏi thêm) Mà anh đau thiệt phải hông?

Tư Cầu tay bóp trán, tay xoa bụng:

– Đau thấy bà đây nè !

Con Ba vội móc túi lấy ra một hộp cù là nhỏ trao cho anh ta:

– Anh chịu khó lấy dầu sức đỡ đi. Coi chừng trúng gió đó nghen! Anh đừng quá ỷ y không nên đa!… Thôi để em đưa anh dìa để anh nằm nghỉ cho khỏe.

Tư Cầu xức qua loa vài quệt dầu rồi cùng con Ba rảo bước về phía nhà cô Năm…

Tới nơi, Tư Cầu trao trả hộp dầu lại cho con Ba:

– Thôi em Ba dìa đi kẻo trễ lắm rồi!

– Sao, anh thấy có dễ chịu hơn chút nào hông?

– Ờ… coi bộ cũng bớt bộn.

– Anh cất hộp dầu để phòng hờ, ở nhà tui có hộp khác thiếu gì…

– Cám ơn em Ba, em dìa đi!

Con Ba còn đứng lựng khựng ở đó chớ chưa chịu cất bước.

Thấy vậy, Tư Cầu làm mặt nghiêm hỏi nó:

– Ủa, cái gì nữa đó?

Con Ba ngước mắt ngó anh ta, rồi ngập ngừng đáp:

– Có gì đâu… Hay là anh cho em… ngủ đỡ lại đây với anh nghen…

Nghe Tư Cầu chắc lưỡi liên hồi, con Ba đâm ra bực mình ngang và cự lại anh ta:

– Hừ, cho người ta ngủ đỡ một chút mà cũng làm bộ!

Tư Cầu vội nắm lấy tay nó năn nỉ:

– Ý trời, em nói nho nhỏ nó chớ ! Đâu phải anh cản đảng gì em, nhưng nhà cô Năm là chỗ người ta mần ăn… hai đứa mình… ngủ trong nhà trong cửa người ta như vầy hổng nên em à!

– Gì mà hổng nên?

– Em hổng biết, chớ ông già bà cả cho rằng : trai gái bậy bạ như vậy… xui xẻo lắm! Mần ăn lụn bại, cất đầu hết nổi đa em!

– Mốc xì họ!

Nói xong, con Ba thở dài sườn sượt.

Tư Cầu cũng thở ra rồi nắm chặt lấy hai bàn tay của nó, lắc đầu nói:

– Thiệt tình thì đàn bà con gái, dầu cho chín xe mười vàng, bà hoàng, bà chúa, hay là… xếp bót như em Ba đây nữa, thì cũng giống nhau một thứ hết!… Thôi em Ba dìa đi, hai đứa mình còn gặp gỡ nhau nhiều mà…

– Anh nói thì phải nhớ nghen!… Anh kiếm chuyện xí gạt con nầy hổng được đa !

– Biết rồi mà!

Con Ba rút tay ra rồi đưa vội lên ôm chặt lấy đôi vai hơi hở ra ngoài vì chiếc áo xẩm cụt ngủn.

Nó vừa co ro người lại, vừa xuýt xoa nói:

– Lạnh thấy mồ mà bắt người ta đi dìa một mình!

– Thì để anh đưa em đi cho.

Con Ba vội đáp:

– Nói chơi vậy chớ anh vô nằm nghỉ đi! Coi chừng đau đó nghen!… Thôi em dìa nghen anh Tư!

Đoạn nó quay mình, vừa ôm chặt lấy đôi vai vừa chạy lúp xúp về nhà.

Tư Cầu vội nói vòi theo:

– Hổng thẳng đi chớ làm gì chạy vậy? Coi chừng ma chận đường đó nghen!

Con Ba quay đầu lại cười phá lên:

– Mã-tà, phú-lích cũng biệt có sợ nữa là thứ ma cỏ! (rồi nó lớn tiếng dặn lại Tư Cầu) Nhớ qua thăm em gấp gấp đó nghen!

Tư Cầu vừa nhón chân nhìn theo vừa gật đầu:

– Ừa mà!

Chờ cho con Ba đi khuất dạng ở góc đường, Tư Cầu mới lững thững đi vô phía hàng ba nhà cô Năm…

Tự nhiên nó mỉm cười một mình, rồi thuận chân đá mạnh vào một nhánh cây bông bụp de ra ngoài lối đi…

Tư Cầu xô nhẹ tấm cằng-tăng chắn trước cửa “nhà” của con Ba…

Tiếng kêu kẹt kẹt làm con Ba vội quay đầu ra hỏi lớn:

– Ai đó hả?

– Anh đây… Tư Cầu đây mà!

Con Ba la rộ lên:

– Dữ hông! Tự hổm nay đâu mất biệt, bây giờ mới vác cái mặt lại vậy!

Tư Cầu tươi cười bước vô:

– Ờ… mắc công chuyện nhiều quá, hổng có ở không em Ba à!

Con Ba cũng hớn hở chạy ra, vồn vập hỏi thêm:

– Ủa, sao hôm nay anh nghỉ sớm vậy?… Bây giờ chừng gần chín giờ tối chớ gì!

– Ừ bữa nay rằm nên khách tới ăn uống trong quán cũng không có là bao, nên anh xin phép cô Năm nghỉ sớm để lợi thăm em một chút….

Con Ba nắm tay nó lôi tuột lại bộ ván:

– Ý, đêm nay bắt cóc anh ở lợi đây chớ “một chút” khỉ khô gì! Anh nói sao dễ nghe quá!

Rồi không đợi Tư Cầu kịp trả lời, nó nói dồn thêm:

– Bây giờ còn sớm… trước hết hai đứa mình đi coi hát bóng nè, rồi đi ra kiếm chè cháo gì ăn nè, rồi dìa thẳng đây ngủ nè!

Và nó nhảy xổ lại một tay câu quặp lấy cổ Tư Cầu, một tay bụm lấy miệng không cho Tư Cầu nói năng gì hết:

– Mà tui cấm hổng cho anh cãi! Anh có chịu hông thì nói tiếng một?

Tư Cầu vừa ú ớ trong miệng vừa gật gật đầu và vùng vẫy… chiếu lệ trong hai cánh tay của con Ba.

Con Ba buông anh ta ra.

Tư Cầu vội chạy sụt lùi và nói lớn:

– Mà bây giờ tui hổng chịu đó có sao hông?

Con Ba đứng chống nạnh nhìn nó rồi bĩu môi:

– Hổng chịu cái mốc xì họ! Nội cái việc anh đến đây sớm bửng, tóc tai láng cót, quần áo mướt rượt như thế kia… cũng đủ biết anh ở hay hổng ở rồi!… Nói như vậy có trúng tim đen anh hông hả anh Tư?

Tư Cầu cười xẻn lẻn:

– Giỏi đa!

– Giỏi thì lợi đây cưng!

Tư Cầu tìm cách nói lảng:

-… Mà anh hổng đi coi hát bóng đâu!… Chóng mặt thấy mồ, rồi nghe tây đầm nó nói xí xô xí xào đã, rồi ôm hun chụt chụt dị… hợm quá!

– Xờì ơi, nói như anh vậy thì chết một cửa tứ!… Tại anh ngồi hạng cá kèo nên mới chóng mặt chớ ngồi mấy hạng trên đâu có sao! Anh phải tập xem riết cho nó quen đi chớ!… Để em dắt anh đi coi tuồng này: tuồng “lính kín, ăn cướp” hay gắt củ kiệu à anh!

Tư Cầu nói xụi lơ :

– Thì ráng coi thử một chuyến vậy ! Cha, phải chi có hát cải lương thì đỡ khổ biết mấy!

– Ừ… nhưng ở trên này có hát quảng, hát dù kê, chớ cải lương thì năm tlhuở mười thì mới có gánh ở Sàigòn lên một chuyến anh à!

Nói xong nó ôm chầm lấy Tư Cầu và ngước mặt lên nhõng nhẽo nói:

– Hun em một cái rồi đi anh Tư!

Tư Cầu nhăn mặt hôn phớt lên má nó.

Con Ba cự nự :

– Hun gì như… phủi bụi, hổng ăn nhằm gì hết! Có hun lợi hông thôi chết với tui bây giờ!

Tư Cầu kề mũi đặt lại lên má của con Ba, rồi… thận trọng hít một hơi nhè nhẹ…

Con Ba cười rộ lên, xô nó ra:

– Thiệt anh hổng biết khỉ gì ráo!… Vậy mà hổng chịu đi coi hát bóng cho thường! Thôi, để em sửa soạn mặt mũi, tóc tai qua loa một chút rồi đi coi cho kịp suất chín giờ nghen anh.

Nói xong, con Ba vội bưng đèn lại đặt trên một cái thùng cây kê gần sạp ván, rồi lấy kiềng lược ra chải đầu.

Không biết làm gì, Tư Cầu rề lại đứng gần một bên ngắm nhìn…

… Con Ba vuốt vuốt cặp lông mày nhổ tỉa nhỏ rứt, lấy cây son thoa nhẹ một lớp trên môi, rồi mím mím để cho đều màu. Thấy vậy, Tư Cầu nhớ lại hồi còn ở dưới vườn, anh ta từng đứng rình xem mấy đứa con gái lấy áo nhang thoa môi son, đánh má hồng đỏ chót…

Con Ba chợt bắt gặp cặp mắt của Tư Cầu phản ảnh trong mặt kiếng và tự nhiên nó đâm ra mắc cở, quay phắt đầu lại hỏi:

– Anh nhìn gì dữ vậy?

Tư Cầu cười chúm chím:

– Thì coi em sửa soạn vậy mà!… Lịch sự lắm đa!

… Vậy mà lời khen ngô nghê của Tư Cầu cũng làm cho con Ba thấy thích. Nó nguẩy đầu đi, “hứ” một cái rồi trở lại xăm xoi trước mặt kiếng một hồi nữa.

Xong nó đứng dậy kéo vạt áo cho ngay phẳng…

Lần đầu tiên, Tư Cầu tự nhiên để ý nhìn đến khuôn ngực nhỏ gọn nhưng tròn vun như vừa đủ rướn căng lên dưới lớp vải bông xanh đậm của chiếc áo xẩm bó sát eo… Nhưng rồi anh ta quay đầu đi và lên tiếng hối con Ba:

– Thôi đi chớ em!

Con Ba thổi tắt đèn rồi hí hửng nắm lấy tay anh ta dắt ra cửa. Vừa bước đi, Tư Cầu bỗng nhớ trực đến thằng Năm nên lên tiếng hỏi con Ba:

– Ửa, còn thằng Năm đâu nãy giờ hổng thấy nó?

– Ối anh hơi sức nào mà lo cho nó: nó lang bang suốt ngày suốt đêm hổng có giờ giấc gì ráo. Tụi tui thường thường là như vậy đó anh à!

Tư Cầu chép miệng than:

– Khổ quá há !

Con Ba làm mặt giận giậm chân mạnh xuống đất:

– Nữa! Khổ hay không gì thây kệ mồ tụi tui, ai biểu anh rên la hoài vậy ! Từ rày sắp lên, anh mà còn kêu như vậy nữa thì… nghỉ chơi anh đa!

Tư Cầu vội đáp:

– Ừ mà! Anh nhớ rồi!

Con Ba đưa tay vuốt má nó:

– Vậy phải được hông!… Tụi mình đang vui đang sướng mà cưng…

… Sau khi tan hát bóng ra, con Ba và Tư Cầu còn ghé qua quán bán đồ ngọt rồi mới lững thững đi về nhà.

Đến hẻm vô nhà con Ba, bỗng nhiên Tư Cầu đứng lại:

– Thôi tui đưa tới đây, tui dìa nghen em Ba!

Con Ba đứng phắt lại, trừng mắt nhìn anh ta rồi lôi tuột anh đi vô hẻm:

– Anh đừng có giỡn chớ? Đừng có để em phải nói hoài hổng được đa!

Tư Cầu thở dài một cách… cam phận.

Vào đến nhà, con Ba bảo Tư Cầu:

– Anh đứng yên đó nghen, để em đốt đèn lên cái đã!

Ánh đèn dầu vàng vàng như làm tăng thêm vẻ ấm cúng của căn nhà vốn đã nhỏ bé.

Tự nhiên, Tư Cầu đâm ra lúng túng. Anh ta hết rờ cái này mò cái kia, rồi bẻ mấy lóng tay nghe răng rắc. Sau cùng anh ta tìm ra một câu để hỏi con Ba:

– Bộ thằng Năm chưa dìa sao em Ba?

Con Ba vừa lấy cây quạt lá kè phủi phủi sạp ván vừa đáp:

– Ối, anh hơi sức đâu mà hỏi nó! Thường thường tối nó tấp vô thớt thịt hay hàng ba nào đó ngủ, chớ có mấy khi nó dìa đây… Thôi, anh cởi áo ra đi rồi lên đó nằm nghỉ.

Tư Cầu buông một tiếng “ờ” rồi cứ đứng xớ rớ ở đó.

Thấy vậy, con Ba chạy lại dựa vào ngực anh ta vừa đưa tay cởi hàng nút áo:

– Thôi để em cởi cho… anh sao khó biểu quá!

Tư Cầu thụt lùi lại mấy bước nhưng con Ba vẫn đeo dính theo và tấm vách nhà làm cho anh ta hết đường thối lui nữa.

Con Ba mỉm cười ranh mãnh rồi hỏi:

– Chịu trận rồi phải hông?

Tư Cầu nhún vai thở dài…

Con Ba đưa tay nắn nắn hai bả vai của anh ta rồi xòe tay xoa nhẹ lên hai bắp thịt ngực và chắc lưỡi khen :

– Cha, da thịt anh chắc nịch há!

Tư Cầu hởi dạ nói liền:

– Ý, phải em thấy anh hồi còn ở dưới ruộng… anh mập mạnh như con trâu cui! Bây giờ xọp bớt rồi đó!

Rồi anh ta nhìn con Ba cắc cớ nói thêm :

– Cũng tại mấy bà mà tui thành thân tàn ma dại như vầy đó!

Con Ba nguýt dài:

– Hứ, tại ai thì anh biết, chớ hổng phải tại con nầy đâu nghen!

Tư Cầu cười:

-… Thì để rồi coi!

Nói xong anh ta đi lại sạp ván ngồi xuống, cởi tuốt áo ra rồi thò tay vô túi móc gói thuốc rê ra vấn hút.

Con Ba thấy vậy chạy lại chụp lấy gói thuốc giấu đi ra sau lưng.

Tư Cầu chưng hửng hỏi:

– Bộ cấm hổng cho hút thuốc nữa sao? Người ta đương thèm thấy mồ đây nè…

Con Ba nghenh mặt hỏi lại:

– Bộ anh thèm thuốc hơn thèm… em hả?

Tư Cầu nhăn nhó:

– Thèm cái gì thì thèm chớ cũng để người ta mần vài hơi cái đã!

– Nhưng anh hút thứ thuốc rê mắc dịch đó khét nghẹt ai chịu nổi! Để em lấy thuốc thơm cho anh hút nghen!

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Trời đất ơi, thuốc thơm lạt nhách ai mà hút được!

Con Ba không nói năng gì hết, chạy lại đầu nằm moi ra một gói thuốc ách chuồn, rút một điếu dộng dộng lên móng tay cái, kê vô đèn đót hút vài hơi, rồi đem lại nhét vô miệng Tư Cầu…

Tư Cầu buộc lòng bập bập vài hơi, rồi rút ra cầm chăm bẳm nơi tay và nói như than thở một mình:

– Thiệt còn quá bà nội người ta nữa!

Con Ba nghe vậy cười hăng hắc rồi đưa tay ra mở mấy cái khuy áo xẩm cởi tuột ra…

Tư Cầu vội đứng nhổm dậy giơ tay ra đằng trước như để cản ngăn và kêu lên:

– Coi…

Con Ba cầm cái áo xẩm quây quây trong tay, đôi chân thì nhún nhẩy như theo một điệu nhạc tưởng tượng, rồi nó khẽ hất hàm nhìn Tư Cầu… nửa như thách thức, nửa như hỏi han.

