This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thời Pháp thuộc, đồng bào ở miền Tiền Giang, Hậu Giang đều nghe danh… Ðơn Hùng Tín. Anh ta thuốc vào hàng”đại ca,” điều khiển một số tay anh em giết người cướp của không ớm tay. Lời nói và việc làm của Ðơn Hùng Tín luôn luôn đi đôi. Trước khi đánh cướp, Ðơn Hùng Tín báo trước ngày giờ để cho gia chủ đề phòng. Khi quân cướp rút lui, chẳng ai dám hó hé tố cáo hoặc truy nã. Du đãng Ðơn Hùng Tín thường vượt ngục phá khám hoặc được quan trên…”tha bổng.” Vì vậy, dư luận cho rằng có nhiều ông hương chức hội tề hoặc ông cò Tâyd dã bí mật làm tay chân cho Ðơn Hùng Tín vì sợ anh ta, vì tham của hoạnh tài. Xưa kia, Ðơn Hùng Tín chưa lấy biệt danh ấy. Anh ta còn là kẻ vô danh, đọc truyện Ðường, nuôi chí lớn và chờ thời… Vùng núi Tà Lơn nổi danh là nơi ẩn nấp của lắm tay siêu phàm. Lúc phiêu bạt đến đó Ðơn Hùng Tín chỉ là một hột cát bé bỏng. Anh ta thường dạo khắp mấy hang đá cheo leo, hôm ấy gặp một thanh niên ốm o gầy mòn. Thanh niên hỏi: – Anh là ai? Ðơn Hùng Tín hỏi ngược lại: – Còn anh… anh là ai? Chàng thanh niên bèn mời Ðơn Hùng Tín vào hang đá mà nói: – Ở đây, người nào cũng như người nấy. Ðứng về võ nghệ mà phê phán thì có hơn chục người sành sỏi, bóp viên đá ra như cám hoặc nhảy như bay qua miệng hố. Chẳng hay anh bạn giỏi về môn nào? Ðể che giấu cái tài hèn đức kém của mình, Ðơn Hùng Tín lại dùng thủ đọan cũ, nghĩa là hỏi vặn: – Còn anh bạn? Thanh niên mỉm cười: – Tôi mới biết sơ qua vài”ấn.” Nè anh bạn tới thăm tôi trể, gặp dịp, tôi”triệt” bà cố cho bạn xem mãn nhãn. Ðơn Hùng Tín đâm ra nghĩ ngợi:”bà cố” là vị thần mạnh nhất, huyền diệu nhứt so với các cô, các cậu đang bay bổng, phiêu du khắp cõi càn khôn. Người biết bắt ấn, triệt được”bà cố” hẳn phải là tay dày công luyện tập. Thanh niên nọ cứ day mắt vào vách đá, miệng đọc bùa chú lâm râm. Ðể tỏ rằng mình đầy đủ bản lĩnh. Ðơn Hùng Tín cố ý khuấy rối sự yên tĩnh: – Anh bạn hơi đâu mà luyện tập thứ ấn thấp kém đó. Tôi đây biết bùa phép và thường triệt “bà cố. ” Chẳng hay anh bạn triệt kiểu nào? Theo danh từ nhà nghề,”triệt” tức là kéo níu.”Bà cố”bay phiêu diêu như chiếc xe mạnh bằng chục mã lực. Triệt “bà cố,” chẳng khác nào kẻ vận dụng sức lực để níu lại một chiếc xe đang mở máy phóng tới. Thanh niên nọ vẫn mỉm cười đưa chân mặt ra phía trước rồi cong lưng, dùng tay trái mà nắm lấy một ngón chân: – Ðại để… tôi làm như vậy. Bà cố thường vân du, như bánh xe xoay tròn, muôn màu muôn sắc. Lúc tôi bắt ấn, mình mẩy tôi rêm nhức, đầu óc nóng bừng bừng… Gần đây, còn một lão tổ sư khác thường tới lui thăm tôi, lão chê tôi làm trò chơi kiểu con nít. Ðơn Hùng Tín bắt đầu e ngại. Trên dãy núi Tà Lơn này anh ta rõ ràng là bất tài, chưa xứng đáng làm để tử của chàng thanh niên, nói chi đến lão tổ sư. Chàng thanh niên hiểu rõ nhược điểm của người bạn đang ngồi trước mặt. Ðơn Hùng Tín trố mắt như lao vào một thế giới vô hình. Từ đây tới điện Cán Dù, mỗi khi trời mưa lắc rắc, ngoài dấu chân heo rừng hoặc hươu nai, đôi khi thiên hạ gặp ngoài dấu chân nhỏ nhỏ của một người con gái. Nàng là ai? Càng khó hiểu hơn là những bước chân ấy được in trên cát xa cách nhau. Dấu chân mặt và dấu chân trái nàng giống hệt dấu của kẻ đi với đôi hài… bảy dặm. Mưa bắt đầu rơi, Ðơn Hùng Tín rùn mình hỏi kỷ: – Thật vậy không? Chàng thanh niên đáp: – Nhiều tay tổ sư lập đàn để”triệt” vong hồn kẻ khuất mặt nhưng nàng vẫn chưa chịu về. Anh bạn mà triệt được nàng, ắt nổi danh. – Tôi chưa học tới thứ ấn đó… Ðơn Hùng Tín đáp. Chàng thanh niên đắc ý, hiểu rằng người khách lạ có thân hình to lớn ấy đã lọt vào cạm bẫy tâm lý của mình. Chàng nói tiếp: – Ở đàng kia, còn một ông lão tài ba lỗi lạc. Lão ta đang nắm giữ bộ sách”Thiên thư bí quyết.” Anh bạn đọc qua bộ đó chưa? Ðơn Hùng Tính đáp: – Tôi nghe sơ qua cái tựa chớ chưa đọc. Chàng thanh niên cố ý giữ thể diện dùm cho người khách lạ. Theo lời thuật của anh ta thì ông lão kia học được vài phép mầu nhiệm trong bộ”Thiên thư bí quyết.” Lão nuôi một con khỉ, mỗi ngày cho khỉ uống một lá bùa. Uống đến lá bùa thứ bảy thì con khỉ nọ tự nhiên ngã lăn ra chết. Lão đem xác con khỉ bỏ trong cái hộp bằng cây trầm hương. Ðúng trăm ngày, lảo mở hộp ra, cho con khỉ uống lá bùa thúu tàm. Khỉ mở mắt, bắt đầu chạy nhảy lanh lẹ như xưa. Và mỗi ngày khỉ chạy đến chân núi, ăn cắp đúng hai đồng xư về nạp cho ông lão. Ðộng lòng tham, Ðơn Hùng Tín nói: – Mưa kế đó mầu nhiệm, nhưng mỗi ngày có hai xu, ít quá. Con khỉ tuy khôn lanh ngặt nó hành đồng theo thói tiểu nhơn, trộm cắp lén lút. Tôi đây muốn làm cách nào… lấy của giữa ban ngày. – Nghĩa là… ăn cướp: Ðơn Hùng Tín gật đầu: – Nhưng ăn cướp đâu có nghĩ là làm chuyện bất lương thất đức. Mình ăn cướp đường đường, bắn súng cho chủ nhà cướp hay tin trước. Mình ăn cướp tiền bạc của Tây tà, đem phân phát cho kẻ bần hàn… Luận điệu dối trá, giả nhân giả nghĩa ấy bỗng nhiên được chàng thanh niên tán đồng. Thật ra từ bốn năm trường nay, chàng thanh niên lên núi với hy vọng lập nghiệp. Hồi ở Châu Ðốc, chàng ta làm nghề dạy học rồi bị sa thải vì tội cờ bạc và hút thuốc phiện. Lên ở ẩn trên núi, chàng ta không đủ can đảm để luyện phép, tu tiên nhưng vẫn nuôi mộng được làm quân sư cho một kẻ anh hùng. Hôm nay, gặp kẻ anh hùng”vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” như kẻ đang viếng động, chàng mừng khấp khởi. Năm sáu ngày ròng rã, Ðơn Hùng Tín ăn ngủ tại nhà chàng thanh niên. Chàng ta giới thiệu: – Tôi là Giáo Phép, đại ca cứ gọi tôi bằng em. Ðơn Hùng tín đáp: – Gặp được chú Giáo, tôi mừng như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Xem qua truyện Tống, truyện Ðường, tôi thích có một người… Ðó là Ðơn Hùng Tín, người tận trung với chúa. Mai chiều mình làm giàu, cùng nhau chia cơm xẻ áo. Giáo Phép nói rỉ vào tai Ðơn Hùng Tín, mặc dầu chung quanh hang đá chẳng có người thứ ba nào rình nghe trộm: – Mấy ông già tiên ở trên núi… nhứt định đâu thèm làm đệ tử cho anh em mình. Muốn lập đảng cướp, mình nên qui tụ bọn người đốn củi dưới chân núi. Ðơn Hùng Tín cau mày: – Làm sao thu phục họ được? Mình không biết “triệt” bà cố, ngồi đàn bắt buộc cô gái ma xuất hiên hoặc… nuôi khỉ? – Dễ quá. Ðời vật chất văn minh. Tây cai trị nước mình được là vì Tây có súng. Mình nên dùng súng để trị súng! Ðơn Hùng Tín lắc đầu: – Làm soa lập đạo binh chống với Tây tà được? Thú thiệt với chú Giáo, tôi có mang lên đây một khẩu súng”mút cơ tông” với ba viên đạn mà thôi. Giáo Phép mừng quýnh, nói rỉ vào tai Ðơn Hùng Tín ba điều bốn chuyện rồi xin phép đại ca xuống núi vài ngày để mua sắm vài thứ bùa phép cần thiết, chờ khi phất cờ gióng trống, chiêu quân mãi mã. Nghe qua, Ðơn Hùng Tín cười dòn, vỗ đùi bôm bốp… Giáo Phép từ Châu Ðốc trở về núi Tà Lơn. Ðơn Hùng Tín mừng rỡ sau khi nghe giải thích vài chi tiết trong quyển sách khá dày, đóng bìa da: – Thiệt vậy hả chú Giáo? Ngày mai chú xuống chợ Cần Giọt truyền rao, ngày mốt tôi xưng vương, chánh thức ra mắt. Mười ngày sau nữa, tôi… làm giàu, công ơn chú, chẳng bao giờ tôi quên. Giáo Phép đắc ý, lật qua lật lại mấy trang sách: – Ðúng là bộThiên thư bí quyết viết bằng chữ Tây. Bên Tây họ thí nghiệm nhiều lần rồi, ở họi chợ phiên… thiên hạ kéo tới đông nghẹt, nhiều người ngất xỉu vì ngột hơi thở, vì quá sợ sệt. Huống chi ở xứ Tà Lơn khỉ ho cò gáy này. Từ đó đến chiều. Ðơn Hùng Tín uống rượu khá nhiều. Anh ta đem khẩu súng ra chùi cho bóng láng và đếm tới đếm lui mấy viên đạn. Với chiếc kềm sắt, anh ta tháo đầu đạn, ráp vào rồi lại tháo ra. Hồi lâu, như chưa vừa ý, anh ta đốt đèn sáp để lấy chất khói đèn… Giáo Phép xuống núi, truyền rao với các anh hùng tứ chiến: – Sáng mai, mời anh em tới điện Cán Dù xem Ðơn Hùng Tín… thổi bùa. Ai nấy tỏ vẻ lạnh lùng: – Chán bùa phép quá rồi. Tụi tui muốn tìm thứ bùa phép nào… đem lại cơm gạo hoặc tiền bạc để nuôi vợ nuôi con. Chẳng lẽ tụi tôi lưu lạc tới xứ này để học bay nhảy trên gành đá, tranh tài với loài khỉ, loài vượn. Giáo Phép đáp: – Bùa phép của Ðơn Hùng Tín nhứt định đem cơm gạo vàng bạc cho tất cả các đệ tử. – Làm bạc giả à? Liệu Ðơn Hùng Tín ăn thua với lính mã tà được không? Ðơn Hùng Tín là ai? Ở xứ núi non, tụi tui nghe nhiều cái danh hiệu nghe điếc con ráy, rốt cuộc gặp toàn nhữngđại ca thuộc vào hàng”khôn nhà dại chợ.” Ðể chứng tỏ mình là kẻ khiêm tốn. Giáo Phép ngồi xuống, nghe đám anh hùng tứ chiến thuật lại những trận”hô phong hoán võ ” thất bại, lỡ cười lỡ khóc. Nào là Tiết Ðinh San… chạy bò càn khi đánh cướp, bị chủ nhà vây bắt. Chủ nhà nào có tài ba gì đâu cho cam? Ðám gia nhân chỉ hò hét, đốt pháo tre, liệng chai đựng đầy nước mắm. Miểng vẻ chai bể, dính nước mắm mà ghim vào da thịt thì phải biết! Nó gây thương tích nhức nhối vô kể. Lại còn chuyện Tiết Nhơn Quí tự xưng biết”thăng thiên độn thổ” nhưng khi biểu diễn thì”thăng ” lập tức! Một người trong đám cử toạ đưa ra”cây dao con chó,” yêu cầu Tiết Nhơn Quí ghim vào da thịt. Tiết Nhơn Quí ngáp rồi ụa mửa, đôi mắt ngơ ngác, hẹn sẽ lóc từng miếng thịt của mình cho cử toạ xem… vào dịp khác thuộc ngày lành hơn, tháng tốt hơn và giờ khác linh thiêng hơn. Giáo Phép lắc đầu: – Xưa nay, những người giả thì nhiều mà những người thiệt thì ít. Tôi là người có ăn học, anh em dư biết… Tôi chẳng bao giờ sùng bái ai, vậy mà tôi đành thọ giáo với Ðơn Hùng Tín. Ông này ghê gớm lắm… Bọn anh hùng tứ chiến đáp: – Ghê tới mức nào? Ông thuộc vào hạng người siêu phàm, súng bắn vào không nổ chứ gì? – Ông giỏi hơn một bậc. Súng bắn nổ rầm rầm không chết! – Súng gì? – Súng”mút cờ tông” của Tây. – Tại sao ổng không chết? – Nhờ đọc bộ “Thiên thư bí quyết.” Ổng luyện tập… mười mấy năm trường ròng rã. Sau khi súng nổ, ổng cười “hề hề.” Ngày mai đúng vào giờ ngọ, tại điện Cán Dù… Bà con nhớ tới xem cho biết. Nguồn tin Ðơn Hùng Tín sắp hạ san khiến bọn anh hùng tứ chiến xôn sao. Họ nói chuyền miệng, kéo tới điện Cán Dù. Ðã từng lưu lạc giang hồ, sống ngoài vòng pháp luật, họ dư hiểu: Nếu phò tá cho một kẻ súng bắng không chết dĩ nhiên họ sẽ làm giàu. Ðơn Hùng Tín sẽ kéo… toàn đảng, dạp khắp đó đây, từ thôn quê tới thị thành, tha hồ bao vây nhà mấy ông cai tổng, chận xe đò… hoặc bắt cóc, thủ tiêu vài ông Tây cho biết mặt.
Ðơn Hùng Tín mặc quần cụt ở trần, mình mẩy xăm toàn… rồng và chim phụng hoàng. Ngay giữa ngực anh ta, còn có hàng chữ Pháp, nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc phá khám Bách Ti 1789 ở mẫu quốc xa xôi…Tự Do – Bình Ðẳng – Bác Ái. Anh ta đứng sẵn trên miệng hố: – Nếu chết thì tôi bỏ xương dưới cái hố oan nghiệt này để đền tội nói láo với bà con. Tôi biết bà con chưa tin. Rồi anh ta khoác tay: – Chú Giáo! Ðem cây súng với viên đạn cho bà con coi trước. Xưa nay, bà con thuờng gặp nhiều vụ bắn súng giả, nào họ dũa”con cò” súng hoặc xài súng giả, đạn giả. Giáo Phép trao cây súng”mút cơ tông” bóng láng cho từng người xem. Và điều này rất quan trọng. Chàng ta đưa ra một viên đạn bằng đồng. Ðầu đạn sáng choang nhọn lễu. Bọn anh hùng tứ chiến rất kiêng oai loại súng”mút cơ tông.” Nghe đâu hồi giặc Âu Châu đại chiến 1914 – 1918, Pháp quốc thắng Ðức quốc nhờ loại súng thần tốc này. Và anh hùng Phan Xích Long đòi phá khám Sài Gòn cũng đã bó tay chịu phép khi nhà cầm quyền Pháp cho nổ chỉ thiên vài phát. Giáo Phép xin lại cây súng rồi nói: – Súng thứ thiệt, đạn thứ thiệt. Bà con còn thắc mắc gì không? Và đằng kia là Ðơn Hùng Tín đang ở trần. Ðơn Hùng Tín quát to: – Cứ bắn cho mau. Tôi đứng cách họng súng chừng năm thước. Bà con cứ xáp lại gần, cách tôi chừng một thước. Giáo Phép nạp đạn vào lòng súng trong khi hàng chục cặp mắt đổ dồn về mấy chữ Tự Do – Bình Ðẳng – Bác Ái … Lồng ngực của Ðơn Hùng Tín phồng lên, xẹp xuống… Ðơn Hùng Tín nhép miệng như đang đọc thần chú… – Ðùng! Mùi khói thuốc bay nồng nặc. Cử toạ rú lên? Ðơn Hùng Tín vẫn đứng sững, sống nhăn. Và anh ta đang nhe răng cắn viên đạn đồng! Ai nấy im lặng… Ðơn Hùng Tín nhả ra, viên đạn đồng rớt xuống đá nghe tiếng”bốc” lăn tròn… Giáo Phép chạy tới lượm viên đạn, trao cho cử toạ: – Thấy chưa! Ðơn Hùng Tín… đớp viên đạn. Viên đạn còn nguyên không móp! Trong đám cử toạ, có kẻ… như đang hồ nghi điều gì. Kẻ ấy cầm viên đạn, đưa qua đưa lại để quan sát. Nhanh như chớp, Giáo Phép nạp viên đạn thứ nhì, nhắm ngay đầu kẻ ấy mà bắn: – Chát! Máu tuôn ra từng giọt trên vách đá. Kẻ ngạo mạn ấy nghiêng đầu, từ từ ngã gục. Giáo Phép chỉ tay vào mặt hắn: – Tao bắn… cái vong hồn của mầy cho mầy thấy! Kìa! Trên vách… mấy giọt máu tươi của mầy. Mầy chưa chết đâu! Day mặt mà xem…
Từ đây oai danh của Ðơn Hùng Tín nổi như cồn. Bọn đệ tử vững bụng rằng”đại ca” của mình thuộc vào hàng”súng bắn không chết.” Ðơn Hùng Tín trở thành vị hung thần của đất Nam Kỳ thuộc địa, gây nhiều sự bận rộn cho nhà cầm quyền Pháp. Là kẻ sanh sau đẻ muộn, người viết bài nầy chỉ nghe thuật giai thoại kể trên. Bộ”Thiên thứ bí quyết” là loại sách gì? Tại sao anh ta cắn được viên đạn vào miệng? Lão quân sư Giáo Phép bây giờ ở đâu để giải đáp? Tình cờ, chúng tôi đọc được quyển sách ảo thuật của Yvon Yva, một người Pháp. Sách ấy giải đáp toàn vẹn kỹ thuật súng bắn không chết của các tay gian đạo sĩ Âu Châu đang áp dụng. Ðại khái, họ nạp vào nòng súng một viên đạn có cái đầu”ban” giả, đúc bằng sáp. Ðầu đạn sáp ấy nhuộm khói đèn nên giống màu đồng đen. Súng nổ, đầu đạn sáp chảy ra. Và Ðơn Hùng Tín đã ngậm sẵn trong miệng một đầu đạn thứ thiệt, trưng ra sau khi súng nổ. Phát súng thứ nhì… đổ máu. Ðó cũng là viên đạn có đầu”ban” bằng sáp, trong lòng đầu”ban” chứa son tàu, giống hệt máu. Có điều chắc chắn là Ðơn Hùng Tín và quân sư Giáo Phép chẳng bao giờ đọc sách của Yvon Yva, sách này mới xuất bản từ vài ba năm nay. Có thể là Giáo Phép đọc một quyển sách khác rồi nghiệm thêm, đem ra thực hành với sự góp ý của Ðơn Hùng Tín. Quả thật những người sống”nhàn cư” ở núi Tà Lơn là những kẻ lợi hại, thông minh hơn… người Pháp.
Ðêm ấy, ngôi nhà lầu của cai tổng Báu rộn rịp khác thường. Hàng chục cây đèn măng xông cháy sáng rực ở ngoài sân và trong phòng khách. Từ bốn hôm trước, bọn gia nhân phải thức khuya dậy sớm để treo bông kết tuột, chuẩn bị ngày gắn huy chương Nông Nghiệp (Mérite agricole) do quan phó tham biện cử hành. Các thân hào, hương chức hội tề đã tề tựu từ hồi bốn giờ chiều. Ông tổng Báu mặc áo dài khăn đóng đứng ngoài cửa bắt tay từng người. Mặt trời xuống dần, cảnh vật trở nên âm u. Ông tổng chạy tới lui, quát tháo từng chập: – Xong chưa! Nhớ un muỗi bốn phía sân. Quan phó tham biện là người Lang Sa. Ổng sợ muỗi lắm. Muỗi cắn… tức là chích nọc vi trùng sốt rét. Hôm trước, ông căn dặn làm thế nào đừng cho muỗi cắn ổng! Rồi ông tổng nói với tên tổng khậu (đầu bếp): – Sửa soạn cho xong đi! Chừng một giờ nữa… Tên tổng khậu đáp: – Dạ, đâu đó xong xuôi rồi. Bữa này, nhứt định quan phó tham biện hài lòng. Món này đặc biệt… ngon hơn đồ Tây. Rồi anh tổng khậu chạy vào phòng khách. Anh ta trở ra, mặt mày hơ hãi: – Chết cha! Ông cho phép tôi sửa soạn ngay giữa sân này… Phải đốt lửa trước để có than… Ông tổng Báu gật đầu: – Cứ dọn ngay giữa sân. Nãy giờ, tao nói trừ hao… Còn sớm mà. Dưới ánh đèn măng xông sáng trưng còn hơn ban ngày, bọn gia nhân hì hục làm việc dưới sự điều khiển của anh tổng khậu. Họ chất hàng bảy tám chục khúc củi, đốt cháy rực trời, theo kiểu… hướng đạo đốt lửa trại, có điều khác là đống lửa ấy dài như hình chữ nhựt. Hồi lâu lửa ngọn hạ xuống, họ đem tới năm ba cần xé đựng đầy vỏ dừa, lolại vỏ dừa tươi, phơi khô. Mấy ông hương chức hội tề khen nức nở: – Than vỏ dừa đượm lắm. Mớ vỏ dừa được tung vào đống lửa. Một mùi thơm thơm bay ra… Trong khi ấy anh tổng khậu đến phía sau nhà, truyền lịnh: – Ðập đầu con bò con cho mau. rồi cạo lông sơ sơ. Nhớ mổ bụng, đem bộ đồ lòng ra cho sạch. Phải giữ nguyên hình dạng con bò: đuôi, móng, lưỡi, lỗ tai… Mất một món là bọn mình… mất danh dự. Bọn gia nhân đốt đuốc, đập đầu con bò con. Anh tổng khậu vào nhà bếp thúc hối: – Nhớ chưa! Bàn thứ nhứt đầy chuối chát; bàn thứ nhì, khế chua; bàn thứ ba, bánh hỏi; bàn thứ tư, bánh tráng; bàn thứ năm, mắm nêm; bàn thứ sáu, muối tiêu. Mấy chỉ ở nhà bếp cười dòn! – Ðầy đủ hết rồi. Còn bàn thứ bảy? Anh tổng khậu nói: – Bàn thứ bảy thì dành riêng để uống rượu. Cứ khiêng lên sau, khi tôi ra lịnh… Ðống lửa than đã ngún đỏ rực giữa sân. Hai tên gia nhân cắm sẵn bốn cây nọc, mỗi đầu hai cây tréo lại. Ông tổng Báu cười hì hì: – Món này đặc biệt lắm, bò gác tréo! Bên Tây, họ chưa ăn uống sang trọng như ở xứ mình. Một ông hương chức hội tề nói phụ họa: – Hồi nào tới bây giờ, tôi nghe nói thịt bò gác tréo nhưng chưa nếm lần nào. Ðêm nay, dịp may hiếm có… bỗng dưng mọi người đều nhảy nhổm. Từ phòng khách có tiếng con chim gì kêu to: – Ré… ré… ké… ké… Ông tổng Báu đứng dậy, giận xanh mặt: – Bà Hai đâu? Tôi căn dặn mấy bữa rày mà cứ để như vầy. Con trích phá đám. Ðêm nay, coi chừng… Cử toạ cười vang lên. Con trích vừa nhảy vừa bay sập sận ra sân. Nó to bằng con gà tre, lông xanh mướt như lông chim sa sả (chim chả). Cái mồng con trích cứ đưa qua đưa lại, đỏ hói… Ðôi chân đỏ đậm nhảy tới, quơ móng nhọn lễu, bén như dao cạo. Ông Tổng Báu la tiếp: Bà Hai chính là người vú già nuôi bé Kiều, đứa con gái út của ông tổng. Bà cố sức chạy theo… Con trích cứ”ré” lên, bay vòng quanh đống lửa. May quá, bà Hai chận đầu con trích, ôm vào lòng, nói khẽ với ông tổng như để giải thích, xin lỗi: – Dạ, cô bé Kiều mở cửa thình lình. Vừa dứt lời, bé Kiều chạy tới, khóc thút thít: – Ba ơi! Con trích đâu rồi? Ba rầy con hả? Ông tổng báu vuốt tóc con: – Thôi nín đi. Ba rầy bà Hai chớ đâu có rầy con, con lên lầu mà ngủ đi. Bé Kiều nũng nịu: – Con không ngủ đâu. Tại sao ba nhốt con trích trong lồng. Nó kêu hoài, tội nghiệp nó lắm. Từ ngoài sân, đứa gia nhân chạy vào, nói giọng nghiêm trang: – Thưa ông! Ca nô ông phá tham biện tới rồi! Ông tổng Báu giật mình, nói với bà Hai: – Ðược rồí Bà thả con trích ra khỏi lồng. Cho con trích vô ở trong phòng với bé Kiều nghe không? Rồi ông nài nỉ: – Bé Kiều! Ðêm nay, ba mắc công chuyện. Con ở trong phòng mà chơi với con trích. Kẹo bánh thiếu gì ở trong đó. Bà Hai ôm con trích, vào phòng khách rồi lên lầu, bé Kiều chạy theo bà. Nó mừng rỡ, ông tổng không nhốt con trích nữa. Nó tha hồ đùa giỡn, bẻ bách bích qui cho con trích ăn…
Con trích, gọi nôm na là”trích ré” thuộc vào loại chim rừng đẹp nhứt. Nói đúng hơn, nó là loại chim sống ở nơi đồng cỏ hoang dại. Trích bay rất thấp, lủi trong cỏ rất khéo một khi lâm nguy, bay không kịp. Thịt trích ăn khá ngon, nào kém thịt gà. Qua lúc sa mưa, nếu lội bộ qua vùng cỏ mênh mông, ta có thể gặp hàng chục ổ trích, trong mỗi ổ có năm sáu trứng. Như người, trích cất cánh bay bổng hoặc chui xuống cỏ, đứng như chết. Trích lại có tài đá lộn như gà. Nhiều người nuôi trích để giữ nhà. Mỗi khi gặp người lạ, trích”ré” lên inh ỏi để báo động, rồi chạy tới, vừa cắn, vừa đá, vừa bay… Bị tấn công thình lình, khách lạ khó bề xoay trở, thường chịu rách quần áo, trầy da hoặc đui mắt. Bé Kiều là con gái út của ông tổng Báu. Ông tổng có đưa con trai lớn, chết vì bịnh ban đen hồi năm ngoái. Bé Kiều là đưá con gái duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ bé Kiều mất khi bé Kiều được đầy tháng. Vì vậy, bé Kiều là hòn ngọc trong gia đình. Một hôm, lúc dạo xóm với ông tổng, bé Kiều gặp con trích nuôi trong nhà người tá điền. Bé Kiều khóc lóc, đòi đem con trích ấy về nhà nuôi cho bằng được. Ông tổng chiều con, sắm chiếc lồng sơn son để nuôi trích. Nhưng bé Kiều giận lẫy, không muốn nhốt con trích vào lồng. Con trích trở thành con búp bê được bé Kiều nân niu… Hễ bé Kiều đi đâu là cont rích chạy theo đó như hình với bóng. Thỉnh thoảng, con trích phóng uế nơi phòng khách. Bà Hai đành phải làm công việc lau chùi… và lau chùi không hở tay nếu con trích ăn uống không tiêu. Những lúc ấy, bé Kiều khóc lóc, đòi kiếm thuốc cho con trích uống… Ông tổng Báu đành xuống nước nài nỉ con, hứa mai hứa mốt. Ban đêm bé Kiều để cont rích ngủ bên giường, sợ kẻ trộm lẻn vào nhà bắt con trích cưng. Ông tổng lắm lúc bực mình và tỏ ra thông cảm với nỗi khổ nhọc của bà Hai:
– Bà đừng phiền, bé Kiều thiếu tình thương của mẹ. Nó gắt gỏng khó tánh, tội nghiệp nó. Vái trời cho con trích sống hoài. Rủi con trích chết, chắc nó mang bịnh theo.
Buổi gắn huy chương Nông Nghiệp đã cử hành xong. Ông tổng Báu đứng im như một người lính, ưỡn ngực, nín thở. Sau đó, ông xin phép với quan phó tham biện: – Mang huy chương lúc ăn uống là điều thất lễ với… chánh phủ Lang Sa. Tôi muốn đem cái huy chương này cất trong tủ thờ… Quan phó tham biện cười nhếch mép rồi gật đầu, vỗ tay… Tất cả cử toạ đứng dậy, vỗ tay phụ hoạ hồi lâu mới dứt. Cai tổng Báu bước ra sân, nói khẽ với anh tổng khậu: – Ðem món ăn ra giữa sân! Quan phó tham biện hơi ngạc nhiên. Ban nãy ông tổng Báu giới thiệu món ăn duy nhất: thịt bò con. Bây giờ, bốn đứa gia nhân đặt con bò con lên kiệu, khiêng ra sân, gác lên mấy cây tréo, trên đống lửa than đỏ rực. Trông con bò ngỗ nghĩnh, ngây thơ và nên thơ quá! Nhờ tài khéoléo của anh tổng khậu, con bò như sống lại, nhăn răng cười trên đống lửa hồng! Ban nãy, anh ta đã dùng hai khúc cây nhỏ, chỏi mí mắt khiến con bò vẫn thức tỉnh trong cái chết, đôi mắt tròn xoe, trao tráo! Anh tổng khậu khoát tay làm dấu hiệu với mấy người nhà bếp. Họ xúm nhau khiêng bàn, mấy cái bàn riêng biệt đầy chuối chát, khế chua, mắm nêm. Ðâu đó xong xuôi, ông tổng Báu trịnh trọng đứng dậy. – Thưa quan phó chủ tỉnh, thưa quí anh… hương chức hội tề. Hôm nay là ngày vui, chúng tôi xin đãi tiệc mọn. Muốn ăn món thịt bò gác tréo này, xin quý vị chịu phiền dời gót ngọc dạo chung quanh con bò. Lời tục thường nói: Ngồi một chỗ ăn ít, trái lại, nếu vừa đứng vừa ăn thì ta ăn nhiều hơn… Quan phó chủ tỉnh nhờ hiểu chút ít tiếng Việt nên gật đầu, vỗ tay. Chờ khi tràng pháo tay chấm dứt, quan phó chủ tỉnh nói to: – Ông cai tổng là chủ nhà, chủ tiệc. Vậy thì mời ông ăn trước cho mọi người bắt chước theo… Ông tổng Báu cúi đầu: – Cám ơn quan lớn. Quan phó chủ tỉnh rót ly rượu chát để tán thưởng: – Ông cai tổng uống, uống cạn ly… Uống xong ly rượu, ông tổng Báu càng cao hứng, nói thao thao bất tuyệt: – Món ăn này ăn bằng cây dao và đôi đũa. Trước tiên mình cầm dao, đâm lụn vào da con bò… Quả đúng như lời, mũi dao vừa xắn vào da bò là một lỏi thịt đỏ tươi từ từ vọt ra. Ông tổng Báu cắt khúc thịt nửa sống nửa chín ấy, gắp trong đũa. Ðến bàn thứ nhứt, ông lượm một miếng chuối chát, kế đến, miếng rau sống, miếng bánh tráng rồi ông gói lại, đem chấm tại bàn có mắm nêm. Tràng pháo tay nổi lên… Ông tổng đưa miếng thịt bò vào miệng. Rồi ông đến bàn rượu, nâng lên chén rượu đế! Cử toạ lần lượt vào tiệc. Họ sáp hàng một, lụi mũi dao vào hông con bò, cắt thịt rồi đi dạo vòng quan con bò, từ bàn chuối chát đến bàn rượu… theo cái vòng lẩn quẩn thú vị. Ðêm càng khuya, bao tử của đám thực khách càng đầy thịt rượu… Lần đầu tiên, được thưởng thức món ăn đầy đủ hương vị “bản xứ thuộc địa miền nhiệt đới,” quan phó chủ tỉnh uống rượu say mèm… Ông ta nói: – Uổng quá! Phải chi ở chợ… mình mở ra dạ hội khiêu vũ. Ông tổng Báu chắp tay, kiếu lỗi: – Dạ, chốn này quê mùa, thiếu gái đẹp… Ðâu được. Ðàn ông có thể khiêu vũ với đàn ông… Nãy giờ, ăn thịt bò hơi nhiều, ăn chỉ có một thứ. Bỗng dưng, từ trong phòng khách có tiếng”Ké! Ké! Ré! Ré!” lanh lảnh! Cử toạ giựt mình và ông tổng Báu như sống trong cơn ác mộng! Trời ơi! Con trích ré của bé Kiều lại chạy xuống, vừa chạy vừa vỗ cánh, vừa vỗ cánh há mỏ, hươi móng. Tất cả quan khách đều là kẻ lạ! Bản năng con chim rừng ấy thúc dục nó phải liều mạng để báo động, hành hung đánh đuổi… quân thù! Và trong đám quan khách ấy, người xa lạ và khó thương nhất chính là kẻ lớn con, ăn mặc lạ lùng mà hồi nào đến giờ nó chưa từng thấy. Ông tổng Báu la lên: – Bà Hai! Tôi giết bà bây giờ. Bộ bà ngủ gục ở trển hả? Cử toạ xô ghế, đứng dậy… ông phá tham biện cứ ngồi lì một chỗ. Ông ta khòm xuống thấp, dang hai tay ra để chào đón cho chim quá đẹp. Con trích nhảy tới, đá túi bụi… Ông phó tham biện chủ tỉnh cố gắng chụp nó vào lòng để vuốt ve… Ông tổng Báu la hoảng: – Quan lớn coi chừng! Ông tổng vừa dứt lời, quan phó tham biện cau mày, rút khăn mù soa chùi mấy vết máu tươm ra trên làn da tay vừa bị đâm, bị mổ. Con trích thối lui, thủ thế. Từ phía sau, bé Kiều la lên: – Trích! Trích! Mầy chạy đi đâu vậy? Nãy giờ tao thức dậy kiếm mầy gần chết! Lạ lắm hả? Con trích lại phóng tới, mổ vào mặt quan phó tham biện. Tức giận, quan phó tham biện đứng dậy, đá mạnh. Trúng mũi giày da, cont rích đau điếng, té nhào vì mất thế quân bình. Ông tổng Báu đổ mồ hôi hột vì linh tính như báo trước điềm không may. Ông chạy tới, chụp con trích rồi xin lỗi: – Quan lớn đừng phiền. Nãy giờ tôi nhốt con trích này ở trên lầu. Chẳng qua lạ sự sơ sót. Ðể tôi lấy thuốc thoa cho quan lớn. Nhưng… đường đường một đấng thượng quan, lẽ nào quan phó tham biện lại chịu thua một con chim nhỏ bé… Ông ta nói: – Ðưa cho tôi coi! Tổng Báu run rẩy, nghĩ đến phản ứng của bé Kiều. Con trích ré lên thật to, mổ vào mắt ông phó tham biện. Lần này ông đề phòng trước, chụp mỏ nó rồi vặn cổ. Bé Kiều khóc thét lên: – Trả cho tôi! Trả lại cho tôi! Ông phó tham biện đắc thắng, mặt mày vênh váo như vừa giết được kẻ thù. Bé Kiều là đứa con nít quèn, đâu xứng mặt đối thoại với ông ta. Ông ta tiếp tục làm công việc của kè chiến thắng: – Ðể tôi”rô ti” con trích này, thịt nó ngon lắm. Vừa dứt lời, ông ta quăng xác con trích vào đống than đỏ rực. Bé Kiều từ nãy giờ theo dõi mọi hành động của ông Tây tàn ác. Nó chạy tới để cấu xé ông Tây lạ mặt. may thay, bà Hai chận lại, nài nỉ: – Tội nghiệp tôi, cô ơi! Mùi lông trích bay lên khét lẹt, bé Kiều cắn tay bà Hai để giải vây rồi chỉ ngón tay vào mặt quan phó tham biện: – Chết mẹ mầy! Mầy nướng… Nhanh như chớp, ông tổng Báu tới bên cạnh bé Kiều, bụm miệng con rồi giả vờ đóng kịch: – Bà con xem… Thấy con trích cắn quan lớn, bé Kiều nổi giận, đòi nướng con trích, đòi giết con trích cho hả giận… À! Thôi, lên phòng nằm, sáng mại ba kiếm cho con một con trích khác. Rồi ông nói với bà Hai: – Ðem bé Kiều lên tầng lầu trên. Còn bà thì đứng lẩn quẩn gần đây, coi chừng nó chạy trở xuống, nói bậy, ở tù cả đám. Bé Kiều, nổi điên lên. Hai bàn tay bà Hai nhấc nó khỏi mặt đất, bồng nó lên tầng lầu. Rồi bà Hai trở xuống ngồi chận ngay thang lầu. Bé Kiều nhớ tới con trích khôn ngoan hằng đêm ngủ với nó, hằng ngày ăn uống đùa giỡn với nó. Trời! Con trích này chết rồi! Giận quá. Thủ phạm lại là cha nó. Nếu cha nó không trao cho ông Tây thì con trích vẫn sống nhăn. Bé Kiều quyết trả thù. Phải làm một việc mà cha nó khi hay tin sẽ khóc… như nó đã khóc. Nó sực nhớ đến cái hồ nước ở gần nhà bếp. Mọi khi cha nó căn dặn, ngăn cấm không cho nó lại gần. Ðêm nay, lát nữa, nó sẽ bắc ghế, rình lúc người ở nhà bếp sơ ý… Nó nhảy vô hồ nước để trốn. Hồ nước mát lắm. Nhảy vào đó như nhảy xuống sông. Tại sao cha nó ngăn cấm không cho nó tắm dưới sông…
Tàn bữa tiệc, sau khi quan khách ra về, ông tổng Báu đến tủ thờ, đem cái huy chương Canh Nông ra gắn trước ngực. Rồi ông ta chạy lên lầu để an ủi bé Kiều, khoe khoang với bé Kiều rằng cái huy chương quý hơn con trích. Nếu cần, ông sẵn sàng cho bé Kiều mang cái huy chương để ngủ đêm nay. Ông trố mắt: – Bé Kiều đâu? Bà Hai. Bà Hai đáp: – Dạ, cô bé ở đâu đó mà! Bọn gia nhân đốt đuốc, chạy lăng xăng. Hồi lâu, công việc tìm kiếm được chấm dứt vì một đứa gia nhân đã sực nhớ tới cái hồ nước. Anh ta cầm đuốc, dựa bên thành hồ, trố mắt… bàn tay rụng rời buông ngọn đuốc…
Cách đây hơn sáu chục năm, sáng sáng ở vỉa hè sát tường rào khúc Hai Bà Trưng với Phan Thanh Giản bên hông một biệt thự cổ có một người dựa chiếc xe, lúc đầu là xe đạp cổ lổ sau đó là chiếc Mobylette xanh có chiếc thúng tre đằng sau bán bánh mì chả. Người ta gọi là Bánh mì Cụ Lý. Gọi là Cụ thế thôi chứ ông này lúc đấy chỉ trạc tứ tuần, giọng Bắc Kỳ đặc sệt, đầu chải bri dăng tin láng mướt, vuốt ra đàng sau để lộ một khuôn mặt lúc nào cũng đo đỏ như người uống rượu với chiếc mũi khá to với mấy sợi râu lún phún. Nhìn ông ta chợt nhớ đến khuôn mặt của nhân vật biếm họa Lý Toét đăng trên báo Ngày nay của nhóm Tự Lực văn đoàn. Hay là vì cái sự giống nhau này mà người ta gọi ông là Cụ Lý chăng?
Bánh mì Cụ Lý ngon mà giá bình dân. Chả đủ loại: chả lụa, chả chiên, giò thủ, chả mỡ. Chả nóng hổi, phảng phất mùi hương của thì là. Chả của Cụ Lý không cắt lát như những xe bánh mì khác mà cụ cắt từng miếng lớn, lộn xộn để lung tung trên mẹt lót lá chuối xanh dờn. Từ lúc dừng xe dựa vào hàng rào, cụ cắt không ngơi tay, khách hỏi chuyện, cụ lại nhón miếng chả đưa khách ăn chơi. Xẻ ổ bánh mì, hồi trước bánh mì nướng củi, vỏ bánh vàng, ruột bánh trắng phau chứ không như bánh mì bây giờ, cụ nhét đại mấy miếng chả vào, bốc một nắm hành tây, rắc chút muối tiêu, xì dầu hay nước mắm theo yêu cầu của khách, thế là xong một ổ bánh, không pa tê, chẳng dưa chua, hành ngò chi cả.
Khách chen nhau, lần lượt. Cầm ổ bánh mì nóng, chả tràn trề, cắn một miếng, ngon nhức xương. Khách thường đứng ăn tại chỗ, cũng có khách mang đi. Cụ Lý đứng bán từ 6:00 đến gần trưa thì hết. Cứ hơn tiếng đồng hồ lại có xe chở giỏ lớn bánh đến giao cho cụ, cụ chỉ một mình làm liền tay. Chủ nhật, lễ Tết cụ nghỉ bán như công chức đi làm việc vậy.
Chả của cụ Lý không hàn the, không hoá chất lại được làm thịt tươi nêm nếm với nước mắm ngon nên nó có một vị đặc biệt mà những cửa hàng chả khác không có, lại bán giá bình dân nên khách nối đuôi nhau là chuyện dễ hiểu. Bởi là món ăn bình dân nên khách thường là công chức hạng thấp, nhiều nhất là giới sinh viên học sinh. Thời đấy, hầu như sinh viên Sài Gòn ai cũng từng ăn qua vài lần bánh mì Cụ Lý. Và cũng từ đó, chiếc bánh mì nho nhỏ đầy chả ấy đã trở thành ký ức của một thời. Những món chả của Cụ Lý là đặc sản của xứ Bắc, di cư vào Nam, người Bắc mang theo để rồi trở thành một món ăn phổ biến rộng rãi ở miền Nam. Người Bắc ăn miếng chả để nhớ quê, người Nam cắn miếng chả để hưởng thêm một món ăn đầy hương vị. Cụ Lý trở thành người đem miếng ngon xứ Bắc vào cho người Nam kỳ thưởng thức hàng ngày với giá thật bình dân, ai cũng ăn được, ai cũng mua được.
Biến cố 4.75 Sài Gòn thay đổi. Bo bo, gạo hẩm, bột mì, khoai sắn thế cơm, thay gạo. Hàng ngày, Cụ Lý cũng vẫn tựa chiếc xe mang theo cái thúng chả và bánh mì ở đằng sau. Nhưng ổ bánh mì không còn như xưa, ruột nó đen, vỏ nó tái. Miếng chả cũng kém đi hương vị cũ. Và chủ yếu là cả nước nghèo, cả Sài Gòn đói nên bánh mì của cụ lại trở thành món ăn xa xỉ, khách cũng vơi bớt nhiều.
Mấy năm sau, có lẽ tuổi cũng đã già, cụ Lý giao thúng bánh lại cho con, chiếc xe cũ không thấy nữa chỉ thấy sáng sáng chàng thanh niên nói giọng Nam đặc sệt chạy chiếc Honda vào trong hẻm gần đấy, ngồi với quán cà phê và tiếp tục công việc của Cụ Lý ngày xưa, lại cắt cắt, nhồi nhồi, nhét nhét những cục chả để cho ra những ổ bánh mì cụ Lý.
Rồi cuộc sống lại khá lên, khách lại đông như xưa, thúng bánh chỉ đên 9:00 là vơi, ai đến trễ đành hẹn ngày mai vậy. Quán cà phê hẻm dẹp tiệm, chắc là đội trật tự giao thông không cho lấn chiếm hẻm, thúng bánh Cụ Lý lại giạt ra vỉa hè Hai Bà Trưng, sáng sáng lại thấy nhóm người chen nhau mua bánh, người bán chẳng ngơi tay. Vẫn chiếc thúng, vẫn những miếng chả to nóng hổi bỏ ngổn ngang trên mẹt tre bây giờ lót tấm nhựa xanh xanh và những lát hành tây, bánh mì cụ Lý tiếp tục tồn tại hàng ngày giữa phố Sài Gòn biết bao đổi thay.
Cụ Lý có lẽ chẳng còn sống nhưng những chiếc bánh mì của cụ mãi là ký ức và kỷ niệm của nhiều người Sài Gòn, nhất là những chàng trai mới vào đời, mới bước vào giảng đường đại học thập niên sáu bảy mươi của thế kỷ trước, thời bánh mì Cụ Lý nức tiếng. Thế hệ đó giờ đã qua tuổi bảy mươi, không thường ăn bánh mì Cụ Lý nữa, nhưng nhiều khi nhớ lại, lòng cũng rưng rưng nhớ lại một thời, một thời đã đi qua không trở lại. 2.4.2019 DODUYNGOC
Chiều âm u, gió lành lạnh của mùa Đông dù là mùa Đông Sài Gòn những ngày giáp Tết cũng khiến cho người đi đường ơn ớn ở hai tay. Xe cộ vẫn đông cứng ở bùng binh lắm ngả. Cứ nhích được từng chút. Chỗ ngả sáu này là nơi một lần tui bị choáng buổi trưa đường vắng, xe tự ngã. Từ đó tui không còn phóng năm sáu chục cây số giờ ở đường phố Sài Gòn nữa mà đi chậm hơn và cũng thường lái xe sát lề đường để tránh nguy hiểm. Hôm nay cũng thế, xe cộ chen lấn nhau, tui đi cặp hè đường trước trường Lê Lợi để quẹo Lý Chính Thắng. Và cũng nhờ thế mà tui thấy hắn. Ban đầu là tui nhìn thấy một ông lão bán bóng bay bên lề, khuôn mặt nhìn quen lắm, nhang nhác người bạn cũ từ thuở nhỏ dù giờ già hơn, hom hem hơn, móm mém hơn. Tui có một khả năng rất lạ là chuyện xưa chuyện cũ, bạn bè cũ mèm cũng không quên, gặp bạn từ thời Tiểu Học cách đây sáu chục năm, tui còn kể vanh vách nó ngồi bàn nào, cạnh thằng nào. Trong khi những chuyện mới xảy ra gần đây thì quên tuốt luốt. Tui thấy lão này giống y thằng Tùng, thằng bạn học lớp cuối Tiểu Học và mấy năm Đệ Nhất Cấp ở Đà Nẵng. Tui cố chen qua mấy luồng xe, đến cạnh lão và hét lên: Tùng phải không? Tùng ở Đà Nẵng phải không? Ông lão nhìn tui, ngơ ngác, e ngại, hoang mang một lát và lắc đầu: Anh lộn người rồi, tui không phải Tùng. Nhưng mà cái giọng Quảng Nam đặc sệt ấy, cái giọng khào khào ấy, khuôn mặt với con mắt hơi lé kim ấy, đích thị là Tùng. – Ông chối mần chi, tui nhìn là nhận ra ông liền. Tui là Ngọc, học chung với ông ở trường Nam. Hắn nhìn tui với ánh mắt e dè, lo âu rồi lắc đầu: – Tui không phải là Tùng mà. Anh lộn người rồi Tui ngơ ngác một lát, tự nghĩ sao mình lầm được ta. Là thằng Tùng mà. Lúc đó dòng xe xô đẩy, tui đành rú xe đi. Nhưng vừa quẹo qua, tui dừng xe một lát, quay đầu lại nhìn hắn thì bắt gặp ánh mắt hắn đang nhìn theo tui. Thế là tui chắc hắn là thằng Tùng. Có lẽ hắn đang muốn dấu diếm thân phận, hắn đang tự ti cái nghề hắn đang làm. Hắn không dám nhận bạn bè cũ. Tui quay xe lại, túm chùm bong bóng còn xum xuê trên tay hắn: – Ông chối nữa đi, ông là Tùng lé kim, bạn học của tui. Hắn nhìn tui, ngập ngừng, khoé mắt ươn ướt: – Sao ông nhìn hay vậy. Đã sáu chục năm rồi mà ông còn nhớ sao? Tui kéo tay hắn ngồi lên xe, phố vẫn đông với đoàn xe cuồn cuộn.
