Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Po9st by sƠn râu 11 Aug 2026

Sáng tinh mơ ngày 2 tháng 3 năm 1991, tại thành phố Los Angeles, Rodney King, một người lái xe da đen, chạy quá tốc độ, không ngừng xe theo lệnh cảnh sát, đã bị một trực thăng và sáu xe tuần tiễu, 15 cảnh sát đuổi theo. Sau khi bị chặn lại, King là một trong ba người trên xe xuống cuối cùng, đã bị bốn cảnh sát da trắng thuộc thành phố Los Angeles “đánh hội đồng” tàn nhẫn dưới sự chứng kiến của các cảnh sát khác.

Rodney King đã bị đập 56 gậy, xương sọ bị nứt 11 đường, não bộ và thận bị chấn thương, vỡ một hốc mắt, gãy một chân, bị thương hai đầu gối phải đi khập khễnh. Một cameraman tài tử ở trên lầu một căn nhà gần đó, George Holliday, đã quay được cảnh đánh đập này và đưa lên đài truyền hình số 5, gây căm phẫn trong quần chúng khắp nước Mỹ. Ngày 29 tháng 4 năm 1992, tại thành phố Simi Valley, tòa xử cho bốn cảnh sát da trắng này trắng án. Bản án được tuyên đọc lúc 3:15 chiều, không đầy hai giờ sau, thành phố Thiên Thần trở thành biển lửa vì dân da đen nổi loạn.

Biến cố này đã làm cho 54 người bị chết, 2,383 người bị thương, tổn hại tài sản lên đến 700 triệu mỹ kim. Trước áp lực của công luận, tòa án cho xử lại vụ Rodney King, nhưng rút cuộc hai cảnh sát viên hung hãn nhất là Stacy Koon và Laurence Powell chỉ bị 30 tháng tù. Tháng 10 năm 1993, hai cảnh sát này vào tù nhưng không bị giam tại nhà tù liên bang mà tại một nhà tù ưu đãi đặc biệt. Trong thời gian gần hết bản án, một xạ thủ da đen mang súng đến tìm giết Koon, nhưng mối hận không rửa được, vì trước đó, Koon đã được cho thong thả về nhà hưởng lễ Thanksgiving. Người mang súng này bị cảnh sát bắn chết tại chỗ. Tháng 12-1995, trước lễ Giáng Sinh, hai cảnh sát viên này ra tù. Rodney King được bồi thường 3.8 triệu. Lúc Rodney King bị đánh đập tàn bạo như thế, cảnh sát chưa biết King say rượu hay có tiền án, cũng như khi Bùi Tấn Hoàng bị cán, ép chết vào gốc cây cọ, cảnh sát chưa biết Hoàng là ai? Bùi Tấn Hoàng là một “tội phạm đại hình” mà luật California cho phép nhân viên công lực được dùng bạo lực chết người để bắt? Trái lại trong hồ sơ cá nhân cảnh sát thì một trong bốn người đập Rodney King là Theodore J. Briseno 1987, đã bị đình công tác 66 ngày vì đã đánh đập một người trong khi người này đã bị còng tay. Hai người trong bọn là Koon và Wind đã bị phạt vì báo cáo láo (filing false reports). Cảnh sát cán chết Bùi Tấn Hoàng là Charles Shinn III thì có lý lịch dùng vũ lực quá tay trong quá khứ.

Lấy ví dụ cho cảnh sát Los Angeles, việc dân chúng than phiền về sự tàn bạo và kỳ thị của cảnh sát đã càng ngày càng nhiều và số tiền bồi thường vì đã quá “nặng tay” cho các nạn nhân càng ngày càng cao. Từ số tiền $555.000 năm 1972 đã tăng lên $6,4 triệu năm 1989 và $8 triệu năm 1990.

Chỉ cho một người, cảnh sát đã phải bồi thường cho sự thương tổn $170,000 năm 1988 trong lúc lùng kiếm vũ khí giết người tại một gia đình người Hispanic. Trong hai tháng đầu năm 1991 đã có 127 trường hợp, trước đó trung bình mỗi năm có 600 hồ sơ khiếu nại. Khi nhắc đến sự tàn bạo của cảnh sát Los Angeles, người ta không quên năm 1988, tại Dalton Avenue, trong đó 77 cảnh sát đã ùa vào hai căn nhà của người da đen mà các luật gia đã gọi là một sự “bạo lực điên cuồng”, phá tan cầu tiêu, bồn rửa mặt, đập nát cửa sổ, máy truyền hình để trả thù một cú điện thoại hăm dọa gọi đến một trạm cảnh sát.

Cảnh sát đã vẽ những giòng chữ “Luật Cảnh Sát Los Angeles” bên ngoài cơ sở, đánh đập dân chúng trong lúc bắt họ và đã có bốn cảnh sát viên bị kết tội này và năm 1990 đã bị bồi thường $3 triệu. Vụ bà Trần Thị Bích Câu ở San Jose chỉ là bản sao những hình ảnh thô bạo của vụ án Eula Love, một người đàn bà da đen, năm 1984 đã từ chối không cho một nhân viên vào nhà cắt điện nước (không biết vì lý do gì). Người này đã gọi cảnh sát. Bà Love xuất hiện với một lưỡi dao 2 inches trong tay và bà đã bị cảnh sát bắn chết tức khắc. Tháng 7-2003, cảnh sát được một người hang  xóm bàBích Câu gọi báo cáo bà để hai đứa nhỏ lang thang ngoài đường, trong lúc bà đang có chuyện bất hòa với chồng. Khi cảnh sát vào nhà, bà Câu đang đứng trong bếp, trên tay cầm một con dao bào (người Á Đông thường dùng để gọt trái cây). Chính con dao này là nguyên nhân “bản án tử” cảnh sát dành cho bà không một chút ngần ngại. Một vụ án khác không nổi tiếng cho lắm nhưng cũng được quay phim là vụ Stuart Vigil, một người da trắng 27 tuổi, đã dùng bạch phiến và chống lại cảnh sát. Trong khi

bị cùm, Vigil bị 14 cảnh sát bắn bằng súng bắn điện, đá vào đầu và nhảy lên mình. Anh ta đã chết vì một vật nhọn cắm sâu vào ngực. Trong một trường hợp vào đầu năm 1991, 30 thanh niên, hầu hết là da đen và Hispanic vì tụ họp vào buổi chiều tại một công viên mà hàng xóm hầu hết là người da trắng giàu có, đã bị cảnh sát bao vây. Những người trẻ tuổi này đã bị cảnh sát chĩa súng, bắt nằm sấp dưới đất, rồi bắt đi bằng hai đầu gối trong khi cảnh sát reo hò, buông ra những lời lăng nhục kỳ thị. Gần đây thôi, không thiếu những trường hợp cảnh sát

đã có những hành động thô bạo quá đáng như dộng đầu nạn nhân vào thùng xe, đập nạn nhận bằng đèn pin, đánh người đã bị còng tay một cách tàn nhẫn. Trong nhiều trường hợp, cộng đồng người da đen ở Los đã làm lễ tưởng niệm, tranh đấu bằng cách biểu tình đòi hỏi công lý, nhưng có lẽ không đi tới đâu.

Ngày 10 tháng 7-2003, em bé Suzie Pena đã bị cảnh sát bắn vào mặt, sau một cuộc đối đầu kéo dài ba giờ với cha em trong khu Watts của thành phố khi bà mẹ gọi cảnh sát vì một vụ bạo hành trong gia đình. Cha em bé là Rose Pena ôm con trong tay và bắn nhau với cảnh sát. Người ta đã chê trách cảnh sát, thay vì thuyết phục người cha hay bắn vào chân, đã rải đạn bắn chết cả hai cha con. Luật sư của bà mẹ Rose đã đòi hỏi một cuộc điều tra cấp liên bang và cho rằng sở cảnh sát không thể điều tra ngay chính nhân viên mình và nói cảnh sát đã có những hành vi sai trái và sử dụng bạo lực quá đáng đối với các sắc dân thiểu số. Điều lạ là cuộc điều tra của cảnh sát cho rằng có một số lượng cocaine “rất nhỏ” trong cơ thể cô bé 18 tháng này trong khi vụ nổ súng xẩy ra (!).

