Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết 24-10-1993)

Post by Sơn râu 19 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 40

Một Chuyện Tình Xảy Ra Ở Vũng Tàu Sáu Chục Năm Về Trước

Tôi đến Cấp chiều hôm qua. Phòng tôi ở năm ngoái, đã có gia quyến một ông giáo già choán rồi. Mấy phòng kia đều có người mướn, tôi đành đi kiếm chỗ khác. Người quản gia nhà dưỡng bịnh ở Bãi Sau chỉ cho tôi một biệt thự nhỏ hiện chủ ở Sài Gòn giao cho một tớ già coi giữ, có thể hỏi ở tạm được. Và tôi đã được ở ngay, nhà tầm thường lắm, kiểu bánh ếch một mái, không chi đặc sắc nhưng được cái là day mặt tiền ra biển), tứ bề là bốn vách tường vôi trắng, trơ trẻn không tranh ảnh, một bụi trúc đồi-mồi lơ thơ che cửa, bàn ghế lôi thôi, hai chiếc giường đồng Hồng Kông, nhưng thảy đều sạch, không chút bụi, mò-hóng hay váng nhện một chiếc bàn viết cẩm-lai kiểu bàn thượng-thơ (bureau-ministre), một tủ kiếng “hột vịt” (tủ áo có kiếng soi bầu-dục), hai kệ và bốn ghế mây đan, ghế nầy đều bọc vải bố trắng che bụi, đủ biết sự kỹ lưỡng tiêm tất của chủ gia. Tôi nhận lời chia mướn nhưng còn e ngại và hỏi: “Rồi đây chủ nhà ra đây thì tôi làm sao?” Đã có trả lời: “Đừng ngại. Chủ nếu ra thì sẽ có giây thép cho hay, sợ gì!”

Và quả thật, tôi đã chẳng sợ gì và đã ở đây tự hôm nào…

Sớm mai nầy, nhơn lục soạn xốc xáo kiếm hột nút áo măng-sết rơi dưới ngăn tủ bàn viết, tôi khuân luôn hộc tủ ra và dòm tận trong đáy, vừa gặp nút áo đang tìm kiếm và cũng gặp một cuộn giấy tròn tròn bèo nhèo màu xanh da trời, rõ ra là một cuốn sổ tay nhỏ, nằm từ đó tự bao giờ, bụi đóng lem dơ, và vì cái ngăn kéo ra kéo vô đã bao phen đè ép vò cuốn quiếu, chẳng ra hình, và đã nhờ tay tôi hôm nay thấy lại mặt trời và được giải phóng từ đây!

Ban đầu, tôi định không đọc không coi làm gì, biết chuyện của người khác làm gì, nhưng tánh tọc mạch khó dằn và vơ vẩn mãi, rốt lại, buổi trưa khi trở về và ngồi vào bàn, tôi đã vừa lua cơm vừa lấy ra đọc.

Chữ viết mềm mại như yếu đuối, chữ t gạch dài, chữ n kéo dài… khiến tôi định tác giả biết đâu và há chẳng là một người ắt đẹp và hữu tài, nhưng tiếc thay, trong tập, mỹ danh không đề rõ và chỉ vỏn vẹn hai chữ tắt “K…C, Kim Chi, Kim Cương, Kim Cúc, đều có thể được và cần thiết họ là gì, không viết.

Lẽ ra tôi nên nín giấu ém nhẹm chuyện nầy luôn mới phải, nhưng như vậy thì đóa hoa thơm nầy làm sao tỏa đặng mùi hương? Sau rốt, tôi không dám giữ làm của riêng, nên mạn phép sao lục ra đây, gọi “món hải vị” từ Cắp mang về cống hiến cho người nào hữu duyên thưởng thức.

Quả tim son của một hương-khuê, nếu thỉnh thoảng lâu lâu được giãi bày, như tấm lòng của “quí nương” nầy, thì biết đâu trong vườn hoa nữ giới, há không điểm xuyết thêm xiết bao hoa thơm cỏ lạ, và họ chẳng cho chúng ta hưởng vài trang đặc sắc?

Mai sau, nếu mấy hàng thô kệch nầy may lọt vào dưới mắt tác giả tập “Cuốn sổ tay” thì xin cười mà tha lỗi cho. (Xin xí xóa cho nhau, ấy vậy mà!)

