Bánh Ướt Minh Châu

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 1 03, 2019
Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Tối đói bụng, chạy ra Lê Văn Sỹ kiếm gì ăn. Chợt thấy xe bánh ướt Minh Châu. Nhớ lần đầu tiên cách đây đã năm mươi năm, mới từ Đà Nẵng vô Sài Gòn đi học, được ông anh ruột dẫn đi ăn ở đây, hồi dó ăn sao mà ngon thế. Lúc ấy xe bánh này đậu trước rạp xi nê Minh Châu. Khu vực này trước 75 sầm uất lắm, hàng quán đủ thứ, nghêu sò ốc hến, hột vịt lộn, khô nướng, lại có tiệm hủ tiếu bò viên nổi tiếng. Ông chủ xe bánh ướt là người Hoa, bắt đầu bán vào buổi chiều. Tui còn nhớ như in dáng người to cao của ông, nhất là cái đầu chải láng mướt, phồng phồng đàng trước như một anh kép cải lương. Bánh ướt hồi đó ngon nhờ nước chấm, ngòn ngọt, hơi chua một tý chứ không như bây giờ. Ớt xay cũng ngon, có chế thêm tỏi bằm chứ không chỉ xay như giờ. Mỗi bàn có chai nước nắm và hủ ớt, khách muốn ăn bao nhiêu thì chan. Tui nhớ tui thường chan ngập bánh, cho nhiều ớt, vừa ăn vừa húp sao mà ngon thế, nhớ tới tận giờ. Sau đó thời kỳ lang thang héo úa ở đường Trương Minh Giảng, tui cũng thường thưởng thức món này khi trong túi rủng rỉnh chút tiền còm bởi món này là món ăn bình dân rẻ tiền. Thời nghèo khó cũng đã nhiều lần đi ngang qua mà không ngồi lại vì trong túi đã khô cạn máu chẳng còn dính một xu, ngang qua chỉ ngửi mùi.

Sau 75 thì chẳng mấy khi ăn và gần bốn chục năm nay không ăn lại. Giờ thì xe bánh đẩy qua bên kia đường, khách vắng tanh. Tối nay mua một dĩa, để nhớ người anh thương yêu không còn ở cõi trần, để nhớ một quãng đời đã đi qua và mong tìm lại hương vị của một thời. Nhưng mùi vị cũ không còn, nước chấm không còn vị cũ, hủ ớt cũng chẳng là chất ớt xưa, nhìn dĩa bánh tú hụ mà chẳng tìm thấy hương xưa. Ông già Tàu chắc cũng chẳng còn, người bán toàn là khuôn mặt lạ. Gần nửa thế kỷ đi qua còn gì, biết bao là bể dâu, biết bao là thay đổi. Nhìn dĩa bánh nhớ anh quá, nhớ ngày thằng thanh niên mới lớn ngỡ ngàng trước những cảnh vật, những món ăn lạ lẫm của Sài Gòn, nhớ chiếc xe gắn máy của anh, người Luật sư trẻ tuổi chở tui đi cho biết Sài Gòn. Tất cả đã xa quá rồi, vật đổi sao dời, cậu thanh niên ngơ ngác ngày xưa giờ đã là ông lão chớm tuổi bảy mươi, người thân lần lượt ra đi, người anh thân yêu đã nằm dưới ba thước đất. Tối nay ngồi nhìn dĩa bánh mà muốn khóc, năm tháng cũ ùa về. Em nhớ anh, anh ơi!
1.1.2019
DODUYNGOC

Đứng Lại

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 24, 2018

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Hắn đang đi trên đường. Phố chật. Mùi xăng, mùi người, mùi cống rãnh, mùi rác rưởi, mùi khói xe bay lên nồng nặc. Tất cả quyện lại, hoà lẫn vào nhau thành mùi trần gian. Hắn còn ngửi thấy mùi nắng, khen khét trong không khí. Hắn buồn nôn. Có một cái gì đó cựa quậy trong bao tử, muốn trào ra. Hắn vẫn đang đi. Trên vỉa hè. Bây giờ người ta chạy xe lên luôn ở vỉa hè nên hắn vừa đi vừa né. Đi trên vỉa hè cũng chẳng khác gì đi trên lòng đường. Còn phải tránh những viên gạch vỡ. Nhiều lúc cả đống gạch vỡ. Năm nào người ta cũng lót gạch vỉa hè mới, sao chúng mau vỡ thế? Chẳng bù hồi xưa. Hắn lại nhớ ngày xưa. Hắn tiếc. Giá như cho trở lại ngày xưa, hắn sẽ sống khác bây giờ. Đương nhiên rồi. Bây giờ hắn sống kỳ cục quá. Mà cả xã hội kỳ cục chứ phải mình hắn đâu. Giờ thì không còn chọn lựa. Ừ! Cứ thế mà sống cho đến hết đời. Hắn quẹo qua một ngã tư, mấy hàng cây cụt đầu không còn bóng mát. Người ta đang muốn chặt hết cây cối trong thành phố này. Phố không có cây như người ở truồng, trông nham nhở tợn. Hắn mỉm cười với ý nghĩ này. Và hắn chợt nghĩ giá như bây giờ tất cả mọi người đều trần truồng đi giữa phố nhỉ? Chắc là vui. Ai to ai nhỏ, ai lớn ai bé, ai rậm rạp ai trơn láng đều lồ lộ ra hết. Nhưng mà cả thế gian trần trụi thì lại chẳng có gì đặc biệt, vì ai cũng trụi lủi như nhau. Thế thì chẳng vui, chẳng có chi khác biệt. Hắn đốt một điếu thuốc, rít một hơi thật sâu và rồi hắn muốn đứng lại.

Hắn muốn đứng lại, không muốn đi nữa. Đứng lại hẳn ở vị trí này. Đứng lại không phải vì mệt mỏi, không phải vì chán đi. Mà chỉ vì muốn đứng lại. Thế thôi. Hắn sẽ nhìn từng người đi ngang qua. Hắn sẽ nhìn từng chiếc xe đi ngang qua. Hắn sẽ quan sát người cảnh sát giao thông bên góc ngã tư làm chuyện mà ai cũng ghét nhưng rồi ai cũng tình nguyện làm khi phạm lỗi. Hắn sẽ phân tích thủ thuật bỏ tiền vào túi của anh công an. Anh chàng này nghĩ rằng sẽ không ai thấy, nhưng hắn thấy và thấy rất rõ. Ở cuộc đời này chẳng ai dấu diếm được điều gì, không người này biết thì cũng có kẻ khác thấy he..he. Hắn sẽ đứng đó nhìn qua bên đường để nhìn cô gái khá đẹp mặc cái váy ôm bó sát người để lộ cái mông to. Cái mông gợi tình, cái mông khiêu khích đàn ông và cái mông khiến hắn suy nghĩ về cái nằm sau lớp vải căng cứng đó. Nghĩ đến đó, hắn quay mặt đi, cảm thấy ngượng với ý nghĩ dâm dục của mình. Nếu tưởng tượng thêm chút nửa, phần dưới của hắn sẽ căng cứng. Không được thế. Hắn nhìn vào ông già sửa khoá bên vệ đường. Ông ta đang dũa chiếc khoá kẹp trong cái ê tô. Ông làm với một vẻ say sưa. Dũa vài đường, ông lại thổi bụi, mở lấy cái chìa khoá, ngắm ngắm, soi soi. Đời hắn chẳng bao giờ say sưa làm việc như ông già ấy. Cả đời hắn làm việc gì cũng hời hợt, chẳng chú tâm. Hắn sống chẳng đam mê, chẳng khát vọng, chẳng ước ao, chẳng mục đích. Sống là sống cho qua ngày, thế thôi. Hắn hờ hững với chung quanh, có thể cho hắn là kẻ ích kỷ, cũng đúng. Vì hắn chẳng quan tâm đến ai và cũng chẳng mong ai quan tâm đến hắn.

Hắn vẫn đứng bên đường. Hắn vẫn chưa muốn đi. Hắn đứng lại không phải vì chân mỏi, cũng chẳng phải chán đi. Chẳng qua hắn muốn đứng lại. Hắn đã nhìn và bây giờ hắn cũng chán nhìn. Đầu hắn giờ trống rỗng, chẳng còn một ý nghĩ. Những thứ cứ như trôi tuột đi.

Đúng lúc ấy thì hắn nghe tiếng xe rú. Tiếng bánh xe siết thắng kéo trên mặt đường một thứ âm thanh ken két. Có tiếng thét, tiếng la ở phía sau. Rồi hắn thấy có bóng một chiếc xe lướt nhanh qua trước mặt hắn. Đằng sau một đám người rú xe đuổi theo. Rồi bỗng dưng có một vật gì ném về phía hắn. Hắn chụp lấy theo bản năng và ôm vào lòng theo quán tính. Chưa kịp xem đó là vật gì thì hắn thấy cổ áo hắn bị tóm lấy, siết mạnh. Có một cái chân ai đó gạt mạnh vào chân hắn, hắn té chúi nhủi. Vật hắn đang ôm văng ra. Cái kiếng cận thị cũng văng ra. Hắn bỗng thấy cảnh vật lờ mờ. Có ai đó quặt hai tay hắn vào sau lưng. Đau điếng. Mặt hắn gục xuống hè phố, hắn thấy có cát trong miệng. Lại có cánh tay ai đè đầu hắn xuống. Hăn muốn hét mà cổ họng đông cứng. Hắn muốn ngẩng đầu lên để xem chuyện gì đang xảy ra mà không ngóc đầu lên được. Có tiếng người xôn xao: Thằng này là đồng bọn của bọn cướp mà không kịp thoát. Lại có người cao giọng hét lên từ bên kia đường: Đồ ăn cướp, đánh chết nó đi. Hắn vùng vẫy, càng vùng vẫy hắn có cảm giác tê buốt cánh tay, đầu như muốn vỡ tung và thân người như ai bóp vặn. Hắn hiểu mang máng là người ta cho hắn là thằng ăn cướp vì hắn đang cầm tang vật vụ cướp trong tay. Hết đường chối cãi.

Hắn đang ở trong đồn công an, tay bị trói quặt ra sau bằng chiếc áo sơ mi của hắn. Chiếc áo vừa thay hồi sáng để đi dự lễ khai giảng. Hắn ở trần, những chiếc xương nhô ra, xương ở hai hốc vai giương lên nhìn thảm hại. Trên người hắn có mấy vết bầm.
Một người mặc sắc phục công an bảo hắn:
– Có giấy tờ tùy thân không?
– Trong túi quần
– Lấy ra xem
– Tay tôi bị trói thế này thì làm sao tự lấy được. Các anh cứ lầy mà xem
Anh chàng công an cười hô hố:
– À quên, tay mày bị trói thì làm sao lấy ha..ha
Chiếc ví được lấy ra, y rút ra những giấy tờ của hắn. Đầu tiên là cái chứng minh cong queo, hắn chợt nhớ cái giấy này đã hết hạn cả năm rồi, hắn định làm mà lần lữa mãi. Anh chàng công an nhìn vào tấm ảnh trong giấy, rồi ngước nhìn hắn, gật gật.
Anh ta rút tiếp một thẻ nữa, và đọc rồi hất hàm:
– Giảng viên đại học lại đi ăn cướp, hay đấy. Phải báo cho bọn nhà báo mới được.
– Tôi chẳng ăn cướp. Tôi chỉ là kẻ đứng bên đường
Anh ta trợn mắt:
– Không ăn cướp mà đứng đó cả gần tiếng đồng hồ để chờ đồng bọn.
– Tôi chẳng có đồng bọn nào cả, chẳng qua là tình cờ thôi
– Người dân ở đấy nói với chúng tôi là anh đứng đó lâu lắm, mắt thì láo liên chẳng khác chi kẻ cắp. Anh chối sao được. Camera ở đó cũng có hình ảnh của anh.
Hắn có suy nghĩ là tay này khi biết hắn là giảng viên đại học thì có vẻ bớt căng thẳng và tôn trọng hắn chút chút vì đã xưng hắn bằng anh thay vì mày như lúc đầu. Giọng hắn mạnh và cương quyết hơn:
– Các anh nghĩ sai rồi. Tôi là giáo viên, tôi vừa đi dự lễ khai giảng từ trường về. Tôi làm sao là kẻ cướp được. Các anh phải biết suy nghĩ chứ. Tôi sẽ kiện các anh đấy.
– Ha…ha kiện à? Xin lỗi anh nhé. Giáo viên là cái đéo gì mà không thể là kẻ cướp. Thầy gíao thời nay là ở thu nhập ở tầng cuối của xã hội đấy hê…hê. Bây giờ xã hội này ai cũng có thể là quân ăn cướp cả. Kể cả giáo viên.
Hăn vươn tới, gào lên:
– Anh nói đúng, ngay những người quyền cao chức trọng cao quý hơn cái nghề giáo viên của tôi cũng là kẻ cướp đấy. Cuộc đời này bây giờ toàn kẻ cướp, nhưng phải chừa tôi ra, biết không? Phải chừa tôi ra.
Hắn gục đầu, cảm thấy nhục và tức tối. Tự nhiên bị cái chuyện thị phi oan ức mà không cãi được. Hắn thèm một điếu thuốc. Hắn tiếc cái mắt kiếng bị bể một tròng. Hắn giận mình sao lại đứng đó làm chi.
Tay công an bỏ đi bàn bạc với ai đó. Hắn nghiêng đầu trên mặt bàn. Có giọt nước mắt chảy xuống. Hắn uất. Tình ngay lý gian. Hắn lơ mơ chẳng biết bao lâu thì anh chàng công an trở lại. Y đi vòng sau ghế, cởi trói cho hắn.
– Thôi thì xem như bỏ qua cho anh. Chúng tôi xét thấy hình như anh chẳng liên quan với đám cướp
– Các anh bắt lầm người thì phải xin lỗi tôi chứ đâu phải muốn bắt thì bắt, muốn tha thì tha. Luật pháp ở đâu mà kỳ lạ thế.
Tay công an đâp mạnh tay lèn bàn, dí sát đầu gần mặt hắn, cười khẩy:
– Thế bây giờ anh muốn gì? Muốn về hay muốn ở nhà giam. Đây chẳng hề biết xin lỗi ai. Luật là ở trong tay chúng tôi, nhớ lấy điều đó.
Rồi y ném cho hắn chiếc áo. Chiếc áo nhăn nhúm. Hắn mặc vào và đi ra cửa sau khi nhận lại chiếc ví.
Ra đến cửa, tay công an níu tay hắn lại hỏi:
– Nè anh, tui cứ thắc mắc là anh không dính dáng chi bọn cướp, thế sao anh lại đứng cả giờ đồng hồ ở đấy nhìn qua nhìn lại làm gì? Sao anh không đi? Anh có bị tưng không vậy?
– ANH KHÔNG HIỂU ĐƯỢC ĐÂU? CHỈ VÌ TÔI MUỐN ĐỨNG LẠI.
Tháng 3.2017
DODUYNGOC

Đình Thạc Gián – Đà Nẵng

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 9 03, 2018

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Hôm trước có viết một bài về Bàu Thạc Gián, còn có tên là Bàu Lác. Nơi tui có nhiều kỷ niệm lúc tuổi còn bé. Một ông bạn già của tui đang định cư ở Canada nhắn về bảo rằng ở Bàu Thạc Gián có cái đình to lắm, sao không nhắc tới. Ừ! Đúng rồi, nói đến vùng Thạc Gián, nhắc tới Bàu Thạc Gián mà không đề cập đến cái Đình Thạc Gián là chưa đủ bộ, vẫn còn thiếu thiếu, bởi Đình Thạc Gián là một trong những di tích lâu đời của vùng đất này, là niềm tự hào của người dân đất ấy. Nên phải nhắc cho cháu con, cho thế hệ đời sau biết để giữ gìn và tôn tạo.

Thời còn bé, tui cũng thường đến đình này chơi. Đình nằm gần Bàu Thạc Gián. Hồi nhỏ, đối với tui, đây là nơi trang nghiêm nên dù rất nghịch ngợm, khi đến đây tui luôn có một sự tôn kính. Tui thích nhất là khoảng sân trống trước đình, trồng hai hàng mù u cao tít. Thuở bé thấy gì cũng rộng, cũng lớn nên tui vẫn hình dung cái sân ấy mênh mông trong trí tui cho đến bây giờ. Thời thanh niên, tui đến đó, nghe chim hót, lá xào xạc từ những bụi tre trong xóm gần đấy, nhìn màu xanh mát mắt của cỏ cây, lòng thấy thanh thản với những ý nghĩ thánh thiện. Có lẽ vì vậy mà có một thời tui gần gũi với kinh kệ và ham đọc sách về giáo lý nhà Phật, khoái đọc sách Thiền. Lượm những trái mù u làm những viên bi để chơi bắn bi, cho mấy đứa em gái chơi đồ hàng, lại ngửi mùi là lạ của tinh dầu mù u phát ra từ trái, lại thấy vui vui. Lại nghe dầu mù u dùng được chữa nhiều bệnh, nhất là những bệnh về da nên càng khoái lượm về để đầy hộc tủ.

Được biết, căn cứ theo lời của truyền thuyết và các văn tự, văn bia… còn giữ được, Làng Thạc Gián vốn ban đầu có tên là Thạc Giản và nhiều cách gọi khác như Thạch Giản, Thạch Gián là mảnh đất được khai phá sớm, vào khoảng nửa thế kỷ XV, hình thành sau khi vua Lê Thánh Tôn mở mang bờ cõi đất nước về phương Nam vào năm Canh Thìn – 1470. Ngài Huỳnh Văn Phước đã từ miền Bắc là người chiêu tập dân binh vào khai khẩn vùng đất Thạc Gián. Lần lượt các bậc tiền nhân của các Tộc Nguyễn Ngọc, Tộc Lê, Tộc Ngô, Tộc Phạm, Tộc Trương, Tộc Trần đã tiếp tục khai canh, khai cư xây dựng nên làng Thạc Gián.

Trong quá khứ, Thạc Gián là một làng rộng. Cho đến đầu thế kỷ XIX, địa giới: Đông giáp làng Hải Châu và thẳng đến Vũng Rong; Tây giáp làng Xuân Đán, vịnh Đà Nẵng và Nam giáp các làng Bình Thuận, Liên Trì (nay thuộc phường Hòa Thuận Đông, Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu).

Ngày xưa, khi chưa có đường đèo Hải Vân, từ Huế vào Đà Nẵng phải đi bằng đường biển. Một đường vào cửa Thanh Bình, theo lạch lên bến sông trước đình Thạc Gián. Một đường vào cửa sông Phú Lộc, đi qua Quán Cơm, rồi đến vùng Thanh Lộc Đán ngày nay.
Như tên gọi, địa danh Quán Cơm là nơi có quán cơm cho khách bộ hành vãng lai. Cửa sông Phú Lộc xưa nước trong xanh, tương truyền, khi Cao Bá Quát qua đây, nhìn cảnh sắc lạ lùng, bảo: Đất nước mình phong phú thật, ngay sát cửa biển lại có một vùng Thanh Khê (khe nước xanh), trong khi ở Trung Hoa thì trên núi mới có.

Sau khi thực hiện công cuộc khai khẩn, khai canh, khai cư hoàn tất, khi cư dân bước đầu có cuộc sống ổn định. Các vị tiền hiền làng Thạc Gián lúc đó đã kêu gọi cư dân xây dựng Đình Làng Miếu Vũ nhằm đưa hồn thiêng quê cũ vào vùng quê mới. Thực hiện tín ngưỡng Thờ Phụng Tổ Phụ, Tổ Mẫu, Anh hùng dân tộc, các Bậc Tiền nhân, Tiền hiền. Đình được dựng lên từ ý tưởng ấy.

Ban đầu, ngôi Đình xây dựng bằng tre; nằm riêng trên một khu đất giáp với bàu sen, gọi là bàu Làng, nối với biển Thanh Bình bằng một con lạch nhỏ. Đời Minh Mạng (1819-1040) được làm lại bằng gỗ, mái lợp tranh; Năm Tự Đức thứ Bảy (1854) các bậc kỳ lão trong làng đã đứng ra vận động nhân dân trong làng kiến tạo lại ngôi Đình bằng gạch, mái lợp ngói âm dương; năm Duy Tân thứ Ba (1909), dân làng lại cùng nhau góp sức tôn tại Đình.
Vào năm Khải Định nguyên niên (1916) dẫn làng một lần nữa lại góp công tu sửa Đình do bão tố làm hư hại.
Đình làng Thạc Gián có diện tích rộng hơn 2.000mét vuông, giờ đây lọt thỏm giữa khu dân cư đông đúc tại con hẻm nhỏ gần ngã ba Cai Lang, thuộc Tổ 5, Phường Chính gián, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.

Trải qua mấy trăm năm tồn tại, qua bao biến cố của thời cuộc, tàn phá bởi thời gian và mưa nắng, quần thể di tích gồm đình làng, nhà hồi hương, nhà trù, miếu âm linh – những nét độc đáo của văn hóa làng ở Đà Nẵng vẫn còn nguyên giá trị. Nhà hồi hương đấu lưng với đình làng, có ba bộ cửa thoáng đãng, từng là nơi hội họp của các bậc kỳ lão, hương thân, chức sắc trong làng. Khi đình còn tranh tre thì nhà hồi hương được gọi là dịch trạm – nơi dừng chân ngơi nghỉ của quân lính đưa văn thư hoặc các quan từ Huế vào.

Mái đình lợp ngói âm dương, bờ nóc được trang trí hình “lưỡng long triều nguyệt” ghép bằng sành sứ, các bờ góc được trang trí hình rùa và phượng. Diềm mái hiên gắn đĩa men lam Huế. Đình có hai bộ phận kiến trúc chính là nhà chính điện và hậu tẩm nối liền phía sau.

Đáng chú ý ở trước sân đình, hai bên bình phong có cặp voi phục được xây bằng gạch, vôi vữa chầu vào chính điện. Về phía Đông Bắc của đình là miếu âm linh, phía sau đình có một nhà hồi hương được xây dựng bằng gạch, vi kèo, đòn đông bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, nền lát gạch… Nơi đây, ngày xưa là nơi hội họp của các bậc kỳ lão, hương thân, chức sắc. Hai gian tả, hữu mọi người dự họp tùy theo thứ bậc, tuổi tác mà ngồi trước hoặc sau. Đây là nơi để các vị chủ tế, bồi tế, học trò gia lễ, các chấp sự…chuẩn bị lễ phục trước khi vào tế lễ. Sau khi tế lễ, nhà hồi hương còn được dùng làm nơi dân làng ăn cỗ.

Đình có một cái giếng xưa. Nhiều buổi trưa nắng, lang thang ở đó, tui thường dùng gàu múc lên những gàu nước lạnh mát, ngon còn hơn những chai La Vie bây giờ. Nghe nói giếng làng đã trên 200 năm, nước rất tốt, mỗi khi có cúng giỗ, lễ Tết, dân làng gánh nước về nấu cúng. Chếch về phía hữu đình có miếu Âm linh với tấm bia sa thạch ghi bốn chữ Hán “Thạc Gián xã Nghĩa trũng” được lập năm Thành Thái thứ 19 (Đinh Mùi – 1907).

Ngày xưa ở Đình có lưu giữ và chôn cất một số hài cốt của các nghĩa sĩ hi sinh rong các cuộc chiến đấu, Sau này, cốt của các anh hùng nghĩa sĩ an táng ở nghĩa trủng đó đã được dời lên Gò Cà. Đình làng hiện còn lưu giữ 18 sắc phong, 38 chiếu chỉ của các triều đại hậu Lê, Nguyễn. Tuy thế, lúc còn nhỏ mỗi lần bước vào chánh điện của Đình, nhất là những trưa vắng, tui vẫn cảm thấy rờn rợn. Đúng là hồi đó tui nhát gan thiệt.

Ở ngoài sân đình có xây một bình phong, trên đó đắp nổi bằng những mảnh sành màu một con bạch hổ rất đẹp. Tui cũng sợ khi nhìn đôi mắt của bạch hổ, đôi mắt đe doạ thằng bé nhiều tưởng tượng.

Ngôi đình được xây dựng điều hoà âm dương theo quan niệm phương Đông. Âm dương hiện hữu ngay trong cấu trúc của ngôi đình với những chi tiết: cổng tam quan, bức bình phong và lối kết cấu rường chồng ở phần mái của ngôi đình. Triết lí âm dương không những có một vị trí thiết yếu trong việc tạo lập sự bền vững ở kết cấu của ngôi đình mà còn tôn lên những giá trị, phẩm chất đẹp của con người. Đó chính là những giá trị văn hoá của người Việt mà ta có bổn phận phải giữ gìn.

Lâu lắm rồi, tui mới về thăm lại Đình sau khi đã chiêm ngưỡng biết bao lâu đài tráng lệ, bao nhiêu nhà thờ cao vút ở Châu Âu và những di tích kỳ vĩ trên thế giới. Đẹp đấy! Nhưng với tui, nó thiếu hồn của riêng mình, nó không có kỷ niệm của riêng ta, nó không có ký ức của một thời của một cá nhân là ta. Nên khi trở về nhìn cái Đình nho nhỏ, trầm mặc với thời gian, khép nép giữa những ngôi nhà, sau những hàng cây lại chứa bao nhiêu hình ảnh của ký ức, bao nhiêu kỷ niệm của một thời, lòng lại thấy rộn ràng, mừng vui như tìm lại được cái tưởng là đã bị đánh mất. Có phải chăng là hồn của một di tích, hồn vía của quê nhà.

Những cây mù u đã chết với thời gian, con bạch hổ bằng sành không khiến tui sợ nữa, nhưng trong tôi, lòng tôn kính ngôi Đình mấy trăm tuổi với nhiều vết tích thời gian, với những giá trị của một vùng đất, một dân tộc, một giá trị văn hoá mà khi bay đi bốn bể vẫn không tìm thấy được vẫn còn mãi.
Lòng bỗng rưng rưng.
Có lẽ hồn rêu xanh, xanh mãi ở trong lòng.
3.9.2018
DODUYNGOC
(Bài viết có sử dụng một số tư liệu và hình ảnh của Cổng TTĐT Thành phố Đà Nẵng và nhà báo Văn Thành Lê)

Đi Đà Lạt

https://hsdoduyngoc.blogspot.com/2019/02

Đỗ Duy Ngọc  tháng 2 25, 2019

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Cuối tháng hai, đồng bọn trên Đà Lạt í ới gọi về bảo năm nay Mai Anh đào nở đẹp lắm, sao không lên mà ngắm cho thoả. Lại gặp dịp có cặp vợ chồng bà con của người bạn ở Hà Nội vào có việc lên Đà Lạt. Cũng đang muốn trốn cái nóng của Sài Gòn đang rực rỡ. Thế là mang máy hằm hở lên đường. Chương trình sẽ ghé Bảo Lộc trước khi lên Đà Lạt. Mà đích ở Bảo Lộc là chùa Linh Quy Pháp Ấn, một địa chỉ được truyền tụng nhiều gần đây trong giới trẻ mê du lịch và những người cầm máy ảnh. Hợp đồng với một cháu tài xế taxi trông cũng hiền lành sẽ lên đường vào 5:00 sáng, hi vọng sẽ đón bình minh, nhưng rồi thất vọng, sáng đó trời âm u, xám xịt, sương mù tuy không nhiều nhưng làm cảnh vật chẳng có chút ánh sáng nào. Thôi thì lên cho biết, chẳng mong có tấm hình ưng ý. Cháu tài xế bảo lúc này xe đến tận sân chùa, nghe thế tui cũng mừng vì vốn chân đau khớp, nghĩ đến việc leo trèo là oải chè đậu rồi. Trước đây nghe Lữ Đắc Long bảo cỡ tui thì lên không nổi chùa ấy đâu vì đường đi gian nan lắm. Giờ nghe tài xế bảo thế cũng khoái. Không ngờ đúng là đường sá có cải thiện nhưng đoạn cuối cũng phải leo bộ một khúc khá dài. Tui cũng làm hăng, cũng leo cùng với mọi người. Nhưng rồi lực bất tòng tâm, chỉ mới đi được hơn nửa đường, các khớp đầu gối và mắt cá chân bắt đầu đau, không theo sự chỉ đạo của tui nữa, tim lại đập nhanh, mệt rũ cả người. Đã thấy mình già và yếu sức vì thiếu tập luyện thường xuyên. May thay thấy phía bên kia có một con đường mòn nhỏ, thi thoảng có những chiếc xe gắn máy chở người dzọt lên. Tui lần ra con đường đó và may mắn gặp một cô xe ôm trống chỗ. Tui leo lên và cô ấy phóng đi. Tới lúc đó tui mới ân hận và thấy mình dại dột. Con đường bé tí vừa bánh xe qua, phần còn lại lổm nhổm đất đá và gai góc của những cành khô. Chỉ cần bất cẩn một chút là tui có thể bị quật xuống đường và hậu quả thì chắc là bi đát.

Cô ấy bảo bác ôm chặt cháu đi, không sao đâu. Nhưng tui tay thì ôm chặt bụng cô ấy, miệng thì la oai oái, còn cô ấy thì cứ rú hết ga, xe nổ ầm ầm, phóng đi như xe đua công thức một. Ghê thật. Và cuối cùng thì cũng tới, trời không có nắng nên cũng chẳng chụp choẹt gì, nhưng hậu quả là các khớp gối của tui bắt đàu nhức. Đến trưa, vào quán cơm của gia đình một người em đang kinh doanh khách sạn ở Hội An, nhắn tin là chú đến gặp ba cháu, ba cháu và các em cháu ái mộ chú lắm. Một căn nhà lớn ở ngay mặt tiền của thành phố Bảo Lộc, ngang hơn 40m và sâu đến 165m, một tài sản lớn giữa thời rộn rịp bất động sản hiện nay. Đó là quán cơm Kim Huê ở đường Trần Phú và cũng là xưởng trà Kim Huê có tiếng ở Bảo Lộc. Được chiêu đãi bữa cơm trưa, lại còn được tặng túi quà mấy hộp trà mang về. Ngồi ăn cơm và nói chuyện với ông chủ xong, khi đứng lên tui không đi được nữa. Các khớp đau đớn vô cùng, mỗi bước đi là một cực hình. Lê thân leo lên được taxi, mồ hôi ướt đẫm mà các khớp đau xé ruột.

Từ giờ phút đó, tui trở thành phế nhân, chuyến đi trở thành cơn ác mộng. Ngồi xe Thành Bưởi lên Đà Lạt, các khớp của tui đau nhức buốt tận óc, người như mê đi, lúc xuống xe phải có người dìu, không thể đứng thẳng được. Hai khớp sưng, hai bàn chân cũng sưng húp như bị phù, không xỏ vào sandal được nữa. Và cũng từ đó là chạy đua với thuốc men. Lúc đầu là Voltaren uống, rồi Voltaren nhét hậu môn, rồi thuốc kháng viêm, thuốc giảm đau, rồi Colcichin, rồi ông chủ khách sạn đưa cho một vỉ thuốc khớp gởi về từ bên Đức mà ông cũng đang uống. Tất cả không si nhê một chút nào, các khớp vẫn đau, vẫn không thể vận động, ngày hôm sau lại phát hiện cùi tay trái sưng đỏ, không nhấc tay lên được. Nạp thuốc quá nhiều nước tiểu vàng như nghệ lại đắng mồm không ăn chi được, các khớp nhức quá nên cũng chẳng ngủ được, người mệt rũ rượi như sắp tiêu. Như thế hai ngày ở Đà Lạt chỉ loay hoay trên chiếc giường của khách sạn, chẳng biết hoa Anh đào nở thế nào, đường hoa đẹp ra sao? Đến Đà Lạt lần này chỉ biết có cái giường. Trưa ra phi trường Liên Khương về lại Sài Gòn, gặp anh tài xế tốt bụng, khi thấy tui không đứng lên nổi, anh liền xốc cõng tui vào sảnh check in. Trước cảnh đó, hãng máy bay Vietnamairlines liền cung cấp cho tui một chiếc xe lăn với người phục vụ và được đưa lên bằng con đường riêng là cửa thoát hiểm đến tận ghế ngồi. Lúc máy bay xuống Tân Sơn Nhất cũng thế, được xe lăn đẩy ra tận đường đón taxi. Cũng nên biểu dương sự tận tình, chu đáo của hãng máy bay đối với người không thể tự mình di chuyển được như trường hợp của tui. Việc phục vụ này cũng không phải trả thêm một chi phí nào. Hoan nghênh Vietnamairlines một cái.