***** Với tui, thằng Tùng này có hai kỷ niệm cũng là hai cái ơn mà tui không quên được. Một lần đá banh ở Sân Vận động Chi Lăng, hồi đó chân còn bé, đá cái banh nhỏ xíu và đá chân không. Tui bị đạp cái đinh khá bự, máu chảy dầm dề, đỏ loét nhìn sợ lắm. Tùng là thằng cõng tui đến bệnh viện, hắn vừa đi vừa khóc tu tu, vừa mếu máo: – Mi đừng chết nghe mi, tau đưa mi vô nhà thương, mi không chết mô. Trên đường đi máu chảy ròng ròng ướt cả cái quần hắn. Hắn đợi tui băng bó, chích thuốc ngừa xong mới chạy về nhà tui kêu ba tui đến. Lần khác năm học Đệ Lục, hôm đó thầy dạy Toán bệnh, tụi tui cúp luôn hai giờ sau ra biển Mỹ Khê tắm. Ham vui cả bọn nằm trên phao bị cuốn ra xa, khi phao lật thì nước đã cao hụt chân rồi, Tùng là thằng kéo tui vô, đến bờ thì hắn bất tỉnh, phải nằm bệnh viện mất hai hôm. Do vậy mà hai thằng tui thân nhau lắm, Ba Mạ tui cũng xem Tùng như con. Ba thằng Tùng là Đại uý Biệt Động Quân, cứ đi hành quân miết, mẹ hắn có sạp vải ở Chợ Cồn, gia đình khá giả, hắn lại là con một, hắn chỉ buồn vì ba hắn cứ đi biền biệt. Vui buồn chi hắn với tui cũng kể cho nhau nghe. Hồi nhỏ tui bị đòn hoài, Ba tui đánh đòn ghê lắm, cũng chỉ cái tội thả diều, vô bàu Thạc Gián câu cá, bắt chuồn chuồn. Đôi lần biết tui bị đánh dữ quá, hắn đến xin lỗi Ba tui và nói xạo hắn là thằng kéo tui đi theo chứ không phải vì tui ham chơi mà về trễ. Đến năm Đệ Ngũ thì tui thi vô trường Kỹ Thuật, hắn vẫn tiếp tục học tiếp Phổ Thông. Dù không gần nhau như trước nhưng hai thằng lâu lâu cũng đi chơi với nhau. Ngồi cà phê, đi đánh bi da, đi ăn bánh bèo chén Quan Thuế, bún thịt nướng Lao Động. Lớn chút nữa thì hai thằng chở nhau theo tán tỉnh mấy nữ sinh trường nữ Trung Học, trường Bồ Đề, trường Thánh Tâm. Tui là thằng chuyên môn viết thư tình cho hắn, bởi hắn chẳng có chút khiếu văn chương nào. Hắn có số đào hoa nên lắm bồ bịch, có lẽ tui đã viết giúp cho hắn hàng trăm lá thư tình mùi mẫn và sến chảy nước theo kiểu truyện Quỳnh Dao và bà Tùng Long. Đến năm thi Tú Tài Hai thì hắn rớt, bị động viên vào trường Bộ Binh Thủ Đức, tui đậu, vào Sài Gòn rồi đi du học xa, không còn gặp và nghe tin hắn nữa.
***** Bây giờ gặp nhau đây sau mấy chục năm không tin tức, đời mỗi đứa mỗi khác, ngồi nghe hắn kể đời hắn mà rớt nước mắt. Hắn học Thủ Đức ra, mang lon Chuẩn uý cũng về lực lượng Biệt Động Quân như Ba hắn. Nhưng dù Ba hắn chọn cho hắn một đơn vị ở văn phòng Hậu Cứ lo chuyện lương bổng của binh sĩ, nhưng hắn không nhận, tình nguyện về đơn vị chiến đấu, đánh nhau ra trò, mấy lần bị thương tưởng chết. Chỉ mấy năm hắn đã đeo lon Trung uý và chuẩn bị nhận huy chương gì đấy thì tan hàng năm 1975. Lúc đó ba hắn đã là Trung Tá. Hắn đi học tập cải tạo ở miền Nam, ba hắn lại bị đưa ra Bắc. Học được hơn hai năm rưỡi thì trong một lần đi lao động hắn trốn trại, về nhà thì mới biết mẹ hắn lấy chồng khác, bán nhà, vượt biên. Hắn lang thang xó chợ, làm đủ nghề để sống, lúc nào cũng sợ bị bắt. Hắn đạp xích lô, lại thấy nghề xích lô lúc nào cũng chường mặt ra phố, dễ bị tóm quá, hắn chuyển qua làm thợ cho một lò bún, suốt ngày ở trong lò, yên thân. Nhưng rồi chẳng yên thân như hắn nghĩ. Bà chủ lò bún dù đang ở với chồng đã có hai mặt con lại si mê hắn. Một đêm bà lẻn vào phòng hắn, sức trai khoẻ như voi, hắn quần bà đến mấy lần, bà ta lại càng cuồng si hắn, lẻn vào phòng hắn liên tục. Đi đêm ắt có ngày gặp ma, ông chủ lò bún phát hiện vợ mình đang cỡi trên bụng hắn, phi như phi ngựa đường trường. Hắn bị phang mấy gậy, một cú vào chân gãy ngay ống quyển, băng bột mấy tháng trời và đành từ giã lò bún, giã từ người đàn bà dâm loạn. Cũng may cho hắn, tay chủ lò bún không tố cáo hắn, nếu không hắn cũng tù mút chỉ cà tha. Thế là hắn lại lang thang bụi đời. Hắn không dám làm những việc phải chường mặt ra với cuộc đời vì cái án trốn trại cứ lẽo đẽo theo đời hắn. Hắn biết tin ba hắn đang học tập cải tạo ở Hà Nam Ninh mà cũng không dám liên lạc, cũng chẳng dám đi thăm. Thế rồi hắn đi lên núi, theo đám đào vàng. Làm ăn cũng khá, thời ấy chính quyền chưa siết lắm, quặng vàng nhiều, dân đào vàng cũng không nhiều nên làm ăn được. Nhưng rồi lại một lần nữa nó tiêu đời vì đàn bà. Thường kiếm được vàng vụn, hắn về thị xã bán cho một tiệm vàng quen. Ở tiệm có cô cháu con bà chủ, tuổi khoảng hăm mấy ba mươi, trước đó có chồng chưa thì không biết, hiện tại thì chỉ có một mình. Cũng khá xinh, mắt lúc nào cũng long lanh khi gặp hắn. Có khi lại khen hắn đẹp trai, ráu tóc trông như mấy diễn viên phim Tây. Có lúc lại nắn bắp tay hắn mà khen nhìn anh khoẻ quá. Thế là cái máu đào hoa của hắn nổi lên, tán tỉnh rề rà vài bận, rủ đi cà phê hai lượt, đến lần thứ ba là dẫn thẳng vào phòng ngủ, quất luôn. Mối tình kéo dài được chưa đầy ba tháng, bà chủ tiệm phát hiện, bắt cưới ngay vì sợ cô cháu mang bầu. Thế là hắn có vợ. Hai vợ chồng cưới nhau xong thì thuê một căn phòng nhỏ ở trung tám thị xã, vợ vẫn làm công cho bà chủ, hắn vẫn lên núi đào vàng. Hai vợ chồng bàn với nhau tằn tiện gom góp kiếm đủ mấy cây vàng tìm đường vượt biên. Mỗi lẩn ở rừng về, hắn lại nghe thiên hạ xì xào con vợ hắn lẳng lơ, đi chơi vỡi đủ thằng dân chơi ở thị xã trong những ngày hắn vắng mặt. Hắn có hỏi vợ, nhưng vợ hắn chối, chối là phải thôi, ai lại đi khai khi hắn chưa nắm được chút gì bằng chứng. Một lần từ rừng về, đến tiệm không thấy vợ, về nhà thấy tủ mở, quần áo đổ đạc vợ trống trơn. Nghi ngờ vợ đã bỏ đi mang theo mấy cây vàng gom góp mấy năm. Hắn tức tối cầm xà beng với cây mã tấu đến tiệm vàng hỏi chuyện. Ai cũng bảo không biết, chuyện vợ mày thì mày biết sao lại hỏi chúng tao. Hắn đập nát một chiếc xe Honda và một cánh cửa sắt thì công an đến dẫn hắn về đồn. Vô đồn công an là hắn teo rồi, sợ bị phát hiện là dân trốn trại, nên nó nhũn như con chi chi, hỏi đâu dạ đấy, làm gì thưa đấy, nỉ non kể chuyện bị vợ lừa, có lẽ đám công an cũng tội nghiệp cho hoàn cảnh hắn nên chỉ giữ trong đồn có một đêm rồi thả. Hắn lại làm lại từ đầu với nỗi căm hận khó nguôi. Hắn lại bơ vơ, hắn bỏ chuyện lên rừng, mò về lại Đà Nẵng. Về đến Đà Nẵng thì hắn biết tin cách đó một tháng có người bạn tù với ba hắn được ra tù, có đến nhắn tin là ba hắn đã chết ở trong trại vì thiếu ăn và kiết lỵ. Suốt mấy năm ở trại cải tạo, ông là tù mồ côi vì chẳng có ai thăm và tiếp tế. Hắn kiếm tìm mua được một cái giấy Chứng minh Nhân dân tên Hoàng Lê. Kể từ đó hắn là Hoàng Lê chứ không còn là Lê Văn Tùng nữa. Lê Văn Tùng xem như đã bị xoá sổ bụi đời, không còn ở trần gian này nữa. Hèn chi lúc gặp hắn, tụi gọi tên Tùng, hắn có vẻ hoảng. Có giấy tờ Nhân Dân mới, hắn đi ra Bắc tìm mộ ba hắn. Nhờ có bản đồ dẫn đường của người bạn ba hắn, hắn tìm mộ cũng không khó lắm. Ngôi mộ chỉ là nắm đất lưa thưa cỏ giữa một cánh rừng, trên có một tấm ván mỏng đề tên Lê Văn Định. Xin cải táng mang cốt về không được, hắn đành phải để ba hắn nằm lại cô quạnh nơi chốn xa xôi không biết lúc nào mới đem về cố quận. Trên đường về, ghé Hà Nội hắn lại gặp một thằng bạn khoá đàn em ở Thủ Đức. Thằng này vốn quê ở Nam Định, di cư vào Nam năm 1954 bằng tàu há mồm. Sau 75 nhờ có họ hàng, anh em làm quan lớn ở trung ương nên bảo lãnh nó, đưa về quê. Rồi lên Hà Nội, giờ đang làm bảo vệ chợ, biết hoàn cảnh của hắn, nó bảo làm ăn được lắm, hay huynh trưởng ở lại đây làm ăn với đàn em đi. Chẳng chút ngần ngừ, hắn ô kê ngay. Và thế từ hôm đó hắn trở thành tên bảo vệ chợ, suốt ngày lang thang trong chợ, thu tiền bảo kê, giữ trật tự bằng cái còi luôn gắn trên miệng. Ăn uống phủ phê, đêm nào cũng nhậu. Với quá khứ sĩ quan BĐQ hắn không kém liều lĩnh và gan dạ. Lại thêm sau khi buông súng, hắn sống đầu đường xó chợ nên hắn bộc lộ một tính cách chịu chơi, chơi đẹp với anh em, bản lĩnh với các đối tượng nên đại ca ở chợ khoái hắn lắm. Chúng cứ khen Hoàng Lê Nam Kỳ chơi được. Hơn hai năm sống ấm êm xứ Bắc, hắn khoẻ hơn, trắng trẻo mập mạp hơn, hắn nghĩ sẽ tạm sống lâu dài ở đây, sống được, lâu lâu lại nhảy xe lên Hà Nam Ninh thăm mộ ba hắn, thắp cho ông vài cây nhang, đốt cho ông mớ đô la âm phủ, hắn nghĩ chắc ông cũng vui dưới suối vàng. Thế nhưng cuộc đời nghiệt ngã lại không cho hắn yên. Bởi hắn được lòng anh em, đại ca cũng thương yêu hắn nên thằng đàn em Thủ Đức của hắn cảm thấy bị bỏ rơi vì trước đó nó là đàn em thân tín của đại ca. Thằng này bèn đi báo công an về quá khứ sĩ quan BĐQ của hắn, cũng may là nó không biết hắn là thằng trốn trại, vì chuyện hệ trọng như thế hắn giữ kín như mèo dấu cứt, chẳng bao giờ hé lộ với ai. Một đội công an nửa đêm kéo xuống chỗ trú ngụ của anh em bảo vệ, hôm đó cả bọn đang nhậu quắc cần câu. Hắn mắc đái nên phải ra cầu tiêu tuốt ở bãi ruộng để xả nước cứu thân. Trong này đám công an nhỏ to với tay đại ca. Đại ca bảo nó lên Hà Nam Ninh thăm mộ ba hắn từ hồi sáng sớm, chưa thấy về. Một mặt đại ca sai người chạy ra ruộng báo cho hắn trốn đi. Hắn tỉnh rượu ngay tắp lự. Hắn chạy một mạch ra đường cái, đón xe chạy thẳng ra bến xe, mua vé vào ngay Đà Nẵng trong đêm, người còn sặc sụa hơi men. Hắn lại thất nghiệp, sống lang thang như thằng ăn mày. Bạn bè cũng còn, bà con cũng rải rác nhưng hắn ngại. Đang sa cơ thất thế, hào quang của một thời gia đình danh giá, giàu sang đã qua rồi. Gặp người quen chỉ khiến cho người ta thương hại, chẳng ích gì. Có khi người ta lại rủa thầm: Ai giàu ba họ, ai khó ba đời. Bởi vậy nên hắn cố tránh người quen, bè bạn. Có mấy chỗ thân tình lắm lúc đối đế quá hắn mới ghé qua kiếm bữa cơm hay một đêm ngủ ngắn. Suốt ngày lê chân đi tìm việc. Cuối cùng hắn cũng nhận được một chân tài xế lái xe tải chở hàng biên giới Lào Việt. Được công việc thơm như mít này cũng có bàn tay đàn bà. Hôm hắn đến công ty vận tải này, hắn gặp tay giám đốc người Nghệ An. Tay này từ chối hắn và bảo chỉ nhận người cùng quê. Hắn tiu nghỉu đứng lên định về thì bà vợ xuất hiện. Một cô gái trẻ, đẹp, có vẻ thực quyền hơn ông chủ. Khi nghe hắn muốn kiếm việc, cô chủ nhìn hắn từ đầu đến chân. Râu ria có vẻ giang hồ, cái miệng cười nhếch mép khinh bạc, con mắt lé kim rất duyên, thân hình cường tráng. Cô ấy duyệt. Và hắn trở thành tài xế xuyên biên giới. Những chuyến hàng toàn đồ lậu: thuốc lá Samit, Ba số Năm, Jet, đồ nhựa Thái Lan và đôi khi còn có cả thịt thú rừng quý hiếm. Sau thời gian nắm đường đi nước bước, mỗi chuyến hắn cũng ké thêm vài thùng hàng, cô chủ chắc biết nhưng cũng lơ cho hắn kiếm ăn thêm. Hắn để dành một tài sản kha khá, lại tính chuyện vượt biên. Hắn muốn qua Mỹ không phải khát khao xứ Mỹ như lần trước, hắn chỉ muốn gặp mẹ hắn một lần, một lần rồi thôi. Để nghe mẹ hắn sẽ nói gì, để hắn biết cho rõ tại sao mẹ hắn lại đối xử với ba hắn, với hắn tàn tệ thế. Vẫn đều đều những chuyến đi vượt biên giới, chất lính BĐQ cộng với năm tháng giang hồ đã biến hắn là thằng có bản lĩnh, sống chết với anh em nên cánh lái xe quý và nể hắn lắm. Chuyến nào cũng kiếm được mấy chỉ vàng, hắn cũng dự định dành dụm mua chiếc xe, làm ăn riêng, chẳng lệ thuộc ai và hy vọng sẽ làm giàu. Nhưng người tính chẳng bằng trời, có lần cô chủ đòi đi theo chuyến hàng vì cô bảo đây là chuyến hàng đặc biệt, phải có mặt chủ hàng để thuận việc làm ăn. Nhưng hắn thì biết rõ cô chủ xinh đẹp đang muốn gì nơi hắn. Thế là trong suốt chuyến đi, con thú bị giam hãm bấy nay trong người hắn được dịp cháy bùng lên, cháy ngùn ngụt. Hắn và cô chủ lái xe thì chớ, còn rảnh giờ nào là quấn lấy nhau, một bên sức trẻ thèm khát, một bên là thằng đàn ông mạnh mẽ như núi rừng, nóng rực như lò than đang cháy. Không biết có phải vì hơi hám của chuyện gối chăn như người ta thường bảo đen bạc đỏ tình không? Lúc về, chuyến hàng bị chận ở Hải quan Biên giới. Bị tịch thu lại còn bị kết án buôn lậu hàng cấm. Hắn và cô chủ bị giải về Nghệ An. Cô chủ lắm tiền biết chỗ chạy chọt, thoát nạn. Hắn thân cô thế cô, bị đổ hết tội, kết án mấy năm. Nằm trong tù, hắn ngoan ngoãn chấp hành tốt nội quy, sống lặng lẽ dưới cái lốt của tên Hoàng Lê nào đó nên được đặc xá, phóng thích sớm hơn thời gian kết án. Cũng may trước đây làm được bao nhiêu hắn thu vén gởi ngân hàng, nên vốn liếng của hắn cũng chẳng sứt mẻ gì. Cầm giấy ra trại, hắn cũng chưa biết làm gì, thuê cái phòng nho nhỏ, sáng sáng ra ngồi quán cà phê, nhìn phố xá, chào người quen, lang thang mấy tháng trời như thế. Với cái quá khứ tù tội, cũng chẳng dễ để kiếm việc làm lương thiện. Hắn tìm mối vượt biên. Lần đầu bãi ở cửa Đại, bể ngay phút đầu. Lần hai chạy ra Thuận An ngoài Huế, nửa đêm đi thuyền nhỏ ra thì bị Biên phòng dí, súng nổ ì xèo, hắn và mọi người chạy trối chết, có mấy người bị bắt, hắn trốn thoát được nhưng cũng bị mất ít vàng chồng trước, tàu lớn đến giờ hẹn không chờ, chạy thoát dược đến Hồng Kong. Hắn về lại Đà Nẵng, gom góp món tiền còn lại cũng được gần hai chục cây vàng, bỏ vô Sài Gòn làm lại cuộc đời.
***** Vào Sài Gòn, hắn nghĩ phải an cư mới lạc nghiệp được nên đi kiếm miếng đất, xây cái nhà, mọi việc tính sau. Thế là suốt ngày đi làm thợ hồ, rảnh rỗi hắn đi tìm mua đất. Được cò giới thiệu miếng đất ở Thủ Thiêm, hơn trăm mét mà chỉ có mấy trăm triệu, hắn vừa ý lắm. Nhưng hắn nghe phong phanh vùng này đang có kế hoạch quy hoạch. Để chắc ăn, hắn ra hỏi uỷ ban. Phòng nhà đất của quận bảo hắn khu vực đấy ngoài ranh, quy hoạch chẳng ảnh hưởng gì, thế là hắn chồng tiền, nhận đất, mua bán có giấy tờ đàng hoàng. Hắn xây cái nhà nho nhỏ hai phòng ngủ, cắc củm mua vài cây hoa, mấy giò lan, xây cái hồ cá be bé trước hiên nhà, vui thú với cỏ cây. Từ thằng phụ hồ, sơn nước, hắn tiến lên nhận thầu xây những căn nhà cấp bốn, thu nhập cũng không đến nỗi nào. Hắn mừng vì cuộc sống đã ổn định, đã đến gần tuổi sáu mươi, hắn chỉ mong ổn định và chẳng còn sóng gió. Và do vậy hắn không dám dính với người đàn bà nào, hắn nghiệm ra đời hắn mà dính với đàn bà là có chuyện, nên cố tránh xa. Làm thợ xây dựng, thầu khoán, dù chỉ là anh thầu nhỏ cũng không thể thiếu rượu chè, gái gú. Nhưng hắn chỉ ăn bánh trả tiền với đám gái bia ôm hay gái làm nghề, tránh xa mấy chị em đang thèm khát đàn ông. Nhưng rồi số phận bất hạnh vẫn đeo đẳng đời hắn. Trong một lần đang xây cất nhà, giàn giáo bị sập, một thằng lính của hắn vỡ sọ chết, hắn bị một cây sắt đâm thủng phổi, thập tử nhất sinh mấy tháng trong bệnh viện, tưởng chết. Hắn sút gần hai chục ký, người bắt đầu teo tóp, chân cũng không vững nữa. Hắn về nằm dưỡng bệnh tại nhà. Thu nhập không còn, hắn dự định sửa căn nhà, xây thêm mấy phòng làm nhà trọ cho công nhân và sinh viên. Dự định chưa thực hiện thì hắn nhận được giấy báo nhà và đất hắn đang sở hữu phải bị giải toả vì nằm trong vùng quy hoạch. Hắn lên quận, quận bảo kế hoạch quy hoạch đã được thay đổi, vùng hắn ở sẽ giải toả trắng. Hắn làm dữ lắm, cãi cọ dữ lắm nhưng chẳng được gì. Thế rồi một buổi sáng, lúc hắn đang nằm thở dốc vì vết thương hành hạ và tràn dịch màn phổi, chính quyền đem xe ủi, ủi sạch nhà hắn. Hắn đứng dậy không nổi, người ta khiêng hắn ra bờ hè và đánh sập nhà hắn. Hắn gào thét và bất tỉnh. Cũng chẳng ai để ý hắn trong mù mịt bụi khói. Đến khi hắn tỉnh dậy, căn nhà hắn chỉ còn là đống gạch vụn, hoang tàn như vừa bị bỏ bom. Những giò lan mất hút, hồ cá không còn thấy, chỉ còn bụi mù và tiếng than khóc dậy trời của những người dân, tiếng ầm ì của những chiếc xe ủi. Thế là hắn mất nhà. Hắn chẳng còn chi nữa. Thân tàn, bệnh tật. Hắn có ý định tự tử. Hắn che tạm cái lều trên miếng đất tan tành của hắn, sống qua ngày. Và trong phút tuyệt vọng hắn viết đơn tố cáo chính quyền cướp đất của dân rồi uống mấy chục viên thuốc ngủ, nhưng hắn chưa tới số chết, người ta phát hiện hắn ngất ngư, chở hắn vô bệnh viện súc ruột, và thế là hắn vẫn sống, sống trong nỗi tuyệt vọng khốn cùng. Hắn cùng một số nạn nhân bị cướp đất kéo nhau ra Hà Nội. Họ nghĩ phải ra kêu cứu tận trung ương may ra. Hắn sống vất vưởng ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng mấy năm, bệnh lên cơn thì vào bệnh viện, khoẻ thì lại ra làm dân oan. Thế nhưng, hàng ký lô đơn, rồi hàng chục ký lô đơn gởi đi mà không tiếng vọng. Chẳng có cơ quan, đoàn thể nào trả lời cụ thể cho họ, trong lúc đó những cán bộ cướp đất của hắn thì càng ngày càng lên chức, ngôi vị, ghế ngồi càng lúc càng vững chải hơn. Họ lại kéo về mảnh đất xưa. Người thì lợp mái lều sống tạm. Người thì thuê phòng ở tiếp tục kêu oan. Hắn cũng vậy, sau mấy năm làm dân oan không ai trả lời, lại trở về mái lều trên nảnh đất cũ không còn phải của mình, ngày ngày lê thân bệnh hoạn đi bán vé số nuôi thân. Có người mách bán bong bóng có lời hơn, hắn chuyển qua bán bong bóng. Gần đây, báo chí, truyền thông nói nhiều về nỗi oan khiên của người dân Thủ Thiêm. Một số lãnh đạo đã tiếp xúc với dân. Hắn hy vọng cuối đời sẽ có một chốn yên thân. Hắn mong kết thúc sẽ như hắn mong.
Hắn ngồi kể chuyện đời hắn mà hắn tỉnh như kể chuyện của người nào khác. Chốc chốc lại rót đầy ly bia, uống cái ực rồi kể tiếp với cái giọng khàn khàn, đều đều. Tui ngồi nghe, chẳng nói câu gì chỉ đốt thuốc liên tục nghe chuyện đời hắn. Hắn nói đến đó thì lặng im. Ngồi nhìn ra khoảng trống trước quán như một kẻ không hồn. Tui cũng lặng im, đau đớn với những nghiệt ngã mà hắn đã trải qua. Từ cậu công tử con nhà giàu đến lão bán bóng bay hôm nay là một cuộc đời. Một cuộc đời của một con người, chẳng ai biết được tương lai. Số phận của con người lại gắn liền với số phận của một dân tộc. Nỗi đau của đất nước chi phối cuộc đời của mỗi cá nhân. Hắn, tui và tất cả mọi người đều như vậy. Và mỗi cá nhân lại chịu chi phối của phần số đời mình. Khoảng lặng im rồi cũng trôi qua, tui nắm chặt tay hắn: – Thôi thì, tất cả cũng đang qua, đời tau, đời mi rồi cũng sẽ qua. Bây giờ tau tính ri, mi về ở với gia đình tau, tau thu xếp cho mi một phòng, ban ngày mi muốn làm chi, mua bán chi là việc của mi, tối mi về với tau. Khi nào vụ đất đai của mi giải quyết, lúc đó tính sau. Hắn nhìn tui, con mắt lé kim lim dim đầy những nếp nhăn: – Không được, tau không thể làm cho sinh hoạt gia đình mi xáo trộn, tau lại bệnh hoạn liên miên, nhà mi sẽ khổ với tau lắm. Tau cám ơn mi đã không quên thằng bạn cũ nhiều bất hạnh này, được vậy là tau đã sướng lắm rồi. Cả hai lại lặng im. Cả hai lại rót đầy ly và đốt thêm điếu thuốc. Đêm đã về khuya. Đường đã bắt đầu vắng. Quán cũng lần lượt thưa khách. Tui bảo hắn: – Thôi rứa cũng được! Mi không về nhà tau ở cũng được, nhưng tau sẽ thuê cho mi một căn phòng ở gần nhà tau, có chi chạy qua chạy lại cho gần. Khi nào đất mi xong thì lại tính. Khỏi bàn nữa. Uống ly nữa rồi về. Hắn bảo: – Ờ rứa đi, nhưng có chuyện này tau nghĩ nãy chừ, chừ mới nói, tau muốn nhờ mi, bác sĩ bảo tau bị viêm gan siêu vi C, lại thêm vết thương trong phổi, chắc cũng sống không bao lâu nữa. Nếu mi biết tau chết, mi dem tau đi thiêu rồi rải tro xuống sông, mi giúp tau lần cuối vì tau chẳng còn ai. Nhưng mà nhớ, có ghi tên tuổi tau, có vái cho tau thì nhớ vái tên Lê Văn Tùng, không phải Hoàng Lê nghe mi, nhớ chưa. Trung uý BĐQ Lê Văn Tùng, con Trung Tá BĐQ Lê Văn Định. Nhớ rứa nghe. Được rứa là tau đội ơn mi lắm. Tui gật gật đầu, nắm chặt tay hắn, thấy nghèn nghẹn nơi cổ. Hắn có vẻ đã say, tui cũng không đứng vững nữa. Ra đến sân, tui gỡ chùm bong bóng thả lên trời, những chiếc bong bóng đủ màu bay lấp loá dưới ánh đèn. Bỗng dưng hắn ôm lấy tui, khóc rưng rức. Từ lúc gặp hắn cho đến giờ, giờ hắn mới biểu lộ tình cảm bằng nước mắt. Tui cũng ôm lấy hắn và cũng khóc. Nước mắt hắn ướt đẫm vai tui và nước mắt tui ướt nhoè vai hắn. Gió và sương xuống lành lạnh. Đèn đường vẫn rực sáng. Chỉ còn ba tuần nữa là Tết.
Hắn tên là V. Huy, thật ra tên đầy đủ của hắn là Nguyễn Phúc Vĩnh Huy, vốn là con cháu giòng họ vua chúa triều Nguyễn. Bố hắn là giáo sư tiến sĩ, từng chữa bệnh cho Cụ Hồ. Ông nội hắn là Thượng thư bộ Lại trong triều vua gì đó của nhà Nguyễn. Mẹ hắn cũng là giáo sư nhưng hình như bên ngành Luật, tốt nghiệp từ bên Tây, nghe lời dụ dỗ của Cụ Hồ về nước tham gia đánh giặc. Lí lịch của hắn quá ư là đẹp, vừa quí tộc vừa cộng sản, không chê vào đâu được. Hắn tốt nghiệp Tiến sĩ ngành ngoại giao ở Liên Xô, cũng nghe nói là bằng đỏ đàng hoàng, và chắc chắn là bằng thật. Thế mà hắn lại xổ toẹt cái lí lịch đó, đái lên cái truyền thống đẹp như mơ đó. Hắn không bao giờ chịu thổ lộ cái tên trong khai sinh cho bất kì ai, và luôn luôn tự xưng tên tôi là V. Huy, cắt đứt mọi liên hệ với cái gia đình danh giá. Cũng chẳng biết tại sao. Và mọi người cũng không rảnh thì giờ để điều tra chuyện đó.
Tôi gặp hắn lần đầu trong quán cà phê. Quen qua quen lại mà thành thân gần tám năm nay. Hắn là một thằng có cá tính. Mà lại là cá tính quái dị. Tôi cũng vốn là một người quái đản – theo mọi người chung quanh bảo thế – nên khi gặp hắn là thành thân ngay, đi đâu cũng có nhau. Ngưu tìm ngưu, mã tìm mã mà.
Hắn có khuôn mặt của John Lennon: ngây thơ mà tinh quái. Cũng nét mặt gầy, mũi thẳng, tóc xoăn để dài đến bờ vai, chỉ khác là tóc màu đen. Hắn cũng đeo kính cận gọng tròn, nặng độ, dày như đít chai. Lúc nào hắn cũng kè kè cái ba lô nặng trĩu chứa tùm lum nào sách, nào khăn, nào đủ thứ như một túi rác. Nhưng hắn bảo hắn chứa cả càn khôn trong đó.
Hắn chỉ có độc một bộ đồ, chiếc áo jean bạc màu, áo jacket màu cứt ngựa có nhiều túi và cũng nhiều fermature. Chiếc quần jean rách ở đầu gối và sờn ở hai mông đít. Đôi giày lính Mỹ cao cổ loang lổ và ám bụi đường. Hắn không bao giờ giặt áo quần, cứ mặc cho đến tả tơi lại đi tìm bộ khác cũng y như thế. Công nhận hắn cũng giỏi săn lùng vì suốt tám năm quen hắn, tôi có cảm tưởng hình như hắn chẳng bao giờ thay kiểu quần áo.
Hắn là một thằng thông minh, rất thông minh. Và cũng uyên bác, rất uyên bác. Tôi là người rất ngạo mạn, ít khen ai và cũng ít nể ai, luôn khinh khi những thằng tiến sĩ dỏm nhiều như quân Nguyên chạy đầy đường. Nhưng gặp hắn, quen hắn, biết hắn thì tôi phải khen ngợi hắn thật lòng. Hắn nói tiếng Anh như dân xuất thân từ Oxford , đúng giọng và ngữ điệu. Hắn vi vu tiếng Pháp giọng Paris và hơn thế nữa là dùng ngôn ngữ từ Sorbonne ra. Hắn nói tiếng Ý như mưa rào và tiếng Nga thì thôi rồi, nghe không khác gì Putin. Hắn cũng giỏi tiếng Hán, viết thư pháp như múa, đặc biệt là chữ thảo, đọc toàn sách cổ văn, đọc tiếng Đức ầm ầm như bão tố. Ngoài ra hắn còn giỏi tiếng Bồ Đào Nha, đọc kinh Phật bằng tiếng Pali và nói thông thuộc tiếng Khmer. Hay nhất là dù hắn có mười mấy năm ở nước ngoài, có bằng Tiến sĩ ở Nga nhưng lại nói tiếng Việt rất chuẩn, tròn vành rõ chữ và dùng từ thì không chê vào đâu được. Nói tóm lại, xét về mặt ngôn ngữ, hắn là thằng trùm thiên hạ.
Không biết chính xác hắn ở đâu. Lúc thì bảo ở quận tư, có khi lại ở quận tám. Tóm lại hắn là thằng giang hồ. Một thằng trí thức nhất trong những thằng trí thức đúng nghĩa của Việt Nam đang là kẻ không nhà. Hắn là thằng ma – cà – bông. Cứ khoảng chín giờ sáng là có mặt hắn ở quán cà phê, kêu li đen và ngồi rít thuốc liên tục. Bất cứ vấn đề gì hắn cũng có thể nói được, và nói rất sâu. Gặp những từ ngữ cần chính danh, hắn có thể lấy giải nghĩa từ nguyên chữ Hán và có khi từ chữ gốc của tiếng La tinh. Hắn có thể nói từ chuyện văn chương kim cổ cho đến những phát minh từ xưa đến nay của loài người. Hắn giảng về Socrate, Platon cho đến các triết gia cận đại. Hắn nói về Mác thì ai cũng ngóng cổ lên mà nghe bởi vì toàn những vần đề mà những ngài tuyên huấn cộng sản không bao giờ biết đến và phân tích nổi. Khi hắn phân tích cách mạng Trung Hoa, cách mạng Việt Nam, rồi tương lai của toàn thế giới thì mọi người há mỏ nghe không ngậm lại được, mặt ai cũng nghệch ra như ngỗng ỉa. Trong mọi cuộc bàn luận, hắn trở thành trung tâm. Khi chưa có mặt hắn ở khu vực này, tôi được mọi người phong cho là bách khoa toàn thư, chuyện gì cũng biết. Nhưng từ khi có hắn, tôi như đèn dầu le lói mà hắn thì sáng như đèn pha. Ngay như chuyện chó mèo, chim cò, rắn rít, thú hoang hắn cũng rành như ông giáo sư Võ Qúy. Chuyện gì hắn cũng biết, mà biết rõ ngọn ngành rành mạch mới siêu chứ. Khi hắn đã nói thì chẳng còn ai có thể cãi lại hắn được. Với cái đầu của hắn, nếu được làm lãnh đạo hắn có thể là người lãnh đạo giỏi hay ít nhất đất nước sẽ nở mày nở mặt khi hắn tiếp xúc với năm châu bốn bể. Nhưng hắn lại là thằng lang thang, sống bằng những bài dịch tin nước ngoài cho mấy tờ báo lá cải. Trong khi mấy thằng ngu thì chức cao quyền trọng, ghế cao chót vót. Đời là vậy đấy! C’est la vie!!
Theo những tin tức vỉa hè thì hồi mới về nước thì hắn cũng đi làm ở bộ ngoại giao. Là nhân viên của một cục, một vụ gì đấy. Nhưng vì hắn quá giỏi lại quá ngông, không chịu nghe theo những chỉ thị ngu xuẩn của lãnh đạo nên cuối cùng bị đẩy xuống làm anh chạy văn thư. Vì cảm thấy nhục, hắn cũng kiện tụng tùm lum mà chẳng đi đến đâu nên bỏ sở mà làm kẻ lang thang. Tôi nghĩ tánh khí ngang tàng không khuất phục chính là nguyên nhân bi kịch chối từ gia đình của hắn.
Cách đây mấy năm, tôi có người bạn Pháp, một chuyên gia sưu tầm cổ vật Đông phương sang Việt Nam mua được một chậu sứ Trung Hoa rất cổ, hình như là đời đầu Minh. Chậu sứ vẽ cảnh mục đồng chăn trâu men xanh rất đẹp. Nét vẽ uyển chuyển và tinh tế của một nghệ nhân bậc thầy. Ông bạn tôi mấy lần mang về Pháp đều bị chận lại vì hải quan không cho mang cổ vật ra khỏi nước. Chuyện đến tai hắn, hắn bảo sẽ mang đi được với điều kiện bạn tôi mua vé khứ hồi cho hắn kèm theo 1500 Euro cho hắn tiêu mấy ngày ở bên đó. Bạn tôi ok ngay. Và hắn mang đi được thật mà chẳng cần xin xỏ, khai báo gì cả. Dịp đó hắn đi hết mấy nước châu Âu; gần hai tháng sau hắn mới về. Hỏi hắn làm sao, hắn bảo có khó đéo gì đâu, vào đến phi trường tớ đến ngay quầy bán hoa lan của Đà Lạt, mua một giỏ hoa lan có cả chậu, vào ngay phòng vệ sinh, bỏ chậu ra, lấy chậu sứ thay vào. Thế là ung dung xách giò lan bước lên máy bay chẳng thằng nào, con nào hỏi một tiếng. Ai cũng bảo hắn giỏi. Hỏi hắn ở bên đó hai tháng lấy gì mà ăn, hắn bảo hắn làm hướng dẫn viên du lịch. Đến thành phố nào cứ thấy mấy thằng du khách ngơ ngác thì hắn sấn tới làm quen sau đó hướng dẫn người ta đi tham quan. Hỏi hắn chưa bao giờ đi qua đó, biết đếch gì mà hướng dẫn. Hắn gào lên xin lỗi mọi người à, trước khi đi tôi đã học thuộc mấy cuốn sách hướng dẫn du lịch của hơn mười nước Châu Âu rồi. Nghe sợ chưa?
Có lần tôi với hắn đi nghe một tay giáo sư người Mỹ nói chuyện văn chương, trong giờ giải lao, hắn bước đến nói chuyện với tay giáo sư đó. Chẳng biết nó nói những gì mà khi trở lại sân khấu để tiếp tục câu chuyện, tay giáo sư người Mỹ mời hắn lên ngồi chung và giới thiệu hắn với cử tọa bằng những lời rất trân trọng. Lần đó hắn bị công an văn hóa mời lên mấy lần để nói rõ mối quan hệ giữa hắn và tay người Mỹ. Hắn chỉ bảo là hắn không đồng tình một số ý của diển giả và người giáo sư nể hắn. Thế thôi. Bắt nó làm tường trình, nó bảo chẳng có đéo gì mà phải tường với trình, không tin thì cứ đi hỏi tay giáo sư người Mỹ chứ tại sao lại hỏi hắn. Cuối cùng huề, chẳng có chuyện gì mà ầm ĩ.
Hắn chưa bao giờ kể cho tôi nghe về mối quan hệ của hắn với phụ nữ. Thế mà có một lần, có một người đàn bà đẹp đến tìm hắn ở quán cà phê. Tôi ngỡ ngàng khi gặp người phụ nữ này, bởi vì cô ấy quá đẹp. Một sắc đẹp đài các, duyên dáng và rất trí thức. Một khuôn mặt mà thi ca và hội họa suốt đời ca tụng. Bữa đó không có mặt hắn ở quán và tôi tiếp chuyện với người đàn bà đẹp đó. Nàng tên là Bạch Huệ – hoa huệ trắng- cái tên nghe có vẻ hơi cải lương, nhưng cô gái đó nói chuyện rất thông minh và rất có trình độ. Nàng đi tìm hắn đã lâu rồi, và rồi không biết ai đó đã hướng dẫn nàng đến đây. Cô gái kể sơ cho tôi nghe về mối quan hệ giữa hắn và nàng. Yêu nhau từ ngày còn ở bên Nga, nàng là con gái rượu của đại sứ Vệt Nam ở đó. Một mối tình đẹp và môn đăng hộ đối. Hai người về Việt Nam và dự định khi ổn định cuộc sống sẽ làm lễ cưới. Nhưng rồi hắn chửi lãnh đạo, mất việc, bị bố nàng nói nặng nhẹ đụng chạm tự ái sao đó, hắn chửi ông bố vợ tương lai một trận ra trò và bảo các ngài chỉ là một lũ ngu rồi bỏ đi không dấu vết. Nàng đau khổ đi tìm. Vô vọng. Mò kim đáy bể. Cuối cùng nghe theo lời bố lấy chồng. Chồng nàng bây giờ là thứ trưởng một bộ rất quan trọng. Tôi bảo thế thì bây giờ cô còn tìm hắn làm gì, khi đã trở thành hai tầng lớp khác nhau, vị trí xã hội cũng đã không còn như xưa nữa. Cô ấy bảo là tìm để xem hắn sống ra sao, tìm lại hình ảnh mối tình xưa đã không còn nữa và quan trọng nhất là cô ấy vẫn còn yêu hắn.
Khi tôi kể lại cho hắn nghe cuộc gặp gỡ, hắn không nói gì chỉ lẩm bẩm chửi thề, chửi thề là thói quen của hắn, nên tôi không biết hắn đang chửi cái gì. Chửi số phận hay chửi mối tình của hắn. Sau đó hắn lầm lì mấy ngày rồi vắng mặt gần mười mấy hôm, cũng chẳng biết hắn đi đâu…..
Hắn xuất hiện trở lại chốn giang hồ với một cọc tiền khá lớn, hắn bảo hắn vừa lãnh tiền công viết luận án tiến sĩ cho một đồng chí lãnh đạo thành phố. Hắn nói đây là đồng tiền tanh hôi, đồng tiền đã làm lụn bại đất nước, nhưng nếu hắn không nhận làm thì thằng khác cũng làm, xã hội bây giờ thiếu gì thằng trí thức sẵn sàng làm thuê. Hắn gom mấy đứa trẻ bán báo, đánh giày, bán vé số lại. Thuê một chiếc xe mười lăm chỗ ngồi, chở hết mấy đứa trẻ vào thành phố, mua sắm áo quần, đồ chơi, sách vở. Lại còn cho mỗi đứa mấy trăm ngàn. Cả đám trẻ sung sướng. Còn hắn thì hả hê. Chưa bao giờ thấy khuôn mặt của hắn sướng đến như vậy. Mấy bà bán dạo quanh quán cà phê bảo hắn điên, hắn cười sảng khoái, gật gù: điên, điên, đúng là điên.
Tối hôm đó hắn đi vào bar Mưa Rừng, vừa bước vào cửa, mấy gã bảo vệ nhìn bộ dạng của hắn, định ngăn không cho vào. Hắn rút ra mấy tờ bạc giúi vào tay chúng. Hai gã bảo vệ nghiêng mình, mở cửa. Hắn vào bàn, ngoắc một em phục vụ ăn mặc nóng bỏng lại, kêu cho ly sữa tươi. Em cave nhìn hắn định cười khi dễ thì hắn đã rút hai tờ năm trăm nhét vào tay cô gái và bảo, em mua giúp anh ly sữa tươi. Dĩ nhiên là cô gái thực hiện ngay. Ai dại gì từ chối bán ly sữa tươi giá một triệu bạc bao giờ. Hắn uống một hơi hết ly sữa. Lại ngoắc em gái lần nữa và rút thêm một xấp tiền, bảo: vú em nhỏ quá, anh cho em chục triệu đi bơm vú to lên mà làm cho đời thêm tươi. Cô gái há hốc mồm không kịp nói gì thì hắn đã lẳng lặng rời ghế, đi về. Chuyện này được kể lại với nhiều tình tiết ly kỳ hơn, kéo dài mấy tháng trong giới cave, sau này trở thành giai thoại, báo chí cũng có đăng. Mọi người kháo nhau hắn là tỷ phú đóng vai kẻ nghèo vì chán cảnh giàu sang nhung lụa. Bữa đó hắn đi bộ về, vừa đi vừa khóc, chẳng ai hiểu tại sao?
Hắn lại mất hút. Cả tháng rồi tôi không gặp hắn. Cho đến một hôm, lúc trưa, tôi nhận được điện thoại của công an hỏi tôi có phải là người thân của hắn không? Tôi ừ. Đồng chí công an bảo phát hiện hắn đã chết đêm hôm trước, trong tay có mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của tôi. Tôi chạy ngay đến đồn, họ chở tôi đến một căn nhà nhiều phòng ở một chung cư tại quận tư. Hắn nằm đó, khuôn mặt thanh thản và bình yên, trên môi phảng phất nụ cười. Chung quanh giường và tràn ngập căn phòng là những cành huệ trắng. Màu trắng của huệ, màu trắng của chiếc drap giường và bộ đồ trắng lần đầu tiên tôi thấy hắn mặc làm cho căn phòng tinh khiết lạ lùng và cũng tang tóc vô cùng. Trên đầu giường có một bức tranh sơn dầu nhỏ vẽ chân dung một cô gái cũng mặt chiếc váy trắng. Khuôn mặt trong hình rất quen. Đó là chân dung của Bạch Huệ. Thì ra hắn tự tử bằng hoa huệ. Hắn đã chất đầy căn phòng hoa huệ trắng, đóng kín cửa và hắn từ từ chết trong hương thơm ngào ngạt của loài hoa huệ trắng. Trong tờ giấy hắm nắm trong tay lúc ra đi, ngoài tên và số điện thoại của tôi, hắn còn ghi thêm hai dòng nữa. Dòng đầu hắn cho biết là hắn tự kết liễu đời mình, không liên lụy đến ai. Dòng sau hắn ghi là hắn không còn cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt nên nhờ tôi hỏa tang thân xác hắn và rải tro xuống sông để cho hắn được trôi ra biển lớn. Tôi đưa tay chào như chiến sĩ, như một lời chia tay.
Ba hôm sau, tôi nhận được mail của hắn. Nhìn thấy tên hắn là tên người gởi, tôi lạnh dọc sống lưng. Sao hắn chết ba hôm rồi, thân xác hắn đã thành tro bụi rải xuống sông rồi. Sao lại còn có thư của hắn gởi.
Hắn viết: Gởi anh. Đã đến lúc tôi cảm thấy mình thừa thãi trong cuộc đời này. Tôi không còn lí do để tồn tại nữa. Phải biết đúng lúc để rút lui là người khôn ngoan. Tôi đã làm tròn phận sự và tôi phải ra đi. Biết đâu ở thế giới khác sẽ vui hơn trần gian điên dại này? Xem như không có V.Huy ở cuộc đời này, quá khứ cũng như tương lai.
Anh ở lại hãy sống vui. V.Huy
Tái bút: Tôi nhờ anh đến địa chỉ…lấy một số vật dụng của tôi và đốt tất cả giúp tôi. Đốt hết và đừng giữ lại gì. Cám ơn anh.
Anh đừng sợ hãi khi nhận được thư này. Tôi gởi thư theo chế độ hẹn. Tôi hẹn ba ngày sau khi tôi ra đi, máy mới gởi thư đi”
Tôi đến địa chỉ hắn đã ghi, người ta giao cho tôi một thùng to, vất vả lắm tôi mới chở được về nhà. Những gì trong đó làm tôi kinh ngạc đến sững sờ.