Và sau đây là mấy trang “ký sự” ký K.C. và xin chép y nguyên văn:

“Cap… 24 juillet 193… Vì sao tôi đến chốn nầy? Vì sao tôi lại sấn thân vào chỗ sơn cùng thủy tận nầy? Non kia thấp bé, như xứng với chút thân phận mọn mày của tôi! Biển nước ồn ào, với tấm lòng thổn thức của tôi rất là tương đối. Đến cái chợ quê mùa thấp bé kia cũng hữu tình cùng tôi trách sao tôi không lưu luyến chốn nầy. Từ rày tôi sẽ được thỏa thích mặc lòng đem quả tim tê tái gột rửa với gió non, bọt biền nầy! Trong đám rừng lé đé bọc theo bãi, thỉnh thoảng ngọn gió mát nhẹ nhàng đem lại những tiếng ì ầm, những tiếng vọng toàn là buồn thảm thiết tha thật xứng thật hạp với mảnh tình u uất trong lòng tôi biết mấy! Thôi thì từ rày, xin thề chẳng biết thương ai nữa được! Cái mối sầu nầy há chẳng vì tình mà ra?

Vô tình bạc lang ôi! Vậy mà tôi tưởng anh thương tôi thật. Tôi đã lầm, lầm to rồi! Bao nhiêu lời anh bày tỏ, êm ái ngọt ngào làm sao, lên bổng xuống trầm làm sao… nay rõ lại, toàn là lời học thuộc lòng và đã nói đi nhái lại biết bao nhiêu lần cùng những ai vị nhẹ lòng và đã như tôi,… mấy phen thất tiết, nói nghe mắc cỡ quá! Ớ cái người bạc tình làm sao? Tôi mừng chưa kịp no thì cái tòa hạnh phúc của hai ta đã đổ nát. Khốn nạn vậy thay! Rồi từ đó trách ai vắng mặt biệt hình, không một lời giã từ cho mát dạ! Thôi rồi, còn gì nữa mà vui với đời? Tôi còn vừa đủ đảm lực để gượng sống… Tôi nay xiết bao mờ mệt, đau đớn, ê chề chỉ còn một phương là dun rủi đi mãi đi hoài, để trốn sao khỏi lương tâm cắn rức. Tôi đi, đi mãi, đi hoài, mà khi đến chốn nầy sao lại ngừng chơn chi đây cũng lạ! Hay là tại cảnh trí nầy? Bãi lặng, đêm thanh, trời vẫn xanh ngắt một màu, sóng vẫn đánh lô nhô không thôi vào chân núi, và có phải vì vậy rồi tôi tưởng là phải chỗ cho tôi nương náu, để yên ủi tấm lòng nát ngướu chưa nguôi!

26 juillet…. Chỗ nầy thanh tịnh thật! Đẹp nhứt là vào buổi chiều. Đứng dựa cửa sổ phòng mà dòm ra, thì nơi khá xa có một lùm cây giăng ngang… mặt trời vừa nhận nửa vành xuống nước, bao nhiêu nhánh cây tàu lá đều chói ánh một màu hồng, ngoài kia mặt biển lóng lánh nhấp nhô như đơm vảy bạc. Nắng dịu lần, gió hiu hiu thổi, giờ đó là giờ tôi mến nhứt. Nhiều buổi tôi lấy sách ra đọc, mà cơ khổ, tôi có đọc được chữ nào đâu? Tôi chỉ thẫn thờ nghĩ xa nghĩ gần rồi tôi xếp sách mặc tình cho trí óc nhẹ nhàng bay theo cánh buồm mấy chiếc ghe bầu lả lướt trên ngọn sóng, khi lại phơi phới theo làn khói một chiếc tàu… Ôi! biết bao tình ái tôi đã gởi sang Tây sang Tàu, bông lông theo mây theo gió! Hoặc tôi là con én nhẹ nhàng, bay liệng qua đảo nọ đảo kia, hoặc đậu trên cọng rác cánh bèo, như vậy mà tự do thong thả! Có khi tôi đọc lớn thơ cũ, rồi theo giọng lá cây xào xạc và tiếng chim rủ rỉ đâu đó… rồi mảnh tim tôi ầm ỹ ra ra từng miếng một! Than ôi! Chớ chi tôi còn có thể gọi là có phước trên thế gian nầy!