Tư Cầu luống cuống quay mặt tránh đi nhìn vô phía vách. Trên vách… cây đèn dầu đặt dưới thấp rọi nghiêng một bên người của con Ba và in lên thành một cái bóng đen to lớn lồ lộ những đường cong kiêu hãnh.

Tư Cầu bối rối ngồi xuống lại trên sạp ván và rít liền bốn năm hơi thuốc phà khói mịt mù…

Thấy vậy con Ba lại cười rộ lên… Những tiếng cười lanh lảnh càng làm cho Tư Cầu thêm mướt mồ hôi trán và đánh trống ngực thình thịch.

… Và không biết có phải vì say thuốc hay vì quá hồi hộp, Tư Cầu bíu chặt mười đầu ngón tay xuống dưới mặt chiếu.

Con Ba chậm rãi bước lại gần anh ta đưa tay giựt lấy điếu thuốc liệng xuống đất lấy guốc chà lên, rồi ôm ghì lấy cổ anh ta và âu yếm hỏi nhỏ:

– Cái gì mà khớp quá như trai tơ mới lớn lên vậy?

Tư Cầu cười gượng:

– Bậy nà…

Con Ba kê mặt sát lại mặt của Tư Cầu và đôi bàn tay thì mân mê lấy chân tóc của anh ta…

Ánh đèn chiếu lên làm Tư Cầu chú ý nhìn đến đôi mắt mở to và ngời sáng của con Ba, đến đôi môi ướt hé mở để lộ hai hàng răng trắng bóng… và nhứt và một chiếc răng lòi xỉ chìa ra… Tự nhiên Tư Cầu muốn cắn vồ lấy chiếc răng quá có duyên ấy.

Con Ba ú ớ trong miệng rồi phều phào nói qua một hơi thở dài:

– Dữ hông…

Rồi nó nằm trườn lên trên ván dang một cánh tay ra kêu Tư Cầu:

– Nằm gối đầu lên đây cưng!

Tư Cầu ngần ngại ngó ngọn đèn dầu rồi ấp úng nói:

– Anh thổi tắt đèn nghen em…! Để chong suốt đêm như vậy… hao dầu và chói mắt chớ ích gì…

Con Ba ngóc đầu dậy nói chận ngang:

– Để đèn y nguyên đó đa!

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Bộ ăn cơm ăn cá gì sao mà sợ mắc xương hổng biết!

Con Ba bò rột dậy:

– Cha, chớ hổng phải tại anh nhát đèn hả!

Và không đợi Tư Cầu nói thêm một câu gì nữa, con Ba nhoai mình tới ôm ghịt lấy cổ anh ta vậy mạnh xuống.

Bị mất thăng bằng một cách bất ngờ, Tư Cầu té ngửa xuống chiếu và để yên cho con Ba ngồi lên trên. Tư Cầu chịu thua một cách… thú vị.

Dưới ánh đèn dầu vừa đủ sáng, anh ta tò mò nhìn lên: đôi mắt con Ba long lanh một cách dị thường, mái tóc đen nhánh của nó xổ tung vắt lên đôi vai trắng nõn, rũ cả xuống ngực Tư Cầu… và Tư Cầu càng nhìn kỹ càng thêm hoa mắt vì cái ức không gì ràng buộc kia…

Phần con Ba, tự nãy giờ nó vẫn rình sát Tư Cầu. Nó mỉm cười đắc ý rồi từ từ rướn mình lên ấp lấy mặt của người yêu…

… Bên ngoài mặt trăng rằm đã xế về tây.

Tiếng guốc kéo lê trên đường vắng của một anh “tẩm quất”, cũng như tiếng kêu lẹt rẹt từng hồi của xâu tiền thiếc nơi tay anh ta, vang lên một cách mỏi mệt trong đêm tàn…

Tư Cầu đi lại với con Ba đã trên một tháng.

Khi thì con Ba đến rủ anh ta đi chơi, khi thì anh ta có thì giờ rảnh rang thả rề lại gian nhà bé nhỏ nằm khuất sâu trong ngõ hẻm quen thuộc.

Tư Cầu tuy không mê mệt lắm với cuộc tình duyên mới mẻ này nhưng rất bằng lòng con Ba và vẫn thầm phục đó là một cô gái sỏi đời biết tránh những cái gì phiền phức thường tình và không đòi hỏi những sự săn sóc lặt vặt của người đàn ông.

… Tối nay, rảnh việc sớm nên Tư Cầu ăn diện sạch sẽ thả bộ lại thăm con Ba như mọi khi.

Anh ta vừa rảo bước đi, vừa khoan khoái ngước mắt lên nhìn mấy vì sao lấp lánh trên mà ánh đèn điện của thành phố không lấn át đi được.

Anh ta khẽ hút gió một bài hát quen thuộc, một bài hát Nhựt buồn buồn mà mấy đứa làm chung đằng quán cơm của cô Năm nghêu ngao hát suốt ngày làm cho anh ta nghe riết rồi cũng quen điệu.

Thấy còn rộng thì giờ, Tư Cầu quẹo ra ngã bờ sông vì nơi đó gió lộng mát và nhứt là Tư Cầu có nhiều kỷ niệm lúc mới đặt chân lên sống trên đất lạ quê người này.

Ra đến chỗ thoáng gió, Tư Cầu đưa thẳng hai tay lên trời vung vai một cách khoái trá…

Vừa lúc đó, một tiếng quát to ở phía sau : “Ê, thằng kia đứng lại !” làm cho Tư Cầu giựt mình đánh thót và quay phắt lại.

Tư Cầu bật cười:

– Ối, anh Sáu mà tui tưởng ai chớ! Anh làm tui hết hồn hết vía!

Đó là thằng Sáu Cẩu, và Tư Cầu rất đỗi ngạc nhiên khi nhận thấy nó không nói không rằng mà cứ gầm gầm đi thẳng tới… Tiếng “cắc” của lưỡi dao sáng dời bật ra khỏi tay Sáu Cẩu làm cho Tư Cầu hoảng kinh nhảy lùi ra sau một bước.

Anh vội khoát khoát tay và lấp bấp nói:

– Ê ta, đừng giỡn gì kỳ vậy chớ!

Sáu Cẩu cười gằn:

– Tao mà giỡn với mầy hả! Tao đâm thấy mẹ mầy bây giờ đây nè!

Tư Cầu nghe nói vậy đâm ra bực mình “mầy tao” hỏi lại:

– Bộ mầy điên hả? Tao làm gì mà mầy đâm tao hả?

– Làm gì thì mầy biết đó!

– Coi, mầy nói mờ ớ như vậy bà nội tao đoán cũng hổng ra nữa.

Sáu Cẩu sấn lại gần thêm một bước:

– Mầy muốn biết hả! Được, vậy tao hỏi mầy đi đâu giờ nầy đó?

Tư Cầu khoanh tay trước ngực đứng yên và cười lại đáp:

– Tao đi đâu thây kệ tía tao, mắc mớ gì đến mầy chớ?

– Thứ đồ thỏ đế! Mầy có gan mầy nói thiệt mới bảnh ch !

Bị Sáu Cẩu chê là nhát, Tư Cầu không thấy tức mình mà chỉ bắt buồn cười và nói trống không:

– Bộ thằng này nó tính nói cho sướng miệng sao mà! (rồi anh ta mỉm cười nhìn thẳng vào mặt Sáu Cẩu thân mật hỏi) Bộ người anh em nghi tui phá khuấy công việc mần ăn, đi mạch cho tây tà lính tráng gì sao chớ?

– Hứ, mầy mà làm vậy thì mầy đã chết nhăn răng năm bẩy đời vương rồi !

– Ủa, vậy chớ chuyện gì mà mầy tính sanh sự với tao đây? Hay là… hay là mầy phiền tao về cái việc tao… đi thăm chị thằng Năm chắc?

Sáu Cẩu gầm lên:

– Té ra mầy cũng biết như vậy nữa hả?

Và nó sấn lại dí mũi dao nhọn hoắc vào chí ngực Tư Cầu, rồi nói gằn từng tiếng:

-… Bởi vậy, tối nay đời mầy mới tàn!

Tư Cầu chỉ đi thụt lùi được vài bước thì đụng lưng vào một đống củi chất dọc theo mé sông.

Mũi dao của Sáu Cẩu vẫn chỉa thẳng vô đụng tới ngực Tư Cầu và anh ta đã thấy đau đau.

Không nghe Tư Cầu nói lại, Sáu Cẩu cười đắc ý:

– Bộ mầy sợ quá rồi á khẩu luôn hả? Bây giờ mầy có lạy tao, tao cũng quyết không tha!

Tự nãy giờ Tư Cầu nín thinh để nghĩ cách đối phó, nay nghe Sáu Cẩu nói như vậy đâm ra nổi “sùng” lên:

– Mầy thiệt là thứ đồ cà-xốc chó! Hè chi con Ba nó đá đít mầy cũng phải lắm!

Sáu Cẩu tức giận điếng người ấn mạnh con dao thêm một chút nữa và hét lên:

– Mầy nói một tiếng nữa, tao đâm mầy liền!

Tư Cầu cũng quát lại:

– Mầy đâm tao kêu mầy bằng cha! Đừng nói gì tao chết cho mắc công, thử thời tao bị trầy da một chút xíu thôi, con Ba nó hay được thì trời cứu mầy đa Sáu!

Nghe Tư Cầu nói vững như vậy, Sáu Cẩu cũng đâm ra chột dạ và nó làm bộ hỏi thêm:

– Đêm nay chỉ có tao với mầy ở đây thì ai mà vô biết được mậy?

Tư Cầu “xì ” một tiếng rồi đáp:

– Thứ đồ gì mà u mê ám chướng quá! Óc trong đầu của mầy đem chiên mỡ ăn thì may ra còn được, chớ mầy hổng biết dùng để suy nghĩ đách gì hết! Tao hỏi mầy: hễ tao mà biến đi thì con Ba nó còn nghi cho ai vô đây nữa? Chỉ có mầy thôi!

– Sao lại tao?

Mầy cũng là tay anh chị mà sao hổng có… mở mang gì hết! Hồi tao mới gặp mầy, tao thấy bộ vó của mầy xăng xái, phùng xòe một bên con Ba là tao biết liền… sau đó, tao đã nói với con Ba rằng tao hổng muốn để cho có chuyện mích lòng mích bề với mầy…

– Mầy biết vậy sao mầy còn lớn mật…

Tư Cầu chận ngang:

– Để tao nói hết cho mà nghe! Con Ba nó nói hễ nó khoái ai thì nó chấm người nấy, chớ hổng có thằng nào được lộn xộn gì ráo… Còn cái chuyện hễ tao có rủi ro bề gì thì con Ba nó ăn thịt mầy liền… chuyện đó tao tưởng mầy biết nhiều hơn tao. Tụi bây kết bè kết đảng mần ăn, thì đâu phải thằng nào muốn mần ông mần cha gì cũng được hết!

Nói tới đó, Tư Cầu để ý thấy Sáu Cẩu vẫn nín thinh và mũi dao đã bắt đầu run run trên ngực của anh ta chớ không có ấn sát như lúc ban đầu.

Nhanh như nhớp, Tư Cầu vừa hót mình cong lại phía sau, vừa đánh vẹt cánh tay cầm dao của Sáu Cẩu ra…

Con dao văng rớt trên đá lót đường kêu loảng xoảng, và trong lúc Sáu Cẩu còn đang loạng choạng chưa kịp định thần lại thì Tư Cầu đã phóng tới quất thêm một đá nữa vào bả vai làm cho nó té bật qua một bên.

Cho rằng như vậy cũng đủ rồi, Tư Cầu đứng yên.

Sáu Cẩu lồm cồm bò vội về phía chỗ con dao rớt xuống, Tư Cầu liền nhảy tới lấy chân hất con dao ra xa, rồi cúi xuống lượm lên, bẻ cái lưỡi quặp vô cán.

Đoạn anh ta từ từ đi lại chỗ Sáu Cẩu đang còn ngồi xổm dưới đất hai tay chống lấy bộ để tung người lên.

Tư Cầu đưa tay mặt ra và dịu dàng nói:

– Thôi đứng dậy anh Sáu!

Sáu Cẩu ngạc nhiên ngó sững Tư Cầu một hồi, rồi thận trọng lui một bước đứng phắt dậy.

Tư Cầu lên tiếng:

– Đây, tui trả lợi cho anh con dao.

Vừa nói Tư Cầu vừa liệng con dao bổng lên về phía Sáu Cẩu.

Sáu Cẩu vội chụp lấy, rồi hết ngó con dao nằm trong lòng bàn tay đến nhìn sang Tư Cầu. Nó lấp bấp trong miệng :

– Ủa… bộ anh…

Tư Cầu cười tiếp lời:

– Phải, con dao của anh thì tui trả lại anh chớ có gì đâu!… Cha, con dao coi bộ tốt đa, để khi nào rảnh tui phải nhờ anh kiếm mua cho tui một cái giống như vậy mới được!

Nghe Tư Cầu nói lảng ra chuyện khác một cách tỉnh khô, Sáu Cẩu đâm ra cảm động và lúng túng:

– Anh Tư! Tui xin lỗi anh… Tại tui nóng quá…

– Ối, ai mà hổng có lúc nóng… ngang xương (và Tư Cầu cười nói tiếp)… Nhưng hễ có nóng thì phải có nguội, chớ hè nhau nóng ráo thì… hư bột hư đường hết anh Sáu à!

Sáu Cẩu vội gật đầu:

– Phải đó anh.

– Chắc anh Sáu dư biết, ở dưới thiếu gì chuyện đáng để… mần thịt nhau, bởi vậy mình hổng nên vì con đàn bà mà để cho nhẹ thể đó anh!

Sáu Cẩu cũng thở dài:

– Cố nhiên rồi!

Tư Cầu nhìn ra phía bờ sông rồi chậm rãi nói tiếp:

– Thiệt ra, cái chuyện vừa rồi làm cho tui áy náy lắm anh Sáu à! (liếc thấy Sáu Cẩu định mở miệng. Tư Cầu vội giơ tay như để tốp lại) Ậy, anh để tui nói cho hết đã! Tui nói đây có Bà Cậu mần chứng, hổng phải tui muốn tranh dành con Ba với anh Sáu đâu…

– Ai… nói anh tranh dành hồi nào?

Tư Cầu gượng cười nói thêm:

– Anh nói vậy, chớ trong bụng anh sao khỏi hồ nghi này nọ! Nhưng tui nói thiệt với anh Sáu: Tui đã từng bị chết lên chết xuống vì một con đàn bà rồi thì còn ham mê gì nữa mà nghĩ đến chuyện tranh giành của thiên hạ anh Sáu?

Sáu Cẩu vỗ nhẹ tay Tư Cầu:

– Chuyện đó thì tui đã có nghe thằng Năm kể lại rồi!

Tư Cầu vội nói:

– Đó, anh Sáu chắc đã hiểu rõ bụng tui rồi!

Sáu Cẩu cười đáp:

– Tui hiểu rồi mà và tui phục anh nữa!

– Cha, phải chi anh nhập bọn với tụi tui thì ngon lành quá! Thêm một tay của anh nữa, tụi mình làm vua một cõi, biệt có sợ thằng nào làng chàng ở chợ Nam Vang nầy nữa!

– Ý thôi đi cha nội ! Tôi ngán cái chuyện đó lắm ! Hổng phải tui sợ chết yểu hay sợ mang thẹo gì, nhưng tui nói hoài : ở đời thiếu gì chuyện đáng để cho mình… ăn thua đủ ! Anh hổng thấy lóng rày trong nhựt trình người ta đăng chuyện đánh giặc, bỏ bom lung tung đó sao? (rồi nó hạ giọng xuống) Người ta còn nói: Nhựt-bổn nó qua đây đi lền khên ngoài đường đó, là sắp có chuyện lớn đa anh!

