vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày 6-XI-1993)
Post by Sơn râu 19 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu
Phần 42
Viết Tiếp Bài Luận Về Đồ Xưa, Sách Cũ…
Tôi vừa thấy bài nói trên đây, đề ngày viết 7-10-93, đã được đăng trong Văn Nghệ số 117, tôi mừng vì có tiền và đỡ bớt ăn cơm chiên mỡ hoài ngán quá, và tôi xin nói liền ra đây, sở dĩ tôi thường đề ngày đã viết và tôi xin mấy thầy cò, mấy ông ra tiền mua máy in, đừng bôi bỏ của tôi, vì những chi tiết nhỏ nhặt ấy về lâu mới thấy có chỗ dùng, và đó là mánh lới của nhà chơi sách, nhà chơi đồ cổ gàn dở như tôi, và nay vì đã tàn tạ gần trở đầu về núi nên không giấu nghề làm chi, chớ thuở nay tôi không muốn nói, cốt để tránh đường cho mấy người mới viết cho mình đọc, sướng hơn… Sở dĩ tôi nói giấu nghề, vì tỷ như nghề chơi đồ cổ, nghề mua sách lạ, nếu nói, e người có tiền mua giành, thì cũng chưa mấy hại, chớ nếu nhà tra xét nơi hải quan, nhà kiểm-soát-bắt-đồ-lậu biết, thì chết cha mồ tổ. Có nhiều việc xưa, như tô hủ tíu trước giá sáu xu, nay giá hơn bạc ngàn, nếu sách báo lược bỏ, thì người đi sau làm sao rõ việc người đi trước.
Tiện đây tôi xin nói phứt để làm quảng cáo cho tôi, là tôi có cho đăng năm rồi 1992 một tập hồi ký “Hơn nửa đời hư”, tôi bị một thằng-cha-trời-đánh, đứng trung gian, mượn đầu heo nấu cháo, làm tài khôn, sửa và bôi bỏ của tôi, nhiều đoạn tôi cho là đáng tiếc, vì những đoạn ấy chứng tỏ xưa khác và nay rất khác, tỷ như bản thảo viết “vàng đổ đé để cho bớt móp”, sách H.N.Đ.H. in ra “vàng đổ đá…”, đá hột lớn làm sao nhét vô chiếc vàng và đé là đá tán nhỏ thành bột mịn, mà thằng “mắc dịch thầy cò, cóc đi guốc” kia nào biết, và nguyên một đoạn dài tôi tả cảnh cố phụ thân tôi, vào năm 1890 mua được một chiếc xe đạp bánh-bộng-bôm-hơi…, hai trang ấy tôi mất mấy ngày mới viết thành hình, tôi nhớ cha tôi ghét nịnh và đã bán xe để cho tụi mấy ông mấy thầy đời đó, đi xe-đạp-bánh-cao-su-đặc, thường đến mượn chiếc xe-bánh-bộng của Ba tôi để ngồi xe ấy đã bớt tức dái thế nào, ấy vậy mà người thầy cò in sách mướn, đã đành bỏ trọn hai trang của tôi, không trách tôi gọi “trời đánh” sao đặng?
Tôi lỡ viết ba hoa chích chòe cho đỡ tức, tôi xin lỗi với độc giả, nay xin nói qua về đồ cổ, bộ môn tem gởi thơ, sách quí hiếm lạ, về những việc nầy, tuy tôi không có học luật, nhưng nghề dạy nghề, tôi biết hai chữ Pháp như sau:
1) chữ “préhension” và 2) chữ “préemption”, hai chữ tròm trèm gần như nhau, rất quan trọng về ngành chơi đồ cổ, và tôi xin múa bút giải nghĩa như sau:
1. Préhension, sách Petit Larousse dạy: “préhension” mot latin, prehensio, action de saisir, de prendre; l’éléphant exerce la préhension avec sa trompe.