Trở lại Quận Cam, và chỉ nói chuyện liên quan tới cộng đồng Little Saigon thôi, cách đây vài năm, một thanh niên người Việt bị bệnh tâm thần cầm dao đi lang thang ngoài đường đã bị bắn chết, sau khi một người đàn bà da trắng gọi cảnh sát. Một thiếu niên người Việt say ma túy, người nhà gọi cấp cứu. Thay vì đem vào bệnh viện, cảnh sát còng tay đưa thiếu niên này về sở cảnh sát, gây ra cái chết oan uổng không cần thiết. Trần Bích Câu, Bùi Tấn Hoàng, rồi còn tiếp theo Lê, Nguyễn nào nữa đây?

Thành ngữ Việt Nam có câu “hung hăng như bọ xít”. Tuần trước tôi đã xin hầu độc giả bài “chuyện chó mèo”, nay lại nói “chuyện bọ xít”, nghe ra toàn chuyện buồn bực. Cuộc đời lưu vong trên đất Mỹ, nghĩ ra cũng có những niềm cay đắng chứ không phải đơn giản như chúng ta vẫn thường nghĩ. Cộng đồng chúng ta giàu có và có nhiều khoa bảng thật, nhưng hai chữ “phục vụ” lại chỉ có nghĩa là một dịch vụ có trả tiền, còn ngoài ra thì “hồn ai nấy giữ”, “sống chết mặc bay”!

Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149, Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 10, 2026 by dongsongcu

09/08/202

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 11 Aug 2026

Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng, Phi đoàn* truyền tin 149 và Trung tá Xavier Hill, Chỉ huy trưởng, Phi đoàn yểm trợ Lực lượng 149, tại Căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas, ngày 22 tháng 10 năm 2023 (hình của Hạ sĩ I Valerie R. Seelye, Lực lượng Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ; dvidshub.net chụp

Trung tá Viet Nguyen là Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149 thuộc Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, Hoa Kỳ. Ông chịu trách nhiệm quản lý toàn diện cơ sở hạ tầng truyền thông an toàn, bảo đảm khả năng phục hồi mạng và liên tục hoạt động cho các hoạt động hàng không chiến lược, giảm thiểu rủi ro an ninh mạng và nâng cấp cơ sở hạ tầng phù hợp với các sáng kiến ​​hiện đại hóa kỹ thuật số Liên bang, tăng cường khả năng phục hồi mạng và hỗ trợ các hệ thống huấn luyện hàng không có độ chính xác cao. Ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền thông tác chiến 149 từ tháng 10 năm 2021, khi còn mang cấp Thiếu tá.

Phi đoàn truyền tin tác chiến 149 trực thuộc Không đoàn 149 của Lực lượng Vệ binh Quốc gia Không quân Texas đồn trú tại căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas. Không đoàn 149 là đơn vị huấn luyện chiến đấu cơ F-16 Fighting Falcon, là một đại đơn vị của Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas. Nhiệm vụ của Không đoàn 149 là đào tạo những phi công giỏi nhất cho các hoạt động quốc tế và nội địa, căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas củng là nơi đóng quân của Liên đoàn bảo trì 149, Liên đoàn tác chiến 149, Liên đoàn yểm trợ 149 và Liên đoàn Quân y 149. Ngoài ra, Không đoàn 149 còn có năm đơn vị đóng quân riêng biệt gồm có: Bộ Chỉ huy Lực lượng Vệ binh Quốc gia Không quân Texas, Phi đoàn an ninh 203, Phi đoàn an ninh 204, Phi đoàn dự báo thời tiết 209 và Phi đoàn tác chiến mạng 273.

Thiếu tá Viet Nguyen tuyên thệ trước Trung tá Xavier Hilll, trong buổi lễ thăng cấp Trung tá tại Căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas, ngày 22 tháng 10 năm 2023 (hình của Hạ sĩ I Valerie R. Seelye, Lực lượng Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ; dvidshub.net chụp).

Trung tá Viet Nguyen, thụ huấn Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị tại trường Đại học Houston (University of Houston AFROTC), ông tốt nghiệp năm 2005, với Văn bằng Cử nhân công nghệ kỹ thuật điện toán. Sau khi tốt nghiệp, Thiếu uý** Viet Nguyen được chỉ định lần lượt phục vụ tại các đơn vị từ năm 2005 đến nay: Nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp của môt Sĩ quan trẻ mới ra trường, ông được chỉ định làm Sỉ quan chuyên viên công nghệ mạng máy tính (CNTT) thuộc Phi đoàn truyền thông 149 tại căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas từ tháng 5 năm 2005 đến tháng 4 năm 2007; Nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý** Việt Nguyen được chỉ định làm Sĩ quan truyền thông quản lý thử nghiệm an ninh mạng, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 3 năm 2011.

Từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 4 năm 2016. Đại uý** Viet Nguyen được bổ nhiệm làm Sĩ quan quản lý thử nghiệm, Phi đoàn thử nghiệm không gian mạng (346 TS), Trung tâm Đào tạo và Giáo dục (TEC), Hệ thống vận chuyển thông tin chiến đấu (CITS), Không quân Hoa Kỳ tại JBSA-Lackland;

Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 7 năm 2018, Thiếu tá** Viet Nguyen được bổ nhiệm làm Sĩ quan quản lý dự án QPC – cố vấn phối hợp tại Houston; Tứ tháng 7 năm 2018 đến tháng 10 năm 2021, ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan quản lý vận hành công nghệ mạng (CNTT), Phi đoàn tác chiến không gian mạng (273 COS), chịu trách nhiệm diễn giải chiến lược an ninh mạng Liên bang thành các yêu cầu cơ sở hạ tầng có thể thực hiện được, phối hợp với các nhóm nội bộ và đối tác bên ngoài, chỉ huy hoạt động cơ sở hạ tầng bảo đảm hoat động liên tục 24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần tại JBSA-Lackland.

Từ tháng 10 năm 2021 đến nay, Thiếu tá được thăng cấp Trung tá năm 2023 giữ chức Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149 thuộc Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, tại Căn cứ Liên hợp San Antonio-Lackland, Texas.

Trung tá Viet Nguyen là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Y sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Timothy Truong (gốc Việt), Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Trung Nguyen, Cố vấn phó chính trị khối NATO; Trung tá Duc Bui, Sĩ quan quản lý dự án ETHEREAL FORGE, Không quân Hoa Kỳ, và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.

Chú thích:

*Phi đoàn=Squaron không quân tương đương với Tiểu đoàn=battalion Bộ binh và Thuỷ quân lục chiến; Ghi theo thời gian mang cấp bậc.

Nguồn: 149fw.ang.af.mil; 165aw.ang.af.mil; uh.edu/class/airforce/; dvidshub.net; linkedin.com.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 10 Aug 2026

Quả thật tôi không biết dùng danh từ nào hơn là hai chữ “thê thảm” trong hoàn cảnh của gia đình người con gái cụ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, hiện đang sống rất lầm than cơ cực, nếu không muốn nói là “sống dở chết dở” giữa con đường Công Lý của thành phố Sài Gòn này.

Nói đến tên cụ Tản Ðà chắc bạn đọc đã thừa biết đó là một thi sĩ tiền bối rất nổi danh và rất đáng kính trong làng văn học Việt Nam.

Và, tôi cũng chưa bao giờ ngờ được giữa Sài Gòn, trên con đường được gọi là Công Lý bây giờ được sửa chữa thênh thang với những ngôi nhà bề thế, những biệt thự nguy nga của các “anh Ba” “anh Bốn” nằm bên những shop thời trang choáng ngợp, lại còn một khu nhà hoang tàn xơ xác đến như thế.

Cái hang cho con người?

Cái biển số nhà 192 Công Lý nằm khiêm nhường trên chiếc trụ gạch nham nhở, góp mặt với con đường cho nó có tên chứ chẳng làm ai chú ý mặc dù nó chiếm một khoảng đất khá rộng trong thời buổi giá nhà đất ở Sài Gòn này đúng nghĩa là tấc đất tấc vàng. Và tên đường Công Lý được đổi thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa từ lâu rồi vậy mà cái biển vẫn cứ còn chềnh ềnh với cái tên Công Lý đủ chứng tỏ nó “lỗi thời” đến thế nào.

Chiếc cổng sắt đen nhẻm chẳng biết có từ thời nào chỉ là thứ còn sót lại nằm đó chứ chẳng để làm gì. Nhìn vào phía trong là một hàng cơm bình dân cũng tối tăm, èo uột vắng ngơ ngác, dường như người ta bày ra chỉ để chiếm chỗ sợ người khác chiếm mất, thế thôi.

Nhà nằm trong một khu chung cư cũ.