Thế là xong một chuyến đi. Đi đến và chẳng biết Đà Lạt có thay đổi gì và hoa Đà Lạt đẹp thế nào. Cũng buồn. Thấy mình như có lỗi vì cái chân đau của tui mà chuyến đi mất vui. Cũng rút được bài học là ở tuổi này rồi làm chi cũng phải biết lượng sức mình, không nên ráng.
25.2.2019
DODUYNGOC

Vợ Thầy Hương

vietmessenger.com
Lê Xuyên
Miền Nam xuất bản 1965
Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Phần 7 – Cuối

Thím Hương về tới Cần Thơ tìm đến nhà thầy Năm ‘‘phạm nhe’’ thì mới hay, sau khi hồi cư được vài tháng thầy đã xin đổi về Saigon làm trong một bịnh viện công trên ấy.

Thằng Long con Hạnh và cả con Lụa nữa cũng theo luôn với thầy. Từ ngày ông Sáu Giò bị bịnh trở lại rồi chết, thầy đem con Lụa về cho ở chung với thằng Long, con Hạnh và hết lòng chăm lo cho ba đứa nó như là ba đứa con ruột thịt.

Thím Hương định quay trở về trong Tân Thới để nghỉ ngơi ít lâu nhưng rồi thím phải bỏ ý định ấy khi nghe một vài người quen biết thuật rõ về tình hình còn ‘‘lộn xộn’’ trong vùng đó.

Quá chán chê cảnh giặc giã cùng kiếp sống nổi trôi, thím hết muốn đi đâu hết và chỉ muốn kiếm đem hai con về gầy dựng lại cuộc đời bình thản, khép kín lại mọi sự sôi nổi của lòng mình.

Do đó, sau khi hỏi thăm hỏi nom về đường đi nước bước, thím nhứt định dông tuốt lên Saigòn tìm nơi làm

việc của thầy Năm để xin cho hai đứa nhỏ được trở về với thím…

Tờ mờ sáng hôm sau, thím đã ngồi yên trên băng của một chiếc xe đò bắt đầu rời khỏi bến bắc Cái Vồn…

Gió sớm lồng lộng thổi vào xe khiến thím có một cảm giác dễ chịu, và ước mong cho xe chạy cho mau tới nơi tới chốn.

Mỗi lần xe ngừng lại trước đồn bót, trông thấy mấy tên lính Tây hoặc da đen gạch mặt xông ra hầm hừ lục xét hoặc xì xồ soát hỏi giấy tờ, thím đâm ra mất hồn mất vía lo sợ rằng bọn lính sẽ chận giữ xe lại vì một duyên cớ bất thường nào đó…

Nhưng khi xe chạy khỏi bắc Mỹ Thuận một đổi thì phải ngừng lại và đậu dồn cục sau nhiều chiếc xe khác nữa. Hỏi ra mới biết một khoảng đường khá dài ở phía trước bị đào phá và đấp mô trong đêm.

Hành khách trên xe lớp ngồi dựa ngửa dựa nghiêng ngủ đỡ, lớp tuôn xuống hai bên lề đường kiếm mua quà bánh lót dạ do mấy người bán hàng ở Cầu Bắc mang lên.

Gần ba mươi chiếc xe vừa xe hàng vừa xe đò đậu dài theo lộ với số hành khách đông đảo đã tạo thành một cảnh huyên náo khác thường cho quãng đường vốn nỗi tiếng là nguy hiểm nầy.

Thím Hương ngồi trên xe một hồi thấy bực bội và bồn chồn, nên lần ra phía cửa xe bước xuống đường.

Một đứa nhỏ bưng một xề bánh mì lạp xưởng, chim rô-ti chạy а đến tranh mời thím mua: thím mỉm cười khẽ lắc đầu làm cho thằng nhỏ tỉu nghỉu. Mấy đứa khác, với các thứ bánh ú bánh tét, chuối khô, bánh phồng khoai, ổi xá-lị… bu lại nhao nhao mời ép thím mua nhưng cũng đều bị từ chối luôn.

Thím vừa bước vội lại phía có bóng mát để đứng nghỉ cho đỡ tù túng chân tay vì từ suốt sáng phải ngồi bó rọ trên xe thì bỗng nghe có tiếng đàn bà kêu giựt ngược lại:

– Nè cô ơi, cô đi đâu đó?

Thím tưởng là họ kêu ai nên cứ lầm lủi bước tới nhưng tiếp theo đó một bàn tay có đeo hai ba chiếc cà rá vừa bằng vàng vừa nhận hột nắm lấy một bên tay thím giữ kéo lại.

Thím Hương ngạc nhiên nhìn qua: đó là một bà tuổi cỡ sồn sồn vóc vạc hơi bề xề, ăn mặc khá sang trọng đang cười nheo mắt nhìn lại thím như là…quen biết nhau từ đời ‘‘cố lũy’’ nào vậy!

Thím Hương rụt rè lên tiếng:

– Dạ thưa bác, có chuyện chi vậy bác?

Bà kia vòn vã nói một hơi:

– Dữ hông, qua thấy… cô em bước xuống xe, qua kêu muốn hụt hơi mà cô em đi miết tới hè!

Thím Hương ấp úng đáp:

– Dạ… chắc bác… lầm…

Bà kia trề môi lắc đầu

– Hổng có đâu!

Rồi bà ta mỉm cười hỏi ngang:

– Có phải cô em đi trên chiếc xe Đại Phước hông?

Thím Hương gật đầu liền:

-Dạ phải… Mà sao bác biết?

Bà kia cười xòa:

– Thì qua cũng đi cùng một chuyến xe với cô em chớ đâu. Chắc tại qua ngồi hàng ghế phô tơi đằng trước nên cô em hổng thấy chớ gì!

Thím Hương thở ra

– Dạ… chắc vậy.

Bà kia thân mật cặp lấy tay thím Hương kè đi tới chỗ có bóng mát:

– Thôi trước lạ sau quen mấy hồi hén cô em! Bây giờ mình lợi đằng nầy kêu bánh mì lại mua ăn đỡ đi!

Thím Hương hơi rị lại

– Dạ, cám ơn bác. Tôi hổng đói…

Bà kia chắc lưỡi:

– Bậy nà! Mình phải kiếm một vài khúc bánh mì dằn bụng chớ hông thôi xe nó kẹt cái điệu nầy dám đói rả ruột lắm chớ chẳng phải chơi! Qua lên xuống con đường nầy hà rằm nên qua rành mấy cái vụ nầy lắm mà!

Thím Hương lo lắng hỏi lại:

– Dạ, bộ còn lâu xe mới chạy được sao bác?

Bà kia thản nhiên đáp:

– Cái điệu nầy dám tới ba bốn giờ chiều mới đi được lận. Cô em nghĩ coi: đường xá người ta cán đá thẳng băng và bằng trơn như vầy mà mấy cha nội tui đem đào xỉa qua xỉa lại, rồi lớp đấp mô lớp chất chà dài hàng cây số chớ bộ ít ỏi gì sao.

Thím Hương chép miệng thở dài:

– Trời ơi, nếu vậy thì mình bị kẹt lâu lắm!

Như không chú ý đến  lời than thở của thím Hương, bà kia hăng hái nói tiếp:

– Bây giờ, Tây nó kéo xe tăng thiết giáp tới đi ruồng bố bắt dân ra phá mô, lấp đất. Thiệt nghĩ tội nghiệp cho đồng bào ở miệt nầy, ban đêm thì bị mấy cha chú ở trỏng, ban ngày lại gặp ba ông Tây ngoài nầy.

Thím Hương rụt rè hỏi chen vô :

– Dạ, có khi nào họ sửa đường sớm sớm hơn nữa hông bác?

Bà kia vênh mặt lên:

– Hứ, sớm sao được. Qua nói tới ba bốn giờ chiều đó là may chớ nhiều khi còn phải quay về ngủ dồn ở bắc Mỹ Thuận nữa!

Thím Hương ngó mong về hướng Saigon, mặt hiện rõ nét lo âu:

– Cha, cái điệu nầy tới trển trễ rồi tôi làm sao đây!

Bà kia lôi tuột thím đi:

– Hổng quen biết nhau thì thôi, chớ bây giờ cô em đừng lo gì hết ráo! Trước hết, cô em với qua lợi đằng nầy kiếm cái gì dằn bụng thủ phần chắc, rồi thủng thỉnh mình nói chuyện sau chẳng muộn mà!

Rồi không để cho thím chối từ gì nữa, bà ta liền miệng gọi mua thứ nầy món nọ mời ép thím ăn.

Xong xuôi đâu đó, bà ta nheo mắt tò mò nhìn thím Hương từ đầu đến chân rồi dịu dàng hỏi:

– Nếu qua đoán không lầm, chắc cô em là người miệt vườn bị lộn xộn ở không được nên tính lên Saigon kiếm bà con, hay kiếm công ăn việc làm gì phải không?

Thím Hương thẹn thùa nhìn xuống bộ quần áo của mình: một chiếc quần vải hột dền đen với chiếc áo bà ba cũ mà thím đã mượn của người quen ở Cần Thơ bận đở, chớ chưa kịp may mặc gì hết. Thím chỉ mua thêm một chiếc khăn bàn lông để đội đi đường.

Biết rằng cách ăn mặc sơ sài của mình đã làm cho bà kia xét đoán sai lầm một phần nào, những thím cũng trả lời cho xuôi theo

– Dạ… đúng như vậy. Tôi nóng lòng lên Saigon tìm người quen chớ ở dưới nầy chẳng còn bà con thân thích gì hết.

Bà kia chép miệng thở than:

– Cơ khổ dữ hông! Qua thấy em là qua biết liền mà! (đoạn bà ta thấp giọng hỏi tiếp)… Vậy chẳng hay cô em còn chồng con gì hông mà lại đi một mình hay là gia đạo xào xáo sao đó hả cô em?

Thím Hương xẻn lẻn đáp:

– Dạ đâu có… Ba sấp nhỏ mất sớm nên tôi phải gởi chúng nó ra ở Cần Thơ ăn học, kế đến tản cư mẹ con thất lạc nhau… Bây giờ tôi được tin chủ nhà sắp nhỏ ở đậu đổi lên Saigon nên tôi tức tốc lên kiếm rước sấp nhỏ về vậy thôi…

Bà khách lạ thoáng cau mày, rồi buông hai tiếng “vậy hả” chán ngắt.

Thím Hương lo ngại hỏi lại bà ta:

– Sao đó bác?

Bà kia vồn vã trở lại:

– Không. Qua hơi lo cho tình cảnh của cô em. Cái điệu nầy xe lên tới trển thì trời đã tối mò, quá giờ làm việc thì làm sao cô em kiếm hỏi thăm cái ông gì đó được… Rồi láng cháng tới giờ giới nghiêm, cô em biết ngủ nhờ vào đâu…

– Đó bác, tự nãy giờ tôi rối ruột rối gan về cái chuyện ấy đó! Phải tôi dè như vầy tôi nán ở lại Cần Thơ để nhắn tin lên trển trước rồi đi lên sau thì được vững bụng hơn.

Bà kia thân mật vỗ vai thím:

– Thôi có qua đây chi cô em. Đằng nào cô em cũng đi lỡ rồi. Một khi lên tới trển qua xin bảo lãnh hết. Cô  em cứ lại nhà qua nghỉ đỡ một đêm, rồi chờ đến sáng mai hãy đi tìm ông đó. Qua tính như vậy có gọn hông?

Thím Hương cảm động nhìn bà ta:

– Thiệt tôi may mắn quá mới gặp được bác… chớ nếu không thì cũng chẳng biết tính làm sao… Từ hồi nào tới giờ tôi có lên tới Saigon lần nào đâu, mà nghe nói ở trển người ta hổng được thiệt thà như người dưới mình… tôi ngán quá.

Bà kia cười xòa:

– Cô em nói vậy chớ ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu… Riêng phần qua thì từ hồi Đồng-Minh thả bom Saigon rồi tới lúc giặc giã, qua lo tu hiền, ăn chay niệm Phật được phần nào đỡ phần nấy … Bởi vậy nên qua thấy tình cảnh của em qua thương hết sức…

Thím Hương không biết nói sao đành đứng im và trân trối đưa mắt nhìn bà khách lạ với một vẻ đầy cảm phục và biết ơn…

Chiếc xe đò Đại Phước cập bến Saigon vừa lúc đèn điện ngoài đường bật sáng.

Thím Hương còn đang bỡ ngỡ trước lời mời mọc của mấy anh xích-lô đạp chen nhau vây quanh phía sau xe đò, thì bà khách lạ đã tất tả chạy đến lách mình qua mấy anh phu xe, níu tay thím lôi đi:

– Đi theo qua cô em!

Chợt thấy thím Hương hơi có vẻ lựng khựng, bà ta hỏi liền:

– Bộ cô em còn đợi lấy đồ đạc gì nữa phải hông?

Thím Hương mỉm cười lắc đầu:

– Không bác à. Tôi chỉ có cái mình trơn…

Bà kia vui vẻ đẩy nhẹ thím đi tới

– Vậy thì càng tốt. Để về tới nhà, qua sẽ lo sắm sửa bộ vận cho cô em đầy đủ hết chớ lôi thôi lếch thếch như vầy coi sao được!

… Thím Hương rón rén theo bà ta vào nhà.

Đó là một căn phố ngói khả sang trọng ở đường Colonel Grimaud khoảng gần xóm Sáu Lèo.

Từ trong buồng, hai cô con gái còn trẻ măng, môi son má phấn vẻ chân mày, tóc uốn quăn, quần sa tanh trắng láng, áo tay cúp bó eo và mỏng teo chạy ùa ra reo lên:

– A, mà Tư đã về! Vậy mà tụi con tưởng má còn ở nán dưới đó chớ!

Bà Tư (tức là bà khách lạ đã đưa thím Hương về đây) bước lại vuốt má hai cô gái ấy rồi hỏi một hơi:

– Tao đi vắng ở nhà có gì lạ hông? Công việc làm ăn vẫn đều chớ? À, có mấy thằng cô hồn các đảng hôm trước lai đáo phá phách gì nữa hông? Tụi nó có tới hai đứa bây kêu lính phú lít thộp đầu nó cho tao!

Thím Hương ngơ ngác đứng nép bên góc cửa, hết nhìn nhà bà ta đến liếc chừng hai cô gái tự xưng ‘‘con” một cách ngọt xớt với bà “má Tư” ấy.

Chợt thấy hai cô gái lặng thinh đưa mắt nhìn về phía thím Hương như để dò hỏi, bà Tư quay lại chắc lưỡi, níu tay dắt thím bước lên:

– Vô đây cô em! Cô em đừng ngại ngùng gì hết, mấy đứa nhỏ nầy là con nuôi của qua chớ có ai xa lạ đâu. Đây nè, con nhỏ roi roi nầy là con Ngọc Anh, còn con tròn trịa kia là con Thu Nguyệt đó!

Rồi bà ta day qua hai cô con gái nuôi, giới thiệu luôn:

– Nè bây, cô em nầy đây… tao mới làm quen trên xe đò. Người ta ở dưới tỉnh mới lên lỡ đường, lỡ xá nên tao dẫn về đây… (rồi bà ta dằn giọng xuống). Chị của tụi bây đó nghen! Hổng có mặt tao thì tụi bây phải ráng lo săn sóc đàng hoàng cho người ta, chớ đừng thấy người ta mới lên trên nay rồi bép xép hỏi bậy hỏi bạ chết đa nghen!

Hai cô kia đồng thanh dạ một tiếng thật dài, nhưng mắt thì vẫn liếc chừng người mới tới.

Bà Tư dịu dàng hối thúc thím Hương:

– Cô em theo hai đứa nó vô trong tắm rửa đi rồi lựa quần áo của đứa nào vừa thì mặc đỡ rồi mai mình mới đi chợ sắm sửa được.

Vào trong buồng, thím Hương chọn chiếc quần lãnh đen và cái áo bà ba tuy bó eo nhưng cũng còn đỡ hơn mấy bộ quần áo kiểu xẩm khiến thím khó thể che giấu kỹ được chiếc ruột tượng đựng tiền và nữ trang vẫn còn đeo chặt quanh bụng.

Sau đó, khi thím Hương đã tắm rửa, chải gỡ xong xuôi bước trở ra nhà ngoài, bà Tư hớn hở chạy а lại đứng trước mặt thím, nheo mắt ngoẽo đầu trầm trò luôn miệng:

– Ý cha, cô em mới sửa soạn sơ sơ mà qua coi ăn đứt hai con nhỏ kia! Vậy mà chồng con chưa có, hay là chưa bước thêm một bước nữa thì uổng quá đỗi!… Sao cô em, quần áo của tụi nó cô em mặc đỡ có được hông? Mà hai con Ngọc Ánh, Thu Nguyệt lại đưa cho cô em cái bộ quần áo mắc toi mắc dịch từ đời cố lũy nào mà rộng thùng thình kỳ vậy!

Ngọc Anh đứng gần đó vội nói chen vô:

– Dạ chỉ lựa lấy đó à má.

Thím Hương xẻn lẻn lên tiếng đẩy đưa theo:

– Dạ phải đó bác… Cái áo nầy mà tôi còn thấy chật bó…

Vừa lúc ấy có tiếng xe xích-lô đậu phía lề đường rồi tiếng giày cồm cộp khua bước vô phía cửa nhà.

Thím Hương dáo dác đưa mắt nhìn ra rồi hấp tấp bảo nhỏ bà Tư:

– Mấy ông nào vô kìa bác.

Bà Tư giơ tay ra hiệu cho thím ngồi yên, đoạn tất tả bước ra cửa chận đón hai ông khách mới bước trờ tới và ló đầu vô nhà.

Chợt thấy thím Hương, một ông đứng trố mắt nhìn rồi quay qua tủm tỉm cười hỏi bà Tư:

– Bộ mới điền về hả?

Bà Tư đứng chặn nơi lối vô và cự nự lại ông ta:

– Bậy nà! Con cháu tui dưới tỉnh mới lên đó nghen.

 Ông kia nháy mắt:

– Cha coi bộ mặn mòi quá há!

Bà Tư vừa xô nhẹ hai ông kia ra, vừa thì thầm:

– Bữa nay hai thầy chịu khó qua bên nhà dì Sáu đỡ đi rồi tui biểu hai con Ngọc Anh, Thu Nguyệt chạy qua… Ở bển không có ai hết nên êm hơn…

Một ông cười bảo:

– Bộ bà tính đuổi khéo tụi nầy hả?

Bà Tư dẫn hai ông khách ra đường:

– Ý trời ơi, chỗ quen biết lâu ngày mà ai dám đuổi mấy thầy. Nhưng bữa nay bị có cô đó mới lên…

Một ông chận ngang

– Ở đâu mà bà bắt về ngon lành quá vậy?

Bà Tư chắc lưỡi:

– Thầy đừng nói bắt bớ tổn âm đức đó! Tui thấy cổ cù bơ cù bấc, tui thương nên dắt về đây. Thiệt khổ công nhọc sức lắm chớ bộ mấy thầy nói dễ lắm sao!

Rồi bà ta dịu giọng lại:

– Hai thầy cảm phiền một chuyến nghen… Bị có cô đó… còn mới, còn nhát đèn nên tui phải… о bế kỹ một chút… Để khi nào xong xuôi rồi tui xúp-lê cho hai thầy biết liền!

… Chờ cho hai ông khách leo lên xích-lô chạy rồi, bà Tư mới tất tả đi vô nhà.

Thím Hương đứng dậy hỏi liền

– Ai vậy bác?

Bà Tư cười đáp:

– Ối quen hết, mấy thầy… dưới Ca-ti-na đó mà! Cô em ngồi đó chơi để qua chạy vô dặn hai đứa nó một chút rồi qua trở ra liền.

Nửa phút sau, hai cô Ngọc Anh và Thu Nguỵệt mặc áo dài xách bóp đầm hấp tấp bước ra, cùng liếc nhanh về phía thím Hương rồi đi thẳng ra cửa.

Bà Tư sẽ lén ngồi xuống bên cạnh thím Hương, làm thím giật mình day qua gượng cười hỏi:

– Dạ… hai cô đi đâu giờ nầy đó bác?

– Ối, hai thầy hồi nãy tới đây mời qua với hai đứa nó đi coi cải lương, mấy thẩy tính mời luôn cô em nữa nhưng vì thấy cô em đi đường còn mệt cần nghỉ ngơi, với lại qua cũng chưa sắm sửa gì cho cô em hết thì đi sao tiện.

– Vậy bác hổng đi với hai cổ…

Bà Tư gạt ngang:

– Coi, qua đi rồi một mình cô em vò võ ở nhà sao được!

– Thiệt tôi làm phiền bác nhiều quá… 

Mới tờ mờ sáng, thím Hương đã thức dậy và ra ngồi thơ thẩn một mình ở trên đi văng phòng ngoài.

Tiếng xe thổ mộ chạy lốc cốc ngoài đường khiến thím như nhớ nhung khoắc khoải một cái gì xa xăm lắm…

Mãi đến tám giờ sáng người trong nhà mới lục tục thức dậy. Bà Tư vừa bước lẹt xẹt ra, vừa bới tóc và khi thấy thím, bà ta kêu lên:

– Cô em ra ngoài nầy mà qua hết hồn tưởng là cô em đi đâu chớ!

Thím Hương gượng cười đáp:

– Dạ, tôi có biết đường sá trên nầy đâu là đâu mà dám đi càn… và nếu tôi có đi thì cũng phải thưa trước với bác…

Bà Tư gật đầu ra vẻ vừa ý, đoạn bà ta hỏi lại thím:

– Hồi tối, cô em ngủ có yên giấc hông?

– Dạ… vì hơi lạ nhà lạ cửa nên tôi cũng trằn trọc hoài, tới chừng mỏi mệt quá ngủ mê đi được một giấc nên thấy khỏe lại đôi chút.

Bà Tư thân mật trách móc:

– Vậy sao cô em không ngủ nướng thêm một vài giờ nữa chớ tội tình gì mà thức sớm quá vậy?

– Dạ tôi quen tánh thức sớm rồi, với lại tôi cũng nóng lòng trông cho mau tới sáng để đi hỏi thăm về mấy đứa nhỏ.

Bà Tư gạt ngang:

– Bề nào em cũng phải đợi tới giờ làm việc mới có ông chủ nhà của mấy cháu lại sở được (rồi bà ta làm ra vẻ ngập ngừng để hỏi thêm)… À còn cái gì nữa… qua quên hỏi kỹ lại cô em… chẳng hay cô еm đi đường như vầy rồi có đem theo giấy tờ gì hông?

Thím Hương vừa vỗ nhẹ vào túi áo vừa sốt sắng đáp:

– Dạ có chớ ! Tôi có giấy ‘‘lách xê’’ xin ở Cái-Răng… Tôi tản cư về tới Cái-Răng là tấp vô xin giấỵ liền rồi mới dám ra Cần Thơ.

Bà Tư khẽ lắc đầu:

– Thứ giấy ở quận ở làng đó lên trên nầy không ăn thua gì. Cái điệu nầy qua cũng phải chạy lo giấy tờ cho cô em đàng hoàng mới được… (liếc thấy thím Hương có vẻ lo lắng bà ta chêm luôn một câu nữa)… Lóng rày, không biết ông cha gì bắt mà tụi Tây nó dắt ‘‘bao bố’’ đi nhìn mặt lung tung, cô em lớ ngớ đi ra đường cũng đáng ngại lắm.

Thím Hương hoảng sợ hỏi liền:

– Ý trời, còn cái vụ ‘‘bao bố’’ gì nữa đó bác? Sao ở trên nầy… có nhiều thứ dễ ớn quá vậy?

Bà Tư thản nhiên kể sơ cho thím nghe các vụ vây bắt có dẫn người được trùm kín trong một chiếc bao bố và chỉ chừa có hai lỗ nhỏ nơi mắt ra để tiện nhìn mặt những ai bị bố ráp.

  Cố nhiên là ba ta cũng không quên thêm mắm dậm muối để cho câu chuyện trở nên ‘‘rùng rợn’’ hơn.

Thím Hương nghe xong mặt mày buồn xo:

– Như bác nói đó thì làm sao tôi dám đi hỏi thăm để tìm cho ra thầy Năm phạm-nhe!

Bà Tư làm ra vẻ không bằng lòng:

– Vậy chớ qua ở sờ sờ đây làm chi! Cô em cứ yên tâm ở nhà, để qua chạy đi hỏi thăm dùm cho. Ở nội Saigon Chợ-lớn, hang ngách nào qua cũng rành hết nên qua xông xáo dễ và mau hơn cô em.

– Dạ phiền bác quá…

– Cô em đừng nói lôi thôi gì nữa hết, vậy chớ thầy gì đó làm việc ở nhà thương nào cô em có biết hông?

– Dạ thầy Năm phạm-nhe… Ở dưới Cần-Thơ người ta nói thầy làm việc ở nhà thương Chú-Hỏa.

– Ôi tưởng trên non dưới biển gì thì khó tìm, chớ nếu cô em biết rõ là ở nhà thương Chú-Hỏa thì qua phăng ra thầy mấy hồi. Thôi để qua đi sửa soạn một chút rồi mình đi uống cà phê. Xong xuôi đâu đó, cô em ở nhà chơi để qua đi kiếm thẩy liền nội buổi sáng nay. 

Lối mười giờ trưa hôm ấy, bà Tư mới quay trở về.

Nghe có tiếng xe xích lô đậu trước cửa, thím Hương hấp tấp chạy ra và hỏi liền:

– Sao bác? Bác có gặp thầy Năm hông bác?

Bà Tư chẳng nói chẳng rằng đi tuốt vô nhà, quăng một gói đồ lên đi-văng, cởi phăng áo dài ra vắt trên vai, ngồi phịch xuống ghế phô-tơi rồi hướng vào trong nhà réo gọi:

– Đứa nào ở trỏng làm ơn làm phước ra vặn cái quạt máy dùm tao một chút coi! Tao mệt hết hơi đây nè!

Cô Ngọc-Anh tất tả chạy ra mở quạt máy.

Bà Tư vẫy tay đuổi cô ta vào trong:

– Mầy vô trỏng đi để tao nói chuyện riêng với chị hai mầy một chút.

Chờ khi cô Ngọc-Anh mới quay lưng đi, thím Hương lo lắng hỏi bà Tư liền:

– Có chuyện chi đó bác? Chắc bác gặp thầy Năm rồi chớ?

Bà Tư thở dài sườn sượt:

– Phải kiếm được thầy thì còn nói gì nữa!

Thím Hương tái mặt, lập cập hỏi thêm:

– Bộ ổng không có ở đó sao bác?

Bà Tư khẽ gật đầu:

– Hổng có cô em à?

– Sao… lạ vậy cà?

Bà Tư chép miệng thở ra:

– Hồi sáng, sau khi để cô em ở nhà, qua đi thẳng lại nhà thương Chú Hỏa, qua hỏi nát nước hết mà chẳng có ai biết thầy Năm, Thầy Tư gì ráo. Qua leo hết mấy từng lầu, lục lọi hổng biết mấy trăm căn buồng mà cũng ăn trét. Cuối cùng qua vô đại phòng ông chánh ở nhà thương và ở đó họ cho biết là thầy Năm có làm tại đó thiệt…

Thím Hương sốt ruột hỏi chen vô:

– Nhưng sao bác nói không gặp?

– Thì để qua nói hết: thầy có làm ở đó nhưng cách đây hai ba tháng gì đó thầy đổi đi chỗ khác rồi cô em à.

– Vậy bác có hỏi thăm coi thẩy đổi về đâu không hả bác?

– Có chớ sao không, nhưng người ta nói thầy đổi đi đâu trên miệt lăng ta xông Lộc-Ninh, Hớn-Quản gì đó.

Thím Hương lo lắng hỏi liền:

– Ở đó… có gần đây hông bác?

– Bộ em hổng biết chỗ đó sao? Ý trời ơi, miệt ấy ở tít mút trên rừng sâu nước độc, nơi có mọi cà răng căng tai Bù-Hốc, Bù-Đốp gì đó qua cũng hổng rành nữa!

– Nói vậy, tôi không có cách nào kiếm ra thẩy hay sao? Dầu xa hay gần gì tôi cũng phải đi…

– Thì cố nhiên là như vậy rồi! Và qua đã lo mọi mặt cho cô em hết, qua có nhờ mấy thầy ở đó lên Sở chánh tra giấy tờ sổ sách coi thầy Năm đổi chắc về nhà thương nào…

Thím Hương rơm rớm nước mắt:

– Trời ơi, không biết thầy đổi chi lên tới trên rừng thiêng nước độc như vậy! Hổng biết mấy đứa nhỏ lên trển rồi làm sao mà sống nổi!

Bà Tư cũng thở dài:

– Tội nghiệp sấp nhỏ quá, qua hỏi thăm hổng đi tới đâu hết, qua cũng rầu thúi ruột.

Thím Hương ngước mặt lên ngó bà Tư:

– Thiệt tôi làm bác nhọc công mà chẳng ích lợi gì hết, nhưng dầu sao tôi cũng phải lên cho tới trển để tìm cho ra thầy Năm.

Bà Tư sốt sắng đáp:

– Thì cố nhiên là phải như vậy rồi! Nhưng cô em cũng phải đợi qua hỏi thăm lại cho chắc chỗ sở làm mới của thầy và đợi qua lo cho xong giấy tờ của cô em thì đi mới vững bụng được.

Thím Hương có vẻ lo lắng:

– Như vậy… không biết có lâu hông bác?

– Đối với người khác thì cả tháng cũng chưa xong, nhưng có qua đây thì trễ lắm là một tuần lễ hay mười bữa là qua lo xong mọi thứ cho cô em hết.

Liếc thấy thím Hương ngồi ủ rũ, bà ta vội đứng dậy bước lại gần đi-văng, cầm gói đồ lên trao cho thím và ân cần vỗ về:

– Thôi đằng nào mình cũng phải chịu như vậy, cô em có lo buồn cách mấy đi nữa cũng chẳng làm gì được. Đây qua có ghé vô chợ Bến Thành lựa mua cho cô em một ít hàng vải để cho cô em may đỡ vài cái quần, vài cái áo, chớ cô em ăn mặc lôi thôi lếch thếch quá cũng không tiện. Đâu cô em mở ra xem coi có vừa ý không?

Thím Hương ngượng nghịu đỡ lấy gói hàng:

– Bác mua chi cho tốn tiền, tôi mượn đỡ quần áo của mấy cô ở đây được rồi…

– Ậy, cô em nói vậy sao được! Quần áo của tụi nó chật bó mà! Cô mở đại ra coi… toàn là hàng Bom-bay mới qua kỳ nầy đó!

Thím Hương đành miễn cưỡng mở gói hàng ra, và gượng cười nói:

– Bác mua chi mấy thứ hàng bông hoa màu tươi quá…

– Cô em còn trẻ và nước da lại trắng thì mặc thứ gì cũng dễ coi hết. Đó là qua lựa thứ vừa vừa thôi chớ không dám lấy mấy thứ bông lớn và màu chói quá. Để lát nữa qua dẫn cô em qua tiệm may kế đây may cho kịp bận nghen cô em!

Thím Hương ‘‘dà’’ một tiếng xụi lơ…

Một tuần lễ sau, thím Hương vẫn còn tạm trú tại nhà bà Tư và hễ mỗi lần thím có ý nhắc về chuyện đi tìm thầy Năm thì bà ta tìm cách nói cho ăn trớt hết.

Suốt trong tuần lễ ấy, bà Tư săn sóc thím у như là một người khách quý, hết dẫn đi chợ Bến-Thành mua sắm thứ nầy thứ nọ; đến đưa thím đi xem cải lương, chiếu bóng hoặc đi ăn ở cao lầu trong Cholon.

Lần nào bà ta cũng mời ông nầy ông nọ đi kèm theo để giới thiệu thím Hương và để cho mấy ông nầy chi tiền một khi cần đến.

Ở ru rú mãi trong nhà cũng buồn nên thím Hương, ban đầu còn lựng khựng không chịu đi, nhưng riết rồi cũng thấy giải khuây được phần nào trong những cuộc đi ăn uống và xem hát xướng đó.

Một bữa nọ, nhân thấy thím vui vẻ khác hơn mọi ngày, bà Tư bèn thân mật kéo thím xuống bên cạnh và thu thỉ bảo:

– Nè cô em, hôm nay qua có một việc… rất cần nầy muốn bàn riêng với cô em…

Thím Hương lo lắng hỏi lại:

– Bộ bác được tin tức gì về thầy Năm hả bác?

