This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Gần 10 giờ đêm 2-3-2004, chị Lê Xuyên điện thoại cho tôi thông báo tin anh vừa mất lúc 9 giờ 20, tức là cách đó nửa giờ. Lời chị kèm theo rất chân tình: – Tôi gọi cho anh trước khi gọi cho nhà đòn. Tôi hiểu ý chị và phải nói hiểu từ lâu mới đúng. Gia đình anh chị trong hoàn cảnh sinh sống rất khó khăn chật vật, vì thế nên tôi đã dặn trước: nếu có chuyện gì cần chị cứ gọi cho tôi. Tôi không tin vào tôi mà tin vào tình yêu thương của bạn bè từ khắp nơi luôn sẵn sàng giúp đỡ Lê Xuyên nên hứa ngay: Chị cứ lo mọi chuyện cho tang lễ của anh, còn chuyện khác để anh em chúng tôi lo. Chị vui vẻ: – Nếu thế tôi an tâm rồi. Buông điện thoại, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên trước cái tin buồn này. Từ hai năm nay, Lê Xuyên nằm một chỗ, có thể nói thẳng nằm đó chờ ngày “về với ông bà”. Một năm trước đây thôi, anh phải vào bệnh viện, chị cũng gọi cho tôi rồi đến nhà mang theo cả giấy “nhập viện” và số tiền phải trả. Tôi cũng lại làm cái nhiệm vụ thông báo cho một số anh em ở nước ngoài để kiếm tiền trả bệnh viện. Không phải chỉ có riêng chúng tôi mà còn những người quen khác của anh, những người bạn đồng hương, những người học cùng trường cùng lớp, có cả những người không hề quen biết cũng xúm nhau vào chung lo. Hầu như ai cũng hiểu rằng ngày “ra đi” của anh không xa. Nhưng may mắn, anh vẫn còn qua được vài mùa Xuân. Những lần sau này tôi đến thăm anh, anh nằm đó nhưng tỉnh táo, không nói chuyện được song hỏi nhiều điều, anh vẫn nhớ, vẫn hiểu. Khi anh gật đầu, thỉnh thoảng có được một nụ cười, đôi mắt ánh lên một niềm vui. Nhất là khi tôi cố gợi lại một vài câu chuyện vớ vẩn từ hồi xa xưa chúng tôi gặp nhau ở ngoài đường hoặc ở toà soạn một vài tờ báo.
Tính Cách Lê Xuyên: Để cho anh được sống lại với những kỷ niệm cũ, tôi kể lại một buổi sáng sớm vào khoảng năm 1971-72, sau một đêm đánh chắn với vợ chồng ông chủ báo Kịch Ảnh đường Cống Quỳnh, tôi lái xe về nhà. Qua đường Lê Lai, tôi thấy Lê Xuyên cúi đầu đi trên hè phố. Tôi đậu xe sát lại, Lê Xuyên vẫn chưa thèm nhận ra là xe của ai. Tôi bóp còi, lúc đó anh mới ngước lên nhìn và toét miệng cười. Ít khi ông Lê Xuyên cười lắm. Tôi đẩy cửa xe, thò đầu ra hỏi: – Ăn gì chưa? – Chưa gì hết trọi, có tiền đâu mà ăn. – Lên đây, tôi đưa ông đi ăn sáng. Leo lên xe, anh hỏi thẳng: – Đêm qua được hay thua? – Được. – Nhà không còn một xu, tui để tiền trong túi cũng hết luôn. Tôi cười và hiểu cái sự “hết tiền trong túi” của anh dù mới lãnh lương. Móc trong cốp xe, tôi chia cho anh một nửa số tiền được bạc đêm hôm qua và dặn dò rất kỹ: – Mang về toà soạn cất vào ngăn kéo để tiêu dần đấy. – Ừ, tốt. Ông ăn sáng chưa, cho tôi đi với. Lâu rồi không được ăn đồ Tây. Tôi cười: – Ra Givral hay Brodard, ông thích chỗ nào. – Đâu cũng được. Chúng tôi ra Givral, sáng sớm tinh mơ chỉ có hai bàn khách. Tôi gọi mì jambon là món “đặc sản” ở đây còn Lê Xuyên gọi omelette jambon ngồi nhai bỏm bẻm lấy làm thú vị lắm. Ăn xong tôi bảo ông có tiền rồi, lấy xe taxi về toà soạn, tôi phải về nhà thay quần áo rồi còn phải vào sở chào cờ vì hôm nay là thứ hai. Lê Xuyên cười hì hì: – Cả đời tao chưa biết chào cờ là cái gì. Tao chỉ chào ông chủ báo khi lần đầu tiên đến làm. Ngô Quân cũng thế và Hồ Anh cũng thế. Thỉnh thoảng tôi đưa bài đến báo Thời Thế, đôi khi vào buổi trưa, tôi lại rủ Lê Xuyên đi ăn trưa, hôm có tiền thì chui vào Chợ Lớn ăn cơm Tàu Bát Đạt. Có lần tôi rủ: – Chúng tớ có cái phòng thuê ở trên lầu ba để thỉnh thoảng chơi phé, lấy tiền sâu gửi lại tay quản lý nên bất cứ lúc nào cần phòng là có ngay. Ông có muốn nằm lại đây một buổi không? Bản tính anh hiền lành nên hỏi lại: – Nằm làm gì, tôi phải về làm việc chứ. – Ông ngây thơ thật hay ngây thơ cụ, ông cứ lên với tôi là biết ngay “nằm làm gì”. Ông muốn Tàu cũng có mà ta cũng có. Dĩ nhiên đến nước này thì ông bạn tôi phải hiểu, nhưng ông lắc đầu quầy quậy như thằng con nít bị mẹ bắt lấy vợ sớm. Tôi đưa ông trở lại toà soạn và xác nhận với anh em rằng “Lê Xuyên nó đứng đắn thật các ông ạ”. Một ông bạn tôi cãi: “Nó nhát chứ đứng đắn cái gì”. Thôi thì nhát cũng được, đứng đắn cũng được nhưng nó không giống tụi mình. Và một điều ai cũng nhận thấy là chưa bao giờ thấy mặt Lê Xuyên ở bất cứ cái phòng trà tiệm nhảy nào, ngay cả chỗ đông người anh cũng tránh. Tôi cứ lẩm cẩm ngồi nhắc lại từng chuyện khiến anh thú lắm, đó là lúc anh được sống thêm.
Một bí mật bây giờ mới tiết lộ: Cũng vào khoảng thời gian đó, tờ báo Thời Thế có một loạt bài điều tra phóng sự về một vụ tham nhũng của một ông “tướng vùng”. Ông tướng nhờ một đại tá và một trung tá liên hệ với tôi để nhờ tôi can thiệp. Tôi chẳng biết trắng đen ra sao, nhưng đã có lời nhờ và giải thích thì tôi làm. Tôi gọi cho Lê Xuyên giải thích những gì tôi được nghe và đề nghị “thông cảm” với phóng viên cho ngưng loạt bài đó kẻo làm mất uy tín của một người chỉ huy vùng chiến thuật. Lê Xuyên nói ngay: – Ông nói thì tôi nghe, nhưng để tôi thu xếp với anh em cho có đầu có đuôi. Sau đó tôi điện thoại cho ông chủ báo Hồ Anh, lúc đó tôi mới biết rằng đã có một hai ông nghị sĩ dân biểu can thiệp, nhưng Lê Xuyên vẫn cứ tiếp tục cho đăng loạt bài này. Ông Hồ Anh bảo tôi cứ nói chuyện với Lê Xuyên, nếu anh ấy chịu thì không có gì trở ngại. Chỉ có thế thôi. Rất bất ngờ, hôm sau tôi đọc được hàng chữ trên trang nhất: “Vì có người bạn chúng tôi can thiệp nên chúng tôi thấy cần phải chấm dứt loạt phóng sự này”. Quả thật đó là điều khiến tôi hết sức cảm động và ngay lúc đó tôi trở nên áy náy vì biết đâu đó là một sự thật mà công sức của anh phóng viên trẻ đã bỏ ra bị tôi “kỳ đà cản mũi”. Tôi gọi lại cho Lê Xuyên, anh chỉ cười: – Thông cảm với phóng viên rồi nó bảo ngưng cũng được, viết thế đủ rồi. Tôi rủ anh đi ăn trưa, anh nói: – Tôi vừa ngưng phóng sự mà đi ăn với ông thì khác gì đi ăn hối lộ. Thôi hôm nào ông được bạc mình lại đi ăn đồ Tây. Hôm nay tôi bận quá ông ạ. Lê Xuyên cúp máy và tôi thì cứ ân hận, chẳng hiểu vì sao. Chuyện này còn có nhiều nhân chứng còn sống ở đâu đó, may ra họ còn nhớ. Tôi thì chẳng bao giờ quên.
Bỏ đi Tám! Hơn mười năm sau, khi tôi ở trại cải tạo ra, Thanh Thương Hoàng dẫn tôi đến thăm Lê Xuyên. Anh ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc phố. Chiếc quầy thuốc bé tẹo nhưng cũng đủ che hết tấm thân gầy gò của anh. Chúng tôi nhìn nhau và cùng cảm thông rất sâu sắc cái thân phận mình lúc này. Anh chớp mau mắt nói như để an ủi hơn mười hai năm tù của tôi: – Trông ông vẫn cứ phong độ như ngày nào. Tôi thẳng thừng thương bạn: – Còn ông, trông chán bỏ mẹ… Chỉ muốn khóc! Hai bàn tay bạn tôi run lên, lật bật đút chiếc chìa khoá vào ngăn tủ kính để mấy gói ba số năm bán lẻ (hồi đó ba số năm quý lắm): – Hút thuốc lá không? – Không, tớ hút thuốc lào quen rồi, về đây hút thứ nặng hơn mới đủ đô. Thanh Thương Hoàng rủ sang bên con hẻm phía trước ăn sáng. Đó là con hẻm lối đi vào một ngôi chùa hay ngôi đình gì đó. Không có hủ tíu, Lê Xuyên phải chạy đi gọi ở một nơi nào quen bán chịu cho anh ở gần đó. Lê Xuyên trở lại với con người thật của anh. Vẫn hiền lành, cười tủm và chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm: Thằng cha này tâm ngẩm tầm ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn mình. Chỉ có nó mới viết được những “dòng chảy ngầm” của trai gái thôn quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế. Lê Xuyên khác với một số những cây bút hoàn toàn Nam Bộ như ông Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam ở chính cái “thật” của anh, không màu mè, không lý luận, không làm một cái gì như nghiên cứu sưu tầm về phong tục tập quán dưới hình thức này hoặc dáng vẻ khác. Từng động tác, từng thái độ, từng lối ứng xử trong nhân vật của anh cứ như con người thật lồ lộ đang ở trước mặt chúng ta vậy. Trước mặt tôi, ông già Lê Xuyên vẫn còn cái hóm hỉnh riêng, nhưng bây giờ thì như anh nói: “đếch viết nữa”. Tôi hỏi không viết được hay không thích? Câu trả lời của anh gọn lỏn: “bỏ đi tám”. Tôi không thể hiểu nỗi ba chữ “bỏ đi Tám” mà anh dùng. Có một nỗi chua chát nào đó trong cái tâm sự thật của anh? Đến cái chứng minh nhân dân anh cũng không muốn làm nên không có hộ khẩu, cứ như ở lậu, công dân lậu. Thái độ đó có đồng nghĩa với sự “bỏ đi Tám” của anh không? Chỉ có anh mới hiểu và bây giờ anh mang theo. Cách đây vài năm, tôi có viết về Lê Xuyên và may mắn nhận được sự giúp đỡ thiết thực của khá nhiều bạn bè. Trong đó có một vài tờ báo muốn đăng lại những truyện dài của anh, tôi hỏi, anh chỉ lắc đầu: “chẳng còn cuốn nào” và cả chị ấy cũng không kiếm được cuốn nào cả. Ba năm sau cùng, anh không còn sức để bán thuốc lá lẻ nữa. Thỉnh thoảng tôi và Nguyễn Thuỵ Long kéo đến thăm, cố dìu anh ra quán cà phê cuối ngõ ngồi lai rai tâm sự vặt. Tôi vẫn cho rằng chỉ có lúc đó Lê Xuyên mới được sống thật. Hai năm sau này dù có cố lôi anh đi cũng không nổi nữa rồi. Anh như cái bóng trong góc tối của gian phòng chật chội vây quanh bởi hàng trăm thứ lỉnh kỉnh nào bàn ghế, chai lọ, giường tủ. Chỉ có cô gái út săn sóc cho anh, vợ và các con lớn của anh vất vả với công việc hàng ngày rất ít thì giờ trông nom cho bố. Cái chết đến từ từ theo từng ngày giờ buồn tênh, dường như anh chán cả cái sống cái chết, không thèm chú ý đến nó nữa. Khi tôi đến với anh lần cuối là lúc các con anh đang tắm rửa, thay quần áo cho anh trước khi nhập quan. Cái thân hình gầy gò trần trụi của anh phơi ra, tất cả chỉ còn có thế. Tôi chuyển ngay cho chị số tiền mà tôi mới gửi e-mail tối hôm qua thông tin về sự ra đi của anh, nhanh chóng được đáp ứng. Các bạn ở Virginia, San Jose, Santa Ana yêu cầu tôi chuyển ngay khoảng 1.000 Mỹ kim đến lo tang lễ cho anh. Một người bạn đưa ngay đến 2 triệu và mang đến vòng hoa đầu tiên của bạn bè Sài Gòn. Hôm sau chị khoe với bà con đến phúng: – Có bạn bè làm chỗ dựa nên tôi mạnh tay làm đủ thứ việc cho anh ấy. Mạnh gì gạo bạo vì tiền, có phải không các bác? Không có bạn bè, tôi chẳng còn biết xoay trở ra sao.
Từ trái: Nguyễn Thụy Long-Lê Xuyên-Văn Quang
Tôi nói với chị: – Chắc sẽ còn nữa, có một số anh em chưa gửi kịp, xin chị an tâm đi tiếp con đường ai cũng phải đi. Buổi chiều ngày 5-3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa anh đến Bình Hưng Hoà. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh, không ồn ào như những đám tang của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những “nhà nghệ sĩ lớn”, nhưng những con người thầm lặng ấy dõi theo anh với tất cả tấm lòng mình. Họ không nói gì, không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh Công Sơn, không có giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca nghệ sĩ, không có cả những bài “điếu văn tưởng niệm” lâm ly bi đát, nhưng đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương lãng đãng bay về phủ kín khung trời Sài Gòn. Thế là đủ, nó vượt lên trên tất cả.
Nhớ: “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh. Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam”. Khoảng năm 1950, ông Trần Viết Long, đoàn Kim Chung ở Hà Nội làm bộ phim Kiếp Hoa. Bài hát “Làng Tôi” của Chung Quân đã được chọn làm bản nhạc nền.
Người Bắc trồng cây đa ở đầu làng, chợ, giữa cánh đồng, ở sân đình, chùa, bến đò. Khi phải vượt Trường Sơn vào xâm lược Miền Nam, nhớ cây đa đầu làng cao vút trời xanh, là điểm chuẩn để ‘thằng cu’ tưởng ‘sinh Bắc; tử Nam’ may còn sống sót nhắm hướng để trở về nơi mẹ và bu nó đang mong ngóng.
Ngoài ra, còn có ‘cây đa, cây đề’ trong giới văn học thời CS. Các nhà văn lớp hậu sinh của Bắc Kỳ có ý xỏ xiên ‘lão ấy’ (như Tố Hữu, Huy Cận, Thanh Tịnh… là bọn ‘sống lâu lên lão làng’, sáng tác nhàn nhạt như nước sirop, cà lăm ý cũ. Chỉ làm Thượng sĩ già vậy thôi!
Ngoài ra còn có câu: “Cậy thần phải nể cây đa”. Muốn đút lót Huyện Trìa là phải qua Thầy Đề. Trong tuồng Nghêu, sò, ốc, hến, ta thấy cái hủ tục đó.
Sài Gòn không có cây đa; chỉ có cây da.
Cây da trong Vườn Ông Thượng (quan lớn). “Dinh quan Thượng” là Nha Nội Vụ (Le Directeur de l’intérieur). Gia Định Báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta: “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.
Cây da trong Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch giữa vườn)
Cây đa đầu làng
Vườn Bờ Rô, thời CS là Công viên Tao Đàn, khoảng 10 mẫu tây, rộng nhứt cái đất Sài Gòn. Chu vi của nó là đường: Chasseloup Laubat thời Pháp, đường Hồng Thập Tự thời VNCH, Nguyễn Thị Minh Khai, thời CS. Đường Miss Clavell, thời Pháp. Huyền Trân Công Chúa. Tabert thời Pháp Nguyễn Du. Đường Verdun thời Pháp, thời VNCH Lê Văn Duyệt và Cách Mạng Tháng Tám thời CS.
Cây da trong Thảo Cầm Viên Blanchard de la Brosse, còn gọi là Sở Thú, số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sài Gòn còn có cây da nổi tiếng trước Dinh Gia Long (vì nó nằm trên đường Gia Long). Thời Pháp, nó được gọi là Palais de l’Inspection (Dinh Thanh tra) và sau đó là Palais de l’Indochine (Dinh Đông Dương). Giờ CS lấy Dinh Gia Long làm Bảo tàng Thành phố. Chúng bỏ tên đường Gia Long mà thay bằng đường Lý Tự Trọng. (Lý Tự Trọng (1914-1931) sinh tại Hà Tĩnh. Tháng 11 năm 1930, Lý Tự Trọng bắn chết một viên mật thám, Pháp xử tử hình Lý Tự Trọng khi mới 17 tuổi vào ngày 21 tháng 11 năm 1931)
Vì cây cao bóng cả, vẻ uy nghiêm, cây da thường trồng ở nơi thờ phượng. Vào năm 1744, Lý Thoại Long, người Minh Hương, đã xây một cái am trên gò vắng có trồng một cây da. Ngày nay là Chùa Giác Lâm hay Tổ Đình Giác Lâm của phái Thiền Lâm Tế Tông số 565 đường Lạc Long Quân thuộc Phường10, Quận Tân Bình.
Khuôn viên Nhà thờ Đức Bà (Cathédrale Notre-Dame de Saïgon) có nhiều cây da lớn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, là Công trường Hòa Bình; rồi đổi thành Công trường John F. Kennedy tưởng niệm Tổng thống Hoa Kỳ bị bắn chết ngày 22 tháng 11 năm 1963. Sau tháng Tư, năm 1975, CS đổi lại là Quảng trường Công xã Paris. Trong tiếng Việt, công trường thường được dùng để chỉ những khu vực rộng lớn, tụ tập cho lễ lạt lớn. Công trường hồi chiến tranh, mật danh Công Trường 7, CS lại chỉ sư đoàn 7 quân CS. Nghĩa là chúng xài chữ ‘Công trường’ lung tung, bà con không biết đâu mà rờ?.
Tàn rộng che mưa đụt nắng, cây da trong sân rộng 1000 m2 của Đình Nam Chơn số 29 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận Nhứt.
Cây da cổ thụ trước Dinh Gia Long – nguồn kienthuc.net
Với tàn rộng giúp che mưa, đụt nắng, cây da cũng là nơi họp chợ. Sách Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức ghi chép về Chợ Cây Da (Khung Dung thị): “Phía nam trấn, dưới chân thành về phía hữu có cây da nhánh rễ rằng ni, bóng lá xum xuê nửa mẫu, người buôn bán nhóm chợ dưới bóng cây. Lúc đầu canh tư người ta đã đi chợ đèn đuốc sáng trưng kẻ đội người gánh những đưa bí rau cải đến nhóm tại đầu chợ phía tây, có người mua sỉ ngồi bán lại; đến sáng đầu chợ phía đông cá thịt và vật hàng mới bày bán”
Tập Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận (Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, ấn bản 1885): “Trên khoảng Khám đường (nay là Tòa án mới, xưa có ngôi chợ gọi là chợ Cây Da Còm (còm cõi). Gần ngã tư đường Bà Hom, quận Sáu có cây da rất lớn; vùng đất đó bà con mình gọi là Cây Da Sà (cây sà xuống). Chợ Cây Da Bà Bầu (Quận Mười) gần nhà nhạc sĩ Trường Kỳ (1946-2009). Chợ Cây Da Thằng Mọi thời Đức Tả quân Lê Văn Duyệt; giờ ở góc đường Nguyễn Trãi – Cống Quỳnh, Quận Nhứt. Chợ này có bán chưn đèn bằng đất nung, nặn hình thằng mọi, đội đèn trên đầu, trong đó đặt một cái tim bấc thấm ngập dầu phộng hay dầu dừa.
Xã An Mỹ, quận Kế Sách (nơi tui một thời dạy giáo) tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) cũng có cây da ở ngã ba sông, là bến nước, đò Kế Sách ghé vô rước em ra chợ quận thăm anh ngày cũ
Quê người, tui nhớ: Vườn hoa Lạc Hồng, gần nhà hàng Cửu Long, cuối đại lộ Gia Long, tỉnh lỵ Mỹ Tho, một chiều giông gió năm 1969, cây da đà trốc gốc ngã làm chết người đụt mưa dưới tàn cây của nó.
Tui nhớ cái đất Sài Gòn, với câu hát ru: “Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn. Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân” Rồi: “Cây da trước miễu? Ai biểu cây da tàn? Bao nhiêu lá rụng; em thương chàng bấy nhiêu! Cây da trốc gốc trôi rồi. Em xa người nghĩa đứng ngồi không yên.”
Ối em ơi! Anh giờ như cây da đà trốc gốc. Trôi rồi ra biển tuổi xuân anh. Cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu, Đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.” “Đại mộc lưu giang, bất đắc hồi cố”. Cây lớn trôi sông, chẳng đặng về chỗ cũ. Xin em đừng đợi nữa em ơi!
Thông thường, mùa này trời không chóng tối. Trái khuấy do cuồng phong từ phương xa đã đùn mây đen, xua đuổi nắng, trám màu chì trĩu nặng trên vuông trời xuống thấp. Gió mặn miền duyên hải thổi về, xác xơ trên hai hàng cây cắm ngoài liên tỉnh lộ; luông tuồng run rẩy, tượng hình nỗi đe dọa, rằng sẽ có điềm báo một chia xa. Vật vã một nhắc nhở không gián đoạn.
Người đàn bà ăn không hết chén cơm lưng, bỏ đũa. Em đi thay quần áo. Ừ, để anh dọn dẹp cho. Anh nói với: Đừng mang nhiều thứ quá, một túi nhỏ thôi. Khuất sau cánh cửa, người đàn bà gửi ra thứ tiếng động của lục soạn, những hộc tủ kéo, đóng. Thứ tiếng nghe bồn chồn, của đôi tay mất sự tập trung.
Người đàn ông đi lại bên ngạch cửa, những giọt nước lưa thưa bắt đầu làm đen bậc tam cấp loang lỗ màu xi-măng. Sự thẩm thấu chậm rãi nhưng dần dà mọi vật sẽ chịu một đổi thay. Anh nên gọi về nhà một tiếng để thông báo. Người đàn bà đặt cái túi vải lên ghế, một tay vịn mép bàn. Da mặt xanh, giọng nói yếu, những cử động chậm; nguyên cớ do bởi cô đang mang thai. Bụng đã lớn và nó khiến cô khó khăn che dấu những biểu hiện. Như cảnh quang một ngày xấu trời, sáng tối bất chợt, cau có trần mây thấp. Người đàn ông moi từ túi quần ra chiếc điện thoại di động trong lúc vợ anh để mắt tới những hạt mưa rơi ngoài thềm, mỗi lúc chúng có vẻ như đan kín, hối hả hơn trước.
– Tụi em sẽ ra bến xe. Chắc đến khoảng sáu giờ chiều… Không chị, Nhàn đi trước, em lo một vài việc, xong sẽ có mặt dưới đó, chậm lắm là hai ngày… Vậy à? Ở đây trời đang chuyển đổi, mưa to gió lớn… Em có xem ti-vi, chỗ chị ở không bị ảnh hưởng cơn bão…
Người đàn bà dùng tay thoa nhẹ vào bụng, chậm rãi đến bên cửa sổ ngó hàng cây thưa đang run thân dầm mưa. Lá như bị vặt bớt đi. Trong màn nước, cảnh sắc thường ủ dột, chán tẻ, đơn điệu. Đi chưa anh, mưa mỗi lúc như nặng hạt hơn.
Người đàn ông phụ vợ khi cô mặc chiếc áo mưa sột soạt vướng víu vào thân. Anh đeo túi vải của vợ trước khi trùm kín chiếc poncho thụng thịnh. Mưa đâm ngoài tai lục bục thứ tiếng đục làm át giọng người vợ khi anh dắt xe gắn máy ra sân. Khởi động máy nổ, anh nói gần như hét lên: Chỉ hai hôm thôi, anh cố xong việc sớm. Không, em chỉ hỏi là chị Thanh sẽ đón em ở bến xe hay em phải dùng xích lô? Nếu không đón được chị sẽ biểu thằng Quảng đi thế, em đừng ngại.
Chiếc poncho làm người anh ấm, nhưng ngược lại anh cũng đón nhận sự châm chích của mưa đi dọc theo sống lưng, nhột nhạt. Áo đã cũ và dẫu lành lặn, nó không tài nào giúp ta khô ráo khi đứng dưới thứ vũ lượng này. Nó lùng bùng trên đầu anh nãy giờ cũng chỉ ngầm thông báo chuyện giản đơn ấy. Anh ngó tới vợ mình để hiểu rằng rồi cô cũng bị thấm ướt, chiếc áo che mưa kia chẳng tài nào bảo vệ được cái bụng trương lớn của cô. Anh khoá kín cửa để người vợ hiểu đã đến lúc leo lên ngồi trên yên có vẻ trơn láng. Cô ôm siết lấy người chồng. Anh quay đầu: Được không? Anh sẽ cố chạy chậm. Được. Người vợ nói chỉ một chữ.
Xe chạy trên những khúc đường vắng. Khi người ta chờ đợi cao xanh gieo hiểm hoạ đến, người ta trú thân vào chỗ xét thấy vững chãi nhất. Chạy ngoài đường cũng là cách đi tìm một nơi để nương thân. Vợ anh chẳng thích di chuyển dưới gió mưa nhưng vì mang thai, gần ngày lâm bồn nên cô buộc lòng phải nghe chồng thuyết phục, rằng bão tố thì dễ dẫn tới tình trạng mất điện, và nhà hộ sinh dưới kia đầy đủ tiện nghi hơn, chưa kể sẽ có hai ba người trong gia đình bỏ công tới chăm sóc, trông nom. So ra, đó là sự tính toán không thể làm tốt hơn, dù tạm rời xa, dù anh thực bụng chẳng muốn cô ấy đi biển mồ côi một mình.
Bến xe đông người hơn anh tưởng. Anh chạy vạy được một chỗ ngồi tốt trên xe cho vợ, anh thành khẩn nói với người đàn bà đứng tuổi ngồi ghế kế cận, xin hãy giúp đỡ một người đang mang thai, sẽ sanh con so, đầu lòng. Anh xuống khỏi lòng xe chật, đội mưa, bồn chồn đứng cho tới hồi chiếc xe đò mang biển số chín nút rời bến. Anh không thấy vợ, cửa kính bên thành xe mù mờ, ẩm đục. Và rồi mọi thứ trôi đi, vất anh lại giữa khoảng sân rộng phập phồng gió. Anh ngó thấy một vuông cửa mở, qua màn mưa mờ che nó vẫn hiển lộ rõ cái hấp lực của sự ấm cúng. Một cốc cà phê, trong lúc này đây xét thấy chẳng có gì quan trọng hơn. Người anh sẽ ấm lại, áo quần sẽ khô ráo. Và như vậy anh đỡ cực lòng nếu đón nhận điều thất thường. Quán mọc bên hông bến xe nên nó giản lược đến cuối cái đơn sơ. Chỉ có ghế và bàn, chỉ có ly và tách, chỉ có hương cà phê và mùi khói thuốc. Nó từng xiêu vẹo nên giông bão có đi ngang qua nó nguyện sẽ hiến thân cho thần gió, mặc tình muốn trấn lột thứ gì thì cứ tháo gỡ. Và chủ quán biểu lộ cái dửng dưng, ngay cả khi đón khách. Không nhăn nhó, chẳng vui thú. Ông chậm rãi thực thi những đòi hỏi. Ông quen với sự cam chịu, có lẽ vậy. Thái độ ấy, không chắc ai cũng học được. Thường thì người ta bẳn gắt làu bàu chứ chẳng câm lặng như thế. Cà phê ngon không ngờ tới, điếu thuốc đầu ngày cũng vậy, đậm đà. Khi bắt đầu loay hoay tìm được chút tiện nghi, anh moi chiếc điện thoại thông minh ra. Mình ngồi uống cà phê bên bến xe… Ừ, đã vừa đưa bả đi… Nghỉ làm à… Vậy mình đợi ở đây hay sao?… Cũng được, tụi mình sẽ ăn ở chỗ đó cũng tiện. Anh lại dầm mưa khi thân nhiệt chưa kịp ấm lại. Thực ra thì có đôi kẻ xem việc đi trong mưa tựa một hành động dầm dề thứ hạnh phúc nó có. Tuổi trẻ anh từng chứng nghiệm điều ấy, đó là thời gian đầu khi anh ngỏ lời yêu cô. Đi sát vào nhau, che dù và lội bộ không mỏi mệt trên tất cả những con đường chợt thu ngắn lại. Dĩ nhiên, nếu hoán đổi bằng một ngày nắng, con tim lúc đó sẽ không lấp đầy thứ ân sủng dịu dàng choáng ngợp kia. Những đứa ca tụng về màu nắng e lòng chẳng yếu mềm như đứa ngợi ca những cơn mưa. Và mưa hôm nay trở về để mang cô đi ra khỏi thành phố, mưa ngập một nỗi niềm đang vây khổn anh. Anh đến đúng hẹn. Có nghĩa là người anh cần gặp cũng vừa dựng đứng chiếc xe máy trước quán mang bảng tiếng Tây: Dèja Vu. Không rõ bên Pháp, ngoại quốc nói chung, khi biết bão đang kéo tới, họ còn lòng dạ để dắt nhau đi kéo ghế? Anh kéo ghế cho người ấy được thong dong ngồi xuống. Những lọn tóc ướt như chôn ở đó một hương mùi khiến anh bần thần. Tinh dầu của giống hoa gì mà mang sức quyến rũ nhường ấy? Vợ anh dường như theo tự nhiên chủ nghĩa, cô không màng tới những mỹ phẩm và có khi anh đã dốc lòng để cổ xuý việc ấy. Anh thích vùi mặt mình vào người vợ, và da thịt trinh nguyên của em tự thân đã là kho hương liệu chất ngất thuỷ chung đậm một thứ mùi khó trùng lẫn, riêng em và riêng của anh. Chúng ta ăn cái gì dằn bụng trước, hay anh muốn đón nhận tin tức trước. Xin thực lòng để nói: tôi muốn chia buồn cùng anh. Người ấy nhập đề, khuôn mặt dễ nhìn, tươi mát; như thề đoạn đường cô vừa trải qua mưa đã tắm gội hộ những điều mà người ta gọi là phiền muộn. Một cành hoa vừa được tưới nước cũng chỉ tươi mươi có ngần ấy. Và đã là hoa thì kẻ ngắm nhìn khó lòng nhận biết cái già cỗi nó ủ ấp. Một vẻ đẹp chẳng tuổi tác khi hiện hữu. Anh ít có dịp để gặp cô, phần vì ai nấy đều có việc để lo toan, để mưu sinh với lủ khủ công ăn chuyện làm; phần khác anh đã có gia đình và song phương vẫn ái ngại một ngộ nhận đến từ tha nhân. Gặng hỏi, chất vấn, ghen tuông sẽ cướp mất thứ sinh khí mà người ta cần bảo vệ để sống thở. Hôm nay thì khác, một ngày đang chờ chực giông bão, từ thiên nhiên cũng như từ hệ huỵ chính con người nhiễu sự tạo nên. Như chẳng dằn lòng, người ấy cúi đầu đưa tay lục soạn vào cái túi xách vẫn nằm trên đùi cô. Thu mình trong xách nhưng khi thoát thân, tờ giấy tuồng như bị cảm lạnh, èo uột rơi xuống bàn. Góc giấy in tên và địa chỉ cơ quan cô ấy làm việc, phòng thí nghiệm và phân chất trực thuộc bệnh viện trung ương. Tên họ anh, ngày tháng năm sinh, phái tính, loại máu, nước tiểu, tinh trùng, vân vân và vân vân, bla bla bla để cuối củng là theo kết quả khám nghiệm: “Vô sinh”. Chữ ấy nằm trong vòng tròn mực đỏ có ai buồn tay tô đậm nét. Vô sinh. Anh đọc lên, khá to, như một thực khách vừa chọn xong món ăn in trên tờ bìa tấm thực đơn. Tôi không thể hiểu. Là sao? Có nhầm hổ sơ của một cha nội nào khác không? Người ấy thay vì khoanh hai tay trước ngực, cô dùng một cánh tay với năm ngón chống cằm hứng đỡ một dung nhan bắt đầu đọng nhiều bóng tối. Ca này do chính tay tôi xét nghiệm và với mười hai năm kinh nghiệm trong lab… Tôi thực chẳng biết nói gì hơn, tôi hiểu được cái trạng thái anh đang phải chịu đựng. Tôi đã dùng tới chữ xin chia buồn, tôi lập lại. Bởi nỗi buồn này nó to tát quá… Anh nghĩ tới người vợ đang ngồi trên xe đò chạy băng trong gió mưa ở quốc lộ luôn cài đặt những khúc quành chết người. Tài xế ngủ gật, xe lạc tay tái đâm đầu xuống sông hồ, hỏng chân thắng để tạo tai nạn liên hoàn. Hằng ngày những thứ tin không đáng có cứ phải truyền đi trên mặt báo, trên truyền hình. Nhưng tuyệt không ai đào sâu về gốc gác một thai nhi nằm ẩn khuất trong bụng mẹ. Này con, chứ ba con là ai? Tự dưng trong trí anh sắp hàng một dãy khuôn mặt bạn bè. Những thằng đã có vợ hoặc những đứa độc thân. Những hình ảnh như biết trò luân vũ có mưa gội xoá nhoè nhoẹt mà anh, một mình chịu hứng đỡ giữa trung tâm cơn bão càn, nhọc mệt bao tai ương. Sao rồi? Đâu còn lòng dạ để nuốt trôi thức ăn, đúng không? Anh ngó sâu vào đôi mắt người ấy. Người vừa thảy ra một dấu hỏi khiến anh quặn ruột. Đôi mắt sâu đen có kẻ đường chì xám trên mí. Dù gió mưa, bất luận với khung cảnh nào, khi ra đường cô ta cũng mất chút ít thời gian để sửa soạn điệu đàng. Cô đã nhọc công đến và anh phải đền bồi tấm thạnh tình kia. Trước sau, cô vẫn là người bạn tốt. Những người sẵn lòng dội gáo nước lạnh vào mặt ta thường mang sự chí tình khi muốn ta tỉnh thức. Vô cớ giận lẫy thì nông cạn quá. Và anh luôn coi thường mấy đứa giận cá chém thớt. Bạn gọi thức ăn đi chứ. Bạn ăn gì mình ăn tựa thế, hai phần giống nhau. Bão sẽ ập về, chợ búa tiêu điều, vật giá leo thang, củi lửa khan hiếm, ăn thật no lúc này là quyết định sáng suốt. Anh nói. Hình như đôi mắt không nháy kia có thu giữ khuôn mặt tựa gà nuốt giây thun của anh. Một tấm gương thần biết đọc ra nỗi niềm của kẻ vừa săm soi. Người ấy vẫy tay ra hiệu và gọi một món ăn đặc sản của nhà hàng, hai tô lớn. Tôi uống cà phê sữa nóng còn anh này thì một chai bia, hiệu gì cũng được, miễn là bia ướp lạnh. Môi có thoa son đỏ và không phai nhạt thứ hương hoa đã bám vào người cô. Cách một vuông bàn, anh ngửi ra trọn vẹn cái mùi nồng đậm, dằn vặt đến độ buồn rầu vô cớ. Trên trung bình mọi thứ, công việc ổn định nhưng tại sao người ấy vẫn ở không? Vẫn một mình trong căn hộ tiện nghi thuê ngay trung tâm thành phố. Đã nhiều lần anh dìm xuống nỗi hoài nghi, anh tuyệt chằng muốn đón nghe một giãi bày từ phía cô. Anh vẫn đứng yên trong lằn mức anh tự vẽ đường phấn giới hạn, bước ra khỏi nó là hành động của kẻ đi xâm phạm làm vấy bẩn tình bạn. Chắc cô quý anh do bởi cô đồng tình về chuyện đó. Cả hai đều đồng thuận thứ lề luật đèn nhà ai nấy sáng. Nhưng giờ đây, cực lòng quá, anh phải vượt rào. Anh không rót bia ra ly, anh tu từ miệng chai vừa khui mở. Người anh nóng ran. Bạn cho mình một lời khuyên, bởi bạn đang sáng suốt, mình sẽ phải làm gì ở những ngày tới? Người ấy xâm phạm biên giới, đưa cánh tay sang khoảng cách mặt bàn và lùa năm ngón vào đầu tóc anh. Anh sẽ không làm gì cả, tốt nhất là bình thường hoá sự việc cho tới ngày chị ấy sinh con. Hãy nhìn mặt đưa bé, hãy chứng tỏ mình là một người cha bình thường tới độ tầm thường như tất cả những người đàn ông khác, lăng xăng cuốn quýt vụng về khi vợ vừa đẻ đau. Nên nhớ cho cây kim nằm trong túi lâu ngày cũng sẽ lòi đầu ra. Một đáp án ngay lúc này cũng chẳng mang anh thoát ra khỏi sự quẫn trí. Hãy nuôi giữ sự sáng suốt. Đừng làm nhiều người thất vọng. Nhiều thực khách từ bỏ chỗ ngồi ấm cúng rời khỏi quán với bộ điệu vội vã. Có người nói họ thử sử dụng điện thoại nhưng bị mất sóng. Màn ảnh máy truyền hình nhập nhoà đường nét, vằn vện những đường ngang dọc. Chúng ta về. Người ấy nói. Nếu muốn, hãy ghé lại đằng chỗ tôi trước, xem tình hình ra sao rồi hẳn tính. Cây lá vật vã trên đường lớn. Đôi ba bộ hành đi khom thân bên kia lề, bước chân như có ai trì kéo. Người ấy níu lấy chiếc poncho anh mặc, tấm bảng hiệu “Nhà Nghỉ Hạnh Phúc” rời khỏi nơi máng treo bay vụt đi như một cánh diều đứt dây. Anh ôm siết lấy thân người cao ngang cằm bởi anh sợ cái mong manh của cô sẽ bị gió cướp đi. Chẳng toan tính, không hò hẹn, chẳng nói năng, không cù rũ, cả hai tự động dắt xe băng qua mặt lộ trống trải để ẩn thân vào nhà nghỉ đã bay mất chữ hạnh phúc. Mọi con đường khác đều quá xa xăm, đều bất ổn. Khi người ấy đứng làm thủ tục nhận phòng với nhân viên nhà nghỉ, đồng hồ máng trên vách chỉ đúng vào con số 3. Vào giờ đó, bình thường xe đò chở người bụng mang dạ chửa sẽ tới bến. Anh lấy điện thoại ra nhưng màn hình không lưu giữ một tin nhắn nào cả, tựa như nó hấp hối đã lâu và lạnh tanh với cái chết vừa đến. Mưa ngoài hiên vẫn rầm rộ trút. Thịnh nộ. Anh nói thầm. Trong bốn năm sống đời chồng vợ khắn khít, anh có gây ra một lỗi lầm nào cho em không? Một vết nhơ khó thứ tha? Một sự bội phản? Người ấy đến kéo tay anh, cô nói: Hãy vào nằm nghỉ một lát cho lại sức, chúng ta đã trải qua nửa ngày trời quá mức chịu đựng. Nhân viên mặc đồng phục quan sát anh, tay trái anh có đeo nhẫn. Chúc ông bà tìm gặp giấc ngủ an lành, thức giấc có khi lại trời quang mây tạnh chẳng chừng. Em yêu, anh sẽ cố ngủ giữa phong ba. Trong mê thiếp, em hiện ra, vẹn toàn một hình ảnh cũ, dung nhan thuỳ mị của một người vợ thuỷ chung.
Thực ra cây cầu không có tên, nhưng có lẽ vì nó bắc ngang qua đoạn quanh co và đẹp nhất của dòng sông Nitelva, nên người dân ở địa phương này thường gọi như thế. Đây là đoạn cuối cùng của một con sông lớn trước khi đổ ra biển. Sau khi các con đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, vợ chồng tôi bán ngôi nhà rộng cũng nằm bên bờ sông này, nhưng ở tận vùng Fjerdingby xa xôi, về đây mua căn nhà nhỏ trong một khu apartment, nằm khá xa thành phố. Chỉ làm việc thêm một năm là đến tuổi về hưu. Sống trong vùng ngoại ô tĩnh mịch này, cả ngày không biết làm gì, ngoài cái thú đọc sách và đi bộ. Ở đây khá lâu rồi, nhưng lúc ấy còn phải đi làm, mùa hè thì bận bịu chuyện sửa sang nhà cửa, mùa đông thì chỉ nằm nhà hoặc bay sang Mỹ thăm con nhân dịp nghỉ lễ Phục Sinh, nên chúng tôi không biết gần bên nhà có một con đường đi bộ đẹp và thơ mộng đến như thế. Sau này, khi đã về hưu, nhờ ông bà láng giềng người bản xứ giới thiệu và rủ đi bộ, chúng tôi mới biết. Con đường tráng nhựa đen bóng, lớn như những tỉnh lộ trong vùng, nhưng đặc biệt chỉ dành riêng cho người đi bách bộ. Chạy quanh co xuyên qua cánh rừng đầy những loại hoa dọc theo bờ sông Nitelva, đến khúc sông đẹp nhất, là một chiếc cầu đúc bắc qua để tiếp tục đến một khu rừng khác, nhưng bây giờ là cánh rừng thông với những hàng cây cao, thẳng tắp, che kín cả mặt trời. Chúng tôi khởi sự đi bộ vào đầu mùa hè, bởi mùa đông con đường và cả khu rừng ngập đầy tuyết, dòng sông đóng cứng băng, chẳng ai có hứng thú. Chúng tôi thường đi vào buổi chiều tàn, vắng người. Mùa hè Bắc Âu trời tối muộn. Có những hôm, đến 12 giờ đêm mà vẫn còn chói chang ánh nắng mặt trời. Hôm đầu tiên và suốt cả tuần sau đó, khi đến giữa cây cầu, chúng tôi thấy một người đàn bà Á châu. Không biết bà đã đến đây từ lúc nào, nhưng khi vừa bước lên cầu chúng tôi đã thấy bà đứng bất động bên thành cầu nhìn đăm đăm xuống dòng sông, như không hề để ý đến mọi điều chung quanh. Muốn chào, hỏi thăm bà đôi câu, nhưng không dám, ngại làm mất đi cái không khí yên tĩnh riêng tư của bà. Mãi một hôm, trên đường trở về, khi đến gần đầu cầu, trời đang nắng bỗng đổ xuống một cơn mưa rào, chúng tôi chạy vào trú mưa dưới một tàn cây khá lớn, bất ngờ gặp bà đứng sẵn ở đó. Bà gật đầu chào và kéo bà xã tôi đứng sát bên bà để tránh mưa tạt. Rất vui khi biết bà là người đồng hương, đến định cư ở nước Bắc Âu xa xôi này từ khá lâu, năm 1979. Nhìn mái tóc bạc, tôi đoán bà cao tuổi hơn mình. Trông bà hiền lành, nói năng từ tốn, thỉnh thoảng nở nụ cười, nhưng khó tìm được nét vui nào, bởi đôi mắt thật buồn. Và không ngờ cơn mưa rào hôm ấy đã đưa chúng tôi trở thành những người bạn già đồng hương sống đời lưu lạc.
Bà cho biết, bởi hoàn cảnh đặc biệt, nên hơn hai mươi năm nay, từ khi dọn về sống ở vùng này, bà không quen biết ai. Bà muốn sống yên lặng một mình trong căn nhà nhỏ, riêng tư với những nỗi niềm quá lớn của mình. -Tôi vẫn muốn giữ lấy quá khứ buồn bã cho riêng mình, cứ sợ chia sẻ với người khác thì mình sẽ chẳng còn lại cái gì hết. Lần đầu tiên, khi đến thăm chúng tôi bà tâm tình như thế. Tôi nói như để an ủi bà: -Người ta thường nói lời phân ưu, chia buồn. Nhưng thực ra cũng chỉ là một cách an ủi thôi. Chứ làm sao có thể chia sớt được nỗi buồn của người khác. Tuy nhiên, khi nói ra cũng là cách để làm nhẹ bớt những gì cứ đè nặng trong lòng mình đi chị ạ.
Sau đó bà thường đến chơi và càng lúc càng thân tình với vợ chồng tôi. Bả bảo thấy rất hợp với chúng tôi, vì có cùng những hoàn cảnh, hoạn nạn, và giờ thì đang cùng “sống ở cuối trời quên lãng” tận xứ Bắc Âu này. Sau lần vợ chồng tôi gật đầu trước đề nghị khi bà muốn được kết nghĩa chị em, bà ôm chầm lấy chúng tôi nước mắt sụt sùi, bảo là bà chỉ có một cô con gái, nhưng phải sống ở trong Trung Tâm dành cho người bị bệnh tâm thần, mất trí nhớ. Trung Tâm này khá lớn nằm trong khu vực chúng tôi đang ở. Chúng tôi đã từng đi qua lại rất nhiều lần, nhưng không biết đó là một trung tâm như thế. Chiều hôm sau, chúng tôi cùng đi bộ theo bà đến thăm cô con gái. Không ngờ đây là một cơ sở rất qui mô, có nhiều bác sĩ đảm trách. Cứ một bác sĩ phụ trách mười bệnh nhân, và mỗi bệnh nhân có riêng một y tá trực tiếp săn sóc, dẫn dắt đi chơi, mỗi năm có hai lần đi du lịch nước ngoài tùy theo hoàn cảnh, xuất xứ của mỗi người. Cô bé trông khá xinh, nhưng đôi mắt thất thường. Có khi đang thật buồn, bất ngờ trở nên giận dữ. Dường như đôi lúc vẫn còn nhận ra mẹ, nên sau vài phút xa lạ, lại ôm vai và vuốt tóc mẹ. Khi mới đến, cả bà và vợ chồng tôi đã được dặn dò, bất cứ tình huống nào cũng luôn nở nụ cười. Có khi cô bé cũng cười với chúng tôi, nhưng bất chợt sa sầm nét mặt. Tôi nhìn thấy bà cười, nhưng có dòng lệ ứa ra từ khóe mắt. Trên đường về, thấy bà trầm ngâm, chúng tôi tìm cách đi sau bà, tôn trọng sự yên lặng và những suy nghĩ trong đầu bà. Đã có hẹn trước, chúng tôi mời bà về nhà dùng cơm tối với chúng tôi. Biết sở thích của bà, bà xã tôi đã cuốn sẵn chả giò, về nhà chỉ chiên lên là xong. Tối hôm ấy, bà ở lại với chúng tôi, và ngồi kể lại cuộc đời mình. Bà cho biết đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất bà kể những điều này, bởi bà xem chúng tôi như người thân trong nhà, và có thể sau này có đôi điều cần thiết phải nhờ đến chúng tôi.
Trước ngày mất nước, chồng bà là thiếu tá Pháo Binh thuộc Quân Đoàn I. Ông là bạn học cùng lớp với ông anh cả của bà. Hai người làm đám cưới ở Nam Định, lúc bà vừa đúng 18 tuổi. Sau đó theo về sống cùng nhà chồng, ở thành phố Hải Phòng. Nhưng chỉ mấy tháng sau thì xảy ra chuyện Hiệp Định Genève, chia đôi đất nước, bà theo gia đình chồng xuống tàu há mồm di cư vào Nam, trong lúc cả gia đình của bà vẫn còn kẹt lại. Ngoài cha mẹ, bà chỉ có một người anh duy nhất, là bạn cùng học ở Hà nội với ông chồng. Vào miền Nam, chỉ có một lần duy nhất bà nhận được tấm bưu thiếp của gia đình với đôi dòng vắn tắt, rồi bặt tin luôn. Nuốt bao đau đớn vào lòng, bà cố quên đi nỗi buồn chia ly, để cùng gia đình chồng tìm kế sinh nhai trên vùng đất mới, giúp chồng tiếp tục con đường học vấn dở dang. Sau ba năm đại học, ông đi dạy toán ở một vài trường trung học tư thục để lo cho gia đình. Khi ấy ông bà cũng vừa có đứa con trai đầu lòng. Mấy năm sau, do tình hình chiến tranh ngày một leo thang, ông theo lệnh gọi nhập ngủ vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Sau đó được chọn theo học Ngành Pháo Binh. Ra trường, ông lần lượt chuyển về phục vụ tại các đơn vị Pháo Binh của các Sư Đoàn Thuộc Vùng 3, rồi Vùng 2. Khi thăng cấp Thiếu Tá, đang làm Tiểu Đoàn Phó, ông được chọn sang Mỹ học một khóa chuyên môn. Về nước, được bổ nhiệm về Trường Pháo Binh Dục Mỹ để đảm trách huấn luyện. Năm 1971, tình hình chiến sự Vùng 1 trở nên quyết liệt, sau những thiệt hại nặng nề trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, ông được chọn bổ sung cho Pháo Binh Quân Đoàn I. Bà và ba đứa con di chuyển theo ông, thuê căn nhà nhỏ ở thành phố Đà Nẵng. Bà lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ, ông ở đơn vị, mỗi tuần một đôi lần về thăm. Có khi bận hành quân cả tháng mới về được một lần rồi vội vã ra đi. Đầu tháng ba 75, thấy tình hình có nhiều dấu hiệu bất lợi, ông thu xếp cho vợ và ba đứa con về lại Sài gòn, tá túc tạm thời với gia đình người em, một sĩ quan Hải quân, đang làm việc ở Hải Quân Công Xưởng. Hôm đưa ra phi cơ, ông ôm bà và hai đứa con thật chặt, không muốn rời nhau. Không ai ngờ đó lại là dấu hiệu của chia ly. Ngày 11.3 Ban Mê Thuột thất thủ. Cuộc di tản từ Pleiku theo tỉnh lộ 7 B đã kết thúc số phận của các đơn vị thuộc Quân Đoàn II, từng tạo nên những chiến công hiển hách , đặc biệt đã đánh tan mấy Sư đoàn Cộng quân của Mặt Trận B3, để giữ vững Kontum và Tây Nguyên trong suốt mùa hè khói lửa 1972. Rồi tiếp theo là lệnh bỏ Quân Đoàn I của vị tướng lừng danh Ngô Quang Trưởng. Không mấy ai tin là ông sẽ bỏ vùng đất địa đầu từng thắm đẫm máu đào của hàng vạn sinh linh, đồng đội, một thời trấn giữ, giành lại từng tấc đất, để dựng cờ trên Cổ Thành Quảng Trị. Vậy mà cuối cùng đã bỏ, bỏ thật. Mọi người, từ quân tới dân đều bàng hoàng, hụt hẫng. Kế hoạch di tản và sự phối hợp, chỉ huy tồi tệ của một số tướng lãnh, đã tạo nên một cuộc bại trận đớn đau bi phẫn nhất trong lịch sử chiến tranh. Một cuộc lui quân đẫm máu trên bờ biển Thuận An, mà có những người lính gọi đó là pháp trường cát. Một vùng biển máu ngập những xác người, cả dân và đủ mọi sắc lính. Một quân đoàn với ba sư đoàn bộ binh thiện chiến, nhiều Liên Đoàn Biệt Động Quân dạn dày lửa đạn, những Thiết Đoàn Kỵ Binh với hỏa lực hùng mạnh, hai Lữ Đoàn TQLC của một đơn vị Tổng Trừ Bị vang danh, từng tạo những chiến tích lẫy lừng ở các trận chiến Mậu Thân, Quảng Trị, giờ phải lâm vào bước đường cùng, không còn lối thoát, không còn đạn để có thể chiến đấu. Nhiều người tự sát trong tiếng cười ngạo nghễ, nhiều người bị giết khi vừa bắn đi viên đạn cuối cùng, và tất cả số còn lại bị bắt bởi những tên du kích! Chồng bà là một trong hàng vạn người lính bất hạnh ấy. Vị thiếu tá Pháo Binh đã phải phá hủy hết các khẩu pháo, từng bao nhiêu năm sống chết với mình, để chỉ tự vệ bằng cây súng cá nhân M16, rồi cuối cùng cũng phải vất đi để chiến đấu với sóng biển, với số phận, khi tìm cách bơi ra những chiến hạm Hải Quân lắc lư xa tít ngoài khơi, dưới xích sắt của những chiến xa M113 cũng lội sóng đi tìm sinh lộ. Ở Sài gòn, mỗi ngày bà ra bến Bạch Đằng hỏi tin tức chồng mình, nhờ người em Hải quân liên lạc các chiến hạm công tác tại Vùng I, nhưng tất cả đều không thể cho bà một tin tức nào cụ thể. Trong cái mất mát quá lớn và khủng khiếp ấy, cá nhân một ông thiếu tá, chồng bà, trở nên vô cùng nhỏ nhoi hơn bất cứ lúc nào. Cuối cùng thì Cộng quân cũng vào đến Sài gòn. Người Mỹ có lệnh phải ra đi. Những người làm việc cho Mỹ hoặc có liên quan đến họ bắt đầu được ưu tiên di tản khỏi Việt nam bằng phi cơ. Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy Sư Đoàn 18 BB của ông cùng các lực lượng Thiết Giáp, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân tăng phái, đã chiến đấu thật dũng mãnh, kiêu hùng, ngăn chặn hằng mấy quân đoàn địch tràn vào Long Khánh, làm cả thế giới ngạc nhiên, thán phục. Nhưng cũng chỉ cầm chân được hơn một tuần. Địch quân tránh đụng độ, mở đường sang hướng Biên Hòa để bao vây, uy hiếp Sài gòn. Tối ngày 29.4, người em chồng từ Hải Quân Công Xưởng mang xe về nhà đón vợ con xuống tàu. Anh thúc hối bà và ba đứa con theo ông di tản. Nhưng bà nhất quyết cùng con ở lại chờ chồng. Miền Nam mất vào tay Cộng Sản đã hơn một tháng, chồng bà vẫn biệt tăm. Bà nghĩ chắc ông đã bị bắt, lặn lội ra Đà Nẳng tìm. Vào các trại tù nhốt những sĩ quan miền Nam hỏi thăm, nhưng không ai biết chồng bà. Bà tìm đến nhà anh tài xế cũ, nhờ đưa bà đi thăm một số đồng đội của chồng. Cuối cùng, một anh trung sĩ, người lính thân cận của ông, cho biết là ông đã chết trên biển. Chính anh cùng bơi ra với ông và nhìn thấy ông bị thương do pháo kích của địch, rồi chìm xuống biển, nhưng anh không thể nào cứu được, bởi lúc ấy, anh cũng không nghĩ là mình có thể sống sót. Bà nhờ anh trung sĩ đưa bà ra bờ biển và chỉ nơi nào ngoài khơi mà ông đã ra đi. Nhìn những cánh hải âu lượn lờ trên mặt nước, tưởng như hóa thân của chồng mình, bà quỳ xuống khóc nức nở.
Cuộc đổi đời đã dìm bà và cả ba đứa con xuống vực thẳm. Nhà ngươi em bị tịch thu, kẻ chiến thắng đuổi mẹ con bà không chỉ ra khỏi nhà mà ra khỏi cả Sài gòn. Bà dắt con chạy lên Long Khánh tá túc nhà một người bạn thân có vườn cây ăn trái, rồi mua lại một căn nhà tranh bên cạnh để sống qua ngày. Nhờ người bạn giúp, bà theo buôn bán trái cây. Cả ba đứa con phải nghỉ học, ở nhà khai khẩn thêm đất hoang, làm vườn, trồng khoai, trồng sắn. Lo âu khốn khổ chất chồng, bà không còn biết đến thời gian. Mấy năm sau, nhờ những thùng quà của người em chồng từ Mỹ gởi về, mẹ con bà có được chút vốn làm ăn, cậu con trai lớn tập tành buôn bán thuốc tây. Bớt khổ một chút. Nhưng đùng một cái, khi cậu con trai đầu lòng này vừa tròn 22 tuổi, thì trận chiến biên giới với Campuchia bùng nổ, Trung Cộng đòi dạy cho Việt nam một bài học. Thằng bé bị bắt “thi hành nghĩa vụ quân sự”. Bà phản đối, nêu lý do nó là con của “ngụy” sao các ông tin mà cho vào “Quân Đội Nhân Dân”. Nhưng họ vẫn nhất quyết cưỡng bách, bảo là đáng lẽ phải đi cả hai anh em, như vậy là nhân đạo lắm rồi. Cũng có thể thằng bé phải thế chỗ cho một thằng nào có tiền bạc chạy chọt hoặc quen biết bà con với đám chính quyền. Năn nỉ xin xỏ không được, bà khóc hết nước mắt tiễn con đi, làm lính cho kẻ thù. Bà đau lòng lắm, chỉ cầu mong Trời Phật và vong linh chồng bà phù hộ cho nó. Nhưng chỉ ba tháng sau, bà nhận giấy báo, đứa con trai đầu lòng của bà đã trở thành liệt sĩ! Không biết xác thân nằm ở nơi nào. Người ta chỉ mang đến cho bà tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công. Họ vừa ra khỏi nhà, bà xé nát rồi cho vào bếp lửa. Trong ngôi nhà tranh bé nhỏ giờ có hai cái bàn thờ, leo lét ánh đèn dầu.
Giữa năm 1979, muốn cướp tài sản của những người gốc Hoa, Cộng Sản bày ra chương trình “Ra đi bán chính thức”. Nhờ người em chồng ở Mỹ, liên lạc được một người lính thuộc cấp thân cận cũ gốc người Hoa Chợ Lớn, nhờ ứng vàng và lo lót cho công an, làm giấy tờ giả cho ba mẹ con bà ra đi. Ông sẽ hoàn tiền lại khi họ đến Mỹ. Chiếc thuyền mới đóng, lớn và chắc chắn, nhưng mới ra khơi hai ngày thì hỏng máy. Hai người thợ máy đi theo lại chẳng biết gì về máy tàu, nên cuối cùng chiếc thuyền như thả trôi giữa biển mênh mông, mang theo số mạng của hơn hai trăm người. Tất cả chỉ còn cầu nguyện để mong có một chiếc tàu nào cứu thoát. Nhưng bao nhiêu lời cầu xin vẫn chưa làm động lòng Trời. Chiếc thuyền trôi dạt trên hai mươi ngày, lương thực đã cạn, và vì do không điều khiển được nên bị sóng đánh, nhiều lúc như muốn chìm. Nước tràn vào trong khoang. Mặc dù không còn sức, nhưng tất cả đàn ông đều được gọi lên trên mạn thuyền để thay nhau tát nước. Một số tháo những thanh gỗ trên đài chỉ huy, thu góp tối đa áo quần, chăn mền mang theo, đốt lên tạo thành cột khói để làm dấu hiệu cấp cứu. Con thuyền nghiêng ngả, những đợt sóng lớn đánh vào mạn thuyền, kéo theo một số người xuống biển khơi. Sinh mạng con người lúc này thật nhỏ nhoi. Ai cũng nghĩ rồi sẽ đến lượt mình. Khi tàu sắp chìm, thì Thượng Đế xuất hiện. Một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy đã cứu họ. Thủy thủ đoàn trên tàu rất nhân đạo, tận tình cứu vớt. Họ thi nhau dùng dây đu xuống chiếc thuyền bị nạn, ưu tiên cõng theo con nít và đàn bà, và giúp những người đàn ông cố bám theo chiếc thang lưới, leo lên tàu. Ngay trên sàn tàu, họ sắp xếp đàn ông vào một khu, đàn bà một khu khác, rồi dùng vòi nước ngọt “tưới” lên những người bị nạn để giúp họ tỉnh táo lại, và phát quần áo mới để thay. Sau khi hoàn hồn, không tìm thấy cậu con trai, bà và cô con gái chia nhau đi tìm nhưng không ai biết. Cả anh lính Hải quân đã giúp mẹ con bà cũng mất tích. Bà và cô con gái ôm nhau khóc nức nở, đòi nhảy xuống biển. Vị thuyền trưởng người Nauy biết chuyện nên lệnh cho cô bác sĩ đưa mẹ con bà vào phòng y tế săn sóc và bảo đảm sự an toàn. Bà bảo, nếu không nghĩ đến cô con gái út, bà đã nhảy xuống biển. Đến định cư ở Nauy, một đất nước giàu có và đầy lòng nhân đạo, bà và cô con gái được ưu tiên sắp xếp cho định cư ngay tại thủ đô Oslo. Mẹ con được cấp một căn nhà mới khang trang, hai phòng ngủ có đầy đủ tiện nghi. Cô con gái được theo học một trường Gymnas (trung học đệ nhị cấp) sau một khóa học ngôn ngữ Nauy dành cho người ngoại quốc. Bà cũng được theo học tại một trường Voksengymnas (trung học dành cho người lớn). Hằng tháng, với số tiền trợ cấp đặc biệt, hai mẹ con không những sống đầy đủ mà còn dành dụm trả dần cho vợ người lính Hải quân tiền tương ứng với số vàng mà người em chồng của bà đã hứa với người thuộc cấp cũ. Người lính ân nhân này cũng đã chết trên biển cùng với đứa con trai của bà.
Cuộc sống tưởng chừng yên ả, sau khi những đau thương mất mát tạm lắng xuống, thì cô con gái trở nên kỳ lạ, thất thường sau những cơn ác mộng. Ở nhà, ban ngày chỉ đóng cửa nằm suốt trong phòng, ban đêm thức giấc la hét thất thanh. Bà phải đưa con tới trường, nhưng nhiều hôm cô bé la hét và vất tung sách vở chạy ra ngoài. Được đưa vào bệnh viện tâm thần chữa trị, nhưng không thuyên giảm. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, mất dần trí nhớ. Thấy cô bé không còn làm chủ được mình, có thể nguy hại đến bản thân và cho người khác, Hội đồng Y khoa quyết định đưa vào một trung tâm đặc biệt dành chữa trị lâu dài. Bà không chịu, khóc lóc xin cho cô con gái được sống ở nhà, bà sẽ tự chăm sóc cho con, nhưng mọi người đều khuyên bà nên để cho cháu vào sống ở Trung tâm, để có thể chữa trị và giúp bà tự lo được cho mỉnh. Hơn nữa, mỗi tuần Trung Tâm sẽ sắp xếp cho bà hai lần vào thăm và ở lại với con khoảng ba tiếng đồng hồ. Đúng vào lúc này bà lại nhận thêm một tin buồn. Người em chồng vừa qua đời ở Mỹ do một tai nạn giao thông. Bà không thể sang dự tang lễ được. Trung Tâm đặc biệt này nằm trong khu vực chúng tôi đang ở. Bà thì đã dọn về đây từ lâu rồi, sau ngày cô con gái được đưa vào sống ở đây.
Từ ngày thân tình bà luôn đi bộ với chúng tôi mỗi ngày trên con đường dọc theo bờ sông Nitelva. Nhưng khi đến giữa cầu bà dừng lại, đứng ở đó, chờ chúng tôi trở lại sẽ cùng về với nhau. Điều đặc biệt, thành chiếc cầu này là một tấm lưới bằng sắt sơn màu xám, trên đó có treo rất nhiều ổ khóa, cả mấy trăm chiếc. Có những cái nằm riêng một mình, có những cái khóa chung vào với hai, ba cái khác. Trên nhiều ổ khóa có khắc tên hai người, một số có tên nhiều người. Đã mấy lần, vợ chồng tôi tò mò, đứng lại xem và đọc vài cái tên trên ấy. Chỉ toàn tên người bản xứ, Nauy. Tôi nghĩ có lẽ đây là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân.
Buổi chiều, sau ngày đến thăm cô con gái và ở lại nhà chúng tôi, khi cùng thả bộ tới giữa cầu, bà dắt tay chúng tôi đến một chiếc ổ khóa lớn, nằm riêng rẻ trên tấm lưới thành cầu. Cái khóa đồng, có khắc đậm năm cái tên. Mặt trước là tên của vợ chồng bà, mặt sau là tên của ba đứa con. Cũng lần đầu tiên, bà giải thích vì sao bà thường đứng một mình giữa thành cầu. Vì cứ mỗi lần nhìn xuống dòng sông phía dưới, bà đều nhìn thấy hiện lên khuôn mặt của chồng bà và hai đứa con trai. Trong gợn sóng, bà vẫn thấy họ mỉm cười với bà. Chính điều này đã giúp bà có nghị lực để sống tới hôm nay. Mỗi năm, bà làm giỗ chung cho ba cha con vào giữa tháng ba, vì họ đều mất trong cùng tháng ba. Tháng ba, Bắc Âu đang mùa Đông, trời rất lạnh. Khoảng thời gian này, vợ chồng tôi lại thường sang Mỹ thăm ba cô con gái, và cũng để trốn lạnh. Nhưng năm nay, chúng tôi ở lại Nauy, theo mong muốn của bà. Ước nguyện của bà là sau kỳ giỗ này bà theo chúng tôi sang Tây Ban Nha, sống trên đảo nào đó vài hôm, để bà có thể mỗi ngày ngồi trước biển, nhìn ra đại dương xa xăm, hy vọng sẽ thấy được quê hương và hình ảnh chồng và hai đứa con trai. Bà nghĩ như thế. Trong ngày giỗ, bà khẩn khoản nhờ chúng tôi, trước khi trao một tờ giấy ủy quyền, để khi bà qua đời, thân xác được thiêu, và chúng tôi sẽ mang tro cốt rải xuống dòng sông Nitelva, nơi mà bà thường đứng trên cầu, mỗi buổi chiều hè, nhìn xuống đó. Bà cũng dặn dò, nhờ chúng tôi bỏ hết mấy tấm ảnh của gia đình, chồng và các con vào quan tài để cùng thiêu với bà. Bà đi với vợ chồng tôi sang Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha và ở đây hai tuần. Bà bắt buộc chúng tôi phải để cho bà bao trọn chuyến du lịch này. Theo ước muốn của bà, mỗi ngày sau khi ăn điểm tâm xong, vợ chồng tôi đưa bà ra biển, nơi có mô đất cao, được làm thành một vườn hoa rất đẹp. Bà ngồi trên ghế đá có dù che, nhìn ra một vùng biển trời mênh mông trước mặt. Không biết bà có nhìn thấy được chồng con và quê hương ở phía cuối chân trời? Chúng tôi ngại, không dám hỏi bà.
Sau chuyến đi khoảng ba tháng, bà bị bệnh. Chúng tôi đến thăm. Bà than mệt, thỉnh thoảng lên cơn ho. Tôi nghĩ bà chỉ cảm nhẹ, hoặc mùa này nhiều người bị dị ứng phấn hoa, nên đi mua thuốc cho bà. Khi mang cốc nước đến cho bà uống thuốc, tôi vỗ vai, an ủi: – Bà chị đã trên 80 rồi, tất nhiên sức khỏe có yếu đi, hay mệt, hoặc có thể bị dị ứng phấn hoa, chứ chẳng có chuyện gì đâu” Bà xã tôi dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm, làm ít món ăn bà thích và dặn dò bà phải nghỉ ngơi, không được làm việc gì, nhà cửa, cơm nước để chúng tôi lo. Không ngờ bệnh tình ngày một nặng hơn. Chúng tôi đưa bà vào bệnh viện. Sau khi khám và làm xét nghiệm, bác sĩ cho biết trong phổi bà có nước và có cả vi khuẩn. Tình trạng khá nguy hiểm.
Hơn một tuần sau bà mất. Là người thân duy nhất được bà ghi vào hồ sơ, chúng tôi được bệnh viện báo tin. Với tờ ủy quyền, chúng tôi nhận đứng ra lo việc an táng cho bà. Tôi đến Trung Tâm Tâm Thần, nơi cô con gái của bà ở, báo tin cho Bác sĩ Giám Đốc, và yêu cầu vào ngày tang lễ, xin Trung Tâm đưa cô con gái đến dự và chịu tang cho mẹ, theo truyền thống Việt nam Đám tang tổ chức ngay tại nhà quàn bệnh viện. Ngoài vợ chồng tôi, chỉ có cô con gái của bà và hai người của Trung Tâm Tâm Thần. Tôi cũng mời một vị sư đến niệm kinh cho bà. Cô con gái ăn mặc đúng phong cách, một bộ vest đen mới toanh, theo sự hướng dẫn của cô ý tá, cùng chúng tôi quỳ xuống trước linh cữu của bà. Không biết cô gái có biết điều gì đang xảy ra hay không? Chỉ im lặng cúi đầu. Khi vị sư choàng chiếc khăn tang vào đầu, cô đưa tay giật xuống. Không biết cô ý tá nói nhỏ với cô điều gì, rồi lấy chiếc khăn tang quấn lại trên đầu. Lần này cô bé yên lặng, chống hai tay cúi xuống.
Đúng một trăm ngày, theo ước nguyện của bà, cũng là đầu tháng bảy, mùa hè, chúng tôi mang tro của bà ra rải giữa dòng sông, dưới chiếc cầu Nitelva, cùng lúc với những cánh hoa hồng trắng được bỏ xuống. Loại hoa bà thường cắm trên bàn thờ chồng và hai đứa con trai của bà. Hôm ấy trời đang thật đẹp, bỗng bất chợt một cơn mưa rào. Mùa hè ở đây thường như thế. Vợ chồng tôi vội vàng chạy vào dưới tàn cây ở phía đầu cầu trú mưa, nơi mà lần đầu tiên chúng tôi đã thực sự gặp bà, để rồi sau đó trở thành thân thiết. Chiều hôm sau, khi đi bách bộ, tôi mang theo chai Zip, chùi sạch và đánh bóng lại ổ khóa của bà treo trên thành cầu, lấp lánh năm cái tên được khắc sâu trên ấy. Nước mắt tôi bỗng trào ra, khi nhớ tới bà và câu chuyện đau thương của gia đình bà. Cả một gia đình đều là nạn nhân của Cộng sản. Một chế độ man rợ đã gây nên biết bao chia lìa tang tóc cho đồng bào và hủy hoại cả quê hương đất nước. Và đó cũng chỉ là một trong muôn vàn thảm cảnh sau ngày CS cưỡng chiếm miền Nam, xích xiềng cả nước. Từ hôm ấy, cứ mỗi lần đi bộ, chúng tôi đều dừng lại giữa cây cầu Nitelva này khoảng vài phút, đứng yên lặng bên thành cầu, tưởng niệm vợ chồng và hai đứa con trai bất hạnh của bà.
Bệnh viện cũng đã trao lại cho chúng tôi những di vật của bà. Trong đó ngoài hai thẻ ngân hàng và mấy tấm ảnh còn có lá thư ngắn viết cho vợ chồng tôi và tờ di chúc viết bằng tiếng Việt. Bà nhờ tôi dịch ra tiếng Nauy hai bản. nhờ bệnh viện chứng nhận. Một bản trao lại cho kommune (văn phòng thị xã), một bản cho Trung Tâm Tâm Thần. Trong đó bà quyết định, tất cả tài sản, căn nhà và tiền bạc trong ngân hàng, bà xin hiến tặng cho Trung Tâm, nơi nuôi nấng chăm sóc con gái của bà. Bà chỉ có một yêu cầu, khi nào con gái bà qua đời, xin cho thiêu xác và rải tro xuống dòng sông, giữa cầu Nitelva, để cháu được đoàn tụ với bố mẹ và hai anh, khi theo dòng sông chảy ra biển và cùng nhau trôi dạt về lại quê nhà.
Phái đoàn y tế của một tiểu bang Hoa Kỳ sang giúp một bệnh viện tại Hà nội. Công việc đầu tiên là mở lớp huấn luyện cho các bác sĩ và y tá. Trước hết phái đoàn đã phải bỏ tiền túi ra để sửa sang lại phòng ốc và sắm bàn ghế cho lớp học, nếu không sẽ không có chỗ cho các học viên dự lớp huấn luyện ngồi. Trước ngày khai giảng đã dự định, ban Giám Đốc Bệnh Viện xin phái đoàn giúp trang bị máy lạnh cho năm lớp học giảng dạy, nếu không sẽ rất trở ngại cho việc huấn luyện. Phái đoàn chấp thuận và sau đó việc giảng dạy tiến hành suông sẻ, nhưng chỉ ngay sau khi bế giảng khóa học, phái đoàn y tế của Mỹ chưa về, ban Giám Đốc Bệnh Viện đã chia nhau 5 cái máy lạnh đem về ráp ở nhà riêng và toàn bộ bàn ghế vừa sắm sửa, lý do là tài sản này không nằm trong số tài sản của bệnh viện, nghĩa là không có sổ sách.
Các bác sĩ Việt Nam từ Hà nội sang tu nghiệp một lớp phẫu thuật xương cho biết các bệnh viện tại Việt Nam, bệnh nhân bắt buộc phải trả tiền khi phải mua khớp nhân tạo. Tuy vậy khớp cũng có nhiều giá, thứ rẻ 500,000 đồng, thứ đắt nhất lên tới 2 triệu, “tiền nào của đó”, nhà giàu thì dùng đồ tốt, nghèo thì dùng của “lạc xon”. Cái đau của những người bệnh có tiền, là sau khi trả cho bác sĩ một số tiền lớn, hy vọng sẽ có được của tốt hơn người, nhưng cuối cùng thì ai cũng như ai, nghĩa là chỉ được dùng thứ rẻ tiền nhất. Lý do là khi bác sĩ đề nghị giá cả, chỉ nhắm vào “túi tiền” và “máu mặt” của bệnh nhân để kiếm thêm chút tiền, còn giàu nghèo, lừa được ai thì cứ lừa, miễn là có tiền bỏ túi. Nghề thầy lâu nay vẫn được coi là một nghề cao quí nhất, nhưng tư cách nhà giáo có khi không bằng một gã hoạn heo. Các bác sĩ đi thực tập ở Hoa Kỳ về, đều phải lo chạy đi mua “đồ ngoại” cho thầy, nếu không muốn bị thầy trù dập. Không có rượu, không có thuốc, không có đồ chơi cho thầy, thì luận án thầy cứ gạch tuốt luốt mà không sửa một chữ. Ở trên cao thì Giáo Sư Y Khoa mở lớp luyện thi y khoa tại nhà riêng, ở hạ tầng thì cô giáo tiểu học mở lớp học hè tại nhà cô giáo.
Chúng ta cũng rõ câu chuyện diễn tiến như thế nào. Khi sự vô đạo còn lang thang chụp giật ngoài chợ trời, ta còn chấp nhận được, khi nó đã đi vào nghề “lương y như từ mẫu” hay len vào địa vị cao quí danh dự của “chữ Thầy”, đứng hàng thứ hai sau vua và hơn cả cha, thì hết thuốc chữa.
Những đứa trẻ được đào tạo trong khuôn viên nhà trường và ngoài xã hội hiện nay, nhanh nhẹn, tinh khôn hơn, nhưng rõ ràng ranh mãnh và láu cá hơn, biết làm tiền sớm, thủ lợi cho mình, không cần tới sự thật thà và lẽ phải. Chúng ta chứng minh được điều này bằng cách so sánh hai đứa trẻ, một sinh ra hay lớn lên ở hải ngoại và một đứa trẻ mới đem từ Việt Nam sang. Chúng ta phải công nhận rằng, từ khi xe tăng Cộng Sản vào cổng chính dinh Độc Lập thì đạo lý con người và sự tử tế leo ngõ sau, ra đường Huyền Trân Công Chúa bỏ đi mất. Điều đáng buồn và ai cũng phải thấy là ngay cả người miền Nam cũng bị tha hóa sau thời điểm tháng 4 năm 1975 một cách đáng kinh ngạc.
Tội nghiệp cho rằng người nước Tề không ăn trộm, sang ở tại nước Sở, vì khác phong thổ mà sinh ra ăn trộm, như cam trồng ở đất Hoài Nam thì trái ngọt, đem sang trồng ở Hoài Bắc thì sản sinh ra trái chua. Nói một cách khác, người miền Nam ngày xưa có chế độ tốt, văn hóa thanh lịch thì con người tốt, nay dưới chế độ mới, con người chỉ biết trọng tiền tài, coi liêm sỉ nhẹ thì tâm tính con người lại thay đổi phát triển theo chiều xấu. Phải nói là không biết bao nhiêu chuyện đời, chúng ta có thể thấy ngay từ trong vòng họ hàng bà con hay những con người cũ nay còn ở lại. Những vụ lường gạt, dối trá giữa anh em, bạn bè, mẹ con xẩy ra nhan nhãn.
Người ở hải ngoại thường nhận được những bức thư dối trá, sống sượng với mục đích làm tiền bà con, thân nhân, nêu những lý do đau ốm, làm nhà, mua xe, đi bệnh viện, tai nạn, vào đại học … Quan niệm đồng tiền là chủ đạo, cần tiền không cần tới nhân nghĩa đã khiến xã hội xô đẩy nhau trên con đường bon chen, đạp lên nhau mà sống, thể hiện trong những câu nói nhân gian vẫn được thiên hạ truyền miệng một cách thích thú là “Đồng tiền là Tiên, là Phật, là sức bật của lò xo, là thước đo lòng người, là tiếng cười tuổi trẻ, là sức khoẻ tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng che thân, là cái cân công lý. Đồng tiền là hết ý!”
Có một quốc gia nào trên thế giới sinh ra được một câu đồng dao bất hủ như thế không? Khẩu hiệu “mình sống vì mọi người” trở thành một khẩu hiệu dối trá, xoen xoét ngoài miệng, không còn được chút ý nghĩa nào.
Cũng vì coi đồng tiền là tối thượng, nên người ta không còn coi trọng danh dự gia đình hay gốc gác. Ngày xưa, cái căn cước của mỗi cá nhân có ghi rõ tên mẹ cha, ra đường và ra đời, làm điều gì cũng ngó trước ngó sau, sợ tổn hại đến thanh danh cha mẹ, họ hàng, bởi vậy mới có câu “thương cha chớ chọc ăn mày”. Cũng vì sống trong xã hội coi đồng tiền là trọng, người ta sẵn sàng bán thân, bán con, bán vợ … là những xương thịt cụ thể, nói chi đến những danh từ trừu tượng, không sờ mó, đem ra ăn uống hay “deposit” vào nhà băng được như danh dự, trách nhiệm, lương tâm hay đạo đức …
Chúng ta vẫn tự hào là người hải ngoại có văn hóa, đạo đức hơn những người hiện đang sống dưới chế độ Cộng Sản. Được sống trong một xã hội văn minh, có pháp luật, tử tế, thật thà, nhưng đã có những người đã lợi dụng sự tử tế thật thà đó để mưu lợi riêng cho mình. Người nghèo ngụy biện, lấy lý do vì không đủ cơm ăn, áo mặc đành phải vác dao làm đạo tặc, ở hải ngoại có người khoa bảng, ở nhà hai triệu đồng, mua du thuyền, đi xe hơi thời thượng vẫn con gian lận y tế, làm giàu trên sự ngây thơ, ngu dốt của bệnh nhân, qua các kẽ hở của pháp luật; lớp dịch vụ hạng trung tập thói lường gạt khách hàng, vì sự tin cậy và mặc cảm ngôn ngữ nên phải nhờ cậy đến đồng hương. Người trong nước, hàng cán bộ cao cấp, mang sự tự tôn chiến thắng, điêu ngoa bóc lột dân lành đã đành, người hải ngoại, đáng lý ra phải mang mặc cảm lưu vong, bỏ nước, mang ơn tổ quốc cưu mang, thương yêu đùm bọc lấy nhau không hết, lại tìm cách bòn rút, gian lận, thâm lạm ngân sách y tế, lợi dụng sự ngây thơ, tin tưởng của bệnh nhân. Cán bộ trong nước được “xử lý nội bộ” hay vào tù, kẻ hải ngoại bị cảnh sát còng tay giữa đám đông, tủi nhục, xấu hổ cũng như nhau. Biết là chết chẳng mang theo được gì như vợ đẹp, con đỗ đạt, nhà cửa trên đồi dưới biển và cả cái trương mục ngân hàng kếch xù kia, ngoài cái “bia miệng” còn để lại. Thân xác đẹp đẽ, hồng hào, đeo kính gọng vàng, “complet-cà vạt” kia rồi cũng thối rữa dưới bia mộ, mà sao người ta vẫn còn mải miết, tham lam theo đồng tiền “vô đạo”một cách say mê, hăm hở như thế?”
Trung tá Timothy Truong được bổ nhiệm giảng dạy Khoa khoa học chính trị thuộc Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAF Academy) tại Colorado Springs từ tháng 7, năm 2025. Ông là Giảng viên khoa học chính trị, dạy các khoá học về Chính phủ Hoa Kỳ, chính trị, an ninh Quốc gia và quan hệ quốc tế. Trung tá Timothy Truong từng là Sinh viên Sĩ quan thụ huấn và tốt nghiệp từ Học viện Không quân Hoa Kỳ năm 2010 với Văn bằng Cử nhân khoa học, chuyên ngành lịch sử. Khoa khoa học chính trị tại Học viện Không quân Hoa Kỳ có đội ngũ Giảng viên gồm các Sĩ quan mang cấp Trung tá, Thiếu tá và Đại uý hiện dịch và các Giáo sư dân sự giảng dạy các khoá học khoa học chính trị cho Sinh viên Sĩ quan.
Khoa khoa học chính trị là một phần trong chương trình giáo dục chính của Học viện Không quân Hoa Kỳ, phát triển và giảng dạy các khóa học về chính phủ Hoa Kỳ, quan hệ quốc tế và chính sách quốc phòng của Hoa kỳ. Khoa này chuẩn bị cho Sinh viên Sĩ quan hiểu được về chính trị Hoa Kỳ và quốc tế, sẽ định hình binh nghiệp của họ. Để làm được điều đó, Sinh viên Sĩ quan nghiên cứu các lý thuyết và tư tưởng chính trị, chính trị cạnh tranh, quan hệ quốc tế, chính trị Hoa Kỳ, an ninh quốc tế, quyết định quốc phòng, chính trị của các chính phủ nước ngoài.
Trung tá Timothy Truong là sĩ quan ngành tiếp liệu Không quân, ông đã phục vụ các vị trí chỉ huy trong lãnh vực tiếp vận, giáo dục, điều hành, quản lý nguồn lực và nhân sự đáng kể cũng như giảng dạy Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (AFROTC) tại trường Đại học Penn State. Kinh nghiệm của ông trải rộng từ các Quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ, ông từng phục vụ tại Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Hàn, với các nhiệm vụ hỗ trợ quan trọng như Chiến dịch yểm trợ Thống nhất (cứu trợ Ebola), Chiến dịch Freedom’s Sentinel ở Kabul với tư cách là Cố vấn tiếp liệu cao cấp của Afghanistan, và hỗ trợ tiếp liệu cho FEMA trong các cơn bão Ian, Helene và Milton.
Trung tá Timothy Truong trong buổi lễ thăng cấp ngày 25 tháng 5 năm 2025, tại Hesed House, Lone Star Flight Museum, Houston, TX (hình của facebook.com/HesedHouseWTX).
Trung tá Timothy Truong là con trai của người tị nạn Việt Nam, ông sinh ra và lớn lên tại tại Hoa Kỳ, ông rất hãnh diện về di sản văn hóa của cha mẹ, và biết ơn đất nước Hoa Kỳ đã cho ông cơ hội học hành và phục vụ quân đội mà ông đã trải qua gần 16 năm binh nghiệp. Hiệp hội cựu sinh viên Đại học Penn State đã chọn Thiếu tá* Timothy Truong, Sĩ quan điều hành tiếp vận khu vực phía Đông Hoa Kỳ của Bộ chỉ huy tiếp vận Quốc phòng cho Giải thưởng thành tựu cựu sinh viên năm 2022. Giải thưởng này vinh danh các cựu sinh viên từ 35 tuổi trở xuống vì những thành tựu chuyên môn xuất sắc của họ.
Sau khi tốt nghiệp Hoc viện Không quân Hoa Kỳ, Thiếu uý* Timothy Truong được chỉ định lần lượt phục vụ tại các đơn vị từ năm 2010 đến nay: Sĩ quan điều hành Phi đoàn không vận 730th tại Yokota AB, Nhật Bản từ năm 2010 đến năm 2013; Trưởng phi hành đoàn/Sĩ quan phụ trách nghi lễ, Phi đoàn tiếp vận 39 trú đóng tại căn cứ Không quân Incirlik, Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2013 đến năm 2014; Trưởng phi hành đoàn, Phi đoàn 607 bảo trì vật liệu, đồn trú tại căn cứ không quân Daegu, Nam Hàn từ năm 2015 đến năm 2016; Trưởng phi hành đoàn huấn luyện/Phụ tá Giáo sư nghiên cứu hàng không không gian, Phân đội AFROTC 720, Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Không quân (AFROTC) tại Đại học Penn State University từ năm 2016 đến năm 2019; Sĩ quan điều hành, Phi đoàn 97 tiếp liệu đồn trú tại Altus AFB, OK, từ năm 2019 đến năm 2022; Sĩ quan điều hành Cơ quan tiếp vận Quốc phòng – Khu vực phía Đông Hoa Kỳ tại Houston, TX từ năm 2022 đến năm 2025; Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ từ tháng 7 năm 2025 đến nay.
Thiếu tá* Timothy Truong và các thành viên của Lực lượng đặc nhiệm khu vực phía Đông Hoa Kỳ (hình của dla.mil)
Trung tá Timothy Truong tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cao học nghệ thuật và khoa học tác chiến quân sự, Đại học Không quân, Căn cứ Không quân Maxwell 9Air University, Maxwell AFB) năm 2023; Văn bằng Cao học lịch sử, Đại học Southern New Hampshire, Manchester, NH năm 2022; Văn bằng Cao học quan hệ quốc tế, Đại học Pennsylvania, University Park, PA năm 2019; Văn bằng Cao học quản lý tình huống khẩn cấp/thảm họa, Đại học công lập Hoa Kỳ, Charles Town, WV năm 2015; Văn bằng Cử nhân Khoa học, chuyên ngành Lịch sử, Học viện Không quân Hoa Kỳ, (USAF Academy) Colorado Springs, năm 2010.
Gần 16 năm phục vụ Không quân, Trung tá Timothy Truong được trao tặng các loại huy chương: Huy chương Defense Meritorious Service Medal; Huy chương Meritorious Service Medal; Huy chương Joint Commendation Medal with one oak leaf cluster; Air Force Commendation Medal; Huy chương Air Force Achievement Medal; Giải thưởng 2023 Penn State Alumni Achievement Awardee.
Trung tá Timothy Truong là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Bác sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn Truyền thông 149 (149 CS), an ninh mạng và truyền thông, Không đoàn chiến đấu 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: *Ghi theo thời gian còn mang cấp Thiếu tá,
Hổm rày mấy quan lớn CS Việt Nam kêu Facebook cộng tác với mình: Đừng cho dân lên Facebook chửi rủa, rồi rủ ren nhau đi biểu tình tưng bừng làm mấy đồng chí ăn nhậu hổng có yên hè.
Nhưng tụi Facebook ngoan cố không thèm cộng tác gì ráo; viện lẽ quyền tự do ngôn luận dẫu muốn cấm cũng đâu có cấm được. Làm bậy làm bạ, bịt miệng dân Việt Nam rồi công luận thế giới nó nhào vô chống đối cái kiểm duyệt nầy, tẩy chay, hậu quả là mất khách hàng quảng cáo thì cha tui cũng chết chớ đừng nói tới tui. “Thôi hổng dám dâu! Thông cảm chút đi nhe!”
Thua keo nầy thì bày keo khác… Đám tuyên huấn bèn bày ra cái chiêu láu cá, đánh trống lảng, lâu lâu tung ra một cái đề tài bá đạo, bá láp, bá xàm nào đó như cấm ăn thịt chó ở nội thành Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật; vì bọn Tây tư bản nó chửi rủa um sùm kìa.
Không những chửi mà còn đe dọa cóc thèm tới Việt Nam du lịch nữa là mình hổng có ‘xí’ được tiền ‘đô’ để bù vào cái ngân sách đang bị bọn tham quan ô lại tùng xẻo làm cạn quéo hết rồi.
Nghe vậy thì đám khoái ăn thịt chó viện lẽ đàn anh Trung quốc đã ăn thịt chó từ khoảng 500 năm về trước.
Rồi thời Mao Trạch Đông, chiến dịch đại nhẩy vọt bị thọt cẳng, què giò, hơn 70 triệu dân Tàu chết đói, phải ăn cả thịt người! Hổng nhờ thịt cầy nầy thì dân Tàu chắc chết hết ráo. Chó có công cứu CS; thì mình phải ghi công bằng cách tiếp tục ăn thịt chúng nữa vậy thôi.
Ăn rồi còn rủ rê người khác đến cùng ăn cho xôm, hằng năm phèng la quảng cáo ôm xồm: Lễ hội thịt chó! Thịt chó nguyên con, thui vàng rượm, được móc lủng lẳng móc trên các sạp hàng ở chợ Động Khẩu lớn nhất thành phố Ngọc Lâm, tỉnh Quảng Tây.
Mấy chú Ba cho rằng mùa hè nóng, ăn thịt chó mát, tăng cường sinh lý, chữa được bịnh trên bảo dưới hổng nghe thì ngu sao mà hổng hẩu xực ‘cẩu nhục’ chớ? Mấy người ăn heo, bò, gà thì tui ăn chó thì có khác gì nhau? Rồi Đại Hàn, Việt Nam đó họ cũng ăn tới vài triệu con một năm đó thấy hông?
Nói như vậy là vơ đũa cả nắm. Miền Nam mình sau 75 đói rã họng gần chết mà đa số bà con mình cũng hổng ai ăn thịt người bạn thân nhứt, thông minh nhứt, tình nghĩa nhứt, trung thành nhứt và nhiều cái nhứt nhứt… là con chó bao giờ! Bà con mình trong Nam cho rằng thịt chó không có quốc hồn quốc túy gì ráo. Ăn thịt chó, mèo là ác. Mà làm ác, xui lắm… Trời sẽ trả báo. Nếu có ăn là heo giả cầy tức thịt heo giả làm thịt chó vậy thôi.
***
Nhớ hồi mất nước, tui đang dạy học ở một cái quận lỵ heo hút, miền đồng bằng. Rán nấn ná vì thiệt ra tui hổng biết đi đâu, làm gì mà sống khi một cục đất chọi chim cũng không có.
Trường tui dạy là một trường tỉnh hạt ở quận, mỗi cấp chỉ có hai lớp, từ lớp 6 cho tới lớp 12. Học trò chừng 5, 6 trăm đứa; thầy cô được khoảng 20 là cùng.
CS Bắc Việt bèn gởi một đứa ở Hà Tây, một đứa ở Ninh Bình, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh vào; gọi là A chi viện cho tỉnh Hậu Giang.
Hai đứa nầy vô làm ban giám hiệu để theo dõi, gạn lọc xem thầy cô có ai là phản động, do ‘CIA’ gài lại hay không?
Một hôm có tay Thanh tra từ Ty Giáo dục về trường. Ba đứa nó hùn được 18 đồng (Lương tháng giáo chức, dứt cháo, chỉ 5, 6 chục đồng thôi) vô cái Sóc Miên mua con chó chừng chục ký về, định giết thịt, làm dồi chó, rựa mận, chả chìa xúm nhau nhậu cho đỡ nhớ cái ‘hĩm’ còn ở ngoài miền Bắc.
Nắm cổ con chó về, nhốt vào cái bội bằng tre đan, (bội hay dùng để nhốt mấy con gà nòi đá độ). Trên nóc bội, có dằn cục đá. Bố con nhà nó, đứa mài dao xèn xoẹt định cắt tiết, đứa đi kiếm rơm về thui; tay còn lại qua chùa Tịnh Độ (chuyên bốc thuốc Nam) xin lá mơ; nhưng sư cụ biết tụi nó ăn thịt chó nên nhứt định không cho.
Thấy CS mài dao, con chó nó rét quá rán sức bình sinh, tung cái bội văng cục đá xuống nó lên đường bôn tẩu… chạy mất về nhà chủ cũ. Ai nói ‘ngu như chó’ là nói trật lất rồi!
***
Ở Úc cũng khá là lâu, tui thấy cách đối xử của dân Úc với chó, với mèo chắc học từ cái phong tục tập quán tốt đẹp của người dân miền Nam mình đó thôi?!
Ăn thịt chó là man rợ, cổ hủ, không văn minh gì ráo trọi hè. Vì chó cũng biết, buồn vui, đau đớn như người!
Đài Loan rồi Nam Hàn mới đây cũng đồng ý với Tây là sẽ không ăn thịt chó nữa. Đứa nào giết chó để ăn sẽ bị phạt tiền, hoặc đi ở tù.
Tây không những không ăn thịt chó mà còn thương yêu chó không thua kém gì những người thân thuộc. Cho chó lên truyền hình, đóng phim 101 con chó đốm, cho chó đi thi hoa hậu. Cơn bão mới đây đổ bộ vào miền Đông nước Mỹ gây ngập lụt thì lại thấy cảnh nhân viên cứu nạn bế chó lội bì bỏm trong dòng nước lũ để quay phim.
Xã hội Tây Phương nầy tôn thờ vật chất, chỉ vì đồng tiền mà người ta bội phản nhau lắm lắm; nên nhiều anh mình chọn sống cô đơn. Bị vợ bỏ ư? Ắt phải có ngay một con chó để bầu bạn, kẻo không, mình sẽ bị khủng hoảng tâm thần vì chìm ngập trong nỗi cô đơn.
Thằng bạn Úc của tui cũng vậy! Vợ bỏ ngày trước, ngay hôm sau nó rước về một em chó để điền khuyết chỗ của em yêu!
Nó nói: Với chó, mình cứ ra lịnh thoải mái không bao giờ bị cự cãi. Chó không bao giờ đem mình ra ‘phê bình kiểm điểm’ (cái nầy nghe quen quen)! “Sao chưa giặt quần áo, chưa cạo râu, tại sao nách lại hôi?” “Sao trên người lại có mùi lạ, vừa đi với con chó nào khác về phải không?”
Chó đơn giản, dễ hiểu! Không rắc rối như tánh của em yêu. Vui là vẫy đuôi, buồn là cụp tai lại. Mình lỡ quên mất sinh nhật của chó và… chẳng sao cả vì nó có biết đâu?
Chó thấy mình nhậu xỉn nó càng mừng vì nó sẽ có chè mà ăn. Chó giúp mình hạ huyết áp, trong khi chơi với mèo hai chân, coi chừng tối ngủ với vợ nhà, mớ xì bậy bạ ra là chết!
Thế nên chó được cưng chiều cũng là phải phải. Tuy nhiên cái gì cũng có cái mặt trái.
Chuyện rằng: Thằng nhóc Johnny lên 8 tuổi có nuôi một con chó tên là Buddy (nghĩa là Bồ Tèo). Johnny cưng Buddy lắm. Coi Buddy như là một người bạn tri kỷ, tri âm.
Một hôm bố Johnny đưa Buddy đi bác sĩ thú y. Khi về, bố báo hung tin: “Bác sĩ nói Buddy chỉ còn có 3 tuần lễ nữa để sống.”
Johnny nghe hung tin òa lên khóc nức nở. Bố Johnny ôm lấy con mình an ủi.
“Thôi phần số của Buddy như vậy là bố con mình phải chịu vậy thôi. Đâu cãi lại được ông Trời!”
Johnny gạt nước mắt nói: “Rồi bố có làm đám ma cho Buddy không?” “Dĩ nhiên là có rồi!” “Con có mời bạn cùng lớp đến được không?” “Dĩ nhiên là được rồi!” “Rồi tụi nó có bánh kẹo và cà rem không?” “Dĩ nhiên con và bạn sẽ có tất cả những gì tụi con muốn!”
Nghe vậy, Johnny gạt nước mắt, đề nghị là: “Buddy trước sau gì cũng chết! Thôi bố cho Buddy chết ngay bữa nay đi nhe!”
Bài học rút ra là: Tây thấy vậy… chớ hổng phải vậy!
***
Tây có cái ngộ là ca tụng chó hết lời. Nhưng ghét ai, lại giống như Mít mình, nó đem kẻ thù ra mà so sánh với con chó!
Chuyện rằng: Thời mồ ma đảng Cộng sản Liên Xô, McDonald, một tay tư bản Mỹ, có tính tò mò không biết cái giống gì xảy ra sau bức màn sắt của CS Liên Xô nên chạy vạy mãi mới xin được cái chiếu khán đến Nga mà du lịch.
Một hôm, McDonald chạy chiếc xe Lada Niva của Nga qua một căn nhà ở vùng quê thấy cái bảng: “Bán một con chó biết nói!!”
Là tư bản, thấy cơ hội mần ăn nào có lời là chộp liền, McDonald dừng xe lại bấm chuông xin xem qua con chó Nga nầy nó ra sao?
Chủ nhà “Ba-Lép- Xép” nói: “Đồng chí (ai nó cũng kêu đồng chí hết ráo hè) ra sân sau thấy một con chó Labrador đang ngồi chồm hổm tắm nắng là nó đó!”
“Ê Labrador! Chú mầy biết nói hả?” “Ừ biết!” “Kể tao nghe một câu chuyện gì hấp dẫn nghe chơi?”
“Tui phát hiện ra chuyện tui biết nghe, biết nói khi mới vừa lên hai tuổi chó, tức bằng 10 tuổi người. Thời nông trường tập thể làm ăn thất bại, đói quá, nên tui nộp đơn vô Phòng Bảo vệ Chính trị của Công an thành phố!
Đồng chí Giám đốc Công an bèn gởi tui đi thủ đô Moscow để làm việc cho Cơ quan Tình báo Liên Xô KGB. Nhiệm vụ của tui là chuyên ngồi nghe lén các lãnh tụ các nước phương Tây thù địch, lãnh tụ các nước CS anh em như Ba Lan, Đông Đức, Hungary, CS Bắc Việt, CS Bắc Hàn kể cả CS Cu Ba của Fidel Castro đang bàn mưu tính kế gì với nhau. Xong về báo cáo lại cho đồng chí Tổng Bí Thư đảng CS Liên Xô Leonid Brezhnev.
Làm ‘chó’ gián điệp cả 10 năm đó chớ. Được cả đống huân chương, kể cả huân chương Lenin nữa đó… Rồi ‘tổ chức’ tưởng thưởng cho tui một con chó cái. Nàng đẻ cho tui một đàn chó con. Nhưng tui cũng chán cái bọn KGB nầy ác quá, đàn áp đánh đập, giết người bất đồng chánh kiến như ngóe nên tui xin nghỉ hưu.
Chuyện nầy giữa tui và ông thôi! Đừng nói tới nói lui với ai nghe nha! Vì nhà có mạch, vách có tai; đề phòng tụi nó sẽ tước lương hưu, cách hết các chức của tui từng nắm giữ đó nhe!”
Nghe xong rất lấy làm ấn tượng, McDoanld bèn hỏi giá để mua về bán lại cho CIA để kiếm lời.
Tay chủ chó “Ba-Lép- Xép ra giá “Mười đô la Mỹ!“Mười đô la! Nè ông có điên không? Con chó tài nghệ như thế mà ông bán cho tui chỉ có giá mười đô thôi sao?”
“À tui bán nó chỉ có mười đô la thôi vì con chó nầy dóc tổ hè. Nó đâu có làm việc cho Cơ quan Tình báo KGB. Cơ quan KGB nầy trên cũng chó, dưới cũng chó nên nó đâu cần chó nữa. Con chó nầy nó ‘nổ’, vì nó biết ông là người Mỹ lờ khờ; chớ nó đâu có xí gạt được tui nè.”
Nói tới bóng đen, không thể không nhớ lại một câu chuyện cổ. Truyền thuyết chất đủ sự nông nổi, vụng dại, đầy kịch tính:
Hai vợ chồng có con mọn. Chồng mang họ Trương, vì lính thú phải đi trấn nhậm đồn xa. Vợ ở nhà đơn thân nuôi con dại, để dỗ dành con và làm nguôi nỗi nhớ chồng, mỗi tối thắp đèn lên, chỉ tay vào bóng chiếu trên vách: “Cha con kìa”. Lâu ngày, Trương được phép về thăm nhà, mừng vui gọi con lại nhưng đứa bé lắc đầu: “Không, phải đợi trời tối kia, khi ấy thì cha mới về”. Trương đau lòng nghĩ là vợ đã ngoại tình. Vợ chẳng tìm ra cách minh oan, lẳng lặng gạt lệ ra tới bên sông, trầm mình tự tử. Chiều xuống, đêm về, Trương thắp đèn lên. Nhìn bóng đen hắt vào vách nghe tiếng con reo vui: “Cha về rồi, đó mới đúng là cha”. Trương chợt hiểu, giật mình, nhưng đã muộn. Hối lỗi tìm ra bờ sông lập đàn chay mong giải oan cho vợ… Về sau vua Lê Thánh Tông hay chuyện đã hạ bút làm nên bài thơ trách cứ, cho khắc vào bia đá trước miếu vợ chàng Trương. Hai câu cuối là:
“Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”. Lính thú đóng đồn phương xa, ngẫm lại, chàng Trương kia tốt phước hơn lính tráng thời Việt Nam Cộng Hoà mang thân tù tội bị bắt vào rừng sâu “cải tạo”. Khắp 4 vùng chiến thuật, trên từng cây số từ Bến Hải vào tới Cà Mau có mấy chục ngàn chàng Trương? Thời cuộc phũ phàng nhưng chàng Trương buổi ấy “ngon lành” hơn chàng Trương cổ tích. Trương nói cùng vợ: Xin em hãy cố quên anh đi. Em xuống sắc quá trong khi em còn cả đoạn đường thanh xuân trước mặt. Hãy tha lỗi cho anh, gắng nuôi đứa con mình thành người… Cực thân em quá, xin đừng oán trách anh, có tàn hơi anh cũng gắng nguyện cầu cho em được an vui bên ngoài cảnh giới này… Giới hạn cuối giờ thăm nuôi đã điểm, sương xuống lạnh, gió hiểm ác từ Trường Sơn len lỏi về cứa rách da thịt. Trong lán, ngọn đèn dầu vừa thắp lên: Miếu ai như miếu ngàn chàng Trương, ngọn đèn dầu tắt đừng nghe chúng, để tôi thì thầm với bóng đen, sót lại chỉ mảnh tình riêng ta với ta.
Ngày xưa (hoà bình an vui?) sao bá tánh có được một ông vua nhân hậu và rỗi việc đến thế nhỉ? Nhân hậu khi phê hai chữ phũ phàng, trong khi lỗi lầm chàng Trương mắc phải cần phải roi vọt cần phải đánh đòn răn đe: Chính mi đã làm nước nhà mất đi một người phụ nữ đức hạnh, thật thà. Rỗi việc là bề trên ham đi ngoạn cảnh, nghe chuyện trái ngang liền lấy đó làm điều, tức cảnh sinh tình, đề thơ vào bia đá rành rành, cho dù hậu sinh không ghé qua Thăng Long thành (để hoài cổ), chẳng bước chân tới đèo Ngang bóng xế tà cũng nhìn nhận là thơ mọc cùng khắp, thơ chen lá, lá chen hoa trăm loài đua nở. Hình như buổi ấy, oan ức kiện tụng muốn trình lên bề trên, đơn trương thảo ra đủ đầy niêm luật tựa như một bài thi phú? Ngày xưa lính thú Trương mù quáng trách vợ bạc tình phản bội. Ngày nay (sau 75) lính tráng miền Nam lại tự đấm ngực mình: Lỗi tại ta mọi đàng, vì ta mà em khổ tâm khổ trí tự hành xác trèo đèo vượt suối nhịn ăn để bới xách cho ta nắm xôi, cục đường. Nếu không thể “tô son điểm phấn ngạo với nhân gian một nụ cười” thì xin em hãy ôm con thơ dại mà tìm đường vượt biên. Con cháu, hậu bối của Lê Thánh Tông có làm ra thơ trách cuộc bể dâu cũng chỉ lén lút, hoặc nhẫm học thuộc lòng. Một trang kinh thấm đẫm mồ hôi nước mắt, có thể là huyết lệ sống để bụng chết mang theo. Họ sinh hoạt dưới ba tầng địa ngục, và họ, thực sự chỉ còn là cái bóng đen. Nói dông nói dài cũng chỉ cô lại: Chàng Trương cổ lỗ sĩ thật đáng bị nhận đòn roi, gián tiếp giết vợ mình và trực tiếp mang hạnh phúc mình có ra trấn nước. Suy ra, lên án chàng Trương xưa cũ chừng nào thì càng trân trọng tán dương những chàng Trương hiện đại chừng đó. Trang sử họ thầm lặng viết nên, hậu thế đáng khắc ghi, tưởng niệm, vì đâu nên nổi? Nhớ về một thời kỳ ngùn ngụt cả khói nhang, mờ quyện trên cuộc đất hung hiểm, vô thần, chẳng am miếu.
Không riêng ngọn đèn hiu hắt mà vợ chàng Trương thắp lên mỗi tối dùng để dỗ dành, vỗ về niềm đơn lẻ, ở trong văn học vẫn thường sử dụng tới hình ảnh bóng chiếu vào vách, bóng đọng dưới đường, bóng đi theo, lập lại trùng khít những động tác của chủ thể. Bóng và người là một, lại tách hai, song hành. Buồn miệng với cô quạnh, người mang tâm sự ra tỉ tê cùng bóng, nghĩ là bóng hiểu thấu, nguôi ngoai (?). Ở đâu có ánh sáng, ở đó có sự phản quang, soi chiếu. Ánh sáng làm xoá đi chút mông muội thường ẩn trốn vào bóng tối. Văn chương Trung Hoa ví ánh sáng là người quân tử, quang minh chính đại, phơi mặt ra khi xử sự, không hoá trang, đường đường chính chính. Ngược lại kẻ tiểu nhân vẫn thích hành động trong bóng tối, bóng tối đồng loã với tội ác. Những sách lược hiểm độc thường được bàn thảo, lên kế hoạch trong bóng đêm, tối như hủ nút. Và đối phương khi tìm cách đối kháng chống trả, người ta họp bàn dưới ánh mặt trời. Quan Công dẫn lính đi chinh phạt quân Tào Tháo vẫn luôn nhắm tới đại lộ, ngôn rằng chỉ hạng tiểu nhân mới quen đi tiểu lộ. Lỡ không bắt được đứa gian ác, liền ngửa mặt lên cao xanh mà quyết đoán: Lưới trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó thoát. Câu ấy chả có ai phán dưới bầu trời đen kịt cả. Thắp đuốc cũng khó mà lần ra “nó” đã lẩn trốn phương nao. Thế mới đẻ thêm một phụ chú: Chạy trời sao khỏi nắng hở thằng kia, con nọ!
Nhưng ở phương Tây, người ta nói khác đi: “Nếu không có bóng tối, bạn chẳng tài nào trông rõ những vì sao”. Họ chẳng bận tâm phân loại môi trường, điều kiện nào sản sinh ra hai hạng quân tử, tiểu nhân. Họ thích màn đêm, họ chuộng bóng mờ, họ lập luận: Những suy nghĩ thấu đáo nhất là khi bạn ngồi thu lu trong bóng đêm, ban ngày bạn thường biểu lộ sự bẳn gắt, nông nổi, bộp chộp. Những đứa ngủ giấc trưa, cho dù có vắt tay lên trán cũng không thể đơm đặt những ước mơ kỳ vỹ bằng đứa trằn trọc canh khuya. Bóng tối, với họ là căn nguyên của thơ mộng, của lãng mạn đằm thắm. Hitler từng để cho đời câu bất hủ: Khi anh ở trong hào quang, mọi thứ đều chạy theo anh; nhưng khi anh chìm vào bóng tối, đến ngay cả cái bóng của anh cũng chẳng hề bám theo.
Ngày đó, nhà văn nữ Nguyễn Thị Thuỵ Vũ viết nên cuốn “Nhang Tàn Thắp Khuya” (bốn chữ này vay mượn từ ca dao: Anh buồn còn chỗ thở than, em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya), sang nhà văn nữ khác, Tuý Hồng có truyện dài mang tựa “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách”. Nhang tàn thắp khuya thế cho điều gì rất mực đơn côi, héo hắt, câm lặng. Mà Tôi nhìn tôi trên vách cũng làm rõ nỗi cô đơn tuyệt cùng, xao xác hơn cả Bà Huyện Thanh Quan khi viết “Một mảnh tình riêng ta với ta”. Ba nữ nhân kia tuyệt không đụng tới chữ bóng, nhưng tựu trung có thể bảo đó là thứ “ý tại ngôn ngoại”. Một thủ thuật của phép phân thân. Nhìn ngắm, tự khắc thấy chữ dùng nọ hàm chứa ý tuy một mà hai, tôi nhìn lấy bóng của tôi hoặc nhang đang cháy cụt kia là nỗi lòng của chính tôi vậy.
Nhà văn Mai Thảo cũng mang lời cảm thán vào câu thơ ông viết: “Nơi góc tường in cái bóng gầy”. Và dằn vặt hơn cả là Tô Thuỳ Yên, thơ ông nhốt chật những chiếc bóng tang thương: “Ta về một bóng trên đường lớn…” Khởi thuỷ đã dựng nên thứ cảnh quang mông quạnh, cô độc đến thắt lòng.
Ở phương này, cuối năm trời chóng tối, mở đèn lên ngó ra tuyết đổ lạnh, cơ hàn ngay cả chiếc bóng mỏng dính vừa in vào vách tường ở căn hộ cũ kỹ. Hắn vẫn ngồi co ro một mình viết vẩn vơ và chiếc bóng thầm lặng kia đôi lần như biết thì thầm sinh nhiễu sự: Viết cái gì đó? Viết để làm gì? Ừ nhỉ. Để làm gì? Làm gì? Không là gì cả. Nếu trời Hè hẳn đã bước chân xuống đường “ôi ta buồn ta đi loanh quanh chẳng vì đâu?”. Nhưng đang Đông, lịch hao mòn đi gần tới Giáng Sinh se sắt âm độ, đành trói chân ngồi đối bóng và trả lời bóng: Viết để chống đối với bó tay (chấm com). Viết để bắt đầu óc tập thể dục, ngầm biện hộ: Không phải về già ai cũng đều bị lú lấp. Chỉ ngần ấy, kỳ dư chẳng đèo bồng thêm một tham vọng nào khác. Bạn hiểu rồi mà, trong lúc này in ra được tập truyện, điều nọ chẳng phải là thứ đơn giản. Nhiêu khê không bút mực nào tả xiết. Và vướng mắc vào sự phi lý, tốn công hao sức rồi vô cớ tốn tiền hao bạc. Một đứa viết văn phải nên thủ thân chút tự ái làm vốn liếng. Văn chương chứ không phải là một món đồ để mang ra mặc cả, nói thách, xuống nước, van nài, bớt một thêm hai, quỵ luỵ. Hắn vốn rất dở dang ở mặt “ngoại giao” kiểu đó. Hắn ghét thương lượng, kì kèo chì chiết mặt chai mày sạn, hắn yêu hình ảnh một con bồ câu “vui thì đậu mà buồn thì bay”. Thong dong là thứ đáng ngợi ca, vô ngại. Nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi như ngọn đèn từng đêm vơi cạn, lửa lên thắp một niềm riêng.
Hắn dự tính sẽ có một món quà mọn gửi tới các bạn văn đó đây nhân dịp năm cùng tháng tận, nhưng phút cuối đành cực lòng để trấn nước mộng tưởng. Bất thành, ướt nghe ngói, thấm lạnh lòng. Đành khôi hài: Bó tay chấm, hết. Hắn chẳng thông hiểu rộng Hán nôm. Hữu xạ tự nhiên hương là gì? Bù trất. Khi bạn cao tay nghề, thủ pháp thần sầu quỉ khóc, e rằng khi ấy sẽ có một nhà xuất bản đứng ra kêu đích danh tên bạn: “Thít hông? Chơi tới bến lun. Đừng bùn nữa mờ. Dị đi nhen”. Cái bóng đen nói: Nếu đó là sự thật thì há lẽ những đầu sách đang lần lượt xuất hiện đều do những kẻ có võ công thâm hậu bày ra thứ kung-fu huê dạng vung cước múa quyền? Đừng nói thế, chớ đơm đặt sự so sánh, sẽ vấp sai lạc quàng xiên bởi bá nhân bá bao tử, trăm họ bất đồng không thể ngồi chung êm thắm một nhà.
Không dưng nhớ sực tới câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
“Riêng có mình ta phai áo lục Còn em sau trước vẫn hồng nhan”.
Hắn đã từng phơi áo, phơi luôn mộng mị trên dây chùng, thảy bạc màu. Bạc như sắc tuyết đang vây bủa, xuống đầy ngoài kia. Viết để làm gì thì đã dóng hỏi, giờ cắc cớ để thắc mắc thêm: Vậy chớ in sách ra để làm gì? Ngồi không vọng động, bóng đen cũng im sững. Ừ, cũng chẳng biết để mần chi! Mấy trăm trang giấy in đầy mực đen ấy ví như hồng nhan. Mà hồng nhan thì đa truân, hồng nhan bạc mệnh, hồng nhan thật vắn số. Phai áo lục mà thấm béo gì hòng mang nó ra đối chiếu với sắc khuynh thành?
Những ngày cuối năm nói toàn những điều “không phải”. Hắn để ý: Có ai dầm thân đi trong băng giá mà chu miệng để huýt gió? Hề, không một ai. Cắn răng mà quờ quạng lê thân, rùn vai mà cắm cúi bước kẻo trợt ngã. Nhiệt độ mỗi khi một xuống thấp, nhiệt đổi qua hàn. Lạnh ơi, ta xin chào mi. Tắt ngọn đèn, bóng đen chẳng còn đậu ở đó nữa, biến mất. Đi thắp một cây nhang, cọng khói xám vụt lẩn trốn nhanh, hơn một chớp mắt. Trống không.
Thấm thía lời Mai Thảo:
Sách một dẫy nằm trơ trên giá Cạnh người thân thế cũng trơ trơ Sách, người hai cõi cùng hư hoại Nơi một ngàn chương thiếu một tờ.
Tôi gặp Trung Tá Võ Khâm lần cuối cùng vào buổi trưa thứ bảy, ngày 3 tháng 11 năm 1973. Một ngày mà tôi không thể nào quên, cho dù thời gian đã qua khá lâu và cuộc đời trải qua biết bao nhiêu dâu biển.
Hôm ấy, được tin tôi về phép sau một thời gian dài ở chiến trường Kontum, từ Nha Trang ông lái xe ra Ninh Hòa thăm vợ chồng tôi, cho quà các cháu và rủ bọn tôi ra ăn trưa tại quán Thái Thị Trực. Đây là quán nem có thương hiệu nổi danh từ rất lâu, không chỉ ở thị trấn Ninh Hòa mà khắp cả tỉnh. Cùng đi với ông hôm ấy có anh Trần Hữu Dũng. Anh Dũng nguyên là giáo sư trung học ở Nha Trang, động viên vào Khóa 16 Thủ Đức, lúc ở đơn vị tôi anh giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội Chỉ Huy Công Vụ, sau này được điều động về làm Phụ Tá Trưởng Phòng Nhất Sư Đoàn. Anh vừa được thuyên chuyển về Tiểu Khu Khánh Hòa hơn ba tháng trước, nơi Trung Tá Khâm đang làm Tiểu Khu Phó. Đang ăn, bất ngờ có vợ chồng Trần Ngọc Thăng đến tìm tôi. Thăng là bạn cùng khóa Thủ Đức và sau này cũng về đơn vị tôi. Khi ấy Thăng cũng vừa bàn giao nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng để chuyển sang trung đoàn khác và đang nghỉ phép cưới vợ. Cả bốn thầy trò hôm ấy đều rất vui mừng, bởi trước kia chúng tôi đều có thời phục vụ dưới quyền Trung Tá Võ Khâm, trong thời gian gần ba năm (11/1966 – 7/1968) khi ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44BB, một trong những trung đoàn thiện chiến và lập nhiều chiến công cho Quân Đoàn II/ QK2. Riêng tôi, đã từng có khá nhiều kỷ niệm đặc biệt với ông.
Tháng 3 năm 1965 ra trường, tôi được bổ nhậm về Tiểu Đoàn 3/44, môt đơn vị trực thuộc Sư Đoàn 23 BB, có bản doanh tại Ban Mê Thuôt, nhưng riêng tiểu đoàn lúc ấy được chọn làm đơn vị trừ bị, hành quân lưu động trong khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật, dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn. Liên tiếp mấy năm theo đơn vị, liên tục hành quân gần như khắp mọi nơi. Có khi buổi sáng còn ở núi rừng Quảng Đức, buổi chiều đã có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Thời gian này, sĩ quan không đủ, nên sau khi lên thiếu úy vài tháng, tôi được lên nắm đại đội. Ngày Quân Lực 19.6 năm 1967, may mắn được thăng cấp trung úy (nhiệm chức) và sau một lần bị thương ở chân trái trong trận phản phục kích tại Ngã ba Dak-Song, Quảng Đức, xuất viện, tôi được chỉ định sang làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Chủ Huy Yểm Trợ, mấy tháng sau lại được chỉ định kiêm nhiệm Trưởng Ban 3 TĐ, thay thế Trung Úy Đặng Trung Đức vừa nhận lệnh thuyên chuyển về giữ chức vụ Trưởng Ban 3/Trung Đoàn thay Đại Úy Mai Lang Luông ra làm tiểu đoàn trưởng. Anh Đặng Trung Đức tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt và là người bạn rất thân thiết với tôi bởi truớc đó, cả hai cùng làm trung đội trưởng trong một đại đội, mà anh đại đội trưởng là niên trưởng Khóa 16 VB của Đức. Và sau khi Đức lên nắm đại đội, tôi làm đại đội phó cho anh.
Thời gian này, Đại Tá Trương Quang Ân vừa về nhậm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB. Ông là vị sĩ quan nổi tiếng từ Binh Chủng Nhảy Dù, gốc Thiếu Sinh Quân, từng tốt nghiệp thủ khoa hầu hết tất cả các khóa học tại những quân trường nổi tiếng: Khóa Thiếu Sinh Quân, Khóa 7 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt và hai khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, tại Đà Lạt, sau đó tại Leavenworth Hoa Kỳ. Ông có tiếng tài ba, liêm khiết nhưng cũng rất nghiêm khắc, đặc biệt đối với những sĩ quan dưới quyền. Làm việc với ông, dù ở phương vị nào, thường bị phạt dễ hơn là được khen thưởng, Ông cân nhắc rất kỹ lưỡng mỗi khi đề bạt hay thăng cấp một sĩ quan, ngay cả việc đề nghị huy chương.
Đại Tá Trương Quang Ân về nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB vào ngày 24.11.1966 thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV/ Vùng 4 CT. Ngay trong buổi họp đầu tiên, với sự có mặt của tất các sĩ quan thống thuộc Sư Đoàn, từ cấp đại đội trưởng trở lên, ông công khai tuyên bố cách chức Trung Tá Bùi Th. H. (Trung đoàn trưởng của tôi thời điểm ấy), vì đã có nhiều sai phạm trong thời gian làm trung đoàn trưởng, đặc biệt vừa mới có hành vi hối lộ, khi nhờ người mang (biếu) cho ông tân tư lệnh một bao thư tiền. Sự kiện trong buổi gặp đầu tiên này đã tạo nên một không khí khá nặng nề, căn thẳng trong Sư Đoàn. Riêng anh em ở Trung Đoàn 44 thì rất vui mừng, vì trong mấy năm làm trung đoàn trưởng, ông Trung Tá Bùi Th. H. này đã chia phe kết cánh, phá nát trung đoàn.
Người được chọn để thay thế chức vụ Trung Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Võ Khâm, vừa mới về Sư Đoàn và đang giữ chức vụ Trưởng Khối CTCT/ SĐ. Lúc ấy, mọi người đều nghĩ rằng, ông Tư Lệnh đã cân nhắc rất kỹ lưỡng, khi đưa ra quyết định này. Trước khi về sư đoàn, Thiếu tá Khâm từng là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Quảng Ngãi. Giữ chức vụ này hơn hai năm, trong lúc quan lộ đang lên, được các thượng cấp hài lòng, thì ông xin từ chức. (Sau này ông cho chúng tôi biết, vì Quảng Ngãi là quê hương ông, nơi có cha mẹ và thân tộc họ hàng sinh sống, ông không muốn làm ảnh hưởng đến họ, và ngược lại cũng không muốn bị họ làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ của mình, Hơn nữa ở vùng này, tinh thần đảng phái cũng khá phức tạp, luôn đè nặng trên trách nhiệm của ông, nên ông xin từ chức sớm. Và từ đó ông luôn tránh những chức vụ có liên quan tới hành chánh, mặc dù đã nhiều lần được thượng cấp hỏi ý kiến).
Thiếu Tá Khâm về nhận nhiệm vụ khi bản doanh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đồn trú tại Tháp Chàm (Ninh Thuận), một tiểu đoàn tăng phái cho TK Ninh Thuận, một tiểu đoàn biệt phái dài hạn cho TK Lâm Đồng, đang hành quân tại Di-Linh, hai tiểu đoàn còn lại đang hành quân dài hạn tại Phan Thiết, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trung Đoàn. Trong đó có Tiểu Đoàn 3/44 của tôi và Tiểu Đoàn 4/44 vừa mới được thành lập xong hơn một tháng trước từ Dục Mỹ trở về.Thời gian này tình hình tỉnh Bình Thuận khá mất an ninh, đặc biệt tại Mật Khu Lê Hồng Phong, một cứ địa lâu đời của Cộng quân khá rộng lớn, kéo dài từ bờ biển đến rừng núi, có lợi thế cho địch quân xâm nhập, ém quân và cất giấu vũ khí. Đặc biệt một quãng đường khá dài gần 40 cây số cùa Quốc Lộ số 1 và đường Hỏa Xa nằm trong khu vực, gây gián đoạn lưu thông không những cho tỉnh mà còn cho cả nước.
Trung Đoàn đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân tại căn cứ Bình An, nằm bên Tỉnh lộ 8, giữa Phan Thiết – Thiện Giáo. Phía trên, khoảng năm cây số, tiếp giáp vùng núi, có căn cứ Virgina của quân đội Hoa Kỳ, đồn trú cấp đại đội cùng một pháo đội Pháo Binh.
Một ngày sau khi tiểu đoàn vừa chấm dứt cuộc hành quân tảo thanh bốn ngày trong Mật Khu Lê Hồng Phong, kéo về nghỉ quân dọc theo Quốc lộ, trong khu vực Mara, vào buổi trưa, tôi được anh âm thoại viên cho biết có Trung Úy Đức, Ban 3 Trung Đoàn muốn gặp tôi ở đầu máy. Đức báo cho tôi biết ông Trung Đoàn Trưởng đang trên đường đến thăm tiểu đoàn bằng trực thăng H-34. Đức bảo tôi lo an ninh bãi đáp và bảo ông tiểu đoàn trưởng chuẩn bị đón và thuyết trình. Anh còn nói thêm là anh không đi theo mà chỉ có Trung úy Minh Ban 2, Trung sĩ Kim Nữ Quân Nhân và một âm thoại viên mang máy tháp tùng. Cũng không có cố vấn Mỹ, vì anh cố vấn của trung đoàn và của cả tiểu đoàn đã về họp ở MACV.
Tiểu Đoàn tôi giống như tình trạng các tiểu đoàn khác, trong mấy năm qua không có tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn trưởng lúc ấy là Thiếu Tá Nguyễn Văn X., xuất thân từ hàng hạ sĩ quan trong quân đội Pháp. Nghe nói ông khá thâm niên, cả cấp bậc thiếu tá lẫn chức vụ tiểu đoàn trưởng, nên rất bất mãn vì không được thăng cấp hay giữ một chức vụ cao hơn, thường hay lầm lì, gắt gỏng, do đó cũng thường bị thuyên chuyển đi khắp Sư Đoàn. Không biết có phải vì lý do đó, hay giữa hai ông có điều gì không vui, mà khi mới nghe tôi báo tin, ông liền bảo: “Chú mày lo tiếp đón và thuyết trình cho ‘thằng chả’, bảo tôi đang lên cơn sốt rét.” Tôi vừa ngạc nhiên, ngỡ ngàng vừa bực dọc, lo lắng.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn trú đóng trong một ngôi nhà ngói bỏ hoang, nằm trơ trọi bên cạnh Quốc lộ, bị sập mất một phần mái, phải dùng mấy tấm poncho che đỡ mưa nắng. Nơi đón thượng cấp chỉ là một khoảng nền nhà loang lổ, một tấm bản đồ treo trên giá xếp và mấy cái ghế được đóng bằng thùng đạn Pháo Binh. Đang gọi báo tin cho các anh đại đội trưởng, nghe tiếng trực thăng, tôi vội kéo anh sĩ quan Ban 2 và anh sĩ quan Truyền tin ra đám đất trống phía trước Quốc Lộ, thả trái khói màu đánh dấu bãi đáp.
Khi bước xuống, thấy ba đứa tôi đứng nghiêm chào, Thiếu Tá Trung Đoàn Trưởng hỏi: – Ông tiểu đoàn trưởng của các anh đâu?
– Dạ, thưa Thiếu Tá, ông tiểu đoàn trưởng đang bất ngờ bị lên cơ sốt rét.
Tôi trả lời và nhìn thấy nét mặt ông sa sầm lại.
Tôi mời ông vào Bộ Chỉ Huy để nghe thuyết trình tình hình và phối trí lực lượng, nhưng khi vừa bước vào căn nhà, nhìn thấy ông tiểu đoàn trưởng đắp tấm poncho-light nằm dài trên ghế bố, nghiêng mặt quay vào vách, ông khựng lại, hỏi tôi một câu cộc lốc:
– Ông làm chức vụ gì ở đây?
Tôi đứng nghiêm:
– Thưa Thiếu Tá, tôi là Trưởng ban 3 kiêm Đại Đội trưởng Đại Đội Chỉ Huy!
Ông xua tay bảo tôi không cần phải thuyết trình mà đưa ông ra thăm đại đội. Ông theo tôi đến Ban Quân Y, Truyền Tin và dừng lại khá lâu ở Khẩu đội súng cối 81 và Đại bác SKZ 57 ly. Kiểm tra sơ qua các khẩu súng và hầm đạn, ông quay sang nghiêm mặt hỏi tôi một loạt các câu hỏi: khẩu đội có bao nhiêu người, súng nặng bao nhiêu, một quả đạn nặng bao nhiêu, cấp số đạn có bao nhiêu quả, bắn xa bao nhiêu??? Có câu tôi trả lời được, nhiều câu tôi im lặng vì mù tịt, các anh khẩu đội trưởng vừa lên tiếng nhắc bị ông quát, đứng im.
Có lẽ vì “giận cá chém thớt” nên ông lớn tiếng xài xể tôi một trận ngay trước mặt lính tráng thuộc cấp. Tính tôi xưa nay vốn chịu đựng và lễ phép với cấp chỉ huy nên chỉ ngậm môi đứng im chịu trận. Nhưng khi nghe ông nói “chỉ huy mà như ông thì chỉ có giết lính!” thì sự chịu đựng của tôi đã quá mức. Tôi “bùng nổ”, nhưng vẫn đứng trong thế nghiêm:
-Tôi xin không đồng ý với cách lãnh đạo chỉ huy của Thiếu tá. Là một cấp chỉ huy đâu cần thiết phải biết tường tận các chi tiết nhỏ nhặt như thế, bởi còn có các trưởng ban, các khẩu đội trưởng chuyên môn. Chẳng lẽ là Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy tôi cũng phải biết bên ban Quân Y có các loại thuốc gì, sử dụng ra sao. Việc đó có anh sĩ quan Trợ Y lo. Hơn nữa dù sao tôi cũng là một cấp chỉ huy trực tiếp với lính, nếu có sai phạm điều gì xin Thiếu tá cứ phạt tôi vài chục ngày trọng cấm hay cách chức tôi, chứ không thể mạt sát tôi trước hàng quân, như thế làm sao tôi còn tư cách để chỉ huy họ được. Tôi xin từ chức và xin Thiếu tá cho tôi giữ bất cứ nhiệm vụ nào khác, hay thuyên chuyển đến bất cứ đơn vị nào cũng được.
Ông khựng lại im lặng giây lát rồi bảo cô Trung sĩ Nữ Quân Nhân ghi tên và số quân của tôi rồi đi thẳng ra phi cơ. Tôi vẫn tháp tùng ông ra bãi đáp và đứng nghiêm chào ông khi máy bay cất cánh.
Ngay tối hôm ấy, Ban Truyền Tin nhận sư vụ điện của Trung Đoàn, yêu cầu tôi bàn giao nhiệm vụ và theo phương tiện sớm nhất về trinh diện Trung Đoàn Trưởng. Khi nghe ông Tiểu Đoàn Trưởng báo lại, tôi bảo “chắc vụ này là tôi phải gánh cho Thiếu Tá đây!”.
(Nhưng rồi sau đó không lâu ông Tiểu Đoàn Trưởng cũng nhận lệnh về trình diện Sư Đoàn. Không biết ông thuyên chuyển đi đâu, mà từ ngày ấy, cả trung đoàn không ai còn dịp liên lạc hay biết gì về ông, hơn nữa ông cũng chẳng thân thiết với ai)
Hai hôm sau tôi theo chuyến tiếp tế, về BCH Trung Đoàn xin trình diện, nhưng ông Trung Đoàn Trưởng không tiếp. Tôi xuống Ban 3 ngồi phụ việc với anh Đức và ăn ngủ chung một bunker với anh. Mấy lần gặp ông, tôi đứng nghiêm chào, nhưng ông vẫn im lặng tránh sang nơi khác. Anh Đức bảo tôi yên chí, vì tính ông trung đoàn trưởng hơi nóng, bốc đồng và hờn dỗi vậy thôi, chứ tốt và thương anh em lắm. Đúng một tuần sau, một buổi chiều khi biết ông vui vẻ và đang ăn cơm, anh Đức bảo tôi cứ đến gõ của xin gặp. Gõ cửa ba lần, ông mới mở, tay vẫn cầm bát cơm và đôi đũa, trợn mắt nhìn tôi, hỏi: “Ông lại muốn gì nữa đây?” Tôi đứng nghiêm thưa:
– Xin Thiếu Tá giao công việc cho tôi làm, bất cứ việc gì cũng được, nếu không thì xin trả tôi ra lại tiểu đoàn, vì tôi là sĩ quan, ăn lương quân đội. Thi hành lệnh Thiếu Tá tôi về đây đã đúng một tuần rồi mà không được giao nhiệm vụ gì, tôi thấy như mình đang ăn gian lương của quân đội!
Ông bảo anh lính nấu ăn riêng của ông mang lên thêm một cái bát, đôi đũa, rồi tự tay bới cơm vào bát, bảo tôi ngồi xuông dùng cơm. Tôi từ chối. Ông trợn mắt bảo: “ông lại không tuân lệnh tôi nữa phải không?” Tôi đành ngồi xuống phía đối diện, ngập ngừng cầm đũa. Cơm rất ngon nhưng tôi nuốt không trôi. Ăn xong, ông rót một ly whisky, bảo: “cái này thì tôi mời ông.” Lúc này tôi mới thấy ông nhoẻn miệng cười, bảo tôi ở lại đây chơi và nói chuyện với ông, rồi nhỏ giọng:
-Mấy ngày nay, tôi giả bộ làm nghiêm không thèm tiếp để xem ông có năn nỉ hay quậy phá gì không, nhưng mà ông ngon lành lắm. Tôi chịu!
Rồi ông đổi cách xưng hô:
-Thực ra tôi cũng hơi bực mình do thái độ vô kỷ luật và mất lịch sự của tay Thiếu tá X. (tiểu đoàn trưởng), nhưng sau đó nghĩ lại tôi thấy mình nóng, la chú mày hơi quá, sau đó thấy tôi nghiệp và quí chú, vì chú tỏ ra khẳng khái và nói năng cũng chí lý. Tôi thích những người thẳng thắn như vậy, chứ cứ cúi đầu gọi dạ bảo vâng thì tôi chán lắm! Thôi, chú ở lại đây làm việc với tôi, kể từ nay mình xem như anh em.
Ông bảo tôi cứ tạm phụ làm việc với anh Đức, phụ trách ở Trung Tâm Hành Quân, lo thêm việc bay tiếp tế, sắp xếp trực thăng vận và các cuộc di chuyển. Đi họp hành với các Tiểu Khu hay Sư Đoàn ông luôn gọi tôi theo. Ông còn bảo tôi sang ăn cơm với ông và dọn đến phòng của ông ở cho vui, vì phòng còn rộng, nhưng tôi tìm cách từ chối, bảo thích ở với anh Đức, bởi là bạn thân từ lúc mới ra trường, mấy năm ở cùng một đại đội.
Sau trận Mậu Thân, Trung Đoàn tạo chiến thắng lớn, tiêu diệt gần như toàn bộ lực lượng địch, giải tỏa thành phố Phan Thiết, đặc biệt khu lao xá nằm sát tòa tỉnh từng bị Cộng quân chiếm đóng, Thiếu Tá Võ Khâm được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận, nhân dịp này ông cũng được nhận một huy chương ngôi sao bạc của Quân đội Hoa Kỳ. Buổi lễ trao gắn cấp bậc và huy chương được tổ chức trang trọng tại Tòa Hành Chánh Tỉnh Bình Thuận dưới sự chủ tọa của Đại Tá Tư Lệnh Trương Quang Ân, Đại Tá Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn và có cả Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lương Hoa Kỳ Tại Cam Ranh.
Sau đó, Trung Đoàn chỉ để lại khu vực núi Tà Dôn một tiểu đoàn, các đơn vị còn lại, kể cả Chi Đoàn 4/8 TQV tăng phái, cùng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn di chuyển về Sông Mao, tiếp nhận doanh trai của Sư Đoàn 5 BB để lại. Tuy nhiên toàn bộ hậu cứ vẫn còn ở Tháp Chàm, vì chưa đủ phương tiện và an ninh lộ trình để chuyển về Sông Mao. Doanh trại mang tên “Trại Lý Thưởng Kiệt” bây giờ chính thức là bản doanh của Trung Đoàn 44BB. Một doanh trại khá rộng lớn, khu MACV, cư xá sĩ quan còn khá mới và đẹp, đặc biệt tư thất dành cho Trung Đoàn Trưởng là một villa mới, rộng rãi và nhiều phòng ốc, nằm không xa và có cửa bên hông để bước sang Trung Tâm Hành Quân.
Khi khu tư thất vừa được chỉnh trang và sắp xếp đầy đủ tiện nghi cần thiết, ông kéo tôi về ở với ông, giao cho tôi một phòng nhỏ phía sau. Đúng lúc bà xã tôi từ Ninh Hòa vào thăm (lúc này đang mang thai đứa con đầu lòng), ông bảo tôi lấy xe của ông đi đón và nhường cho tôi phòng ngủ của ông, vì có cái giường ngủ khá rộng và trong phòng đầy đủ tiện nghi hơn, ông cũng cho anh tài xế chở anh đầu bếp đi chợ Phan Rí mua nhiều tôm cá tươi về đãi vợ chồng tôi. Ông gần gũi thân tình, xem vợ chồng tôi như là em út trong nhà. Ở chơi với bọn tôi hai hôm, tiệc tùng vui vẻ, rồi ông chia tay về Đà Lạt, nhân được nghỉ phép năm ngày. Vợ con ông sống ở Đà Lạt và rất hiếm khi đến đơn vị gặp ông.
Trung tá Khâm xuất thân từ một dòng dõi thế giá ở Quảng Ngãi. Ông từng theo học tại đại học Hà Nội và nghe nói có Cử nhân văn chương Pháp, nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất lưu loát. Ngoài cái dáng trí thức, ông còn là một sĩ quan phong độ và có tiếng khiêu vũ đẹp và điêu luyện trong sư đoàn. Nhiều nữ sinh, cô giáo, kể cả một số “bà chủ” doanh gia “mết” ông, nhưng ông chỉ “văn nghệ” cho vui, chứ luôn trung thành với bà xã, hơn nữa bà cũng từng là giai nhân một thời ở xứ Hoa Anh Đào- Đà Lạt. Trong một dịp hành quân tại Đà Lạt, ông có kéo tôi đến nhà dùng cơm. Vợ ông dáng dấp quí phái, luôn vui vẻ bặt thiệp. Khi ấy ông bà có bốn con nhỏ, cháu nào cũng xinh xắn dễ thương.
(Ông Bà Võ Khâm)
Cùng lúc thành lập đại đội trinh sát, Trung Đoàn nhận thêm một tiểu đoàn Pháo Binh 105 ly và được tăng phái dài hạn một đại đội Công Binh để chỉnh trang doanh trại, sửa sang phi trường, thiết lập hệ thống phòng thủ, các kho đạn, kho xăng, kể kể kho xăng JP4 cho trực thăng Hoa Kỳ. Các tiểu đoàn tăng phái dài hạn cho TK Lâm Đồng, Ninh Thuận đều nhận lệnh trở về doanh trại Sông Mao để được tái trang bị và bổ sung quân số, tái huấn luyện tại chỗ. Lúc này Trung Đoàn đảm đang rất nhiều công việc, ông bảo tôi sang làm Trưởng Ban 4 Trung Đoàn thay thế một vị đại úy Khóa 6 Thủ Đức có lệnh giải ngũ. Ông cũng giao cho tôi trách nhiệm lập kế hoạch và xin phương tiện, phối họp lo việc an ninh lộ trình để di chuyển toàn bộ hậu cứ từ Tháp Chàm về Sông Mao. Sau khi sắp xếp hậu cứ xong, tôi tiếp tục theo ông trong các cuộc hành quân.
***
Tháng 5-1968, Trung Đoàn được tăng phái Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh do Trung tá Nguyễn Xuân Hường chỉ huy từ Ban Mê Thuột di chuyển xuống Sông Mao, tăng cường thêm một Đại Đội Công Binh của Quân Đoàn, thành lập Chiến Đoàn Đặc Nhiệm nhằm giải tỏa toàn bộ Mật Khu Lê Hồng Phong, phát quang cây cối và thiết lập những con đường ngang dọc nhằm chia cắt mật khu để dễ quan sát và kiểm soát. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đặc Nhiệm đặt tại khu vực Long Hoa, trong một bunker lớn được Công Binh thiết lập.
(Tr Tá Võ Khâm trong cuộc hành quân tại Mật Khu LHP tháng 5/68)
Vào một ngày nghỉ quân để tu bổ các xe M-113, cơ giới Công Binh và nhận tái tiếp tế, tất cả sĩ quan cơ hữu và tăng phái có lệnh tập trung tại Trung Tâm Hành Quân (khá lớn) để chờ đón vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Thói quen của ông Tư Lệnh, thường không cho biết trước chính xác thời điểm ông đến, đích thân ông hay sĩ quan tháp tùng chỉ gọi khi trực thăng sắp đáp. Hôm ấy không biết máy móc trục trặc điều gì mà ông gọi mấy lần vẫn không nghe âm thoại viên trả lời. Khi nghe tiếng trực thăng đảo mấy vòng. biết ông Tư Lệnh, nên Trung úy Đức tung trái khói màu đánh dấu bãi đáp và báo Trung Tá Khâm và Trung Tá Hường ra đón Tư Lệnh. Đại Tá Trương Quang Ân bước vào phòng họp với thái độ rất giận dữ, rảo mắt hỏi “ông nào là sĩ quan Truyền Tin?” Trung úy Nguyễn Văn Muôn đứng lên trình diện. Ông Tư Lệnh nghiêm nét mặt, ra lệnh một vị đại úy tháp tùng (Đại úy Dương Đức Sơ, Phụ Tá Phòng 1 Sư Đoàn) dùng trực thăng C&C của ông đưa Trung úy Muôn vào giam ở QCTP Phan Thiết. Không khí căn thẳng, nặng nề. Bất ngờ Trung Tá Khâm đưa tay về hướng Đại úy Sơ, nói lớn trong sự bực dọc:
-Anh không được đưa Trung úy Muôn của tôi đi đâu cả. Anh ta không có tội tình nặng nề gì đến phải bị giam như thế. Nếu có giam thì xin giam tôi đây, vì tôi là cấp chỉ huy ở đây, là người chịu trách nhiệm trước Đại Tá Tư Lệnh, chứ không phải là trung úy Muôn.
Rồi ông quay sang, đứng nghiêm nhìn thẳng vào Đại Tá Tư Lệnh:
– Xin lỗi Đại Tá, kể từ giờ phút này, tôi xin được từ chức Trung Đoàn Trưởng, xin Đại tá đề cử người thay thế.
Không khí nặng nề, ngột ngạt. Mọi người vẫn đứng im tại chỗ. Đại tá Tư Lênh quá bất ngờ, trố mắt, giận xanh mặt, không nói một lời nào, rời khỏi TTHQ lên trực thăng bay đi.
Dù không biết việc làm của ông Trung Đoàn Trưởng đúng hay sai ở mức độ nào, nhưng hầu hết sĩ quan có mặt hôm ấy đều lộ vẻ cảm kích và thán phục thái độ cương trực cùng với lòng yêu thương, chở che thuộc cấp của ông, đặc biệt trước một vị Tư Lệnh nổi tiếng nghiêm khắc như Đại tá Trương Quang Ân. (Có lẽ trong cuộc đời chỉ huy, ông chưa bao giờ nghĩ sẽ gặp phản ứng của một sĩ quan dưới quyền như thế.)
Hai tuần sau, Trung Tá Khâm có lệnh bàn giao Trung Đoàn cho Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, từ Trường Võ Bị Đà Lạt thuyên chuyển về. Hai người cũng đã từng quen biết và gia đình Trung Tá Thịnh cũng sống ở Đà Lạt.
Trung Tá Khâm về BTL Sư Đoàn, tạm thời đảm nhận chức vụ Tham Mưu Trưởng, thay thế Trung tá Châu Văn Tiên theo học Khóa CHTM Cao Cấp. Sau đó vài tháng, ông xin thuyên chuyển về Quân Đoàn III, và làm Chỉ Huy Trưởng một TTHL của Quân Đoàn tại Long Hải – Phước Tuy, Vũng Tàu (không phải TTHL Vạn Kiếp).
***
Khoảng giữa năm 1971, trong một chuyến công tác tại quận Ninh Hòa, ông bất ngờ ghé thăm bà xã tôi, cho quà các cháu và cho biết là ông vửa được thuyên chuyển về Nha Trang, làm Tiểu khu Phó TK Khánh Hòa, Ông bảo nhắn cho tôi biết và khi nào có dịp về Nha Trang nhớ đến gặp ông. Mấy tháng sau, tôi về Nha Trang, ghé vào Tiểu Khu tìm ông. Ông mừng lắm, bảo tôi theo ông về Giảng Hotel (còn có tên Khách sạn Thanh Hà), một khách sạn lớn nằm cạnh bờ biển Nha Trang, đưa tôi lên căn phòng lớn ở tầng ba. Phòng có hai giường đôi và đầy đủ tiện nghi, có cả cái bếp nhỏ. Ông bảo mặc dù được ông Tỉnh trưởng Lý Bá Phẩm cấp cho một căn cư xá nhỏ nằm cạnh Tiểu Khu, nhưng ông xin nhường lại cho người khác, thuê dài hạn căn phòng trong khách sạn này sống cho thoải mái, hơn nữa thỉnh thoảng còn đón bà xã từ Đà Lạt xuống chơi. Ông cũng quen thân với Tướng Nguyễn Ngọc Oánh, CHT/ TTHL Không Quân, nên khi nào có đông đủ các con xuống thăm, ông được Tướng Oánh cho mượn Phòng Khách của Không Quân nằm trong Trại Long Vân, kế phi trường Nha Trang, rộng rãi và nhiều tiện nghi hơn để các cháu được thoải mái. Ông còn cho biết ông chủ Giảng Hotel vốn là bạn vong niên nên giá cả cũng rất phải chăng. Ông đi tìm đưa cho tôi mấy cái chìa khóa, bảo cứ giữ lấy, khi nào có dịp về Nha Trang cứ ghé lại đây ở chơi với ông. Tôi từ chối, bảo tình hình chiến trường Cao nguyên coi bộ bắt đầu sôi động, thế nào Trung Đoàn cũng phải di chuyển lên đó. tôi khó có dịp về lại đây.
(cùng vợ con – vài tháng trước khi ông hy sinh)
Trong lúc dùng cơm trong restaurant ở tầng dưới khách sạn, ông tâm sự:
-Tình hình lúc này ngày càng bất lợi cho miền Nam, sau trận Hạ Lào Lam Sơn- 719, báo chí Mỹ đua nhau nói xấu miền Nam thậm tệ, có dấu hiệu Mỹ rút quân bỏ rơi VNCH. Đáng buồn là mấy ông lớn cứ vẫn chia phe kết nhóm, không tập trung sức lực để giữ nước, một số thì tham nhũng, trong lúc anh em binh sĩ ngày càng khổ cực, chết chóc nhiều hơn ngoài chiến trường. Moa nản quá, mấy lần xin được giải ngũ về Đà Lạt kinh doanh với bà xã mà không được. Đang tính xin chuyển về một nơi nào ở Đà Lạt thì Đại Tá Phẩm lại xin đích danh moa về đây. Anh Phẩm cũng từng là bạn thân lúc trước.
Khi chia tay, ông nắm vai tôi dặn dò:
-Chú mày ở sư đoàn lâu quá rồi, tình hình này sẽ không khá đâu, xin thuyên chuyển về đây ở với moa cho vui, có khó khăn gì cứ cho moa biết.
Tôi gật đầu hứa với ông, mặc dù trong lòng chưa hề tính tới điều này.
***
Mãi từ ngày ấy cho đến ngày 3.11.1973, tôi mới có cơ hội được gặp lại ông, khi từ Nha Trang ông lái xe chở theo anh Trần Hữu Dũng ra Ninh Hòa thăm vợ chồng tôi và rủ đi ăn trưa tại quán nem Thái Thị Trực. Khi chia tay, ông bảo tôi sáng ngày mai, Chủ Nhật, đưa vợ con vào Nha Trang ở chơi với ông vài hôm. Ông còn móc túi lấy xâu chìa khóa, tách ra một chìa đưa cho tôi, bảo là chìa khóa căn phòng của ông trên Giảng Hotel, khi nào đưa vợ con vào cứ việc tới đó mà ở. Ông sẽ ngủ đêm trong văn phòng, bởi những ngày trực hay cấm trại ông vẫn ngủ trong đó.
Tôi cầm lấy chìa khóa, nhưng hẹn là đến chiều thứ hai bọn tôi mới có thể vào Nha trang với ông được, vì sáng mai, Chủ Nhật, tôi đã có hẹn phải đưa mấy cháu về quê thăm thân phụ tôi. Lâu lắm rồi, tôi cũng chưa về phép thăm ông. Trước khi bước lên xe, ông và cả anh Dũng siết tay tôi thật chặt, nhắc cùng gặp lại vào chiều thứ hai.
Không ngờ đó lại là cái siết tay cuối cùng.
Chiều thư hai, vợ chồng tôi cùng mấy đứa con đến Nha Trang với lòng hăm hở. Vào Tiểu Khu, tìm đến văn phòng ông thì thấy đóng cửa. Tôi đến văn phòng Tham Mưu Trưởng, nằm bên cạnh, gặp trung Tá Ngô Quý Hùng, mà tôi đã có dịp nói chuyện với ông vai lần trước đó. Tôi tròn mắt thẫn thờ khi Trung tá Hùng cho biết là Trung Tá Võ Khâm bị mất tích tại Bu-Prang, Quảng Đức vào tối hôm qua. Tôi ngạc nhiên tột cùng. Nước mắt bỗng trào ra, chân như muốn khụy xuống. Tôi bảo với Trung Tá Hùng là tôi mới gặp ông ấy trưa hôm qua khi ông ra thăm vợ chồng tôi ở Ninh Hòa. Trung tá Hùng giải thích trong niềm xúc động:
-Quả thật là mỗi con người có cái số. Đúng ra là Trung Tá Khâm không có nhiệm vụ phải lên Quảng Đức, nhưng trước đây hơn một tuần, tình hình tại Quảng Đức bất ngờ sôi động, trong lúc các đơn vị chủ lực bị kẹt ở Kontum và Pleiku, nên Quân Đoàn mới lệnh cho Tiểu khu Khánh Hòa thành lập gấp một Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, đem theo hai tiểu đoàn điạ phương quân và đại đội trinh sát của Tiểu Khu tăng cường cho Quảng Đức, hỗ trợ cho mặt trận Đức Lập. Lên trên đó được năm ngày, thì Tướng Toàn đến thị sát, khiển trách Trung tá Ph., Chỉ huy trưởng BCH/ Chiến Thuật, chê ông này không có khả năng và kinh nghiệm tác chiến, vì mấy năm chỉ ngồi ở các Ùy Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên. Tướng Toàn nêu đích danh Trung Tá Võ Khâm, khi gọi điện thoại chỉ thị Đại tá Phẩm đưa ông lên thay thế gấp. Sáng sớm Chủ Nhật, hôm qua, Trung Tá Võ Khâm bay lên Quảng Đức bằng trực thăng, chưa kịp chỉnh đốn xong hệ thống phòng thủ, thì ngay buổi tối, cả một trung đoàn CS có cả chiến xa T-54 tấn công tràn ngập ngọn đồi tại Bu-Prang nơi BCH Chiến Thuật trú đóng, sau khi bắn hàng ngàn quả pháo đủ loại vào căn cứ. Sau gần nửa tiếng đồng hồ cầm cự, vì quân trú phòng quá ít, lực lượng tiếp viện không thể đến kịp, hầu hết sĩ quan đều bị chết hay bị bắt, trong số đó có Trung Tá Võ Khâm, Trung Tá Huỳnh Trung Quận, Đại Úy Trần hữu Dũng… (Trung Tá Huỳnh Trung Quân nguyên là CHT/ Trung Tâm YTTV/ TK Kontum và Đại úy Trần Hữu Dũng nguyên là Phụ Tá Phòng 1/ SĐ 23BB, cả hai vừa mới thuyên chuyển về TK/ Khánh Hòa và tháp tùng Trung Tá Khâm lên Quảng Đức).
(Căn cứ Bu Prang – nơi Tr.Tá Võ Khâm đã vĩnh viển nằm lại)
Trung Tá Hùng biết tôi là em út và rất thân quen với Trung Tá Khâm nên cho biết bà Võ Khâm đã được báo tin và đang trên đường từ Đà Lạt xuống đây, ông có hẹn sẽ đón bà, bảo tôi ngồi chờ. Gặp lại bà trong tình huống này, tôi chỉ biết cúi đầu chào rồi ngậm ngùi ngồi nghe bà nói chuyện với Trung Tá Hùng. Sau khi nghe tường trình sự việc, bà khóc ngất, gục xuống bàn. Trung Tá Hùng mời bà và tôi cùng đi dùng cơm tối, nhưng tôi chối từ, vì trong lòng đang có quá nhiều cảm xúc. Nhớ tới cái chìa khóa phòng mà Trung Tá Khâm đã ưu ái đưa cho tôi hôm thứ bảy tại Ninh Hòa, tôi lấy ra và đưa lại cho bà. Bà bảo sẽ ở lại Nha trang vài hôm để chờ theo dõi tin tức của ông. Tuy nhiên, Trung Tá Hùng nói nhỏ cho tôi biết, theo lời kể của một số binh sĩ thoát ra được, Trung Tá Khâm đã chết ngay từ những cơn mưa pháo, trước khi chiến xa tấn công tràn ngập căn cứ.
Tôi rất đau buồn vì đã vĩnh viễn mất đi một vị đàn anh khả kính, một cấp chỉ huy cương trực, luôn sống hết mình với thuộc cấp. Riêng với tôi, ông xem như một người em. Có với tôi rất nhiều kỷ niệm. Tôi không bao giờ quên ông, quên những ngày làm việc dưới quyền, bên cạnh ông, cùng hình ảnh hiền lành và cử chỉ thân tình ông đã đối với vợ chồng tôi, đặc biệt trong lần cuối cùng tại quán nem Ninh Hòa, chỉ trước một ngày ông hy sinh.
Sau 1975, trong những ngày tù tội khốn cùng tại các trại tù tận vùng Việt Bắc, tôi bất ngờ gặp lại anh Huỳnh Trung Quận tại Trại 6 Nghĩa Lộ. (Anh bị bắt trong trận Bu-Prang cùng một số sĩ quan khác.) Tôi còn nhớ mang máng lời kể của anh về trận đánh tại căn cứ Bu-Prang ngày ấy. Khi căn hầm BCH bị ngập khói cay và bị sập một phần do pháo CS bắn vào, Trung Tá Võ Khâm đã chạy ra, chui vào gầm chiếc xe truyền tin phía trước, và ngay sau đó chiếc xe này bị pháo thiêu hủy, anh nghĩ rằng ông không kịp thoát ra và tử thương ngay tại đó. Có thể bọn chúng đã đào hố chôn các tử thi ở một chỗ nào đó, cũng có thể xác Trung Tá Khâm đã bị thiêu hủy. Chúng tôi đều nhắc tới ông với lòng tiếc thương, xúc động, nhưng rồi thầm nghĩ, có thể việc hy sinh bất ngờ của ông, dù có làm đau lòng cho gia đình, con cháu, nhưng biêt đâu lại có ý nghĩa, vinh quang cao cả hơn là nếu ông vẫn còn sống để phải nhận nỗi khốn khổ nhục nhằn như chúng tôi cùng những bạn bè của ông hôm nay?
Sau khi ở tù ra, tôi bất ngờ gặp lại người bạn học cũ ở Nha Trang, anh Trương Tiến Ích, nguyên là trung úy Trợ Y của BCH / Chiến Thuật Khánh Hòa, dưới quyền của Trung Tá Khâm, khi tham dự trận đánh Bu-Prang năm ấy. Ích bị bắt. Một ngày sau, khi bị trói tay dẫn đi cùng một số tù binh khác trên một triền núi thì bị phi cơ thả bom. Lợi dụng lúc bọn VC náo loạn, tìm chỗ ẩn nấp, Ích lăn xuống núi chui trốn trong một hang đá, cà giây trói vào cạnh đá cho đứt để tháo ra, rồi đến tối, nhìn sao Bắc Đẩu tìm hướng đi, mãi hơn năm ngày sau mới về đến được Đức Lập. Anh kể lại trận đánh và trường hợp Trung Tá Khâm tử trận cũng trùng hợp như lời của anh Huỳnh Trung Quận trong trại tù số 6.
***
Mới đây, bất ngờ có dịp liên lạc với các cháu, con của Trung Tá Khâm, tôi rất cảm động khi biết là phu nhân của ông cũng đã qua đời từ lâu, và sau 1975 bà cùng các cháu đã từng trải qua một thời lầm than cơ cực, Bây giờ mấy cháu lớn vẫn sống ở Đà Lạt, cháu trai út, sinh ra sau khi bố không còn, nên được bà cô mang về quê nội chăm sóc từ nhỏ, lớn lên trong ngôi nhà từ đường ở Quảng Ngãi, sau này khi lập gia đình thì chuyển về sống ở Phan Rang để gần các anh chị, còn hai cháu khác đang ở Mỹ. Dù qua nhiều thăng trầm, nhưng cuộc sống của tất cả các cháu đều được hoàn mỹ, các cháu nhỏ nội ngoại thì đều học hành thành đạt. Tôi mừng thầm và nghĩ phần lớn có lẽ nhờ vào đức độ của Ông Bà. Trông tấm ảnh các cháu gởi cho, tôi thấy phảng phất hình ảnh của Ông Bà ngày trước, cháu nào cũng khôi ngô, xinh đẹp, và có đậm nét nhân hậu, dễ thương.
(Phần mộ của Bà Võ Khâm nằm cô đơn một mình tại Đà Lạt)
Chính các cháu đã gợi lại ký ức giúp tôi ngồi viết lại những dòng này, dù rất muộn màng nhưng với đầy cảm xúc. Và qua tâm tình, các cháu cho biết, khi còn bé thì bố đã mất và mẹ cũng qua đời sớm, nên các cháu hoàn toàn không biết gì về bố mình ngày xưa, đặc biệt là đời quân ngũ cũng như cả cái chết của ông. Đó là lý do để tôi ngồi viết tỉ mỉ bài viết khá dông dài này.
Xin nguyện cầu, ở một cõi xa xăm nào đó, Ông Bà vẫn mãi nắm tay bên nhau trong niềm hạnh phúc vĩnh hằng. Nơi đó sẽ không còn chiến tranh, thù hận và chia ly, đau khổ. Cầu mong các con cháu của ông – một cấp chỉ huy đã hết lòng yêu thương đồng đội, một chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh trong nghiệt ngã, vùi thây tại chiến trường – được ơn trên ban cho nhiều ơn phước.
Cầu nguyện linh hồn Ông luôn sống mãi cùng hồn thiêng sông núi.
Phạm Tín An Ninh
(tháng 10. 2021)
Hình ảnh 3 cháu mà tôi đã có dịp liên lạc (đặc biệt cháu nào cũng rất giống bố)
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.