Bước qua hàng cơm là một lối đi trải nhựa đã già cũ lỗ chỗ nham nhở, đất đá lổn nhổn chẳng khác những con đường làng ở nhà quê thời xa xưa. Nhìn lên là những tầng lầu cao, tường đen loang lổ, cửa ngõ không cánh toang hoác, cứ tưởng như ta đang sống trong thời kỳ chiến tranh bom đạn tàn phá, nhưng nhìn kỹ đó là vết thời gian in hằn, chẳng ai thèm ngó ngàng đến.

Ði vào vài chục mét nữa là những hành lang tăm tối hoang phế, nhưng trong cái hoang phế ấy lại chính là nơi cư ngụ của một số gia đình đói rách vô gia cư. Họ sống lặng lẽ, lam lũ, lay lắt che chắn bằng đủ thứ vỏ hộp các tông, liếp tre, vải bố rách… miễn là tạm thời có thể che chắn nắng mưa, mà che chắn cũng chỉ là tạm bợ, được chút nào hay chút ấy. Mưa tạt vẫn ướt, nắng càng khổ hơn vì cái nóng hầm hập như trong lò nướng.

Có thể hiểu đây là “cái hang cho con người” chứ không thể gọi là một chỗ để ở. Trong số đó có gia đình người con gái thi sĩ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy, con gái Tản Đà và chị Hương Thu.

Chúng tôi lần mò vào một hành lang phía trong, trên một khoang hẹp chừng 3 thước vuông, kê hai chiếc giường và một chiếc bàn với hai ba chiếc ghế nhựa nhỏ xíu nằm kẹt vào giữa. Chị Hương Thu đón tôi và Thái Phương dù đã được hẹn trước mà cũng chẳng biết nên mời chúng tôi ngồi vào chỗ nào cho tiện. Tôi kéo chiếc ghế nhựa con ngồi sát đầu chiếc giường gỗ nơi một bà lão đang nằm. Chị Hương Thu lay mẹ dậy tiếp chuyện với tôi. Ðó là bà Nguyễn Thúy Ngọc, năm nay 75 tuổi.

Tôi hỏi ngay:

– Thưa bà, có phải bà là con gái cụ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu không?

Bà lão gật đầu:

– Ðúng thế. Ông thân sinh tôi mất năm 1939 tại số nhà 45 Ngã Tư Sở, Hà Nội. Tôi theo chồng vào Nam năm 1954 cùng gia đình người chị gái là bà Quất hiện cũng đang sống ở Sài Gòn.

– Hiện nay bà sống với những ai?

Bà lão chỉ sang chiếc giường tre bên cạnh:

– Con gái tôi đó, nó là Thúy Lan, bị bại liệt. Còn một đứa con trai bị tâm thần, ở đây không còn chỗ nên phải cho nó nằm ở cuối hành lang phía bên kia. Một đứa con trai lớn cũng chớm bị thần kinh đã từng làm công nhân vệ sinh nhưng nay thất nghiệp.

– Vậy gia đình cụ sống như thế nào?

Bà chỉ chị Hương Thu, người đã tiếp đón chúng tôi:

– Nhờ nó, con gái tôi, nó lấy chồng ở Miếu Nổi nhưng vẫn phải nuôi cả gia đình nhà này.

Tôi quay sang hỏi chị Hương Thu:

– Chị làm thế nào mà nuôi nổi một lúc bốn người già yếu, bệnh tật như thế này?

– Cháu đi bán vé số và có khi bán báo, cứ sáng sớm là ra đi, bán được đồng nào chạy vội về mua gạo thổi cơm mang sang cho mẹ và các em. Buổi chiều cũng bán vé số rồi lại về chăm sóc tắm rửa cho mẹ và các em xong mới trở về nhà chồng được. Thú thật với chú là gia đình nhà chồng cháu cũng thông cảm lắm mới cho cháu làm những công việc này. Mà cháu không làm thì ai làm đây. Cháu phải mang hết sức cháu ra thôi.

Thái Phương xen vào:

– Chị Thúy Lan bị bại liệt lâu chưa?

– Em Thúy Lan trước 1975 làm ở Bộ Chiêu Hồi, sau năm 75, em cháu đi bán bánh ú về nuôi mẹ. Nhưng một thời gian sau em bị bại liệt, không tự mình làm bất cứ cái gì được, tất cả mọi việc đều phải có người giúp. Khi cháu không có mặt ở đây thì chú em thất nghiệp giúp đỡ, nhưng đôi khi nó có việc làm thì đành chịu vậy thôi. Mọi việc cứ bừa phứa ra đó rồi dọn dẹp sau.

Những người “không biết ốm”

Tôi ngậm ngùi hỏi:

– Hàng ngày gia đình chị có đủ ăn không?

Chị Hương Thu cúi đầu, đắn đo trước câu trả lời:

– Có lẽ… nói là đói thì chưa đúng hẳn, nhưng dĩ nhiên là cũng có khi đói. Nhưng… hầu như cháu chỉ lo “chủ yếu” là làm sao có đủ gạo cho bốn miệng ăn là tạm yên tâm rồi. Những ngày mưa gió thì đi vay đi mượn bù đắp vá víu cho qua ngày thôi chú ạ, chúng cháu không dám mơ tới bữa ăn ngon mà chỉ là một bữa cơm đủ no. Nhưng bây giờ giá cả mỗi ngày một đắt đỏ, mớ rau con cá trước kia năm đồng, bây giờ phải mười đồng. Gia đình lao động bình thường còn lo thiếu, huống gì nhà cháu.

– Còn thuốc men khi đau ốm?

– Ðiều đó thì ngoài sức của cháu. Ai đau ốm gì cũng cố im lặng để không làm khổ đến những người khác. Nhiều khi mẹ cháu nằm rên, nhưng khi cháu về đến nơi thì bà cố nhịn, các em cháu mách lại, bà vẫn cố gắng nói chuyện bình thường cho cháu yên lòng về với gia đình nhà chồng. Những lúc ấy cháu chỉ biết khóc thầm. Các em cháu thì chẳng bao giờ “biết đau ốm” là gì!

Nhìn vào những người ngồi quanh, tôi có thể hình dung ra ngay “thảm cảnh” đó. Những khuôn mặt im lìm chịu đựng như đã từng quen chịu đựng từ bao năm nay.

Bất chợt Thái Phương hỏi:

– Thế chính quyền địa phương có giúp đỡ gì gia đình chị không?

Chị Hương Thu trả lời như người ta… thường trả lời:

– Ấy có chứ, chính quyền cũng “quan tâm” xếp nhà cháu vào diện “gia đình khó khăn, xóa đói giảm nghèo” đấy. Mỗi năm cứ Tết đến nhà cháu lại nhận được một phần quà của địa phương.

Tôi hỏi:

– Trong đó gồm có những gì?

Chị Hương Thu hỏi mẹ cho chính xác, bà cụ nhẩm tính:

– Một trăm ngàn, 10 ký gạo,1 chai dầu ăn, 1 ký đường. Chị Hương Thu nói lảng:

– Thôi thì cũng thêm vào được một hai ngày Tết. Gọi là có “hương có hoa” thôi. Những ngày đó mẹ cháu thường kể lại kỷ niệm khi ông ngoại chúng cháu còn sống. Ông cụ khó tính lắm, ăn uống cũng khó tính. Cuộc sống đạm bạc nhưng rất thảnh thơi. Ông ngoại cháu chẳng ham điều gì cả ngoài việc làm thơ và bạn thơ của ông. Ấy, mẹ cháu cũng làm thơ đấy chú ạ. Ðể cháu lấy tập thơ của mẹ cháu làm từ ngày xưa cho chú coi.

Tính gia truyền của gia đình thi sĩ

Bà Thúy Ngọc vui vẻ moi ở đống gối đầu giường ra đưa cho chúng tôi xem tập thơ mỏng của bà sáng tác. Tôi liếc qua vài dòng trong bài Hồi Ký có thể cảm nhận được ngay đó là tâm hồn của một nữ sinh Hà Nội thuở nào:

Dưới mái nhà tranh tắm ánh trăng
Lòng tôi nhớ lại thuở non măng
Ðôi môi mọng đỏ chưa từng được…
Ðôi mắt tròn đen mớ tóc bằng.
Ngày đó tôi còn dại ngẩn ngơ
Chỉ là cô bé gái ngây thơ
Tôi hay bắt bướm yêu hoa đẹp
Thích chuyện thần tiên, thích chạy đua.
Trong những ngày hè tôi thích đi
Dưới chiều nhạt nắng bước trên đê
Tâm hồn ngây ngất bay theo gió
Ðồng ruộng say sưa chẳng muốn về…

Tất nhiên những câu thơ đó không thể so nổi với thơ của ông bố siêu thoát, tuyệt tác hơn nhiều. Nhân đây mời bạn đọc thưởng thức lại bài thơ rất nổi tiếng cụ đã để lại cho đời sau, chính là cho chúng ta:

Tống Biệt

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Ðá mòn, rêu nhạt
Nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi

Cửa động, đầu non,
đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn
Bóng trăng chơi.

