Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Phan Huy


13. 19 Ngày Với Tử Thần An Lộc
Là đơn vị tổng trừ bị chiến cho Quân Khu III, Liên Đoàn 3 BĐQ đã có mặt tại An Lộc ngay khi mặt trận này bùng nổ. Hiện nay, LĐ 3 BĐQ vẫn còn cố thủ An Lộc cùng các lực lượng bạn. Với nhiệm vụ chính là giải vây áp lực của địch cho các đơn vị bạn bằng bất cứ giá nào, ba Tiểu Đoàn 36, 31 và 52 của LĐ 3 BĐQ đã tạo được những chiến công thần thánh, mang lại những kết quả thật bất ngờ cho chiến trường QK III. Qua những sự kiện ấy, chúng ta khẳng định rằng: An Lộc giữ vững được đến nay – Một phần công trạng phải là của Liên Đoàn 3 BĐQ.

Để chứng minh cho câu nói trên, Diều Hâu xin giới thiệu với độc giả bài hồi ký của Đại úy Đồng Kim Quan, ĐĐT/ĐĐ 4 thuộc Tiểu Đoàn 36 của LĐ 3 BĐQ thuật lại (qua sự ghi chép của phóng viên Diều Hâu) sau khi đã may mắn được tải thương ra khỏi chiến trường An Lộc.

Xuất quân

Ngày N. lệnh tăng viện cho Bình Long để giải tỏa áp lực địch loan ra ngay lúc chúng tôi bao tròn những ly bia sủi bọt. Mấy thằng em la lớn:

– Lại có “độ” rồi Đại Bàng, mình “ế-độ” lâu quá rôi, lần này cáp vô chắc… “hết phản”.

Sự hả hê tỏa đầy trên những gương mặt chai lì đang bắt đầu chuyển đỏ. Nỗi lo lắng không nhú lên nổi lúc này, ồn ào lại tiếp tục pha lẫn liếng lách cách của lỵ thủy tinh chạm.

Giòng tư tưởng vẫn chảy đều, ngụm bia lạnh, những tiếng cười đùa dấy động một vùng không làm tỉnh được sự nghĩ ngợi đang miên man trong óc tôi…

– “Dô” Đại Bàng, tới đâu thì tới, xui lắm mới huề!

Những ly bia vàng ánh lại dơ cao, tui nhỏ vẫn vô tư hơn bao giờ hết. Dù sao đi nữa chiến trường vùng III cũng đã quen thuộc với tụi nó. Quá lắm là giống như… vượt biên chứ gì ! Bất chợt, tôi giơ cao ly ruợu còn quá nửa…

– Ờ thì “dô”

Giấc ngủ tối đó, tôi vẫn còn đầy mộng mị.

Chạm mặt tử thần

10g00 sáng hôm sau LĐ 3 BBQ từ Tây Ninh đến An Lộc bằng trực thăng HU1B.

12g00, Tiểu Đoàn 36 di chuyển đến Quảng Lợi. Ra khỏi phía đông An Lộc 1 cây số, tụi tôi chạm địch. Theo tin tình báo, lực lượng quân BV là Trung Đoàn BB 272. Tiểu Đoàn 30 nhận được lệnh giữ con đường này và án ngữ đường vào An Lộc của Việt Cộng.

Mối lo ngại chính bây giờ là dân chúng. Sinh mạng họ đã không cho phép không pháo, phi pháo yểm trợ tối đa. Bọn VCchắc rõ nhược điểm này nên chúng khai thác triệt để. Mắt tôi dại hẳn khi thấy những người dân liều lĩnh chạy ra khỏi vùng chiến, bị VC bắn ngã sấp mặt về phía trước.

Thiếu Tá Lạc, TĐT/TĐ 36 tức tối:

– Quân dã man, nó lấy dân làm mộc dỡ đạn mình đây mà.

Gương mặt ông cau lại, chiến đấu bên cạnh ông nhiều, tôi biết ông sắp sửa có quyết định. Mỗi cấp chỉ huy đều có một lối quyết định riêng, Thiếu Tá Lạc luôn luôn có quyết định đúng lúc. Ông quay lại người hạ sĩ quan cầm máy :

– Gọi “gà tồ” bảo tụi nó gáy đi.

Mặc dù biết trước, tôi vẫn sững người trước quyết định đột ngột này vì hàng ngàn dân đang còn kẹt trong đó. Tôi ấp úng:

– Thưa Thiếu Tá…

Giọng Th/T Lạc lạị vang lên thật bình thản:

– Gọi pháo binh nhưng dặn chỉ bắn khói thôi.

Tôi chợt hiểu, biết địch rất sợ pháo, ông cho pháo binh bắn đạn khói, lợi dụng cơ hội địch trốn pháo, dân sẽ thoát ra.

Đã có tiếng Départ rít lên nghe rõ mồn một. 4 giờ đồng hồ sau, chiến trường nghiêng ngửa rõ rệt. Dân chúng tại Quảng Lợi đã được di tản ra gần hết. Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn đầu : Giữ Vững Quảng Lợi. Án ngữ đường vào An Lộc của VC là giai đoạn sau của T.Đ 36 trong những ngày kế tiếp 7, 8, 9, 10 tháng 4. Quảng Lợi vẫn nguyên vẹn mặc dù 24/24 giờ đều đụng địch. Hình như tử thần lảng vảng đâu đây?

T.54 xuất hiện

Ngày 11-04, sau 5 ngày thất bại, VC nhất quyết nhổ cái gai T.Đ 36 bằng chiến thuật biển người đánh vào ba mặt : Bắc, Đông và Tây. Áp lực rất nặng, phòng tuyến hai bên chỉ cách nhau 30 thước. Đợt tấn công đầu, chúng lao vào như những con thú điên được chích thêm thuốc kích thích. Những ổ đại liên, trung liên ở tuyến đầu làm việc rất đắc lực làm chúng không tiến được. Thiếu Tá TĐT lầu bầu:

– Đánh nhau với lũ điên này bực cả mình, chắc chúng nó điếc hết cả rồi, đâu có sợ súng?

Áp lực địch trước mặt vẫn còn nặng, tôi đưa ý kiến với Thiếu Tá TĐT xin điều chỉnh cho pháo binh bắn yễm trợ. Đây là một mạo hiểm rợn nhất của tôi trong gần mười tuổi lính. Cách nhau, 30 thước, chệch một ly ông cụ là… cõng rắn cắn gà nhà. Tim tôi bóp lại khi nghĩ đến điều đó. Thiếu Tá Lạc ưng thuận sau một phút nghĩ ngợi. Tôi mím chặt môi, nâng máy lên điều clỉỉnh… Ầm… Ầm…

Xác địch hất tung lên ngang tầm mắt, tôi ngồi bệt xuống đất, những giọt mồ hôi hai bên trán nhỏ xuống thoải mái, tiếng Thiếu Tá Lạc loáng thoáng:

– Đẹp lắm…!

Giữa lúc đó, hơn 10 chiếc T.54 từ phía Đông chạy lại. 50 thước, 40 rồi 30… tiếng hỏa tiễn M.72 ở tuyến đầu nổ dội. Một cuộn khói cụm bốc lên cao làm hiện ra hình ảnh chiếc tăng T.54 lật ngửa trên mặt đất.

Đoàn T.54 quay đầu bỏ chạy không bắn phá. Chính nhờ điểm nầy chúng tôi mới biết được rằng Bộ binh và Thiết kỵ của quân BV không được phối hợp với nhau. Nếu có chỉ là sự lừa gạt, bởi vì sau này điều tra một tù binh bị bắt sống trên một chiếc tăng T.54, lạc giữa ranh giới B.Đ.Q và SĐ 5, nó đã khai :

– Tôi được tin An Lộc đã giải phóng, T.54 vào chỉ để yểm trợ mà thôi.

Cũng nhờ sự không phối hợp chặt chẽ nầy của quân BV, ngày 10-04 phòng tuyến T.Đ 36 nới rộng thêm được gần 200 thước.

Gãy cánh

Ngày N + 14, ĐĐ 4 được lệnh TĐT tiến chiếm lại căn nhà sát phòng tuyến.

Toán xung kích 4 người lọt vào nhà sau khi hạ 9 VC trong nhà và chung quanh. Hai người của toán xung kích bị thương khi đánh cận chiến trong nhà. Thiếu úy Nam – ĐĐP dẫn người lên tiếp ứng, một quả lựu đạn tung từ nóc nhà xuống, có tiếng hét của Th/úy Nam, người Hạ Sĩ quan truyền tin giữ máy chết tại chỗ.

Nóng lòng bốc lên đến đầu, tôi điều động lực lượng trừ bị của Đại Đội ra cứu Th/úy Nam. Đạn đạo của địch ở hai bên bắn như mưa bấc, chúng tôi bò sát đến căn nhà… một trái lựu đạn nữa nổ tung tôi nghiến răng bóp cò. 2 xác VC đổ vật xuống. Tôi cảm thấy đau nhói ở chân phải, tiếng lũ em lép nhép.

– Đại Bàng! Đạỉ Bàng bị rồi.

Tôi ráng gượng:

– Rẻ quá mà tui bay…

Nỗi lo sợ lại ào đến, mấy thằng em không ai dẫn dắt không biết ra sao …

Ngày 25-04 được tản thương, trực thăng đáp ở phía Nam An Lộc 1 cây số, vùng đất của lực lượng Dù. Tử thần dường như còn cố với theo tôi một lần nữa, vừa bốc lên, 2 viên AK xuyên vào lưng máy bay nghe ê răng nhưng… may quá!

Chúng tôi đang chờ nhảy vào An Lộc bất cứ lúc nào để tiếp tục chiến đấu cạnh đồng đội, đón nhận những ngày sống với tử thần không suy nghĩ.

PH

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu (Google)

Chương 12

Chiến tranh thế giới thứ hai vừa chấm dứt. Những cuộc chiến của Guiliano mới bắt đầu. Chỉ trong hai năm, Guiliano đã trở thành một người nổi tiếng nhất Sicily. Hắn đã tạo dựng được một giang sơn ở góc phía tây bắc hòn đảo. Trung tâm của giang sơn này là Montelepre. Hắn kiểm soát các thị trấn Piano Dei Greci, Borgetto, Partinico và thị trấn Corleone khét tiếng khát máu. Cái tăm tiếng tàn bạo man rợ của thị dân Corleone đã lan rộng khắp Sicily. Cánh tay quyền lực của hắn vươn tơi tận Trapani, hăm dọa Morneale. Và ngay cả thành phố Palermo, thủ phủ của đảo cũng bị cái bóng của hắn chờn vờn che phủ, và thế lực của hắn ngày một bành trướng, lan dần ra các đô thị khác. Guiliano cười ngất khi hay tin chính quyền trung ương ở Rome đã treo giải thưởng mười triệu đồng lire cho ai chặt được đầu hắn. Cái án tử hình treo lơ lửng trên đầu cũng không cản được hắn đến dùng cơm tại một nhà hàng lớn ở Palermo. Để giỡn mặt nhà cầm quyền, cuối bữa ăn, hắn thường dằn dứơi cái đĩa mảnh giấy ghi dòng chữ “Chẳng ai có thể ngăn cản Turi Guiliano đến nơi nó muốn”. Cái trò oái oăm mó dái ngựa này đã làm cho chính quyền Rome tức điên lên.
Sào huyệt bất khả xâm phạm của Guiliano là dãy núi Cammarata. Guiliano biết rõ từng cái hang, từng hẻm núi, từng đường mòn dãy núi này. Hắn cảm thấy mình là tay vô địch. Hắn yêu quang cảnh thị xã Montelepre phía dưới chân núi, yêu bình nguyên Partinico trải dài qua Trapani tới tận Địa Trung Hải. Trùng dương mênh mông lấp lánh dưới bầu trời xanh, trong vắt. Phế tích của những ngôi đền thờ Hy Lạp, những cụm rừng cam, những vườn ôliu, những cánh đồng lúa miền tây Sicily. Tất cả, đối với Guiliano, đều đẹp đến ngây ngất. Càng xúc động trước vẻ đẹp ấy, hắn càng cảm thấy dạt dào tình yêu đối với Sicily. Qua ống nhòm, Guiliano nhìn thấy những miếu thờ rải rác bên lề đường. Trong miếu thờ, những bức tượng bụi bám đầy.
Từ dãy núi này, cùng với các thủ hạ, Guiliano rong ruổi trên những quốc lộ, chặn cướp những đoàn xe của nhà nước, chặn cướp cả xe lửa, tước đoạt nữ trang, của cải của những nhà giàu. Nông dân đánh những chiếc xe lừa sơn sặc sỡ, lòe loẹt đã thân ái đưa tay vẫy chào mỗi khi gặp hắn. Nói cho đúng, lúc đầu, họ cũng ớn thấy mồ. Nhưng về sau họ kính nể và quý mến. Không một nông dân, một người chăn cừu, một công nhân nào lại không nhận được một phần của cải hắn đã cướp được.
Toàn dân nghèo trong vùng là mật báo viên, chỉ điểm viên của hắn. Đêm đêm, trẻ nít đã thêm vào lời kinh cầu Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary câu “Xin gìn giữ Guiliano khỏi tay bọn cớm”.
Chính đồng quê đã nuôi dưỡng, chở che Guiliano và đồng bọn. Vườn cam, vườn ôliu, vườn nho là chốn dung thân. Bầy cừu cũng là đồng minh. Từng nơi, từng lúc, Guiliano thoắt biến, thoắt hiện, bất ngờ và đột ngột như bóng ma, thoắt một cái như đã tan biến trong màu xanh ngắt của Sicily, của Địa Trung Hải và của bầu trời.
Trên núi, mùa đông kéo dài và lạnh hơn dưới đồng bằng. Ấy vậy mà băng của Guiliano ngày một tăng quân số. Đêm đêm, những đốm lửa bập bùng rải rác trên khắp sườn núi và thung lũng của dãy núi Cammarata. Dưới ánh lửa ấy, đám tay em của Guiliano sửa chữa vũ, khí, may vá hoặc giặt giũ quần áo ở các khe suối. Sửa soạn bữa ăn chiều đôi khi cũng tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi và hào hứng. Cũng chỉ là mực và lươn, nhưng mỗi làng ở Sicily có một cách nấu. Họ không làm nước sốt như nhau, mà cách nướng dồi cũng không giống nhau. Kẻ ưa giết người bằng dao thì làm công việc giặt giũ. Người chuyên đi bắt cóc đòi tiền chuộc thì làm việc lặt vặt. Đứa chuyên đánh cướp nhà băng và xe lửa thì ngồi lau chùi vũ khí. Một “xã hội” khá phức tạp.
Guiliano bảo họ đào giao thông hào, dựng chướng ngại vật, đặt các chốt tiền thám đề phòng bị quân chính phủ đột kích. Một hôm, tóan đào giao thông hào đã đào được bộ xương của một con thú lớn, lớn hơn mọi con thú mà họ có thể tưởng tượng được. Hôm đó, giáo sư Adonis mang sách đến cho Guiliano, nó muốn biết về tất cả mọi sự trên đời. Từ khoa học đến chính trị. Từ y học cho đến triết học. Cả kỹ thuật quân dụng và cả về tham mưu quân sự. Cứ vài tuần, giáo sư Adonis lại đem đến cho nó cả bao sách đầy. Turi đưa ông lại chỗ bộ xương đã đào được. Nhìn sự bối rối của nó, ông mỉm cười:
– Thầy đã đem đến cho con cả sách về lịch sử nữa kia mà? Một người không hiểu lịch sử của loài người từ hai ngàn năm trở lại đây là người sống trong bóng tối.
Ông ngừng nói một chút. Giọng nói dịu dàng của Adonis đúng là giọng giáo sư giảng bài.
– Đây là bộ xương của một cái “xe tăng” do Hannibal thành Carthage dùng cách nay hai ngàn năm để vượt qua rặng núi này đặng tấn công tiêu diệt đạo binh La Mã. Đó là xương của voi chiến mà dân lục địa chưa thấy bao giờ. Lần đầu tiên nhìn thấy những con vật khổng lồ ấy, lính La Mã hết hồn, chạy vắt chân lên cổ. Nhưng, những “chiến cơ” này cũng chẳng giúp cho Hannibal là bao. La Mã vẫn thắng ông ta. Và thành Carthage của ông vẫn bị La Mã san thành bình địa. Dạy núi này có nhiều ma lắm đấy. Con mới chỉ nhìn thấy có một con mà thôi. Suy nghĩ đi, Turi, biết đâu một ngày nào đó con cũng là một con ma của dãy núi này.
Guiliano đã trằn trọc suy nghĩ suốt đêm đó. Hắn thích thú với ý nghĩ một ngày nào đó được trở thành một trong những bóng ma lịch sử. Nếu có bị giết thì hắn muốn bị giết tại chính dãy núi này. Hắn còn tưởng tượng một cách ngộ nghĩnh là nếu bị thương nặng, hắn sẽ chui vào một trong hàng ngàn cái hang trong núi này để chết. Sẽ không có ai tìm thấy xác hắn. Cho đến khi tình cờ, một người nào đó tìm ra, như đã tình cờ tìm thấy bộ xương con voi của Hannibal.
Mùa đông, Guiliano và các thủ hạ thay đổi sào huyệt nhiều lần. Chúng phân tán mỏng và khi thì một nhóm ngủ tại nhà một người quen, một cái chòi của người chăn cừu hoặc một cái kho của một quí tộc nào đó bỏ trống. Guiliano đã dành hết mùa đông để đọc sách và nghiền ngẫm, sắp đặt kế hoạch. Hắn bàn luận nhiều lần và lâu với giáo sư Adonis.
Đầu xuân, Guiliano và Pisciotta lên đường đi Trapani. Trên đường, lần đầu tiên, hắn trông thấy ở một chiếc xe lửa một bức tranh kiểu mới vẽ theo huyền thoại về Guiliano. Bức tranh màu sặc sỡ vẽ hắn đang đứng cúi đầu cung kính một cách giễu cợt trước một công tước phu nhân. Tay hắn đeo chiếc cà rá vừa lấy được từ tay bà. Đứng sau hắn là Pisciotta, tay cầm súng máy, đang trấn áp lũ cớm đứng co dúm lại vì sợ.
Cũng từ ngày đó, chúng mang khóa dây thắt lưng bằng vàng. Trên khóa đó có hình nổi con chim phượng hoàng có đầu người và hình một người có đầu sư tử. Hai con quay vào nhau. Ở giữa là hoa văn, chính “thầy cai” Canio Sylvestro đã làm hai cái khóa thắt lưng này. Và nó trở thành biểu tượng cho quyền chỉ huy của “băng”. Guiliano luôn luôn mang. Vì thường phải ngụy trang khi đi xuống các thị trấn, nên Pisciotta ít khi mang khóa này trừ khi nào đi cùng với Guiliano.
Ban đêm, trên núi, lúc tháo dây lưng ra, Guiliano thường ngắm chiếc khóa này. Hình hoa văn giữa sư tử và phượng hoàng làm cho người ta có cảm tưởng hai con vật này đang xoay cái bánh xe tượng trưng cho lịch sử. Con vật mình người đầu sư tử đã đặc biệt hấp dẫn hắn. Con phượng hoàng là vua các loài chim bay trên trời cao đồng thời cũng là vua các loài vật trên mặt đất. Guiliano tự ví mình là phượng hoàng và Pisciotta là sư tử. Hoa văn ở giữa vừa là đảo Sicily vừa là lịch sử.
Từ bao thế kỷ trước, ở Sicily, bắt cóc nhà giàu để đòi tiền chuộc là một “nghề” ở vùng nông thôn. Những tay bắt cóc thường phải là những Mafioso táo tợn và mưu lược nhất mới dám chơi. Và chơi rất điệu nghệ. Gửi thư báo trước cho nạn nhân. Lời lẽ bức thư rất lịch thiệp và tránh những chi tiết về số tiền chuộc mà nạn nhân phải trả. Cũng giống như nhà buôn sỉ giảm giá cho các khách hàng trả tiền mặt, tiền chuộc, tùy trường hợp, có thể được giảm đáng kể. Bởi vậy những chi tiết rắc rối – như trong những cuộc bắt cóc ngày nay – đã không được nói rõ trước trong bức thư thông báo. Trên thực tế bắt cóc một nhân vật có tiếng tăm không phải dễ dàng như người ta tưởng. Đó không phải là việc mà nhưng tay ấm ớ, nghiệp dư, những tên tham lam ngu xuẩn hoặc bọn vô lại, cà chớn có thể làm được. Mặc dù đó không phải là việc quá liều lĩnh, nguy hiểm đến mức hầu như là hành động tự sát ở nước Mỹ ngày nay. Ở Sicily, không bao giờ có trường hợp bắt cóc con nít (1) – như thường xảy ra ở Mỹ – hoặc nếu có thì bắt cóc luôn cả người vú nuôi hoặc người hàng ngày chăm sóc cho đứa trẻ đó. Thiên hạ thối mồm gán cho dân Sicilian đủ thứ thói hư tật xấu và tội ác. Nào, bẩm sinh đã là trọng phạm. Nào, giết người lạnh lùng, tàn bạo và đầy hào hứng như đàn bà đi hái hoa. Nào, tráo trở, lật lọng, lừa bịp, phản trắc. Nào, man di mọi rợ mới hình thành xã hội được khoảng ba thế kỷ nay… Ôi thôi, đủ thứ. Nhưng muốn nói sao thì nói, có một điều không thể chối cãi được là người Sicilian – tất nhiên, phải kể thứ chính gốc – rất yêu con nít. Nói đúng ra là họ tôn thờ con nít. Bắt cóc kiểu Sicilian cũng rất độc đáo và mã thượng. Các nhà giàu có được “mời” đến làm “thượng khách” của họ. Có điều là các vị khách chỉ được ra về, sau khi đã thanh tóan “tiền phòng và tiền hầu hạ”. Cũng như ở khách sạn vậy.
Qua nhiều thế kỷ, “nghề” này đã hình thành được vài qui lệ, tập tục. Giá tiền chuộc có thể được “mặc cả” qua trung gian, thường là qua tổ chức Mafia. Không có chuyện dùng nhục hình để khảo của, nếu vị “khách” chịu “hợp tác”. Hơn thế nữa, khách được trọng đãi đúng hay là hơn so với địa vị xã hội của mình. Cũng như khách sạn Hilton ba, bốn, năm sao, các vị khách cũng được đối xử tùy theo địa vị xã hội: hoàng thân, công tước, tiểu quí tộc… Nếu có tay chơi nào coi cái linh hồn của mình là thứ đồ bỏ, hoặc coi trọng đấy nhưng chịu chơi, dám thí linh hồn của mình, thì tay đó dám túm cả áo Hồng y, Tổng giám mục. Cứ như vậy, thì về thực chất nhiều tay bắt cóc có thể còn đáng kính hơn những vị dân biểu, thượng nghị sĩ vẫn thường trưng trước tên của mình những mỹ từ hợm hĩnh phách lối như “Ngài đáng kính” (The Honorable) mà thực chất chỉ là giòi bọ đầu thai làm những tên cướp ngày.
Bắt cóc là một “nghề” đòi hỏi phải khôn ngoan, có bản lãnh. Lịch sử còn lưu lại nhiều gương trả đũa kinh khủng của người bị bắt cóc. Một vị “khách” được trả về sau khi phải nộp món tiền khổng lồ sẽ ít khi vì tiếc của mà nghĩ đến chuyện trả thù, nếu phẩm giá của ông ta được bảo toàn và tôn trọng. Điển hình là câu chuyện một vị đại công tước, vì phải tuân thủ luật pháp, sau khi được thả về, đã dẫn cảnh sát đến sào huyệt của bọn bắt cóc. Nhưng, khi bọn cướp bị bắt, thì chính ông ta trả tiền mướn thầy cãi cho bọn cướp. Khi bọn cướp bị kết án, thì chính ông ta dùng thế lực và uy tín cá nhân để can thiệp, xin giảm án. Bởi vì, trong thời gian bị làm khách mời, ông ta đã được đối đãi đúng điệu, đúng nghi thức. Nghĩa là cực kỳ lịch thiệp và lễ độ. Đến nỗi ông ta tuyên bố là ngay trong giới thượng lưu ông ta cũng không được đối đãi lịch sự đến như vậy.
Ngược lại, nếu “khách” bị đối xử tàn tệ thì khi được thả, ông ta sẵn lòng dốc hết tài sản còn lại để săn đuổi bọn cướp, trả thù cho bằng được mới hả dạ.
Đúng týp Sicilian! Chỉ ở Sicilian mới có kiểu “chơi” này.
Nếu mọi sự diễn ra đúng qui lệ, cả hai bên đều “biết điều” và lịch thiệp với nhau thì tiền chuộc sẽ được mặc cả, cho đến khi đôi bên thỏa thuận. Những người giàu có ở Sicily coi tiền chuộc này như một thứ thuế thân “đen” mà họ phải đóng cho chính quyền “đen” để có thể sống trên mảnh đất mà họ yêu mến. Vả lại, khi đóng thuế chính thức, họ sẽ tìm cách né, hoặc lươn lẹo để bù lại. Về mặt tinh thần, họ coi đó như một thứ “Thánh giá mà Chúa bắt họ phải vác để thử thách trên đường theo chân Chúa”.
Đối với những ai bần tiện một cách ngu xuẩn, hoặc ương ngạnh không chịu nộp tiền chuộc, hoặc cù cưa kéo dài thời gian mặc cả, thì sẽ có biện pháp cưỡng bách nhẹ nhàng. Chẳng hạn, một đốt ngón tay, một cái tai… Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đã đủ để các vị khách “tỉnh người” ra rồi. Ngoại trừ những trường hợp hết sức xấu – một ngoại lệ rất hiếm – “khách” sẽ bị chặt ra từng mảnh. Hoặc theo kiểu rất xưa thì thân thể của khách bị rạch nhiều hình thánh giá. Sau đó được gởi cho gia đình.
Nhưng việc “mời” khách trong mọi trường hợp không chỉ là một công việc đòi hỏi khôn ngoan và bản lãnh, mà cả sự nỗ lực gian khổ và phải hết sức cẩn thận. Khách phải được theo dõi một thời gian, để có thể “chộp” được mà không cần dùng đến bạo lực. Hoặc nếu có thì cũng chỉ ở mức tối thiểu. Và trước đó “chủ nhân” – tức là bọn bắt cóc – đã phải chuẩn bị sẵn năm hay sáu “khách sạn” khác nhau và có đủ tiện nghi cần thiết và xứng đáng với địa vị của khách. Ngoài ra phải có người canh gác và hầu hạ. Bởi vì trong thời gian thương lượng, nhà cầm quyền có thể lùng kiếm nạn nhân.
Bởi vậy, bắt cóc đâu phải chuyện ngon xơi mà bọn ấm ớ, cà chớn tưởng bở. Nhào vô ẩu, vỡ mặt là cái chắc.
Khi quyết định làm ăn theo lối bắt cóc, Guiliano cũng quyết định chỉ mời những vị khách “sộp” nhất Sicily. Thật ra, vị khách mở hàng của hắn không những giàu nhất, mà còn là một đại quí tộc thế lực nhất Sicily.

Photo edit by Sơn râu (Google)

Hoàng thân Ollorto không những là chủ cái lãnh địa rộng lớn nhất, màu mỡ nhất Sicily, mà còn là chủ nhân của một lãnh địa lớn “hầu như một đế quốc” ở Brazil. Ngài là chủ đất của hầu hết dân Sicilian. Về phương diện chính trị ngài là người có thế lực rất lớn trong hậu trường chính trị ở Rome, bộ trưởng bộ tư pháp tỏng chính phủ đương nhiệm là bạn thân của ngài. Cựu quốc vương Umberto đệ nhị là bố đỡ đầu đứa con trai ngài. Ông Trùm Croce là “tổng quản lý” lãnh địa của ngài. Đó là chưa kể khoản “thuê bao” mà ngài trả cho Ông Trùm để Ông Trùm đảm bảo an ninh cho bản thân ngài, thân quyến và các nữ trang quí giá của ngài. Kể luôn cả gia súc của ngài, đứa nào dám to gan dám vuốt râu Ông Trùm thì hãy mó máy. Nếu không thì đừng dại.
Sống an nhàn trong lâu đài có tường thành cao bao quanh, thêm một hàng rào người gồm toàn thủ hạ của Ông Trùm ngày đêm canh gác cẩn mật, ngoài ra còn vệ sĩ cận vệ túc trực sát bên, hoàng thân Ollorto đang sửa soạn cho một buổi chiều êm ả và thú vị bằng cách ngắm các tinh tú trên bầu trời qua chiếc kính thiên văn mà ngài quí hơn bất cứ thứ gì trên đời này. Bỗng có tiếng bước chân dồn dập của nhiều người đang bước trên cầu thang cuốn dẫn lên đài quan sát thiên văn của ngài. Cánh cửa mở bật ra. Bốn tên, bịt mặt sơ sài, tay xách tiểu liên, bước vào. Hoàng thân, tay ôm chặt lấy kính thiên văn đang hướng về một vì sao, quay mặt nhìn họ. Thấy cái mặt Terranova, ngài đã thầm nguyện ơn trên che chở. Nhưng, Terranova đã kính cẩn thưa:
– Kính bẩm đại công tước, tôi được lệnh mời ngài lên núi nghỉ mát ít ngày với Turi Guiliano. Chúng tôi đã chuẩn bị nơi ăn chốn nghỉ cho ngài theo đúng qui lệ. Tất nhiên là chúng tôi không thể chăm sóc ngài như chăm sóc trẻ sơ sinh được.
Ngài đại công tước cố giấu sự sợ hãi. Ngài hơi cúi đầu, trầm ngâm và hỏi:
– Ta đem theo ít thuốc men và quần áo, được chứ?
– Chúng tôi sẽ mang lên hầu ngài sau. Điều chủ yếu bây giờ là xin ngài lẹ lẹ, bọn cớm hoặc vệ sĩ của ngài có thể đến bất ngờ, phiền lắm. Chúng tôi trân trọng ngài, chứ không sẵn lòng mời chúng đi dự tiệc được đâu. Bây giờ xin ngài đi trước. Đừng tìm cách chạy trốn. Người của chúng tôi đã được bố trí khắp trong lâu đài này. Vả lại, ngài đâu có nhanh bằng viên đạn.
Bên ngòai cổng, xa phía dưới một chút có chiếc Alfa Roméo và chiếc Jeep đậu chờ sẵn. Hoàng thân được mời vào chiếc Alffa Roméo và Terranova leo lên ngồi bên cạnh. Khi cách Palermo nửa giờ xe và chỉ cách Montelepre một quãng đường ngắn, hai chiếc xe dừng lại. Mọi người xuống xe. Cạnh đó, bên lề đường có một miếu thờ. Trong miếu có tượng Đức Thánh Mẫu. Terranova bái quì trước miếu và đưa tay làm dấu thánh giá. Là người sùng đạo, hoàng thân cũng toan quì xuống. Nhưng ngài kịp ngừng lại, sợ rằng lũ thảo khấu này tưởng ngài yếu bóng vía và cầu ơn trên che chở cho khỏi bị lũ này ám hại. Cả năm người bắt đầu đi theo đội hình ngôi sao. Hoàng thân đi ở giữa. Và họ bắt đầu đi xuống dốc theo lối mòn nhỏ hẹp, dẫn tới dãy núi Cammarata hoang vu.
Họ đi bộ mấy tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng, hoàng thân lại bảo họ dừng lại tạm nghỉ. Những tên hộ tống kính cẩn tuân theo. Họ ngồi trên một tảng đá và ăn xúp. Có bánh mì – thứ bánh thô – một tảng phó – mát lớn và chai rượu nho. Terranova chia đều phần ăn, kể cả cho ngài hoàng thân. Và, vẫn một giọng cung kính, Terranova nói:
– Kính bẩm ngài, rất tiếc ngay bây giờ chúng tôi không dâng lên ngài những thứ ngon lành hơn và xứng với địa vị tôn quí của ngài. Nhưng, một khi đến trại, Guiliano sẽ mời ngài dùng thức ăn nóng. Có lẽ là thịt thỏ rô – ti. Chúng tôi có một đầu bếp của một nhà hàng lớn ở Palermo.
Ngài hoàng thân lịch sự cám ơn. Và ngài dùng bữa. Lạ thay, ngài lại cảm thấy ngon miệng, có lẽ là do được vận động nên ngài cảm thấy đói. Một cảm giác mà từ nhỏ đến giờ ngài chưa từng cảm thấy bao giờ. Ăn xong, ngài rút từ trong túi ra một bao thuốc lá Ăng – lê chính hiệu và chìa ra cho bọn thảo khấu. Mỗi đứa rụt rè rút lấy một điếu, hút, khoái “đã” ra mặt. Ngài nhận thấy chúng không dám đoạt gói thuốc để dùng riêng. Thế là chúng đã được một điểm tốt của ngài rồi đó. Bởi vậy, ngài mạnh dạn nói:
– Ta bị bệnh đái đường nên hàng ngày phải dùng thuốc có chất Insulin!
– Thế mà lúc nãy ngài không dạy cho biết. Lúc đó chúng tôi có thể đợi cho ngài chừng một phút. Nhưng không sao, ngài đừng lo! Guiliano sẽ sai người đi mua thuốc hầu ngài ngay tức khắc. Chắc chắn sáng mai ngài có thuốc dùng. Xin đảm bảo với ngài điều đó.
– Cám ơn!
Hoàng thân lấy làm ngạc nhiên về sự quan tâm của Terranova tới sức khỏe của ngài. Thân hình mảnh dẻ như một con chó săn, Terranova lúc nào cũng khép nép cung kính, nhưng cũng luôn tỉnh táo, cảnh giác. Khuôn mặt thẹo chằng chịt, nhưng lúc nào cũng nở nụ cười cởi mở. Tuy nhiên, Terranova như cái lưỡi dao cạo: để xài cũng tốt, để cắt họng thiên hạ lại càng kiến hiệu.
Rồi họ lại bắt đầu đi tiếp. Terranova dẫn đầu “ngôi sao”, đôi khi y đi chậm lại, sánh vai trò chuyện với hoàng thân và đảm bảo với ngài không việc gì phải lo. Họ lần lần đi lên khoảng đất bằng phẳng trên chóp núi. Ba đống lửa đốt sẵn đó. Ba bộ bàn ghế bằng tre kiểu picnic cũng được kê sẵn, đợi chờ. Ở đầu bàn, Guiliano đang ngồi đọc sách dưới ánh đèn chạy bằng bình điện của nhà binh Mỹ. Một bao bố lớn đựng đầy sách dựng bên cạnh. Lũ tắc kè bò ngang bò dọc, loạn xạ. Tiếng côn trùng rù rì khắp nơi. Âm thanh kỳ quặc ấy dường như chẳng làm cho Guiliano bực bội.
Guiliano đứng dậy, lịch sự chào hoàng thân. Hắn không có vẻ phách lối, hách dịch của một kẻ có tí ti quyền hành như mấy tên cai ngục. Nhưng khuôn mặt hắn nở nụ cười kỳ lạ và bí hiểm. Hắn tự hỏi mình đã tiến xa đến mức nào rồi. Hai năm trước chỉ là một thằng nhà quê nghèo hèn, làm gì có cơ hội mặt đối mặt với hoàng thân như thế này. Mà có đi chăng nữa, chưa chắc đã dám nhìn thẳng vào mặt ngài, nói gì đến chuyện bắt tay. Bây giờ, với lòng trắc ẩn, hắn bắt tay một người quí tộc lâu đời ở hàng cao nhất và giàu có nhất xứ Sicily.
– Ngài đã dùng cơm chưa? Để cuộc gặp gỡ của chúng ta thêm phần dễ chịu và thú vị, xin ngài cứ cho biết. Chúng tôi xin tận tình chu tất. Xin ngài dành cho chúng tôi được cái vinh dự tiếp đón ngài một thời gian ngắn.
Hoàng thân cho biết ngài đói bụng và cần thuốc insulin cũng như một vài thứ thuốc khác. Guiliano xoay mình gọi vọng xuống phía dưới mỏm đá. Chỉ một lát sau đã có mấy người từ phía dưới theo đường mòn đi lên, tay bưng các món ăn, trong đó có món thịt hầm. Guiliano đề nghị hoàng thân cứ viết đầy đủ các chi tiết và các thứ thuốc ngài cần.
– Chúng tôi có dược sĩ quen biết ở Monreale sẵn lòng bán thuốc cho vào bất cứ ngày giờ nào. Trưa mai chắc chắn ngài sẽ có đủ.
Dùng bữa xong, Guiliano dẫn hoàng thân đi xuống dốc tới một hang nhỏ lót rơm, bên trên có tấm nệm rất êm, ấm. Hai tên cướp đi theo ôm mền, gối. Hoàng thân nhìn những thạch nhũ trắng toát. Hiểu ra sự ngạc nhiên của ngài, Guiliano nói:
– Ngài là khách danh dự của chúng tôi. Chúng tôi xin tận tình làm tất cả những gì có thể làm được để ngài cảm thấy thoải mái, dễ chịu tối đa trong thời gian nghỉ ngơi tại đây. Nếu trong số anh em đây có ai dám thất lễ với ngài, xin cứ cho biết. Chúng tôi chỉ thị rất rõ là phải đối đãi với ngài đúng phẩm tước và danh dự của ngài như một nhà ái quốc người Sicilian. Bây giờ, xin phép ngài cho tôi rút lui. Chúng tôi rất cần sức khỏe của ngài. Ngày mai chúng ta còn phải đi rất xa. Kính chúc ngài ngủ ngon. Chắc chắn bọn cớm sẽ tung ra một lực lượng hùng mạnh để truy lùng. Chính vì vậy chúng ta phải rời khỏi nơi này.
Hoàng thân cám ơn sự đối đãi nhã nhặn, ân cần lịch sự của Guiliano. Ngài hỏi số tiền chuộc là bao nhiêu. Guiliano cười. Hoàng thân bị nụ cười tươi trẻ hồn nhiên của chàng thanh niên đẹp trai ấy hấp dẫn. Nhưng, câu trả lời của Guiliano đã làm tan biến ngay sự hấp dẫn ấy:
– Chính quyền của ngài sẽ treo giá cái đầu của tôi là mười triệu lire. Thật là một điều xúc phạm lớn đối với ngài, nếu tôi không đánh giá cái đầu của ngài ít ra cũng gấp mười lần cái đầu của một thằng ăn cướp như kẻ hèn này.
Hoàng thân choáng váng. Nhưng tác phong và truyền thống quí phái lâu đời của ngài đã giúp ngài nói một cách khôi hài:
– Ta hy vọng gia đình ta cũng đủ kinh tế để đánh giá như các người!
– Kính bẩm hoàng thân, chúng ta còn thời gian để thương lượng!
Khi Guiliano chào giã từ, hai tay em của hắn đã sửa soạn xong chỗ ngủ cho hoàng thân, sau đó ra ngoài cửa hang chờ xem ngài có sai bảo gì không. Mặc cho tiếng rù rì lạ tai của côn trùng, tiếng ào ào của gió núi, hoàng thân đã ngủ một giấc ngủ ngon mà từ bao năm qua ngài chưa được hưởng.
Suốt đêm đó, Guiliano bận tíu tít. Hắn nói với hoàng thân là mua thuốc tại Monreale chỉ để bảo mật, còn thật ra Montelepre, quê thì quê, chứ làm gì không có. Terranova được phái tới tu viện gặp cha bề trên, nhờ ngài làm trung gian thương lượng và nhận tiền chuộc. Guiliano thừa biết là cha bề trên cũng sẽ hành động thông qua Ông Trum. Và chắc chắn, Ông Trùm kiếm bộn tiền “cò”
Cuộc thương lượng sẽ kéo dài. Và người ta cũng hiểu tuy nói 100 triệu nhưng còn có thể mặc cả. Hoàng thân giàu nứt đố đổ vách đó. Nhưng theo qui lệ, không có vấn đề “ta – ríp” nghĩa là giá nhất định.
Ngày thứ hai bị bắt cóc là một ngày thú vị đối với hoàng thân. Cuộc hành trình tuy dài, nhưng không vất vả, vì không phải trèo đèo lội suối, mà chỉ là di chuyển đến nhà của một tá điền ở sâu trong núi. Guiliano đúng là chúa công của tá điền này. Cung cách tiếp đón của lão đúng là cung cách của triều thần nghênh đón Đức Kim thượng giá lâm.
Con mắt tinh tế của Guiliano thấy ngay là hoàng thân buồn phiền vì y trang của ngài nhàu nát. Ngài bần thần nhìn bộ y phục đắt tiền ngài đặt may tại Luân Đôn nay bị vấy bẩn. Guiliano hỏi ngài không phải bằng cái giọng khinh khỉnh, mà chỉ là do cái óc tò mò của dân ruộng:
– Phải chăng ngài quá quan tâm đến những gì khoác trên thân thể ngài, thưa ngài?
Đúng là câu hỏi của người chưa vượt quá nhu cầu sơ đẳng: áo quần chủ yếu là để che thân. Do nhiễm nặng cái thói quen dạy dỗ và làm “cha” thiên hạ, nên cho đến lúc này, tại chỗ này, hoàng thân cũng vẫn giữ cái giọng giáo huấn. Trong lúc này, cả hoàng thân lẫn Guiliano đều không có việc gì gấp gáp, bởi vậy hoàng thân đã vui vẻ ban cho Guiliano một “cua” về “phục sức xứng y kỳ đức”. Một bộ đồ may cắt khéo, bằng hàng tốt chẳng những làm tôn vẻ đẹp cho người mặc mà còn làm cho người ấy chững chạc, “tư cách” hẳn lên, khiến người khác phải trọng nể, ít nhất là ở bước đầu. Ngài thuật lại những anh thợ may ở Luân Đôn kiểu cách rởm đến nỗi tưởng như các vị công hầu ở Italia này giống máy thằng khố rách áo ôm không bằng. Hoàng thân cao hứng giảng giải tỉ mỉ về các loại hàng vải, các kiểu áo quần, các màu sắc sao cho hợp thời, hợp cảnh, cho phải phép và xứng với địa vị…
– Anh bạn Guiliano thân mến này, không phải chỉ là vấn đề tiền. Mặc dù Đức Thánh Mẫu biết rằng với số tiền ta đã bỏ ra để sắm bộ đồ này, thì một gia đình Sicilian sống dư giả cả năm, lại còn dư để cấp vốn cho đứa con gái về nhà chồng nữa. Vấn đề là ta phải cất công đến tận Luân Đôn, ở lại đó nhiều ngày cho mấy thằng thợ may vần tới vần lui, ngắm ngắm, nghía nghía, gật gật gù gù. Thật là một kinh nghiệm thảm hại. Ta tiếc là tiếc cho cái công của ta, thì giờ của ta.
Guiliano chăm chú nhìn hoàng thân với thiện ý rõ rệt.
– Sao ngài và tầng lớp quí tộc lại coi cái chuyện ăn mặc quan trọng một cách quá đáng, xin lỗi, một cách quá cầu kỳ, tủn mủn như vây? Ngay như lúc này, giữa chỗ núi rừng mà ngài cũng thắt cà – vạt. Khi đặt chân vào đến nhà này, tôi để ý thấy ngài đóng cúc áo vét, như thể có một vị công tước nào khác đang chờ đón ngài trong phòng khách?
Tuy cực kỳ phản động về mặt chính trị và giống như hầu hết các đại quí tộc Sicilian khác, không hề có một khái niệm gì về công bằng kinh tế và bình đẳng xã hội, nhưng hoàng thân lúc nào cũng có được cái cảm tưởng mình hòa đồng với giai cấp dưới. Ngài cho rằng họ cũng là người như ngài. Không một ai đã từng làm việc cho ngài, biết tính ý và nhìn nhận địa vị tôn quí của ngài, lại bị ngài làm lơ, để cho phải sống thiếu thốn. Tôi tớ trong lâu đài tôn thờ ngài. Ngài đối đãi với chúng như người thân. Ngày sinh nhật của từng tôi tớ đều được ngài ban quà. Ngày lễ, tất cả tôi tớ đều được thưởng. Trong bữa cơm gia đình, nếu không có khách, đầy tớ hầu bàn cũng được ngài cho phép góp chuyện và góp ý về những vấn đề liên qua đến công việc trong nhà. Đó không phải là điều phổ biến trong các gia đình quí tộc Italia. Giai cấp thấp chỉ bị ngài đối xử tàn tệ khi họ đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế của mình.
Và bây giờ, hoàng thân cũng có một thái độ như vậy đối với Guiliano, làm cứ như là kẻ bắt cóc ngài cũng chỉ là đứa tôi tớ muốn được hưởng một đời sống như của ngài, đời sống đáng thèm khát của một người rất giàu có và rất quyền thế.