– Ừ tui cũng có nghe thiên hạ xầm xì dữ lắm…

– Thì đó thế nào cũng có chuyện đánh giặc đánh giã và chừng đó thiếu gì dịp để… sanh tử một phen như tui nói với anh hồi nãy!

Sáu Cẩu lắc đầu :

– Ối anh hơi sức nào tính chuyện bao đồng hổng biết! Tây Tàu hay Nhựt gì đó họ có quánh nhau thì cũng ở trên trời hay dưới biển, hay ở tí mú nào đó chớ ăn nhập gì đến tụi mình!

– Coi, nói như anh vậy sao được! Đành rằng mình hổng ăn nhập gì, nhưng rủi đến chừng đó nói họ hổng nghe, họ “nhập” đại mình vô rồi mới tính sao đây!

Sáu Cẩu cười rộ lên:

– Nhập vô để tế mồ họ hay để làm gì chớ? Tui cho rằng nếu có lộn xộn gì đi nữa thì cũng chẳng ai cần đến cái thứ tụi mình. Thiên hạ dầu cho ai làm ông làm cha đi nữa thì… Sáu Cẩu nầy vẫn hoàn là Sáu Cẩu !

– Nói điệu.. chìm xuồng như anh vậy thì hết chuyện rồi! Đã đành rằng mình hổng mần ông hoành ông trấn gì hết, nhưng nếu có chuyện thì mình cũng bị dính chùm theo ráo anh Sáu à?

Sáu Cẩu vẫn cãi lý:

– Coi, tui sống sao thây kệ tía nội tui chớ mắc mớ tới ai mà “dính chùm” vô đó?

Tư Cầu lúng túng cắt nghĩa:

– “Dính” chớ sao hổng “dính”!… Đây, nội cái chuyện con mèo cũ của tui trước đây cũng vậy: tui có muốn “dính” vô nó đâu ! Tui muốn ở yên chăn trâu, chăn vịt hè!… Nhưng rồi đó anh coi: ý là tui khăng khăng một mực như vậy mà hổng muốn đèo bòng gì ráo trọi mà rốt cuộc rồi cũng xấc bất xang bang, trôi giạt lên tới trên nầy đó?… Còn như cái nghề của anh – tui nói đây xin anh cảm phiền đừng để bụng nghe! – tui nghe người ta kể: một khi Nhựt nó ở đâu, hễ ai ăn cắp ăn trộm gì mà tụi nó bắt được thì… a lê, lấy gươm chặt cái tay nào lấy đồ đó liền! Như vậy anh có chịu hông!

Sáu Cẩu cự nự:

– Như vậy đâu có được ta! Nó mà chơi cái mửng đó, tui rình đâm thấy bà cố nó, chớ bộ giỡn sao?

Tư Cầu đắc ý vỗ vai Sáu Cẩu:

– Thì đó anh nghĩ lại coi có “dính” như tui nói hông?

Sáu Cẩu cười xòa:

– Thì cũng có “dính” chút đỉnh… Nhưng cái này là đụng chạm đến chuyện mần ăn của mình mà!

– Đúng đa!… Nhưng ở đời nầy, ai muốn sống mà hổng mần ăn đó anh Sáu? Có ai há họng lên trời hứng sương hay cúi xuống kê mỏ cạp đất mà sống được đâu!

Sáu Cẩu nín thinh một hồi rồi thở khì ra đưa tay cặp kè Tư Cầu lôi đi:

– Thôi dẹp cái chuyện đó qua một bên… chớ nói riết tới nó đi lùng tung tui nghe nhức óc lắm ! Bây giờ tui rủ anh đi lợi đằng quán cóc gần đây uống bậy một cái đờ-mi với tui cho vui, rồi kế đó… (nói đến đây, Sáu Cẩu mỉm cười nháy nháy Tư Cầu) tui thả cho anh muốn đi đâu thì đi…

Tư Cầu xô nó ra:

– Bậy mà! Đi uống chút đỉnh la-ve với anh cho có bạn thì được, chớ sau đó tui dìa thẳng chớ hổng đi đâu nữa hết!

Sáu Cẩu níu tay nó lại:

– Tui nói thiệt, chớ hổng phải lẫy đương gì đâu anh Tư à! Thằng nầy coi lơ mơ vậy chớ cũng điệu lắm, hổng phải e như người ta đâu! Trước đây, tui tưởng anh tranh giành con Ba và muốn làm tay tổ với tui nên tui mới… hơi bực mình một chút vậy thôi! Bây giờ tụi mình hiểu nhau quá xá rồi thì xin anh đừng ngại gì hết! Đối với con Ba… chim trời cá nước ai bắt được nấy hưởng, hổng tui thì anh, hổng anh thì thằng khác. Tui nói thiệt đa anh Tư, anh cứ lợi đằng con Ba như thường đi!

Tư Cầu đáp bằng một giọng vừa chí tình vừa quả quyết:

– Được rồi! Nhưng đêm nay tui buồn ngủ quá, để đi nhậu với anh ba sợi rồi dìa ngủ thẳng cẳng một giấc cho sướng thân

Sáu Cẩu vội đưa tay ra chụp lấy bàn tay của Tư Cầu gục gặc lên xuống mấy cái liền:

– Thiệt anh mới là tay bảnh hổng ai qua mặt nổi! (rồi nó thiệt thà hỏi thêm Tư Cầu) Hồi nãy, rủi tui lỡ đâm anh một dao chết tiệt đi… rồi sao anh Tư?

Tư Cầu mỉm cười độ lượng:

– Bậy nà! (rồi nói đùa thêm) mà tui có gồng Xiêm thì anh đâm lủng khỉ gì được! Thôi, anh bao tui đi nhậu chớ bộ tính lơ ra rồi sao!

Sáu Cẩu vội đáp:

– Ý, mần lơ sao được anh Tư! Mấy cái dịp này mà hổng có rượu thì còn hay ho gì nữa!

Nói đoạn, nó cặp kè Tư Cầu đi thẳng lên phía chợ…

Thấm thoát Tư Cầu ở trên Nam Vang được hơn một năm. Số tiền công của anh ta làm cho cô Năm dành dụm trước sau gần cả ngàn đồng bạc.

Mỗi tháng anh chỉ lấy một ít tiền để xây xài lặt vặt, hay khi nào có cần mua sắm món gì mới lãnh ra thêm, chớ bao nhiêu tiền lương đều gởi cho cô Năm cất giùm hết. Tư Cầu có ý định là khi nào được một số tiền kha khá anh ta xin nghỉ để trở về xứ.

… Mấy hôm nay, gió cuối năm lào rào thổi làm cho Tư Cầu khắc khoải nhớ nhà hơn bao giờ hết. Mấy chiếc ghe chở dưa hấu tấp nập dưới bờ sông càng làm cho anh ta động lòng nhớ cố hương.

Hơn nữa, Tư Cầu tính nhẩm số tiền gởi cho cô Năm cũng khá bộn rồi nên định bụng sẽ hỏi cô Năm lãnh hết ra và xin nghỉ làm để quay trở về nhà.

Số tiền ấy kể ra cũng là một số vốn khá quan trọng mà Tư Cầu hằng mơ ước và nay đã được mãn nguyện. Với số tiền ấy, anh ta có thể vững tâm trở về gặp tía má mình và mở mặt cùng bà con trong chòm xóm để vớt vát lại tiếng “bỏ nhà ra đi lưu linh” lúc trước.

Anh ta nhớ lại từ hồi nào lới giờ, gia đình mình chưa hề biết mặt biết mũi một số liền lớn như vậy ở trong nhà.

Một bữa tối nọ, sau khi dọn dẹp và đóng cửa quán xong về nghĩ. Tư Cầu bèn vào nhà trong tìm gặp cô Năm để nói rõ cái ý định mà anh ta đã tính đi tính lại cả trăm lần suốt cả một tuần lễ nay.

Cô Năm đang ngồi trên bộ ngựa gõ giữa nhà ăn trầu xỉa thuốc, thấy Tư Cầu cứ đứng xớ rớ gần đó như muốn nói điều gì, cô Năm bưng ống nhổ nhỏ bằng đồng lên chậm rãi nhổ cốt trầu, lấy cái khăn vải tây điều lau hai bên vành miệng rồi ngước mặt lên hỏi anh ta:

– Ủa, tối nay bộ mầy hổng thả rểu đi chơi sao Tư?

Tư Cầu vội tiến đến gần bộ ngựa và đáp:

– Dạ, lâu lâu mới đi chơi một lần chớ đêm nào cũng vậy hết chịu sao nổi cô Năm?

Cô Năm cười nói:

– Vậy mà tao lường mấy cà rà ở đó để hỏi lấy chúi đỉnh tiền dằn túi đi chơi chớ!… Bữa nay nghỉ sớm, bộ mầy không lại thăm con nhỏ gì mà thường hay lại đây nẹo lôi mầy đi chơi mọi khi đó? Tao tưởng tụi bây mèo chuột với nhau khắn khít lắm mà!

Tư Cầu cũng cười đáp:

– Ối, thứ con nhỏ quỷ đó mà kể số gì cô Năm! Thì cũng… lăng nhăng cho qua ngày vậy chớ ăn đời ở kiếp gì!

– Cha, tao coi bộ mầy nói bảnh đa! Hết chết vì con nhỏ gì… à con Phấn phải hông mậy?

Tư Cầu thở dài:

– Thì cô Năm nghĩ coi: thét rồi nó cũng… chai đi (rồi nó ngập ngừng nói thêm)… Dạ thưa cô Năm, cháu muốn xin cô một việc nầy…

– Việc gì thì mầy nói phứt đi! Sao bữa nay coi bộ mầy lừng khừng quá vậy?

Tư Cầu bẻ bẻ mấy lóng tay:

– Dạ… cháu muốn xin phép cô Năm cho cháu trở dìa xứ…

Cô Năm đang xỉa thuốc ba ngoe vội ngừng tay lại:

– Coi làm gì mà gấp vậy? Mầy dìa dưới hổng sợ tía mầy sao? Rồi công việc mua bán đăng đăng đê đê ngoài quán cơm ai vô đây thay thế cho mầy?

– Dạ… cháu đã nhứt định như vậy rồi.

Cô Năm vói tay níu Tư Cầu xích lại gần và dịu dàng nói:

– Cháu Tư à, chắc cháu cũng dư biết là hồi nào tới giờ cô đối đãi với cháu hổng phải giống như mọi người làm công khác. Cô coi cháu cũng hổng khác chi ruột thịt và có việc này cô tính để thủng thẳng rồi bàn tính với cháu, nhưng sẵn có dịp đây cô cũng nói luôn cho cháu rõ…

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi lại:

– Có chuyện chi vậy cô Năm?

Cô Năm dịu dàng đáp:

– Chắc cháu cũng dư biết rằng: nhà cô trước sau hiu quạnh chỉ có một mình cô thôi, bởi vậy từ lâu cô thấy cháu hiền lành dễ thương, chịu khó mần ăn và cũng cui cúc có một mình, cô tính nhận cháu làm con nuôi..

Tư Cầu nhìn sững cô Năm:

– Dạ thưa cô, cháu…

– Ấy, để cho cô nói hết cái đã?… Phải, cô muốn nhận cháu làm con nuôi chớ cô càng ngày càng trọng tuổi, công việc mua bán ngoài chợ bề bề ra đó nếu hổng có người tin cậy coi sóc thì cô khó lòng kham nổi đó cháu!

Tư Cầu cảm động đáp:

– Thiệt cháu không dè cô Năm thương cháu như vậy, cháu hổng biết nói sao để cám ơn. Nhưng cô Năm còn có em, cháu ở dưới Châu Đốc thiếu gì…

– Thì đã đành như vậy rồi, nhưng tụi nó ở xa lắc xa lơ và cũng hổng rành công việc mua bán trên nầy bằng cháu được. Hơn nữa, tụi nó đứa nào đứa nấy cũng có đất đai vườn tược đời nào nó chịu bỏ xứ lên trên nầy.

– Nhưng cháu bề gì cũng là người dưng và cháu khi không nhảy vô như vậy tránh sao cho khỏi tiếng đời dị nghị…

– Coi, cháu để ý làm gì chuyện đó! ăn thua một mình cô đây là đủ rồi. Mai kia mốt nọ cô có nhắm mất buông tay thì phải có người lo cúng quảy giỗ chạp cho cô chớ! Và rủi khi trái gió trở trời, cô có nằm xuống thì cũng có người lo thuốc men và nhứt là trông nom công chuyện mần ăn cho nó chạy như thường chớ!

– Cô nói vậy cũng phải nhưng…

Cô Năm gạt ngang:

– Hổng nhưn nhị gì hết, cháu phải nghe lời cô!

Tư Cầu vội nói mau:

– Dạ thưa cô Năm, cháu dư hiểu cô Năm thương cháu lắm, nhưng cháu đã nhứt quyết trở dìa xứ…

Cô Năm thở dài:

– Thiệt cô đã nói với cháu hết lời mà cháu hổng chịu nghe ! Nhưng nếu cháu muốn về xứ thì cô cũng hổng dám cản gì. Có điều theo cô nghĩ : sao cháu hổng đợi làm ăn kha khá rồi hãy tính cái việc đó, như vậy nó… êm đẹp hơn! Và cũng vì chỗ ấy mà cô nghĩ đến chuyện gây dựng cho cháu đó cháu à!

– Cô Năm nói như vậy càng làm cho cháu khó nghĩ. Nhưng cháu bỏ nhà ra đi thiệt có lỗi vớt tía má cháu ở nhà, bởi vậy cháu rất nóng lòng…

Cô Năm chận ngang:

– Thì cháu dìa thăm hai anh chị ở dưới năm mười bữa rồi trở lên vậy!

Tư Cầu nói gượng:

– Dạ, như vậy cũng kẹt lấm cô Năm à, phần đường xa cách trở, phần thì… lần nầy cháu có dìa nhà thì thế nào ông già cháu ổng cũng giữ riết ở dưới chớ đâu để xổng ra nữa…

Cô Năm nhíu mày nhìn Tư Cầu:

– Đâu có dữ vậy cháu! Thiệt cô hổng biết cháu nghĩ sao mà cứ nồng nặc đòi dìa như vậy. Cháu tính kỹ lại đi cháu, cái gì cũng vậy nếu mình hốp tốp thì sau hối lại không kịp đa!

Tư Cầu quả quyết đáp:

– Dạ cháu cũng đã suy nghĩ tới lui nát nước hết rồi… Và cháu định xin cô cho cháu lãnh lợi số tiền mà cháu nhờ cô cất giùm tự bấy lâu nay. Cháu muốn đi cho kịp cái Tết sắp tới đây để đem chút ít tiền đó dìa cho tía má cháu mừng… Hổng nói giấu gì cô, ở dưới nhà cũng túng thiếu lắm.

– Như vậy cháu càng nên ở nán lợi đây ráng mần thêm cho được mớ nhấm nữa mới phải!… Hay là cháu ra nhà dây thép mua măng đa gởi tiền dìa lần lần đi!

– Dạ chỗ cháu ở nhầm nơi trong gọn cùng trẹo đường đi hết nên thơ từ hổng dễ gì vô tới được cô Năm à… Dầu sao cháu cũng phải dìa dưới cho kịp cái Tết nầy, chớ nếu không, cháu ở trên nầy cứ khắc khoải hoài thì rồi cũng hổng mần ăn cái gì cho nên thân nên hình được. Cháu biết cháu tính như vậy là phụ tấm lòng tốt của cô Năm lắm. Cô Năm có giận thì cháu cũng xin chịu chớ hổng biết nói sao…

Cô Năm thở dài đưa tay kéo lấy ô trầu lại gần để thêm một miếng khác và nói:

– Thôi được, cô đã nói hết lời mà cháu hổng chịu nghe thì biết làm sao! Vậy chừng nào cháu định chắc ngày dìa, cháu cho cô biết để cô tính tiền trả lợi cho.