Ðọc hai bài thơ có thể thấy được “tính gia truyền” trong gia đình thi sĩ ấy.

Bà bảo chị Hương Thu:

– Con mang photocopy biếu hai chú mỗi chú một tập.

Tôi cảm ơn bà đã có lòng cho chúng tôi được hân hạnh giữ lại một kỷ niệm của bà. Trong khi cô con gái đi làm photocopy, bà lại cho chúng tôi xem tập hình ảnh ngày xưa, bà lôi cả cái giấy khai sinh của bà ra chỉ cho tôi xem chỗ có tên bố là Nguyễn Khắc Hiếu, bà rất tự hào về điều này. Bà dặn chúng tôi khi nào có thì giờ cứ đến thăm bà, bà thích trò chuyện với những nhà văn nhà báo.

Toàn bộ cư dân trong khu nhà sắp phải ra đi

Ghé sang thăm người con trai bị thần kinh của bà nằm tận cuối hành lang phía trong, chị Hương Thu cho biết thêm:

– Toàn bộ khu này là một building của Mỹ trước năm 1975 đang làm dở chừng thì bỏ lại, không ai làm tiếp nữa. Hầu hết những gia đình ở đây là người không có nhà cửa, cứ vô ở đại rồi sau đó chính quyền đành phải để họ ở như thế này thôi, chẳng ai chăm sóc đến nó nữa. Nghe nói chỉ nay mai thôi, người ta sẽ “giải tỏa trắng” khu nhà này, cho người nước ngoài thuê lại, khối tiền.

– Như thế người ta sẽ đền bù cho người phải ra đi? Chị Hương Thu gật đầu:

– Tất nhiên nhà nước sẽ đền bù hoặc cho một số tiền, nhưng chỉ đền bù cho những người đã được chính quyền địa phương công nhận cho ở trong phòng, chứ còn gia đình nhà cháu chỉ là người đến sau, xin người đến ở trước cho trú ngụ ngoài hành lang chứ có được ở trong phòng đâu. Dân ở ngoài hành lang vẫn là dân ăn nhờ ở lậu nên chắc sẽ không được xu nào đâu, chú ạ. Chỉ nay mai thôi, người ta sẽ “dọn dẹp” hết khu này, tất cả cư dân ở đây sẽ khăn gói ra đi. Ðến lúc đó chưa biết gia đình cháu sẽ phải trôi dạt tới đâu nữa!

Tôi ra về lòng nặng trĩu, bước ra ngoài đường, xe cộ dập dìu tấp nập mà ở trong khu tạm gọi là “chung cư” tối tăm này lặng lẽ chẳng khác một nấm mồ nằm ngay mặt con đường lớn vào bậc nhất thành phố!

Ngay buổi sáng hôm sau, một nhà văn nữ ở San Jose về Sài Gòn chơi, chị ghé thăm tôi trong khi tôi đang chuẩn bị viết bài này. Tôi kể lại câu chuyện của gia đình con gái cụ Tản Ðà. Cô bạn tôi – xin giấu tên – yêu cầu tôi chuyển ngay 100 USD đến cụ Thúy Ngọc.

Tôi gọi cho Thái Phương nhờ mang tới, anh la lên:

– Một trăm đô đối với gia đình họ lúc này quý lắm đấy anh ạ. Rồi nay mai lại phải chuyển đi nơi khác, chẳng biết họ phải xoay xở ra sao! Làm thế nào để chị Hương Thu có một chút vốn “tậu” nổi một quầy sách báo, bán vé số thì may cho chị ấy quá. Vừa có chỗ buôn bán vừa có thể chăm sóc cho mẹ và các em.

Vâng, chỉ cần một số vốn nhỏ thôi là gia đình con gái cụ Tản Ðà có thể có được một cuộc sống tương đối đầy đủ rồi.

Tôi xin gửi thông tin này đến với bạn đọc để nếu có thể vui lòng giúp đỡ hậu duệ của cụ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, chắc chắn linh hồn thi sĩ cũng được an ủi rất nhiều. Mọi liên lạc xin gửi về địa chỉ của cháu gái cụ tức là địa chỉ nhà chồng của chị Hương Thu:

Chị Nguyễn Hương Thu

Lô A2/42 Chung cư Miếu Nổi

Phường 3, Quận Bình Thạnh, TP. HCM Ðiện thoại: 5104750

Vài lời nói thêm cho rõ

Nhân đây cũng xin nói thêm về một bài báo đã viết về hoàn cảnh của hậu duệ cụ Tản Ðà và đã có một hai tờ báo ở Mỹ đăng tải. Bài báo đã được một số độc giả chú ý, nhưng trong số đó lại có một hai độc giả nghi ngờ về sự chính xác của nguồn tin nên điện thoại đến tòa báo hỏi lại – cụ thể là tờ Thời Luận ở Los Angeles – và cho rằng đó là một nguồn tin không đúng sự thật.

Hơn thế vị độc giả còn cho biết thêm rằng “bà Hương Thu là cháu ngoại cụ Tản Đà thật nhưng hiện bà rất giàu, có 2 căn nhà, một ở chung cư Miếu Nổi và một ở 192 Công Lý”. Và “bà Hương Thu không cần đến sự giúp đỡ của ai…”

Lập tức tờ Thời Luận ở Los Angeles gửi ngay e-mail nhờ tôi đến những địa chỉ trên xác nhận sự việc.

Tôi và anh Thái Phương đã đến, phải mấy lần đi lại chúng tôi mới gặp được chị Hương Thu để xin một cuộc hẹn gặp cả gia đình ở 192 Công Lý như tôi đã tường trình ở trên. Vì thế nên mới có sự tiếp đón chúng tôi đông đủ để xác minh sự việc này.

Tôi hỏi chị Hương Thu về nguồn tin trên, chị ngạc nhiên nói ngay:

– Cháu chưa hề gặp ai hỏi về chuyện này và cũng chưa từng nói với ai như vậy, còn căn nhà ở chung cư Miếu Nổi là ở khu nhà cũ chứ không phải khu chung cư mới xây dựng. Nhà đó của gia đình nhà chồng cháu cũng không có gì khá giả, nếu khá giả thì cháu đâu có phải đi bán vé số, còn nhà 192 Công Lý thì đây… cái hành lang này như chú đã thấy đấy. Quả thật cháu không hiểu tại sao lại có nguồn tin đó. Rất có thể là do một sự hiểu lầm nào đó thôi. Cháu rất cần sự giúp đỡ của các cô chú trong hoàn cảnh này.

Chị suy nghĩ một chút rồi nói tiếp:

– Vài tháng trước đây có mấy ông đến với thiện chí giúp đỡ gia đình cháu, cháu rất biết ơn. Cháu nghe nói các ông ấy về Mỹ có gửi bài đăng báo.

Lúc này chúng tôi đã nhìn ra sự việc và bài này góp thêm tiếng nói với những vị đã từng viết về sự việc này, đó là sự chính xác của nguồn tin và chúng tôi vẫn mong được sự giúp đỡ của bạn đọc cho gia đình hậu duệ của cố thi sĩ Tản Ðà, lúc này là lúc cần thiết hơn bao giờ hết.

(Sài Gòn 9-7-2004)

Chả giò

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 10 Aug 2026

Dân Việt Nam mình ai cũng biết món chả giò. Miền Bắc gọi là nem rán; miền Trung gọi là ram.

Giống như những người đẹp miền sông nước Lục tỉnh Nam kỳ, em yêu của tui cũng biết làm món chả giò cho tui ăn và uống với bia lon.

Nhứt là vừa mới có lương, ra máy rút tiền tự động, tui mang về hàng chục tờ 50 đô Úc mới cứng, còn thơm phức mùi mực, để cống nạp cho em yêu đút vào túi áo khỉ.

***

Làm chả giò cũng dễ, tui bèn tự học để lâu lâu em yêu có giận hờn mà hỏng chịu cơm nước gì ráo; tui tự đi chợ Footscray mua đồ về, tự làm, rồi tự ăn mình ên cho em yêu hết dám làm eo, làm xách, đình công nấu nướng cho anh đói rã ruột chơi vì dám hỗn; hổng nghe lời em yêu dạy bảo! He he!