Photo edit by Sơn râu (Google)

Hoàng thân đột nhiên nhận thấy có thể biến cái thời gian bị bắt cóc thành một mối lợi cho mình, mặc dù ngài phải trả số tiền chuộc khá lớn. Tuy nhiên, ngài cũng chẳng ngây thơ đến nỗi không biết rằng ngài phải tỏ ra thật thà, chân thành và đáng tin cậy, rằng không được làm một cái gì khiến cho tình hình trở nên gay cấn… Bởi vì, Guiliano đã cho thấy hắn có thể từ sự yếu đuối bật lên thành sức mạnh.
Hoàng thân đã nghiêm chỉnh và chân thành đáp lại câu hỏi của Guiliano bằng một nụ cười và bằng một câu hỏi ngược trở lại.
– Thế anh đeo chiếc cà rá ngọc và cái khóa dây nịt bằng vàng kia, để làm gì?
Ngài chờ đợi câu trả lời. Nhưng, thấy Guiliano chỉ mỉm cười không đáp, ngài bèn nói tiếp:
– Ta đã kết hôn với một phụ nữ giàu còn hơn cả ta nữa. Ta có uy tín và quyền lực chính trị. Ngay tại Sicily này, ta đã có một lãnh địa lớn bậc nhất xứ. Nhưng, qua phu nhân, ta còn tậu được một lãnh địa khác ở Brazil còn rộng lớn gấp bội. Ngay khi bàn tay ta vừa rút ra khỏi túi, thì đã có một người Sicilian đến đỡ lấy và hôn. Ngay tại Rome ta cũng được trọng vọng chẳng kém. Bởi vậy, ở thủ đô, tiền trên hết. Hễ có tiền thì có quyền lãnh đạo, có quyền cai trị. Ta có tiền, cho nên, mọi con mắt đổ dồn vào ta. Ta thấy tức cười vì ta chẳng cố ý, chẳng có gì để bắt thiên hạ quỵ lụy, khúm núm như vậy. Thế nhưng, ta vẫn được như vậy. Và đã được thì ta giữ lấy. Phải giữ lấy, nếu không, có nghĩa là ta làm nhục họ. Ngay cả khi ta đi săn, mặc bộ đồ vải thô của anh nhà quê thì bộ đồ ấy cũng phải sao cho đàng hoàng. Vải thô, nhưng là bộ đồ của ông nhà giàu, ông lớn. Đôi khi, ta thèm được làm một người như anh, hoặc như Croce. À, không hiểu anh có biết là Croce đã tìm mọi cách để giữ cho quyền lực của anh chỉ thuần là ý nghĩ và tình cảm, chứ không trở thành một hiện thực? Chẳng có mấy người vừa có quyền lực, lại vừa có lòng can đảm và vẻ đẹp quyến rũ như anh. Ấy, chính vì vừa muốn có quyền lực vừa muốn có vẻ đẹp quyến rũ mà ta – quyền lực thì đã có – phải bỏ công ra đến các tiệm may ở tận Luân Đôn!
Hoàng thân đã nói những lời ấy nghe hay và khéo đến nỗi Guiliano cười lớn. Guiliano cảm thấy thích thú thật sự, khi hai người dùng cơm tối và bàn nhiều đến sự cơ cực của người dân Sicilian và sự hèn nhát của Rome.
Hoàng thân cũng biết là Ông Trùm muốn duy trì tình trạng đó.
– Anh bạn Guiliano quí mến, tại sao anh và Croce không liên minh với nhau để cai trị đảo Sicily này nhỉ? Hắn có cái khôn ngoan của tuổi tác. Anh có cái lý tưởng của tuổi trẻ. Và khỏi nói là cả hai đều yêu Sicily. Tại sao hai người không hiệp lực với nhau? Vì thời gian sắp tới rất nguy hiểm cho mọi người chúng ta? Bây giờ, chiến tranh đã chấm dứt, tình hình đã thay đổi. Chỉ có anh và Croce có thể đảm bảo được nền tự do của Sicily. Các anh phải liên kết với nhau. Nghe Croce nói về anh, tôi có cảm tưởng hắn ta quí anh, coi anh như con của hắn. Hắn hết sức cảm mến anh. Chỉ có hắn mới có thể ngăn được cuộc chiến tranh giữa anh và đám “Người anh em”. Hắn hiểu rằng anh làm cái mà anh phải làm. Ta cũng hiểu như vậy nữa. Tuy nhiên, bây giờ cả ba chúng ta có thể cộng tác với nhau để giữ vững số phận của mình. Nếu không, tất cả chúng ta đều bị tiêu diệt.
Turi không thể nào nén được sự tức giận của mình. Thằng cha nhà giàu này xấc xược quá lắm. Tuy nhiên, hắn vẫn nói với một sự bình tĩnh chết người:
– Tiền chuộc của ngài chưa bàn xong, mà ngài đã vội bàn đến sự liên minh hợp tác. Ngài có chắc mình còn sống không mà vội nghĩ ra thế?
Suốt đêm đó, hoàng thân lo ngay ngáy, thấp thỏm ngủ không được. Nhưng Guiliano tỏ ra không có ý định thực thi cái ý tưởng hắc ám của hắn. Cho nên, hai tuần lễ làm khách mời của Guiliano, hoàng thân cảm thấy rất thoải mái. Sức khỏe của ngài tăng lên rõ rệt. Thân thể ngài cường tráng ra nhờ tập thể dục hàng ngày và nhờ không khí trong lành. Trước kia, cơ thể của ngài tuy mảnh khảnh, nhưng bụng ngài cũng hơi phệ. Bây giờ mỡ bụng ấy xọp đi thấy rõ. Về phương diện thể xác, chưa bao giờ ngài cảm thấy khỏe khoắn hơn. Về phương diện tinh thần, ngài cũng thấy vui vẻ, phấn chấn hơn: ngài cũng được tự do đi chỗ này chỗ kia quanh quanh gần đó. Guiliano không canh chừng ngài một cách khắt khe. Hắn thường phải bàn bạc với đồng đảng là những người vô học dốt nát, không có văn hóa. Tuy nhiên, tánh nết của họ đã làm hoàng thân ngạc nhiên. Hầu hết những tên cướp này đều lịch sự một cách tự nhiên, có phẩm hạnh và nhất là không phải là kém thông minh. Chúng luôn luôn đối đãi với ngài theo đúng tôn ti, đúng địa vị của ngài. Và luôn luôn đáp ứng yêu cầu của ngài. Trước kia, chưa bao giờ ngài gần gũi với đồng hương Sicilian của ngài đến thế. Chính ngài cũng ngạc nhiên vì thấy sự đổi mới trong cách nhìn và trong tình cảm của ngài đối với xứ sở và dân tộc mình. Sau cùng, tiền chuộc được thỏa thuận ở mức sáu triệu đồng lire vàng. Và, tiền được trao qua Ông Trùm Croce và cha bề trên Manfredi. Đêm hôm trước khi ngài được thả, Guiliano, các sếp băng và khoảng hai mươi trợ thủ quan trọng mở tiệc khoản đãi hoàng thân. Rượu sâm – banh được chở từ Palermo tới để mừng dịp này. Và tất cả đã nâng ly chúc mừng tự do sắp tới của ngài, vì chúng cũng ngày một cảm mến ngài… Hoàng thân nâng ly rượu cuối cùng lên và nói:
– Ta đã từng là khách danh dự trong những gia đình quyền quí bậc nhất ở Sicily, cũng như ở Rome. Nhưng, chưa bao giờ ta được tiếp đãi vừa chân thành vừa nồng hậu với cung cách lịch thiệp như thế này. Chưa bao giờ ta ăn ngon, ngủ ngon như ở đây.
Ngài ngưng lại một chút, rồi lại mỉm cười, nói tiếp:
– Số tiền kể cũng hơi cao đấy. Nhưng, cái gì có giá trị thì bao giờ cũng đắt giá!
Mọi người cười ồ. Guiliano cười lớn hơn ai hết. Nhưng hoàng thân nhận thấy Pisciotta mặt lạnh như tiền, một nụ cười mỉm cũng không.
Tất cả uống chúc mừng sức khỏe của hoàng thân khiến ngài hớn hở ra mặt. Đó là một đêm ngài nhớ đời với một niềm thích thú khó quên.
Sáng hôm sau, chủ nhật, hoàng thân được thả ngay trước cửa nhà thờ chánh tòa của thủ phủ Palermo. Ngài vào nhà thờ dâng lễ Missa sớm và vâng lời tạ ơn Chúa. Ngài vẫn ăn mặc sang trọng như ngày ngài bị bắt cóc. Để tỏ lòng trân trọng, Guiliano đã ra lệnh cho một thợ may “chiến” nhất tại Rome sửa chữa và giặt ủi lại bộ đồ của ngài.
……..
(1) Kidnapping: Kid (con nít) napping (chộp, bắt bất ngờ). Từ Kidnapping do đó thường chỉ những hành động bắt con nít để đòi tiền chuộc. (N.D).

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu (Google)

21. Hồn người trong ly rượu

Trong gian phòng hơi tối, Hùng chăm chú nhìn mấy con số thâu xuất trong quyển sổ”công nho” của làng Tây Yên: 
– Ðinh Văn Mão đóng thuế điền 2 đồng biên lai số 00217. 
– Quách Yến đóng thuế thủy lợi Kinh Dài 65 đồng, biên lai số 00218. 
– Tu bổ trường làng ngày 21 – 1 – 1937, xuất 6 đồng 8 cắc 6 xu… 
Chàng buông viết xuống, đi nhanh đến vách để tìm cái bàn toán. Từ hồi nhận chức vụ biện làng, làm việc tại nhà ông Tư đến nay chàng mới sáng mắt: người Trung Hoa bày ra cái bàn toán thật tiện lợi, để sử dụng, khi lắc mấy con toán, âm thanh vang lên đều đều, vui vui. 
Cái bàn toán treo hơi cao, kế bên tấm lịch. Chàng với tay lên chợt rùng mình vì từ trong phòng, một bàn tay trắng muốt đưa ra, nắm chặt bàn tay chàng. Chàng suýt kêu to vì ngạc nhiên, vì sợ hãi: 
– Ai… vậy? 
Người chủ của cái bàn toán ngà vẫn chưa chịu xuất hiện. Nàng nói lanh lảnh: 
– Anh này giả ngộ hoài! hổm rày tôi biết… anh mê tôi lắm nhưng anh sợ, anh không dám nói ra. Phải vậy không? 
Hùng định thần, tìm cách gỡ rối. Cô Huệ, người vợ mơn mởn của ông xã Tư đang trêu ghẹo, thử thách chàng. Huệ là người ở cùng xóm. Năm mười bảy tuổi, hồi năm ngoái, nàng vâng lịnh cha mẹ để làm lễ vu qui, làm vợ ông xã Tư. Ông xã tuổi hơn năm mươi, lớn hơn nàng những bốn chục cái xuân xanh, và ông ta cũng giàu có hơn gia đình nàng gấp trăm lần! Hùng lẩm bẩm: 
– Trời! Tội nghiệp tôi, bà ơi. 
Huệ cười dòn, lú mặt ra, bàn tay nàng vẫn bám chặt cổ tay Hùng: 
– Hễ anh kêu tôi bằng bà thì nắm chặt như vầy hoài. 
Hùng lắc đầu, mấy giọt mồ hôi tươm ra như sương trên vầng trán đau khổ: 
– Rủi ông xã về thình lình, chắc ông giết tôi quá! 
– Bây giờ anh muốn chết hay muốn sống? 
– Dạ, muốn sống. 
Mấy ngón tay Huệ như bắt đầu mở vòng vây. 
Nàng nói: 
– Sống để làm gì? 
– Dạ, sống để… làm biện làng, giúp việc cho ông xã. 
Huệ buông tay xuống cười khanh khách rồi tát yêu vào má Hùng: 
– Anh này nói dóc quá. Tôi nói cho anh mừng, sáng nay nhà tôi đi hầu quan chủ quận, tới chiều mới về. Trong nhà, chẳng còn ai. Con nhỏ ở dưới bếp là đứa thân tín. 
Dứt lời, Huệ bước ra khỏi phòng. Hùng cầm cái bàn toán, đặt trên bàn rồi ngồi ghế giả bộ như say sưa làm việc… Ngoài hiên, cơn gió nhẹ thổi qua, vô tình đẩy cánh cửa khép lại he hé. Ấm áp quá. Nhưng Hùng vẫn chưa yên tâm. Mấy năm trước, chàng gặp Huệ nhiều lần qua mấy dịp cúng đình làng, hai người cùng nhau trao đổi những cái liếc tình tứ. Thế thôi. Rồi nàng ngoan ngoãn vâng lệnh cha mẹ, làm vợ ông xã Tư. Hôn nhân trái cựa ấy khiến dân làng bàn tán không ngớt. Ða số cho rằng Huệ ham tiền, muốn chiếm đoạt gia tài ông xã Tư trong mai hậu. Nhưng lại còn giả thuyết: 
– Ông xã Tư có bùa, có ngải, Huệ đã uống nhằm bùa của lão ta chuộc từ núi Tà Lơn huyền bí. 
Huệ đứng dậy, bước khoan thai đến gần bàn giữa, rót tách nước đêm lại dâng cho Hùng với dáng điệu trịnh trọng: 
– Mời anh… Anh nhát quá. 
Bấy giờ, Hùng bắt đầu tỉnh táo. Bao nhiêu khí phách bừng sôi mạnh trong huyết quản của chàng trai yêu dời. Huệ là gái có chồng, đang sống trong vòng áp bức của ông chồng già, nghiêm khắc mà nàng còn đủ can đảm huống chi chàng… Nếu ông xã đuổi, chàng đi tìm sanh kế nơi khác và rủ Huệ trốn theo. 
Chàng nâng tách nước uống một hơi. Nàng cười: 
– Thủng thẳng mà uống. Coi chừng phỏng miệng. 
Chàng đáp: 
– Chết cũng không sợ, miễn là… 
Rồi hai người tha hồ trò chuyện, kể lể cho nhau bao nỗi nhớ nhung uất hận. Nàng an ủi Hùng: 
– Em nói với ba má gả Lan cho anh. 
Lan là em gái của Huệ, siêng năng hơn Huệ nhưng kém lộng lẫy hơn. Hùng cau mày: 
– Anh chỉ yêu Huệ mà thôi. 
Huệ đáp: 
– Anh này bướng quá, lì quá. Em hiểu lòng anh từ mấy tháng nay. Nhưng từ rày về sau, anh nên cẩn thận. hôm trước, anh vô tình vẽ lại mái tóc của em trên tấm giấy chậm. Chồng em đã chú ý rồi đó… 
Từ đó về sau, mỗi dịp ông xã Tư đi hầu quan chủ quận mỗi tháng hai lần, để nạp thuế, hai người tha hồ ân ái. Hùng đánh bạo, vào phòng của Huệ, nằm trên chiếc gối thêu rồn thêu phụng bấy lâu chỉ dành cho ông xã Tư. 
Huệ càng đẹp, càng xinh thêm. 
Hùng thỉnh thoảng ca vọng cổ trước mặt ông xã Tư. Ông xã cười gằn, liếc lên vách, nhìn bàn toán treo sát cửa phòng. Và cách cái bàn toán chừng vài tấc là thanh đoản đao bén ngót mưa từ miền cao nguyên.

Hồm ấy, sau khi rảnh việc, Hùng về nhà trọ ở xóm vàm. Chàng đang sờ vào túi, đếm thử mấy đồng bạch chợt nghe tiếng gọi to, phía sau: 
– Chú biện! 
Ðó là ông xã Tư. Ông ta gọi lần nữa, giọng rắn rỏi hơn. 
– Hùng! Mầy đứng lại. 
Nghĩ rằng xã Tư là kẻ đa mưu, chẳng lẽ ông ta dám giết mình lúc ban ngày, gần xóm đông đúc nên Hùng mạnh dạn đứng lại: 
– Thưa ông… 
– Mầy đi đâu vậy? 
– Dạ về nhà. 
– Tao hỏi mầy đi về… âm phủ hay muốn ở lại dương gian. Mầy nghe rõ chưa? 
Hai người bước chậm rãi bên cạnh nahu. Hùng chú ý một điều: ông xã không mang khí giới… gương mặt cau có chứng tỏ ông ta ghen bóng ghen gió chớ chưa nắm được bằng cớ nào cụ thể. Ðể tỏ rằng ta đây là anh hùng, chàng nói thẳng: 
– Tôi đã nói chuyện riêng với… bà nhiều lần, lúc ông vắng mặt. 
– Tại sao mầy không nói lúc tao có mặt? Chuyện riêng là chuyện gì? Nói thật đi, tao tha tội cho. Tao biết mầy quen với gia đình bên vợ tao, từ lâu… 
Mấy tiếng gia đình bên vợ giúp Hùng tỉnh táo, sáng trí. Chàng xoay sang vấn đề khác: 
– Thưa ông, tôi quen với gia đình bên ông… Xóm giềng ai cũng biết…
Rồi chàng cố tình ngưng câu nói, chờ ông xã Tư thúc hối: 
– Mầy muốn làm rể hả? Tao cưới con Huệ, mầy tức hả? 
Thấy xã Tư đã lọt vào quỉ kế của mình. Hùng nói: 
– Xin ông đừng nóng giận. Tôi muốn làm rể và khi ông cưới cô Huệ, tôi tức giận thiệt đó… 
Rồi chàng dang xa vài bước, thủ thế: 
– Nhưng… tôi muốn cưới Lan, em cô Huệ. Tôi tức giận vì mình nghèo túng. Phải chi tôi có chức phận làm được hương thân, hương hào thì đâu đến nỗi thất vọng vì tình. 
Ông xã Tư gật đầu từng chập, bán tin bán nghi. Có lẽ thằng Hùng thổ lộ tâm tình chân thành của nó vì Huệ còn đứa em gái khá đẹp mà ông xã toan đem về làm… tỳ thiếp trong mai hậu. Tuy nhiên, câu trả lời của Hùng vẫn chưa đánh tan sự ghen tương: 
– Mầy nói với vợ tao chuyện gì? Nói mấy lần? Nói tại đâu? 
– Dạ, nói nhiều lần. Tôi nhờ cô Huệ trình bày hoàn cảnh tôi với ba má cô. Tôi muốn nhờ ông giúp dùm, nói vô vài tiếng ngặt tôi chưa dám. 
– Ờ… Ðể tao coi lại. 
Ðến xóm trên, ông xã Tư ghé vào quán, uống rượu liên miên, tìm cách ứng phó. Hùng nhanh trí, bơi xuống thẳng về phía Kinh Dài, nơi trú ngụ của Huệ. Chàng thuật đầu đuôi tai nạn đã xảy ra rồi quỳ xuống lậy. 
Ông Hương Kiểm Lưu, cha của Huệ ban đầu tức giận nhưng ông nghĩ đến tương lại Huệ, thở dài. Hùng nài nỉ thống thiết: 
– Ông xã Tư đa mưu túc trí, dám giết tôi để trả thù, giết cách này hoặc cách khác… Xin bác bình tĩnh giúp đỡ cháu. Cháu hiểu phận mình chưa xứng đáng làm con rễ trong gia đình. 
Ông Hương Kiểm bỗng giật mình: 
– Xã Tư bây giờ ở đâu? 
– Dạ, ổng uống rượu ở quán, tại xám Vàm. 
– Nguy lắm. Lan ơi! 
Lan bước tới, khép nép cúi chào Hùng. Ông Hương Kiểm day lại Hùng: 
– Mầy đi cho khuất, kẻo thiên hạ sanh nghi. 
Hùng trố mắt, bước ra về, nghe ông Hương Kiểm căn dặn Lan: 
– Con tới nhà chị Huệ, nói như vầy, như vầy… Kẻo người nói một đàng, người cung khai một nẻo. Ði cho gấp kẻo… xã Tư về trước. À! Ðem nải chuối cau này, gọi là mượn cớ thăm viếng. 
Năm ba hôm sau, Hùng cúi đầu làm việc, chẳng dám nhìn Huệ hoặc ông xã Tư. Thái độ ông ta thật khó hiểu, thỉnh thoảng vào phòng nói chuyện rù rì với Huệ rồi trở ra. Hùng mừng thầm hy vọng tai qua nạn khỏi vì chàng đã đánh lạc hướng xã Tư một cách khéo léo. 
Xã Tư mở tủ, trao cho Hùng mười đồng bạc. 
Hùng trố mắt: 
– Thưa ông, chưa tới ngày lãnh lương. 
– Tao cho mầy mượn. 
– Dạ, làm sao tôi có tiền trả lại. 
Xã Tư nói: 
– Tao biểu điều gì, mầy đừng cãi. Ngày mốt, mầy cưới vợ. 
– Dạ, cưới ai? 
Câu hỏi vặn ngược khiến ông Tư càng nghi ngờ. Tại sao biện Hùng thú thật rằng nó yêu Lan nhưng nó lại không biết… Cưới ai làm vợ? Ông ta nói: 
– Cưới con Lan. Tao nói với con Lan rồi. Ông Hương Kiểm đồng ý. Mầy cầm số tiền này may sắm quần áo. Ngày mốt ông Hương Kiểm làm đám nói cho mầy có thể xuống nhà ổng ăn cơm, ở lại đó để làm rể. Hàng ngày, mầy được quyền nói chuyện tình với con Lan. Ban đêm mầy… tự do ra vào phòng của nó. 
Quả thật ông xã Tư là đối thủ lợi hại. Ông ta xuất ra số tiền ấy để làm kế ly gián khiến cô vợ trẻ nghi ngờ mốit ình son sắt của Hùng. Hùng đau xót nhưng chẳng biết nói sao… Ðôi mắt chàng long lanh ngấn lệ: 
– Tôi chưa muốn cưới vợ. 
Xã Tư cười, đắc chí: 
– Thằng này lạ quá. Muốn cưới vợ lại không muốn. Mầy giỡn với ta hả? Người ta cưới vợ rồi cười, mầy lại khóc hận. Mua sắm quần áo đi. Từ giờ phút này, tao cấm mầy nói chuyện riêng với vợ tao, hiểu chưa. Nếu bắt gặp, tao giết mầ. Xứ này, thiên hạ nghe oai danh tao quá nhiều. Tao giết bất cứ ai, nếu tao muốn. Tao không sợ ở tù đâu… Và hễ giết kễ gian thì lương tâm tao không bao giờ ăn năn hối hận gì ráo. 
Hùng ngoan ngoạn cúi đầu. Bơ vơ quá. Bỗng dưng chàng yêu Huệ hơn bao giờ hết. Ngày mốt, chàng làm lễ hỏi Lan. Vô lý quá. Chẳng biết khi hay tin này, thái độ của Huệ ra sao? Xã Tư độc ác thật. hắn ghen tuông, trả thù, bày kế ly gián để giết lần giết mòn cuộc đời Hùng và Huệ. 
Nhưng khối óc non nớt của Hùgn chưa suy luận, tiên đoán nổi những chuyện sắp xảy tới. Ngày mười lăm dương lịch, xã Tư đi hầu quan chủ quận như thường lệ. Huệ nằm rũ rượi trong phòng. Từ khi làm lễ hỏi Lan tới giờ, xã Tư bắt buộc Hùng nghỉ việc mười hôm. Ông ta bảo với vợ: 
– Em đừng hiểu lầm. Anh cho thằng Hùng nghỉ tạm để vợ chồng nó hưởng tuần trăng mật. Sau đó, nó về đây làm sổ sách như trước. 
Huệ ngơ ngác: 
– Mình nói sao? Hùng hưởng tuần trăng mật? 
– Nó ngủ chung một phòng với con Lan. 
Huệ đập tay xuống bàn, giận dữ. Xã Tư liếc thấy sự ghen tuông đang hiện rõ trên mặt vợ. Huệ còn yêu Hùng. Huệ không muốn Hùng… nhập phòng với Lan. 
Ông ta cười gằn: 
– Em giận ai? 
Huệ lanh trí, tìm được câu trả lời: 
– Em giận tất cả mọi người, mới làm đám hỏi mà nhập phòng à? Tục lệ nào cho phép chuyện bất lương đó? 
Ông ta đáp: 
– Tôi muốn như vậy để thằng Hùng khỏi làm chuyện bất lương khác. 
Nói xong, ông ta xuống ghe, ra lịnh cho mấy thằng trạo chèo đi dinh quan chủ quận ở tận chợ Gò Quao. 
Gian nhà trống trải lạ thường. Hồi lâu, nàng thấy Hùng và Lan bước vào. Lan rưng rưng nước mắt khi gặp chị: 
– Chị đừng hiểu lầm. 
Huệ vội đóng cửa phòng: 
– Về đi! Về hết đi! Tao muốn chết. 
Hùng chạy tới, xô cửa phòng, nói nhanh: 
– Huệ, em đừng dại dột. Hễ anh nói, chắc em không tin. Hôm nay, anh dẫn Lan tới đây. Lan sẽ trình bày cho em biết tất cả sự thật. 
Bây giờ, Huệ mới bắt đầu yên tâm. Hai chị em Huệ và Lan ôm nhau khóc nức nở. Lan nói nghẹn ngào: 
– Ông xã bắt buộc Hùng và em phải ngủ chung một phòng để gây dư luận xấu. Thiệt ra anh Hùng là người tốt. Ðêm đó, anh Hùng ngủ dưới đất, em thì ngủ một mình trên giường. 
Hùng nghiến răng: 
– Khổ quá. Tại sao ba má không cản ngăn. 
– Dạ, ông xã hăm he. Nếu ba má từ chối thì ông xã sẽ làm lớn chuyện, giết chị lập tức. Ông nói chị tư tình với anh Hùng… 
– Chị hiểu rồi… Vợ chồng em về đi! 
Hùng và Lan vô cùng bối rối. Cuộc thăm viếng này sẽ làm cho Huệ uất ức đến mức tự tử. Chàng nàn nỉ Huệ: 
– Lan đến thăm để nói sự thật. Huệ à, anh thề chung thủy, sống chết với Huệ. Anh chỉ sợ Huệ thay lòng đổi dạ thôi. 
Rồi chàng lau nước mắt cho Huệ. Nàng nắm tay chàng: 
– Anh nhớ giữ lời hứa. Em sợ rằng… 
– Thôi, em đừng nói nhảm! Lan cứ về một mình. Anh ở lại đây làm sổ sách… 
Khi xã Tư trở về nhà. Huệ và Hùng đều sợ sệ. 
Mọi khi ông ta về vào khoảng bảy giờ tối. Phen này, mười hai giờ trưa, ông ta về để làm gì? Phải chăng Hùng và Huệ vừa sa vào cạm bẫy ông ta? 
Hùng đứng dậy chào: 
– Ủa! Ông không đi dinh quận sao? 
Xã Tư vỗ vai Hùng: 
– Ðùng gọi tôi bằng ông! Hai đứa mình là bạn rể với nhau. Cứ gọi tôi bằng anh. 
Rồi ông ta hạ giọng: 
– Hay gọi thân mật… bằng thằng, thằng xã Tư cũng được. 
Huệ đỡ lời: 
– Mình nói khó nghe quá. Hay là bữa nay mình uống rượu nhiều? 
– Mới uống rượu chút ít. Tôi mới mua được một con khỉ nên lật đật trở về làm tiệc. Mình ăn thịt khỉ chớ. Ðể Hùng xuống ghe, đem con khỉ lên. 
Nói xong, ông xã Tư nắm tay, dắt vợ vào phòng. 
Ngoài này, Hùng bước lững thừng ra sân, xuống ghe với hai thằng trạo thân tín của ông xã. Chiếc ghe rời bến, vào mương nhỏ khuất lá um tùm. 
Xã Tư đem cái ly to lớn để trên bàn nói rối rít với Huệ: 
– Máu khỉ uống bổ lắm. Hổm rày, em xanh xao… 
Huệ trợn mắt. Linh cảm như báo trước điềm không may: 
– Ừ! uống bổ lắm. 
Cánh cửa hé mở. Một thằng trạo bước vào, nâng một tô rượu đỏ ngầu. Xã Tư cười hề hề: 
– Em uống đi. 
Huệ nâng tô rượu lên… Trong đáy tô rượu đỏ ngầu, tanh tanh, dường như ẩn hiện một dáng người… Nàng run rẩy, buông tay. Tô rượu đổ xuống bàn, văng vào áo ông xã. 
Xã Tư hỏi: 
– Em chóng mặt hả? 
Huệ nói gắt: 
– Em muốn mửa. Uống rượu như vầy, dã man quá! Dã man! 
Xã Tư hiểu rằng Huệ đang chửi mắng mình. Ông ta nắm tay vợ: 
– Em buồn mửa thì ngoài nầy… Mửa ở đây, dơ dáy nhà cửa. 
Ông ta đưa Huệ đến cái mương sau vườn rồi dắt nàng xuống chiếc ghe, nơi Hùng nằm sóng sượt tắt thở trong vũng máu linh láng. 
Huệ chạy trở vào nhà, rút thanh đoản đao – thanh đoản đao treo gần cái bàn toán, ngay cửa phòng – Nàng chờ đợi, đứng nép bên cửa. 
Nàng đâm ngay bụng xã Tư rồi đâm vào ngực mình ngã gục. 
Từ đó về sau, thiên hạ đồn rằng Huệ trở thành ma quỷ linh thiêng, gọi là cô Huệ, cô Huê ở cây dương đình làng Tây Uyên. Huê chính là Huệ, nói theo giọng kỵ húy.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Google photo

20. Con Rắn

Con rắn ấy vừa nhỏ vừa dài, giống như chiếc đữa ăn cơom. Nó bờ tới, bò lui trên nệm rồi kéo dài thân hình ra, vặn ngược, vặn xuôi. Cặp mắt rắn đỏ ngầu như tóc lửa, lưỡi le dài thòng. Chập sau, bụng rắn tươm ra hai giọt máu long lanh như hai giọt nước mắt… Bụng rắn lại xé ra, hàng chục con rắn nhỏ nhô đầu phá bụng mẹ rồi nhảy lên chiếc mền của bà cai tổng Bá. 
Bà cựa quậy nhưng tay chân đều tê liệt. Bầy rắn con chui xuống mền, bò lăng nhăng, lạnh ngắt trên bụng bà cai tổng. Bà ú ớ, co tay, duỗi chân, đôi mắt mở thao láo trong bóng đêm. Từ trong gan ruột bà lửa bốc phừng phừng… bầy rắn con ấy bò tới bò lui, cắn lộn nhau để giành thức ăn, giành chỗ ở. 
Ngọn đèn chong lu dần trên đầu giường. Gà gáy văng vẳng, báo hiệu đầu canh năm. Bà cai tổng vặn tim đèn lên cao, bước ra khỏi phòng ngủ… 
Mụ Hai đang ngủ ở giường ngoài lồm cồm ngồi dậy: 
– Thưa bà, bà làm gì mà thức quá khuya vậy? 
Bà cai tổng đáp: 
– Mệt quá. Nhưng cũng may. Như vầy là tôi dậy sớm. 
Ðến bộ ván, bà cai mở nắp ô trầu, đem chai dầu cù là, xoa trên bụng. Mụ Hai im lặng. Từ ba tháng qua, cứ thỉnh thoảng là bà cai tổng lên cơn đau, một thứ đau đớn… không thể tả được. Bà hồ nghi rằng từ khi ông cai tổng mãn phần đến giờ, bà con bên chồng toa rập nhau để ám hại bà, hòng chia gia tài. Ðứng về mặt pháp lý mà xét, bà là người chánh thức được quyền thừa hưởng tài sản cò bay thảng cánh ấy. Tuy vợ chồng ăn ở với nhau không con nhưng xưa kia giữa hai người có làm giấy hôn thú. Bà đã nhiều lần nghe bà con bên chồgn hăm doạ sẽ giết, sẽ thuốc, sẽ thư… Bao nhiêu kế hoạch đề phòng dường như gãy đổ. Bà mang chứng đau bụng kỳ lạ. Mấy ông thầy thuốc ta trong xóm bảo rằng bà đau máu. Thầy thuốc tây ở Rạch Giá nói ngược lại: bằng chẳng đau đớn gì cả. 
Hai khoa Tây y và Ðông y đều vô lý. Bà linh cảm rằng mình đã bị “thư” một vật gì trong bụng. Và vật đó là một con rắn hoặc một bầy rắn. Giấc mơ kinh khủng hồi nãy là bằng chứng tuy mơ hồ nhưng đáng tin cậy nhứt. 
Mụ Hai thừa hiểu tâm bịnh của chủ nhà: 
– Thưa bà, trước sau gì bịnh cũng hết. Bà ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức. Kẻ gian manh không dám hại bà đâu! 
Bà cai tổng lắc đầu: 
– Chắc nó thư một con rắn vô trong bụng tôi. 
– Xin bà đừng nói nhảm mà hao gầy thân thể. Thưa bà, nếu bà tin cậy thì con sẽ chỉ cách. 
– Kiếm người mở bùa, mở thư à? Tốn kém bao nhiêu, bà không tiếc. Bà chỉ sợ tiền mất tật còn. Nhứt là tiếng đồn đãi xấu xa của thiên hạ. Con Hai biết không? Tụi nó trông cho bà chết, nếu không chết thì bà phải có chữa hoang để tụi nó chia gia tài. 
Mụ Hai nhớ tơói người tình nhân của mình, giờ phút này đang ngủ chèo queo trong lò gạch cũ hoang vắng của cậu Ba Chiêu. Anh ta tên là thầy Ngọc, chuyên nghề xem địa lý, xem tử vi và đánh bài gian lận. Mấy lần rồi, mụ đến gặp thầy Ngọc để vấn kế. Thầy Ngọc một mực từ chối: “Dục tốc bất đạt, Bà cai tổng ưa nghi ngờ.” Mụ Hai thúc hối: “để quá trễ, bà cai tổng chết thì sao.” Thầy đáp: “Trước sau gì, trái cây chín cũng phải rụng nhưng bây giờ nó còn hơi xanh.” 
Trời tờ mờ sáng, bà cai tổng nằm lim dim trong khi mụ Hai lui cui nấu nước pha trà. Bà lại dụi mắt: 
– Thôi! Mệt lắm. Con Hai biết cách nào trị bịnh cho bà không? 
Mụ Hai nhớ tới Thầy Ngọc nên trả lời: 
– Dạ, có ông thầy này mở bùa hay lắm. Ðể con tới nhà ổng, nói rõ chứng bịnh của bà rồi thỉnh thuốc về. 
– Thỉnh thử coi. Nhớ dặn thầy đừng tiết lộ cho ai biết. Bà hồ nghi tron bụng… có con rắn sống nhăn đang cựa quậy. Ban đêm, thỉnh thoảng bà nằm chiêm bao thấy bầy rắn hiện về, chun vô bụng.