Bà Tư có vẻ phật ý:

– Hổng phải đâu. Nếu có được tin gì của thẩy thì qua cho cô em hay liền… Chuyện nầy khác…

Thím Hương hơi cau mày:

– Có chuyện chi nữa bác? Hay là tôi ở đây lâu ngày có điều gì bất tiện…

Bà Tư vui vẻ gạt ngang

– Ý không đâu! Thử thời cô em ưng ở luôn tại nhà qua trọn đời mãn kiếp qua cũng sẵn sàng bao hết nữa.

Nói đến đây, bà ta hạ thấp giọng xuống:

– Chắc qua khỏi nói, cô em cũng dư rõ là qua lo cho tương lai của cô em ghê lắm. Cô em ở long chong như vầy… hổng phải qua sợ tốn hao gì, nhưng qua lo là lo cho thân phận của cô em. Cô em, dầu sao cũng còn trẻ, đường đời còn dài… chẳng lẽ cô em ở như vầy hoài sao! Làm thân đàn bà con gái ở thời buổi nầy khó lắm, nhứt là ở chốn phồn hoa đô thị rắc rối như Saigon nầy… Theo qua nghĩ trước hay sau gì cũng vậy, cô em cần phải tìm chỗ nào kha khá để mình có thể nương tựa được trong những lúc mưa nắng thất thường. Qua nói như vậy cô em nghe có phải hông?

Thím Hương cười đáp:

– Trời ơi, chuyện nhà chuyện cửa tôi còn mê mênау chưa thấy đâu là đâu hết…

Bà Tư nghiêm mặt lại:

– Hông… qua nói thiệt mà em. Qua thương em lắm nên mới ôm lấy chuyện của thiên hạ để lo như vậy. Nhưng trước hết, cô em để qua nói cho hết… chỗ nầy người ta là người đàng hoàng lắm và lại có căn cơ làm ăn bề bộn dữ lắm, ông chủ Hồng-Phát lại mời qua với cô em đi coi cái lương và đi Chợ Lớn ăn hoài, cô enn còn nhớ hông?

Thím Hương cười đáp:

– Dạ nhớ. Nhưng…

– Nhưng sao? Bộ cô em… ngại chỗ người ta hơi trọng tuổi hả?

Thím Hương lắc đầu:

– Dạ hông. Tui như vầy mà còn dám chê ai…

Bà Tư ngồi nhích lại gần thêm một chút nữa:

– Người có tuổi một chút họ mới đàng hoàng cô em à. Đời bây giờ mà cô em rớ tới mấy thứ lấc ca lấc cấc thì hổng bền đâu! Người ta trọng tuổi thì mới quý, mới chuộng mình. Cô em hổng biết chớ trước đây, thiếu gì người làm mai làm mối cho ổng có mười sáu, mười bảy tuổi nhưng ổng đều gạt ra hết… Hổng biết sao, lần đầu tiên ổng thấy cô em là ổng ưng ý liền. Ổng nói với qua năm lần bảy lượt, nhờ qua giúp ổng đánh tiếng cho em hay, nhưng qua dụ dự hoài… Hôm nay thấy cô vui vui qua làm gan nói đại, chớ hông thôi ổng hối thúc ngày một ngày hai thì qua chịu hổng nổi! Cô em nghĩ kỹ lại đi, chớ bỏ lỡ cái đám nầy cũng uổng lắm.

Thím Hương gượng cười:

– Cám ơn bác có lòng lo cho tôi. Nhưng chẳng giấu gì bác, bây giờ tôi ngán trân cái chuyện chồng con. Tôi chỉ mong sao kiếm rước hai đứa nhỏ về để mẹ con sống bên nhau là mãn nguyện rồi.

Bà Tư chắc lưỡi:

– Thì ai có cấm cô em kiếm sắp nhỏ về nuôi đâu. Chính vì qua nghĩ tới hai đứa con của cô em nên qua mới giới thiệu cái đám nầy. Tụi nó một ngày một lớn thì mình phải lo kiếm chỗ đàng hoàng để có nơi nương tựa cho chúng nó ăn học đến nơi đến chốn với người ta chớ.

Thím Hương ấp úng tìm cách nói lảng ra:

– Bác nói như vậy rất phải, nhưng tôi xin bác… để thủng thỉnh tôi lo cho xong chuyện mấy đứa nhỏ… Nhờ bác giúp vô thì chuyện ấy cũng có lâu lắc gì…

Bà Tư thở dài:

– Thôi em nói vậy qua cũng chẳng dám ép, miễn là dầu sớm hay muộn gì cô em đừng để qua… thất lời với ông chủ đó là được rồi.

Thím Hương có vẻ chưng hửng:

– Bộ bác đã hứa hẹn điều gì với người ta rồi sao?

Bà Tư cười giả lả:

– Thì… ông chủ ổng tốt quá nên qua… cầm lòng hổng đậu. Với lại người ta như vậy, em như vầy… thì qua hỏi mình còn đòi trời đòi trăng gì nữa! Phải qua như em qua… ừ liền!…

Vào khoảng mười giờ tối, bà Tư sầm sập trở về nhà, quăng chiếc bóp đầm to bằng mo trầu trên đi-văng nghe cái rầm rồi hướng vào nhà trong quát gọi:

– Có đứa nào ở trỏng ra đây tao biểu một chút coi!

Cô Ngọc-Anh hấp tấp chạy ra:

– Chi đó má?

Bà Tư quắc mắt hỏi:

– Bà nội đó về đây chưa?

Cô Ngọc-Anh ngơ ngác hỏi lại

– Dạ phải… má muốn hỏi chị hai không?

– Thì bà hồng đó chớ còn ai nữa!

– Dạ có. Hồi nãy ông chủ gì đó đưa chỉ về đây bằng xe hơi… Dạ chỉ nằm trong buồng…

Bà Tư cắt ngang:

– Vô thỉnh bả ra đây liền cho tao! Bộ nó tính nằm vạ nữa sao chớ?

Cô Ngọc-Anh vội chạy vô nhà trong và một lát sau, thím Hương bước ra tóc tai rủ rượi, mặt mũi đỏ hoe, quần áo bèo nhèo.

Bà Tư cau mặt, háy xéo thím rồi nói trống không:

– Hứ, thứ đồ trôi sông lạc chợ mà còn làm bộ làm tịch thấy phát ghét!

Thím Hương bới cho gọn lại đầu tóc rồi nhìn thẳng vào mặt bà Tư, nói gằn từng tiếng:

– Dạ thưa bác, bác giúp tôi tự hổm nay, tôi mang ơn lắm, nhưng xin bác đừng nói nặng nhẹ với tôi như vậy!

Bà Tư cười mũi:

– Sướng hông! Tui rước cô dìa đây lo cho cơm no, áo đẹp phủ phê rồi bây giờ tính nói xốc óc tui phải hông! (rồi bà ta giở giọng hăm he). Tui nói thiệt cho cô biết: tui hổng phải điên của đâu mà phải vớt thứ cù bơ cù bấc dọc đường dọc xá như cô để dìa nuôi chơi cho mập ú đâu nghen!

Thím Hương nói xẳng lại:

– Vậy thì bác cứ tính tiền cơm, tiền quần áo đi rồi tôi sẽ trả đủ lại cho.

– Xí, cái bản mặt của cô có được bao nhiêu tiền mà bày đặt nói bảnh vậy? Mà bộ cô nói nhà của tui là nhà ngủ, là tiệm ăn hay sao mà muốn tấp vô lúc nào cũng được! Nè tui nói cho cô biết nghen; cô tính qua mặt con già nầy hổng được đâu! Cô mà xểnh ra khỏi cái nhà nầy là có xe cây đến xúc cô đem dìa bót liền! Tui quen mấy thầy dưới Ca-ti-nа họ nói… giấy tờ nội vụ của cô nhất có chồng ở dưới.

Thím Hương mở to mắt, lấp bấp hỏi lại:

– Coi, tôi làm cái gì mà… giấy tờ của tôi chất có chồng? Chắc bác dư biết tôi lên trên nầy tìm con… Tôi nhờ bác đi hỏi thăm dùm nữa mà!

Bà Tư vễnh mặt ngó lên trần nhà:

– Hứ, thời buổi nầy tui hổng dám tin ai hết! Cô đừng tính qua con mắt tui. Cái điệu của cô một là trốn chúa lộn chồng, hai là lôi thôi tiền bạc nợ nần hụi hè gì ở dưới, ba là… liên lạc dọ thám gì của mấy cha nội ở trong bưng. Tui nói hổng trật đâu mà!

Thím Hương tức mình đến nghẹn lời:

– Bác có biết rõ tôi mà bác… nói dựng ngược như vậy thì chết tôi còn gì! Bác mà hổng thương dùm tình cảnh của tôi nữa sao!

Bà Tư thở dài, hơi dịu giọng lại một chút:

– Thì… qua thương cô em nên qua mới rước cô em dìa đây, rồi qua chạy đôn chạy đáo lo cho cô em… cho đến cái vụ… ông chủ đó, qua cũng hổng nể hà gì hết đứng ra làm mai làm mối cốt để cô em có chỗ nương tựa lâu dài… Vậy mà cô em hổng xét lại dùm qua, cô em làm cho qua ê mặt ê mày với người ta hết ráo trọi!

Thím Hương ấp úng tìm cách chống chế:

– Tôi có muốn như vậy đâu… Tôi đã có thưa trước với bác rồi, vậy mà bác còn để xảy ra chuyện… không tốt đó.

Bà Tư cau mày:

– Chuyện gì mà không tốt? Cô em đã không mang ơn qua thì chớ lại còn tính đổ thừa cho qua nữa sao! Qua thương cô em…

Thím Hương bực mình chận ngang:

– Bác thương cái điệu đó thì chết tôi rồi! Bác biết ông chủ Hồng Phát ổng… làm gì tôi không?

Bà Tư nhăn mặt

– Thì người ta quý trọng mình quá đỗi nên người ta mới… vồ vập mình như vậy… Chớ qua hỏi em, một người giàu có bạc muôn bạc ức như ông chủ Hồng Phát.. ổng bao một lượt cả chục cô còn mới tinh khôi cũng được, nhưng tại sao ổng lại chỉ đeo đuổi một mình cô em? Cô em đừng quên rằng: với mớ giấy xăng của ổng, ổng chất đốt mười người như qua với cô em đây nhập lại cũng cháy rụi xương rụi cốt hết nữa!

Thím Hương nhún vai:

– Tôi cũng dư biết như vậy, nhưng tôi đã nói với bác cả chục lần là lúc nầy tôi không còn bụng dạ để nghĩ đến chuyện… lấy chồng. Tôi nói thiệt với bác, tôi hết còn ham muốn gì nữa!

Bà Tư chắc lưỡi:

 – Ai nói cô em ham muốn gì đâu… nhưng dầu sao cô em cũng phải giữ thể diện cho người ta một chút… ai biểu cô em vô trỏng rồi la lối đập cửa đòi kêu lính om sòm hả? Cô em hổng chịu hổng ai ép, nhưng cũng nên lựa lời ngon tiếng ngọt nói với người ta, chớ chưa gì cô nhảy а thần phù la làng lên như là bị…Tây đè thì còn gì mặt mũi ông chủ?… Ở đây là chỗ…văn minh, chớ bộ như dưới vườn hay sao mà động tới một chút là la làng chói lói và nỗi mõ hồi một lung tung lên! Cô em gặp ông chủ Hồng Phát là người hiền, chứ nếu gặp mấy ông khác, chém chết mấy ổng cũng nổi xung lên nói ngược trở lại cô em là một con điếm lậu vô trong phòng ngủ người ta để ăn cắp tiền hay để… ám sát… Sơ sơ nội bấy nhiêu đó cũng đủ gởi cô em vô nhà thương Bạc Hà hay cho đi ăn cơm gạo lức một đôi năm cũng hông chừng… Đó, bây giờ cô em có thấy làm những chuyện như vậy là dại hay không?

Bà ta thở ra một hơi dài rồi nói tiếp:

– Thiệt hú hồn hú vía, ông chủ Hồng Phát là người nhơn đức quá…Ổng thấy cô em làm dữ như vậy, ổng vội chở cô em trả dìa đây liền…

Thím Hương tò mò hỏi vô:

– Nhưng ai cho bác… hay tin, bác trở về đây mau quá vậy?

Bà Tư trề môi:

– Ý trời ơi, ông chủ Hồng Phát chớ ai nữa! Ổng tức tốc đi kiếm qua để xài xể một trận thiếu điều muốn độn thổ chớ hổng dám ngó thấy mặt ổng nữa. Cô em nghĩ coi: ổng… tốt như vậy mà mình để… xọc dưa hết trơn hết trọi kỳ quá! Rốt cuộc rồi cũng chỉ có qua lãnh đủ!

Thím Hương ấp úng nói chen vô:

– Tôi cũng biết là phiền bác lắm… nhưng đầu đuôi… chẳng phải tại tôi, xin bác hiểu dùm.

Bà Tư gật gù:

– Thì qua hiểu nhiều rồi nên qua mới nhỏ riêng với cô em như vậy, chớ thử thời ai vô đó coi qua có dệnh cho té trứng hông! (đến đây bà ta dịu giọng hẳn)… Nè cô em, bận sau đừng có dại như vậy nghen. Lần đầu ổng bỏ qua thì mình…

Thím Hương nói chận ngang:

– Dạ thưa bác, tôi xin bác… để thủng thẳng rồi sẽ tính mà bác!

Bà Tư xua tay:

– Thôi thôi, tánh qua hổng ưa nói nhiều. Cô em có thân, có muốn còn gặp mặt hai đứa nhỏ thì cô em ráng lo. Tiện đây qua cũng nói trước: cô em hổng dễ gì tính chuyện rời khỏi cái nhà nầy một cách êm rơ đâu nghen. Qua vui thì thôi mà hễ qua buồn buồn qua hô lên là trong nhà mất hết mấy trăm ngàn, mấy chiếc neo cùng bông tai, mề đai, cà rá hột xoàn là cò bót đến bợ cô em đi liền nghen!

Đoạn bà ta đứng dậy, cười lạt:

– Ở đời hễ muốn dễ thì người ta dễ cho, còn muốn khó thì người ta cũng… khó cho vừa sức mình mà cô em!

Buông xong câu thòng nầy rồi bà Tư ngáp dội một tiếng dài rồi lạch bạch bước vô nhà trong như không có chụyện gì xảy ra hết.

Thím Hương ngồi phịch xuống đi văng, đưa hai tay ôm lấy đầu. Thím vừa bối rối, vừa chán nản vì nghĩ không ra kế nào thoát khỏi tình cảnh nguy nan nầy một cách êm thấm hết.

Ví dầu thím muốn xuất tiền ra để trả đầy đủ các khoản ăn ở, may mặc cho bà Tư cũng chẳng được. Thế nào bà ta chẳng chụp lấy dịp đó để hô hoáng lên là thím đã ăn cắp hay giựt tiền của ai ở dưới tỉnh rồi trốn lên đây ẩn náu!

Chỉ còn cách lén trốn đi…

Vừa lúc ấy, cô Ngọc-Anh mắt nhắm mắt mở từ trong buồng bước ra, tay xách một cái ống khóa to tướng đến móc khóa thêm ở bên trong cửa rồi rút chìa khóa mang đi…

Chiều hôm ấy, trong lúc thím Hương đang ngồi ủ rũ trước bàn phấn trong buồng thì nghe có tiếng xe hơi đậu lại ngoài đường và liền theo đó tiếng của bà Tư xon xỏn kêu vọng vô:

– Ngọc-Anh, Thu-Nguyệt đâu? Coi chị hai bây sửa soạn rồi chưa ra mau, hông thôi ông chủ đợi nghen!

Vừa thấy hai cô ấy ló đầu vô, thím Hương bảo liền:

– Nhờ hai cô ra nói dùm hôm nay tôi bịnh..

Cả hai cô cùng lắc đầu, riêng Ngọc Anh lanh miệng đáp:

– Thôi, tụi tui hổng dám đâu chị, chị sửa soạn rồi thì ráng đi đại, hông thôi bả vô thì tụi tui cũng bị họa lây.

Thím Hương cứ ngồi lì một chỗ trong lúc tiếng kèn xe Huê Kỳ của ông chủ Hồng Phát “pin pin” vang lên liên hồi như hối thúc nôn lên…

Rồi bà Tư hấp tấp chạy ra và kêu rối rít:

– Mèn đét ơi, sao cô em dình dàng trong nầy lâu dư vậy! ông chủ chờ cô ở ngoài kia! Người ta đúng hẹn mà mình lừng khừng quá như vậy coi sáo được (day qua hai cô Ngọc Anh và Thu Nguyệt bà dõng dạc ra lịnh)… Hai đứa bây mau mau đi, mở tủ lấy áo, lấy bóp, lấy dép cho chị Hai bây rút lên!

Trong lúc hai cô nầy còn đang đứng lựng khựng một chỗ chưa biết phải làm thế nào thì thím đã lên tiếng:

–  Dạ thưa bác, nhờ bác ra nói dùm với ông chủ…

Bà Tư quắc mắt nhìn thím:

— Đọ, bộ tính ‘‘chứng’’ nữa sao chớ?

Thím Hương cúi mặt xuống, giọng năn nỉ:

– Bác làm ơn ra nói lại với ổng… hôm hay tôi hơi bịnh.

Bà Tư chống nạnh lên, hất hàm hỏi:

– Cô em sởn sơ như vậy mà bịnh gì.. ngang xương vậy?

Thím Hương ấp úng đáp:

– Dạ hôm nay tôi… dơ trong mình nên bần thần dã dượi quá.

Bà Tư cười mũi rồi xua tay lia lịa:

– Thôi thôi, cô em đừng bày đặt chuyện. Phải ai nói như vậy qua cũng tin hết thì giờ phút nầy qua đi ăn xin ở chợ Bến Thành rồi. Qua rành mấy cái chuyện đó quá mà!… Nhứt là cô em ở đậu nhà qua nữa mà qua hổng biết ngày nào sạch ngày nào dơ hay sao!

Nói đến đây bà ta xuống giọng vỗ về:

– Thôi ráng đi một chút với ổng đi cô em! Nếu cô em hổng muốn…gắp thì mình lựa lời nói với ổng. Dễ ợt mà! Đàn ông… một khi họ ‘‘lậm’’ mình thì cô em muốn nói trời nói đất gì đó mà họ không nghe. Cô lớn khôn, từng trải nhiều rồi chớ đâu phải bơ bơ như hai con Ngọc Anh, Thu Nguyệt mà mỗi cái qua phải dạy, phải chỉ hết!

Thím Hương nhăn nhó:

– Bác nói vậy chớ tôi… sợ lắm. Chuyến nầy rủi ổng chở tui đi đâu thì sao? Trên nầy đường sá lung tung tôi chẳng rõ chỗ nào là chỗ nào hết… rồi chẳng lẽ tôi la làng hay kêu lính nữa sao!… Rủi ổng lật ngược lật trái thưa gởi trở lại tôi thì ai vô đó làm chứng đây!

Bà Tư nhích mép cười:

– Cô em biết như vậy là… khá lắm rồi. Đừng lo, ông chủ nầy hiền lắm, miễn là mình đừng làm quá! Đối đế lắm người ta mới thưa gởi chớ những người làm ăn có bề thế ai muốn dính dáng tới cò bót làm chi?

Thím Hương chép miệng than thở:

– Thiệt bác làm cho tôi khó xử quá…

– Coi, qua thương cô em hết sức mà cô em còn nói như vậy nữa chớ! Cái gì mà dễ với khó… qua biểu cô em đi đại hông thôi ổng đợi lâu quá rồi. Nói cho cùng mà nghe: cô em cũng đâu có mất mát gì mà lo; phải chi cô em là con gái mới lớn lên thì sợ cũng phải, đằng nầy…

Bà ta bỏ lửng giữa câu để soi mói nhìn thím Hương qua một lượt từ đầu đến chân rồi lẩm bẩm:

– Thiệt cũng lạ… tướng tá vung trùn như vậy mà nhát cái chuyện kia thì trái cựa quá…

Thím Hương xẻn lẻn ngó lơ đi chỗ khác

Bà Tư bèn quay qua bảo cô Ngọc Anh mang chiếc áo dài của thím Hương lại.

Thím uể oải đứng lên xỏ tay vào áo. Bà Tư kềm bên, lấy bình dầu thơm có vòi bơm xịt lia lịa lên trên đầu, trên cổ thím, chụp lấy cái bóp đầm nhét vô tay thím, đoạn xô nhẹ thím đi tới, miệng thì thầm dặn dò:

– Nè cô em, chuyến nầy qua hổng muốn có chuyệa gì rắc rối xảy ra hết nghen! Nếu cô em còn bê bối như hôm trước nữa, qua buông luôn đa!

Thím Hương làm thinh lùi lủi đi tới…

… Ông chủ Hồng Phát tươi cười vói tay mở cửa xe và đon đả lên tiếng:

– Xin mời cô hai lên. Cha, tự nãy giờ tôi chờ muốn hụt hơi, mòn con mắt…

Bà Tư vội đỡ lời thím Hương:

– Xin ông chủ cảm phiền… Dạ bị cô em đây mắc sửa soạn một chút… (chợt thấy thím có vẻ do dự, bà ta đẩy mạnh thím tới)… Leo lên xe đi cô ! Cô em muốn đi tới chừng nào về cũng được qua hổng đợi đâu !

Thím Hương vẫn đứng chịu lại một chỗ.

– Thôi để tôi xuống ngồi ở băng sau.

Bà Tư trợn mắt:

– Bậy nà! Bộ ông chủ đâỵ là xốp phơ cầm tay bánh cho cô em đi chơi hay sao mà cô em đòi ngồi ở phía sau cà!

 Đoạn không đợi cho thím Hương kiếm cách chống chế gì thêm nữa, bà ta xô đại thím lên xe, vói tay đóng sập cửa lại, rồi tươi cười nói vọng qua bên ông Hồng Phát:

– Đó, tôi giao cổ cho ông chủ nghen! Chuyến nầy ông ráng… khéo tay khéo chân làm sao chớ phận sự của tôi hết rồi đa!

Ông Hồng Phát cười xòa, ngó xéo qua thím Hương rồi đưa tay vẫy chào bà Tư trước khi rồ ga cho xe chạy thẳng…

Liếc thấy thím Hương ké né ngồi sát vô cánh cửa, ông Hồng Phát cười nói :

– Cha, đi xe Huê Kỳ rộng thênh thang mà sao cô ngồi co ro như vậy coi sao được! Mà sao cô buồn xo vậy?

Thím Hương nhăn nhó đáp:

– Dạ được mà ông chủ…

Ông Hồng Phát hỏi nhắc lại:

– Mà sao cô hổng được vui cà? Bộ có chuyện gì… lộn xộn với bà Tư hả?

– Tôi vui sao nỗi ông chủ! Và vì lẽ gì… ông chủ chắc rõ hơn tôi rồi…

Ông Hồng Phát chắc lưỡi than thở:

– Thiệt không dè tôi… vô duyên hết sức! Tôi hỏi thiệt cô: cô chê trách tôi điều gì, cô cứ nói đại đi.

Thím Hương khẽ lắc đầu

– Thân phận tôi như vầy thì đâu dám chê bai ai… Tôi có việc lo riêng mà ông chủ không chịu hiểu dùm tôi.

– Ý trời, tôi hiểu ghê lắm nên hôm nay tôi mới tới… quỳ lụy cô như vầy. Tôi nói như thế cô vừa lòng đẹp dạ chưa?

Thím Hương gượng cười

– Cám ơn ông chủ.

Ông Hồng Phát hứng chí vỗ nhẹ vào tay lái và kêu lên:

– Nghe cô cảm ơn, tôi mát ruột mát gan như được uống cả ký-lô sâm Cao ly vậy! Nhưng cô làm phước cười cho… tươi tươi một chút xíu nữa coi!

Thím Hương nhặn mặt:

– Hôm nay, tôi… đau gần chết mà cười tươi gì nỗi!

 Ông Hồng Phát sốt sắng hỏi liền:

– Cô đau chi đó cô? Để tôi đưa đi lại đằng anh đốc-tơ quen xem bịnh nghen?

Thím Hương khẽ lắc đầu:

–  Thiệt ra hôm nay tôi… dơ trong mình nên đau bụng lẩm nhẩm và choáng váng mặt mày vậy thôi…

Ông Hồng Phát trợn mắt kêu lên:

– Đau như vậy… chết cha tôi rồi! Thiệt tôi gặp ngày xui xẻo tận mạng mà! Cái điệu nầy tối đêm nay tôi… xách xe không chạy nữa!

Thím Hương bắt mỉm cười:

– Dạ… xin ông chủ cảm phiền…

Ông Hồng Phát thở dài:

– Thì tôi cũng đành vuốt bụng chịu vậy chứ sao!

Thím Hương rụt rè nói vô:

– Vậy xin ông chủ… cho tôi về, để khi khác…

Ông Hồng Phát bậm trợn lắc đầu:

– Về liền sao được! Ít ra cô cũng phải để tôi đưa cô đi chơi vài vòng… hay là mình thả xuống dưới miệt Lăng-tô hứng mát rồi kiếm tôm cua gì ăn chớ về gì giờ nầy? Hay là để tôi chở cô hai đi đốc tơ trước…

– Thôi ông chủ à… Hay là ông chủ chạy ngang qua tiệm thuốc bắc nào đó, ông chủ chịu khó ghé lại để tôi chạy vô mua một hộp thuốc về uống… Dạ, hồi ở dưới vườn tôi thường hay dùng thuốc Bắc lắm!

Ông Hồng Phát trề môi:

– Ý không nên! Đời bây giờ thuốc Tây thiếu gì mà cô còn xài chi ba thứ thuốc cao đơn hườn tán bá láp đó! Để tôi quay trở ra Sàigòn ghé lại một nhà thuốc gác mua thuốc cho cô, rồi mình đi thẳng xuống bến tàu Nhà Rồng luôn…

– Ông chủ có biết thứ gì là thứ gì mà mua?

Ông Hồng Phát vểnh mặt lên:

– Tôi mua tới cái gì nữa cũng được chớ đừng nói gì ba thứ thuốc vặt cho đàn bà đó!

Đoạn ông ta cho xe chạy trở ra Saigon và chăm chú lo lái chớ không luôn miệng chuyện trò bông lơn với thím Hương nữa vì càng gần tới chợ Bến Thành ông Hồng Phát phải đổ mồ hôi hột vì lo lách qua, lách lại để tránh từng đám lính Tây say đang nghiêng ngã níu nhau đi giữa đường bất kể xe cộ.

Thím Hương, hai tay bám chặt vào mép nệm xe, tò mò hỏi ông Hồng Phát:

– Sao tối đêm nay lính Tây ở đâu túa ra dữ vậy ông chủ? Mà tôi coi bộ ông nào ông nấy cũng say mèm hết hả ông chủ?

Ông Hồng Phát nhún vai:

– Tôi quên phứt ngày hôm nay là ngày lễ lớn của ba ông nội lính Lê dương đó chớ hông thôi tôi lái xe đi ngã khác phứt cho rồi! Ối thôi, gặp ngày nầy mấy cha nội đó không còn biết trời đất gì nữa. Cô không thấy tiệm quán, nhà hàng gì cũng phải đóng cửa kín mít lại hết đó sao!

Ông Hồng Phát cho xe đậu vô một chỗ hơi khuất ở gần nhà ga xe lửa rồi quay qua bảo thím Hương:

– Cái điệu nầy tôi phải ở đây để giữ xe chớ hông thôi ba ông nội đó thấy cô ngồi một mình mấy ổng dám… bợ luôn đi hay là đập phá cái xe Huê-Kỳ của tôi thì cũng… chết một cửa tứ ! Tôi canh ở đây để rủi mấy ổng xáp lại tôi vọt ga dông tránh đi chỗ khác… như vậy tiện hơn. Cô chạy đi mua thuốc cho mau rồi quay về đây liền nghen!

Vừa nói ông ta vừa vói tay mở cửa trước cho thím.

Thím Hương mỉm cười, ngẩng cổ nhìn sang phía bên kia đường như để dò xét cái gì…

Ông Hồng Phát lại hỏi:

– Cô đi đại hổng sao mà! Nhà thuốc gác ở chỗ gần góc đường đó. Cô biểu họ chọn cho cô thứ thuốc… theo bịnh của cô là họ bán liền (đoạn ông ta móc bóp rút ra hai tờ giấy xăng) đây cô cầm đỡ tiền nầy…

Thím Hương xua tay từ chối:

– Thôi tôi có sẵn tiền mà ông chủ (rồi thím lanh lẹ bước ra khỏi xe, đóng mạnh cửa lại, ghé đầu vô mỉm cười nhìn ông Hồng Phát). Tôi đi nghen ông Chủ!

Ông Hồng Phát hể hả đáp:

– Dữ hông, từ hồi tối tới bây giờ tôi mới thấy cô cười một cái đáng đồng tiền! Hôm nay tôi… lỗ sở hụi nhiều quá, bữa khác tôi phải bắt đền cô… nhiều lắm nghen!

Thím Hương thoáng cau mày đoạn ngập ngừng đáp:

– Thiệt tôi làm phiền ông chủ nhiều quá… Dầu sao, tôi cũng rất cảm ơn ông chủ và xin ông chủ đừng… oán trách tôi nghen?

Ông Hồng Phát làm ra vẻ không bằng lòng:

– Cô đừng nói vậy, tôi giận đa! Thôi cô chạy đi mua thuốc cho mau chớ tôi cho đậu xe tại chỗ nầy cũng ngán quá. Mấy ông ba đá say sưa đi đầy đàng đầy xá như vầy thì sống sao nổi!

Thím Hương nhíu mày nhìn ông ta trong một giây rồi lật đật bước băng qua đường. Đặt khuỷu tay trái tựa lên thành cửa kiến xe, ông Hồng Phát ngồi dựa ngửa vừa trìu mến nhìn theo dáng đi của thím, vừa nhịp nhịp mấy ngón tay mặt lên vòng vô-lăng…

Bỗng ông ta ngồi nhỏm lên, thò đầu ra ngoài xe, lớn tiếng réo gọi thím Hương:

– Cô hai ơi, cô hai! Nhà thuốc Tây ở phía đằng nầy mà!

Thím Hương thay vì đi thẳng tới nhà thuốc lại rảo bước bét ra phía ngả ba Boudonnet – Dupré. Và khi nghe tiếng ông Hồng Phát réo gọi phía sau lưng thím lại phát chạy quẹo tuốc vô góc đường.

Ông Hồng Phát chưng hững kêu lên:

– Ý trời, bộ con mẹ nầy tính đi trốn sao mà!

Ông ta liền đẩy cửa ra, bước xuống đường định chạy đuổi theo nhưng cũng vừa lúc ấy một đám Tây say dắt nhau đi trờ tới. Bọn nầy thấy xe đẹp nên bu lại, người thì vỗ thùng xe rầm rầm, kẻ thì xáp lại xí xô xí xào hỏi chuyện trên trời dưới đất với ông Hồng Phát.

Ông ta hoảng kinh, leo tót lên xe, đóng sập cửa lại, hấp tấp mở máy vọt đi….

Còn thím Hương sợ ông ta rượt theo nên càng thêm lúng túng không biết nên đi về hướng nào. Cuối cùng thím rảo bước vào một con đường nhỏ đâm ngang qua hông chợ Bến Thành. Trong thời quân đội viễn chinh Pháp mới trở qua, đó là một con đường có nhiều gái giang hồ thường hay ăn mặc hớ hênh xông ra đón mời khách làng chơi một cách thật suồng sã.

Đêm hôm ấy, con dường đặc biệt nầy náo nhiệt lạ thường. Các cô ả buôn hương được dịp níu kéo lớp lính Tây đổ xô về đó…

Thím Hương vừa bương bả đi tới lại phải dội ngược trước cảnh hỗn độn ấy. Thím vội tháo lui để trở ra đường Dupré nhưng vừa lúc ấy một toán Tây say rống cổ ca hát om sòm đi trờ tới chận bít ngang lộ.

Có lẽ lầm tưởng thím là… dân trong giới bán phấn nên họ а lại kẻ níu người kéo. Thím Hương càng chống cự bao nhiêu thì họ càng sấn tới bấy nhiêu và như tìm thấy thêm sự thích thú trong những cử chỉ chống trả của thím Hương vậy.