Muốn ăn chả giò, trước hết phải làm nước mắm chấm! Lý do chiên chả giò xong, lui cui pha nước mắm, chả giò nó nguội ngắt hết; chỉ còn nước đem đi cho hàng xóm; chớ ăn đâu có ngon lành gì nữa?!

Cứ một muỗng canh nước mắm là một muỗng cà phê đường, một muỗng cà phê chanh hoặc giấm và tới 5 muỗng canh nước lọc. Đâm tỏi cho nhuyễn, ớt sừng trâu băm nhỏ; hòa tan với chanh hoặc giấm trước; rồi mới chan nước mắm vào để ớt bầm nó nổi váng lên, trên trông mới hấp dẫn.

Chén nước mắm có vị ngọt thanh của đường, vị chua của chanh và vị mặn của nước mắm. Bên ni tiền bạc hơi thư thả nên chả giò nó trăm hoa đua nở nhiều loại; nhưng chỉ khác nhau chỗ cái nhưn. Tui thì khoái nhưn thịt heo xay nhuyễn, tôm rồi mộc nhĩ, hành khô, cà rốt, củ sắn, khoai môn. Cho tất cả vào trong một cái tô rắc tiêu, muối đường trộn đều. Cắt miếng bánh tráng ra làm hai, nhúng nước ướt vừa thôi, (ướt quá lúc cuốn nó bị lòi cuốn, cuốn vừa tay như điếu xì gà của Fidel Castro, rồi phết bia lên khi chiên nó mới giòn.

Bắt chảo lên, đổ một lít dầu ăn vào. Dầu hơi nóng, tuần tự bỏ từng cuốn chả giò vô, chờ nó vừa vàng đều, lấy đũa gắp ra, đặt lên cái dĩa có lót một lớp giấy để hút bớt dầu. Cuốn chả giò còn nóng dòn rụm, lại cuốn với rau sống xà lách, chấm nước mắm, đút vô mồm nhai rau ráu; xong chiêu theo một ngụm bia rồi chết cũng đành.

***

Mấy anh bạn nhậu của tui ơi! Chịu khó bớt làm biếng mà học cách làm chả giò như tui vừa mách bảo nói trên để phòng thân. Hổng phải tui thày lay làm thầy đời đâu; mà đời đã cho ta biết bao lần kinh nghiệm. Hồi mới qua Úc nè! Tiền an sinh xã hội nhà nước cấp cho đâu đủ sống!

Vợ dại con thơ, hai vai hai gánh, em yêu bèn chiên sẵn cho tui chừng chục ký chả giò, ủ nóng trong cái thùng mốp để tui đi bán dạo ở chợ trời Laverton đó.

Đắt hết biết! Chỉ một tháng mà tui đã đủ tiền mua được chiếc Holden đời tám hoảnh, giá tới 500 đô, để chở con vợ tui đi chơi cho biết đó cái thú đi xe hơi (chớ xưa giờ vợ chồng tui đi xe bò không hà!)

Em yêu của tui là người phụ nữ miền Nam giỏi giắn, chịu thương, chịu khó.

Thiếp chàng chung một chuyến đò. Kiếm cơm dễ ợt bán chả giò là xong (ngay)!

Sở dĩ em biết vượt qua cảnh chân ướt chân ráo đất lạ quê người vì em cũng học sách của bà ngoại (người ta) đấy thôi.

Chẳng qua hồi trước 1945, thực dân Pháp đã đưa gần 50 ngàn lượt lính Lê dương từ các nước thuộc địa khác ở Châu Phi đến bình định Việt Nam..

Thế chiến thứ hai chấm dứt, chế độ thực dân thuộc địa tàn lụi. Lính Lê dương ai về nước ấy. Thì có khoảng 100 người phụ nữ Việt Nam đã theo chồng về bên Dakar, thủ đô nước Senegal, Phi Châu.

Năm 1947, bà Nguyễn cũng dắt thằng con 14 tuổi là Jean Gomis theo chồng là Emile Gomis về làm dâu xứ lạ. 

Lương hưu của chồng không đủ sống; thế là người phụ nữ Việt Nam nầy vẫn mặc áo dài tự mình may lấy, đã làm chả giò cho con đi bán để kiếm thêm tiền.

Bây giờ, Jean Gomis, 84 tuổi, một tướng lãnh Senegal về hưu, Gomis là một trong ba người còn sống ở Dakar, có thể nói, đọc,viết tiếng Việt và trên lầu thượng nhà ông tướng ở Dakar, vẫn còn trồng nhiều loại rau của Việt Nam.

Jean Gomis shows off his rooftop collection of Vietnamese herbs.

“Trong gia đình Việt Nam, tất cả bọn trẻ đều học nấu ăn để tiếp Má mình môt tay. Đó là một cách giáo dục trên cả tuyệt vời.”

Jean Gomis có người cháu tên là Pierre Thiam, một trong những đầu bếp nổi tiếng nhất của đất nước Senegal, từng viết hai cuốn sách về nấu ăn, nói rằng: “Ngày nay những người phụ nữ ly hương đó chết hết cả rồi; chỉ còn sót lại một bà cụ đã 92 tuổi. Khi những phụ nữ ban đầu làm chả giò đã qua đời, cách làm chả giò đã thay đổi, khác nhau như ngày và đêm.

Pierre Thiam đang làm Đại sứ ẩm thực của Senegal tại New York, mỗi lần trở về quê nhà Dakar, ông đều ráng tìm lại món chả giò thời thơ dại nhưng đôi khi thất vọng vì bây giờ nó nhiều dầu mỡ quá!

Pierre Thiam tìm được Boubacar Diallo, 12 tuổi, là đứa bé bán món chả giò kiểu Việt Nam trên những xe hai bánh, chạy rong khắp thành phố.

Chả giò cũng có trong từ vựng tiếng Pháp là ‘nems’! “Một nems giá bao nhiêu?” Pierre Thiam hỏi bằng tiếng Pháp.

Thằng bé rút một cuốn chả giò, vẫn còn âm ấm, từ trong một thùng chứa! Pierre Thiam cắn nghe dòn rụm và gật gù tắm tắc khen: “Ngon!”

***

Ông Dương bán chả giò tại Senegal

Nhưng tui xin ông vua bếp Senegal nầy đừng có buồn lo, sợ hỏng có chả giò mà ăn ở thủ đô Dakar của Senegal vì món chả giò Việt Nam đã có người thừa kế!

Đó một anh chàng Việt Nam mình. Tha hương, lưu lạc qua tới tận Châu Phi; nếu không biết làm chả giò là ổng đã tiêu tán thòng rồi. Chẳng qua ông được một người bạn hứa cho công việc tại một “quán ăn Pháp,” nhưng lại là ở Ivory Coast, mình hay dịch là Bờ Biển Ngà, thuộc vùng Tây Phi. Được một năm, đám lính tráng Bờ Biển Ngà giành ăn, quánh nhau chí chết, đảo chánh tới lui để giành giựt chánh quyền, làm dân ngu khu đen vì sự tồn vong phải lên đường bôn tẩu; ông Tha hương đành theo đoàn người địa phương di tản qua thủ đô Dakar của nước Senegal.

Để sống sót, ông Tha hương làm chả giò đi bán dạo. Bán dạo đi hoài mỏi cẳng chớ; nên ông xin được cái sạp, vừa chiên vừa bán, cho nó nóng hổi, vừa thổi vừa nhai nên đắt quá trời! Sống phẻ, vì một cuốn chả giò giá tới 20 xu Mỹ lận đó. Tiền bạc rủng rỉnh, ông nhiều lần trở về Việt Nam vì còn con vợ dại tại quê nhà. Ông Tha hương muốn quy cố hương, vì đời tui cô đơn xa em cũng cô đơn! Nhưng con vợ ông lại khuyên rằng: “Cứ gởi tiền về nuôi là em vui rồi hè. Lâu lâu bay về để tình ta đàn lại bản đàn năm cũ thành mới là vui rồi! Ngu sao mà về cha nội!” Nghe lời vợ dạy, bao giờ cũng chí lý; nên ông Tha hương vẫn tiếp tục ly hương để bán chả giò ở nước Tây Phi. Vậy mà khôn!

Tuy nhiên cũng có một ông khác được phong tới chức “the Spring Roll King!” (Vua Chả giò) Âu Châu; tưởng ông vua ắt phải khôn hơn ông dân nhiều… nhưng lại không phải vậy.

Năm 1975, mất miền Nam, năm 1976, ”Hia” vượt biên đến Hòa Lan.