Tư Cầu mau miệng đáp:

– Dạ, cháu tính mần hết nửa tháng nầy…

– Cha, cái gì mà nôn quá vậy? Mà thôi để gần tới đó cháu nhắc chừng cho cô nghen cháu!

Tư Cầu mừng rỡ nói:

– Xin cám ơn cô Năm! Cô Năm đi nghỉ kẻo khuya rồi.

– Ờ, cháu cũng đi ngủ đi. Cô còn ăn miếng trầu nầy đã! (rồi cô buồn bã than tiếp)… Thiệt cô có tuổi rồi, đêm nào cũng vậy, cứ thức trỏm lơ đến hai ba giờ sáng chớ có ngủ nghê gì mấy đâu?

Tư Cầu ái ngại nhìn cô Năm một hồi rồi lặng lẽ đi ra hàng ba ngoài lật ghế bố ra ngủ.

Nói là đi ngủ chớ thật tình Tư Cầu năm thao thức gần hết đêm để… suy tính quanh quẩn nội cái chuyện trở về xứ…

Tư Cầu vừa đi tới ngạch cửa của nhà con Ba là lên tiếng kêu vọng vô:

– Ba ơi, em có ở nhà hông em?

Con Ba đang nằm dài lên sạp ván xem tiểu thuyết nghe tiếng Tư Cầu gọi, liền liệng cuốn sách xuống và ngoái vội đầu ra phía ngoài:

– Vô đây cưng! Sao tự hổm nay mất biệt hổng thấy mặt mày đâu hết vậy?

Tư Cầu tươi cười bước vô:

– Thì người ta đây nè!

Con Ba ngồi nhổm dậy vừa đưa hai tay lên bới lại tóc vừa hỏi:

– Sao, bộ hôm nay đến để từ biệt hả? Nghe anh nói anh sắp dìa xứ mà!

Tư Cầu không trả lời vội mà đứng lặng nhìn hai cánh tay trắng xanh, dịu nhiễu, nhìn cái ức quá quen thuộc kia…

Con Ba lại hỏi thêm:

– Bộ câm hả? Ai hớp hồn anh mà anh đứng như trời trồng đó? Em hỏi mà anh hổng nghe sao?

Tư Cầu bỗng nhiên như nghĩ ra một điều gì quan trọng lắm, vội nắm chặt lấy tay con Ba lấp bấp nói:

– Hay là… hay là em theo anh dìa ở dưới luôn! Phải đa em, em nên nghĩ đến mai sau nầy… đời em đâu có thể… lăng nhăng như vầy hoài được! Tụi mình kéo nhau dìa dưới đi, rồi tính chuyện mần ăn thế nào cũng khá em à!

Con Ba cảm động rưng rưng nước mất và nghẹn lời. Tư Cầu thấy vậy tưởng nó thuận chịu nên hăng hái chêm vô thêm:

– Tụi mình đi một lượt nghen em! Em khôn ngoan lanh lợi, anh thì chịu khó, chịu cực được, như vậy tụi mình phát lên mấy hồi.

Con Ba khẽ lắc đầu, rồi mỉm cười thương hại đáp:

– Hổng được đâu anh à!

Tư Cầu trợn mắt hỏi lại:

– Coi, sao lại hổng được? Bộ có cái gì cản trở hả?

Con Ba đưa tay vỗ nhẹ nhẹ vào vai anh ta:

– Hổng phải đâu … Nhưng tụi mình hổng có hợp nhau anh à, mặc dầu em rất thương yêu anh, quý mến anh.

Tư Cầu chắc lưỡi than:

– Thiệt em nói cái gì mà trặc trẹo quá! Thương nhau mà hổng chịu sống với nhau? Cha, cái nầy mới thiệt là… kỳ đời đa!

Con Ba chậm rãi nói:

– Có cái gì rắc rối đâu mà anh kêu là kỳ chớ! Đó anh coi: em quen sống như… con ngựa sút xiềng ở giữa chốn thị thành, rồi dìa dưới làm sao xoay trở được? Đây nè: đi cấy, đi gặt gì em cũng… bù trất, xuống ruộng thi sợ đỉa, còn nấu cơm, nấu nước gì cũng không ngơ, ăn nói thì lụp chụp, tánh tình lông bông… như vậy làm sao em có thể làm dâu, làm con hai bác ở dưới được ! Em nói thiệt tình như vậy chớ hổng phải em dám chê bai gì đâu… chắc anh dư rõ bụng em!

Tư Cầu thất vọng lặng thinh. Thấy vậy, con Ba xề lại ôm ghịt lấy cổ anh ta và nói giỡn:

– Mà thân phận anh mê mê ra đó, anh lo chưa xong lại còn tính đèo bồng thêm em dìa dưới nữa cho chết dính chùm với nhau hả? Anh dìa chuyến nầy hổng đủ cho ông già ổng mần thịt anh, vậy mà anh còn tính dẫn xác em theo nữa để cho ổng… cạo đầu luôn một lượt phải hông!

Nghe con Ba nói có lý, Tư Cầu cụt hứng, không biết nói năng ra sao chỉ ngồi thừ mặt ra dó thở dài…

Tư Cầu cùng với con Ba, Sáu Cẩu và thằng Năm kéo nhau ra bến tàu. Hôm nay là ngày Tư Cầu rời Nam Vang về xứ, nhưng nét mặt anh ta có vẻ đăm chiêu chớ không hớn hở vì sắp tái hợp với gia đình sau một thời gian xa cách khá lâu và sau một khoảng đường đời biến đổi khá nhiều…

Bốn đứa nó cứ lặng thinh bước đi đều đều. Một hồi lâu sau, để phá tan cái không khí nặng nề ấy. con Ba lên tiếng hỏi Tư Cầu:

– Bộ cô Năm cổ hổng ra đưa anh xuống tàu sao anh Tư?

Tư Cầu như sực tỉnh vội đáp:

– Cô Năm hả? Cổ mắc lo trông coi mua bán đâu có rảnh mà đi! Anh đi rồi thế nào cô cũng mệt lắm đa! Tội nghiệp, hồi nãy thấy cổ sụt sịt khóc căn dặn anh dìa rồi nhớ lên mau, làm anh cũng cầm lòng không đậu…

Con Ba nói theo:

– Cha, tội nghiệp cô quá há!

Nghe con Ba than phiền cho cô Năm, Tư Cầu buồn bã nói:

– Thiệt anh chỉ gây phiền lụy cho nhưng người thương mến anh..

Con Ba tiếp liền theo :

– Thì cũng như… người mà anh thương mến đã để phiền lụy cho anh vậy!

Tư Cầu cười đáp:

– Cũng đâu đó!

Thấy Tư Cầu hơi vui trở lại, con Ba nheo mắt ngắm nghía anh ta từ đầu đến chân, rồi day qua nói với Sáu Cẩu và thằng Năm:

– Cha, bữa nay tao coi bộ anh Tư “xi-kên” lại bảnh tỏn quá tụi bây!

Cả Sáu Cẩu cùng thằng Năm quay đầu lại nhìn: hôm nay Tư Cầu mặc quần tây xanh dài, áo-sơ mi trắng dài tay, trên đầu đội một chiếc nón tây lợp vải ka-ki, tay xách chiếc va-li nhỏ và chân thì đi dép da…

Tư Cầu nghe con Ba trầm trồ và bị hai đứa kia nhìn soi mói nên đâm ra mắc cỡ. Anh ta quơ quơ chiếc va-li như để khỏa lấp vẻ ngượng nghịu rồi cười nói:

– Sao mấy người coi tui có… được hông?

Sáu Cẩu lanh miệng đáp:

– Ý, bảnh giàn trời chớ “được” khỉ gì! Cha, chuyến nầy anh dìa dưới thiếu gì cô đâm đầu vô chết mệt nghen!

Tư Cầu nghe nói vậy lắc đầu lia lịa:

– Thôi, cái gì thì được chớ chuyện đó thì tui tởn luôn rồi!

Con Ba cười rộ lên rồi hỏi lại:

– Có chắc hông?

– Hổng chắc gì nhưng bây giờ thì tui… cứng bóng vía lắm rồi. Có vậy thôi!

Thằng Năm cũng nói chen vô:

– Ờ, tui coi bây giờ anh Tư ảnh khác xa với hồi tui gặp ảnh ở bến sông. Cái hồi tui đến xin me với mắm ruốc của anh đó, anh Tư!

Tư Cầu trìu mến nhìn thằng Năm:

– Mầy nhớ dai quá há! Thiệt mới đây mà mau quá… Tao nhớ hồi nào tao lơn lơn ôm gói quần áo lên trên nầy… (anh ta nhìn xuống chiếc va-li rồi nói thêm) Ừ gói quần áo bọc trong tờ giấy dầu cũ mèm, chưn thì mang đôi guốc vông lẹp kẹp, mình mặc bộ bi-ra-ma sọc bèo nhèo, tóc tai chôm bôm, cổ thì quấn chiếc khăn tắm lên nước hôi rình…

Con Ba lại lên tiếng:

– Đó anh thấy hông, hồi nãy em nói với tụi nó là anh mới “xi-kên” lại mà! Như vậy chuyến nầy anh có dìa dưới thì thiên hạ cũng có phần… ngán đa!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Ngán khỉ gì! Lo ông già ổng quánh tuột xác đây nè! Nhưng cũng được cái là chuyến nầy anh dìa cũng hổng đến nỗi như… con chó đói cụp đuôi xụ tai! Em hổng biết chớ hồi anh ra đi chỉ có một bộ đồ bà ba đen phèn và hổng có một xu teng dính túi! Bây giờ thì… cũng đỡ rồi.

– Em đã nói, bảnh tỏn và ngon lành chớ “đỡ” khỉ gì! Để anh coi, anh dìa chuyến nầy êm ru bổng ai động tới cái lông chưn anh nữa.

– Em nói sao quá lố!

Tuy nói thế nhưng Tư Cầu vẫn thấy khoan khoái trong lòng…

… Xuống tới dưới tàu, Tư Cầu lo đi mướn sẵn một chiếc ghế bố đề nghỉ lưng cho khỏe trong suốt chuyến đi.

Xong xuôi đâu đó, anh ta cùng với con Ba, Sáu Cẩu và thằng Năm kéo nhau đứng dựa vào lan can sắt tàu nói chuyện để chờ giờ tàu mở đỏi…

Con Ba tháo chiếc vòng bạc chạm đeo nơi lay trao cho Tư Cầu:

– Nè anh Tư, anh cầm lấy chút vật mọn nầy để… làm kỷ niệm.

Tư Cầu giữ lấy bàn tay của nó, xô nhẹ trở lại:

Coi, em đừng mần như vậy… kỳ lắm. Anh mang ơn em nhiều lắm rồi, em đưa cho anh rồi lấy gì mà đeo ?

– Ối, thì kiếm cái khác thiếu gì! Anh cầm đi, hông thôi em giận đa!… Mà nếu anh hổng chịu lấy, chút nữa tàu chạy, em cũng quăng đại xuống dưới nầy.

Tư Cầu nhăn nhó:

– Mà anh lấy cái vòng nầy tế mồ anh hay để mần chi? Nhè đàn ông con trai mà em đưa cái thứ đó rồi biểu lấy, thì lấy sao được?

Con Ba mỉm cười đáp:

– Anh sao thiệt thà quá cỡ! Em muốn trao cho anh chiếc vòng đó là để mai mốt gì đây anh có cưới vợ, anh sẽ tặng lại cho vợ anh… và như vậy mỗi lần anh thấy chiếc vàng bạc nầy trên cườm tay của chỉ, thế nào anh chẳng nhớ chút đỉnh tới em!

Tư Cầu không ngờ con Ba nghĩ tới việc xa xôi như vậy. Anh ta cảm động nắm chặt lấy chiếc vòng trong bàn tay, nghen ngào nhìn sững con Ba…

Một hồi lâu sau, Tư Cầu mới thốt ra được hai tiếng “cám ơn” cụt ngủn, rồi vội vã rút chiếc bóp da trong túi quần sau ra, thận trọng đặt chiếc vòng bạc của con Ba tặng vào một ngăn còn trống.

Con Ba mỉm cười đứng yên nhìn những cử chỉ của Tư Cầu và có vẻ hài lòng. Nó đưa tay vuốt nhẹ má của Tư Cầu, một người đàn ông mà nó yêu thương một cách đặc biệt hơn ai hết mặc dầu nó vẫn dư biết không thể nào sống chung với nhau được như một cặp vợ chồng…

Sáu Cấu tự nãy giờ đứng lặng thinh chứng kiến cảnh tượng cảm động đó bỗng tằng hắng lay giọng rồi lên tiếng:

– Phần của Ba rồi, bây giờ tới phiên tui chớ!

Tư Cầu lẫn con Ba đều quay đầu nhìn lại. Sáu Cẩu móc trong túi quần ra một gói nhỏ có buộc dây đàng hoàng và trao cho Tư Cầu:

– Đây, phần của tui đây, anh cầm lấy… thảo anh Tư?

Tư Cầu làm bộ cự nự:

– Gì nữa đó cha nội? Cha, bữa nay anh nầy cũng bày đặt quá ta!

Sáu Cẩu hơi phật ý:

– Coi, anh nói vậy mích lòng lắm đa nghen! Tui với anh, tụi mình coi vậy chớ cũng có nhiều tình nghĩa với nhau mà… Anh hổng nhớ có lần tụi mình tính giết nhau đó sao?

Tư Cầu vội siết chặt lấy tay Sáu Cẩu và cười đáp:

– Sao hổng nhớ! Vậy chớ anh tính cho tôi gói gì đó?

Sáu Cẩu có vẻ vừa ý nên hấp tấp nói:

– Thì có gì đâu… anh dìa xứ, Ba nó tặng anh chiếc vòng bạc đeo tay để anh dành cho chỉ sau này, còn phần tui, tui xin gởi anh em một chiếc xà rông tơ nầy (vừa nói Sáu Cẩu vừa nhét gói đồ vào tay Tư Cầu) để đem dìa cho bác trai ở dưới nhà… Xà rông tơ Nam Vang xài bền lắm đó anh, chắc ở dưới cũng hiếm lắm!

Tư Cầu tay cầm lấy gói đồ, tay đặt lên vai Tư Cầu, tha thiết nhìn người… bạn Nam Vang và nói:

– Tui không dè anh có lòng nghĩ đến tía tui như vậy. Thiệt tình, nếu anh có cho tui bạc muôn tui cũng hổng quý bằng chiếc xà rông tơ nầy. Cha, chắc ông già tui ổng khoái chí tử đa!

Con Ba cũng cười và chen vô nói:

– Thôi như vậy là đủ hết rối đó hén! Với chiếc vòng của tui gởi anh và chiếc xà rông của thằng Sáu tặng, bên tình bên hiếu bên nào cũng có hết phải hông anh Tư?

Tư Cầu lườm nó:

– Em sao nói bậy hoài! “Hiếu” thì được chớ “tình” có cái con khỉ gì đâu mà em nói hổng biết!

– Ối, cái chuyện đó… mấy hồi anh

Nhưng vừa lúc ấy, thằng Năm ở phía ngoài chen vô đứng gần một bên Tư Cầu và nói to lên:

– Thôi chớ, mấy người ai cũng có phần nấy xong xuôi hết rồi, bây giờ đến phiên tu !

Tư Cầu níu lấy tay nó kéo lại gần thêm một chút nữa và vui vẻ nói:

– Phải rồi, bay giờ tới phiên thằng em nuôi của tui! Sao, trước khi tụi mình chia tay, mầy có cái gì cho tao phải hông Năm?

Thằng Năm xăng xái đáp:

– Thì lẽ dĩ nhiên rồi! Bộ anh khi thằng nầy… không ngơ đối với anh hả? Ê, coi vậy của tui cũng bảnh hổng chịu thua mấy người kia đâu nghen!

Con Ba thấy nó dài dòng như vậy nên nạt ngang:

– Thôi đi mầy! Mầy có cho ảnh cái gì thì đưa phứt mẹ nó đi, chớ cứ đứng đó nói năm trên năm dưới hoài, tàu chạy mất đất bây giờ!