Thím Hương cố sức vùng mạnh để mong chạy vuột đi, nhưng một đầu vạt áo dài của thím Hương bị một cánh tay lông lá chụp lấy ghịt lại;

Thím ráng hết sức bương càng tới và soạt một cái, cả một đoạn của vạt áo bằng hàng bombay mỏng bị rách bứt ngang. Đám lính Tây say cười rộ lên và càng sấn tới níu kéo giữ thím lại…

Chẳng mấy chốc luôn cả chiếc áo dài kia rách soạt ra thành nhiều mảnh, và bọn lính hò reo đùa nhau tung những mảnh ‘‘chiến lợi phẩm’’ ấy lên trời…

Những đoạn hàng Bom bay màu rách tưa, tả tơi rơi xuống đất để rồi bị những đôi giày đinh phũ phàng dẫm lên.

Liền theo đó, như bị kích thích đến cực độ, như chợt sống theo bản năng man rợ cuồng loạn nhứt, bọn lính say hè nhau nhấc bỗng thím Hương lên và khiêng thẳng vào một nhà chứa gần đó mặc cho thím chòi đạp, mặc cho thím cấu cào, mặc cho thím gào thét…

Đầu tóc xổ tung ra, áo quần rách mướp, thím Hương có vẻ như là một… người sắp bị đưa vào lò sát sanh hay là một vật hy sinh của một bộ lạc man dã khiêng đi đem tế thần.

Bọn lính xô vẹt mọi người mà chúng gặp trong nhà chứa ra để xốc bê thím Hương đi thẳng vào một căn buồng đầu tiên mà chúng gặp, bất chấp những tiếng kêu rú lên của mấy cô gái điếm, những tiếng chửi thề ỏm tỏi của mấy tên lính khác bực mình vì bị quấy rầy… không phải lúc.

Bọn lính say khiêng thím Hương lại một chiếc giường kế cận, hai tên xông lên xô hất một cặp đang nằm trên ấy rơi tuột xuống đất để cho bọn đi sau quăng thím Hương nằm lên đó…

Thím Hương còn sức đâu để gào thét, để chống cự, và chỉ thoáng một cái mấy hàng nút bóp trên chiếc áo túi mặc trong bị giật tung…

… Rồi bọn lính say nhao nhao la lối chửi rủa một tên trong bọn đã vụng tay làm thắc gúc sợi dây lưng mỏng manh kia, và như không còn thể nào trì chí được nữa, tên ấy nghiến răng cắn lấy sợi dây vải giựt mạnh…

Nhưng bỗng nhiên cả bọn cùng kêu ồ lên một tiếng kinh ngạc, rồi không ai bảo ai chúng lấn nhau vồ lấy chiếc ruột tượng của thím Hương buộc ở quanh bụng.

Vốn có kinh nghiệm it nhiều về cách đeo dấu tiền bạc theo điệu buộc ruột tượng của một số dân nhà giàu ở miền quê qua những cuộc hành quân càn quét, bọn lính say như… tỉnh hẳn rượu và không còn thiết gì đến một phần thân mình của thím Hương đang nằm phô ra trên giường…

Một tên trong bọn rút liền ra một con dao găm, cắt ngang chỗ mối buộc của chiếc ruột tượng rồi tiện tay rọc tét một đường dọc theo chiều dài của chiếc thắt lưng no phồng ấy…

Từng xấp giấy bạc dầy cộm, từng mớ nữ trang vàng chói văng rớt lên trên mặt giường, và các tên lính say lại một phen lấn nhau cúi xuống quơ chụp tiền của bất ngờ đó, rồi bọn chúng giành giựt trên tay nhau như là một đám giặc nhỏ.

Ban đầu, thím Hương còn nằm chết cứng để trố mắt nhìn rồi kế đấy, thấy bọn lính như quên lảng mình còn nằm đó, thím bò rột dậy len lén tuột ra khỏi giường để nép mình vô sau cánh cửa buồng.

Thím vội vã vận chắc lưng quần lại, gài kín mấy nút áo túi như cũ rồi ngó trước ngó sau không thấy ai để ý, thím bèn vọt chạy ra ngoài cửa…

Tới chừng ấy, có vài tên lính không chụp giựt được một đồng xu nào trong số tiền ở chiếc ruột tượng mới chợt trông thấy. Mấy tên nầy liền rủ nhau chạy rượt theo gở gạt…

Nghe có tiếng giày đinh nện rầm rập ở phía sau lưng, thím Hương càng cấm đầu cấm cổ chạy miết.

Thím nhắm về hướng đường lớn ban nãy để chạy lộn trở ra đó. Đến góc đường Dupré – thím băng càn qua lộ, định chạy đến cầu cứu nơi một thầy phú lít đứng gác gần đấy.

Riêng phần thầy nầy, vốn quen thuộc với cảnh Tây say rượu phá gái điếm nên thầy vội ngó lơ chọ yên chuyện. Nhứt là trong ngày lễ… dễ ngán nầy, thầy ta càng không muốn dính dấp gì vô cái đám Tây say bất kể trời đất ấy.

Vì quá hoảng sợ, thím Hương cứ chạy bừa tới. Đúng vào lúc thím vượt được một phần ba mặt lộ thì một chiếc xe nhà binh mười bánh chạy trờ tới…

Tên lính Tây cầm lái trên xe vừa bóp còi inh ỏi vừa quát mắng om sòm. Thím Hương chỉ kịp thấy xe hầm hừ lao tới là đã bị một về xe quẹt trúng té văng ra một bên ngay mặt lộ.

Mười chiếc bánh xe bị thắng gắp rít trên đường nhựa. Tên lái xe tông cửa nhảy xuống và khi nhận thấy thím chỉ bị ngất đi chớ không đến đỗi nào, hắn ta lại to tiếng ‘‘xạc-cà-rây’’ một hồi nữa rồi hấp tấp leo trở lên xe rồ máy chạy thẳng.

Một vài khách qua đường tò mò bu lại xem, trong số đó có một chị bán thuốc ở góc phố vội vã cúi xuống nâng thím Hương dậy. Chị ta hoảng kinh kêu lên khi nhận thấy có vết máu ở một bên hông của thím Hương

– Mèn ơi, xe nhà binh đụng bể ngực cô nầy rồi còn gì! Ý trời ơi, sao mắt cổ nhắm hít như vầy… bộ cổ tắt thở rồi sao hả mấy ông?

Một người đứng gần đó lên tiếng chen vô

– Chắc cổ chết giấc chớ hổng sao đâu. Bây giờ phải lo cho cổ vô nhà thương gấp cho người ta băng bó cầm máu lại mới được.

Vừa lúc ấy, tiếng còi ‘‘tu hít’’ của thầy phú lít ban nãy ré lên làm cho mọi người giựt mình quay nhìn lại. Thầy ta vừa xâm xâm đi tới, vừa xua tay bảo mọi người dang ra…Ở bên đầu đường Boudonnet, mấy tên say rượt đuổi thím Hương ban nãy giơ tay lên trời ‘‘xà lù’’ (salaud = tiếng chửi thề) vài tiếng như có vẻ thất vọng rồi thản nhiên quay trở về ngã Courbet…

Thầy phú lít ngoắc kêu anh xích lô đạp lại:

– Ê anh bạn, nhờ anh… chở dùm cô nầy lại nhà thương Chú Hỏa một chút…

Anh phu xích lô nhăn mặt, nhìn thầy ta:

– Xếp nhờ cái điệu đó… thắt họng tui rồi! Hồi chiều tui mới bị một xếp ở cửa chợ Bến Thành phạt vì đậu xe bậy, rồi đến tối bị một ông ba đá say bắt chở đi, đạp thiếu điều sút giò mà hổng trả một ‘‘nhỏ’’ nào hết…

Thầy phú lít cau mày, gắt giọng:

– Anh chịu khó chở cô nầy lại nhà thương chú Hỏa gần xịt đây mà! Anh làm phước thì được phước chớ mất mát đâu mà sợ!

Anh phu xe xích lô đạp… rên rỉ:

– Thôi thầy ơi, phước đức đâu không thấy chỉ thấy lỗ thêm một cuốc xe nữa…

Tuy nói thế, anh ta cũng đẩy xe lại phụ với chị bán thuốc khiêng thím Hương đặt lên xe, sau khi cẩn thận rút tấm vải trắng phủ nệm vì sợ vấy máu.

Vừa lúc ấy thím Hương mở mắt ra, ngơ ngác nhìn mọi người rồi day qua thầy phú lít ú ớ nói:

– Tụi nó… giựt tiền của tôi…

Chị bán thuốc vọt miệng hỏi chen vô:

– Tụi Tây giựt tiền của cô hả?

Thím Hương khẽ gật đầu, nhưng liền đó, thầy phú lít đã lên tiếng gạt ngang:

– Ối, chắc mấy ông nội đó chơi bời rồi chạy chớ giựt tiền giựt bạc khỉ gì, (đoạn thầy ta day qua bảo anh phu xe). Thôi, anh đạp rút chớ cổ vô nhà thương đi, hông thôi máu ra nhiều cổ chết bất tử trên xe của anh bây giờ.

Anh phu xích lô nghe nói vậy, hoảng kinh lật đật leo lên yên cong lưng đạp đi thẳng ra phía bùng binh chợ. Trong lúc ấy, thím Hương quá kiệt sức ngoẽo đầu qua một bên ngất đi trở lại như cũ.

Chị bán thuốc ái ngại nhìn theo rồi lắc đầu nói như để phân bua với mọi người đứng gần đó.

– Cái điệu nầy, nếu cổ sống sót cũng mang tật, như vậy còn… chơi bời làm ăn gì nữa được!

Chưa ai kịp bàn ra tán vào thêm gì nữa thì mạnh người nào người nấy vội vàng giải tán vì từ bên kia đường, một đám Tây say quơ chân múa tay kéo đến một cách thật dễ sợ…

Trong lúc ấy, giờ giới nghiêm cũng gần kề…

Sau khi đậu xe lại, anh phu xích lô hấp tấp chạy vô nhà thương réo kêu nhân viên gác:

– Thầy ơi, xin thầy cho người đem băng ca ra khiêng một cô bị xe cán…

Thầy gác chậm rãi xếp tờ báo đang đọc dở lại, nhướng mắt lên hỏi:

– Chết chưa?

– Dạ còn hoi hóp… Thầy cho khiêng cổ vô mau mau dùm…

Thầy gác chận hỏi ngang:

– Xe gì cán vậy?

– Dạ xe nhà binh… nặng lắm thầy à! Xe mười bánh mà thầy!

Thầy kia nhún vai:

– Nếu vậy thì kể như đem vô nhà xác đi!

Anh phu xích lô nhăn nhó:

– Thầy muốn đem đi đâu thì đi miễn là rinh cổ khỏi xe để tui đạp đi kiếm mối cho kịp chớ hông thôi giờ giới nghiêm tới rồi.

Thầy kia đứng dậy:

– Cổ có giấy tờ gì hông?

Anh phu xe ngó ra ngoài đường:

– Chắc hổng có đâu thầy. Cổ là dân chơi bời mà. Chắc cổ bị Tây say níu kéo gì đó nên quần áo rách bươm.

– Được rồi, để tôi biểu mấy anh cu li ra khiệng cổ vô.

… Thầy gác ở phòng ngoài chạy vô kêu thầy điều dưỡng trực:

– Thầy Năm ơi, tối hôm nay coi bộ thầy trúng mối đa!

Thầy Năm ‘‘phạm-nhe’’ (thầy Năm ở Cần Thơ đổi lên bịnh viện nầy và vẫn còn làm việc tại đó như thường, nhưng bà Tư đã đặt điều nói với thím Hương là thầy đã đổi đi lên miệt đất đỏ) hấp tấp đứng dậy:

– Bộ có bịnh mới vô nữa hả?

Thầy kia cười đáp

– Bịnh nhân nầy ngon lắm, một cô chơi bời ngộ giàng trời mây!

Thầy Năm trề môi

– Ngon cách mấy mà chở vô đây cũng… hết xài (rồi thầy nghiêm giọng lại) cô đó… bị cái gì mà giờ nầy mới chở vô đây? Bộ chán đời uống thuốc chuột, hay pháo chà tự vận hả? Mà ngày hôm nay, ngày lễ lớn của mấy ông Lê dương.. mối man thiếu gì, ngày hốt bạc mà! Chắc bị mấy chả làm hỗn hả?

Thầy gác lắc đầu:

– Hổng phải đâu, cổ bị xe nhà binh đụng.

Thầy Năm kêu lên

– Ý trời, nếu vậy thì… nặng lắm rồi. Xe nhà binh đụng thì đâu có hiền! Thôi để tôi chạy ra coi có cứu chữa cho cổ được cái gì không… Cái điệu nầy chắc phải kêu bác sĩ mới xong. Cha, ngày nầy mà cổ bị nạn như vậy thì xui cùng mình rồi còn gì!

Đoạn, thầy Năm tất tả chạy lại chỗ người đàn bà bị thương mới được chở tới.

Thầy cúi xuống, định xem sơ qua thương thế của nạn nhân coi nặng nhẹ thế nào, nhưng thầy bỗng đứng phắt lên, lắp bắp kêu thầy gác:

– Thầy hai ơi, cô nầy… tôi trông quen mặt quá!

Thầy gác quay đầu lại cười đáp:

– Nghe nói cổ là dân chơi bời ở miệt Boudonnet- Courbet mà thầy quen khỉ gì được! Hay là thầy có… rị mọ lại đó nên nhớ mặt cổ chớ gì!

Thầy Năm lắc đầu lia lịa:

– Thầy đừng nói bậy, tôi đâu ưa thứ chuyện đó… cô nầy… tôi có gặp mặt ở dưới Cần Thơ mấy lần mà, cổ là má của hai đứa nhỏ tôi nuôi ở nhà đó thầy!

Thầy gác nhíu mày:

– Đâu có lẽ kỳ vậy! Sao cổ lại trôi nổi lên trên nầy để ra nông nổi nầy? Chắc người giống người đa thầy Nam!

Thầy Năm hỏi lại liền:

– Thầy có giữ giấy tờ của cổ để vô sổ ở ngoãi hông? Nếu có là mình biết liền…

– Có giấy tờ móc xì gì đâu. Một anh xích lô đạp chở dùm cổ lại đây vậy thôi…

Thầy Năm quay lại nạn nhân:

– Được rồi, để tôi lo băng bó và chích thuốc khỏe cho cổ hồi tỉnh lại rồi sẽ biết coi có đúng là người quen của tôi ở dưới Cần Thơ không… Tôi cũng hơi nghi nghi vì hồi tôi gặp thím Hương – tức là cái cô tôi nói là quen hồi nãy đó – thím đâu có phấn son chưng diện như vầy!

Thầy gác cười xòa rồi nói vọng vô:

– Nếu đúng như thầy nói thì thiệt là… xe nhà binh đưa lối và Tây say dẫn đường để thầy gặp lại người cũ… Tôi nghe thầy nhắc nhở và trầm trồ thím đó hoài mà!… Nhưng theo tôi thì chắc hổng phải đâu…

Thầy Năm thở dài:

– Thôi, dầu cho ai đi nữa mình cũng phải lo cứu chữa cho người ta cái đã, rồi sau… nếu phải đúng là quen thì… càng tốt…

Thím Hương rên nho nhỏ rồi từ từ mở mắt ra. Thầy Năm mừng rỡ định lên tiếng thì thím đã ngơ ngác đảo mắt nhìn gian phòng, lấp bấp hỏi liền:

– Ở đây là… đâu?

– Cô đang nằm trong nhà thương. Cô bị xe nhà binh đụng nhằm nên người ta chở cô vào đây…

Thím Hương hơi nhổm người dậy, lập cập đưa tay lần dưới bụng rồi hớt hải kêu lên:

– Tiền bạc vòng vàng của tôi đâu rồi nè trời!

Thầy Năm nhíu mày nhìn thím như để dò xét, rồi ấp úng hỏi:

– Cô nói tiền bạc ở đâu mà tôi không hiểu gì ráo? Sao tôi chỉ nghe nói là cô bị xe đụng vậy thôi. Cô nhớ kỹ lại coi, người ta chở cô vào đây… cô không có mang theo giấy tờ tiền nong gì hết…

Thím Hương vẫn còn chắc lưỡi kêu trời:

– Công trình tôi cất giấu bao nhiêu tiền của ấy, nhiều lắm chớ ít ỏi gì sao…

Thầy Năm lắc đầu, lựa lời an ủi thím!

– Thôi… cô nên lo tĩnh dưỡng cho mạnh khỏe thì tốt hơn. Thường thường hễ trong mình còn yếu, nhứt là khi vừa qua khỏi một tai nạn hiễm nghèo thì hay…suy nghĩ lộn xộn lắm. Tôi làm nghề nầy lâu năm rồi tôi biết, có người… họ còn nói sảng nói mê nữa cô à! Không chừng cô… để quên đâu đó…

Thím Hương có vẻ bực mình:

– Bộ thầy nói tôi… không tỉnh trí hả?

Thầy Năm đành cười trừ:

– Xin lỗi cô, tôi đâu dám nói như vậy…

Rồi như nhớ trực lại điều gì, thầy vội hỏi liền theo:

 – Thưa cô, nếu cô thấy khỏe khoắn trong mình đôi chút cho tôi hỏi thăm điều nầy… Có phải cô gốc gác là người ở dưới Cần Thơ không?

Thím Hương giật mình ngẩng mặt lên nhìn thầy Năm đăm đăm rồi sửng sốt kêu lên:

– Ủa… tôi trông thầy ngờ ngợ… (Thím dụi mắt mấy cái liền) Ủa thầy… Năm đây mà!

Thầy Năm thở phào ra một hơi dài rồi mỉm cười dịu dàng hỏi lại :

– Còn cô… là thím Hương đó phải không? Tôi nói hổng sai mà!

Thím định ngồi dậy nhưng rồi nhăn nhó nằm vật xuống.

Thấy thế, thầy Năm vội kéo gối nâng đầu cho thím nằm hơi dốc lên:

– Cô… à quên, thím nằm nghĩ cho khỏe đi, mình nói chuyện sau cũng được.

Thím Hương nóng nảy hỏi liền:

– Mấy đứa nhỏ…

– Thím cứ yên tâm, trước cũng như sau tôi lo cho mấy đứa nó đàng hoàng lắm, và hiện tụi nó đang ở trong nhà tôi tại xóm Nancy.

– Vậy hả! Trời ơi, tôi to cho tụi nó quá… Mà sao thầy không nhìn ra tôi liền để tôi đỡ lo hả thầy Năm?

Thầy Năm cười đáp:

– Tôi giáp mặt thím là tôi sanh nghi rồi nhưng… bị nghe người ta nói thím… ở miệt đường Courbet Boudonnet… bị thím sửa soạn bộ vận… có hơi khác hồi đó, với lại trong mình thím không có một chút giấy tờ gì hết, phần thì… bất ngờ quá nên tôi cũng không dám cả quyết gì cho lắm… Còn thím, sao thím không nhận ra tôi?

Thím Hương nhìn lại thầy:

– Thầy nghĩ coi, trong lúc tôi bị nạn như vầy, đầu óc gì rối ren hết thì làm sao nhìn kỹ ai là ai được. Với lại bây giờ thầy… mập mạp khác hơn trước nhiều, thầy còn lại bận áo trắng rộng phùng phình, đầu đội cái… nón chụp trắng kia nữa nên trông lạ quá. Hồi đó tôi gặp thầy ở nhà bận đồ mát chớ đâu có bận thứ quần áo… nhà thương nầy!

Đoạn, thím thở dài nói tiếp:

– Hơn nữa tôi tưởng thầy đã đổi lên miệt rừng sâu nước độc rồi chớ đâu có dè thầy còn ở Saigon… có phải nhà thương nầy là nhà thương Chú Hỏa không thầy?

Thầy Năm không giấu vẻ ngạc nhiên:

– Ủa, té ra thím biết tôi ở đây sao?

Thím Hương khẽ gật đầu:

– Tôi hỏi thăm dưới Cần Thơ họ chỉ lên trên nầy là tôi vọt đi liền để kiếm mấy đứa nhỏ…

– Mà sao thím không đi thẳng lại đây kiếm tôi?

Thím Hương thở dài:

– Phải vậy thì tôi đầu có khổ sở điêu đứng như thế nầy! Đầu đuôi câu chuyện nó… rắc rối như thế nầy để tôi kể rõ cho thầy nghe rồi thầy mới hiểu…

Đoạn thím thuật sơ lại cho thầy Năm nghe cuộc gặp gỡ giữa thím và bà Tư cùng mọi việc xảy ra kế tiếp theo đó.

Kể xong, thím Hương cười chua chát bảo thầy Năm:

– Thầy không biết chớ tự hồi giặc giã tới giờ tôi toàn gặp chuyện xui xẻo và còn… ráng thêm một keo vừa rồi nữa mới được gặp mặt thầy và… mấy đứa nhỏ…

Thầy Năm chắc lưỡi

– Con mẹ gì ác nhơn thất đức quá! Sao bả nói vậy mà thím… lại nghe tin theo?

– Thì thầy nghĩ coi, tôi mới tản cư về kế dông tuốt lên trên nầy, cái gì cũng lạ hoắc hết nên bà Tư bả nói cái gì tôi cũng ngán, cũng… nghe hết. Đến chừng rõ ra thì chỉ có nước liều mạng kiếm cách trốn. Trời xui đất khiến cho tôi chạy thoát lại đúng vào cái ngày… lễ có Tây đi đầy đường đầy xá… nên mới bị mất tiền mất của và bị xe đụng như vậy! Nhưng cũng còn may… Tôi tưởng tôi… bị mấy ông nội đó khiêng vô… làm thịt rồi chớ!

Thầy Năm thở ra:

– Hèn chi tôi nghe thầy gác nói cô… là dân ở trong mấy con đường chơi bời đó… Té ra mọi người đều hiểu bậy hết! Hồi nãy tôi thắc mắc …như thím đời nào đến nỗi… phải sa vào cảnh đó!

Ngừng một giây, thầy xẻn lẻn thú nhận thêm:

-…Bị nghe họ nói… chắc cứng như vậy, nên tôi cũng đâm ra bán tín bán nghi… hổng chắc có phải đúng, là thím hông ( và thầy cười xòa nói tiếp). Ai dè té ra là…thím thiệt!

Thím Hương thở ra, nét mặt tươi tắn hẳn lên:

– Tôi tưởng đời mình lên tới đây là… tàn rồi, nào ngờ còn gặp được thầy, gặp được mấy đứa nhỏ.

Đến đây, thím bỗng xụ mặt ngay:

– Chỉ hơi tiếc là… số tiền bạc, vòng vàng tôi dành dụm và cất giấu trong bấy lâu nay để sau nầy lo cho mấy đứa nhỏ ăn học, nào ngờ lại bị mấy ông Tây say tước mất.

Thầy Năm vội lựa lời an ủi thím:

– Thôi thím à, có lẽ nhờ… hao tài tốn của như vậy nên thím được tai qua nạn khỏi và sum họp với con. Thời buổi giặc giã nầy, mình còn được sống bình yên là quý rồi…

Thím Hương nhăn nhó hỏi vô:

– Vậy chớ không có cách nào thưa gởi họ để lấy lại sao thầy! Tiền bạc của cái ấy nhiều lắm mà!

Thầy Năm lắc đầu:

– Khó lắm thím à! Đối với mấy ông nội đó, dầu mình cất công đi thưa gởi đến đâu đi nữa thì cũng… chìm xuồng luôn, với lại có cả trăm cả ngàn ông say thì biết ai là ai…

– Còn bà Tư kia nữa? Đầu dây mối nhợ gì cũng tại bả hết! Để tui mạnh rồi thế nào tôi cũng đâm đơn kiện bả cho thầy coi!

Thầy Năm cười đáp:

– Việc nầy tôi cũng xin… can thím luôn. Mình có thưa gởi lòng vòng thì càng mất công, mất thì giờ mà chưa chắc ăn thua gì. Như lời thím nói: bả có tính chuyện… gả ép thím nhưng thím hổng chịu thì thôi… Nói cho cùng mà nghe thì cũng chẳng có bằng cớ gì rõ rệt và bà kìa bả dám nói lật ngược lật ngang lắm. Theo như thím nói, bả cũng quen lớn với ông nầy ông nọ nhiều lắm, bả mà làm tùm lum lên thì mình cũng… mệt. Thôi mọi việc mình nên bỏ qua hết đi thím. Đời nầy, ở cho yên được là quý rồi đó thím!

Thím Hương thở dài thườn thượt:

– Nói vậy tôi đành ôm bụng chịu sao thầy?

– Thì thím kể như là mình gặp tai nạn và hiện nay mọi chuyện xui xẻo ấy đều qua hết… Bây giờ thím chỉ lo tỉnh dưỡng cho khỏe mạnh hẳn lại rồi về đoàn tụ với mấy đứa nhỏ.

Thím Hương khẽ gật đầu:

– Thôi tôi xin nghe theo lời thầy… (nhưng rồi thím tỏ vẻ lo lắng) Thầy nhắm tôi có bị tật nguyền gì không?

Thầy Năm lắc đầu, cười đáp:

– Ô, thím đừng sợ chuyện đó! Thím bị đụng xe coi bộ dữ dằn vậy chớ không lấy gì làm nặng, nhiều lắm là… thành thẹo chớ không… sứt mẻ què quặt gì đâu!

Thím Hương có vẻ xẻn lẽn:

– Thiệt hú hồn hú vía, tôi cứ tưởng là dập xương sườn hay gãy xương sống gì vậy! Sao hồi mới bị tôi thấy máu me gì ra quá vậy thầy?

– Chắc thím chỉ bị chiếc xe quẹt hơi mạnh một chút làm rách da nên máu chảy chút đỉnh vậy thôi. Tôi đã băng bó xức thuốc đâu đó cho thím đàng hoàng rồi…

– Nhờ thầy ráng lo dùm tôi…

– Cố nhiên rồi! Đối với con bịnh khác tôi cũng tận tâm lo huống hồ gì là thím. Nghĩ thiệt tôi có vận may lắm mới được dịp… săn sóc thím như vầy…

Thím Hương ngượng nghịu hỏi lảng ra:

– Quên nữa, chừng nào tôi mới được gặp hai đứa nhỏ hả thầy?

Thầy Năm sốt sắng đáp:

– Tôi định để sáng sớm ngày mai tôi dẫn con Hạnh và thằng Long đến đây thăm thím. Chắc tụi nó mừng, lắm! Con Lụa cũng ở với tôi…

– Vậy hả! Thầy chạy về cho mấy đứa nhỏ hay liền dùm tôi…

– Bộ thím quên rằng sắp tới giờ giới nghiêm hay sao? Với lại tôi đâu có thể bỏ phiên gác được. Thím cứ lo nghĩ cho khỏe đêm nay đi, đến sáng mai lối bây giờ là có mặt hai đứa nó tại đây.

– Nếu vậy, suốt đêm nay tôi mừng nôn quá chắc không sao nhắm mắt được đâu.

Thầy Năm không giấu vẻ nhìn trìu mến của mình

– Tôi đã nghĩ tới chỗ đó. Để tôi đi lấy cho thím uống thứ thuốc nầy rồi thím sẽ ngủ thẳng một giấc ngon lành cho tới sáng bét.

Thím Hương liếc xéo thầy, rồi ỡm ờ hỏi:

– Thuốc gì vậy? Hổng phải thứ thuốc… của ông đạo Sáu đó chớ?

Thầy Năm ngơ ngác

– Thím nói thứ thuốc gì? Ở đây xài toàn thuốc Tây không mà!

Thím Hương ráng nhịn cười:

– Tôi nói giỡn chơi, thầy hổng biết đâu!…

Thấy con Hạnh và thằng Long toan chạy а lại giường thím Hương nằm, thầy Năm vội giữ hai đứa nó lại và thấp giọng bảo chúng:

– Khoan đã! Để cho má ngủ thêm một chút nữa, đằng nào mình cũng gặp mà!

Hai đứa nó đành đứng khựng lại nhưng không ngớt thấp thỏm nhìn về phía thím Hương.

Độ hai phút sau, một đoàn xe nhà binh nối nhau chạy rầm rập ngoài đường làm rung rinh cả cửa kiếng trong phòng bịnh khiến cho thím giật mình tỉnh giấc.

Thím vừa mở mắt ra là con Hạnh và thằng Long đổ xô lại ôm chầm lấy thím và kêu má má om sòm. Chưa chi con Hạnh đã tuôn nước mắt bù lu bù loa hỏi thăm thím Hương chưa hết câu nầy đã sang câu kia làm thím không sao trả lời được, và chỉ nghẹn ngào dang tay ôm lấy hai con.

Thầy Năm đứng yên nơi ngưỡng cửa vừa cảm động vừa sung sướng chứng kiến cảnh tượng sum họp ấy.

Một sự sum họp quá bất ngờ mà thầy đã góp công vào không ít.

Thím Hương nhoai đầu ra, chợt nhìn thấy thầy nên vội lên tiếng chào hỏi:

– Thầy Năm, sao thầy đứng tuốt ở ngỏai! Thầy dẫn tụi nó đến đây hồi nào coi bộ… sớm quá vậy?

Thầy Năm khoan thai bước lại:

– Vậy mà tôi cứ lo thấp thỏm là đưa hai đứa nhỏ đến trễ để thím sốt ruột đợi trông. Hồi nãy, thằng Long với con Hạnh tính chạy lại kêu thím nhưng tôi cản lại vì thấy thím còn ngủ ngon…

Thím Hương ra bộ lừ mắt trách móc:

– Thầy sao lo cho tôi quá vậy?

Thầy. Năm hơi mắc cỡ nên tìm cách hỏi lảng ra:

– Lâu ngày gặp lại hai đứa nhỏ… thím coi tụi nó có lớn hơn chút nào không?

Thím Hương nghểnh cổ nhìn qua hai con đoạn gật gù đáp:

– Ý chà, hai đứa trọng cải há! Thầy nuôi tụi nó… khéo tay đa!

Thầy Năm ngượng nghịu ngó lại hai đứa nhỏ:

– Mấy năm qua rồi mà hai đứa nó không lớn hơn hồi đó sao được thím! Tuổi nầy là tuổi… nhổ giò mà!

Thím Hương đưa mắt săm soi nhìn hai con từ đầu đến chân, chợt để ý đến bộ đồ sọt trắng bốp của thằng Long và chiếc áo đầm vải ca rô của con Hạnh. Thím chắc lưỡi kêu lên:

– Cha, quần áo ở đâu mà mấy đứa bây ăn mặc như con Tây vậy nè!

Con Hạnh vọt miệng đáp:

– Dạ của ba Năm đặt cho mấy tụi con đó mà!

Thím Hương nhíu mày nhìn thầy Năm

– Ba Năm?

Thầy Năm lúng túng giải thích:

– Dạ… hai đứa nhỏ… quen kêu tôi như vậy. Dạ… bị hồi đó hai đứa nó theo ở với tôi, nghe tụi nó kêu tôi bằng ‘‘thầy bà’’ hoài coi cũng… kỳ kỳ nên tôi biểu tụi nó kêu đại tôi bằng… ba Năm cho nó… gọn. Xin thím đừng chấp nhứt…

Thím Hương cười đáp:

– Tôi có dám phiền trách thầy đâu! Thì thầy cũng như là… ba nuôi của hai đứa nó rồi! Còn tôi là mẹ ruột của tụi nó mà suốt mấy năm nay lại giống như người dưng…

Thầy Năm có vẻ còn chưa an tâm:

– Tại thím mắc lo đi mua bán làm ăn nên phải vậy. Trong lúc không có thím và thầy Tư nên tôi… mạn phép biểu mấy đứa nhỏ xưng hô như vậy… Ý mà, quên nữa, thầy giáo ở đâu mà lại để thím một mình lên trên nầy kiếm mấy đứa nhỏ! Chắc thầy… kẹt ở trong vùng mấy ảnh ở trỏng nên ra không được phải không thím?

Thím Hương sa sầm nét mặt:

– Ờ… bị lu bu chuyện nầy chuyện nọ nên tôi cũng quên nói nữa, anh Tư ảnh mất rồi…

– Ý trời, Anh Giáo ảnh mất… sao đó thím?

– Anh bị… lạc đạn chết cũng khá lâu rồi thầy à!

Con Hạnh vọt miệng hỏi chen vô:

– Bộ thầy Giáo Tư chết thiệt rồi hả má?

Thím Hương khẽ gật đầu.

Con Hạnh quay qua phía thằng Long:

– Anh hai, thầy Giáo Tư chết rồi anh!

Thằng Long liếc nhanh về phía thím Hương rồi trả lời gióng một:

– Anh nghe má nói rồi mà!

Con Hạnh như không dằn nổi vui mừng cứ nói sấn tới:

– Vậy thì từ nay hai đứa mình chắc ở yên với má rồi hén anh!