Năm 1989, ”Hia” mở xưởng làm chả giò, bán sĩ cho các siêu thị tại Hòa Lan, rồi tràn qua nước Bỉ và lan tới cả nước Anh. Tiền vô như nước, ”Hia” thành triệu phú đô Mỹ tại Hoà Lan; đăng quang làm Vua Chả giò!

“Là người làm kinh doanh, Trẫm thấy rõ bây giờ mình có sự chọn lựa: tiếp tục kinh doanh ở xứ người hay là về đầu tư thử ở Việt Nam. Lá rụng về cội, thâm tâm Trẫm cũng đã nghĩ một ngày nào đó sẽ về Việt Nam đầu tư.”

Hoàng tộc ý kiến chia hai! Một bên ngăn cản, cho là về Việt Nam ”rất nguy hiểm”. Một bên ủng hộ, cho là ”sớm, có nguy hiểm, nhưng cũng là cơ hội” Còn bản thân Trẫm đánh giá Việt Nam lúc này có một ”khoảng trống lớn” để đầu tư (?!) Thế là tháng Sáu, năm 1990, Vua Chả giò ôm về 2,328,250 đô la và 96 ký vàng! (Thấy đô, tiền triệu, thấy vàng, hơn chín chục ký là nó ham hè!)

Và chỉ trong khoảng hơn 6 năm, Hoàng thượng đã nhân số tiền, vàng ky cỏm đem về lên tám lần! “Lên như diều gặp gió”. Liền sau đó diều bị cắt đứt dây, Vua Chả giò bị VC truy tố về tội đầu tư bất động sản ‘chui’ và đưa hối lộ. Vua Chả giò bị điệu ra Tòa, VC phát cho Vua 11 cuốn lịch để ngồi đếm. Vua phải trốn chui trốn nhủi qua Cam Bốt mới trở lại được đất nước Hòa Lan.

Bị dụ về đầu tư, của tom góp bị VC đớp, còn bị nhốt; tức quá,Vua Chả giò quyết ăn thua đủ, đi thưa VC ra Pháp đình Quốc tế. Thắng kiện nhưng VC ì ra không chịu trả lại tiền. Lại tức quá, lại đi thưa, lần nầy đòi bồi thường hơn cả tỉ đô la (Để làm từ thiện?! He he!)

Cho dù Hoàng thượng thắng ‘kiện’ đi nữa, tiền vàng của Hoàng thượng đã bị cướp, cha con nó ăn dọng, tẩu tán hết thì tiền đâu nó trả lại cho Hoàng thượng?

Chỉ còn cách duy nhứt là đè đầu dân ngu khu đen trong nước, vốn đã khổ quá chừng để bóp nặn mà đưa lại cho Hoàng thượng chớ gì?

Hoàng thượng gõ bàn toán, tính chơi bí kiếp ”đa kim ngân phá luật lệ”, làm ăn với VC để kiếm lời! Rồi Hoàng thượng làm… mà VC ăn; giờ Hoàng thượng lại tính xòe tay ra lấy tiền của những thần dân cùng khốn nầy thì tui xin hỏi ngặt là: “Hoàng thượng không thấy bất nhẫn hay sao?”

Tui xin kể cho ông Vua nghe câu chuyện nầy: Một em chân dài, cực kỳ xuất sắc trong vai tì nữ, xin được chân thư ký cho một công ty quốc doanh của VC. Em ‘hồ hởi, phấn khởi’ về khoe với Má em rằng: “Chú Bí thư đảng ủy Công ty đã nhận con làm con nuôi rồi đấy Má!”

Má em chép miệng, lắc đầu: “Theo kinh nghiệm đau đớn của Má (hồi nằm mùng chống muỗi) là trong chế độ CS nầy: con nào nuôi trước sau gì cũng bị mần thịt hết trơn hết trọi hà!” Thì Vua Chả giò cũng được VC nó nuôi như nuôi heo vậy! Cho ăn cám xú; chờ mập ú, mập ụt ịt… là mần thịt thế thôi! Thì mếu máo khóc cái gì hè? Tâu Bệ hạ “Chả giò”?

ĐXT

Càn khôn

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19 Apr 2022

Post by Sơn râu 10 Aug 2026

1.
Với vận tốc trung bình, không nhanh chẳng chậm, khoảng cách giữa đi và đến, lộ trình phải trả là 45 phút. Đã từng thử nghiệm qua hai lần, sự sai biệt chẳng mấy nhiều, sớm muộn dôi ra hoặc trễ hụt chừng hai ba phút. Ba Dao dừng xe, tắt máy, vén tay áo, đồng hồ nhảy số 5:15. Mùa này sương xuống nhiều, lây lất một màu sữa đục giăng đầy, phủ choàng. Nếu chạy xe vào con đường mòn này lần đầu, sẽ không mấy ai nhìn ra dáng đứng xiêu đổ của một cái chòi lá xác xơ tàn tạ nằm thu mình sát con nước trôi chậm từng đám lục bình. Chim không kêu, gió chẳng phát tiếng khi thổi qua, cánh đồng đầy cỏ dại thực sự chưa thức giấc.

Ba Dao chống xe, rút từ dưới yên ra cây dao dài gần 50 phân, nắm ở tay rồi đi men bờ đê. Trước đây chòi này dùng cho người chăn lùa vịt làm chỗ nghỉ, ăn trưa hoặc ngủ tạm một giấc; nay bỏ hoang. Nơi nào bị phụ bạc bỏ quên, nơi ấy vắng dấu chân người. Vắng thôi chứ không hẳn là chẳng ai lai vãng, thời này ngay cả thâm sơn cùng cốc cũng có người định cư, bị đuổi dồn vào cảnh màn trời chiếu đất. Nơi đây, nếu quỡn, chân tạt vào cũng do có chút công chuyện xúi vậy, bình thường người khôn người dại gì thảy đều thích tìm tới chốn lao xao.

Trong chòi có trải manh chiếu rách, Ba Dao ngồi xuống lấy thuốc ra châm lửa thở khói. Đầu điếu thuốc đỏ thắp giữa màn sương tựa một tín hiệu lập loè, chỉ vài ba hơi khói đã có chiếc xuồng nhỏ vừa trườn tới dưới lòng con nước quánh đen, dừng mái chèo phóng ra dấu hỏi. Xong? Ba Dao đáp vọng xuống: Hoàn tất. Cả hai cùng đứng lên, Ba Dao vói người thảy xuống cái điện thoại thông minh, vật bất ly thân của nạn nhân, mở sáng màn hình sẽ thấy phút giây tổn thọ sau cùng của đứa ấy. Này, chụp lấy. Một xấp tiền được gói vuông vắn trong bao ny lông vừa rơi đúng vào hai tay của Ba Dao. Biến, bận sau có nhờ cậy sẽ tìm địa điểm khác để liên hệ. Kẻ kia nói trong khi chèo xuồng xẻ rách con nước lặng lờ, đâm sâu chìm đắm vào dòng sữa đục. Đồng hồ đeo ở cổ tay chỉ 5:28. Ba Dao cởi chiếc áo gió màu đen ra trải trên mặt chiếu, tháo găng tay, cởi khẩu trang, nhặt thêm cục đá rồi gói cùng cây dao vào thân áo, Ba Dao rút từ túi quần ra sợi dây, cột tém kỹ lưỡng thắt gút đôi ba bận. Ôm gói đồ bên hông bước cheo leo ra tận giới hạn cuối nhìn xuống dòng nước bên dưới. Hít hơi sâu, Ba Dao ném cật lực ra giữa dòng. Tỏm. Trông cá cá lặn trông sao sao mờ. Trông vào đồng hồ: 5:33.

Ba Dao bước trở lại lộ trình cũ, thu gói tiền vào dưới yên xe, khởi động máy nổ, chạy chậm ra hương lộ. Ở ngã ba giao tiếp với quốc lộ, Ba Dao cho xe chạy ngược hướng cố quận, nếu đường sá hanh thông chẳng sinh ra cảnh xe điên gây ra tai nạn dây chuyền, hắn sẽ đặt chân vào thành phố lân cận khoảng 7 giờ sáng, theo dự tính.

2.
Tìm gặp người mang ngoại hiệu Một Mắt không mấy khó, bởi người dân sống trong chu vi ba khu phố này từng nghe qua cái tên ấy, ít nhất một lần. Muốn tránh vòng vo và hiệu quả chỉ cần chạy xe qua cầu Nhị thiên đường, mua vài tấm vé số gọi là trao đổi thông tin, xong người bán vé số dạo sẽ chỉ đường tới quán cà phê Nhất Dạ.