Thằng Năm bị chị nó xía vô phá đám như vậy đâm ra bực mình:

– Cha, chị nói chuyện với ảnh ỉ ôi cả giờ đồng hồ thì được hén, còn tui mới thọc mỏ vô là chị dẹp qua một bên liền! Chị khôn quá há! Thử hỏi chị : nếu hông có tui quen với anh Tư đây trước thì chị khỏi có biết đi!

Con Ba bật cười:

– Thì thôi, anh Tư của mầy đó, mầy làm gì đó thì làm đi!

Tư Cầu cũng hỏi lại nó:

– Sao Năm, mầy tính cho tao cái gì đây hả?

Thằng Năm móc trong túi ra một cái ống điếu cối trịnh trọng cầm nơi tay và nói:

– Tự nảy giờ, chị Ba thì cho vợ… hổng biết chừng nào cưới của anh một chiếc vòng đeo tay, còn anh Sáu thì cho bác dưới nhà chiếc xà rông tơ… quanh đi quanh lại anh chưa được hưởng món gì ráo vậy thì thằng em anh xin lặng anh cái ống vố nầy…

Tư Cầu cầm lấy cái ống điếu mân mê trong tay rồi vỗ vai thằng Năm: Cha, cái ống điếu lên nước mun ngời tốt quá! Tao ưng ý lắm đa Năm. Rồi đây, khi dìa dưới mỗi khi tao ngậm cái ống vố nầy… tao chắc nhớ mầy ghê làm đó Năm à!

Thằng Năm nghe nói vậy cũng mát ruột. Nó lấy ngón lay chỉ vào khoảng giữa cán ống điếu và bảo Tư Cầu :

– Anh coi kỹ nè anh Tư: ống điếu này thứ thiệt ở bên tây chớ hổng phải thứ rẻ tiền, tiện ở bên nầy đâu… có cái chiếu sáng chói đó anh.

Tư Cầu nhìn kỹ một hồi rồi trợn mắt hỏi nó:

– Cái nầy mấy “thổi” của ai chớ làm gì mầy có tiền mua nổi?

Thằng Năm lúng túng đáp:

– Thì phải rồi… tui xí được của một ông Tây ngồi đánh giày đó mà…

Con Ba cũng nói chen vô:

– Ối thôi anh Tư ơi, anh hơi sức đâu mà thắc mắc mấy chuyện đó hổng biết! Anh cứ cầm lấy đi cho thằng Năm nó… vừa bụng!

Tư Cầu nhìn thằng Năm lắc đầu rồi cười nói:

– Cha rồi đây có bận tao đang ngậm cái ống vố nầy có ông Tây nào đến nhìn ra của ổng, ổng đập tao bể họng thì nguy quá!

Thằng Năm thiệt thà đáp liền:

– Ối, anh đừng lo chuyện đó: anh dìa ở tít mù đâu đâu, còn thằng Tây nầy tui biết nó ở biệt trên Xiêm-rệp lận mà!

Một hồi lâu sau, thằng Năm níu tay Tư Cầu và ngước mắt lên hỏi nó:

– Anh Tư à, anh dìa dưới rồi bao giờ nữa anh mới trở lên anh Tư?

Câu hỏi bất ngờ của thằng Năm làm cho Tư Cầu vừa cảm động vừa lúng túng. Anh ta vịn lấy vai của thắng Năm rồi lập cập đáp:

– Tao dìa chuyến này… chắc cũng hơi lâu đa Năm! Nhưng thế nào tao cũng trở lên…

Nói đến đây, Tư Cầu chợt bắt gặp cái nhìn đau xót của con Ba và vẻ mặt ủ rủ của Sáu Cẩu nên nín bặt.

Mấy hồi còi tàu vang lên làm cho Tư Cầu thêm xót trong lòng. Con Ba, Sáu Cẩu và thằng Năm đứng lặng thinh nhìn anh ta như để cố thâu vào tâm khảm một hình bóng sắp ra đi, rồi chẳng may chốc sẽ phai mờ rong cách biệt và trong những biến đổi của cuộc đời.

Tư Cầu nghẹn ngào nói:

– Thôi em Ba, anh Sáu và thằng Năm đi lên trên bến đi, tàu sắp chạy rồi đa!

Nhìn thấy kẻ lên người xuống nườm nượp chỗ cửa tàu, Sáu Cẩu cũng day qua nói với con Ba:

– Mình lên đi Ba, chớ để chút nữa mất công chen lấn lắm.

Con Ba thở dài:

– Ừ lên thì lên… (rồi nó nói với Tư Cầu) Thôi, để tụi tui lên trên cầu tàu đứng nghen anh Tư?

Tư Cầu khẽ gật đầu.

… Tiếng xuplê tàu lại vang lên nôn nả!

Những tiếng xúp-lê tàu quen thuộc cũ, mà khi ra đi cũng như lúc trở về, Tư Cầu vẫn cảm thấy sao nặng trỉu u hoài…

Mấy người phu tàu bắt đầu mở đỏi. Máy tàu đã chuyển động xình xịch làm át cả những tiếng nói chuyện ồn ào của hành khách.

Tư Cầu ênh người ra khỏi lan can sắt, đưa tay ngoắc ngắc bọn con Ba:

– Thôi, tui dìa nghen em Ba, anh Sáu! Tao dìa nghe Năm!

Ba đứa nó đứng trên cầu tàu cũng bước xích lại gần mé cầu thêm chút nữa và cùng đáp lại:

– Anh Tư dìa mạnh giỏi!

Và thằng Năm còn chêm thêm một câu:

– Nhớ lên mau nghen anh Tư! Tụi nầy mong anh dữ lắm đa!

Tàu đã bắt đầu tách bến…

Tư Cầu lần lượt vói nằm lấy tay của thằng Năm, của Sáu Cẩu và của con Ba…

Anh ta giữ rất lâu bàn tay nhỏ nhắn và âm ấm của con Ba. Hai đứa nó yên lặng nhìn nhau : con Ba hơi mỉm cười còn Tư Cầu thì như sắp khóc đến nơi được.

Thấy tàu đã tách khỏi bến non một thước, con Ba chớp mắt liền mấy cái như để dồn nén những xúc động rồi gượng cười bảo Tư Cầu:

– Thôi… anh đi mạnh giỏi nghen anh Tư. Khi nào tiện anh nhớ viết thơ lên em nghen! Anh gởi thơ chỗ cô Năm rồi em đến hỏi thăm chừng chừng cũng được…

– Ừ anh nhớ mà!

Con tàu chậm rãi rời khỏi bến và bàn tay của con Ba cũng theo đó mà từ từ tuột nhẹ ra khỏi bàn tay của Tư Cầu.

Chợt nhìn thấy Sáu Cẩu ái ngại đứng nhìn mình với con Ba, Tư Cầu vội đưa tay quẹt mũi rồi ráng nói giỡn với Sáu Cẩu một câu:

– Ê anh Sáu! Bây giờ tui giao em Ba đây cho anh dó.

Sáu Cẩu đang buồn xo cũng bất tức cười:

– Được rồi! Mà sao… giao trễ quá vậy cha!

Con Ba nghe nói vậy cũng cười xòa.

.. Chiếc tàu đã chạy ra giữa sông và môi lúc mỗi cách xa thêm bến sông Nam Vang. Tư Cầu vẫn tựa người vào thành lan can nhìn trân trối lên phía cầu làu.

Bọn con Ba, Sáu Cẩu và thằng Năm vẫn đứng yên trên ấy…

Tư Cầu vẫn không rời mất khỏi hình dáng mảnh khảnh của con Ba, một hình dáng mà nó quá quen thuộc qua biết bao giờ phút mặn nồng hình dáng ấy, nó dư biết, rồi đây nó không bao giờ gặp lại được, không bao giờ còn ôm ấp lại được nữa nhưng đó lại là một hình dáng không dễ gì quên…

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 22nd Apr 2021

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Kỳ cuối

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ.

Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Nghe chuyện này, tuy bụng tôi không tin, nhưng tôi cũng không dám hoàn toàn phủ nhận. Việc quốc gia đại sự quả là quá lớn lao, quá rắc rối và quá bí mật, ngoài tầm nhìn và tưởng tượng của một sĩ quan cấp thiếu tá như tôi. Tôi dặn chú Phước phải kín miệng không cho ai biết tin này, vì nói cho nhiều người biết, thì anh em trong đơn vị sẽ hoang mang ngay.

Tôi đưa trả lại cho Trung úy Phước cái bì thư chứa tờ lệnh thuyên chuyển có chữ ký của Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, rồi hỏi,

– Cám ơn Phước đã cho anh biết tin này. Bao giờ thì chú lên đường đáo nhậm đơn vị mới?

Phước trố mắt nhìn tôi,

– Ủa! Anh Hai nói cái gì lạ vậy? 

– Anh muốn biết ngày nào chú từ biệt Tiểu Ðoàn 82 để anh cho lệnh Câu Lạc Bộ mở tiệc tiễn chân chú!

Nghe tôi hỏi, Phước vội giơ cái bì thư lên, rồi xé nhỏ nó thành nhiều mảnh trước mắt tôi,

– Ðã có lần em nghe Anh Hai chửi, “Em là một thằng hèn!” rồi. Từ đó cho tới chết, em không muốn nghe Anh Hai lặp lại câu đó lần thứ hai!

Tôi nhìn thấy hai mắt thằng em tôi đang đỏ lên dần dần, nó sắp khóc!

“Anh Hai” là biệt danh của tôi thời gian tôi chỉ huy những tay súng yêng hùng của Viễn Thám Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 tung hoành khắp núi rừng Vùng 2. Chỉ có những người mà tôi thân thiết lắm mới được phép gọi tôi là “Anh Hai”.

Tôi cười, vỗ vỗ nhè nhẹ lên vai Phước,

– Ðừng khóc! Anh biết thế nào chú cũng không bỏ anh! Rồi tôi kéo tay Phước xuống Câu Lạc Bộ, tại đây chú Ðặng Thành Học đang ngồi chờ tôi xuống thưởng thức món thịt nai xào lăn. Toán tuần tra hướng Nam của Ðại Ðội 1/ 82 vừa bắn được một con nai khá lớn đang đi ngu ngơ trên đường.

Kỳ tiếp tế này, anh em trong đơn vị đề nghị không mua gà, mà dồn tất cả tiền thực phẩm tươi mua bốn con heo thật to để ăn Tết. Khu nhà bếp trở thành cái chợ, với những tiếng người nói chuyện om sòm cùng tiếng heo kêu inh ỏi. Bên khu gia binh, các bà vợ lính cũng đang vây quanh một cái poncho, trên đó là một con heo nhỏ vừa bị xẻ thịt. Con heo nhỏ này do ông tiểu đoàn trưởng xuất tiền của Câu Lạc Bộ mua tặng vợ con binh sĩ đã từ Pleiku, Ban Mê Thuột lên đây ăn Tết.  Chiều cuối năm Giáp Dần, ngồi trên bờ đất của tiền đồn Kiến-Ðức dõi mắt về phương Bắc, tôi tưởng tượng ra một căn nhà nhỏ ở đường Hàm Nghi, Ban Mê Thuột, trong đó có người vợ tôi yêu, cùng ba đứa con tôi.

Giờ này chắc vợ con tôi cũng nhớ tôi lắm?

Giao Thừa tới chầm chậm…

Có tiếng kinh cầu nguyện của các bà vợ lính vọng lên từ dưới đường Tỉnh Lộ 344.

Năm Ất Mão 1975 tôi đã đón chúa Xuân về trên một tiền đồn biên giới cực Nam của Vùng 2 Chiến Thuật.

Hướng Bắc của tiền đồn này là một trung đoàn địch, hướng Nam còn có cả một sư đoàn của Cộng Quân.

Nhưng tôi an tâm vô cùng, vì dưới tay tôi hiện thời có hàng trăm tay súng dũng mãnh, can trường.

Chuẩn úy Lê Văn Phước từ dưới Câu Lạc Bộ đi lên, trao cho tôi một tờ báo Xuân và một bó hoa của ông Cha Xứ gửi tặng đơn vị.

Cầm bó hoa trên tay, quay mặt về hướng thành phố Gia-Nghĩa, tôi thì thầm cho gió mang về hậu phương lời chúc đầu Xuân:

“Chúc đồng bào một năm mới an khang và thịnh vượng!”

VML

Seattle tháng 12 năm 2020

Đường Về Gia Nghĩa

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 16th Apr 2021

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Kỳ 15

Chiến tranh Việt-Nam chấm dứt đã gần nửa thế kỷ rồi. Nhưng đối với những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa, thì kỷ niệm của những ngày gian khổ ấy không dễ gì có thể bị xóa nhòa trong ký ức của họ. Mỗi trang hồi ký của những người tham chiến chính là những tiểu đoạn của bộ phim dài ghi lại toàn bộ những gì đã xảy ra trong cuộc chiến đẫm máu kéo dài hai mươi năm trên đất nước chúng ta.

Sau khi chiếc L19 đảo cánh trên một khu rừng tranh ra dấu, lập tức chiếc tải thương hạ xuống khẩn cấp.

Biệt Ðội Trực Thăng 259 B Tản Thương và Tìm Cứu đã hoàn thành công tác một cách vô cùng nhanh nhẹn và gọn gàng. Không rõ do lệnh của giới chức nào, mà anh pilot lâm nạn không được chở đi luôn, mà lại bị thả xuống phi trường Gia-Nghĩa. Tôi và Trung tá Hoàng Kim Thanh cũng đáp xuống đây.

Anh trung úy phi công F5 chỉ bị xây xát nhẹ, máy móc truyền tin dùng để phát tín hiệu kêu cứu của anh đã bị hư, nhưng nhờ tấm banner màu da cam mà L19 đã phát hiện ra anh ta.

Chiếc C&C của tôi không được biết chuyện này, vì ông phi công L19 sợ rằng chúng tôi sẽ bay vòng vòng trên đầu, làm lộ vị trí của người bị nạn.

Ở phi trường có sẵn chiếc Jeep của Trung tá Hoàng Kim Thanh. Tôi mượn chiếc xe này để chở anh pilot F5 ra quán hủ tiếu của bà già người Tàu, ngoài chợ Gia-Nghĩa.

Ăn uống xong, chúng tôi chia tay, anh bạn Không Quân trở lại phi trường, tôi về Kiến-Ðức.

Từ ngày đó tôi không còn được Ðại tá Quang chia sẻ những phi tuần dự trù nữa.
Bẵng đi ít bữa, ông trung tá liên đoàn trưởng cho tôi hay, ông nghe đồn rằng, tháng trước anh pilot F 5 này đã bị phòng không Việt-Cộng bắn hạ ở Phước-Long, nên An-Ninh Quân-Ðội nghi ngờ anh ta đã “phá tàu” vì lạnh cẳng, chứ không phải máy bay của anh ta bị địch bắn trúng.

Vài ngày kế đó tôi bị gọi về Gia-Nghĩa để gặp mặt người thiết lập bản tường trình ủy khúc vụ chiếc F5 lâm nạn.

Ông ta đưa cho tôi một tờ phụ bản. Trên đó có cái tiêu đề được đánh máy giòng chữ: Ý kiến của nhân chứng Vương Mộng Long.

Cuối tờ giấy cũng có giòng chữ: Chữ ký và ngày tháng.

Nhìn vào bản phúc trình, tôi thấy những nhân chứng khác đều có ý kiến và chữ ký ngay trong hồ sơ.

Tôi là nhân chứng quan trọng nhất, tại sao người ta bắt tôi phải ký phụ bản?

Tôi biết chắc chắn rằng, nếu tôi ký tên vào cái phụ bản ấy, thì nó sẽ bị người ta vứt đi mất tăm, mất tích.

Cái lon trung úy của anh phi công sẽ bị người ta lột mất vì tội “phá tàu”

Lương tâm đã không cho phép tôi toa rập với những mưu đồ ti tiện như thế! Tôi có nhiệm vụ phải bảo vệ đồng ngũ của tôi!

