Gặp để chia tay

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Vô tình gặp lại thằng bạn xưa

Từng mài đũng quần Petrus Ký

Cùng đi quân trường trong một ngày

Mói mà đã hơn ba năm lính

Hai thằng nhìn nhau cùng bật cười

Cười mừng hai thằng còn nguyên vẹn

Chẳng mất tay chân hay ngủ quên đời

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Nhìn bạn lội sình đi hành quân

Ở đây sự sống và cái chết

Một sát na của cuộc vô thường

Vài câu hàn huyên bên trãng cỏ

Chúc nhau đời lính được bình an

Để còn ngày sau về bên mẹ

Để con cưới được cô nhân tình

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Nhìn bạn lội sình đi hành quân

Ở đây sự sống và cái chết

Một sát na của cuộc vô thường

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Chốc lát rồi lại xa chốn này

Nơi những bạn bè đi không nghỉ

Áo lính xanh màu lá cây rừng

Chia tay chúc nhau điều may mắn

Trong cuộc chiến tranh đằng đẳng này

Cùng ước mợt ngày im tiếng súng

Bạn bè vẫn còn gặp lại nhau

Cùng ước ngày sau tàn chinh chiến

Bạn bè vẫn còn gặp lại nhau

Canh bạc của Tập Cận Bình

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 7th, 2020

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán. Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Ðường.

Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’

Nhà thơ Tản Ðà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.

Vài loại virus được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó

Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Ðông hay).  Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.

Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.

Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy đã làm 6,000 người mắc bệnh và 132 người đã chết. Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.

Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Ðô (từ Ðông sang Tây).

Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.

Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.

Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Ðừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”

Còn ai lỡ tới Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.

Ðàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo, chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.

Tranh Bảo Huân

Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Ðại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có. Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.

Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.

Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang. (Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).

Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.

Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.

Hành động nầy bị các chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!

Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỹ như vậy cho chắc ăn!

Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.

Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng: “Dịch bệnh đã được kiểm soát!” Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.

Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40,000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.

Thiệt là quái đản!

Các quan chức CS luôn nói dóc, che giấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Ðể khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi.

Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên truyền hình mếu máo, biện minh là: “Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế, sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.

Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và bảo đảm an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ. Ðiều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.

Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Ðảng lãnh đạo cái giống gì hè? Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.

Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn. Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán. Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trạng cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.

Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở  nên thành phố ma. Ðường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại. Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất cảng; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề! Mùa Cúm bên Trung quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.

Phải thân chinh nắm quyền chỉ huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Ðược ăn cả, ngã về không!

Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới. Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!

Ðuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?

ĐXT

Melbourne

Bonsoir Việt Nam

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

1.
Quán cà phê Mèo Đen. Cả bốn con mắt cùng nhìn thấy bảng hiệu. Xe gắn máy tấp sát lề đường, thắng đứng. Gã trung niên trả về số không, chống một chân xuống đất. Người đàn bà ngồi phía sau nhích mông rời ghế xe.

– Đứng yên chỗ này, đừng dời đổi.

– Bà chị yên tâm. Tôi vẫn để máy nổ?

– Ừa, cao tay chỉ mất năm phút là cùng.

Bà sửa lại khẩu trang, đeo xách ny lông ở nách, ngó trước trông sau và xăm xăm đi vào quán. Gã điều khiển xe nhìn theo. Nắng làm hoa mắt, ô cửa đen ngòm nuốt vội chiếc áo màu vàng của người đàn bà. Nhạc kích động ùa ra thềm. Chát chúa tiếng đàn tiếng trống. Buổi trưa mà quán cà phê không vắng. Chẳng phải cuối tuần mà có lắm kẻ ngồi tụ đàn đấu hót.
Phục vụ viên, lo phần tiếp khách đều là con gái. Áo quần hở hang theo quy định, “điện nước đầy đủ”, che bớt da thịt thì sẽ sập tiệm vì chẳng còn khách lai vãng. Mèo đen. Đứa nào đặt tên thật có ý nghĩa. Mèo ưa nũng nịu cạ thân vào, lim dim mắt khi được vuốt ve. Tuy đen nhưng người đàn bà vẫn nhìn ra mục tiêu. Vừa đi vừa thò tay vào túi ny lông. Con dao sản xuất ở Trung quốc mang theo hàn khí khi rời chỗ ẩn. Dao vung lên, lạnh lùng, tàn nhẫn.

– Con đĩ mẹ mày, tao chém cho mày biết đời là gì.

Nhiều tiếng rú cất lên. Tiếng ly tách rơi vỡ. Những bàn chân chạy, hoảng loạn. Máu đã đổ. Không một ai can thiệp. Tất cả đều đứng một góc, trương mắt ra ngó. Lực lưỡng có, ốm o có, tóc dài có, đầu trọc có. Tai đeo khoen có, mũi đục lỗ có, thun ba lỗ khoe mình đầy vết xâm cũng có. Nam nhi cả tá nhưng không hề là đại trượng phu.

– Mả cha mày. Chừa cái thói đi hại đời con gái nhà lành, nghe con.

Người đàn bà tuyên bố câu cuối cùng. Bà quay lưng, đi bước dài. Gã trung niên làm nghề chạy xe ôm vẫn đen đúa đội nắng chờ khách trở ra. Khách đeo khẩu trang nên chẳng trông được nhan sắc. Khách ôm eo. Đôi tay còn run.

– Thăng.

Chiếc xe phóng chạy theo mệnh lệnh.

– Về hướng ngoại ô nghen.

– Dạ được.

Người đàn bà ngó lui. Mọi thứ đều bình thường. Cây vẫn xanh lá. Đường vẫn lắm xe. Bụi bặm và khói xăng. Nóng bức và đứng gió. Chẳng có gì lạ.

– Anh hành nghề này đã bao lâu?

– Có hơn sáu năm nay.

– Ngon cơm không?

– Chị nói sao?

– Sống thong thả hay chật vật?

– Trời! Thong thả nghĩa là sao hở chị? Tôi và chiếc xe này giống nhau, lật đật chạy ngoài đường cả ngày. Bỏng khét, bá thở chỉ hòng nuôi hai miệng ăn qua bữa.

– Tới nghĩa trang thì anh quẹo phải.

Chiếc xe nấc lên, rùng mình mỗi khi sang số. Người đàn bà sẽ cạ thân vào lưng gã mỗi khi hắn đạp thắng. Nhưng nói chung, với sáu năm lèo lái, có thể nói hắn điệu nghệ. Lòn lách giỏi, biết chạy lắc léo, chưa từng bị ùn tắc khựng đứng. Đen đúa, bẩn thỉu như đa số bọn hành nghề chạy xe ôm.

– Nuôi hai miệng ăn? Nghĩa là chỉ hai vợ chồng đùm bọc? Con cái thì sao? Chúng tự lập thân?

– Không. Tôi chẳng có vợ con. Tôi nuôi mẹ già.

Hỏi, trả lời. Cả hai phải dụng sức gần như hét. Đường luôn chan tiếng động, ngay cả chiếc xe đang lao, máy nổ cũng rầm rộ góp tiếng. Tên lái xe la toáng lên:

– Chị đòi được nợ chưa?

– Rồi.

– Nó chồng đủ tiền hay sao mà mau dữ dậy?

– Chồng đủ.

– Má tôi thiệt thà, cho người bà con vay hai chỉ vàng, ngày một ngày hai nó lặn mất tiêu. Tôi chạy xe bay tóc trán tìm không ra tăm hơi đứa quỵt nợ. Khốn kiếp!

– Thôi, bỏ tôi xuống đây.

Xe thắng gần một bãi rác. Vắng người, vì chẳng còn gì để bới móc thu hoạch. Tan hoang. Kể cả ruồi, chúng cũng tìm nơi bốc mùi mà tụ họp, ở đây chả còn hương vị gì. Người đàn bà trả tiền cuốc xe.

– Đời có vay có trả, nó chạy không khỏi đâu. Tin tôi đi.

– Tôi cũng nói câu đó với má tôi. Chỉ nhằm an ủi bả.

Gã trung niên đếm những tờ giấy bạc, cất vào túi áo. Hình như có thừa một tờ năm ngàn nhưng gã không nói. Lặng yên quay xe trở ra.

2.
Người đàn bà cầm bó tiền được cột bằng sợi giây thun. Bà không đếm, như thể với trọng lượng đó, với bề dày đó, là đủ, chẳng thiếu. Hoặc giả bà tin cậy tới kẻ trao tiền. Bà nói:

– Tôi đi.

– Vội thế. Làm miếng nước đã.

Người đàn bà ngần ngừ, sau cùng ném cái khẩu trang xuống bàn gỗ và ngồi lên mặt ghế nhựa. Ly nước nằm trước mặt. Nước màu đen, có thể xá xị, có thể Coke, có thể là cà phê Trung nguyên. Bà ngó lên gã đàn ông. Đã lâu rồi, họ quen nhau ở chợ trời. Ông ta bán thuốc Tây, còn bà là kẻ chuyên đi đòi nợ. Một thứ nghề cần nhiều máu lạnh, vô cảm trước những than khóc đớn đau. Có lẽ ông ta cũng vậy, thuốc ông bán đa phần là trụ sinh, dùng để cứu người; đôi khi cũng có thể giết người. Trường hợp ngoài ý muốn. Ông ta sẽ nói thế. Và dong đôi tay lên trời, miệng chửi rủa: Mẹ kiếp, chúng nó trao thuốc giả, có thánh mới biết! Nó chết là bởi cái tuối thọ của nó chỉ trường tồn tới ngang đó thôi. Làm sao hơn?