18 cuốn nhật ký hắn ghi từ lúc bảy tuổi cho đến trước ngày hắn chết một tuần lễ với nhiều suy nghĩ gây sửng sốt.
72 bản dịch những cuốn tiểu thuyết của nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới.
4 bản dịch sang tiếng Đức cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Thơ các thiền sư đời Lý và cuốn Đoạn trường vô thanh.
3 tập phê bình và nhận định những sai lầm của chủ nghĩa Mác viết bằng tiếng Anh.
2 cuốn nói về sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỉ 21 viết bằng tiếng Pháp.
43 cuốn phân tích và phê bình về các tác giả Việt Nam từ thơ ca đến tiểu thuyết.
12 cuốn viết về các danh nhân văn hóa Trung Quốc và sự ảnh hưởng của họ.
5 cuốn dịch thơ Đường sang tiếng Việt.
3 cuốn chép tay kinh Phật bằng tiếng Pali.
1 cuốn dịch nhạc Trịnh Công Sơn sang tiếng Tây Ban Nha.
8 tập thơ hắn viết từ hồi 15 tuổi cho đến năm ngoái, tức là cả năm nay hắn không còn làm thơ.
1 cuốn luận án tiến sĩ của hắn với tiêu đề: “Tìm hiểu chính sách ngoai giao của nhà nước Việt Nam từ đời Lý đến 1945”..với nhiều lời phê khen ngợi.
Và nhiều bằng cấp giấy khen của nhiều trường học, tổ chức trong và ngoài nước. Nhiều bài báo của hắn viết trên nhiều tạp chí chuyên ngành của nhiều tổ chức khoa học tiếng tăm trên thế giới.
Một gia tài đồ sộ chứng tỏ sự uyên thâm cùng sức làm việc khủng khiếp của hắn.
Tôi mất gần cả năm nay mà vẫn chưa đọc hết những gì hắn đã viết, và tôi sẽ tiếp tục đọc để hiểu hắn hơn, để càng thêm cảm phục hắn. Một thiên tài đã sinh nhầm nơi chốn. Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ. Tôi không đốt như ý nguyện của hắn. Tôi đóng một tủ sách khá đẹp, đem tất cả tác phẩm hắn đã viết sắp xếp thứ tự. Ngoài mặt tủ, tôi đi thuê khắc dòng chữ: “CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V.HUY “
Tôi bắt đầu hút thuốc lá từ năm 14 tuổi, đang học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) lúc vừa rời chủng viện. Ở nội trú trong trường dòng, cấm triệt thuốc lá. Thuở ấy, thuốc lá rẻ như cho, bởi vào những năm 1964-1965, miền Nam Việt Nam tràn ngập lính Mỹ, do vậy ở chợ Cồn-Đà Nẵng, chỗ nào cũng có bán những bao thuốc lá Mỹ, từ Salem, Malboro, Pall Mall, Winston…cho đến cả xì gà Havatampa… Tuổi mới bắt đầu lớn lại muốn làm người lớn, thêm cái vụ ham văn chương thi phú, cứ nghĩ phải có điếu thuốc lá mới là dấu hiệu của sự trưởng thành và có phong thái của anh nghệ sĩ. Do vậy là tập hút và ghiền lúc nào chẳng hay. Lớn lên một chút, lại bắt đầu để ý cô bạn cùng trường, lại càng hút dữ. Đến khi đậu tú tài, đi học Mỹ thuật, rồi học văn khoa, toàn kết bạn với mấy lũ âm binh học làm văn nghệ, nên càng hút dữ dội hơn. Lúc có tiền thì Ruby, Capstan, Lucky, Pall Mall..khi hết tiền thì hút Bastos đen và có nhiều khi hút cả thuốc Quân Tiếp vụ, gói thuốc có vẽ hình anh lính miền Nam Cộng hòa cầm súng. Đời sinh viên nghèo nhiều khi không có cả thuốc đen mà hút nên thỉnh thoảng lại đi lượm tàn thuốc còn rơi rớt ở ngóc ngách sàn nhà, vê lại bằng giấy báo mà hút cho đã thèm. Hồi đó lượm tàn thuốc hút gọi là đi tìm dế. Khi qua Tây học thì đỡ hơn chút, nhưng cũng toàn hút thuốc đen, khí hậu lạnh và thời đó chưa có vụ cấm hút thuốc nơi công cộng nên càng hút dữ. Cho đến khi tốt nghiệp đại học, về nước đi làm có tiền thì mới chọn một gout mà hút, thuốc lúc nào cũng đầy bao tha hồ mà phì phèo,vì làm mấy tòa báo nên chẳng ai cấm hút cả. Đến sau 1975, cả nước nghèo. Chỉ còn thuốc lá đen. Rồi đến thuốc lá sợi. Trở lại cái thời xa lắc nào. Tên nào cũng có cái túi nho nhỏ với mấy tờ giấy quấn. Bỏ thuốc vào, vê thành điếu rồi lấy lưỡi liếm một đường vê vê và đốt. Hồi đó hút được Thăng Long bao bạc, Thủ Đô đem từ miền Bắc XHCN vô là sang lắm. Sau đó là một thời của Samit nhập lậu từ Thái Lan. Thời kỳ này, đi dạy học, mỗi tháng mua được nhu yếu phẩm có mấy gói Hoa Mai hay Đà Lạt đen xì, thi đua nhau hút đến thâm cả môi, phù cả mỏ. Rồi đến một thời, mấy ông xí nghiệp thuốc lá nhà nước ào ạt ra nhiều nhãn mới, cứ thế mà hồn nhiên hút chẳng chút ngại ngần âu lo gì. Đất nước mở cửa he hé, dân buôn lậu đi buôn thuốc từ biên giới về, đủ lọai thuốc ngoại, lại hút. Cho đến khi xã hội bắt đầu văn minh hơn, cơm no áo ấm hơn, ăn ngon mặc đẹp hơn, lúc đó mới nghĩ đến sức khỏe, mới nghĩ đến những hậu quả của thuốc lá thì nicotine đã biến thành máu chảy trong người rồi, chẳng làm sao bỏ được nữa. Lúc đầu là bớt hút, ra chỉ tiêu và gọi là hút có kiểm soát. Nhưng rồi gặp bạn gặp bè, ngồi cà phê mà không có thuốc thì ngồi làm gì. Ngồi uống bia lại càng hút dữ, bởi rảnh quá, miệng nói, miệng uống, miệng hút, tha hồ, chẳng nghĩ chi hậu quả. Đến lúc khuya về nằm ngủ, ho sù sụ. Sáng ra cổ họng cứng như đóng băng, khạc ra một bãi đen ngòm. Lúc đó thì mới sợ. Tự nhủ hôm nay sẽ không hút nữa, nhưng rồi làm xong tô phở hay ăn bát bún riêu, bún bò xong mà không kéo một hơi thuốc thì cảm thấy như bữa ăn chưa trọn vẹn. Thế là lại hút. Nhiều khi thèm hút đến độ cố ăn cho mau để kéo một hơi cho đã. Lại thêm sáng nào cũng làm tô phở Dậu, vừa ăn xong bỏ đũa là anh chàng Lâm đã gắn vào tay điếu ba số, thế là hút. Bỏ cả trăm lần và hút lại cả trăm lần. Mà mỗi lần bỏ xong hút lại, lại tăng đô mới chết mẹ chứ. Nên càng bỏ, càng hút nhiều hơn. Lại thêm chuyện mập, đang ngon lành bỏ thuốc lá, mới có mấy tuần đã tăng thêm mấy kilô, mà mập lên thì sợ lắm, đành hút lại. Cái thằng nghiện thì có trăm ngàn cái lí do để biện hộ cho việc hút. Anh không hút thì chỉ có một lí do là sức khoẻ, nên đã hút rồi thì khó bỏ. Có vậy mới thương cho mấy đứa xì ke, mình ghiện thuốc lá mà còn chưa bỏ nổi thì làm sao chúng bỏ được xì ke, thuốc phiện. Được nhiều lần đi nước ngoài, đến các nước tiên tiến, thấy sao người ta lại ít hút thuốc hơn mình nhiều lắm. Nhất là những người Việt định cư ở nước ngoài. Gặp nhiều thằng bạn ngày xưa còn ở trong nước, hút thuốc phì phà như toa xe lửa suốt ngày, sang đến đây vài năm lại không hút thuốc nữa, giỏi thật. Nhưng đến khi biết được luật lệ nước của người ta, mới hiểu được là tại sao ít người hút thuốc. Họ cấm tuyệt đối ở những nơi công cộng, nhà hàng, rạp hát… và cả nhà của tư nhân nữa. Đến ở nhà bạn hay người thân, muốn hút thuốc. Ok, mời anh ra ngoài sân, ngoài vườn, tha hồ mà rít. Nửa đêm không ngủ được, nhớ nhà châm điếu thuốc, phải rón rén mở cửa ra sân, trời lạnh cắt da cắt thịt, đường vắng như nghĩa trang, rít điếu thuốc chẳng còn chi ngon lành nữa, hút như phản xạ có điều kiện vậy thôi. Được mời đi ăn nhà hàng, cuộc vui kéo dài cả mấy tiếng đồng hồ, muốn hút một hơi phải xin phép ra ngoài, đi cách cửa mấy chục mét, hút một hơi. Buồn bỏ mẹ. Hút phải bầu có bạn, có hơi đưa qua, tiếng cười đưa lại, mới sướng. Đằng này hút thuốc mà như thằng ăn trộm, mất cả sướng. Hút như vậy, mấy thằng bạn âm binh của tôi bỏ hút là phải. Lại thêm đi trên xe, cửa nẻo bít bùng, làm sao dám châm điếu thuốc mà hút được, họa may đó là xe của mình và đang chạy một mình. Nhưng xứ lạ quê người, đi đâu cũng nhờ người chở, lấy đâu mà hút được, khổ trăm bề. Nhiều đoạn đường dài cả năm sáu trăm cây số, đi ngót nghét năm sáu tiếng đồng hồ, thèm thuốc não nề mà có dám mở miệng đâu. Ở đó cỡ vài tháng là bỏ được thuốc lá ngay thôi, chứ có phải tài thánh, ý chí mạnh chó gì đâu mà mấy ông bạn cứ nói thánh nói tướng. Ớn nhất là đi máy bay, đoạn đường kể cả transit là gần 18 tiếng đồng hồ, cái miệng nhạt phèo, lại chẳng biết làm chi cho hết giờ, lại cấm hút thuốc mới chán chứ. Nhịn thèm suốt cả thời gian bay, nhưng đến khi xuống phi trường còn cả một thời gian dài dằng dặc làm thủ tục hải quan, nên khi xổng được ra ngòai, mừng như cha chết sống lại, run run đốt điếu thuốc, kéo một hơi cho đã. Ở phi trường nào cũng có chỗ cho người hút thuốc, nhưng mấy thằng thiết kế cũng mất dạy lắm, chúng nó đặt phòng hút thuốc ở nơi xấu nhất, xa nhất, bẩn nhất và cái phòng thì nhỏ xíu. Vừa bước vào phòng chưa đến 20 mét vuông mà hàng chục người kéo thuốc, khói tuôn mù mịt thì làm sao chịu nổi, đành rít một hơi là từ giã ngay. Đã bắt đầu qua tuổi U70, lâu lâu lại đi đám tang của một vài ông bạn, có ông chết vì ung thư phổi, có thằng chết vì tim mạch. Đi đám về lại lo lo, cầm điếu thuốc cứ ngại ngần, nhưng rồi dăm hôm ba bữa lại rít liên tu. Tự trách mình thiếu ý chí, cứ trách mình thiếu dũng cảm, không thắng được mình. Nhưng rồi lại thấy nhiều bậc được cho là vĩ nhân, thiên hạ khen ngợi không tiếc lời cũng có bỏ thuốc lá được đâu, cũng thèm đến độ đề nghị đồng chí cần vụ cho tôi hút một điếu. Mình chỉ là kẻ hèn mọn, trách chi chẳng thắng được mình.. Có mấy thằng bạn làm bác sĩ, lâu lâu ghé qua, nó khuyên mình bỏ thuốc lá đi, hại sức khỏe lắm, thế nhưng chuyện trò một hồi hắn lại mở ngăn kéo mời mình điếu thuốc và hắn cũng một điếu, phì phèo. Thế mới biết khuyên người khác thì dễ, chứ mình làm được quá khó. Lại có một anh bạn, làm nghề văn nhà báo, cũng có tiếng tăm, hút cũng đã lâu, môi cũng đã thâm xì. Một ngày đẹp trời, ý thức tác hại của thuốc lá, quyết tâm bỏ. Lại bỏ được mấy tháng mới giỏi chứ. Hỏi thèm không? bảo: Thèm chết mẹ, nhưng quyết. Mùa hè năm đó, hai cha con ra Phan Thiết tắm biển, gió đổi chiều sao đó cuốn hai cha con ra xa, suýt nữa chết nếu không có đám phụ trách ở bãi biển thấy nguy bơi ra kéo vào. Miệng đã sùi bọt, bụng đã đầy nước, cũng may cứu được cả hai cha con. Khi đã khỏe anh ta mới triết lí rằng: Nếu hút thuốc thì còn lâu mới chết, mà cuộc đời thì thiếu gì cái chết lãng xẹt khác, chết ngay, do vậy anh ta lại tiếp tục hút cho đến giờ, ngày càng nhiều điếu hơn. Hơn 50 năm hút thuốc, chắc phổi mình khó mà sạch nổi, sợ lắm. Chắc lần này lại định bỏ thôi. Quỵết tâm đấy !!! Nhưng mà nghĩ lại, già rồi, chẳng có chi vui, thôi thì cứ hút nhỉ!
Và bây giờ là hơn nửa đêm rồi, không gian yên tĩnh quá, lại viết được những điều mình nghĩ đã lâu, tội gì mà không ĐỐT MỘT ĐIẾU THUỐC, rít một hơi cho nó đã. He…he…
vietmessenger.com Lê Xuyên Miền Nam xuất bản 1965 Post by Sơn râu 29 Jul 2024
Photo edit by Sơn râu (Google)
Phần 6
Sơn nhỏ đang nằm gác chân chéo ngoãi trên sạp tre thì bỗng nghe có tiếng chân người chạy thình thịch vào sân. Anh ta vội chụp lấy cây lục giấu ở dưới nóp ra nhảy liền xuống đất.
Và khi thấy rõ người đi tới, anh ta thở ra một hơi dài và vui vẻ kêu lên:
– Dữ hông, tao tưởng ai chớ dè đâu là mầy! Sao Tám, đại ca và anh em ở đâu mà mầy lơn tơn dìa có một mình đó?
Anh Tám vừa thở vừa đáp:
– Nguy rồi anh Sơn Nhỏ ơi!
Sơn Nhỏ chụp lấy vai anh ta:
– Mầy nói sao? Bộ đại ca…
Anh Tám rơm rớm nước mắt:
– Thất bại hết ráo trọi anh ơi!
Sơn Nhỏ lắc mạnh vai anh ta:
– Thất bại hay thành công gì thây kệ mẹ nó! Tao hỏi mầy đại ca hiện giờ ở đâu?
Anh Tám giơ tay chỉ vào chỗ trống không:
– Thiệt tui hổng biết đại ca ở đâu nữa, trong lúc lộn xộn mạnh ai nấy “buồm”… tui cũng chẳng rõ đại ca còn hay là… mất nữa…
Sơn Nhỏ ngắt ngang
– Vậy chớ mày theo đại ca làm đách gì?
Anh Tám rướn gân cổ lên:
– Ý trời ơi, anh hổng có ở tại đó thì làm sao biết được! Anh em mình kéo ra nghe lời thằng cha già báo hại đó tưởng phen này mần ăn êm thắm chớ có dè đâu đoàn ghe thương hồ ấy là đoàn công voa có Tây đi hộ tống đàng hoàng.
Sơn Nhỏ dậm chân:
– Thằng cha già mắc dịch ở ngoài Vàm nó hại anh em mình! Bộ hổng ai hay biết gì ráo sao?
Anh Tám thở dài sườn sượt:
– Thì anh nghĩ coi, anh em mình tưởng dễ ăn nên bơi xuồng nhào ra cập vô đoàn ghe, riêng đại ca, ông già dẫn mối ngoài Vàm và tui thì xáp vô chiếc tàu giòng dẫn đầu… Tụi nầy hùng hỗ xông lên… và tới chừng đó mới tá hỏa tam tinh! Ở trên tàu, tụi lính Tây theo hộ tống xã súng máy ra bịt bùng thiên địa… Tui thấy ông già trúng đạn té nhào xuống sông, còn đại ca cũng nhào luôn xuống nước… Tui không biết ảnh có sao hông… Riêng phần tui, vì đi sau nên tui vội bỏ xuồng lặn tuốt vô bờ…
– Còn mấy anh em khác thì sao?
– Ối thôi trong lúc loạn xạ xà ngầu ấy mạnh ai nấy chạy… Có lẽ họ bị “rớt” mất cũng nhiều…
Sơn Nhỏ cau mày hỏi:
– Sao mày hổng chờ kiếm đại ca mà lại bỏ dìa một mình?
– Tui vô tới bờ rồi ở đó xà quần một hồi để ngóng đợi coi đại ca có lội vô hông… Tui chớ riết tới gần sáng và có rảo lên đầu trên xóm dưới hỏi thăm hỏi nom nhưng đại ca vẫn biệt vô tông tích… Sau đó, tui phải giựt đại một chiếc xuồng câu bơi rút dìa đây cho anh hay để coi anh định liệu thế nào…
Sơn Nhỏ bực mình, la lối:
– Định liệu cái con khỉ gì nữa! Sao mầy hổng rám ở đó đợi thêm nữa coi thể nào.
Anh Tám than thở:
– Anh nghĩ lại coi, tui ở đợi như vậy cũng là quá xá cỡ rồi, chớ láng cháng tại đó, tụi lính ngoài đồn chạy tàu vô bố thắt họng sao? Anh hổng biết, dân chúng ở miệt ấy thấy mặt mày vằn vện của bọn mình họ đâu có ưa! Tây vô họ chỉ cho bắt thì… bà cứu!
Sơn Nhỏ đứng lặng thinh, mím môi suy nghĩ và bỗng nhiên nước mắt anh ta ứa ra… Anh ta mếu máo quay qua bảo anh Tám:
– Đại ca… bị nạn như vầy đầu đuôi gì cũng tại tao hết! Tại tao thúc hối ảnh chớ ảnh có muốn đâu!
Anh Tám ấp úng lựa lời an ủi:
– Thì cái nghề mình mần ăn thì phải… đi, chớ nếu ai biết trước được những chuyện rủi ro bất thường thì… nằm ngoẽo ở nhà có phải sướng hông!… Tại cái số mình xui xẻo, chớ bộ ai muốn như vậy hay sao anh. Bây giờ, anh liệu coi… anh em mình tính sao đây?
Sơn Nhỏ chán nản lắc đầu:
– Tao bây giờ rối ruột rối gan hết, vậy phần mầy tính sao đó thì tính… Mầy muốn ở nán lại đây với tao cũng được, hay là nếu mầy có quê quán xứ sở tại đâu mà có thể vác mặt dìa được thì càng tốt.
Anh Tám mau miệng đáp:
– Tui cũng tính dìa.. dưới xứ tạm ẩn náo một thời gian.
Sơn Nhỏ mỉm cười chua chát:
– Thôi, tao khuyên mầy có dìa được thì dìa luôn để lo đổi nghề khác mần ăn với người ta, chớ non nước nầy mà… tạm với bợ khỉ gì nữa. Cái điệu nầy, mơi chiều gì đây tao cũng dông luôn chớ ở đây mà không có anh em thì ở làm gì vô ích!
Chợt nhớ trực đến thím Hương, anh Tám vội hỏi luôn:
– Còn cái thím ở bển nữa… anh phải tính sao chớ chẳng lẽ bỏ người ta bơ vơ tại đây sao?
Sơn Nhỏ sa sầm mặt xuống và mãi một lúc sau anh ta mới ấp úng đáp:
– Ờ… còn thím Hương nữa há! Khi không có thêm con mẹ đó nữa để cho rắc rối thêm! Thôi được rồi, tao sẽ tính cái vụ này…
Anh Tám mân mê vành nón lá trên tay, ngó quanh mấy gian nhà trống trải, rồi nghẹn ngào từ biệt Sơn Nhỏ:
– Thôi anh ở lại đây mạnh giỏi, tui đi đây…
Sơn Nhỏ nắm lấy tay anh ta:
– Phải khi khác tao hổng cho mầy đi gấp như vầy đâu! Mầy có dìa thì nhớ giữ gìn kỹ lưỡng dọc đường, tao nghe nói tụi nó xét hỏi gắt lắm… À mầy còn tiền bạc chút đỉnh gì không?
Anh Tám khẽ lắc đầu
– Anh nghĩ coi, mình còn mần ăn lâu dài nên có để dành đồng xu cắc bạc nào đâu.
– Vậy mầy đứng chờ đó đi tao vô lấy chia bớt mầy ba mớ…
– Ý thôi anh, nếu còn thì để dành cho anh đi! Tui bề gì cũng có bà con cô bác ở dưới xứ chớ anh…tứ cố vô thân… Phải không còn bị kẹt tại đây với thím Hương thì thế nào tui cũng mời anh dìa ở dưới tui luôn cho có bạn…
Sơn Nhỏ thở dài:
– Ờ, tao còn bị kẹt thím Hương vô nữa… Thôi mầy dìa chuyến này lo mần ăn để… trụ hình lại… Khi nào tao có dịp đi ngang qua đó, tao sẽ ghé lại thăm mầy.
– Anh nhớ đó nghen!… Hay là khi nào anh em có… tụ tập mần ăn lại anh xẹt qua đó kêu tui…
Sơn Nhỏ lắc đầu, cười gượng:
– Bộ mầy còn ham nghề này lắm sao?
Anh Tám thở ra, đoạn bâng khuâng nhìn lên dãy nhà trống:
– Ham khỉ gì, nhưng… thế nào tui cũng nhớ anh em mình ghê lắm…
Sơn Nhỏ buông tay anh Tám ra:
– Tao cũng vậy…
Thím Hương đang với tay phơi chiếc áo túi lên cây sào ở trước sân thì thấy Sơn Nhỏ lùi lủi đi tới. Thím vuốt kỹ mấy nếp áo cho được thẳng thớm rồi mới quay qua hỏi anh ta:
– Bộ có ai vô tới bển hay sao mà mình thấy thấp thoáng có bóng người và nghe tiếng nói chuyện lào xào đó?
Sơn Nhỏ xụ mặt xuống, giọng quạu đeo:
– Ừa có… Anh Chín ảnh hổng dìa nữa rồi! Anh em theo ảnh cũng tứ tán mẹ nó hết!
Thím Hương nhíu mày
– Anh nói sao?
Sơn Nhỏ đáp như quát:
– Tui nói sao hả? Tui nói anh Chín ảnh chết ngủm cù đèo rồi! Tây bắn ảnh lật xuống sông mất xác rồi! Thím còn muốn hỏi cái gì nữa hông?
Thím Hương áp một bàn tay lên ngực:
– Trời ơi, anh nói thiệt hay nói chơi? Bộ anh Chín… chết thiệt sao?
Rồi không đợi cho Sơn Nhỏ trả lời, thím bỗng nhiên nổi nóng xài xể Sơn Nhỏ một hơi
– Mà sao ảnh chết, anh phải nói cho “tôi” biết, chớ làm cái gì anh xâm xâm đi qua đây rồi la lối cự nự với tôi hả? Bộ tôi đây xúi Tây giết ảnh chắc?
Sơn Nhỏ đưa tay quẹt mồ hôi trán, mặt cúi gầm và giọng nói của anh ta bỗng trở nên thiểu não vô cùng:
– Cũng tại tui hết… Tại tui xúi biểu ảnh đi… tại tui…
Thím Hương lắc đầu ái ngại nhìn anh ta rồi dịu dàng bảo
– Anh nầy kỳ quá! Cái gì mà anh nói tại anh! Đầu đuôi câu chuyện ra sao, anh kể lại cho mình nghe qua coi… Hay khoan đã, để vô nhà cho mát chớ tội gì đứng đây phơi nắng như vầy nè!
Sơn Nhỏ ngoan ngoãn bước theo thím, leo lên trên nhà sàn.
Đến nơi, thím kéo Sơn Nhỏ cùng ngồi xuống mép chõng rồi ân cần nhắc hỏi lại:
– Đó, bây giờ anh bình tỉnh kể lại cho mình nghe anh Chín ảnh lâm nạn hồi nào và tại sao lại có chuyện rủi ro đó…Mình có nghe phong thanh là chuyến đi đó chắc ăn lắm mà!
Sơn Nhỏ thở dài:
– Thì ban đầu ai cũng tưởng như thế đó hết, chớ có dè đâu bị tổ trác như vậy..(đoạn anh ta thuật sơ lại mọi chuyện y theo lời anh Tám đã kể và nói tiếp)… Đó thím nghĩ coi, aph Chín ảnh chết tức chết tối như vậy mà biểu tui hổng nổi sùng lên sao được!
Thím Hương chép miệng than thở:
– Thiệt tội nghiệp cho anh Chín quá! Ảnh coi vậy mà tốt bụng lắm chớ chẳng phải chơi!
Sơn. Nhỏ có vẻ không bằng lòng câu nói ấy:
– Hứ, đợi tới bây giờ thím mới biết ảnh tốt bụng!
Thím Hương cau mày nhìn anh ta:
– Anh đừng có nói mắc nói mỏ!… Hay là anh muốn tôi đội khăn tang để chế rồi nhào lăn ra khóc như mấy con mẹ xẫm khóc mướn vậy?… Số phần của ảnh rủi ro như thế đó, chớ bộ tại mình van vái hay trừ ẻo gì hay sao cà! Ở đời hễ được cái nầy thì mất cái kia, chớ bộ anh muốn cái gì cũng có, cái gì cũng hổng mất, cái gì cũng hoàn toàn hết được sao!
Thấy Sơn Nhỏ nín thinh, thím bèn vói tay lấy cây quạt lá kè phẩy nhẹ phía sau lưng anh ta và dịu giọng lại tiếp lời:
– Thôi anh à, mình hiểu bụng anh lắm… Nhưng dẫu sao, người chết thì đã yên phận một bề rồi, còn mình với anh long chong ở đây… anh có tính sao không hả anh?
Sơn Nhỏ rầu rầu đáp:
– Tui bây giờ… hổng có tính cái gì được ráo! Hồi nẫy tui tính theo thằng Tám dìa ở luôn dưới xứ của nó nhưng rồi… đi cũng chẳng được.
– Sao vậy?
Sơn Nhỏ hất hàm chỉ về phía thím:
– Còn thím ở lại đây chi!
Thím Hương làm như không hay gì hết:
– Coi, mình ở lại đây tế mồ tế tổ gì nữa! Anh có đi thì mình cũng về Cần Thơ mà!
Sơn Nhỏ chắc lưỡi:
– Ai để thím dìa êm như vậy được! Với lại hồi anh Chín đi, ảnh có căn dặn tui phải… coi chừng coi đổi thím… Thiệt cũng chẳng khác gì một lời trối…
Thím Hương ráng giấu một nụ cười:
– Anh nhớ dai quá há! Vậy chớ bây giờ anh tính coi chừng coi đổi mình ra làm sao đây?
Sơn Nhỏ ngước mắt lên:
– Đó, tui cũng tính qua đây hỏi thím về cái việc ấy…
– Nểu hỏi “thím” thì thím hổng trả lời.
Sơn Nhỏ nhăn nhó:
– Thôi mà! Anh Chín ảnh mới chết…
Thím Hương thản nhiên ngắt ngang:
– Vậy chớ hồi đó anh Tư đi theo mình ảnh hổng… mãn phần hay sao! Đời mình, mình đã chứng kiến nhiều cái chết quá rồi… mà mình, hổng nói dấu gì anh, mình đang ham sống ghê lắm! Anh chê cười con này… hư thúi gì đó thì mình ráng nghe hết ráo… Mình có anh ở đây thì tạm đủ lắm rồi!
Sơn Nhỏ trề môi cười lạt:
– Thiệt tui phục thím sát đất!
Thím Hương thản nhiên hỏi lại:
– Vậy chớ bây giờ anh biểu mình phải làm sao bây giờ? Anh giỏi nói nghe thử coi?
Sơn Nhỏ ấp úng xuống nước:
– Thì chuyện đó… thì chuyện đó tui tính qua đây hỏi… thím.
Thím Hương mỉm cười thương hại, rồi ôn tồn hỏi lại anh ta:
– Còn phần riêng anh, anh tính sao?
Sơn Nhỏ ngùi ngùi đáp:
– Tui thì dễ lắm mà! Anh Chín ảnh còn thì tôi theo ảnh hoài, nay ảnh mất thì tui… muốn bung đi đâu lại chẳng được.
Thím Hương nắm lấy tay anh ta, sốt sắng nói:
– Nếu như vậy thì tốt quá. Bây giờ mình bàn với anh việc này: nếu anh không bận bịu ở đâu hết thì mình với anh dong tuốt ra Cần Thơ ở cho yên thân đi!
Sơn Nhỏ dẫy nẫy:
– Ý hổng được đâu! Tui hổng quen ở chợ mà!
Thím Hương hơi xẳng giọng:
– Bộ anh ra chợ ở rồi cái gì nó cắn anh hay sao mà anh sợ quá trời quá đất vậy?
Sơn Nhỏ nhăn nhó
– Tui nói tui hổng quen…
– Anh hổng chịu ra ở thì làm sao quen được! Cái gì cũng có lạ trước rồi sau mới quen chớ! Mình với anh đây ban đầu có quen hông mà tại sao bây giờ lại…
Sơn Nhỏ gạt ngang:
– Mà tui nói hổng được là… hổng được.
Thím Hương nhìn sững anh ta rồi lắc đầu thở dài :
– Thằng cha này thiệt kỳ đời hơn ai hết. Cái gì đem ra bàn với anh, anh cũng đẩy trớt hết thì mụ nội mình, cũng hổng biết tính sao nữa…
Rồi bỗng nhiên thím Hương đâm ra bực mình và hỏi ngang
– Vậy chớ anh muốn cái gì, anh thử nói phứt ra coi?
Sơn Nhỏ cúi mặt xuống, rầu rầu đáp:
– Theo tui thì… thím nên tạm ở đây một ít lâu nữa đã nhóng coi đường đi nước bước dìa Cần Thơ có yên hông… Bề gì thím cũng phải trở dìa ngoãi để ở với mấy đứa nhỏ. Tui chỉ thấy có cách đó… chớ còn tui (giọng Sơn Nhỏ trở nên vừa chua chát vừa ngùi ngùi) tui vác mặt ra ngoãi coi cũng… hổng tiện. Cái gì cũng lạ nước lạ cái hết!
– Anh lại tính nói cái điệu đó nữa!
Sơn Nhỏ gục gặt đầu và nghiêm giọng đáp:
– Tui nói thiệt mà thím! Cái này chắc thím… rành nhiều hơn tui: bây giờ mình ở trong nầy thì tưởng dễ chớ tới khi ra ngoài rồi mới biết là khó nuốt vô cho xuôi…
– Anh này nói lăng nhăng quá tổ mẹ hà!
Sơn Nhỏ gượng cười, tiếp lời:
– Bấy lâu nay ở trong này quanh đi quẩn lại chỉ có thím với tui hẩm hút sống với nhau thì cái gì cũng dễ, cũng được hết. Bây giờ cũng tui với thím mà kéo ra Cần Thơ ở thì lại khác xa…
– Khác cái gì? Cũng hai đứa mình chớ bộ ai vô đó nữa? (thím Hương tuy dư hiểu Sơn Nhỏ muốn nói gì, nhưng cũng ráng hỏi tới bằng một giọng không mấy gì hăng hái cho lắm)
Như được trớn, Sơn Nhỏ nói một hơi:
– Phải, khác xa, và cái gì cũng khác hết ráo trơn, ráo trọị. Ở ngoãi còn có công kia việc nọ chớ đâu phải chỉ có tui với thím nằm ăn ở không trong cái hốc bà tó như vầy sao!… Ví dầu tui có theo thím ra ngoãi thì nội trong vòng ba bảy hai mươi mốt ngày tui cũng… lạy ba lạy xá ba xá rút lui đi gấp,
Thím Hương mỉm cười hỏi lại:
– Sao kỳ vậy? Chắc tới chừng đó anh gặp mấy con lũng bóng sắc trẻ hơ hớ rồi anh dang mình ra chớ gì?
– Bậy nà. Tui nói thiệt mà thím cứ móc ngoéo hoài thì làm sao tui dám nói tới nữa!… Tui có ra ngoãi ở, ban đầu cái gì cũng êm hết ráo, nhưng thỏn mỏn rồi thì tui chạy trời cũng không khỏi bị cái cảnh… lon chon lỏn chỏn… thím à, cái gì mình biết trước thì cũng nên chặt cua tránh nó đi, chớ để sau nầy… cơm không lành canh không ngọt rồi sanh cắn đắn nhau hay đổ thừa tại bị này nọ cho thêm mích lòng nhau nữa!
Thím Hương đưa tay vuốt nhẹ càm Sơn Nhỏ:
– Mấy thằng cha lù khù như vầy coi lơ mơ mà rắc rối tổ mẹ! Mọi khi mình cạy răng cũng hổng rớt rа một lời mà sao bữa nay bộ… Ông ứng, Bà nhập gì mà thằng chả xổ ra dữ vậy cà!
Sơn Nhỏ có vẻ xẻn lẻn:
– Mọi khi… hổng có chuyện gì xảy ra hết thì… mắc mớ gì tui phải xía vô chớ!… Mà tự nãy giờ tui nói hết lời hổng biết thím nghe có lọt không.
Thím Hương liếc xéo anh ta
– Xí, anh làm như mình bư nhứt trần đời chắc!
Ngừng một giây, thím quay ra hỏi ngang:
-… Mà anh nghĩ sao nói vậy hay là anh tính chuyện chơi qua đường rồi cho con nầy leo cây đó?
Sơn Nhỏ sửng sốt nhìn lại thím:
– Thím nói sao? Tui mà vậy đó hả? Thiệt tui hổng dè… (anh ta bỗng giận run, nghẹn lời luôn).
Thím Hương hốt hoảng nắm chặt lấy tay anh ta, lắc lắc:
– Anh Năm, mình nói chơi một chút để thử bụng anh mà!
Sơn Nhỏ nhẹ gỡ bàn tay thím ra, lắc đầu thở dài:
– Thôi đi thím, thím khi dễ tui vừa vừa nó chớ. Tui lỡ dại thì phải ngậm câm cái miệng lại… (giọng anh ta trở nên chua chát)… Tui biết trước là thua thím đủ thứ chuyện hết mà!
Thím Hương chắc lưỡi:
– Anh Năm, anh ăn nói gì… lạc quẻ hết vậy. Mình nói quàng nói xiên đi chọc anh chơi rồi anh để bụng giận hay sao? Vậy từ rày sắp lên, mình không dám hở miệng cái gì nữa hết!
Thấy Sơn Nhỏ nín thinh, thím nhích người ôm choàng lấy anh ta kéo lại gần mình, rồi một tay nâng càm anh ta lên:
– Vuốt giận đi cưng! Thôi bây giờ mình dẹp qua một bên cái chuyện đi ở lằng nhằng đó nghen? Thây kệ mồ nó… để tới đâu hay tới đó chớ mình không chịu mất vui như vầy đâu! Mình cũng nói thiệt với anh; dầu cho mai kia mốt nọ có ra sao đi nữa, mình cũng nhớ hoài những ngày mình… hú hí với anh ở đây.
… Rồi thím nhìn thẳng vào mắt Sơn Nhỏ, thím nói như reo lên:
– Thiệt là kỳ, mình nói ra đây hổng sợ xấu hổ gì hết sao mình ở với anh, mình thấy nhẹ nhõm, thấy… dễ chịu quá! Mình thấy như mình… hồi còn con gái mười bảy mười tám tuổi gì vậy! Hổng biết anh có “thấy” như mình vậy hông?
Chợt thấy vẻ mặt ngơ ngác của Sơn Nhỏ, thím cười xòa rồi ôm chặt lấỵ anh ta:
– Mình hỏi một câu… ngu hết chỗ để! Mình quên phứt anh là trai tân chớ bộ… ‘‘nước giảo’’ như mình vậy sao !
Sơn Nhỏ bắt phì cười vì lời nói ví von có phần không đúng ấy:
– Thím mà,., nước giảo khỉ gì!
Thím Hương mắc cở cắn nhẹ vào vành tai anh ta!
– Bậy nà ! Người ta nói một đàng anh lại nghĩ ra một nẻo!
Bỗng như nhớ trực ra điều gì, thím ngẩng đầu ra hỏi Sơn Nhỏ:
– À, mình quên hỏi anh việc này nữa ! hổng biết số tiền của mình gởi lúc trước anh còn cất ở đó hay là giao lại cho anh Chín rồi?
Sơn Nhỏ ngồi nhích ra, hơi xẳng giọng hỏi lại:
– Thím hỏi chi vậy? Tui nói hổng mất đâu mà!
Thím Hương vội nói đỡ:
– Ai nói mất mát gì đâu! Nhưng mình tưởng anh giao lại cho anh Chín cất, mà bây giờ ảnh bị nạn bất tử như vậy nên mình sợ… hổng ai biết chỗ ảnh cất giấu ở đâu vậy mà!
Sơn Nhỏ mím môi lặng thinh, và mãi một lúc sau anh ta mới rầu rầu lên tiếng:
– Thím khỏi lo, cái gì cũng đủ hết…
Thím Hương vồn vã chận lời anh ta:
– Mình hỏi cho biết vậy thôi… À, anh có tính cúng kiến gì cho anh Chín không? Để mình lo việc này nghen?… Mà làm sao kiếm cho ra nhang đèn đây?
Sơn Nhỏ đâm ra cảm động trước sự nhắc nhở ấy của thím Hương. Anh ta nhìn thím đăm đăm với một vẻ đầy mến phục… Thím Hương biết ý, hơi nhoẻn miệng và dịu dàng hỏi lại:
– Mình tính như vậy anh nhắm có được hông?
Sơn Nhỏ gật đầu lia lịa :
– Được, được… Để tui bơi xuồng ra nhà quen ngoài bờ kinh mượn đỡ một ốp nhang. Ờ, hổng biết ở nhà mình còn cơm cá gì để cúng hông thím?
– Để mình lo cho mà! Cúng kiến cốt ở lòng thành, dầu cho mình chỉ dọn cơm muối cũng đâu có trái lễ đó anh!
Sơn Nhỏ lại gật đầu
– Phải đa. Thôi để tui chạy ra ngoài xóm nghen!
Thím Hương dặn vói theo:
– Mà đi xăng xăng rồi về nghen! Ra ngoài, anh nhớ để ý để tứ giữ gìn cẩn thận chớ bây giờ trước sau chỉ có anh với mình đó nghen!
Sơn Nhỏ quay đầu lại:
– Ừa… tui cao số lắm mà thím!
Và tự nhiên anh ta đưa tay chụp lên chỗ trước bụng nơi trước kia cây lục vẫn dắt luôn luôn ở đó… Sơn Nhỏ đâm ra bực mình: từ cái ngày mà thím Hương ôm chầm lấy anh ta rồi nhăn nhó kêu lên là bị cấn đau đau vì cái bá súng giắt nơi bụng ấy, anh ta cất luôn nó ở bên nhà…
Sơn Nhỏ thẩn thờ đưa bàn tay mặt ra làm những cử động bóp mở mấy ngón tay… Anh ta rất buồn phiền khi nhận thấy mấy ngón tay ấy có phần đơ cứng chớ không còn nhanh nhẹn và dịu quặt như vào cái thời trước đây, cái thời mà anh ta từng được anh em trầm trồ là một tay súng cừ khôi nhứt.
Dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa, đầu Sơn Nhỏ bỗng đâm ra lùng bùng, mồ hôi đổ hột và người anh ta rã rời như bị dần từng khớp xương…
Bất giác Sơn Nhỏ đưa tay lên sờ đôi má có phần gầy hóp và khẽ thở dài…
Trăng bên ngoài sáng vằng vặc… Ánh trăng tỏ rạng ấy như tràn ùa qua hàng mắt cáo vách, soi xuyên qua vải mùng thưa và như muốn lấn áp cả ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu đặt ở cuối bàn.
Sơn Nhỏ mỏi mệt gục đầu bên vai thím Hương, mơ mơ màng màng… Mùi tóc hay là mùi da thịt kia như quyện lấy hơi thở của anh ta…
Sơn Nhỏ tuy quen nhiều với một mùi nồng đậm ấy nhưng lúc nào anh ta cũng vẫn thấy nó mới mẻ, vẫn thấy như chưa đã thèm và chưa chi đã thấy luyến nhớ tuy chưa lúc nào xa vắng hẳn…
Mãi một lúc sau, anh ta ngủ mê đi hồi nào cũng chẳng hay. Thím Hương vói tay kéo chiếc gối, âu yếm nâng đầu anh ta lên đặt nhẹ xuống, rồi vươn vai nằm khít một bên ngủ theo…
Trong lúc ấy, tại bến xẻo trước nhà Sơn Nhỏ, một người vừa hối hả cập xuồng vô cầu rồi tất tả đi lên sân.
Hắn ta vừa bước nhanh vừa cất tiếng gọi:
– Sơn Nhỏ! Sơn Nhỏ, em ngủ hay thức em!
Thấy không ai trả lời, hắn ta bước thẳng lại cửa móc hộp quẹt ra bật lên, vừa giơ soi vừa gọi thêm nữa:
– Sơn Nhỏ, Sơn Nhỏ… qua đây nè em!
Ánh lửa của chiếc quẹt máy cũng đủ soi một phần gương mặt của hắn ta và người mới đến không ai hác hơn là… Chín Thuộc.
Hắn ta chợt thấy chiếc nóp còn cuốn tròn dựng trong kẹt vách và chiếc sạp tre thì trống trơn, không một dấu vết gì chứng tỏ là vừa có người nằm ngủ trên ấy cả.
Chín Thuộc thổi tắt lửa quẹt máy, lầm bầm:
– Ủa, thằng Sơn Nhỏ này bữa nay nó đi đâu mà giờ này chưa về ngủ cà!
Hắn ta vội lui ra nhìn sang bên nhà sàn của thím Hương. Nhận thấy bên ấy còn thấp thoáng có ánh đèn hắn ta nghĩ bụng: “chắc Sơn Nhỏ còn lân la ở bển vì thím Hương thường hay già chuyện lắm!” Hắn ta bèn tất tả đi sang bên ấy.
Đến nơi, Chín Thuộc đứng khựng lại nơi đầu thang tre. Trên nhà sàn sao quá yên lặng và hắn ta còn nghe ra tiếng ngáy nho nhỏ, đều đều quen thuộc của Sơn Nhỏ
Hắn đứng lặng người у nguyên một chỗ, mắt không rời nhìn lên phía cửa ở trên và suy nghĩ lung tung “Sao bữa nay thằng này lại qua bên này ngủ cà?… Không, nó còn… khờ lắm có biết khỉ khô gì chuyện ấy!… Mà với con mẹ Hương… ngựa bà trời thì cũng dám có lắm!… Ờ, hay là con mẻ sợ ma sợ cỏ nên kêu nó qua bên này ngủ để cho đỡ vắng vẻ?… Mà không, con mẹ Hương dám bẹo hình bẹo xác,để nhử nó lắm…”
Chín Thuộc muốn chạy vọt lên tung cánh cửa khép hờ kia để coi sự thể ra sao, nhưng rồi hắn ta kịp nghĩ lại và chỉ rón rén leo lên từng nấc thang một…
Hắn ta nhẹ đẩy cánh cửa để mở he hé rồi ghé đầu vào.
Tự nhiên hắn ta nhìn về phía chiếc chõng của thím Hương… Ánh trăng bên ngoài rọi vào và ánh đèn bên trong chiếu ra thừa soi tỏ một cảnh tượng đủ làm cho hắn ta đứng chết trân. Tuy thấy rõ nhưng Chín Thuộc cũng dụi mắt đôi ba lần để nhìn cho kỹ hơn. Trên chõng, Sơn Nhỏ có lẽ vì lạnh, nằm úp mặt vào người thím Hương với một dáng điệu co ro thật đáng giận… và… cái chân của thím Hương gác choàng qua mình Sơn Nhỏ kia thật mới đáng… tức!
Chín Thuộc nhẹ nhàng lách mình vô, thò tay móc liền khẩu súng lục giắt nơi trước bụng. Hắn ta chỉa thẳng mũi súng về phía thím Hương: “con dâm phụ kia trước đã!”
“… Không… thằng “phản chủ” kia trước. mới đúng!…”
Ngón tay cái của Chín Thuộc nhanh nhẹn đưa lên hạ cái chốt an toàn xuống, trong lúc ngón trỏ đã tì lên thép lạnh của cò súng.
Khẩu súng như run lên trong tay Chín Thuộc và bỗng nhiên hắn ta chợt để ý đến dáng điệu quá “bé bỏng” của Sơn Nhỏ nằm ép bên mình thím Hương…
Chín Thuộc khẽ lắc đầu thở dài rồi buông thõng tay xuống, khoá chốt an toàn của khẩu súng lại và nhét nó vào trước bụng у như cũ, đoạn lùi bước quay trở ra… Hắn ta rón rén leo xuống thang tre vì không muốn vô ý gây thành tiếng động mạnh có thề làm tỉnh giấc cặp tình nhân ấy.
Hơi lạnh bên ngoài khiến cho Chín Thuộc thấy dễ chịu và hắn ta bỗng trở nên bình tỉnh một cách lạ thường,
Nghĩ đến hình ảnh Sơn Nhỏ nằm chèo queo bên cạnh thím Hương, tự nhiên Chín Thuộc bật cười khan. Hắn ta ngoái đầu nhìn lên phía nhà sàn, một lần nữa trước khi rảo bước đi thẳng về nhà, leo tuốt lên chõng ngủ một mạch cho đến sáng….
Sơn Nhỏ vừa bước tới ngưỡng cửa thì đứng khựng lại há hốc miệng ra… anh ta dụi mắtt lia lịa rồi chạy а lại chõng níu vai Chín Thuộc lắc liền mấy cái:
– Trời ơi, đại ca! Đại ca!
Chín Thuộc mở choàng đôi mắt ra rồi mỉm cười chậm chạp lên tiếng:
– Em đó hả?
Giọng nói quá thản nhiên, không có chút xíu vẻ gì mừng rỡ của Chín Thuộc làm cho Sơn Nhỏ hơi lấy làm lạ, nhưng anh ta cứ hỏi dồn tới:
– Đại ca dìa hồi nào vậy? Sao đại ca hổng kêu tui?
Chợt thấy câu hỏi sau của mình quá vô lý, anh ta vội nói trớ đi
– Ý quên nữa, hồi tối tui lội vô trong ngọn chơi rồi ngủ luôn lại nhà quen ở trỏng…
– Vậy chớ đại ca có… qua thăm bên thím Hương chưa?
Chín Thuộc thoáng cau mày rồi tươi cười đáp:
– Không… em à! Tại qua mệt quá nên về tới đây là qua lăn ra ngủ liền. Qua tính để sáng nay qua thăm thím cũng chẳng muộn… Thím còn đó chớ mất mát hay hao mòn gì đâu mà sợ!
Sơn Nhỏ xẻn lẻn cúi đầu:
– Dà…
Chín Thuộc khoan thai móc thuốc ra vấn hút rồi vui vẻ hỏi Sơn Nhỏ:
– Sao, em ở nhà cũng… như thường chớ? Còn thím Hương có đòi đi đòi ở gì không hay là có ý chịu ở đây luôn hả em?