Thằng Long lo lắng nhìn trộm má nó, thím Hương cúi đầu để giấu vẻ ngượng ngập… và thầy Năm liền lên liếng la rầy con Hạnh:

– Nè Hạnh, không được nói như vậy nữa nghen! Dầu sao thầy Tư cũng là… cũng có công chăm lo hai đứa bây đi học như ba Năm vậy.

Như nhớ trực lại, thầy gượng cười day qua thím Hương để tạ lỗi về hai tiếng ‘‘ba Năm’’.

– Dạ… bị lâu ngày chầy tháng… tôi quen miệng xưng hô với mấy đứa nhỏ như vậy…

Thím Hương hớn hở nắm lấy dịp nầy để… khóa lấp cho rồi câu chuyện ‘‘thầy Giáo Tư’’:

– Không sao đâu mà thầy Năm! Tụi nó được thầy xưng hô như vậy là… phước đức ông bà để lại rồi chớ còn muốn gì nữa!

Thầy Năm xẻn lẻn đẩy đưa theo:

– Dạ… con Lụa ở nhà nó cũng kêu tôi bằng ba Năm у như hai đứa nầy vậy…

Thím Hương chắc lưỡi:

– Quên nữa, thầy có nhắc tôi mới nhớ! Sao thầy không dẫn con Lụa lại đây luôn? Thiệt tôi cũng vô tình quá… Tôi coi bộ con nhỏ đó trìu mến con Hạnh lắm!

Thầy Năm chưa kịp lên tiếng thì con Hạnh đã nói chen vô:

– Dạ hồi sớm chỉ cũng đòi đi quá…

Thầy Năm vội đỡ lời:

– Tôi cũng tính cho nó đi nhưng nghĩ đi nghĩ lại.. sợ nó đến đây thành ra lỏn chỏn một mình quá. Chắc thím Tư biết nó mồ côi… nên có thể mủi lòng tủi thân, bất tử…

Thím Hương bất giác thở dài:

– Tội nghiệp con nhỏ quá há! Thiệt cũng nhờ một tay thầy mà bao nhiêu oán cừu cũ tiêu tan hết. Chắc lúc trước đây thầy có nghe ông Sáu Giò dưới Cần Thơ… kể lại cho thầy nghe hết mọi chuyện chớ?

Thầy Năm ngó lơ sang chỗ khác:

– Dạ có… Đó là những thứ chuyện ‘‘rủi ro’’ của người lớn chớ sắp nhỏ có ăn thua gì vô đó. Bây giờ mình chỉ nghĩ đến tương lai của tụi nó là hơn.

Thím Hương gật đầu:

– Dầu sao cũng nhờ công ơn của thầy rất lớn, chớ nếu không, con Lụa biết nương tựa vào đâu và như vậy… kể ra cũng tổn âm đức lắm! Thầy có lòng tốt như thế ấy thiệt còn hơn kiến lập năm bảy kiểng chùa…

– Thím nói hơi quá. Hồi ông Sáu còn sống tuy ổng có oán hận thầy Hương ở nhà đôi chút nhưng ổng tỏ ra là người biết điều lắm, bây giờ tôi chỉ còn ngại cái đám anh em… xưa cũ của tía con Lụa…

Thím Hương vội đáp:

– Điều ấy thì kể như êm hết rồi. Cái đám đó bây giờ chẳng còn ai hết. Một sự… tình cờ đã cho tôi biết rõ như vậy.

Thầy Năm hớn hở kêu lên:

– Thiệt là tiền hung mà hậu kiết! (rồi thầy day qua bảo thằng Long con Hạnh). Thôi hai đứa thưa má để về đi học cho kịp giờ, rồi chiều sẽ trở vô nữa…

Thím Hương nói theo:

– Thầy cũng nên về nhà nghỉ nữa chớ! Suốt đêm qua chắc thầy có ngủ được phút nào đâu!

Thầy Năm chưa kịp trả lời thì một thầy điểu dưỡng ở ngoài phòng trực xô cửa bước vào, bô bô lên tiếng:

– Rua thầy Năm! Ủa sao giờ nầy thầy chưa về nghỉ? Tối hôm qua nhằm tua gác của thầy mà?

Rồi không đợi cho thầy Năm trả lời, thầy kia hấp tấp hỏi luôn:

– À, thầy biết có cô chơi bời nào bị xe đụng mới chớ vô đây hồi tối không?

Thầy Năm không giấu vẻ khó chịu:

– Ai nói với thầy như thế đó? Ở đây chỉ có một người đàn bà bị xe đụng thôi và người ta là người có gia thế đàng hoàng. Tôi xin thầy đừng ăn nói hàm hồ như vậy!

Thầy kiạ ngạc nhiên, tròn xoe đôi mắt:

– Coi, tôi có nói cái gì đâu mà thầy… nóng quá vậy! Tôi có biết ất giáp gì. Ở bên bót họ cho người tới lãnh cô đó về…

Thầy Năm chưng hửng hỏi lại:

– Thầy nói sao? Người ta bị xe đụng gần chết mà cò bót còn lãnh đi đâu nữa!

Thầy kia nhún vai:

– Tôi nói tôi hổng biết gì ráo mà! Họ đem giấy tờ lại lãnh thì mình phải giao cho họ chớ sao nữa!

– Nhưng cổ còn phải nằm nhà thương ít lắm là một tuần lễ mới mạnh được.

– Trời ơi, người ta lãnh cổ về thì cũng đưa giam cô trong nhà thương Chợ quán, ở đó có lính tráng gác giữ chớ để cổ ở đây rồi ai chịu trách nhiệm?

Thầy Năm bước tới hỏi nhỏ thầy kia:

– Thầy có nghe họ nói cổ… bị mời về tội gì không?

– Ai biết đâu! Hay là thầy ra hỏi mấy ổng họa may mấy ổng cho thầy rõ được phần nào chăng?

Vừa lúc ấy hai thầy phú lít tiến vô, một người xách tòn teng trên tay một đôi còng khóa bóp.

Thím Hương tự nãy giờ nghe lóm được câu chuyện giữa hai người vội ngồi hẳn dậy hốt hoảng kêu thầy Năm:

– Cái gì đó thầy Năm?

Thầy Năm quay lại ấp úng đáp:

– Hổng sao đâu thím… Mấy ông ở dưới bót tới mời thím để hỏi về một việc gì đó…

– Trời, tôi bị nạn như vầy… cò bót không nói năng gì hết mà bây giờ lại đến bắt tôi nữa sao?

Một thầy phú lít bước lại, vừa đập đập tờ giấy ‘‘trát’’ cuốn tròn lên trên bàn tay, vừa cười đáp:

– Thì bây giờ cò bót mới làm ăn kết cô nè. Thôi cô có quần áo hay đồ đạc gì thì lấy đem theo đi (rồi day qua thầy điều dưỡng, thầy phú lít nói tiếp). Xin thầy cho người đem băng-ca tới khiêng cổ ra xe hồng thập tự của bót đậu ở đàng trước dùm, nếu cổ đi chưa nổi…

Thím Hương tức mình nói như hét:

– Tôi có làm gì đâu mà mấy ông bắt tôi! Tôi hổng đi đâu hết… Thầy Năm, thầy nói với ổng dùm tôi…

Thầy phú lít cười lạt:

– Cô có làm cái gì hay không thì cô xuống dưới bót trả lời với ông cò, chớ tụi nầy như thiên lôi vậy, ai chỉ đâu thì… xâu đó!

Thầy Năm vội bước lại bên cạnh thím lựa lời an ủi thím:

– Có trát đằng bót lại… thì đằng nào thím cũng phải rời khỏi nơi nầy. Chắc có ai thưa gởi gì đó…

Thầy cảnh sát cầm còng vọt miệng nói chen vô:

– Thầy nói đúng đa! Có bà gì đó xuống dưới bót thưa với ông cò là cô nầy ở nhà bả rồi… ăn cắp nữ trang, tiền bạc gì đủ thứ hết để dông đi…

Thím Hương hốt hoảng kêu lên:

– Trời ơi, bà Tư!

Thầy phú lít gật đầu:

– Nói vậy, cô cũng biết bả hả? Như thế là đúng rồi còn gì nữa!

Thím Hương la to:

– Tôi có ăn cắp của bả đồng xu cắc bạc gì đâu mà bả dám nói dựng đứng như vậy!

Thầy phú lít đưa tay banh còng ra:

– Thôi, băng ca vô tới rồi, cô chịu khó đưa tay ra để tôi…

Thầy Năm vội can thiệp:

– Xin thầy… miễn cái đó dùm cổ. Cỗ bị thương nặng còn đang băng đó đi chưa nổi thì chạy trốn đâu được nữa…

Thầy phú lít đưa mắt hỏi ý kiến đồng nghiệp và thầy nầy khẽ gật đầu:

– Thôi cũng được. (Rồi day qua thầy Năm và thầy điều dưỡng kia). Xin kiếu mấy thầy! Tôi đã ký tên lãnk сổ vào sổ ngoài buy-rô rồi đó nghen!

Lúc bấy giờ con Hạnh và thằng Long vừa khóc vừa chạy theo như muốn giữ thím Hương lại. Thấy thế, thầy Năm vội ngăn cản chúng nó:

– Hai đứa bây đứng ở đây để ba Năm chạy đưa má xuống dưới xe rồi trở lên dẫn về đi học.

Bỏ hai đứa nó ở lại trong phòng, thầy tất tả đi kèm một bên thím Hương ra cửa và luôn miệng ‘‘trấn an’’ thím:

– Thím cứ bình tỉnh đi theo hai thầy nầy đi, tôi cũng vọt xuống dưới bót liền để làm chứng cho thím. Sự thật như thế nào thím cứ khai rõ thì tất nhiên sẽ lòi cái gian giảo của con mẹ kia ra.

Thím Hương ráng nhổm đầu ra khỏi băng ca:

– Bả nói lật ngược như vậy… thầy nhắm có sao hông? Rủi dưới bót người ta không tin những lời khai của tôi thì sao?

Thầy Năm cả quyết đáp:

– Coi, sự thật sờ sờ ra đó mà mấy ổng không tin sao được! Còn tôi đây làm chứng vô nữa mà! Còn con Hạnh thằng Long nữa chi! Con mẹ đó tưởng thím cu ky một mình nên nó mới làm trận làm thượng như vậy. Con mẻ đâu có dè thím lại gặp tôi ở đây!

Thím Hương hơi yên tâm đôi chút:

– Thôi thầy ráng lo dùm tôi… không có thầy chuyến nầy, chắc tôi phải… chết thêm một lần nữa!

Thầy Năm cười gượng đáp:

– Cố nhiên là tôi phải lo rồi, chớ chẳng lẽ gặp lại  được thím như vầy rồi… buông xụi cho mất đi một lần nữa hay sao. Dầu cho phải đi tới đâu để cho vụ nầy ra trắng đen, tôi cũng đi hết á! Chắc thím còn xui xẻo một cú chót nầy nữa rồi mới yên được. Thiệt kể như còn… kẹt một sợi tóc nữa!

Thím Hương ráng cười theo:

– Tôi cũng vái Trời vái Phật cho được như lời thầy nói…

… Thầy Năm ngẩn ngơ nhìn theo chiếc xe hồng thập tự rồ máy chạy thẳng.

Đoạn thầy thẩn thờ trở vô nhà thương để đưa hai đứa nhỏ về đi học trước khi chạy lên bót theo dõi vụ thím Hương.

 Gần một tuần lễ sau, vụ bà Tư thưa gởi thím Hương dưới bót mới được giải quyết xong xuôi.

Nhớ sự can thiệp ráo riết của thầy Năm, bà Tư mới chịu thua và thím Hương được kể như là… vô tội.

Lúc ấy thím cũng được bình phục tuy vẫn hãy còn yếu sức.

Trong mấy ngày cuối của cuộc điều tra, người ta đã đưa thím về ở luôn dưới bót.

Thầy Năm đã chực sẵn từ sớm để đón thím về.

Từ trong phòng giam bước ra, thấy có thầy Năm đứng đó, thím chạy а lại và… khóc òa lên.

Thầy Năm lúng túng lựa lời khuyên giải:

– Thím… thím đừng làm như vậy người ta ngó vô… cười chết! Bây giờ mọi việc đều êm đẹp hết chớ có cái gì nữa đâu mà thím… khóc.

Thím Hương đưa tay quẹt nước mắt:

– Thầy hổng hiểu… tại tôi mừng quá mà thầy!… Gặp được mặt thầy là tui thấy khỏe ru liền!

– Khỏe gì cũng phải đi rút về nhà cho mấy đứa nhỏ nó mừng.

Về đến nhà thầy Năm, sau một hồi lu bu với thằng Long, con Hạnh, con Lụa, thím Hương chợt thở dài quay qua nói với thầy Năm:

– Để ở đây chơi đôi ba bữa rồi tôi tính thưa với thầy cho tôi rước mấy đứa nhỏ về dưới Cần Thơ…

Thầy Năm bước xổ lại đứng ngay trước mặt thím như muốn cản lối:

– Coi, đâu được! Tôi không để thím đi đâu!

Thím Hương ỡm ờ hỏi lại:

– Sao thầy lại không để cho tôi đi cà?

Thầy Năm xẻn lẻn nói trớ đi:

– Tôi muốn nói là… thím rước mấy đứa nhỏ như vậy. Việc học hành của tụi nó lỡ dở hết.

– Ở dưới Сần Thơ cũng có trường học nữa mà!

Thầy Năm nhăn nhó gải đầu, gải tai, ngó quanh ngó quẩn, rồi bỗng nhiên nhìn thẳng vào mặt thím, xuống giọng ‘‘bỏ nhỏ’’:

– Thím ác quá… tôi nói như vậy mà thím cắc cớ trêu chọc tôi cho đến nước vậy thím? Chẳng nói giấu gì thím, khi gặp lại thím tôi đã có ý định mời thím về đây ở luôn để… cùng lo cho mấy đứa nhỏ ăn học đến nơi đến chốn. Thím dìa dưới thì cũng long chong; thôi thì ở đây luôn… cho tiện, nếu thím không chê… nhà tôi chật hẹp…

Thím Hương ngó lảng sang chỗ khác:

– Chuyện nầy đột ngột quá, xin thầy để tôi suy nghĩ lại… Chắc thầy đã dư rõ… thân phận của tôi cũng chẳng ra gì…

Vừa lúc ấy con Hạnh, thằng Long và con Lụa đi học về và chạy а lại hai người. Thầy Năm vội gọi mấy đứa nhỏ bảo liền:

– Đó, má tính rước mấy đứa bây về đó!

Con Hạnh và thằng Long nhao nhao lên:

– Hông, hông má ở luôn trên nầy với ba Năm hà!

Con Lụa cũng rụt rè nói vô:

– Thưa thím, thím rước anh Long và em Hạnh về dưới, bộ cháu ở trên nầy một mình với ba Năm sao?

Thím Hương bước lại vuốt đầu nó:

– Qua… chưa tính gì hết mà! Từ nay, cháu cũng nên theo thằng Long và con Hạnh kêu qua bằng má cho tiện. Thầy Năm nghĩ như vậy có phải hông?

Thầy Năm cười xòa:

–  Cố nhiên là phải lắm rồi… Và riêng phần tôi, thím kêu tôi bằng … thầy hoài nghe cũng kỳ quá!

Thím Hương liếc xéo thầy ta, hỏi lại liền:

– Vậy chớ thầy kêu tôi bằng thím đó chi!

Thầy Năm mừng rỡ kêu lên:

– À, cái đó dễ mà!

Và như để che giấu sự xúc động… thầy đưa mắt ngó lơ ra ngoài sân.

Nắng chiều gay gắt chiếu lọt qua tàng cây me xanh um, in lên nền đất thành những vệt dài vừa đủ tươi sáng nhưng lại rất êm dịu…

Cuộc Chiến Bí Mật- Hồ Sơ Lực Lượng Đặc Biệt Quân Đội VNCH

ydan.org

Nicolas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu
Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Google photo

Phần 3

Chiến Tranh Ngoại Lệ

Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí mật, phối hợp giữa cơ quan Trung ương tình báo CIA và Bộ Quốc phòng Mỹ để thành lập một đơn vị biệt kích cho Quân đội Sài Gòn. Đơn vị này  lấy tên là Liên đoàn quan sát số 1, với nhiệm vụ bí mật xâm nhập vào hàng ngũ quân đối phương ở khắp nông thôn miền Nam. Để giữ bí mật, Liên đoàn quan sát số 1 do Ban Nghiên cứu điều hành (thuộc ngành tình báo của Bộ Quốc phòng quản lý). Ban Nghiên cứu điều hành về sau đổi tên là Phòng Liên lạc Phủ Tổng Thống, đặt dưới sự theo dõi trực tiếp của Tổng thống Ngô Đình Diệm, do trung tá đặc vụ Lê Quang Tung làm trưởng phòng.
Năm 1958, cơ quan CIA tại Sài Gòn thành lập Ban Ngoại vụ để làm việc với Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống. Trưởng Ban ngoại vụ là Russell Miller, núp dưới bóng một nhà ngoại giao. Russell lệnh cho trung tá Tung chọn 12 thành viên cho đơn vị mới. 12 sĩ quan trẻ cấp bậc từ thiếu úy đến trung úy  được tuyển chọn, đặt dưới quyền chỉ huy của Đại úy Ngô Thế Linh, người đã từng phục vụ 5 năm ở Trung tâm huấn luyện Đà Nẵng. Tháng 11/1958, cả 12 sĩ quan trẻ đều được đưa sang Saipan. Họ được cơ quan CIA huấn luyện hai tháng về nghiệp vụ tình báo, tác chiến, phương thức phá hoại và chỉ huy đường dây tình báo. Cuối 1958, Đại úy Ngô Thế Linh trở về Sài Gòn và được chính thức bổ nhiệm làm trưởng phòng Bắc Việt (với mật danh là Phòng 45), trực thuộc Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, quân số chỉ có hơn chục người. Trong những tháng còn lại của năm 1958, Phòng 45 chuyên lo việc huấn luyện cho nhân viên mới.
Đến giữa năm 1959, một nhóm 5 sĩ quan khác được đưa sang Saipan huấn luyện một khóa ngắn 6 tuần. Sau đó ít lâu, CIA cử nhân viên đến Sài Gòn huấn luyện hai khóa trong năm, mỗi khóa huấn luyện kéo dài 12 tuần. Lần này, chương trình huấn luyện nhắm vào những sĩ quan trẻ sinh quán tại miền Bắc, có gốc là dân tộc thiểu số. Khóa huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959.

Phòng 45 lập kế hoạch 5 năm để xâm nhập vào vùng hậu phương mà đối phương kiểm soát rất chặt chẽ. CIA cũng thừa biết những trở ngại của Phòng 45. Trước đó, vào những năm 1951-1953 chính CIA đã sử dụng 212 điệp viên người Hoa xâm nhập vào Trung Quốc. Rốt cuộc một nửa số điệp viên bị tiêu diệt, nửa khác bị bắt. Trên đất Triều Tiên kết quả cũng tương tự. Lần này Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống giao trách nhiệm cho Trung úy Đỗ Văn Tiên (mật danh Francois) phái một điệp viên đơn tuyến xâm nhập miền Bắc. Francois tìm được một người thích hợp là Phạm Chuyên, nguyên là một Đảng viên biến chất, quê ở tỉnh Quảng Ninh. Chuyên bị vợ bỏ nên anh ta di cư vào Nam. Thoạt đầu Phạm Chuyên từ chối, mặc dù Trung tá Lê Quang Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ suốt nửa năm trời. Trung úy Tiên (Francois) buộc phải cộng tác với 1 nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên. Sau hơn 6 tháng CIA trổ tài, Phạm Chuyên nhận lời. Anh ta được đưa ra Nha Trang để làm kỳ trắc nghiệm tâm lý. Chuyên đạt được điểm xuất sắc trong kỳ trắc nghiệm. Sau đó Chuyên còn phải trải qua hai kỳ khảo nghiệm nữa, một ở Sài Gòn và một ở Nha Trang. Tiếp theo CIA huấn luyện cho Chuyên 6 tháng về kỹ năng truyền tin.
Trong lúc Chuyên được huấn luyện các kỹ năng thì Trung úy Tiên và Reagan bận rộn phác thảo kế hoạch đưa điệp viên xâm nhập miền Bắc. Theo kế hoạch, Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn ở tỉnh Quảng Ninh, một tỉnh ven biển Bắc Bộ, nơi Chuyên rất quen thuộc. CIA cho rằng việc phái Chuyên xâm nhập miền Bắc bằng đường biển là rất hợp lý. Với niềm hứng khởi ấy, hai chuyên viên tình báo bay ra Đà Nẵng tìm địa điểm xuất phát. Họ thuê một biệt thự kín đáo, có tường bao quanh làm mật cứ.
Tất cả mọi động thái cũng như đường đi, nước bước của họ từ đó về sau có mật hiệu là Pacific. Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định triển khai kế hoạch ngắn hạn: thả điệp viên đến khu phi quân sự, dọc theo vĩ tuyến 17 để thăm dò. Nhân vật được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo Công giáo, quê ở Hà Tĩnh, tên là Vũ Công Hồng. Anh ta được huấn luyện cấp tốc và đưa ra sống ở Huế trong một căn nhà được bảo vệ rất nghiêm mật. Trong căn nhà đó còn có hai sĩ quan trẻ thuộc Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống là Phạm Văn Minh và Trần Bá Tuấn, cả hai đều được huấn luyện ở Saipan. Hai người có bí danh là Micheal và Brad. Họ làm việc với nhân viên CIA David Zogbaum. Cũng như Francois (Đỗ Văn Tiên) làm việc với Reagan ở Đà Nẵng. Vũ Công Hồng (mang mật danh là Hirondelle) đã sẵn sàng lên đường. Thiếu tá Trần Khắc Kính nhân vật thứ hai của Phòng Liên lạc Phủ Tổng Thống chỉ đạo mọi hoạt động xuất phát từ Huế, với mật danh là Atlantic.
Điệp viên Vũ Công Hồng đã sẵn sàng ra đi. Thiếu tá Trần Khắc Kính, đại diện cho Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, có mặt trong lúc thả Vũ Công Hồng qua sông Bến Hải. Sang đến bờ bắc, anh ta biến vào màn đêm. Vài tuần sau, Vũ Công Hồng trở về căn cứ an toàn. Mặc dù Hồng chỉ cung cấp một ít thông tin về đường đi, nước bước của hệ thống an ninh Bắc Việt, nhưng cũng đủ làm cho những nhân viên của Phòng 45 hứng khởi. Sau chuyến đi của Hồng hai tháng, Chuyên đã sẵn sàng lên đường, với hành trang là kiến thức của một năm được huấn luyện. Sứ mệnh của Chuyên khác với Hồng. Chuyên sẽ thu thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên, chuẩn bị tinh thần lót ổ nằm vùng dài hạn. Theo kế hoạch tạo vỏ bọc ngụy trang, Chuyên sẽ đóng vai một người đánh cá ở một làng nhỏ ở Cẩm Phả, ngay gần vịnh Hạ Long. Đó cũng chính là quê hương của Chuyên trước năm 1958. Sự trở về của Chuyên có thể không an toàn, nhưng bù lại Chuyên còn có gia đình, người thân, hy vọng sẽ được che chở. Trước lúc lên đường thực thi phi vụ xâm nhập, Phạm Chuyên được mang mật danh Ares, một cái tên rất Mỹ.

Đầu tháng 4/1961, Chuyên lên tàu Nautilus 1, rời Đà Nẵng, theo hành trình hai ngày về phía bắc. Không may cho Chuyên do gặp phải thời tiết xấu, chiếc Nautilus 1 đành quay trở vể nơi xuất phát. Vài hôm sau thời tiết đẹp trở lại. Chuyên lại lên đường. Cả hai viên sĩ quan Tiên và Reagan đều ra bến tàu tiễn đưa Chuyên. Sau này Tiên nhớ lại là khi chia tay với Chuyên, anh ta đã chúc Chuyên may mắn nhưng Chuyên không nói nửa lời.
Thời tiết lúc đó chưa là mùa mưa. Trời trong, biển lặng, chiếc Nautilus 1 lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng Ninh. Rời chiếc Nautilus, Chuyên một mình chèo chiếc thuyền nhỏ, rồi đổ bộ lên một địa điểm gần Cẩm Phả. Chuyên đem đồ đạc, trang bị lên bờ rồi giấu ngay hai máy truyền tin. Việc đầu tiên là anh ta phải tuyển mộ thêm một người để phụ giúp khi sử dụng máy truyền tin. Phòng 45 biết rõ điều đó, nên sẽ chờ tín hiệu của Chuyên trong vòng nhiều tuần, và biết đâu phải chờ trong vài tháng.
 Tuy chưa bị phát giác, nhưng đã có người thấy Chuyên lẻn về làng cũ, đi thẳng vào căn nhà xưa của mình. Khi sum họp với gia đình, Chuyên cố thuyết phục người em trai là Phạm Độ. Với vẻ miễn cưỡng, Độ theo anh trai ra bờ biển, đào hai chiếc máy truyền tin lên, đem về nhà đào hố chôn ngay trong buồng. Đến đây chuyến xâm nhập đầu tiên của Chuyên cũng như SOG coi như thành công. Thế nhưng ngày 19/4, có vài ngư dân phát hiện ra chiếc thuyền nhỏ của Chuyên. Tiếp theo sau là những cuộc khám xét của lực lượng an ninh ngay tại làng chài nhỏ quê Chuyên. Sau khi xác định không ai là chủ nhân của chiếc thuyền thì cuộc khám xét được mở rộng ra cả bãi biển.
Rồi công an Quảng Ninh cũng phát hiện ra hố chôn giấu hai máy truyền tin. Nghi ngờ có gián điệp xâm nhập địa bàn, Trưởng Ty công an Quảng Ninh thảo ngay kế hoạch khám xét khu vực làng chài, đặc biệt đối với những nhà có người di cư vào Nam hoặc những gia đình từng có than nhân làm việc cho chính quyền thực dân Pháp. Do không nắm được thông tin, Chuyên vẫn trốn trong một cánh rừng gần đó. Anh ta đem theo một máy truyền tin, nhờ người em trai quay máy truyền tin để gửi đi bức mật điện đầu tiên. Nhằm tránh cho làn sóng bị giao thoa, Phạm Chuyên đánh tín hiệu từ bờ biển miền Bắc Việt Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, với mật mã do CIA đặt cho trạm viễn thông tại căn cứ quân sự ở cảng Subic, Philippin. Từ đó, bức mật điện sẽ được chuyển tiếp đến cơ quan CIA tại Sài Gòn. (nằm ở góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng đối diện công viên Chi Lăng ngày nay, khi đó người ta chỉ biết đó là trụ sở của hãng IBM; ct N.C.).

Nhận được bức mật điện, Robert Kennedy – một nhân viên CIA – tay huơ huơ bức mật điện bước vào Phòng 45, không giấu nổi nỗi mừng khôn xiết, anh ta nói lớn: “Thành công rồi!”. Một bản sao bức mật điện của Phạm Chuyên đã được trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau này, Chuyên còn gửi thêm 22 bản báo cáo nữa trong một thời gian rất ngắn.
 Trong khi đó, tại Quảng Ninh, nhân viên phản gián Bắc Việt đã dò theo làn sóng điện, thu đầy đủ nội dung những bức mật điện do Phạm Chuyên đánh đi. Và một cụ già cũng báo cho công an biết rằng có một người lạ tìm cách giấu mặt đang sống trong một căn lều gần bãi biển. Cụ già còn cung cấp thêm: có người trong làng chài khoe một cây viết bic, vật ít thấy ở miền Bắc.
Với những thông tin thu thập được, công an theo dõi căn nhà của gia đình Phạm Chuyên. Ngày 11/6, công an Quảng Ninh bắt giữ Phạm Độ trong khi anh ta đem đồ tiếp tế vào rừng cho Phạm Chuyên. Sáu ngày sau, họ khám phá ra máy truyền tin thứ hai chôn giấu trong nhà cùng với bản mật mã. Từ đây số phận của Phạm Chuyên – Ares đã được định đoạt. Hà Nội có hai lựa chọn. Một là công bố vụ án điệp viên Phạm Chuyên, rồi đưa ra tòa như vụ án Đại Việt trước đây. Hai là khống chế, sử dụng Phạm Chuyên làm gián điệp hai mang, buộc Chuyên phải thường xuyên liên lạc với Sài Gòn. Thế rồi đúng 9h sáng ngày 8/8/1961, sau hai tháng mất liên lạc, Sài Gòn lại nhận được mật điện của Phạm Chuyên. Với sự hiện diện của sĩ quan an ninh Bắc Việt bên cạnh, Phạm Chuyên cắt nghĩa về sự im lặng của mình. Rằng mẹ và em gái anh ta không đủ tiền nộp thuế nông nghiệp, do đó anh ta phải tạm thời lánh mặt lên Hà Nội.
Đương nhiên Sài Gòn chẳng có cách gì hơn đành phải tạm tin vào những gì Chuyên báo cáo và chấp thuận gửi đồ tiếp tế theo lời yêu cầu của anh ta. Chiếc Nautilus 1 lại rời Đà Nẵng  ngày 12/1/1962, mang theo đồ tiếp tế cho Phạm Chuyên. Chiếc Nautilus 1 đến vịnh Hạ Long mà chẳng hề gặp bất cứ trở ngại nào. Sau đó chẳng hiểu sao tự nhiên Sài Gòn mất liên lạc bằng vô tuyến điện với Phạm Chuyên lẫn Nautilus một cách bí ẩn.
 Phòng 45 bắt đầu lo lắng cho số phận chiếc Nautilus 1 cùng với thủy thủ đoàn, trong đó có cả sự nghi hoặc về điệp viên Ares (Phạm Chuyên). Có lẽ nào tàu Nautilus 1 bị tàu tuần tiễu của Bắc Việt tiêu diệt khi đến gần bờ biển Quảng Ninh? Sau nhiều ngày bặt tin về Nautilus 1 cùng điệp viên Phạm Chuyên, Phòng 45 cho đóng chiếc tàu khác, lấy tên là Nautilus 2. Khi chiếc tàu Nautilus 2 đã sẵn sàng cùng với thủy thủ đoàn, được tuyển mộ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Đà Nẵng, lên đường.
Ngày 11/4/1962, chiếc Nautilus 2 rời cảng Đà Nẵng, hướng về vịnh Hạ Long. Hai ngày sau, Nautilus 2 đã đến ngoài khơi biển Quảng Ninh. Sáu người trong số 14 thuỷ thủ đoàn xuống thuyền cao su, chở theo đồ tiếp tế cho Phạm Chuyên gồm 7 hòm sắt và 14 thùng carton được bọc kín bằng nilon. Sáu thủy thủ chèo thuyền đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ Long, chất hàng lên đảo rồi chặt cây che lại. Khi chiếc Nautilus 2 về đến Đà Nẵng an toàn, Phòng 45 mở tiệc ăn mừng sự thành công của chuyến tiếp tế đầu tiên cho điệp viên Ares. Ngày 2/5/1962 họ gửi tín hiệu chỉ điểm nơi giấu hang cho Phạm Chuyên. Ít lâu sau, Phạm Chuyên điện báo đã nhận được đồ tiếp tế, kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm.
Cho dù thành công với điệp viên Phạm Chuyên (Ares), nhưng chuyện tiếp tế tiếp theo ra sao vẫn chưa ai biết được. Hồ sơ về những điệp viên đơn tuyến (singleton) không lấy gì làm sáng sủa cho lắm.
Trước đó, vào tháng 9/1961, điệp viên thứ 3 của Phòng 45 mang mật danh Hero đã xâm nhập bằng đường biển, về liên lạc với gia đình bị thất bại. Phòng 45 buộc phải hủy kế hoạch ngay tức khắc. Cũng trong tháng 9, điệp viên Hirondelle (Vũ Công Hồng) xâm nhập trở lại vùng Hà Tĩnh bằng đường biển. Nhưng anh ta ra đi mà không thấy không trở về. Trong năm 1962, danh sách các điệp viên đơn tuyến bị mất tích ngày càng dài thêm. Một điệp viên mang mật danh Triton, xâm nhập vào Hà Tĩnh bằng tàu biển trong tháng 5 cũng biến mất không tìm ra manh mối.