Chuyện ngày xưa. Nó giống một trang sách liêu trai đã lật qua. Bây giờ khác, rất chí dị trong thay đổi và rõ nét nhất là ở người đàn ông. Chẳng biết hắn làm chuyện gì mà tiến bạc rủng rỉnh? Áo xống tử tế, diện mạo tươi nhuận, đỏ da thắm thịt. Hắn ngồi xuống ghế. Cách bề rộng của chiếc bàn, người đàn bà ngửi được mùi dầu thơm từ phiá kẻ đối diện lùa qua. Một thứ mùi dễ làm nhột mũi, ưa hắt hơi. Thoang thoảng chút gợi dục.

– Có lẽ tôi lại nhờ chị một lần nữa.

Người đàn bà đón lấy điếu thuốc. Hơi chồm người qua để dí mặt vào ngọn lửa vừa được thắp lên.

Khói thuốc thơm. Ai bảo thế? Nó hôi và độc hại. Biết vậy, nhưng đôi khi người ta cần nó. Để tính toan. Để cứng rắn. Để mơ mòng. Để hoài nghi. Để tỉnh thức. Mặt người đàn bà phủ màn ngờ vực. Bà từ tốn đưa ra câu hỏi, hơi e dè:

– Lại chém người?

– Không. Lần này nhờ chị dắt nó đi phá thai.

– Chuyện nhỏ.

– Tìm chỗ đáng tin cậy. Làm ăn vén khéo. Chớ quan hoài chuyện tiền bạc.

– Nó đã mang thai rồi sao? Chóng thế? Làm sao biết?

Người đàn ông cười. Tiếng cười khô, sặc; nghe tựa tiếng ho.

– Có những niềm riêng người ta dấu kín như thứ bí mật quốc phòng. Như mèo dấu cứt. Nhưng mang thai.
Trời, nó lộ liễu quá, chị không thấy sao?

Trên bàn chẳng có gạt tàn, người đàn bà ném điếu thuốc hút dở xuống đất rồi dí dép nhựa lên trên, đay nghiếng, chà đạp. Giọng người đàn ông tuôn đều đều, như tụng kinh:

– Phải làm sớm. Có thể dăm bữa nửa tháng nó sẽ đi mất đất sang Đài loan.

Uống hết ly nước. Người đàn bà đứng lên.

– Chị có gì để hỏi không?

Người đàn bà ngó quanh, bước tới mở vòi nước để rửa tay. Trên vách có treo tấm gương soi, bà nhìn vào đó và trông thấy mặt con mẹ nào thật lạ lẫm. Bà để những ngón ướt nước vuốt tóc con mẹ ấy. Nước mát lạnh thật dễ chịu, làm trán bớt cau có. Bất thần vuông gương hứng thêm khuôn mặt mày râu nhẵn nhụi của gã đàn ông.

– Cỡ như tôi muốn sang Đài loan đổi đời có dễ không?

Bà nói mà không quay mặt lại. Nhìn cái môi dầy trong gương nhóp nhép:

– Chị thật biết nói đùa.

– Sao?

– Con bé ấy mới có mười bảy tuổi. Nó mới thất thân lần đầu và tương lai sáng lạng hẳn còn rộng mở. Tụi đàn ông Đài loan không phải đứa nào cũng đui chột. Vả lại chị đi rồi tôi biết trông cậy vào ai? Rách việc mất.

Người đàn bà tắt vòi nước. Chùi hai tay vào vạt áo.

– Quan trọng vậy sao?

– Phải. Ngày mai nhé. Khoảng tám chín giờ cho đất trời mát mẻ. Tôi biểu nó chờ chị ở đây.

– Tôi đã già chưa?

– Chị phải biết điều đó hơn ai cả. Sao lại đè tôi mà hỏi?

– Giả như anh đè tôi ra giờ này chắc tôi sẽ không có phản ứng gì ráo.

– Là sao?

– Trên người tôi chẳng có thứ gì hấp dẫn cả, phải không?

– Đừng nói vậy. Đàn ông xứ này còn tệ hơn bọn Đài loan Hàn quốc nhiều. Không tin hả? Đêm hôm chị đi lơ ngơ một mình, chúng hiếp cho nát người ra.

– Thôi, tôi đi. Mất thì giờ!

– Vậy nhé. Trăm sự nhờ chị. Lo chuyện này xong, thưởng công, chúng ta tắm táp sạch sẽ cùng nhau ôm ấp làm việc đại sự. Để chứng minh: Với tôi, chị còn hấp dẫn chán. Tiền bạc không thành vấn đề, đúng không?

Người đàn bà bước qua ngạch cửa. Nhà hàng xóm có ai đốt vàng bạc, hứng trong thau nhôm, đặt ở sân đất. Khói mù mịt, che bít lối đi.

– Đéo mẹ!

Người đàn bà chửi vào khoảng không.

3.
– Tôi chạy xe ôm đã sáu năm. Có nghĩa là cô nên tin tôi. Tôi tựa như thổ địa vậy. Biết thổ địa là gì không? Là ma xó đó. Địa chỉ nào, đường phố nào, hẽm hóc nào mà tôi hổng rành!

– Có xa không chú?

– Cô sốt ruột rồi sao? Ngồi chưa nóng đít! Ừ, mà tôi hiểu. Ai cũng thế cả, tâm trạng chung. Ở phương xa về thăm lại quê cũ mà, ắt phải nóng lòng.

– Nhà cửa ngỗn ngang… Trước đây có đông đúc vậy không chú?

– Trước đây là bao giờ? Mà thời nào cũng thế, phố phường thì lúc nào cũng chộn rộn. Ở bển chắc dữ dằn hơn nhiều, phải không cô?

– Chú có thân nhân sống ở nước ngoài không?

– Làm gì có. Vô phước là ở chỗ đó. Tôi sống với mẹ già, mình bỏ trốn, lấy ai nuôi bả. Người có tình cảm thường cực thân. Không bì được với bọn vô tâm, chúng hơi bị vô tư thoải mái ở đời thường!

– Đời thường là gỉ?

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Chắc cô quên tiếng Việt đương đại đã bộn bề?

– Đương đại là gì?

Chú lái xe ôm đã không trả lời. Cô gái ngồi sau bấu cứng chéo áo nhìn cảnh vật hoang đường vất chạy lui sau. Xe gắn máy giã từ phố thị, chạy qua cầu xi măng, rẽ xuống đường đất, song song với con lạch cạn nước. Nước màu đen. Cắm xuống thân nó là những cọc gỗ xiêu vẹo, hứng đỡ bên trên thứ nhà cửa rách nát vá víu bằng nhiều tấm bià cứng. Mì ăn liền hiệu Mamy. Sữa đặc hiệu Hột xoàn… Xe chạy bên này và mùi hôi rượt đuổi bên kia. Mùi bùn, mùi rác và mùi quen thuộc của loài người: Cứt! Có người đang ngồi ỉa, đưa cái đít sần sùi ra và vật bị thải đang chực rơi xuống vũng bùn. Con lạch, cái mương, cái ao này trước đây hẳn nhiều cá? Uổng! Cá không còn mà quây quần đớp hít động đậy dưới chân bèo. Cá đã bỏ chốn cũ để ngơ ngác ra hoà nhập với sông hồ nước cao sóng lớn biển mặn dâng tràn tai ương.

– Chỗ này sao xác xơ vắng lặng vậy chú? Có đi nhầm nơi không?

– Không. Đến rồi. Xuống đi.

Xe dừng trước cái chòi lá nằm khuất sau bụi cây. Gã cúi mặt sửa lại vành nón tai bèo như không muốn cô gái nhận diện. Chân sang số, vặn tay ga. Xe gầm gừ quay một vòng, tìm đường cũ mà truy phong. Cô gái đứng một mình, gần như đồng không mông quạnh. Bụi cây ra hoa, ngầy ngật tỏa ngát hương thơm. Không. Hoa vô hương vô sắc. Mùi thơm kia vốn từ cơ thể cô mà phát sanh. Chanel hay Gucci? Làm sao biết được? Hương đồng cỏ nội đã cúi rạp mình mà say khướt trong gió thoảng ngất ngây. Cô nắm chặt sợi dây da ở cái xách đeo vai. Hoang mang, hối hận. Lạ! Sao chú kia lật đật quày quả đến nỗi quên nhận tiền cô trao. Thơ ngây! Cô không hề tưởng tượng được gã ấy đã run tay nhận nửa triệu trước khi sà tới đón cô ở cổng khách sạn. Túi cộm tiền. Im re và đứng cúi đầu. Đù má, mày cà chớn ông thịt bà già mày cú một. Hiểu không? Hiểu. Thà bất nhơn chứ chẳng thể bất hiếu. Gã rồ máy xe, ồn ào để khỏa lấp những lo toan. Và sau đó tuân thủ một cách đúng bài bản, phép tắc. Hợp quy định, đạt chỉ tiêu của mấy ổng đề ra. Vất cô gái xuống điểm X đánh dấu mực đỏ trên bản đồ bỏ túi.

Cô gái thò tay vào túi xách sờ nắn, lôi ra được cái điện thoại di động. Đã trễ. Hai thằng đàn ông đưa cả bốn tay bịt mồm ôm cứng cô ta. Mùi hương của cô, nước da trắng ngần không tì vết của cô vô tình trao cho chúng tất cả sức mạnh, vượt ngoài mức đòi hỏi khi muốn khống chế một kẻ chân yếu tay mềm. Hồ hỡi phấn khởi là thứ phương ngữ nghèo nàn, chẳng nói hết nổi mừng vui đại thắng của chúng.

Buổi chiều ở đấy thật êm ả. Hoàng hôn chưa về, mây trắng còn bay hững hờ trên nền trời xanh. Chẳng một cánh chim đảo qua. Tịch lặng. Nước mắt cô gái chảy đầy, ướt cả bàn tay hung bạo. Cho hay có khi, có nơi, ban ngày ban mặt mà quỉ dữ vẫn lộng hành!

4.
Người đàn ông đứng tần ngần, mặt lộ vẻ hốt hoảng pha chút phiền muộn, mệt mỏi. Chỗ ông đang đứng, thú thật chẳng mấy ai ưa đặt để đôi chân. Trụ sở ấy, tự bản thân, nó toát ra cái gì đấy, ngầm đe dọa. Nó là đường ranh mong manh chia cắt giữa nhất nhật và thiên thu. Tạm trú và thường trú. Nhà cửa và chấn song ngục tù.

– Vào đi.

Cánh cửa khép hờ. Tiếng nói từ bên trong vọng ra, nhắm tới ông. Ông xô cửa, mỏi gối chồn chân, đá cứng chân mềm. Nền gạch hoa đen trắng vuông tròn đánh lừa nhãn quang rối bời hai con mắt mông lung. Đồ vật trang trí trong phòng đa phần nhuộm sắc đỏ. Băng-rôn, biểu ngữ, cờ xí, huy hiệu, sơ đồ, biểu đồ ngành nghề thảy đều đồng phục. Nóng. Màu cách mạng. Ngộp thở.

– Ngồi đấy.

Ông ngó xuống chiếc ghế trống. Cái bàn gỗ tiệp màu và đàng sau gã công an mặt cau có vừa ban phát mệnh lệnh.

Ông ngồi. Ở một chiếc ghế kê sát vách, lùi sâu góc phòng có đứa con gái ôm mặt khóc nấc. Đầu tóc rối và lụa là nhăn nhàu, sắc diện áo quần thảy lấm lem bất thường.

– Ông là Trần văn đại Gia?

– Dạ phải.

– Hừ. Tên nghe oách nhỉ? Giấy chứng minh nhân dân đâu?

Người đàn ông trình tấm thẻ căn cước bọc nhựa, vói người đưa bằng cánh tay run.

– Quan hệ thế nào với cô Minh Đài?

– Thưa nó là cháu tôi, gọi bằng cậu.

– Là thế nào? Phải nói cho rõ.

– Là tôi có bà chị ruột. Lập gia đình rồi chỉ mang thai, chỉ đẻ ra đứa con gái duy nhất, đặt tên là Nguyễn thị Minh Đài. Tôi là cậu nó, là em má nó.

– Được. Lần gặp gỡ mới nhất của hai người?

– Dạ… dạ e đã có hơn mười năm. Má nó làm giấy tờ bảo lãnh, rồi thì biền biệt cách chia.

– Rườm lời! Có nghĩa là từ khi cô ấy về thăm lại quê hương giàu mạnh ông chưa hề gặp mặt?

– Chưa hề.

Người đàn ông nhìn tới hướng cô gái. Giọng ông òa vỡ cốt cho cô ấy nghe ra:

– Tại sao vậy cháu? Chớ tội tình chi mà cháu phải chịu đọa đày! Đột xuất. gây nên sự cố bất ngờ mà làm gì? Muốn cậu ngạc nhiên mà làm chi. Cậu đã già, tim mong manh lắm Đài à. Đường Yên Đỗ không bước lại nhắm chốn đoạn trường mà đi!

Ông ca cẩm, ông càm ràm mà như đang đọc thơ Kiều. Lời lẽ tuồng như oán trách số phận. Hồng nhan đa truân. Người bạn dân tỏ vẻ khó chịu khi nghe qua. Đưa tay ra dấu cho một tên công an còn trẻ lại gần:

– Sang phòng bên xem thử đã thu hoạch được gì?

Phòng bên cách ngăn bằng tường vôi viết đầy khẩu hiệu ca tụng sự chí công vô tư. Cửa gương mờ đục được mở ra.

– Chuyện gì?

– Anh Năm bảo diễn tiến vụ việc đến ngang đâu?

– Đấy. Cái túi xách của cô ta chứa đựng toàn những thứ linh tinh. Son phấn mỹ phẩm. Một cuốn sổ ghi địa chỉ, số điện thoại. Mười lăm ngàn tiền Việt nam kẹp bên trong. Hai thỏi kẹo cao su. Một đĩa CD. Một miếng băng dùng khi có tháng. Hết. Không có đô la, chẳng có tài liệu gì sất.

– CD à? Nghe thử chưa?

Dưới chân dung Hồ chủ tịch, dưới hàng chữ “Không có gì qúy hơn độc lập tự do”, ở trên cái tủ sắt sơn xám có đặt để chiếc máy màu đen. Một trong ba gã công an cầm dĩa nhạc tới, mở Power, bấm Play, sờ nút Volume: “… Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme…”

– Nhạc gì thế? Tiếng Mỹ hay tiếng Liên xô thế?

– Tiếng Đan mạch đấy. Việt kiều từ Đan mạch về mà lị.

– Ừ nhỉ. Đan mạch là chốn nao? Chúng mày biết nó rêu rao những gì bên trong?

– Im coi nào. Nó có nhắc tới Việt nam nữa cơ. Lại tuyên truyền cái gì đấy phỏng?

– Bố khỉ! Cơ quan mình có đồng chí nào am tường tiếng nước ngoài không?

Câu hỏi chẳng có trả lời. “…images de la guerre. Un film de Coppola, des helicopters…”

– Bực cả mình. Thu cất cái này làm tang chứng vật chứng. Có khi nhờ nó mà ta điều tra được cả một chuỗi âm mưu thâm độc chăng?

– Bắt buộc rồi. Thưa với anh Năm là bảo cô ấy nghiêm chỉnh viết bản tự khai, dịch minh bạch lời bài hát là rõ.

– Nhất trí.

5.
Người đàn bà chận gã mặc đồng phục bệnh viện ở hành lang thắp sáng dãy đèn xanh mướt.

– Sao rồi?

– Tiền bồi dưỡng đâu? Con bé đang nằm nghỉ. Khoảng nửa giờ thì có thể về nhà.

Người đàn bà bắt tay thằng đàn ông. Trong hai bàn tay nắm ơ hờ kia là khoảng tiền trà nước buộc phải có, bất thành văn tự. Cả hai bàn tay từng thấm nhiều máu. Bên chém người và bên cứu người, moi từ cửa mình chật hẹp ra cục máu chưa tượng hình. Rồi cái cửa mình lắm chuyện ấy sẽ rặn đẻ, vất ngoài cõi đời những đứa con lai Đài loan. Nhưng đó là chuyện mai hậu. Hiện tại, đứa con gái nhắm hờ đôi mắt, dang tay dạng chân nằm trên giường với nước da tái.

– Đau không?

Con bé mở bừng mắt ra. Mắt long lanh, mắt như biết cười khi nhìn thấy người đàn bà.

– Đau chớ. Thằng bác sĩ nó vọc rõ lâu. Nó còn đòi cạo lông cắt tỉa nghệ thuật cho em nữa cơ. Khiếp! Bàn tay nó nóng một cách lạ lùng. Bận sau lỡ có vào cô nhớ tìm cho em bà bác sĩ thì tốt hơn. Đàn bà với nhau… Cô hiểu không?

– Biết đau đớn ê chề thì tại sao còn nói tới bận sau?

– Bao lâu thì về hả cô? Chân đang còn run.

– Không gấp. Hồi nào cưng nghe khỏe hẳn tính.

– Mồm miệng đắng chát. Dắt em đi ăn tô phở cao cấp hả cô. Tự dưng sao thèm quá mạng!

Phòng có hai giường, ngăn chia bằng tấm màn vải màu xanh vấy bẩn ở đường biên. Chỗ vấy bẩn đang có bàn tay kéo nó sang bên. Tiếng những khoen sắt móc trên màn chạy xô về một phía nghe ê răng.

– Cậu đưa cháu về khách sạn đi. Cháu hãi chỗ này quá.

– Thì mình cũng nên làm đúng thủ tục. Xem kết quả vết thương có bị nhiễm trùng không đã. Bịnh ết, bịnh xi-đa, giang mai lậu mủ các thứ.

– Họ đòi bao nhiêu hở cậu?

– Trước mắt là ba triệu. Sau đó thì linh động gia giảm tùy theo mức độ khám nghiệm thuốc men.

– Gì mà dữ thế?

– Ai biểu cháu làm Việt kiều. Cháu nổi bật giữa đám đông mà cháu không hay biết. Người ta thèm khát, người ta ganh tị, người ta đố kị những thứ mà cháu có.

– Mai mốt cháu lấy vé máy bay. Cháu về lại bên ấy sớm. Cậu đừng buồn nhé. Chuyến đi thăm quê hương vỏn vẹn đúng ba ngày.

– Cậu không buồn. Cậu trách mình lúc nào cũng bó tay trước nghịch cảnh. Cậu bất lực, cháu đừng giận, xin thông cảm. Mình người Việt với nhau mà sao…

Người đàn ông bỏ lửng câu nói. Mắt đỏ hoe. Hai tay xoắn xít với nhau, bức rức, rối rắm.

– Chuyện gì đã xẩy ra?

Người đàn bà ngồi giường bên cạnh hỏi vọng sang.

– Chuyện đau buồn cá nhân giòng họ. Chị hỏi làm gì?

– Chỉ mặt thằng nào đã hại cô này. Tôi cam kết với ông là sẽ chém nó theo yêu cầu. Từ chết tới bị thương…

– Cám ơn tấm lòng nghĩa hiệp của chị. Lúc này đây người tôi đang bị bằm vụn ra. Tôi đang là kẻ u mê ám chướng. Nhưng mà chém, biết chém chừng nào mới thôi? Bọn gian ác lúc nào cũng hằng hà sa số. Chị không thấy mỏi tay sao?

Người đàn bà ngậm câm. In tuồng sát thủ đã nhìn ra chân lý, vỡ lẽ mọi căn nguyên.

– Cháu nằm xuống một tẹo, đắp chăn lên. Cậu ra ngoài tranh thủ hút điếu thuốc và gọi một chiếc taxi.

Người đàn ông kéo lại tấm màn vải. Bước ra hành lang, đi xiêu lạc. Ông xô cửa, bóng tối đổ ập xuống thành phố. Đèn đường bừng sáng và những con thiêu thân bắt đầu lao vào với tất cả sự mù lòa.

– Oan nghiệt!

Người đàn ông nói một mình. Ông đốt lửa điếu thuốc và hút nó với điệu bộ của một con nghiện đang lên cơn.

– Chị Sáu ơi! Đớn đau quá chị Sáu ơi! Ngày xưa vượt biển chị bị bọn hải tặc Thái lan hãm hiếp đến khờ khạo, giờ này đứa con duy nhất lá ngọc cành vàng của chị cũng bị bọn đầu trâu mặt ngựa Việt nam thay phiên làm nhục ở cố hương. Nó về thăm em mà làm gì? Thăm thằng cậu tật nguyền này mà được cái chi? Ta về ta tắm ao ta… Mả cha cuộc đời quá vô hậu!

Hồ Đình Nghiêm

* Viết, sau khi nghe bài hát chẳng hay “Bonjour Vietnam” của Marc Lavoine

Na Uy những dấu chân lưu lạc.

May 13, 2022  

(viết cho gia đình và bằng hữu)

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

(Quốc Kỳ Na Uy)

Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc?  Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

     Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng Sản.

Thuyển Viking – biểu tượng NaUy trên các hộp cá voi)

   Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.

(Tàu chở dầu Høegh Grandia cứu vớt chúng tôi trên biển Đông)

   Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào.

     Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương.

     Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi.  Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn.

      Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.

     Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đùa giỡn, vui chơi.

     Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa  thích thú vừa cảm động.  Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc.

     Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.

(Gia đình vừa mới vào trại Hawkins Road -Singapore)

   Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore.  Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này.  Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sử, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch. Tôi là một trong vài người may mắn được chọn.

(Cô giáo Toril và tôi làm phụ giảng cho bà)

   Vào thời điểm này, trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan chứa khoảng 10.000 người, nhưng những người được tàu Na-Uy vớt được chăm sóc chu đáo nhất. Bà Thư Ký Tỵ Nạn và bà Bộ Trưởng Xã Hội Na-Uy cũng thường sang thăm viếng.

Ông Đại Sứ – bà Bộ Trưởng Xã Hội và bà Giám Đốc Sở Tỵ Nan NaUy đến thăm viếng chúng tôi tại Bataan -Philippine)

   Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy.  Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

     Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.
     Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

(Ngày mới đến thị xã Skjetten – thuộc Kommune Skedsmo -NaUy)

     Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời.  Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được.

      Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

     Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn  đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

   Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu.

(Ba đồng nghiệp thân thiết nhất tại Postbanken – Anita – Reidun và Guldhaug)

     Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng nhận được việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bổng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

      Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng. Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông.

(Huy Vinh trượt tuyết giỏi nhất giải thiếu nhi và em gái Ngọc Quỳnh)

      Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

     Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà…

      Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền ( Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

Ngôi nhà mới dưới thung lũng Harabakken-NaUy)

     Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

    Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

(Giáng sinh trước khi ba cháu lớn đi du học Mỹ)

    Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

      Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó.

(Cháu trưởng nam Phạm Hoàng Minh và cháu gái út Phạm Ngọc Quỳnh sau khi tốt nghiệp Đại học)

    Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

(Các cháu trai – gái đã trưởng thành và có gia đình riêng)

      Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

(3 cháu nội nhỏ nhất trong ngày Quốc Khánh NaUy 17-5)

      Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Một ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

“Trăm năm bia đá thì mòn,

Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.”

(ca dao)

Ảnh bức tường nhỏ màu trắng có đục thủng một lỗ lớn in trên các tờ báo hải ngoại đã là một ám ảnh cho tôi suốt mấy hôm nay. Rõ ràng đây là một chuyện nhỏ nhen tệ hại mà chính phủ Cộng Sản đã có can đảm nhúng tay vào. Tôi không tin đây chỉ là việc làm của một cấp nhỏ thừa hành nào đó như một vài tờ báo đã đưa tin, để bảo đảm rằng chính quyền trung ương là tốt, còn tất cả việc làm sai quấy đều do những cấp dưới thực thi sai lầm. Câu chuyện những tấm bia kỷ niệm thuyền nhân trên hai đảo Bidong và Galang đã bị đập phá hay đục bỏ dưới áp lực ngoại giao của chính phủ Cộng Sản Việt Nam đối với Malaysia và Indonesia này cũng đã làm đồng bào Việt Nam tại hải ngoại phẫn nộ. Chúng ta cũng đã hiểu rằng những tấm bia kỷ niệm này do đâu mà có, nó không mang khẩu hiệu nào, lên án ai, nó chỉ nói tới sự thật vì sao những người Việt Nam đã tới đây, nói tới những người đã chết và ghi ơn đất nước đã cưu mang và giúp đỡ cho những người ty nạn. Chúng ta cũng đừng nên tức giận bởi chuyện này mà nhắc lại chuyện đóng góp của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại khi hai nước này bị thảm họa Sóng Thần, vì “thi ân bất cầu báo”, dù hai quốc gia này không liên hệ gì đến người Việt chúng ta ở hải ngoại, khi thấy người khốn khó thì phải ra tay giúp đỡ, bất kể người đó là ai, kể cả những quốc gia thù nghịch. Vấn đề chúng ta cần thấy rõ là chính quyền Cộng Sản đã bắt đầu biết sợ. Những tấm bia cao ba thước, bề ngang chỉ có một thước nằm trên những hòn đảo xa vắng, hiu quạnh, ít người lui tới, có sức mạnh gì để cho chính phủ Hà Nội phải lưu tâm, yêu cầu, bàn bạc, làm áp lực hay đổi chác với những quốc gia kia để phá bỏ nó đi. Vì “sợ người ta nhớ nên Cộng Sản yêu cầu phải đập bỏ nó đi, như đã từng đập bỏ bức tượng “Tiếc Thương” và mồ mả ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Nhưng ở đời cũng vì “sợ người ta quên” nên trong chế độ Cộng Sản, ở đầu đường xó chợ, trong hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu chúng cũng cố gắng dựng lên tượng đài, bia mộ, khẩu hiệu. Rõ ràng là chế độ Cộng Sản không tồn tại nổi cho tới một thế kỷ, đừng nói tới vạn tuế hay muôn đời. Cộng Sản Nga giết Nicholas Đệ 2 năm 1917, thành lập Liên Bang Xô Viết năm 1922, đã tan rã ngay vào cuối thế kỷ (1991). Trung Quốc cướp chính quyền năm 1949, chính quyền công nông ngày nay đã thành thứ mèo vằn vện, mặc dù cũng là mèo.

Do vậy tượng Ông Lê Nin “ở bên Nga”, lại được Cộng Sản đem đặt tại “vườn hoa nước này” , tượng ông tổ Tây Các Mác râu xồm lần lượt phải phá bỏ, dù là phá bỏ lén lút trong đêm, nhẹ nhàng không để gây tiếng động.

Cũng vì sợ người ta quên, nên lăng bác Hồ phải xây ngay giữa trung tâm Hà Nội, hoàn toàn đi ngược lại truyền

thống dân tộc và văn hóa Việt Nam có từ nghìn năm trước (xác khô nằm trên cạn, ở chỗ thị tứ có đông người và xe cộ qua lại), nhưng một người lái taxi cho du khách ngày nay đi ngang đó cũng chỉ giới thiệu là “mộ ông Hồ” chứ không ai kính cẩn gọi là “lăng Bác” nữa, trừ mấy mụ nhà quê và các bác ở tận Sơn La, Lai Châu, Sơn Tây … được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh nhà thuê xe cho đi tham quan “lăng Bác” luôn tiện cho biết Hà Nội “mặt ngang mũi dọc nó như thế lào!”

Rõ ràng chính quyền Cộng Sản không những không tôn trọng mà lại muốn chối bỏ sự thật, sửa lại lịch sử, che

mắt quần chúng và nhất là những thế hệ về sau. Làm sao một biến cố lớn như ngày 30 tháng 4 lại không là một biến cố để đời. Để đời không phải vì ngày đó Cộng Sản nuốt trọn miền Nam, mà ngày đó đã có những con người oanh liệt miền Nam, tìm đến cái chết thay vì chọn sự cao bay xa chạy hay đầu hàng để xếp hàng vào trại cải tạo. Ngày đó và về sau đã có hàng triệu người thà mất quê hương còn hơn gông cùm, chấp nhận bị nhận chìm dưới biển sâu, bị hải tặc, cướp bóc hơn là sống với Cộng Sản (hà chính mãnh ư hổ- cai trị hà khắc hơn là cọp dữ).