29 juillet. Thôi rồi! Tôi tưởng là đến đây để hưởng thanh nhàn vắng vẻ, tôi lại một phen lầm to nữa rồi! Hồi chiều nầy, tôi gặp một người dáng bộ thơ sanh trên con đường mòn đi ra Bãi Sau. Dáng còn non trẻ lắm. Trên mặt in sâu cái nụ cười của… chưa biết gì!

Người ấy khi thấy tôi thì có vẻ ngạc nhiên. Lúc giở nón chào tôi, tôi có ý dòm và thấy cặp má đỏ ửng. Con mắt y ngó xuống đất, nhưng đủ cho tôi thấy sáng quắc, như lưỡi gươm… Mắt đẹp làm sao! Thôi, mai nầy tôi phải lên đường… Tôi không ở đây nữa làm chi… Tôi đi kiếm buồn, kiếm thảm, tôi muốn để một mình tôi lặng lẽ đối với mạch sầu không nguôi nầy…

Ai cầu, ai mượn cổ tri-âm tri-kỷ?

30 juillet. Tôi lại gặp người đó nữa… Gặp trước cửa nhà hàng…

– Cảnh quê mùa như vầy, dạ thưa cô, có làm cô cảm động chút nào không?

Tôi không nhớ tôi đã trả lời làm sao và đã nói những gì? Tôi chỉ nhớ tôi đã cho biết tôi đi tìm sự vắng vẻ tịch mịch… nhưng người đó đã mạnh dạn ngó tôi ngay mặt và nhỏ nhẹ:

– Thưa đẹp và trẻ như cô lại phép nào được chất chứa sự buồn vào lòng!

– Ôi! Tôi không biết tôi còn đẹp còn trẻ nữa hay không! Tôi chỉ biết là hiện giờ tôi mờ mệt lắm. Mà còn muốn đẹp muốn trẻ để làm gì nữa chớ? Tôi còn thương ai được nữa chớ? Mối sầu nầy chất chứa bên lòng, gạt hoài nhưng vẫn còn hoài… Ngày dài không đủ để ru cơn sầu, có đâu…

1 août… Sớm nay y đem xe thổ mộ lại và mời tôi lên núi lựa mãng cầu chín bói và xem pháo đài trên đảnh. Y phải thể người lắm. Bộ tịch mỹ miều mà quá quỉ! Buổi chiều khi đưa tôi về chỗ ở, hình như mái tóc tôi có bị phớt nhẹ. Thằng cha gì, nhát quá chừng chừng!

3 août… Có nhát nữa đâu! Cặp mắt trong ngần như muốn nuốt… Tay vụt chạt… nhột mà không cản ngăn kịp!

Y có vẻ tuổi lớn hơn tôi, mà còn bợ ngợ lầm. Chao cha! Mà tôi phải đề phòng, kẻo lại sa vào bẫy nữa? Không mà! Không sao mà! Sầu kia tôi lại há quên!

5 août… Tôi thương da thương diết nữa rồi? Thế mà tôi đã quá thề không thương ai nữa hết! Mà làm sao chống cho lại cặp mắt nài rủ với gương mặt non nhẻo khẩn cầu kia? Mặt non thêm mái tóc dìu dịu, êm êm kia.

Tôi có nói vào buổi chiều cho ông già giữ nhà biết, tôi phải dọn đi chỗ khác, một cái phòng nhỏ hay một gian nhà u tịch, tôi muốn làm sao cho chẳng có một ai khuấy rầy, làm rộn tôi buổi nầy. Cái sầu của tôi không dung tha cho ai được lại gần tôi cả!…

Nhưng ông lão bộc quân gia già đáng kính, cười cười chỉ cho tôi ba chữ bảng “Nghinh Phong Đình” viết quốc ngữ, khen ai khéo lựa cho nhà nầy!

Y, người đó họ Mai, tôi đặt đại là Mai Sanh. Tôi và Mai Sanh sẽ ở đây đến bao giờ? Ôi, hạnh phúc quá mỏng manh! Cảnh trí nầy, gặp gỡ nầy, phải chăng có thể gọi một kỳ ngộ “tam sánh hữu hạnh” được chăng? Còn kén chọn gì nữa! Chỗ nầy chẳng là nơi tôi đã hẹn gặp. Và trong giây phút nữa Mai Sanh sẽ tới! Trong vài phút nữa thì sẽ có người thương cùng ngồi bên nhau trên chiếc ghế nầy! Trong không bao lâu nữa tôi sẽ dòm trong cặp mắt Mai Sanh xem muốn gì? Mà chính tôi đây tôi cũng không biết tôi đang muốn gì! Nhưng kìa tiếng giầy ai đang đi lại… Kìa tiếng giày trợt trên đá sỏi… Tiếng ai nhón gót…

Tiếng ai đang ngập ngừng… Nhưng ủa kìa Mai Sanh! Mai Sanh đây rồi.