Tôi nói với ông Thiếu tá Sĩ Quan An-Ninh,

– Tôi muốn ghi ý kiến và ký tên trên chính bản, không phải trên phụ bản đính kèm.

Kèo nài vài phút, thấy tôi nhất mực giữ vững lập trường, ông ta đành nhượng bộ, cho tôi ghi vào khoảng trống dưới tên nhân chứng cuối cùng. Tôi đã viết:

“Thiếu tá Vương Mộng Long xác nhận rằng: Tôi đã tận mắt nhìn thấy chiếc F 5 bị phòng không 12.7 ly của Việt-Cộng bắn cháy và rơi tại tiền đồn Kiến-Ðức”

Lời khai của tôi hoàn toàn trái ngược với những lời khai của những nhân chứng khác. Những nhân chứng này làm việc ở văn phòng và trong hầm của Trung Tâm Hành Quân của Tiểu Khu, họ nhìn thấy chiếc F 5 rơi theo cách nhìn riêng của họ.

Tôi thừa hiểu rằng ở Sài-Gòn người ta không tin có chuyện phòng không địch “dám” bắn hạ một cái oanh tạc cơ F 5 trong vùng trời Quảng-Ðức đang thời kỳ “hoàn toàn yên tĩnh” như những bản tin hàng ngày được ông tỉnh trưởng báo về.

Nếu anh bạn phi công F 5 ngày đó còn sống, nếu anh ấy đọc được những giòng chữ này, chắc anh ta sẽ nhớ lại câu chuyện cổ tích xảy ra ở Kiến-Ðức năm nào. Cũng nhân dịp viết hồi ký này, tôi gửi lời cám ơn tới các bạn Không Quân đã giúp tôi cứu mạng anh bạn F5 lâm nạn trong lúc bay yểm trợ cho tôi. Cám ơn ông Biệt đội trưởng, Ðại úy Trịnh Viết Hảo, và các ông Ðại úy Mai Văn Khánh, Ðại úy Nguyễn Văn Ninh, Ðại úy Cát Mad (Mad=Ðiên) cùng các bạn khác trong Biệt Ðội 259B Tản Thương và Tìm Cứu.

oOo

Hạ tuần tháng 1 năm 1975 khi màn đêm buông xuống, thì sương mù cũng giăng kín núi đồi, vầng trăng khuyết cũng ẩn vào trong mây.

Tôi cứ lo địch lợi dụng bóng đêm để chuyển quân từ Bắc xuống Nam rồi cắt đứt Tỉnh Lộ 344, cô lập Kiến-Ðức.

Ðêm nào tôi cũng cho tiểu đoàn thức giấc, báo động nửa khuya.

Tôi căn dặn đàn em, mỗi lúc hỏa châu soi thì mình chỉ nhìn ra một hướng cố định, gắng sức ghi nhớ hình ảnh trước mắt mình, tới lúc trái châu kế tiếp soi sáng, mình sẽ nhận ra những đổi thay nếu có.

Thói thường, khi trái hỏa châu vừa kích hỏa trên trời cao, nghe tiếng “Bóc!” địch sẽ dừng lại, ngồi im.

Khi hỏa châu vừa tàn, chúng sẽ tiếp tục di chuyển.

Bởi vậy, trong thị trường của ta sẽ thấy rõ những thay đổi xảy ra trong khoảng thời gian giữa hai trái hỏa châu.

Hai giờ khuya, tôi và Trung úy Trâm đứng bên hố đại liên của Ðại Ðội 3/82.

“Bóc!” một hỏa châu vừa tỏa sáng. Anh xạ thủ đại liên nắm chân Trung úy Trâm rồi chỉ về hướng trước mặt,

– Trung úy ơi! Lúc trái hỏa châu trước soi sáng, em thấy bên gốc cây có cái gì giống như một bó rơm. Tới lúc trái hỏa châu này sáng lên thì bó rơm biến mất! 

Tôi ra lệnh,

– Bắn!

Thế là khẩu M 60 nhả đạn, súng từ bên trái, bên phải cũng nổ rền theo. Hỏa châu tiếp tục soi sáng. Pháo binh Diện Ðịa ở Nhơn-Cơ cũng bị tôi đánh thức, bắn mười tràng trên hỏa tập dự trù nằm dưới thung lũng.

Tôi ra lệnh bắn, chỉ vì “bó rơm” làm gì có chân mà biết đi?

Sáng hôm sau tôi cho người vào khu đồng tranh sát rào Ðông của căn cứ để kiểm tra trận địa.

Kết quả, không có khẩu súng nào bỏ lại, trên mặt đất có ba tên Việt-Cộng chết, thân mình được phủ bằng những tấm vải dù.

Dưới ánh trăng hay dưới ánh sáng hỏa châu, thì màu của vải dù cũng đồng màu với cỏ tranh, cỏ lau.

Hóa ra, bó rơm mà anh xạ thủ đại liên nhìn thấy đêm qua lại là một thằng Việt-Cộng!

Những ngày sau, tình hình mặt trận Tây Quảng-Ðức hoàn toàn yên tĩnh.

Tình hình yên tĩnh không có nghĩa là ta cứ yên trí nằm khoèo mà ngáy ro ro hay ngồi nhâm nhi trước bàn tiệc rượu hằng giờ.

Tôi đã biết rằng trong trận Phước-Long, chiến xa Việt-Cộng đã đóng một vai trò rất quan trọng.

Do đó, việc huấn luyện các toán chống tank đã được tôi coi như mối ưu tư hàng đầu.

Anh bạn Ðại úy Hoàng Kinh Ngữ, sĩ quan tiếp liệu, tiếp vận của tiểu khu thấy tôi vét hết số hỏa tiễn XM202 và M72 tồn kho của tiểu khu mang về Kiến-Ðức huấn luyện cho lính, nên đã càm ràm,

– Ông thầu hết XM202, và M72, không chừa cho ai khẩu nào, nếu chiến xa Việt-Cộng mà chạy vào đây, thì tụi tôi lấy gì mà bắn?

Nghe vậy, tôi bèn trấn an anh bạn,

– Ðừng có lo! Trước khi xe tank Việt-Cộng có mặt trước cửa văn phòng của ông thì chúng nó phải đi qua Kiến-Ðức.

T54 có thể làm mưa, làm gió ở Phước-Long, nhưng không thể qua nổi cửa ải Kiến-Ðức đâu!   

Gia đình Th/tá Vương Mộng Long – Đalat 10/1974

oOo

Xuân Ất Mão ở Quảng-Đức

Thời gian cuối năm Giáp Dần, thành phố Gia-Nghĩa vui nhộn hẳn lên. Hết hội hè này tới đình đám khác.

Ðêm nào anh em sĩ quan của Tiểu Khu Quảng-Ðức và của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cũng mở tiệc vui chơi, nhảy đầm cho tới khuya.

Sĩ quan của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nghe nói người ta vui quá, nên cũng ngứa chân, ngứa cẳng, cứ nài nỉ tôi cho phép các chú ấy về Gia-Nghĩa nhập cuộc thi tài, lả lướt, Rumba, Mambo, Cha Cha Cha, Tango, Slow…

Tôi cũng thông cảm, nên cho các ông sĩ quan trẻ luân phiên nhau về phố, nhưng mỗi anh chỉ được một đêm thôi.

Thấy cù rủ mãi, mà tôi không chuyển lòng tham gia hội hè, ông Trung úy Trâm và ông Trung úy Pháo đội trưởng bèn đem xe ra phố chở về đồn một tiểu đội nữ sinh trung học đẹp như hoa.

Các cô yêu lính lắm, nên tình nguyện ra tiền đồn hát cho lính nghe.

Tôi còn nhớ, ngày đó bản Pop Rock “Beautiful Sunday” của Daniel Boone đang rất thịnh hành,

Hi hi hi, beautiful Sunday

This is my beautiful day

When you said said said said that you loved me

Oh my, my, my it’s a beautiful day…

Tạm dịch: Xin chào một ngày Chủ Nhật tuyệt vời. Ðây là ngày đẹp của tôi. Khi em nói với tôi rằng em yêu tôi. Ôi trời! Một ngày đẹp tuyệt vời…

Các cô nữ sinh cứ đua nhau, hát đi, hát lại bài này cả chục lần…

Các cô chia nhau ra từng toán nhỏ, đi tới tận đỉnh đồi, cuối dốc, để hát cho lính tiền đồn nghe.

Tôi thấy cả tiểu đoàn mà chỉ có hai cây guitar theo chân hai tốp ca đã xuống núi tới Ðại Ðội 4/82.

Trên đồi còn hai tốp ca khác không có nhạc đệm, nên tôi ra khu súng cối kiếm ông nhạc sĩ cận thị Phan Thành Hoàng,

– Ê! Hoàng! Chú mi mau mau đem guitar ra đệm cho tốp ca của cô áo tím đang hát cho khu gia binh! Lẹ lên!

Anh chàng nhạc sĩ cận thị đỏ mặt, ấp úng,

– Trình Thiếu tá! Em là dân guitar Vọng Cổ. Em có biết tân nhạc đâu mà đệm cho mấy cô?

Nghe chú Hoàng trả lời tôi cũng ngẩn người ra:

“Ồ!…”

Nào ngờ những câu đối đáp của tôi và chú Hoàng lọt vào tai các cô ca sĩ, thế là các cô vội vàng bu quanh hầm súng cối, rồi nhao nhao lên,

– Thiếu tá nói với anh này ca cho tụi em nghe vài bài Vọng Cổ đi! Thiếu tá!

Tôi ra lệnh cho anh chàng nhạc sĩ Vọng Cổ của đơn vị,

– Các cô em gái hậu phương đã hát cho Biệt Ðộng Quân nghe rồi, giờ này tới phiên chú Hoàng phải đáp lễ cho các cô!

Ngay khi ông nhạc sĩ cận thị vừa dạo đầu hai tiếng “Tưng! Tưng!” là tôi tìm đường lui, chạy vào hầm hành quân ngay.

Tôi sợ Vọng Cổ lắm!

Tới chiều hôm đó phái đoàn ủy lạo chiến sĩ mới lên xe về phố, hẹn sang năm sẽ tới thăm chúng tôi lần nữa.

Thế là Tết này các chú tân binh được một ngày vui, hết nhớ nhà, vì được người hậu phương tới tận chiến hào hát cho nghe.

Tôi thấy, ở tiền đồn biên giới thì ngày nào cũng giống nhau, không phân biệt Chủ Nhật hay Thứ Hai, ngày nghỉ hay ngày thường.

Bất cứ ngày nào không có đạn bom rơi, thì ngày đó cũng coi như là “Beautiful Sunday”

Ðầu tháng 2 năm 1975 Ðại úy Ngũ Văn Hoàn và Trung úy Trần Văn Phước xin phép tôi về Sài-Gòn ít ngày để sắm Tết và thăm nhà. Ðây là dịp để ông Hoàn thăm ông cụ thân sinh. Còn ông Phước thì về khoe cái lon trung úy tân thăng với bà con, đồng thời đi coi mắt mấy cô nữ sinh hàng xóm. Bố của chú Phước là ông Chiêm Tinh Gia Trần Cẩm, một thân hào, nhân sĩ rất có uy tín trong khu Phố An-Bình, Chợ Lớn.

Sau ngày Ông Táo về trời thì ông Hoàn và ông Phước cũng trở về tiền đồn.

Quà của ông Hoàn mang về biếu tôi là một hộp thiệp chúc Tết in hoa hòe, hoa sói, hoa mai, hoa đào, dùng để gửi cho bất cứ ai mà tôi ưa. Những tấm thiệp này được cung cấp từ nhà in trong Chợ Lớn của cụ Ngũ Văn Bằng, thân phụ của Ðại úy Ngũ Văn Hoàn.

Trung úy Phước trình diện tôi với vẻ mặt lo lắng, không tươi,

– Thái Sơn vào lều, em có chuyện muốn nói riêng với Thái Sơn.

Tôi dắt Phước vào căn lều tranh, rồi nói với anh lính đứng gác,

– Thằng Ba Rỗ canh cửa, không cho ai vào lều để tao với Trung úy Phước nói chuyện.

Phước mở cái cặp da, kéo ra một tấm bản đồ loại có tỷ lệ 1 trên 150 nghìn (1/150,000) đưa cho tôi rồi hỏi,

– Thái Sơn có quen dùng loại bản đồ này không?

Tôi hơi ngạc nhiên nhưng vẫn trả lời,

– Bản đồ này thường dùng lúc đi bay. Anh không lạ thứ bản đồ này. Nhưng mình đâu cần nó?

Phước móc túi đưa cho tôi một cái bì thư,

– Thái Sơn coi cái này!

Trong bì thư là tờ giấy đánh máy một lệnh thuyên chuyển, với chữ ký của Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Lệnh thuyên chuyển đó cho phép Trung úy Trần Văn Phước đáo nhậm đơn vị mới là Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Trung Ương. Lệnh này có hiệu lực ngay ngày ký.

Chú Phước nhìn tôi rồi hạ giọng,

– Ba em quen thân với Thiếu tướng Giai. Ba em vừa xin, ông Giai chấp thuận liền. Ổng cho phép em về làm việc với Trung tá Sáu ngay sau khi hết phép, không cần quay lại tiểu đoàn nữa.

– Sao Phước không ở trong đó luôn, còn về lại đây làm gì?

Phước lắc đầu,

– Em đâu phải phường vong ân bội nghĩa? Mặt mũi nào mà em bỏ Thái Sơn được?

– Thế còn cái bản đồ tỷ lệ 1 trên 150 ngàn thì để làm gì?

Tới đây Phước ra dấu cho tôi đừng nói nữa, rồi kéo tay tôi xuống căn hầm mà tôi dùng làm phòng riêng của tiểu đoàn trưởng.

Phước cho tôi hay một tin tức mà tôi không thể tưởng tượng đó là chuyện thật.

Phước có một người anh làm việc trong Tòa Ðại Sứ Mỹ.

Ông ta nghe nói Phước nhất định không chịu ở lại Sài-Gòn sau khi hết phép, thì tới nhà trao cho Phước cái bản đồ này, cùng với lời khuyên,

– Nếu em không nỡ bỏ ông Long, thì em nói với ông Long rằng sắp tới đây, người ta sẽ bỏ Vùng 2. Thày trò em phải chuẩn bị lương khô trên lưng, và có sẵn một cái bản đồ để đi từ Vùng 2 tới Vùng 3.

Tôi tin những chuyện mà Phước đã trải qua trong mấy ngày nghỉ phép là có thật. Nhưng tôi cứ thắc mắc về cái vụ ông nhân viên CIA của Tòa Ðại Sứ Mỹ nói rằng quân ta sẽ bỏ Vùng 2, sao nghe mơ hồ và vô căn cứ quá!