Câu chuyện này rúng động cả toàn cầu, đánh thức lương tâm nhân loại, với những ai còn mơ ngủ nghĩ đến

thiên đường Cộng Sản. Vậy thì một tấm bia trên một hòn đảo ở giữa Thái Bình Dương, một tấm bia đá, một tấm bia xây bằng gạch hay đúc bằng bê-tông mà ông cha ta xưa đã khẳng định rằng: “trăm năm bia đá thì mòn”, khiến cho một chế độ đi ngược lại nguyện vọng của con người, đã phải run sợ. Vậy thì cái “bia miệng nghìn năm”, chế độ ấy làm sao tránh khỏi. Chúng ta hô hào, vận động giữ lại một tấm bia ở một nơi xa, có thể không bao giờ nhìn thấy, mà chúng ta quên trao lửa lại cho con em, quên dạy cho con em bài học lịch sử cần thiết về cội nguồn, về nguyên do sự tan rã của chế độ Cộng Sản trên địa cầu và vì sao người ta chán ghét chế độ Cộng Sản hãi hùng đến thế? Bia đá là hữu hạn, bia miệng là vĩnh cửu. Cộng Sản tầm thường sợ bia đá mà quên nỗi sợ bia miệng. Chúng ta buồn vì mất bia đá, nhưng thật sự chúng ta đã nói hết sự việc với con, với cháu, với những người bản xứ chung quanh: ta là ai, từ đâu chúng ta đến đây, và vì sao chúng ta phải bỏ nước ra đi. Những suy nghĩ đó chính là những tấm bia miệng nghìn đời không ai có thể xô đẩy, đập phá hay tiêu hủy.

Tôi nghĩ thấy cần thì làm, nhưng những thỉnh nguyện thư của chúng ta đối với Malaysia và Indonesia rồi cũng

chẳng đi tới đâu, vì các nước này sợ láng giềng gần chứ không nghĩ đến những bà con xa. Có người đã nói tới việc đồng bào vượt biển của chúng ta trở về miền đất cũ để du lịch, đây cũng chỉ là mối lợi rất nhỏ. Cũng có vị nhắc tới vấn đề “pháp lý”, cho rằng đã dựng lên thì không thể phá đi, nhưng tôi không thấy liên quan gì vấn đề pháp lý ở đây cả.

Chúng ta phải thấy một điều rằng: lịch sử của người Việt vượt biển ra đi, sức mạnh của Cộng Đồng đã làm cho

chính quyền Cộng Sản sợ hãi, cho nên chúng đã làm những việc rất nhỏ nhen, bần tiện. Chỉ có những người ngây thơ như ông Nguyễn Cao Kỳ mới tin rằng Cộng Sản sẽ nghe lời ông mà hòa hợp, hòa giải bằng cách cho xây dựng lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Tôi có thể cá với bất cứ ai, một ăn mười. Vì một vài tấm bia nhỏ nhoi trên những quần đảo xa xôi mà chúng còn vói tay tới vùi dập cho hả, thì một cái nghĩa trang đồ sộ, dấu tích của những người lính VNCH chiến đấu chống chế độ Cộng Sản nằm ngay sát với Saigon, làm sao người

Cộng Sản có thể chịu được khi lòng họ còn hận thù chất ngất. Nói gì tới một lời xin lỗi về những quá khứ sai lầm tác hại đến đất nước và nhiều thế hệ Việt Nam từ cái đảng này?

22/6/05

Huy Phương

Thương tiếc

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 2 Aug 2026

Có người lính mang tên Thương Tiếc

Cô đơn ngồi giữa nghĩa trang buồn

Anh thức mấy ngàn đêm không ngủ

Cầm súng canh giấc ngủ bạn bè

Có người lính trong đêm lặng lẽ

Bước nhẹ nhàng ra khỏi nghĩa trang

Ghé nhà dân xin nhờ ngụm nước

Rồi tan đi theo bóng sương mờ

Bao đồng đội về đây an nghỉ

Nhận giấy tờ thuyên chuyển vùng năm

Nơi vùng đất muôn đời câm lặng

Những linh hồn bay lượn cùng nhau

Có người lính bốn mùa lặng lẽ

Mắt buồn thiu đếm xác bạn bè

Trên chiếc xe nhà binh tang tóc

Chở thi hài người lính phương xa

Có người lính mang tên Thương Tiếc

Nhìn mẹ già rũ rượi khóc con

Nhìn tang trắng trên đầu vợ lính

Khóc nghẹn ngào bên nấm mồ tươi

Có người lính không còn chổ cũ

Đã ra đi biền biệt lâu rồi

Đồng đội anh vẫn còn ở lại

Điểm danh hoài nhưng chẳng còn anh

Anh ra đi bạn bè ở lại

Điểm danh hoài nhưng chẳng còn anh

Canh bạc của Tập Cận Bình

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 7th, 2020

Post by Sơn râu 2 Aug 2026

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán.

Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Ðường.

Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’

Nhà thơ Tản Ðà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.

Vài loại virus được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó

Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Ðông hay).  Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.

Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.

Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy đã làm 6,000 người mắc bệnh và 132 người đã chết. Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.

Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Ðô (từ Ðông sang Tây).

Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.

Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.

Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Ðừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”

Còn ai lỡ tới Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.

Ðàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo, chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.

Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Ðại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có. Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.

Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.

Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang. (Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).

Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.

Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.

Hành động nầy bị các chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!

Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỹ như vậy cho chắc ăn!

Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.

Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng: “Dịch bệnh đã được kiểm soát!” Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.

Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40,000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.

Thiệt là quái đản!

Các quan chức CS luôn nói dóc, che giấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Ðể khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi.

Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên truyền hình mếu máo, biện minh là: “Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế, sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.

Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và bảo đảm an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ.

Ðiều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.

Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Ðảng lãnh đạo cái giống gì hè?

Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.

Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn.

Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán.

Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trạng cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.

Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở  nên thành phố ma. Ðường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại.

Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh

gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất cảng; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề!

Mùa Cúm bên Trung quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.

Phải thân chinh nắm quyền chỉ huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Ðược ăn cả, ngã về không!

Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới.

Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!

Ðuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?

ĐXT

Melbourne

Bóng mây ngày cũ

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 15 Apr 2017

Post by Sơn râu 2 Aug 2026

Chân dung Hồ Đình Nghiêm – dinhcuong

Tôi gặp nhà văn Mai Thảo 4 lần. Gặp thi sĩ Tô Thuỳ Yên 5 lần. Đó là chưa tính tới những lần thấp thoáng nhìn thấy họ qua chữ viết, qua thơ văn họ giàn trải. So ra, tôi may mắn hơn kẻ khác, kẻ ưa viện dẫn Hán Nôm: Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình.

Bút hiệu của hai vị này, đã có một thời, tôi từng bị họ mê hoặc qua thứ khí hậu họ dựng nên. Họ quả tài ba khi hô phong hoán vũ bằng một thứ bí kíp phải có duyên phận mới sở hữu được. Nhà thơ Tô Thuỳ Yên dung dị, xuề xoà, chừng mực trong khi nói chuyện, kề cận anh không ngỡ đó là một cựu sĩ quan có quân hàm khá lớn, lại càng không tưởng được người ấy là tác giả của vô vàn bài thơ thượng thừa rất mực. Trong hai thi tập anh ký tặng; “Thơ Tuyển” (1995) và “Thắp Tạ” (2004), đọc suốt, tôi chẳng ngó ra một hạt sạn nào cả. Toàn bộ thảy hay tuyệt, hay từ a tới z. Hay tới bến. Thành thực để nói, những tập thơ của các thi sĩ khác dường như vấp phải một vấn nạn: Có đôi ba bài chẳng mấy hay nằm chung đụng lẫn lộn ở bên trong.

Chân dung Tô Thùy Yên – dinhcuong

Tôi nói nhà thơ Tô Thuỳ Yên là người giản dị, tính tình cởi mở, dễ tiếp cận bởi nhớ có lần họp mặt, vợ tôi tuy “ngoại đạo” nhưng do ngưỡng mộ người làm ra bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang” nên nức lòng dẹp bỏ tính rụt rè cố hữu để tới diện kiến. Khi nghe giới thiệu, nhà thơ đã rộng mở miệng cười: Ủa, hoá ra đây là Bích nhỏ, để anh chỉ Bích lớn cho xem. Vô tình cả hai ma-đàm đều mang trùng tên và Bích chị Bích em đã ngồi bên nhau an tâm suốt đêm dài.

Chân dung Mai Thảo – dinhcuong

Không như Tô Thuỳ Yên, bao quanh con người nhà văn Mai Thảo có thứ vỏ bọc mơ hồ làm rào chắn, khó lân cận. Nhưng một khi đã được kề gần, vẻ xa lạ và ít nhiều khinh mạn kia biến đổi thành một hấp lực, bởi nhà văn Mai Thảo có lối nói chuyện rất cuốn hút. Nghe anh kể chuyện về Bùi Giáng, cả một hội trường đông người ở viện đại học George Mason vùng Fairfax bên Virginia thính giả như bị hớp hồn đồng loạt im sửng lắng nghe. Người thuyết giảng đứng nghiêng vai trên bục, vẫn cái dáng cô đơn lừng lững cố hữu, như một vị tì khưu, như một con tê giác, tay không cầm giấy và chữ mê hoặc luân lưu thoát ra từ miệng, từ tấm lòng biết nâng niu cái đẹp có ở một nhân tài dị kỳ đang khuất bóng chốn xa. Khi ngồi đâu vai bên bàn tiệc, anh nói: Tôi có một điều không may, một sự hối tiếc thì đúng hơn, đấy là tôi chẳng được diện kiến nhà thơ Tú Xương. Điều Mai Thảo nói khiến tôi tự vấn lòng, tự tìm ra một khuôn mặt tài danh khuất lấp, để giả như nghe anh hỏi: Cậu thì sao? Tôi hẳn có ngay câu trả lời: Tôi vẫn ước được đối diện với Thanh Tâm Tuyền, được ngó tận mắt “một đoá trăng tàn lẩn lút bay”.