Tôi dịch: “préhension” là do chữ la-tinh “prehensio”, có nghĩa là “thộp lấy, chụp lấy”, và tỷ dụ con voi, con tượng dùng vòi mà nắm, chụp, bắt món vật nào nó muốn, vân vân. Và tôi xin khuyên khoan dùng chữ nầy, và nên dùng chữ préemption.
Tôi giải nghĩa như sau: préemption, n.f. (lat. proc, avant, et emptio, achat). Achat fait antérieurement. Faculté que détient une personne ou une administration, en vertu de la loi ou d’un contrat, d’acquérir un bien de préférence à toute autre. (Le droit de préemption des musées nationaux leur permet d’acquérir un objet d’art vendu par adjudication publique, au prix de la demière enchère).
Tôi dịch: “préemtion”, do chữ la-tinh, pros, avant là trước và emption, achat, tức là mua, mua được tiên khởi. Và đó là một lệ định sẵn và đã được chấp thuận giữa một chánh phủ hoặc một người đã giao ước với nhau từ trước.
Nhờ luật préemption nầy mà viện bảo tàng của một quốc gia nào đó được quyền tiên khởi mua lên một món vật quí báu, mỹ thuật đã bày bán trong một cuộc phát mãi công khai và lấy theo giá chót nhứt định của cuộc bán đấu giá ấy, hoặc do đèn đã tắt hoặc do cây búa lịnh của nhà lãnh nhiệm vụ bán đã gõ lịnh rồi, và nhờ vậy, giá bán vừa không làm thiệt hại quyền lợi người chủ bán, mà cũng không thiệt thòi người trả giá chót muốn mua, vì lấy công bình mà nói, cố nhiên người muốn mua phải nhượng quyền ấy cho viện bảo tàng vì ích lợi chung.
Luật ptéemption nầy đã được các nước phương Tây, bên Âu-Mỹ thảy đều công nhận và đã áp dụng từ lâu, và nước ta tưởng nên dùng theo cho phải lẽ.
Tôi xin viết thêm vài tỷ dụ tôi biết để dư luận công chúng thẩm xét.
Cách nay vài năm, nhà nước ta đã ngăn cản không cho một nhà giảo giá bán tại kinh đô Paris một bộ môn đồ sứ men lam trước mua ở đây tại mấy nhà buôn đồ cổ ở Sài Gòn, nhưng rốt cuộc tòa Tây vẫn cho bán, vì xét ra bộ môn ấy vẫn mua tại những nhà có môn-bài, tức không phải vật đánh cắp. Riêng tôi, tôi xin nói thêm là người chủ bộ môn bán được nhiều tiền song đã quên ơn người dẫn dắt mua giúp, nhưng đó là việc tư riêng, trách sao được lòng người, đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nơm, là chuyện thường tình và lòng biết ơn vẫn thường ít có.
Và nay có hai ba việc nhỏ nầy xin nói luôn để làm tư liệu và để khi trà dư tửu hậu. Việc thứ nhất, đời Tây còn ở đây, một bữa chủ nhựt nọ, nơi nhà tầm-tầm đường La Grandière cũ, gần thư viện cũ, có bày bán một nghiên mài mực cho rằng tối cổ, vì làm bằng một mảnh ngói dày dày và lớn cỡ 25 cm x 40 cm, viên giảo giá Tây sẵn thấy có mặt hai tôi, ông B.Groslier, quản thủ chánh viện bảo tàng và tôi là phụ tá. ông Cardi xin giấy chứng nhận rằng nghiên mực là ngói Vị-Ương-cung đời Tây Hán. Groslier vừa muốn ký giấy chứng nhận, nhưng dè dặt hỏi ý kiến tôi, tôi liếc cời và nói nhỏ đủ nghe: “Ông là chủ, tự ý ông định và làm lấy. Riêng tôi, tôi tưởng không cần gánh vàng vào kho làm giàu thêm cho ông bán đấu giá…”
Và rốt cuộc, tuy không giấy chứng, nhưng đã có một phụ nữ người Trung Hoa, giơ tay mãi và đã mua được Nghiên mực. Giá bán 9.000$, thêm 900$ hoa hồng: 9.900$00.