– Dạ ở nhà mọi viêc vẫn bình yên … Thím Hương thì cũng… vậy đó… Thím có nhắc tới đại ca hoài…
Sơn Nhỏ chỉ có thể nói dối được bấy nhiêu đó mà nỗi vui mừng được gặp lại Chín Thuộc dần dần tan biến để nhường chỗ cho sự lo âu, hồi hộp. Anh ta bèn kiếm chuyện hỏi lảng ra:
– Ờ quên nữa… làm sao đại ca dìa được đây? Thằng Tám nó nói đại ca… bị nạn một lượt với ông già ngoài Vàm rồi mà?
Chín Thuộc phát cười lớn lên:
– Thiệt cũng tại thằng cha già mắc toi đó mà thiếu chút nữa qua hết còn mong gặp mặt lại em!
Sơn Nhỏ rụt rè nói chen vô:
– Thì cũng tại tui đốc thúc vô nữa nên đại ca mới đi.
Chín Thuộc cười xòa chận lời:
– Bậy nà! Việc làm ăn gặp mối thì mình phải đi, qua đây cũng tưởng dễ nuốt chuyến ghe thương hồ đó chớ có dè đâu sanh ra chuyện trặc trẹo như vậy! (nói đến đây hắn ta nhún vai)… Thôi, có lẽ cái số của qua năm nay kỵ lắm! May mà sống sót được như vầy cũng là có phước đức ông bà ông vải để lại rồi! Nếu qua không gặp chuyện nầy thì cũng gặp chuyện khác, mà hổng chừng còn nặng hơn nữa đó em!
Sơn Nhỏ tò mò hỏi tới:
– Mà sao đại ca còn sống được? Thằng Tám nó nói thấy đại ca bị Tây ria lật nhào xuống sông rõ ràng mà!
Chín Thuộc ngước mắt nhìn anh ta:
– Thì qua nói cái số của qua xui nhưng mà chưa xui tận mạng. Hồi qua nghe nổ là qua biết hổng êm, qua nhào luôn xuống sông liền, chớ đứng xớ rớ ở đó để lãnh đủ sao? … Chắc em ở nhà mong qua dữ lắm phải không? Còn thằng Tám đâu rồi? Mà bộ không có thằng nào sống sót dìa đây nữa sao hả em?
– Dạ, thằng Tám dìa xứ nó luôn rồi còn mấy anh em khác thì không thấy ai ló mặt mũi trở dìa đây hết.
Chín Thuộc thở dài, giọng ngao ngán:
– Chắc tụi nó một phần chết, một phần thì mạnh ai nấy lo khơi chỗ khác làm ăn hay lẩn trốn gì đó… Mà qua chắc tụi nó đi lang bang như vậy thế nào cũng có đứa bị thộp cổ! Thiệt từ hồi qua bắt đầu vô cái nghề nầy cho tới bây giờ, mặc dầu cũng lắm khi rước thất bại, nhưng chưa lần nào bị một vố… sụm bà chè như vầy!
Sơn Nhỏ bỗng có cảm giác đau thắt nơi ruột. Anh ta mến cảm ngước mắt nhìn trân trân Chín Thuộc: chỉ xa vắng trong một khoảng thời gian ngắn mà trông hắn ta già xọp và tiều tụy quá đỗi…
Tự nhiên Sơn Nho đâm ra xót thương con người ấy vô cùng. Anh ta rưng rưng nước mắt, vụng về chụp lấy bàn tay của Chín Thuộc định bụng sẽ thú hết đầu đuôi cuộc ân ái vụng trộm của mình với thím Hương…
Nhưng rồi anh ta tự thấỵ không đủ can đảm trước vẻ mặt chán chường nhưng lại thản nhiên một cách đáng khâm phục ấy. Cuối cùng anh ta chỉ hỏi Chín Thuộc một câu gần như là oán trách:
– Thiệt bậy quá! Sao đại ca hổng dìa riết đây liền hả đại ca?
Chín Thuộc thoáng nhìn qua Sơn Nhỏ và hiểu ngay tâm trạng của tay đàn em thân tín ấy.
Hắn ta mỉm cười độ lượng rồi chậm rãỉ đáp:
– Qua cũng muốn ba chưn bốn cẳng dông một hơi về trong nầy kẻo để em mong đợi và lo sợ dùm qua… nhưng bị sau đó Tây vô ruồng bố vùng đó lung tung khiến qua phải chạy bét sang miệt khác và đợi coi có mòi êm êm rồi mới dám lặn lội về đây đó em!
Sơn Nhỏ vẫn còn than thở:
– Phải chi đại ca dìa sớm sớm thì đỡ hơn biết bao nhiêu!
Chín Thuộc cười hỏi:
– Sao mà đỡ? Qua còn sống đây là quý rồi! Vậy chớ em muốn gì nữa cà?
Sơn Nhỏ vội đáp trớ đi:
– Thì cố nhiên như vậy rồi. Nhưng nếu đại ca dìa sớm, mình tính toán mọi việc nó dễ hơn, chớ từ hổm rày tui lo quýnh mà rốt cuộc rồi cũng chẳng biết tẩu thoát làm sao nữa! (đoạn anh ta ngập ngừng tiếp lời) Bộ đại ca qụên rằng… mình còn kẹt thím Hương vô trỏng nữa sao?
Chín Thuộc gải đầu:
– À… quên nữa há! Mà cái vụ đó dễ ợt chớ có khó khiết gì em! Phải rồi, chuyến này qua về đây cũng đúng thời kịp lúc lắm!
Sơn Nhỏ nhíu mày hỏi:
– Sao… vậy đại ca?
Chín Thuộc vỗ vai anh ta
– Thì còn sao nữa! Em thường nự qua về cái vụ thím Hương… thì nhơn dịp bọn anh em mình tứ tán hết, qua với em cũng nên ngoéo tay nhau dông luôn. Như vậy cũng là một công hai việc: đàng nào mình cũng phải đi chỗ khác rồi tính gì thì tính và đàng nào cũng phải dứt dạt thím Hương ra…
Chín Thuộc nheo mắt cười hỏi thêm anh ta:
– Bộ em quên rằng mình phải..bợ cho êm cái số tiền bạc vòng vàng của con mẻ hay sao? Thôi, trong lúc túng cùng, hai anh em mình ẵm cái số ấy đó thì kể ra cũng… dễ thở trong một thời gian lâu ớn đa em!
Sơn Nhỏ nhăn nhó hỏi lại:
– Bộ đại ca nhứt quyết như vậy sao đại ca?
Chín Thuộc làm ra vẻ ngạc nhiên:
– Coi, chớ em biểu qua tính cách nào nữa bây giờ? Chẳng lẽ hai anh em đi rồi phải nê con mẻ theo? Và nếu như vậy, tốt hơn mình nên đem trả lại cho con mẻ số tiền của ấy cho rồi!
– Nhưng tui hỏi đại ca: mình làm như vậy cũng… tội nghiệp cho người ta… Nếu anh em mình rút đi êm rồi thím Hương bơ vơ biết đường biết xá đâu mà dìa Cần Thơ?
Chín Thuộc khoan thai bước xuống chõng, thản nhiên đi thẳng ra cửa, ngóng cổ nhìn về phía bên nhà thím Hương, đoạn hắn ta dềnh dàng đi trở vô, đến đứng ngay trước mặt Sơn Nhỏ rồi trả lời một cách gọn lõn:
– Con mẻ không biết thì ráng chịu!
Sơn Nhỏ cúi đầu, lấy ngón chân xủi xủi nền đất rồi lên tiếng nho nhỏ như để than thở một mình:
– Như vậy… cũng ngặt cho thím quá. Ở đây thím tứ cố vô thân, và chẳng lẽ một mình thím mà chèo nổi dìa tới Cần Thơ được! Người ta còn con cái ở ngoải nữa…
Chín Thuộc thương hại đặt tay lên vai anh ta giọng vỗ về:
– Em đừng lo. Qua nói là nói vậy chớ mình đâu có xử một cách cạn tàu ráo máng như vậy được phải không em? Bề gì mình cũng phải lo cho thím về tới nơi tới chốn chớ.
Sơn Nhỏ sốt sắng hỏi liền:
– Bằng cách nào bây giờ đại ca?
– Dễ mà, hoặc mình kiếm cách cho thím quá giang, hoặc là mình mướn người chèo tam bản đưa thím.
Sơn Nhỏ thắc mắc hỏi thêm:
– Nhưng rủi… thím đòi lấy lại cái ruột tượng đựng của cải thì mình tính sao đây hả đại ca?
Chín Thuộc cười xòa:
– Vậy chớ em biểu qua tính cái gì nữa bây giờ? Thì nói đại với con mẻ là qua lo giữ kỹ trong mình vì sợ ba thằng cô hồn kia dòm ngó hay là ganh tị với em, nhưng rủi ro qua đi chuyến vừa rồi bị đụng với Tây và trong lúc qua nhào xuống sông qua lội rồi nó sút mất hồi nào qua cũng chẳng hay…
Sơn Nhỏ như vẫn còn chưa được yên tâm:
– Đại ca nói như vậy cũng được, nhưng hổng biết thím có tin hông…
Chín Thuộc cười ngất:
– Tin hay không thì thây kệ mồ con mẻ chớ ăn thua gì mình! Mà qua hỏi em: nếu con mẻ không tin thì con mẻ làm gì mình chớ?
Như chợt nhớ ra điều gì, Chín Thuộc quơ xuống chụp vai Sơn Nhỏ, lắc hỏi một hơi:
– Mà ở nhà em có lỡ lời nói cho con mẻ biết chút đỉnh gì hông? Em có cho con mẻ biết là qua còn giao cái ruột tượng cho em giữ hông? Hay là… hay là em đã trả mẹ nó hết ráo lại cho con mẽ thì chết cha qua!
Sơn Nhỏ mỉm cười lắc đầu:
– Bộ đại ca nói tui… “ná” lắm sao! Dầu hèn cũng thể, dầu bể cũng còn cành cạch, tui có ngu thì cũng ngu vừa vừa thôi chớ đại ca!
Chín Thuộc thở phào, cẩn thận hỏi thêm:
-… Nghĩa là em vẫn còn giữ cái món đó và con mẹ kia chẳng hay biết gì ráo? Có phải đúng như vậy không, em?
Sơn Nhỏ rắn giọng:
– Đúng bon như vậy. Tui nói gian nói dối làm gì chớ?
Chín Thuộc gật gù:
– Nếu vậy thì còn may lắm! Qua tưởng chuyến nầy còn lỗ nặng hơn nữa, chớ nếu có bấy nhiêu đó thì cũng chẳng sao phải không em?
Sơn Nhỏ ừ ào cho xong chuyện, nhưng anh ta rất bứt rứt trong lòng.
Ra tới sân, Chín Thuộc đứng lại nhìn thẳng vào mặt Sơn Nhỏ và nghiêm giọng bảo
– Bắt đầu từ hôm nay, em ráng lo sửa soạn mọi việc cho sẵn hết nghen! Hễ qua hô một tiếng là dông liền đa!… Thôi, bây giờ qua chạy đi tắm rửa sơ sơ để còn sang thăm thím Hương một chút chớ! Em đợi qua một chút rồi hai đứa mình đi một lượt nghen.
Sơn Nhỏ lắc đầu:
– Thôi đại ca đi một mình đi! Tui phải ở nhà để còn lo cơm nước..
Chín Thuộc gật gù:
– Cũng được. Mà bữa nay hổng chừng thím Hương, mời hết hai đứa mình qua bển để… ăn mừng qua mới về, (hắn mỉm cười tự phụ)… Để em coi qua nói có trúng hông nghen! Thím Hương, thím khéo về mấy cái chuyện ấy lắm.
Sơn Nhỏ gượng cười
– Trúng hay trật gì thì tui cũng xin… kiếu ở nhà.
Chín Thuộc nhăn mặt hỏi lại:
– Sao bữa nay em… khó quá vậy em?
– Khó mốc xì gì đại ca! Thì… đại ca mới dìa, tui qua bển nữa thì thấy… dư xài quá!
Chín Thuộc cười xòa:
– Cha nội này bây giờ… tiến bộ dữ đa!
… Thím Hương đang ngồi lui cui dưới bếp, Chín Thuộc rón rén bước lại gần và tằng hắng một tiếng thật to.
Chín Thuộc đứng chống nạnh nhìn xuống và cười đáp:
– Chớ bộ em nói tôi… hiện hồn ma về hay sao! Hay là… em vái tôi chết tươi chết tốt, chết nhăn răng ra!
Thím Hương chụp một nhánh củi quất nhẹ vào ống chân hắn ta:
– Ôn dịch vật anh, anh làm người ta hết hồn hết vía! Sao anh hổng cho hay trước… mà anh về hồi nào vậy?
Chín Thuộc nhìn thím trong một giây rồi từ tốn đáp:
– À, tôi mới về tới hồi khuya.
Thím Hương chậm rãi đứng dậy:
– Hồi khuya này? Vậy chớ anh ngủ ở đâu mà đến chừng nầy mới qua đây? Anh có gặp Sơn Nhỏ chưa?
Chín Thuộc mỉm cười ranh mãnh:
– Tôi về tới bị mệt quá nên nằm ngủ bên nhà, kế tới gần sáng Sơn Nhỏ…
– Sơn Nhỏ làm sao?
– À, Sơn Nhỏ… anh ta cũng đi ngủ lang bang đâu ở trong ngọn kinh mới bò về, gặp tôi anh ta mới chưng hửng…
Thím Hương thở ra:
– Vậy hả? Tại anh về bất tử quá nên ai không chưng hửng được! Lần sau anh đừng làm cái mửng đó nữa nghen!
– Lần sau… tôi có chết thì phải chết thiệt phải hông?
Thím Hương liếc xéo anh ta:
– Bậy nà!… Mà sao… khi không về được đây?
Chín Thuộc làm bộ cau mày:
– Khi không? Làm sao mà “khi không”cà!
– Vậy đầu đuôi ra sao anh thuật lại coi! Người ta nóng lòng muốn chết mà anh cứ nói trời nói trăng hoài hà.
Chín Thuộc vui vẻ kể lại cho thím Hương nghe sơ qua trường hợp thoát nạn của mình và kết luận:
– Đó em coi số mạng của tôi… dai lắm chớ phải lơ mơ sao!
– Anh sao bây giờ đốc chứng quá! Ai có nói gì đâu mà anh… lằng nhằng nọ kia hổng biết!
Chín Thuộc làm như ngạc nhiên:
– Hứ, có em mới thiệt kỳ! Sao bây giờ em hay bắt bẻ người ta quá vậy?
Thím Hương mỉm cười từ từ bước đến quàng đôi cánh tay mềm mát và dịu nhĩu lên vai Chín Thuộc, rồi ỏn ẻn nói:
– Thôi cái gì cũng dẹp qua một bên hết, miễn anh về đây được bình yên và khỏe mạnh là đủ rồi.
Chín Thuộc nhẹ gỡ đôi cánh tay quấn quít ấy ra:
– Bình yên thì có chớ khỏe mạnh thì… không
Thím Hương ngoe ngoẩy:
– Hèn chi tự nãy giờ tôi thấy anh… nguội lạnh nguội ơ, xuôi cò xuôi xị chớ hổng có… nóng máy can hổng nổi như lúc trước nữa!
Chín Thuộc nhún vai:
– Em nói đúng: tôi bị cái cú vừa rồi nên gân cốt gì bải hoải hết, thần kinh gì trặc trẹo ráo trơn. Tôi thấy đời mình đang xuống dốc rồi đó em!
Thím Hương bĩu môi đưa bàn tay đánh nhẹ vào ngực hắn ta:
– Sao bây giờ anh ăn nói nghe yếu xịu vậy? Chắc bộ anh hổng có nhớ, hổng có ham con này nữa rồi!
Chín Thuộc mỉm cười, hỏi lại:
– Còn em, em ở nhà chắc nhớ mong tôi gần chết phải không?… Hèn chi mặt màỵ em… tươi rói và có da thịt hơn trước nhiều đa.
Thím Hương nói xon xỏn tới như để che lấp sự ngượng ngập.
– Chớ anh biểu tôi phải làm sao bây giờ? Anh muốn tôi ở nhà xé khăn để tang cho anh chắc? Hãy là cạo trọc đầu đi tu mới vừa bụng anh? Anh thiệt giống у Sơn Nhỏ!
Chín Thuộc có vẻ ngạc nhiên:
– Tôi làm sao mà giống Sơn Nhỏ?
– Thì hồi được tin anh… biệt tích, anh Sơn Nhỏ ảnh cũng cự nự với tôi…thiếu điều ảnh bắt tôi phải để tang và lập bài vị để thở anh! Thằng cha gì kỳ quá!
Chín Thuộc cười ha hả:
– Thằng đó coi vậy mà còn chỗ được! Bề gì thì bề chớ nó cũng còn phải… trọng tôi chớ!
Thím Hương quay mặt đi:
– Anh cứ hay khoe miệng tài hoài hè!
Chín Thuộc chụp mạnh lấy vai thím, bắt phải quay người lại. Thím Hương nhăn nhó kêu lên:
– Anh nầy kỳ quái! Anh làm cái gì mà thiếu điều muốn sụm cái bả vai của người ta vậy?
Chín Thuộc lắc đầu thở dài:
– Xin lỗi em….Thôi tôi về đây.
Thím Hương níu hắn ta lại, đon đả nói:
– Coi, giận rồi sao? Hôm nay tôi nhứt định bắt anh ở lại dùng cơm. Anh có qua bển rủ anh Sơn Nhỏ sang nữa thì được chớ về luôn… mích lòng lắm nghen!
Chín Thuộc bắt phì cười…
Chín Thuộc vừa bước về tới sân liền búng tay kêu Sơn Nhỏ:
– Ê em, hôm nay khỏi nấu cơm nghen! Thím Hương mời hai đứa mình qua bên nhậu nhẹt đó! Mà làm cái gì em ngồi cú xụ như gà mắc toi vậy hả?
Sơn Nhỏ vứt cành tre anh ta đang cầm trong tay để vẻ những lằn ngoằn ngoèo trên nền đất, uể oải ngẫng đầu lên
– Thôi đại ca đi một mình, tui ở nhà.
Chín Thuộc chắc lưỡi
– Em sao kỳ quá, việc gì mình cũng phải dẹp qua hết… Chắc em lo buồn về chuyện anh em mình tứ tán hết hay là… trong mình em ốm đau bể nghể ra sao đó hả em?
Sơn Nhỏ quay mặt đi:
– Không… tui hổng có sao hết.
Chín Thuộc bước lại gần, ái ngại đứng nhìn anh ta một hồi rồi thân mật ngồi xuống một bên và dịu giọng bảo:
– Nè em, chắc em dư biết là qua coi em còn hơn là một đứa em ruột nữa. Đối với riêng phần qua, dầu cho có bề gì đi nữa, có chuyện… động trời động đất gì đi nữa, thì cái tình giữa qua và em vẫn không suy xuyển chút nào hết.
Sơn Nhỏ ấp úng lên tiếng:
– Dạ, cái đó tôi hiểu nhiều mà đại ca…
Chín Thuộc nhẹ đặt tay lên vai anh ta, sốt sắng nói tiếp
– Bởi vậy qua khuyên em gạt qua một bên những chuyện lằng nhằng không nhằm đâu vào đâu hết. Ở đời qua với em còn sống với nhau nhiều, còn cần nhau nhiều phải không em?
Sơn Nhỏ không giấu vẻ cảm động:
– Tui cũng biết vậy… và cũng vì chỗ đó mà tui thấy mình có nhiều điều… hổng phải với đại ca.
Chín Thuộc chận ngang:
– Em khỏi phải nói thêm nữa! Qua nói qua coi mọi việc đó không ăn thua gì hết. Qua sống từng tuổi nầy, ăn nhờ hột cơm tứ xứ cũng nhiều nên cũng hơi rành mùi đời… Đối với qua mọi chuyện nhơn tình thế thái, chuyện giàu sang phú quý, chuyện… đàn bà con gái, qua coi như là đồ bỏ. Qua chỉ quý, chỉ trọng, chỉ nể có mỗi một thứ ở trên cõi đời nầy… Chú em mầy biết là cái gì hông?
Sơn Nhỏ nhìn Chín Thuộc, rụt rè hỏi:
– Cái gì hả đại ca?
Chín Thuộc vỗ mạnh vào vai anh ta, cười ha hả:
– Còn cái gì nữa! Chỉ có cái tình anh em sanh tử giữa qua và chú mầy là số một trên… cả bầu trời nầy chớ cái gì vô đó nữa!
Sơn Nhỏ cũng bắt cười theo:
– Đại ca nói sao… quá lố!
Chín Thuộc níu vai anh ta lôi dậy:
– Thôi không nói on-đơ gì nữa hết. Bây giờ em phải qua bển với qua lập tức!
Sơn Nhỏ đành miễn cưỡng đứng theo…
Suốt bữa cơm, trong lúc Chín Thuộc cười nói ồn ào, thím Hươqg khéo léo như thường và coi như không có việc gì xảy ra hết thì Sơn Nhỏ lúc lầm lì như giận hờn ai, lúc ngượng nghịu như xấu hổ một điều gì.
Sơn Nhỏ bỏ đũa xuống trước và vội vã bước rời khỏi bàn.
Thím Hương đon đả gọi anh ta lại:
– Ủa, sao anh thôi sớm vậy anh Năm. Mọi khi anh ăn tới sáu bảy chén lận mà!
Sơn Nhỏ lúng túng đáp:
– Dạ… bữa nay tui… no rồi thím à!
Chín Thuộc vội đỡ lời:
– Hôm nay anh ta hơi …ể mình đó thím.
Thím Hương sốt sắng nói liền:
– Vậy anh ở nán lại đây chút nữa tôi cạo gió cho!
Chín Thuộc cũng đốc thúc vô:
– Phải! em để thím săn sóc đỡ cho, hông thôi rủi ro em nằm xuống bất tử lúc nầy thì bê bối lắm. Em quên rằng hai anh em mình còn phải lo “hộ vệ” cho thím Hương đây nữa sao!
Sơn Nhỏ xẻn lẻn đáp
– Thôi được mà đại ca… Tui mạnh như trâu cui thì chết chóc gì được.
Chín Thuộc cũng buông đũa đứng dậy, vươn vai ngáp dài:
– Phần qua, qua về ngủ đây. Mấy hôm nay, lặn lội luồn trốn hoài mệt gần hụt hơi.
Đoạn day qua thím Hương, Chín Thuộc làm bộ mặt nghiêm, căn dặn:
– Nè thím, tôi giao Sơn Nhỏ cho thím đó nghen! Thím phải ráng làm sao cho anh ta khá khá lại một chút coi!
Thím Hương nhìn hắn ta một hồi như để dò xét rồi vui vẻ đáp:
– Được rồi, mọi việc qua tay tôi là êm hết! Để tôi cạo gió cho ảnh rồi chạy ra vườn quơ ba mớ lá cam, lá bưởi, lá giác về nấu cho ảnh một nồi xông nữa là chiều nay ảnh khỏe khoắn như thường.
Sơn Nhỏ lựng khựng đứng ở ngưỡng cửa nhăn nhó tìm cách từ chối
– Thôi, tui cũng dìa… tui hổng có sao hết mà thím….
Chín Thuộc bước lại xô vẹt anh ta qua một bên, đi luôn xuống thang gác:
– Em đừng có cãi qua… qua về bển trước nghen!
Không đợi cho Sơn Nhỏ trả lời, hắn ta hấp táp leo nhanh xuống mấy nấc thang tre và cắm đầu cắm cổ đi thẳng.
Sơn Nhỏ quay qua thím Hương:
– Tui dìa đa thím.
Thím Hương níu áo anh ta lôi nhẹ vào trong:
– Về khỉ gì mà gấp vậy?
Sơn Nhỏ liếc mau về hướng Chín Thuộc đang đi và vùng vằng nói ngang:
– Coi bộ ảnh biết hết rồi chớ thím đừng tưởng…
Thím Hương cười mũi:
– Xí, thằng chả biết hết rồi chớ “coi bộ” khỉ gì nữa! Thằng cha chúa ôn đó nó tinh mắt lắm!
Sơn Nho nhăn nhó:
– Thím biết vậy sao thím còn trì kéo tui ở bên nầy làm chi nữa?
Thím Hương bỏ đi vào phía trong ngoắc anh ta:
– Vô đây mình nói hết cho mà nghe… Tại anh chưa chỉ hết mà xăng văng xéo véo như gà mắc đẻ thì làm sao che mắt thằng chả được!
Sơn Nhỏ bước theo vô trong và nóng nảy hỏi liền:
– Ảnh biết thì tại… ảnh biết, chớ làm sao thím đổ thừa cho tui hả?
Thím Hương ngó lên nóc nhà, nhịp nhịp mấỵ ngón tay lên mặt bàn:
– Ai thèm đổ thừa đổ bù gì mà anh nói! Mình tức anh sao có vẻ sợ thằng chả quá nên thằng chả mới biết. Thằng chả tinh khôn quỷ quái, giàng trời đất mà mình lù khù lờ khờ hay hiền lành quá thì qua mặt hắn ta hổng nổi đâu! Mà thôi việc đã dĩ lỡ rồi…
Sơn Nhỏ lo lắng hỏi lại:
– Bây giờ mình tính sao đây thím?
Thím Hương bước lại ngồi xuống mép chõng:
– Từ hồi sáng tới giờ mình cũng hổng gặp anh để căn dặn ít điều nhưng không sao đựợc. Thời may anh cũng… chịu khó qua đây ăn cơm, chớ nếu anh ru rú ở bển thì càng bậy nữa! Và khi nghe anh Chín nói anh muốn đau là mình nghĩ cách giữ anh lại bên nầy rồi.
Sơn Nhỏ trợn mắt
– Ý trời, thím đừng tưởng dễ dúng gì đâu nghen. Vậy chớ thím hổng thấy anh Chín ảnh cũng nài ép tui ở lại bên nầy đó sao! Nếu theo thường tình thiên hạ thì ảnh phải… với thím xáp nhau lại chớ?
Nói đến đây, anh ta bước lại ngồi ở đầu nầy chõng, nhăn nhó gải đầu và lên giọng thở than:
– Cha, thiệt vụ nầy rắc rối tổ mẹ! Tui nghi cha nội đó mưu cao kế độc tính chuyện gì đây… À, hay là ảnh muốn gài bẫy tui với thím hả thím?
Thím Hương đâm chiêu nhìn ra ngoài cửa và mãi một lúc sau thím mới chậm rãi lên tiếng:
– Theo ý mình thì thằng chả không có tính như vậy đâu… Anh nghĩ coi… thằng chả mới về ràng ràng mà đã biết nói xa xuôi, bóng gió về chuyện của hai đứa mình và giữa ban ngày ban mặt như vậy nữa thì thử hỏi anh với mình có… ba đầu sáu tay mười hai con mắt, hay là có lá gan lớn bằng cái thúng một giạ đi nữa thì cũng chẳng dám chàng ràng với nhau… Mình nói như vậy anh nghĩ coi có đúng hông?
Sơn Nhỏ gật đầu liền:
– Đúng lắm. Mụ nội tui bây giờ cũng hổng dám lộn xộn, với lại thím nghĩ coi trong tình cảnh nầy mà ai còn ham muốn gì nữa…
Thím Hương mỉm cười, nhốm người vói tay véo má anh ta:
– Anh sao dở khẹt, mới có một chút đó mà mình coi bộ anh… co ro cúm rúm, hết lửa hết gân rồi sao? Nói vậy từ rày sắp lên mình với anh… bét nhau ra luôn à?
Sơn Nhỏ ngồi nhích ra thêm một chút nữa và mắt thì nhấp nha nhấp nháy liếc về phía cầu thang:
– Ý trời ơi, người ta lo thiếu điều xón trong quần mà coi bộ thím như không! Anh Chín ảnh nóng còn hơn Trương Phi và đa nghi còn hơn Tào Tháo mà thím lại dễ ngươi quá, hổng xong đâu!
Thím Hương cười xòa:
– Thằng cha nầy nhát như thỏ đế! Mình nói hổng sao đâu mà. Mình chắc thằng cha Chín nay nó muốn… xả cảng cho anh với mình để thằng chã mưu tính cái gì đây… À, chắc thằng chả muốn thử hai đứa mình…
– Anh để yên mình nói hết coi! Mình còn biết rằng thế nào thằng chả cũng “hù” anh một trận rồi buông anh qua đây và thằng chả tin chắc mẻm rằng thế nào anh cũng…ăn năn hối lỗi hay là… run lên phát rét và anh sẽ tự ý dang mình ra… Anh nên nhớ thằng chả là một tay “mưu sĩ chuột” ghê gớm lắm nghen!
Nói đến đây, thím nhìn thẳng vào mặt Sơn Nhỏ, mỉm cười tiếp lời
– Vậy bây giờ mình với anh nên tương kế tựu kế…
Sơn Nhỏ gạt ngang:
– Ý thôi, tui hổng muốn “kế” gì nữa hết. Anh Chín ảnh đã ngó lơ cho mình thì mình cũng phải tính làm sao..
Thím Hương xẳng giọng hỏi liền:
– Tính gạt mình qua một bên phải hông?
Sơn Nhỏ vặn vẹo mấy lóng ngón tay
– Đâu có thím… nhưng mình cũng nên nể nang ảnh một chút.
-Thì anh nói là sợ thằng chả có được hông!
Sơn Nhỏ thở dài:
– Thì cũng phải sợ ảnh chớ sao! Thím hổng biết: nếu mình làm tới quá ảnh đâu có chịu thua và như vậy không có lợi gì ráo, Tui nói đây là tui lo cho phần thím chớ cái thân của tui có ăn nhằm gì đâu.
Thím Hương xụ mặt xuống:
– Thiệt mình biết không nhờ nhõi gì anh được hết á! Như vậy, mình đành long chong ở đây cho tới khi chết già à?
Sơn Nhỏ vội lên tiếng vỗ về thím:
– Việc đó tui nói để tui lo mà thím!
– Anh lo cách nào? Mới đây mà anh còn tính bỏ rơi người ta…
– Thì thím để thủng thẳng bàn với anh Chín…
Thím Hương trề môi
– Xí, anh lo cái điệu đó kể như ăn trét! Hay là hai người tính mưu lập kế để hại con này đó?
Sơn Nhỏ nhìn sững lại thím rồi rầu rầu đáp:
– Chẳng lẽ thím bắt tui thề thím mới tin hay sao! Tui nói thiệt với thím đầu đuôi vụ nầy, lúc nào tui cũng lo cho thím chớ đâu phải đợi tới bấy giờ mới làm bộ lăng xăng hay hứa hẹn trên trời dưới đất!
Thím Hương bước lại vịn vai anh ta:
– Mình tin anh rồi! Vậy anh ráng lo cho mình được chút nào hay chút nấy, chớ ở đây ngoài anh ra mình cũng co tay.
Sơn Nhỏ lúng túng đứng dậy:
– Thôi, tui phải dìa bển… chớ tự nãy giờ lần khân ở đây lâu quá…
Thím Hương phì cười:
– Ở lâu nhưng mình có làm gì quấy đâu mà anh sợ! Mà anh cũng phải để cho mình cạo gió sơ sơ cái đã!
Sơn Nhỏ lắc đầu:
– Tui có đau ốm khỉ gì đâu thím.
– Anh sao thiệt thà quá! Không đau cũng phải xức dầu, bắt gió sơ sơ lấy lệ chớ để anh xởn xơ về bển cho anh Chín ảnh nghi à?
Sơn Nhỏ ngẩn người ra
– Ờ phải há. Tôi quên phứt cái vụ đó.
Thím Hương vói tay kéo chiếc gối trên chõng lại gần
– Vậy anh nằm xuống đây, lật áo lên…
Sơn Nhỏ nhìn chiếc chõng, ngần ngừ đáp:
– Thôi đi thím, thím cho tôi mượn chai dầu tôi quẹt sơ sơ vài cái cũng đủ rồi mà!
Thím Hương cau có cự nự
– Anh này thiệt kỳ, bộ anh sợ mình bắt xác anh luôn sao chớ! Bây giờ anh có chịu nằm xuống không thì nói một tiếng!… Anh mà còn làm cái điệu đó nữa thì chạy trời cũng không khỏi bị mình níu luôn rồi để coi anh có chết với thằng cha Chín Thuộc không!
Sơn Nhỏ đành leo lên chõng nằm sắp xuống, mặt mày méo xẹo, và không ngớt ngoái đầu thấp thỏm canh chừng phía cửa cái…
Từng loạt súng đủ cỡ đua nhau nổ như muốn xé tung màn sương hãy còn dày đặc của buổi bình minh.
Chín Thuộc giật mình ngồi nhổm dậy, tay chụp lấy cây súng lục nhét trên đầu chõng, miệng hớt hải gọi Sơn Nhỏ:
– Sơn Nhỏ! Sơn Nhỏ, dậy mau em!
Sơn Nhỏ cũng vừa tông nóp ra hỏi lại:
– Súng đâu nổ tứ tung vậy đại ca?
Chín Thuộc không trả lời mà lại hỏi anh ta:
– Em vào lấy chiếc ruột tượng nịt chắc vô bụng cho mau đi, rồi hai anh em mình xuống xuồng dông đi liền.
Sơn Nhỏ cúi xuống lấy cây lục và lập cập hỏi lại:
– Đi đâu đại ca?
Chín Thuộc toan chạy ra ngoài cửa nghe ngóng, bỗng đứng khựng lại chắc lưỡi cự nự:
– Trời đất ơi, chạy trốn chớ còn đi đâu nữa! Tây nó vô bố lung tung kìa! Vô lấy chiếc ruột tượng rồi đi cho gấp, hông thôi chết dính chùm hết bây giờ ông nội!
Sơn Nhỏ vội vã quay vô buồng lôi chiếc ruột tượng đựng tiền bạc vòng vàng của thím Hương ra, buộc chặt chung quanh bụng rồi hối hả chạy theo Chín Thuộc ra bờ xẻo,
Vừa lúc ấy có một anh thợ câu bơi xuồng ba lá ào ào tới. Chín Thuộc chạy xuống cầu hỏi chận anh ta:
– Anh Hai ơi, Tây bố ở miệt nào mà nghe súng nổ như bắp ran vậy?
Anh thợ câu không lơi tay dầm, hớt hải đáp:
– Ý trời ơi, tui ở trong đồng nghe tư bề tám hướng gì cũng có tiếng súng hết! Tui thấy rõ ràng có bóng xe “con cua” lội nước đi hàng ngang như dậm cù… Tụi nó tới bên đít bây giờ anh ơi!
Và anh ta hối hả bơi đi tuốt.
Chín Thuộc cúi xuống tháo sợi lòi tói buộc mũi xuồng và gọi Sơn Nhỏ
– Xong chưa em? Xuống đi cho mau hông thôi tụi nó đổ bộ hết mấy mặt thì mình chịu trận đa!
Sơn Nhỏ còn đứng lựng khựng trên bờ, mắt ngó chừng về phía bên nhà thím Hương, đoạn ấp úng hỏi lại Chín Thuộc:
– Còn… thím Hương nữa đại ca?
Chín Thuộc trố mắt nhìn anh ta:
– Thím Hương nào nữa? Bộ em nói giả ngộ sao chớ? Đến cái thân của hai đứa mình đây còn lo chưa xong huống hồ gì em còn muốn mình phải vác con mẹ đó theo nữa sao! Xuống đây mau đi tía!
Sơn Nhỏ xăng văng xéo véo chạy xuống, lại quay trở lên, rồi hỏi ngay Chín Thuộc:
– Đại ca để tui chạy cho thím hay…
Chín Thuộc bực tức cầm cây dầm đập mạnh xuống đầu cầu:
– Cho hay cái khỉ chó gì nữa! Em qua bển con mẻ níu đòi đi theo luôn thì sao? Mình cốt lánh mặt trước mà em cứ chàng ràng ở đó hoài. Qua biểu em đừng có cãi qua hổng được đâu!
Chợt thấy Sơn Nhỏ không có ý gì muốn xuống xuồng đi gấp, Chín Thuộc quắc mắt bảo tiếp:
– Em hổng xuống thì qua đi một mình đa!
Sơn Nhỏ ngần ngừ đáp:
– Đại ca đi trước đi…
Chín Thuộc quăng mạnh cây dầm xuống khoang xuồng:
– Em nói thiệt chớ hả?
Sơn Nhỏ khẽ gật đầu.
Chín Thuộc nghiến răng đứng như chết trân một chỗ.
Một tiếng đạn ô-buýt bay véo trên đầu mấy ngọn tre làm Chín Thuộc giật mình như sực tỉnh. Hắn ta quay nhìn lên Sơn Nhỏ lạnh lùng bảo:
– Được rồi! Em muốn vậy qua cho vậy! Nhưng em làm ơn trao cho qua chiếc ruột tượng rồi đi hay ở tùy ý!
Vừa nói, Chín Thuộc đưa ngửa một bàn tay ra vẫy vẫy như để hối thúc Sơn Nhỏ.
Sơn Nhỏ vẫn cúi đầu đứng im.
Chín Thuộc bỗng thở dài rồi bước lên níu vai Sơn Nhỏ lắc lắc:
– Em nghĩ lại đi em! Qua đã nói hết lời với em rồi đó. Qua đi một mình thì được rồi nhưng… em nỡ nào đành đoạn như vậy em!
Đoạn hắn ta lôi Sơn Nhỏ đi:
– Thím Hương là đàn bà ở lại cũng không sao mà em! Mình lo phận mình trước rồi để yên yên cho qua cái luồn Tây bố, mình sẽ quay về đây kiếm thím… chớ bộ anh em mình bỏ trốn luôn sao!
– Anh Chín, anh Năm ơi! Cái gì mà súng nổ dữ quá vậy!
Chín Thuộc quay phắt lại, buông vai Sơn Nhỏ ra, dậm chân kêu lên:
– Sơn Nhỏ, em thấy chưa! Qua biểu đi cho mau mà em hổng nghe!
Sơn Nhỏ chưa biết trả lời ra sao, thì Chín Thuộc đã xốc tới vừa thò tay lục lưng anh ta để cởi chiếc ruột tượng vừa gầm lên:
– Đưa nó đây cho qua để qua đi!
Tự nhiên Sơn Nhỏ hất tay hắn ta ra bước lùi lại đứng gần chỗ thím Hương. Anh ta há hốc miệng vừa ngạc nhiên vừa hoảng sợ về hành động đột nhiên ấy của mình, rồi lấp bấp kêu lên:
– Đại ca… đại ca…
Chín Thuộc giận run người, quát to lên:
– Sơn Nhỏ, mầy theo con mẻ hay theo tao…
Câu nói của hắn ta bị một tiếng moọc-chê rớt nổ gần đó át hẳn đi.
Sơn Nhỏ xuống giọng van lơn:
– Đại ca… đại ca nghĩ lại… thím Hương đã qua đây rồi.
Trong lúc đó, thím Hương ngơ ngác đưa mắt nhìn hết người nầy đến người kia
– Coi, mấy anh làm cái gì lạ vậy! Súng nổ dồn như vầy, bộ mấy anh hổng tính chạy đi đâu hết trơn sao mà mỗi ông đứng một góc hầm hầm hè hè như… cắn lộn vậy cà?
Chín Thuộc không buồn chú ý đến những lời nói đó, lớn tiếng kêu Sơn Nhỏ:
– Đi Sơn Nhỏ!
Thấy Sơn Nhỏ không nói năng gì hết, hắn lại quát:
– Mầy không đi thiệt hông? Không đi thì đưa “cái đó” cho tao chớ!
Sơn Nhỏ kéo thím Hương lùi lại ra phía sau rươm rướm nước mắt nhìn Chín Thuộc:
– Tui lạy đại ca, đại ca đi trước đi… không thôi Tây nó vô tới bây giờ… Tui đưa thím Hương đi theo sau và hổng để mất mát “cái đó” đâu mà đại ca!
Chín Thuộc cười lạt:
– Chó nó tin nổi mầy chớ tao tin hổng vô đâu! Tao cứu mầy lúc xưa, tao làm ngơ cho mầy mới rồi… bây giờ mầy tính trả ơn cho tao như vậy đó hả?
Sơn Nhỏ đứng làm thinh. Thấy vậy thím Hương lắc tay anh ta hỏi dồn:
– Cái gì vậy anh Năm? Anh Chín ảnh đòi cái gì thì anh trả phứt cho ảnh để rồi mình đi chớ hông thôi Tây tới chết cả lũ! Mấy thằng cha này kỳ quá! Bộ hết lúc cãi lộn rồi sao mà!
Sơn Nhỏ nhăn nhó day qua bảo thím:
– Thím hổng biết khỉ gì đâu mà xía vô. Thôi tui với thím lánh mặt vô trong kia một chút để cho anh Chín ảnh đi trước đi rồi mình theo sau.
Đoạn anh ta xô thím Hương lùi lại và quay lưng đi theo. Thím Hương lựng khựng bước thụt lui, mắt không rời nhìn Chín Thuộc và vội vã nói với hắn ta:
– Anh Chín, chuyện đâu còn có đó, chớ anh làm cái gì kỳ quá, coi hổng được!
Chín Thuộc bước tới gầm lên:
– Con ngựa bà trời! Bây giờ đến mầy nữa phải hông? Mầy cho cái thằng đó uống đồ dơ đã đời bây giờ tính xí xỏn lại với tao nữa phải không?
Sơn Nhỏ không dám quay mặt lại nhưng thấp giọng hối cản thím Hương:
– Thím ơi, ảnh muốn nói gì đó thây kệ ảnh… Mình đi dang ra rút đi thím!
Nghe lọt câu ấy, Chín Thuộc càng thêm nổi nóng. Anh ta đứng phắt lại, nghiến răng:
– Được rồi, tụi bây muốn chết, tao cho chết cho có đôi!
Hắn ta rút phắt cây lục “hẹc-tan” ra, chửi thề một tiếng khi nhận thấy cây súng chưa lên đạn… Trong lúc ấy, thím Hương níu vai Sơn Nhỏ la hoáng lên:
– Ý trời ơi, ảnh tính bắn kia kìa!
Sơn Nhỏ quay phắt mình lại và nhanh như chớp khẩu ru-lô của anh ta cũng đã nắm vững trong tay. Chín Thuộc mới lẩy bẩy lên cò súng của mình thì khẩu ru-lô của Sơn Nhỏ đã khạc đạn… Ngón tay trỏ của anh ta miết nhanh vào cò súng như là một phản ứng quá tự nhiên…
Tiếng nổ chát chúa làm cho Sơn Nhỏ bàng hoàng sực tỉnh buông thõng tay xuống… Trong khoảnh khắc, anh ta có cảm giác như là một khoảng trống không bỗng nhiên bao vây lấy mình mà những tiếng súng ì ầm của Tây bố cùng những tiếng gào la của thím Hương như mất hẳn… âm thanh, như không làm sao chen lọt vào được!
… Sơn Nhỏ như kẻ mất hồn, chập choạng bước về phía Chín Thuộc đang nằm lật nghiêng trên mặt cỏ, một tay ôm vết thương nơi bụng: một tay còn nắm chặt lấy khẩu “hẹc-tan” mà viên đạn đầu gắp hãy còn nằm yên trên nòng súng.
Thấy Sơn Nhỏ tới gần, Chín Thuộc cố lăn người nằm chịu lưng xuống mặt đất lấy thế cho vững, run run nâng khẩu súng lên và nghiến răng bảo:
– Thằng phản bạn! Tao phải bắn nát óc mầy…
Sơn Nhỏ chạy а lại, vứt mạnh khẩu ru-lô xuống đất rồi quỳ xuống một bên Chín Thuộc vừa khóc vừa mếu máo nói:
– Trời ơi đại ca! Đại ca bắn tui đi! Đại ca giết chết thằng khốn nạn, thằng chó đẻ này đi!
Vừa nói anh ta vừa chụp tay Chín Thuộc kéo tới để cho mũi súng tì hẳn vào ngay giữa ngực mình.
Chín Thuộc chớp chớp mắt, nhìn trân trối anh ta một hồi, đoạn thở dài buông tay cầm súng xuống bãi cỏ:
– Thôi đi em… Thêm một mạng nữa chết vì con đờn bà kia cũng đủ ớn rồi…
Đoạn hắn ta cố gắng nhích mép cười, phều phào tiếp lời:
– Đồ ngu như bò! Qua nói đâu là có đó…
Sơn Nhỏ nghẹn ngào không nói nên lời, trong lúc thím Hương đã bước lại đứng gần bên, lên tiếng nhắc anh ta:
– Anh Năm anh liệu coi thương thế anh Chín ra như thể nào để mình còn chở ảnh đi gấp chớ!
Sơn Nhỏ bèn cúi xuống lay gọi Chín Thuộc:
– Anh Chín… anh ráng lên để tui băng bó đỡ rồi chở anh vô trong ngọn kiếm thuốc cầm máu nghen anh?
Chín Thuộc mệt nhọc mở mắt ra, lờ đờ nhìn lên phía thím Hương, rồi quay qua trả lời Sơn Nhỏ:
– Thôi, em nê qua theo làm gì mất công. Qua coi mòi… mình hổng êm rồi. Vậy em đưa thím Hương đi cho gấp đi…
Sơn Nhỏ thởn thức van nài:
– Đại ca… đại ca ráng lên một chút, tui coi bộ hổng sao đâu mà!
Chín Thuộc khẽ lắc đầu giọng mềm yếu:
– Tay chú mầy bắn mà… hổng sao khỉ gì được…
… Rồi hắn ta nhắm nghiền mắt lại, thoi thóp thở, Sơn Nhỏ chẳng nói chẳng rằng, rút khăn tắm quấn nơi cổ xuống, luồn buộc vòng ngang qua chỗ vết thương mà máu đã thấm ướt cả vạt áo, nhanh tay lượm khẩu súng lục nhét vào lưng quần, đoạn bế xốc Chín Thuộc lên đi thẳng xuống bờ xẻo.
Thím Hương te te chạy theo:
– Anh Năm, anh tính chở ảnh đi đâu đó?
Sơn Nhỏ trả lời giựt một:
– Đi đâu kệ mồ tui!
Thím Hương sấn tới níu vai anh ta:
– Ủa, bộ anh tính không cho mình theo sao?
– Thì thím có chưn có cẳng, thím muốn đi đâu thì đi chớ!
Và anh ta bước tuốt xuống cầu.
Thím Hương lôi mạnh anh ta lại, suýt làm cho anh ta tuột tay buông rơi Chín Thuộc xuống bãi sình. Nổi dóа, Sơn Nhỏ bước lùi lại tiện chân ngáng mạnh vào ống quyển thím Hương làm thím rú lên ngả ngửa xuống đất. Xong, anh ta hấp tấp bước xuống cầu, đưa chân níu be xuồng cho cập ngang hông rồi thận trọng đặt Chín Thuộc nằm xuôi trên sạp tre.
Thím Hương vừa lồm cồm ngồi dậy vừa gọi Sơn Nhỏ:
– Anh Năm, anh tính bỏ tôi lại thiệt sao? Cho tôi theo với anh!
Sơn Nhỏ hấp tấp xuống xuồng lấy dầm chống xuống bãi sình để đẩy mạnh cho mũi xuồng bung ra khỏi cầu.
Thím Hương lật đật chạy xuống, nhưng khi nhận thấy Sơn Nhỏ đã quơ dầm bơi tới, thím liền dậm chân réo chưởi om sòm!
– Đồ quân khốn kiếp, bộ tụi bây tính toa rập với nhau để bỏ rơi con này phải hông? Tụi bây có đi đâu thì cũng phải trả chút đỉnh tiền nong lại cho người ta chớ! Tiền đó là tiền của cô hồn, không dễ gì nuốt trôi đâu nghen Sơn Nhỏ!