Nảy giờ, ngồi nói chuyện với thầy Ngọc hơn nửa tiếng đồng hồ, mụ Hai ấm ức quá chừng: 
– Mình hãy cố gắng. Nếu trị dứt bịnh, bả dám đền ơn năm bảy trăm hoặc một ngàn đồng. 
Thầy Ngọc ngồi chồm hổm, đôi mắt lấp lánh trong khung cảnh tối om: 
– Tiền bạc, ai mà không ham. Tôi đâu ngu dại bỏ lỡ cơ hội. Ði chơi ngoài đường, gặp ai bỏ rơi một hai xu tôi còn cúi xuống lượm huống chi số bạc to tát. Thôi, em mang gói thuốc này về, nói rằng bả bị thư như vầy, như vầy… chớ không phải bị thư bầy rắn. Ðừng cãi lời tôi mà hư hỏng đại sự. 
Mụ Hai ra về, tức giận vô cùng. Tại sao thầy Ngọc chỉ biểu những việc lạc đề, gãi không trúng chỗ ngứa của bà cai tổng. 
Mụ vừa vào tới sân, bà cai tổng chạy ra hỏi: 
– Xong không? 
Mụ đáp: 
– Tôi đem gói thuốc này về cho bà. Thầy giảng nghe hay lắm. Vô nhà, tôi nói đầu đuôi căn bệnh cho bà rõ. 
Ðể giữ bí mật, mụ Hai đóng cửa ngõ, đóng cửa cái rồi trình bày dông dài về kỹ thuật “thư, ếm” do một ông thầy vô danh nọ tiết lộ: 
– Thầy đàng hoàng lắm, muốn làm việc nghĩa, cứu dân độ thế chớ không cầu danh, cầu lợi. Vì vậy thầy giấu tên thầy và chẳng bao giờ tọc mạch hỏi tên tuổi của bệnh nhân. 
Bà cai tổng thích chí, khen tấm tắc: 
– Con Hai mầy khôn lanh quá. Ðùng nói cho bất cứ ai biết rằng bà mang bệnh. Bà con của ông cai tổng hay không, họ đàm tiếu hoặc tìm cách”thư” loại bùa khác, độc hại hơn. 
Bằng một giọng bí mật, mụ Hai cho biết: Mấy thầy”thư” thường bỏ thuốc vô thức ăn hoặc nước uống. Sau khi ăn uống nhằm thuốc, bệnh nhân chẳng bao giờ hay biết. Nhiều người bị thư từ hai ba năm rồi sau đó ăn nhằm thịt gà, thịt bò, thịt ngỗng… bệnh mới phát ra. Nếu muốn tìm thủ phạm bệnh nhân chẳng còn nhớ là vào dịp nào, do ai thuốc. 
– Ông thầy bí mật suy luận rất lâu, phân biệt mấy kiểu thư, nào thư cây đinh, nào thư con rùa… 
Bài cai tổng hỏi nhanh: 
– Con gì trong bụng của bà đây? 
Mụ Hai nói e dè: 
– Dạ, con muốn nói nhưng sợ bà không tin. 
– Cứ nói. Ai giận hờn mà sợ. 
– Dạ, thầy nói trong bụng của bà có một miếng da trâu. Lâu ngày miếng da trâu ấy dày lên, nở lớn, lông trên bụng mọc ngày càng dài. 
Bà cai tổng lắc đầu: 
– Thầy nói bậy! Con rắn. Nó thư hàng chục con rắn con, trong bụng bà. 
Mụ Hai vẫn trả lời đúng theo lời dặn riêng của thầy Ngọc: 
– Dạ, đó là miếng da trâu, cắt miếng nhỏ dài nên nó nhút nhít giống như con rắn. Bà còn nghi ngờ sao? Thầy nói, da trâu phơi khô, tán ra nhuyễn như bột, nếu bỏ vô nước thì nó nở ra. 
Bà cai tổng sực nhớ tới bao nhiêu”điều tai nghe mắt thấy” liên quan tới thịt trâu. Loại thịt trâu ngâm trong nước lạnh, chẳng bao giờ hôi thúi hoặc rã xác, trái lại nó cứ tươi thêm. Khi gặp xác trâu nổi lềnh bềnh trên sông, nhiều người bơi xuồng ra, cầm dao lóc mớ thịt khuất dưới mặt nước đem về ăn ngon lành. Lại còn sự mầu nhiệm khác: thịt trâu khó tiêu, có người mới nằm chỗ, ăn thịt trâu rồi trúng mà chết trên giường với miếng thịt còn nằm ngoài cuống họng. 
Bà gật đầu: 
– Cũng có lý. Bao tử của mình đầy nước và nóng hổi. Da trâu nở ra, còn tươi xanh. Ðể bà uống thử một phen. Thuốc đâu rồi? 
Mụ Hai trao cho bà cai tổng gói thuốc bọt của thầy Ngọc rồi khuyên bà nên uống lúc còn đói và nhịn ăn để chờ đợi lúc miếng da trâu nọ xổ ra. 
Sáng hôm sau, bà cai tổng thở dài. Mụ Hai đã đoán trước những lời bà cai tổng sắp phiền hà. Và mụ cứ im lặng, hồi lâu mới dám thưa với chủ nhà: 
– Thuốc dở quá! Nếu vậy, phải tìm thầy khác. Nếu thuốc công hiệu, miếng da trâu đã tuôn ra ngoài rồi. 
Bà cai đáp: 
– Nhớ kiếm ông thầy thuốc khác. Thằng cha thầy da trâu này bói lạc quẻ. Báo hại bà đói bụng rồi”trả nợ” muốn thụt con mắt, đứt hơi. Ðấy, cầm năm cắc bạc… đền ơn tạm cho thằng cha da trâu đó… Nhớ ăn nói khéoléo, kẻo nó giận rồi thư vô bụng bà một miếng da trâu thứ thiệt khổ quá! Trời ơi… bầy con rắn cứ quậy trong bụng bà hoài… Hồi tối, bà nằm mê… 
Mụ Hai lẩm bẩm: 
– Một con rắn đủ nguy hại rồi, nói chi tới mười con rắn. Bà rán chờ đợi. Ðể con kiếm thầy khác. 
Ðang nằm lim dim trong lò gạch, thầy Ngọc chợt thấy mụ Hai bước vào. Mụ cằn nhằn: 
– Mình báo hại quá. Bà cai tổng đòi thứ thuốc khác, thứ nào xổ ra nguyên bầy rắn con trong bụng bả. 
Thầy Ngọc mỉm cười: 
– Bà ta là tay đa mưu, đa nghi. Dục tốc bất đạt. Cái trái cây mới chín nhưng chưa mùi. Hái quá sớm, thất bại, uổng lắm. 
Rồi hút thêm điếu thuốc, thầy gật gù: 
– Nhứt là trái này vừa bổ, vừa ngon. Em Hai ơi! Mình ơi! Lại nằm gần anh để nghe anh làm bài toán thứ nhì. Ráng chịu cực với anh chừng một hai ngày nữa. Em về thuật lại như vầy… như vầy… rồi cho bả uống gói thuốc này. 
Nói xong, thầy Ngọc tiễn người yêu ra ngoài cửa lò gạch: 
– Phải kiên nhẫn, ban đầu mình dở rồi sau đó mới trở thành hay. Nhớ nghe không! Em cưng nhớ nói rằng em đã bỏ ông thầy thứ nhứt và đó là gói thuốc của ông thầy thứ nhì. 
Trưa hôm ấy, mụ Hai tường thuật việc gặp gỡ với ông thầy”mở thư” thứ nhì. Theo lời mụ, ông thầy này đã lớn tuổi, đầu rậu tóc bạc, mới xem qua ngỡ như ông tiên trên núi Tà Lơn. Ông”tiên” này cho rằng gia chủ bị thư một con đĩa trong bụng. 
Bà Cai tổng sáng mắt lên: 
– Có lý hơn ông thầy thứ nhứt. Con đỉa nó dài, nó cựa quậy, sanh đẻ ra đỉa con. Hèn chi trong giấc chiêm bao bà thấy nó dài… như con rắn. Nhưng xưa nay bà đâu có ra ngoài vườn hoặc ra ngoài ruộng mà bị đĩa chun vô bụng. 
Mụ Hai cười dòn: 
– Bà nói nghe chưa xuôi. Con đỉa sống dai lắm. Tụi bất lương đem con đỉa phơi khô… vài ngày sau đem ngâm xuống nước, nó sống nhăn. Ông”tiên” còn cho biết: Ðỉa sanh con đẻ cháu bằng trứng và bằng da… tụi bất lương cắt một khúc da đỉa, đemphơi, tán ra thành bột rồi bỏ vô lu nước. Bà uống nhằm thứ nước đó. Miếng da đỉa vô bao tử, nở ra, trở thành đỉa mẹ. Rồi da của đỉa mẹ sanh ra đỉa con. 
Lý thuyết ấy hơi khó tin nhưng bà cai tổng cố gắng dung nạp, như kẻ chết đuối ngoài biển khơi, tình cờ vớ được một cái phao nhỏ xíu, một thứ phao không phải là phao, vì bản thân của nó cũng sắp chìm. 
Nhưng thà có còn hơn không! Ðêm ấy, bà cai tổng uống liều thuốc thứ nhì với thái độ gượng gạo… để đi tới kết quả là nghe con vật gì cấu cào trong bụng nhưng chẳng bao giờ thấy nó bị tống ra. Bà nằm thiêm thiếp, trong giấc mơ kinh khủng lại thấy con rắn nhỏ màu vàng hiện về. Rắn ta níu đầu níu đuôi vào góc giường như giăng võng rồi xé tét cho bụng nứt ra… Hàng chục con rắn nhỏ nhảy xuống mền, chui vào bụng bà. Rắn ấy càng ngày càng to dần, trở thành hàng chục con rắn mẹ, mỗi con rắn mẹ lại đẻ hàng chục rắn con khác. Bà tưởng tượng bầy rắn khổng lồ đang nô đùa, bò tới lui, le lưỡi, phun hơi độc vào tim, gan, phổi phèo… 
Mụ Hai chạy vào: 
– Thưa bà… 
Bà cai tổng ngừ ngừ như con thú bị thương: 
– Chết rồi… Con Hai mầy kiếm dùm bà một ông thầy khác. Bụng của bà có con rắn, thứ gì nho nhỏ chớ đâu phải miếng da trâu hay con đỉa… Phải kiếm ông thầy biết”mở thư”. 
Mụ Hai sực nhớ lời căn dặn của thầy Ngọc: 
– Dạ. thầy”mở thư” bây giờ khó kiếm lắm. Bà cho con xin chút ít tiền để con đi vài ngày ở bên Giồng Riềng… 
– Tiền đây. Con Hai nhớ đi cho nhanh rồi về cho gấp nghe… Bà trông cậy vào một mình mầy mà thôi. Bà khổ lắm, chỉ còn là cái xác chết để cho bầy rắn con rúc rỉa. Tốn kém bao nhiêu, bà chẳng tiếc. Bán nhà bán đất, bà không màng… miễn là đem con rắn mẹ với bầy rắn con ra khỏi bụng… Ác độc quá.

Sau một đêm ân ái với thầy Ngọc, mụ Hai khoan khoái nghĩ tới số tiềncúng tổ khá to: 
– Mình nên cẩn thận. 
– Em đừng dạy tôi điều ấy. Em về trước đi. 
Thầy Ngọc lắc đầu: 
– Em ngu quá vậy? Em phải về trước, bảo cho bà cai tổng biết. Hai đứa mình là kẻ xa lạ… Anh tới sau. 
– Mình nói đúng. Ðể em về. 
Thầy Ngọc nói gắt: 
– Mắc dịch! Có cái đó, anh căn dặn kỹ mà em vẫn quên. 
Mụ Hai trở vào lò gạch, nhận lãnh một cái ống trúc khá nhỏ rồi giấu trong ngực. Thầy Ngọc nói rỉ vào tai mụ vài câu, mụ đưa ống trúc lên tai để nghe rồi nhướng mắt.

– Thưa bà. Thầy sắp tới. Ông thầy này khó lắm. Ông hứa bảo đảm sẽ mở thư cho bà thấy nhãn tiền. 
Bà cai tổng mừng quýnh: 
– Thiệt vậy không? 
– Dạ… ổng tới kìa! 
Thầy Ngọc được bà cai tổng đón rước trọng thể. Thầy xem sắc mặt bà cai rồi nói khẽ: 
– Xin phép bà cho tôi xem mạch và coi mấy lằn gân xanh nổi trên bụng: 
Bà cai tổng nói: 
– Nhưng… xin thầy vô buồng của tôi mà xem mạch, kẻo thiên hạ dị nghị. Hai à! Con vô đây với bà… 
Thầy Ngọc sờ vào cườm tay bà cai tổng. Mụ Hai đứng đó để đóng vai tuồng của người thứ ba. Bà cai tổng nói: 
– Hai à… con ra ngoài, khép cửa cho kỹ. Hễ có ai tới thăm thì nói là đang mệt. Ðừng để họ vô nhà rồi đàm tiếu. 
Thầy Ngọc gật đầu: 
– Ðàm tiếu thì tôi không sợ. Tôi chỉ sợ… là bùa của tôi mất linh nghiệm. 
Mụ Hai bước ra khỏi phòng. Trong này, thầy Ngọc tiếp tục bắt mạch ở cườm tay rồi xem gân trên bụng của bà cai tổng. 
Thầy mỉm cười: 
– Ðêm nay là biết… Thôi, để tôi ra ngoài, lo bào chế thuốc cho bà uống. Cỡ chín hay mười giờ khuya là xổ ra. Nhớ kêu đứa ở để nó coi chừng kẻo… con thú đó còn sống. Tôi cũng thức tới giờ phút đó… 
Sau khi uống mớ thuốc tán, bà cai tổng nằm liệt giường, nhịn đói. Giây lâu, thầy Ngọc vào phòng của bà để xem lại bộ mạch, rót nước cho bà uống rồi đưa ra các lý luận tràng giang đại hải về rắn trung, rắn nạp dưa, rắn Xiêm, rắn Ấn Ðộ, rắn Tà Lơn. 
Trời đã tối. Thầy Ngọc nói ta: 
– Ðứa ở đâu rồi? Tôi muốn uống trà. 
Mụ Hai đến gần tình nhân, mắng yêu: 
– Mình dám kêu tôi bằng đứa hả? 
Thầy Ngọc nói: 
– Chừng bả xổ bùa em giấu cái ống tre trong áo rồi la hoảng, gọi anh tới. Nó còn sống không? đừng sợ gì ráo. 
Từ trong buồng, bà cai tổng kêu rú lên: 
– Hai ơi! Bà mệt quá. Hai ơi. Vô đây tiếp sức với bà. Trời ơi… cái gì nôn nao trong bụng quá! 
Mụ Hai dạ thật to, chạy tất tả, tay sờ vào cái ống tre. 
Ngoài này, thầy Ngọc lắng nghe… chờ hiệu lịnh. 
Bỗng nhiên, mụ Hai quát to: 
– Bà ơi! Con gì sống nhăn đây nè! Ðể con đem cây đèn chong lại coi cho kỹ… Úy trời đất ơi! 
Bà cai tổng rú lên: 
– Con rắn hả? Thầy ơi! Vô coi dùm thử coi. Thuốc hay quá… Từ rày về sau… 
Thầy Ngọc đốt thuốc hút rồi đến cửa phòng, gõ vài tiếng xin phép vào để tỏ rằng ta đây là người đứng đắn, tôn trọng thuần phong mỹ tục… Chập sau, mụ Hai mở cửa: 
– Thầy coi thử… Con rắn ghê quá. Nó nằm lờ đờ… 
Thầy Ngọc nói lông bông, để đùa với mụ Hai: 
– Bị nhốt trong… bụng, nó ngộp thở. 
Rồi day qua bà cai tổng, thầy nói: 
– Bà thấy khoẻ khoắn chưa? Bà đói bụng không? 
Bà cai tổng nói nhanh: 
– Hai à? Con ra ngoài, lo nấu cháo cho bà ăn. 
Mụ Hai bước ra. Trong phòng, chỉ còn bịnh nhân và thầy bùa. Ai nấy đều thoả mãn, vui ra mặt. Kẻ thì mừng được hết bệnh, kẻ thì mơ ước xa xăm hơn: 
– Bà cai à! Tôi muốn về gấp nhưng… bà đã thấy, mỗi lần uống thuốc chỉ có xổ ra một con rắn thôi. Trong bụng bà, còn chừng mười con rắn khác… Mười ngày nữa, mỗi ngày xổ một con. 
Bà cai gật đầu: 
– Tôi hiểu rồi. Thầy chịu phiền thức với tôi mười đêm nữa, tại đây chớ gì? 
– Nếu bà hiểu… tấm lòng của tôi, tôi đâu ngại thức khuya dậy sớm. 
Vài tháng sau, bà cai tổng bỗng lớn bụng. Rồi sau tháng Giêng, bà xổ ra một đứathầy rắn con, giống hết gương mặt láu cá của thầy Ngọc.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 29 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu (Google)

19. Yêu cho được

Cặp rằng Hực ngồi uống trong quán, tại chợ Ngã Năm. Bỗng đâu từ ngoài cửa, một thanh niên bước vào, kéo ghế ngồi, gọi hủ tiếu. Như bẽn lẽn, sợ sệt, thanh niên nọ day mặt vào vách. 
Cặp rằng Hực nhận ra: đó là thằng Cưng, thuộc vào hàng thanh niên đa tình, đẹp trai, đắt mèo nhứt trong xóm. Thằng Cưng đã nhiều lần đến tò vè cô Huệ, con gái cặp rằng Hực. Ðôi bên dường như tâm đầu ý hiệp lắm. 
Ðể chận đứng những hậu quả có thể xảy ra, cặp rằng Hực nói đổng, với giọng hách dịch thường lệ: 
– Bọn hậu sinh quá dở… 
Rồi uống thêm một hớp rượu, nhìn thẳng vào mặt Ba Lự, người chủ quán: 
– Phải vậy không ông chủ? Tôi nói chuyện… đầu trúng, đầu trật, ông cu;4ng nên trả lời với tôi chớ? 
Ba Lự đành nén giận, tránh mọi việc gây gổ với cặp rằng Hực. Hắn là tay cường hào nhứt nhì tại chợ này. 
– Dạ phải. Ông nói đúng. 
Cặp rằng Hực quắc mắt: 
– Cái gì mà phải, cái gì mà đúng. Tôi không ưa kẻ nịnh hót, tôi muốn làm bạn với người ăn ngay nói thẳng. 
Ba Lự nói tiếp, giọng thản nhiên: 
– Ông cặp rằng nóng quá, tôi nói chưa hết lời. Bọn hậu sanh quá dở vì… chúng nó thiếu kinh nghiệm trường đời. Tuy nhiên, chúng nó hay hơn người lớn tuổi. Thí dụ, chúng nó biết cầm lái xe hơi, biết đánh nghề võ, biết… 
Lời nịnh hót ấy khiến cặp rằng Hực khoái chí. Sẵn dịp ông ta tấn công thằng Cưng, gọi là cảnh cáo để nó sợ, không dám ve vãn con gái ông ta nữa: 
– Nhiều thằng hậu sanh bày mưu kế để o mèo. Tụi nó muốn qua mặt người trưởng thượng… 
Ông ta chỉ vào ngực mình, nói tiếp: 
– Cặp rằng Hực này hồi đó o mèo đủ trăm cách. Tụi hậu sanh làm sao o mèo bằng… thằng này. 
– Nghĩa là sao? 
– Nghĩa là đám hậu sanh quá dở. Hễ o mèo dở thì có ngày bị trói, đóng gông hoặc bị đánh lỗ máu đầu. 
Rồi cặp rằng Hực gọi to. 
– Phải thẳng Cưng ngồi ăn hủ tiếu đó không? Lại đây uống rượu cho vui mậy… 
Vốn là tay giàu bản lĩnh, thằng Cưng đứng dậy, đến gần cặp rằng Hực. Từ bốn tháng qua, nó tư tình với cô Huệ, nói chuyện riêng được bốn lần, gởi tho tình được năm lần và nắm tay người đẹp hàng chục lần. May thay, chưa lần nào cặp rằng Hực bắt gặp quả tang, thằng cưng nghĩ thầm: 
– Bất quá ông ta nói bóng nói gió, mắng chó mắng mèo. Nếu muốn hành hung hoặc bắt bớ, ông ta đã hành động kiểu khác. 
Cặp rằng Hực ra vẻ ta đây là bậc cha chú, rót rượu vào ly, thúc giục từng chặp: 
– Uống đi mầy Cưng. Ðừng e ngại. Bữa nay, tao dạy mầy cách o mèo. Mầy còn non tay ấn lắm. Hồi còn nhỏ, tao khôn khéo hơn mầy nhiều. 
Thế rồi cắp rằng Hực kể lại một giai thoại gay cấn nhứt do ông ta đóng vai chánh, hồi hai mươi năm về trước. Ông ta có người tình nhân trẻ đẹp. Cô ấy bị gả ép làm vợ bé của viên cai tổng già nua nhưng nhiêù tiền nhiều bạc. Khi rước dâu, cắp rằng Hực đứng chàng ràng trước mặt người yêu. Viên cai Tổng mắng nhiếch: “Mầy là đồ con nít.” Cặp rằng Hực đáp: “Tôi không chịu thua ông đâu, mặc dầu tôi trẻ tuổi.” Viên cai tổng cười gằn: “Tao đố mầy…” Về nhà, cặp rằng Hực thức liên tiếp năm sáu đêm, hình vóc ốm o, cặp mắt sâu hoẳm theo kiểu Câu Tiễn nằm gai nếm mật để tìm cách… trả mối thù… tình! 
Thuật đến đó, cặp rằng Hực uống thêm rượu rồi vỗ vai thằng Cưng: 
– Mày biết tao làm cách nào để ăn nằm với vợ bé của ông cai tổng không? 
Thằng Cưng đáp: 
– Dạ, cháu chưa gặp cảnh đau xót ấy. 
– Nếu gặp mầy làm sao? Thí dụ như nay mai con mèo của mầy bị gả ép cho người khác. 
Thằng Cưng nổi giận, nói lầm bầm: 
– Một là tôi trốn bỏ xứ. Hai là tôi… đâm cho chết người tình địch. 
Ba Lự giựt mình: Người chủ quán nên tránh chuyện gây gổ trong quán. Ông ta đỡ lời dùm thằng Cưng: 
– Mầy ăn nói nghe sanh tử quá! Làm thế nào mầy không bỏ xứ, không đâm chém mà gần gũi được người yêu cà. Nếu chịu thua thì mầy xin thọ giáo với ông cắp rằng… cho vui! 
Thằng Cưng đáp: 
– Tôi chịu thua. 
Lại thêm một cơ hội để cặp rằng Hực khoe tài khoe trí. Ðại để, viên cai tổng bố trí cẩn thận, theo dõi mọi hành động của cô vợ trẻ tuổi. Ban đêm, ông cai lắng nghe từng tiếng chó sủa, từng tiếng khua động ở mái ngói, ở nhà bếp và nhà… tiểu tiện. Bất cứ khách lạ nào muốn nói chuyện với cô vợ đều phải trình diện với ông cai, và nói thật lớn tiếng cho ông cai nghe rõ. Ngày qua tháng lại, ông cai tổng vẫn… canh phòng nghiêm ngặt. Ðến hôm đó, có người chị ruột của cô vợ bé đến kêu cửa: 
– Xin ông cai cho cô Tư về thăm nhà. Con Năm đau nặng lắm, sợ chịu không nổi đêm nay. 
Cô Tư – vợ bé ông cai – liền thỏ thẻ với chồng: 
– Mình cho em về thăm con Năm. Nó là em út trong gia đình. Từ hồi về ăn ở với mình tới nay, emc hưa gặp mặt nó. Bây giờ, nó đua nặng, dầu gì đi nữa, em cũng phải về gặp mặt nó lần chót. 
Thế là ông cai đồng ý cho vợ về thăm với điêù kiện có ông đi theo… bén gót. 
Ðến nơi, cô vợ trẻ đẹp vào buồng để nói chuyện, rót nước an ủi đứa em gái. Ông cai tổng ngồi ngay cửa buồng, day mặt ra ngoài để canh chừng. Cửa buồng khép he hé. Ông cai tỏ ra đứng đắn, chẳng muốn nhìn cô Năm – Cô em vợ – đang nằm sóng sượt. Nhưng hỡi ơi! Cô vợ bé bèn thừa cơ hội ấy mà chun xuống gầm giường của cô em. 
Ba Lự cười vang: 
– Thế là cô vợ bé được phỉ nguyền ước ao với chàng trai đa mưu, đa tình đang nằm dưới gầm giường, chờ sẵn. 
Cặp rằng Hực gật đầu: 
– Ðúng vậy! Tôi bố trí kế hoạch đó. Tôi năn nỉ cô Năm đến gãy lưỡi, tôi đòi tự tử nên cô Năm đồng ý cho tôi rình sẵn. Tôi nói rõ: từ năm sáu đêm trước, mỗi đêm tôi nằm sẵn dưới gầm giường để chờ đợi… một vài phút trả thù ấy. Thật ra, tôi đâu có ăn nằm với người yêu cũ. Tôi muốn giữ thể diện làm trai, thực hiện lời thách đố hôm trước. Vì vậy gia đình cô Năm không là khó dễ… 
Nói xong câu chuyện, cặp rằng Hực đứng dậy: 
– Mầy Cưng. Có giỏi như tao thì hãy có mèo. Nếu ngu ngốc hơn, mầy nên trốn đi xứ khác. 
Rồi ông ta day lại chủ quán: 
– Ba Lự à! Nhớ ghi tiền rượu, thủng thỉnh tôi trả. Rượu bữa nay uống… “hét,” gắt cổ quá. 
Ba Lự nhìn theo cặp rằng Hực rồi lật sổ: tổng cộng số nợ của tên “ác bá” đó đã lên tới mười lằm đồng cộng thêm hai cốc nữa là mười lăm đồng hai cắc, một số tiền to tát hồi bấy giờ. 
Vì số tiền ghi sổ đã lâu tới mức to tát mà câu chuyện lại tiếp tục như sau: Ba Lự gọi thằng Cưng đến nói rỉ vào tai: 
– Mầy làm như vầy, như vầy… cho bõ ghét. Nhà cặp rằng Hực trống hoang, ban đêm chỉ có con Huệ ngủ phía gần nhà bếp. Ta bố trí rồi.. Mầy ráng chờ ngày lành tháng tốt rồi làm như vầy, như vầy… cho thàng cha cặp rằng đó hiểu rằng: hậu sinh khả úy, đám con nít đời nay o mèo giỏi hơn thằng chả gấp bội. 
Ðã tám giờ tối. Thằng Cưng trèo rào, chạy đến cửa nhà bếp của cặp rằng Hực. Tư bề vắng lặng. Bầy cho săn đã chạy ra ngoài vườn, giành nhau miếng da trâu… thủm thủm mà thằng Cưng đã buộc vào gốc dừa. 
Tuy hay biết trước. Huệ vẫn phập phồng trong dạ, mở cái ống khoá rồi kéo nhẹ cánh cửa. Thằng Cưng bước vào buồng của người yêu. Huệ xanh mặt, không dè chàng trai trẻ này táo bạo đến mức ấy. Mẹ nàng ngủ chưa say, cha nàng bận việc, đi thăm lẫm lúc hồi trưa. 
Rủi cha về thình lình, nàng ăn nói thế nào? Lại còn tánh mạng người yêu. Nhứt định cha nàng sẽ đánh chàng gãy xương sống rồi quăng cho xhó xé, nhu lời ông đã hăm he trước. 
Huệ khoát tay làm dấu đuổi người yêu ra ngoài. 
Thằng Cưng lạnh lùng cúi mình, khom lưng bò xuống gầm giường. Nó muốn nói thầm với người yêu: 
– Nếu ổng về bất tử, anh sẽ chun xuống sàn. Hồi xưa, ổng o mèo, ngủ trộm với người yêu bằng cách đó. 
Chàng chun trở ra nhưng Huệ vẫn chưa hiểu tất cả những gì chàng muốn nói. Bỗng nhiên, bà cặp rằng ho khúc khắc. Rồi bà im lặng. Quá nóng ruốt, thằng Cưng toan… hành động gấp. Nó nghiêng mình sát vai người yêu… Huệ chợt rú lên nhưng nàng ngạc nhiên vì thằng Cưng nghiêng mình để thổi tắt ngọn đèn con cóc. 
Hốt hoảng nàng chạy ra sau hè. 
Thằng Cưng mừng thầm, bước ra, nắm tay Huệ. Huệ dừng dằng nhưng rốt cuộc, thằng Cưng cõng nàng lên vai mà chạy ra sau vường, giống hệt những chàng trai đa tình, liều lĩnh ở vài bộ lạc còn theo chế độ mẫu hệ. 
Nó ngồi xuống, kéo tay Huệ: 
– Em đừng sợ. 
Huệ nói hơ hãi: 
– Thôi, em vô nhà. 
– Kỳ quá vậy. Hồi ở trong nhà, em đòi chạy ra vườn. Ra tới vườn, em lại đòi trở vô. 
Huệ lắc đầu: 
– Ðiệu này, chắc em chết quá. Em đâu muốn ra tới ngoài vườn như vầy. 
– Vậy em muốn đi đâu? 
– Em muốn ra ngoài sau hè để năn nỉ anh. Ba em về bất tử lắm. Nhiều khi, ổng về vào lúc chín, mười giờ khuya. 
Thằng Cưng ngồi vuốt ve người yêu rồi giải thích sơ qua kế hoạch. Vừa rồi, ở lẫm lúa Na Rộn, trâu bò mắc toi, chết khá nhiều. Cặp rằng Hực tới đó xem xét tình hình để báo cáo lại với điền chủ là Tây Rôbe. 
Huệ vẫn thắc mắc: 
– Anh đừng… làm ẩu! Thôi, em muốn vô nhà. Ở ngoài này muỗi cắn gần chết. Hồi nào tới bây giờ, ba em đi Na Rộn coi lẫm lúa rồi về nhà nội trong đêm đó. Ổng ngán đám tá điền. 
Thằng Cưng chẳng biết nói sao. Ba Lự đã căn dặn, khuyên nó đừng tiết lộ bí mật, dẫu là với người yêu. Ðêm về khuya, đôi uyên ương vẫn thề non hẹn biển ở ngoài vườn. 
Phía mé sông, lâu lâu có một chiếc ghe thương hồ lướt qua bạn ghe hò hát, chúng tavọng cổ nghe não ruột. Huệ giựt mình. 
– Coi chừng ổng về. 
Thằng Cưng cãi lại: 
– Ổng còn ở Na Rộn. 
– Sao anh biết? 
– Xưa nay, hễ mang bệnh toi bệnh dịch thì trâu bò chết liên tu bất tận suốt tuần lễ. Khi có con trâu hoặc con bò nào chết, luôn luôn người cặp rằng ra lệnh xẻ thịt, phân phát cho đám tá điền. 
Huệ vẫn chưa hiểu: 
– Rồi ông Tây Rôbe ở Sài Gòn sẽ kiện thưa, cách chức ba em. 
– Anh nói chưa hết. Thịt trâu, thịt bò thì tá điền được quyền ăn nhưng cặp rằng phải giữ lại miếng da và cặp sừng để làm bằng chứng, trình cho chủ điền thấy rõ. 
– Nếu chủ điền vắng mặt? 
– Thì hương chức làng lập vi bằng. Ba của em vẫn đưa tờ vi bằng đó cho ông Tây Rôbe xem. Ðiệu này, ba của em còn ở Na Rộn chừng vài ngày… và vài đêm nữa. 
Huệ thở dài. Theo sự hiểu biết của nàng, bầy trâu gần hàng trăm con. Qua trận mắc toi mắc dịch này, ít lắm cũng hao bớt một phần ba. Tây Rôbe vốn là kẻ gắt gỏng, hà tiện, tiết của. Ông ta sẽ khiển trách hoặc cách chức mấy người cặp rằng… Nàng lẩm bẩm: 
– Vái trời cho trâu bò chết vài con thôi. 
Thằng Cưng cười dòn: 
– Nếu chết vài con thì ba em đã về rồi. Anh vái trời cho trâu bò chết hết… để chúng ta mỗi đêm mỗi gặp nhau… Nhưng làm sao có chuyện đó được. 
– Anh này nói bậy bạ quá. Thôi, em vô nhà. 
– Vô làm gì? Ở nói chuyện chơi mà em. 
– Em mệt lắm. Hay là nãy giờ, ba em đã về tới, ổng rình trong nhà. Buông tay em ra. 
Dưới ánh trăng tà, mãi đến đầu canh tư, đôi uyên ương vẫn còn dan díu. Thằng Cưng thỉnh thoảng chạy vào nhà rồi trở ra ngoài vườn: 
– Em đừng sợ, ổng chưa về. Ai biểu em ra ngoài này cho muỗi mòng đỉa vắt nó cắn. Hồi nãy anh tắt đèn… 
Cặp rằng Hực chưa về thật. 
Sau khi hay tin trâu bò ở lẫm bờ Na Rộn chết toi chết dịch, ông ta hoảng sợ đến tận nơi điều tra sự thật. Từ Ngã Năm đến Na Rộn, đường không xa lắm nhưng sông rạch quanh cảm ơn, hai bên đầy lau sậy. Thằng Trạo chèo vất vả suốt hai tiếng đồng hồ. lúc tới lẫm Na Rộn, bọn ta điền cho hay: 
– Có một con trâu bỏ ăn, sắp chết. 
Cặp rằng Hực mừng thầm vì tai hoạ xảy ra không to tát như lời đồn đãi. Ông ta lên bờ, tìm nơi uống rượu, nói đổng với bọn tá điền: 
– Chết hai con càng tốt. Chết một con xẻ thịt ra ít quá. Tá điền thì đông, ai ăn, ai nhịn! Chết một hai con trâu, ông Rôbe chẳng rầy rà gì đâu? 
Côn trâu mắc toi vẫn chưa chết. Cặp rằng Hực cằn nhằn, ngồi uống rượu suông. Trong khi đó, thằng Trạo dựa lưng vào vách ngủ khò. 
Vào khoảng sáu giờ chiều, con trâu mắc toi mới chịu chết. Ðám tá điền bu lại, xẻ thịt, lột da. Cặp rằng Hực ngồi chờ đợi để nhậu cho kỳ được một đĩa thịt trâu xào lăn. 
Nhậu xong, ông ta bỗng áy náy. Con mắt bên trái giựt lia lịa: 
– Cái gì vậy kìa? 
Rồi thúc hối thằng Trạo: 
– Về mầy! Về gấp! 
Thằng Trạo trố mắt: 
– Về… uổng quá! 
– Trước sau gì mình cũng về, thôi thì về phứt. Mầy tiếc mớ thịt trâu hả. Ðể tao biểu tụi nó xẻ cho mầy một thẻo. 
Ðến mười giờ khuya, thằng Trạo bắt đầu gay chèo, khoát nước. Cặp rằng Hực nằm trong chiếc tam bản mui ống, ông ta chép miệng… Hơi rượu xông lên mặt, ông ta buồn ngủ nhưng làm sao ngủ được. Trong phút giây, ông ta ngồi ngổm dậy, bò ra trước mũi tam bản. Nguy rồi, có lẽ vụ trâu chết toi ở Na Rộn là một âm mưu đen tối của bọn thằng Cưng, để thừa cơ hội… Ông nghĩ thầm: 
– Tương kế tựu kế. Nó tưởng mình đi vắng nhà suốt đêm. Mình về bất thình lình cho nó biết mặt. 
Rồi thét to: 
– Mầy Trạo! Chèo mau lên! 
Chiếc tam bản phóng tới. Sau mỗi nhịp chèo, thằng Trạo nhún chân, mũi tam bản ngóc lên cao rồi hạ xuống… Bầu trời đen nghịt như sắp chuyển mưa. 
Cặp rằng Hực tìm cách thúc hối: 
– Bữa nay mầy chèo giỏi hơn mọi lần. Ráng lên. Tao cho mầy năm cắc nếu mầy chèo về tới nhà vào khoảng đầu canh tư. 
Thằng Trạo đáp: 
– Dạ, ông vững bụng. Tôi dư sức. 
Cặp rằng Hực vào trong mui nằm, suy nghĩ. Ðúng rồi! Sau trận thách đố ở quán rượu Ba Lự, thằng Cưng tìm cách trả thù. Giờ phút này có lẽ nó tư tình với con Huệ. Nhưng nó lầm to. Trong vòng một tiếng đồng hồ nữa, ông bắt tại trận. Thằng Cưng sẽ bị đóng trăn, bị đánh bầm mình mẩy. Ông sẽ vu cáo là ăn trộm. 
Nhưng từ sau lái, bỗng nhiên thằng Trạo la hoảng: 
– Trời ơí ghe phá nước! 
Nước chảy ào ào… 
Thằng Trạo buông chèo, kê bàn chân vào ván để chận lại. Nếu chậm trễ, chiếc tam bản sẽ chìm. 
Cặp rằng Hực la hoảng: 
– Sao vậy? 
Thằng Trạo đáp: 
– Dạ, chắc tụi tá điền nó phá. Lúc mình sơ ý, nó khoan cho lái tam bản lủng lỗ rồi lấy đất sét trét sơ sài. Bây giờ, ông lên bờ cho tam bản nhẹ bớt. Nó gần chìm rồi! 
Tức tối làm sao! Cặp rằng Hực ngồi chồm hổm trên bờ rạch. Ông ta muốn chạy bộ về chợ ngã Năm nhưng địa thế không cho phép. Ðường bộ quá sình sụp. Còn ngồi ở đây mà chờ thì biết tới giờ phút nào. 
Chiếc tam bản từ từ chìm xuống, thằng Trạo hì hục đỡ, rinh lái tam bản vô bờ… chờ khi trời sáng rõ, vả lại vì chiếc tam bản bị khoang tất cả… năm sáu lỗ, ở khoảng giữa. Nó ướt loi ngoi nhung cười thầm trong bụng.
Nó là cháu của chủ quán Ba Lư. 
Ba Lự hứa tặng cho nó một đồng bạc. Và trước khi lên đường, thằng Cưng năn nỉ nó: 
– Ráng dùm tao, nghe Trạo. Tao thương con Huệ quá chừng. Ráng… ở dọc đường suốt đêm. Nếu ông cặp rằng Hực đuổi mầ, mầy cứ theo tao đi núi Sập kiếm nghề khác, sướng hơn. Thí dụ như nghề bắn đá, đập đá. Mầy sẽ khoét lỗ trong đá, nhét thuốc nỗ vô như bây giờ mầy khoan ghe, trét đất sét.

Ăn Mà Không Chơi Sau Cơn Đại Dịch 3.

  hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 10 13, 2021

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Ăn Vặt Giữa Chiều.