Một miếng ngói chưa chắc của cung Vị-Ương, và cung nầy xưa có bao nhiêu ngói.
2. Một việc thứ hai lại là việc của kẻ hèn nầy. Năm 1963, tôi được sang Pháp, học bổ túc về ngành đồ cổ, tháng 7 dương lịch, sẵn còn dư tiền, tôi mua nơi đường rue des Saints-Pères, một hũ đựng cốt đời Tống, chủ hiệu gọi điện thoại, mời cô Stertevens chưa chồng đến làm giấy cho chở ra khỏi Paris, cô cười hỏi: “Sao chở củi về rừng?”. Tôi đáp: “Vì bên xứ hũ ít có nắp.” Và tôi cẩn thận xin đóng thùng gởi theo đường biển vì tôi còn sang Thổ Nhĩ Kỳ xem đồ gốm viện Topkapyl ở Istanbul. Chẳng lành mà chớ, khi về bị giấy sở Nhà Rồng đòi, và Kho 5 đòi phải trả thuế. Tôi nài nỉ dối rằng mua cho Viện bảo tàng, viên chủ Kho 5 cười cười mà rằng: “S. với tôi vốn quen nhau từ ở Sốc Trăng. Nay tôi không nhận thuế nhưng S. trả 5.000$ cho tụi nó!” Tôi đành móc bóp trả đủ, nhưng dè dặt xin mở gói trước mặt hãng Tây vì có trả tiền bảo lãnh bảo kê. Khui thùng ra, thì hỡi ôi, cái nắp hũ đựng cốt đã bể làm hai, vì buổi đó chưa biết loại mủ bao bọc món vật và gói ghém không được an toàn. Chủ hãng bảo hiểm thường cho tôi 7.000$, có dư tiền mua và dư dã tiền đúc sáp, tiền bồi thường bỏ túi xong, tôi hỏi ông Tây chủ bảo kê nắp bể đem về để làm gì, ông Tây bắt tay từ giã và nhã nhặn nói: “Xin biếu để làm quen”. Tôi sướng quá, mà không dám nói lớn, một tội hối lộ, một tội nói “Sướng” là chữ cấm kỵ của bà quả phụ nhà văn chết tại lớp giảng năm xưa ở Đại học Văn khoa, nhưng thưa chị M.T. chị cữ nói tiếng ấy cho rằng tục, nhưng theo tôi, cữ là tự “lạy ông tôi ở bụi nầy!”, chớ tôi đã từng nghe một chị răng đen, bán bắp giã, chỉ nói: “Giờ nầy mà bán được sạch gánh, sướng đi đời!” và thành ngữ “khoái trá” tục hay không, tôi xin hỏi.
Viết đến đây, bỗng nhớ một việc cũ, xin viết thêm. Cách nay ít lâu, có một cán bộ trẻ quen với B. con tôi, đến hỏi: “Có lượm được một món ở Thanh Hóa, muốn đem lại nhờ cho biết có quả cổ hay chăng và nếu bán, nên cho biết giá”.
Tôi đã trả lời: “Nếu con anh không tiền đóng tiền trường hay vợ anh đau, vật anh lượm thì đâu phải vật cắp vật gian, tuy vậy xin anh hỏi nơi viện bảo tàng, tôi khuyên đừng đem lại lây cho tôi mang tội tìm cách tẩu tán đồ nhà, tôi đã chán lắm và không muốn nghe đến đồ cổ. Tuy tôi nói làm vậy mà xin anh đừng thối chí đừng để cho con lấy vật ấy đâm ớt đâm tiêu, vì vật ở Thanh Hóa quí đấy”.
24-11-1993
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.