Ban đầu Sơn Nhỏ không buồn để ý đến những lời tru tréo của thím, nhưng khi nghe nhắc đến vấn đề tiền bạc, anh ta buông dầm xuống liền, đoạn vạch vạt áo lên mở phăng chiếc ruột tượng ra rồi đứng dậy ném mạnh lên bờ cho thím Hương:
– Đó tui trả cho thím! Thím ăn dộng gì đó thì ăn, bộ thím nói tụi nầy ham thứ mắc toi đó lắm sao!
Thím Hương đưa tay chụp lấy chiếc ruột tượng và chưng hửng nhìn theo Sơn Nhỏ không thốt được nên lời.
… Chín Thuộc từ từ mở mắt ra, rán ngẩng cổ đảo nhìn chung quanh rồi thều thào gọi Sơn Nhỏ:
– Nè em…
Sơn Nhỏ ngừng tay bơi, hỏi liền!
– Sao đại ca? Đại ca thấy trong mình….. đỡ chút nào hông?
Chín Thuộc nhướng mắt hỏi lại:
– Thím Hương đâu?
– Dạ thím ở lại đại ca à.
Chín Thuộc cau mày:
– Sao kỳ vậy?
Sơn Nhỏ ấp úng đáp:
– Dạ… tui để thím ở lại.
Chín Thuộc nhắm nghiền mắt lại, ráng nhoẽn miệng cười:
– Em thiệt lạ đời…
Bỗng hắn ta nhăn nhó ôm lấy bụng rên khừ khừ. Sơn Nhỏ hoảng kinh gác dầm lên bò lại réo gọi:
– Đại ca, đại ca! Sao đó đại ca?
Chín Thuộc mệt nhọc mắt mở ra:
– Chắc qua… không êm rồi em ơi (hắn quờ quạng nắm lấy bàn của Sơn Nhỏ)… Em ở lại mạnh giỏi… qua đi…
Sơn Nhỏ mếu máo:
– Đại ca đừng nói như vậy… Đại ca ráng một chút xíu nữa…
Chín Thuộc bỗng mở choàng mắt ra, lắp bắp hỏi:
– À… còn “cái đó”… em giữ làm vốn…
Sơn Nhỏ ấp úng
– Dạ… tui trả lại thím Hương rồi đại ca à.
Chín Thuộc trợn mắt:
– Trả lại?
Rồi như quá kiệt sức, hắn ta nhắm nghiền mắt lại.
Mãi một lúc sau, hắn lờ đờ mở mắt ra lại, hơi nhích mép cười và buông thỏng một câu:
– Tầm bậy, đồ ngu như bò…
Sơn Nhỏ cúi đầu chưa biết nói sao thì chợt thấy bàn tay của Chín Thuộc từ từ tuột rời khỏi bàn tay mình và rơi mạnh xuống sạp xuồng.
Anh ta hoảng kinh ngó lên: mắt Chín Thuộc đã đứng tròng.
Sơn Nhỏ khóc òa lên, đưa tay lắc bả vai đơ cứng.
– Đại ca, đại ca!
Chỉ có những loạt súng nổ đòn đáp lại lời réo gọi nghẹn ngào của anh ta…
Thấy Sơn Nhỏ đã bơi xuồng đi khuất và tiếng súng vang rền mỗi lúc như nổ gần thêm lên, thím Hương bối rối hết chạy lên nhà rồi quay trở xuống bờ xẻo có ý ngóng tìm một chiếc xuồng ghe nào đi ngang qua đó để quá giang.
Nhưng hai đầu xẻo vắng tanh.
Vài con cò trâu hốt hoảng vì những tiếng nổ chát chúa, chờn vờn đập cách trên đầu mấy ngọn tre như để tìm chỗ lẫn trốn.
Trong nhà Sơn Nhỏ, mấy con gà kéo nhau chạy tới chạy lui cục tác vang rần càng làm cho thím Hương thêm rối ruột.
Chợt nghe có tiếng xuồng bơi ồ ồ dưới xẻo, thím Hương vội chạy tuốt xuống cầu, đưa tay vẫy gọi.
Chiếc xuồng chở khẩm đừ: chồng bơi lái, vợ bơi mũi và khoảng giữa: một đàn con nheo nhóc đang la khóc om sòm bên cạnh một giỏ gà vịt và một con heo lứa bị trói nằm đưa bốn chân lên trời. Con vật kêu en ét luôn miệng như muốn phụ họa cùng tiếng la khóc của lũ trẻ con.
Nhận thấy chiếc xuồng đi trớ tới, thím Hương vừa ngoắc vừa réo:
– Anh ơi cho tôi quá giang rồi tôi sẽ trả tiền cho mà!
Anh bơi lái lắc đầu:
– Thôi đi cô ơi, bộ cô hổng thấy xuồng của tui khẩm đừ hay sao? Cô chịu khó đón xuồng khác đi!
Nói đoạn, anh ta vội vã bơi đi thẳng không buồn ngó ngoái trở lại, mặc dầu thím Hương réo gọi giựt ngược năm sáu tiếng nữa.
Bỗng một phát súng cối nổ vang ầm phía sau vườn làm cho Thím hoảng kinh nằm mọp xuống ván cầu… Rồi kế tiếp đạn đum đum nổ cắc bùm liền liền trong mấy đám tre khiến thím càng thêm lo sợ tưởng chừng như Tây đã đến sát bên nách rồi!
Không kịp nghĩ suy hay chờ đợi gì nữa, thím chạy thẳng lên bờ một mạch, lủi tuốt ra phía ruộng mọp người dưới ngọn lúa và lội càng tới bất kể phương hướng…
Chạy được một đổi, thím ngừng lại đứng xổng lưng để thở. Nghe tiếng súng nổ ran phía trong bờ xẻo, thím giật mình quay nhìn lại và kinh hãi xiết bao khi nhận thấy lửa bốc cháy ngùn ngụt nơi xóm nhà của bọn Chín Thuộc, Sơn Nhỏ… và nơi bìa vườn đã có thấp thoáng bóng lính Tây đi tới đi lui.
Thím lại mọp xuống lủi đi tới nữa.
Mãi đến khi mặt trời đã đứng bóng và nghe tiếng súng đã im bặt thím mới ngừng lại.
Phần thì mệt nhọc, phần thì đói khát, thím ngó quanh ngó quẩn, tìm một xóm làng nào gần đó để tấp vô tìm chỗ nghĩ chân, nhưng xung quanh toàn lạ đồng lúa cò bay thẳng cánh…
Trên đầu thì dang nắng, dưới chân thì ngâm nước… thím đành uể oải lội về phía một cái gò con nổi giữa đồng, nơi thấp thoáng có bóng mái lá nhỏ bé, như là một cái cốc, cái miểu gì đó, ẩn mình dưới những tàn cây gừa rậm rạp xanh um…
Vừa đến nơi, thím vui mừng xiết bao khi nhận thấy đó là một gian nhà lá nhỏ chớ không phải là một cái miểu bỏ hoang. Một chiếc áo lục bình màu dà phơi nơi dầu vách chứng tỏ rằng có người ở nơi ấy và căn cứ vào kiểu và màu áo, thím có thể đoán được đó là một người tu hành, một ông đạo hay một ni cô ẩn tịnh trong một cái am xa vắng này.
Thím Hương bương bả đi lên và cất tiếng gọi:
– Có cô bác nào ở trong nhà không, cho tôi hỏi thăm…
Thím chưa dứt lời thì đã thấy một ông đạo ở trần trùi trụi, mặc quần nâu xắn lên cao hấp tấp bước ra:
– Ai hỏi gì đó? À… cô… cô kiếm ai đó? Chắc chạy giặc lạc tới đây phải hông?
Thím Hương luống cuống nhìn xuống bộ quần áo ứớt nhem và dính đầy bùn đất của mình rồi ấp úng lên tiếng:
– Dạ phải… hồi sáng này Tây đi ruồng dữ quá… bộ thầy ở đây… hổng có chạy tản cư sao?
Ông đạo rút chiếc áo dà xuống khoác sơ lên người rồi cười đáp:
– Tây nó bố trong miệt trỏng chớ có ở ngoài này đâu! Với lại tui là kẻ tu hành… có làm gì đâu mà phải chạy trốn!
Tự nhiên, thím Hương đưa tay sờ lên chỗ buộc chiếc ruột tượng nơi thắt lưng và khoan khoái thở ra khi nhận thấy nó vẫn còn nằm у nguyên ở đó.
Ông đạo chăm chú nhìn thím, rồi lại đon đả lên tiếng:
– Nhà cửa… chồng con của cô ở đâu mà lại chạy xiêu qua tới bên nây một mình như vậy? Mà thôi, mời cô bước vô nhà nghĩ chưn, uống đỡ một chén nước cúng rồi nói chuyện sau cũng được… Tui coi bộ cô mệt đừ mà!
Thím Hương gật đầu và gượng cười đáp:
– Dạ phải… hổng dám nào xin thầy cho tôi nghỉ đỡ ở đây… nhà cửa tôi ở tuốt bên miệt bển, Tây đốt cháy rụi hết rồi… Thời may tôi gặp được cái am của thầy chớ hông thôi…
Ông Đạo chắc lưỡi kêu lên:
– Cơ khổ dữ hông! Thiệt tai trời ách nước, quỷ vương xuất thế khiến cho ai nấy cũng đều thất quốc xa bang hết! Cha, quần áo cô ướt loi ngoi như vậy rồi lấy gì mà thay đỡ đây! Thôi cô vô nhà đi rồi tôi sẽ liệu sau.
Thím Hương bèn theo ông đạo vào trong.
Đó có một gian nhà lá vừa thấp vừa chật, đồ đạc chẳng có gì ngoài một cái bàn thờ kê ở giữa và một chiếc chõng tre đặt ở một bên vách.
Trong nhà sực nức mùi nhang và thím Hương nhìn
thấy vô số lá bùa chữ đỏ viết trên giấy vàng dán la liệt khắp cột, khắp vách. Trên bàn thờ, dưới bức hình Phật cũ rách là một hàng “ông tướng” cây nhỏ lớn đủ cỡ…
Ông Đạo bước lại bàn thờ bưng nước cúng xuống đãi khách.
Thím Hương nâng chén nước trà lên uống một hơi rồi ấp úng lên tiếng:
– Dạ thưa thầy, hổng dám nào thầy còn có cơm nguội gì… cho tui xin đỡ một bữa…
– Tôi đâu dám… dạ, bị tôi… bây giờ kể như đi luôn chớ không còn quay về chỗ cũ nữa nên mới dám xin thầy một bữa cơm lót dạ, để rồi nhờ thầy chỉ đườngs dùm cho tôi ra chợ Giồng-Riềng…
Ông Đạo trợn mắt:
– Cô bỏ nhà đi luôn?
Thím Hương thở dài thuật sơ lại tình cảnh bơ vơ của mình, ông đạo nghe xong nhìn thím trân trân rồi gật gù nói:
– Cô còn trẻ như vầy mà đi lang bang như vậy sao được. Thời buổi nầy khó khăn lắm…
Ông ta bỏ lửng giữa câu rồi quay đi dọn cơm. Thím Hương vội bước xuống chõng:
– Thầy để tôi làm cho! Phải nồi cơm còn bắc trên cà-ràng đó hông thầy?
Ông Đạo đứng áng ngang lối đi:
– Ậy, cô mệt nằm nghỉ sơ cho khỏe đi rồi ăn bậy bạ ba hột cơm với tương dưa chớ chẳng có gì ngon lành hết đâu!
Thím Hương vui vẻ đỡ lời:
– Dạ trong lúc túng cùng nầy, ăn yên được một bữa cơm như vậy là quý lắm rồi.
Ông Đạo cười hể hả rồi xăng xái lấy đũa lấy chén dọn cơm lên:
– Cơm, tương gì cũng còn hiếm hiệm, cô ăn cho chắc bụng đi nghen! Tánh của tui thiệt tình lắm!
Thím Hương gặp được nơi dừng chân nên cũng đỡ phần lo lắng, và do đó thím ăn bữa cơm ấy rất ngon lành mặc dầu chỉ có cơm nguội, một chén tương hột và một chút ít dưa môn.
Cơm nước xong xuôi, thím dành phần đi dọn rửa mâm chén. Ông Đạo xăng xái đi theo một bên và chưa chi đã hỏi thím trước:
– Bây giờ cô tính đi đâu đây? Tui nghe cô nói hổng còn có nhà cửa gì nữa mà? Hay là cô đi kiếm… chồng con gì chạy giặc lạc hết phải không?
Thím Hương nhìn ra khoảng đồng trống, thở dài:
– Dạ… hồi nãy tôi có kể cho thầy nghe sơ qua tình cảnh của tôi… Tôi bây giờ chỉ còn có hai đứa nhỏ ở ngoài Cần Thơ…
Ông Đạo chép miệng than thở:
– Tội nghiệp quá há! Tui thấy thân phận của cô cũng kẹt dữ đa! (đoạn ông ta ngó thím Hương chầm chập rồi dịu giọng hỏi luôn)… Vậy chẳng hai cô tính lui tới thế nào đây?
– Dạ xin thầy cho tôi nghỉ chân đỡ nơi đây cho đến khi mát mát trời một chút, rồi nhờ thầy chỉ giùm coi phía nào có nhà cửa xóm làng gần nhứt để tôi lội ra đó kiếm cách đi về Giồng Riềng hay là đi thẳng ra Rạch-Giá hoặc đi tuốt về Cần-Thơ cũng được… Tiện đâu thì tôi đi đó thầy à.
Ông đạo chắc lưỡi, chỉ ra phía ngoài đồng
– Bây giờ dầu cho cô đi liền cũng hổng kịp. Đó cô coi, chỗ có xóm nhà ở rặng cây gần nhứt, bình thường cô phải lội tới sập tối mới tới nơi, huống chi suốt sáng nay cô đã trốn chui trốn nhủi thì còn hơi sức đâu mà đi cho mau nữa được!
…Mà ví dầu cô có lội qua tới bển đi nữa, đi trong lúc đêm hôm tăm tối hổng có ai dám chứa cô đâu!
Тhím Hương lo lắng hỏi lại liền:
– Sao vậy thầy? Mình là người lương thiện lỡ đường lỡ xá chớ bộ..
– Ậy, cô hổng biết để tui nói rõ cho mà nghe: Ở bên đó nhằm gần đồn bót của Tây u, người ta sợ như vậy cũng phải. Đó là tui chưa nói tới cái chuyện trong lúc tối trời cô mà lọ mọ đi rề lại phía gần đồn hay là gặp mấy ông đi tuần đi kích, mấy ổng thấy ba chùm ba cháng là ria liền chớ chẳng thèm hỏi han gì đâu nghe cô!
Thím Hương cau mày chắc lưỡi:
– Cha, sao khó quá há!
Ông Đạo gật gù phụ họa thêm:
– Thì tui đã nói thời buổi nầy… Quỷ vương xuất thế lểnh nghển mà cô! Nhưng mà chưa hết đâu… Cô hổng rõ chớ còn cái màn chót nữa thì… ối thôi, hết biết sao mà kể! Thôi, cơ trời tới đâu hay tới đó, tui hổng dám nói nhiều… Bởi vậy tui mới cất cái am ở chỗ thanh vắng nầy để lo tu hiền lần lần đi thì vừa…
Thím Hương khẽ thở dài:
– Đời tôi gặp nhiều chuyện quá chán ngán cho nên hây giờ thiệt tình tôi hết ham cái gì nữa… Nay nghe thầy nói, tôi cũng muốn tìm nơi chùa chiền, am сóc nào vào thế phát quy у để quên phứt chuyện đời cho rồi!
Ông Đạo hăng hái nói vào:
– Tui coi bộ cô có căn tu đa! Hay là… hay là cô ở luôn nơi đây rồi tui chịu khó đi mua tre lá dìa dựng cho cô một cái liều riêng để cô ở.
Thím Hương ngựợng nghịu đáp:
– Dạ cám ơn thầy… nhưng ở chỗ nầy cũng có điều… bất tiện. Với lại thầy là người tu hành không làm gì sanh huê lợi mà phải cáng đáng luôn thêm một miệng ăn nữa…
Ông Đạo vồn vã chận ngang:
– Ý cô đừng ngại gì ráo. Năm thuở mười thì gặp được người có căn tù là tui… mừng húm rồi. Cô khỏi lo cái chuyện thêm một miệng ăn đó nửa. Hổng nói giấu gì cô, tui tuy tu hành một thân một mình chớ siêng lo cứu nhân độ thế lắm.
Nói đến đây, ông ta nở một nụ cười tự phụ, đoạn tiếp lời:
– Cô hổng biết chớ tui ở tí mú trong nầy mà người làng nầy làng nọ họ lặn lội vô thỉnh rước đi hoài.
– Dạ… rước đi đâu vậy thầy?
– Thì rước đi chữa bịnh, đi cúng kiến… Cô hổng tin cô đi hỏi khắp vùng trên, miệt dưới chỗ nào họ cũng một tiếng ông đạo Sáu nầy hết.
Thím Hương đẩy đưa chiếu lệ:
– Nói vậy thầy đây là ông đạo Sáu…
– Phải, ông đạo Sáu ở am cây dừa là tui đó cô! Thuốc nam tui cũng rành mà bùa ngãi trừ ma ếm quỷ, con ranh, con lộn, điên khùng, mắc đàng dưới, bị thư bị ếm gì tôi cũng trừ được hết ráo. Bổn đạo của tui nơi nào cũng có, mùa lúa năm rồi tui sửa soạn kiếm chỗ dựng sơ lên một kiểng chùa cho nó có… bề thế một chút để khách thập phương, bà con tứ xứ đến có chỗ công quả, nhưng bị giặc giã lan tràn nên hoãn lại việc xây cất đó.
… Cô nghĩ coi, mình dư sức dựng kiểng chùa lên rồi, nhưng mai kia mốt nọ ba ông nội Tây thấy được mấy ổng kéo tới xung công đóng đồn, hay là ba ông trời du kích thấy cái nhà vững vững, mấy ổng xách xà beng lại “ phá hoại” thì cũng… như không! Tui nghĩ xa như vậy nên tui ở luôn trong nầy… đấp đổi qua ngày cũng khỏe ru… Nay thời may lại gặp cô… Tui coi bộ cô có căn phần duyên số tu hành lắm cô à. Thời buổi nầy cô đây cũng khó lắm, chi bằng cô cắm sào tạm nơi đây trong năm mười bữa nửa tháng để nhóng coi tình thế yên động thế nào, rồi cô tính gì nữa cũng dễ.
Thím Hương liếc nhanh về phía ông đạo, giọng e ngại:
– Dạ… thầy có lòng tốt tôi đội ơn lắm, nhưng đằng nào tui cũng phải về kiếm mấy đứa nhỏ… và thú thiệt tôi nóng ruột muốn đi khỏi cái xứ nầy liền…
Ông Đạo thở dài
– Nếu cô nằng nặc đòi đi như vậy, tui cũng chẳng dám giữ. Nhưng bề gì cô cũng phải ở nán lại đây trong đêm nay, chớ cô đi liền không kịp tới nơi trước khi trời sụp tối đâu!
Thím Hương lo lắng ngồi thừ ra không nói năng gì hết, rồi bỗng nhiên thím đưa bàn tay lên bóp bóp hai bên thái dương.
Ông đạo Sáu vồn vã hỏi liền:
– Cô làm sao đó? (ông ta sốt sắng tự trả lời luôn)… Thôi tôi biết rồi: chắc cô bị nhức đầu chóng mặt chớ chẳng sai! Tui coi sắc khí của cô xuống lắm!
Thím Hương thẩn thờ đáp:
– Chắc tại tôi dang nắng và lội ruộng suốt một buổi’ sáng…
Ông Đạo gật đầu:
– Đúng là cô bị cảm nắng rồi! Để tui vô lấy vài thứ lá thuốc nam sắc cho cô một chén uống khỏi liền. Thôi cô vô nằm nghĩ đi, chớ bịnh hoạn như vậy mà đứng hoài chịu gì thấu. Tui lấy một bộ quần áo dài cho cô thay đỡ nghen!
Thím Hương hấp tấp cản ông ta lại:
– Thôi thầy à. Quần áo của tôi cũng khô lại rồi, với lại tui cũng tính đi liền bây giờ… Tôi hơi khó chịu sơ sơ chớ không sao hết.
Ông Đạo chắc lưỡi liền miệng:
– Cô đi bây giờ để chết dọc đường dọc xá hả? Tui biết cô bịnh mà lại mần ngơ để cô… tự tử như vậy thì tui đắc tội với Trời Phật lắm.
Thấy thím làm thinh và mệt nhọc dựa lưng vào thành cửa, ông ta khẩn thiết van nài:
– Đó cô thấy hông, cô cũng dư biết là trong mình cô cái gì cũng bải hoải hết, giỏi lắm cô đi được hổng tới một công đất là quỵ liền. Cô vô nằm nghỉ đi để tui lo sắc thuốc… Sáng mơi, tui sẽ dẫn đường cho cô đi mà!
Nói đoạn, ông ta tất tả chạy ra phía sau lo lấy thuốc.
Thím Hương nheo mắt nhìn cơn nắng gay gắt đang nung đốt cánh đồng trống bao la rồi cúi đầu thở dài.
Thím uể oải bước vô nhà và không giữ gìn ý tứ gì nữa, kéo gối nằm lăn lên trên chõng tre.
Mới đó mà thím đã ngủ mê mệt đi lúc nào cũng chẳng biết…
– Cô ơi cô, thức dậy! Chiều tối rồi cô!
Thấy thím Hương vẫn chưa tỉnh giấc, ông đạo Sáu đứng yên ngắm nghía vóc vạc người nằm ngủ một hồi, rồi rụt rè đưa tay ra đặt nhẹ lên một bên vai thím.
Làn da âm ấm của người đàn bà khiến cho ông ta trù trừ chưa muốn đánh thức ngay thím Hương dậy.
Bỗng thím Hương hơi cựa mình và ông đạo Sáu đành khẽ lay gọi thím luôn:
– Dậy đi cô ơi!
Thím Hương mở choàng mắt ra, ngơ ngác nhìn ông đạo một hồi rồi vội quay ngó ra phía ngoài cửa. Thím ngồi rột dậy và hớt hãi hỏi ông đạo:
– Ý trời ơi, bộ chiều tối rồi sao thầy?
Không đợi cho ông nầy trả lời, thím bước xuống chõng, hối hả đi thẳng ra ngoài sân ngó mong một vòng đồng trống rồi băn khoăn trở vô hỏi thêm ông đạo, giọng có vẻ trách móc:
– Sao thầy không kêu tôi thức dậy cho sớm để may ra tôi đi còn kịp?
Ông đạo cười rè:
– Cô ngủ mê ngủ mệt… tui thấy vậy cũng hổng dám kêu và lo lui cui nấu cháo cùng sắc thuốc cho cô đây nè!
Thấy thím Hương vẫn còn nhăn nhó, ông ta dịụ giọng tiếp lời:
– Hổng sao đâu cô à! Như tôi đã nói bề gì sáng mơi cô mới đi được và cô ngủ được một giấc ngon lành như vậy đủ lợi sức nhiều lắm.
Tối nay cô uống vô một chén thuốc của tui thì ngày mơi… tui cam đoan là cô khỏe khoắn như thường và cô muốn lội ruộng lướt đồng; dang nắng dầm mưa gì cũng, trấm trơ trấm trất chớ chẳng có…sợ nhức đầu sổ mũi hay bải hoải tay chưn gì hết.
Thím Hương cúi đầu thở dài:
– Cảm ơn thầy. Thiệt tôi làm phiền thầy nhiều quá… Cái điệu nầy thì tôi phải đành chờ đến sáng mai…
Ông Đạo chụp nói liền:
– Thì phải vậy rồi ! Ngày mơi tốt ngày lắm mà cô ! À, xin lỗi cô, năm nay niên kỷ của cô được bao nhiêu để tui tính sơ coi hung kiết thì nào.
Sau khi được thím Hương cho biết tuổi và lẩm nhẩm bấm mấy đầu ngón tay tính toán một hồi, ông đạo Sáu vui vẻ reo lên:
– Tốt! Tốt lắm! Hạp hết!
Thím Hương tò mò hỏi vô:
– Tốt …là sao thầy? Năm nay tôi gặp toàn là những thứ chuyện mắc toi mắc dịch gì không đâu…
– Ậy, hạn của cô nó phải vậy ! Và tui xin nói thêm để cô coi chừng: cô kỵ nhứt là chuyện đi xa… Phải, đi xa hổng nên vì thế nào cũng bị tai bay họa gởi vô lường ! Mấy lúc trước hễ mỗi lần cô đi xa… hay là đổi chỗ ở gì đó thì cô thường hay gặp chuyện xui xẻo hay là… Tui nói như vậy có đúng hông?
Thím Hương khẽ gật đầu:
Ông Đạo cười hể hả :
– Tui nói đâu là đúng у bon đó hết mà !
Thím Hương cau mày hôi lại :
– Ủa, sao hồi nãy thầy cho là tốt lắm?
– Thì tui chưa nói hết mà! Tốt là ở chỗ… ngày giờ cô đến đây hạp lắm! Cô sẽ gặp quới nhơn phò trợ mà hổng chừng đời cô bắt đầu yên từ đây, nếu cô không tính chuyện bương chải đi đông đi tây nữa.
– Tôi đi về thăm con thăm cái chớ bộ đi đâu sao thầy!
Ông Đạo chắc lưỡi
– Thì đi đâu cũng là đi hết… Tui đã nói chuyện rủi ro dọc đường dọc xá ở vào thời buổi nầy thì hổng biết đâu mà lường trước được.
Thím Hương suy nghĩ một hồi rồi buông thõng một câu:
– Dầu sao đi nữa tôi cũng phải về cho tới Cần Thơ, tôi mới an tâm được, còn cái chuyện rủi may thì xin phó mặc cho trời… Thôi, tôi xin thầy cho tôi ngủ đỡ một đêm nay ở đây chớ chẳng dám quấy rầy thêm nhiều nữa…
Ông Đạo gật gù:
– Cũng được. Thôi cô rửa mặt đi rồi ăn cháo và đợi tối tối một chút uống thuốc cũng được…
Ông đạo Sáu bưng chén thuốc tới đon đả mời thím Hương:
– Đây cô chịu khó uống cho hết đi! Thuốc nầy… hay ghê lắm!
Thím Hương kề môi ngửi sơ qua mùi thuốc rồi nhăn mặt kêu lên:
– Thuốc chi mà mùi hăng quá vậy thầy?
– À, thuốc nam nầy do tui thỉnh trên Bảy Núi… Cô uống vô khỏi cổ là thấy hiệu nghiệm tức thời. Cô uống đại đi cô. Thuốc hay thì bao giờ cũng khó uống cô à.
Thím Hương tuy không muốn uống chút nào (vì trong mình đã thấy khỏe khoắn trở lại) nhưng không dám từ chối vì sợ phật ý ông Đạo.
Thím miễn cưỡng uống một ngụm nhỏ rồi đặt chén xuống.
Ông Đạo vội bưng lên trao tận tay thím:
– Cô ráng ực một hơi hết đi, chớ nhấm nháp như vậy thì càng thêm khó nuốt cho trôi.
Thím Hương nhắm mắt nín mũi uống cạn nước thuốc rồi đặt mạnh chén xuống mặt chõng.
Ông đạo Sáu trao liền cho thím một chung nước trà rồi tất tả đi dẹp chén thuốc, đoạn xung xoe đi lại kéo gối đặt ngay ngắn trên chõng:
– Thôi cô nằm xuống nghỉ đi.
Thím Hương không đợi nhắc đến lần thứ hai nằm vật xuống và chưa chi thím đã ngẩng đầu lên nhăn nhó hỏi:
– Sao… kỳ quá thầy?
Ông Đạo ôn tồn bảo cô nằm yên và nói thêm:
– Có gì đâu mà cô lo. Thuốc nó… chạy thì như vậy đó. Phải cô thấy trong mình… mấy mạch máu như đập… rần rần hông?
Thím Hương hơi há miệng ra như để thở cho đủ khí trời vừa đưa tay quẹt lau mồ hôi trán vừa lẩm bẩm đáp:
– Ở sao lạ quá thầy à… Da thịt gì như tăng tăng… trong mình trong mẩy gì sao bức rức kỳ quá… Hay là thầy có hốt lộn thuốc hông…
Ông Đạo thản nhiên ngồi xuống mép chõng làm cho thím Hương ngượng nghịu nhích mình vô trong và quơ lấy chiếc mền đỏ để sẵn gần đó đắp vội lên bụng.
Ông Đạo nhìn thím không chớp mắt như để canh mọi cử động, mọi phản ứng, thỉnh thoảng ông ta hỏi chừng chừng:
– Cô thấy trong mình ra sao cô?
Thím Hương quay mặt vô vách, muốn nhắm mắt lại ngủ nhưng không sao được.
Đầu óc thím bừng bừng và rất đỗi ngạc nhiên khi cuối cùng nhận ra sao mình háo hức một cách lạ thường. Cổ họng thím ráo bỏng như bị khát khô từ bao đời, lồng ngực phập phòng như đang hồi hộp, đang đợi chờ, đang khao khát một điều gì…
Thím có cảm tưởng như hàng chục, hàng trăm con mèo đang gào thét, đang cấu cào trong đầu, trong óc trên da, trên thịt! Tự nhiên thím đưa tay giựt phăng chiếc nút áo đầu khuy như muốn để được dễ thở hơn..
Thím đưa lưỡi liếm qua hai vành môi nóng bỏng run run.
Thím vớ lấy chiếc mền vo tròn lại để ôm ghì lấy…
Nhưng rồi thím lại duỗi chân ra và vói tay chụp lấy một đầu góc mền đưa lên miệng cắn nghiến.
Thím muốn ngồi nhỗm dậy chạy tuốt ra ngoài sân nơi có gió lộng nhưng tứ chi dường như rủ riệt.
Thím muốn quay mặt qua nhưng lại sợ phải nhìn thấy ông đạo Sáu đang ngồi rình chực ở ngoài mép chõng, sợ không kềm chế luồng khoái cảm đang như bật khóa khỏi nơi tù hãm, đang như bật nút khỏi nơi dồn ép để sẵn sàng tuôn chảy ùa ra ngoài…
Tiếng ông đạo Sáu vẫn đều đều vang đến bên tai thím:
– Cô ơi, cô thấy trong mình ra sao hả cô?
– Cô ơi, cô ngủ hay thức đó cô?
– Cô ơi, cô day qua tui nói cái nầy cho nghe..
– Cô ơi… cô ơi…
Những tiếng gọi, những lời nói của ông đạo Sáu như xuất khởi từ một thứ… dĩa nhựa hát, trước còn quay chầm chậm, quay đều đều để rồi một lúc mỗi gia tăng tốc độ, để rồi mỗi lúc mỗi khuếch đại âm thanh.
Những tiếng gọi, những lời nói ấy của ông đạo Sáu trước còn rủ rỉ như van lơn, như mời mọc, sau trở thành rền rền như hối thúc, như… xua gom.
Một bàn tay đặt nhẹ lên đầu vai thím khẽ mơn vuốt..
Thím Hương chợt nín thở, nhắm nghiền mắt lại… để nghe rõ thêm luồng khoái cảm như đang chạy rần rần trong từng thớ thịt, trên từng làn da, như đang chạy vòng khắp nơi trong đó để bực ra tìm một lối thoát…
-Cô ơi, cô day qua tui hỏi thăm cái nầy một chút!
Vừa nói, ông Đạo Sáu vừa níu chặt vai thím Hương kéo lật về phía mình.
Thím Hương chỉ cự lại trong một thoáng rồi buông xuôi cho than mình nương theo cái đà tay lôi kéo ấy mà nằm ngửa lại.
Thím chớp mắt mấy cái như để lấy lại sự tỉnh táo.
Bên ngoài trời đã tối hẳn từ bao giờ.
Một ngọn đèn dầu bé nhỏ lờ mờ soi gian nhà chật hẹp. Mùi nhang thơm nồng nực như quyện dính lấy không khí và những lá bùa dài thượt rủ rượi khắp đó đây càng làm cho thím Hương thêm bấn loạn.
Thím khẽ liếc nhìn ông Đạo. Phản chiếu chút ít ánh sáng của ngọn đèn, mặt ông ta loang loáng ướt mồ hôi, mắt ông ta rực lên như hai hòn than hồng như cặp mắt chó ngao trong một chuyện quái đản.
Thấy thím Hương nhìn mình, ông Đạo mỉm cười rất tươi dịa dàng hỏi:
– Chi đó cô?
Thím Hương ngó ông ta; không chớp mắt:
– Nè thầy phải nói thiệt.. Thầy cho tôi uống thứ thuốc gì mà …kỳ quá vậy? Hay là…
Ông Đạo ởm ờ lên tiếng:
– Hay là sao hả cô?
Thím Hương hỏi gặng lại:
– Là sao thì thầy biết á! Thầy hốt thuốc gì mà như… không để trị bịnh vậy hả? Hay thầy chơi cái lối bỏ thuốc bậy bạ, bỏ bùa bỏ ngải gì đó hại đàn bà con gái đó hả? Thầy phải nói thiệt rồi tôi mới tính được. Tôi không phải còn là thứ con gái mười lăm mười sáu tuổi bơ vơ chẳng biết gì hết đâu nghen thầy!
Ông đạo cười mơn:
– Cô sao khó tánh quá! Tui nói thuốc… cảm mà! Thôi mà cô, cô thân phận đàn bà tứ cố vô thân lỡ đường lỡ xá thì tạm tấp vô đây cũng chẳng … lỗ lã gì mà!
Thím Hương, tuy trong người như sắp mê sảng nhưng cũng còn đủ chút tỉnh táo, cười khẫy để đáp lại:
– Hứ, vậy mà tôi tưởng thầy là người tu hành có nhơn có đức lắm, chớ có dè đâu là một thứ… đạo chuối đạo xôi trong chùa San Hậu…
Ông Đạo đưa tay vuốt lướt qua má thím
– Tầm bậy hoài hè! (nhưng rồi ông ta làm mặt nghiêm nói tiếp). Tui đúng thiệt là quới nhơn độ mạng cho cô đây. Nói không phải khoe chớ tui đủ sức, dư sức bao cho cô sống phủ phê trọn đời mãn kiếp. Mà nếu cô chê ở đây quê lậu thì tui sẵn sàng bỏ hết nơi đây để mình dắt nhau lên xứ khác mần ăn.
– Thầy tính chuyện đời sao dễ quá!
Giọng ông Đạo trở nên dịu dàng hơn:
– Mà nói cùng, chắc cô nhứt định hổng chịu cũng hổng được, chắc cô dư biết trong mình cô ra sao! Thôi cô à, tui có quý có chuộng cô tui mới dám làm như thế đó và trước hay sau gì thì… cũng vậy. Thuận chèo mát mái với nhau thì nó vui vẻ hơn và nói thiệt ra đây mà nghe thì cô có mất mát cái gì đâu hả?
Tui nghe nói đời cô cũng ba chìm bảy nổi lắm keo rồi, bây giờ có thêm chút nữa cũng chẳng sao. Tôi thề có ba cậu làm chứng nếu sau nầy cô thấy … hạp ý với tui thì mình sẽ tính chuyện bền vững với nhau, bằng không, qua nội một đêm nay cho đến sáng ngày mơi là tui sẵn lòng để cô đi liền. Và xin hứa chắc là sẽ đưa cô đi tới nơi tới chốn và sẵn lòng cung ứng một số tiền lộ phí nữa…
Thím Hương bật cười lớn:
– Thầy nói bộ tui ham lắm! Thầy gặp tay tôi không phải vừa đâu! Tánh tôi kỳ lắm: hễ ai ưng ý thì không đợi nói đến tiếng thứ hai…
Ông đạo nói chen vô liền:
– Còn tui đây không hạp nhãn cô sao? Tui có đui què mẽ sứt gì đâu hả?
Thím Hương lại cười to mà không trả lời và tiếng cười dòn tan ấy làm cho ông Đạo như điên cuồng.
Ông tà cười gằn, nhốm người cởi phăng chiếc áo dà ra quăng lên đầu chõng rồi nhào xuống vồ lấy hai vai của thím Hương ấn mạnh…
Thím Hương còn ráng cười mỉa:
– Tôi chấp hết thứ thuốc mê thuốc lú của thầy! Đáng lẽ thầy sắc cả ấm cho tôi uống cũng chưa phỉ…
Nhưng bỗng thím đâm ra líu lưỡi và muốn cựa mình, muốn quơ tay đập chân nhưng toàn thân sao như đơ cứng.
Đến phút nầy thím mới đâm ra hốt hoảng: thím giương mắt trừng trừng nhìn lên vẻ mặt đầy những nét căng thẳng của một người đàn ông đang vào cái lúc không còn biết đất trời gì nữa.
Thím có cảm tưởng như mình sắp sửa bị ngấu nghiến từng khúc, từng đoạn để rồi tan biến ra thành hơi lâng lâng ở giữa khoảng không…
Thím chỉ còn đủ sức thở hắt ra từng hơi dồn dập như một con cá bị đem lên khỏi mặt nước, trong lúc chút ít sáng suốt, chút ít tỉnh táo cuối cùng còn sót lại trong đầu óc thím bắt đầu nhòe dần, nhòe dần…
Ông Đạo nghiến răng nghe kèn kẹt, lúng túng giật mạnh cái khuy áo chót.
Bàn tay đang ngon trớn của ông ta bỗng chạm phải vật gì cứng cứng nằm vắt ngang qua phần bụng nóng hôi hổi ấy.
Ông ta chụp lấy nó rồi hấp tấp nắn bóp suốt vòng quanh và khi nhận ra đó là chiếc ruột tượng dày cộm, ông ta ngồi phắt dậy liền.
Sực tỉnh, thím Hương ngơ ngác nhìn ông ta.
Ông Đạo lại hầm hừ chụp chiếc ruột tượng níu cứng lấy như là sợ nó biến mất, rồi quắc mắt hỏi thím:
– Cói gì đây hả? Tại sao cô giữ nó trong mình mà không cho tui biết trước hả?
Thím Hương hốt hoảng định ngồi dậy thì bị ông ta lấy chân ngáng nơi cổ kềm cho nằm xuống như cũ.
– Cái gì nữa tui còn rớ tới chớ đừng nói chi, cái thứ thuộc vòng ngoài nầy. Cô buông tay ra để tui mở nó ra cho… nhẹ mình hơn để mình còn…
Thím Hương cấu mạnh vào tay ông ta nhưng ông ta chỉ hơi xuýt xoa rồi vội vã cởi đầu mối dây buộc chiếc ruột tượng
– Thiệt tui không dè mình trúng cái mối độc đắc, phen nầy tình tiền gì có đủ hết. Thôi hai đứa mình nhập vốn vô mần ăn nghen cô!
Thím Hương bỗng trở nên tỉnh táo khác thường: bao nhiêu tiền của thím chắt chiu giữ từ hồi nào tới bây giờ và bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu ước mộng đã tan vỡ vì nó thì có lẽ nào thím nhắm mắt buông tay cho ông đạo đoạt lấy một cách dễ dàng như vậy được!
Thím giận run lên. Trong lúc, tưởng là nạn nhân hết phương chống cự, ông Đạo hớn hở lần mở từng gúc dây buộc chiếc ruột tượng, miệng lẩm bẩm một cách hí hửng:
– Buộc chi mà thắt gút dữ vậy nè! Thiệt mấy bà mấy cô kỳ quá, của quý khác thì giữ sơ sài, còn tiền bạc thì lại ôm khít đeo trong mình…
Thím Hương nằm yên và khi nhận thấy chỗ thất thế trong điệu ngồi của ông đạo (ông ta ngồi cheo leo nơi mép chõng, một chân lại gác chặn lên cổ thím), thím liền vận hết sức mình, bất thần rút một chân lên đạp mạnh vào giữa ngực ông ta.
Ông đạo chỉ kịp kêu lên một tiếng kinh ngạc té ngã ngửa ra khỏi chõng, đầu và cả phần vai vạm vỡ спа ông ta đập mạnh và xô lệch một góc bàn thờ làm đồ đạc trên ấy đổ rớt tứ tung.
Liền theo đó thím Hương chỉ nghe ông ta “hự” lên một tiếng rồi im bặt.
Thím Hương ngồi rột dậy, hấp tấp buộc sơ lại mấy mối dây ở đầu chiếc ruột tượng đã bị ông Đạo mở tuột ra được, đoạn cài nhanh lại mấy khuy áo rồi bước xuống chõng chạy a đến chỗ bàn thờ.
Thím hoảng hốt khi nghe tiếng ông ta rên hừ hừ nhưng nằm ngay đơ không cựa quậy gì hết.
Thím liền vói tay bưng cây đèn dầu còn đứng vững nguyên trên bàn thờ xuống soi qua mặt mũi ông Đạo.
Thím buột miệng kêu trời và bước lùi lại: máu me chảy ướt đẫm chiếc đầu lổm chổm tóc của ông ta.
Thím lập cập đặt cây đèn trả lại chỗ cũ, từng từng bước tránh mấy “ông tướng” gỗ rớt nằm nghiêng ngửa, mấy lá bùa rách bứt đang bay lăn lóc trên mặt đất theo cơn gió đêm thổi ùa vào…
Không nghĩ ngợi gì nữa, thím Hương bước nhanh ra khỏi cửa rồi nhắm chừng về phía có thôn xóm gần nhứt mà ông Đạo đã chỉ cho lúc ban chiều, cắm đầu cắm cổ lội càn xuống ruộng.
Thím lo sợ ông Đạo sẽ tỉnh dậy đuổi theo nên càng ráng sức chạy bừa tới, bất kể những tàng lá cứng bén cứa chém vào cổ, tay và nông sâu của đất ruộng…
Lội được một khoảng xa, thím ngừng lại trông chừng về phía sau lưng, tất cả đều im vắng, ngọn đèn chong nơi am của ông Đạo chỉ còn chập chờn sau tàn gừa rậm rạp buồn bã xa dần….
Yên tâm, thím cúi xuống, bụm hai bàn tay lại khoát nước ruộng tóe lên mặt cho đỡ mệt và đở nóng, vì thật ra đến phút nầy thím vẫn còn ngây ngất vì chất thuốc báo hại của ông Đạo
Xong xuôi, thím uể oải sấn bước tới…
… Đi được một đổi, thím phải dừng chân lại thở dài. Trước mặt thím, một con rạch nhỏ chảy băng ngang cánh đồng. Nói là nhỏ chớ thật sự, mặt nước cũng khá rộng mà thím Hương chỉ mới biết lội chập chỏm.
Thím đành men đi lần theo bờ để tìm chỗ nào mà, khúc rạch hẹp hơn để ráng sức và liều mạng lội đại qua chớ chẳng lẽ cứ lóng ngóng ở đó đợi đến sáng sao!
… Thím buộc tréo hai vạt áo cho gọn lại, vo sát quần lên rồi đi lần lần ra mặt rạch để đợi cho đến lúc nào mực nước lên ngập tới ngang ngực mới phóng người lội rút qua bờ bên kia.
Vừa đúng lúc ấy, thím bỗng nghe có tiếng xuồng bơi rào rào mỗi lúc mỗi gần.
Mừng quýnh, thím tất tả quay trở lại lên bờ đợi cho chiếc xuồng bơi gần tới thêm một chút nữa, rồi lớn giọng réo gọi:
– Xuồng ai đó làm ơn ghé vô cho tôi quá giang qua rạch một chút!
Giọng kêu của thím lanh lảnh vang lên giữa đêm khuya và giữa khoảng im vắng.
Liền ngay đó, tiếng bơi xuồng bỗng ngưng bặt.
Thím nhón chân lên gọi to hơn nữa:
– Tôi đi lỡ đường đây mà! Ai đó làm ơn bơi tới chở dùm tôi qua rạch một chút xíu thôi mà!
Phía đầu đằng kia vẫn không có tiếng người đáp lại, mà cũng không có tiếng khua dầm nữa!
Thím Hương bực mình chạy theo bờ lần tới và lại lên tiếng:
– Tôi là người thiệt chớ bộ ma quỷ, tinh yêu gì hiện lên, sao ở dưới xuồng không ai trả lời hết cà! Tôi nói tôi đi lỡ đường một thân một mình mà!
Có tiếng dầm khua mặt nước rồi một giọng đàn ông ấp úng lên tiếng hỏi vọng lên bờ:
– Có phải… thím Hương đó hông?
Thím Hương đứng khựng lại lấp bấp kêu lên:
– Ý trời ơi!… Sơn Nhỏ đó phải hông?.. Anh Năm đó hả anh Năm?
Một tiếng đáp gọn lõn và nho nhỏ lại vọng lên:
– Phải.
– Phải thì cặp xuồng vô đi! Trời ơi, vậy mà tưởng ai chớ! Mình kêu hết hơi hết sức bộ anh không nghe hay sao?
Sơn Nhỏ (vì người bơi xuống chính là anh ta) lặng lẽ cho xuồng quay mũi táp vô bờ.
Thím Hương lội đại xuống quơ tay níu lấy be xuồng leo lên sạp rồi nôn nả bò rút lại chỗ Sơn Nhỏ ngồi làm cho chiếc xuồng chồng chành suýt lật nghiêng.
Sơn Nhỏ khẽ chắc lưỡi:
– Coi, sao thím không ngồi luôn đằng trước để tôi đưa qua rạch cho.
Thím Hương đáp lời với một giọng oán trách:
– Gặp anh bất tử như vầy, mừng muốn chết. Anh để mình hỏi thăm một chút hổng được sao! (rồi không đợi cho Sơn Nhỏ lên tiếng, thím vọt miệng hỏi luôn).. Mà giờ nầy anh đi đâu lang bang ở miệt nầy đây? Còn anh Chín, ảnh ra sao hả anh?
– Anh Chín.. ảnh mất rồi chớ còn đâu nữa Còn tui, tui tính lên miệt trên nầy…
Thím Hương ngượng nghịu cúi đầu
– Thiệt mới có một ngày hôm nay mà bao nhiêu chuyện chẳng lành xảy ra. Anh hổng biết chớ hồi anh chở anh Chín đi rồi, mình tưởng chết mấy lần, chớ không dè còn sống để thấy mặt lại anh tại đây. Thiệt cũng trời xui đất khiến gì, chớ mới hồi chiều tối đây nè, mình tưởng mình… rồi đời trong tay thằng cha đạo Sáu…
Sơn Nhỏ kinh ngạc kêu lên:
– Ý trời, bộ thím gặp ông đạo trời đánh đó hả? Mà thím đi đâu lại tấp vô đó?
– Bộ anh cũng biết danh ổng nữa sao?
– Thì nội vùng nầy chỗ nào mà tui không rành. (rồi anh ta nhìn thím đăm đăm)… Thím làm cách nào thoát khỏi tay ổng cũng giỏi đa, chứ tui nghe nói ổng có tài rù quến đàn bà con gái lắm mà!
Thím Hương có vẻ xẻn lẻn:
– Giỏi khỉ gì! Hồi anh… bỏ mình lại, mình phải chạy gần chết, kế gặp cái am, của ổng mình tưởng yên thân đợi đến sáng mai để tìm chỗ đi, chớ đâu có dè… lại gặp thằng cha mắc dịch đó! Anh hổng biết chớ ổng cho mình uống thứ thuốc gì kỳ quá!
– Ủa thím đau ốm gì mà uống thuốc?
– Chèn ơi, mình dang nắng, lội ruộng suốt từ sáng đến trưa, đầu óc đều quay mòng mòng hết, mình tưởng mình sụm luôn rồi. Thấy vậy ông đạo ổng sắc cho mình một chén thuốc nam… Anh nghĩ coi, hổng uống sao được.
À, chắc ổng bỏ thuốc bậy bạ gì ở trỏng phải hông?
– Ờ…
Sơn Nhỏ có vẻ thắc mắc:
– Mà sao thím… hổng hề hấn gì hết hay quá vậy?.