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com    

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 24 – Cuối

Cho đến lúc đại chiến lan tràn khắp thế giới thì đám dân Ý chạy sang miền đất tiền đất bạc quả thực là thỏa ước nguyền: những bàn tay cứng tha hồ quơ bạc! Phải nói là tiền chảy vào nhà như nước. 
Ngay dân Hỏa xa còn làm đúp, làm gấp hai chứ chẳng giờ phụ trội gì nữa. Kẻ nào có con tử trận hay bị thương còn lo làm hăng hơn nữa. Có tiền thì bao nhiêu đau khổ cũng phải hết, xưa nay chỉ những thằng nghèo đau khổ lâu hơn cả.
Gia đình Lucia Santa quả sống thời vàng son. Chiến tranh tàn hại nhiều người … nhưng nhà này thì tậu nhà bên Long Island bằng tiền mặt! Lucia Santa quyết định mua hai căn liền kề để mẹ con gần nhau: Larry và Lousia ở căn bên để có gì bà nội còn ngó chừng bầy cháu. Nhà rộng thì mỗi người có quyền có phòng riêng đàng hoàng. Còn có một phòng để chờ thằng Gino mãn lính về ở. 
Ngày cuối cùng dọn dẹp bên nhà cũ, Lucia Santa đâu còn lòng dạ nào thu xếp đồ cùng đám con? Đêm chót nằm một mình trên giường mụ không ngủ nổi. Mụ nằm lắng nghe từng đợt gió tạt vào cửa sổ, những chỗ khe nứt vẫn phải lấy “băng keo” dán lên. Trên vách có những ô vuông màu sáng hơn một chút, những chỗ treo khung hình vừa gỡ ra. Lắng nghe chỗ nào cũng có tiếng lịch kịch, những tủ, những ngăn kẽo kẹt như những hồn ma vừa được thả ra sau bốn mươi năm chung sống trong căn nhà này. 
Cứ nhìn ngược lên trần nhà mãi phát buồn ngủ. Tay mụ tự nhiên đưa ra ôm đứa con nhỏ, tai làm như nghe thấy cả tiếng thằng Vincenzo, thằng Gino đi chơi đêm mò về, có cả tiếng bước chân Frank Corbo nữa. Xem giờ này Lorenzo còn mò đi đâu kìa? Rồi mụ quay sang bảo Octavia “Mày yên trí đi … còn tao thì không ai làm gì được đám con tao hết”. Ô hay, sao mụ thấy cả ông bố hồi ở quê nhà, mụ đến tuổi đi lấy chồng chỉ xin bộ quần áo mới mà không được. Không cho, không an ủi thì sao không khóc được kìa? Lucia Santa cô độc quá . Mụ có muốn di dân đâu, vượt cả một đại dương hãi hùng quá mà? 
Lucia Santa giật mình tỉnh dậy. Căn phòng lạnh quá. Mụ vùng dậy mặc quần áo, lấy cái gối mang ra cửa sổ tựa bực cửa nhìn ra như mọi lần. Mụ ngó xuống đại lộ số 10 mong cho trời chóng sáng và bao nhiêu năm nay lần đầu tiên mới lắng nghe những đầu máy dồn toa xe rầm rầm bên trong khu nhà ga. Tàn lửa đỏ bay tứ tung. Tiếng bánh xe nghiến ken két trên đường ray sắt. Xa xa bờ biển Jersey đen ngòm. Thời buổi chiến tranh đèn đuốc tắt hết, chỉ có những vì sao chiếu long lanh. 
Sáng ra phải đợi xe dọn nhà lâu quá. Bà con hàng xóm vài người chạy tới từ biệt và chúc mừng. Có điều bạn bè cũ đâu còn ai? Họ dọn đi hết. Từ ngày Guido mang thương tích nặng trở về không làm gì được thì lão chủ lò bánh đã dọn sang Long Island, chọn một nơi vắng vẻ nhất. Dù sao cũng còn một ông bạn hàng xóm dọn theo về gần bên: gã chủ tiệm hớt tóc cũng đưa bầy con gái sang lập nghiệp bên Long Island. Ở lại làm ăn sao nổi. Thời buổi chiến tranh đàn ông con trai đi lính hết thì lấy đầu đâu ra mà hớt? Mấy người khác cũng dọn đi mỗi người một nơi lo làm ăn. 
Ai mà ngờ được ông bác sĩ Barbato cũng xung phong đầu quân, sang đánh tuốt bên Bắc Phi và trở thành anh hùng mặt trận đàng hoàng. Các báo đua nhau đăng hình “chiến sĩ kiểu mẫu” Barbato kèm theo nhiều bài ca tụng chiến công động trời làm ông bố xem báo té ra chết giấc, không ngờ thằng con điên khùng láo lếu vậy. Tội nghiệp mụ Teresina! Suốt ngày không dám ra đường vì mắc ở nhà coi chừng đống dầu ôliu, mỡ, chỉ sợ đứa nào vào lấy mất thì sau này lấy gì để chuộc mạng ba đứa con trai? 
Còn Bianco, thằng bạn nhỏ láu cá của Gino ngày nào, không hiểu sao đã không phải đi lính mà lại còn bốc lớn, mua được cả cơ nghiệp đồ sộ bên New Jersey mời cha mẹ qua ở. Vậy thì láng giềng cũ còn ai đâu mà gia đình Lucia Santa không dọn khỏi đại lộ 10 cho rồi? 
Tưởng xe chở đồ của ai … hóa ra của ông chủ Piero Santini! Hồi này khan xe quá, phải bà con quý hóa lắm Piero mới chịu cho xe đến chở giùm, gọi là chút tình người cùng làng cùng nước với nhau. Vả lại dọn nhà đi một chỗ khá hơn thì Piero còn muốn giúp cho mau mau nữa. 
Bà chủ nhà Lucia Santa rót ly cà phê mời ông khách quý và hai người cùng đứng cửa sổ nhìn xuống đại lộ 10 trong khi đó ba chị em Octavia lo phụ giúp khiêng những thùng đồ nhè nhẹ. Những món nặng đã có hai gã phu khuân vác người Ý khỏe như trâu, một tấm lưng trần dư sức gánh một cái giường hay một bàn buyarô khổng lồ. 
Sau một hồi thu dọn rút cục cả nhà trống trơn chỉ còn trần một chiếc ghế đẩu trong bếp. Không lẽ dọn sang nhà mới lịch sự sang trọng quá mà nhè xách theo món đồ rẻ tiền này cho bẩn? 
Để hối thúc mẹ đi mau mau, Lousia dắt cả ba đứa con mò lên. Ba đứa nhỏ thừa dịp nhà dọn đồ đạc đi hết rộng thênh thang tha hồ chạy nhảy, đùa giỡn phá phách những món đồ lặt vặt vô giá trị bỏ lại. 
Có chiếc xe nhà thật sang ngừng trước cửa. Trước kia là xe của ông chủ Di Lucca nhưng nay Larry đã mua lại. Nó đã đánh xe chờ sẵn thì không chần chừ được nữa. Octavia và Lousia phải đuổi từng đứa nhỏ xuống chúng mới chịu xuống cho. Sau cùng cô con gái lớn đến bên mẹ hối thúc: “Thôi mẹ … Đi đi chứ? Đi khỏi cái ổ chuột này cho rồi”. 
Cả nhà ai chẳng nghĩ có tiền tậu nhà lớn chừng dọn đi là Lucia Santa phải hân hoan? Trái lại tự nhiên mụ ngơ ngẩn như người mất hồn. Làm như mụ không bao giờ tin có ngày phải rời bỏ căn nhà này vậy. Mấy đứa con lớn hối thúc, thây kệ. Mụ không đi ra mà trở vào nhà bếp, ngồi sụp trên chiếc ghế đẩu ôm mặt khóc. 
Octavia phải bảo Lousia dắt díu mấy đứa nhỏ xuống trước đi. Một mình nàng ở lại dỗ dành mẹ nhưng giọng Octavia vẫn có gì ấm ức: 
– Xem có gì đâu mà khóc? Tụi nó đợi mẹ nãy giờ rồi. Đi thôi chứ? Mẹ ngồi xe khóc cũng được mà?
Lucia Santa vẫn ôm mặt không đáp! Nước mắt ở đâu cứ trào, ngăn không nổi. Mụ không muốn nhìn. 
Bỗng đâu có tiếng con Lena gắt gỏng: “Đừng giục chứ? Để mẹ yên đi”. Thằng Sal có bao giờ hé miệng nói chơi đâu? Hôm nay nó cũng bảo Octavia: “Chị xuống trước đi … Để tụi tôi xuống với mẹ”. 
Octavia lật đật xuống thang thì Lucia Santa mới mở hé mắt. Hai đứa con út lẳng lặng mỗi đứa đứng một bên mẹ. 
Chao ôi, mới đây mà chúng lớn mau thế này. Con Lena hết còn nhỏ nữa rồi! Nó đẹp quá, đẹp lộng lẫy, nước da nâu, tóc đen lánh. Đôi mắt, chao ôi đôi mắt xanh ngăn ngắt đúng mắt thằng bố mà khuôn mặt nó in hệt thằng anh Gino. 
Thằng Sal đặt tay lên vai mẹ. Cặp mắt nó người lớn quá, điềm tĩnh quá. Nó nhìn mẹ làm Lucia Santa sực nhớ lâu nay hai đứa này vẫn lầm lì ngồi một xó nhà, chúng đã nhìn thấy hết và biết hết. Chúng biết suy xét quá mà? 
Mụ đâu biết đối với hai đứa nhỏ, mẹ chúng lâu nay phải sắm vai trò chính trong vở kịch đời gay cấn quá . Chúng thấy mẹ nghiến răng gánh chịu những cay đắng của số mệnh … nào hốt hoảng những lúc cha chúng lên cơn … nào lo lắng đủ điều cho hai anh Lorenzo, Gino … nào đau khổ rụng rời vì cái chết thương tâm của anh Vincenzo. Chúng biết chứ? Giờ này hai đứa còn đứng đây đợi mẹ, nắm tay mẹ ắt hẳn là chúng đã hiểu cho nỗi lòng một người mẹ thương con, không tội tình gì hết. 
Vậy mà mẹ chúng vẫn cứ ôm mặt khóc trước khi từ giã ngôi nhà cũ! Lucia Santa đâu có thua kém gì ai?
Mụ dư biết cuộc sống nay mai bên Long Island tràn trề hạnh phúc “nhà cao cửa rộng, đầy đàn con cháu”. Sal và Lena sắp bác sĩ và giáo sư đến nơi. Octavia một mình trông nom, đứng đầu cả một nhà may lớn. Lorenzo nghiễm nhiên chủ tịch Nghiệp đoàn, rất là hào hiệp, phân phát công việc cho đám đàn em. Thằng Gino còn đi chiến đấu thật nhưng cả triệu người chết nó vẫn sống nhăn. 
Mụ hoàn toàn khỏi bận tâm đến tiền bạc cơm nước và với đàn con cháu như thế thì còn mong gì hơn? Về già Lucia Santa còn thua kém ai? 
Chao ôi, 40 năm về trước ở quê nhà Lucia Santa đâu có dám mong ước được đến thế này? Bên tai mụ tự nhiên vang vang cả triệu tiếng ai mơ hồ, văng vẳng: “Lucia Santa, Lucia Santa … nơi đất tiền, đất bạc … vậy là mi đã được hậu đãi quá rồi!”. 
Ngồi trên ghế đẩu ôm mặt khóc ròng, mụ muốn cất cao cổ cãi lại. Mụ muốn nói rằng: 
– Đúng … đúng thế là quá rồi thật! Nhưng tôi, tôi muốn được đủ bấy nhiêu mà không phải trả giá đau khổ kia. Được hết mà không phải chôn hai đời chồng, một thằng con yêu dấu kìa. Không phải chịu đựng một thằng con hận đời, không tim. Tôi muốn được hậu đãi mà không phải gánh chịu tội lỗi, phiền muộn, sợ chết, run rẩy đợi ngày tận thế. Tôi muốn được hưởng tử tế kìa! 
Mỹ quốc … miền đất tiền đất bạc … xứ sở của những giấc mộng đại thành … cho nhiều đến thế sao không cho luôn, cho hết? 
Chao ôi, Lucia Santa khóc vì những tội lỗi vụn vặt đối với những người thân. Hồi trẻ thơ cũng từng mơ mộng, mơ mộng nhiều lắm nhưng vĩ đại nhất là chỉ mong sao khỏi đói khát, bệnh hoạn tai ương. Miễn sống được là mừng, đâu dám mơ mộng xa vời? Sang đây, lập nghiệp miền đất tiền đất bạc này đời sống hứa hẹn ấm no nhưng ấm và no đâu có đủ. Nhiều mơ mộng bỗng nảy sinh thêm. 
Nhìn lại đám con mụ. Octavia thường mơ mộng làm cô giáo, chắc vậy rồi. Thằng Vincenzo mơ mộng những gì? Cả một sự khó hiểu không hiểu nổi. Còn thằng Gino? À, thằng này dám mơ mộng nhiều thứ, có lẽ toàn những giấc mơ ngỗ ngược không! Mụ đã khóc nhiều vì nó, lo sợ cho nó, giận hờn nó chồng chất quá thể … nhưng rõ ràng thằng này chỉ ham vui, chỉ mong sung sướng lấy mình. Thằng con mụ, chao ôi, nó muốn làm công tử con nhà giàu dù chính con mẹ nó ngày nào từng làm buồn ông ngoại, đứa con gái cưng từng làm cha đau khổ vì đi lấy chồng dám đòi quần áo mới, tấm khăn trải giường mới. Mà không được mới đau! 
Đúng thế, mụ biết chắc rằng thằng Gino sẽ không trở về nhà nữa, dù hết chiến tranh. Nó hận mẹ như mẹ nó từng hận ông ngoại ngày nào. Rồi đây chính Gino sẽ thoát ly để tìm về những miền đất tiền đất bạc, trong tâm tưởng nó. Tự nhiên Lucia Santa cảm thấy cần cầu nguyện, cần cầu xin Thượng đế gia ơn. Lần đầu tiên trong đời mụ, Lucia Santa lẩm nhẩm: 
Xin Thượng đế dẫn dắt nó trở về, để con nghe tiếng bước chân nó ngoài bậc cửa. Con vui lòng, con nguyện sẵn sàng sống lại 40 năm đau khổ. Con sẽ bắt đấng sinh thành ra con khóc đau đớn và sẽ bỏ quê hương vượt biển ngàn trùng. Con sẽ để mặc cho chồng chết. Con sẽ ôm thằng bé Vincenzo đứng ngoài đường chửi tàn nhẫn con mụ Filomena như ở New Jersey ngày ấy cũng như ôm quan tài nó mà khóc. Con bằng lòng làm lại hết. 
Ôi, cầu xin vậy là quá nhiều! Lucia Santa thoắt ngửng lên: hai đứa con đứng hai bên nhìn mẹ e ngại quá. Chúng lo sợ làm mụ phải mỉm cười. Thấy chúng nó là mụ khỏe hẳn, hai đứa con nhỏ nhất cũng dễ thương quá đi . Dĩ nhiên cả hai đứa cùng Mỹ rặt … nhưng Lucia Santa lấy làm khoái chí. Thà vậy cho chúng khác mụ, không giống ai trong nhà này. 
Thằng Sal hai tay nâng chiếc áo. Mụ chỉ việc xỏ tay vào quá dễ dàng. Giọng con Lena thủ thỉ: “Mẹ à … về nhà mới việc đầu tiên con phải làm là viết thư ngay cho anh Gino”. Mụ nhìn nó cái điệu “nhớ nghe … mình con nhà tử tế… con gái không có nói lớn đấy”. Ôi chao, mụ suýt bậc khóc! Sao con nhỏ giống thằng Gino thế này? 
Thế là Lucia Santa lật đật nhìn quanh, đưa mắt ba bề bốn bên trước khi rời căn nhà 40 năm kỷ niệm. 
Ngoài đường có ba mụ đàn bà bận đồ đen đứng chờ mụ xuống, hai tay khoanh trước ngực. Chỗ quen thuộc quá mà? Một mụ giơ tay gầy guộc lên chào, nói lớn “Lucia Santa … chúc may mắn nghe!”. 
Chúc may mắn! Một lời chúc tử tế, tuyệt không ác ý nhưng bên trong cái giọng cao lanh lảnh ngầm chứa một lời dặn: “Xem chừng nghe? Đời còn nhiều … không phải bấy nhiêu đó mà đã xong … ” Biết chứ? Lucia Santa cúi đầu cảm ơn. 
Cả nhà lần lượt chui vào chiếc xe sang trọng mà Larry còn nôn nóng đưa tay đập đập vô lăng hoài. Nó cho xe chầm chậm để hai chiếc xe chở đồ dọn nhà còn biết đường theo nhằm phía cầu treo Queensberough. 
Mới đầu thấy mẹ sụt sịt khóc … có đứa nào hó hé? Ngồi xe chật chội, mấy đứa con Larry va chạm nhau là đứa nọ đánh đứa kia mách. Mẹ chúng phải quát tháo, đét đít mấy phát mới tạm yên. Cũng nhờ tụi nó mà không khí đỡ nặng hẳn. Cả nhà quay ra bàn tán về ngôi nhà mới. Larry bảo phải ít nhất một giờ nữa mới tới nhà … nhưng nhiều lắm là hai phút thế nào cũng có đứa hỏi “Tới nhà chưa chú? Tới Long Island chưa cô?” Cô Lena và chú Sal chỉ trả lời “Chưa tới … còn lâu” cũng phát mệt. 
Ngồi băng dưới, Lucia Santa quay kính lên cho mát. Mụ bồng một đứa cháu lên lòng. Larry tươi cười nói ngay: “Cả nhà quây quần một nơi mới vui chứ, phải không mẹ?” 
Mụ nhoẻn cười nhìn Lena. Con nhỏ còn khờ quá – cũng như thằng Gino nó ẩu vậy – nó đâu biết mẹ cười gì? Chỉ có Octavia hiểu, nàng mỉm cười với mẹ. Hai mẹ con lạ gì đầu óc thằng Larry? 
Dọn nhà sang đây có mẹ ở chung là Larry chịu quá. Ở xa xôi, mình Lousia giữ bầy con thì yên trí thế nào được? Ở chung thì nhất. Nó sẽ tha hồ thừa thì giờ tán gái, thời buổi chiến tranh mà? 
Xe vọt lên dốc cầu treo Queensberough, chạy vùn vụt giữa cả rừng dây cáp hai bên. Bọn con nít hối hả tranh nhau đứng dậy nghển cổ nhìn làn nước sông xám xịt phía dưới. Chẳng được bao lâu đã hết cầu, Larry cho xe chạy vùn vụt trên mặt đại lộ rộng thênh thang. Bọn con nít khoái chí lại ó ré om sòm. 
Không đợi chúng hỏi, bà nội Lucia Santa cất tiếng: “Từ đây trở đi là địa giới Long Island rồi nghe”.