Google photo

Cuối tháng 5/1962, một điệp viên khác, mang mật danh Athena xâm nhập vùng biển Hà Tĩnh. Điệp viên đó chính là Đặng Chí Bình, rất nổi tiếng trong số những Việt kiều ở nước ngoài qua bộ hồi ký “Thép Đen”. Bình bị bắt sau khi thi hành một phi vụ ở Hà Nội.
Từ năm 1963, việc gửi điệp viên nằm vùng dài hạn trong một xã hội kiểm soát quá chặt chẽ như ở Bắc Việt ngày càng trở nên rất khó khăn. Ngoại trừ Ares, bốn điệp viên khác xâm nhập bằng đường biển đều bị mất tích, và được xem như đã chết. Ngay cả chuyện bơi qua sông Bến Hải Hirondelle đã làm trước đây cũng trở nên cam go, mạo hiểm. Điệp viên mang mật danh Wolf xâm nhập vào vùng phi quân sự, bị mất tích vào tháng 2/1963.
Mùa hè 1963, Phòng 45 chuẩn bị tiếp tế lại cho điệp viên Phạm Chuyên. Họ hy vọng việc tiếp tế sẽ suôn sẻ như năm trước. Ngày 11/8/1963, tàu tiếp tế rời cảng Đà Nẵng. Hai hôm sau, tàu đến vịnh Hạ Long. Sáu người trên tàu xuống thuyền cao su bơi vào bờ. Thế nhưng họ cũng biến mất, không một ai quay trở lại. Số còn lại trên tàu hốt hoảng khi trông thấy chiếc tàu tuần tiễu của Bắc Việt xuất hiện nên họ dông một mạch về Đà Nẵng. Một lần nữa Phạm Chuyên (Ares) bị nghi ngờ.
CIA và Phòng 45 buộc phải vạch kế hoạch xâm nhập miền Bắc bằng đường không. Thiếu úy Lò Ngân Dung, một sĩ quan gốc người dân tộc Thái, ở vùng Lào Cai, có mật danh là Jacques, được phép tuyển mộ lính biệt kích từ Liên đoàn Quan sát số 1. Đơn vị này có phần lớn quân nhân quê gốc miền Bắc. Những quân nhân tình nguyện là người dân tộc Mường, Tày, Nùng đều đến từ những đơn vị binh chủng của Quân đội Sài Gòn. 
Jacques lập toán đầu tiên gồm ba quân nhân người Mường và một quân nhân người Nùng. Bốn quân nhân trên được bí mật đưa về sống ẩn dật tại một mật cứ ở Sài Gòn. Họ được huấn luyện sử dụng máy truyền tin và đều đã tốt nghiệp các khóa nhảy dù, tác chiến trong rừng từ khi còn ở Liên đoàn Quan sát số 1.
Không như điệp viên Ares, phải đơn độc xâm nhập vào Bắc Việt, bốn biệt kích trên được huấn luyện sống biệt lập ở vùng rừng núi.
Sau ba tháng huấn luyện, toán biệt kích đầu tiên đã sẵn sàng. CIA quyết định tìm phương tiện hang không để thả toán biệt kích trên xuống đất Bắc. Phương thức này  đòi hỏi công tác bảo đảm cao. Trước đây CIA đã sử dụng nhiều loại máy bay thả dù xuống lãnh thổ Trung Quốc. Hãng hàng không Air America của CIA được nhiều người  biết đến qua những hoạt động xâm nhập vào đất Lào, nghĩa là đối phương đã biết, nên không thể sử dụng được. Chỉ có những phi công Nam Việt Nam của Không quân Quân đội Sài Gòn có đủ khả năng để bay. Tuy nhiên, phi hành đoàn này cũng phải được cải trang, để nếu bị bắt có thể chối phăng đi.
Với ý đồ trên, CIA lập ra hãng hàng không liên doanh Delaware Corporation với VNCH, lấy tên là “Hãng hàng không Việt Nam” (VIAT), với phương tiện duy nhất của họ chỉ có một chiếc máy bay vận tải C47 không số, không cả phù hiệu đơn vị. Còn phi công thì CIA tìm đến Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ, đương kim Chỉ huy trưởng căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Nguyễn Cao Kỳ cho tuyển chọn những phi công tình nguyện từ hai phi đoàn vận tải để thành lập phi đoàn mới do chính Kỳ chỉ huy, với mật danh Haylift. Những phi công trong phi đoàn mới này đòi hỏi phải có kinh nghiệm thực thi những phi vụ thả dù đêm, bay với cao độ thấp đến địa điểm thả dù.
Sau thời gian huấn luyện, phi hành đoàn chỉ còn lại 5 người do Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy. Riêng phi hành đoàn thứ 2, phi đoàn dự bị, do Trung úy Phan Thanh Vân chỉ huy. Toán biệt kích chuẩn bị thả được mang mật danh Castor, tên của một vị thần trong thần thoại Hy Lạp, vốn là vị thần đã giúp đỡ Hercules. Thêm một sự trùng hợp nữa, Castor là tên cuộc hành quân trong năm 1953, khi Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Toán Castor được dự định sẽ phải hoạt động trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.

Lại nói, sau khi khám phá ra chiếc thuyền của điệp viên Ares trong tháng 2, Hà Nội đã để ý. Ngày 1/3, Đảng cộng sản Việt Nam ra nghị quyết về tăng cường cho lực lượng an ninh chống đối phương xâm nhập. Toán Castor dự kiến sẽ lên đường ngày 27/5, đúng thời điểm trăng tròn, thời tiết lý tưởng. Không như các đơn vị biệt kích đường biển, chuyên xâm nhập vào các đêm không trăng, các phi công cần ánh sáng mặt trăng để bay, thường mỗi tháng chỉ có bốn đêm trăng sáng nhất. Vả lại, những biệt kích quân cũng cần ánh sáng để điều khiển dù xuống bãi đáp.
Theo đúng kế hoạch, bốn biệt kích quân trong toán Castor sẽ được chiếc C47 không phù hiệu đậu sẵn trong sân bay Tân Sơn Nhất đón. Cơ trưởng không ai xa lạ, mà chính là Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ. Cả phi hành đoàn đều không đeo phù hiệu, không đem theo bất cứ một thứ giấy tờ nào để đề phòng trường hợp bị bắn rơi trên không phận miền Bắc thì vỏ bọc bên ngoài của họ chỉ là thường dân đi buôn lậu. Mỗi người được mang theo 100 USD, để phòng khi cần tẩu thoát sẽ dùng đến. Chiếc C47 chở toán Castor ghé qua Đà Nẵng tiếp thêm nhiên liệu. Đúng 10h đêm, Nguyễn Cao Kỳ cất cánh, bay ra vịnh Bắc Bộ, hướng về phía Ninh Bình. Sau đó theo hướng tây bắc bay qua không phận các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, rồi băng qua sông Đà. Đến cao điểm 828, Nguyễn Cao Kỳ bật đèn xanh, cho đẩy những thùng đồ tiếp tế ra phía cửa sau, và toán Castor cũng nhảy theo. Chiếc C47 vòng lại, bay về hướng miền Nam.
Tại cao điểm 885, trung sĩ Hà Văn Chấp, trưởng toán Castor ra lệnh tháo dù và tập hợp lại. Họ xuôi xuống chân đồi, cách 1 bản gần đó chừng 1 km. Đi về hướng Nam 9 km là sông Đà; thêm 10 km nữa là quốc lộ số 6. Đó là con đường chính, xuyên qua các tỉnh Tây Bắc để đến tây nam tỉnh lỵ Sầm Nưa của Lào. Chính quyền Kennedy cho rằng Sầm Nưa là đất dụng võ của phía Cộng sản. Do đó, nhiệm vụ của toán biệt kích Castor là cung cấp tin tức về hoạt động chuyển quân của đối phương trên quốc lộ 6.
Khi toán Castor nhảy dù xuống cao điểm 885, dân bản gần đó nghe tiếng động cơ máy bay đã báo cho lực lượng CAND vũ trang Bắc Việt. Nên ngay sáng 28/5 họ đã đoán được địa điểm nhảy dù của toán biệt kích đêm qua và sử dụng lực lượng bao vây xung quanh cao điểm 885. Ba hôm sau, họ bắt được cả bốn biệt kích quân của toán Castor. Thế nhưng Phòng 45 vẫn chưa hề biết chuyện gì đã xảy ra với toán Castor, nên vẫn tiếp tục chương trình thả thêm những toán biệt kích khác.

Ngày 2/6, toán biệt kích thứ hai gồm ba người, mang mật danh Echo, xuất phát từ Đà Nẵng, do chiếc C47 của VIAT chở, bay ra Bắc Việt. Chiếc máy bay bay vòng qua vĩ tuyến 17, đến không phận tỉnh Quảng Bình, toán biệt kích Echo được lệnh nhảy dù xuống vùng rừng núi phía bắc làng Trúc khoảng 5 km.
Không gì xui xẻo hơn, khi toán biệt kích Echo mới ra khỏi máy bay cũng là lúc ở dưới mặt đất dân chúng hai làng đang họp. Nghe tiếng máy bay, họ ùa ra xem, nhìn rõ mồn một chiếc C47 trên bầu trời sáng rực đầy trăng sao. Chỉ một giờ đồng hồ sau, lực lượng vũ trang Bắc Việt đã tổ chức xong cuộc truy tìm toán biệt kích, bao gồm công an vũ trang, bộ đội địa phương và cả chó nghiệp vụ.
Chuyện rủi ro đến với toán biệt kích Echo diễn ra ngay từ lúc đầu. Một biệt kích quân bị dạt đi khoảng 3 km, vướng trên một ngọn cây, anh ta cắt dây dù, rơi xuống đất và bị gãy chân. Hai người còn lại biết bị lộ bèn báo cáo tình hình nguy cấp về Sài Gòn và định chạy về hướng biên giới Việt – Lào hòng thoát thân. Thế nhưng trước lúc họ bắt đầu thực hiện ý định, quân đội Bắc Việt đã bao vây chặt khu rừng nên cả ba biệt kích quân đều bị bắt vào ngày hôm sau.
 Kết cục bi thảm trên cũng không ngăn được CIA tiếp tục kế hoạch thả biệt kích thâm nhập Bắc Việt. 12 ngày sau, toán biệt kích thứ ba, mang mật danh Dido, gồm bốn quân nhân gốc người dân tộc Thái đen đã rời sân bay Đà Nẵng. Mục tiêu hoạt động của toán biệt kích Dido là vùng dân tộc Thái đen là Lai Châu, thuộc khu tự trị Thái – Mèo, sau đổi lại là khu tự trị Tây Bắc.
Toán biệt kích Dido nhảy dù xuống gần quốc lộ số 6, khoảng giữa tỉnh lộ và con đường dẫn đến huyện lỵ Tuần Giáo. Toán Dido sẽ do thám lượng xe cộ của Bắc Việt đến Tuần Giáo, nhất là lưu lượng xe cộ qua lại trên tuyến đường đi về lòng chảo Điện Biên Phủ, qua Tây Trang để sang Lào. Đây là địa bàn đóng quân của Sư đoàn chủ lực 316 Bắc Việt, nên việc do thám, thu thập thông tin càng trở nên vô cùng cần kíp.
Trước một mục tiêu quan trọng như vậy, để an toàn, Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ chọn đường bay từ vùng vịnh Bắc Bộ, lái vòng sang các tỉnh thuộc không phận Việt Bắc, thả truyền đơn xuống địa bàn tỉnh Cao Bằng ngay sát biên giới Việt – Trung. Khi đến địa điểm thả dù thuộc tỉnh Lai Châu, bốn biệt kích quân của toán Dido nhảy ra và chiếc C47 sẽ theo lộ trình thả toán biệt kích Castor trước đây để tức tốc quay về Miền Nam.

Trang phục, vũ khí thường thấy Tại bãi đáp đất, cả bốn biệt kích quân nhanh chóng tháo dù đem giấu rồi tập hợp lại. Thùng đồ của họ đã có đủ cả quần áo, lương thực, vũ khí. Còn máy truyền tin thì bị trôi dù lạc mất, tìm không ra. Sau ba tuần lễ bị đói, trên đường di chuyển sang Lào, toán biệt kích Dido chạm trán với lực lượng công an nhân dân vũ trang và bị bắt ngay biên giới Việt – Lào.
Như vậy, tính đến tuần lễ thứ hai của tháng 7, ít nhất Hà Nội đã nắm trong tay ba toán biệt kích. Họ biết rõ, sau khi không thể không đem ra xét xử vụ biệt kích xâm nhập Bắc Việt. Ít ra viên phi công hoặc cả 7 biệt kích quân biết rằng phi vụ của họ là tái tiếp tế cho toán biệt kích Castor. Nếu họ khai trước tòa án, Bắc Việt sẽ biết rằng đã có toán biệt kích hoạt động trên địa bàn tỉnh Sơn La. Đồng thời Sài Gòn cũng biết toán biệt kích Castor đã bị bắt. Thế nhưng Hà Nội đã dàn dựng một câu chuyện khác.
Chỉ có ba người bị đưa ra tòa trong tháng 11, bốn biệt kích quân khác đã chết do trọng thương. Trước tòa, cả ba biệt kích quân đều nhận tội có liên quan đến vụ xâm nhập của biệt kích và đang trên đường đến tỉnh Hòa Bình chứ không phải Sơn La. Đến cuối 1962, CIA và Sài Gòn vẫn tin rằng toán biệt kích Castor đang hoạt động hữu hiệu. Tại Sài Gòn, trung tá Tung cũng cảm thấy hài lòng về việc chuẩn bị thả thêm nhiều toán biệt kích khác ra miền Bắc.
Và rồi CIA phải tìm kiếm phương tiện khác để chuyên chở vì chiếc C47 duy nhất đã bị bắn rơi. Họ giờ đã chán loại máy bay C47 với hai lý do. Một là, tầm hoạt động của C47 ngắn, do đó máy bay phải bay thẳng đến mục tiêu. Thứ hai, máy bay phải tiếp thêm nhiên liệu tại Đà Nẵng, và biết đâu điệp viên Bắc Việt đã chẳng xâm nhập vào sân bay Đà Nẵng? Cuối cùng họ chọn loại máy bay C54 và huấn luyện hoa tiêu Việt Nam. Còn các phi công tình nguyện sẽ phải hoàn tất khóa huấn luyện vào đầu năm 1963.
Phòng 45 chuẩn bị cho toán biệt kích Europa gồm 5 biệt kích quân người Mường lên đường. Ngày 20/2, họ xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất, do Trung tá Nguyễn Cao Kỳ lái và không cần ghé lại Đà Nẵng như các phi vụ trước đây. Đến địa điểm thả dù thuộc không phận tỉnh Hòa Bình, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu của dân tộc Mường, Nguyễn Cao Kỳ bật đèn xanh, cả năm biệt kích quân người Mường đều biến mất vào màn đêm.
Theo kế hoạch, việc chọn địa điểm thả toán biệt kích Europa thuộc địa bàn huyện Tân Lạc là bất lợi, bởi quốc lộ số 6 chạy xuyên qua giữa huyện, có nhiều đường liên tỉnh, liên huyện thông thương và bản mường đông đúc. Vì thế toán biệt kích Europa đã bị lộ ngay khi dù của các biệt kích quân chưa thả. Ít lâu sau, CIA sẽ phải thả dù tiếp tế cho các biệt kích quân. Vì vậy Hà Nội buộc hoặc thuyết phục các hiệu thính viên các toán biệt kích hợp tác, báo cáo về Sài Gòn là họ vẫn an toàn. Kết quả là Bắc Việt đã lấy được lượng đồ tiếp tế của CIA cho các toán biệt kích đã bị bắt và tóm luôn những toán sẽ được thả sau đó.
Đúng 12h trưa ngày 29/6, nghĩa là khoảng một tháng sau khi xâm nhập, toán Castor gửi đi bức điện văn đầu tiên. Họ được Sài Gòn khích lệ và hứa sẽ thả dù tiếp tế trong vòng bốn ngày sau. Chiều 1/7, đồ tiếp tế được bí mật chất lên chiếc C47 đậu sẵn ở sân bay Tân Sơn Nhất.
Đúng ra, Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ trực tiếp thực hiện phi vụ này, nhưng đến giờ chót, chẳng hiểu vì sao Nguyễn Cao Kỳ lại giao trách nhiệm cho Trung úy Phan Thanh Vân. Phi hành đoàn có thêm 3 hạ sĩ quan thuộc Liên đoàn Quan sát số 1 để phụ giúp thả những thùng đồ tiếp tế xuống các mục tiêu đã được xác định. Chiều 1/7, sau khi nạp thêm nhiên liệu tại phi trường Đà Nẵng, chiếc C47 bay theo lộ trình đã thả 2 toán biệt kích Castor và Dido. CIA đâu có biết tại bãi thả, công an vũ trang Bắc Việt đã bao vây, đợi đón đầu chuyến thả tiếp tế cho toán biệt kích Castor.
Trong lúc đó, tại Hòn Ne, cách bờ biển Ninh Bình khoảng 5 km, công an, bộ đội Bắc Việt đã phát hiện ra tiếng động cơ máy bay. Chiếc C47, như thường lệ, bay thấp để tránh rađa và súng phòng không ở Hòn Ne phát hiện. Nhưng đã quá muộn, chiếc C47 đã bị trúng đạn, rơi xuống một cánh đồng rộng khoảng 20 ha.
Sau vụ bắn rơi chiếc C47, bắt sống 7 biệt kích quân, trong đó có phi công Phan Thanh Vân (1971 ra tù, được chị ruột bảo lãnh sang Pháp một thời gian rồi sang Mỹ định cư, chết tại Virginia; ct N.C.), Hà Nội đã công bố trên đài phát thanh, báo chí. Sáng hôm sau, công an vũ trang phối hợp với quân dân tự vệ, học viên của trường sĩ quan biên phòng… truy lùng ráo riết toán biệt kích. Tất cả các biệt kích trong toán đều bị bắt vào ngày hôm sau.

Google photo

Hiệu thính viên toán Europa buộc phải gửi báo cáo về Sài Gòn, rằng toán đã đến mục tiêu an toàn. Phòng 45 khấp khởi, chuẩn bị tái tiếp tế cho toán Castor, tính đến thời điểm đó đã nằm vùng gần 10 tháng. Họ hy vọng rằng với loại máy bay C54 mới, lần này sẽ gặp may. Chuyến đi này do Đại úy Hội lái. Chiếc C54 bí mật chở đồ tiếp tế cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất bay đi Sơn La. Trước khi đến mục tiêu, chuyện xui xẻo lại xảy ra: chiếc C54 gặp một cơn giông lớn. Trong lúc đó tại Sài Gòn, mấy tay CIA thuộc Ban kế hoạch hết sức mất mặt vì trong vòng 7 tháng đã bị mất hai chiếc máy bay. Điều an ủi duy nhất là theo bức điện văn bắt của Hà Nội cho biết chiếc máy bay rơi, trước hết là do lỗi của viên phi công gây nên tai nạn và họ không để ý đến vụ mất mát đó (?). Cũng vì lẽ đó nên cơ quan tham mưu ở Sài Gòn đinh ninh rằng toán biệt kích Castor vẫn đang hoạt động.
CIA lại phải tìm kiếm loại máy bay khác. Lần này họ liên lạc với Đài Loan, vì cho rằng không lực xứ này có kinh nghiệm thả điệp viên xâm nhập Trung Hoa lục địa từ năm 1952. Vả lại, đã có nhiều hoa tiêu Đài Loan tình nguyện bay những phi vụ bí mật xâm nhập Bắc Việt Nam. Mặt khác CIA cũng từng bố trí cho phi công của mình từ Air America (CIA) sang Đài Loan huấn luyện cho những phi công tình nguyện về kỹ thuật bay ở cao độ thấp.
Trong thời gian huấn luyện cho phi công Đài Loan, CIA và Phòng 45 đã chuẩn bị cho nhóm biệt kích kế tiếp xâm nhập miền Bắc. Toán mới này mang mật danh là Atlas, gồm bốn người quê ở Nghệ An. Cả bốn người được đưa về sống ở những mật cứ tại Sài Gòn để huấn luyện. Toán biệt kích Atlas có nhiệm vụ xâm nhập địa bàn tỉnh Nghệ An, đặc biệt là khu vực gần đường số 7. Cũng như toán Echo trước đây, Atlas sẽ do thám mức độ di chuyển của quân đội Bắc Việt qua đất Lào, đồng thời bắt liên lạc với hai linh mục công giáo nhờ giúp đỡ, che chở.
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 3/1962, toán Atlas được đưa sang Thái Lan. Thế nhưng những phi công Đài Loan vẫn chưa được huấn luyện xong, buộc CIA phải sử dụng trực thăng của Air America đưa toán biệt kích đến biên giới Việt – Lào, thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An. Sau đó toán Atlas sẽ di chuyển bộ đến mục tiêu. Chiều ngày 12/3, toán Atlas lên đường cùng với phương tiện, vật chất bảo đảm, do hai chiếc trực thăng H34 đảm nhận, cộng với một chiếc hộ tống. Theo máy bay hướng dẫn, trực thăng thả toán biệt kích lúc trời nhập nhoạng tối xuống một ngọn núi sát biên giới Việt – Lào. Toán Atlas mặc bà ba đen, vũ trang tiểu liên Stern (theo quy định của CIA, không dùng vũ khí Mỹ).
Sau ba ngày di chuyển về hướng đông Nghệ An một cách suôn sẻ, đến ngày thứ tư, toán biệt kích Atlas gặp một đứa trẻ. Theo lời một thành viên trong toán kể lại: “Đứa trẻ biến vào rừng nhanh như chớp!” Sau đó, lập tức lực lượng an ninh đến bao vây toán Atlas, một biệt kích quân trúng đạn, bỏ mạng tại trận. Trên đường chạy trở lại đất Lào, thêm một biệt kích quân nữa giẫm phải mìn, chết. Hai người còn lại không liên lạc được với Sài Gòn vì thời tiết xấu, cuối cùng đều bị bắt.
Rút bài học kinh nghiệm xương máu này, CIA tiếp tục lên kế hoạch cho những chuyến thả biệt kích tiếp theo xuống lãnh thổ Bắc Việt Nam. Lần này CIA quyết định sử dụng loại máy bay C46, xuất phát từ căn cứ không quân Takhli của Thái Lan. Họ sẽ được hai Đại úy Ron Sutphine và M. D. Doc Johnson bay trước hướng dẫn vào bãi thả dù. Toán kế tiếp mang mật danh Remus, gồm 6 biệt kích người dân tộc Thái đen. Cũng như toán Dido trước đây, gồm những biệt kích người dân tộc Thái đen, toán Remus sẽ nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn tỉnh Lai Châu.
 Điện Biên Phủ không chỉ là căn cứ quân sự lớn nhất ở vùng Tây Bắc, cùng với sự hiện diện của Sư đoàn 316; hơn thế nữa, Sư đoàn này thường xuyên có những hoạt động trên đất Lào. Để tránh bị lộ, toán Remus sẽ nhảy dù xuống khu vực gần biên giới Việt – Lào, rồi xâm nhập bằng đường bộ đến mục tiêu. Ngày 16/4/1962, sáu biệt kích quân nhảy dù xuống cách Điện Biên Phủ 15 km về hướng Tây Bắc an toàn. Toán Remus tập hợp lại và năm hôm sau báo cáo về Sài Gòn rằng họ bắt đầu vượt biên giới, xâm nhập vào Bắc Việt.
Sau khi thả toán Remus thành công, Phòng 45 quay trở lại làm việc với toán đầu tiên là Castor. Cuối tháng 4, toán Castor được lệnh di chuyển từ sông Đà về phía nam, đến huyện Mộc Châu, Sơn La. Tại đây, Castor sẽ nhận đồ tiếp tế cùng với toán Tourbillon xuống tăng cường. Không như những toán trước đây, toán Tourbillon gồm 4 dân tộc khác nhau; trong đó ít nhất có hai thành viên là người Kinh. Nhiệm vụ CIA giao cho toán Tourbillon cũng khác, không phải thu thập tin tức tình báo mà là tập kích, tấn công, phá hoại chớp nhoáng. Vì trước đó vào tháng 5, Tổng thống Mỹ Kennedy đã nhiều lần lệnh cho các giới chức lãnh đạo Hoa Kỳ chỉ đạo các toán biệt kích tăng cường hoạt động phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam, nhằm cải thiện tình hình bên Lào đang trở nên căng thẳng; tỉnh lỵ Nậm Thà bị Quân giải phóng Pathét Lào chiếm, với sự yểm trợ của vài tiểu đoàn quân tình nguyện Bắc Việt.

Cuộc Chiến Bí Mật

ydan.org

Nicolas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post 27 Jan, 2011

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Google photo

Phần 2

Trong cuộc chiến Việt Nam có một lực lượng bí mật, ít người biết đến, với mật danh Nha Kỹ thuật, thuộc Bộ Tổng Tham mưu, quân lực VNCH.

Những quân nhân trong sắc lính bí mật này thường được gọi là Lôi Hổ, họ được xếp vào hàng lính Biệt kích, thuộc lực lượng đăc biệt (gọi tắt là biệt kích). Người Mỹ cho rằng: “Nha Kỹ thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Đông Dương”. Cả Nha Kỹ thuật và lực lượng đặc biệt đều được Hoa Kỳ yểm trợ mạnh mẽ. Nha Kỹ thuật có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ cấu tổ chức của Lực lượng đặc biệt (từ đây trở đi gọi là biệt kích).

 Các “Bộ” hoặc “Sở” chỉ huy (CCN, CCC, CCS-Command & Control North, Central, South) tương đương với các Bộ chỉ huy “C” (C1, C2, C3, C4) của biệt kích. Các “Căn cứ hành quân tiền phương” (FOB-O Forward Operation Base) tương đương với các Ban chỉ huy “B” (B50, B52, B57…) Các toán Lôi Hổ tương đương với các phân đội “A” biên phòng.

Tháng 2 năm 1961, một chiếc thuyền đóng theo kiểu thuyền đánh cá ở Bắc Việt Nam trôi bồng bềnh ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, lặng lẽ hướng về Cẩm Phả, một thị xã nhỏ ven biển. Hai đêm trước, chiếc thuyền đã lướt qua Cảng Hải Phòng một cách trót lọt. Chiều ấy, lúc hoàng hôn, chủ nhân của chiếc thuyền có thể thấy lờ mờ những rặng núi cao thuộc tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc ở vị trí khoảng 40 dặm về phía bắc. Trường hợp không may xảy ra, nếu bị bao vây, sẽ không có một chiếc tàu nào của Mỹ hay của quân đội Sài Gòn đến giải cứu anh ta. Chiếc thuyền con này không phải được đóng ngoài Bắc mà là ở Vũng Tàu, cách xa Cẩm Phả khoảng 800 dặm. Những người lái tàu đã được cơ quan tình báo CIA Mỹ bí mật tuyển chọn và huấn luyện để đưa một người Việt Nam đứng tuổi, đem theo máy truyền tin, tìm cách xâm nhập vào miền Bắc. Điệp viên mang bí danh Ares đã đặt chân lên đất Bắc một cách suôn sẻ.

Dưới thời tổng thống Kennedy, tại điều khoản số 52 của Hội đồng an ninh Quốc gia cho phép cơ quan CIA sử dụng quân biệt kích “Mũ nồi xanh” (Special Forces) và Người nhái Hải quân (Navy Seals) để huấn luyện, làm cố vấn cho quân nhân Việt Nam thực hiện những phi vụ bí mật, do ông trùm CIA là W. Colby tổ chức.

Tại thành phố biển Nha Trang, biệt kích Mỹ huấn luyện cho biệt kích quân Việt Nam thuộc Liên đoàn biệt kích số 1, chuyên do thám đường mòn Hồ Chí Minh. Trong hai năm (1961-1962), Liên đoàn này đã tổ chức 41 cuộc hành quân truy tìm dấu vết hành lang vận chuyển của Quân đội nhân dân Việt Nam qua lãnh thổ Lào.

Trong khi đó tại Đà Nẵng, toán người nhái Mỹ lo huấn luyện cho thủy thủ quân đội Sài Gòn chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra, họ tổ chức thêm những toán biệt kích biển mở những cuộc tập kích bất ngờ vào các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Nhưng chỉ sau vài chuyến  trót lọt, Hải quân Bắc Việt Nam đã đề phòng, ngăn chặn và đánh chìm một số thuyền chiến của quân đội Sài Gòn. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ quan CIA đã quyết định thay đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường không, với sự tiếp ứng của không quân Sài Gòn.     

Những nhân viên (thời điểm này họ vẫn là dân sự) chuẩn bị xâm nhập miền Bắc đều được huấn luyện tại căn cứ Long Thành (Biên Hòa), cách Sài Gòn khoảng 20 dặm về hướng Đông. Quân Mũ nồi xanh và nhân viên CIA huấn luyện cho họ về nghiệp vụ tình báo, kỹ thuật phá hoại, sử dụng vũ khí, nhảy dù, đánh morse và kiếm sống. Nói chung là những kỹ năng để họ có thể tồn tại và hoạt động lâu dài trên đất Bắc. Đến cuối mùa xuân 1961, điệp viên Ares vẫn thường gửi những bức điện morse đến Trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Philippin để báo cáo tình hình. Qua những báo cáo  của điệp viên Ares, CIA cho rằng thời kỳ tung gián điệp đơn tuyến đã kết thúc, bắt đầu thời kỳ thả những toán biệt kích xâm nhập miền Bắc từ 3 đến 8 người. Thế nhưng họ đã không được may mắn như điệp viên Ares.

Chuyến đầu tiên thả toán biệt kích Atlas, họ đã không có cơ hội để gửi mật điện báo cáo là đã đến nơi, vì chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn. Sau vụ này, tướng Nguyễn Cao Kỳ đích thân lái máy bay, thả toán biệt kích thứ hai có tên là Castor, hy vọng xâm nhập sâu vào nội địa miền Bắc Việt Nam. Thế nhưng chỉ ba tháng sau, Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ ba biệt kích của toán Atlas còn sống sót. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên lạc. Rồi đến toán Dido và Echo cũng nằm trong tay lực lượng an ninh Bắc Việt. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích mang tên Tarzan cũng bặt vô âm tín.

Sau những sự kiện trên, mùa hè 1962 CIA quyết định bàn giao các hoạt động xâm nhập ở vùng Đông Nam Á cho quân đội Mỹ và triển khai trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên gọi là “Kế hoạch trở lại” (Operation Switchback). Thế rồi nổ ra cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963 dẫn đến nhiều biến đổi trong chính thể Sài Gòn, khiến cho kế hoạch bàn giao thêm chậm trễ. Mặt khác quân đội Mỹ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao. Trong lúc đó, Quân đội nhân dân Việt Nam gia tăng mức độ chi viện cho chiến trường miền Nam. Để đối phó, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc. Namara ra lệnh thả nhiều toán biệt kích ra miền Bắc để phá hoại, với lời đe dọa: “Giới lãnh đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá đắt nếu còn tiếp tục dung dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam”.

Kế hoạch 34A được phê duyệt ngày 15/12/1963 giới hạn một sốt mục tiêu phá hoại ở Bắc Việt Nam. Mặc dù Mc Namara ra sức thúc đẩy, kế hoạch 34A mãi cho đến ngày 1/2/1964 mới được triển khai. MACV mới lập xong 1 đơn vị, đảm nhiệm những hoạt động bí mật của CIA. Đơn vị này do 1 Đại tá chỉ huy, bao gồm nhiều sắc lính từ biệt kích, người nhái cho đến Không đoàn cảm tử (Air Commando). Đơn vị tổng hợp này lấy tên là Liên đoàn hành quân đặc biệt, gọi tắt là SOG (Special Operation Group). Sau đó đổi tên để giữ bí mật, mặc dù vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group). Đoàn Nghiên cứu, quan sát, tên mới nghe có vẻ như một trung tâm nghiên cứu, chỉ toàn những chuyên gia hoặc các giáo sư, tiến sĩ.

SOG không trực thuộc cơ quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng W. Westmoreland, mà nhận lệnh trực tiếp từ Bộ Tổng Tham mưu quân đội Mỹ (JCS) ở Lầu năm góc và thường nhận lệnh từ Nhà Trắng. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Mỹ ở Sài Gòn được báo cáo về những hoạt động bí mật của SOG. Đó là tướng Westmoreland, Tham mưu trưởng của ông ta, Trưởng phòng Nhì, Tư lệnh Không quân và Tư lệnh Hải quân Mỹ tại Việt Nam.

SOG được phép mở những cuộc hành quân xuất phát từ miền Nam Việt Nam và Thái Lan vào lãnh thổ Lào, Campuchia, Bắc Việt Nam và có thể ở cả phía bắc Miến Điện, Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Ngân sách chi cho SOG được giấu trong tài khoản dành cho Hải Quân Mỹ.