Thím Hương đáp gạt ngang:
– Anh nầy nói mới kỳ! Anh nghĩ coi suốt ngày mình gặp toàn những chuyện đau lòng xót dạ lại băng đồng, lội ruộng, rồi không biết sẽ đi đâu về đâu nữa.. thì dầu cho thuốc gì thì thuốc chớ làm sao lay chuyển được mình nổi! Bởi vậy mình thấy ổng ló mòi là mình phát nổi xung rồi. Mình thấy không êm nên mình thừa cơ đạp ổng té nhào đập đầu vô bàn thờ, máu me gì phọt tứ tung… Mình sợ quá nên ba chưn bốn cẳng dông luôn một mạch bất kể đêm hôm, bất kể phương hướng… thời may lại gặp anh đây.
Sơn Nhỏ thở ra:
– Như vậy thím cũng còn tốt số lắm, chớ tui nghe nói ông đạo mắc toi đó cũng hay rút rĩa tiền bạc của mấy bà hờ cơ sa vô tay ổng lắm. Ổng mà rớ tới chiếc ruột tượng của thím thì… hổng dễ dúng gì đâu.
Thím Hương buông hai tiếng “vậy hả” đẩy đưa rồi hỏi lảng ra:
– À, anh tính đi đâu mà bơi xuồng qua ngã nầy đây?
Sơn Nhỏ thở đài:
– Tui đi dìa trên kia.. Thôi, để tui đưa thím qua bên bờ rạch nghen!
– Thì hồi nãy mình có dè là anh đâu! Bây giờ anh ở đâu cho mình theo với, chớ chẳng lẽ anh chở mình quăng qua bển rồi bơi đi thẳng hay sao? Anh giận mình cái gì thì giận, chắc anh cũng không đến nỗi nhẫn tâm bỏ mình ở giữa khoảng đồng không hiu quạnh nầy.
Sơn Nhỏ cằn nhằn:
– Thử thời thím hổng gặp ai hết, hay là gặp phải người khác thì sao!
– Thì chừng đó mình cũng phải ráng chịu. Nhưng bây giờ mình chỉ biết có anh ràng ràng đây nè!
Sơn Nhỏ xẳng giọng:
– Nhưng tui đi chỗ nầy thím theo tui sao được!
– Anh lên non xuống biển gì mà mình theo anh không được! Anh nầy giận dai quá hà!
Sơn Nhỏ nhăn nhó chắc lưỡi:
– Tui nói thiệt mà thím. Đây, tui kể ra hết cho thím rõ: hồi sáng, sau khi tui lo cho anh Chín… xong xuôi hết rồi, tui cũng chưa biết chạy đi mé nào nữa… Trong lúc ấy, Tâỵ vẫn còn ruồng bố lung tung và thời may tui gặp được một bộ đội quen chạy ngang qua đó…
– Sao lúc trước nghe nói anh ‘‘kỵ’’ mấy ảnh ở trỏng lắm mà!
– Mấy anh nầy khác chớ đâu phải theo mấy cha hồ chú nhẫn kia. Đây là những người anh em kháng chiến đánh Tây giành độc lập trơn vậy thôi chớ hổng theo phe phái nào hết. Trước đây họ có rủ rê tui nhưng tui thấy mình còn nặng ơn nghĩa với anh Chín nên không đành tâm rứt ra. Nay anh Chín ảnh… đi rồi, tôi tính tấp vô cái đám đó cho yên thân phận… Người ta đánh giặc ầm ầm mà mình cứ… mần ngơ hoài coi cũng kỳ.
Thím Hương lo lắng hỏi:
– Nếu vậy mình đi theo anh hổng được sao?
– Theo sao được! Chuyến nầy tui hông biết sống nay chết mơi thì làm sao dám kéo thím theo được.
– Vậy té ra gặp anh cũng như không.
Sơn Nhỏ đâm ra lúng túng và mãi một lúc sau, anh ta mới dịu giọng hỏi thím:
– Mà thím tính đi đâu đây, để tui liệu coi có đưa thím đi được một phần đường nào chăng?
Thím Hương nhìn vào khoảng trống không:
– Mình cũng nhắm mắt đi càn… Mình tính lội băng ra phía làng xóm ngoài kia để kiếm cách quá giang đi chỗ khác… Đi đâu cũng được hết miễn rời khỏi chỗ nầy… Mình chưa bao giờ gặp những chuyện đau buồn dồn dập như vậy.
Sơn Nhỏ cúi đầu suy nghĩ một hồi rồi quơ dầm lên:
– Được rồi. Để tui đưa thím ra ngoài sông lớn rồi kiếm cách gởi thím đi ra chợ… thím tính như vậy coi được hông? Mình chỉ còn cách đó…
Thím Hương thở dài:
– Thôi cũng được (rồi giọng thím trở nên chua chát) Mình quấy rày anh chuyến nầy là chuyến cuối cùng phải không anh? Từ nay rảnh nợ rồi nè…
Sơn Nhỏ ngậm ngùi nói chen vô:
– Thím đừng nói vậy… Tui có vui sướng gì đâu…
Và như không muốn dây dưa với câu chuyện nầy nữa, Sơn Nhỏ vội quơ dầm bơi thẳng một nước…
Ra đến ngoài sông lớn, Sơn Nhỏ tìm đón gởi thím Hương lên quá giang trên một chiếc ghe buôn đi về Cần Thơ.
Lúc bấy giờ trời đã tỏ sáng. Sơn Nhỏ ngùi ngùi từ biệt người đàn bà đã làm cho anh ta lắm phen điêu đứng nhưng cũng đã lưu lại trong lòng anh ta nhiều kỷ niệm khó phai:
– Thôi thím dìa cho được bình yên mạnh giỏi, Tui phải vô trỏng liền kẻo anh em người ta mong đợi..
Thím Hương rưng rưng nước mắt:
– Anh nán ở lại với mình cho tới khi ghe nhổ sào hổng được sao?
Sơn Nhỏ thở dài:
– Tui cũng muốn như vậy nhưng không được thím à.
– Chắc chuyến nầy hai đứa mình khó còn có dịp nào gặp lại nữa phải không anh?
Sơn Nhỏ thẩn thờ nhìn một đám lục bình đang trôi lờ đờ trên mặt nước, rồi gượng cười đáp:
– Chắc như vậy rồi.
Thím Hương thò tay dưới vạt áo, định cởi chiếc ruột tượng ra:
– Vậy để mình chia cho anh chút đỉnh dùng để xây xài, chớ anh đi theo họ tiền đâu…
Sơn Nhỏ gạt ngang:
– Thôi thím à. Anh em sao tui vậy. Thím đừng lo le le ‘‘cái đó’’ ra cho người ta thấy… bất lợi lắm. Thím ráng giữ kỹ để dìa làm vốn buôn bán nuôi mấy đứa nhỏ…
– Thì anh cầm đỡ vài trăm hổng được sao?
Sơn Nhỏ cầm dầm nại tách xuồng ra và mỉm cười lắc đầu:
– Một đồng xu nhỏ tui cũng chẳng dám rớ! Bộ thím quên rằng tiền của ấy có… huông rồi sao!
Thím Hương cũng bắt cười theo:
– Bậy hoài! Nó gây xui xẻo cho ai tham muốn nó chớ còn anh, anh khác…
– Tui cũng là người trần mắt thịt như ai vậy chớ có khác gì!
Giọng thím Hương bỗng trở nên trầm buồn:
– Anh khác thiên hạ nhiều mà anh không biết đó thôi. Đời anh như vậy… hổng sung sướng đâu! Phải chi trời xui đất khiến cho mình gặp anh trước đây thì có lẽ mọi việc sẽ êm thắm hết.
Sơn Nhỏ cười xòa:
– Ý thôi! Mới gặp thím có bấy nhiêu đó mà tui…ớn tới già rồi!
Rồi anh ta nghiêm giọng lại:
– Thôi… tui lui nghen thím.
Và không đợi cho thím Hương nói thêm một lời nào nữa, Sơn Nhỏ cong lưng bơi xuồng đi thẳng.
Thím Hương dư biết có réo gọi thêm nữa cũng vô ích, đành đứng nhìn sững theo anh ta.
Chiếc xuồng của Sơn Nhỏ mỗi lúc mỗi xa dần…
Nước mắt ràn rụa, thím Hương cố nhìn kỹ hình bóng thân yêu ấy như muốn thâu lấy nó vào tâm khảm trong một lần cuối…
Xuồng của Sơn Nhỏ đã khuất sau một đám dừa nước ở một khúc quanh của dòng sông… Thím Hương bất giác buông tiếng thở dài: từ đây Sơn Nhỏ cũng như đi khuất qua một khúc quanh của dòng đời mình…
…nếu muốn đáp ở An Lộc thì khi đến Xa Cam, chúng tôi chỉ còn giữ cao độ khoảng năm, bẩy trăm bộ. Nhưng vào An Lộc lần này không phải là một việc thông thường và vì vậy, trên không phận Xa Cam, chúng tôi cũng vẫn còn giữ cao độ 7.000 bộ.
Từ độ cao đó, chiếc trực thăng chúi mũi cắm xuống như một khu trục cơ trong thế bắn phá. Tôi nghe đầu nhức, tai ù. Đồng hồ cao độ chỉ 2.000 bộ. Nhìn xuống phía dưới, tôi thấy thị trấn An Lộc qua hai đám cháy lớn. Ngọn lửa thật hồng và thỉnh thoảng lại phừng lên khiến tôi đoán rằng đây là những đám cháy hoặc nhiên liệu, hoặc đạn dược.
Một nhân viên phi hành bảo chúng tôi:
– Chuẩn bị nhẩy. Đáp xuống là phải nhẩy ngay. Chúng pháo dữ lắm.
Chúng tôi chuẩn bị và chỉ nửa phút sau chúng tôi phóng xuống đất. Ngay khi chúng tôi chưa biết phương hướng gì cả thì chiếc trực thăng đã lại vun vút cất lên. Quanh chúng tôi bụi đỏ mù mịt và những tiếng nổ ì ầm. Thế là chúng tôi đã vào An Lộc, địa danh đựợc nói đến nhiều nhất và ít người đến được nhất từ 2 tháng nay.
2 ông “Chuẩn” Chuẩn Tướng
Cùng với Trung Tướng Minh, chúng tôi đến bộ chỉ huy Tiểu khu Bình Long để gặp 2 nhân vật được coi như những người anh hùng nhất An Lộc:
– Đại tá Nhựt, Tỉnh Trưởng Bình Long và
– Đại tá Lưỡng, Tư Lệnh Lữ Đoàn 1 Nhẩy dù.
Trong phút xúc động đầu tiên, Tướng Minh đã ôm lấy đại tá Nhựt và nói:
– Không ai còn có thể làm gì hơn những điều các anh đã làm.
Chỉ vào Đại tá Lưỡng, Trung tướng Tư Lệnh Quân Khu III giới thiệu với vị thiếu tướng Hoa kỳ, cố vấn của ông:
– Đây là người đã cứu sống tướng Hưng.
Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù là đơn vị đụng nhiều trận dữ đội nhất tại An Lộc.
Ông thiếu tá xây kỳ ngủ nhè
Rời bộ chỉ huy Tiểu khu, chúng tôi xử dụng 3 chiếc xe jeep cuối cùng của An Lộc để đến thăm tướng Hưng. Một tấm bản tướng 3 sao được gắn lên chiếc jeep lành lặn nhất trong 3 chiếc jeep còn chạy được này, và chiếc jeep tương đối lành lặn đó có khoảng 15 vết đạn xuyên qua kính.
Đoàn xe của những “vi ai pi” đang ngon trớn trên những đường đầy đạn chưa nổ của An Lộc thì bỗng Thiếu tướng Hollingsworth gọi người tài xế ngừng lại. Ông ta xuống xe và đi thẳng lại một người Mỹ mặc quân phục Nhẩy Dù. Chúng tôi nhìn theo và thấy rằng người lính Mỹ này ăn mặc thật là xốc xếch: áo bỏ ngoài quần và quần bỏ ngoài giày. Anh đang di chuyển bộ trên đường, tay xách một cái máy truyền tin.
Thiếu tướng Hollingsworth đi thẳng đến và nắm lấy ngực anh ta. Người lính Nhẩy Dù Mỹ đứng thẳng người chào cấp chỉ huy. Tướng Hollingsworth gắn vào ngực anh một tấm huy chương và ngay lúc ấy tất cả chúng tôi đều lặng người đi: trên gương mặt cương nghị, bẩn thỉu của người lính chiến Mỹ, chúng tôi thấy những giọt lệ cảm động chẩy dài.
Chờ Thiếu tướng Hollingsworth trở lên xe, người Mỹ này mới bỏ thế đứng nghiêm để đưa tay áo lên chùi mắt. Quyển sổ tay rơi xuống đường anh ta cũng không hay và mãi đến khi một sĩ quan VN gọi chỉ cho anh, anh mới cúi xuống nhặt.
Tôi hỏi Đại tá Lưỡng:
– Anh nào vậy, Đại tá?
– Cố vấn trưởng lữ đoàn tôi. Anh ta là Thiếu tá.
Một ông Đại tá mặt trận
Trung tướng Minh cẩn thận giải thích rằng không phải chỉ riêng Trung tá Huấn, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 71 Biệt Cách Nhẩy Dù là có công, là xứng đáng được tặng thưởng. Sở dĩ ông cẩn thận như vậy là ngại có người sẽ hỏi “tại sao chỉ một mình Trung tá Huấn được thăng cấp tại mặt trận?” Tướng Minh cẩn thận như vậy cũng phải nhưng trên thực tế, không một ai có ý phân bì với tân Đại tá Huấn cả. Những người lính Biệt Cách của ông đã chiến đấu hơn một người lính và đã giúp đỡ dân chúng hơn một cán bộ CTCT.
Chính một binh sĩ của Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù đã xác nhận với chúng tôi rằng đó là “những người lính tuyệt”. Một nguời khác kể lại rằng nếu không gặp lính Biệt Cách thì hai đứa trẻ nằm trong hầm 70 ngày đã chết vì lựu đạn. Anh nầy khẳng định:
– Miệng hầm trông khả nghi lắm. Lại nghe văng vẳng có tiếng động. Gặp người nhát là phải tung lựu đạn trước khi xuống.
Nhưng những anh Biệt Cách của Đại tá Huấn đã không tung lựu đạn xuống. Họ kiên nhẫn nằm trên miệng hố rình rập vì họ nghĩ rằng dù có lính BV phía dưới thì những người này cũng đói lả không còn sức kháng cự nữa. Cuối cùng họ đã cứu sống được hai em nhỏ nạn nhân chiến cuộc.
Tôi hỏi vị Đại tá tân thăng:
– Người ta nói với chúng tôi rằng dân chúng An Lộc lập một nghĩa địa riêng để chôn những tử sĩ của Đại tá. Xin Đại yá cho chúng tôi hiểu rõ vì lý do nào, người lính Biệt Cách lại có một tác phong đặc biệt đối với dân chúng như vậy.
– Tôi thiết tưởng điều này củng dễ hiểu. Anh nghĩ coi, từ trước đến nay lính Biệt Cách chúng tôi chỉ nhảy từng toán 5 người vào tác chiến sau lưng địch. Nói một cách khác chúng tôi đã quen sống với thái độ thù nghịch của dân chúng trong vùng chiến đấu. Đây là lần đầu tiên chúng tôi là bạn chứ không phải là thù, dân chúng giúp đỡ chứ không chống lại chúng tôi.
Và cuối cùng một anh phóng viên ngộ nghĩnh
Anh ta tên là Hébert, người Gia Nã Đại và quay phim cho một hãng vô tuyến truyền hình bên nước anh. Thấp hơn một người VN trung bình, anh mặc quân phục Nhẩy Dù VN. Hébert có mặt tại An Lộc từ những ngày đầu tiên và anh không hề có ý định rời đi khỏi An Lộc ngày nào An Lộc còn tiếng súng. Anh kể:
– Mỗi ngày tôi đi bộ một vòng An Lộc và mỗi ngày tôi đều tìm được một khám phá mới. Cũng đống gạch vụn đó nhưng góc cạnh mà tôi đã quay phim ngày hôm qua không đẹp bằng góc cạnh mà tôi vừa khám phá ra sáng nay.
– Anh thấy trận đánh An Lộc như thế nào?
– Bên cạnh An Lộc, Điện Biên Phủ không có nghĩa gì cả. Về mọi phương diện mức độ giao tranh ác liệt, vũ khí xử dụng, sự tổn thất của đôi bên, An Lộc vượt xa Điện Biên Phủ. Hơn nữa, Điện Biên Phủ chỉ là một căn cứ quân sự. Người Pháp lập ra căn cứ này để chấp nhận giao tranh trong khi An Lộc không bao giờ chờ đợi biến thành một cứ điểm. Người VN các anh phải đối phó với nhiều vấn đề đến từ phía thường dân trong khi người Pháp không có những vấn đề đó.
– Anh nghĩ thế nào về lời tuyên bố của Tướng De Castries?
– Đa số người Pháp đều chống Mỹ và câu tuyên bố của De Castries là nhằm vào người Mỹ. Tuy nhiên, ở vào địa vị của tôi, đang sống bên những người chiến đấu chống quân xâm lược BV, tôi biết De Castries đã không tốt với các anh.
– Công việc của anh ở đây thế nào?
– Tôi quay được những cuốn phim tuyệt vời. Tất cả phim từ An Lộc gởi về tôi đều giao một điều kiện: Không lời, không nhạc. Tôi nghĩ rằng khán giả có ý thức, có tâm hồn chỉ cần nhìn những cảnh đổ nát điêu tàn mà trong đó người lính VN, người dân VN vẫn còn đứng thẳng cũng phải hiểu đầy đủ về đất nước các anh.
Anh cười buồn tiếp:
– Tôi chỉ tiếc một điều: không gởi được về Gia Nã Đại cái “mùi An Lộc”.
⬤
Tôi không phải là người đầu tiên đến An Lộc. Trước tôi đã có một số phóng viên điện ảnh. Những người nàv có khả năng, có lương tâm nghề nghiệp. Có ngtrời đã ngã gục trọng lúc hành nghề phóng viên tại chiến trường An Lộc: anh Nguyễn ngọc Bình.
Tôi đã coi những phim họ quay, tôi vừa viết xong một bài phóng sự ngắn về An Lộc và tôi nghĩ rằng cả họ, cả tôi, chúng tôi đều chỉ là những người thợ vụng.
Vết thương An Lộc to lớn quả, bi hùng quá. Một tấm ảnh, một bài báo không nói hết được những điều cần nói.
Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A được đánh vần là “Alpha” hay là “Anh Dũng”. An Lộc cũng bắt đầu bằng chữ A, thế nên tôi gọi An Lộc là Anh Dũng, tĩnh từ nầy đã được dùng quá nhiều đến độ nhàm chán nhưng ngoài nó ra không còn một từ ngữ nào xác thực và đúng đắn hơn.
Phải, An Lộc là Anh Dũng, chiến đấu ở An Lộc, sống ở An Lộc và chết ở An Lộc – Tất cả đều trùng trùng tràn ngập vây kín bởi Anh Dũng…Tôi không nói quá lời với sự chân thật của người cầm bút và tấm lòng giản dị của một người lính, xin xác nhận lại một điều : An Lộc là Anh Dũng, yếu tính của thành phố, người và sự kiện của An Lộc là tĩnh từ giản dị đầy đủ kia. Gần mười năm trận địa, bao nhiêu trang sách về binh sử đã được đọc, tất cả đều bị An Lộc vượt xa, vượt một tầm quá lớn mà không một trận chiến nào có thể bén gót được… Kiến thức về quân sự ý niệm chiến tranh, tất cả bị đổ nhào phá nát bởi An Lộc, chắc chắn như thế nếu ai đến và sống với nó một lần. Những “huyền thoại” An Lộc đã được khai thác nhưng chưa hết, những anh hùng của An Lộc đã được nhiều nhắc nhở nhưng chưa đủ . Tôi nối tiếp công việc nầy vì An Lộc không những chỉ có Tướng Hưng với các trung đoàn 8,9, 48,52 bộ binh, Đại tá Huấn với Liên đoàn 81 Biệt cách Dù Liên đoàn 3 BĐQ, và Đại tá Nhật với thành phần cơ hữu của Tiểu khu Bình Long… Ngoài những lực lượng nầy còn có Lữ đoàn 1 Nhảy Dù đơn vị tham chiến từ ngày 7/4, bắt tay An Lộc lần 1 vào ngày 16/4 và lần thứ 2 sau trận đánh trên tất cả các trận đánh, Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù “clear” 2 cây số còn lại vào đến Thanh Bình (hay đồn điền Xa Cam trong 45 phút chiến trận. An Lộc được “bắt tay” lần 2 lúc 17g15 ngày 8/6.
Lữ đoàn 1 Nhảy Dù với «Lê Lợi» Lê Quang Lưỡng, 55 Nguyễn Chí Hiếu, 64 Nguyễn Ngọc Đỉnh. Anh Dũng Văn Bá Ninh, Bắc Bình Đoàn Thiên Tuyển, những người đã “nắm” An Lộc trong cơn run của 8000 đạn đại pháo “nắm” và giữ thật vững ở Đông Nam và chính Nam – Những người đã vào An Lộc từ ngã Đồi Gió đã biến thành những kẻ “vô tư cách” vì thiếu điếu thuốc lá trên môi, đã thèm một cây tăm xỉa răng, đã ao ước được cởi đôi giày trong hằng ngàn chiến trận… Và họ cũng đã là “xếp” đàn anh, Liên đoàn trưởng sinh viên sĩ quan của tôi trong một thời gian dài – Thời gian dài như chiếc nón đỏ tôi đội trên đầu, bộ đồ hoa ngụy trang tôi mặc – Tôi phải viết về cho họ – Cách trả ơn của người đã từng hô “Nhảy Dù cố gắng”.
Quê hương bình yên của loài nai
Đường 13 chạy từ ngã ba Chơn Thành đến An Lộc đo được 30 cây số, tiếp tục về hướng Bắc thêm 18 cây số nữa là Lộc Ninh, bên kia biên giới là Snoul, qua Snoul con đường ngã theo hướng Tây Bắc để tiến tới Kratié nằm cạnh bờ Cửu Long nép bên bờ trái của con sông, con đường tiếp tục về phía Bắc để gặp Stung Treng vị trí chiến thuật quan trọng của đường giây ông Hồ từ Bắc vào… Đoạn này cũng được gọi là đường Sihanouk cho có vẻ đại đồng nhưng thật ra cũng chỉ là của anh Hồ Cộng Sản… Khởi đầu cuộc chiến “Đông Dương” đệ nhị. Những anh của Trung ương cục miền Nam đã lần mò, tìm kiếm, ráp nối lại con đường, bắt đầu từ giòng Suối Đá, Suối Chà Là, Suối Ma của vùng Bình Long, Phước Long để lần qua biên giới đến những mật “khu” trong tương lai sẽ vang danh theo cùng chiều rộng thế giới: Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt.. Năm 1970 quân lực ta đã từ Bình Long, Tây Ninh đồng loạt xua quân qua biên giới, cánh quân cực Bắc của lực lượng vượt biên đã có lần đi xa Snoul để đến gần kề Kratié… Cộng quân tan nát và đổ vỡ toàn thể hạ tầng cơ sở, kho tàng, trọng điểm tiếp liệu và căn cứ trung ương. Hai năm sau những ngày đầu của 1972 một lực lượng Cộng khác, thứ Cộng nguyên gốc, mới tính theo kế hoạch tinh vi yểm trợ cho mục tiêu chiến lược chính trị từ Bắc vào, xuôi theo đường 13 vượt qua Snoul cùng ào vào Lộc Ninh với 3 sư đoàn chính qui thượng thặng sau khi giàn đại pháo 130 dọn sẵn đường. Sau Lộc Ninh là An Lộc – Và thị trấn nhỏ bé của miền cực đông Nam phần bắt đầu co vào trong một thế gọi là “Tử Thủ”. Địa ngục bắt đầu từ ngày đầu tháng 4/72.
An Lộc không phải là một thị trấn, một thành phố, đúng ra là thị xã của tỉnh Bình Long, đồng thời cũng là quận lỵ quận An Lộc, tức quận Châu Thành của tỉnh. Tỉnh gồm ba quận: Lộc Ninh cực Bắc, An Lộc giữa và Chơn Thành ở phía Nam. Tất cả cơ sở hành chánh đều nằm trên còn đường 13, con đường lớn phẳng phiu chạy thẳng theo hướng Bắc Nam vạch một đường đen thẫm giữa hàng cao su xanh lá, đường nổi bật giữa lớp đất đỏ nâu mịn màng đẹp đẽ… đỏ nâu cũng là màu máu khô, đường 13, con số của sự xấu – Định mệnh đã định rõ : Con lộ mang số tử thần và có màu máu thẫm – Hai cuộc chiến tranh chứng tỏ có một Thượng đế tàn ác đã xếp đặt sẵn điêu linh cho người. An Lộc, tên nghe thật hiền, hiền như hình ảnh của đàn nai chạy tung tăng trên đồng cỏ tranh mượt sóng, đàn nai no đủ bình yên được che chở bởi tàng cao su im bóng nắng và hàng trăm con suối mang đủ các thứ tên Việt, Miên, Thượng… Những giòng suối đầu tiên ở sông Bé ở phía Đông và sông Sàigòn ở phía Tây. Nằm giữa hai con sông trải dài trên một bình nguyên bao la – Bình Long quê hương của loài Nai, miền Đồng Nai thượng không phải chỉ là một vị thế tốt, nhưng còn là chiếc nôi nuôi dưỡng quốc gia với tiềm năng phong phú – Đầy và rộng trên một chuỗi đồi chập chùng chạy dài đến Biên Hòa, Gia Định.. Đất giàu đẹp và uy nghi bát ngát như hãnh diện của quê hương.
Nhưng đúng là quê hương khốn nạn, quê hương gắng chịu tai ương của nhân loại, quê hương nguy khốn, ngặt nghèo… quê hương lửa dậy và đạn nổ chém gẫy cây rừng, khô lá nõn. Lửa dậy và Bình Long hừng hực tro bay, sự sống không còn trên trái đất.
Vòng vây thật chặt
18 khẩu 105, 6 khẩu 155, một pháo đội 130, Đại đội súng cối từ 82 đến 120 ly, rừng hỏa tiễn 107, 122 và bao nhiêu vị trí phòng không từ 12ly7 đến 20 ly, ba công trường 5,7,9, tăng cường thêm công trường Bình Long, được yểm trợ bởi hai Trung đoàn 202 và 203 Thiết giáp, Cộng quân bọc một vòng đai thép chung quanh An Lộc từ sân bay hay “Quán cà phê Hương giang” đến Bãi trực thăng B15 “Khánh Ly” chiều dài đo đúng 1 cây số 800 thước và bề ngang từ cửa Phú Lỗ về cực đông tối đa được 700. Đó là vòng đai lớn, những ngày nguy khốn vòng phòng thủ phía Bắc cong xuống đến đường hoành độ 88: Chu vi phòng thủ không quá 400 thước vuông – An Lộc, vòng vây ngột ngạt nhất trong chiến sử nhân loại.
Người Pháp giữ Điện Biên Phủ trong 209 ngày với 56 ngày bị vây, vòng đai phòng thủ của những ngày thất thủ cũng có được một chiều dài 800 thước. Người Đức bao vây Stalingrad 76 ngày. Người Anh và lực lượng khối Thịnh Vượng Chung giữ Tobruk 241 ngày. Những cuộc bao vây và tử thủ này được thực hiện bằng Tiểu liên Sten, đại bác 75 ly và xe tăng Grant Sherman hoặc Panzer, mà vận tốc lý thuyết là 23 dậm 1 giờ với vũ khí “ngoại hạng” là 1 khẩu đại bác 75 ly.
An Lộc hơn hẳn các mặt trận, với 30 chiếc T.54 vững chãi, bề thế, nòng súng 85 ly đầy ưu thế hỏa lực đè bẹp bất kỳ vũ khí nào của bộ binh miền Nam… Và An Lộc bị bao vây vào ngày thứ 68 với mực độ pháo kích có khi trên 8000 trái như ngày 11 tháng 5 từ 1 giờ chấm dứt lúc 3 giờ để bộ binh tùng thiết tấn công bằng ba mũi dùi chính, một mũi dùi là một Trung đoàn. Trận địa pháo đã vượt hết ý niệm về hỏa lực và pháo binh của tất cả mọi người lính dù trí não tối đa phong phú tưởng tượng.
Vòng vây siết quá chặt, “tăng” đã vào thành phố, thị xã mất trong từng giờ trôi qua, bộ Tư Lệnh Quân khu 3 quyết định xin tăng phái quân trừ bị. Sư đoàn TQLC ở mặt trận Trị Thiên, Lữ đoàn 2 và 3 Dù đang hành quân Tam biên nên Lữ đoàn 1 với 3 Tiểu đoàn thực dụng hành quân 5, 6, 8 cùng Tiểu đoàn 3 Pháo nhận vùng trách nhiệm An Lộc cùng 60 cây số đường dài Lai Khê – Chơn Thành – An Lộc – Thành phố lửa nằm cuối con đường máu. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù phải đi hết đoạn đường này để đến địa ngục ở phía Bắc. Chiếc nón của binh chủng thêm một lần thấm đỏ máu tươi, và chuỗi băng tang đằng sau sẽ dài hơn trước – Vinh quang đầy cay nghiệt đang chờ, lính Nhảy Dù nhập cuộc.
Vạch một đường đi
Đến Lai Khê ngày 5-4, Lữ đoàn 1 nhập cuộc ngay ngày sau, 60 cây số đường hun hút trong rừng cây xanh trải dài trước mặt, Đại tá Lê Quang Lưỡng con beo gấm chiến trường «Lê Lợi» tân thời, ít nói, trầm tĩnh, nhiều cơ mưu đứng nhìn con đường với cường độ hiểm nghèo đang cao ngất chờ đợi… Nhưng nhiệm vụ đã được định đoạt : Mở vào An Lộc theo trục lộ 13. Trán của người chỉ huy cau lại: Địch chiếm An Lộc và biết chắc chắn ta sẽ điều quân trên trục lộ này. Lữ đoàn 1 Nhảy Dù dẫn vào cái bẫy đang giăng! Bằng cách nào để tránh thiệt hại tối đa cho đơn vị? «Lê Lợi» đi chân trên mặt đường để đo độ cứng của con đường hay sự chịu đựng của lớp nhựa? Bao nhiêu mìn đã được chôn dưới mặt đường này trong những cây số phía bắc, Bầu Bàng, Bầu Lòng, Chơn Thành, Suối Tầu ô. Những địa danh nặng cứng như mỗi tảng đá chồng thêm vào đỉnh đầu. Bao nhiêu “đứa con” sẽ mất để bước chân vào đến mỗi địa điểm kia? Bao nhiêu pháo của “tụi nó” đã lấy sẵn yếu tố trên những điểm địa hình, vị trí chiến thuật mà đoàn quân “Bắc tiến” bắt buộc phải đi qua và dừng chân. Phải làm gì? Bằng cách nào ? Lấy gì để bảo vệ cạnh sườn? Làm sao để bung rộng quân để tránh pháo và phục kích… 60 cây số – Đoạn đường dài nhất trong binh nghiệp hai mươi năm lính. Nhiệm vụ quá lớn vượt khỏi khả năng của một Lữ đoàn gồm 3 Tiểu đoàn Nhảy Dù bộ chiến… Nhảy Dù cố gắng! Đại tá Lưỡng nhếch mép cười: ” Cố gắng! Mình cố gắng đến bao lâu và đâu là điểm dứt hơi? “
Buổi họp các Tiểu đoàn trưởng được thành hình. «Lê Lợi» được Ngọc Long phụ tá (cựu Tiểu đoàn trưởng TĐ 7 ND. Tiểu đoàn trưởng nặng ký tham mưu nhất giữa những người đồng cấp bậc và chức vụ) thứ đến là, Tố Quyên – Tố Quyên, danh hiệu nghe thì con gái, nhưng “người” đàn ông hơn hết mọi đàn ông. “Người” lừng lững di động phì phà cái píp, chậm rãi khoan thai và cứ “đường ta ta đi” … Cựu Thủ khoa khóa 16 Võ Bị đâu phải thứ thường, khoá “thép” mở đầu kỷ nguyên Võ Bị Quốc Gia. Bộ tham mưu Lữ đoàn 1 không thể có những sĩ quan tham mưu nào hay ho hơn được thành hình chớp nhoáng kế hoạch Bắc tiến. «Lê Lợi» luận:
– Con đường quá dài, tụi nó có đủ yếu tố chiến thuật: Địa thế, nhân số, hỏa lực để chơi mình, chơi bất cứ lúc nào, ở đâu nếu “nó” muốn. Mình có ba Tiểu đoàn, nghe thì nhiều nhưng không có được bao nhiêu, không thể tập trung lực lượng được, mình phải phân tán, mục tiêu lại quá xa. Đây này – «Lê Lợi» đo gang tay trên bản đồ. – “Bốn gang, 60 cây số.” Di chuyển trên một hành lang hẹp bề ngang không rộng đến 2 cây số với chiều dài như thế cũng như đi vào vòng ghế điện.. Nhưng nhiệm vụ phải thi hành khẩn cấp, mình chỉ có được một đường, dọc cái đường “khốn nạn” này, vậy mình đi kiểu chân chim: Thằng 8 (Tiểu đoàn 8) đi trước, đóng quân ở chỗ nầy, xong thằng 5 sẽ vượt theo đường cũ leo cao hơn.. Thằng 6 sẽ đi sau hết. Pháo sẽ đi theo thằng 5 ở bước đầu, 8 ở bước sau, giai đoạn 1 lấy mục tiêu là Bầu Bàng, hai là Chơn Thành. Đến Chơn Thành lập được thêm đầu cầu phía Bắc mình sẽ qua giai đoạn III.
Các Tiểu đoàn trưởng cùng gật đầu, không còn chiến pháp nào hơn “bước chân chim” nữa được, ba Tiểu đoàn chỉ vừa đủ để lập một đầu cầu trong chiến tranh với đơn vị căn bản là một trung đoàn. Ba Tiểu đoàn Dù phải “gồng” mình đến giới hạn chót để chiến đấu. Châm ngôn của binh chủng thế mà hay “cố gắng” làm được công việc khiêm nhường này cũng đủ đáng đồng tiền phụ cấp. Tại sao binh chủng không lựa những châm ngôn “lớn” như Tổ Quốc Không gian – Danh Dự Quân lực – Vinh Quang Biển cả v.v… Sao chỉ là “cố gắng “. Cố gắng hoài đến bao giờ mới hết?
Câu chuyện khôi hài chấm dứt buổi họp. Các Tiểu đoàn trưởng bước về nơi đóng quân – Ba Trung Tá, không thể có khuyết điểm nơi những người nay trên phường vị Tiểu đoàn trưởng.
Ngày 7 tháng 4, Tiểu đoàn 8 vượt tuyến xuất phát, lấy con đường làm chuẩn, hai cánh quân cùng tiến song song đội hình mở rộng không quá 300 thước cho mỗi bên, đến ngang hoành độ 48 dừng lại. Tiểu đoàn 5 vượt qua mặt tiến lên, lục soát vừa phải, cố mở đội hình rộng mấy trăm con người của Tiểu đoàn chìm hẳn vào màu xanh đậm cứng của rừng. Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn Chí Hiếu kẹp sát ống liên hợp vào mang tai, linh cảm có những trầm trọng sắp xẩy đến ? Mười bốn năm chiến trận đã tạo thành những trực giác bén nhậy. Rừng cao su im lìm – Địa thế quá lý tưởng cho một cuộc phục kích. Súng nổ, thoạt đầu chỉ có tiếng AK ở hướng đầu hành quân, nhưng không đầy 5 phút, 5 phút ngắn chưa đủ để xua người lính chạy quá một gốc cao su, cối và pháo binh nổ… Hiếu đo lường thật nhanh hỏa lực của địch: Phía trái, dọc đường rầy có nhiều tiếng súng cá nhân, cánh quân trái phải đánh ngay vào để bám sát mới tránh được pháo… Đúng như anh ước tính, tiểu đoàn Cộng nằm một hàng dọc trên mô đất của đường xe lửa cũ đang thực tập tác xạ và lính Nhảy Dù xung phong vào trái! chỉ còn một đường nầy. Cộng quân không bỏ vị thế tốt, trận đánh dằng dai ngang ngửa, một nửa ngày qua, lính Bắc rút đi… Thương binh nằm chật rừng cao su, dựa lưng vào thân cây… Hiếu nhìn bản đồ: Bàu Hót, tọa độ 780510. Từ đây đến An Lộc còn bao nhiêu cái bàu nữa… Chiến trường mới qua một ngày – Món ăn chơi đầu tiên đã khó nuốt.
Từng cây số một bước lên, độ cao cứng rắn của chiến trường càng rõ, gần đến Chơn Thành rồi, đã “ngửi” được mùi địch, địch cùng pháo và cối, chắc sẽ đầy đủ và mãnh liệt hơn Hạ Lào; và Hạ Lào, rừng phòng không nhân tạo tua tủa như cây trời. «Lê Lợi» nặng mặt, khoảng trán cao nhăn nhăn mấy cái.
– Quyền, cố gắng xin mấy cái trực thăng để ngày mai mình “thẩy” thằng 6 lên Chơn Thành và cho lục soát ngược về.
Hôm nay là ngày thứ hai (8/4) của kiểu “chân chim”, nếu cứ tiếp tục thêm một ngày nữa, Cộng quân không tiếc gì để “chặt chân”, phải có một kế hoạch khác: lục soát ngược lại. Quyền nhìn “xếp” thán phục. «Lê Lợi» quả là con beo thật, một con beo gấm già không chút sơ hở.
Ngày 9, Tiểu Đoàn 6 nhảy cú bất thần lên phía Bắc Chơn Thành. Không khai triển được chiều rộng thì biến chế theo chiều dài, có luật nào bắt buộc tiến quân phải theo thứ tự Nam – Bắc? Xong trả bộ quay lại Chơn Thành. Tiểu Đoàn 5 từ Bàu Bàng chạy vọt lên 2 giờ chiều “link-up” cái rụp ơ Chơn Thành. Tốt, «Lê Lợi» gật gù: Tụi nó không biết mình làm trò gì với cú nhảy của thằng 6, đi lên hay xuống… Tiên sư nó cũng không biết được. Thừa đà đi, 5 Dù lên thẳng phía Bắc cách hơn Chơn Thành 3 cây số hạ trại, Ngày bình yên đi qua, Đại tá Lưỡng cởi đôi giày lần đầu kể từ ngày N, bộ tham mưu bắt chước… Mỗi buổi chiều cởi được giày là hạnh phúc rồi. Hạnh phúc, giá càng ngày càng rẻ.
Thêm 2 ngày đẹp đẽ đi qua, lữ đoàn đã đi được trên dà mươi cây số, ba cây số cho 6 ngày kể ra quá chậm trên địa thế dễ di chuyển nầy. Nhưng làm thế nào để đi nhanh hơn, thiết đoàn 1/5 tăng phái tuy rất chịu khó cày và lội theo cùng Nhảy Dù nhưng nhiệm vụ không cho mở vào sâu và vào sâu thì lún lầy… Những con voi sắt dũng mãnh tới lui nặag nề chậm theo bước tiến bộ binh. Ngày 12, kể từ Bắc xuống Nam theo thứ tự là Tiểu đoàn 5, 6 Chơn Thành 8 và pháo binh (TĐ 3 PB Dù) ở cực Nam, lại theo chiến thuật “chân chim”, TĐ8, Pháo và Thiết kỵ nhảy bước lớn từ cực Nam qua mặt Chơn Thành, đến ngang TĐ 5 bỏ pháo lại tiếp tục lên hướng Bắc… «Lê Lợi» đóng ở Chơn Thành cùng Tiểu đoàn 6 theo dõi thằng con (TĐ8) tiến quân…
– Tốt, nó tới được suối Tàu Ô, tụi mình chỉ còn cách An Lộc trên mười cây số, hy vọng tuần sau mình đang “đụng” nó…Hy vọng như thế.
Nhưng hy vọng của «Lê Lợi» vỡ tung như bong bóng nước dưới trời mưa nặng hạt. Tiểu đoàn 8 vừa đặt chân qua hoành độ 72 cách Tàu Ô 1 cây số 300 thước thì đụng. Cộng quân không thèm ngụy trang, che dấu, ngồi sẵn trên đường tay ngoắt mõm kêu “ngụy”. Nhưng lực lượng Cộng không phải chỉ là thành phần ngồi trên đường đó, đấy là lực lượng biểu dương. “Tụi mất dạy” chính cống nằm dọc bên tay trái, nằm đầy bên tay phải dưới giao thông hào, dưới công sự có nắp ngụy trang kín mít. Nhưng nếu là bộ binh không thì nói làm gì, kẻ “cừu nhân” độc địa hơn mới đáng sợ : Pháo và cối. Thôi rồi, «Lê Lợi» run tay, chiếc combiné ép vào tai nghe báo cáo:
– Tụi nó gom tôi và ông Đức (Thiết đoàn trưởng 1/5 chiến xa) thành vòng tròn rồi…. Pháo quá dữ “đề lô” tụi nó theo sát đây, nó bắn không phí một quả, nó “đi tiền” quá nhiều nó “tapi” tôi.
“Bắc Bình” Đoàn Thiên Tuyển, Tiểu đoàn Phó Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù nói nhanh như khi bốc con bài thứ 5. Tuyển cũng là Tuyển “Táp”. Hỗn danh nghe thì kinh, nhưng lại là người nhỏ con, vui tính, nhanh như sóc, “táp” chỉ là một tĩnh từ để mô tả chân dung người thêm xác đáng. Tuyển lại tiếp tục báo cáo:
– Tụi nó bâu như kiến… Đ..m bắn quả M 72 vào cây cao su kia… Trình «Lê Lợi» cho gunship lên… C, bảo thằng Vân “mu” lên chút nữa bung rộng ra mới được… Dạ, dạ, tôi nói thằng con tôi cố gắng!”
Vừa báo cáo với Lữ đoàn trưởng vừa điều động các đại đội, Tuyển nói như một cái dĩa chạy quá tour. Tuyển “Hỏa Tiễn”, thêm một biệt hiệu khác theo với tên anh.
Sau Tiểu đoàn 8 đến Tiểu đoàn 5, 55 Nguyễn chí Hiển, vẫn giữ giọng đĩnh đạc, chậm rãi gọn và sắc:
– Trình «Lê Lợi», tôi chưa kịp có vị trí, pháo binh cũng thế và tụi nó pháo quá dữ – Dạ, pháo từ xa, cối gần hơn B40, 75 không giật thì chỉ cách tôi dưới 100 dứt.
«Lê Lợi» thả combiné xuống – Sự kiện bắt buộc xảy ra, không thể tránh theo chiều nào được. Pháo không phải từ một vị trí, pháo trận địa, pháo “vùng”, pháo TOT (Tác xạ tập trung bắn từ nhiều nơi) và chính ngay tại Chơn Thành, PC của «Lê Lợi» cũng bắt đầu “lo”. Lại pháo nổ xuống…
Ngày 13, tình hình như c… Thằng 8 bị vây, thằng 5 bị pháo và Chơn Thành thì nhúc nhích không được. «Lê Lợi» vất bỏ cái máy, ông không muốn nghe thêm một chữ nữa – Đại Tá Đức, Thiết đoàn trưởng phối hợp hành quân chết – chiếc trực thăng vừa bốc lên khỏi cao độ hơn 10 thước, viên đạn oan nghiệt kết thúc đời người anh, anh hùng mũ đen – Đại Tá Đức, mắt sáng nụ cười tươi, hàng ria mép đen nhẫy vừa mới phút trước đây còn anh tôi hàn huyên thân ái, mới phút trước đây: Anh để tôi lên xem “thằng con” như thế nào… Chết rồi, người bằng hữu lừng lững đi vào như không. Đại tá Lưỡng cúi mặt xuống. Con beo gấm thất thủ trước chiến trường vuột tầm tay.
Chiến trường trở nên xấu hơn khi Tiểu đoàn 5, nơi có vị trí pháo binh báo cáo hết đạn.
– Máy bay không thể vào vùng được – Đại-tá Quyền nhắc với «Lê Lợi» khi thiết kế tiếp đạn cho TĐ5.
– Vậy thì gọi về Lai Khê, bảo thằng Thu (Ban 4 của Lữ đoàn) qua nói với tiền trạm Tiểu đoàn 5, cho người hướng dẫn đem một xe đạn lên đây để tiếp cho “thằng cha” nó.
Trung sĩ Hoàng Thi, Thường vụ Tiểu đoàn lãnh nhiệm vụ áp ải xe đạn từ Lai Khê đến Chơn Thành và từ đây một mình một súng, Thi làm “độc hành đại bảo tiêu” đi 4 cây số hay đường hầm Tử thần để giao đạn cho đơn vị…
Đến Chơn Thành, Thi mượn máy Lữ đoàn liên lạc với Tiểu đoàn trưởng.
– Trình đích thân, em đã tới nơi của «Lê Lợi», bây giờ em đem kẹo lên.
– Không được, đang đánh nhau tùm lum ở đây, dọc đường lại đầy tụi nó đi sao được…
– Dạ em nghĩ tụi nó có là để đợi phục kích các đơn vị đâu phải phục kích một chiếc xe, em chạy cái ào sức mấy nó bắn kịp…
55 Nguyễn Chí Hiếu đồng ý, hết đạn chỉ còn trông vào sự may rủi đặt trên can đảm của người Trung sĩ này.
Thi leo lên xe GMC, gã tài xế thuộc đại đội quân vận tăng phải nhăn nhó:
– Trung sĩ, đường đang đánh nhau làm sao mình đi được.
– Đồng ý là có đánh nhau, nhưng nó đâu ngờ được có một chiếc xe GMC chạy lên trong giờ phút này, mầy xả hết ga, xa lộ mà mầy, sợ gì tao cũng vợ ba con chứ đâu không sợ chết.
– Lỡ có mìn thì sao?
– Có mìn thì mìn chống chiến xa ở vệ đường thôi, mầy cứ nghe lời tao, ào một cái chẳng can chi… đ.m mầy không lái thì tao lái.
Chiếc xe GMC đội pháo rời khỏi Chơn Thành với tốc độ 70 cây số một giờ. Người Kinh Kha tân thời mang lon Trung sĩ bỏ cần tác xạ khẩu đại liên 60 vào vị trí suto…
– Đấy cứ chạy như thế, mày có chết thì cũng chết sau tao, sợ gì em…
Gã tài xế không nói một tiếng, chân ga lút cán chiếc xe không phải chạy nhưng bay trên lớp nhựa đen, hai bên đường đạn AK và B40 thổi tưng bừng. Trật hết cả, mầy thấy chưa có thằng nào dám ra đường đón mình đâu. Thi bắn khẩu đại liên theo hướng trước mặt, chiếc quan tài di động chứa đầy đạn thoát đi như phép lạ… Nhưng Thi không bao giờ đến với “gia đình” được, một toán Việt Cộng được báo máy chạy túa ra đường chận chiếc xe.
– Làm sao Trung sĩ??
– Phóng thẳng đè qua tụi nó….hết ga luôn.
Thi vẫn bắn không ngừng vào những bóng lô nhô trên mặt đường… Đ…m không xong rồi, mày ép bên mặt xuống dưới đường, coi chừng nó thụt B40. Gã tài xế tay chân chuyển động như cái máy vô tri quẹo trái lách phải mỗi tích tắc, mỗi giây phút qua nổ tan trong lồng ngực… Quẹo lại, quẹo lách vào mấy cái cây. Lách vào, de lại. De. Thi vừa bắn vừa la như quạ … Về. Về. Lút ga đi mầy. Lút ga. Mau hơn nữa. Gã tài xế nhấn bàn chân phải hết độ cứng. Đạn rơi trên thùng xe, đạn xoáy vào thùng đạn, đạn làm vỡ kính chiếu hậu… Chiếc xe, người tài xế và Thi về lại được Chơn Thành trong ngơ ngác của mọi người và của hai “đương sự”.
– Trình Đại bàng, em cố đưa đạn lên nhưng không được… – Thi nói trong tiếng thở khi đến Bộ Chỉ huy Lữ đoàn báo cáo với tiểu đoàn trưởng.
– Ừ thôi vậy, anh đã làm hết sức rồi. – Nguyễn Chí Hiếu trong lửa đạn không khỏi cảm phục người thuộc hạ đã can đảm vượt khỏi sức của người.
8 bị vây kín, 5 bị pháo cô lập, Tiểu đoàn 3 Pháo binh tê liệt, vị trí dã chiến chưa có đủ thời gian để chuẩn bị. Lữ đoàn và TĐ 6 ở Chơn Thành kẹt cứng trong vòng đai chi khu. «Lê Lợi» thiết kế cùng với thiết đoàn 1/5 bung rộng qua phía Đông để tấn công lên hướng Bắc. Hai chiến xa mở đường vừa vào chưa được 3 cây số bị kẹt cứng bởi hệ thống đầm lầy, suối con, bàu nước đan vào nhau chằng chịt… Hai ngày dậm chân tại chỗ đi qua. Tàu Ô, con suối chỉ hơn 4 cây số sao quá khó khăn để đến đôi mắt người chỉ huy chớp liên hồi. Tránh hết sức cũng không được, mình vào bẫy của nó… Bộ óc chiến trận xoay hoài trên cái trục mang số 13. Nếu mình đừng bị lệ thuộc vào con đường chắc sẽ xoay trở được.
Rút tất cả về lại Chơn Thành giao vùng trách nhiệm và con đường “khốn nạn” lại cho Sư đoàn 21. Lữ đoàn nhận nhiệm vụ mới. Đại tá Lưỡng thở hơi ngắn : Bỏ được đường 13 thì tốt rồi nhưng nhiệm vụ sắp tới sẽ như thế nào ? Những đường nhăn lại vạch thật đậm trên vầng trán. Ngày thứ 8 của chiến trường khối óc chưa một giờ ngừng nghỉ, chưa một phút được nghỉ, đúng chính xác như thế – giấc ngủ chập chờn những hình ảnh xô bồ, náo động và đỏ cháy những lửa – Người Lữ đoàn trưởng đưa tay lên bóp bóp hai thái dương – Ngày hôm kia “thằng Bảo” lại chết ! Đại tá Lưỡng “cứng óc” trong một khoảng thời gian. Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, người đàn em thân yêu của ông tử trận ngày 12-4 tại Charlie, Kontum.
Nhẩy trực thăng – Nghề của “Lê Lợi”
Buổi họp tại Trung Tâm Hành Quân căn cứ Lê Khê đưa đến kết luận : Bằng tất cả mọi giá, phải đưa Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào An Lộc. Sáng ngày 13 lúc 7g 15, T54 đã đến sát hầm chỉ huy của Tướng Hưng. Vào An Lộc bằng đường bộ sẽ quá chậm trễ… ” Chính cá nhân Đại-tá Tư Lệnh phó Sư Đoàn 5 cũng phải thủ một khẩu M72…” Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù phải vào An Lộc trong thời gian ngắn nhất. Tướng Minh Tư Lệnh Quân Khu III đưa mắt hỏi ý kiến Tướng Đống trong việc ném “thằng 1” vào An Lộc… E ngại, điều này không phải cảm nghĩ riêng của mỗi người nhưng là tình trạng chung của các cấp chỉ huy : Đưa một đơn vị vào trong rừng phòng không, các bãi đáp đã có đủ yếu tố tác xạ, tối thiểu cũng do một pháo đội đại bác trách nhiệm : Nhưng chỉ còn biện pháp này.
– Thế nào Lưỡng, nhảy không? Nghề của ông mà!
– Nhẩy thì cũng nhảy Trung-tướng, nhưng phải cho tôi đi một vòng để tìm bãi đáp. Khó là lúc đáp xuống, nếu xuống được thì nhất định tôi vào được.
Chiếc trực thăng chỉ huy ở một cao độ lạnh người lượn vòng thứ 5 trên An Lộc. Đại-tá Lưỡng hỏi Thiếu- tá Quyền (sĩ quan hành quân):
– Thấy cái đồi ở phía đông nam không?
– Thấy, Đại-tá.
– Chỗ đó!!
– Vâng, Đại-tá, mình đi thêm một vòng để thấy cho rõ…
Chiếc trực thăng lại chao đi thêm một lần nữa, nhầm lẫn hớ hênh là mua đứt mạng sống của bao nhiêu người và đổ vỡ hẳn kế hoạch tăng viện, tất cả đều do phút này quyết định.
– Đây tao sẽ cho xuống ở đây. Ấp tên gì lạ quá?
– Dạ ấp Srok Ton Cui, có lẽ là tên Miên.
– Ừ, cái ấp đó nó sẽ được dãy đồi ở Tây Bắc che dấu, trực thăng khi vào vùng bay sát ở dưới lên, tránh được “đề lô” tụi nó quan sát. Hơn nữa, không bao giờ tụi nó nghĩ mình dám đổ quân ở phía Đông. Nó giữ chặt phía Nam vì phía đó cũng là đường về của mình. Mình nhảy nơi cái ấp đó, xong chiếm ngay mấy ngọn đồi, vậy là giữ được đầu cầu, phải cẩn thận trong thời gian đầu tiên…
– Vâng, Đại tá.
Quyền không bàn điều gì thêm. «Lê Lợi» “đánh hơi” chiến trường không chút sơ hở…
Ngày 14 tháng 4, bãi đáp là một đoạn đường nhựa ở ấp Srok Ton Cui, đường 245 nối từ Xa Trạch vào đồn điền Quảng Lợi, tây nam An Lộc cách nhau bởi hệ thống đồi với cao độ 150 thước. 14g30 chiếc trực thăng đầu tiên đưa đại đội 62/TĐ6/ND thay vì xuống ấp lại đáp lộn xuống vùng ruộng của Suối Rô dưới chân đồi không tên cao độ 176 thước. Ngô Xuân Vinh 23 tuổi đại đội trưởng nhỏ tuổi nhất của TĐ6 biệt danh ” Vinh con ” – “con” không phải vì nhỏ người non dạ, trái lại bụng phệ, mặt mâm, 76 ký dềnh dàng nặng nề, nhưng “con” là vì tính khôn ngoan quá cỡ so với số tuổi “tí xíu”. Vinh “con” có thể ở với những “xếp” nặng nhất, của Sư đoàn Nhảy Dù nhờ cú né tài tình mà không thể bậc thầy nào qua mặt nó được.. Vinh xuống lộn bãi nó loay hoay một chút giữa đám ruộng trống trải… Bố trí lại hay tiến về phía đồi? Nhưng Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn đã xuống kịp. Trung-tá Nguyễn Ngọc Đỉnh hay Đỉnh “Tây con” ba mươi ba tuổi, khuôn mặt tròn, da trắng, lông mi cong.
– Anh Năm nếu không vì hàm râu quai nón mang lon Trung-úy vẫn còn vừa! – Vinh đã nhiều lần đùa xếp như vậy.
Nhưng Đỉnh không “con” chút nào trong trận địa. Khoá 15 Đà lạt, từ đầu cuộc chiến, lon lá lên toàn ở mặt trận, kinh nghiệm dày như khi mới rút con “thứ ba” đã chịu quay vì biết nó có đôi xì “kít” trong khi mình có đôi đầm mặt. Quan Năm Đỉnh không thua người một chút nào dù với khuôn mặt quá trẻ. Các em mê ở chỗ này nhưng cũng là “nhược điểm” đau khổ nhất của người. Chỉ có trời và vợ biết. Đỉnh xua liền thằng Vinh lên đồi…
– Để em xin trong An Lộc bắn ra mấy trái trên đó lên cho chắc ăn.
Vinh vào thẳng tần số An Lộc xin tác xạ yểm trợ. Trong nầy pháo tiêu hết còn độc mỗi khẩu 105 “nhỏ” cho Vinh ba quả đạn – Đúng ba quả. Thôi đành vậy. Vinh nhào lên đồi. Chỉ có toán Cộng quân làm tiền đồn, đánh không khó. Vinh thanh toán mục tiêu trong vòng 40 phút. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn lên theo. Đỉnh đặt tên cho đồi : cao độ “E”. E là Echo, chữ thứ 6 của 24 chữ cái, Đỉnh bị ám ảnh bởi con số của đơn vị mình. (Sau khi Tiểu đoàn trở lại An Lộc lần thứ hai với chiến đoàn đặc nhiệm 6, Đỉnh cũng linh cảm sự linh thiêng của con số – Sổ 6 là số 9 đang thành hình – Số đẹp nhất). Đại đội 61 xuống tiếp chiến ngay cao độ Đông Bắc “E”, nhận danh hiệu E2. Hai Đại đội vừa chiếm xong cao độ để giữ an ninh cho bãi đáp thì Cộng quân cũng phát hiện được cuộc trực thăng vận. Pháo từ phía Bắc và 75 ly không giật từ Tân Lợi (cơ sở sản xuất cao su lớn của Pháp, 3 cây số đông bắc An Lộc) bắn thẳng vào E và E2… Mặc, phải giữ E để làm an ninh cho bãi đáp, không phải riêng cho đơn vị nhưng để Lữ đoàn và quân bạn vào ngày mai. Lính đào hố dưới mảnh đạn văng tung tóe, chiếc ba lô làm vật tránh đạn tạm thời che vào độ cái đầu thụ động dưới mỗi loạt pháo. Đỉnh, cố vấn Morgan, Nghiêm (ban 3) tất cả đều bị thương;
– Đừng để lính biết, bảo lính đào hầm nhanh lên, chiều rồi, xong mầy ở luôn lại đây. – Đỉnh bảo Vinh, tay đè lên miếng băng cứu thương, máu thấm đẫm lớp băng dày.
★
Phương Tây đỏ lửa: An Lộc
Tiểu đoàn xuống đủ, E hay “Đồi Gió” biệt danh được đặt cấp tốc, giờ đây là gió lửa, gió nhân tạo đầy mảnh thép, ầm vang tiếng nổ.
– Gắng ở lại đây nghe em, tao xuống dưới kia. Có cáỉ ấp dễ tải thương kín đáo hơn. Mầy thâm niên nên coi thằng 1 (Đại đội 1) ở bên E2 luôn.
– Tôi nghe Trung tá.
Vinh ở E, hay Đồi Gió, cao độ 175 thước nhìn chếch về An Lộc ở Phương Tây, 4 cây số đường chim bay. Vinh thấy khói đen bốc lên nhiều nơi, thành phố đang bị pháo kích… Từ khi minh xuống tới giờ chẳng thấy nó nghỉ pháo một chút nào cả… Chịu làm sao như thế được ? Vinh quên mất niềm hãnh diện : Người đầu tiên trực diện với An Lộc, thành phố sau nửa tháng nghẹt thở, nằm cứng trên giàn hỏa càng ngày càng tăng độ nóng. Có tiếng người kêu ở Tây nam phía đồi 169, một toán lính mặc áo ngụy trang đứng trên đỉnh ngoắt tay liên hồi… Lính Biệt Động Quân, họ bị vây từ hơn mười ngày – Mười ngày không tiếp tế và nước uống. Vinh nghe được giọng nói nghẹt khô của viên Đại đội trưởng Đại đội này..
– Nón đỏ, nón nâu đây, đói, khát quá…
– Nghe rõ, bạn gắng đợi ngày mai, bây giờ quá chiều tôi qua bạn không được.
Vinh nghe được một tiếng thở dài thật mệt qua không gian truyền ngữ như vậy không hiểu mình sau này có khá hơn được không?
Ngày 15-4 BCH/Lữ đoàn, Tiểu đoàn 5 và 8 cũng xuống bãi đáp cũ bình yên. «Lê Lợi» leo lên đỉnh Đồi Gió họp 2 Tiểu đoàn trưởng 5 và 8:
– Mình đi liền, anh Ninh (TĐ8) đưa thằng con vào An Lộc, nhưng khoan vào hẳn, anh tới ngang chỗ con suối thì ngưng đợi tôi. Tôi và Hiếu (TĐ5) vào ấp Sóc Gòn, mình dọn đường vào cho thật sạch, có gì còn bung ra lại để đường đơn vị khác sau này vào cho dễ dàng. Đồi Gió – An Lộc, 4 cây số trên những cao độ thoai thoải, qua khu rừng cao su Phú Hòa, nếu muốn đi chỉ mất khoảng 2 giờ, đi với lục soát cẩn thận – Cẩn thận, «Lê Lợi» vượt xa đức tính quí giá này hơn nữa – Ông thấy rõ cái “chật” của chiến trường , trước khi vào cái bẫy bắt buộc, không quên mở rộng tối đa không gian cho đơn vị – Muốn đánh nhau phải có một chiến trường – An Lộc không phải là vị trí tốt để tác chiến, cái túi thụ động ngột ngạt, ông muốn có trời xanh và khoảng trống để các “đứa con” sẽ tung hoành hết kích thước của lính Nhẩy Đù. An Lộc là cái bẫy – Đại Tá Lưỡng ngần ngại khi bước chân vào thành phố này – Nhiệm vụ chiến thuật của một Lữ đoàn đến đây bị chặt hết khả năng vùng vẫy… Nhưng nhà binh và nhiệm vụ là những điều bẳt buộc, ông chỉ là một sĩ quan trung cấp. Chức vụ Đại tá một Lữ đoàn có là bao so với cuộc chiến.
Chiến trường quá “khổ”
Từ Đồi Gió, Lữ đoàn chia làm hai cánh quân chính do «Lê Lợi» chỉ huy “xấn” 2 đứa con 5, 8 vào với An Lộc. Cánh thứ hai gồm Ngọc Long (Lữ đoàn phó), Tiểu đoàn 6, một pháo đội TĐ 3PB… ở lại Đồi Gió. Toán quân này sẽ có vinh quang và tàn khốc riêng. Tiểu đoàn 6 Dù chỉ trong thời gian “chưa tàn điếu thuốc” của cuộc chiến dằng dặc sẽ đi từ cực điểm này đến cực điểm khác. Những điểm thấp và cao nhất của chiến sử đơn vị. Tiểu đoàn 6 hậu thân Đơn vị Nhảy Dù lừng danh nhất của Quân Đoàn viễn chinh Pháp và cũng như định mệnh đặt để: Nó sẽ đến chót đỉnh Vinh Quang như “số 9” tiềm ẩn trong nó hoặc đi sâu xuống hẳn vào kinh hoàng khốc liệt mà không thể có đơn vị bộ chiến nào vượt nổi. Chuyện Tiểu đoàn số 6 sẽ được nói sau. Chúng ta đi theo cánh quân của «Lê Lợi». An Lộc một đoạn trường đang chờ đợi với tột đỉnh khắc nghiệt. Điểm dứt hơi chiến tranh Việt Nam.
Ngày 16-4 Tiểu đoàn 5 chia làm hai cánh quân băng qua rừng cao su tấn công vào ấp Sóc Gòn, toán quân đang tiến vào ngon trớn bỗng dừng lại: dân ùa ra, dân tràn ra như giòng nước vượt qua bờ đất nhỏ.
– Để cho dân ra hết, mình chia hai cánh quân gắng vào càng sát rồi nổ súng, sẽ còn nhiều đụng độ ở đây.. – Tiểu đoàn trưởng Hiếu dặn dò các Đại đội trưởng trước khi xung trận ở lằn mức chót. Bìa làng chỉ cách 100 thước.
Một lần, hai lần, không vào được – Rút quân ra, phải đánh bom mới được, tụi nó tổ chức phòng thủ cả nửa tháng. Súng tay mình không phá vỡ nổi. 20 phi tuần khu trục Việt Nam, chiến đấu cơ của Mỹ cũng phụ lực tham chiến, bom đánh suốt ngày. Buổi chiều, Tiểu đoàn “dứt” mục tiêu. Ấp hình lục giác bây giờ biến thành thập, thập nhị giác hay không còn một hình khối nào nữa… 300 thước vuông nhận hơn 30 “pass” bom vừa tây và ta đã biến thành một đống vỡ vụn, cây trốc gốc; nhà bốc cháy… Nhưng so với An Lộc bên cạnh, ấp Sóc Gòn chỉ là lò than nhà.
Ngày 17-4, Tiểu đoàn 8 qua suối Quảng Lợi, vượt đường xe lửa, trời chưa sáng, 4 giờ, ánh sáng tím của đêm bước qua ngày nhập nhoè trên tàng cây. Lữ đoàn cùng Tiểu đoàn 5 cũng rời bỏ ấp Sóc Gòn tiến song song với 8 dọc theo đường 303 vào An Lộc.
8 Dù vào thẳng không trở ngại, đến ngay vòng đai An Lộc lúc 7 giờ sáng.
– Nhảy Dù ! Nhảy Dù! – Người lính Địa phương quân gác ở vọng cạnh cực Đông nhảy vọt lên khỏi hố, anh ta báo hiệu cho những người bạn bên cạnh… Pháo địch rơi xuống 2 trái, một ở chi khu, một ở B15, người lính liền xuống hầm. Trước mắt lính Tiểu đoàn 8, An Lộc không còn sự sống.
Cánh quân Tiểu đoàn 5 khựng lại ở đường rầy không thể dùng phi pháo, muốn dùng cũng không có… Tiểu đoàn ngừng lại đưa một đại đội lên đánh, phải đánh theo lối đặc công, địch ở hầm quá sâu.
13 giờ, Đại Tá Lưỡng bước chân hẳn vào vòng đai An Lộc.
– Không còn gì hết Quyền hả?
– Vâng, kinh thật, tôi không thể tưởng tượng nổi.
Hai người trao nhau câu nói ngắn, lính phải phân tán thành từng toán nhỏ di chuyển từ hầm này sang hầm khác. Chỉ là một cách để gây tự tin và khỏi thiệt hại vô ích. Địch có tiền sát viên ở các cao độ phía Bắc điều chỉnh vào toán quân từng trái đạn chính xác như để bi vào lỗ… Thêm một số bị thương, chẳng thấy được mặt Cộng Sản như thế nào !
Đại-tá Lưỡng mượn chiếc xe Jeep của Liên đoàn 3 Biệt Động Quân do Quyền lái chạy như bay trên mặt đường lởm chởm hố và vương vãi xác người… Tướng Hưng còn hai hộp bia và một chai bia lớn, mở ra lập tức.
– Mời anh Lưỡng… tốt quá, có được anh, tôi vững tâm.
Đại tá Lưỡng uống hớp bia cuối cùng của Tướng Hưng. Ông Tướng mới nhất của quân lực cố nở nụ cười tươi trên khuôn mặt tan nát vì lo âu “có anh, tôi mừng lắm”.
– Chào Chuẩn Tướng, tôi về để lo điều động mấy đứa con, tôi sẽ “clear” và giữ hướng Nam.
– Đúng vậy, anh gắng cẩn thận…
Trên xe đi đến BCH Tiểu khu nơi Đại-tá Nhật (Tỉnh trưởng Bình long) «Lê Lợi» hỏi Quyền:
– Mầy biết tao vào An Lộc bằng cách nào không?
Quyền không hiểu ý câu nói, anh đưa mắt hỏi thầm.
– Tao vào bằng lưng, chân bị vọp bẻ quá, tao phải xoay lưng đi ngược vào An Lộc… Cái mặt mà sưng bằng cái lưng là điềm không khá, khó lắm đó mầy.
Quả thật rất khó hơn mọi khó khăn mà Lữ đoàn đã gánh chịu từng bao nhiêu năm. Mậu Thân thành phố Huế bỏ ngõ. Cộng quân vây chặt trùng trùng, điểm kháng cự chót là Mang Cá với Tướng Trưởng lặng cứng âu lo… Đại tá Lưỡng đã một lần vào thành phố cuối đáy tuyệt vọng như thế, nhưng dù với Tiểu đoàn 7 Dù đã bị phục kích nát ngay tại cửa An Hòa, ông vẫn còn Tiểu đoàn 2 và 9 để nới rộng vòng đai chiến đấu của Sư đoàn 1 ra đến Tây Lộc cửa chánh Tây, cửa Thượng Tứ. Mậu Thân cũng không phi pháo chỉ với những đứa con bị thiệt hại trầm trọng ông vẫn vùng vẫy, vẫn bung vẫn xấn tới vào mục tiêu. Và Hạ Lào ngày ngày bay trên lưới đạn, không phải chỉ một tấm lưới nhưng hằng hằng lớp lớp đạn phòng không đan chặt trời cùng đạn pháo binh với đầu nổ cao gây những đóa hoa chết đầy không gian… Đại tá Lưỡng đã qua những chiến trường nặng độ như thế nhưng vẫn trở tay được, vẫn tìm được một đường chiến đấu. An Lộc điểm dứt hơi chật chội, lính Nhảy Dù đang nằm dưới một vòm lưới khổng lồ. Ném thằng 8 qua phía Tây thành phố xong băng xuống chính Nam…
– Anh cho tối thiểu cũng phải 3 đại đội ra khỏi hàng rào mới làm ăn được, giữ trong nầy thì bó tay mình, vô ích.
Trung Tá Văn Bá Ninh gật đầu nhận lệnh, ông cũng đồng quan niệm. An Lộc quá chật và thụ động.
Tuyến “Hoả Tiễn” và Tăng
Tiểu đoàn 8 trừ gồm 3 đại đội do Tiểu đoàn Phó Tuyển sau khi đến hàng rào cực Tây, trở hướng tiến về phía Nam ra khỏi hàng rào An Lộc. Trước mắt đoàn quân, con đường 13 vắng lặng như khối vật chết, rừng cao su xanh thẫm, lớp đất đỏ nâu sậm – cảnh vật hấp hối lặng lờ nặng chĩu – Tai ương đè lên mỗi phân đất mà người lính bắt buộc phải dẫm lên – Di chuyển trên một bãi mìn cũng căng cứng bằng thế này mà thôi… Lực lượng nầy cũng đang di chuyển qua một bãi mìn di động: mìn không gian, mìn được phóng từ nơi xa, nổ chụp lên đầu… Một ngàn hai trăm thước ba đại đội Tiểu đoàn 8 đi mất buổi chiều… Không phải đi nhưng di chuyển theo một chiến thuật quái dị, di chuyển từ một gốc cây, di chuyển theo lối cóc nhảy, lối loài bò sát của côn trùng sâu bọ ; 1200 thước An Lộc – Ngã ba Xa Cam, 3 đại đội đi trên một giây tử thần đã bị cắt đứt ruột… Đóng quân, tung quân lục soát và đụng… Mỗi lần đụng là một lần thiệt bại, Tiểu đoàn 8 tưởng như không có một đời sống nào khác hơn là sự chết đang bao trùm. Mỗi cuộc tấn công địch dùng 2 trung đoàn, 2 trung đoàn bộ được yểm trợ tối đa pháo binh – Pháo binh với 105, 155, 130 bắn tối thiểu cũng từ 6 vị trí trở nên lên ụp xuống… làm sao để phản pháo và lấy gì để phản pháo – khẩu cuối cùng của An Lộc đã bị phá hỏng, chỉ còn ổ súng cối Nhảy Dù nhưng súng cối chỉ là để phòng thủ, tự vệ đâu phải là pháo binh để dọn đường cho cuộc phản công.
Từ vị trí đóng quân, ngày 21/4 Tuyển gom ba đại đội cố mở vòng đai phòng thủ. Đại đội 83 Vân đi bên trái, 2 Đại đội 81 và 84 bên phải, lấy con lộ làm chuẩn. Mục tiêu là ngã ba Xa Cam cách nơi đóng quân 500 thước. Đụng liền, trái, phải, trên, dưới đều kẹt cứng. Hình như Cộng quân, không dùng súng cá nhân, tối thiểu là cũng Trung liên rồi đệm vào bởi B40, B41 và 75 bắn thẳng.
– Bắc Bình lên ngay dùm tôi, bên phải tôi trống quá. – Vân gọi máy nói với Tuyển như van xin.
– Tôi biết, bên này cũng bị kẹt, bây giờ chỉ bắn che cho anh thôi…
– Vâng, Bắc Bình cứ bắn như thế …
Đó là những lời nói cuối của Vân, Trung úy, thành phần “chóc” của TĐ8. Vân bị một trái 75 chém đứt cánh tay, máu chảy từng đường lớn, sức lực nào để chống nổi với cái chết đang ào xuốg, máu chảy đến giọt cuối và Vân đi khuất.
Tiến không được thì rút về cố thủ. Tuyển biến thành một hỏa tiễn liên lục địa, anh hét vang vang. Anh nổ bùng, bốc lửa “…c…đ.m kẹt thì tung ra, đánh bỏ mẹ tụi nó hết, bắn đợi thật gần mới bắn, 20 thước mới được bắn…”
Không đánh địch ở xa, Tuyển đánh ngay vị trí, đánh tăng, thứ tăng liều lĩnh ngu ngốc tưởng chỉ với khối thép bề thế áp đảo được lính Nhảy Dù. Vị trí phòng thủ không đầy 200 thước chu vi của Tuyển biến thành một cái đinh thu hút địch, chúng bao quanh Tuyển như đàn kiến đói giành nhau hạt đường.
Đêm 22 rạng 23 tháng 5, Cộng quân dùng hai công trường 7 và 9 “phối thuộc” Đại Đội 5 Tiểu đoàn 107 Trung đoàn 203 chiến xa từ xã Thanh Bình (hay đồn điền Xa Cam) kéo ra quốc lộ chia làm 2 nhánh. Nhánh thứ nhất quẹo tay phải theo đường về phương Nam đánh Trung đoàn 15 Bộ Binh. Thành phần thứ 2 gồm trung đoàn 272 (nổ lực chính) thuộc công trường 7 có 2 T54, 2 BTB PK 50 dẫn đầu quẹo phía Bắc. Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn sẵn sàng, hơn ai hết. Lính Nhảy Dù biết rõ thiết giáp Cộng quân chỉ là đồ chơi, lính Thiết Kỵ của chúng chưa có đựợc kinh nghiệm và khả năng để điều khiển chiếc xe, nói rõ hơn chúng chỉ biết lái đến một vị trí đã được chỉ định.. Và bộ binh tùng thiết (theo xe bọc sắt) thì quá khờ khạo không biết phối hợp và điều động theo chiến trường.
Ba người lính của đại đội 81 cùng đứng dậy một loạt khi chiếc T54 ùn đi tới, bóng đen khối sắt lấp lánh dưới trăng non.
– Tao bắn trước!
– Không được, ba đứa cùng bắn, tao hô 1,2,3 rồi mình “phơ”.
– Bắn!
2M72 biến cải, 2XM 202 cùng phun ra một lượt. Mỗi quả M202 cháy nóng 36000 độ F, 4 quả là bao nhiêu?… Chiếc T54 nằm im bốc cháy không một bóng người nhảy ra. Trò chơi máu được dành giựt mê mải, lính ta đánh giặc như đùa, như giỡn với bọn trẻ con cuồng dại.
Chiếc T54 thứ 2 tốt số hơn né được trái M72 đầu tiên đâm vào bờ rừng nằm cứng. Hai người lính nhảy ra… Để tôi ném lựu đạn, đừng bắn để ném lựu đạn…
Năm “con cua” bị rang muối trong 11 phút đầu tiên, cách phòng tuyến Tiểu đoàn 8 dài nhất là 50 thước và ngắn nhất là không có thước nào ! Vì thiếu PK 50 cuối cùng thay vì tấn công Tiểu đoàn 8 ở phía Tây con đường lại tấn công về phía đông nơi Trung đoàn 48 BB, bị đơn vị này bắt, chiếc PK 50 lùi dần lùi qua đường và vào hẳn vòng đai phòng thủ của TĐ8. Lính ta quá ngạc nhiên với hiện tượng một cái xe cứ đưa đít chạy ngược. Nên khi nó vào trong vòng Tiểu đoàn, không ai có thể bắn được (sợ đụng đồng bạn). Chiếc xe lùi thêm nữa, đi lên nấp hầm đại đội trưởng 81, hai sợi giây xích hỏng khỏi mặt đất quay tít, thân xe ngúc ngắc cựa quậy và máy tắt… Lính ta nhào tới, máy lại nổ. Trò đùa chấm dứt khi anh Hạ sĩ Chút leo lên thẩy một trái lựu đạn. Hai mươi xác chết cháy đen được mang ra.
Tiểu đoàn 8 không những “diệt gọn” những tăng đánh phần đất mình, Tuyển liên lạc với C130 Spector (Phi cơ 130 có gắn súng 105, bắn và nhận diện mục tiêu bằng Radar) hạ luôn 5 chiếc chạy hướng Nam trước khi tấn công Trung đoàn 15. Quá hăng hái và thích thú, Tuyển “vung tay quá trán” không những quá trán mà còn quá cả đầu, vết thương cũ đứt tung chỉ, máu thấm ướt qua hai lớp áo mới hay.
Mong ngày đi qua mau
Nhưng những “ngày vui” đó quá ít và qua quá mau, những ngày dài còn lại chỉ có việc nằm co chịu pháo. – Đ.m. Nó lấy đạn đâu mà pháo lắm thế – nằm yên dưới hầm lâu lâu Tuyển lại lẩm bẩm khi có những viên đạn nổ quá gần; lẩm bẩm như khi ngồi chầu rìa thấy người ta tố mà mình đã biết rõ tẩy. Tuyển cũng biết rõ tẩy của đối phương thứ tẩy sất hạng bét như lỡ tiền nó mạnh quá.. Đ.m.. đạn đâu lắm thế nhỉ, Tuyển hỏi câu hỏi đó hàng ngàn lần trong hai tháng hay 72 ngày…
Nhưng An Lộc địa ngục không phải chỉ ở vòng ngoài nơi Tiểu đoàn 8 Dù ở ngã ba và Xa Cam, An Lộc đúng nghĩa, đúng là ở An Lộc Thị Xã từ phía Bắc Tòa Hành Chánh cho đến B15 ám danh “Khánh Ly”. Từ nơi CTCT đến, Bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 hay cũng là Bộ chỉ huy Tiểu Khu.. Không ngừng nghỉ không ngắt khoảng, pháo không phải vài trái không phải vài loạt, pháo TOT (Tác xạ tập trung bắn từ nhiều vị trí), pháo ngày đêm, trưa, chiều, hỏa tiễn súng cối điểm giọt đổi món và SA7 cầm tay là trò chơi trên không khí dưới đất không còn mục tiêu để đùa. Một tiếng động trực thăng ở trên cao, có thể chỉ là một trực thăng chỉ huy đã ầm! ầm! Bãi đáp cạnh Tòa Hành Chánh,“Khánh Ly”, bãi pháo ngoài ngã ba cùng nổ tung vật vã… Máy bay thả dù phải bay mãi trên cao, trên các cụm mây, phải nối các tầng mây dày đặc mới hy vọng tránh khỏi phòng không và hỏa tiễn tầm nhiệt – Thứ hỏa tiễn nhỏ nhưng độc địa kinh tởm. Thả mười cái dù thì hết 8 cái rơi bên ngoài, sân vận động dài chỉ 100 thước, tàu bay ở cao độ trên 8000 bộ, dù nào có thể rơi xuống được trong bãi thả bằng lỗ mũi… lại phải biến chế thêm điều khiển, dù lái.. Tiếp tế đồ ăn cũng là một điều nguy nan.
Chịu pháo và thiếu thức ăn lâu lâu lại có ngày đặc biệt như đêm 11 rạng 12 tháng 5. Ba mũi dùi mỗi mũi dùi là một Trung đoàn đủ 3 Tiểu đoàn bộ phối hợp với một đại đội chiến xa đánh theo ba hướng Đông Bắc, Tây Nam… Mỗi mũi dùi có một nhiệm vụ riêng nhưng mục tiêu chính của dân cường tập là “Bắt Chuẩn tướng Hưng đem về Snoul bằng xe 2 CV và san An Lộc thành bình địa”. Mục tiêu đầu thì không đạt được nhưng phần sao thì Cộng quân đã đạt đến toàn phần. Bình địa thì không thể nói được vì cũng còn vài bức tường đứng được trên quả đất nhưng có thể nói rằng: Không một vật thể nào còn nguyên hình thù đứng được trên mặt đất. Chiếc xe Jeep, bánh xe bò, cột giây điện, ngay cả một ống đạn đựng nước, cái nón sắt bỏ rơi… Tất cả đều có dấu vết của cuộc đại pháo kích. Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, hơn 8000 quả đạn rơi đầy trên 400 thước vuông, trung bình mỗi thước vuông nhận 20 trái đạn cực mạnh – loại “delay” loại đạn không cần rơi trúng hầm, chỉ cần rơi bên cạnh xong xoáy một độ sâu và nổ bùng… Vách hầm nào chiu đựng nổi loại đạn trên – Trong thị xã chỉ có được 2 cái hầm béton: một của Tướng Hưng, một của Đại-tá Lưỡng và Nhật. Danh tướng Mac Arthur đã dọa Bắc Cao “Nếu tràn qua sông áp lực tôi sẽ cho mỗi khẩu 105 ly giữ 1cs vuông.” Danh tướng lừng danh quân sử Mỹ cũng không tiên đoán được trong tương lai ở một chiến trường tầm thường nơi hóc hẻm của một quốc gia nghèo hèn có được một trận địa pháo với 8000 quả đạn trong 2 giờ trên 400 thước vuông.
Chỉ có ở An Lộc, Tiểu đoàn 5 Dù, Tiểu đoàn ngoại hạng của binh chủng đơn vị khai sinh ra Tướng Ân, Tướng Trưởng, Tướng Nam, Tướng Thi mới bị tổn thất nặng. 4 đại đội trưởng tác chiến, một Tiểu đoàn phó bị thương mà không đụng được một trận ra hồn. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chí Hiếu chỉ việc nằm im dưới 3 thước hầm để đợi ngày qua và pháo dứt. Chỉ ở An Lộc mới có những bộ tham mưu làm việc 24/24 với một “tenu” độc nhất : áo thun, quần xà lõn hay sang trọng hơn : 1 quần nhà binh cắt cụt ống…
Đại tá, Trung tá Nhảy Dù ngồi mơ ước những hạnh phúc “lớn”:
– Moa chỉ cần một cái đùi gà, một đùi gà luộc, nhỏ chừng nầy cũng được. (Ngọc Long đưa 3 ngón tay) xong bỏ ít lá rau răm, chút tiêu, muối và ớt thiệt cay…. rồi bóc! bóc ! hai hộp bia thiệt lạnh. Xong rồi, cọc! cọc! Moa… ăn!
Trung Tá Nhảy Dù, cựu tùy viên quân sự – người đã đi hết nửa vòng thế giới, đã uống champagne ở Table Mandarin – trong bóng tối của hầm chỉ huy ở An Lộc chỉ mơ ước được một miếng thịt gà bằng 3 ngón tay.
Và cũng chỉ ở An Lộc mới có một thương binh gẫy chân đến ngày thứ 31, thịt chỗ bị thương đã nặng mùi, khi trực thăng mới chạm được càng trên lớp đường nhựa anh ta đã “chạy” vọt lên – Chạy bằng hai chân nhanh như một gã lực sĩ điền kinh.
Trên tàu bay chiếc Slick chở con số làm chóng mặt nhân viên An Phi: 18 người. Gã thương binh nước mắt ràn rụa “sửa” lại vị trí của bàn chân – Bàn chân quập vào phía trong khi ống chân chĩa thẳng ra ngoài!!! Máy bay không có xác chết nhưng nặng mùi tử khí.
An Lộc ngột ngạt, chật chội, thụ động; An Lộc là “Túi” mà kẻ vào trong đó chỉ có việc nằm co mình hứng pháo và mất hết khả năng tung hoành vùng vẫy. Không phải đợi đến ngày thứ 72, «Lê Lợi» mới biết được điều ấy, ông biết từ Ngày N+10 của chiến trường lúc ông cùng Quyền lượn trên các cao độ của Đồi Gió để tìm bãi đáp cho cuộc trực thăng vận ngày 14/7 và ông đã thấy đúng kích thước của nó – Cao độ 75, điểm tựa để An Lộc có thể thở, điểm thoát hơi tối cần thiết. Tiểu đoàn 6 Dù cùng Bộ chỉ huy nặng sẽ ở lại đồi nầy với pháo binh – ý định chiến thuật của ông chính xác và tinh vi đã không thực hiện được… Trở lại Đồi Gió, điểm “dứt hơi” hay nút an toàn độc nhất của An Lộc – chính xác hơn của Lữ đoàn 1 Nhảy Dù…
Đồi Gió, nút thoát hơi của An Lộc
Đồi Gió là gì ? ở đâu ? Bên cạnh một An Lộc quá to lớn bởi sự tàn khốc và bi tráng, Đồi Gió quả nhỏ bé và tội nghiệp như dãy cao độ không tên mà Tiểu đoàn 6 Dù đã xuống trong ngày 14/7. Nhưng thật ra đây là điểm chiến thuật đầy tính chất sáng tạo mà chỉ có thể một cấp chỉ huy như Đại tá Lưỡng mới cảm thấy được toàn bộ quan trọng của một vị trí vô danh trong chiến địa trùng trùng… Nếu những xã Tàu Ô, Tân Khai, Xa Trạch, Xa Cam là những nút chận dọc đường 13 mà Cộng quân cố bám chặt theo tiêu chuẩn “chốt cứng chân đứng, diệt gọn, cơ động nhanh. Vây ép bám chặt, đánh chậm, đánh chắc…” Lữ đoàn 1 Dù cũng đã thử lửa vượt qua những chốt cứng này rồi. Không thể được, quân số Lữ đoàn không thể mở rộng tối đa được 1 cây số mỗi bên, và cuộc trực thăng vận là một điều bắt buộc… Nhưng Đồi Gió không chỉ là một bãi đáp, Đại tá Lưỡng thấy nó còn là một điểm tựa, điểm tựa thật nhỏ nhưng vô cùng cần thiết. Giữ được nó, An Lộc có được một sườn phía Đông an toàn, từ đó có thể làm bàn đạp tiến dễ dàng lên hướng Bắc hay rẽ xuống hướng Nam. Dãy cao độ chạy theo hướng Đông Bắc Tây Nam với 3 cao điểm 160, 185 và 140 đã được nhận định đúng kích thước… Tiểu đoàn 6 ND cùng một pháo đội 105 của TĐ3PB Dù có nhiệm vụ giữ điểm tựa… Trong chiến sử có những đơn vị bất ngờ được chọn lựa thi hành những nhiệm vụ quá khổ ; bất ngờ không phải là ép buộc, nhưng tình thế đưa đẩy đơn vị đó hoặc những biến cố ngặt nghèo… Và nó đứng vững trong toàn thể kinh ngạc. Tiểu đoàn 6 Dù, một trong những đơn vị đó – như tiền thân của nó trước kia 6ème BEP đã đương đầu với Sư đoàn nặng 320 Bắc Việt trong một cuộc chạy đua trên trăm cây số núi rừng Việt Bắc.
Kể từ khi Đại đội 62 bước lên Đồi Gió, 18g30 ngày 14/7, có thể nói rằng Tiểu đoàn 6 đã nhận được một số mệnh khắc nghiệt của các lực lượng bộ chiến ở An Lộc. Khi Bộ Chỉ huy mặt trận Bình Long khám phá ra được cuộc trực thăng vận thì tất cả hỏa lực của vùng Bắc và Tây Bắc An Lộc đều hướng về Đồi Gió, ba cao độ rõ ràng như ba điểm chuẩn địa hình, pháo binh địch rơi không chệch một quả xuống chân đồi… Bị thương nhẹ là một điều hạnh phúc. Mong được sống và an toàn là một chuyện quá vô lý… Tao bị thương chỉ mấy mảnh như thế này là khá rồi! Trung Tá Đỉnh, Tiểu đoàn Trưởng ngày giờ đầu tiên đã nhận hai mảnh 75 không giật bắn từ hướng Bắc xuống.
Ngày 15 khi Lữ đoàn cùng 2 Tiểu đoàn 5,8 bắt đầu rời đồi vào An Lộc, Đỉnh ở lại cùng Bộ Chỉ huy nặng của Lữ đoàn gồm Lữ đoàn Phó, Đại đội Trinh Sát 3 Dù và pháo đội 105… Bắt đầu giờ định mệnh của Tiểu đoàn 6, khi bức công điện của mặt trận Bình Long gởi về Bộ Chỉ huy Trung ương cục “01 D Dù Ngụy (Tiểu đoàn Dù) chiếm Đồi Gió, gây khó khăn trong việc chiếm Bình Long phải “diệt gọn” D ngụy với tất cả phương tiện… Chuyển xong chữ chót”.
Đạp đổ định mệnh
Đỉnh cũng không hoàn toàn thụ động dưới cơn mưa đại pháo địch. “Nó phân tán pháo để tập trung hỏa lực để bắn mình. Tại sao mình không phân tán các đứa con cơ hữu để tránh pháo ngoài ra còn phòng thủ lưu động được toàn miền?” Đồi E, Đồi Gió hay cao độ 175 cũng chỉ là một cao độ : Một điểm địa hình quá dễ dàng để “chỉ định mục tiêu” cho pháo binh địch thực hiện liền ý định. Đỉnh cho Đại đội 63 do Hoàng chỉ huy xuống núi đến trấn giữ ngã ba đường 245 Bắc của ấp Srok Ton Cui 64 do Tuấn – Cao Hoàng Tuấn khóa 22 Đà lạt – giữa ấp Srok. Như vậy một sườn phía Đông của đồi còn được bảo vệ thêm một hàng rào … Đồi hy vọng đứng vững ? Đỉnh tự hỏi khi còn một mình dưới hầm trên “E”. Nhưng hy vọng không thể tồn tại lâu hơn được, bản mật văn của Bộ Chỉ huy mặt trận đã có quyết định, Tiểu đoàn 6 Dù thực sự bắt tay với tàn khốc khi toán Tiền sát của Tiểu đoàn Bộ binh BV bắt đầu chạm nặng với 63. Lần mở một dấu ngoặc để nói rõ ý định hành quân của địch: Viên Tư lệnh mặt trận Bình Long (xin hiểu từ đây danh xưng này là của Bắc quân) tưởng rằng BCH/Tiểu đoàn 6 vẫn còn ở ấp Srok, sự suy đoán đây rất hợp lý, vì ấp đã là bãi đáp của ngày 14/7 hai cánh quân 5,8 đã vào An Lộc, thành phần chịu pháo trên Đồi Gió chỉ là pháo binh và lực lượng bảo vệ – Bắc quân rất dễ quan sát các hoạt động của ta vì chúng ở các cao độ Bắc và Tây Bắc An Lộc…
13 giờ ngày 17, súng bắt đầu nổ ở Đại đội 63… Trận đánh tăng cường độ khi trời vào chiều và Bắc quân từ phía Bắc con đường ùn ùn tiếp viện. 63 đánh chậm nhưng chắc… Trời sắp tối, Đỉnh cho 64 lên “giải tỏa” 63. Tuấn dẫn Đại đội đi không chậm một giây, suốt buổi chiều theo dõi trận đánh, Tuấn đã hiểu được việc mình sẽ làm. Ấp Srok – ĐĐ 63 chỉ 600 thước nhưng Tuấn cũng phải mất 5 giờ! Công đồn để đả viện là chuyện thường tình, nên 600 thước ngắn đó vượt qua được trong bóng đêm là một nỗ lực quá lớn, chỉ những người dũng cảm mới làm được … 10 giờ đêm Tuấn bắt tay được với 63; hai Đại đội quây lấy nhau thành vòng tròn.
– Một mình tao nó đánh chưa được, bây giờ có thêm mầy sức mấy tụi mình thua…– Hoàng nói với Tuấn.
– Bắt tay được với mầy là tao quá giỏi….Tụi nó nằm chật đường như dân đi biểu tỉnh, nó không che dấu ý định phục kích.. Tao đoán mầy với tao đang bị với 2 Tiểu đoàn…
– Nó đánh xa luân chiến, nhiều đơn vị thay thế nhau “nhồi” mình… Mới ba ngày vào đây đã thấy khó.
Đỉnh ngồi ở E thở được hơi dài sau 9 giờ ngồi trực máy, khi nghe được hai Đại đội bắt tay được nhau..
Khổ hai thằng nhỏ đêm nay sức mấy ngủ được. Sẵn có một phi tuần Daisy cutter (ngắt hoa cúc) thứ ngắt hoa bằng vũ khí tinh độc CBU… Đỉnh hướng dẫn đánh ào xuống phía Bắc ĐĐ 63. Tiếng bom reo trong đêm nghe kinh dị nhưng cả Hoàng và Tuấn đều đồng thanh báo cáo:
– Đúng rồi! Đúng rồi, xin 12 (Tiểu đoàn trưởng Đỉnh) cứ tiếp tục gần hơn nữa mới bung tụi nó ra được…
Lính của Đại đội 63, 64 suốt đêm không ngủ được, dựng dứng tròng hai mắt để chơi trò chuyền banh cùng Bắc quân qua con đường đá 245 với bề ngang 6 thước. Banh của mỗi lần giao nhau là một trái lựu đạn.
Ngày 18, 63 và 64 được lệnh trở về đồi. Đỉnh bảo Hoàng và Tuấn báo cáo kết quả sơ khởi của đêm chạm súng.
-Trình với 12, không thể đi đếm xác tụi nó được, nó chết dài dài từ dưới ấp lên đây, hầm nào cũng có 2, 3 thằng, toàn là trung liên nồi, có cả hai cây K54, như vậy chắc có 2 thằng Đại đội trưởng hay Tiểu đoàn trưởng chết…
-Ừ, thôi vậy, các toa về đi, moa cho thằng 1 (ĐĐ 61) xuống thế vùng.. Cố giữ được một đêm là giỏi lắm. Quốc Tuấn gắng lên…
Ngày 18, ngày tương đối bình yên; pháo hơi dứt, lính bắt đầu ra khỏi hầm để nhìn về phía An Lộc…
– An Lộc đó hả?
– Ừ, cháy hoài, cháy cả mấy ngày rồi!!
– Mình ở đầy thế mà “sướng”!!
Tiểu đoàn 6 ở Đồi Gió không “sướng” một chút nào hết vì những giờ ngắn bình yên của ngày 18 qua quá mau. Ngày 19 tưởng cũng là ngày tốt, ngày hên, sắp sửa “được” tải thương và tiếp tế thì pháo địch xuống… Bắc quân phục hận trận đêm 17 và đã biết rõ Bộ Chỉ huy 6 Dù ở lại đồi chứ không phải dưới ấp Srok… Pháo mờ trời !! Đỉnh cố gắng dịch cho cố vấn Peyton cái thành ngữ đặc biệt để nói rõ cường độ của cơn pháo… Peyton trước kia là cố vấn phó của TĐ5 Dù, và Đỉnh cũng là Tiểu đoàn phó ở đây.
– Lúc trước tôi và “Sir” đều Thiếu tá và cùng chung chức vụ phó bây giờ “Sir” là Trung tá, tôi không thể mầy tao như kỳ Tiểu đoàn 5 được. – Peyton đi đường giáo khoa thư dưới mặt đất rung rinh trong khi Đỉnh đang cứ giật bắn ngưòi vì đạn pháo binh ta bị pháo kích chạm nổ.. Tiếng nổ phụ là gì nhỉ? Tiên sư lúc muốn nói thì nhớ không nổi!! Nhớ làm sao nổi được dưới cơn giông bão đại pháo đến từ nơi xa và “Tiếng nổ phụ” của hơn ngàn đạn 105 chỉ cách 50 thước đang nổ dây chuyền…
– Cái gì nổ quá lớn vậy “Sir”.
– Tiếng nổ phụ… mẹ, quên rồi, giờ nầy cứ “xơ” với “múi” đến khổ. Đạn pháo binh mình đấy Peyton.
– Yes, sir. – Đúng truyền thống Ăng-lê, Peyton điềm nhiên tỉnh táo thưa gởi trước mỗi câu nói…
– Ầm! – một tiếng thật sát vào miệng hầm, Peyton bắn vào vách, đúng hơn bị dán sát vào vách.
– Sir, tôi bị thương.
– Biết rồi, nói mãi…
Đỉnh lục túi lấy băng cứu thương cá nhân mình băng cho Peyton, lòng thầm nói: Tiên sư, mình có số “sát” cố vấn, chẳng thằng nào ở quá một tuần!!
Tiếp tục, tiếp tục, hột lạc E méo mó, nhăn nhúm và vỡ nát dần, 6 khẩu 105 chưa một lần khai hỏa bị bóc nát từng mảnh nhỏ ; đạn nổ, đất rung… Đồi E, Đồi Gió hay cao độ 175 nằm im dưới 1 ngày hay 24 giờ chịu pháo : Chỉ mới là pháo binh, một tiểu đoàn cùng một pháo đội bị trói cứng, mỗi giờ qua độ cứng càng cứng thêm chặt… 32 người bị thương! Đỉnh lẩm bẩm hoài trong miệng “Tiên sư có đánh được gì đâu… Có đánh được gì đâu…” Đánh được, đụng với bộ binh địch là ước vọng “cao đẹp hạnh phúc lớn” của Đỉnh.
Đồi Gió đổi tên
21:00 giờ của ngày 19 được đánh dấu bởi quyết định của «Lê Lợi» : TĐ6 không còn nhiệm vụ giữ pháo nữa, chỉ còn nhiệm vụ giữ cao địa, Tiểu đoàn trưởng toàn quyền quyết định… Pháo còn đâu nữa, để giữ, chưa đầy 48 giờ mất 6 khẩu pháo và ngàn quả đạn, bây giờ ở lại đây làm gì ? Dọt, Đỉnh dẫn 62 xuống đồi hướng về phía Ấp Srok, nơi đang có 61 lập vị trí, để lại đồi 2 ĐĐ 63 và 64 cho tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng trấn giữ.
Vinh “con” ào xuống như núi lở. Cộng quân bung ra, khép lại, Vinh tiếp tục lấn.. Chân Đồi Gió và Ấp Srok lại kẹt thêm cái suối Rô, Vinh cựa quậy khó khăn dưới đám lau sậy, ruộng sũng nước…
– Nó bâu tôi như đỉa, dứt không nổi anh Năm.
Vinh hét với Đỉnh trong máy… Tối quá, chỉ có sờ ngực áo mà đánh lưỡi lê thôi… quên, sờ nón sắt mà nhận bạn. Nhưng dù Cộng quân cố chận bằng mấy lớp hàng rào người, 11 giờ đêm Vinh cũng rờ được cái ấp… nơi Đại đội 61 đang giang tay chờ từ lúc trời chập tối. 400 thước từ chân đồi đến người lính gác của ĐĐ 61, thành phần của Tiểu đoàn 6 đi mất 3 giờ, ba giờ thêm một số thương binh vì lưỡi lê và mảnh lựu đạn của 400 thước cận chiến!
Bây giờ, 0 giờ, giờ của ngày 19 bước qua 20, Cộng quân không phải là chỉ một thành phần, một cánh quân, nhưng là một lũ người, một lớp sóng người chen vai thích cánh, lố nhố đầy chân Đồi Gió, chân đồi phía Tây lẫn chân đồi phía Đông
Cộng quân tràn ngập đường 245 như trẫy hội, Cộng quân bao quanh ấp SrokTon Cui như đám người đói cây quanh vị trí phát chẩn…
Không phải là một cuộc điều quân để chuẩn bị tác chiến nhưng là một chợ người lộn xộn, ồn ào, la hét để tìm đơn vị, chuyển lệnh.
– Ngày hôm nay máy bay Ngụy nhiều quá! – Đ…m mày, sao mầy không bắn ! – Tao chỉ có AK. – AK thì AK bắn cho Ngụy sợ…
Trong này Đỉnh thì thầm liên lạc với các Đại đội trưởng 61, 62, và 60:
– Các toa dặn lính đừng bắn, tụi nó đi đâu cho nó đi, chỉ bắn khi nào nó tấn công vào mình mà thôi.
– Chúng tôi nhận hiểu. – Cả ba Đại đội trưởng đều thở dài. Lấy gì mà bắn nữa!!
Nhưng dù vô trật tự đến đâu, Cộng quân cũng tập hợp lại được hàng ngũ. 3 giờ sáng tiếng kèn thúc quân vang lên lồng lộng… Xong rồi, tụi nó dứt mình.
Tiếng kèn thúc quân xoáy trong đêm, vang dọc theo đường 245. Bỏ mẹ, nó bố quân cả ba cây số đường dài. Đỉnh run tay khi nghe hiệu lệnh từ đầu đến cuối hàng quân.. Đồng thời từ phía Bắc đầu đường 245 có tiếng động cơ máy nổ, ánh đèn pha quét ngang dọc trong bóng đêm. Tăng T54, Bắc quân “dứt điểm” Tiểu đoàn 6 Dù không nương tay…
3giờ đúng, Đồi Gió bị tấn công trước. Tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng, mặt sắt đen sì, con người quá khổ, chậm rãi, điềm tĩnh và hùng tráng như một hiệp sĩ thời cổ đứng ra khỏi hầm, điều khiển 2 Đại đội 63, 64 phản công.
63 của Hoàng, 64 của Tuấn. Hai Đại đội đã thử lửa với Bắc quân từ ngày 17, hai Đại đội trưởng “tới” quá mức, dũng cảm như những thiên thần tung hoành trên đầu lũ quỷ say máu. Tất cả đều ở tuyến chiến đấu, không còn khinh binh, Tổ trưởng, Trung đội trưởng, Tiểu đoàn phó… Chỉ còn một hàng ngang theo giao thông hào, điểm phân biệt người chỉ huy là tay nói máy chuyển lệnh tay ném lựu đạn. Hai Đại đội chỉ trừ những ngưới chết hoặc bị thương mê man, thương binh chỉ tạm băng qua vết thương, đứng hoặc dựng lưng vào thành giao thông hào để chiến đấu.
4 giờ, trong bóng tối ngã mầu tím của ngày sắp đến, 4 chiếc T54 chia từ hai hướng Đông và Đông Bắc bắt đầu lên đồi, lính tùng thiết Bắc quân chạy lố nhố theo sau để tính bề diệt gọn. Trăng thượng tuần gần sáng dọi sáng ánh trăng lạnh xuống sườn đồi vằng vặc, khối sắt đen lóng lánh tiến dần vào cùng động cơ vang ầm ĩ, ngọn đèn vẫn giữ nguyên độ sáng ở vị thế “pha”, luồng sáng dọi thẳng lên đồi hỗn xược, thách thức.. Hai chiếc T54 đầu tiên bò lần lần từng thước đồi dựng đứng.
– Để tao thanh toán nó, chính tao bắn cho chắc. – Tuấn đứng hẳn khỏi giao thông hào, kéo chiếc ống M72 cơ hữu (trên nguyên tắc chỉ khinh binh mới có M72). Rút hết các chốt an toàn.. Tách 1 sợi giây an toàn cuối cùng đã bị đứt, Tuấn đưa chiếc hỏa tiễn lên vai, nheo mắt.. 100 thước, còn xa, 80 thước hơi xa, 50 thước đủ ! Tuấn bị lóa bởi 2 ngọn đèn dọi thẳng mặt… Ầm! quả hỏa tiễn đập thẳng vào giữa hai điểm ánh sáng, hơi chếch cao một chút, trúng ngay pháo tháp… Chiếc thứ 2 tăng tốc độ hú tiếng lớn nhấc một cái lên tuyến phòng thủ. Hạ sĩ I Nhu, Tiểu đội trưởng can trường không kém Đại đội trưởng nhẩy vội lên pháo tháp, quả lựu đạn phát nổ sau khi Nhu vừa kịp nhẩy xuống. Hai chiếc T54 của phía Đông thì do chính Hoàng và một Binh 1 bắn hạ.. Cộng quân dạt lui xuống chân đồi để đại pháo rưới thêm một lớp, lớp thứ 6 kể từ lúc khởi trận đánh.
Ngày tới với ánh sáng cùng cơn mưa pháo thứ 7, đỉnh đồi bây giờ tan hoang, điêu tàn và bốc khói, khói của đạn địch và khói của đạn ta cháy dở… “Hột lạc” dài 300 thước ngang 70 thước, hứng 2000 quả đạn trong một đêm với vị trí dã chiến, ngày dọi ánh nắng rọi rõ cảnh tan nát. Tiểu đoàn phó Bằng bị “tung” một mắt, Tuấn hứng nguyên một quả 75, quả đạn nổ ngay trên thân thể người sĩ quan trẻ tuổi. Tuấn mới 23 tuổi – Số tuổi quá nhỏ đem so với chiến trường nặng độ. Đồi Gió nay được mang tên mới: đồi “Quốc Tuấn” danh hiệu truyền tin của Tuấn. Cao Hoàng Tuấn, nhắc đến tên hiệp sĩ thời đại mới một lần chót.
Băng vội con mắt đẫm máu, Bằng nghiến răng, nhướng cặp mắt còn lại giữ vững đồi cho đến đợt tấn cộng thứ 16. 12 giờ trưa ngày 20, Bằng kiệt lực, xuôi tay bỏ rơi chiếc combiné gọi Hoàng đến:
– Thay moa, đem 2 Đại đội về 169 (Tây Nam đồi Quốc Tuấn với một cái “yên ngựa” chập chùng trên 2 cây số đường rừng rậm). Nhớ đem theo hết thương binh, tụi chết phải chôn lại…
Vĩnh biệt chiến hữu, vĩnh biệt Tuấn, vĩnh biệt Đồi Gió – đồi Quốc Tuấn, địa danh quá lạ và quá nhỏ bên cạnh An Lộc ngút trời. Địa ngục nào cũng có một thứ lửa – Lửa nào cũng nóng và thiêu đốt sinh linh.
Mọi con đường đều dẫn đến An Lộc. «Lê Lợi» không còn đường vùng vẫy, cao độ phía Đông Nam, “điểm tựa” của An Lộc điểm sáng tạo của bộ óc chiến địa hạng nặng trở lại vẻ hoang vắng của núi rừng, khói vẫn bốc cao trên đất đá điêu tàn.
Sống như là chiến đấu
Trở lại ấp Srok Ton Cui, Tiểu đoàn 6 hay đúng nghĩa hơn 3 Đại đội 60, 61, 62 lính pháo binh với 70 thương binh nặng nhẹ. Đỉnh vuốt mặt, những sợi râu tua tủa từ ngày 11 đến bây giờ – 11 giờ đêm của tối 20 – chạm vào tay nhắc nhở đến một điều: mình phải sống và chiến đấu để bảo tồn đơn vị… Nhưng đánh bằng cách nào? và lấy gì để đánh ? Đạn đại liên, M72, lựu đạn hết. XM16 chỉ còn 20 viên của những người ít “đụng” nhất. Kể từ khi cánh quân của Bằng và Lữ đoàn bỏ đồi “Quốc Tuấn” cùng đỉnh 169 thì mặt Tây của Đỉnh lạnh, lạnh cứng, như cái kềm ép chặt gọng… Bắc quân chiếm 2 cao địa, trí một giàn 75 sơn pháo và cứ “một yếu tố” với một mục tiêu : ấp Srok Ton Cui…
– Nghiêm à, không lẽ đời mình tàn ở đây sao? – Đỉnh thì thào với Nghiêm khi thấy “tên” nầy đang nhồi nhồi trái lựu đạn ở tay… Đỉnh để tay lên trái đạn của mình, hơi thép lạnh làm nhói cơn đau trong tim.
11 giờ đêm, trăng lại quá sáng, rừng cây thưa lóng lánh ánh trăng. Đỉnh tìm đủ cách để liên lạc cùng «Lê Lợi»… Sau một hồi lần mò, Đỉnh vào được một tần số – hệ thống tiếp vận của Mỹ ở núi Bà Đen… Lại phải thêm một màn thông dịch đến “mờ người” Đỉnh mới “chớp” được tần số của «Lê Lợi». Hai người cách nhau 5 cây số đường chim bay nói chuyện được qua đài trung gian, cách hơn 100 cây số.
– Sẽ có 3 “line” B52 đánh xuống chỗ anh, cách anh 500 thước thôi, ở ba hướng Bắc, Đông và Nam, xong theo hướng Đông Nam đến bờ sông Bé có trực thăng về… Gắng lên đời anh và tôi chỉ có một lần.
– Tôi nghe rõ «Lê Lợi», tuy nhiên chỉ cho xin một điều : Sau khi B52 đánh xong thì tôi dọt. «Lê Lợi» cho bắn khoảng 8 quả khói ở phía Đông Nam để tụi tôi biến đi, trăng quá sáng và tụi “Hải Tặc” (Bắc quân) vây tôi không hở một kẽ…
– Nghe rõ anh, nhưng chưa chắc có cái màn khói đó cho anh, pháo ở đây tiêu hết rồi…
– Tôi nghe rõ…
Đỉnh bỏ máy, dọi ánh đèn hạt đỗ xuống tấm bản đồ nhàu nát. Các Đại đội trưởng và Nghiêm cùng chúi đầu vào. Đỉnh run run bàn tay đặt ngón tay út xuống chỗ chữ “Srok Ton Cui”, ngón tay hướng về phiá Đông Nam… hướng Sông Bé. Không có sông Bé ở tờ bản đồ nầy, nó ở tờ bên cạnh ! Nghiêm lẹ tay lật thêm tấm bản đồ… Một, hai, ba gang tay đi trên miếng giấy mầu xanh ngoằn ngoèo những vòng cao độ vàng… rừng và đồi . Hai gang, ngón tay cái mới chạm phải vạch xanh xanh : Sông Bé – 30 cây số đường thẳng, bao nhiêu cây số trên mặt đất ? Đỉnh mở to hai mắt, đôi mắt thường ngày long lanh đẹp đẽ nay nóng đỏ khô khan lướt qua khuôn mặt những người thân tình… những khuôn mặt phờ phạc dưới trăng lóng lánh những đồng tử toé lửa… 30 cây số đường rừng, đi được đến không? Bờ sông Bé, nghìn trùng nơi cuối trời!!
– Các toa về bảo lính chia đạn cho nhau, mang theo hết thương binh, đi hàng một, mgười nầy theo lưng người kia, 62 đi trước đến 60 và pháo binh. 61 đi cuối. Vinh lựa thằng dẫn đường phải thật giỏi… Hướng Đông Nam, lấy phương giác cho chính xác…
– Như vậy để em đi khinh binh luôn Trung Tá, tụi nó đi lạng quạng là bỏ mẹ…
Ba “line” B52 đánh ập xuống như cơn địa chấn. 200 thước đối với bom chiến lược là không có thước an toàn nào cả…
– Xong rồi, xin «Lê Lợi» màn khói. – Đỉnh liên lạc lại một lần nữa với Lữ Đoàn…
– Khói không có, thôi anh dọt đi…
– Tôi nghe.
Đất còn nồng mùi lửa, rừng còn nóng mùi bom, khói trộn tro than bốc lên ngùn ngụt trên nền trời trong xanh… Tiên sư sao trời sáng quá ! Sao trời không có mây che mặt trăng nhỉ ?… Lần đầu tiên trong lịch sử binh chủng : Đại úy Đại đội trưởng làm khinh binh số 1, Thiếu Tá sĩ quan hành quân làm khinh binh số 2 và Trung Tá Tiểu đoàn trưởng làm khinh binh số 3…
Vinh, Nghiêm, Đỉnh theo thứ tự dẫn đầu hàng quân, một hàng dọc hướng về Đông Nam. Mười phút sau khi binh sĩ cuối cùng của Đại đội 62 rời khỏi ấp, một trận bão pháo từ 10 vị trí cùng tập trung xuống Srok Ton Cui và một đoàn tăng từ phía Đông để đèn pha dọi sáng rực, đè bẹp lên cây rừng dàn hàng ngang đâm vào ấp…
Khởi đi từ 0lg42 phút, cánh quân của Đỉnh liên tiếp bị phục kích thêm 2 lần nữa, đi theo suối thì bị Bắc quân, đi trên cao độ thì sợ bại lộ, từng người một nối đuôi dìu nhau đi trong cuối đáy tuyệt vọng… 17g00 ngay tại một trảng trống để đợi trực thăng móc về Tiểu đoàn bị thêm một cú “dứt” thứ 3… Hướng Đông Nam: An toàn khu nơi đặt Bộ Chỉ huy tiền phương của mặt trận Bình Long.
Phục hận
Tan hàng, 17g ngày 21 tháng 4, lần tan hàng đầu tiên của Tiểu đoàn 6 Dù sau 18 năm thành lập nhưng sau khi tan hàng thì phải “cố gắng”… châm ngôn binh chủng bảo thế. Nên Đỉnh và các Đai đội trưởng đã cố gắng hết mình, cố gắng quá cỡ, cố gắng dạy tân binh vừa được bổ sung, tháo ráp và tác xạ XM16, cố gắng dạy cách ném lựu đạn, cố gắng dạy di chuyển và ngụy trang….Một tháng ở Lai Khê, tiểu đoàn cắn răng, ngậm miệng xây dựng lại mỗi người lính, cấu tạo lại từng Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, một tháng giữ đường, giữ căn cứ. Ở đâu đâu cũng huấn luyện, đâu đâu tập cũng “điều động dưới hỏa lực”.
Ngày 3 tháng 6, Đỉnh đứng chào Trung tướng Minh tại trung tâm hành quân Lai Khê xác định lại ý định của đơn vị :“Thưa Trung tướng chúng tôi sẽ cố gắng”. Tiểu đoàn 6 “cố” thêm một lần chót và chớp lấy vinh quang bốc lửa : “giải tỏa An Lộc”. Ba ngày, 6 cây số đường từ Xa Trạch đến Xa Cam. 6 cây số “chốt cứng” kẹp chặt An Lộc hơn 2 tháng, Tiểu đoàn 6 “ào” mà đi trong 3 ngày, “ào mà đi, vừa đi vừa bắn, đừng cho tụi nó ngóc đầu, thanh toán hầm bằng lựu đạn”. Tiểu đoàn trưởng, Đại đội trưởng, khinh binh dàn thành một hàng ngang quét một nhát qua 6 cây số đường rừng bắn tung 300 công sự phòng thủ của 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 275, CT17, 90% lính Bắc chết tại hầm, không có dịp nhìn đựợc mặt “lính Nhẩy Dù” trước khi đi hết đường «Sinh Bắc Tử Nam».
Về 45 phút chót của chiến trường, Đại đội 62 của Vinh “con”, lại Vinh con “dứt nọc” hết 65 tên của 2 Đại đội C7, C8 đúng chữ “dứt nọc” với một người được sống sốt. Tù binh Nguyễn văn Tiền.
Đúng 17g15 ngày 8-6 Vinh đứng lên mặt đường nhựa, ngã ba vào Xã Thanh Bình (đồn điền Xa Cam) bắt tay Ni (Tiểu đoàn 8 Dù) đơn vị cực Nam của An Lộc.
– Xong rồi, mày và tao xong việc, ai về nhà nấy!!
Viên cố vấn Mỹ nước mắt đầy má vì hãnh diện run tay khi chụp tấm hình lịch sử của An Lộc….
“Tôi chỉ xin có một điều báo với quí vị: Tiểu đoàn 6 Dù đã bắt tay với An Lộc”. Chuẩn tướng Hậu Tư Lệnh SĐ21, kiêm Tư lệnh lực lượng giải tỏa An Lộc, trong đó Tiểu đoàn 6 là thành phần tăng phái đã nói câu trên để mở đầu và kết thúc buổi họp tại Lai Khê lúc 16 giờ cùng ngày…
Chiến sử An Lộc còn nhiều. Rất nhiều, không phải mỗi cá nhân nói hết được, phải có một ủy ban, phải viết ngàn ngàn trang giấy… Trong cấp thời, chỉ với một đơn vị tăng phái, viết về An Lộc đã thấy đủ hết cay đắng cũng như hùng tráng ngập trời… Chỉ mới một đơn vị. Tương lai gần khi tiếng súng dứt chúng ta trở lại An Lộc nơi lịch sử sẽ phải nhớ và ngậm ngùi. Đất cao cả vinh quang không phải cho một người, một đơn vị, một quân lực… An Lộc là của chúng ta, của quê hương bi tráng anh hùng.
Đầu đề bài viết không phải do người viết đặt ra nhưng là lời của Trung tá Nguyễn văn Đỉnh Tiểu đoàn trưởng TĐ 6 Nhảy Dù nói với các Đại đội trưởng trong buổi họp ngày 2 tháng 6 tại Lai Khê trước khi được trực thăng vận vào bản Động Lô thực hiện nhiệm vụ liên kết An Lộc. Nói rõ hơn : “Bắt tay” với Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn Nhảy Dù đang giữ cửa ngỏ An Lộc tại xã Thanh Bình hay đồn điền Xa Cam.
Từ Đồi Gió trở về với quân số 125, mười sáu năm chiến đấu Tiểu đoàn bị ngất ngư lần đầu… Trả hận dịp này đây mình lại đứng dậy chiến đấu nữa, số 6 bị ngã xuống lật ngược thành số 9. Vào An Lộc chiến sử sẽ ghi rõ danh hiệu Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù VN.
Và, cái bắt tay lịch sử diễn ra lúc 17g15 ngày 8-6-72 giữa ĐĐ/62 của Tiểu đoàn 6 do Vinh “con” Đại đội trưởng và ĐĐ/81 của Nguyễn Trọng Ni, cả hai đều chung Đại đội ở trường BB/TB thuộc khóa 20 SQTB. Nước mắt chảy đầy má vì sung sướng và hãnh điện, viên cố vấn Mỹ run run tay, chụp một tấm hình khi hai đứa siết tay nhau.
Khi một Trung Tướng chào ở thế nghiêm
– Em cố gắng giúp qua vụ này, chỉ có em mới giúp qua được, năm nay em mấy tuổi, nhiệm chức hay thực thụ?
– Thưa Trung tướng, tôi 33 tuổi, Trung tá nhiệm chức được một năm, năm Tiểu đoàn sau trận Hạ Lào.
– Qua sẽ xin với Trung tướng Đống cho em coi sư đoàn phó một SĐ BB. Anh Lương (Tham mưu trưởng QĐ III) lấy tên, cấp bậc số quân của Đỉnh “chạy” Trung tá thực thụ.
– Cám ơn Trung tướng, tôi sẽ cố gắng.
– Em cố gắng giúp qua cú này là cú chót, bắt tay được với An Lộc là mình thắng, nếu không là mình bại. Vấn đề giản dị chỉ có 1 hoặc 2. Chỉ riêng chuyện em đã trở về được trên trận Đồi Gió, làm qua cảm phục và Saluer, riêng em.
Trung tướng Minh đứng thẳng người chào Đỉnh, người thua 5 cấp bực và cách xa bao nhiêu nấc thang chức vụ. Đỉnh đưa tay chào lại, sự kiện diễn ra quá nhanh vượt ra khỏi sức tưởng tượng trái hẳn hết lề lối chỉ buy, đẳng cấp và nhiệm vụ quân đội…
– Thưa Trung Tướng, tôi sẽ cố gắng, tôi cố gắng hết mình.
– Thưa Trung Tướng, tôi tin “thằng em” này làm được. – Chuẩn Tướng Hậu, Tư lệnh sư đoàn 21, chỉ huy toàn thể lực lượng giải tỏa nói.
An Lộc trong đó Tiểu đoàn 6 Dù chỉ là thành phần tăng phái nhỏ, nhấn mạnh từng tiếng: Thằng này sẽ làm được. Câu nói được nhắc lại thêm một lần.
Đỉnh bước ra khỏi phòng hành quân, anh còn bàng hoàng vị sự kiện xảy ra quá bất ngờ vượt mọi lý luận. Mình làm được?
Từ Đồi Gió trở về, thiệt hại nặng nề như tấm lưới thép bao xuống, đơn vị rũ liệt và điêu đứng 125 người còn lại sau những ngày kiệt lực. Tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng bị thương, mất Tuấn, Đại đội trưởng xuất sắc nhất và binh lính mỏi mệt rã rời. Bây giờ đơn vị được bổ sung lại nhưng quân số 412 với 3/4 tân binh, tân binh tàn tệ nhất của các thứ tân binh. Tân binh chưa kịp học tác xạ XM.16, chưa biết ném lưu đạn huống gì biết bắn các thứ vũ khí mới như XM.202 hoặc M72 tân cải, rồi lại thêm thành phần đào binh, quân phạm, quân phạm từ sĩ quan đến binh sĩ, quân phạm với tiền án trầm trọng vừa được đại xá,
Buổi họp các Đại đội trưởng được cấp tốc thành hình.
– Các toa thấy đấy, bên trái là Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9, bên phải là Trung đoàn 33. – Đỉnh chỉ tay lên tấm bản đồ kéo dài 1 đường dọc theo Quốc lộ 13 từ xã Thanh Bình hay là Xa Cam về Xa Trạch hay ấp Đông Phát. Hai lực lượng này suốt tháng nay bị kềm chân và tiêu hao, họ bị thương hoặc thiệt hại.
Không tản thương được, lương thực thiếu, tiếp tế thả dù lạc ra ngoài vùng, họ không thể tiến được vì những trở ngại vừa rồi. Ông Hậu và Trung tướng Minh quyết đinh dùng Tiểu đoàn mình vào An Lộc không cần phải vào hẳn, chỉ cần đến ở đây: Xa Cam bắt tay với thằng 8 (Tiểu đoàn 8 Dù) là được… Thằng 8 ở đây hơn một tháng đợi Lin-kup (tiếp xúc) nhưng chưa xong gì được, nhiệm vụ mình là đó.
– Trung tá, chỉ riêng một Tiểu đoàn mình thôi? – Nghiêm (sĩ quan ban 3) hỏi trong cau mặt.
– Có thêm ba đại đội bộ binh thuộc Trung đoàn 15 nữa mình dẫn đến giao cho ông già nó. Bây giờ tao là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn Đặc nhiệm 6 chứ không phải Tiểu đoàn trưởng nữa. –Đỉnh nói câu khôi hài để làm nhẹ bớt không khí căng thẳng, không có tiếng cười, dù một tiếng cười nhẹ.
– Như vậy cũng chỉ là một mình mà thôi. – Tùng (Tiểu đoàn phó) thì thầm với nụ cười gắng thành hình nhưng không được.
– Đó là nhiệm vụ “tay tổ” cơ hội bằng vàng đó mấy cha.
– Vàng thiệt hay vàng giả anh Năm?
– Vàng ròng, vàng 21 ca-ra, nhưng thôi, mình vững tin và quyết tâm mới được. Tân binh dù sao cũng được huấn luyện suốt tháng nay. Ngày nào mình cũng dạy tụi nó hết…
– Mình có dạy thật, nhưng có thằng nào được bắn thử một viên đạn đâu, mình chỉ “dạy khô” thôi, có thằng là Nhân dân Tự vệ, đưa nó khẩu XM 16 nó cứ bắn cặp nách như Thompson. – Vinh “con”, Đại đội trưởng thêm vào câu chuyện với khuôn mặt khờ trân.
– Không can gì, tập riết thế nào cũng được. Chắc ngày mai mình “go” nếu không có gì thay đổi và thời tiết tốt. Các toa về còn được phút nào hay phút đó, cứ tập tháo gỡ và bắn bằng miệng dạy từng tổ một và đi kiểm soát đều đều… Tan hàng, nhớ đừng cho đi chơi, dạy nữa, mình đánh để trả hận vụ Đồi Gió.
Ngày 3 tháng 6, trời mưa, trần mây thấp và gió nặng hạt. Tiểu đoàn hoãn cuộc trực thăng vận, lính lại chúi đầu vào nhau trong lều, từng Tiểu đội trưởng chỉ vẽ những động tác sơ khởi khi ném lựu đạn và các thủ lệnh căn bản khi di chuyển. Đại đội trưởng đội mưa đi từng lều một để kiểm soát.
Ngày N hướng 6.400 An Lộc
10 giờ sáng ngày 4, đại đội 61 nhẩy xuống gần Động Lô cách Quốc lộ 1, 8 cây số về hướng Tây, chiếc thứ nhất xuống an toàn, chiếc thứ hai đang hovering trước khi đáp bị một băng phòng không đốn ngã, khối sắt chở 42 người rơi xuống như tảng đả lật chổng gọng trên bãi rộng sũng nước. Lính ùa nhau theo cửa đuổi chạy ào ra như đàn chuột bị hun khói. Chạy về phía Bắc rừng cao su. Lộc, Đại đội trưởng mồm hét tay ngoắt, đạn phòng không trên trời vút đi nghe như gió rít qua rừng đầy lá.
Phần còn lại của Tiểu đoàn đổ xuống một bãi phụ cách 61 một cây số hơn.
12g30 Tiểu đoàn tập họp đủ tiến về hướng Bắc rừng cao su ấp Đức Vinh. 61 dẫn trước TĐ đi như chạy như có điều gì thúc dục. Lộc dẫn Đại đội di chuyển nhanh kỳ lạ, lính nặng nề dưới ba-lô cố gắng theo Đại đội trưởng. Nhanh lên, nhanh lên tiên sự phải vào An Lộc – Lộc thúc dục đại đội chạy trong khu rừng trụi lá. Trời chiều mưa nặng hạt, rừng cao su hoang vắng, cây khô đen vì bom lửa, lá xanh đã rụng hết trơ cành, khẳng khiu trên bầu trời xám tối. Tiểu đoàn đợi ở Đức Vinh nhận ba đại đội của Trung đoàn 15.
– Các ông đi đằng sau, mọi chuyện TĐ tôi lo hết. – Đỉnh nói với viên Thiếu tá chỉ huy toán quân này.
– Đúng hướng Bắc đó, bảo Lộc (Đại đội 61) cứ ào mà đi như ra cửa máy bay đó. Đi đi cưng.
Tiểu đoàn 6 đội mưa vút qua rừng bốc sương lam. 7g trời tối, hàng cây đã bắt đầu chồng vào nhau lẩn trong ánh sáng thấp thoáng.
– Trình 64 (Đỉnh) đi nữa hay ngừng. Lộc ở đây hỏi ý kiến.
– Nữa, đến Đức Vinh 2 thì ngừng, chờ gần cái suối đó.
– Em hiểu, Lộc ép quân về hướng Đông.
Súng nổ AK và trung liên lẫn với B40 ở đầu hàng quân.
– Có gì không, bảo Lộc báo cáo! – Đỉnh chớp vội cái ống liên hợp trên tay người lính.
– Xong rồi, em cho tụi nó gặp Phương Hoài Tâm (chết) rồi!
Cuộc chạm trán quá ngắn, tân binh lần đầu tiên chạm địch thiếu kinh nghiệm chiến trường, chưa sợ đạn nên lao thẳng vào toán tiền vệ của địch. Thật buồn cười, đi lính càng lâu lại nhát, chẳng ai nói thánh tướng gì được. Đỉnh bật cười khi nghe Lộc báo cáo chuyện thằng VC bị thằng tân binh đánh chết bằng báng súng.. “Trình 64 thằng nhỏ của tôi thấy không bắn kịp, nó nhào hẳn vào tụi nó luôn”!
Đóng quân ở Đức Vinh 2 cách An Lộc đúng 5 cây số đường chim bay. Mở máy vào hệ thống Lữ đoàn nghe được từ Tiểu đoàn 8:
– Tới chưa, đợi các ông hơn tháng rồi. Sắp tới, mai hay mốt thôi, phe ta bắt tay nhau, gắng nghe không, tụi này kẹt lắm.
– Biết rồi, gắng hết sức… Gồng mình mà chạy…
Có những tiếng xì xào to nhỏ chung quanh người nói máy:
– Tiểu đoàn 6 mình sắp tới rồi. – Những tiếng nói hân hoan từ một địa ngục im lặng.
Ngày 5 tiếp tục hướng Bắc, vượt suối Sa Cát đóng quân bên cạnh Quốc lộ, con đường hoang vắng vạch một vạch đen thẫm trên mặt đất màu đỏ máu. Rừng im vắng, trên đường lác đác lỗ chỗ túi gạo sấy, áo quần, nón khăn của người chạy loạn và người chết…. Người chết rải rác, chết sấp ngửa tênh hênh đen kịt và căng cứng. Dân bị pháo cản đường không cho chạy Chơn Thành, Bình Dương của những ngày trước. Dưới cơn mưa nắng của bao ngày hơi xác chết bốc lên hừng bực đầy kín. Tiểu đoàn ụa khan nôn oẹ suốt trong đêm “Đ..M… CS ác thật, lần này tui mới thấy dân bị chết vì tụi nó” Người tân binh chửi thành tiếng, những xúc động bùng nổ trong lòng.
Ngày này năm xưa
Ngày 6-6 hôm nay định mạng, ngày 6-6 ở Normandie ngày dài nhất. Tiểu đoàn mình là TĐ6. Ba lần 6 là 18 cộng lại thành 9 nút, số tốt. Số 6 cũng là số 9 đang thành bình, cái gì đang thành hình mới hay, đầy đủ quá thì phải đi xuống. Hy vọng gặp địch, mình “dứt nọc” tụi nó. Đỉnh luận một màn với Bộ Chỉ huy trước khi tiến quân.
– Anh Năm “luận” nghe ngon quá ta! – Vinh xuýt xoa khen.
– Nâng bi sao em, thôi đi, 64 và 61 qua đường trước bố trí theo hướng Đông đợi lệnh.
Hai đại đội 64 và 61 rời khỏi khu đóng quân xếp hàng song song bên ven đường. Gần 200 con người đi như ánh sáng quét vội trên mặt đường lẫn nhanh vào khu vườn phia Tây. Nhào vào nữa, vào sâu hơn nữa, hai Đại đội trưởng hét qua máy xua quân theo một hướng Tây Đông.
61 và 64 vừa bố trí xong 62 dẫn BCH/TĐ qua tiếp theo dàn quân về hướng Bắc. Vinh “con” vừa rải một trung đội thì súng nổ, nổ ở hướng Tây hướng tiến quân…
– 63 bọc xuống phía Nam không cho tụi nó chạy. 61, 62, 64 giăng hàng ngàng đánh từ Đông sang Tây, bao giờ đến đường này thì thôi… Hàng ngang và đánh thật nhanh…
– Nghe rõ, 1,2,4 cùng xếp thành một hàng rào người, rừng cao su dễ thấy điều động không khó… Hàng ngang chưa? Rồi. Sửa soạn, mày tiến thì bảo tao. Ừ. Bắt đầu. Ba đại đội trưởng 1, 2, 4 chuyển lệnh liên lạc hàng ngang thẳng với nhau…
– Đ.M tao dạy di chuyển thì phải làm sao! Nhìn trái phải và quân bạn, bắn về phía trước, ngang bụng để tụi nó không ngóc đầu được.
Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng la hét như quạ để điều động tân binh. Và tân binh đúng như danh từ xác định dưới thúc hối của cấp chỉ buy, không sợ hãi, không hấp tấp, từ từ chắc chắn học bài học di chuyển dưới hỏa lực lần đầu tiên trong đời với chiến trường có thật. Ba đại đội tiến như cơn gió từ Đông sang Tây, xong trở hướng từ Nam lên Bắc.
Pháo địch bắn như trút, mặc, cứ tiến về phía trước. Tiến quá nhanh nên pháo chỉ rớt ở sau lưng! Bị thương ném lui, để lại chỗ Đại đội chỉ huy, chính Tiểu đoàn phó Tùng (đã bị thương) thâu nhặt và bảo vệ… Ba Đại đội cứ ào về đằng trước. Đánh chớp nhoáng, đánh kiểu “bích kiết”của tụi Đức, đánh ào tới, đánh ào tới, bảo lính vừa đi vừa bắn, đừng cho tụi nó ngóc đầu dậy được. Đỉnh ở hàng đầu với khinh binh hét như sấm,
Thanh toán bằng lựu đạn hầm nó chắc lắm…
Đỉnh vừa chạy vừa điều động ba đại đội 61, 62, 64, ào đi như luồng gió lùa. Chấm dứt, bắt đầu lúc 8g sáng và bây giờ là 12g. Ba cây số trì trợm, đè hòn đá nghiệt ngã lên danh dự quân lực và quốc gia bị Tiểu đoàn 6 bứng khỏi trong cuộc chạy tấn công không một giây khựng lại.
Năm giờ đồng hồ chiến đấu với thành phần lính ngoại hạng lần đầu tiên được bắn XM 16. Tiểu đoàn thiệt hại ở con số thần tiên: 1 chết 63 bị thương. Tiểu đoàn địch chết 90% tại hầm. Thấy chưa, tụi mày đã thấy chưa, tân binh hay cựu binh gì cũng thế. Tất cả đều là do mình. Đỉnh nhấc máy tập họp đại đội trưởng đấu vung tán tàn.
– Trung tá Trung đoàn 33 ở sau tịch thu được 57 và 82 ly.
– Không cần, mình lấy súng để tế cái mả bố à…! Thương binh chưa tải thương được lấy chiến lợi phẩm làm gì?
Tiểu đoàn đóng quân phía Đông quốc lộ. Trung đoàn 15 bộ binh bên trái. Trung đoàn 33 sau lưng, trước mặt chỉ khoảng một cây số là Tiểu đoàn 8 và sau lưng cách một khoảng trống: An Lộc với Tòa hành chánh ba tầng ngói đỏ, đường vào thị xã trấn bởi hai chiếc xe nám đen. An Lộc nằm trong tầm nhìn với độ điều tiết thật nhỏ. Trời mưa như trút, lính chiếm cộng sự phòng thủ của địch chỉ cần kéo xác chết ra ngoài và vào thay chỗ. Hà hà, mình được VC làm chỗ ngủ khỏi đào hầm. Lính vui như Tết chạy từ hầm này sang hầm khác để kháo chuyện.
– Đánh giặc dễ, Thiếu úy há.
– Dễ lắm, như rút thuốc hút vậy thôi… Tụi mày là tân binh ngoại hạng.
Mười hai giờ đêm Tiểu đoàn bị đánh thức vì tiếng động lạ trên đầu, tiếng động cơ trực thăng. Tia sét chạy ngoằng ngoèo trên trời vạch đường sáng soi rõ một cánh quạt qnay tít…
– Ái nữ, đây Phi Long!
“Ái nữ, đây Phi Long” Chuẩn tướng Hậu dùng danh hiệu liên lạc cũ. Phi Long: Tư lệnh Phó Sư đoàn Nhảy Dù và Ái nữ là nghĩa đen của nó: con gái cưng!
Đỉnh biết ý chớp liền máy liên lạc trực tiếp:
– Trình Phi Long tôi nghe.
– Tốt! “Đại sư huynh” khá lắm, tụi nhỏ cũng khá nữa. Thằng Nghiêm (Sĩ quan ban 3), thằng Vinh, Quang và…. Tùng có khá không? (Tùng bị thương ngay lúc đầu trận đánh, đã lò cò nhảy theo Tiểu đoàn trên 3 cây số đường rừng)…
– Trình Phi Long tụi nó đều tốt cả, ngày mai chúng tôi cố gắng tản thương hết thì nhẹ gánh làm gì cũng được.
– Tôi sẽ cho anh đủ. Gửi lời thăm luôn thằng Thạch Phanh, nó là Trung sĩ của tôi trước, lúc tôi là T/úy ở Tiểu đoàn này…
– Nghe rõ Phi Long.
– Thôi chào anh em, cố gắng đi, Nhảy Dù là cố gắng.
Chiếc trực thăng đảo thêm một vòng trên vị trí đóng quân trước khi hướng về Lai Khê. Sét vẫn chớp liên hồi trên bầu trời đen kịt ầm ĩ tiếng động.
Ngày 7, chỉ còn một mục tiêu chót, điểm phòng thủ ở giữa 8 và 6 nằm bên phải đường. Tiểu đoàn 6 tạm dừng quân tải thương nhận tiếp tế. Tiểu đoàn 8 thử bung ra để bắt tay với 6.. Địch phản công mạnh, ta phải rút về, thiệt hại đôi bên ngang nhau. Lê Lợi (Lữ đoàn trưởng LĐ/1 Dù ở An Lộc) cho lệnh 8 trở về lại vị trí cũ. Mục tiêu để dành luôn cho vinh quang chót với nụ hoa rực rỡ nhất: Bắt tay An Lộc. Định mạng đã định như thế.
Bài học tác xạ với bia thịt người
Theo đường chim bay Tiểu đoàn 6 cách Tiểu đoàn 8 đúng 1 cây số và thị xã An Lộc 1800 thước. Tất cả đáp số của chiến trường Bình Long nằm trên một ngàn thước đất còn lại này giữa binh nhất Phương thuộc trung đoàn 1 đại đội 62 và người lính gác giặc cực Nam của đội 81 : Nối được hai người lính này là hoàn thành một lời hứa. Chứng tỏ năng lực chiến đấu của người lính VN và sự sụp đổ tinh thần những đầu cổ đặc cứng cố chấp cuồng si.
Hôm nay là 8 tháng 6, ngày kỷ niệm thành lập chánh phủ lâm thời của mặt trận ! Sự trùng hợp oái oăm của thất bại và tan vỡ, chánh phủ lâm thời sẽ trình diện làng nước tại An Lộc. Ngày hôm nay, những người lính Nhảy Dù phá tan “hy vọng” chót của ngày đẹp đẽ. Hy vọng của những Tổng Bộ Trưởng đi xe 2CV từ mật khu qua Snoul, Lộc Ninh về An Lộc.
Không còn nơi đến cho chuyến đi ảo vọng đó nữạ. Lính Dù đã chiếm chỗ trước. 8g, Vinh “con” xua ĐĐ 62 “Clear” từ Đông sang Tây trước khi trở bộ về hướng Bắc (mục tiêu chính). Có sự lạ xảy đến: Một loạt hầm hố mới đào theo sườn đồi chạy dài theo hướng Bắc Nam, đất đỏ mới nổi bật trên lớp đất cũ nâu sẫm…. (Cộng quân đã bôn tập vào đây lúc 22g đêm và hoàn tất hệ thống giao thông hào lúc 5g sáng định đánh phục thù trận ngày 6-6).
– Trình 64 (Tiểu đoàn trưởng) tôi thấy có một hệ thống giao thông hào mới cách tôi khoảng 500 thước. – Vinh đứng trên đồi nhìn xuống thấy được rõ ràng… duới chân đồi, con đường xe lửa cũ hằn một đường đất đầy cỏ dại.
– Đợi đó tao cho thằng 63 bọc bậu cái đã, mày và thằng 61 sẽ xuống núi một lần.
– Nhận rõ 64…
– Theo chiến thuật ngày hôm kia, vừa đi vừa bắn, đừng cho tụi nó ngóc đầu lên… sát đến hầm đánh bằng lựu đạn, coi bạn bên trái bên phải trước khi bước lên.
Đại đội trưởng nhắc Trung đội trưởng. TĐT chuyền xuống tiểu đội, và lính xì xào bàn tán với nhau : Đánh như ngày hôm kia, nhớ nhìn tao trước khi đi.
8g 45, khi 63 và 64 làm xong thành phần chận bít về hướng Nam. 61 và 62 đồng loạt khai hỏa và “cứ như ngày hôm kia”. Xung phong. Xung phong. Tiếng hét, đạn nổ: M26, M76, M72 nổ chêm vào như pháo trống. Hai đại đội C7, C8 Cộng quân không còn được một dịp ngửng đầu để nhìn kẻ thù trước khi tan thây vì tạc đạn. Lính ào từ đồi xuống như cơn lốc. Cộng quân “tan hàng” di tản theo “chiến thuật chạy”. Cứ hai người một, từng cặp bị cột với nhau bằng một xích. Những thân người loạng quạng bỏ giao thông hào leo lên đường rầy chạy tản ra đồng trống…. Bỏ ba-lô! Bỏ ba-lô đuổi theo không cho một thằng thoát. Lính Tiểu đoàn 6, lính tân binh “thâm niên công vụ 16 ngày” bỏ ba-lô, quăng nón sắt cặp súng đuổi theo dự trò Marathon do Tử Thần tổ chức… Bắn thằng kia, đoành, một xác người vật xuống trên vũng sình lầy của giòng suối Quản Lợi, thân người còn lại cố kéo thây ma để thoát thân, một loạt đạn nữa. Người thứ hai vật xuống…
Cuộc thực tập tác xạ chấm dứt khi những thân bia thịt sống ngã xuống nằm chật đồng lầy. Hai đại đội C7 và C8 chỉ còn một người sống sót: Tù binh Nguyễn văn Tiền. Súng cối từ An Lộc bắn ra kết thúc bài học. Dải ruộng xanh mạ non dọc theo giòng suối biến thành những cây mạ hồng. Diệt gọn “chốt” cứng, chận đứng diệt gọn, cơ động nhanh. Vây ép, bám chặt, đánh chậm, đánh chắc. Cộng quân đã đưa ra những tiêu chuẩn để giết người. Lính ta vô tình biến thành những người thực hành đúng những châm ngôn trên. Hai đại đội bị “dứt nọc” sau 2gl2, người còn lại là tù binh sống sót được vì tê liệt cấm khẩu do kinh hãi quá độ ngất trong giao thông hào. Nhắc lại tên y một lần để xác nhận một tan vỡ tàn khốc: Tù binh Nguyễn văn Tiền.
Thừa thắng xông lên, Vinh trở quân đánh vào mục tiêu hướng Bắc. Mục tiêu chính nằm ở ngã tư đường vào đồn điền Xa Cam. Vinh tiến chậm, im lặng vào từng giao thông hào, từng công sự – Địch bố trí theo hướng Đông Tây không có chiều sâu. Xây lưng về hướng Bắc (TĐ 8) 100, 80, 50, 40 thước, Vinh thấy một dẫy lưng áo kaki Nam Định xoay về mình. Một nụ cười nhạt thếch được kéo lên… Hình ảnh bốn ngày Đồi Gió đêm theo suối trốn về phương Nam. Hình ảnh Tuấn (Đại đội trưởng 63) tan vỡ dưới đạn 75 ly trực xạ. Tiểu đoàn phó Bằng vỡ mắt, mặt đẫm ướt máu… Bắn! Một đại đội cùng khai hỏa… Toàn thể vũ khí đều để “auto”. Những tấm lưng thịt người nẩy lên, nghe được tiếng kêu của đạn đi qua thân người ngập vào đất, đất đã đỏ hóa đỏ tươi, đỏ gắt, đỏ ướt. Địch tháo chạy về hướng Tây gặp 63 của Thái Tường. Đúng là tên định mệnh. Một cái tường. Lính 63 đuổi theo bén gót súng bắn chỉ thiên mồm la lớn. Lính chơi trò cút bắt trên sườn đồi xuôi đỗ xuống thung lũng máu. Lính Tiểu đoàn 8 cách đó 600 thước đứng dậy khỏi hầm vỗ tay tán thưởng cuộc chạy đua bất đắc dĩ…
17gl5 Vinh “con” bắt tay Hồng Ni của Tiểu đoàn 8 cách tấm bảng Đồn điền Xa Cam 100 thước và trước mặt An Lộc đang bốc khói nấu bữa cơm chiều…
18 giờ ở Lai Khê, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu bước vào phòng họp Hành quân để nói một câu:
– Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đã “bắt tay với thằng 8 Dù”.
Và ông đi ra cửa kết thúc buổi họp.
Trên chiếc trực thăng bay đến An Lộc, ông nói chuyện với Đại tá Luỡng, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 1. Người ta nghe được câu nói sau:
– Coi tụi con tôi đánh có đẹp không? Đại tá Lưỡng hỏi Hoàn Mỹ (Chuẩn tướng Hậu).
– Không, không thể nói chúng nó đánh đẹp được, phải nói quá đẹp. mà cũng không được nữa, phải nói lỗi lạc và phi thường!
Nhưng theo tôi món quà “đẹp” nhất, rạng rỡ nhất là ở câu nói nầy: lính Nhảy Dù mở được đường rồi, mình về Chơn Thành, Bình Dương. Câu nói của người dân An Lộc.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.