Sài Gòn cũng giống Bangkok, Quảng Châu hay Hongkong. Là thiên đường dành cho những người khoái ăn vặt. Hà Nội cũng nhiều khu như thế nhưng người ta gọi là ăn quà. Chiều nay tui cùng bạn đi một vòng sơ sơ chơi nghen!

Quán ăn vặt ở Sài Gòn thì nhiều vô số kể, tui chỉ đề cập một số quán chứ nếu đi ăn hết chắc mất cả tháng. Mấy món này nên chuẩn bị khởi hành từ 15:00 chiều, bởi lúc đấy có thể vừa ngủ xong một giấc trưa hay bữa cơm trưa đã tiêu hoá sau mấy giờ làm việc. Người rảnh rỗi cũng đã thấy buồn miệng, muốn có món gì ăn chơi. Lại thêm, Sài Gòn có mấy quán vừa mở ra khoảng một giờ sau là hết hàng, muốn ăn phải canh giờ, nếu trễ một chút chẳng còn chi để ăn. 

Quán bánh canh giò heo ở đường Nguyễn Phi Khanh là một quán như thế. Báo chí, khách ăn cho rằng đây là gánh bánh canh bán sướng nhất Sài Gòn, mỗi ngày chỉ cần bán 1 tiếng là hết sạch. Đúng là như vậy, gánh bắt đầu mở bán khoảng 3 giờ chiều, 45 phút sau là chuẩn bị hết giò chỉ còn bánh và sau đó là chấm dứt. Có người đặt tên là “bánh canh 1 giờ” hay “bánh canh 60 phút” vì quán không tên, không biển hiệu. Ngày xưa gánh bán ở cầu sắt Đakao rồi dọn về đây cũng khá lâu rồi. Quán lúc nào cũng đông khách, người ngồi ăn tại chỗ, kẻ mua về nhộn nhịp. Bây giờ dù bán trong một căn nhà chật nhưng cũng đôi quang gánh đấy, cũng nồi bánh đấy, cũng thùng đựng giò heo đấy, cũng chồng bát, rổ hành, lọ tiêu y như là gánh hàng ở vỉa hè năm cũ. Khách vào, lên một bậc tam cấp, ngang qua nơi để nồi bánh đặt hàng rồi vào chọn một cái ghế nhựa để ngồi, kéo thêm cái nữa làm bàn bởi quán không có bàn chỉ có chồng ghế nhựa. Người bán toàn những người phụ nữ lớn tuổi, người múc bánh, kẻ cho giò, người rắc tiêu hành, người bưng cho khách, người nào miệng cũng liên tục trao đổi với nhau. Khách cứ thế ngồi đợi đến phiên mình. Ở đây chỉ có món bánh giống nhau, chỉ khác nhau ở miếng giò. Có giò nạc, giò gân, giò móng, giò gối, những phần của cái giò heo. Khách thích phần nào gọi phần đó cho mình. Luôn đi kèm tô bánh canh là chén nước mắm ngon có rắc tiêu, ớt để chấm. Giò cầm bằng tay ăn mới đã, chấm chút nước mắm, ngoạm một miếng ngập răng , giò mềm, béo mà không ngán, vẫn còn độ giòn, độ dai của móng. Xong dùng muỗng múc một muỗng bánh canh, nước ngòn ngọt, beo béo, đậm vị. Cũng có khi bưng cái tô nhỏ mà húp, lùa mấy sợi bánh vào miệng, nước, cái vào một lần. Sợi bánh canh có đủ độ dai mềm, đậm đà với màu cam đặc trưng. Một chút cay của ớt, chút thơm của hành lá, nồng nàn mùi tiêu lẫn cái béo của thịt khiến cho miếng ăn trong miệng ngon thuần vị. Đã lắm. Thòm thèm lại kêu thêm một tô nữa, tô trước giò gân, tô sau giò nạc. Lại làm tiếp chu kỳ. Trong khoảng chưa đầy một giờ, gần hai thùng lớn đã sắp cạn. Người đến trễ may ra còn được tô bánh không, chẳng còn giò cũng đành ăn cho đã cơn thèm. Hỏi sao không nấu nhiều nhiều và bán thêm vài tiếng nữa để thoả mãn nhu cầu của khách. Bà cụ tóc trắng bảo bán thế cũng mệt rồi vì không có người. Buôn bán toàn người nhà phục vụ, đàn bà đứng bán, đàn ông giữ xe, mang bánh cho người mua về. Lý do đó cũng là một lẽ nhưng có lẽ đây cũng là cách buôn bán của người Hoa. Chỉ bán vừa đủ, vừa đủ lời, vừa đủ sức mà còn gây thòm thèm cho khách ăn, đến không còn thì hôm sau cố đến sớm hơn chút vậy.

Còn một quán no name khác nữa ở trong hẻm hai cái suyệt đường Lê Văn Sỹ cũng bán độ một  giờ là hết hàng. Đó là quán bún măng vịt luộc. Cũng mở cửa vào khoảng 15:30, trước đó đã có khách chờ như đang chờ ở phòng mạch khám bệnh của mấy bác sĩ. Cửa mở là ùa vào chọn bàn và gọi món. Quán có thâm niên hơn 30 năm, chỉ bán vịt luộc, bún miến. Chỉ cần chậm chân đi trễ thì đành hẹn hôm sau. Theo chủ quán, chủ trương bán mỗi ngày vài chục con là đủ nên không làm thêm. Mỗi ngày bán một giờ cũng đủ mệt rồi. Vịt ở đây mềm, thơm và ngọt thịt. Mỡ vừa phải, thịt cũng không dày quá, luộc đúng lửa nên ngon. Quán cũng có lòng, huyết vịt. Nước chấm vừa miệng, gừng cay cay, nước mằn mặn, chua chua, ngọt ngọt rất phù hợp với món thịt vịt. Nhiều người không thích khẩu vị miền Nam ngòn ngọt sẽ không thích lắm với chén nước chấm này nhưng sẽ không thể chê miếng thịt vịt ở đây. Người thích gặm xương cũng có thể gọi cho mình dĩa đầu, cổ cánh vịt. Đôi khi gặm xương cũng có cái thú riêng. Cũng có thể gọi dĩa gỏi vịt. Dĩa gỏi gồm bắp cải, hành tím, hành tây, cà rốt, rau thơm, hành phi. Tất cả trộn với nước chấm tạo thành một dĩa rau ăn kèm với thịt vịt không gây ngán. Ngồi ăn ở ngoài sân, nhìn cánh tay thoăn thoắt chặt vịt của bà chủ phát hiện cũng là một nghệ thuật. Mỗi nhát chặt dứt khoát, miếng thịt nguyên không nát, xếp đều trên dĩa nhìn mới sướng mắt làm sao! Thịt ngon, bún cũng ngon, quán sạch sẽ lại có giá khá bình dân. Hèn chi khách đợi, khách chờ mà chẳng ai kêu ca một tiếng. Có điều nhiều người cho rằng ông chủ quán có vẻ hơi chảnh một tí.

Có một quán bán bánh đúc ở trong hẻm đường Phan Đăng Lưu cũng bị khách hàng đặt tên là quán bánh đúc chảnh. Thật ra nhiều khi cũng nên thông cảm cho thái độ của những chủ quán này. Khách đông, bán không ngơi tay nên đâu có thì giờ để giao lưu, nói chuyện hay lưu tâm đến khách. Đông khách quá nên phải chờ là đương nhiên, chờ hoài mà không đến lượt, lại chẳng ai đoái hoài nên khách bực, khách cho là chảnh kkk. Quán chỉ là sân trước của một ngôi nhà nhỏ, không bàn, chỉ có ghế nhựa, khách cầm chén bánh bánh đúc mà ăn, chẳng có gì để đặt xuống. Nếu hên còn ghế trống, lấy ghế làm bàn. Đây là món ăn của người Bắc, ở ngoài ấy, nghèo thì bánh đúc ăn với tương, mấy khi được ăn với thịt. Bánh đúc quán này mang vị miền Nam, có thịt bằm, nấm mèo, rất nhiều hành phi, nước chan mằn mặn, ngòn ngọt ngập chén. Có vẻ khẩu vị giống món bánh giò chan nước chấm thịt bằm ở chợ Bàn Cờ. Khách ngồi sát nhau, đợi đến lượt mình được ăn. Đi vào quán, chỉ cần bảo cho chén bánh đúc rồi ngồi chờ. Không nên nói nhiều hơn nữa. Đừng có đợi câu hỏi nào của chủ, họ im lặng làm, lặng lẽ mang đến cho bạn ai đến trước, nhận trước, đến sau ăn sau theo đúng thứ tự. Ăn xong đứng dậy, trả tiền và đi ra. Nếu xui gặp lúc có khách mua mang về chục túi, bạn sẽ ngồi đợi dài cổ. Đôi khi bạn cũng sẽ bị càu nhàu một chút khi đưa tiền có mệnh giá lớn để thối hay chờ lâu nhắc nhở. Nhưng cũng chỉ càu nhàu thôi chứ không phải bị quát mắng như cháo chửi, bún mắng ở Hà Nội. Nhưng cũng phải công nhận các chị bán hàng ở quán này mặt lạnh lẽo như điệp viên không không thấy. Quán đã bán hơn 40 năm nay, dù cách buôn bán không giống ai thế nhưng lúc nào cũng đông khách. Có lẽ vì món bánh đúc ở đây nóng mềm, không đặc, không nhão, nhân ngon, nước chấm ngon tạo thành món ăn dù là dân dã nhưng hấp dẫn giữa chiều. Quán cũng còn có món bánh cam, ngon lắm nhưng rất khó mua vì chiên xong đem ra đến đâu hết liền đến đấy, hên mua được vài cái. Bánh dòn, nhưn đậu xanh mịn. Ăn béo mà ngọt nên khách chờ xuất hiện là mua ngay.

Mì Quảng cũng là món ăn có lý khi sau trưa, bụng đang có cảm giác trông trống. Ở Sài Gòn có chuỗi mì Quảng Mỹ Sơn. Thật ra cái món này giờ đây lai nhiều lắm rồi, có đỏ con mắt cũng không tìm được tô mì Quảng nguyên rin thuở nào. Có hai thứ chính yếu làm nên tô mì Quảng là dầu phụng với hạt nén. Nhưng giờ thì chẳng thấy tô mì nào ở cái đất này có hai thứ đó. Lại thêm nước dùng của mì Quảng là nước kho chứ không phải nước lèo lỏng bỏng như mì Quảng bây giờ. Hỏng hết! Phở, bún bò Huế và mì Quảng lưu lạc vào Nam đã bay mất màu của xa xưa rồi. Cho nên giờ muốn ăn mì Quảng đúng vị phải phải về xứ Quảng, mà vào vùng quê kia, nhờ mấy bà già nấu cho mà ăn mới đúng là mì Quảng. Ngay mấy quán ở Đà Nẵng cũng bán trật lất. Chú ý là đừng bao giờ vào quán bán phở, bún bò, mì Quảng, hủ tiếu cũng một chỗ mà ăn, ở các quán ấy không có món nào đúng như tên gọi cả vì chung một nồi nước lèo cho các món, ăn chẳng phân biệt món nào ra món nào! Chuỗi quán mì Quảng Mỹ Sơn dù sao cũng còn chút hương vị và sắc màu của tô mì Quảng dù cũng đã phôi pha ít nhiều. Cũng có mì Quảng gà, mì Quảng tôm, mì Quảng lòng, mì Quảng thập cẩm đặc biệt. Cũng ngon. Ăn để nhớ về chứ chưa có đã miệng. Nước chan cũng không đậm đà đúng chất, có lẽ để chiều thị hiếu của người dùng trong Nam. Họ đòi mì Quảng mà nước ngập tràn như phở.

Trong hẻm Kỳ Đồng cũng có quán Hàn Phố bán nhiều món ăn xứ Quảng trong đó có món mì Quảng. Nước đậm đà hơn một chút, ớt xanh cũng đúng là ớt Quảng nhưng cũng có cảm giác chưa phải mì Quảng. Thiếu cái béo của dầu phụng, thiếu mùi hơi hăng của củ nén, thiếu nước màu sóng sánh trong tô mì khiến cho người biết rành về món ăn này tiếc nhớ. Ở quán này cũng có thể chọn thêm món cá nục hấp quấn bánh tráng hay dĩa lòng xào nghệ, mấy món đặc sản của Quảng Nam. Giá cả vừa túi tiền, món ăn cũng được, chủ quán niềm nở, vui vẻ. Thế là tốt rồi!

Ai thích mì Tàu, chạy đến xe mì Cao Vân. Cũng bắt đầu bán từ 15:00. Đây là xe mì lâu năm ở Sài Gòn, chắc cũng hơn 60 niên. Vẫn chiếc xe mì có tranh kiếng vẽ xanh đỏ của một thời. Cũng hương vị đấy tồn tại qua mấy đời cháu con. Cọng mì nhỏ, mềm mà không nát, ăn cạn tô sợi mì vẫn thế, đó là ưu điểm đầu tiên. Xá xíu đậm đà, thịt ngọt thơm. Hủ tiếu cũng ngon. Món khoái khẩu ở đây là xí quách. Kêu tô mì khô với tô xí quách là đủ. Phục vụ nhanh, giá vừa phải, ăn ngon. Chờ chi nữa mà không ghé ăn thử một lần. Nhớ là quán nghỉ thứ bảy và chủ nhật nha. Về xe mì này, tui đã có viết một bài dài rồi nên không kể lể nhiều ở đây thêm nữa.

À! Có bạn nhắc món bột chiên, thì đi Đạt Thành chơi một dĩa hai trứng cho nó đã cái mồm háu ăn. Đây là món ăn của người Hoa nhưng cũng đã Việt hoá nhiều. Trước đây ở dãy phố này có nhiều tiệm nhưng giờ chỉ còn Đạt Thành tồn tại và trong hẻm có thêm Vạn Thành. Lúc trước chỉ thuần tuý bán món bột chiên, sau này thêm bánh hẹ, nui, bánh khoai môn chiên..cũng toàn là món bình dân của người Hoa Chợ Lớn. Có nhiều món ăn của người Hoa Chợ Lớn người ta không tìm thấy ở các cộng đồng người Hoa khác như Singapore, Hongkong, Macao hay cả ở bên Tàu. Bột chiên ở Đạt Thành na ná bánh củ cải chiên nhưng khác là có nước tương loãng cộng với sợi đu đủ. Ở Singapore bột chiên mềm được nêm sẵn ăn với sa tế, vị cũng khác với bột chiên Việt Nam. Bột chiên ở Đạt Thành dòn ngoài, mềm trong. Bột trộn với trứng nhìn vào đã thấy bụng cồn cào rồi. Chan nước tương vào dĩa, bỏ thêm sợi đu đủ, dùng muỗng xắn một miếng bột lẫn trứng, thêm miếng ớt đưa cay. Dòn dòn mà lại đi với mềm mềm của bột, cộng hưởng với nước tương ngòn ngọt, mùi sa tế cay cay, chút chua của đu đủ xanh, chút bùi béo của trứng với dầu. Tất cả trộn lại làm thành cái ngon của món bột chiên. Cũng phải có lời khen người Hoa. Chỉ có chút bột không nhưn nhị gì mà làm thành một món ăn nhiều người thích. Nếu muốn, bạn có thể gọi thêm mấy món ăn chơi như bò bía, gỏi cuốn, gỏi bò, bánh hẹ chiên…bò bía ở đây khá ngon có xà lách, củ sắn, tôm khô, lạp xưởng. Nhờ củ sắn lúc nào cũng nóng nên cuốn bò bía ăn sướng miệng hơn là ăn nguội. Món bột chiên giờ gắn bó với ẩm thực Việt và là món ăn vặt nhiều người ưa thích.

Nhắc món bò bía lại nhớ quán gỏi cuốn Lê Văn Sỹ, chỉ là quán bán bên lề đường mà lúc nào khách cũng đông từ lúc dọn ra cho đến khi dọn về. Nhiều hôm chưa ra, khách đã chen nhau ở cửa nhà đứng đợi. Gỏi cuốn ở đây cũng chỉ gồm tai heo luộc, bì, tôm, thịt heo, bún và rau. Nhưng nước chấm đủ loại, tương có, nước mắm có, mắm nêm cũng có luôn. Ai hảo gì thì cứ chọn. Giá mềm, 6.000 đồng một cuốn khá lớn. Không biết sau dịch có lên giá không? Quán vỉa hè nên khách mua về là chính.

Đối diện phía bên kia đường chỗ đình Ông Súng, chiều chiều cũng có tủ bán bì cuốn cũng ngon, khách cũng khá đông. Cũng xà lách, lạp xưởng, tôm khô như mọi quán nhưng cũng nhờ đồ chấm pha ngon nên khách ưa chuộng. Cũng có gỏi cuốn nữa. Thích gì ăn nấy.

Nói đền món gỏi đừng quên gỏi bò khô ở công viên Lê Văn Tám. Đây là món gỏi mà dân ăn vặt Sài Gòn không ai là không biết. Họ còn bảo nhau bà dì Sáu chủ xe gỏi này nhờ món gỏi mà nuôi con đi du học tự túc ở bên Mỹ. Chiếc bàn kê ở trước một khách sạn đường Hai Bà Trưng, đối diện với công viên. Khách mua mang đi, khách ngồi ăn tại chỗ bên vỉa hè công viên. Chủ quán bảo đã bán món này gần 50 năm từ lúc bà phụ bán với người dì, sau đó tiếp tục cho đến nay. Quán bắt đầu bán từ 13 giờ đến 21 giờ. Gần chục người phục vụ cứ phải làm liên tục không nghỉ cho đến khi dọn hàng. Một dĩa gồm đu đủ bào sợi, bánh phồng tôm, thịt bò khô đều là do người nhà làm cả. Để đu đủ được giòn, thịt bò đậm vị, nước chấm có vị riêng thì cũng phải có bí quyết. Nước chấm và tương ớt ở đây ngon. Khô bò cũng rất ngon, khô mà không cứng, vẫn còn độ ngọt của thịt dù được ướp với nhiều gia vị. Quan trọng nhất để có dĩa gỏi khô bì ngon là nước chấm, đậm đà, có đủ vị chua, cay mặn, ngọt quyện vào với nhau, thấm vào từng sợi đu đủ nên tất cả hoà lẫn nhau tạo thành miếng ngon khó quên. Quán không chỉ có người Việt đến mua, cũng không thiếu khách Tây khoái món này. Quán cũng vô bịch sẵn, khách dừng xe bên đường, nói bao nhiêu gói là có người mang đến bấy nhiêu. Nhanh, lẹ và tiện lợi. Nếu thích ăn cay nhớ xin thêm tương ớt dù có thể hơi bị khó chịu một chút.

Ở bên hẻm Nguyễn Văn Thủ cũng có một cụ già bán món này. Tuỳ theo thói quen mà khen ngon dở nhưng thực ra cũng xem xem nhau. Thích đâu chọn đó.

Góc Cao Thắng, Điện Biên Phủ chiều chiều có xe xôi, bánh mì Tám Cẩu. Địa điểm này ngày xưa nổi tiếng, giờ nhiều quán xá nên khách cũng đã giảm. Có tờ báo viết rằng xe xôi Tám Cẩu là “nhân chứng” của những tháng năm thăng trầm ở Sài Gòn hơn nửa thế kỉ qua. Chiếc Xe xôi mặn này thuộc hàng xưa nhất ở Sài Gòn cùng bí quyết gia truyền hơn 60 năm. Xôi là món ăn quen thuộc của người Việt, đủ loại xôi, nhưng xôi Tám Cẩu có hương vị riêng nên nhiều người nhớ mãi. Xe đã truyền qua hai đời nhưng nồi xôi vẫn thơm mỗi chiều với món thịt độc đáo trong cách chế biến của người Hoa. Nếp được chọn lựa kỹ với cách nấu khéo đã làm nên nồi xôi thơm ngát rồi gói bằng lá chuối xanh ngắt đượm hồn quê. Tám Cẩu là xôi mặn, ăn cùng pate, chà bông, trứng cút… với hành phi, mỡ hành. Mỗi thứ trộn lẫn vào nhau tạo thành món xôi đặc biệt ăn một lần khó quên. Đặc biệt ở xôi Tám Cẩu là thịt heo luộc. Đó là thịt ba rọi cùng thịt nách, có mỡ có thịt mới ngon. Tẩm ướp gia vị gia truyền từ người bố, cô chủ hôm nay tiếp nối cách làm cho miếng thịt trở thành độc đáo. Tỏi giã nhuyễn xoa đều miếng thịt do vậy khi luộc, thịt có màu đỏ hồng, béo mỡ mà không ớn, thịt đậm đà rất vừa miệng. Xôi thơm dẻo, thêm chút pa tê, hành phi vàng dòn, những lát thịt heo thơm dậy mùi, thêm chút nước tương. Nhìn là muốn ăn ngay. Sau này không chỉ có xôi mà còn thêm món bánh mì. Thịt heo đấy mà ăn với bánh mì cũng ngon còn hơn jambon với xúc xích.

Từ chỗ xôi Tám Cẩu đi về Cao Thắng gặp ngã ba Võ Văn Tần ta lại đến một quán ăn có món gà ác hầm thuốc Bắc rất phê. Đó là quan Đại Dương, nổi tiếng Gà Ác Tiềm Thuốc Bắc, Súp Bong Bóng Cá Ngon ở Quận 3. Gà ác là loại có giá trị dinh dưỡng và dược tính cao. Không chỉ là món ăn ngon, gà ác còn có tác dụng chữa các chứng bệnh mệt mỏi, đau lưng, suy nhược cơ thể, mất ngủ chóng mặt. Nhất là khi nó được nấu với một số vị thuốc Bắc. Thịt gà ác có tính bình, vị ngọt, có công dụng tuyệt vời trong việc chữa bệnh, có thể dùng để trị chứng đái tháo đường, hư nhược, khí hư, chán ăn, ra mồ hôi trộm… (theo y học cổ truyền). Thịt gà ác có chứa rất nhiều protid và có nhiều loại acid amin (lên đến 18 loại), các nguyên tố vi lượng như Mn, Fe, Ca… và các loại viatmin A, B, E… Bấy nhiêu thôi cũng đủ để biết thịt gà ác mang lại công dụng tốt cỡ nào.

Gà được tiềm trong một cái thố gốm có nắp. Khi dọn ra bàn, mở nắp sẽ có mùi thơm rất đặc biệt. Đó là mùi của thuốc Bắc, mùi của thịt gà hầm. Thịt gà mềm, chấm chút muối tiêu, nhai đến đâu ngấm đến đó. Nếu có răng khoẻ, nhai luôn xương để bổ sung calci. Ở đây cũng còn có mấy món nên ăn, đó là món Mì vịt tiềm, Hủ tiếu xào, Canh củ sen đậu phộng đuôi heo, Óc tiềm thuốc Bắc, Cơm gà xối mỡ, Gà tiềm sâm, Súp bong bóng cá cua óc heo. Tất cả được chế biến và có hương vị của người Hoa. Những món ăn ở đây vừa ngon vừa bổ có lợi cho sức khoẻ, giá cũng phải chăng. Mấy chục năm lân la ở quán, tui thành bạn của một ông trong quán, không biết là chủ, là bếp trưởng hay quản lý, mỗi lần đến gặp ông, chào hỏi nhau như những người bạn, dễ thương lắm. Ông này người gầy, da trắng, mắt và cặp lông mày rậm, xếch lên như nhân vật kiếm khách trong mấy truyện của Tàu.

Ở Bình Thạnh còn có hai quán của người Hoa bán mì cũng khá ngon và đông khách. Đó là Lương ký mì gia và Mì Vịt Tiềm Hữu Ký. Cũng không dám phê quán nào ngon hơn vì cũng tuỳ khẩu vị mỗi người. Ngày trước Hải Ký mì gia ở đối diện Bệnh viện Nguyễn Trãi cũng ngon lắm. Sau này không biết có phải đổi chủ hay sao mà chất lượng giảm rõ, khách cũng thưa thớt dần.

Nói đến món ăn của người Hoa mà thiếu món hủ tiếu sa tế nai là một thiếu sót. Đây là một món ăn khá cầu kỳ được chế biến theo công thức gia truyền với hơn 30 loại gia vị riêng biệt. Nước lèo nóng sốt, sóng sánh mang đến vị béo thơm từ cốt dừa hòa quyện đầy đủ cay the, bùi bùi của sa tế, đậu phộng, hành, sả, tỏi… sợi hủ tiếu to với những miếng thịt nai mềm dai tạo thành một tô hủ tiếu ngon và lạ. Trước đây khoảng 60 năm, ở vỉa hè đường Triệu Quang Phục trước chùa Ông có xe hủ tiếu sa tế rất ngon do một người Hoa về từ Singapore. Ông mất, người con có khuôn mặt giống ông như tạc tiếp nối bán một thời gian rồi đi đâu mất. Sau này muốn ăn phải chạy vô quận 6, xa quá nên lười. Một hôm phát hiện ở đường Vạn Kiếp có một quán hủ tiếu nhỏ có bán món này, ăn thử thấy cũng khá ngon. Do vậy sau này khi muốn ăn hủ tiếu sa tế là rú xe đến đây. Quán bán từ 5:00 chiều. Thịt mềm, nước lèo đúng vị, thơm, ngon, sền sệt. Thêm ớt sa tế vào là chuẩn luôn. Một lần ở Quảng Châu, đi ăn với mấy người bạn, thấy trong menu cũng có hình giống món này, hỏi phục vụ cũng bảo là hủ tiếu sa tế nhưng ăn vào không đúng mùi vị của món hủ tiếu sa tế đã từng ăn, dù cũng rất ngon. Có người bảo hủ tiếu sa tế là món ăn chế biến của người Hoa ở Singapore và Malaysia thôi, bên Tàu không có món đấy.

Không quen ăn hủ tiếu sa tế nai, ta cùng nhau về Lý Chính Thắng ăn hủ tiếu bò viên. Ở Nguyễn Thiện Thuật cũng có xe bò viên ngon. Nhưng thôi, ghé Lý Chính Thắng cho gần. Món bò viên là món ăn phổ biến ở Sài Gòn, nhưng ít quán ăn vừa miệng. Đa số người bán bò viên là người Quảng Đông. Cách làm cũng như người Việt làm giò lụa. Thịt phải xay khi còn nóng vừa mới mổ xong. Do vậy phải thức sớm mới có thịt nóng, về xay mới có được bò viên ngon và dai vừa ý. Công đoạn làm tốn thời gian nên các quán bò viên chỉ bán buổi chiều. Sáng mới mở mắt mà ăn bò viên là bò viên bỏ tủ lạnh từ hôm trước rồi. Bò viên là phải ăn với tương đen, tương ớt đỏ pha thêm chút sa tế.

Quán hủ tiếu bò viên trên đường Lý Chính Thắng đã hoạt động gần 50 năm. Đổi nhiều địa chỉ nhưng cũng quanh quẩn ở khu này. Bò viên ăn được với nhiều cách. Ăn không cũng được, ăn với hủ tiếu, với mì cũng ngon. Giờ người ta còn ăn với phở, với bún. Nhưng ngon và đúng nhất là ăn với hủ tiếu, mì. Bò viên ở đây thơm thịt, hơi dai, không trộn bột, chất thịt vẫn còn ngọt. Nước lèo cũng vừa ăn, quán cũng sạch sẽ và giá cũng bình dân. Là một địa chỉ nên tìm đến khi thèm ăn hủ tiếu mì bò viên. 

Ăn nón Tàu nhiều rồi, giờ về lại món Việt đi. Ta tìm quán bánh cuốn Tây Hồ nhé. Món ăn thuần Việt đấy. Đây là quán bánh cuốn lâu đời ở Sài Gòn, chắc cũng ngót nghét 60 năm hơn. Có người hỏi sao quán có tên là Tây Hồ mà không phải là Hồ Tây xứ Bắc? Bánh cuốn là món ăn Bắc Kỳ mà. Lý do là năm 60, 70 của thế kỷ trước quán bánh cuốn này nằm trong đình thờ cụ Phan Châu Trinh (biệt danh là Phan Tây Hồ) ở gần chợ Đa Kao, nên đặt tên là Tây Hồ luôn. Sau này mới chuyển ra đường Đinh Tiên Hoàng như bây giờ. Dĩa bánh ở đây gồm 4 cuốn bánh được xếp gọn gàng trên dĩa nhỏ kèm theo phần rau giá và chút hành phi ở phía trên. Chả lụa với chả quế thì được dọn riêng. Quán có món bánh đậu khá ngon. Nước mắm đựng trong bình để trên bàn với ớt, chén. Ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Nhân bánh làm từ củ sắn, thịt heo bằm, ngày trước có mộc nhĩ, nấm hương nhưng hình như giờ không thấy hay bằm nhuyễn quá mắt nhìn không rõ? Nhà văn Vũ Bằng trong quyển “Món ngon Hà Nội” viết về bánh cuốn thế này: “Có khi đương cầm đũa, ta muốn bỏ ngay ra để lấy ngón tay nhón từng chiếc bánh đưa lên cho khẽ chạm lấy môi ta như kiểu một cái hôn yêu trong buổi trao duyên thứ nhất”. Nghe thú vị quá đi chứ!. Bánh cuốn nơi đây giờ hình như ít ngon hơn xưa. Hay vì ta bôn ba khắp chốn, lưỡi đã không còn mùi vị. Hay là chủ nhân của quán đã thay đổi quy trình, bớt, thêm nguyên liệu nên miếng bánh cuốn chẳng còn như xưa nữa? Cũng có thể tuổi càng lớn, miếng ăn chẳng còn ngon như ký ức? Nhưng chắc một điều là nước chấm càng ngày càng nhạt, càng chua, không còn cái mùi, cái vị cũ nữa rồi. Tây Hồ cũng có bánh cam ngon nhưng nguội quá vì để sẵn trong hộp trên bàn. Bánh cam ăn nóng mới ngon.

Bánh cuốn là của người Bắc mang vào. Trong Nam có bánh ướt. Ngày trước có bánh ướt của ông người Hoa chải đầu láng bóng như kép hát bán ở trước rạp xi nê Minh Châu, ngon tuyệt cú mèo. Giờ còn đó phía bên kia đường nhưng chẳng còn ngon. Bây giờ muốn ăn món này phải chạy lên ngã tư Bảy Hiền đến quán Bánh ướt Bảy Hiền. Quán bắt đầu mở cửa đầu giờ chiều, lúc nào cũng đông khách. So thời giá, quán có giá cao hơn nhiều quán bánh khác, nhưng ngon. Dĩa bánh ướt ở đây đầy đặn với bánh ướt, chả lụa, nem chua, rau giá và đặc biệt là món bánh tôm dòn rụm. Bánh ướt mềm và mỏng, được tráng từ gạo ngon, ăn thơm và mượt như lụa. Món bánh tôm có đậu xanh nguyên vỏ chiên đến đâu bán đến đó nên rất giòn, con tôm nhỏ mà thịt ngọt. Nước chấm ở đây cũng rất hợp với món bánh ướt, không mặn, vừa ngọt và chắc có nêm nếm bột ngọt, bột nêm. Quán có chè đậu xanh và đặc biệt là nước cốc, là lạ mà nhiều sinh tố C, uống mát sau khi ăn dĩa bánh cuốn nhiều ớt.

Gần đấy, vào trong chợ Bà Hoa, ta có thể kiếm ăn món lòng heo xào nghệ, một món ăn rặt của đất Quảng Nam. Đó là Quán ốc Thảo Hiền, chuẩn vị miền Trung. Quán có tất cả trên dưới gần 30 món, gồm các loại ốc như ốc hút Đà Nẵng, ốc len xào dừa, ốc đinh xào sả ớt, ốc hương, ốc cà na… Đặc sản còn có mít trộn, hến xào và đặc biệt là món lòng heo xào nghệ. Lòng heo rửa sạch, cắt nhỏ ướp rồi xào với nghệ. Lúc nhỏ, ở nhà khi nào có đứa nào ho, Mạ tui hay cho ăn món này xào thêm với bún. Cho nên mỗi khi muốn ăn món lòng xào nghệ, tui thường mua trước 5.000 bún tươi, vào mua lòng nghệ nhờ ông chủ xào chung với bún thành một dĩa ngon lành. Nhai miếng lòng dai dai, mùi nghệ thơm cay, lại nhớ ngày xưa da diết.

Từ chợ Bà Hoa, chạy về chợ Trần Hữu Trang ăn canh bún, bún riêu xứ Bắc. Ở đây có quán canh bún Mẹ tôi đông khách tìm đến. Từ một quang gánh nhỏ thuở sơ khai ở chợ Trần Hữu Trang, sau 35 năm quán canh bún Mẹ Tôi đã trở thành một địa chỉ cho những người yêu món ăn quê mùa, dân dã. Quán nằm dọc đường rầy xe lửa với con đường hẹp. Nước lèo ở quán có vị thanh, đúng chất Bắc. Đồng thời, phần thịt cua được xay từ cua đồng nguyên chất nên nước ngọt tự nhiên chứ không ngọt nhờ bột nêm hay bột ngọt. Ở đây còn có rau nhút luộc, đúng loại rau ăn với canh bún. Cạnh rau chút còn có hẹ và rau muống. Ai muốn ăn rau gì cứ chọn. Riêu cua ở đây ngon nên khách thường gọi thêm chén riêu riêng.

Còn nếu muốn ăn bún riêu ốc thì chạy về Kỳ Đồng vào quán bún riêu ốc Thanh Hải. Đây là món ăn Bắc nhưng cũng đã lai Nam. Người ta thường bảo nhạt như nước ốc, nhưng qua sự khéo léo nêm nếm, nước lèo cua trong vắt, ngọt thanh với gạch cua, huyết, đậu hủ, kẹp với rổ bún, rổ rau xanh, có sức hút với kẻ sành ăn lang thang. Tô bún riêu ở đây chỉ có riêu, ốc với cà chua, không có huyết heo, chả và đậu hủ. Nhưng nước lèo đậm vị cua, có giấm bỗng, có thêm những miếng ốc dai dai, sần sật khi nhai cũng rất thú vị. Ngoài bún riêu ốc, ở đây còn có các món như ốc bươu, ốc gạo hấp lá chanh, ốc nhồi thịt hấp lá chanh… tha hồ mà ăn.

Thôi! Loanh quanh thế cũng đã nhiều, chạy về Nguyễn Văn Đậu kiếm chén chè mè đen, đậu phụng ngọt ngọt ăn chơi để khép lại mấy món ăn vặt. Đó là quán chè tên Lượm đã bán ở khu này được 40 năm. Thời gian trôi biết bao dâu bể, xe chè này vẫn còn đó với nhiều thương nhớ bởi vị ngọt thanh và bùi bùi của món chè mè đen, đậu phụng của chàng trai kế thừa gánh chè của mẹ. 

Chè mè đen hay còn gọi là “chí mà phù” là một món ăn đặc trưng của người Hoa. Mè đen với đậu phộng sau khi mua về đem đi rửa sạch, phơi cho ráo nước rồi rang thơm và xay nhuyễn riêng từng loại. Mè đen rang thơm sau đó xay nhuyễn với nước lọc rồi đem nấu khoảng 3 phút, phải khuấy liền tay, sau đó cho đường, nước cốt dừa, bột năng vào, tiếp tục khuấy đều tay cho đến khi chè có màu đen đậm và tỏa mùi thơm

Để hoàn thành 2 món chè này, ngoài nguyên liệu chính là mè đen và đậu phộng, cần có nước cốt dừa, đường phèn, bột năng và lá dứa.

Chè đậu phộng được người Hoa gọi là “phá xáng”, có vị ngọt bùi và beo béo của đậu phụng. Ăn như bơ đậu phụng nhưng loãng và ngọt. 

Nếu chè mè đen có vị ngọt thanh thì chè đậu phộng lại có vị ngọt bùi, béo béo của đậu. Ăn hỗn hợp hai món chung một chén sẽ có được cảm giác cả hai loại mè và đậu.

Mặc dù xe chè không có tên, nhưng nhiều khách quen mê món chè và khoái anh chủ nên đặt tên là chè Lượm, tên ở nhà của chàng chủ xe chè.

ĂN TỐI

Thế là xong chuyện ăn vặt, giờ tính chuyện ăn tối. Người ta thường bảo: Hãy ăn sáng như một vị vua, ăn trưa như hoàng đế và ăn tối như một kẻ ăn mày. Tui không nghĩ thế, có thể ăn tối nhẹ nhàng hơn một chút nhưng cũng nên chọn món ngon mà ăn chứ, tội gì ăn như hành khất nhỉ!

( Mai viết tiếp nha, mỏi tay rồi)

12.10.2021

DODUYNGOC

– Bún măng vịt luộc. 281/26/7 Lê Văn Sỹ, P. 1, Tân Bình

– Bánh canh giò heo, 12 C Nguyễn Phi Khanh

– Bánh đúc Phan Đăng Lưu. 116/11 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận

 –  Mì Quảng Mỹ Sơn. 9A Kỳ Đồng, P. 9, Quận 3

     Hệ thống mì quảng mỹ sơn:

* Mì Quảng Mỹ Sơn 07 Kỳ Đồng Quận 3

* Mì Quảng Mỹ Sơn 262 Phan Xích Long ,Phú Nhuận

* Mì Quảng Mỹ Sơn 38 B Đinh Tiên Hoàng, Quận 1

– Mì Quảng Hàn Phố. 14/40D Kỳ Đồng. Q.3.

– Mì Cao Vân. Hẻm 40 Trần Cao Vân. Q.1

– Bột chiên Đại Thành. 277 Võ Văn Tần, P.5, Quận 3

– Xe Xôi Tám Cẩu. Góc Điện Biên Phủ & Cao Thắng (Sau Lưng Cafe Viva), Quận 3,

– Gà ác, soup bong bóng cá Đại Dương. 14 Cao Thắng. Q.3

– Bánh cuốn Tây Hồ. 127 Đinh Tiên Hoàng. Q.1

– Bánh ướt Bảy Hiền, 767 Lý Thường Kiệt, Phường 11, Quận Tân Bình ( ngã tư Bảy Hiền)

– Lòng xào nghệ Thảo Hiền-chợ Bà Hoa. 97 Sơn Hưng, P.11, Q. Tân Bình

– Hủ tíu bò viên Lý Chính Thắng. 146A Lý Chính Thắng.

– Bún riêu ốc Thanh Hải.14/12 Kỳ Đồng, P. 9.

– Hủ tíu sa tế nai Vạn Kiếp. 192 Vạn Kiếp, Bình Thạnh

– Chè mè đen, đậu phộng. 27A Nguyễn Văn Đậu

– Lương ký mì gia. 1 Huỳnh Mẫn Đạt, quận Bình Thạnh

– Mì Vịt Tiềm Hữu Ký. 84 Nguyễn Văn Lạc. Q. Bình Thạnh.

– Gỏi bò khô. Vỉa hè đối diện công viên Lê Văn Tám, Hai Bà Trưng

– Bì cuốn . Vỉa hè Lê văn Sỹ, Đình Ông Súng

– Gỏi cuốn 359 Lê Văn Sỹ. Q.3

Chuyện Dạy Học Và Dạy Văn Học

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 17, 2018

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Trong chương trình Game show Ai là triệu phú trên đài VTV3, một giảng viên đại học đã không trả lời được câu hỏi liên quan đến nhóm Tự lực văn đoàn và các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Khái Hưng. Cô giảng viên này đã tiết lộ rằng chưa bao giờ nghe nói tới tên của nhóm này và bảo rằng tên Nhất Linh gợi trong cô đến một gánh cải lương. Xem đến đó bỗng dưng tôi thấy buồn một cách khủng khiếp, tôi cảm thấy tội nghiệp cho cô giáo ấy, tội nghiệp cho những sinh viên đang được cô ấy dạy dỗ và cũng tội nghiệp cho cả một thế hệ.

Lâu nay, báo chí và mọi người khi bàn đến vấn đề giáo dục thường đổ lỗi cho học sinh, nhất là khi bàn đến môn Văn học. Nhiều ý kiến cho rằng học sinh bây giờ thực dụng, chỉ lo học những môn sẽ thi vào các trường đại học mà lơ là những môn học khác. Rằng thì là học sinh bây giờ không còn tôn trọng văn chương, thi phú mà chỉ chuộng khoa học kỹ thuật và ngoại ngữ…..

Chẳng có mấy ai nhìn lại người Thầy và suy nghĩ cho kỹ xem người Thầy đã làm gì để cho nền giáo dục nước nhà sa sút trầm trọng đến như vậy. Chẳng có mấy người đặt vấn đề trách nhiệm của người Thầy đối với thảm họa giáo dục hiện nay.

Tôi đã có thời gian gần 25 năm đi dạy học qua hai chế độ và tôi có thể mạnh dạn mà phát biểu rằng ở trong nhà trường hiện nay, rất nhiều Thầy Cô giáo đã chọn lầm nghề và đã sai lầm khi còn đứng trên bục giảng. Hiện nay tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp rất phổ biến, hầu như tỉnh thành nào cũng có xảy ra, tại sao chúng ta không đặt thêm vấn đề Thầy Cô giáo đang ngồi nhầm chỗ.

Theo quan niệm giáo dục từ xưa đến nay, người dạy học phải có kiến thức cao hơn học sinh một cái đầu. Và khi đi dạy học, chỉ cần sử dụng hai ba phần kiến thức của mình có. Nói gọn lại là người dạy học phải trang bị một số kiến thức nhất định về môn học mà mình đang phụ trách, đồng thời phải có một số vốn kiến thức phổ thông mà bất kỳ người nào được gọi là trí thức trong xã hội cũng cần phải có.

Thế nhưng, than ôi ! !!!! rất nhiều người làm nghề dạy học mà chẳng có số vốn kiến thức gì ngoài mấy trang giáo án được viết lại từ sách hướng dẫn giảng dạy, hay lơ thơ số vốn kiến thức đã được học lỏm bõm ở nhà trường đại học. Và từ đó, họ như những cái máy bật lên khi vào lớp để nhồi vào những con robot đang hối hả ghi chép một cách thụ động để đối phó với trường với lớp, với cha với mẹ, với thầy với cô. Thế nên mới có chuyện cô giảng viên đã nói ở trên suy nghĩ rằng cái tên Nhất Linh gợi cho cô một cái gánh hát cải lương; và nhiều học sinh lẫn lộn giữa vua Càn Long viết chiếu Cần Vương.

Đối với người thầy, ngoài kiến thức đã được học ở nhà trường, phải được trang bị thêm rất nhiều từ cuộc sống và tự học. Tự làm cho kiến thức càng ngày càng phong phú và tiếp thu những cái hay cái mới đang thay đổi hàng ngày là trách nhiệm của người thầy. Bởi có được số vốn kiến thức như vậy thì người thầy mới có tự tin để giảng dạy và có sức thuyết phục đối với học trò. Có một lần tôi hỏi một cô giảng viên đại học dạy môn văn học Việt Nam hiện đại là khuynh hướng sáng tác của nhà văn VN hiện nay là gì và giới trẻ thường đọc loại sách nào? Cô ấy trả lời tỉnh rụi: Bận lắm Thầy ơi, có thì giờ đâu mà theo dõi với khảo sát. Tôi tự nghĩ thế thì cô giáo ấy dạy gì cho sinh viên?

Kiến thức bị thiếu hụt, một số người thầy hôm nay lại tự đánh mất nhân cách. Nghề dạy học rất cần sự phẩm hạnh, bởi ta gọi đó là những nhà mô phạm. Thế nhưng, những hiện tượng nhan nhản xảy ra trong các trường học mà báo chí liên tục đưa tin đã cho chúng ta thấy rằng đạo đức của nhiều người thầy hôm nay đang ở trong tình trạng báo động. Theo một cuộc khảo sát đã được công bố trong năm vừa qua thì ngành giáo dục lại là ngành có số người ăn nhậu, rượu bia nhiều nhất. Đó có phải là một nghịch lí chăng ?

Hiện tượng cô giáo bắt học sinh liếm ghế, thầy giáo dụ học sinh vào nhà trọ để cưỡng dâm, cô giáo đi chấm thi tráo bài tráo điểm, thầy cô đi học sử dụng tài liệu lúc đi thi, ban giám hiệu ăn hối lộ, sửa bài sửa điểm để ăn tiền, cả hội đồng thi rắp tâm để cho thí sinh tự tung tự tác vì đã nhận phong bao, phong bì, bán đề thi, làm bài thi hộ ..v..v…không chỉ là hiện tượng cá biệt mà nhiều nơi đã trở thành một hệ thống.

Đó là chưa kể đến những chuyện bình thường là những mánh khóe để bắt học sinh phải học thêm để cải thiện đời sống. Cứ đầu năm học, các thầy cô của những môn chính thường tổ chức cuộc thi khảo sát trình độ. Và kết quả thường là rất bi đát, thế là trong kì họp phụ huynh đầu năm, thầy cô giáo báo cáo tình trạng và khuyên phụ huynh nên cho các em đi học ngoài giờ để nắm vững kiến thức. Chỉ cần đi học thêm, kì họp phụ huynh cuối học kì một đã thấy những báo cáo khởi sắc hơn và các phụ huynh có cảm tưởng con cái mình học giỏi hơn qua những kết quả của kì thi học kì.

Nếu khó khăn thì nên kiếm nghề khác để sống, không nên kiếm chác bằng cái nghề dạy học.

Trong các kì thi dạy giỏi hay các buổi dự giờ, thầy cô giáo thường tổ chức như là một vở kịch khôi hài. Các câu hỏi được soạn rất kĩ lưỡng, và có khi được dạy trước đó nữa kia. Em nào sẽ giơ tay phát biểu, người giỏi giơ tay phải, người yếu tay trái….Buổi học chuẩn bị sẵn như vậy mà vẫn có những giờ dạy cười ra nước mắt. Nhà trường dạy các em phải trung thực và thật thà dũng cảm, nhưng thầy cô, đúng ra phải là tấm gương sáng thì lại đi dạy cho học sinh những dối trá và những báo cáo láo. Trách chi khi ra đời, các em lại tiếp tục làm những báo cáo không trung thực.

Không những thế, người thầy lại hèn nhát, không dám nói lên chính kiến của mình, không dám đấu tranh với những sai trái diễn ra trước mắt mình, cuối cùng trở thành những kẻ đồng loã với thối nát. Có khi họ lại đánh mất liêm sỉ của người mệnh danh trí thức, trốn tránh trách nhiệm với học sinh, đứng về phía kẻ ác để đày đoạ chính học trò của mình, truy tố kẻ lương thiện, lập phe cánh để ủng hộ cường quyền. Một số thầy cô trở thành kẻ hèn, vì quyển lợi được chia cũng có, vì sợ bị đì, bị mất việc cũng có mà cũng có khi vì đang phấn đấu để vào đảng vào đoàn để được lên lương, lên chức.

Những người cỏn chút lương tâm, còn chút liêm sỉ dám đấu tranh sẽ vị cô lập, sẽ bị bạc đãi và rất khó để sinh hoạt bình thường trong tập thể. Họ trở thành kẻ cô đơn. Điều đó nói lên thực trạng thối nát tồn tại ở trong môi trường giáo dục.

Bỗng dưng tôi chợt nhớ đến nhân vật giáo Thứ trong Sống mòn của nhà văn Nam Cao và tôi có cảm tưởng những ngừơi làm nghề giáo có cái vẻ hèn hèn và cam chịu.

Thiếu kiến thức, thiếu nhân cách, những người làm nghề dạy học vừa không được học trò nể phục mà còn làm cho học trò xem thường, bất kính. Lỗi đó là bởi tại chúng ta, những nhà giáo không đủ điều kiện để làm nghề.
Tiên trách kỷ, hậu trách nhân.
Sao chúng ta không soi lại mình mà cứ trách mãi học trò.

Lại nói đến chuyện dạy môn Văn

Trong các môn học, Văn học là một môn rất khó dạy. Bởi tuy người thầy giáo dạy môn văn học không phải là nhà văn, nhà thơ sáng tạo văn chương, nhưng họ là những ngưởi truyền thụ văn chương, do vậy họ phải là một người có tâm hồn nghệ sĩ. Bởi dạy Văn học không chỉ truyền đạt kiến thức mà chủ yếu là truyền sự rung động trước tác phẩm. Tức là người dạy Văn là người phải có cảm xúc về tác phẩm và truyền cảm xúc đó đến với học sinh. Người thầy như là người nhóm lửa, thổi lên ngọn lửa văn chương trong mỗi tâm hồn của những đứa học trò. Và muốn được như thế thì người dạy phải có sự rung cảm sâu sắc và bằng ngôn ngữ và kĩ thuật diễn đạt làm cho học trò rung động theo. Chẳng cần nhồi nhét chi cho nhiều, chẳng cần thuộc chi cho lắm ba cái đại ý và bố cục bài này chia làm mấy phần, một giờ dạy và học văn tốt là một giờ mà qua đó những tần số cảm thụ cùng rung lên và tự động tác phẩm đó, câu thơ đó, đoạn văn đó tự động thấm sâu vào tâm hồn của người học và trở thành hành trang đi suốt cuộc đời của chúng.

Dạy Văn mà giảng khô cứng, máy móc, chỉ mục đích truyền kiến thức, lúc nào cũng lên gân giáo dục này nọ thì làm sao chuyên chở những rung động văn chương.

Thật ra, trong chương trình học, không phải bài nào cũng làm ta rung cảm, không phải bài nào cũng hay, đôi khi quá dở nữa là khác. Gặp những tác phẩm như thế thì cũng chẳng biết trách ai, bởi không thể dạy tốt những tác phẩm như vậy vì không thể tìm được chỗ nào để gọi là văn chương mà rung cảm. Thôi thì đành trách sao mấy người sọan chương trình thiếu trình độ quá vậy?

Người ta hay bảo văn học là nhân học, là có ba chức năng hiện thực, thẩm mỹ và giáo dục, trong đó giáo dục là quan trọng nhất. Vì thế nên nhiều thầy cô cứ ép mà giáo dục. Dạy Kiều đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán, cái ghen của Hoạn Thư, sự tráo trở của nhân vật Sở Khanh, sự bất lực của nhân vật Thúc Sinh… thì giáo dục cái gì mà cũng lồng ghép vô chuyện chống chế độ phong kiến với áp bức một cách xơ cứng và ngô nghê. Chuyện gì cũng phải có giáo dục, cố ghép cho nó một cách khiên cưỡng và làm người nghe nhàm chán và bất phục.

Dạy mà người nghe cảm động, học trò rớt nước mắt thương cho số phận nàng Kiều, thương cho cái Tý phải ăn cơm thừa của chó, cảm thương cho số phận Chí Phèo, xót cho chị Dậu phải đem sữa cho người khác bú khi con mình đang đói…tức là đã giáo dục rồi, cần chi phải lên gân đánh đổ thực dân phong kiến và lũ cường hào, ác bá, cần chi phải kêu gọi vùng lên. Mà thời bây giờ, giáo dục không khéo sẽ khiến cho những học sinh khá đặt ra câu hỏi gắn liền với những câu chuyện hiện thực đang diễn ra ở xã hội, người thầy sẽ chẳng biết cách trả lời. Bởi bây giờ có nhiều số phận đớn đau hơn Chị Dậu, nhiều kiếp người còn khốn nạn hơn Chí Phèo năm xưa.

Khi người ta yêu, người ta cảm thì tự khắc người ta sẽ có thái độ thôi, cần chi gắn gậy vào và bắt ép người ta phải có tính giai cấp, phải đấu tranh.

Đừng trách học sinh không thích học Văn mà hãy suy nghĩ sao chúng ta dạy Văn dở quá nên chúng nó chẳng yêu Văn.

Vì chúng ta biến văn chương thành chính trị và nhiều người dạy Văn chương chẳng khác nào những nhà đang rao giảng chính sách. Dạy bài văn nào cũng phải kết luận yêu chủ nghĩa xã hội, phấn đấu trở thành con người mới XHCN thì còn chi là văn chương?

Bao giờ chương trình Văn học trong nhà trường đều là những tác phẩm văn chương đích thực và người dạy Văn có cảm xúc và truyền được rung cảm đến cho học trò như những người ca sĩ diễn đạt được bài nhạc của người nhạc sĩ tài hoa, đọc xong câu chuyện như vừa được xem một vở kịch đời, thì lúc đó chắc chắn học trò sẽ yêu thích môn văn học và chúng sẽ tự động yêu văn chương thi phú.

Để nhớ những năm làm thầy. 
DODUYNGOC. 
18.4.2007

Chuyện của thằng bạn

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 26, 2018

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Sáng nay thằng bạn lâu rồi không gặp kêu ra cà phê gặp cho được, bảo có chuyện quan trọng. Đến nơi, thấy mặt hắn như bánh bao chiều, ủ dột, hốc hác. Hỏi sao thế. Nó bảo vợ chồng nó ly dị rồi. Toà xử xong rồi, chỉ chờ lấy giấy xác nhận nữa là xong.. Tui hỏi sao lại đến nước này. Hai người sống với nhau hoà thuận lắm mà. Hắn thở dài, mặt chảy như mặt ngựa.

Hắn nhỏ hơn tui một giáp, nhưng là bạn lâu ngày nên chẳng để ý tuổi tác. Hắn làm cán bộ Sở Văn hoá, chức vụ chẳng có chi. Hắn là thằng hiền lành đến độ ngu ngơ, ai nói gì cũng tin, già mà ngây thơ. Vợ hắn nhỏ hơn hắn năm ba tuổi gì đấy, người miền ngoài, vào Nam sau 75, cũng có chút nhan sắc dù chẳng có chi nổi trội ngoài cái miệng lanh lẹ và hoà đồng vui vẻ với bạn của chồng nên mọi người ai cũng quý. Vợ hắn làm công chức bên toà án. Hai vợ chồng đều là cán bộ công nhân viên nên trưa ai ăn ở cơ quan của mình, chiều về mới ăn chung buổi tối. Hai vợ chồng có cô con gái, học giỏi, vừa đi du học Anh năm trước. Nhìn chung là một gia đình tương đối hạnh phúc ấm êm, sao lại đưa đến chuyện ly hôn thế này?

Hắn rủ tui vào quán bia Huy béo Hà Nội ở đường Nam Kỳ Khởi nghĩa. Tui chẳng biết uống bia nhưng thấy hắn muốn tâm sự nên cũng gọi một chai ngồi uống với hắn. Hắn gọi thức ăn đầy bàn. Vô hai chai thì hắn bắt đầu kể. Hoá ra vợ hắn ngoại tình, dính với thằng phó phòng ở chính cơ quan vợ hắn. Cha này cũng đang sống đàng hoàng với vợ con. Chắc cặp với vợ hắn để kiếm của lạ cho vui thôi. Cả hai quan hệ với nhau cả mấy năm rồi, hắn thì mới phát hiện mấy tháng nay. Bởi hắn vốn hiền lành và tin tưởng vợ nên chẳng bao giờ nghĩ vợ hắn có thể ngoại tình. Con vợ hắn thì do quan hệ bất chính và thằng tình nhân cũng đang sống bình thường với vợ nên cũng giữ gìn, che mắt thiên hạ rất khéo. Nhưng rồi cũng vì cái tôi tham vặt mà lộ hết chuyện. Hắn bảo gần hai năm nay, vợ hắn thường mang kem đánh răng, xà phòng, khăn tắm, bàn chải…về dùng. Mà toàn là đồ thường thấy được trang bị trong các khách sạn. Lúc đầu hắn cũng chẳng để ý, nhưng lâu dần bỗng dưng hắn đặt câu hỏi: vợ hắn làm gì mà tòan xài vật dụng của khách sạn. Quan tâm chút nữa thì hắn phát hiện thêm là toàn đồ dùng của khách sạn Kim Sơn với Kim Hoà, hai cái khách sạn gần cơ quan của vợ hắn. Thế là hắn theo dõi và bắt gặp tận mắt tại trận vợ hắn vào khách sạn với tình nhân vào những buổi trưa trong giờ nghỉ. Hắn cũng chẳng làm gì ầm ĩ, lẳng lặng ra về.

Vợ hắn không còn đường để chối cãi, đành ký giấy ly hôn. Hắn bảo: ĐM cái thứ đàn bà, đã ngoại tình mà còn tham. Hôm nào vào khách sạn cũng vét hết kem đánh răng, xà phòng tắm, xà phòng gội, giấy chùi đít, lược, khăn đem về nhà xài. Vì mấy cái thứ đó tui mới biết chúng nó vào khách sạn, chứ làm sao mà tui biết được. Con mẹ đó ăn vụng chùi mép giỏi lắm nhưng vì cái tham vặt của đàn bà mà lộ mặt. Thôi thì cũng may, nhưng tui buồn là bị cắm sừng mà chẳng hay, nó ngoại tình mấy năm mà chẳng biết. Tui tin hắn nên có bao nhiêu của cải đều đưa nó nắm giữ, tui có biết chi đâu. Ra toà nó bảo tài sản chẳng có gì ngoài căn nhà hồi đó nhà nước cấp và hoá giá. Tui cũng ngọng chứ biết cái chi mà nói. Thế là chia đôi căn nhà, nó ở một phòng, tui một phòng, ra vô lâu lâu đụng mặt nhau, bực mình muốn chết. Phòng vệ sinh, phòng tắm dùng chung. Đôi khi tui cũng thấy nó vẫn xài chùa mấy món đồ của khách sạn, con mẹ đó tham và bần thật.

Chuyện của người ta, mà lại giải quyết xong cả rồi nên tui chỉ lắng nghe mà chẳng có ý kiến gì. Chỉ thấy làm quái lạ sao lại có người ham hố gì tới độ đi ngủ với tình nhân mà lại mang đồ khách sạn về xài chung với chồng. Chẳng khác gì lạy ông tui ở bụi này. Mà anh chồng suốt gần hai năm mới nghĩ ra là mình đang xài đồ khách sạn do vợ ngoại tình mà có. Nghĩ cũng lạ thật. Đúng là đàn bà nhiều khi không hiểu nổi.

Chuyện Cũ

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc tháng 7 30, 2018

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

ĐỌC CHUYỆN XƯA

Chuyện này xảy ra tính cho đến hôm nay là 41 năm rồi. Một thời gian hơn nửa đời người, nhưng đọc lại vẫn thấy xót xa. Xót xa không phải vì bị mất khoản tiền lương, mà xót xa cho thân phận một ông giáo thèm một tô phở bình dân mà không dám ăn, tiêu mấy đồng bạc tiền xe mà không dám tốn. Nghèo khiến cho người ta hèn. Ngày nay người ta cũng hèn nhưng hèn vì muốn sang, muốn giàu, muốn giữ cái ghế để thu vào tiền muôn bạc triệu. Còn thời đó con người hèn vì đói, vì thiếu ăn. Một thời đã đi qua, nhiều khi tự nghĩ sao mình có thể sống được đến bây giờ.
Truyện xảy ra năm 1977, viết lại năm 2007.

Chuyện Cũ

Trưa nay vào pharmacie mua thuốc, bỗng chứng kiến nỗi hốt hoảng và buồn rầu của một cậu thanh niên vừa mới bị móc túi hết số tiền đang có ở trong túi quần. Hình ảnh đó làm tôi nhớ lại tôi cách đây hơn 30 năm.

Tôi bị đày về Củ Chi dạy học sau năm 1975. Lý lịch xấu quá nên cũng đành, có việc là may rồi. Thời đó cả nước rất khó khăn, trường tôi dạy là một trường học sinh cấp ba nội trú. Nhiều lớp toàn là học trò của nội thành đa số có cha đi học tập cải tạo hoặc do nhiều hoàn cảnh phải đi học ở đây, vì học ở trường này sẽ được tiêu chuẩn gạo mỗi tháng 13 kg.

Phương tiện đi lại rất khó khăn, thường đón xe từ ngã tư Bảy Hiền hay là góc Bà Qụeo. Những chiếc xe chạy bằng than và lúc nào cũng đầy nghẹt người và mùi mồ hôi nồng nặc.

Thông thường khi thấy xe đến, chẳng phân biệt thầy trò, tất cả cùng nháo nhào kiếm chỗ để leo lên, có khi phải leo qua cửa sổ. Ăn thì toàn cơm độn với bột mì hoặc bo bo và thức ăn chỉ là cá ươn sình với canh lỏng bỏng nước. Mỗi tháng chỉ được mua giá phân phối vài lạng thịt. Do vậy thời ấy lúc nào cũng thèm ăn và chẳng có ai mập mạp và có bụng bự như bây giờ. Dù vậy, cuộc sống hồi ấy lại rất vui vì ai cũng khổ như ai và cũng chẳng có nhiều nhu cầu lắm cho cuộc sống. Và vì ít nhu cầu nên cũng chẳng có nhiều tham vọng. Mỗi tháng chỉ mong ngày lãnh lương và mua nhu yếu phẩm gồm mấy gói thuốc lá đen, ki lô đường, vài ba nhúm bột ngọt. Lâu lâu lại bốc thăm mua được thước vải hay chiếc quần đùi hoặc cái vỏ xe đạp.

Có một lần cuối tháng lãnh lương, sau khi trừ tiền nhu yếu phẩm, còn lại hơn 30 đồng. Tôi dự trù nhiều việc cho số tiền này và dự định sẽ ăn một bát phở ở ngã tư Bảy Hiền khi xuống trạm. Đã gần cả năm nay không được ăn phở, chỉ nghĩ đến là nước bọt đã trào ra đầy miệng. Lên xe ở ngã tư Tân Qui xuôi về Hóc Môn. Tôi cẩn thận để số tiền lương còm cõi vào túi áo với suy nghĩ rằng vị trí đó ở ngang tầm mắt dễ kiểm soát.

Xuống xe lam ở chợ Hóc Môn, lên xe búyt chật chội về Bảy Hiền, xe đông ứ người, chen lấn nhau kiếm một chỗ đứng. Tôi dùng một tay nắm lấy cây đà ngang trên xe, tay còn lại nắm chặt túi áo. Dù bị đẩy qua lại và bị xốc nhiều lần trên đường đi, tôi vẫn cố giữ tư thế này cho đến trạm cuối. Xuống xe, tôi bước băng qua đường định vào ngay tiệm phở, cơn thèm đã lên đến đỉnh rồi, mùi mỡ bò đã thấy ngất ngây ở đầu mũi, đã thấy những cây hành xanh biếc nổi trên máng mỡ vàng và những miếng thịt tái đo đỏ, đã nghĩ đến cảm giác húp một muỗng nước lèo, lùa một dây sợi phở trắng tinh vào miệng. Đã bắt gặp cảm giác khoan khoái ngọt ngào, beo béo. Nhưng rồi tôi lại lưỡng lự. Ăn tô phở này sẽ mất mấy ngày tiền chợ. Hay là về nhà ra chợ mua lạng thịt về nấu ở nhà cùng ăn. Nghĩ vậy nên tôi bước qua tiệm phở không vào. Nhưng cơn thèm lại dấy lên, mùi vị miếng thịt bò ngấm trên đầu lưỡi, vị ngọt của nước lèo ngào ngạt lại kéo tôi quay trở lại. Nhưng đến cửa quán lại lưỡng lự. Tôi qua lại mấy lần như vậy và cuối cùng tôi đã thắng, tôi hít một hơi mùi thơm của phở đầy lồng ngực và dứt khoát băng qua đường đi thẳng bỏ lại sau lưng mùi thơm sực nức của bát phở bốc khói.

Tôi đến trạm xe lam nằm bên hông trường Nguyễn Thượng Hiền, có chiếc xe đang chờ khách. Tôi leo lên và đợi. Chưa thấy thêm người khách nào. Tôi lại nghĩ chờ chắc phải còn lâu mới đầy xe, sao ta không đi bộ đến Lăng cha Cả, tiết kiệm thêm một ít tiền rồi từ đó đi xe buýt về nhà. Nghĩ là nhảy xuống, tôi kiểm tra lại túi áo, số tiền vẫn còn và đi bộ về Lăng. Tự nhủ với mình chiều nay mình đã thắng những cám dỗ và tiết kiệm được mấy đồng.

Lên xe búyt ở Lăng Cha Cả, chiếc xe đầy người và người, ai cũng cố len cho mình một chỗ và ngóng mặt ra chỗ trống để hớp một chút không khí. Tôi chỉ đứng được một chân ở tam cấp lên xuống nơi cửa.Nhìn bên cạnh thấy có một khuôn mặt có vẻ khả nghi, tay này hình như cứ nhìn vào túi áo mình. Tôi hơi chột dạ. Phải cảnh giác. Phía sau tôi, một bà mẹ trẻ tay dắt một em bé, túi xách lỉnh kỉnh. Nhìn cũng có vẻ đáng ngờ. Cũng phải cảnh giác. Tôi len lén thò tay vào túi áo, lấy mấy chục bạc ra và bỏ ngay vào túi quần, tay thọc vào đó giữ lại. Chắc ăn. Xe đến bệnh viện tai mũi họng ở đường Yên Đỗ, thời ấy bệnh viện này chưa dời qua vị trí bây giờ. Tôi định bước xuống, chỉ còn đi bộ một đoạn đường nữa là về đến nhà ở đường Nam Kỳ Khởi nghĩa. Bà mẹ trẻ luống cuống dắt đứa bé chen tôi bước xuống, túi xách lòng thòng, đứa bé bước đi chông chênh muốn ngã, tôi đưa tay ra đỡ em bé, dìu xuống đường. Bà mẹ lí nhí cám ơn, xe chạy sau một tiếng vỗ vào thùng xe của anh chàng lơ. Tôi định bước đi bỗng sực nhớ số tiền lương trong túi. Thọc tay vào túi quần, số tiền đã không còn ở đó. Ruột tôi thắt lại. Tim tôi đập loạn xạ.. đầu tôi choáng váng. Một cảm giác hụt hẫng như đang ngã xuống một vực sâu. Thăm thẳm. Tôi đưa tay một cách vô thức vẫy gọi chiếc xe đứng lại nhưng họng tôi bỗng khô cứng, không thốt ra được âm thanh nào ngoài tiếng ú ớ của người câm. Chiếc xe rồ ga để lại đám bụi mù. Tôi thẫn ngồi thờ sụp xuống bên vệ đường, lục lại các túi, túi áo, túi quần, túi sau túi trước. Mất thật rồi. Không còn đồng nào nữa rồi.

Những ngày tới gia đình tôi phải sống làm sao? Tôi phải nói sao với vợ với con đây? Những người thân của tôi đang chờ tôi, đang ngóng đợi tôi cùng số lương hàng tháng mang về. Tôi thất thểu bước như kẻ mất hồn. Tôi lại nhủ phải chi hồi nãy vào ăn bát phở, có mất cũng được ăn còn hơn phải nhịn thèm. Giá như hồi nãy ngồi chờ đi xe lam, chưa chắc đã phải bị mất tiền. Khốn nạn, đã cảnh giác suốt cả đoạn đường dài mà cuối cùng cũng bị mất. Chúng nó gian ngoa thật. Nếu lúc đó không bỏ tay ra khỏi túi để đỡ đứa bé thì chắc là không bị mất. Biết bao cái giá như, biết bao cái tiếc nuối….

Chắc là khuôn mặt tôi lúc đó cũng giống như khuôn mặt của chàng thanh niên bị mất tiền hôm nay tôi đã gặp. Khốn nạn cuộc đời, đã nghèo lại gặp cái eo. Chuyện xảy ra đã hơn 30 năm, những khốn khó rồi cũng qua đi, nhưng nỗi xót xa của anh nhà giáo nghèo mất tiền của 30 năm trước vẫn còn đắng trong buồng ngực.

Tháng 6.2007

Vợ Thầy Hương

vietmessenger.com
Lê Xuyên
Miền Nam xuất bản 1965

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 5

Thím Hương vào trong ngọn xẻo tạm trú trên gian nhà sàn do Chín Thuộc dành cho đã được đúng ba hôm. Chín Thuộc lo lắng từ chút cho thím về mọi vấn đề ăn ở khiến cho đôi lúc thím Hương cũng cảm động. Ngày nào hắn ta cũng cà rà trên nhà sàn từ sáng đến chín mười giờ tối mới trở về nhà riêng gần đó ngủ. Sơn Nhỏ cũng như mấy tên thủ hạ khác tò mò theo dõi hành vi của hắn ta và bàn tán như là một chuyện thích thú gì hiếm có lắm vậy.

Tối hôm ấy, Sơn Nhỏ ngồi trên một gốc cũi khô vừa phì phào hút thuốc vừa canh chừng lên ánh đèn phía trên nhà sàn.

Lúc bấy giờ vào khoảng trên mười giờ, nghĩa là lâu quá hơn lệ thường, mà Chín Thuộc vẫn còn ngồi chà lết trên ấy!

Ánh đèn dầu chợt tắt phụt. Sơn Nhỏ thở ra, búng mạnh tàn thuốc lá cho văng xa rồi đứng dậy quay đi miệng lẩm bẩm: ‘‘Đêm nay coi bộ… êm rồi!’’…

Nhưng hổng có tiếng kẻo kẹt trên chiếc thang tre và liền theo đó Sơn Nhỏ thấy bóng Chín Thuộc lù lù đi xuống. Sơn Nhỏ chưng hửng đứng khựng lại. Chín Thuộc đặt chân xuống đất, ung dung rảo bước thẳng về nhà, vừa đi vừa hút gió nho nhỏ bản ‘‘Lên đàng’’.

Sơn Nhỏ khẽ tằng hắng một tiếng khiến Chín Thuộc quay phắc lại, quát hỏi liền

– Đứa nào đó vậy?

Sơn Nhỏ bước tới gần:

– Em đây mà đại ca.

– Sơn Nhỏ hả! Làm gì mà giờ nầy em còn lọ mọ đó hả? Mọi khi em có tật ngủ sớm lắm mà!

Sơn Nhỏ ấp úng đáp:

– Ờ… hổng biết sao lóng rày… khó ngủ sớm quá… chắc có lẽ vì ăn no ở không nhiều nên nó… sanh tật như vậy.

Chín Thuộc cười rè rồi cặp tay Sơn Nhỏ lôi đi:

– Lóng rày thằng cha nầy hay nói xéo tui quá ta! (đến đây hắn ta nghiêm giọng lại nhưng cũng có vẻ lúng túng đôi chút). Em ở không mấy bữa nay nên… cuồng chưn cuồng cẳng phải hông? Qua cũng có nghĩ tới chỗ đó, nhưng qua tính đã lâu ớn rồi, anh em mình làm ăn lung tung, đêm nay đám này, đêm mai đám nọ… như vậy cũng mệt nhọc lắm chớ phải chơi đâu!Bởi vậy nên qua muốn nhơn dịp nầy, anh em mình nghĩ xả hơi một vài tuần, với lại có thím Hương ở đây mình… phải giữ cho nội vùng chung quanh yên yên một chút chớ hông thôi thím lo hoảng thì…

Sơn Nhỏ mau miệng đỡ lời hắn ta:

– Thì đại ca… khó xáp lại một cái ‘‘cụp’’ phải hông?

 Chín Thuộc cười xòa vỗ mạnh vào vai Sơn Nhỏ:

– Chú mầy giỏi đa! Chú mày có muốn o mèo giỏi và hốt hồn thiên hạ thì ráng để ý học mấy cái nước đó của qua, qua sẽ truyền lại hết cho chú mầy chớ hổng có dấu nghề đâu!

Sơn Nhỏ cười theo:

– Ý thôi, tui hổng ham ba thứ đó đâu! Tui cứ… như vầy có phải khỏe hông!

– Hứ, chú mầy nói như vậỵ là chưa có cứng cựa đó nghen! Nên coi chừng: những tay nào mà nói hổng ham mèo chuột, đến khi mê con nào rồi bị nó nhử cho… hỉnh mũi lên làm trâu cười thì… mụ nội tao bây giờ can cũng hổng nổi nữa! Tới chừng đó, chú mày có đem đinh một tấc đóng vào lỗ tai nó, nó cũng hổng chịu nghe chớ đừng nói khuyên can phải quấy gì nữa!

Sơn Nhỏ đứng khựng lại:

– Đại ca nói miệng tài hoài, vậy chớ mấy hổm rày việc của đại ca với thím Hương có ăn thua gì hông mà tui thấy đại ca cứ… trèo lên tuột xuống trên chiếc thang tre kia hoài vậy? Hồi nãy, tui thấy đèn tắt mà đại ca leo xuống, tui tưởng… êm rồi chớ!

Chín Thuộc thụi anh ta một cái:

– Chú mày rình qua sát dữ há! Qua đây hổng nóng thì thôi, chú em mầy là người bàng quan mà cũng chộn rộn nữa chớ!

Sơn Nhỏ ấp úng đẩy đưa cho xuôi:

– Tui sợ đại ca đeo đuổi theo cái vụ nầy… mất thì giờ rồi để bê trễ hết mọi công chuyện mần ăn khác…

– Ậy, nhứt định… thắng lợi mà em! Đối với đờn ba mình phải tùy người tùy đứa mà tính kế. Hiện nay qua đã bao vây thím Hương đâu đó kín mít hết rồi, bây giờ qua chỉ… dậm cù lần lần vô thì thế nào cũng ăn chắc. Qua mà bộp chộp quá thì thế nào thím cũng đâm ra nhát rồi làm cho hư bột hư đường hết, hay là làm cho mình phải tốn nhiều công phu rị mọ lại nữa.

Sơn Nhỏ thở dài:

– Tui cũng vái trời cái vụ này xong cho rồi…

Chín Thuộc cự nự:

– Coi, sao em lại vái trời? Chuyện nầy là chuyện của qua thì ông trời ăn nhậu gì vô trỏng? Mà sao qua coi bộ em thắc mắc, em… xốn xang quá vậy?

Sơn Nhỏ nhún vai:

– Hổng phải thắc mắc gì nhưng… mấy anh em khác suốt ngày họ dòm ngó, xầm xì đại ca hoài nên cũng phải… để ý tới chớ.

Chín Thuộc to tiếng:

–  Chuyện của qua mà mắc mớ ông bà ông vải gì tụi nó mà tụi nó xầm xì chớ? Đâu, thằng nào nói hành nói tỏi gì qua em chỉ một cái cho qua coi? Qua đập сho nó bể hàm!

Vừa nói Chín Thuộc vừa níu tay Sơn Nhỏ lôi đi.

Sơn Nhỏ rị lại, dịu giọng ngăn cản hắn ta:

– Ý, đại ca làm như vậy hổng nên. Đại ca mà đánh mấy thằng đó, rủi nó không biết suy nghĩ để bụng sanh thù rồi lén chạy đi mạch đồn bót gần đây, hay đi dắt ba thằng du kích dìa chụp lén anh em mình thì cũng… kẹt lắm chớ phải chơi sao!

Thấy Chín Thuộc không nói không rằng gì hết. Sơn Nhỏ vui vẻ tiếp lời:

-… Mà đại ca cũng nên châm chế cho anh em, anh em mình đứa nào đứa nấy cu ky một mình lâu ngày chầy tháng nên cũng đâm ra nghĩ bậy nghĩ bạ một chút chớ! Với lại ở chốn khỉ ho cò gáy nầy, lội bốn năm cây số mới gặp một đứa con gái, mà đứa nào đứa nấy mốc thít mốc cời xù xì như cũ co hết thì ham sao nổi! Bây giờ, khi không tụi nó thấy một người đờn bà… mướt rượt, bóng sắc như thím Hương đây lạc tới, thì biểu họ hổng… chắc lưỡi hít hà sao được?

Chín Thuộc lặng thinh bước tới vài bước, rồi quay sang bảo Sơn Nhỏ:

– Em nói nghe cũng hữu lý. Ờ phải há… em có nhắc tới cái vụ này qua mới để ý. Em coi lù khù vậy mà… hay đa!

Sơn Nhỏ xẻn lẻn đáp:

– Tui thấy vậy thì tui… nói vậy chớ hay khỉ gì.

Chín Thuộc gật gù:

– Được rồi. Qua sẽ liệu cách, nhưng dầu sao chắc qua cũng phải nhờ nhõi em nhiều nữa.

Sơn Nhỏ ngạc nhiên hỏi lại:

– Nhờ cái gì nữa đại ca? Đại ca sai tui đâm chém gì đó thì tui đi liền, chớ cái việc… đờn bà lằng nhằng này tui ngán quá…

Chín Thuộc lại thân mật cặp kè anh ta đi tới

– Em khỏi lo, qua nhờ em canh chừng ba đứa chúa ôn đó, sợ mai mốt có việc qua đi vắng đôi ba ngày tụi nó… làm hỗn bất tử vậy mà! Nội cái đám nầy, qua chỉ dám tin một mình em thôi hè!

Sơn Nhỏ cười nhẹ:

– Ừa, cái đó thì được…

Chín Thuộc chợt hỏi:

– À, số của cái của thím Hương em cất kỹ đó chớ?

– Kỹ lắm.

– Như vậy kể ra thì qua giao cho em giữ hết hai món đó nghen!

Sơn Nhỏ rút tay ra, hỏi lại liền:

– Ủa, hai món nào đại ca?

Chín Thuộc cười đáp:

– Thì món ruột tượng là một, món… thím Hương là hai… Tiền và tình gì qua cũng giao trọn cho em giữ hết, bộ không phải như vậy sao?

Sơn Nhỏ cười xòa:

– Đại ca nói cái gì nghe kỳ quá! Nhưng tui có giữ hai món đó, tôi cũng ngán thấy mồ: hai món đó đều có huông hết mà đại ca!

– Bậy nà. Em cất giữ dùm qua chớ bộ em đem ra… xài hay sao mà sợ có huông… sợ xui xẻo!

– Ờ há… Còn đại ca, đại ca xài mà hổng ngán… cái chuyện đó sao?

Chín Thuộc cười rộ lên:

– Ngán cái khỉ họ! (Đoạn hắn vỗ vai Sơn Nhỏ, thân mật tiếp lời)… Qua đã đốt ‘‘phong long’’ xổ xui đâu đó hết rồi mới dám nhào vô chớ em! Với lại mình phải cao tay ấn, biết bắt biết buông đúng thời kịp lúc thì vẫn… khỏe ru như thường…

Sơn Nhỏ hỏi lại:

– Tui chắc hồi đó thằng cha Tư nó cũng tính như vậy…

Chín Thuộc ngắt ngang:

– Xí, cái thằng cha gà chết đó mà bì với qua sao nổi (ngừng lại một giây, hắn ta chậm rãi nói tiếp)… Kể ra thằng chả cũng tính xuôi rót hết đó chớ, nhưng rủi ro lại gặp anh em mình.  Còn qua bây giờ thì kể như một mình một chợ, vòng ngoài lại có em canh chừng. Qua xáp vô thím Hương cho đã đời một ít lâu rồi cũng kiếm cách tống khứ con mẻ đi về cho êm chớ giữ con mẻ theo lình kình làng càng thì còn làm ăn khỉ gì được nữa!