Ký tên K.C.

(chép y nguyên văn mấy trang bèo nhèo gặp lại trong hỗ sơ giấy má cũ giữ từ 1932)

Dẫn.

Đây là mấy lời dẫn giải, viết lại nơi sau để dễ bề dài dòng. Tôi hiện nay đang bối rối việc nhà, tiền không đủ chi độ, tôi lục soạn tìm tư liệu để viết cho báo xuân bỗng gặp lại trong hồ sơ bản thảo “Hơn nửa đời hư”, lúc trước tôi chê nên gác lại và nay nói về báo “Vũng Tàu chủ nhựt” lại thấy có chỗ dùng. Như báo nhận và cho đăng vào báo dịp “Xuân Giáp Tuất 1994” thì tốt, hoặc trong số báo đặc biệt thì cũng hay, bằng không đăng, xin tòa soạn vui lòng trả mấy trang nầy lại cho tôi, tôi sẽ không đăng báo nào khác và chỉ giữ làm của nhà và xin vạn tạ. Riêng tôi, tôi đã biết Vũng Tàu từ hơn nửa thế kỷ, từ những thập niên 1925 đến 1935, và quãng thời gian ấy từ Sài Gòn muốn ra ngoài ấy, vẫn đường bộ chưa thông và chỉ có một đường thủy, tàu đậu bến gần “Dơi Tán Dóc” (Pointe des Blagueurs), lối trưa khởi chạy, và chạy cà xích cà xạc trải qua những làng xóm tên nghe rất lạ, tổng gì tổng ăn thịt, hỏi ra vì có cọp nhiều… tổng Dương Hòa Thượng vẫn không phải do vị sải chùa họ Dương mà kỳ trung có Thượng và Hạ, hai tổng, v.v. Và khi ra tới Vũng Tàu thì trời đã sụp tối, và vẫn không có khách sạn, không quán bán cơm Việt, phải có nhà quen, và nếu là công chức thì vẫn có Nhà Nghỉ Mát nơi Bãi Sau, cũng chỉ vẫn có độ 4 hay 5 phòng nhưng rộng lớn có khá đủ tiện nghi, có giường mùng khang trang, nước sạch để tắm sau khi giằm mình vào nước biển, nhưng khách đến ở phải viết thơ dặn chỗ trước, và phải cụ bị sẵn trà bánh, thức ăn (đồ nguội ba-tê xúc-xích cho đủ lâu dài), chớ quán cơm Tàu chỉ vẫn thịt xá xíu, vịt quay, canh cải xanh, không bán thịt bò, 4 giờ chiều đã tan chợ, đêm đèn lèo hèo, du lịch chưa biết, gọi đi chơi dạo cảnh thì vỏn vẹn leo đảnh xem Pháo Đài rọi đèn dẫn độ tàu thuyền, đi một vòng xe thổ mộ lên vườn mua mảng cầu là hết cuộc vui, vả lại thời ấy ra Vũng Tàu tiếng là đi nghỉ để dưỡng sức nhưng đến nơi có mệt và mỏi thêm thì có, vì khách ra đây hoặc trọn gia đình hoặc vài ba bạn đồng chí hướng rủ nhau ra đây để vui với bồ bịch, bài bạc, đờn ca, nhậu nhẹt, vả lại Vũng Tàu thuở đó là nhượng địa của Tây-u tắm biển, là tỉnh nhỏ bé tên Pháp là Cap Saint Jacques, tôn lên làm thị thành (municipalité), quen gọi Ô Cấp, tên chữ là “Thuyền Úc” mà tên nho nầy có con ma nào biết, những nhà có máu mặt, vẫn chuộng ra Bãi Nước Ngọt, Bãi Long Hải xây dựng vi-la, nhà riêng để mặc sức tưng hoành, v. v… Nhưng nay Vũng Tàu là “Đất Cũ đãi Người Mới”, tôi xin miễn bàn. Còn mấy trang trên đây là sự có thật. Tác giả trước là một học sinh trường Áo Tím, nay có mộ ở Gò Công, biết làm thơ Đường, giọng êm dịu và mấy trang nầy là tâm sự…


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply