This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Bây giờ ai cũng đi cả rồi. Tướng, Tá, Úy, HO, ODP, con lai, sở Mỹ, vượt biên, cải tạo. Ai cũng đi nước ngoài. Chỉ còn lại những thương phế binh, cô nhi quả phụ và sau cùng là tử sĩ.
Xin đừng quên chúng tôi, đã 25 năm rồi.”
(Trích báo cáo của Thương Phế Binh Biệt Khu Thủ Đô
công tác tại Nghĩa Trang Biên Hòa – 1999)
Theo danh từ Hán Việt thì nghĩa địa là đám đất người ta vì nghĩa mà quyên góp để làm chỗ chôn người, trái lại nghĩa trang là ruộng nương để lấy hoa lợi mà giúp đỡ người nghèo, chứ không phải là nơi để chôn người chết.
Tuy vậy ngày nay, nghĩa trang hay nghĩa địa người ta cũnghiểu chung một nghĩa, có chăng là ngày nay ở quê nhà, nghĩa trang sang trọng được chú ý bội phần, còn nghĩa địa là nơi chốn nghèo hèn.
Nghĩa trang như Nghĩa Trang Liệt Sĩ chôn người đã chết cho chủ nghĩa Cộng Sản, Nghĩa Trang Mai Dịch ở Hà Nội để chôn các quan to, đảng viên lớn, còn nghĩa địa thì ở đầu làng, cuối xóm cho bần dân hay những người chết ngày xưa nay đã trở thành hoang phế. Trên Quốc Lộ 1 từ Nam ra Bắc sau này, thực tình tôi đã thấy vô số Nghĩa Trang Liệt Sĩ được dựng lên với những chiếc cổng cao đồ sộ, phía trong những ngôi mộ ngay hàng thẳng lối quét vôi mới trắng phau, để phân biệt với những nghĩa địa xiêu lạc, không người trông nom, hoặc vì nghèo khó, hoặc vì không còn ai để chăm sóc hương khói. Phân biệt như thế, không phải là những lời nói ngoa, ngày nay ta vẫn thường nghe người nghèo, vô gia cư, sống bằng nghề hốt rác, nhặt bao ny lông, làm nhà ở chung với người chết trong nghĩa địa chứ chưa bao giờ nghe ai trong đám nhà nghèo dám dựng nhà trong nghĩa trang.
Ngày xưa chúng ta cũng gọi là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi chôn cất 16,000 tử sĩ VNCH từ một Tướng Lãnh cho tới một Binh Nhì, mà tiếc thay cuộc đời dâu bể đãtrở thành một thứ nghĩa địa lúc nào không hay. Những ngày đầu, người bỏ nước ra đi, kẻ bị lưu đày tù tội, người bị đánh tư sản, kẻ bị đưa đi kinh tế mới, người sống chỉ còn biết cúi đầu nhìn đất, xót xa cho một cuộc đổi đời, sự sống héo mòn còn đâu mà nghĩ tới người chết. Bức tượng Tiếc Thương bằng đồng của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngày nào mô tả người lính buồn ngồi tư lự gác súng ngang đùi, đôi mắt đăm chiêu đã bị chiến xa của quân thắng trận kéo sập đem về gần sông Đồng Nai, bên trái xa lộ, nhưng xe bị lầy không kéo được. Năm 1976, tượng được kéo lên sân banh Dĩ An rổi bỏ đấy. Người miền Nam vẫn thương tiếc người chiến binh VNCH và thần hóa bức tượng Tiếc Thương, thường lui tới khấn vái hoặc cầu nguyện trong những lúc nguy khốn hay gặp chuyện khó khăn, bức tượng lại được kéo đi, ngày nay không biết ở đâu?
Các nắm xương tàn trong các ngôi mộ ở nghĩa trang đã được thân nhân lén lút cải táng, nhưng toàn bộ các bia mộ đều bị đập phá, đào cậy, điêu tàn và hoang phế. Mỗi năm vào những ngày cận Tết, thân nhân tử sĩ lên viếng thăm các ngôi mộ đều bị công an làm khó dễ và theo dõi.Cho mãi hai mươi năm sau (1995), khi tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ sắp được xây lên ở Little Saigon thì ký giả Gordon Dillow của tờ nhật báo Orange County Register mới có một bài báo nói về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa với những lời như sau: “Có lẽ không nơi nào cần Đài Tưởng Niệm cho bằng nơi một bãi đất ở Biên Hòa. Hai mươi năm trước, đây là Nghĩa Trang Quốc Gia lớn nhất, với Đài Tưởng Niệm dành cho các chiến sĩ miền Nam VNCH chết trận. Bây giờ, bãi đất này hoang vu, không được chăm sóc. Đài Tưởng Niệm bị tróc sơn, hình thì không nguyên vẹn. Biết bao nấm mồ đã bị đào xới tan hoang, mất vĩnh viễn”. Và: “Nơi đây là Nghĩa Trang của những người thua trận. Họ ở dưới mộ không vẻ vang. Và có lẽ họ cũng chẳng an nghỉ được.” … “đang bị những kẻ chiến thắng dày xéo. Họ cuốc mồ, đào mả … ” (bản dịch của Nguyễn Hoàng Lan. VNN)
Trong khi những hài cốt của binh sĩ Hoa Kỳ được chính quyền mới sưu tập, nâng niu như quốc bảo, để làm con tẩy của ván bài chính trị, món quà nhử mồi trong bàn thương thuyết thì nắm xương tàn của người lính miền Nam được mô tả như trên. Cách đây vài năm, Nguyễn Đình Bin, Phó Thủ Tướng sang Mỹ, ve vãn “khúc ruột nghìn dặm”, đã gặp một phái đoàn cộng đồng Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn đặt thẳng vấn đề chuyện Nghĩa Trang, nhưng rồi kết cuộc cũng chẳng đi tới đâu. Vấn đề hôm nay, dù đã ba mươi năm trôi qua, không phải vì thiếu tiền mà vì đầu óc còn đặc sệt chuyện hận thù, chưa gột rửa được. Chúng ta hy vọng gì cho tới ngày lính Bắc, lính Nam cùng nằm chung một Nghĩa Trang. Về phía miền Nam ngày trước, đã đành trong bao nhiêu năm “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, đã đành có tướng bất tài buôn xương bán máu chiến sĩ, nhưng tới giờ này, xin đừng lợi dụng thêm những nắm xương khô trong Nghĩa Trang hoang tàn ngày trước để xây thêm những bậc thang hư danh. Không đợi phải đến giờ này để kêu gọi chính quyền sở tại tu sửa lại Nghĩa Trang, không phải mãi tới ba mươi năm sau, những “tướng công thành” mới nhớ tới thuộc hạ què cụt, lê lết tấm thân giữa chợ đời.
Từ năm 1997, Nhà Văn Hóa San Jose và Nhóm Huynh Đệ Chi Binh đã có chương trình giúp đỡ các thương phế binh VNCH. Trong này nhóm TPB Biệt Khu Thủ Đô (Saigon – Gia Định) đã được gợi ý về việc sửa sang, tu bổ, quét dọn những ngôi mộ không có thân nhân tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và đã được giúp đỡ phương tiện từ San José để hoàn thành công việc này. Có vị hảo tâm, cảm động trước nghĩa cử này đã gởi 2,000 rồi 1,500 đô la để trợ lực cho nhóm TPB trên, không như một vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, năm 1992 đã gởi đúng $100 gọi là để giúp cho thương phế binh và cô nhi quả phụ VNCH mà ông đã bỏ lại không thương tiếc mười bảy năm về trước. Từ khi có các cộng đồng tỵ nạn khắp trên thế giới được thành lập; ở đâu chúng ta cũng có những nhóm, hội, tổ chức để lo quyên góp tiền giúp đỡ cho các TPB ở quê nhà, từ Sacramento cho đến Washington, DC. Ba mươi năm nay, nếu ngồi chờ cho các nhà chính trị cuối mùa phô trương những dự định cứu giúp thì e quá muộn màng. Điển hình cho các công tác nhân đạo này, nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở Bắc Cali đã giúp cho hơn 3,000 hồ sơ TPB với số tiền trên $200,000, nhóm HO Cứu Trợ TPB&QP-VNCH ở Nam Cali đã chuyển đến tay 4,500 chiến hữu bất hạnh của chúng ta số tiền gần $300,000. Ở Arizona, Oregon hay Sacramento … đồng hương chúng ta cũng đã giúp đỡ TPB những số tiền tương đương như thế.
Còn như rồi đây, chính quyền Cộng Sản Việt Nam có tuyên truyền rằng họ có ý định chấp thuận cho tu bổ lại Nghĩa Trang Biên Hòa thì đó cũng là một thứ tâm lý trang điểm cho chế độ, cũng như gần đây có những bài bản đang được trang điểm cho chính sách tôn giáo. Chúng ta cũng biết, ba mươi năm, mọi thứ đều đã qưá muộn màng, nghĩa trang đã điêu tàn, hiu quạnh mà lòng người thì thất vọng, giá băng về lòng “tử tế”của kẻ thắng trận.
Facebook, một trang mạng xã hội có hơn 2.5 tỉ người xài, nghĩa là hơn 1/3 dân số thế giới, từ con nít 13 tuổi trở lên tới ông già sắp đi bán muối! Trẻ già bé lớn gì khi đắm chìm trong một ‘mê cung’, một vũng lầy của chúng ta khi đã vào thì không còn biết lối ra, càng ngày càng lún vì bị nghiện (tức ghiền)!
Trên Facebook, người ta tâm sự bất cứ chuyện gì, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu qua cái iPhone. Từ chuyện anh yêu về Việt Nam đi uống beer ôm đến chuyện bà già chồng đến chơi mà không báo trước. Bất cứ lúc nào, sáng còn chưa ra khỏi giường, trưa lúc trời bỗng đổ cơn mưa, tối ngồi một mình độc ẩm với ly rượu đỏ!
Nếu sử dụng đúng đắn, Facebook là nơi để học hỏi. Ðôi khi một bức ảnh ý nghĩa trên Facebook có thể làm thay đổi suy nghĩ hơn cả ngàn lời giáo huấn. Ðôi khi một câu chuyện cảm động trên Facebook có thể làm thay đổi cả một đời người.
Mục tiêu của Facebook là kết nối mọi người với nhau; nhưng sự thực là nó làm người ta xa nhau hơn. Chẳng cần mỏi cẳng (nếu đi bộ) hoặc tốn tiền Uber để gặp nhau; chỉ cần qua Facebook là thấy mặt nhau (không phải chỉ hai đứa mà một bầy cũng được). Rồi bên ni một ly, bên tê một ly mà bụng không phải phập phồng nhậu xong hổng biết tới phiên thằng nào sẽ trả?
Facebook cũng làm tui và em yêu ngày một cách xa hơn! Em ôm cái ‘laptop’ trong phòng em; tui ôm cái ‘laptop’ trong phòng tui nên có khi một tuần không thấy mặt nhau. Em chỉ cần gởi một cái ‘message’ là: “Tới giờ anh giặt đồ, rửa chén!” Là tui lui cui làm bổn phận người chồng mà không cần giơ cái bản mặt khó thương của tui ra cho em thấy mà chi.
***
Còn ở các nước Phương Tây, Facebook làm nhiều đứa bị bể nồi cơm. Một đứa làm cho hãng ‘Pepsi Cola’ bắn hình lên Facebook đang cầm một lon ‘Coca-Cola’ là ngày mai khỏi vô bấm thẻ; vì con nhỏ Trưởng phòng Nhân viên, cũng qua facebook, nó đuổi mình rồi!
Facebook làm nhiều chánh trị gia Úc về nhà đuổi gà cho vợ nếu là nam; còn nữ thì về te te rẹt rẹt mua beer nhậu để đỡ cái buồn rầu chỉ vì lỡ ‘post’ lên những lời lẽ kỳ thị sắc tộc, phân biệt giới tính, coi thường quý chị em mình hay bài Do Thái (những nhà tài phiệt rất thế lực) chẳng hạn.
Dân ngu khu đen giải sầu nỗi cô đơn, lên Facebook để người người làm báo, ‘post’ chuyện tào lao với hằng trăm lỗi chính tả lên để nghe chúng chửi. He he!
Ðám học trò lên Facebook thì lợi dụng quyền tự do ngôn luận ‘post’ bài nói xấu cha mẹ, thầy cô, bức hiếp, sỉ nhục bạn bè dẫn đến việc có bạn trẻ tự tử vì bị ghép ảnh ở truồng!
***
Nói nào ngay trên Facebook tui cũng học được nhiều điều hay, điều mới và lạ. Tui mới vừa học sơ sơ được cái bịnh vĩ cuồng do một bác sĩ tâm lý có cầu chứng tại Tòa chỉ dạy rằng: Người bị bệnh vĩ cuồng chỉ quan tâm đến mình, luôn thổi phồng tầm quan trọng của mình, ảo tưởng về thành công của bản thân; muốn người khác ngưỡng mộ và tôn sùng mình nhưng lại thiếu niềm cảm thông với người khác.
Bất cứ chỗ tụ tập đông người nào mà ai đó thì thích tìm mỗi cơ hội để cầm được cái ‘mi-cà- rô’, lên giọng thầy đời qua những lời triết lý người nói đã không hiểu mà người nghe cũng ù ù cạc cạc luôn. Nói từ giờ Thìn tới giờ Dậu, nói đến đèn sắp lụi tim vì hết dầu, để chỉ nói về mình; cóc cần cử tọa có lắng nghe hay ngáp dài ngáp vắn.
Người bị bệnh vĩ cuồng không bao giờ nhận lỗi, thậm chí nổi cộc khi nhận được những lời nhận xét không đúng ý mình hoặc cảm thấy tức giận, phát cuồng khi bị chỉ trích.
***
Tuần rồi, trên Facebook có một bài viết ký tên là Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ phán rằng: “Ðiều quan trọng là sống lâu hơn, là có nhiều của cải. Vì vậy chúng ta phải cố gắng để sống khỏe mạnh. Nên uống nhiều nước, ngay cả khi không khát.”
(Úy Trời đất ơi! Ông bà mình xưa giờ dạy: “Ðói ăn khát uống”. Hổng khát thì uống làm gì chớ? Bắt cái thận nó làm việc không ngừng nghỉ chắc hổng chóng thì chày cái thận nó đình công là ông cũng chết!
(Hay là xưa giận vợ coi mình hổng ra ‘cà ram’ nào hết nên Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ lỡ dại quất một hơi, chục vỉ ‘Panadol’, nhưng sợ chết bèn uống chừng chục lít nước để rửa ruột đó chăng? Rồi từ kinh nghiệm nhèm đi chầu ông bà ông vải nầy mà Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ đã phát kiến ra liệu pháp nước lạnh nầy chăng?)
Rồi khuyên: “Ði kiểm tra sức khỏe thường xuyên, cho dù không ốm đau” (?!) Bà con mình xưa giờ không xài chữ ‘kiểm tra’, xét giấy sức khỏe đâu. Thầy đời Cao Minh Tự Đại mà xài chữ đi ‘khám bệnh’. Có bệnh thì đi khám (bất thường hoặc định kỳ). Hổng có thời thôi! Ðừng giành bác sĩ với những người đang bị bệnh thiệt chớ.
Còn về tiền bạc, Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ kể một câu chuyện là: “Một ông Trùm người Trung Quốc qua đời, để lại cho vợ 1.9 tỉ đô trong ngân hàng. Bà vợ ông sau đó đã lấy người lái xe của chính ông. Người lái xe nói: Tôi đã nghĩ tôi phải làm việc cho ông chủ mình. Nhưng giờ đây tôi mới nhận ra rằng cả đời ông chủ làm việc cho tôi!”
Tui e rằng Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ đặt dóc hổng có căn. Vì tay tài xế đào mỏ nầy làm cách chi mà rớ được cái 1.9 tỉ đô của ông chủ mình để lại chớ. Rớ được bà chủ là may lắm rồi, là chó táp phải ruồi. Còn tiền bạc của vợ công chồng chỉ tính từ ngày đôi ta xáp lại với nhau thôi nhe! Ðừng có nằm mơ giữa ban ngày.
“Rồi khi chúng ta chết đi, tiền của chúng ta vẫn còn ở trong ngân hàng! Cả cuộc đời làm việc thì đến 70% số tiền kiếm được là dành cho người khác tiêu. Nên có đồng nào là xào đồng nấy hổng cho ai hết ráo. Học cách bằng lòng ngay cả khi bạn không giàu. Cuộc sống này rất ngắn ngủi, vì vậy hãy hưởng thụ nó một cách trọn vẹn nhất!”
“Học cách thỏa hiệp ngay cả khi bạn là người đúng”. Ðúng là cái lời khuyên tầm sàm bá láp: dân ngu khu đen hãy thỏa hiệp, hãy đầu hàng trước cái sai quấy; mặc ai đè đầu cỡi cổ cũng được; vì ‘tranh đấu’ rồi ‘tránh đâu’ để khỏi bị ‘trâu đánh’.
Mấy lãnh tụ các nước CS độc tài nó khoái Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại nầy lắm đó nhe. Nếu ngài xin qua nước Venezuela là được Maduro nó nhận làm đệ tử liền hè. He he!
Cá chết rồi, để giúp đẹp mặt, người ta ướp cho nó chút muối lên mình mẫy vốn sẵn tanh hôi. Carol không bao giờ ăn cá cho dù là thứ “vô địch ngư” mỗi lát khi bán ra giá không dưới 40 đô. Nó săng chắc như thịt cua và ngọt ngào như thịt của tất cả mọi sinh vật trú dưới đại dương hợp lại. Carol có lối luận chuyện khác lạ: Cá đẹp khi nó vẫy vùng bơi lội trong nước, mang nó đặt vào lòng đĩa… no fucking way. Cá và muối, đó chỉ mới ngắt khúc đầu của một câu thành ngữ, phần sau nguyên dạng là “con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Dĩ nhiên là hoàn toàn được viết bằng tiếng Việt, chỉ riêng người Việt mới thủ đắc lấy nó. Tây tà hả, con cãi cha mẹ hà rầm và có khi cha mẹ nghệch mặt ra: Chúng đúng quá, ta hư hỏng quá, sao ta mãi can thiệp quấy rối tới đời sống riêng tư của nó thế. Khác với Carol, Neil rất thích ăn cá, nó bảo cá chứa nhiều hàm lượng omega-3, rất có lợi cho cơ thể con người, và Neil là thằng con luôn cự cãi đấu võ mồm với nhị vị song thân. Cuộc chiến nào cũng dẫn tới hồi buông màn với hoạt cảnh một kẻ khóc một người cười. Đang ở năm thứ hai đại học, Neil bỏ ngang để xuôi Nam ghi danh vào trường đào tạo Cảnh sát đặc nhiệm. Bỏ lại đằng sau giấc mộng vụn vỡ của thân sinh, câm nín. Tuy chưa học tập việc tác xạ Neil đã bắn gục hình ảnh một tên bác sĩ kỹ sư ngay bên thềm nhà và mọi người sống trong địa hạt yên bình này không hiểu ra cớ sự do đâu Neil đi nuôi mộng trừ gian diệt bạo. Hắn lặng lẽ xa tôi từ dạo ấy, điều này kéo theo chuyện tôi dần thưa gặp mặt Carol. Tôi cũng chẳng đào đâu ra lý do để đến thăm hỏi hai ông bà hiền lành nọ. Họ nấu ăn rất tệ nhưng khi họ mời tới dùng bữa, họ sẽ lấy làm vui vẻ mang thân ra hầu hạ cái đứa “thực bất tri kỳ vị” kia. Cả ông bà rất khoái khẩu món phở gà và chả giò trong khi Neil thích xơi đồ Nhật và Carol khoái nhai thực đơn Pháp. Không cứ là vấn đề ẩm thực, ngay chuyện giải trí xem phim đọc sách mỗi người đều có riêng một trình độ, gu thưởng ngoạn cá biệt và sẵn lòng phun nước miếng vào mặt nhau để bảo vệ thứ chủ quan mình vừa trình bày. Neil bảo tại sao chúng ta phải mất nhiều calories chỉ vì một bên ưa ăn cá bên khoái ăn gà? Carol thì thầm, tranh cãi với kẻ ngốc sẽ chứng minh có hai đứa ngốc.
Mùa hè năm đó, như mỗi năm, như đa số bọn sinh viên nghèo, tôi đi làm bán thời gian cho một cửa hiệu phục vụ mọi thứ liên hệ tới sports. Nhân viên sẽ diện đồng phục do “bổn tiệm tự vẽ kiểu” và thú thật tôi chưa bao giờ thấy có bộ đồ thể thao nào xấu xí tới mức ấy. Cũng may khi mặc vào nó không khiến tôi độn thổ, nó gây sự chú ý cho ai đó và rồi tôi gặp lại Carol. Lâu quá, bao nhiêu năm rồi? Có hơn hai năm rồi còn gì. Làm ở đây à, giỏi nhỉ! Trông tôi có gì đổi thay? Carol mập hơn trước nhưng tôi biết cách đánh trống lãng. Tôi giúp được gì cho quý khách đây? Làm như thể là một nhân viên đam mê nghề nghiệp, tôi kéo Carol đi gần hết chu vi rộng rãi của tiệm. Thực sự thì tôi đang chây lười lao động, bắt được con bò lạc và khi sánh vai bên nhau tôi tha hồ hít thở hương hoa của Carol, một mùi vị ấp ủ nhiều kỷ niệm. Thực sự thì con bé vừa tốt nghiệp trung học này đã thay đổi nhiều thứ quá, nó già trông thấy và xem chừng bất cần đời hơn xưa. Cái nó chẳng thay đổi có lẽ là chuyện: Suốt đời không ăn cá. Tôi đồ vậy mặc dù nó mang vẻ đẹp hoang dại của một mỹ nhân ngư, không vướng mùi rong rêu, thơm nồng nàn kiểu những loài hoa nở rộ ở xứ nhiệt đới, sau cơn mưa. Giày chạy bộ thứ nào tốt? Nó hỏi.Tôi mang tới cho Carol hai hiệu: New Balance và Nike. Tôi không hiểu chữ tốt, tôi chỉ nhắm tới giá tiền cao nhất đồng thời mẫu mã ngó bắt mắt. Carol giống tôi, ghét màu mè thích đen xám. Ngay cả bộ đồ bó người chạy jogging cũng vậy. Đen đúa và giá thì trời ơi đất hỡi. Chẳng sao cả, chả nhiều nhặng gì đâu, chưa kể với tư cách là nhân viên trong cửa hiệu, trình mã số cho máy tính tiền quét, một cách tự động, chúng sẽ giảm đi 15% số thành. Dầu gì thì tôi cũng thiết tha có ngày nhìn thấy Carol chạy bá thở ở khúc đường vắng, mặt đỏ ké và cơ thể coi mòi thon thẻo hơn hiện tại. Mấy giờ thì xong? Ờ, tiệm đóng cửa vào 6 PM. Ông bà bô vẫn khoẻ? Chết tiệt, tui quên nói má tui mất rồi. Chia buồn khi nghe .Thế Neil, có tin gì về nó không? Một tay cảnh sát, một đứa sắp lấy vợ, hai thứ ấy khiến hành tung anh chàng đâm bí mật hơn. Bà già tôi hấp hối, tao có chết, nhắn nó hẳn thằng cớm đó cũng hổng thèm về đâu nhỉ! Bố tôi chửi vào khoảng không: Khốn nạn!
Carol hỏi có thích đi kéo ghế không? Đợi trước cửa hiệu, sáu rưỡi tui tới, nếu muốn. Dĩ nhiên là tôi muốn, có cơ hội hồi tưởng chuyện cũ cùng Carol và khi chộn rộn đi bên nhau, những nhân viên làm việc trong cửa hàng lắm chuyện này sẽ thay đổi một cách nhìn khác về cái “thằng người Tàu bí ẩn biết kung-fu” ấy. Tôi không buồn cải chính về những ngộ nhận chúng luôn áp đặt sai, kể cả nếu bọn họ quả quyết Carol là vợ tôi. Cả ngàn lẻ một lần tôi phân trần, không cứ đã là ba Tàu thì buộc phải biết kung-fu và không hẳn da vàng mắt một mí đều là made in China. Chúng ậm ừ làm như thông hiểu đạo lý rồi mọi chuyện lại đi về lối mòn cũ. Hình ảnh một bọn người lam lũ rách rưới đi dựng xây con đường sắt xuyên quốc gia, làm nghề đóng quan tài rồi chủ các quán ăn men theo liên tỉnh lộ có trong những thước phim xưa cổ đã ám mãi vào trí nhớ họ. Không phải sao, ngay cả món mì ống nổi tiếng của dân Ý người ta cũng từng ngờ vực tới sự vi phạm trắng trợn bản quyền do Từ Hy thái hậu thủ đắc. Nữ hoàng anh minh ấy mà buồn đời ra sắc lệnh cho con dân cùng đi đái một lần thì e rằng sông Dương Tử sẽ gây sóng thần để cuốn trôi một bộ phận không nhỏ các châu lục người anh em sống quanh quẩn gần biên giới. Nếu một ngày kia trong các cửa hàng đều có dựng tấm bảng cảnh báo viết bằng tiếng Việt: “Ăn cắp là hành động xấu xa và chúng tôi buộc lòng phải nhờ cảnh sát can thiệp bla bla bla…” hẳn đến lúc đó tôi sẽ vênh váo: Ngộ là người Tàu a tài lũ, chí ùm chí a? Ngộ piết kung-fu nè, ngộ từng đứng chụp ảnh ở Vạn lý trường thành nè, cái nơi mà nị chưa đặt chân lên thì muôn đời nị chưa thể làm hảo hán.
Sáu giờ chiều, cánh cửa sắt kéo lại rít róng. Jimmy khoá nó sau khi đã mở nút hệ thống báo động bắt sau ô cửa gương. Hắn là thủ lĩnh của tiểu đội “lính đánh thuê” trong đó có tôi và khi đã mang “lon lá” cỡ đó cách ăn nói của hắn cũng có chút khan khác: Ê, có thuốc lá không, đưa tớ một điếu coi. Hôm nay mày ăn cái giống gì mà chẳng nhanh chân như những lần trước? Ờ, bị moa có cái hẹn. Ngay trước bổn tiệm? Ờ, đã lỡ định vị rồi. Thuốc đây, hút cho thông cần cổ. Jimmy thở ra một đám mây xám. Hẹn với gái à? Ờ, với gái, bắt buộc rồi, tiếc là không phải gái Tàu. Mẹ nó chứ, vậy là mày ngon cơm hơn tao rồi, tan việc là chóng về nhà kẻo má thằng cu nó chửi vang rân. Thằng người ưa hống hách với thuộc hạ ấy rụt cổ lại, hắn ném điếu thuốc: Tao lặn đây, chúc một cuối ngày an lành. Tôi nói bye và mồi lửa điếu thuốc khác.
Carol không thích ăn cá nhưng có thể ưa ăn mực hoặc một thứ thịt dai nhách như cao su. Chờ tới bảy giờ, nản lòng tôi bỏ đi, nhường vuông xi-măng trông khô ráo sạch sẽ ấy cho một gã thanh niên bụi bặm vừa sà tới; hắn dắt theo một con chó, quấn một đống chăn mền và tấm bìa lớn viết sẵn hàng chữ: “Quý vị có thể không cho tôi tiền bạc nhưng thú thật con chó của tôi đã nhịn ăn trong ba hôm rồi. Chúa chứng giám và độ trì cho những tấm lòng thành”. Những gì hắn thổ lộ bằng giấy viết cũng đủ minh bạch một điều: Chó mới gặt hái cảm tình từ tha nhân, con người thì không sánh được. Một gã vô gia cư ngồi mình ên bên đường sẽ nghèo kiết xác nếu so với “đại gia” có dắt chó theo đóng tuồng. Bao giờ cũng vậy, có vây cánh ắt hẳn phải hơn kẻ thế cô.
Tôi vẫn chăm chỉ cày bừa, tôi đi làm và nghĩ bụng thế nào Carol cũng sẽ tạt qua, phân trần, xin lỗi về chuyện thất hứa bữa nọ. Hôm ấy một trung niên dáng vẻ khắc khổ với gương mặt có nhiều nếp nhăn tiến lại gần tôi, ngó chăm vào miếng nhựa trắng có ghi khắc tên tôi luôn cài trên bộ đồng phục xấu xí. Xin chào bác, tôi có thể giúp gì cho bác đây? Tôi nói như cái máy. Người trung niên moi trong túi áo ra cuốn sổ nhỏ, ông rút tấm ảnh kẹp giữa những trang oằn cong: Bạn nhìn ra ai đây không? Ông dí tấm hình đen trắng cỡ 5×7 ngay trước mũi tôi và tôi đánh hơi được thằng cha này là một thám tử. Biết chứ, cô ta tên là Carol. Gặp gỡ có thường xuyên? Nghĩa của chữ thường xuyên là sao ạ? Hơn hai năm mới nhìn thấy nhau thì đâu thể gọi là thường xuyên nhỉ? OK, lần gặp mặt mới nhất xảy ra lâu mau rồi? Khoảng mười hôm trước, cô ta lại đây mua một bộ đồ thể thao và đôi giày dùng để chạy bộ. Tốt, tôi có xem qua một đoạn ghi hình ngắn từ camera đặt trong cửa hàng. Sau đó thì sao? Thì chia tay, Carol nói sẽ mời tôi đi ăn tối, tôi đợi nhưng cô ta hứa cuội. Tôi có thể biết chuyện gì đã xảy tới cho Carol không? Người trung niên có bộ mặt khắc khổ ấy nhét cuốn sổ nhỏ vào túi áo. Ông đưa cho tôi tấm giấy nhỏ ghi rõ tên tuổi nghề nghiệp và số điện thoại của ông: Có thu nhận điều gì mới lạ, gọi điện báo cho tôi biết. Tạm thời thì Carol cùng đồng bọn bốn đứa đã bị cảnh sát khu vực 21 phía bên kia sông bắt giữ. Chúng nằm trong một tổ chức buôn bán và tiêu thụ cần sa ma tuý. Những thông tin mà bạn vừa trao có thể chẳng man khai, tôi mong bạn không có gì cần phải dấu diếm. Bạn người Tàu phải không?
Ông đại uý Albert sếp khu vực 19 vỗ vai tôi. Chuyện cũng chả quan trọng lắm đâu, tôi vào mua cây vợt đánh bóng bàn rồi nhân tiện hỏi bạn đôi ba câu vậy thôi. Ông đi ra cửa và ném cái nhìn đầy ác cảm xuống thằng người ôm chó ngủ gà gật bên lề đường. Toàn một bọn chây lười, sao bao nhiêu công việc lại để cho bọn di dân nó nhanh tay xí phần cả, lương lậu thấp cũng hổng ke. Cảnh sát mặc thường phục đến thăm hỏi nhân viên cửa hàng hôm trước, hôm sau thằng chủ tiệm đã vò đầu bức tai làm bộ nhăn nhó: Chuyện chẳng đặng đừng, mày là một nhân viên tốt, nhưng do tình trạng kinh tế đang hồi khó khăn, chúng tao rất lấy làm đắn đo hối tiếc để nói rằng bla bla bla… Tôi vào góc kẹt thay đổi xiêm y, ném bộ đồ thể thao xấu xí trong ngăn kệ đựng dụng cụ cá nhân trống trải. Tôi bước ra đường không thèm nghĩ tới chuyện ngày mai. Tôi ném hai đồng vô cái nón của thằng người ăn mày và tôi nói bye bye với con chó có đôi tai rất thính. Lâu lắm mới có được một ngày chủ nhật đúng nghĩa, tôi ngồi vỉa hè quán cà phê tha hồ thắp thuốc thở khói vào cao xanh. Bên kia đường có người đàn ông dáng lạc hồn, lưng còng với cái túi vải móc chéo vai. Ông ta thích ăn phở gà và khoái xơi những cuốn chả giò tôm cua chiên vàng thơm ngọt. Và có lẽ ông là người duy nhất biết tôi không phải bọn Tàu thích bành trướng.
Tôi chạy băng qua đường, đón đầu người đàn ông mà nếu có duyên phận, chúng tôi sẽ đổi cách xưng hô: Bố con. Tôi đã ngủ với Carol một đêm chùng vụng và con bé tóc vàng ấy không phải là dân Tàu để xem “trinh tiết sự cực đại”. Có hề gì, chuyện nhỏ, vấn đề là bạn phải mang tôi tới được cuối đường. Vết răng mà Carol cắn vào vai tôi đã lặn mất dấu vết. Hai năm rồi còn gì. Hai năm để vừa nghe đủ những tàn phai. Nhưng trong mắt đã nhuốm bụi trần của ông già 60 vẫn tinh tường khi ngó ra dáng hình một thằng người tử tế, có nghĩa là hắn biết cách cư xử lễ độ với những người lớn tuổi cỡ bố mẹ mà không hề tỏ vẻ mất dạy như hai đứa con mình. Ông chứng minh sự sáng suốt bằng cách reo tên tôi, phát âm một cách chính xác như một kẻ biết ăn nước mắm từ thuở nằm nôi. Ông bắt tay tôi, chặt, như lưu lạc phương xa tình cờ nhìn ra người bạn cũ. Tôi biết ông cô đơn. Hơn ai cả tôi từng nếm trải nỗi khó chịu đó. Tôi chỉ tay sang bên kia đường, mời ông cùng uống với tôi cốc cà phê đen để khơi mào bao đổi thay nằm ở thì quá khứ.
Carol bị hai năm tù và điều bất ngờ nhất là Neil, hắn bị án 6 năm vì lạm dụng công việc của một cảnh sát chìm đã tiết lộ thông tin những cuộc bố ráp giúp bọn tội phạm, có em gái mình tham gia, thoát qua nhiều cuộc săn đuổi. Người cha bất hạnh cố giữ sự điềm tĩnh: Tôi đã có lần đi thăm con bé, nhà tù đặc biệt nằm xa chốn đây những 7 tiếng đi xe đò. Nó giống mẹ nó, ở cái chỗ cương cường biết thu cất những bí mật. Điều đó làm mình thương nó không nhiều bằng sự ghét bỏ. Bạn dễ chao lòng vì những thứ yếu đuối hơn, có đúng không? Tôi mời ông đi ăn phở. Ông nói, bạn thật tử tế, đúng như mẹ chúng nó ngày nào đã nhận xét, như vậy thật tiện lợi khi từ quán phở về nơi trú ngụ. Sao cơ ạ? Căn nhà ấy đã bán sau khi mẹ chúng nó mất, thân già này giờ thuê một cái 2 phòng rưỡi đặng tránh gió mưa.
Nếu Carol có thai với tôi, không chắc nó lấy đó làm điều để bắt tôi thề thốt gọi ba nó là bố vợ. Tôi biết Carol ưa nếm trải phong vị đời sống chứ nào vướng bận chuyện thương yêu. Quen biết hơn hai năm, tình trong một đêm, ba cái lẻ tẻ ấy không khiến người ta phải vẽ lên một dự án nhằm dựng xây một con đường tiến tới hôn nhân vợ chồng. Nhưng tôi, thú thật là tôi luôn bị dằn vặt bởi những gì Carol đã trao cho. Tôi yêu thứ tình chẳng toan tính bất vụ lợi của Carol.
Tôi ra bến xe đò mua vé khứ hồi đi về trong ngày để lặn lội tới nhà tù Ngàn Đảo thăm Carol. Tôi đã điền vào một lá đơn xin thăm viếng và được chấp thuận trước cả tuần lễ. Ký tên sau khi tuân theo những điều ngăn cấm, đồ đoàn có thể bị lục soát trước khi vào cánh cửa mở đóng bằng hiệu lệnh. Carol ngạc nhiên khi trông thấy tôi để khuôn mặt em trông giãn nở tươi vui trong mỗi bước chân thu ngắn dần khoảng cách. Mặc trên người bộ đồng phục màu xanh có in mã số trước ngực, Carol cho hay em nằm trong toán thợ may chuyên vá sửa chăn nệm áo quần bảo hộ lao động theo hợp đồng giữa nhà tù với một công ty phân phối đồ cho bệnh viện nằm ngoài thành phố. Dáng vẻ nhanh nhẹn trông chẳng từng liên hệ tới cần sa, thứ làm người lần khần như thiếu ngủ. Điều đó rất cần thiết, giúp Carol khỏi bị chuyển tới một nơi tựa như trung tâm cai nghiện phục hồi nhân phẩm. Em thật có lỗi với anh, đã nhiều lần gây thất vọng mà nếu là kẻ khác họ sẽ xa lánh em. Hư đốn dường ấy mà anh còn thương em sao? Chúng tôi ngồi đối diện giữa một mặt bàn khá rộng, có người giám thị đứng gần và cái nhân vật hộ pháp đó sẽ nhảy tới can thiệp nếu chúng tôi đưa tay ra sờ soạn nhau. Ôm hôn Carol chỉ là hình ảnh nằm trong mơ mộng, và mông muội.
Việc học của anh thế nào rồi? Anh tốt nghiệp vào hè này, trở thành kỹ sư và đi tìm việc làm liên quan tới thảo chương điện toán. Và sau đó? Carol hỏi, mắt em xanh như đang nhìn lên một khung trời rộng. Sau đó… Tôi ngó xuống mặt bàn, ngó tới những ngón tay xoắn xít của Carol. Sau đó anh sẽ mướn một căn hộ rộng rãi, sạch sẽ và nếu thích, em có thể mang vật dụng tới ở chung. Anh sẽ không ăn cá và… Những giọt nước mắt ứa ra trên mặt dù Carol cố kềm giữ. Người giám thị nói lớn tiếng: Đã hết giờ. Em yêu anh. Em sẽ xăm trổ cái tên anh lên bụng mình, phía dưới lỗ rốn. Em cố sức đẻ cho anh một đứa con…
Tôi ra lại bến xe đò heo hút. Ngọn đèn vàng treo dưới mái hiên mãi chao đi bởi gió từ ngoài biển đen thổi vào nồng mùi muối mặn. Tôi là một con cá đã lỡ không ăn muối. Trăm đường tôi hư cả trăm bởi ba má bên nhà nói hồi nào con tốt nghiệp đại học, người ta sẽ mua vé máy bay cho con về quê lấy vợ. Con dâu tương lai của ba má ngó cũng mặn mà có duyên. Số con có quới nhơn phò hộ, vừa ẳm được vợ mang qua xứ người vừa có số tiền hoành tráng lận lưng. Tóm gọn bên sui gia họ lo từ a tới z, nghe đã sướng chưa? Y như chuyện khoa học viễn tưởng ấy nhỉ!
Như vậy thì lấy một đứa từng là tội phạm vào tù ra khám vì liên hệ tới xì ke ma tuý, nhân thân xấu vãi, ba má nghe thế có bức xúc lắm không. Có nằm mộng cũng chẳng ngờ? Có than van: Biết vậy hồi đó tao thà đẻ ra cái hột vịt lộn, nước ngọt lừ, nhai rau ráu có phải là tiện việc sổ sách không! Tổ cha mi. Hèn gì bữa nay bày đặt thay tên đổi họ mang những Rắc những Răng, bạc tình không cách gì tả xiết!
Tiểu Đoàn đang hành quân ở Ngân Sơn thì có lệnh kéo ra quốc lộ để di chuyển khẩn cấp. Đám lính tráng buồn thiu. Vì vùng này rất nổi tiếng có nhiều cô gái quê làn da nõn nà xinh đẹp, mà mỗi lần đơn vị ghé lại đây, thế nào cũng có vài chàng lính trẻ chấm dứt cuộc đời độc thân vui tính. Lần này đơn vị đi xa, nên trên các chiếc xe GMC thấp thoáng bóng vài cô con gái mặc áo lính. Thông cảm cho các đôi vợ chồng mới, ông Tiểu Đoàn Trưởng bảo các sĩ quan lơ đi, để cho các cô dâu được đi theo. Khi đến bờ biển Tuy Hòa, Tiểu Đoàn tiếp nhận một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113 tăng phái, rồi tất cả xuống tàu Hải Quân ra biển. Sau hai ngày đêm hải hành lênh đênh, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên bờ biển Phan Thiết, ngay phía trước một Phật đài đang xây dang dở, nằm không xa phía dưới phi trường và Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.
Tiểu Đoàn chúng tôi, một đơn vị lưu động, đặt dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn, có nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ số 1 từ Bình Thuận ra đến Khánh Hòa, đặc biệt quãng đường dài hơn 50 cây số chạy dọc theo mật khu Lê Hồng Phong, địch quân đang kiểm soát. Đồng thời truy diệt mọi lực lượng địch trong vùng, giúp các Tiểu Khu bình định lãnh thổ.
Sau một ngày dưỡng quân, nhận tiếp tế lương thực và đạn dược, chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân dài hạn từ tuyến xuất phát Phú Long. Quốc Lộ Số 1 là trục tiến quân chính. Tiểu Đoàn (-) mở rộng đội hình hai bên quốc lộ, một đại đội tùng thiết và Chi Đoàn Thiết Quân Vận vừa làm lực lượng xung kích vừa làm lực lượng yểm trợ hỏa lực di động cho các cánh quân còn lại. Ra đến làng Tùy Hòa thì đụng địch. Chúng tôi nhận lệnh triển khai đội hình. Chi Đoàn Thiết Quân Vận vượt lên đánh một trận thần tốc tiêu diệt một lực lượng địa phương của địch cố thủ ở làng Sara, các cánh quân còn lại nhanh chóng tiêu diệt mọi lực lượng địch trong vùng để tiến chiếm mục tiêu Núi Tà Dôm, một cao điểm trọng yếu, lập đài tiếp vận truyền tin, giao lại cho một đơn vị Địa Phương Quân trấn giữ trước khi tiếp tục lộ trình.
Lần đầu tiên bất ngờ đụng độ với một lực lương chủ lực quân hùng mạnh, địch quân – mà đa số là đám bộ đội địa phương và du kích – bị đánh tan tác khắp nơi. Đơn vị chúng tôi dễ dàng làm chủ tình hình. Giao trách nhiệm cao điểm Tà Dôm cho Tiểu Khu Bình Thuận, chúng tôi nhận lệnh tiếp tục di chuyển thêm hơn năm cây số về hướng Bắc đến đóng quân tại xã Long Hoa, giữ an ninh cho một đơn vị công binh thiết lập căn cứ Nora trên một đỉnh đồi nằm gần Quốc Lộ, để trung đội Pháo Binh 105 ly di chuyển từ Phan Thiết đến căn cứ này trực tiếp yểm trợ cuộc hành quân.
Đại Đội tôi trách nhiệm đi đầu. Nhưng vừa xuống chân núi Tà Dôm, qua khỏi cầu Ông Tầm vài trăm thước, tôi nhận lệnh ông Tiểu Đoàn Trưởng dắt đại đội rẽ về bên phải chiếm lại một khu làng hiện do địch kiểm soát. Sau đó đóng quân tại đây để cơ quan Tỉnh thiết lập lại chính quyền. Khi cùng đoàn quân vượt lên để đến Long Hoa, ông Tiểu Đoàn Trưởng dặn dò tôi phải hết sức cẩn thận, vì mục tiêu nằm sát mật khu lớn của địch, số lượng du kích trong làng khá đông và hầu hết những gia đình ở đây đều có thân nhân theo VC. Sau khi nghiên cứu địa hình, tôi cho ba trung đội tiến vào khu làng bằng ba hướng khác nhau, tạo thành ba mũi giáp công. Dù chờ đợi, nhưng không hề có sự kháng cự nào. Tôi nghĩ đám du kích đã biết cuộc hành quân qui mô này, nên đã kịp chạy ra khỏi làng, nhưng nhất định chúng đang ẩn nấp đâu đó rình mò chờ những sơ hở của chúng tôi.
Khu làng nằm cách quốc lộ chừng 500 mét. Dọc theo con đường đất dẫn vào làng là một hàng me cao. Chỉ có chừng một trăm nóc gia, lưa thưa vài căn nhà ngói cổ, còn hầu hết là nhà tranh. Phía sau làng là một con suối khá lớn, bên kia là khu rừng tiếp giáp với mật khu Lê Hùng Phong của địch. Bất cứ ai cũng đoán được là đám du kích đang ẩn trốn trong khu rừng ấy, vì tương đối an toàn cho chúng, và nếu bị truy kích sẽ chạy thoát vào mật khu rộng lớn. Tôi cho một trung đội khá nhất thường xuyên hoạt đông bên ấy, và chấm sẵn các điểm tác xạ tiên liệu Pháo Binh, để trường hợp có đụng độ, sẽ kịp thời yểm trợ, đề phòng lực lượng địa phương của địch có thể từ mật khu kéo ra tăng cường cho đám du kích. Sau khi đi một vòng kiểm soát kỹ lưỡng, tôi chọn khu vườn của một ngôi nhà ngói cổ nằm giữa làng, có nhiều cây cối chung quanh, làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội. Cũng như nhiều nhà khác ở đây, trong nhà này cũng có một bàn thờ nghi ngút khói hương. Trên bàn thờ là tấm ảnh chân dung của một người đàn ông trẻ. Chủ nhà là một bà già khoảng 60, sống với một chị đàn bà trẻ là mẹ của một đứa con trai chừng 7, 8 tuổi. Hai mẹ con đều để tang trên ngực áo bằng một miếng vải trắng. Chúng tôi hỏi thì được bà già cho biết người con trai của bà là một nghĩa quân bị tử trận hơn 6 tháng, Bà đang sống với người con dâu trẻ góa bụa và thằng cháu nội đích tôn. Bà còn đưa cho tôi xem tờ khai gia đình của chính quyền cấp đã lâu. Đọc qua tôi thấy tên bà là Lê Thị Đúng và người con trai là Nguyễn Cho được gạch ngang và ghi chú với nét chữ vụng về: tử trận.
Cả nhà rất tốt với chúng tôi. Ngày nào cũng mang củi về cho chúng tôi nấu cơm. Nước đổ đầy các chum đất cho chúng tôi dùng. Lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ. Tôi luôn nhắc nhở lính tráng phải cẩn thận, đặc biệt khi dùng nước uống, cảnh giác, theo dõi mọi hành động, nhưng phải đối xử tốt với họ, đừng lộ ra điều gì để họ biết là nghi ngờ họ. Thằng bé rất thích mấy anh lính. Một vài chú lính có con nhỏ nhưng lâu lắm chưa gặp, nên thấy thằng bé thật thà cũng thương. Được cho các hộp trái cây lương khô, có khi cả tiền nữa, nên thằng bé lúc nào cũng lân la bên các chú lính. Cứ mỗi lần thấy con mình gần gũi với lính, bà mẹ thường canh chừng, lâu lâu gọi thằng con ra xa dặn dò điều gì đó. Một hôm ngồi xem anh lính lau chùi khẩu súng tiểu liên, thằng bé xin được mang thử và ra điều thích thú lắm. Rồi bất ngờ buột miệng:
– Ba cháu cũng có khẩu súng, nhưng dài quá, cháu mang không vừa và không đẹp bằng khẩu súng này của chú.
Nói vừa xong, thằng bé biết lỡ lời, nên vội đưa tay lên bụm miệng.
Được báo cáo, tôi bảo anh lính tiếp tục khai thác thằng bé. Và cuối cùng chúng tôi biết được cha nó là trưởng mũi công tác, chỉ huy hơn 30 tay du kích trong làng này. Cùng lúc tôi nhận được báo cáo của anh trung đội trưởng đóng ở bìa làng, cho biết là cứ mỗi buổi chiều, bà già chủ nhà tôi ở đi kiếm củi dọc mé suối, nhưng thỉnh thoảng hướng về phía bên kia rừng nói lớn: “Thằng Hai ơi! cứ cho trâu ăn bên ấy, bên này hết cỏ rồi!”. Tôi gọi máy báo cáo cho ông Tiểu Đoàn Trưởng và đề nghị một kế hoạch “Điệu Hổ Ly Sơn”. Được ông chấp thuận.
Trưa hôm sau, tôi tìm vị trí thật kín đáo cho một trung đội ngụy trang nằm mai phục bên bờ suối cùng lúc rút trung đội bên kia suối về làng, và cho lệnh đại đội di chuyển ra khỏi làng, bảo lính tráng nói lời cám ơn chia tay dân chúng, để lại biếu họ một số gạo vừa mới được tiếp tế. Chúng tôi rời khỏi làng đi dọc theo Quốc Lộ tiến về hướng Nora và nhanh chóng ẩn trong bìa rừng bên khúc quanh của đường quốc lộ, trong tư thế sẵn sàng tiếp ứng. Đúng như dự đoán, khi trời sắp tối, nghe tiếng mìn Claymore và nhiều tiếng súng nổ trong làng, tôi được anh trung đội trưởng báo cáo đã tiêu diệt toàn bộ toán du kích, từ bên kia rừng lội suối về làng. Vì tưởng tất cả chúng tôi đã di chuyển đi nơi khác, nên đã lọt ổ phục kích. Tôi báo cáo cho Ông Tiểu Đoàn Trưởng và ra lệnh cho đại đội nhanh chóng quay trở lại làng, nhưng thay đổi các vị trí phòng thủ. Lần này tôi chọn một khu vườn bên bờ suối làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng, nhằm đối phó và yểm trợ kịp thời, nếu địch kéo từ mật khu ra phục hận.
Sáng hôm sau, một số cán bộ chính quyền đến nơi để xác nhận và giải quyết các tử thi. Anh cảnh sát cho tôi biết, trong số người chết có tên trưởng mũi công tác, con trai của bà Lê Thị Đúng, chủ nhà tôi đóng quân hôm trước.
Nghe mấy chú lính thám sát tình hình cho biết, ban đầu bà không nhận người ấy là con bà, nhưng không khí trong nhà buồn thảm lắm, nhất là chị vợ lúc nào cũng giấu nước mắt. Chỉ có thằng con trai thì vẫn cứ vô tư. Dường như không ai nói với nó điều gì đã xảy ra.
Buổi chiều, chính quyền thông báo nếu tử thi nào không có người nhận, họ sẽ chôn cất, nhưng vì không biết tên nên không thể làm bia. Lúc ấy bà chủ nhà mới chịu đứng ra nhận lãnh, và với sự giúp đỡ của chính quyền, bà và cô con dâu lo xong mai táng. Dù người chết là kẻ thù, nhưng trong hoàn cảnh này, nhất là vừa đóng quân trong vườn nhà họ hai hôm nay, chúng tôi ai cũng động lòng tội nghiệp cho người vợ trẻ và nhất là đứa con trai vừa mới mất cha. Chúng tôi góp được một ít tiền, cho một anh lính thân tình với thằng bé nhất, mang lại biếu họ. Tôi hình dung tới cái bàn thờ hôm trước, bây giờ đã trở thành bàn thờ thực sự. Hai hôm sau, Đại Đội tôi được lệnh bàn giao làng lại cho chính quyền với một trung đội nghĩa quân mới tới. Cuộc hành quân tiếp diễn về hướng Bắc và chỉ hai ngày sau, chúng tôi đã đến Sông Lũy, bắt tay với Trại Biệt Kích Lương Sơn do một số sĩ quan LLĐB chỉ huy. Giai đoạn 1 của cuộc hành quân hoàn tất, cả Tiểu Đoàn được lệnh tập trung dưỡng quân tại Sông Mao. Bản doanh Sư Đoàn 5 BB của ông Vòng A Sáng bỏ lại, sau khi di chuyển toàn bộ vào Vùng 3 CT. Bây giờ doanh trại trở thành một trung tâm huấn luyện Địa Phương Quân.
Tôi đã từng tham dự nhiều cuộc hành quân, đơn vị tôi từng giết nhiều quân địch, nhưng cuộc hành quân lần này làm tôi khó quên, ngay cả cái tên của gã du kích Nguyễn Cho và bà mẹ Lê Thị Đúng, mà tôi đã đóng quân ngay trong vườn nhà bà vỏn vẹn chỉ bốn ngày.
***
Hơn bảy năm sau, chiến tranh đến thời kỳ ác liệt nhất. Ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Tiền Phương SĐ 22 BB bị Cộng quân tràn ngập tại Tân Cảnh, lần đầu tiên một vị Tư Lệnh Sư Đoàn khí phách và liêm sỉ chấp nhận vùi thây nơi chiến địa, từ chối lên trực thăng thoát thân cùng với đám cố vấn Mỹ, đơn vị chúng tôi được không vận khẩn cấp lên Kontum, bây giờ là mục tiêu tiến chiếm của đại quân Cộng Sản đang tràn xuống từ hướng Bắc. Lúc này tôi đã được điều về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn. Đơn vị chúng tôi đã chiến thắng oanh liệt, giữ vững được Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt mùa hè đỏ lửa. Chiến thắng ngày ấy dù có vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả một cái giá không nhỏ. Trong năm 1972 riêng đơn vị tôi đã có hơn 300 đồng đội hy sinh. Số tân binh từ các Trung Tâm Huấn Luyện không đủ bổ sung, nên Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh đôn quân khẩn cấp. Đầu năm 1973, chúng tôi tiếp nhận một số khá đông những người lính Địa Phương Quân từ các Tiểu Khu chuyển tới. Đại Đội Trinh Sát là một đơn vị thiện chiến, lập được nhiều chiến công hiển hách, luôn được dùng làm lực lượng xung kích cho Chiến Đoàn, đảm nhân các công tác hiểm nguy và sẵn sàng tăng cường cho các điểm trọng yếu. Vì vậy đơn vị này cần được ưu tiên bổ sung một số lính trẻ, thiện chiến.
Chúng tôi đã từng hành quân chung với các đơn vị đia phương quân Tiểu Khu Bình Thuận, và biết họ cũng được tôi luyện trong chiến tranh tại lãnh thổ địa phương, luôn phải đối đầu với một lực lượng địch đáng kể. Số lượng đôn quân từ Tiểu Khu này khá nhiều so với các Tiểu Khu khác trong Vùng 2. Vị Chiến Đoàn Trưởng ra lệnh ưu tiên chọn các anh lính trẻ Bình Thuận bổ sung cho Đại Đội Trinh Sát.
Được sự hướng dẫn của vị đại đội trưởng và các sĩ quan trẻ, nổi tiếng đánh đấm trên chiến trường, cùng học hỏi kinh nghiệm, noi gương gan dạ từ những người trinh sát cũ đã dạn dày chiến trận, một số lính địa phương quân được bổ sung cho đại đội Trinh Sát sớm trở thành các chiến sĩ thiện chiến trên trận mạc. Trong số này có một anh rất trẻ, đã lập khá nhiều chiến công lẫm liệt, luôn được vị đại đội trưởng đề nghị cấp trên khen thưởng sau mỗi cuộc hành quân. Thành tích xuất sắc nhất là khi anh tình nguyện một mình ôm lựu đạn bò vào tiêu diệt cái chốt của địch gồm nhiều ổ súng phòng không, nằm trong một hốc đá kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao. Chính cái chốt quỷ quái này đã gây cho các đơn vị ta nhiều thiệt hại và đe dọa không nhỏ đối với các phi cơ đổ quân và chiến đấu hoạt động trong vùng.
Tôi đã gặp anh lính trẻ này vài lần và rất quí mến cậu ta. Không ngờ với một khuôn mặt hiền hậu, khôi ngô mà lại là một chiến sĩ can trường, dũng cảm. Có lần anh thú nhận với tôi là đã làm khai sanh tăng thêm ba tuổi để xin đầu quân. Một đôi lần, tôi móc túi cho cậu ít tiền để uống cà phê, khi nghe nói hằng tháng phải gởi tiền về nuôi mẹ. Ngược lại, sau mỗi cuộc hành quân, cậu cũng tìm đến thăm tôi, kể lại cho tôi những gì xảy ra trong trận đánh, và chăm chú ngồi nghe tôi nhận định. Đôi mắt cậu lúc nào cũng sáng lên niềm kiêu hãnh về các cấp chỉ huy, cùng đơn vị mà cậu ta đang phục vụ.
Vào khoảng cuối năm 1973, Đại Đội Trinh Sát được trực thăng vận đổ xuống giữa một trân chiến đang mịt mù lửa đạn để giải cứu cho một đơn vị BĐQ Biên Phòng đang bị vây hãm vì đã cạn đạn dược sau hơn hai ngày kiên cường chiến đấu, mà không thể nhận được tiếp tế. Một cuộc chiến khốc liệt, đẫm máu, mà các chiến sĩ trinh sát phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, tạo thời cơ cho các chiến sĩ BĐQ/BP bên trong phá vòng vây, dũng cảm xông ra. Địch quân bị tiêu diệt trong thế gọng kềm. Chiến trường kết thúc mau lẹ, đám địch còn sống sót, một số bị bắt, một số tháo chạy bị các trực thăng võ trang của Phi Đoàn 235 Sơn Dương truy kích.
Anh trung úy đại đội trưởng Trinh Sát bị thương nhẹ, nhưng vẫn tiếp tục điều quân chiến đấu. Ngay sau khi vừa được tản thương về QYV Pleiku, anh được Ông Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng BĐQ, đến gắn cấp bậc đại úy và anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Khi ấy anh vừa đúng 25 tuồi.
Tôi tháp tùng ông Chiến Đoàn Trưởng đến thành DakPha dự lễ Tuyên Dương Công Trạng toàn thể Đại Đội Trinh Sát, và trao gắn cấp bậc, huy chương cho những chiến sĩ có chiến công xuất sắc trong trận chiến hào hùng này. Buổi lễ dưới sự chủ tọa của ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn. Đại Đội được trình diện bởi anh trung úy Đại Đội Phó, xử lý thường vụ thay anh Đại Đội Trưởng còn đang điều trị trong QYV. Sau khi quân kỳ của Đại Đội được vị Tướng Chủ Tọa trịnh trọng choàng giây biểu chương màu Tam Hợp, các chiến sĩ xuất sắc được xướng danh ra trình diện trước thượng cấp.
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi không nghe tên và cũng không thấy mặt người lính trẻ có tiếng can trường đôn quân từ Tiểu Khu Bình Thuận trong số những người được tưởng thưởng. Chờ buổi lễ chấm dứt, tôi hỏi anh đại đội phó. Tôi ngẩn người khi anh cho biết là cậu lính trẻ ấy đã hy sinh khi tình nguyện xông vào diệt ổ đại liên cản đường, để cả đại đôi tiến lên. Anh đã gục ngã ngay trên nắp hầm địch cùng lúc tiêu diệt toàn bộ tổ đại liên của địch. Vì không có phương tiện đưa thi hài anh về nguyên quán, hơn nữa anh chết không toàn thây, không muốn cho thân nhân quá đau đớn khi nhìn thấy, nên đơn vị đã làm lễ truy thăng và chôn cất anh tại nghĩa địa Kontum.
Tôi hỏi kỹ vị trí ngôi mộ và dặn lòng sẽ đến thăm nơi an nghỉ của người lính trẻ can trường đáng mến này. Bỗng một hôm, thấy anh đại đội phó đưa một người đàn bà đến Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn để làm hồ sơ tử tuất. Tôi hỏi, mới biết ngươi đàn bà này là mẹ của người lính trẻ vừa mới hy sinh. Anh đại đội phó còn cho biết là sau khi làm hồ sơ xong, anh và vị Thiếu tá CTCT của Chiến Đoàn sẽ đưa bà ra thăm lại mộ con lần chót trước khi về quê. Tôi bảo anh đại đội phó là tôi sẽ tháp tùng. Tôi muốn một lần đưa tay chào vĩnh biệt người lính trẻ mà tôi hằng mến mộ.
Khi cùng với người mẹ đứng trước mộ, tôi ngạc nhiên khi thấy trên tấm bia, dưới tên của anh có ghi nơi sinh quán: Làng Long Giang- Xã Long Hoa – Bình Thuận. Tôi nhớ tới khu làng quê có hàng me cao nằm bên quốc lộ, mà tám năm trước có lần đại đội tôi đã đóng quân, và tiêu diệt tất cả đám du kích có tiếng của làng này. Chờ cho người mẹ thắp hương và bớt xúc động, tôi hỏi nhỏ:
– Ở làng Long Giang, chị có biết bà Lê Thị Đúng, có người con chỉ huy du kích, bị chết cách nay khoảng tám năm?
Người mẹ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng dò xét rồi cúi xuống, nói thật nhỏ chỉ đủ tôi nghe:
– Bà là mẹ chồng tôi, và con tôi đây là đích tôn, cháu nội duy nhất của bà. Vừa nói chị vừa đưa tay chỉ vào nấm mồ mới toanh trước mặt.
Khi về lại đơn vị, tôi xin Ban Tài Chánh ứng trước nửa tháng lương. Trích ra một phần, bỏ vào bì thơ, tôi tìm đến đại đội trinh sát gặp và biếu cho bà mẹ của người lính trẻ vừa mới lẫm liệt hy sinh. Bà thoáng một chút xúc động ngạc nhiên nhin tôi nói lời cám ơn.Tôi nghĩ là bà không nhận ra tôi, người đã chỉ huy cuộc hành quân năm xưa, và từng đóng quân ngay trong vườn của nhà bà.
Chia tay bà, trên đường trở về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, tôi suy nghĩ mông lung. Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được.
Vào khoảng năm 1962, Đài Phát thanh Hà Nội cũng như báo chí miền Bắc XHCN mở một chiến dịch ca tụng một liệt sĩ có tên Nguyễn Văn Bé đã hy sinh trong một cuộc “chống càn” của “Mỹ Ngụy” tại miền Nam, với những hình ảnh rõ ràng của người lính trẻ này. Lẽ cố nhiên đi kèm với tên tuổi liệt sĩ này là chiến tích thường lệ như bắn cháy một máy bay lên thẳng, vài xe bọc thép hay tiêu diệt một đại đội Ngụy. Chỉ một tuần sau đó, Bộ Thông Tin Chiêu Hồi “Ngụy” tại miền Nam đưa con người thật của “liệt sĩ” này, chính là một hồi chánh viên mang tên Nguyễn Văn Bé bằng xương bằng thịt lên truyền hình. Thì ra sau trận đánh nêu trên, sau khi kiểm điểm tàn quân, không thấy mặt Nguyễn Văn Bé, chính ủy đơn vị “bộ đội ta” bèn phịa ra hình ảnh liệt sĩ này để làm gương sáng cho quần chúng noi theo, trong khi chính Nguyễn Văn Bé nhân cơ hội này đã về hồi chánh với phía quốc gia. Đây là một vụ bẽ mặt nhất cho bộ máy tuyên truyền của miền Bắc, khiến dân chúng miền Nam có dịp thấy rõ luận điệu xảo trá về kỹ thuật dàn đựng không gặp may của các ống loa tuyên truyền ngoài ấy.
Thời kỳ trước năm 1945, tại Chợ Đất Đỏ Bình Tuy, dân chúng đã biết chuyện một cô gái cùi thường lê lết ăn xin trong chợ, đã bị Việt Minh thuê quăng một trái lựu đạn vào chợ làm chết rất nhiều thường dân để khủng bố. Cô gái này chính là hình ảnh để xây dựng thành Võ Thị Sáu, cô gái ngoan cường của Đảng Cộng Sản dã tiến công vào quận ly Đất Đỏ gây thiệt hại lớn cho “địch” để làm sáng danh phụ nữ miền Nam, ngày nay nằm chễm chệ trên bảng tên của vô số con đường ở hai miền Nam Bắc. Như vậy không chờ tới ngày nay, Lê Văn Tám, nổi danh qua cái công viên đầy chích choác ở Saigon hôm nay, mới được ông Giáo Sư Phan Huy Lê, Chủ Tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, xác nhận là một nhân vật do Trần Huy Liệu, Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền và Cổ Động ngày trước “đẻ” ra, và chuyện “phịa” có đủ ngày tháng viết trong sử sách đàng hoàng để bịp các em bé ngây thơ mang khăn quàng đỏ.
Đó là chuyện Lê Văn Tám, cậu bé bán đậu phụng rang tại Saigon vì căm thù giặc Pháp, buổi sáng ngày 1 tháng 1 năm 1945, đã tẩm xăng vào người và tự mình châm lửa làm thành “ngọn đuốc sống”, đốt cháy tan kho đạn của Pháp tại Thị Nghè. Vì chút liêm sì cuối đời, các vị này đã công nhận một kho đạn của quân đội Pháp không thể để sơ hở đến nỗi một đứa trẻ lên mười có thể chạy thẳng từ cổng trại vào hầm chứa đạn sau khi toàn thân đã bốc cháy qua một đoạn đường, cũng trong tưởng tượng là 50 thước. Như vậy mà cái tên Lê Văn Tám đã sống tới sáu mươi năm trời từ Bắc tới Nam vì “nhiệm vụ tuyên truyền” như lời trối trăn của Trần Huy Liệu. Miễn đi tới mục đích, còn phương tiện không đáng kể, vì “mục đích biện minh cho phương tiện”.
Rồi chúng ta suy ra những cái tên lạ lùng chưa hề nghe một lần như Nguyễn Thị Riêng, Huỳnh Văn Bánh …nhan nhản ghi trên các đường phố Saigon sau ngày đổi chủ, cũng là những sản phẩm tưởng tượng vì “nhiệm vụ” tuyên truyền mà thôi.
Dân ngu thì dễ bịp. Vì vậy chẳng ai ngạc nhiên ở trong chế độ Cộng Sản có nhiều chuyện quá sức tưởng tượng của con người. Người ta kể thời niên thiếu của Kim Nhật Thành, lãnh tụ Cộng Sản Bắc Hàn, rằng bà mẹ của Kim Chủ Tịch đã tay không tước súng và bắn chết hai tên lính Nhật. Một nhà thơ thuộc trường phái Tố Hữu lại ca tụng một con chim nhỏ bay về đậu trên vai pho tượng Kim Nhật Thành mà khóc. Trong các lớp tiểu học của Bắc Hàn còn có cả mô hình nhỏ của ngôi làng của Kim Nhật Thành lúc nhỏ, chỗ nào là Kim thường ra câu cá, chỗ nào là Kim hay chơi đùa với bạn.
Trong một bài báo của nhà văn Mường Giang, gốc người Phan Thiết, đã kể lại rằng, trong bản tiểu sử của Hồ Chí Minh, trong giai đoạn lang thang từ quê hương nghèo đói vào Nam có một lúc nào đó, dừng chân lại Phan thiết để làm nghề dạy học tại trường Dục Thanh. Trên con đường đi cứu nước của “bác”, lịch sử đảng có cho biết năm 1910, bác có ghé lại dạy trường Dục Thanh để độ nhật, nhưng không nói rõ là dạy bao lâu, dạy lớp nào. Đương nhiên đảng cũng vẽ vời thêm thắt là trong lúc dạy học, bác đã gieo vào tâm trí học sinh non trẻ tinh thần yêu nước. Sau này, lớn lên dân Phan Thiết theo Cách Mạng được cỡ bao nhiêu người thì không có thống kê, nhưng sau khi làm chủ được cả đất nước, thì những ông Tỉnh Ủy, Thành Ủy đã tận tâm lấy điểm với Trung Ương bằng cách cướp giật đất đai của dân ở cái vùng Dục Thanh nào đó ngày xưa, để làm nhà lưu niệm, xây viện bảo tàng mang tên “bác” để cho dân Bình Thuận được thơm lây vì đã đóng góp với dân tộc một chút gì qua con đường“bác đi”. Nếu ngày xưa, từ Phan Thiết, “bác” vào Saigon bằng xe lửa chạy than, thì cũng nên kiếm một cái đầu xe lửa hoen rỉ nào đang vứt bỏ ở ga Mường Mán, đem về viện bảo tàng sơn quét lại để gọi là cho thêm dấu tích đã làm vẻ vang cho quê hương đã mang vết chân và hơi hướm của “bác”.
Chân lý đã soi sáng là cái gì của “bác” cũng thơm tho, quí giá. Tượng đài, nhà lưu niệm, viện bảo tàng mọc lên như nấm sau cơn mưa để đánh bóng con người lãnh tụ. Bác sinh ra ở làng Sen thì làng Sen phải thành thánh địa của cha già, đảng nói “bác” ra đi cứu nước từ bến Nhà Rồng thì bến Nhà Rồng phải lập tức thành bảo tàng, nhà lưu niệm. Không biết ngày đó, người thanh niên xuống tàu …. xin một chân phụ bếp, con tàu đậu ở kho nào, kho 5 hay kho 7, mà sau tháng 4-75 cả một tòa nhà cao ở bến Khánh Hội được tân trang, sơn quét để trở thành một di tích lịch sử vĩ đại, biểu tượng của thành phố mới mang tên “bác”, đúng như câu hát “từ thành phố này, Người đã ra đi … ” Chỉ tiếc là trong Viện Bảo Tàng này không có tấm đơn của bác được lộng kiếng, đó là tờ đơn bác xin Tây cho vào học trường Thuộc Địa. Từ nơi ngôi nhà bác sinh ra, tới lỗ hang Pắc Bó, căn nhà sàn bác ở, đôi giép râu bác đi … đã thành những thứ quốc bảo.
Điều này không có gì là sáng tạo. Đệ tử của Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành … học đòi kinh điển “suy tôn”, đều có những hành động theo một khuôn mẫu như nhau. Nghĩa là cứ dựng lên một bức tượng, bằng gỗ hay đất sét gì cũng được, rồi cứ vái lạy lâu ngày sẽ thành vật thiêng, nhưng đó là một điều không thật. Như trong phim “Mê Thảo”: Nguyễn tạc một bức tượng người yêu bằng gỗ rồi “làm tình bằng tưởng tượng” với bức tượng ấy. Điều này làm cho chúng ta nhớ lại những điều không có thật như tượng gỗ “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà bao nhiêu trí thức, vì món nợ tem phiếu đã “thủ dâm” với tư tưởng này suốt trong những năm tháng qua. Tài năng, đạo đức lãnh tụ hay anh hùng không cần có thật, đảng và cán bộ cầm quyền vì nhu cầu chính trị đã tạo nên nó, xem nó như là có thật, từ đó họ “thống khoái bằng bàn tay” trong một tinh thần hoang tưởng tột độ. Bao nhiêu người đã xả thân vô tích sự vì thứ bệnh hoạn ấy, vì kỹ thuật dàn dựng và tuyền truyền của những bộ máy chuyên đánh bóng những hình ảnh anh hùng, lãnh tụ trong những chế độ độc tài trên thế giới?
Trên toàn thế giới, tính tới ngày hôm nay (24/04/2020) đã có hơn 2.7 triệu người đã bị lây nhiễm Covid-19. Ít nhất 190 ngàn người đã chết. Trong đó chỉ riêng tại Hoa Kỳ số nạn nhân lên tới hơn 49 ngàn người. Nền kinh tế thế giới thiệt hại nặng nề. Hàng triệu, triệu người thất nghiệp. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ con số người mất công ăn việc làm lới tới: 26.5 triệu .
***
Trong cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào thứ Tư, ngày 22 tháng 4, tại thủ đô Washington DC, Ngoại trưởng Mike Pompeo phát biểu rằng: “Trung Quốc đã gây ra nhiều nỗi đau đớn, làm nhiều người dân trên toàn thế giới thiệt mạng. Trung Quốc đã gây ra nhiều thách thức rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu trong đó có Mỹ, bằng cách che dấu, không minh bạch để chia sẻ những thông tin mà họ có được về cơn đại dịch do Covid-19 gây ra. “Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phải trả giá cho hành động của mình”
***
Để khỏa lấp những bất ổn trong xã hội Trung Hoa đang dâng lên phê phán cách chánh quyền Trung Cộng đối phó với cơn đại dịch nầy gây ra, chánh quyền Tập Cận Bình tìm cách đánh lạc hướng người dân Tàu cách bằng cách hung hăng gây hấn trên Biển Đông như đánh chìm một tàu đánh cá Việt Nam trước đây trong tháng. Trung Cộng đã đưa các tàu chiến đến vùng này để đe dọa các nước trong vùng nhằm chiếm trọn quyền khác khai thác dầu khí ngoài biển khơi.
***
“Bắc Kinh đã lợi dụng việc các nước đang chú trọng đến đại dịch để đơn phương để đẩy mạnh những tham vọng bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông. Như loan báo thành lập những quận mới tại các quần đảo và các khu vực trên biển, và lập những “Trạm nghiên cứu” trên các đảo Đá Chữ Thập và Đá Subi,” Phản úng lại hành động hung hăng nầy của Tập Cận Bình, Hoa Kỳ, Úc đã đưa tàu hải quân đến hiện diện trên Thái Bình Dương nhằm ủng hộ các nước như Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và Indonesia lên tiếng phản đối hành động bành trướng nầy của tập đoàn CS Trung Nam Hải.
***
Bấy lâu nay, Tập đoàn Trung Nam Hải đã chà đạp luân thường đạo lý, ngang nhiên đàn áp người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) ở Tân Cương. Đó là tội ác vi phạm nhân quyền của chánh quyền Trung Cộng. Bắc Kinh đã đơn phương làm thay đổi dòng chảy của dòng sông Mekong, bằng cách xây dựng những đập nước trên thượng nguồn, gây nguy hại đền cuộc sống của hàng chục triệu người tại vùng hạ lưu ở Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Đó là tội ác Trời không dung đất không tha về môi trường sống!
***
Thế giới ngày nay đã rất thay đổi. Chúng ta không thể thản nhiên đứng nhìn nhà cầm quyền độc tài CS muốn làm gì thì làm, với luận điệu cũ mèm, lạc hậu là thế giới đừng có xen vào chuyện nội bộ của Trung Quốc. Thế giới ngày nay liên lập, hành động của một chánh quyền nước nầy có thể gây tác hại cho toàn thế giới như cơn đại dịch nầy cho chúng ta thấy. Ngải Vị Vị, (Ai Wei Wei) một nhà tranh đấu cho dân chủ người Trung Quốc đang lưu vong, cho biết: “Chánh quyền Trung Cộng không bao giờ chịu học!” “China will never learn” Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh: Phát xít Đức, Quân phiệt Nhựt, Cộng sản Liên Sô đã từng sụp đổ, chánh quyền Trung Cộng dưới sự dẩn dắt của Tập Cận Bình đang đi vào vết xe đổ đó. Thế giới đã đồng loạt lên tiếng tất nhiên sự cáo chung của chủ nghĩa độc tài CS ắt chẳng còn xa! Vì một lẽ đơn giản là: Chánh quyền độc tài CS không ‘cáo chung’ thì chúng ta sẽ ‘cáo phó’!
***
During a news briefing at the State Department on Wednesday, April 22, in Washington. Secretary of State Mike Pompeo speak: “China caused an enormous amount of pain, loss of life, and now a huge challenge for the global economy and the American economy as well by not sharing the information they had.” “I am very confident that the Chinese Communist Party will pay a price for what they did here, certainly from the United States.” The top US diplomat said, “You should know we still don’t have full transparency from the Chinese Communist Party, we are concerned there are things we don’t know and we haven’t been able to get our team on the ground to do the work that it needs to do.” The Chinese Communist Party will pay a price!
Khi nghe tới bút hiệu Trần Vàng Sao, thú thật là tôi không mấy cảm tình. Nhưng khi tôi đọc, theo cảm nhận, nhà thơ mãi bị đồng chí nghi kỵ, luôn hứng chịu sự trù dập, đã viết nên nhiều bài thơ hay. Do tài năng, ông tạo ra những hình ảnh, những màu sắc, những nhịp điệu; gầy dựng được thứ khí hậu bao bọc lấy một vùng trời riêng. Ẩm thấp, sương khói, váng vất chút thơ mộng đặc thù của vùng đất sinh ra ông: Huế. Giả dụ: … đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu một vết bùn khô trên mặt đá không có ai chia tay cũng nhớ một tiếng còi tàu … con sông nằm dài nhớ những chặng rừng đi qua nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước chim đậu trên cành chim không hót khoảng trống mùa thu ngủ trên cỏ may …
Đây chỉ là trích đoạn trong bài thơ dài “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Trần Vàng Sao sáng tác vào tháng 12 năm 1967. Tôi đọc, chẳng rõ bạn có mang cảm nhận hệt như tôi? Rằng tác giả một mực thong dong khi thuật chuyện, chữ dùng dung dị, mộc mạc chỉ nhằm đắp bồi toàn cả ảnh hình, liên kết lại và nó dội được vào lòng tôi một rung động, một hấp lực khó cưỡng. Ở bài khác của cùng tác giả, tôi chuộng hai câu này: Bây giờ tôi đủ tuổi tôi Nam mô di Phật một đời như không. Chữ “như không” ẩn tàng chút triết thuyết của nhà Phật. Và như không cũng nhằm nói rõ, ngộ ra sự thua thiệt, cái trắng tay, cầm bằng như không! Phải đủ tuổi, phải rơi tới một hạn kỳ vô thường nào đó mới đủ lực để ta thán về sự hoài công của kiếp dã tràng. Nhẹ nhàng chẳng ký gửi chút hằn học trong tâm sự. Đã Nam mô di Phật thì buộc phải tìm cách buông thả, chớ sân si. Nhưng với 14 chữ cô đọng của lục bát ấy lại dấy lên, trao gửi một nặng lòng. Tôi thích nó, giản dị vì Trần Vàng Sao nọ đối nghịch, chẳng giống với một Trần Vàng Sao càng về già càng phẫn hận, xui khiến phải làm thơ “Chửi”, chửi không khoan nhượng, chửi rốt ráo, chửi “tới bến”. Để thích hợp với tính cách hàm hồ hàm chứa mồm năm miệng mười, khi chửi ông sử dụng toàn thứ ngôn ngữ dung tục, phổ thông, bụi bặm đời thường. Khi sự tức giận đến cùng đường, e lời thơ mất hết vẻ thanh thoát. Hiểu ở mặt khác, “như không” dễ xúi người ta phải chịu chìm sâu, đắm thân giữa ngập ngụa bụi trần. Thứ mà nhà thơ muốn vùng vẫy thoát ra khỏi trong khi ôm đầu dụng chữ, rất cực lòng tìm về chốn thơ mộng, dẫu phù du. Cùng thế hệ với Trần Vàng Sao, lớn lên chung một thổ ngơi nhưng khác giới tuyến, bên này sông một ông sĩ quan “ngụy” mang bút hiệu Mường Mán (có dạo bị mang ngoại hiệu Thất Tình Đại Hiệp) cũng người Huế-hiền-lành chăm viết văn làm thơ khiến mấy o học trò trường Nguyễn Du, Nữ Thành Nội, Đồng Khánh mãi say mê đọc thầm: tháng chạp về rồi bé biết không guốc mới ai khua ngõ nội thành để cho rêu cũ- vàng son cũ thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh. Tấm bé tôi ở Huế, lớn lên nhà tôi ở trong thành nội và hai câu cuối kia khiến bây chừ tôi cảm ra cái xuất thần đang xúi tôi khờ dại một nỗi nhớ ngấc ngư. Bé mang guốc mới bước chân sáo làm vang vọng âm ba giữa thành quách cổ xưa. Tiếng động ấy lý ra phải vui tai, Mường Mán khéo léo khi dùng chữ buồn. Buồn với sự hoang phế của bao triều đại chìm trong bể dâu. Buồn đến độ rong rêu phải thức dậy, làm sáng chữ xanh đầy tính sáng tạo. Tựu thành một bài thơ để khi đọc khiến nao lòng hẵng chẳng bao giờ là điều dễ? Làm “nguỵ” thì số phận bắt phải đi “cải tạo”. Xong hình phạt khổ sai thì ông cựu quan hai phó mặc đời cuốn trôi phiêu dạt tận phương Nam. Hoàn cảnh “lạ nước lạ cái” đã vẽ ra được một tấc lòng. Bài thơ “Chăn vịt phương Nam” của Mường Mán làm vào năm 1979 phải là một bài hay nằm trong tất cả những bài bày nên cảnh đổi đời, của vô vàn các thi nhân khác, khổ hạnh sống ở miền Nam sinh ra nhiều tài danh.
Chăn Vịt Phương Nam Tôi người trai sông Hương Lưu lạc về sông Hậu Như chim mỏi cánh đậu Trên vồng đất quê em.
Chòi tôi che hướng đông Che giùm tôi ngọn gió Em đùa: anh chiếc lá Bị bão giạt về Nam
Tôi đùa: thời buổi khó Đi đâu để trốn buồn? Thôi đành đi chăn vịt! Em bảo: thế mà hơn.
Vịt tôi chăn trăm con Ngày lùa đi trăm ngả Bạn tôi, trăm linh hồn Theo tôi, qua thời khó.
Thương mình em cô đơn Ngày đưa võng ru con Mong chồng nơi biên giới Mà chiến chịnh tưởng lụi Ai ngờ vẫn còn dài!
Em buồn sợi tóc mai Dài bằng cơn nắng sớm Em buồn: cây nhang ngún Cháy khuya sầu mênh mang.
Mỗi ngày tôi lùa vịt Qua cánh đồng thênh thang Buồn tôi khua gậy múa Hát cùng bèo trôi sông Ngóng giùm em phương đó Coi chồng về hay không?