Chỉ huy SOG là Đại tá Clyde Russell, thuộc binh chủng dù, từng tham gia Chiến tranh Thế giới lần 2, sau đó chuyển sang lực lượng biệt kích trong những năm 50 của thế kỷ XX. Đại tá Clyde Russell đã từng có mặt trong Sư đoàn dù 82 đổ bộ xuống Pháp, Hà Lan. Rồi chỉ huy Liên đoàn Biệt kích số 10 ở Châu Âu; Chỉ huy trưởng Liên đoàn biệt kích số 7 đóng căn cứ tại Fort Bragg, bắc Carolina.

Theo kế hoạch 34A, Đại tá Russell và Ban Tham mưu sẽ thay đổi cơ cấu tổ chức của Lien đoàn Nghiên cứu quan sát theo khung tổ chức lực lượng biệt kích xâm nhập OSS, với thế mạnh là có sự yểm trợ của các binh chủng Không quân, Hải quân và Tâm lý chiến. Cơ quan CIA cho SOG sử dụng hệ thống tiếp liệu đặc biệt với những thiết bị đặc biệt như vũ khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe trộm. Đồ tiếp liệu đặc biệt này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp tế cho SOG và lực lượng Biệt kích. CIA bàn giao thêm cho SOG một phi đội máy bay C123 từ Đài Loan đến, do các phi công Đài Loan lái để thay thế loại máy bay C47 của Không quân Quân đội Sài Gòn. Phi đội này có tên là “Thứ Nhất”, gồm 4 chiếc C123.

Google photo

Mỗi chiếc có 1 phi hành đoàn phụ để thực hiện những chuyến bay trên lãnh thổ miền Nam. Còn các phi công Đài Loan bay những phi vụ xâm nhập miền Bắc hoặc lãnh thổ Campuchia. Những phi công Đài Loan này không biết tiếng Việt, tuy họ đều có thẻ căn cước Việt Nam. Chỉ một số rất ít viên chức Việt Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao lại kết quả 3 năm hoạt động của họ từ 1961-1964.

Trong số 22 toán biệt kích được thả ra miền Bắc, CIA chỉ còn liên lạc được 4 toán:  Bell, Remus, Easy, Tourbillon; và 1 điệp viên đơn tuyến Ares. Tại căn cứ Long Thành, SOG nhận được khoảng hơn 20 nhân viên đang huấn luyện. Nhưng sĩ quan SOG lại không tin tưởng họ và đòi phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho Quân đội Sài Gòn, vì họ đã biết quá nhiều những hoạt động bí mật cũng như số phận các toán biệt kích ở ngoài Bắc. Người Mỹ cho rằng cách giải quyết dễ nhất là cứ thả họ ra ngoài Bắc, rồi bỏ rơi họ trong tay lực lượng an ninh Bắc Việt.
Trong 3 tháng 5, 6, 7 năm 1964, tất cả những toán biệt kích: Boone, Buffalo, Lotus và Scopion nhảy dù cuống miền bắc đều bị bắt. Chưa kể số nhân viên khác được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán biệt kích Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán biệt kích do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần. Tên gọi “Lôi Hổ” được đặt cho số nhân viên mới tuyển chọn để yểm trợ kế hoạch 34A tấn công bất ngờ vào ven biển Bắc Việt.
Đêm 16/2/1964, ba thủy thủ người Na Uy lái chiếc tàu Nasty – 1 loại tàu chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na Uy chế tạo – chở theo người nhái Việt Nam, dự tính phá hủy một chiếc cầu, nhưng bị lực lượng an ninh Bắc Việt phát giác, phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán người nhái khác xâm nhập miền Bắc lại thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc lực lượng Người nhái của Quân đội Sài Gòn. Bước sang mùa mưa năm 1964, các tốc đỉnh Nasty và biệt kích biển dùng chiến thuật tấn công bất ngờ rồi rút nhanh phá hủy được 5 mục tiêu ngoài Bắc trong 2 ngày 9 & 25 tháng 7. Ngày 30/7, SOG sử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra đa gần Hải Phòng, gây nhiều tiếng nổ phụ.
Từ tháng 6/1964, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara đã ra lệnh thám thính lãnh thổ Lào, theo chương trình “Leaping Lena”. Từ ngày 24/6 đến ngày 1/7, SOG bắt đầu thả những toán biệt kích đầu tiên xuống lãnh thổ Lào. Việc 5 toán biệt kích Việt Nam nhảy dù xuống đất Lào để do thám các hoạt động của Quân đội Bắc Việt Nam theo chương trình “Leaping Lena” tới tai cố vấn của Tổng thống Mỹ là ông William Bundy, qua bản báo cáo “Tất cả các toán biệt kích đều bị lực lượng an ninh Bắc Việt phát hiện, chỉ còn 4 người sống sót chạy thoát trở về”.
Đầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA) chụp được một số hình ảnh về những con đường mới làm từ đèo Mụ Giạ sang lãnh thổ Lào. Theo đó, hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh nối dài, vươn xa. Ngày 8/3/1965, SOG có một chỉ huy mới là Đại tá Donal Blackburn, một người có máu mặt trong lực lượng đặc biệt, sẽ trở thành nhà đạo diễn cho “cuộc chiến tranh ngoại lệ” ở Việt Nam và Đông Dương.

Cuộc Chiến Bí Mật Hồ Sơ Lực Lượng Đặc Biệt VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Google photo

Phần 1 – Lời nói đầu
Sau cuộc chiến ở Việt Nam, nhiều chính khách cũng như sĩ quan cao cấp của Quân đội Mỹ và VNCH đã dành khá nhiều giấy mực để lý giải, thanh minh cho những việc làm, những tháng ngày quay lưng lại với chính dân tộc mình, cũng như trách nhiệm của họ trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn khốc, tương tàn do Chính phủ Mỹ gây ra.
Khác với những chính khách hay các tướng tá khác, Giáo sư Vũ Đình Hiếu-dịch giả cuốn “Cuộc chiến bí mật”- là một cựu biệt kích quân đội VNCH, đã nhìn lại cuộc chiến với tâm tư của người lính một thời ngồi chung thuyền với những biệt kích “Mũ nồi xanh” của Mỹ. Vốn là người cùng chung chiến tuyến, họ từng là lực lượng chuyên trách đánh phá hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam. Họ trở thành lực lượng xung kích chuyên đánh phá tuyến đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử bằng những thủ đoạn vô cùng thâm hiểm, tinh vi hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho đồng bào miền Nam.
Phải sau cuộc chiến đến một phần tư thế kỷ, với cương vị là Giáo sư chuyên ngành Công nghệ thông tin, từng giảng dạy ở các trường Đại học ở bang Texas (Mỹ) và hiện ông đang giảng dạy tại Trường ĐH RMIT-một trường ĐH Quốc tế ở Tp. HCM. Trong cuốn sách này Gs Vũ Đình Hiếu dựa vào những tài liệu đã giải mã của Ngũ Giác Đài như: “ SOG The Secret Wars Of American’s Commandos in Vietnam” của John L. Plaster; “How American Lost the secret War in VietNam” và “Why American Lost the secret War in North VietNam” của Kenneth Conboy Dale Andrale, United Press, 2000; Cuốn sách kể lại những tháng ngày mà không ít các cựu biệt kích quân đội VNCH vẫn tưởng là một thời vinh quang ấy.
Thật ra nguyên nhân chủ yếu thôi thúc Gs Vũ Đình Hiếu dịch cuốn sách này chính là thái độ thờ ơ, vô cảm, lạnh lung, lãng quên, bỏ rơi của chính phủ Mỹ đối với những cựu biệt kích quân đội VNCH ngay trên đất Mỹ, mà một thời CIA từng gọi họ là “Người hùng thời đại”.
Mặc dù cái nhìn của các tác giả trong nguồn tư liệu còn nhiều sai lệch do cách nhìn nhận, cách nghĩ xuất phát từ lập trường chống Cộng thâm căn, song dù sao những trang dịch của Gs Vũ Đình Hiếu đã miêu tả khá sinh động bản chất chống Cộng thâm căn, thủ đoạn nham hiểm của lực lượng biệt kích Lôi Hổ, quân đội VNCH và biệt kích “Mũ nồi xanh” của Mỹ, đặt dưới bàn tay điều khiển của CIA, nhằm bớt xương máu của binh sĩ Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Đó là chính sách thực hiện âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của Mỹ.
Qua cuốn sách này, bạn đọc sẽ có thêm một tài liệu tham khảo về một sắc lính – Biệt kích – trong cuộc chiến tranh Việt Nam và Đông Dương.

Tiến sĩ sử học Đinh Thu Xuân

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu from Google

Chương 13

Các sếp Mafia trên toàn cõi Sicily yêu cầu có một cuộc hợp với Ông Trùm. Mặc dầu được nhìn nhận là sếp lớn, là Chúa Trùm, nhưng Croce không trực tiếp cai trị chúng theo kiểu thượng cấp và thuộc hạ, mỗi sếp vẫn có giang sơn riêng. Tổ chức Mafia cũng giống như một vương quốc thời Trung cổ. Các công tước, hầu tước có thế lực đem binh lực riêng của mình đến hỗ trợ cuộc chiến của một công tước, hầu tước có thế lực nhất mà họ nhìn nhận là người cai trị họ trên danh nghĩa. Nhưng các công tước, hầu tước thuở xưa, tuy phải thề trung thành với nhà vua, nhưng không vì thế họ không dám “quất” lại vua, nếu vua tỏ ra kém bản lãnh hoặc yếu hơn họ. Nếu họ trợ chiến, và chiến thắng, vua không chia chiến lợi phẩm cho họ là không xong. Ông Trùm không cai trị các sếp Mafia bằng quyền lực vật chất mà bằng trí thông minh, uy tín và sự được trọng nể lâu ngày. Lão cai trị bằng cách điều hợp các lợi ích phân tán để tập trung vào lợi ích chung, tất cả đều có lợi.
Ông Trùm cũng phải rất cẩn thận đối với các sếp. Cũng như vua thời Trung cổ không dám lơ mơ với các công tước, hầu tước. Mỗi sếp Mafia – trong giang sơn của mình là một đấng toàn quyền. Mỗi sếp đều có tay chân bộ hạ riêng, có “quân binh chủng” riêng. Chẳng hạn có “chuyên gia” đầu độc, “chuyên gia” tấn công ngân hàng, “chuyên gia” chặn cướp xe lửa… Trong lãnh vực này, các sếp không thua gì sếp lớn từ là Ông Trùm, Chúa Trùm. Chính vì vậy, Ông Trùm Croce rất muốn Guiliano về với mình để làm “quả đấm sắt”, tức là chỉ huy cánh quân sự của mình.
Các sếp Mafia của Sicily cũng “có nghề”, cũng khôn khéo, ranh ma, trong đó có những bàn tay tàn độc, quỷ quyệt nhất Sicily. Chẳng phải chúng bị ép buộc phải hợp tác xây dựng quyền lực cho Ông Trùm, mà chính vì quyền lợi riêng của chúng đòi hỏi chúng phải tín nhiệm và hợp tác với lão, tin vào sự khôn ngoan của lão. Nhưng, theo ý chúng, người thông minh nhất thế giới cũng đôi khi sai lầm. Theo ý chúng, Ông Trùm ăn phải bả thằng Guiliano, đã mê nó. Chẳng biết những tính toán lắt léo của lão trong cái vụ “mê” này có đi đến kết quả gì không. Nhưng khởi đầu sự sập tiệm của cả bọn thì đã rõ.
Ông Trùm làm bữa tiệc tẩy trần để thết sáu ông sếp tại vườn trong khu “khách sạn Umberto” của lão ở Palermo. Tại đó, tuyệt đối bí mật và an toàn.
Sếp đáng sợ nhất, ăn nói bạt mạng nhất trong số các sếp có máu mặt hôm đó là Don Siano. Hắn nắm thị trấn Bisacquino. Hắn được đại diện cho các “sếp” kia để ngỏ lời trước tiên. Tuy là một chức sắc của tổ chức “Người anh em”, hắn nói thô lỗ đến mức không sao chịu được.
– Ông anh Croce, ông anh dư biết tụi này rất nể ông anh. Tụi này cũng không quên cái ơn ông anh đã hồi sinh tụi này và cả gia đình tụi này. Phải nói là tụi này mắc nợ ông anh rất lớn. Nhưng buộc lòng tụi này phải nói ra điều này, chính là để đền đáp, để phục vụ lợi ích của ông anh. Thằng chó đẻ Guiliano, thằng cướp cạn ấy, thằng lục lâm ấy đã trở nên mạnh quá rồi. Và bọn mình đã chơi đẹp, có thể nói là đã nể nang nó quá rồi. Chính vì thế mà nó tưởng nó oai, đâm khệnh khạng mới tức chứ. Nó chỉ là một thằng nhóc mới lớn. Ấy thế mà nó dám vuốt râu cọp là ông anh đây, dám mó dái ngựa là tụi này. Nó cướp nữ trang của ông khách “sộp” nhất của bọn mình. Nó nẫng tay trên ô liu, nho, lúa mì của những chủ đất đã mướn mình bảo trợ, có khác gì nó chửi cha mình. Nó bắt cóc hoàng thân Ollorto mà nó biết do chính ông anh che chở, chẳng phải là nó muốn nắn gân ông anh sao? Vậy mà ông anh lại cứ muốn tiếp tục chơi đẹp với nó, tiếp tục chìa bàn tay hữu nghị ra cho nó. Đ.m, tôi biết nó mạnh. Nhưng thử hỏi, tất cả anh em mình hiệp lại, bộ lép hả? Mạnh hơn nó là cái chắc. Thế thì tội đếch gì mà cứ để thằng nhóc chơi trội hoài vậy. Và, nếu ông anh không triệt nó sớm tức là dung dưỡng cho nó ngày một mạnh hơn. Tất cả anh em chúng tôi ở đây đều đồng ý là đã đến lúc phải giải quyết dứt điểm vấn đề này. Phải dùng tất cả mọi biện pháp để bẻ gãy sức mạnh của nó. Nếu vụ bắt cóc hoàng thân Ollorto mà bọn mình cũng cho êm ru, thì dân Sicilian sẽ cười mình thối óc, chịu gì thấu, và bọn mình cũng hết đường làm ăn.
Ông Trùm gật gật gù gù như thể đồng ý. Nhưng lão không nói gì. Guido Quintana, một tên đụt nhất trong đám, rền rĩ nói:
– Tôi là thị trưởng của Montelepre. Mẹ kiếp, cả bàn dân thiên hạ, ai không biết tôi cũng là người của phe ta. Ấy vậy mà đếch có ma nào đến tôi để xin phân xử gì ráo. Nhất là đếch có biếu xén cái con mẹ gì bao giờ. Tôi là thị trưởng, nhưng thực tế thằng quái Guiliano là người cai trị. Nó để cho tôi sống chẳng qua là để khỏi gây lôi thôi rắc rối với anh em mình, khi nó cảm thấy chưa đủ mạnh để chơi xả láng đấy thôi. Nhưng, Đ.m, tôi lấy đếch gì mà sống. Tôi đếch có quyền gì hết. Tôi chỉ là thằng bu nhìn. Chừng nào mà còn thằng khốn đó thì tổ chức “Người anh em” đừng hòng làm ăn được ở cái thị trấn Montelepre. Tôi đếch sợ thằng nhóc đó. Tôi sẵn sàng đương đầu với nó ngay tức khắc. Trước và sau khi nó thành một thằng ăn cướp, đếch bao giờ tôi nghĩ nó là một thằng đáng sợ. Nếu trong hội nghị này, phe ta bật đèn xanh, tôi phủi nó liền. Mẹ kiếp, tôi đã có kế hoạch. Chỉ đợi ông anh đây đồng ý là “a – lê hấp”, thằng này chơi liền.
Sếp Piddu ở Caltanisetta và sếp Arzana của thị trấn Piani dei Greci gật đầu ô – kê liền. Sếp Piddu lên tiếng:
– Chơi với nó sát ván thì khó đếch gì mà ông anh phải ngại. Mẹ kiếp, với tiềm lực của anh em mình đây thì đủ sức để phơi thây nó ở sân nhà thờ chánh toàn Palermo cũng còn được. Rồi mình đến dự đám tang của nó như dự lễ cưới cũng dư xăng.
Các sếp khác như Marcuzzi, trùm ở Villamura, sếp Burilla trùm ở Partinico đều lên tiếng nhất trí. Và chúng đợi ý kiến Ông Trùm.
Lão ngẩng cái đầu sư tử của lão lên, chĩa cái mũi nhọn như mỏ diều của lão vào từng sếp, rồi từ tốn nói:
– Anh em, tôi đồng ý với những gì anh em vừa nói. Nhưng tôi nghĩ là mấy anh em đã coi thường thằng nhỏ này quá đấy. Nó khôn như quỉ, ranh ma trước tuổi đã đành, mà có lẽ bản lãnh của nó, sự can đảm của nó, nếu không hơn thì cũng không thua bất cứ anh em nào đang ngồi ở đây. Không dễ gì mà làm thịt nó được đâu. Nhưng trên hết là tôi thấy nó có chỗ dùng cho anh em mình sau này, không phải cho riêng tôi, mà cho tất cả các anh em mình. Vấn đề là phải làm thế nào để vẫn diệt được nó mà vẫn được việc của mình. Vậy mới là cao tay ấn. Mấy anh em chưa thấy rõ cái họa của chính anh em mình không phải là thằng Guiliano, mà là bọn cộng sản, bọn xã hội. Mấy anh em đã có kinh nghiệm xương máu với Mussolini. Nhưng Mussolini so với cái họa cộng sản chẳng khác nào con mèo so với con sư tử. Bọn cộng sản đang hớp hồn dân quê Sicilian, đang làm cho bọn nhà quê điên lên, đứa nào cũng tưởng mình là Garibaldi cả. Thằng Guiliano đang có ảnh hưởng mạnh đối với bọn nhà quê. Bởi vậy, trước mắt, mình phải làm thế nào để thằng Guiliano đừng bị cộng sản hớp hồn cái đã. Sau đó, biến nó thành cây roi quất lại bọn cộng sản. Làm như vậy, mình thêm một đồng minh – tất nhiên là tạm thời – để chơi một kẻ thù khác nguy hiểm hơn. Tôi chưa nói hết với mấy anh em cái hậu quả tai hại mà anh em mình sẽ phải chịu nếu bọn cộng sản, bọn xã hội lên nắm chính quyền. “Đứt bóng” hết ráo là cái chắc. Bởi vậy, phải khích thằng Guiliano quất cho bọn mọi rợ kia sụm đã. Khi nó đã diệt xong bọn kia, lực lượng của nó thế nào chẳng bị sứt mẻ, lúc đó mình diệt nó mấy hồi?
“Ông Trùm” thở dài như thể thất vọng về sự chậm hiểu và thiển cận của mấy sếp.
– Mấy anh em hãy cho tôi cái đặc ân là để cho tôi khích nó quất tụi cộng sản đã. Nếu nó từ chối, lúc đó anh em ai có sức chơi nó cách nào, xin cứ tùy ý, tôi còn khuyến khích nữa. Trong vòng ba ngày nữa, tôi xin trả lời dứt khoát với anh em. Cứ để tôi thử lần chót xem nó có biết phải trái không đã.
Cũng lại sếp Siano là người đầu tiên gật đầu tấm tắc khen:
– Ông anh thật cao kiến, đệ xin bái phục.
Vả lại, ai có đủ lý trí mà lại không có đủ kiên nhẫn để chờ ba ngày nữa trước khi giết Guiliano? Ba ngày nữa thì nó cũng vẫn còn ở cái đất Sicily chứ có bốc hơi hay có ánh bay đi mất đâu mà sợ. Các sếp ra về. Ông Trùm nhắn mời giáo sư Hector Adonis đến Villaba.
Ông Trùm nóng nảy nói với giáo sư Adonis:
– Tôi hết kiên nhẫn nổi cái thằng con ông rồi. Bây giờ thì nó phải trắng đen dứt khoát: hoặc đi cùng hoặc chống lại tụi này. Bắt cóc hoàng thân thì đúng là nó chửi cha tôi rồi. Nhưng tôi vẫn có thể tha thứ và quên đi được. Dù sao thì nó cũng trẻ người non dạ. Tôi nhớ lúc còn bằng nó, chính tôi cũng ngông cuồng, cao ngạo như nó bây giờ. Như tôi vẫn thường đã nói với ông: tôi rất cảm mến nó. Tin tôi đi, tôi đánh giá đúng tài năng, tiềm năng của nó. Tôi thật quá vui sướng không còn gì bằng, nếu có được nó làm cánh tay phải cho tôi. Phần nó, nó phải thấy cái vị trí của nó trong kế hoạch chung, cái thế của nó trong tình hình chung, cái nhiệm vụ, cái giới hạn của nó trong cái địa thể. Nhiều anh em khác người ta đã có nể phục, đâu có hiểu như tôi đâu. Khổ quá, tôi có kềm giữ họ được thì cũng chỉ ở mức độ nào đó thôi. Điều ấy ông cũng đã quá rõ rồi. Vậy, ông hãy đi gặp thằng con ông và nói cho nó biết những điều tôi đã nói với ông. Chậm nhất là ngày mai, ông phải trả lời tôi. Tôi không thể chờ đợi lâu hơn được đâu vì tôi còn phải trả lời cho mấy anh em kia nữa.
Giáo sư Hector Adonis thấy lo sợ cho thằng con đỡ đầu của mình.
– Ông Croce, tôi công nhận là ông khoan dung, rộng rãi trong cả ý nghĩ lẫn hành động. Nhưng thằng Turi là đứa có ý chí và cũng chẳng phải vừa gì. Cũng như mọi thanh niên khác, nó tin chắc vào quyền lực của mình. Và quả thật, nó đâu phải thằng cù lần và hòan toàn bất lực? Nếu xảy ra cuộc xung đột giữa nó và “Người anh em”, tôi biết, nó không thể thắng được. Nhưng thiệt hại thật đáng sợ. Liệu có phần thưởng gì để tôi có thể hứa với nó không?
– Hứa với nó thế này: nó sẽ có một địa vị cao, rất cao trong tổ chức “Người anh em”. Và nó sẽ được sự quí mến, tin cẩn và kể cả sự trung thành của chính tôi đây nữa. Ngòai ra, nó đâu có thể nào sống đời ở trên núi? Sẽ có lúc nó muốn trở lại sống trong một xã hội bình thường, có một chỗ đứng trong xã hội, trong luật pháp và nhất là rồi nó cũng phải có vợ có con chứ. Đến ngày đó, ông cũng dư biết, tại Sicily này ấy hả, ngoài thằng tôi ra, không có ai đảm bảo sự miễn xá của pháp luật dành cho nó. Và tôi lấy làm sung sướng, vinh dự nữa, nếu được làm điều đó. Tôi nói rất thành thật.
Và quả thật, khi nói như vậy. Ông Trùm đã không “cuội”, không thể thất tín, không thể chống chế, nếu sau này ông có lật lọng cũng không dễ gì.
Lên núi gặp Guiliano, giáo sư Adonis rất bối rối và lo sợ cho đứa con đỡ đầu của mình. Ông quyết định phải nói trắng ra cho hắn thấy ông có phải nói như vậy thì cũng vì tình thầy trò, chớ không phải vì ông liên minh với Ông Trùm. Nên đánh đòn tình cảm với hắn.
Khi tới nơi, ông đã thấy bàn và ghế xếp được bày ra ở mỏm núi. Chỉ có Turi và Aspanu đang ngồi. Ông nói với Turi:
– Thầy muốn nói chuyện riêng với con, Turi.
Bị chạm tự ái, Pisciotta sửng cồ:
– Này, ông quắt, cho ông hay, giữa Turi và thằng này đếch có gì giấu giếm nhau đâu.
Làm như không thèm chấp sự sỉ nhục của Aspanu, Hector Adonis bình tĩnh nói:
– À, sau này Turi muốn nói với anh cái gì thì nói, tùy ý nó. Nhưng tôi không thể nói với anh, vì cái lẽ đơn giản là tôi không có trách nhiệm gì về anh như tôi đã có trách nhiệm về nó.
Pisciotta đứng phắt dậy, lườm ông Adonis một cái, rồi vùng vằng bỏ đi. Ông Adonis ngồi lặng thinh một lúc lâu rồi mới lên tiếng:
– Turi, con đỡ đầu cưng của ta. Ta thương con ngay từ lúc con còn bé xíu. Ta đã dạy dỗ con, đưa sách vở cho con đọc, giúp đỡ khi con bất đắc dĩ phải dấn thân vào chốn giang hồ. Con là một trong số rất ít người làm cho ta cảm thấy cuộc sống của ta là đáng sống. Ấy vậy mà khi Aspanu, em họ của con nhục mạ ta, con không có lấy một lời quở trách nó.
– Con tin thầy hơn ai hết trên đời này, chỉ sau có ông bà già con.
– Thế còn Aspanu? – ông Adonis nói, giọng trách móc. – Phải chăng nó đã trở nên quá độc dữ, khát máu, đến nỗi không còn có thể tin được ai nữa hay sao?
Guiliano nhìn thẳng vào đôi mắt của ông Adonis. Và chính ông cũng nhìn thấy sự chân thành, trầm tĩnh trên khuôn mặt hắn.
– Dạ, con phải thú thật là con tin Aspanu hơn là tin thầy. Đã đành là ngay từ lúc còn nhỏ, con đã kính yêu thầy. Thầy đã khai mở, đã bồi dưỡng tâm trí con bằng sự hiểu biết khôn ngoan của thầy và bằng sách vở. Con cũng biết là thầy đã bỏ tiền túi của thầy để giúp đỡ ông bà già con nhiều phen. Thầy đã là ân nhân, là bạn chân thành của con trong lúc con gặp cơn hoạn nạn. Nhưng, vì thầy có dính dáng đến bọn “Người anh em”, nên con cũng không dám hết lòng, tuyệt đối tin vào thầy. Con có linh cảm là cũng chính vì sự dính dáng đó mà hôm nay thầy đến đây.
Một lần nữa, ông Adonis kinh ngạc vì cái “giác quan thứ sáu” của thằng con đỡ đầu của mình. Ông đành nói rõ mục đích của ông khi tìm gặp hắn:
– Thầy đến đây với hy vọng hòa giải con với Ông Trùm Croce. Cho con hay, đến như vua nước Pháp, đồng thời là vua Sicily, và ngay cả Garibldi, thậm chí chính Mussolini cũng chẳng bao giờ hòan toàn tiêu diệt được tổ chức “Người anh em”. Liệu sức con có hơn những người đó không mà con hy vọng thắng bọn chúng? Thầy mong con là hòa với Croce trong lúc tình thế cho phép. Bước đầu thì con phải nhún một chút. Nhưng về sau ai biết đâu đấy, con lão sẽ phải quỵ lụy con? Thầy lấy danh dự của thầy và thề trước mặt bà già của con – một người mà ngay cả con lẫn thầy đều cảm phục –là lão Croce tin vào thiên tư của con. Lão chân thành quý mến con. Con sẽ là kẻ kế nghiệp, là đứa con cưng nhất của lão ta. Nhưng muốn vậy thì bước đầu con phải nhường lão một chút.
Thấy Turi như có vẻ bị xúc động, giáo sư Adonis cầm tay nó và nói một cách say sưa:
– Turi, thầy nghĩ đến bà già của con. Con không thể sống mãi trên núi này được. Không thể mỗi khi muốn về thăm bà già là mỗi lần con phải liều mạng. Lão Croce có thể giúp con không bị truy tố nữa.
Turi im lặng để tập trung tư tưởng hầu suy nghĩ. Sau đó, hắn chậm rãi và trang trọng nói:
– Trước hết con xin cám ơn sự chân thành và hảo ý của thầy. Đề nghị của Croce không phải là không hấp dẫn. Nhưng, cái gọi là “tội” mà con đã phạm, đối với con, chỉ là những hành động phải làm để giải phóng dân nghèo ở Sicily này. Con không tin rằng đám “Người anh em” đó lại có cùng một mục đích với con. Chúng nó là tôi tớ của bọn nhà giàu, của bọn chính trị gia thối tha ở Rome và là kẻ thù không đội trời chung của con. Rồi thầy coi. Con biết thừa là khi bắt cóc ông hoàng Ollorto, con đã đạp lên chân chúng nó. Nhưng con sẽ không để cho thằng cha Quintana sống. Con khinh bỉ thằng già dịch đó. Con cũng “nhổ” và sự cảm mến của lão Croce. Thầy cứ nói với lão như vậy. Nhưng lúc này, khi giữa con và lão không có những quyền lợi phải tranh chấp thì cứ phần ai nấy ăn. Còn về mấy thằng “sếp” của lão, cứ để cho chúng có sức làm gì được, cứ làm. Con không coi lũ đó ra cái thá gì, chứ đừng nói là con sợ chúng.
Ông Adonis buồn rầu đem câu trả lời về cho Ông Trùm. Lão gật gù như thể đã biết trước và cam nhận số phận đã buộc lão phải lao vào cuộc chiến mà lão không thích, nhưng cũng quyết tâm giành phần thắng.
Tháng sau, có ba cuộc mưu sát nhằm vào Guiliano. Người phát pháo lệnh là Guido Quintana. Lão đặt kế hoạch rất công phu, tỉ mỉ và tinh tế, không thua gì Borgia (1).
Dọc theo con đường Guiliano vẫn thường dừng, mỗi khi ra khỏi sào huyệt, có một bãi cỏ xanh tốt. Từ một tuần lễ qua, một bầy cừu lớn được thả ăn quanh quẩn ở đó. Có ba tên chăn cừu. Đứa nào nom cũng hiền lành, vô hại. Quê quán chúng ở tại xã Corleon. Và là bạn cũ của Guido Quintana.
Mỗi khi thấy Guiliano từ trên núi xuống và đi qua đó, ba tên chăn cừu này đều chào hắn một cách cung kính. Chúng chào theo tập tục xưa, xin hôn tay hắn. Guiliano thân mật trò chuyện với chúng. Những người chăn cừu thường “làm việc bán thời gian” cho băng của Guiliano. Và hắn thường rất quan tâm đến người mới được tuyển mộ. Hắn không cảm thấy chính hắn đang bị nguy hiểm. Vì lúc nào cũng có cận vệ đi cùng. Và thường mặc áo mỏng manh, không thể giấu vũ khí được. Tuy vậy, con mắt đa nghi của Pisciotta đã nhìn ra sự bất thường. Y ngạc nhiên về sự xuất hiện đột ngột và sự đon đả, vồ vập của mấy tên chăn cừu mỗi khi chào hỏi Guiliano. Qua màng lưới tình báo của Pisciotta, bọn chăn cừu được nhận diện là nhân viên ám sát của Quintana.
Không để phí thì giờ, Pisciotta dẫn mười tay em trong băng của riêng mình đến tóm cổ ngay ba tên chăn cừu kia. Bọn đó đã được hỏi han rất kỹ: bầy cừu của ai, chúng làm nghề chăn cừu đã bao lâu, quê quán ở đâu, tên cha, mẹ, vợ con… Mấy tên chăn cừu khai tuốt luốt. Và có vẻ rất chi là thành thật. Nhưng Pisciotta đã nắm được bằng cớ chúng nó láo.
Cuộc khám xét đã phát hiện ra võ khí được cột vào bụng mấy con cừu đứng giữa bầy. Pisciotta định xử tử mấy tên chăn cừu giả danh kia. Nhưng Guiliano không chịu. Sau cùng chúng không bị hại, vì xét ra kẻ chủ mưu là Quintana. Nhưng hình phạt tất nhiên là phải có. Và hình phạt này khá độc đáo. Mấy tên chăn cừu phải lùa bầy cừu vào thị trấn Montelepre. Tại quảng trường chính của thị trấn, chúng phải lớn tiếng rao: “Kính mời bà con trong thị trấn đến nhận cừu do Guiliano gởi biếu. Mỗi hộ một con!” Và những tên chăn cừu phải đứng đó giết thịt, cao lông cừu cho những ai yêu cầu làm.
– Nhớ nhé, – Pisciotta nói với mấy tên chăn cừu. – Tụi bây phải giết thịt, cạo lông một cách vui vẻ, mau lẹ, sạch sẽ như mấy cô gái bán thịt ở Palermo ấy nhé. Không như vậy thì đừng trách tao ác. Và nói với Quintana tao gởi lời thăm và cám ơn đã tặng bầy cừu!
Sếp Siano không thèm tinh vi, tế nhị như vậy. Hắn sai hai “đặc phái viên” đến hối lộ cho Passatempo và Terranova để khuyến dụ hai tên này chống lại Guiliano. Nhưng hắn đâu có ngờ là Guiliano đã thu phục được lòng trung thành của một hung thần ác sát như Passatempo. Một lần nữa, Guiliano không cho giết hai “đặc phái viên” này, mà chỉ cho chúng nếm món đòn bastinado, rồi gởi về trả lại cho Siano.

Google photo edit by Sơn râu

Cuộc mưu sát thứ ba cũng lại do Quintana dàn dựng và đạo diễn. Và đây là cuộc mưu sát khiến cho Guiliano không kiên nhẫn được nữa.
Một thầy dòng truyền giáo lưu động đã đến “làm phúc” ở Montelepre. Coi bộ thầy dòng này thánh thiện lắm vì hai bàn tay hai bàn chân của y có mang dấu thánh (2). Mỗi sáng chủ nhật, y dâng lễ Missa tại nhà thờ thị xã và tỏ “dấu thánh” cho thiên hạ phục lăn.
Tên y là cha Dodana. Khổ người của cha cao lớn như lực sĩ. Đi đứng lanh lẹ và mạnh dạn đến nỗi bước chân của cha đã khiến cho chiếc áo thụng cứ đánh phần phật như cờ gặp gió, và điểm bằng tiếng giày tây khua lộp cộp dồn dập như vó ngựa đua đang phi. Mái tóc màu trắng gần như bạch kim. Khuôn mặt sạm nắng và đã có nếp nhăn, mặc dù tuổi cha còn trẻ. Chỉ nội trong một tháng, cha đã trở thành một huyền thoại trong thị xã, cha không nề hà những công việc nặng nhọc hay dơ dáy. Chẳng hạn giúp nông dân gặt lúa, bón phân, phạt những đứa trẻ hư ngoài đường phố, đến tận nhà những ông già bà cả bệnh hoạn để làm phép bí tích giải tội lâm chung. Vào một buổi sáng chủ nhật, sau khi hành lễ ở nhà thờ, cha đã đứng ở cửa nhà thờ. Bà già của Guiliano đã không ngạc nhiên khi cha ân cần chặn bà lại và hỏi han xem cha có thể giúp đỡ gì cho con trai của bà không. Cha Dodana nói với bà:
– Tôi tin chắc là bà rất quan tâm đến phần rỗi linh hồn của nó. Lần sau nó về thăm, bà bảo nó đến gặp tôi, tôi sẽ ban phép bí tích giải tội cho nó.
Rất sùng đạo, nhưng bà già của Guiliano vốn chẳng ưa gì đám cha cố. Tuy nhiên, ông cha này đã gây được cảm tình với bà. Bà biết là Turi sẽ chẳng chịu xưng tội, xưng lỗi gì đâu. Nhưng biết đâu con người thánh thiện và dễ mến này lại chẳng có ích cho hắn về một phương diện nào đó. Bà thưa lại với cha Dodana là bà sẽ tìm cách báo cho hắn biết tin đó. Cha Dodana nói:
– Dù có phải lặn lội lên tận trên núi để giúp đỡ nó, tôi cũng chẳng tiếc công tiếc sức. Bà cứ nói với nó như vậy. Công việc chủ yếu của tôi là lo cứu vớt linh hồn người ta về cho Chúa. Việc làm nào, sự nghiệp đó, phải không thưa bà?
Một tuần lễ sau đó, Guiliano về thăm bà. Bà già cứ hối thúc hắn đến thăm cha Dodana, đặng xưng tội với cha. Và có lẽ cha sẽ ban thánh thể cho hắn nữa. Bà sẽ an tâm hơn nếu hắn đi xưng tội.
Điều làm cho bà ngạc nhiên là chẳng những không gạt ý kiến của bà, Guiliano còn tỏ ra sốt sắng, quan tâm. Hắn bảo Pisciotta đến nhà thờ mời cha lại nhà. Khi thấy cha được Pisciotta dẫn lại nhà, hắn thấy nghi nghi. Cha cố gì mà đi đứng, cử động cứ như một tay “có nghề”. Vả lại, cha tỏ ra quá xăng xái, quá nhiệt tình quan tâm, chăm lo cho phần hồn của Guiliano một cách không bình thường.
– Cha sẽ nghe con xưng tội trong phòng riêng của con. Sau khi giải tội, cha sẽ ban thánh thể cho con. Cha đã đem theo đầy đủ cả đây này. – Vừa nói, cha vừa vỗ độp độp vào cái hộp bằng gỗ cha cắp ở nách. – Xưng tội và ăn bánh thánh xong, linh hồn con sẽ trong trắng tinh tuyền như linh hồn của bà già con vậy. Nói dại, nếu sau đó chẳng may con gặp hoạn nạn và có mệnh hệ sao, thì linh hồn con sẽ bay lên thiên đường thẳng băng, suôn sẻ.
Bà Maria Lombardo nói với Guiliano:
– Để má xuống pha cà – phê và chuẩn bị thức ăn mời cha dùng với con luôn thể.
Nói rồi, bà không đợi Guiliano trả lời, ba quay xuống bếp. Guiliano mỉm cười nói:
– Khỏi cần phải vào phòng riêng, con xưng tội ngay tại đây cũng được.
Cha Dodana liếc mắt nhìn Pisciotta đứng cạnh đó.
– Thế cũng được. Nhưng con phải nói bạn con ra chỗ khác.
– Tội của con thì đã quá rõ, ai mà chẳng biết, – Guiliano cười lớn và nói tiếp: – Báo chí ở Palermo, ở Rome kể rành mạch, đầy đủ chi tiết lắm, chỉ trừ có một điều này: con là thằng có tánh đa nghi, rất đa nghi. Bởi vậy, con muốn xem cha đựng cái gì trong cái hộp gỗ cha đang cắp ở nách đó.
– Ấy, hộp đựng bánh thánh của Chúa, để cha cho con xem.
Vừa nói, cha vừa định mở hộp ra, thì Pisciotta đã nhanh tay hơn, gí súng vào gáy cha và Guiliano giật ngay lấy cái hộp trong tay cha. Bốn mắt nhìn nhau, không nói một câu. Guiliano mở nắp hộp: một khẩu súng lục tự động mới tinh, nước sơn còn bóng loáng nằm lấp lánh trên lớp nhung đỏ, như một món nữ trang quí.
Pisciotta thấy Guiliano giận, mặt tái đi. Guiliano đóng nắp hộp lại, nhìn trừng trừng vào vị giáo sĩ, và nói:
– Ta nên cùng nhau đi đến nhà thờ. Và cùng nhau cầu nguyện. Ta sẽ cùng nhau cầu xin Chúa lòng lành vô cùng xua đuổi quỉ dữ ra khỏi lòng dạ thằng Quintana khốn kiếp và tâm hồn mày không bị cái thói tham lam làm ô uế. Nó chi cho mày bao nhiêu vậy?
Đã đến nước này thì còn giấu giếm, chối cãi gì được, cho nên, cha Dodana nhún vai, cười gượng:
– Giải thưởng của nhà nước cộng thêm năm triệu lire nữa.
– Giá hời đấy! – Guiliano nói. – Tao không trách mày về cái chuyện làm ăn, kiếm chác sinh nhai. Nhưng mày lại nhè bà già tao mà trổ mồi láu cá thì đểu quá. Và, điều đó tao không thể bỏ qua được. Bộ mày là ông cha thật hả?
– Tao ấy hả, – cha Dodana nói, giọng bất cẩn, – chưa bao giờ tao làm cha cố. Nhưng khó có ai nghi ngờ gì được.
Cả hai cùng sóng bước đi xuống phố. Pisciotta đi đằng sau. Guiliano cầm cái hộp gỗ. Họ đi vào nhà thờ, Guiliano bảo cha Dodana quì xuống trước bàn thờ, lôi khẩu súng ra khỏi hộp, và nói:
– Tao cho mày một phút để cầu nguyện. – Hắn đứng đợi. Rồi lảy cò.
Sáng hôm sau, Guido Quintana ngủ dậy, định đi ra hiệu cà – phê. Cửa vừa mở ra, hắn giật mình vì một khối gì lù lù chắn ngang và che lấp cả ánh sáng mặt trời ban mai. Chưa kịp nhìn kỹ thì cái khối lù lù ấy đổ sập xuống. Thì ra là cây thập tự giá làm bằng hai khúc cây đẽo sơ sài. Trên thập tự có cái xác nát bấy vì đạn của “cha” Dodana bị đóng đinh vào đó.
Ông Trùm trầm ngâm suy nghĩ về những thất bại ấy. Quintana đã bị cảnh cáo, hoặc hắn phải chuyên tâm vào công việc gắn với chức vụ thì trưởng của hắn, hoặc thị trấn Montelepre phải tự cai trị lấy, nghĩa là không có hắn làm thị trưởng. Rõ ràng, Guiliano đã không thể kiên nhẫn được nữa. Cuộc xung đột giữa Guiliano và “Người anh em” phải nổ ra thôi, không thể tránh được nữa. Ông Trùm biết chắc chắn Guiliano sẽ trả thù. Và sự trả thù của Guiliano sẽ rất khủng khiếp. Cho đáng mặt “bậc thầy” chứ. Chỉ còn một đòn cuối cùng. Không thể để cho trật được. Ông Trùm cũng biết, cuối cùng thì lão cũng đứng vững. Và, trái với sự phán đoán và ý muốn thật của lão, lão đã trao việc ấy cho một tay ám sát chuyên nghiệp rất đáng tin cậy. Một thằng cha Stefan Andolini nào đó được biết dưới cái biệt hiệu “thầy dòng quỉ sứ”.
………….
(1) Borgias: dòng họ quí tộc Italia, gốc Tây Ban Nha. Nổi bật trong dòng họ này có giáo hoàng Alexandre VI (từ năm 1492 – 1503) là một chính trị gia kiệt xuất. Nhưng trong đời sống riêng tư, ông là một chúa phong kiến điển hình, cực kỳ dâm đãng. Con trai của ông – Césare Bougons – cũng là một chính trị gia khéo léo nhưng cực kỳ xảo trá, tráo trở, tàn bạo, quỉ quyệt. (N.D).
(2) Dấu thánh (religious stigmata, holy wounds): Khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thánh giá, tay và chân có dấu đóng đinh. Một số người được coi là thánh thiện “tự nhiên” cũng có những dấu đóng đinh như vậy. Người ta đồn rằng cứ mỗi ngày thứ sáu thì những vết thương này lại rỉ máu tươi. (N.D).


26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Google photo

24. Ông Bang Cà Ròn

Mặt trời vừa ló dạng là ông Bang Lình bừng mắt. con đường từ chợ Rạch Giá đến xóm Sóc Xoài quá gồ ghề, chiếc xe lôi nhảy lưng tưng từng chập, ấy thế mà ông Bang ngủ ngon lành. Anh đạp xe thỉnh thoảng day lại cười thầm: 
– Người ta nói cũng phải, người Tàu ngủ ngồi giỏi lắm, vì từ thuở lọt lòng, họ đã ngủ ngồi trong cái đai sau lưng mẹ. 
Mặt trời lên khỏi chưn trời quá nhanh. Ông Bang bo sù sụ vài tiếng rồi hỏi: 
– Tới chợ chưa? 
Anh đạp xe lôi nói: 
– Dạ! thấy dạng cây sao ở chùa Miên đằng kia rồi. Chừng mười phút nữa… Ông Bang lạnh không? 
– Ráng đạp đi, tôi thưởng chú thêm vài cắc. Lạnh chớ, trời mưa dọc đường. Chú mệt không? 
Anh đạp xe lôi cứ khóm lưng, nói không day lại: 
– Mệt thì ít mà sợ thì nhiều. Sợ dọc đường bị tụi nó chận xe, tiền bạc mất mát, ông Bang buồn thì tôi đâu có vui. 
Chiếc xe lôi cứ tiến tới một mình. Con đường lộ Rạch Giá – Hà Tiên chạy dài sát bờ kinh xáng, bên kia đường là rừng tràm lưa thưa và đồng cỏ hoang vắng. Xa xa mới có một xóm nhà, đa số là người Miên. Ðất thấp, nhiều phèn. Nhiều người cày ruộng thử, nhưng họ thất vọng vì lúa bị háp, bỏ nắm lúa vô thau nước thì mười hột, nổi lêu bêu có tới bảy. Nhiều khi tới mùa chẳng ai thèm gặt cho tốn công, chuột từ đâu kéo tới cắn luột sáp, lúa ngã xuống như gặp giông bão. Con lộ này hồi quan toàn quyền tới ăn lễ khánh thành thì khá bằng phẳng, như qua trận lụt năm ngoái, nước tràn ngập, cuốn phăng mớ đá trải đường ra tận ngoài biển vịnh Xiêm La, uổng công mấy anh lục lộ cán tới, cán lui suốt mấy tháng trường. 
Chợ Sóc Xoài khá phần thịnh, như hòn đảo xanh tươi nổi lên giữa biển cỏ vàng úa. Xe dừng lại trước nhà ông Bang trong khi tiệm cà phê bên cạnh sửa soạn mở cửa. Ông nhảy xuống gọn gàng. 
– Tôi bao cuốc xe này năm cắc, thêm cho anh một cắc, là sáu. 
Sáu cắc là số tiền to tát. Năm đó, năm 1937, mỗi giạ lúa bán tại chọ là hai cắc rưỡi. Ông Bang gõ cửa. Bà Bang dáng người mập mạp như chồng , mở cửa rồi vặn đèn lên cho cao: 
– Sao ông về sớm vậy! Chờ sáng, đi xe đò ít tốn tiền hơn. Ông bao trọn chiếc xe lôi? Tốn bao nhiêu vậy? 
– Sáu cắc! 
Bà Bang hơi sốt ruột: 
– Ông xài lớn quá, bốn cắc là vừa! 
Ông Bang không trả lời. Trong khi bà nấu nước pha trà, ông đến cái bàn viết, ngồi xuống, lật sổ ra, lắc bàn toán nghe lắc cắc. Ðôi mắt ông sáng rực lên. Mấy người bạn hàng gánh gồng nào gương sen, bông súng, cá lóc đi ngang qua cửa. Ông Bang hớp chén trà rồi gọi khẽ: 
– Bà lại đây, có chuyện vui, đừng cho ai biết. 
Bà Bang đến sát bên chồng, nghiêng tai. Ông nói: 
– Cà ròn bán có giá. Họ chịu mua tám xu một cái, ngày mốt, mình chở ra Rạch Giá bốn ngàn cái, còn sáu ngàn cái, bảy tám ngày nữa mình chở luôn, cho kịp chuyến tàu đi Bạc Liêu. 
Còn gì mừng rỡ cho bằng! Bấy lâu nay, bà Bang giúp chồng một tay đắc lực. Công việc duy nhất của bà là mua cà ròn, do người Miên trong sóc đang thật kỹ và thật khéo, với giá bốn xu một cái. Khi túng thiếu, họ đến gặp bà, nài nỉ mượn tiền trước với giá rẻ mạt là hai đồng bạc một trăm cái, tức là mỗi cái hai xu! Vốn hai xu, bán lại tám xu. Như vậy mà ông Bang làm giàu thật mau và gây được cảm tình với tất cả dân chúng trong sóc Miên. Mỗi gia đình trong soc đều thiếu nợ của ông bà, người nào ít thì năm đồng, gia đình nào đông con thì bà dám ứng lực, con nít trên mười tuổi có thể tiếp tay đươn cái mình cà ròn. Khó nhứt là bẻ miệng và bẻ đít cho cà ròn đừng sút mối, công việc này là của người lớn. Cà ròn đươn bằng cọng bàn, nhẹ và mềm như cọng lác. 
Xóm Sóc Xoài cung cấp phần lớn cà ròn cho miền Hậu Giang: dạo ấy bao bố phải nhập cảng từ Ấn Ðộ, cà ròn là cái bao rẻ tiền nhất để đựng lúa gạo, đậu xanh, đường cát. 
Bà Bang hỏi kỹ: 
– Trong nhà kho, còn tồnt rữ hơn sáu ngàn cái cà ròn, như vậy là dư chuyến đầu tiên, mình chở ra giao đúng hạn rồi hãy lo bốn ngàn cái kia. 
Ông Bang lật sổ, coi lần chót: 
– Tôi lắc bàn toán nãy giờ, trong kho có tới tám ngàn năm trăm bảy chục cái. Bà nấu cháo trắng, nấu một nồi lớn cho tôi ăn với lạp xưởng. Cháo nóng ăn khoẻ, dễ tiêu hơn hủ tíu, tôi đi nhà kho, nhắc nhở ông già Lanh. 
Nhà kho cất bằng cột tràm, lợp lá, nền cao ráo, dài đến bốn căn. Ông già Lanh là người Miên lai, tuổi hơn sáu mươi, lãnh trách nhiệm giữ kho, ăn ngủ tại chỗ. Khi ông Bang đến thì ông già Lanh ngồi ung dung hút htuốc, bên cạnh sáu, bảy cái rập chuột. Chuột bị đề giập xác, ông Lanh giả vờ như sốt sắng với công việc do ông Bang giao phó nên quên chào. 
– Chuột hả! Nhiều không? 
Ông già Lanh ngẩng đầu lên: 
– Ông Bang ơi, mỗi đêm tôi thăm rập chuột ba lần, mỗi lần bảy con. Phải chi ông mua thêm vài chục cái rập nữa cho đủ dùng, một cái rập, một đêm tôi cũng thức hai ba lần, mười cái rập cũng đâu tốn công thêm. 
Nhưng ông Bang Lình méo mặt, chạy nhanh vô nhà kho. Cà ròn bó kỹ lưỡng, mỗi bó mười hai cái, nằm ngay ngắng từ nền lên cao tận mái nhà. Năm bảy con chuột chạy sột soạt, mùi ẩm ướt xông lên khiến ông Bang nhảy mũi lia lịa. Ông kêu lên: 
– Hư hết rồi! Chuột làm ổ trong đống cà ròn. Một con chuột cắn một đêm hư cả trăm cái. Một trăm con cắn bốn đêm thì còn gì? Chuột nhiều sao ông không cho tôi biết. Trời đất ơi! 
Ông Bang quăng từng bó cà ròn ra sân. Chuột cứ chạy vì động ổ. Năm ba con chuột đỏ hói nằm ngo ngoe, chó hoang đằng xóm chạy tới, sủa ỏm tỏi. Trẻ con xúm lại, rồi đi dang xa. Càng lục lạo, ông Bang càng tối tăm mặt mày vì cà ròn bị chuột khoét có đến hàng ngàn cái, hễ bị lủng thì coi như bỏ luôn. Quá tức giận, ông chạy tới trước mặt ông già Lanh: 
– Mướn ông giữ kho mà ông cứ ngủ, uổng tiền quá. Năm nay tôi tàn mạt, tại ông. 
Rồi ông Bang bước nhanh về nhà. Ông Lanh ôm từng bó cà ròn đem ra sân, lành để một bên, rách một bên. Thỉnh thoảng, ông vấn điếu thuốc, nghỉ tay. Một người đi qua nói giọng khôi hài: 
– Như con trâu rụng cái lông đuôi, thấm tháp gì! Ông Bang Lình hồi mới tới nghèo khó, làm giàu nhờ cà ròn. Lâư lâu trời hại ổng một năm. Bà Bang tới kìa! 
Ông già Lanh lẩm bẩm: 
– Bả tới thì cũng vậy thôi. Tôi ở mướn, giá rẻ mạt. Bọn trai tráng thì trốn thuế thân, đứa nào dám ngủ tại nhà kho này. Cái phận sự của tôi như vậy thì tôi làm như vậy. Tây còn trừ không nổi chuột bọ, huống gì thằng già này. Hiền như Phật, như ông Ðịa vậy mà chuột còn phá rối bàn thờ. 
Bà Bang tới, dùng thủ đoạn thường lệ là sự ăn nói ngọt ngào với kẻ ăn người ở. Biết rằng lỗi không hoàn toàn ở ông già Lanh, bà an ủi khéo léo: 
– Ông lựa giùm cho kỹ, chuyện qua rồi. Ðể tôi đi vô sóc thúc hối mấy người còn thiếu tiền cho họ đươn cà ròn thật mau, trễ ngày thì cà ròn xuống giá. Ông hơi tệ, tại sao chuột cắn năm, mười ngày rày mà không hay biết? Từ rày về sau, tôi mướn thêm một người coi chừng đuổi chuột. 
Từ trên nóc nhà kho, con mèo nhảy xuống kêu ngao ngao. Như sực nhớ điều gì, bà cằn nhằn: 
– Nuôi mèo thiệt vô ích. Tại sao nó không bắt chuột. Hôm trước có tới sáu bảy con? 
Ông Lanh cố ý nói đùa: 
– Chuột đông quá, chuột rượt mèo để ăn thịt. Chuột cắn tôi bấy mình, bà coi mấy đầu ngón chân của tôi đây nè! Người ta nói hễ chuột rúc trong nhà là tiền bạc vô đầy đủ. Chuột rúc là chuột túc, mà túc là lúa, phải không bà Bang? Tại sao xứ này nhiều chuột mà không có lúa?

Hơi sức đâu mà nghe ông già khùng đó. Cãi vã thêm mất lòng, tốt hơn hết là mình vô xóm để thúc hối mấy người còn thiếu nợ để họ đươn cà ròn suốt ngày đêm cho kịp. Thời giờ gấp rút lắm. Bà Bang an ủi chồng như vậy. 
Tuy không ghi sẵn trên giấy trắng, bà Bang Lình nhớ rõ danh tánh đầy đủ của con nợ. Ðầu tiên là vợ chồng Sa Ðơn, ở gần miếu ông Tà. Bà đứng dưới chân thang, trông lên sàn nhà: 
– Ai ở nhà không? 
Chị Sa Ðơn nghiêng mình trả lời: 
– Bà Bang đi chơi! Chồng tôi uống rượu với anh em rồi! 
– Làm cái gì đó? 
– Chí cắn ngứa đầu, con tôi bắt chí cho tôi. Ở không buồn quá không biết làm cái gì. 
Gia đình Sa Ðơn thiếu của bà Bang tám đồng bạc, tức là bốn trăm cái cà ròn, thế mà cô vợ lại nằm ngáp dài, anh chồng cứ uống rượu. Bà cằn nhằn: 
– Sao không đươn cà ròn? Chị làm giùm cho gấp. Chị giúp tôi thì mùa tới tôi mới giúp chị được. Như vầy thì hiếp tôi quá. 
Chị Sa Ðơn trố mắt: 
– Trời ơi! Ðươn cái gì bây giờ? 
– Ðươn cà ròn! Chị quên nợ của tôi sao chớ? 
– Không phải! Mời bà Bang lên nhà, tôi nói cho bà nghe. Bàng không một cọng, cắt cỏ ngoài đồng đem về nhà để đươn cà ròn sao chớ. Người ta nhổ bàng chưa về. Lâu lâu mới đem về một lần. Tiền mượn của bà, tôi chia với người nhổ bàng. 

– Nhưng chừng nào về? 
Chị Sa Ðơn chỉ về phía đầu xóm: 
– Nhà Tứ Én, một mình ở gần cây mù u đó. Hễ Tư Én đem bàng về là xóm này xúm nhau đươn cà ròn trả nợ cho bà. 
Câu trả lời ấy gẫm lại hữu lý. Sau khi ghé qua thăm vài con nợ, bà Bang nhảy qua cái mương nhỏ để đến gốc cây mù u. Hai đứa bé trần truồng đang bốc cơm nguội ăn ngon lành, đứa khác lớn hơn thì lo nắn con trâu nhỏ bằng đất sét. Nó đẩy con trâu tới, miệng nhái tiếng nghé ngọ… Ðể tin rằng nó nói sự thật, bà Bang ngồi xuống cho nó hai xu. Mầy là con của Tư Én hả? 
Lần này thằng bé nâng con trâu gọn trong lòng bàn tay, chạy lên sàn nhà như sợ sệt. Hai đứa kia ngậm búng cơm, quên nhai.

Sau bữa cơm trưa, ông Bang nói với ông già Lanh: 
– Chuột cắn cà ròn, đó là chuyện rủi, tôi hơi nóng nảy, ông đừng buồn. Dân trong sóc nói rằng Tư Én nhổ bàng chua về. Ông chịu khó bơi xuồng, đưa tôi kiếm nó. Hễ nó đem bàng về thì mọi việc đều xong xuôi. Mình đi liền, chiều nay, đi tới Ðường Bàng. 
Thật là chuyến đi du lịch bất ngờ. Từ Sóc Xoài tới Ðường Bàng, đường hơi gần nhưng ngặt một nỗi là muỗi mòng, đỉa vắt. Ðáng lý thì ông già Lanh từ chối, viện lý do già yếu để xin thêm chút tiền công lao chèo chống. Ông là người giữ kho, được quyền ở nhà. Nhưng hôm nay là dịp để trả thù ông Bang Lình. 
– Ði thì đi. Mình đem theo dầm chèo, sào dài để chống cho mau tới Ðường Bàng. Ông Bang tới đó lần nào chưa? 
Ông Bang Lình nói như thành thạo lắm: 
– Biết chớ! Năm kia, tôi đi Vàm Răng, thấy họ nhổ bàng ở Ðường Bàng, phải không? 
Trả lời lúc chưa đến nơi là quá sớm và nhất là mất thú vị. Bởi vậy, ông già Lanh cứ im ỉm. Trước tiên, ông gay chèo. Nhờ nước xuôi, chiếc xuồng trôi nhanh. Lát sau, ông Bang Lình ngủ ngồi, ngáy khò khè. Ðể hưởng trọn vẹn lạc thú của chuyến du lịch, ông già Lanh ngồi xuống, bỏ cây chèo xuôi theo lái xuồng rồi đẩy ra đẩy vào để giữ phương hướng. Mặt trời xế dần. Gió thổi mạnh qua vùng đất phèn, đầy năn và lác, một thứ âm thanh huyền bí từ lòng đất trồi lên, lác và năn giống như những sợi tóc dây cước vàng lườm, run rẩy không nên lời. Núi Ba Thê hiện ra ở chân trời, xéo về hướng bắc, dẫy Thất Sơn chạy dài qua khỏi biên giới Cao Miên, chót núi tiếp với vầng mây bạc đang chuyển sang màu cam. Vài chiếc xe lôi di chuyển trên lộ xe. Từ phía Vàm Răng chiếc ghe củi nhô lên sừng sững, trên chót cột buồm. Nước ngược và gió ngược, sức người chỉ có hiệu quả là giữ cho chiếc ghe nặng nề kia khỏi trôi ngược. 
Ông Bang Lình vụt thức dậy: 
– Tới đâu rồi? 
Ông già Lanh đáp: 
– Dạ, khỏi Vàm Răng. 
– Sao không ghé lại Ðường Bàng? 
Bấy giờ ông già Lanh mới chịu giải thích: 
– Ðường Bàng là con nước nay đổi mai dời. Ba năm trước, ở Vàm Răng nhiều bàng nhưng năm nay thì hết. Dân nhổ bàng phải lên trên này, lập một cái đường khác. Chỗ đèn đuốc sáng trưng đằng kia kìa! 
Bóng tối đổ quá mau. Giữa khoảng đồng không mông quạnh, xóm nhà hiện ra, như hội chợ nho nhỏ với hàng chục ánh đèn. Toàn là quán rượu, quán hủ tíu. Khi bước lên bờ, ông Bang Lình nhận ra người quen. Ðó là Xìn Phóc, chủ quán. Xìn Phóc hỏi: 
– Ông Bang ăn cơm chưa? Tới đây làm gì cho cực khổ? 
Bếp un muỗi không đuổi được bầy muỗi bay ào ào. Vừa đập muổi, ông Bang Lình vừa trả lời: 
– Xìn Phóc biết Tư Én ở đâu không? Nó lên đây nhổ bàng, lâu quá chưa thấy về. 
Xìn Phóc nheo mắt, đưa tay ngoắc như làm dấu hiệu cho ông Bang Lình lại gần để nói chuyện riêng: 
– Nó đánh bài cào ở sau hè nhà tôi. Sòng bài lớn lắm. 
Bang Lình cau mày. Khi vừa quay mặt thì gặp Tư Én từ ngoài cửa bước vào. Anh ta ở trần, cười dòn: 
– Ông Bang kiếm tôi? Hổm rày tôi nhổ bàng nhiều lắm, nhưng chưa đủ. Ðánh bài thua mấy đồng, tôi ngồi hút thuốc, tình cờ thấy ông. 
Ông Bang Lình lại gần Tư Én: 
– Cỡ này ở Sóc Xoài thiếu bàng đươn cà ròn. Chú đem bàng về cho mau. 
Tư Én hơi giận vì nhổ bàng đâu phải là chuyện dễ dàng, nhanh chóng. Chú muốn tặng cho ông Bang Lình, nổi danh là ông Bang cà ròn này, một bài học đích đáng. Chú đã chuẫn bị xuống xuồng đi nhổ bàng từ lúc nãy, nay gặp dịp, tại sao không mời ông Bang đi luôn một chuyến cho biết mùi đắng cay? 
Ông già Lanh ở lại, ông Bang Lình ngồi trong chiếc xuồng độc mộc, Tư Én cầm cây sào dài, đứng chống sau lái. Chú ra lịnh; 
– Ông Bang ngồi nắm hai bên ghe cho vững. Tôi chống mạnh lắm. 
Chiếc xuồng độc mộc rời khỏi bờ kinh xáng, tiến sâu vào đồng cỏ âm u. Xuồng lướt re re trên cỏ, hồi lâu, ông Bang hỏi: 
– Chống xuồng đi đâu? 
– Năm ngoài, nhổ bàng tại chổ nãy, năm nay, bàng mọc không kịp, nhổ ở trên kia, giữa đồng hoang, chừng vài cây số nữa là tới. 
– Xuồng lướt tới, mất hút trong bóng tối. Ông Bang Lình giựt mình ngoảnh lại, chỉ còn thấy vài đốm sáng chập chờn, lu dần, phía quán hủ tíu. Lát sau, Tư Én la lên: 
– Tới rồi! 
Xuồng tiến vào khu vực đầy bàng bàng mọc dày đặc, cao khỏi đầu Tư Én, ông Bang cứ nhắm mắt, ngỡ mình chun vào cái bụng vô tận, đen ngòm. Bàng ngã rạp xuống, xuồng lấn tới. Ông Bang la hoảng: 
– Bàng ở đâu! 
Tư Én thích chí: 
– Ở đây chớ ở đâu! Tôi nhổ rồi, hơn bảy chục bó, đúng trăm rưỡi bó tôi về Sóc Xoài. 
Mặt nước phản chiếu vài ánh sao thưa. Mấy bó bàng nằm dầm trên đất bùn, như cây to cưa ra từng khúc đều đặn. Ông Bang Lình khen ngợi: 
– Ráng nhổ thêm rồi ngày mai về Sóc Xoài. 
– Thì tôi nhổ đây! 
Lập tức Tư Én nhảy xuống nước. Nước sâu ngang gối, chú lội bì bõm đến cụm bàng dày kịch trước mặt. Ðột nhiên ông Bang Lình kêu rú: 
– Muỗi cắn! Trời ơi, muỗi ở đâu nhiều vậy! Sao hồi nãy không có muỗi? 
– Bàng nhiều thì muỗi nhiều. Hồi nãy, xuồng chống lẹ, muỗi bu theo không kịp. 
Thấy Tư Én cứ đi tới, ông Bang sợ sệt: 
– Trở lại, đưa tôi về! Ðưa tôi về! 
– Dạ, tôi nhổ sáng đêm nay rồi luôn cả ngày mai mới đủ một trăm năm chục bó. Ngày mốt tôi mới về được, còn buộc mấy bó bàng cho nó nối đuôi sau lái chiếc xuồng, ra ngoài kinh xáng, bàng nổi lên mặt nước, xuồng sẽ kéo theo dễ dàng. 
– Muỗi cắn quá! Ải ô! Mọi lần tôi ngủ dễ lắm, ngồi như vầy, đêm nay tôi ngủ không được. Ðưa tôi về. Tư Én ơi! Tôi mệt vì mấy con chuột. Chú mệt vì mấy con muỗi. Nhổ bấy nhiêu đó đủ rồi, về gấp tôi trừ nợ cho. Chuột với muỗi làm hại xứ này, phải không? 
Tư Én lên sau lái xuồng, cứ im lặng. Vì con người xứ này đã quen chịu khổ nhọc? Hay có lẽ vì lý do khác. Chú ngồi xuống, vấn điếu thuốc mời ông Bang. Ông Bang không hút. Chú hút một mình.