Chân dung Thanh Tâm Tuyền – dinhcuong

Anh Thanh Tâm Tuyền nói giọng Bắc, tiếng nhỏ, trầm ấm. Rất hoang đường, chuông điện thoại reo một sáng trời lạnh và từ vùng Minnesota truyền qua sóng một ngữ điệu nhấp nhô làm say lòng. “Tôi tính sang bên ấy chơi ít hôm, nhưng hãy nhớ giữ kín thông tin này, nhé. Tạm thời tôi chưa muốn một cuộc gặp chộn rộn đông người”. Tôi vui vẻ hứa, tôi phấn chấn tự vẽ ra một viễn tượng và tôi nôn nóng chờ đợi. Tê Tam Thừa bảo anh sẽ gọi lại trước khi đã định ngày lên đường. Ngày lại ngày, tuần qua tháng, tôi vẫn không hiểu vì sao đã chẳng còn một cuộc điện đàm lần thứ hai. Rồi năm sau, đột nhiên nghe hung tin anh vừa “lên đường”. Đã lâu, anh có viết ở đâu đó, có vẻ tâm đắc lời của Keats: “Hạnh phúc thay ở trần gian này lại còn có nấm mồ”. Như vậy, vĩnh viễn tiếng chuông điện thoại sẽ bằng bặt thôi gióng tiếng. Tôi ngồi thừ ra, buồn quá đỗi. “Mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây”. Chút hình ảnh mông lung có trong thơ Bùi Giáng hiện về:

Chân dung Bùi Giáng – dinhcuong

Rõ là một lời chào. Chỉ chào nhau một tiếng, thế thôi. Không xuân hạ thu đông gì nữa cả. Tuyệt đối tàn tạ. Miên trường vĩnh cửu. Nhà văn Mai Thảo trước khi mất có làm bốn câu thơ:

“Có thể ta không còn ở nữa

mà đã xa rồi, xa rất xa

với giải mây kia và nắng ấy

thôi ở thôi còn với chính ta”.

Và cũng giống Mai Thảo, tôi buồn bã để thú nhận: Tôi có một điều không may, một sự hối tiếc thì đúng hơn, đấy là tôi chẳng được diện kiến nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Chung quy, ba khuôn mặt nổi trội của nhóm Sáng Tạo ngày nào, tôi chỉ có cơ duyên được hàn huyên cùng hai vị. “Bếp Lửa” thứ ba tựu trung vẫn là một thắp sáng đầy hối muộn giữa hiu quạnh chẳng được ngồi kề sưởi ấm.

“Vẫn em dáng cây nghiêng nẻo khuất

Sương muộn ham mê thức lá buồn

………..

Vẫn em đoá quỳnh run hoảng nở

Hương thầm choàng riết cõi đêm ta”.

Thơ ấy làm năm 1973, tới 1979 khi đi tù ở Yên Báy, nhà thơ tỏ bày:

“Đầm mình trong hạnh của ẩn mật

Mắt hoen nhoà hứng giọt thiên thâu

Dò dẫm lối về đêm tối mịt

Sông xa núi thẳm quê nhà đâu?”

Hai cảnh giới khác biệt, hai hoàn cảnh đối nghịch nhưng vẫn nhất quán một hơi thở, một địa phận riêng tây. Nhà thơ từng giải bày: “Thi ca tới với bạn không hẹn trước, không định ngày, định giờ. Người ta không thể tìm vì không biết nó ở đâu. Chỉ còn là một công việc đơn giản: Đón nhận và trao đổi với nó. Thơ đòi hỏi ở bạn một điều duy nhất: Giữ cho được tiếng nói thuần khiết và sau đó tiếng nói ấy sẽ quyết định đời sống chính nó”. (Làm thơ trong tù cải tạo).

Lùi lại năm 1970, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền phụ trách phần mục “Âm Bản”, những ghi nhận hàng tuần trong báo Khởi Hành, tôi đọc thấy một đoạn thú vị, xin được chép lại, (vay mượn từ nguồn của huyvespa.blogspot.com):

“Anh có thấy không? Không ai nói viết thơ cả, viết thư thì có. Khi người ta nói làm văn đó là có ý dè bỉu. Một nhà văn làm văn, thật không có gì miệt thị hơn lời ấy. Nhưng một người làm thơ làm thơ lại là lẽ tự nhiên. Chỉ ngô nghê khi anh nói người làm thơ viết thơ.

Như thế anh thấy gì?

Giản dị hết sức, làm không phải viết. Làm thơ không cần viết. Không cần viết nghĩa là không cần tờ giấy, không cần cây bút, hơn thế không cần cả chữ. Phụ tùng hết thẩy. Một anh chàng làm thơ đã hùng hồn tuyên xướng: “Nếu ai cướp mất bút tôi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá…” Nghe cũng rung đấy, nhưng cần gì phải thế. Anh chỉ cần đọc lên cho người khác nghe. Thế là xong. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Thơ gốc như thế. Nó chỉ cần có tiếng nói, không cần chữ. Có chữ ghi chép lại càng hay”.

Đoạn khác:

“Thụ động hay chủ động, mê mẩn hay sáng suốt, trước tiên viết chỉ là sự ghi chép. Anh ngồi lại một chỗ, tạm gác đời sống, ghi chép lại những gì đã sống qua. Không bao giờ anh viết được những gì đang ngọ nguậy sinh thành nơi anh. Không bao giờ. Thơ có thể”.

……………….

“Thơ nẩy ra làm ra những nhịp thở, những phút sống ngay chính lúc đó. Văn chương không “làm” ra cái gì hết. Văn chương chỉ là sự ghi chép. Có chăng chỉ là những tín hiệu của một đời sống ở đâu ngoài những câu kệ tan nát”.

………………..

“Có lẽ văn chương là sự quy chiếu. Trong văn chương có thể có một chút hơi thơ nào đó nhưng không bao giờ văn chương trở thành thơ như người ta mơ ước. Văn chương phát sinh để sống cuộc đời của riêng nó, nó có nghĩa của nó. Cái nghĩa của tấm gương vỡ, cái nghĩa của một tham vọng, cái nghĩa của niềm bất hạnh, cái nghĩa của một chứng bệnh… Nói chung, mắc văn chương là mắc chứng bệnh lèm bèm”.

Có lẽ tôi mắc chứng bệnh lèm bèm. Nhưng tôi sẽ lèm bèm bởi cho tới giờ phút này, đọc lại những trích đoạn của Thanh Tâm Tuyền viết từ năm 1970, tôi vẫn thấy nó mới, nó sướng. Nó có thể dùng cho những ai tập tành viết văn thế một lời khuyên nhủ: Bạn có thể lèm bèm nếu bạn có khả năng. Trong “Âm Bản”, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền có khi chỉ viết một dòng ngắn: “Tôi vừa đọc được một câu khá thú vị: “Mỗi người suốt đời chỉ nói mỗi một câu và chỉ dứt khi chết”.

Anh Thanh Tâm Tuyền đã thôi nói, nhưng chỉ mỗi một câu của anh thôi, với tôi, nó có đời sống riêng. Nó tạo dựng ra một con đường và tôi nghĩ, con đường ấy đã có lắm kẻ đặt chân vào. Tựa như Trịnh Công Sơn, khi nằm xuống, phía sau hun hút là một khoảng trống. Đôi vì sao rơi rụng và bầu trời chừng như hoang lạnh đen sâu.

Nhà thơ Bùi Giáng, mà Mai Thảo cũng như Thanh Tâm Tuyền đều yêu mến, đã từng “giả bộ” viết lại Nam Hoa Kinh rằng: “Không biết làm thơ mà cứ ưa lôi chuyện thơ ra bàn, ấy là đạo vậy!” Tôi nào bàn chuyện thơ, chẳng qua vì tưởng tiếc một người mà đâm dài lời vậy thôi:

“Bây giờ tôi đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con”.

Xin nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn nhà thơ Mai Thảo và “Đại ca” Bùi Giáng mãi ngậm cười nơi chín suối.

Hồ Đình Nghiêm

April 15, 2017

Hạnh phúc xót xa

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 2 Aug 2026

Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai , nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi điểm danh tất cả bà con, bè bạn xa gần. Vợ Chồng Tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra tông tích họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành quan viên hai họ. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên Vợ Chồng Tôi được chọn để điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa?

Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng , nhưng lại đúng vào ngày mà Vợ Chồng Tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu Cháu Ngoại. Vé máy bay đã búc rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết Cha Mẹ hay Cô Dâu Chú Rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen . Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo forget it!

Sáng Thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.
– Vâng, đúng là tôi, nhưng Chị có thể nói rõ hơn về Chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.
– Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na Uy, Anh làm thông dịch giúp Em đó . Tên Em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc Anh Chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na Uy.

Tôi giật mình nhớ ra ngay . Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.

Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm Vợ Chồng Tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.

Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na Uy. Được Thầy Cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những Thuyền Nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na Uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt Nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na Uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na Uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na Uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.

Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh Sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na Uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang . Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện , tôi vẫn xin giữ cái job phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị tai nạn nghề nghiệp không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển , tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na Uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều tế nhị. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn , nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học , điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình , khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày . Bởi vốn liếng tiếng Na Uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói . Có lần nghe ông dặn dò :
– Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.

Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong , thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này . Nhiều lần tôi xin từ chối , nhận mình không đủ khả năng , nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.

Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na Uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na Uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo , nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.

Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn , trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô Tiếp Viên Hàng Không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ . Trông Cô Ta tiều tuỵ , xanh xao . Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà , Cô gật đầu , lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng , không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là Cô Ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá , tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện . Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.

Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ , tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khoẻ rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp Cô sớm hồi phục sức khoẻ và bảo vệ thai nhi.

Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, Cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại. Một vài câu hỏi Cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo Cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, Cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người Cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với Cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, Cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy Cô có khuôn mặt khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa Cô lên một phòng riêng ở tầng ba , tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ Cô ngồi dậy theo yêu cầu của Cô, dịch cho Cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi Cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá , rồi chào Cô ra về , sau khi chúc Cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi , nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt , tôi biết Cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi. Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của Cô . Hôm nào Cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt Nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho Cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà Cô thích đọc.

Sau một tuần lễ, sức khoẻ của Cô khá hơn nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, Cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho Cô quà, an ủi và khuyên Cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, Cô cứ nói ra mỗi lần Ông đến thăm.

Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác , mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh Sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp Cô sáng hôm sau . Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, Mẹ Cô là cô Giáo và Cha là một sĩ quan cấp Tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khoá Võ Bị với Cha Cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi 3 ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khoẻ mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ . Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy và bắt theo khoảng mười cô gái . Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác.

Vừa mới lên tàu , bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ . Chỉ duy nhất có Kiều được thoát , không bị hiếp , nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

– Tại sao Cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh Cảnh Sát ngạc nhiên hỏi.
– Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên Thuyền Trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

Tối hôm ấy, Cô đã bị cướp đi đời con gái . Qua một ngày kinh hãi , biết mình không thể chống cự, Cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, Cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ Cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho Cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành Cô ăn, nhưng Cô không thể nào nuốt nổi , dù bụng đang đói . Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, Cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng Cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong nỗi dày vò , mặc cảm và vô vọng như Cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, Cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

Anh Cảnh Sát ngồi bất động nghe Cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho Cô lau nước mắt và mời Cô một ly nước soft.
– Rồi đời sống của Cô trên đảo ra sao trước khi Cô được cứu thoát? Anh Cảnh Sát hỏi.
– Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.

Đó là một đảo hoang. Một trong những hậu trạm. Cứ 4-5 hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác chiến lợi phẩm, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng , phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm . Không biết vì nghĩ là Cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép Cô ăn và bắt Cô uống rượu . Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của Cô. Hắn lột hết áo quần Cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích , nhưng cả thân xác và tâm hồn Cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùn , không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.

Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi Cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời . Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình , Cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khoé mắt, nhưng giúp Cô tỉnh táo. Bỗng Cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là Cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần , mẹ đã ôm Cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, Cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.

Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp Cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề, hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng , và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày Cha Cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó , rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con Cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ Mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với Cô, chỉ còn cách duy nhất, là Cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của Cô, cũng là con của một người bạn cùng khoá với chồng , cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.

Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ , hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm Cha Cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt , nơi ông đã gặp Mẹ Cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ , từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khoá, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như Cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào . Không bao giờ còn tìm lại được!

Đầu óc mơ hồ , tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thuỷ Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, Cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi Cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát , thẫn thờ gọi mẹ, gọi em và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

Tôi định đưa tay bảo Cô ngừng kể , để tôi kịp dịch lại cho anh Cảnh Sát, đang hồi hộp ngồi chờ , nhưng chợt thấy Cô cũng đang khóc. Anh Cảnh Sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho Cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh Cảnh Sát nhờ tôi hỏi, nếu Cô muốn bảo lãnh cho Mẹ và các Em còn ở Việt Nam, Anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho Cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ 6 đến 8 tháng, Cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, Cô lắc đầu:
– Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn Mẹ và các Em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua và nhất là cái thai trong bụng , em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.

Ngần ngừ một lúc Cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm Cô sẽ trả. Anh Cảnh Sát gật đầu , hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay Cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm Cô để xin hỏi thêm Cô ít điều bổ túc hồ sơ.

Hai hôm sau , qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10 .000 kroner (khoảng 1 200 USD), để giao lại cho Cô và yêu cầu Cô ký tên vào biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu Cô mấy trái xoài chua, lần trước Cô bảo là Cô rất thèm. Gặp lại tôi, Cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy Cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo Cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi Cô chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho Cô số tiền của Phòng Xã Hội và bảo đó là tiền Cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này , cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo Cô yên tâm, đừng lo lắng gì về chuyện tiền bạc . Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình Cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na Uy vớt, mới đến Na Uy tám tháng , nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới Cha Cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày Cô theo Cha ra đơn vị, hoặc cùng Mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường . Khi tôi đứng dậy cáo từ, Cô viết tên và địa chỉ của Mẹ Cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt Cô sáng lên niềm vui.

Một lần Cô ngỏ ý muốn học tiếng Na Uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na Uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho Cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho Cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho Cô vài câu tiếng Na Uy. Trong đó có một câu Cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà Cô rất thích: Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa.

Khi được biết là sẽ sinh con trai, Cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy Cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung . Gần tới ngày Cô sinh, tôi xin phép Cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho Cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết Cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của Cô và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với Vợ Tôi là Chồng Cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng Cô gật đầu.

Cuối tuần, Vợ Chồng Tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho Cô một it thức ăn Việt Nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ.

Cô sinh vào ban đêm , lúc trời đã vào Đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ Chồng Tôi đến phòng sinh lúc Cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh Cô , còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là Cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng Cô. Thằng bé đang nằm trên ngực Mẹ. Tôi thấy Cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

Sau một tuần ở bệnh viện, Mẹ Con Cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho Cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho Cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc Mẹ Con Cô.

Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn Cô ở. Không phải để thăm Cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho Con Cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy Cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na Uy. Bác sĩ Hauff hỏi là Cô có cần ông giúp điều gì nữa không, Cô bập bẹ trả lời: tôi sẽ nói với ông sau. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm Mẹ Con Cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng , cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là Cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là Cô đã chuyển đi một thành phố rất xa và theo yêu cầu của Cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên , tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà Cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na Uy và chỉ cho Cô đọc đi đọc lại nhiều lần: ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa. Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao Cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

Từ hôm ấy , tôi không bao giờ gặp lại Cô. Vài lần nhớ tới Cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác , hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ Cô không muốn gặp lại tôi , một người biết quá nhiều về Cô.

***

Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà , Vợ Chồng Tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của 25 năm trước . Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45-46. Vợ Chồng Tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

– Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?

Câu nói đùa của bã xã tôi làm Cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:
– Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.

Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay Cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong mới lên tiếng:
– Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.

Cô cười bẽn lẽn:
– Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.

Tôi cười:
– Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na Uy Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.

Đúng là Cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ Con Cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau Cô bảo lãnh Mẹ và hai cậu Em sang đoàn tụ . Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người . Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín Mẹ và các em điều đau thương này , nên đến lúc qua đời, Mẹ Cô vẫn tin đứa Cháu Ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na Uy được 16 năm.

Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng và nhờ Mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả 3 Chị Em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư  còn Cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na Uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau 6 năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

– Vợ Chồng Tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của Mẹ Con Kiều cùng hai cậu em và cũng xin chia buồn về việc Bà Cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp Bà.

Đang vui, bỗng Kiều xúc động:
– Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thò , chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.
– Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn , khốn khổ . Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi.

Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:
– Sao Cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.
– Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.

Tôi cười phụ hoạ:
– Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác . Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi Cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.
– Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà . Ngoài gia đình , chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi . Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước . Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải không?

Cả ba chúng tôi đều cười.

Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ . Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, Cô bắt đầu một câu chuyện khá . Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai Cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn 3 tháng trước. Một cô gái Việt Nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.

– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! vợ chồng tôi khen.

Cô cho biết cô Dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na Uy và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông Bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có 5 người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ Vợ Chồng tôi, tuổi tác ngang với Cha Mẹ Cô Dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo Cô, là để cho cháu Bách và chính Cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.

– Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na Uy này biết chuyện Trác và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.
– Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?

Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:
– Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết Ba của anh Trác là Ông Nội Cháu , thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em . Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải toả được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.

Nhớ tới hai người em trai của Cô, vợ tôi hỏi:
– Còn hai cậu em của Cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với Cô?
– Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na Uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.

Cuối cùng, Vợ Chồng Tôi quyết định huỷ bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc Ba Má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc.

Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng Thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa Hạ . Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm điểm xuất phát. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na Uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ Chồng Tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật , theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá , trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ , chỉ có vợ chồng tôi , hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú , có học , chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị Cảnh Sát Ngoại Kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.

Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo , hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến m , sau khi lạy Ông Bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn Cô Dâu Chú Rể đến dâng rượu và xin lạy Mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích , một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của Mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin Mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người Cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.

Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc.

Không khí bỗng lắng xuống . Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên , đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 Aug 2026

Miếng ăn là miếng tồi tàn … (ca dao)

Trong thời gian đi tù “học tập cải tạo” ngoài Bắc, một ngày nọ ở trại Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, trong lúc tôi bị bệnh phải nằm nhà, có một thiếu tá bộ đội Bắc Việt ghé thăm trại. Đến “lán” tôi ở, ông xưng là thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ và hỏi tôi thuộc quân binh chủng nào, cấp bậc gì. Sau khi nói cấp bậc và cho ông ta biết là tôi thuộc ngành chiến tranh tâm lý đóng quân ở Saigon, viên thiếu tá la lên ra tuồng mừng rỡ như gặp bạn cố tri, ông ta hấp tấp hỏi tôi:

-“Ở trong ngành tâm lý chiến, các anh biết anh Phạm Huấn và Phan Nhật Nam không?” Tôi thực thà đáp rằng Thiếu Tá Phạm Huấn thì làm chung phòng với tôi, còn nhà văn Phan Nhật Nam cũng là người quen biết.

Thế là hình như muốn tâm sự chuyện gì đấy với tôi, viên thiếu tá ngồi xuống trên cái chõng tre cạnh chỗ tôi nằm. Ông ta kể lại là hồi mấy năm trước khi miền Nam bị mất, có một phái đoàn quân sự bốn bên ra thăm Hà Nội, trong đó có mấy ông sĩ quan nhà báo Phạm Huấn, Phan Nhật Nam và Dương Phục đã được “bên ta” đón tiếp rất nồng hậu, còn đãi một bữa cơm trưa thịnh soạn, thế mà khi về các anh ấy lại viết báo nói xấu miền Bắc (!) Viên thiếu tá nhấn mạnh đến sự đãi đằng của một bữa cơm trưa hai lần và có ý trách móc mấy ông phóng viên miền Nam đã không biết điều, người ta đã cho ăn một bữa cơm như thế mà không mang ơn, lại còn viết báo nói xấu chế độ. Có lẽ qua sự tuyên truyền quá đáng, họ cho rằng dân chúng miền Nam bị bóc lột đói rách tả tơi, đói khát, thèm ăn, thèm uống, do đó mới có chuyện sau tháng 4-1975, bà con ở ngoài Bắc vào thăm, đem cho chục chén ngang để ăn cơm. Nhưng tại sao trong khi đó họ lại cho rằng sĩ quan miền Nam hiếp đáp dân chúng, nên nhà cao cửa rộng (một đứa cháu tự miền Bắc vào đã hỏi tôi, cậu đại úy mà nhà có thế này thôi sao?), lại cho một bữa ăn đãi đằng là quan trọng như thế?

Sau này tôi mới biết miếng ăn ở miền Bắc XHCN nó quí giá đến ngần nào, khiến viên thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ kia phải nghĩ rằng cả mấy ông sĩ quan miền Nam, phải “xôi chùa ngọng miệng”. Mới đây, ở Mỹ gặp Phan Nhật Nam, nhắc lại câu chuyện cũ, tôi muốn biết thực sự cái bữa ăn đó nó ghê gớm như thế nào, đến nỗi viên thiếu tá Bộ Nội Vụ cứ nhắc đi nhắc lại và cho rằng đáng lý ra các ông sĩ quan kia phải hàm ơn họ mới phải. Phan Nhật Nam đã ở tù “cải tạo “14 năm mà trí nhớ còn rất tốt, anh còn nhớ rất rõ, đó là ngày thứ sáu 4 tháng 3 năm 1973, phái đoàn 4 phe từ Saigon ra Hà Nội bằng máy bay C.130, đã được đưa về khách sạn Metropole. Cái gì chứ chuyện “trình diễn” thì Hà Nội là chuyên viên số 1. Khách sạn mới quét còn hăng hắc mùi vôi, và bữa cơm “chiêu đãi” được coi là thịnh soạn vì có bia Trúc Bạch, cơm gạo tám thơm, giò chả …

Những người miền Nam đi công tác vào vùng địch khi nào cũng cẩn thận mang theo sandwich, nước uống, do đó mà bữa cơm trưa hôm ấy, vì lịch sự bia phải nhấp môi, chứ không ai đụng đến thức ăn. Thế là phe chủ nhà, lâu lắm mới dược chút cơm trắng, tí bia, tha hồ mà đóng vai tiếp khách, “tiếp thu” tận tình. Ông Phan Nhật Nam lại đùa dai bằng cách lấy một nắm cơm gạo tám nói là đem về Saigon cho biết gạo tám thơm như thế nào, thế là ông văn nô Tô Hoài sau này hô hoán lên là quả miền Nam đang đói thật.

Sau khi ra tù, nhân dịp về Huế và gặp lại một đứa cháu hiện làm cho một công ty gia công nhôm đồng hay lâm sản gì đó đã mô tả miếng ăn như sau: Mỗi khi có “chiêu đãi” phái đoàn này nọ, anh chàng giám đốc luôn luôn nói nhỏ với nhà hàng gói thêm cho anh ta ba phần ăn đem về cho vợ con và tính luôn vào hóa đơn thanh toán cho cơ quan.

Điều này, thực ta cũng lấy làm lạ là vì “giải phóng” đã được hơn mười năm, đâu đến nỗi còn đói khát như những ngày đầu, hay là vì bản chất tham ô, bần tiện thì lúc nào cũng vậy. Ai mời đi ăn điểm tâm buổi sáng, thì phải sữa, soda, hột gà là thứ đắt tiền nhất, ăn thì phải tô đặc biệt có hai hột gà, có khi ăn bún bò cũng thêm hai hột gà cho ra dân chơi sành điệu. Ba mươi năm sau, mặc dù sau khi đã có chức, có quyền, đối với quan quân trong chế độ ấy, miếng ăn vẫn còn là một thứ gì quí giá, được đánh giá quá lớn, bây giờ, đi theo chữ “ăn” lại thêm chữ “nhậu”. Chuyện kể, ở Biên Hòa có một Việt kiều về mở quán cà phê kinh doanh, nhưng công an phường không thích uống cà phê mất ngủ mà chỉ thích nhậu thịt rừng với bia ngoại. Họ mời ông đi nhậu bữa đầu tiên, ông nghĩ đó là xã giao và làm quen, ông nhận lời và lần đó dù công an mời ông, ông phải trả hơn một triệu đồng tiền ăn uống.

Lần thứ hai, công an phường mời nhậu, ông Việt kiều không né tránh được đành dẫn xác đi, lần này con số người tham gia đông hơn, không phải chỉ toàn thể công an phường treo bảng “đi họp” mà cả bạn bè, bà con của các bạn dân nữa. Ông chủ quán cà phê bấm gan vay nợ trả hơn hai triệu đồng cho một bữa nhậu, két bia chất cao thành tháp. Đến lần thứ ba, thì ông Việt kiều “tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng sách”, ông trốn trong cầu tiêu và nhờ vợ ra báo ông đi Saigon mua hàng vắng. Công An vẫn có kế hoạch, chúng dẫn nhau ra quán cũ, ăn nhậu ngất trời và bảo chủ quán ghi “hóa đơn” cho ông Việt kiều nọ, đặc biệt là còn hào hoa, rộng rãi “boa” cho ba em chiêu đãi, chuốc rượu trong quán nhậu và số tiền này cũng cộng luôn vào phiếu thanh toán. Tôi nghĩ là sau vụ này, chắc vợ chồng ông Việt kiều đã đóng quán kinh doanh, “di tản chiến thuật” về Mỹ rồi.

Cũng như nhiều người có cơ sở làm ăn trong quận, một ông chủ lò nhôm phải thay phiên tổ chức các bữa nhậu linh đình “đóng hụi chết” cho công an quận, không phải ngoài quán xá, mà ngay trong cơ quan mỗi chiều thứ bảy để tránh né “tai mắt của nhân dân”. Nhân viên công an, phường xã là những con ma đói, luôn luôn có mặt trong các buổi tang lễ, cưới hỏi, hội hè, đâu có miếng ăn thì ở đó có chính quyền địa phương.

Chúng ta hãy nghe một đoạn văn của Lâm Chương viết về một hoạt cảnh ở nông thôn, trong những tiệc rượu luôn luôn có bọn “quỷ thần chứng giám”:

“Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo ve.

Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà, mồm mép tía lia. Cánh đàn ông ngồi ngoài sân, cười nói ồn ào. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Chỗ quy tụ đông người phải có quỉ thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không phải bằng tim. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá, luồn lách … “

(trích trong “Những Đoản Văn Rời” của Lâm Chương)

Lại thêm một chuyện nữa về miếng ăn trong cuốn “Viết Về Huế” của nhà văn Tuệ Chương:

“Ngay sau 30 tháng 4, ông anh cả của anh rể tôi từ ngoài Bắc về. Anh rể tôi dọn cơm mời ông anh, có tôi dự. Tôi hỏi anh ta:

– Về đây, anh tính “công tác” gì?

– Tôi muốn làm Chủ Tịch Phường.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Anh là kỹ sư đóng tàu, sao lại muốn làm chủ tịch Phường?

Anh ta cười:

– Ngoài Bắc, mấy người Chủ tịch Phường là sướng nhất, hết nhà này mời ăn giỗ, tới nhà kia”

(trích trong Viết Về Huế của Tuệ Chương)

Đó là chuyện ăn nhậu trên bàn tiệc, có hải sản, thịt rừng, bia ngoại, có chiêu đãi viên ngồi một bên chuốc rượu, đút thức ăn vào miệng, kể cả lau mồm lau mép cho thực khách. Đây là nói theo nghĩa đen, còn về nghĩa bóng trong xã hội này, tôi nghĩ không cần phải chùi mép cho người khác khỏi thấy, vì nhân dân thì đã quá biết, còn cơ quan liên hệ hay cấp trên, cấp dưới, cấp ngang, cấp dọc, thằng, con nào cũng ăn, thì cần chi phải giấu giếm, che đậy. Do vậy truyền thống của XHCN là những hợp đồng, những khế ước không bao giờ được thảo luận hay hoàn tất trong phòng sở, mà phải là nơi quán rượu, nhà hàng, bia ôm hay karaokê.

Đó là lối ăn có rượu để đưa cay thực hiện tại các nhà hàng, còn như ăn xi măng, sắt, gạch đá, hắc ín, xăng nhớt kể cả máy móc, dây nhợ thì không cần có rượu mà cơ quan nào cũng thi đua làm tốt. Chính báo chí trong chế độ đã xác nhận mỗi công trình đều bị cắt xới từ 30% đến 50% là chuyện thường tình, vì nhà thầu hay người cho thầu phải chi qua nhiều chặng, nhiều cấp, hàng ngang, hàng dọc, y như chiếc xe khách phải đứng lại quá nhiều trạm kiểm soát của công an vậy. Do đó, chung cư thì thiếu xi măng, cầu cống thì thiếu sắt, nhà trường thì thiếu gạch … đương nhiên là sẽ sụp đổ, có khi trước ngày khánh thành, mà nạn nhân thường là quần chúng vô tội. Đó là những miếng ăn độc hại và ăn đã trở thành một thói quen, một lề thói, trở thành một nếp sống văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.