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 23

Có thể nào một thằng con quỷ sứ phút chốc hóa thiên thần? Trường hợp Gino Corbo đúng vậy. Lão chủ lò bánh mì, gã chủ tiệm hớt tóc dở người hay bác sĩ Barbato đã đành … ngay bà chằng Teresina Coccalitti khó tính là thế mà cũng phải mừng cho thằng Gino nên người. Quả nhiên tai họa cũng dám biến đổi con người từ xấu nên tốt trong phút chốc. Bây giờ Gino lo làm văn phòng Hỏa xa chăm lắm, chịu khó làm giờ “súp” và phong bì lương lĩnh ra mang về đưa mẹ nguyên vẹn.
Nó chăm làm đến nỗi số tiền túi mẹ cho tăng gấp đôi thằng anh Vincenzo hồi trước mà Lucia Santa còn hể hả cho là phải vậy mới đúng vì bây giờ mới biết thằng anh nhút nhát chẳng bao giờ chịu kê khai khoản tiền giờ làm phụ trội. 
Tối thứ sáu Octavia có lệ về thăm nhà bao giờ cũng được nghe mụ khen: “Tao biết mà … Gino đâu phải thằng hư hỏng?” Octavia có muốn chống đối cũng chẳng được vì lẽ hiển nhiên là làm viêc. từ chiều đến 12 giờ đêm, chủ nhật cũng làm để lãnh tiền súp mà Gino đâu có chịu bỏ hoc. Tháng giêng tới cũng ra trường đàng hoàng, xong bậc trung học. Không hiểu sao năm chót nó lại có tên trên bảng Danh dự – lần đầu tiên từ ngày biết cắp sách – thì Lucia Santa không hân hoan sao được? 
Mụ bèn lên lớp cô gái lớn: 
– Mi thấy tao nói đúng không? Chỉ chơi dông dài mới tối tăm đầu óc chứ chăm làm, làm nhiều có sao? 
Octavia thật sự còn xúc động sau cái chết của thằng em nên ngạc nhiên kinh khủng thấy mẹ mau lên tinh thần. Chẳng khác gì ngày xưa mà lại còn con nít nói, dễ dãi với xấp nhỏ hơn nhiều. Cứ tưởng đâu mụ hết đau khổ vì thằng em chết dữ. Nào ngờ một tối ngồi nhắc lại chuyện Vincenzo hồi còn nhỏ, Lucia Santa chép miệng than thân: 
– Biết thế hồi đó cứ để nó cho vợ chồng Filomena nuôi bên New Jersey thì ngày giờ này nó đâu đến nỗi chết? 
Nghe mẹ nói vậy, Octavia biết ngay mẹ còn xót xa Vincenzo lắm vì xưa nay Lucia Santa vẫn tự khen cách xử sự hợp lý và can đảm làm “nhất định đòi lại thằng Vincenzo bằng được”. Nhưng trọn tin ở tương lai thì bà mẹ này cũng rất triệt để. 
Mà sao không tin tưởng kia? Gia đình ăn nên làm ra, Gino làm ra tiền … Sal học rất cừ chắc chắn lên đại học mà Lena cũng không thua, nay mai cô giáo đến nơi. Nghỉ học cả hai cùng xuống đứng bán hàng cho lò bánh mì, lĩnh tiền rất khá. Tối thứ sáu nào Lucia Santa chẳng khoái chí tính sổ gửi băng với Octavia? Tuy nhiên bảo là bà “lạc quan” quá mức là trật đấy! Đâu có? Tự miệng bà còn nói ra là khoản tiền của hai đứa nhỏ hiện giờ chỉ là nhất thời, cỡ Giáng sinh này thằng Guido mãn lính … dĩ nhiên nó sẽ về đứng bán hàng lấy chứ việc gì phải mướn ai. 
Ngay đến ông rể quý của Lucia Santa cũng lo kiếm tiền mới là kinh khủng. Dĩ nhiên phải viết sách kiếm tiền. Ba cuốn sách lăng nhăng bán cho cơ quan nhà nước thì chắc ăn thật … song có ra gì! Còn làm thơ thì Norman cũng sẽ làm chứ … Nếu bên Âu châu thử hết giặc, hết đánh nhau và bên này thử có một cú kinh tế khủng hoảng nữa xem? 
Niềm vui vĩ đại nhất của Lucia Santa là Gino nên người mà người làm ăn đàng hoàng. Nó không làm buồn mẹ chút nào nữa nên bao nhiêu thứ tội lỗi trước gần như xí xóa hết. Nó còn đứng đắn hơn mụ dự liệu mà? Nếu vậy đã đến lúc mụ có quyền nghỉ ngơi, hưởng thụ chắc? Có bao giờ mụ nghĩ bậy vậy nhưng “mưa lúc nào mát mặt lúc ấy” thì Lucia Santa đâu có ngu ngốc gì mà từ chối. 
Chẳng hạn như việc làm của Gino. Hồi đầu chính nó cũng không ngờ có thể chăm chỉ tới vậy. Mỗi lần lên thang máy, bước vào cái văn phòng ánh đèn mờ mờ, máy chữ, máy tính chạy rào rào Gino còn tưởng đâu như nằm mơ. Mãi rồi cũng quen. 
Sở lại đổi nó qua ca đêm hẳn, từ 12 giờ khuya tới 8 giờ sáng hôm sau thì văn phòng vắng tanh. Chỉ có bụi. Còn tủ đóng, máy chữ, máy tính nằm … ngay cái “chuồng sắt” của gã thâu ngân viên cũng khó thấy. Nhờ vắng vẻ Gino đánh máy hùng hục suốt đêm, không mệt, nó đã khỏe còn tinh mắt quá xá. Tiêu chuẩn 350 hóa đơn một buổi làm thì … vừa làm vừa chơi cũng xong dễ dàng. Có khi Gino ngồi đọc báo hàng giờ mới có “đồ mới” dưới ga chuyển lên làm. 
Nó không chuyện trò với ai hết, góp chuyện cũng không. Sếp trưởng ca nhét cho nó làm những hóa đơn gay nhất, Gino cũng chẳng nói. Phản đối làm chi cho mệt, vả lại để ý làm gì khi chính những công việc này nó cũng muốn liệng bỏ cái một? Cả cái tòa nhà Hỏa xa lẫn văn phòng hơi chuột này đều chẳng ra gì! Gino căm hận tuốt. Hận từ cái bàn máy chữ dơ dáy, hận phải chui đầu vào cái chỗ bẩn thỉu một sếp xem sáu thằng hùng hục đánh hóa đơn. 
Đó là một niềm phẫn hận thực sự. Bằng không nhiều khi nó đã căm giận đến lạnh người rợn tóc, mồm miệng đắng ngắt phải đứng dậy tới cửa sổ tối thui nhìn xuống dãy phố tù hãm mà lính canh là những trụ đèn vàng vọt. Chừng nghe sếp Charlie Lambert hách dịch hô “Hóa đơn đi … Gino” có bao giờ nó đáp lời hay vào làm ngay đâu? Nó không thèm để ý. Biết bị sếp trù chứ nhưng Gino cũng chẳng thèm hận Lambert. Đối với những thằng muốn xem là người cũng không được cỡ nó thì giận hờn, bực bội chi cho mệt? Gino lờ đi. 
Thì ra làm ăn là xài cuộc đời như thế này để kiếm sống, để cho khỏi đói. Vụ này mẹ nó biết từ lâu, cả chị Octavia nữa … còn bố nó dĩ nhiên quá biết rồi. Chắc thằng Vincenzo phải đứng ra nhìn chỗ cửa sổ này cả ngày cả ngàn đêm mất trong khi nó nếu không tụ tập chúng bạn chơi rông thì cũng nằm lăn ra giường ngủ. 
Xem vậy mà ngày tháng qua mau, rồi cũng chịu đựng được hết. Không hiểu đến bao giờ mới hết cái nạn này, dám không bao giờ lắm. 
Gia đình làm ăn được thì dĩ nhiên bà chủ nhà có quyền xài sang phần nào chứ? Than đá hay dầu hôi có tốn tiền nhưng ăn nhằm gì, cứ để lò sưởi líp cho ấm áp nhà cửa. Tội gì không làm ra thêm chút mì ống để bà con láng giềng lỡ bữa có quyền ăn ké một đĩa? Tội gì không mua thức ăn nhiều nhiều một chút để con cái xong bữa đứng lên vẫn thấy còn vài viên thịt, ít khoanh xúc xích tắm trong nước sốt? Phải sắm thêm ít cái muỗng nĩa thứ đặc biệt chỉ xài trưa chủ nhật, trong bữa cơm linh đình đúng truyền thống mà con cái dâu rể bắt buộc phải đủ mặt. Cái gì chứ tề tựu hàng tuần để ăn ngon thì mau lắm! 
Chủ nhật đầu tiên của tháng mười hai này có tiệc. Thằng con đầu lòng của vợ chồng Larry chịu lễ Mình Thánh Chúa mà? Bà nội có quyết định thết cả nhà một chầu ravioli. Mụ Lucia Santa hợp lực cùng Octavia lo làm bột từ sớm, cái bàn đánh bột phải thật rộng. Cả núi bột mì thứ tốt, đánh vào ba lần, mỗi lần 12 trứng gà đâu phải ít. Bột trắng tinh, lòng đỏ trứng gà lóng lánh … lát sau là có từng nắm bột vàng tươi. Lucia Santa hì hục và tươi cười cán bột thành từng lớp mỏng. Hai đứa nhỏ phụ trách đánh sốt pho mát: cả một khuôn ricotta xay ra nhỏ biến, đánh cho thật nhuyễn rồi thêm tiêu muối, hột gà thì còn gì ngon bằng! 
Khi nấu chín mì và nước sốt cà chua ngấm đều thì Lucia Santa mới bày từng đĩa dăm bông, pho mát lên bàn. Còn mấy đĩa thịt bò cuộn với hột gà, hành tây và nguyên một tảng sườn cốc lết hầm nhừ màu nâu sẫm đã đẹp mắt mà nhừ đến độ chỉ khẽ lách nĩa vào là chỗ thịt mềm mại đã tuột rời khỏi xương lập tức. 
Bữa cơm gia đình vui vẻ đến nỗi có mấy khi Octavia chịu chuyện Larry mà hai chị em còn cười vui vẻ quá. Còn Norman vừa nhâm nhi ly rượu chát vừa trao đổi quan điểm sách vở với cậu em vợ Gino. Chừng xong bữa thì hai đứa nhỏ chỉ chia nhau dọn bàn và rửa một núi bát đĩa cũng ngất ngư. 
Bữa chủ nhật đẹp trời quá, nhà bao nhiêu là khách. Có lão chủ lò bánh và thằng con Guido mới giải ngũ ra. Có lão tiệm hớt tóc dở người, tay nâng ly rượu nhưng mắt không ngừng quan sát những cái đầu mới coi có phải vẫn hớt tiệm mình không. Được mời đĩa ravioli nóng hổi, ông hàng bánh láng giềng chịu quá. Món ăn ruột của lão xưa nay mà hồi sinh tiền mụ vợ làm biếng mấy khi chịu nấu. Còn mắc đếm tiền cất đi! 
Kín đáo mồm mép như bà chằng Teresina – chuyện dĩ nhiên nếu có đớp tiền cứu trợ thất nghiệp bất hợp lệ – xưa nay chỉ có lệ một ly rượu cũng phải rót thêm. Miệng nhóp nhép bánh mì xúc xích nhưng mụ vẫn duyệt lại cùng bồ Lucia Santa cả một thời con gái sung sướng ở nhà quê. Coi tối ngày hốt phân mà khổ sở sao? 
Thậm chí mọi hôm có ai tò mò gợi chuyện cá nhân là mụ đưa tay lên miệng “suýt … suỵt” nhưng đặc biệt hôm nay vui lòng giải thích thắc mắc của “đàn anh” hàng bánh à … làm cách nào hay vậy, qua mặt nhà nước lĩnh cứu trợ dài dài  Mụ Teresina mỉm cười công bố phương pháp “moi tiền chính phủ được bao nhiêu cứ việc moi” bởi lẽ nuốt được hay không thì sau này nhà nước vẫn cứ bắt mửa ra sơ sơ cỡ mười lần nhiều hơn. 
Nghe chuyện người lớn chán quá Gino bỏ đi, ra ngồi bệt bên cạnh chiếc radio cũ kỹ vặn nghe … chương trình túc cầu. Dĩ nhiên nhà có khách nó chỉ vặn nho nhỏ để một mình nó nghe, nhưng Lucia Santa cũng cau mặt. Sau cùng lờ đi … 
Tự nhiên Norman Bergeron thấy nét mặt Gino nhìn kỳ cục quá. Nó áp tai sát radio lắng nghe cho rõ … nhưng đưa mắt nhìn quanh, nhìn hết mọi người trong phòng và đến mẹ nó thì ngó sững sờ. Hình như Gino mỉm cười thì phải. Một nụ cười nhạt có phần độc ác. Thấy chồng nhìn thằng em đăm đăm Octavia cũng phải quay lại. 
Nàng có nghe thấy gì đâu nhưng nhìn nét mặt Gino đủ biết có một biến cố gì quan trọng. “Cái gì đó?”
Gino quay mặt đi. Miệng nó nói: “Nhật Bản vừa tấn công Mỹ. Đánh lớn rồi!”. Nó vặn lớn radio lên, át cả tiếng mọi người ở trong phòng. Gino đợi ăn lễ Giáng sinh đã. Một buổi sáng đi làm Hỏa xa về nó đi đầu quân thẳng, vào trại luôn không cần về nhà. Mãi đến gần chiều nó mới gọi điện thoại tới sở anh rể cho hay nó đi lính rồi, nhờ nói lại với mẹ giùm.  Được gửi sang trại huấn luyện tân binh California, Gino vẫn viết thư về nhà đều, vẫn gửi lương về. Trong lá thư đầu tiên nó giải thích giản dị là nhà có hai anh em, một thằng phải đi lính thì nó tình nguyện xung phong đi trước để thằng Sal khỏi phải đi, tiếp tục học lên đại học. Nó chỉ nhắc có một lần rồi thôi …