Đến đây, giọng hắn ta trở nên trầm trầm:

– Có lẽ qua cũng đợi cho êm êm rồi… giải nghệ chớ em nghĩ coi, thời buổi này mình đeo đuổi theo cái nghề nầy hoài sao được. Qua cũng trọng tuổi rồi. Hơn nữa, qua còn nghĩ tới em nhiều lắm… Em, tánh tình đàng hoàng như vậy mà chen sống hoài với tụi này thì tội nghiệp lắm. Hổng biết sao hồi đó em lại chịu theo qua… bền như vầy hả Sơn Nhỏ?

Sơn Nhỏ cảm động:

– Coi, đại ca quên rằng hồi đó tui lỡ tay đập chết một tên công an xã làm trời ở dưới chợ tản cư Bà Đầm, đại ca có mặt ở đó bèn nhảy vô giải vây và dẫn tui chạy trốn đó sao?

– Qua tưởng em lên trên nầy trốn đỡ chớ thiệt tình không dè em theo qua bền như vậy.

Sơn Nhỏ nhún vai, giọng thản nhiên:

– Thì… buồn buồn theo luôn vậy mà!

Chín Thuộc lắc đầu:

– Bộ chú mầy coi cuộc đời như… chơi sao vậy?

Sơn Nhỏ làm thinh rảo bước đi thẳng về chỗ trọ…

Chín Thuộc bước lại đầu bàn vặn cho ngọn đèn tỏ lên rồi quay qua ân cần hỏi thím Hương:

– Sao thím, hồi chiều tôi có sai bầy trẻ đem qua cho thím một ổ bánh mì và thịt hộp, thím dùng có ngon hông? Tôi gởi mua tận ngoài thành đó thím!

Thím Hương cười giả lả:

– Ngon lắm. Thiệt lâu quá chừng quá đỗi tôi mới được dịp nếm lại mấy thứ đó… Mà anh bày đặt gởi mua chi hết món nầy tới món nọ vừa mắc công mắc linh vừa tốn tiền tốn bạc. Tôi ở đây… mắm muối qua ngày cũng được rồi. Bận sau anh mà còn như vậy nữa tôi hổng nhận đâu nghen!

Chín Thuộc đứng xuôi cò, mặt hắn nhăn nhó:

– Coi, thím mà nhẫn tâm như vậy là thím phụ bụng tôi, là thím… hổng thương tôi…

Thím Hương chắc lưỡi chận ngang

– Coi, sao anh nói vậy hả anh Chín? Tôi quấy rầy anh như vầy cũng là quá đáng rồi…

Chín Thuộc hăng hái đáp:

– Tôi đã nói cả ngàn bận là đối với thím thì cái gì cũng chưa đủ hết á! Miễn thím hiểu rõ bụng tôi như thế nào là được rồi. Tôi cứ lo thím ở đây đã lẻ loi một mình mà còn phải chịu thiếu thốn nầy nọ nữa thì tôi… đáng tội chết! Đó thím coi, nội cây đèn chong trong nhà nầy tôi cũng lo nữa: hồi trước tôi thấy đốt bằng dầu cá vừa dơ vừa tối, tôi liền gởi mua cho được thứ dầu lửa

Con Gà ở trên thành đem về…

Thím Hương cười mũm mỉm liếc xéo hắn ta:

– Anh thiệt hay bày đặt chuyện quá hà! (rồi thím làm mặt nghiêm, rụt rè nói tiếp)… Tôi nói cái nầy… anh đừng giận nghe anh Chín?

Chín Thuộc khoan thai bước lại ngồi xuống mép chõng bên cạnh thím

– Cái gì đó thím? Tôi mà dám giận thím thì cho trời tru đất diệt, tàn gia bại sản đi…

Thím Hương nhốm người lên:

– Ý, anh đừng thề bậy hổng nên. Mà anh chắc anh hổng giận thiệt hén?

Chín Thuộc thở dài, giọng nằn nì:

– Thôi mà thím, thím hành tội tôi vừa vừa nó chớ! Tôi sốt ruột sốt gan quá trời quá đất đầy nè!

Thím Hương nheo mắt nhìn hắn ta một hồi rồi chậm rãi lên tiếng:

– Hổng nói giấu gì anh, hồi đó tôi mới gặp anh, tôi thấy anh coi bộ… dữ dằn quá, tôi thiệt ngán trân chứ có dè đâu anh cũng biết mềm mỏng khéo léo như vầy…

Chín Thuộc xẻn lẻn cúi mặt xuống, đưa ngón tay khều khều cọng chiếu ló ra ngoài mép chõng:

– Thím nhắc lại chuyện đó, tôi… mắc cở thiếu điều muốn độn thổ mà trốn. Hồi đó… tại tôi quá hấp tấp, phần chưa hiểu rõ thím cho nhiều nên mới để sanh chuyện bê bối như vậy…

Thím Hương lại chắc lưỡi:

– Hổng phải tôi muốn nhắc lại cái chuyện đó đâu anh Chín. Tôi muốn nói là anh cũng biết khéo chìu chuộng… người ta lắm.

Chín Thuộc nở mũi nhưng ra bộ khiêm tốn đáp:

– Thím cứ kêu ngạo tôi hoài, tôi biết mình còn sơ sót nhiều lắm, nhưng thím cũng nên châm chế cho vì từ hồi nào tới bây giờ tôi quen sống theo lối buông thùa và đâu có dịp nào phải chăm lo săn sóc cho một người đàn bà hết á thím!

Thím Hương mỉm cười hoài nghi:

– Thiệt hay không đó anh Chín? Theo tôi thì … bộ vó của anh cũng… đắt mèo lắm mà!

Chín Thuộc nhăn nhó vò đầu bức tóc:

– Thím đề án tử như vậy chết tôi rồi! Phải tôi mà được như thím nói thì đâu có ba trật bốn vuột đối với thím như vậy nè!

Thím Hương liếc xéo hắn ta:

– Đọ… đọ, tôi có làm cái gì đâu mà chưa chi anh đã gieo tiếng ác cho tôi đó hả?

Chín Thuộc thở dài thườn thượt ngước mắt ngó Ịên nóc nhà:

– Trời đất quỷ thần ơi ngó xuống đây mà coi: thím làm cho người ta thiếu điều chết lên chết xuống, ăn ngủ đứng ngồi gì cũng không yên hết ráo mà thím còn… tàn nhẫn nói một cách ‘‘như không’’ vậy nữa chớ!

Thím Hương ráng làm tỉnh hỏi lại hắn ta:

– Coi, tôi có làm gì đâu mà anh nói nghe… dữ vậy anh Chín?

Chín Thuộc xụ mặt thở dài một hơi rồi từ từ ngước mặt lên nhìn châm bẩm vào mặt thím Hương, và với một giọng đầy vẻ oán trách, hắn ta hỏi ngang:

– Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt phứt cho rồi…. Bộ thím không biết rằng tôi… thương thím hết chỗ để sao hả thím?

Thím Hương liếc mắt nhìn về phía cửa cái rồi cười lỏn lẻn:

– Anh nói… càng mạng như vậy rủi mấy anh em họ nghe được họ cười chết đa anh Chín!

Chín Thuộc nhốm người ngồi xích lại thím Hương thêm một chút nữa và hăng hái đáp:

– Đứa nào cười thì kệ mồ nó, tôi cũng chẳng cần gì ráo! Miễn thím hiểu bụng tôi là được rồi.

Thím Hương nhích người dang ra để õng ẹo dựa ngửa lưng vào chiếc gối tai bèo lớn đặt gác lên thành chõng, rồi thản nhiên hỏi lại Chín Thuộc:

– Anh vui miệng anh nói chơi vậy chớ tôi mà ăn nhằm gì phải hông anh Chín?

Chín Thuộc giơ tay cú mạnh vào đầu mình, giọng bực tức:

– Thiệt thím hỏi tôi một câu xóc óc quá! Thím ác ghê lắm nghen thím!

Thím Hương ỡm ở hỏi lại:

– Nữa, tôi làm gì ai mà ác?

– Trời ơi, thím hổng biết tôi thương thím… thương quýnh, thương nôn hay sao?

Thím Hương cười xòa:

– Anh nầy nói nghe kỳ quá hà!

Chín Thuộc lết sấn tới thêm một chút nữa

– Tánh tôi ăn ngay nói thẳng vậy thím à. Thôi sẵn dịp nầy tôi cũng… tuôn ra hết phứt cho rồi: tôi xin hỏi thiệt thím, thím có… đoái tưởng đến thằng này một chút xíu nào hông hả thím?

– Anh này hỏi sao lạ quá. Anh đối đãi với tôi tốt như vầy lẽ tự nhiên tôi… mang ơn anh ghê lắm…

Chín Thuộc chắc lưỡi gạt ngang:

– Mang ơn khỉ khô gì! Tôi chỉ cần hỏi thím có… nghĩ đến thằng này không? Thím chỉ cần trả lời hoặc có hoặc không và gạt qua một bên các chuyện ơn nghĩa cà lằng nhằng đó đi!

Thím Hương mỉm cười:

– Cha, anh này sao nóng quá hổng biết!

-Trời đất ơi, tôi đợi bao nhiêu lâu nay mới có giờ phút nầy mà thím!

– Thì anh để… thủng thẳng coi…

Chín Thuộc cười như mếu

– Chết tôi rồi, giặc giã đánh ầm ầm mà thím để thủng thẳng coi chớ!

Đến đây, hắn ta nghiêm mặt lại và tiếp lời bằng một giọng rất thảm thiết:

– Thím ơi, thím cứ nói quanh co hoài thì chẳng khác gì thím muốn xẻo từng miếng da miếng thịt tôi ra vậy. Xin thím nói đại một tiếng cho tôi biết để tôi còn liệu thân phận của tôi, nếu hổng xong thì dang ra…

Thím Hương nhíu mày, đã đớt hỏi liền:

– Bộ tôi nói… hông rồi anh tính đuổi tôi đi phải hông?

– Ý đầu có tệ như vậy thím! Tôi nói dang ra đây là… hổng dám xáp lại gần như vậy, chớ dầu thế nào đi nữa tôi cũng làm tròn bổn phận của tôi đối với thím ở đây chớ!

Giọng nói của hắn ta bỗng trở nên ngùi ngùi:

-… Nếu có cái gì thì tôi phải biết trước để lo thân tôi chớ, hông thôi ba đứa em út tụi nó thấy tôi lăng xăng bên thím hoài như vậy, rồi rốt cuộc ăn trớt hết… thì thế nào tụi nó cũng xầm xì tôi là một thằng già… ăn cám  xú nên mới u mê ám chướng như vậy.

– Tội nghiệp dữ hông! Anh mà cũng sợ tai tiếng nữa sao?

– Thím nghĩ coi hổng sợ sao được, tự hồi nào tới giờ tôi có bo bo lo việc riêng như vậy đâu… Nhứt là Chú Sơn Nhỏ chú cự nự tôi ghê lắm.

– Cọi bộ anh đó hiền lắm mà!

– Ừ, Sơn Nhỏ thì được cái chỗ ấy. Ở đây tôi coi chú là… nhứt hạng đó. Mà thôi, thím làm ơn làm phước trả lời thẳng về cái chuyện tôi hỏi hồi nãy đó, chớ hông thôi mấy ngày rày tôi không ăn ngủ gì được ráo!

Thím Hương hơi cúi mặt xuống:

– Anh sao gấp quá… Nhưng tôi nghĩ thân phận của tôi nổi trôi như vầy thì có xứng đáng gì…

Chín Thuộc vồn vã nắm lấy bàn tay của thím:

– Thím chê tôi không xứng đáng thì có! Thím ơi thím đừng hành tội tôi nữa mà thím!

Thím Hương rút nhẹ bàn tay ra, cười chúm chím:

– Tôi nói để thủng thẳng… Tôi có biến mất đi đâu được mà anh sợ chớ!

Chín Thuộc nhăn mặt:

– Hổng biến nhưng… cứ bẹo hình bẹo dạng trước mặt như vầy tôi xốn xang quá mà!

Thím Hương ngoe nguẩy:

– Xí, nói tầm bậy hoài hè!

Chín Thuộc cười hề hề rồi bỗng nhiên hắn ta nghiêm mặt lại nhìn sững vào mặt thím Hương:

– Thím ngồi yên đừng nhúc nhích cục cựa gì hết nghen! Để tôi đập con muỗi…

Rồi không đợi thím Hương trả lời, hắn ta giơ tay lên…

Trước cử chỉ đột ngột của Chín Thuộc, thím Hương, đành trân mình ngồi yên không dám động đậy gì hết.

… Và không biết con muỗi kia đậu ở đâu mà bàn tay của Chín Thuộc ấn nhẹ lên má thím Hương… nằm у nguyên ở đó trong một vài giây rồi từ từ vuốt xuống: vòng theo càm…

Thím Hương vừa hất bàn tay ấy ra vừa ngửa lên chiếc gối đặt ở phía sau lưng để né tránh, rồi xẻn lẻn cự nự:

– Cái anh này kỳ quá hà!

Chín Thuộc ráng làm mặt nghiêm:

– Coi tôi đập muỗi mà thím hổng cho nữa sao?

Thím Hương trề môi

– Xí, bộ con muỗi đó biết lủi trốn hay sao mà anh phải… rượt ví trên gò má của tôi vậy?

Chín Thuộc cười rè

– Thì… tôi phải chà nhẹ nhẹ như vậy chớ chẳng lẽ đập đại một cái bốp hay sao!

Thím Hương làm ra vẻ chanh chua:

– Cũng may là nhà nầy không có rệp, chớ nếu có anh dám đòi bắt theo kiểu… anh đã đập muỗi vừa rồi đó nữa!

Chín Thuộc thích chí cười vang, rồi chẳng nói chẳng rằng nhoai người tới ôm ngang lưng thím Hương hôn như mưa bất trên tóc, trên má, trên tai, trên càm… những, cái hôn như muốn hít bứt da thịt…

Thím Hương cố nhoai đầu ra, giọng của thím vừa nũng nịu, vừa năn nỉ:

– Khoan một chút xíu đã anh Chín! Anh làm cấn đầu đau thấy mồ người ta đây nè!

Chín Thuộc còn ráng hôn vớt một hơi dài trên chiếc cổ trắng cao của thím Hương, để nghe rõ những mạch máu đập bừng bực dưới làn da bắt đầu hâm hấp mồ hôi ấy!

Hắn ta ngồi thẳng lại, một tay đưa ra đỡ lấy đầu thím Hương nhấc lên một tay giơ lên đánh mấy cái liền vào thành chõng để đả đớt.. ‘‘hài tội” (y như các bà mẹ đánh bù vào cạnh bàn gốc ghế đã ‘‘làm” cho con mình đụng u đầu hay vấp té ngã vậy)

– Cái chõng chết bầm này! Ai biểu mày làm cấn đầu cưng của tao hả!

Đoạn hắn ta nâng niu đặt thím Hương nằm yên trên gối, rồi hấp tấp hỏi luôn

– Để anh bước xuống xập mùng và…

Thím Hương chận ngang:

– Cha, mới ràng ràng đây anh học ở đâu mà xưng… “anh” một cách nghe ngọt xớt như mía lùi vậy.

Chín Thuộc rón rén bước xuống chõng, vói lên buông mùng xuống rồi ló đầu vô cười đáp:

– Thì… học ở cưng đó chớ học ở đâu nữa. (anh ta thấp giọng nói nhanh)… thôi khuya lắm rồi, để anh đi tắt đèn nghen cưng!

Chín Thuộc định quay đi thì thím Hương đã ngồi rột dậy, hớt hải kêu giựt ngược lại:

– Khoan đã anh Chín.

Chín Thuộc cau mày như có vẻ không hiểu:

– Coi, sao lại khoan?

Thím Hương cúi mặt xuống, đưa tay níu lấy một mớ đuôi tóc đổ xỏa ra phía sau lưng để mân mê trong lòn, bàn tay rồi ấp úng lên tiếng

– Anh Chín, anh đừng… giận tôi tội nghiệp… Thôi để… khi khác anh à!

Chín Thuộc nhăn nhó chắc lưỡi:

– Thiệt mụ nội tôi cũng hổng hiểu gì hết! Thì mới vừa đó… sao bây giờ lại khoan cà?

Lần đầu tiên thím Hương xưng em:

– Anh Chín, hổng phải em tiếc cái gì, hay muốn làm ngặt làm eo anh điều chi nhưng… em nghĩ mình làm coi cũng kỳ…

– Cái gì mà kỳ?

Thím Hương tìm cách trả lời trớ đi:

– Việc đó mình nên để… thủng thẳng sau này… nó có trễ đâu anh?

Chín Thuộc giơ hai tay ra như để phân bua

– Coi, em nói cái gì mà quanh co vậy? Trước hay sau gì thì nó cũng vậy thôi, chớ bộ…

Thím Hương gượng cười đáp:

– Thì phải rồi, nhưng xin anh nghĩ tới hoàn cảnh trắc trở hiện nay của em… hổng phải em dám tiếc một chút bẻo gì đối với anh đâu!

Chín Thuộc bực dọc ngồi mạnh xuống mép chõng:

– Hoàn cảnh trắc trở làm sao? Bây giờ em ở đây êm ru chớ còn gì nữa hả?

Thím Hương thở dài

– Em muốn nói trắc trở là trắc trở về chuyện khác kìa… chuyện của anh Tư đó!

– Anh Tư ảnh chết queo rồi mà em! Còn anh, anh sống nhăn đây nè!

Thím Hương mỉm cười:

– Thì đó, anh Tư ảnh mới qua đời nên… dầu sao em cũng phải nghĩ đến ảnh chút đỉnh, chớ mới ràng ràng đây mà em.. hấp tấp bứt ngang như vậy coi cũng kỳ.

Chín Thuộc ngồi lặng thinh, mặt quạu đeo. Bỗng hắn ta phát cười khan rồi daỵ qua hỏi thím Hương:

– Anh nói ra câu nầy không phải để châm chích gì em, nhưng em thử nghĩ lại coi, hồi thầy Hương quản  còn sống sờ sờ ra đó, rồi kế thầy lâm nạn mãn phần… hồi đó em đâu giữ kỹ như vầy…

Liếc thấy thím Hương cúi gầm mặt xuống, hắn ta dịu dàng nói tiếp:

– Thôi em à, thời buổi này mình cũng nên… xính xái bớt, cuộc đời đã khổ nhiều rồi thì mắc mớ gì mình lại còn ép thân hành xác thêm nữa!

Thím Hương vẫn không nói năng gì hết…

Gian nhà bỗng trở nên lặng lẽ một cách lạ lùng. Ngọn đèn dầu bỗng như sáng tỏ hơn lên và bên ngoài gió đồng vẫn thỗi rì rào trên những tàu lá chuối tạo thành một thứ tiếng thì thầm bất tận.

Thím Hương chợt rùng mình… và Chín Thuộc cố ném bớt hơi thở dồn nhưng cũng không khỏi hồi hộp nhìn sững người đàn bà tuy quá quen mặt mà sao trong đêm nay, lại như quá mới lạ đối với hắn ta: từ mớ tóc đen nhánh đổ xõa ra phía sau lưng, từ đôi mắt sâu thẳm như che giấu bao điều bí ẩn, từ đôi lông mi chớp lia như bối rối, như cam chịu, từ mấy hàng khuy áo đầu xô lệch như không buồn che giấu sự thiếu vắng của chiếc áo lót mình hường lợt chật bó mọi khi, từ chiếc quần lãnh mướt rượt…

Tự nhiên Chín Thuộc đâm ra luống cuống một cách bất thường… hắn nghiêng đầu ấp úng hỏi nho nhỏ thím Hương:

– Anh… đi vặn bớt ngọn đèn xuống… hay là… tắt luôn nghen em?

Thím Hương hơi nhíu mày nhìn ra phía ngoài mùng, và vẫn giữ lặng thinh. Chín Thuộc lập nhanh lại câu hỏi cũ và tiếng thì thầm của hắn ta như hòa lẫn với tiếng gió rì rào trên đám chuối sau hè…

Sự im lặng của thím Hương làm cho Chín Thuộc vừa sốt ruột vừa bực mình. Mấy lần hắn ta nóng nãy nhốm người lên rồi lại hậm hực ngồi phịch xuống, mắt lom lom canh chừng mọi cữ động nhỏ của thím Hương.

Bỗng… thím Hương thở hắt ra một hơi dài, vói tay đẩy chiếc gối tai bèo xích vô trong rồi nằm lăn xuống chiếu, quay mặt úp vô phía vách.

Chín Thuộc mừng rỡ giơ tay ra định khều hỏi thím Hương một lần nữa nhưng rồi lại thôi: vạt sau của chiếc áo túi thím Hương lật vén lên trên để lộ cả một phần  eo thắt của tấm lưng thon và cố nhiên, cả phần no bầu của chiếc quần lãnh đen láng mướt…

Tự nhiên Chín Thuộc thấy khô gắt nơi cổ như… khi  ăn mắm suốt ngày mà không được uống vô một nhiễu nước nào vậy,

Không nghĩ suy gì nữa, hắn ta rón rén bước xuống chõng, hấp tấp chạy tới kê miệng thổi tắt phụp ngọn đèn, rồi bương bả trở lại bò rột lên chõng nằm xuống bên cạnh thím Hương.

Hắn ta đặt tay lên vai thím, kéo nhẹ về phía mình: thím Hương theo đà bàn tay ấy nằm ngửa trở lại một cách quá ngoan ngoãn, không cưỡng rị lại mà cũng không vồn vã xoay theo…

Đó là điều làm Chín Thuộc không ưng ý. Hắn ta phải khựng lại một chút rồi mới ôm ghì lấy tấm thân mà hắn hằng mơ ước với những giờ phút như thế này…

Nhưng da thịt kia sao như không gợn chút nào niềm hứng cảm. Trong vòng tay Chín Thuộc, thím Hương có vẻ xa xăm, quá lạnh lùng!

Chín Thuộc bực tức ngẩng đầu lên và nghiến răng trong bóng tối. Nhưng rồi hắn bỗng mỉm cười thở ra một hơi dài khi chợt hiểu một tâm trạng “bỗng nhiên” của thím Hương và thấy rằng mình phải cần trì chí một cách tỉ mỉ và khéo léo hơn nữa.

Hắn ta vốn là một thứ đàn ông nhiều tự ái trong mọi việc…

Làn da mát rượi mềm mại ban nãy đã bắt đầu nóng hổi và săng vo… Thím Hương quờ quạng đưa tay xô sửa lại chiếc gối nhưng rồi buông vật xuống mặt chõng. Mấy ngón tay như muốn bám víu vào một cái gì… nhưng rồi lại để bươn cày trên lằn lác chiếu…

Mấy tiếng thằn lằn chắc lưỡi trên trần nhà nghe rõ mòn một, cũng như tiếng kẽo kẹt của đám mối đục khoét trong mớ kèo tre nghe như không bao giờ dứt…

Thím Hương, nới lỏng vòng tay để xoa vuốt nhè nhẹ gần như là mân mê dọc theo đường lưng của người tình mới…

Và Chín Thuộc chùi mặt trong mớ tóc thơm dịu buông xòa ra trên mặt gối, như muốn ngủ thiếp đi. 

Như mọi đêm, đêm nay Sơn Nhỏ cũng thơ thẩn ngồi trên khúc củi khô để hút thuốc liền miệng và… đập muỗi liền tay.

Nhiều lúc anh ta thấy mình vô lý nhưng vẫn cứ chần chớ ở đó mãi cho đến lúc Chín Thuộc hiện ra trên đầu thang tre là anh ta vọt đi về trước để tránh khỏi gặp hắn ta.

Bởi vậy đêm nay, khi nhận thấy ánh đèn trên nhà sàn tắt khá lâu ớn rồi mà Chín Thuộc vẫn chưa xuống, Sơn Nhỏ lừng khừng đứng lại ngó mong lên phía trên ấy.

Mãi một lúc sau, như quá chán ngán và bực bội một cái gì, Sơn Nhỏ nhún vai thở ra rồi tiện chân đá mạnh vào ngọn cỏ tưởng tượng, đoạn lùi lũi đi trở về nhà…

Anh ta mới đi được ba bước thì chợt nghe tiếng cọt kẹt liên hồi như tiếng chân ai nhún nhảy hoặc bước nhanh trên mấy nấc thang tre… Sơn Nhỏ tưởng Chín Thuộc ra về nên quay phắc lại…

Nhưng không… Sơn Nhỏ ráng nhìn kỹ: chiếc thang tre vẫn trơ trơ ra đó và gian nhà sàn vẫn còn tối om om!

Sơn Nhỏ nhăn mặt, bỏ đi thẳng một nước như không  còn muốn nghe lọt thêm một tiếng động, một tiếng ú ớ lạc giọng nào khác nữa…

Về đến nhà, Sơn Nhỏ nằm lăn ra trên nóp. Anh ta cố nhắm mắt ép dỗ giấc ngũ nhưng thỉnh thoảng lại ngóc đầu ngó chừng về phía cửa ngỏ… Mãi một lúc lâu sau, vì quá mỏi mệt anh ta ngủ thiếp đi…

Tiếng mấy con gà nòi đập cánh phành phạch và gáy

vang dội ở phía sau hè làm cho Sơn Nhỏ giật mình tỉnh giấc, tông nóp chui ra.

Anh ta vừa dụi mắt vừa ngó liền về phía chiếc sạp tre nơi mọi khi Chín Thuộc vẫn nằm ngủ trên ấy vẫn còn trống trơn và chiếc mùng một nóc giăng sẵn vẫn còn cuốn lên у nguyên như hồi đầu hôm…

Anh ta đứng chống nạnh, hậm hực nhìn sững chiếc sạp tre у như là nhìn… một tên tội phạm gì vậy!

Vừa lúc ấy Chín Thuộc cũng lọ mọ về tới.

Chưa chi, hắn ta đã bô bô hỏi Sơn Nhỏ:

– Sao bữa nау em thức dậy sớm quá vậy em?

Sơn Nhỏ lừ lừ quay ra, soi mói nhìn lại Chín Thuộc rồi ầm ừ đáp:

– Ờ… cũng sáng bưng rồi…

Chín Thuộc liếc nhanh về phía sạp ngủ của mình rồi xẻn lẻn bảo Sơn Nhỏ

– Sao… hồi tối em không leo lên chỗ của qua sập mùng xuống ngủ cho khỏe?

Sơn Nhỏ cười mũi:

– Ai biết đại ca dìa hay không…

Chín Thuộc đành cười trừ:

– Ờ há…(rồi hắn vui vẻ nói cho khỏa lấp đi). Đó em thấy tài qua chưa? Qua nói thế nào cũng êm mà!

Sơn Nhỏ gật gù đưa đẩy

– Cái đó thì tui… dư thấy rồi.

– Ủa, sao chú mầy thấy rồi? Bộ hồi hôm chú mầy rình qua hả?

Sơn Nhỏ mỉm cười

– Ai thèm rình đại ca! Khi không tui thấy vậy mà! Với lại đại ca hổng dìa đây ngủ là người ta dư biết rồi… Cha, chắc suốt đêm qua… hai ông bà lu bù… tối trời tối đất hết phải hông?

Chín Thuộc, cười khà giơ tay thụi mạnh vào vai Sơn Nhỏ:

– Thằng nhỏ này hỏi một câu rắn mắc quá ta! Gặp tay qua thì cả cây nước đá cũng phải tan liền chớ đừng nói gì thứ… đã từng nếm mùi đời và còn thòm thèm

trong bụng… như thím Hương đây…

Sơn Nhỏ ấp úng hỏi lại:

– Rồi đại ca… tính sao nữa đây?

Chín Thuộc hể hả đáp:

-Thì còn tính cách nào nữa? sẵn cái đà này thì qua ráng tới luôn cho đến khi nào muốn dang ra thì sẽ tính sau. Bây giờ đã tới cái lúc… khỏe ru mà em!

Sơn Nhỏ có vẻ như còn thắc mắc:

– Nghe đại ca nói cái gì coi cũng… dễ ợt hết!

Chín Thuộc thản nhiên trả lời:

– Ở đời, cái gì mình muốn dễ thì nó dễ tuốt luốt… còn muốn kiếm chuyện khó khăn thì nó… khó tới hoài. Em cần tập theo cái tính của qua mới được, chớ cái gì

em cũng… đem chôn vô trong bụng để nghĩ tới nghĩ lui cho nó sanh lằng nhằng thêm ra, mà rốt cuộc rồi chỉ có một mình em lãnh đủ chớ thiên hạ họ vẫn sống sởn sơ, vẫn ăn mỗi bữa năm sáu chén cơm như thường!

Sơn Nhỏ cười khì:

– Ừa, để tôi cũng ráng tập coi!… Mà có lẽ tại trời sanh tánh tui như vậy…

Chín Thuộc trề môi:

– Khỉ họ! Em đừng đổ thừa cho ông trời ổng kiện chết đa! (nói đến đây, Chín Thuộc bỗng nhăn mặt đưa tay xoa lấy bụng)… Cha, sao hôm nay kiến cắn bụng

sớm như vầy nè!

Sơn Nhỏ nhướng mắt lên:

– Sao vậy đại ca?

Chín Thuộc cười xòa:

– Bộ cha nội tính hỏi móc lò hả? Mà chú em chưa đủ… tài để biết… đói như vậy đâu!… Thôi em chịu khó đi hối mấy đứa nó nấu cơm cho sớm sớm một chút

nghen… Ờ, em kêu tụi nó bắt vài con gà làm thịt ăn cho nó đỡ khổ coi, chớ mấy bữa rày cứ ních ba cái mắm kho quẹt hoài xót ruột thấy mẹ. Bữa nay mà tụi nó còn dệnh cho qua cái món đó nữa thì chắc qua… hết làm ăn gì nổi được! À, khi nào làm gà rồi nhớ chặt đem qua cho thím Hương một phần để thím xào xáo gì đó tùy ý… mà em chịu khó lãnh việc mang qua bển, chớ đừng để cho ba thằng mắc gió đó chàng ràng nghen!

Sơn Nhỏ mỉm cười gật đầu:

– Ừa, đại ca khỏi dặn tôi cũng biết mà!

Chín Thuộc cau mày nói thêm:

– Còn cái thằng Hưng Quắn nữa! Làm cái gì mà hễ ăn no rồi, nó cứ xách cây đờn ghi-ta thùng thiếc bể của nó ngồi dưới gốc dừa gần chỗ nhà sàn thím Hương… từng tưng tứng tưng ba câu vọng cổ trật nhịp nát bấy hết hoài vậy? Bộ nó tính làm… Thạch Sanh tình tang tích tịch tình tang để dụ khị công chúa… xuống thang chắc?

Sơn Nhỏ cười ngất:

– Thì đại ca cũng phải để cho em út nó mùi mẫn đôi chút chớ! Có… mất màu đâu mà đại ca sợ!

– Qua mà sợ khỉ gì ai! Chim trời cá nước thằng nào giỏi bắt được thì hưởng… có điều qua hổng muốn tụi nó lộn xộn làm rối trật tự… thím Hương thím thấy được thím chê cười anh em bọn mình vậy mà!

Rồi như không muốn để cho Sơn Nhỏ kiếm cách hỏi ngoắc ngoéo nữa, Chín Thuộc bỏ chạy а lại sạp tre, nhào lên nằm nghe một cái rầm, rồi vừa vươn vai vừa ngáp dài:

– Thôi bây giờ tới phiên qua ngủ! Cơm nước xong xúp lê cho qua dậy liền nghen Sơn Nhỏ!

Sơn Nhỏ ừa một tiếng rồi nhún vai quay ra đi khỏi cửa…

Sơn Nhỏ bước lên tới trên đầu thang tre, ló mặt vô phía trong và rụt rè lên tiếng hỏi:

– Có thím Hương ở trỏng hông… hả thím?

Thím Hương đang còn nằm nướng trong chõng vội chui ra, vừa đi vừa bới tóc!

– À, anh Sơn Nhỏ, anh qua có việc chi sớm vậy?

– Dạ… tui tưởng thím thức rồi.

Thím Hương vội hấp tấp gài lại mấy chiếc khuy áo còn để hở và xẻn lẻn đáp:

– Tôi cũng thức lâu rồi mà anh! ( chợt thấy Sơn Nhỏ tay cầm một gói lá chuối xanh, thím vội hỏi) Chắc anh đem qua cho tôi món gì nữa đó phải hông?

Sơn Nhỏ lúng túng ngó xuống gói đồ:

– Dạ… hổng phải của tui… anh Chín ảnh biểu tui đem qua cho thím thịt gà dùng lấy thảo…

Thím Hương vồn vã đỡ lấy gói lá chuối:

– Thiệt anh Chín ảnh hay bày đặt quá chừng! Đồ ăn hiếm hiệm ở bên nầy chớ có thiếu thốn gì đâu mà ảnh cứ cho hết món nầy tới món nọ!

Sơn Nhỏ chỉ biết cười gượng:

– Dà…

Thím Hương đem gói thịt gà vô cất trong bếp, rồi quay ra vừa đưa tay ngoắc Sơn Nhỏ vừa đon đả gọi anh ta:

– Mời anh vô trong nhà chơi chớ làm gì đứng đó hoài vậy? Hay là anh không được rảnh…

Sơn Nhỏ lắc đầu lia lịa:

– Hông. Tui… có mần cái gì đâu…

Tuy nói thế, Sơn Nhỏ vẫn còn đứng lựng khựng ở ngạch cửa. Thấy vậy, thím Hương nhoẻn miệng cười:

– Vô đi! Bộ anh sợ ai… ăn thịt anh sao hả?

Giọng thím Hương kéo dài một cách… nhảo nhẹt khiến cho Sơn Nhỏ thêm lúng túng,

Anh ta mon men lại đứng bên cạnh bàn, ngượng ngập bẻ mấy lóng tay nghe rôm rốp rồi hết nhìn… nóc nhà đến vách nhà, và cuối cùng tằm mắt của anh ta ngừng lại nơi chiếc chõng tre còn giăng mùng sùm sụp, mền gối xộc xệch lung tung…

Tự nhiên Sơn Nhỏ hơi cau mặt.

Chợt bắt gặp cái nhìn ấy của Sơn Nhỏ, thím Hương vội chạy lại vắt mùng lên, dọn gối xếp mền rồi day qua cười xẻn lẻn bảo Sơn Nhỏ:

– Hồi tối… bị tôi thao thức hoài ngũ hổng được nên dậy có hơi trễ…

Sơn Nhỏ ngó xuống đất, đáp lơ lửng một câu:

– Dạ… hồi tối anh Chín ảnh… đi đâu cũng dìa trễ quá…

Thím Hương ngượng ngập buông hai tiếng “vậy hả” rồi kín đáo liếc nhìn Sơn Nhỏ dò xét.

Anh ta nói lỡ một câu đó rồi cũng đâm ra lúng túng đưa tay vuốt dọc theo mép bàn..

Thím Hương lại lên tiếng

– Kéo ghế ngồi chơi anh… anh thứ mấy để tôi kêu cho tiện chớ cứ nhè tên anh mà… réo hoài kỳ quá.

– Dạ… tui thứ Năm, mà thím cứ kêu đại tên tui cũng được.

Thím Hương chắc lưỡi

– Ậy, hổng biết thì thôi chớ biết rồi thì phải kêu cho…. phải phép chớ!. Mà anh ngồi xuống đi chớ làm gì… xón rón như mấy cậu trai đi… làm rể vậy!

Sơn Nhỏ “dà” một tiếng nữa rồi lập cập kéo ghế ra ngồi “thẳng bang” ở mép.

Thím Hương bước tới vách rút cây lược đoạn trở lại ngồi xuống chõng, xổ tóc ra vừa chậm rãi chải tóc vừa liếc xéo Sơn Nhỏ, miệng cười chúm chím… dường như là thích thú soi mói những cử chỉ ngượng nghịu của anh này…

Sơn Nhỏ bỗng nhích ghế ra đứng dậy lấp bấp nói:

– Thôi để tui dìa…

Thím Hương buông lược xuống:

– Coi, sao gấp vậy? Anh nói anh không có mắc công chuyện gì hết mà! Ở ngồi chơi một chút… mấy thuở anh mới lên nhà nầy…

Sơn Nhỏ lại ngồi xuống, ngó mong ra phía cửa cái. Thím Hương tìm cách gợi chuyện:

– Sao tôi thấy anh ít lên đây chơi quá vậy?

Sơn Nhỏ gựợng cười đáp:

– Dạ… bị tui hổng có việc gì cần hết,

Thím Hương cười xòa, ngắt ngang:

– Bộ anh lên đây nói chuyện chơi hổng được hay sao mà phải đợi có chuyện cần lận?

Sơn Nhỏ nhún vai:

– Tui… có biết chuyện khỉ gì đâu mà nói!

– Lạ hông! Thiếu gì chuyện, chuyện của anh, chuyện thiên hạ ở đây. Nhiều lúc, tôi ở đây quanh đi quẩn lại thui thủi một mình… buồn thiếu điều chịu hết muốn nổi!… Ngặt ở đây lại không có hàng xóm láng giềng nào hết ráo! Chỗ gì kỳ quá!

Sơn Nhỏ cười đáp:

–  Dạ, chỗ này như vậy đó! Tụi tui sống thét rồi..cũng phải quen…

Thím Hương thật thà hỏi lại:

– Sao anh hổng đi chỗ khác đông vui hơn?

Sơn Nhỏ trợn mắt:

–  Ý trời, đi chỗ khác để chết chùm cả đám sao?

– Tôi nói là riêng phần anh cà!

Sơn Nhỏ thở dài:

– Phần tui cũng vậy, nếu hồi đó tui đi chỗ khác được thì vô đây làm gì?

– Vậy anh tính… đeo đuổi theo cái nghề nầy hoài sao?

Sơn Nhỏ mỉm cười chua chát mà không nói năng gì hết.

Thím Hương vội tìm cách nói lảng ra:

– Tôi coi bộ anh Chín ảnh trọng anh lắm? Phải hông anh… Năm?

– Dạ phải.

– Mà anh, anh cũng có vẻ quý ảnh lắm?

– Tui trọng ảnh thiệt tình chớ có vẻ khỉ gì!

– Sao vậy anh?

– Thì tại ảnh thương tui chớ còn tại sao nữa!

Thím Hương mỉm cười

– Ở đây có cả chục người khác nhưng tại sao anh Chín lại… chấm có một mình anh?

– Tui cũng hổng biết nữa?

Thím Hương vừa bước lại dắt cây lược trả về chỗ cũ vừa nói:

– Anh này thiệt kỳ, hỏi anh cái gì anh cũng không biết hết á!

Đoạn thím thản nhiên cầm lấy tấm gương móc trêo cây cột xuống để vừa săm soi vừa vén vuốt mấy sợi tóc còn buông lòa xòa trên trán.

Và khi thím quay ra, gương mặt thỏa mãn một cách rạng rỡ của thím làm cho Sơn Nhỏ thấy khó chịu.

Vô tình thím hỏi lại anh ta:

– Bộ anh khó chịu ở trong mình hay sao mà tôi thấy anh nhăn nhó như… khỉ ăn gừng vậy?

Sơn Nhỏ cười gượng:

– Không…

Thím bước ra đứng nơi ngưỡng cửa, ngó mong ra tứ phía rồi vui vẻ kêu lên:

– Cha, bữa nay trời tốt quá há! Mấy bữa rày mưa liên miên thiệt rầu thúi ruột!

Ánh sáng ban mai bên ngoài ùa chiếu vào làm cho vóc vạc của thím Hương càng thêm lồ lộ…

Sơn Nhỏ không dám nhìn lâu về phía ấy nữa.

Thím Hương chậm chạp đi vô, chậm chạp một cách gần như là uốn éo. Nét mặt của thím càng thêm tươi rói…

Thím bước lại dựa lưng vào cột nhà, nhìn Sơn Nhỏ với một vẻ gần như là thương hại:

– Sao hổng nói năng gì hết vậy anh Năm? Bộ có chuyện gì buồn hả? Anh nói cho tôi nghe có được hông?

Sơn Nhỏ xẻn lẻn lắc đầu:

– Tui mà có chuyện gì đâu!

Thím Hương ngó xéo anh ta, cười mủm mỉm:

– Anh đừng giấu tôi, tôi liếc sơ qua là tôi hiểu hết…

 Sơn Nhỏ hơi cau mày

– Vậy chắc… Thím đi guốc trong bụng tui rồi.

– Tôi nói chơi bộ anh giận hả?

Sơn Nhỏ hấp tấp đáp:

– Ý, hổng có đâu!… Tại tui… hong có chuyện gì buồn ráo trơn thiệt mà thím!

Thím Hương chép miệng rồi thấp giọng hỏi anh ta thêm:

– Bộ anh tính ở như vậy hoài sao?

Sơn Nhỏ miễn cưỡng đáp:

– Thì tui đã nói tui đi chỗ khác hổng được mà thím!

 Thím Hương cãi lại liền:

– Tôi nói ở như vậy là ở… một thân một mình. Bộ anh không tính lập gia đình như mọi người khác hay sao!

Sơn Nhỏ cười thành tiếng:

– Bộ thím muốn  ngạo tui sao chớ? Cái thân của tui còn lo chưa xong đây nè!

– Nói vậy anh cứ sống như vầy cho tới già khú đế à?

Sơn Nhỏ nhún vai:

– Ối, để tới đâu hay tới đó chớ hơi sức đâu mà lo chuyện… trên trời dưới đất đó hổng biết!

– Anh nói nghe sướng hông! Tôi sợ lâu ngày chầy tháng rồi anh chịu… hết nổi chớ!

Sơn Nhỏ không nín cười được!

– Thím làm như thím rành… tui hơn tui nữa!

Thím Hương gật gù

– Có lẽ đúng đó anh! (rồi giọng của thím trở nên bí hiểm)… Thì thôi, anh nói vậy tôi cũng… ráng tin thử một chuyến coi ra sao! Nhưng tôi chắc… hổng lâu đâu anh ơi!

Sơn Nhỏ nhìn sững thím Hương trong một vài giây rồi kéo ghế đứng dậy.

Thím Hương hỏi chận trước:

– Bộ anh tính đi về nữa phải không?

– Dạ.

Thím đưa luôn theo một câu nữa:

– Mà phen này, tôi hổng cầm anh lại đâu nghen!

Sơn Nhỏ càng thêm lúng túng:

– Dà… Thôi tui trở về bển nghen thím…

Vừa nói Sơn Nhỏ hấp tấp bước ra cửa như sợ phải nghe thêm những lời nói móc ngoéo xa xôi của thím Hương nữa, nhưng lời nói mà anh không sao chống đỡ hoặc đưa đẩy cho xuôi được.

Đợi cho Sơn Nhỏ vừa đặt chân xuống mặt đất, thím Hương kêu giựt ngược anh ta lại:

– Anh Năm! Anh Năm!

Sơn Nhỏ đứng khựng lại và nhăn nhó hỏi:

– Chi nữa thím?

Thím Hương làm bộ cự nự:

– Làm gì mà anh quạu đeo vậy hả? (rồi thím mỉm cười đon đả nói tiếp)… Lúc nào rảnh lại đây chơi nghen anh, hay là anh để tôi mời anh ba lần bốn lượt nữa hả?

Sơn Nhỏ ấp úng đáp:

– Dạ được mà thím… thôi tui dìa luôn nghen thím.

Thím Hương cười rộ lên làm cho anh ta mắc cở hấp tấp đi thẳng một nước.

… Đi được một đỗi, Sơn Nhỏ ngừng lại thở và len lén ngó ngoái lại phía cửa nhà sàn…

Thím Hương không còn đứng ở đó nữa và tự nhiên Sơn Nhỏ đâm ra bực mình một cách… ngang xương. Anh ta vùng vằng trở về bên chỗ trọ…

Một khi có chuyện gì cần phải gặp Chín Thuộc trong lúc hắn ta sang bên nhà thím Hương, Sơn Nhỏ chỉ đứng hú gọi ở cách đó xa xa chớ không bao giờ muốn giáp mặt hai người ấy. Trái lại hôm nay, anh ta đi xâm xâm thẳng lại đầu thang tre và réo Chín Thuộc liền:

– Đại ca ơi, có đại ca ở trển hông hả?

Có tiếng lục đục ở phía trên, đoạn thím Hương xì хàо rồi mới nghe tiếng Chín Thuộc đáp vọng xuống:

– Sơn Nhỏ đó hả? Em đợi qua một chút qua xuống liền.

– Mau mau đi đại ca!

Sơn Nhỏ vừa hối vừa bước tuốt lên mấy nấc thang tre, nhưng anh ta ngừng lại ở lưng chừng chớ không  dám ló đầu tới ngạch cửa.

Có tiếng thím Hương niềm nở nói vọng xuống:

– Anh Năm, lên đây chơi luôn anh Năm!

Sơn Nhỏ chưa kịp trả lời thì đã nghe Chín Thuộc xầm xì với thím Hương ở phía trên:

– Thôi để anh ra coi Sơn Nhỏ nói cái gì mà coi bộ giả hấp tấp quá vậy. Giả hay mắc cở nên hổng lên trên này đâu!

Nghe lỏm được mấy câu ấy, Sơn Nhỏ nhăn mặt và  vội thụt lui trở xuống.

Vừa lúc ấy, Chín Thuộc và cả thím Hương nữa đã bước ra đứng án nơi ngạch cửa ngó xuống.

Chín Thuộc hất hàm tươi cười hỏi Sơn Nhỏ

– Có chuyện gì mà em đến réo qua giựt ngược vậy? Ban đầu qua tưởng có Tây bố hay tụi nào tới bao vây anh em chớ! (đến đây hắn ta ngó xéo thím Hương) Thiệt em làm qua… sọc dưa hết!

Thím Hương háy hắn ta liền:

– Đừng nói xàm nà! có anh Năm đây…

Sơn Nhỏ ấp úng bảo Chín Thuộc:

– Dạ có chuyện cũng cần lắm…

Anh ta vừa nói vừa đưa mắt nhìn lên phía thím Hương. Thím đứng hơi khuất sau lưng Chín Thuộc một chút và đang bới lại đầu tóc : hai cánh tay tròn trắng và dịu nhĩu đưa xiêng ra phía sau ót càng làm lồ lộ, càng làm rướn lên cao chiếc áo túi… hơi bèo nhèo một chút.

Sơn Nhỏ vội quay mặt đi…

Chín Thuộc hỏi nhắc lại Sơn Nhỏ:

– Sao, có chuyện gì mà em nói là cần đó em?

– Dạ có anh Sáu Bửu ở ngoài vàm vô kiếm anh, ảnh đợi anh ở bển á!

Chín Thuộc khoác tay

– Em về nói đại là qua đi khỏi rồi, mới đi tức thời đây nè!

Sơn Nhỏ ngập ngừng đáp:

– Dạ… ảnh kiếm đại ca có chuyện cần thiệt tình… ảnh mới bắt được tin có công việc mần ăn này lớn lắm.

Chín Thuộc liếc sang thím Hương nhún vai:

– Bây giờ lớn tới bạc muôn, bạc ức gì qua cũng buông xụi hết ráo trọi! Mình đang nghỉ xả hơi mà em!

Sơn Nhỏ nhăn nhó

– Tui cũng nói sơ sơ như vậy, nhưng ảnh nói cần gặp tận mặt đại ca thì thế nào đại ca cũng ưng thuận đi liền… chuyến mần ăn nầy nghe nói dễ lắm…

– Dễ thì qua nhường cho thằng chả luôn chớ khỏi có lôi thôi gì nữa hết! Thôi em về lựa lời nói lại với thằng chả như vậy đi!

Sơn Nhỏ vẫn còn đứng lựng khựng ở đó:

– Đại ca nên nghĩ lại… ảnh có lòng qua nói với mình, với lại một thân một mình ảnh thì ảnh cũng co tay chớ làm khỉ gì được!

Chín Thuộc chắc lưỡi:

– Thiệt thằng cha này rắc rối tổ mẹ!

Thím Hương tự nãy giờ đứng yên ngó trời ngó đất như không chú ý đến câu chuyện giữa hai người đàn ông, bỗng day qua Chín Thuộc nói chen vô:

-… Thì anh chịu khó bước xuống bàn tính với anh Năm coi thế nào…

Chín Thuộc mỉm cười nhìn lại thím:

– Bàn tính khỉ gì nữa… em! Bộ em tính xúi anh làm cái chuyện… ác đó nữa hả? Thử thời đem bạc triệu ra nhử anh cũng không chịu rời khỏi chỗ nầy một ly nữa!

Tiếng xưng hô anh em của Chín Thuộc làm cho Sơn Nhỏ khó chịu quay nhìn sang chỗ khác.

Vừa lúc ấy, thím Hương lại hối thúc Chín Thuộc thêm:

– Coi, anh nói vậy sao phải! Việc làm ăn của anh và anh еm… thiệt tình “tôi” không dám xía vô, nhưng kẹt có tôi ở đây rủi mai chiều có chuyện gì anh em không ưng ý với nhau thì thế nào tôi cũng bị mang tai mang tiếng hết?

Chín Thuộc hỏi lại:

– Mang tai mang tiếng gì hả?

Thím Hương ngó lơ sang chỗ khác, đáp một cách lơ lửng:

– À cái đó thì anh dư biết… chớ đợi gì phải hỏi… Nói đoạn, thím lững thững bỏ đi vô trong nhà.

Chín Thuộc thở ra, uể oải bước xuống thang tre.

Xuống tới đất, hắn ta dìu Sơn Nhỏ đi ra phía sân :

– Thiệt ba con mẹ đàn bà rắc rối thấy mồ. Chưa chi mà con mẻ đã lằng nhằng muốn nói đánh đầu người ta không hè!

Sơn Nhỏ mỉm cười hỏi lại:

– Đại ca mà cũng than nữa hả?

Chín Thuộc rướn cổ lên:

– Than khỉ gì! Qua nói chơi cho vui chớ ăn nhằm gì em (đoạn hắn ta hỏi lảng ra). Sao em, thằng cha Sáu Bửu nó còn muốn gì nữa đó em? Bộ thằng chả làm ăn một mình hổng được hay sao mà phải lên đây cầu viện?

Sơn Nhỏ nghiêm giọng đáp:

– Đại ca hổng biết chớ trúng được cái mối nầy thì ghê gớm lắm! Anh Sáu Bửu vì thiếu dân nên mới lên đây nhờ cậy anh em mình… Nghe đâu cả một đoàn ghe thương hồ vừa đi buôn bán trên thành dìa…

– Hứ, trên thành dìa thì hổng đủ cho ba thằng du kích vớt hết!

– Hổng có đâu đại ca. Mấy cha đi buôn cũng khôn cãi trời: họ biết nội vùng gần đây ủy ban bộ đội khỉ gì rút đi hết nên họ mới mượn con đường đó đi chớ! Và như vậy anh em mình… chỉ vói tay một cái là ăn tiền rồi!

Chín Thuộc tằn mằn sờ vết thẹo trên mặt với một dáng điệu trầm ngâm và mãi một lúc sau hắn ta mới lên tiếng một cách xuôi xị:

– Nghe em nói qua cũng ham lắm, nhưng hổng biết có thiệt chắc ăn không, với lại lóng rày qua cũng hơi… bể nghể trong mình nên muốn tịnh dưỡng trong ít lâu…

Sơn Nhỏ hăng hái nói:

– Đại ca chỉ cần có mặt coi sóc anh em mình vậy thôi. Nói nào ngay anh Sáu Bửu chỉ dám tin ở một mình đạі ca chớ tui hay là chỉ có mấy anh em khác lên mần ăn việc đó với ảnh thì ảnh cũng ngại lắm.

– Ngại cái gì?

– Thì… ảnh sợ bị hớt tay trên hết chớ gì nữa!

Chín Thuộc gật gù:

– Ờ há…

Sơn Nhỏ “đẩy” thêm một câu nữa:

– Vậy đại ca chịu khó qua bên nhà giáp mặt với anh Sáu Bửu… và nếu có đi thì hai ba bữa đại ca cũng dià chớ có lâu lắc gì đâu. Tự hổm nay anh em họ ở không hoài… buồn chưn buồn cẳng dữ lắm, nên khi họ nghe có vụ này ai ai cũng mừng rân…

Chín Thuộc xụ mặt làm thinh, thấy vậy Sơn Nhỏ ôn tồn tiếp lời:

– Anh em họ nôn nao muốn “đi” một chuyến nầy nữa để kiếm vốn cho khá khá rồi mạnh ai nấy tứ tán lo phương kế khác mần ăn, chớ sống dồn cục như vầy hoài có ngày bị hốt trọn ổ…

Chín Thuộc xẳng giọng ngắt lời Sơn Nhỏ:

– Qua còn sống sờ sờ chớ có chết đâu mà chưa gì tụi nó tính toán lung tung vậỵ cà!

Sơn Nhỏ vội nói đỡ:

– Anh em họ tính là tính vậy chớ dầu sao cũng còn đợi lịnh của đại ca… và vì chỗ đó mà tui mới… kèo nài đại ca tự nãy giờ, chớ hông thôi tui đã đuổi khéo anh Sáu Bửu đi mất đất rồi.

Chín Thuộc bắt mỉm cười:

– Nói vậy chứ mầy cũng hùa về với ba thằng ở bển đó phải không? Thiệt mấy cha nội… ác quá, mấy cha muốn phá đám mình hoài!

Sơn Nhỏ cũng cười theo:

– Ai dám phá đại ca? Họ thấy đại ca có… đôi bạn họ cũng mừng…

Chín Thuộc ra bộ cự nự:

– Thôi chú mầy muốn chửi ôn g cố nội qụa thì chửi đi, chớ bày đặt nói móc họng móc hầu hoài!

– Ý, đâu dám đại ca!… Có điều tui nghĩ anh em họ cũng đi theo đại ca từ hồi nào tới bây giờ…

 Sơn Nhỏ lúng túng tìm lời để nói cho vừa xuôi, vừa đủ ý mà khỏi phải làm mích lòng Chín Thuộc, nhưng anh ta đành bỏ lửng giữa câu và chỉ còn cách đưa mắt nhìn hắn ta với một vẻ đầy thành khẩn.

Chín Thuộc cảm động vỗ vai anh ta:

– Thôi em về bển trước đi…

Thấy Sơn Nhỏ lui cui thâu xếp đồ đạc riêng của anh ta, Chín Thuộc ngạc nhiên lên tiếng hỏi

– Em làm cái gì đó Sơn Nhỏ?

Sơn Nhỏ quay lại

– Tui dọn dẹp đâu đó cho gọn ghẽ để mơi còn đi sớm chớ đại ca!

Chín Thuộc mỉm cười lắc đầu

– Qua có biểu em đi theo hồi nào đâu…

Sơn Nhỏ chưng hửng hỏi lại:

– Uả, sao lạ vậy đại ca? Mọi khi đại ca đi mần ăn chuyến nào tui cũng có mặt hết trơn mà!

Chín Thuộc cười giả lả

– Mọi khi khác, bây giờ khác… Qua muốn giao cho em việc nầy quan trọng hơn nhiều…

Sơn Nhỏ nhíu mày nhìn sững Chín Thuộc

– Còn việc gì nữa đại ca? Bộ có đám nào khác đại ca muốn sai tui đi dọ hả?

Chín Thuộc đặt tay lên vai anh ta:

– Không đâu em. Một đám này mà qua còn… ngán rân đây nè. Qua muốn nhờ em… thủ ở nhà.

– Thủ ở nhà? Anh em đi ráo thì ở đây có khỉ gì mà tui phải…

Chín Thuộc mỉm cười chận ngang

– Bộ em quên rằng ở nhà còn có thím Hương hay sao?

– Ờ quên nữa há… (nhưng rồi anh ta hấp tấp hỏi lại Chín Thuộc)… Nhưng thím Hương ở nhà thì… còn đó chứ có sao mà sợ hả đại ca?

– Đã đành như vậy rồi, nhưng qua bỏ thím ở lại bơ vơ một mình… coi cũng kỳ. Hồi tối qua có nói sơ sơ chuyện anh em mình phải vắng mặt thì thím cũng nằn nặc đòi đi nữa… Thím đòi đi về ngoài Cần Thơ mới chết chớ!

Sơn Nhỏ cằn nhằn

– Thì đại ca cho thím dìa đại đi chớ hơi sức nào cầm giữ!

– Ý đâu được em! Cho thím đi rồi thím đòi tiền bạc lại bất tử thì làm sao? Với lại… qua với thím mới có… sơ sơ “ba hột” đây mà dang ra thì cũng… uổng lắm! Em hổng biết chớ năm thuở mười thì mới gặp được một con đờn bà… quá xá ngán như vậy!

Sơn Nhỏ thở dài

– Còn kẹt cái chỗ tiền nong vàng bạc đó nữa há… Hay là đại ca để một anh em nào khác ở nhà cũng được chớ tui muốn ra ngoài đó hơn… Lâu ngày hổng có dịp bay nhảy tù túng quá đại ca!

Chín Thuộc lắc đầu:

– Không, qua đã quyết định rồi ; tụi nó phải đi hết ráo chỉ trừ một mình em ở lại. Việc nầy thiệt ra là qua… nhờ riêng em chớ ba thằng cô hồn kia để thằng nào ở lại đây thì cũng chẳng khác gì đem thịt dâng cho nó.

Sơn Nhỏ nín thinh ngồi phịch lên trên chiếc nóp đã cuốn tròn, mặt mày buồn xo.

Chín Thuộc bước lại vỗ về anh ta:

– Ai biểu em đốc hối qua đi làm chi! Qua đã nghe theo lời em thì bây giờ em nên chịu khó… nghe theo lời qua vậy!

Sơn Nhỏ thắc mắc hỏi hắn ta:

– Nhưng tui ở nhà rủi thím Hương nằng nặc đòi đi dìa Cần Thơ như đại ca nói đó thì sao? Đại ca giao cho tui một công việc ác quá…

Chín Thuộc cười xòa

– Dễ mà em! Em kiếm cách nói với thím là không có xuồng ghe, không có người đưa thím đi.. hay là tìm một cái cớ gì khác thiếu gì! Đó em thấy chưa: chính là vì chỗ đó mà qua muốn em thủ ở nhà chớ thằng nào khác thì… mụ nội qua cũng chẳng dám tin. Em nghĩ coi: gặp thằng khác, hễ thím Hương mới lên tiếng đòi đi rồi nó nhảy а vô rinh luôn đem giấu trong kẹt trong hóc nào đó thì… chết cha qua rồi!

Sơn Nhỏ lại hỏi thêm:

– Còn chiếc ruột tượng tiền bạc vòng vàng của thím… đại ca có lấy đem theo hông?

Chín Thuộc trợn mắt:

– Đem theo tế mồ tế tố gì qua? Qua đi để còn tải của cải về thêm nữa mà! Em cứ giấu biệt cái món đó đi và đừng hé môi nói hở cho thằng nào khác biết hết. Ở nhà nếu thím Hương có hạch hỏi thì em cứ nói đại là qua giấu cất đâu đó em cũng chẳng biết nữa.

Sơn Nhỏ càu nhàu:

– Thiệt có bóng đàn bà xen vô công chuyện mần ăn sanh rắc rối quá trời quá đất! Hồi trước tui nghe thiên hạ họ nói như vậy tui đâu có tin…

Chín Thuộc vui vẻ chận ngang:

– Thôi đi chú mày ơi! Bộ chú mầy tính xài xể qua hoài sao chớ? Chú mầy ráng chịu đựng dùm qua thêm một chút xíu nữa đi, chớ bề nào thì cũng… lỡ kẹt rồi.

Sơn Nhỏ nhún vai cười theo rồi buông người dựa ngửa vô vách…

Đợi cho mấy chiếc xuồng của đám thủ hạ tách bến, Chín Thuộc quay qua nắm lấy tay Sơn Nhỏ:

– Thôi qua đi nghen em. Em ở lại ráng… coi chừng coi đỗi thím Hương dùm qua.

Sơn Nhỏ ấp úng đáp:

– Đại ca yên tâm, tui hổng để thím phải kêu rêu cái gì đâu.

Chín Thuộc mỉm cười:

– Thì qua có chắc như vậy nên mới nhờ đến em. Qua dư biết anh em kéo nhau đi ráo như vầy mà để em ở lại, em bứt rứt ghê lắm. Không biết anh Sáu Bửu ảnh dò la tin tức về đoàn ghe đó có thiệt đúng hay không, qua chỉ sợ cha nội mới nghe ngóng ba chùm ba cháng rồi xuống lôi anh em mình, chừng lên tới chỗ phải ăn dầm nằm dề đợi ba bốn ngày nữa mệt quá!

– Việc này là việc quan trọng, chắc thế nào ảnh cũng dò la kỹ lưỡng chớ đại ca! Mà rủi ro có sai chạy một đôi ngày, tui cũng xin đại ca nán đợi, chớ anh em mình mất công đi, rồi… xách “xe không” dìa thì cũng…. kỳ.

– Cố nhiên là như vậy rồi.

Đoạn hắn ta thở dài buông tay Sơn Nhỏ ra:

– Qua đi nghen em!

– Dà…

Chín Thuộc còn nhìn ngoái sang phía căn nhà sàn rồi mới lủi thủi xách bao súng lục đi xuống bến.

Vì chiếc xuồng nằm rướn lên bãi bùn nên anh chèo lái vội lấy mái chèo vít nại ra. Anh ta quá mạnh tay nên mái chèo chặt lên bãi bùn bị gãy đoạn.

Chín Thuộc vừa mới nhốm ngồi xuống phải đứng ngay dậy, cau có cự nự anh kia!

– Mầy làm ăn cái điệu gì kỳ vậy hả?

Anh kia lúng túng tháo mái chèo га. Thấy vậy, Sơn Nhỏ vội đỡ lời cho anh ta:

–  Chắc tại mài chèo đó mục rệu mà đại ca! Thôi để tui đi lấy cây khác thế vô cho!

Sơn Nhỏ tất tả chạy vô nhà và mang xuống một mái chèo trao cho Chín Thuộc để hắn chuyền ra cho anh đứng phía sau lái.

Xong, hắn ta cười bảo Sơn Nhỏ:

– Phải có em đi theo chuyến này thì vững bụng hơn, chớ mới xuất hành lại gặp cái nạn gãy chèo như vầy thì qua cũng ngán lắm!

Sơn Nhỏ ngạc nhiên hỏi lại

– Ngán sao đại ca?

– Theo lời ông già bà cả nói lại thì đó là điềm… mất một người thân tín, và điềm nầy mà ứng vào qua thì là mất một tay mặt, tay trái của mình, nghĩa là cỡ như em đó.

Sơn Nhỏ trợn mắt cãi lại

– Coi, tui ở nhà mà!

Chín Thuộc cười đáp:

– Thì bởi vậy nên qua mới bớt lo! Điều nói cho vui vậy thôi chớ cây chèo mục và thằng kia vô ý vô tứ nên gãy đi là việc thường, hơi sức đâu mà tin thứ chuyện bá láp đó.

Sơn Nhỏ gật đầu nhưng vẫn thấy nôn nao trong lòng.

Chín Thuộc giơ tay vẫy chào Sơn Nhỏ rồi quay qua hối anh chèo lái:

– Chèo rút cho theo kịp tốp đi trước đi mày! Mà nhớ cập lái cho kỹ chớ đừng nhè cột cầu cột đáy mà mày ghim mũi vô đó nghen!

Sơn Nhỏ thẫn thở nhìn theo chiếc xuồng chèo tách bến rồi chậm rãi bước trở lên nhà.

Tự nhiên anh ta có cam giác lạ lùng nửa như cô độc nửa như thảnh thơi. Đây là lần đầu tiên, kể từ ngày theo nhập bọn với Chín Thuộc, anh ta được sống tách rời ra khỏi đám anh em trong một vài ngày…

Mấy gian nhà lá không cửa nẻo, không bóng người, vài con gà thản nhiên bươi đất ngay khoang giữa sân, một đôi chim sâu nhảy đuổi nhau ngay trên một chiếc bàn ông thiên xiêu vẹo còn giữ được chiếc hộp bằng lon sữa bò sét cũ với vài cong chân nhang cùn xiên xẹo… tất cả những cảnh vật ấy càng làm tăng thêm vẻ hoang vắng…

Sơn Nhỏ bắt phải ngó ngoái sang phía nhà sàn của thím Hương.

Mấy nhánh tre che khuất hướng ấy… Sơn Nhỏ trề môi nhún vai đoạn lầm lũi đi thẳng vô trong nhà. Nhưng một khi đặt chân lên ngạch cửa, anh ta đứng khựng lại ngó quanh ngó quẩn gian buồng trống không một hồi rồi quay phắc trở ra, hấp tấp đi sang bên nhà thím Hương. Anh ta đã tìm ra một cái  ‘‘cớ’’ để… bắt buộc mình phải qua bên ấy.

Đến nơi, tay vừa vịn lên thang tre, Sơn Nhỏ bỗng đâm ra ngập ngừng, nửa muốn leo tuốt lên mà nửa lại muốn rút êm về!

– Anh Năm đó phải hông?

Tiếng của thím Hương bất thần hỏi vọng xuống càng làm cho anh ta thêm luống cuống, у muốn phóng chạy đi mà chân như chôn chặt nguyên một chỗ…

Thím Huơng lại gọi nữa :

– Anh Năm lên thẳng trên nầy đi anh. Tôi… hổng có làm gì hết mà !

Sơn Nhỏ ú ớ ‘‘dà’’ một tiếng rồi lập cập leo lên từng nấc thang một у như là sợ sút tay té ngã vậy!

Thấy thím Hương nằm dài, tay cầm một quyển sách bỏ thỏng xuống ngoài mép chõng, Sơn Nhỏ vội lên tiếng giãi bày ngay lý do sự có mặt đột ngột của mình:

– Dạ… tui qua đây để hỏi coi thím… còn đồ ăn gì không. Anh Chín ảnh có dặn tui…

Thím Hương gạt phắc đi:

– Ối thôi, anh hơi sức đâu mà lo cái chuyện đó! Anh Chín sao Lại dặn anh việc ấy hổng biết ! Bộ tôi không có miệng hỏi, tay làm hay sao mà ảnh phải hành thân, hành xác anh như vậy cà !

– Dạ… ảnh dặn tui như vậy đó…

Thím Hương như không để ý đến lời đáp đó, thản nhiên hỏi anh ta :

– Chắc mấy ảnh đi hết ráo rồi phải không anh?

– Dạ phải. Mấy ảnh mới đi tức thời đây nè… ba bữa nay thím còn cả mắm hay đồ ăn gì không để tui chạy tui lo…

Thím Hương chắc lưỡi cự nự:

– Cái anh này sao lạ quá! Tôi nói dẹp chuyện ăn uống đó qua một bên đi! Và bây giờ… anh làm ơn kéo ghế ngồi xuống đó cho tôi rồi anh muốn nói gì đó thì nói!

 Bị thím Hương ‘‘nồ’’ cho một hơi như thế, Sơn Nhỏ đâm ra luýnh quýnh. Anh ta đứng lựng khựng một hồi rồi riu ríu bước lại kéo ghế ngồi xuống.

Thím Hương tủm tỉm nhìn bộ điệu của anh rồi cười khen:

– Ờ, như vậy coi có được hơn không! Khách tới nhà phải mời ngồi cho đàng hoàng chớ! Đó, bây giờ anh muốn nói gì. thì mặc sức cho anh nói!

Sơn Nhỏ ngó miết… hai đầu ngón chân cái của mình ấp úng lên tiếng:

– Dạ… thím có còn đủ… đồ ăn…

Thím Hương nhìn châm bẩm anh ta và chận ngang:

– Còn. Anh còn hỏi cái gì nữa hông?

Sơn Nhỏ sượng trân, anh ta muốn cười gượng cho đở mắc cở nhưng đôi môi như bị đớ cứng và tiếng cười như… mắc cạn nơi đốc họng! Mãi một lát sau anh ta đáp lời:

– Dạ… nếu còn thì… thôi.

Thím Hương thở ra thành tiếng:

– Dữ hông! Vậy mà anh làm như… mắc nghẹn khiến cho tôi hết hồn hết vía, tưởng anh còn báo tin gì ghê gớm nữa chớ!

Sơn Nhỏ xẻn lẻn cúi đầu:

– Dạ đâu có…

Rồi anh ta hết biết nói năng thêm gì nữa trong lúc thím Hương lại nín thinh soi mói nhìn anh ta một cách vừa diễu cợt vừa chờ đợi.

Sơn Nhỏ ngượng nghịu hết ngó cái bàn, cái ghế, đến chân chõng, đôi guốc, rồi tới cuốn sách lật ngửa kẹp giữa mấy ngón tay trắng múp của thím Hương… Anh ta mừng rỡ chụp hỏi liền:

– Thím đương coi sách gì đó vậy thím?

Thím Hương phát cười rộ lên:

– Tôi đang xem tiểu thuyết anh à! Ở đây buồn quá, thời may vớ được cuốn chuyện nầy đọc tới đọc lui cũng đỡ khổ lắm!

Sơn Nhỏ gật gù

– Hèn chi mấy lần tui qua đây, tui thấy thím coi sách hoài… Bộ thím không mỏi con mắt sao thím?

Thím Hương cười xòa

– Đọc mê mẩn tinh thần thì mỏi mắt khỉ gì anh? Anh hổng biết chớ hồi còn ở nhà, tôi mê đọc tiểu thuyết dữ lắm nghe. Thường thường tôi gởi xe đò mua dùm đủ thứ chuyện mới ra hết anh Năm á.

Sơn Nhỏ thật thà hỏi lại

– Vậy chắc thím Hương có rộng thời giờ lắm nên mới đọc dữ vậy chớ?

Thím Hương cười rất tươi:

– Hổng dấu gì anh… tôi sống cũng thảnh thơi, còn anh, anh có ưa đọc chuyện hông? Nhiều chuyện hay ghê lắm.

Sơn Nhỏ lắc đầu:

– Lúc trước có anh bạn quen cho mượn quyển chuyện gì đó, nhưng mới lật đọc được mấy trương rồi thôi chớ không sao ‘‘nuốt’’ nữa được. Ở trỏng họ viết cái gì lăng nhăng, chàng kia cô nọ… hổng ăn nhằm gì ráo.

Thím Hương cười xòa:

– Anh này nói nghe ngộ quá!

Thấy Sơn Nhỏ có vẻ mắc cở, thím vội kiếm chuyện hỏi lãng ra:

– À; anh có nghe họ nói chừng nào về không?

– Dạ lối hai ba bữa.

Thím Hương quăng quyện truyện lên đầu chõng, rồi uể oải vươn vai:

– Như vậy là lâu ớn rồi còn gì nữa! Tôi… chắc chịu hổng được đâu!

Sơn Nhỏ lo lắng hỏi liền:

– Sao vậy thím?

Thím Hương, vùng vằng đáp:

– Thì mấy anh bỏ phế tôi ở đây một mình, rũi Tây vô bố bất tử thì làm sao đây nè!… Hay là rủi đêm hôm tối trời tối đất, rủi ro có việc gì xảy ra, hay là ma quỷ hiện hình lên thì anh nhắm tôi phải làm sao? Tôi nói trước cho anh biết tôi sợ ma lắm nghen!

– Dạ hổng sao đâu mà thím! Bề nào cũng có tôi ở sát bên nách đây nè. Có cái gì thím cứ hú kêu tui một tiếng là tui chạy qua liền.. Nói phòng xa như vậy chớ vùng này hiền lắm, hổng có ma cỏ gì đâu.

– Còn rủi Tây bố thì sao? Tới chừng đó tui đeo dính cứng anh đa!

– Việc đó tui phải lo cho thím chớ! Anh Chín ảnh căn dặn tui kỹ lắm mà!

Thím Hương cau mày

– Sao cái gì anh cũng nhét anh Chín anh Mười gì của anh vô hết hổng biết! Bộ ảnh không dặn thì anh…buông xụi hết phải hông?

Sơn Nhỏ hốt hoảng đáp:

– Ý đâu có vậy thím (nhưng rồi anh ta lại thắc mắc hỏi luôn)… Nhưng anh Chín ảnh dặn tui thì… cũng vậy chớ có cái gì khác đâu mà tui coi bộ thím hổng ưng ý! Tui thấy ảnh với thím… hai người…

Thím Hương hỏi thúc

– Tôi với ảnh làm sao?

Sơn Nhỏ đâm ra lúng túng:

– Dạ… thím với ảnh… tui coi bộ quen biết nhau dữ lắm mà!

Thím Hương cắc cớ hỏi lại:

– Vậy chớ tôi với anh đây hổng quen biết với nhau hay sao?

Sơn Nhỏ chớp lia đôi mắt

– Dạ có chớ, nhưng chỉ quen biết … trơn vậy thôi.

Thím Hương hỏi dai tới

– Giả tỷ như tôi với anh quen biết… hổng trơn có được không vậy anh?

Sơn Nhỏ đỏ mặt tía tai:

– Dạ… cái đó tui hổng biết…

Thím Hương liếc xéo anh ta:

– Mà bây giờ anh có… muốn biết không?

Sơn Nhỏ ngó lơ sang chỗ khác

– Dạ… tui hổng dám.

Thím Hương lăn người, úp mặt vào gối cười sằng sặc. Tiếng cười cố dồn nén càng làm rung bờ vai tròn trịa rung cả phần bầu bĩnh trên cặp chân thon dài.

Sơn Nhỏ lúng túng nhích ghế đứng dậy…

Nghe có tiếng động trên sàn gác, thím Hương quay phắc lại và khi thấy Sơn Nhỏ đứng cóm róm ở đó thím cau mày hỏi liền:

– Bộ tính về hả?

Trước giọng hỏi lớn lối ấy, Sơn Nhỏ đâm ra khớp thêm nên đành trả lời cho êm xuôi theo:

– Dạ hổng có.

– Hổng có sao đứng dậy đi ra đó?

Sơn Nhỏ cười gượng:

– Dạ… ngồi lâu tê chân quá…

Thím Hương trề môi.:

– Dóc tổ!

… Rồi thím đứng rột dậy lê ra ngồi ở mép chõng. Tự nhiên Sơn Nhỏ bước lùi lại cạnh bàn.

– Mấy ảnh đi rồi mà anh còn bỏ tôi cù bơ cù bất, tôi dám quẩn trí treo cổ chết trong nhà này lắm nghen! (Thím Hương giơ giọng hăm he).

Sơn Nhỏ nhăn nhỏ kêu lên :

– Ý thím đừng nói như vậy hổng nên! Rủi Thần Vòng giục bất tử nguy lắm!

Thím Hương mỉm cười

– Bộ anh cũng sợ tôi chết lắm hả?

– Dạ, tui hổng muốn ai chết hết. Ngay trong lúc giặc giã cũng vậy, tui thấy bên nào chết tui cũng thương hết ráo!

Thím Hương nhìn anh ta khẽ lắc đầu

– Anh thiệt kỳ…

Sơn Nhỏ dà một tiếng đẩy đưa nhưng rồi lại thắc mắc hỏi lại

– Dạ… tui ‘‘kỳ’’ là sao hả thím?

Thím Hương vui vẻ đáp:

– Anh kỳ là… là không giống ai, chớ hổng có cái gì bậy đâu mà anh lo!

Sơn Nhỏ có vẻ hỉ hả:

– Dạ thiệt như vậy sao thím?

Thím Hương mạnh dạn gật đầu:

– Thiệt mà ! Ai nói gạt anh làm gì! (rồi thím đổi giọng trách móc)… Nhưng anh còn cái tật lớn này, tôi không ưa chút xíu nào hết !

– Dạ tật chi đó thím? Thím làm ơn nói cho tui rõ để coi tui có sửa được hông!

Thím Hương nhìn thẳng vào mặt anh ta rồi chậm rãi đáp:

– Tật này là hể anh mở miệng nói chuyện với tôi là anh dạ dạ thấy ghét quá!

Sơn Nhỏ thở ra như trút bớt một gánh nặng:

– Vậy mà tui tưởng cái gì chớ! … Mà tui dà dà như vậy là phải chớ có cái gì quấy đâu? Thím là người lớn, người trọng tuổi hơn tui thì tui thưa gởi dạ dạ là phải phép lắm đó thím.

Thím Hương cười mũi

– Xí, anh nói như vậy chắc anh muốn rủa cho tôi mau chết phải hông?

– Đâu có kỳ vậy thím!

– Hay là anh cho rằng tôi… già khú nên phải ‘‘kiến’’ tôi như vậy?

– Ý đâu có! Coi vậy thím còn trẻ nhiều mà ! Và còn ngộ hơn mấy đứa con gái mới trổ mã nữa là khác!

Thím Hương cười lõn lẽn:

– Chắc anh muốn đẩy cây thoa mỡ bò hay là tính thuốc nước tôi đó mà!

Sơn Nhỏ quay mặt lại:

– Thôi, tôi xin kiếu thím để dìa bển lo cơm nước…

Thím Hương chạy lại đứng chắn nơi cửa:

– Thì, anh ở đây tui nấu cơm ăn luôn hổng được sao? Quanh đi quẩn lại có hai đứa mà bày đặt hai nồi hai bếp cho nó tốn hao củi lửa thêm chớ lợi ích gì!

Sơn Nhỏ bối rối ngó qua vai thím như muốn tìm một lối để thoát đi. Thấy vậy, thím Hương bèn dang hai tay đặt lên khung cửa. Sơn Nhỏ càu nhàu:

– Thím cho tui dìa chớ mần gì kỳ vậy…

Thím Hương hất hàm hỏi lại :

– Bộ anh thiệt đòi về bển lắm phải hông? Anh mà ra khỏi chỗ này, lập tức tôi cũng bỏ nhà lội càng đi về Cần Thơ cho anh coi! Tôi nói gian nói dối cho Bà xẹt tôi đi… hay là cho súng đạn ăn tôi đi, chớ đừng để cho tui thấy mặt lại hai đứa nhỏ nữa!

Sơn Nhỏ lúng túng đáp:

– Hổng phải tui… giận hờn gì thím đâu, nhưng… tui ở bên nầy rồi để thím nấu cơm cho ăn thì coi cũng… hổng được.

Thím Hương buông thỏng tay xuống dịu giọng hỏi lại:

– Sao lại không? Bộ không có anh ở đây rồi tôi khỏi nấu cơm hay sao? Đằng nào cũng vậy mà anh! (đoạn thím ỡm ờ nói tiếp)… Đó, tôi để trống lối đi, anh muốn về thì về chớ tôi chẳng dám cấm cản gì nữa hết!… Đừng đi bán rao là tôi muốn.. bắt xác anh ở lại đây đó nghen!

Sơn Nhỏ vẫn đứng nguyên một chổ:

– Ai mà nói kỳ vậy hỏng biết…

Thím Hương tươi cười bước lại gần, giọng ranh mãnh:

– Chịu ở lại rồi hén? Thằng cha này lầm đầm vậy mà hay giận lẫy tổ mẹ! (thím cong ngón tay búng nhẹ vào vành tai anh ta)… Giỏi giận lẫy có ngày tôi cho xẩy cùi đa!

Sơn Nhỏ đỏ mặt vừa nghiêng đầu né tránh, vừa bước lùi lại sau.

Thím Hương cau mày:

– Thằng cha nầy у như là cây mắc cỡ, hễ đụng tới là co quắp lại!… Hay là mình mẩy tôi có gai nên anh mới co rúm như vậy hả?

Sơn Nhỏ gượng cười

– Thím nầy nói kỳ quá… Thôi thím đi lo cơm nước đi.

Thím Hương làm bộ quắc mắt lên:

– Cha, bây giờ được mợi sai người ta nữa hả?

Sơn Nhỏ lắp bắp đáp :

– Đâu phải vậy thím…Tui thấy trưa trờ trưa trật nên sợ trễ..

Thím Hương mỉm cười rất có duyên:

– Tôi nói giỡn mà anh! Thôi bây giờ tôi phân chia công việc ra nghen: phần anh thì anh lo nhúm lửa nấu cơm, còn tôi, tôi lãnh việc làm đồ ăn… Như vậy có đồng đều hông hả anh Năm?

Sơn Nhỏ gật đầu lia lịa:

– Dạ được lắm.

– Ờ có cái gì…ức hiếp anh thì anh phải nói liền chớ đừng để nữa rồi đổ thừa tôi ép anh này nọ, tôi hổng chịu đâu nghen! Anh coi vậy mà khó tổ bà!

Sơn Nhỏ cười nhẹ

– Dạ… ai mà dám vậy đó thím!

Thím Hương vừa véo nhẹ vào vai anh ta vừa xô tới:

– Thôi anh lo đi nhúm rửa vo gạo chớ đứng đó hoài hay sao?

Sơn Nhỏ đưa tay xoa xoa nơi bả vai, nhìn sững lại thím trong một giây rồi xăng xái đi lại phía sau bếp.

Thím Hương cười tủm tỉm ngó theo anh ta, vừa lúc ấy Sơn Nhỏ cũng quay mặt lại… Lần đầu tiên anh dám ‘‘chịu đựng’’, dám… đương đầu với cái nhìn vừa soi mói vừa ranh mảnh mà cũng vừa lẳng lơ… hết sức nói của người đàn bà ấy!

Thím Hương háy xéo anh ta rồi quay phắc đi, leo nhanh xuống thang tre, từng hai nấc một, với dáng dấp vừa gọn gàng vừa nhí nhảnh như một cô gái mới biết phải lòng trai…

Có tiếng thím Hương ở phía dưới vọng lên:

– Tôi đi bắt con cá lóc rọng trong khạp ra làm, còn anh, anh lo nấu cơm cho xong đi nghen!

Sơn Nhỏ lớn tiếng trả lời:

– Ờ… Hay là để tui bắc nồi cơm lên rồi xuống mần cá cho!

– Khỏi đi! Hổng ai biểu anh làm tài khôn tài khéo!

Sơn Nhỏ mỉm cười một mình và chợt thấy nãy giờ mình mân mê một nhánh cũi trên tay, anh ta vội bẻ ra thành từng đoạn nhỏ chất vào cà ràng để lật đật lo nhúm, lửa lên… 

Thím Hương bưng rỗ cá bước lại bếp và chưa chi thím đã chắc lưỡi nói một hơi:

– Cha, cha… cơm nước gì mà tự nãy giờ chưa xong gì hết vậy anh Năm? Mà anh làm gì ôm riết lấy ông táo vậy hả? Bộ nồi cơm… anh chứng sao đó hả? Vậy mà cũng khoe tài nấu ăn, thiệt mắc cở quá!

Sơn Nhỏ quay ra, cười đáp:

– Thím đừng có chê tui mà lầm đa nghen! Cái chuyện bếp núc tui hổng hay ho gì nhưng dám chấp hết mấy bà mấy cô ở thành.

Thím Hương đặt rỗ xuống ngồi chồm hỗm luôn ở phía sau lưng Sơn Nhỏ vì chái bếp trên nhà sàn chỉ đủ chỗ đặt hai chiếc cà ràng và một mớ củi nhánh.

Thím nghểnh cổ lên hỏi:

– Sao tự nãy giờ mà nước còn sôi lọc ọc ở trong nồi đó hả?

Sơn Nhỏ dở nấp nồi đất ra:

– Tại tui không dè thứ gạo bên nầy khác thứ bên tui, nên lỡ tay đổ nước nhiều một chút.

Đoạn anh ta vói cầm đôi đũa bếp nhưng thím Hương đã nhanh tay chụp giựt lấy:

– Anh để tôi xơ cho chớ để anh nại riết ba hột cơm đổ lông đổ lá hết!

Rồi không để cho Sơn Nhỏ nhường chỗ, thím chỉ lách mình qua một chút, vói tay đảo mạnh nồi cơm.

Sơn Nhỏ chỉ né người qua một bên là đụng vào vách và ú ó kêu lên:

– Thím để cho tui… tháo lui ra ngoài đã chớ!

Thím Hương như không hề đếm xỉa gì đến lời ‘‘phản đối’’ đó và càng hăng hái chen lấn tới xơ vần nồi cơm.

Sơn Nhỏ đành ngồi chịu trận, không dám nhúc nhích mà cũng chẳng dám thở mạnh!… Rồi anh ta đâm ra co ro, ké né thêm lên, vì chợt có cái cảm giác vừa nhột nhạt một cách bứt rứt, vừa êm dịu cách rất lạ kỳ… ngay ở phía sau lưng.

Mồ hôi Sơn Nhỏ vã ra như tắm và chảy dài theo sống lưng. Người anh ta nóng rang, không biết phải vì chen chúc chật hẹp, vì than lửa ở dưới bếp bắt lên hay vì hơi thở hôi hổi của thím Hương dồn dập chạy lướt qua một bên má anh ta. Có lẽ vì cả ba thứ đó!

Thím Hương khỏ mạnh đôi đũa bếp lên thành nồi và tiếng ‘‘cạch’’ làm cho Sơn Nhỏ giật mình.

Anh ta ngơ ngác nhìn lại thím Hương như vừa thoát khỏi một cơn ‘‘mê sảng’’ kỳ thú lạ lùng.

Thím Hương buông đũa xuống, thản nhiên đứng dậy và không ngó lại anh ta:

– Đó tôi giao nồi cơm lại cho anh! Tôi còn phải khứa cá rồi muối sả ớt đây.

Giọng nói của thím quá thản nhiên, quá tỉnh khô khiến cho Sơn Nhỏ phải ngơ ngác. Anh ta ngồi xệp xuống sàn nhà, nhìn sững người đàn bà khó hiểu ấy. 

Sơn Nhỏ cầm ngang đôi đũa trong hai bàn tay bụm lại xá một xá rồi nhẹ nhàng đặt nó xuống mâm cây, sát bên cạnh chén cơm.

Thấy vậy, thím Hương lên tiếng hỏi:

–  Ủa, mới ăn có bao nhiêu đó mà anh thôi rồi sao?

Sơn Nhỏ mỉm cười đáp:

– No quá rồi thím…

– No cái móc xì họ ! Tôi để ý thấy anh ăn có ba chén cơm mà chén nào chén nấy bới cũng lưng hết…Bộ ở bển anh cũng ăn theo cái lối mèo hửi đó phải hông?

Sơn Nhỏ cười trừ:

-… Bị bữa nay, tui… hơi no.

– Xạo đi! Thiệt ghét anh quá, ăn uống gì ké né như mấy cậu trai tơ đi ở rể ! Đàn bà con gái cũng hổng đến đổi co ro kén rén như anh vậy !

Sơn Nhỏ lỏn lẻn đứng dậy:

– Thôi tui dìa bển… thăm qua nhà cửa một chút nghe thím?

Thím Hương hỏi ngang:

– Bộ anh về bển để lục thêm ba cái cơm nguội hả?

 Sơn Nhỏ cười xòa:

– Tui ăn no thiệt mà thím… Tui phải dìa chớ chẳng lẽ bỏ bê nhà cửa hết sao?

Thím Hương trề môi:

– Nhà mấy anh có cái khỉ khô gì ở trỏng mà bày đặt trông với nom! Có anh muốn kiếm chuyện để rút lui bỏ tôi lại đây một mình thì nói đại đi.

Sơn Nhỏ chống chế một cách vất vả:

– Trời ơi, tui dìa rồi lại qua nữa chớ có phải đi biệt luôn đâu mà thím sợ! Đó với đây mấy bước chớ bộ cách sông biển gì mà thím nói như vậy chớ!

Thím Hương buông mạnh đũa xuống:

– Thiệt anh làm cho tôi ăn cơm hết ngon! Anh ở luôn bên nầy nghỉ trưa… bộ ai ăn thịt ăn cá gì anh sao mà sợ quá vậy! Đó, anh ngã lưng trên cái võng đó làm một giấc đi, rồi đến xế chiều mình ăn cơm luôn…

Sơn Nhỏ lắc đầu:

– Thôi thím à…

Thím Hương đứng dậy, chống nạnh  ‘‘hai quay’’ hỏi gằn:

– Cái gì mà thôi thôi hoài vậy cà?

Sơn Nhỏ xuống giọng năn nỉ:

– Thím để tui dìa rồi chiều tui trở qua… Tui có chạy trốn đi đâu được hả thím.

Thím Hương cười mũi, ngó lơ ra phía ngoài cửa:

– Xí, anh làm như tôi… lo anh trốn lắm vậy! (chợt thím quay phắc trở vô, giọng hăm he)… Mà nói là nói cho vui vậy, chớ bộ tôi cần gì đến ai lắm sao? Tôi mà nổi cơn lên, tôi bỏ chỗ nầy đi liền rồi muốn ra sao thì ra.

Sơn Nhỏ chắc lưỡi, xăng xăng xéo véo bước lại gần thím:

– Thím đừng giận tôi tội nghiệp mà!… Bộ thím hổng biết rằng… tui hổng để cho thím đi chỗ khác sao? Bộ thím hổng biết… tui cũng… tui cũng…

 Thím Hương ráng nhịn cười, làm mặt nghiêm hỏi lại:

– Anh cũng làm sao?

Sơn Nhỏ nhăn nhó nhìn sững thím Hương với một cặp mắt như muốn cầu cứu, như muốn van nài:

– Tui làm sao… chắc thím dư biết rồi mà!

Thím Hương, ranh mảnh lắc đầu:

– Bộ tôi là thầy bói hay sao mà biết thấu trong bụng trong dạ anh ra sao hả?

Sơn Nhỏ vặn vẹo bẻ mấy lóng ngón tay, miệng lấp bấp với một vẻ khốn khổ gần như là tuyệt vọng:

– Tội nghiệp tôi mà thím! Thím đừng bắt tui phải trả lời… Mà tui cũng… hổng biết trả lời làm sao cho phải, cho xuôi nữa đây!

Thím Hương mỉm cười, khẽ lắc đầu rồi xuống giọng bảo anh ta:

– Thôi anh về bển nghỉ trưa đi. Tôi hổng hỏi anh nữa đâu!

Sơn Nhỏ thở ra, tươi tỉnh nét mặt trở lại và ngây ngô hỏi

– Tui dìa được hở thím?

Thím Hương đưa tay vuốt phớt qua má anh ta rồi nắm lấy vai xô tới:

– Ừ cưng!

Sơn Nhỏ mới dợm cất bước bỗng đứng khựng như bị ‘‘đóng đinh’’ lại một chỗ. Anh ta len lén ngoái mặt trở lại nhìn thím Hương như để dò xét…

Thím khẽ gật đầu, rồi lập lại bằng giọng như chen qua hơi thở:

–  Ừ… cưng…

Sơn Nhỏ bỏ chạy đi một nước xuống cầu thang tre… Thím Hương bước sấn tới gọi vói theo:

– Anh Năm, nhớ chiều qua liền đó nghen!

Sơn Nhỏ quay lại gật đầu rồi hấp tấp rảo bước у như là một kẻ muốn chạy trốn…

Anh ta lầm lủi đi tới, hết phóng chân đá mấy đầu cỏ đuôi gà, đến vói tay bứt mấy chót tàu lá chuối, và khi về tới nhà, anh ta bước ngay lại chiếc sạp tre của Chín Thuộc, nhào lên nằm sảy tay, rồi thở ra trong lúc mắt thì ngó lơ lên phía trần nhà…

Sau bữa cơm chiều bên thím Hương, Sơn Nhỏ lại quay về bên nhà để tắm rửa. Không biết nghĩ sao, anh ta lại lôi gói quần áo ra, chọn một bộ bà ba đen còn mới nhứt để mặc vào.

Đoạn anh ta bước lại xăm xoi trước một miếng gương bể đóng giữ luôn lên cột cây. Anh ta vói tay rút khúc lược gãy giắt gần đó xuống để о bế chải lấy lại lằn chẻ ‘‘bảy ba’’ mà từ lâu vì “bỏ phế” nên không còn đường lối gì hết!

Trước đây, mỗi lần đi xuống rạch tắm, muốn cho tóc tai được suôn sẽ, Sơn Nhỏ chỉ cần ngửa đầu cho phần tóc ngấm xuống nước rồi “xước lông gà” một cái là xong!

Anh ta sờ mãi mí tóc dài phủ và thầm trách mình sao quá bê trễ trong việc đi cạo hớt.

Xong xuôi đâu đó… anh ta mới thả rề lại nhà thím Hương. Lúc bấy giờ vào khoảng mới bắt đầu đỏ đèn.

Thím Hương đứng dựa vào thành cửa thấy Sơn Nhỏ đi tới liền lên tiếng phủ đầu trước:

– Tôi tưởng anh có gan hổng qua đây chớ!

Sơn Nhỏ cười đáp:

– Tui cũng tính không qua nhưng nghĩ lợi… sợ thím  quá nên phải… ráng đi…

– Vậy là khá nhiều rồi đa!

Đoạn thím tránh qua một bên cho Sơn Nhỏ leo bước vô nhà

Dưới ánh đèn dầu sáng trưng, thím soi mói nhìn anh từ đầu chí chân,rồi phát cười to lên:

– Cha, bữa nay… diện bảnh quá ta!

 Sơn Nhỏ ngượng nghịu cúi gằm mặt xuống, đưa tay vuốt vuốt cái tà áo bà ba có hơi nhăn nheo một chút và ấp úng chống chế:

– Diện khỉ gì thím! Thím cứ kiếm chuyện kêu ngạo tui hoài… Bộ quần áo này gói cất lâu ngày tui sợ… mục hết nên đem ra bận bậy vậy mà!

Thím Hương cười tủm tỉm hỏi thêm

– Còn tóc tai mướt rượt kia… chắc anh cũng sợ… mục nữa chớ gì?

Túng thế quá, Sơn Nhỏ đâm ra trơ mặt và đáp liều:

– Thì… lâu lâu tui cũng phải sửa sang bộ vó lại một chút, chớ để u trệ quá coi sao. được thím!

Thím Hương gật gù:

– Ừ, anh chịu khó sửa sang… xi kên và đánh bóng lại coi cũng xôm trai ớn chớ bộ bỏ bê gì sao! Và nếu anh còn biết ôm cây ghi ta lai rai sáu câu mùi mẫn nữa thì tôi cam đoan mấy cô ở dưới vườn… chết dính chùm hết ráo!

Sơn Nhỏ lên giọng cự nự:

– Đọ, thím kiếm chuyện chê bai tui hoài!

Thím Hương làm mặt nghiêm:

– Cái anh này kỳ quá! Tui chê anh hồi nào, chỗ nào? Tôi nói anh bảnh chớ bộ…

Sơn Nhỏ ngắt ngang

– Tui mà bảnh khỉ ho gì!

Thím Hương hăng hái tiếp lời:

– Anh bảnh thiệt tình chớ! (đến đây thím liếc xéo Sơn Nhỏ, giọng ởm ờ)… Và anh sẽ bảnh tỏn hơn nữa nếu tối nay anh ở đây chơi rồi ngủ luôn bên nầy…

Sơn Nhỏ vừa há miệng định lên tiếng hoác ra thì thím Hương đoán trước ý định này, nói dồn luôn một câu nữa:

– Anh mà kiếm chuyện từ chối, bỏ tôi ngủ một mình đêm nay, thì ngày mai anh khỏi có gặp mặt tôi nữa đi!

Sơn Nhỏ nhăn nhó hết nhìn thím, đến ngó về phía cái chõng tre:

– Tui ngủ ở đây coi sao được thím? Rủi có ai thấy thì… kỳ lắm!

Thím Hương hỏi tỉnh khô:

– Ai vô đây mà thấy được hả?

– Thì tui nói giả tỷ như vậy…

– Mà có thấy đi nữa thì có cái gì gọi là “kỳ” đâu hả?

Sơn Nhỏ không rời mắt nhìn về phía đặt chiếc chõng tre, lúng túng tìm câu trả lời:

– Thì thím nghĩ coi… nội gian nhà nầy không có ai khác hết và… không có cái giường cái chõng nào khác hết… như vậy họ hổng nghi ngờ nọ kia tầm bậy tầm bạ sao được!

Thím Hương trề môi:

– Tầm bậy cái mốc xì họ? Bộ tới biểu anh ngủ chung một chõng sao? Đây nè, anh về bển xách mùng xách nóp đem qua trải giăng chỗ góc đó mà nằm ngủ.

Giọng nói quá thản nhiên của thím Hương làm cho Sơn Nhỏ bình tỉnh trở lại và vớ liền lối “thoát” của thím để ra (vì thật tình anh ta cũng muốn… cà rà ở bên nhà thím trong đêm nay lắm nhưng còn… mắc cở mặt).

Tuy vậy anh ta cũng làm bộ đứng mím môi “suy nghĩ” rồi gật đầu bước trở ra cửa.

– Thôi được. Tui cũng chịu khó nghe lời thím chớ biết sao…

Thím Hương thở ra kêu lên:

– Dữ hông! Có chút xíu đó mà cũng để cho người ta nói hết sức! Đi về bển rồi trở qua cho mau nghen! Ờ… trong nhà còn chút đỉnh đường và đậu xanh, anh có ăn chè hông để mình nhúm lửa bật nồi lên?

Tiếng “mình” quá tự nhiên, quá ngọt ngào và quá khéo léo ấy làm cho Sơn Nhỏ bắt đứng khựng lại ngó sửng thím Hương trong một vài giây, rồi mới lắp bắp đáp được mấy tiếng cộc lốc đến vô duyên:

– Có… có… thím nấu trước đi!

Đoạn anh ta hấp tấp bước xuống thang tre.

Thím Hương chạy theo dặn vói:

– Anh Năm, lát nữa khi trở qua anh nhớ ghé dưới bến xuống luôn chiếc tam bản của mình bưng lên dùm cái giàn hát máy và hộp dĩa lên đây quây hát nghe chơi nghen! Mà anh xách đèn theo chớ hông thôi trời tối, anh trật chân sút tay quăng mấy thứ đó rớt xuống đất hết xài đa!

Sơn Nhỏ gật đầu “ừa” một tiếng. Tự nhiên anh ta cũng lấy làm lạ sao bỗng nhiên mình bỏ được cái lối thưa gởi “dà, dạ” một cách mau chóng, và có thể “ừa” một cách trơn tru, một cách xuôi rót như thế…

Sau khi hai người vét múc hết nồi chè, Sơn Nhỏ giành phần thu dọn đem cất. Thím Hương ngồi ngửa ta chống hai tay về phía sau lưng, nhìn Sơn Nho cười nụ:

– Bây giờ mình coi bộ ăn uống bậm trợn chớ không co ro ké né như hồi sáng nữa rồi đa! Như vậy có phải thiệt tinh với nhau hông!

Sơn Nhỏ vui vẻ đáp:

– Thì… thím cũng để thủng thẳng rồi nó… bắt trớn lần lần chớ!

Thím Hương mỉm cười một cách bí hiểm:

– Mình sợ anh bắt trớn rồi… thắng lại hổng được nữa chớ!

…Sơn Nhỏ dọn dẹp xong nồi trách, chén muỗng đến ngồi xuống chiếc nóp trải sụt vô phía trong gian nhà. Anh ta thong dong móc thuốc ra ván hút, trong lúc thím Hương mở mày hát ra đặt lên một dĩa vọng cổ “khóc bạn” của cô Ba Bến Tre, đoạn bước lại ngồi ké ở một bên mí nóp.

Sơn Nhỏ thờ thẫn lắng tai nghe giọng ca trong trẻo như rót vào sự tĩnh mịch của đêm trường…

Bỗng anh ta thở dài quay qua khẽ bảo thím Hương:

– Thiệt kỳ vậy…

Thím Hương nhướng mắt lên:

– Cái gì mà kỳ đó anh?

Sơn Nhỏ giơ tay phác chỉ vào khoảng trống không:

– Tiếng hát hay quá… ở đây vắng vẻ quá… làm tui buồn như nhớ ông bà ông vải gì vậy!

Thím Hương, mỉm cười, ánh mắt long lanh:

– Tiếng hát hay thì đã đành, nhưng ở đây còn có mình nữa chớ bộ không sao mà anh còn kêu là vắng vẻ!

Sơn Nhỏ đáp liền:

– Thì đó!… Vì có thêm thím ở đây nên tui càng thấy… vắng vẻ trơ trọi..

Thím Hương cau mày một cách nửa như hờn dỗi, nửa như trên chọc:

– Coi, sao có thêm mình ở đây mà anh lại “thấy” như vậy? Anh nầy ăn nói ngược ngạo quá hà!

– Thiệt mà thím! Nó kỳ như vậy đó!

Thím Hương bỗng nhổm dậy đến ngồi sát bên cạnh anh ta và đỏng đảnh hỏi:

– Anh nhắm như vầy có hết kỳ chưa?

Sơn Nhỏ đưa hai tay muốn xô đẩy thím ra nhưng rồi lúng túng rút lại quờ quàng у như là… muốn bắt chuồn chuồn.

Thời may, vừa lúc ấy dĩa hát chạy đến vòng cùng.. Sơn Nhỏ hớt hải kêu lên:

– Dĩa hát hết kìa thím

Thím Hương đáp gọn bân:

– Hết thây kệ mồ nó!

– Ý trời, thím để nó chạy rè rè hoài hư dĩa hết!

– Anh khỏi lo, nó ngừng yên cho anh coi! Máy hát này thuộc thứ kiểu mới mà!

Thím Hương hơi chồm tới, hai tay chống kềm hai bên hông Sơn Nhỏ như muốn nhốt anh ta vào trong… và quả như lời thím nói, chiếc dĩa hát sau khi chạy thêm vài vòng nữa tự động ngừng lại,

Sơn Nhỏ thở dài, nhưng rồi như chợt nhớ ra điều gì, anh ta vội lên tiếng:

– Thím lợi lật bề khác đi, chớ cái bản nầy nó tới hai dĩa lận mà!

Thím Hương cười đáp:

– Anh nầy rành quá ta!

Đoạn thím từ từ nhích người ra đứng dậy để đi lại đổi sang mặt kia của chiếc dĩa hát, quây dây thiều thêm, và đặt đầu kim xuống… Tiếng ca lanh lảnh lại vang lên và lần này, lỗ tai của Sơn Nhỏ như bắt đầu lùng bùng: anh đã hết còn có thể thơ thới ngồi lắng nghe và cảm xúc như những âm điệu trầm bổng ấy nữa…

Thím Hương lừ lừ tiến lại phía anh ta với một dáng điệu chậm chạp và uốn éo… có tính toán.

Sơn Nhỏ biết trước được những… giây phút giông bão sắp chuyển đến: anh ta phập phồng lo ngại nhưng cũng… náo nức đợi chờ!

Nhưng anh ngạc nhiên xiết bao khi thấy thím Hương bước đến ngồi xuống gần một bên anh ta rồi thím… ngồi yên ở đó một cách… như không có việc gì xảy ra hết!

Bây giờ đến lúc Sơn Nhỏ bắt đầu đâm ra bứt rứt, đâm ra bực mình…

Thím Hương cũng không buồn ngó ngàng gì đến anh ta nữa, và mãi một lúc sau thím mới quay mặt qua hỏi một câu rất thừa

– Bài vọng cổ này hay quá hén anh?

Sơn Nhỏ cau mày gật đầu:

– Ừa… hay.

… Rồi thím lại nín thinh ngồi chờ cho hết mặt dĩa để đứng lên thay dĩa khác… rồi mặt khác đến khi dứt bản hai mươi câu vọng cổ.

Thím lại quay sang hỏi anh ta với một giọng rất thản nhiên.

– Anh muốn nghe thêm nữa hay là dẹp cất rồi đi ngủ?

Sơn Nhỏ hấp tấp đáp:

– Nghe nữa thím! Bây giờ có dẹp đi thì cũng… nằm chèo queo ngủ chớ chuyện gì vui đâu!

Câu trả lời có pha giọng hờn trách ấy khiến thím Hương quay mặt đi để giấu một nụ cười:

– Bây giờ anh muốn nghe dĩa nào đây nè? Vọng cổ nữa hay là mấy bộ “Đắc Kỷ thọ hình”! “Chiêu Quân cống Hồ” hay tuồng “San Hậu”?

Sơn Nhỏ thờ ơ đáp:

– Cái gì cũng được…

Thím Hương nhái giọng anh ta:

– Cái gì cũng được…

Đoạn thím lật chồng dĩa kiếm bộ “Chiêu Quân cống Hồ”, đặt dĩa đầu tiên lên máy hát.

Xong, thím bước lại ngồi у vào chỗ  cũ, xổ đầu tóc ra giũ giũ như là tự lấy làm khoan khoái lắm vậy…

Thím đưa một bàn tay lên dùng năm ngón làm lượt lơ đễnh cào xuôi vào mài tóc… Mùi dầu bông lài ủ trong mớ tóc dày kịt và đen nhánh ấy, như bị nhốt kín nay thoát ra được, càng làm nhột mũi Sơn Nhỏ.

Thím Hương bỗng kêu lên:

– Cha, sao nực quá vậy nè!

Liền theo đó thím đưa tay giựt bực bực hai chiếc nút bóp ở phía đầu bâu rồi chụp nắm lấy hai vạt túi áo quạt lia quạt lịa…

Sơn Nhỏ thấy ngứa mắt quá nên đâm ra nổi dóa, xụ mặt xuống,

Cho rằng trêu chọc chàng trai tơ nầy như vậy cũng vừa đủ nên thím Hương bèn ngừng tay lại quay qua mỉm cười hỏi:

– Làm cái gì mà mặt mày chừ bự vậy bậu?

Sơn Nhỏ vùng vằng đáp:

– Đâu có gì đâu! Thím để thây kệ tui mà!

– Hứ, đàn ông con trai gì mà hay giận lẫy quá trời! Mà ai làm gì đâu mà mình giận người ta chớ?

Sơn Nhỏ cười chua chát:

– Tui có nói tui giận ai hồi nào đâu!

Liếc thấy thím Hương nheo mắt nhìn mình, Sơn Nhỏ  vội quay mặt ngó lơ sang chỗ khác.

Thím Hương cười rộ, chồm tới ngồi khít bên Sơn Nhỏ rồi đưa má lên nhỏng nhảnh bảo anh ta:

– Đây nè, hun một cái đi cưng! Người ta đền cho đó!

Sơn Nhỏ cau mày nhích đầu ra…

Thím Hương hối thêm một lần nữa, giọng gần như là hạ lịnh?

– Bộ chê hả? Anh mà hông hun một cái thì kể như hết chuyện… hết chuyện đứt đạt đa nghen!

Sơn Nhỏ ngần ngừ trong một thoáng rồi kê chót mũi đặt vừa đụng nhẹ lên má thím Hương là thối lui ra liền!

Thím Hương vẫn chìa nguyên má ra như cũ và lên tiếng cự nự

– Anh làm cái gì như trả nợ quỷ thần vậy? Hun lại một cái coi cho được coi!… Mà phải làm cho đàng hoàng, cho đầy đủ chớ đừng theo cái lối… hun nựng con nít hổng được đâu nghen!

Sơn Nhỏ chắc lưỡi rồi ngoan ngoản kê mũi lên… Làn da mịn mát của người đàn bà kỳ lạ ấy làm Sơn Nhỏ nín thở, tuy trong lòng nôn nao muốn ép dồn buồng phổi lại để có thể hít vô một hơi thật dài, thật sâu đậm…

Anh ta nhích đầu ra, nhưng chỉ nhích ra được một khoảng rất gần, để rồi đờ đẫn đưa mắt nhìn nghiêng gương mặt thím Hương… như không đủ sức rứt ra được nữa.

Thím Hương từ từ quay mặt nhìn lại, nhoẽn miệng cười rồi khẽ hất hàm nửa như có ý hỏi anh ta muốn gì thêm, mà nửa như… khuyến khích anh ta đừng nên e ngại…

Sơn Nho mím môi lại như phải quyết định một điều gì ghê gớm lắm rồi bỗng nhiên anh ta nhoai người tới dang hai tay vụng về ôm xiết lấy cổ thím Hương khiến cho thím Hương phải nhăn mặt kêu đau.

– Ý trời ơi, anh làm cái gì mà như muốn bẻ lọi cổ mình ra vậy! Thủng thỉnh một chút hổng được sao? Bộ mình biến ra mây khói…

Sơn Nhỏ như không nghe thấy gì hết, càng siết chặt thêm vòng tay và không bỏ lơ một giây; anh ta hôn như mưa bấc, như điên cuồng. Như không bao giờ  “đã nư” được lên má, lên tóc, lên cổ, lên vai… thím Hương.

Thím cố sức nhoai đầu ra và xô mạnh anh ta dạt qua một bên…

Sơn Nhỏ thở dốc và vừa ngơ ngác vừa sợ sệt đưa mắt nhìn thím đăm đăm. Anh ta ngạc nhiên vì bị xô đẩy và lo lắng chờ đợi những lời sỉ vả mà anh ta đinh ninh rằng thế nào cũng có!

Nhưng thím Hương chỉ ung dung đứng dậy, lấy tay hất cho mớ tóc xõa ra phía sau lưng rồi nhìn anh ta cười tủm tỉm.

Thấy Sơn Nhỏ luống cuống toan dứng dậy theo, thím bèn cản lại:

– Anh ngồi yên đó, để mình đi thay dĩa khác! Bộ anh không biết máy hát ngừng chạy tự nãy giờ rồi sao!

Sơn Nhỏ đáp, giọng như sực tỉnh

– Ờ há.

Thím Hương bước lại thay dĩa hát. Đó là chiếc dĩa chót của bộ. “Chiêu Quân cống Hồ”. Thím cẩn thận quay dây thiều cho thiệt cứng rồi thong thả trở lại chỗ cũ…

Nhưng khi đi ngang qua chiếc bàn, nơi đặt ngọn đèn dầu lửa, không biết nghĩ sao thím dừng lại, chống hai bàn tay lên mép bàn rồi hơi nghiêng người kề miệng gần đèn ống khói đèn.

Thím lấy hơi định thổi cho tắt nhưng chợt ngừng lại, nghiêng mặt liếc xéo Sơn Nhỏ, miệng cười chúm chím. Sơn Nhỏ bối rối chưa kịp nói năng gì thì thím đã phùng má thổi phù một hơi mạnh…

Ngọn đèn chao lên rồi tắt ngỏm. Bóng tối chợt buông trùm xuống gian nhà làm cho Sơn Nhỏ đâm ra ngớp sợ. Anh ta hơ hải kêu thím Hương tuy dư biết rằng vô ích:

– Ý khoan đã thím ơi!

– Bộ anh muốn kiếm cái gì nữa hả?

– Không… Tui hổng kiếm cái gì hết…

Sơn Nhỏ chợt để ý đến những lời ca phát ra từ giàn máy hát: trong bóng tối dầy đặc, những âm điệu đàn hát ấy bỗng nhiên có một vẻ … lạc lõng lạ kỳ.

Anh ta bèn lên tiếng bảo thím Hương

– Thím để máy hát chạy như vậy mà tắt đèn tối hù nghe sao… lỏn chỏn quá thím!

Có tiếng cười của thím vang lên

– Cái gì mà lỏn chỏn? Bộ tắt đèn rồi nghe hát máy hay làm cái khác hổng được sao? Bộ anh sợ… mắc xương sao anh Năm?

Sơn Nhỏ không biết trả lời làm sao nữa, nhứt là anh ta càng thêm Ịuống cuống khi nghe tiếng bước chân của thím Hương rà nhẹ trên sàn gác và tiến chầm chậm về phía mình.

Và khi chân của thím đụng vào mí nóp, Sơn Nhỏ hỏi hoảng lên:

– Thím hả thím? Thím kiếm cái gì đó thím?

Thím Hương ngồi thụp xuống sấn người tới ôm chầm lấy anh ta và đáp rít qua hàm răng

– Mình kiếm cưng đây nè!

Sơn Nhỏ chới với ngã nằm sải tay lên chiếc nóp, lấp bấp kêu lên

– Ý đừng thím!… Ý… Khoan đã thím!

Có tiếng thím Hương cười rúc rích

– Ừ… anh muốn khoan thì mình cho khoan mà!

… Rồi không nghe Sơn Nhỏ nói năng hay cự nự gì nữa…

Từ nơi giàn máy hát, những lời nói lối cuối cùng những câu ca trong dĩa vẫn đều đều và thản nhiên vang ra, nhưng những âm thanh đó có vẻ e ấp và thua thiệt bên cạnh những tiếng xột xạc hấp tấp và nghèo nàn âm điệu hơn nhiều…

… Trên dĩa hát đã đến đoạn Chiêu Quân sắp rời quan ải sang Hồ. Lời than van não nuột của cô Năm Cần Thơ bỗng dứt ngang vì kim hát chạy lọt tới lằn dĩa bị “cà lăm”…

Hai tiếng  “thần thiếp”, “thần thiếp”… Và đến khi khoảng dây thiều quây trong máy chạy đến hết mức, hai tiếng “thần thiếp” ấy kéo lê dài như một tiếng rên rỉ mòn hơi kiệt sức rồi tắt hẳn…

Lần thứ hai, Sơn Nhỏ giật mình thức giấc đưa mắt ngó qua tấm mặt cáo trên nhà thì thấy bên ngoài trời đã rựng sáng, Anh ta hơi ngạc nhiên vì thấy mình nằm gọn trên chõng của thím Hương, đầu anh ta nép vào một bên nách của người đàn bà đa tình ấy, у như là một đứa bé ngoan ngoãn rúc đầu vào ngực mẹ…

Sơn Nhỏ vừa toan nhích người ra để ngồi dậy thì liền bị thím Hương quàng tay qua giữ chặt lấy ngang lưng anh ta.

Sơn Nhỏ bẽn lẽn đưa tay kéo chiếc mền đấp vội lên người thím và ấp úng nói:

– Sáng bửng rồi mà thím!

Thím Hương không buồn ngó ra ngoài:

– Sáng thì sáng chớ ăn thua gì mà anh nói chớ!

Tuy nói thế thím cũng đã cho Sơn Nhỏ gỡ cánh tay ra. Anh ta hấp tấp bước xuống chõng nhưng rồi lại đứng ngơ ngẩn ngay giữa nhà…

Anh ta chợt để ý đến chiếc nóp nằm xiêng xẹo ở góc nhà vội chạy cuốn gọn lại rồi cầm lên ôm khư khư một bên nách.

Thím Hương từ trong mùng hỏi vọng ra:

– Chưa chi anh đã cuốn gói đi đâu đó hả?

– Tui phải dìa bển chớ thím…

Thím Hương thò tay vén cửa mùng qua một bên rồi ngoắc Sơn Nhỏ:

– Lại đây mình nói cái nầy cho mà nghe.

Sơn Nhỏ cau mày:

– Chi nữa đó thím?

– Anh có ngồi lại đây mình mới chịu nói.

Sơn Nhỏ ôm chiếc nóp bước lại ngồi co ro một bên mép chõng.

Thím Hương nhích gối lại gần:

– Mình còn ghét anh một chỗ này nữa… bề gì mình với anh cũng đã ăn ở với nhau rồi…

Sơn Nhỏ chận lời thím liền

– Mới có… chút vậy mà thím nói là ăn ở với nhau?

Thím Hương chắc lưỡi

– Thì dầu ít dầu nhiều hai đứa mình cũng.. như một cặp nhân tình nhân ngãi, bởi vậy mình nghe còn kêu thím nầy thím nọ sao thấy ghét quá!

Sơn Nhỏ có vẻ bực mình:

– Trời ơi, thím muốn tôi kêu bằng gì bây giờ? Thím hổng biết chớ ở ngoài đời nếu so về tuổi tác…

Thím Hương cắt ngang:

– Xí, anh nầy ăn nói lảng òm! Mình có nói chuyện ngoài đời, ngoài khỉ gì đâu… Anh nghĩ lại coi, trong lúc hai đứa mình gần gũi như vầy mà anh cứ dà dạ hay chen tiếng thím vô nữa thì nghe lỏn chỏn qúa! Nói thiệt với anh, nhiều lúc mình nghe anh kêu bằng thím, mình bắt… sượng ngang.

Sơn Nhỏ thở dài:

– Vậy chớ tui phải kêu bằng tiếng gì bây giờ? (anh ta gải đầu, bứt tóc rồi chắc lưỡi than thở)… Thiệt khó quá…, “em” thì hổng được rồi, “mình” thì hơi… Thôi tui chịu  bí rồi đó… thím?

Thím Hương cười xòa, ngồi nhổm dậy

– Đáng lẽ anh phải kêu mình bằng… em thì nó mới ngọt, mới đúng điệu, cái nầy là chuyện yêu thương với nhau, chớ bộ phân chia tuổi tác kẻ trên người dưới hay sao mà anh sợ! Nhưng thôi, anh kêu đỡ mình bằng mình cũng được. Ở trong tiểu thuyết người ta hay xài kiểu đó lắm!

Sơn Nhỏ nhăn mặt:

– Kiểu gì mà kêu ngang xương kỳ như vậy được! Tui hổng chịu đâu!

– Thằng cha nầy khó quá!

Sơn Nhỏ nín thinh, lầm lũi bước ra cửa.

Thím Hương réo anh ta lại:

– Mà khoan đã, để mình dặn cái nầy nữa.

Sơn Nhỏ quay mặt lại:

– Cái gì nữa vậy?

– Sao anh cứ nói trỏng không hoài hà? Trưa nay nhớ qua bên này nghen!

Sơn Nhỏ cau mày:

– Thôi đi.

– Coi, cái gì mà thôi! Anh hổng qua bên nầy thì mình lội sang bển đa! Mới có nước nạp mà đã chạy tét rồi sao? (rồi thím mỉm cười nói tiếp)… Mà cái nước nạp của anh cũng dở ẹt, ba trật bốn vuột… thiệt anh đúng là hàng đệ tử của anh Chín Thuộc.

Sơn Nhỏ vội vã bước đi và nói gạt ngang cho xong chuyện:

– Thôi được rồi, để tui qua… chớ đừng sang bển đó nghen!

Nói xong Sơn Nhỏ dông thẳng xuống cầu thang chớ không dám nấn ná ở đó thêm nữa…