Người đàn bà quan sát, thực ra gã trung niên mặt mày rám nắng da dẻ sần sùi ấy còn đủ hai mắt, chỉ có điều lưỡng mục bất đồng. Một mắt lớn một mắt nhỏ, mắt lớn ngó vô mặt người đàn bà trong khi mắt nhỏ ngó lơ ra con đường chan đầy nắng, bụi và chật ứ tiếng động. Người đàn bà gọi cà phê sữa đá phần mình, chỉ tay vào người ngồi ghế đối diện: Mang cho ảnh chai bia ngoại. Bà vẫn đội trên đầu chiếc nón đan bằng lát, rộng vành. Không tháo gương mát ra khỏi mắt. Giữ nguyên, chỉ lột bỏ khẩu trang: Xin lỗi, tôi gọi anh là Một Mắt thì nghe có vô lễ không? Gã trung niên cười lớn, khàn đục. Giọng cười có thể làm cho bụi bặm trên mặt gã vơi bớt phần nào. Có nghĩa là giãn nở, mất đi chút đỉnh vẻ cộc cằn bặm trợn. Bà chị gọi đúng như những gì quần chúng gọi. Chẳng thêm bớt, kêu đích danh thì xem như quá lịch sự rồi. Chị có điều gì nan giải mà cất công đi tìm thằng Một Mắt này?

Thức uống mang ra, phục vụ viên quay lưng, người đàn bà khuấy mạnh tay ly cà phê sữa đá. Hành động như biểu lộ cơn giận sắp trút. Tôi nhờ anh xử một người, một tên đàn ông cũng trạc tuổi anh. Một Mắt thắp lửa một điếu thuốc, rít hơi sâu. Mức độ tàn phế? Chị cần tôi nói ra giá biểu không? Bất khiển dụng cả hai tay là bốn triệu, hai chân cũng đồng giá. Thiến đi của quý thì lấy chị đúng hai triệu. Chấn thương sọ não thì… Không, không, tôi muốn thấy cảnh người ta cử hành tang lễ cho nó. Bảy triệu, có đủ không anh? Một Mắt đặt chai bia xuống mặt bàn. Bảy triệu thì ngon ăn, nhưng chị tìm lộn người rồi, mặc dù chị gọi đúng tên thằng Một Mắt này. Tôi có mẹ già, bà ăn chay trường suốt và quy ước của thằng hèn này là không giết người. Khiến cho nạn nhân tàn tật thì dù sao chúng cũng còn nương nhờ vào bác sĩ vực dậy, chôn xuống ba tấc đất lạnh nghĩ cũng hơi ác.

Anh từ chối việc ra tay vậy thì xin anh chỉ giúp tôi một người có thể lo việc, có được không? Chuyện nhỏ, nhưng tôi buộc lòng phải lấy của chị hai trăm năm chục ngàn, lệ phí của việc môi giới. Nắm tờ giấy giới thiệu của thằng Một Mắt, tôi tin là hắn sẽ thuận lòng xắn tay áo đảm đương. Hiện tại hắn đang ở địa phận khác, chị có ngại tốn công tốn của không? Xe đò, tàu hoả các thứ.

Ai thế anh? Làm ăn có trơn tru êm đẹp? Có ưa hét giá không? Tình cảnh này phải xúi tôi trèo đèo vượt suối thôi. Ngoại hiệu hắn là Ba Dao, hành sự vén khéo tươm tất do chủ trương cẩn tắc vô áy náy. Mang tên Ba Dao do bởi giết người hắn chưa khi nào phải bồi tới nhát thứ tư. Tôi có người mẹ suốt đời ăn chay thì so ra hẳn còn thấp kém. Mỗi tuần Ba Dao dành riêng ngày chủ nhật để đi nhà thờ xem lễ. Nghe giang hồ đồn hắn chưa hề lỗi hẹn. Để khỏi trông nhầm người, chị nhìn vào ngực hắn, luôn đeo một cây thánh giá đúc bằng 5 lạng vàng.

3.
Anh Tư Quang nuôi ba thủ hạ trung thành: Hai đứa biết kung-fu giỏi đánh đấm và một đứa giàu chất xám làm quân sư. Hai cương một nhu, hai quan võ một quan văn. Muốn “nhập nội” đứng sát thân Tư Quang chẳng hề là điều đơn giản, bởi hai quan võ từng đưa lời cảnh báo: Trước tiên hãy bước qua xác của ta. Tóm tắt, hai tên lộng ngôn kia có bị trầy trụa sứt mẻ chút gì thì sự tình nó xúi thế, riêng bụi bám trên y phục Tư Quang thì vẫn chưa có ai phủi đi. Việc ấy chừng nan giải. Phàm đã ăn cơm chúa thì bề tôi phải múa suốt ngày. Xưa nay vẫn vậy. Võ múa đã đành, há lẽ văn đứng vòng tay không múa theo. Sự tình căng thẳng, quân sư đưa diệu kế tỉ như “bất chiến tự nhiên thành” hoặc ném một hòn cuội nhỏ mà chết cùng lúc hai con chim lớn. Gặp lúc an ổn thái bình, quân sư khăn áo chỉnh tề, túi chêm nhiều ngân lượng, điều khiển xe máy tìm tới những quán cà phê đèn mờ, rung đùi ngồi thu thập thông tin, trả tiền bo hào sảng, tuyệt không sàm sỡ cùng đội ngũ xiêm y sơ sài vào ra ỏng ẹo điện nước đầy đủ, no căng. Uy tín cũng là một thứ võ công thâm hậu vậy! Thế mới phát sanh lời bàn: Ngó dzậy mà hổng phải dzậy!

Muốn hanh thông việc mần ăn. Quân sư nói cùng sếp. Luận theo cổ thư bên Tàu, tháng bốn lần phải ăn nằm với gái còn trinh nhằm giải hạn. Trước giúp cơ thể cường dương, sau loại bỏ tống khứ bao chuyện xấu vây bủa. Tôi vừa hay biết đường dây: Mạo hiểm bước đi lần đầu, gái đẹp miền quê 15 tuổi giá chỉ 5 triệu. Gái ven đô 16 tuổi giá bảy triệu. Người đẹp nội thành học sinh 17 tuổi chưa mất trinh giá 10 triệu. Tư Quang nhắm trít mắt cười: Lời ngươi nói thật hợp bụng ta. Ôi, lao vào cuộc chiến êm ả này ắt ta phải cần lắm thứ phụ kiện. Tôi cũng đã lần ra chỗ chuyên cung cấp chất bổ dưỡng lẫu dê, cao hổ cốt, xám xập dị, nhất dạ lục giao sinh ngũ tử, viagra các thứ. Không cần trường kỳ trong uống ngoài thoa cũng nhất định thắng lợi ắt về ta. Thật sao? Chung cuộc trời sanh ra Tư Quang này chỉ nhằm năng nổ đi giải phóng gái ngây thơ thành phụ nữ ba đảm đang ngay tắp lự. Rồi một ngày kia, không chừng mà ta được đôn lên giữ chức chủ tịch… hội phụ nữ. Tư Quang cười, áng chừng xem trong máu ta cũng có đôi phần chất khôi hài trộn lẩn, tếu táo.

Quân sư được bề trên tín cẩn giao sứ mạng làm chim xanh, trâu cưa sừng để lùa bắt bò lạc về. Không nên dẫn tới biệt phủ, quan huyện dặn dò cùng lúc đã vừa trao tay chiếc chìa khoá hòng mở êm thắm cánh cửa bắt nơi căn hộ riêng tư kín cổng cao tường màn che trướng rũ, bà nhớn bà bé vợ hai vợ ba của quan có nằm mộng cũng chẳng ngờ. Ổng đâu rồi? Dạ, ngài bảo việc cơ quan bù đầu giải quyết chưa xong, đơn từ kiện tụng độ rày nhiều lắm ạ, chất cao như núi, nom chóng mặt lắm ạ.

Ghé chân vào tụ điểm “giải trí lành mạnh”, khách hào hoa chơi bảnh nọ được đón tiếp nhiệt tình. Nồng hậu vượt quá mức suồng sã, đôi bàn tay không thể không đi hoang, tha hồ ngứa rồi gãi cho đã. Đầu óc nhiều chất xám chẳng vì men bia dâng tận miệng đánh cho gục bao mưu mô. Tại sao bưng chén cháo ngon ta không nhắm qua, mút trước chút đỉnh nhỉ? Đâu phải cứ hễ là quan lớn thì mãi quen thói ăn trên ngồi trốc? Ngồi mát ăn bát vàng!