Mường Mán Rất tới. Hay ghê nơi. Tôi chỉ biết nói vậy! Tôi vốn dốt việc thưởng thơ, tân hình thức hậu hiện đại (có chữ này mới khiếp: Đương đại) với bao ma trận của từng chữ chen cài biết gồng mình tạo dáng ngắt dòng siêu thực chẳng rõ có đi vào lòng người đọc? Có “nghe tiếng sóng ở trong lòng”? Tôi yêu thích sự giản dị, một vẻ đẹp thuần khiết chẳng nương nhờ phụ kiện bồi đắp nguỵ trang. Em tính đi thẩm mỹ viện? Ai can du. Kệ đi mà. Em là gái trời bắt xấu, nhưng anh đây, trời bắt bấu lấy em. Cho dù em thích ăn nem, anh xin hộ tống kiêng khem chả bày. Chánh quán Huế đẻ ra lắm thi nhơn. Lưu lạc xa hơn cả phương Nam, ngoài này cũng biết cơ man nào tên tuổi mà nhớ ra, mà “kiểm kê tài sản” đủ đầy dung mạo quý vị. Sơ khởi, tôi nhớ nhà văn nhà thơ Trần Hoài Thư (sĩ quan thám báo sau khi ngã ngựa từng có khi đi bán cà rem cây ở Cần Thơ), nhà thơ Đức Phổ cựu sĩ quan Hải quân, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng từng đi “học tập”, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn, nhà thơ mai danh nhà thơ ẩn tích nhà thơ ngao ngán nhân tình thế thái… làm sao kể xiết. Trước sau thì họ đã vang danh, thơ họ làm ra vô tình đã thu phục, nắm tay một số người thưởng ngoạn đi theo, sẵn lòng trao vòng nguyệt quế cho thi nhân… Huế. Đừng la tôi có tính cục bộ. Mắng tôi chả biết gì là tới lãnh vực ca thì tôi an tâm hơn. Tôi không thích bình thơ, tôi chỉ đưa ra cảm nhận riêng, có vậy thôi. Nhưng, ngẫm lại mà xem, khi đón nhận một bài thơ hay, ai hơi đâu để tâm: Ủa, anh người gì mà làm thơ đọc lên nghe quá đã! Dạ, tui người Việt. Vậy thì hồi trước anh ở đâu? Dạ, tui ở trong nhà. … “anh rót cho khéo nhé kẻo lại nhầm nhà tôi nhà tôi ở cuối thôn đồi có giàn thiên lý, có người tôi thương”. Bạn còn nhớ thơ của ai không? Nếu bạn quên tên tác giả thì có nên bợn lòng: Thơ ấy rõ không hay? Hay thì đã khắc ghi. Ui, bá nhân bá bao tử vậy! Xin thưa đấy là đoạn cuối trong bài thơ “Nhà tôi” nổi tiếng của Yên Thao sáng tác vào năm 1949, khi theo một đơn vị pháo binh chuẩn bị đánh quân Pháp đóng đồn bên kia sông. “Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng. Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương. Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường, nếp đình xưa người hỡi đau gì không…”
Phạm Tín An Ninh: Sinh ra và lớn lên tại Khánh Hòa, Tuổi Quý Mùi. Mất mẹ lúc 3 tuổi, nên sống với ông bà nội. Lúc nhỏ, theo học tại trường Trung học Văn Hóa và Võ Tánh Nha Trang. Nhập ngũ: Khóa 18 SQ Trừ Bị Thủ Đức. Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB. Sau tháng 4/75: Đi tù tại các trại tù Nam và Bắc Việt Nam. (Thân sinh cũng bị đi tù và chết trong tù cải tạo vào tháng 6/1976). Vượt biên, định cư tại Vương Quốc Na-Uy từ năm 1984. Đi học và làm việc trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện. Về hưu từ đầu năm 2008. Tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (sẽ xuất bản)
1-
Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.
Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.
Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.
Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.
Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.
Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:
-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.
Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:
-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?
-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.
-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây – Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người
– Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.
Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:
– Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.
Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.
Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.
Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!
Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.
Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.
Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!
Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!
Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!
Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:
-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?
– Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình – Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.
Cô trầm ngâm giây lát rồi lên tiếng:
– Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!
Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.
Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.
2-
Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.
Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:
– Anh còn nhớ anh Đôn không ?
Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:
– Trần Chánh Đôn!
Tôi hỏi lại:
– Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?
Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:
– Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ. Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.
Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa. Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.
Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.
Bà xã tôi hỏi:
– Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?
– Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do: người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?
Tôi đưa tay ngăn lời cô:
– Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.
Hà Giang chau mày:
– Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.
Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.
Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ
Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.
Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.
Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:
“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được…”
Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất”, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.
Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:
“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.”
Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.
Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị ơi.
Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân.
Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.
– Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.”
3-
Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.
Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.
Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:
…Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.
Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.
Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.
Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền…
Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.
Ngày 27 tháng 7 năm 2005 vừa qua, nguồn tin từ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Quốc Doanh cho biết, năm nay nhân kỷ niệm Ngày Thương Binh Liệt Sĩ, từ ngày 21 đến 25 tháng 7, Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam sẽ phối hợp với Thành Hội Phật Giáo Hà Nội, Thành Hội Phật Giáo Hải Phòng tổ chức lễ cầu siêu cho các liệt sĩ và đồng bào vong trận (sic) tại nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), nghĩa trang liệt sĩ Trường sơn và Thành Cổ Quảng trị (tỉnh Quảng Trị). Hoạt động này, theo nguồn tin từ báo chí Việt Nam là “để tưởng nhớ những người đã hiến thân cho tổ quốc, dân tộc qua các cuộc chiến tranh giải phóng.”
Nam Mô A Di Đà Phật! “Giải phóng” ba chục năm hơn rồi bây giờ mới nghe các ông sư bồ đề và chính quyền nói tới chuyện cầu siêu cho các linh hồn uổng tử lâu nay sống vất va vất vưởng từ những năm 1954 (Điện Biên Phủ) cho đến mùa hè đỏ lửa (Cổ thành Quảng Trị năm 1972).
Nếu tin rằng con người ta có linh hồn và biết tôn trọng linh hồn những người đã chết oan uổng, thì quí vị đã không có hành động gây áp lực với Mã Lai, Nam Dương để phá bỏ các bia tưởng niệm những người đã bỏ mình trên biển Đông. Vừa làm những hành động thất nhân tâm như thế, bây giờ Giáo Hội Quốc Doanh lại tính chuyện chuông mõ cầu siêu cho lính tráng và đồng bào đã bị chết (bộ đội thì đã có danh xưng là “bộ đội cụ Hồ”, còn đồng bào bị tên bay, đạn lạc thì không thấy nói là đồng bào nào, ở đâu?).
Lâu nay cứ tưởng Cộng Sản duy vật biện chứng không tin con người có linh hồn, có thế giới bên kia, chết là hết, không có oan ức, tức tối, chỉ có phe quốc gia mê tín mới nói tới chuyện cầu nguyện, cầu siêu, giải oan, vớt vong. Trước hết, việc cầu siêu này rõ tính chất kỳ thị địa phương, sao chỉ dành cho lính tráng Điện Biên Phủ, Cổ Thành Quảng Trị, đường Trường Sơn mà bỏ quên Nam Bộ Đồng Khởi hay Mậu Thân nổi dậy, cán bộ hạ tầng tại miền Nam chết la liệt, xác không kịp chôn. Chỉ làm lễ cầu siêu ngoài Bắc mà không làm ở trong Nam, hay vì trong Nam còn có Quí Thượng Tọa Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sĩ, Thiện Minh … đang còn bị quản chế và sợ những buổi cầu siêu không ai hưởng ứng? Mặt khác, đã cầu siêu sao không nhớ đến oan khuất của đồng bào đã chết trong những đợt cải cách ruộng đất, nông thôn tắm máu theo đường lối Mao Chủ Tịch?
Bây giờ miệng đã biết “nam mô” nhưng thực trong lòng quí vị còn nguyên một bồ … dao găm! Trong thời gian chiến tranh quí vị cũng đã nhân danh giải phóng bắn pháo vào trường học, giết đồng bào trong cuộc tấn công vào Huế Tết Mậu Thân, bắn vào đồng bào chạy loạn trên quốc lộ 1 năm 1972, quốc lộ 7 năm 1975, xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển Đông, rồi nhận chìm thuyền của những người đi “bán chính thức”, những linh hồn chết thảm khốc, oan khuất ấy chắc không phải là “đồng bào đã chết vì tổ quốc” được ghi trong bản văn? Việc này còn phải kiểm tra hộ khẩu và xác minh lý lịch. Tuy nói vậy, chứ chúng tôi cũng biết dư rằng, tuy ngoài miệng thì mạnh, nhưng trong bụng thì run, quí vị cũng tin có linh hồn, ma quỷ như ai. Trong di chúc “bác” đã chẳng nói là “bác” sẽ về với các cụ tổ Mác, Lê Nin là gì.
Nếu “bác” không tin có linh hồn, chết là hết, thì bác đi tìm ai cho mệt. Chiến binh khi còn chiến tranh, hai bộ áo quần, một cái bàn chải đánh răng, một cái chén, một đôi đũa giắt lưng, nếu chết cũng không có gì để mất.
Bây giờ lúc cướp được chính quyền thì cán bộ có nhà, có của, có xe … phải tìm cách mà giữ riệt lấy. Chính mắt tôi chứng kiến các cụ mới vào Nam, khi đã có miếng ra, miếng vào đã lo đi mua bàn thờ ông Địa, treo bát quái, tìm thầy bói toán … cho ăn yên ở yên, giữ ghế cho vững và công việc “làm ăn” làm sao cho càng ngày càng phát đạt. Nếu quí vị tin rằng con người có linh hồn, khi chết oan khuất thì linh hồn không được siêu thoát. Quí vị lập đàn cầu siêu cho hương linh những người chết ở Điện Biên Phủ, Cổ Thành Quảng Trị, trên đường Trường Sơn … nghĩa là có công nhận linh hồn những người chết này chưa siêu thoát:
“Khi thất thế, tên bay đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi.
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết phơi chốn nào.”(1)
Đó là những cái chết oan, chết ức, chết bụi chết bờ, chết đột ngột, “chết thật tình cờ, chết như mơ”, mặc dầu trong văn bản đã công nhận những người này đã chết vì “tổ quốc”. Nếu đã nói rằng quên quá khứ, nhìn về tương lai và công nhận có những cái chết oan khuất, linh hồn chưa siêu thoát, trong tinh thần “hòa hợp hòa giải” như quí vị thường rêu rao, tiện đây cũng xin cầu siêu luôn cho những nạn nhân ngay tại miền Bắc trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất năm 1953, đồng bào vô tội bị chôn sống trong trận chiếm Huế năm Mậu Thân, bị pháo nát thây trên những con đường chạy loạn để tránh xa quí vị càng nhanh càng tốt, bị chôn vùi dưới biển Đông vì quá đỗi sợ hãi quí vị, dù biết rằng cái chết đang chờ đợi mà vẫn phải ra đi.
Nếu lập trai đàn cầu siêu, thì cũng xin quí vị lập cho một cái trai đàn ở Nghĩa Tràng Quân Đội của miền Nam tại Biên Hòa luôn thể. Hiện nay chúng ta chưa có hy vọng gì binh sĩ trận vong được chôn chung cùng trong một nghĩa địa như nước Mỹ đã thực hiện tại nghĩa trang Arlington, Washington D.C., vì đầu óc quí vị còn đặc sệt hận thù “thà chôn chung với lính Mỹ, chứ chẳng bao giờ chịu chôn chung với lính Ngụy”, “thà ôm chân Mỹ còn hơn bắt tay với lính Ngụy”.
Đối với thi thể người chết, câu chuyện còn khó, chứ đối với phần hồn thì chắc dễ dàng để nói chuyện hơn. Quí vị ráng kiếm một ngày đại lễ, như mượn ngày Xá Tội Vong Nhân của Phật Giáo, lập một đàn tràng thật lớn, cầu siêu cho đồng bào cả nước đã chết vì chiến tranh, cầu siêu cho binh lính cả hai miền Nam Bắc đã chết vì lý tưởng của mình hay bị xúi chết cho các lãnh tụ và các thế lực cường quốc. Sau đó quí vị có thể ra một tuyên ngôn, xin lỗi tất cả đồng bào cả nước vì những sai lầm của đảng đã đem chủ nghĩa Cộng Sản áp đặt lên dân tộc Việt Nam, tranh đấu giai cấp, gây nên cảnh nồi da xáo thịt, tạo một cuộc chiến tranh đẩy hơn bốn triệu thanh niên vào một cuộc chiến vô ích, để rốt cuộc làm đất nước trở thành một đất nước đói nghèo, vô luân, băng hoại tới tận cùng! Nghe nói Giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh làm một đại lễ cầu siêu cho những người đã chết, nghe chừng như chuyện mỉa mai.
Xưa, quí vị đền ơn cho những người chết bằng những tấm giấy ghi công xanh đỏ, không đổi lấy được miếng tem phiếu, chai nước mắm, miếng thịt cho mẹ già; xác chết của những người vô danh ấy đã lót đường cho đảng viên lớn, đảng viên nhỏ cướp được chính quyền, có được nhà cao, cửa rộng, giàu sang phè phỡn … Giờ đây mới nghe nói tới chuyện cầu siêu cho những linh hồn chết bờ chết bụi, gọi oan khuất nghìn xưa về chứng giám?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.