Quân sư ham bù khú gục mặt giữa hương hoa ám muội nên quân sư chẳng ngó ra có kẻ đang chú mục ngầm theo dõi. Tuy mang danh hiệu cà phê đèn mờ, nhưng mờ không có nghĩa là tiết kiệm điện. Cũng có đôi ngọn sáng xanh quét tia vằn vện qua lại, vô tình nó liếm thân kẻ ngồi thu mình rất mực đơn côi, thắp vàng cây thánh giá treo giữa ngực, tựa hồ một thanh kiếm nhỏ chúc ngược đầu.

4.
Khi người ta làm việc ám muội, ví như lén vợ đi chơi bời, thường người ta chỉ vác mạng không cho nhẹ gánh hành trang, cho êm thắm, tránh chộn rộn. Tư Quang khác, phận làm chủ một huyện đường, Tư Quang hẳn phải khác thiên hạ. Thích khách đột nhập vào, giường đắt tiền Hong Kong buông mùng ở đó nhưng đứng gần bên chân giường vẫn có bóng hai đứa đầu trâu mặt ngựa nguyện theo chủ trương ba không: Không thấy, không nghe, không biết. Ba không với chủ nhưng ba có với ong ve ruồi muỗi. Có thấy đứa điếc không sợ súng, có nghe bước chân hắn rón rén, có biết sự tình e bất an. Bằng động thái của đứa chăm tu luyện võ công, thoáng cái chúng vây lấy cái bóng dạ hành từ đâu vừa chợt lách thân qua cửa. Không nói chẳng rằng, quyền cước cật lực vung ra ngay, thi triển liên hoàn ba bốn chiêu thức hiểm ác. Thích khách chẳng đi tay không, thích khách nổi tiếng nhờ vào con dao từng gây nên tên tuổi: Ba Dao. Dao hoa lên, xé gió, huê dạng, quay mòng. Gió gây ra tiếng rú đớn đau. Máu hắt từng giọt lấm tấm vào mùng xanh khiến mặt nệm chao đảo. Giường sản xuất ở Hong Kong khi xuất xưởng đảm bảo một chuyện, cho dù có bốn cặp cùng giao hoan, tấm nệm lót lưng 8 đứa ấy vẫn êm ru bà rù. Vậy thì chao đảo là do nỗi sợ tạo ra, thắt tim, về nơi cực lạc theo con đường khác, máu đổ thành suối thay vì mây mưa qua loa, nhỏ giọt. Đứa con gái bé bỏng để mình trần vén mùng chạy ra đứng vào góc, run rẩy, tóc rối nùi. Xa cục diện giao tranh sinh tử nhưng bắp chân nó vẫn có máu hoen. Máu của chính nó, máu từ cửa mình ứa ra nhằm vĩnh biệt thời con gái.

Ba Dao vẫn thuộc nằm lòng câu: Mãnh hổ nan địch quần hồ. Cái mà Ba Dao quên là quần hồ cũng có nhiều thứ hạng. Hai con sói này trung thành với chủ quá, một dạ không sờn lòng dù bị dồn tới chân tường. Một con bị gục, một con chấn thương, chừng đó cũng đủ để Ba Dao nhận biết chân khí tổn hao, sức cùng lực kiệt. Lần đầu, ngoại hiệu Ba Dao đã mất linh. Chưa khi nào Ba Dao phải vung tới trăm dao. Đứa chấn thương kia đã liều mạng đưa tay ra, chẳng nao núng chộp lấy lưỡi dao đỏ lòm ấy, cắn răng đoạt chất thép lạnh rồi hoành dao đâm ngập cán vào bụng Ba Dao. Giang hồ giải thích: Sinh nghề tử nghiệp, chơi dao có ngày đứt tay. Nhãn quang bắt đầu mù mờ, ai như dáng đứng thằng quan huyện vừa bước xuống khỏi giường, hả hê vì tai qua nạn khỏi. Hạng người như nó có chăm đi chùa xin xỏ cao xanh ngó xuống? Giỏi chân tới giáo đường nguyện cầu được ban phước lành? Nhìn mặt mà bắt hình dong, nó chỉ là hiện thân của quỷ sứ, vô thần. Ba Dao đổ gục người, cái thánh giá thôi nằm yên trước ngực, đoạn lìa sự bao che, ấm áp, tin cẩn. Vẳng tiếng người đàn bà quỳ bên Ba Dao trong thánh đường nói: Giết một tên gian ác, trừ khử đứa chuyên hại dân, tôi nghĩ Chúa sẽ theo phù hộ anh. Và Chúa, người đã giúp tôi vượt qua bao gian khó để quỳ bên anh giờ này. Cá nhân tôi chỉ đại diện cho số đông đàn bà con gái từng bị bức hại, thần linh sẽ đứng sát cánh bên phận bạc chân yếu tay mềm chúng tôi…

Ba Dao chết không nhắm mắt. Mắt trừng mở vì giữa đời này vẫn bày ra sự thật phủ phàng: Kẻ ác vẫn thắng đứa hiền lương. Quan to vẫn ngang ngược ức hiếp dân lành. Và mai kia mốt nọ, báo chí sẽ hân hoan khi đăng tải về cái chết của một sát thủ, không quên ghi chú hàng chữ quan trọng: Xã hội nhờ thế mà trong sạch phần nào. Thế nào là dơ bẩn? Thế nào là trong sạch? Thế nào là thanh liêm? Thế nào là tham nhũng? Ba Dao không đủ sức thông hiểu, nếu giang hồ nổi lên một nhân vật mang biệt hiệu Triệu Dao thì hoạ may! Ơn Chúa, chánh đạo sẽ thắp sáng cuối đường.

Nợ đời chưa trả

Phạm Tín An Ninh

(Viết cho em và những người vợ lính trung hậu)

Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc dòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu ” Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường ” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”.Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì “nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng? .. “. Nhờ vậy trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa, tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, nên làm gì có chuyện “chết trong mắt em”. Vậy rồi trời xuôi đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quãng Ðức, Ban Mê Thuột rồi Bình định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà cũng vì tưởng mình đã được trở về với những “hang động tuổi thơ” của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục “hát khúc quân hành “. Ðoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở Dục Mỹ. Nhưng tôi đã “ước tính tình hình” sai bét. Ðoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Ðại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước ” thăm dân cho biết sự tình”.

Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa “Trăng Mường Luông “.

Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó:

HÒi nhÕ tôi rÃt anh hùng M¶t mình dám nhäy cái Çùng xuÓng sông BÖi nghiêng bÖi ng»a gi»a dòng Hiên ngang trÃn gi» m¶t vùng tu°i thÖ L§n lên trª chÙng ngu kh© M¡t em nào phäi b‰n b© sông sâu? C§ sao chÜa kÎp l¶n nhào Ðành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là..

Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Ðã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi vọng phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.

Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho “người tình bé nhỏ” ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một cố nhân nào đó – mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ – bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.

Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng – ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.

Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý Anh vì Anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, Anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Vì vậy tôi không còn nhớ hết mà chỉ thuộc lòng mấy câu viết về nàng:

“Tám năm rách áo bao nhiêu lượt. Em vá chồng lên những nỗi niềm. Từ thưở anh đi nhà tróc nóc. Con thơ đâu còn biết vui cười. Cô gái Ninh Hòa thương quá đỗi. Một mình chèo chống giữa phong ba.”

Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay sở làm sao? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng. Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng tuyết lạnh mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng..

Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn quốc gia nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chỉ còn có tôi, ngưới lính thất trận năm nào đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn giông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.

Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình . Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa. Mãnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao nhiêu cuộc biển dâu.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 10 Aug 2026

Ngày 14 tháng 7-1997 tại San Francisco, tiểu bang California, Joe Trimn, 29 tuổi đã bị giải tòa vì mang tội đánh chết con chó nhỏ (puppy) của người bạn gái. Y khai với cảnh sát là vì con chó tranh phần ăn của chú mèo cùng nhà, y tức giận đá con chó một phát. Con chó trở lại ngoạm y vào cánh tay, y nổi điên nện vào đầu con chó ba lần. Khi bạn gái của y trở về nhà, thấy con chó cưng nằm bất tỉnh, rên rỉ trên giường, cô đã cấp cứu bằng cách hô hấp nhân tạo “mouth-to-mouth” nhưng không có kết quả. Joe Trimn bỏ xác con chó nhỏ vào bao và đem vất vào thùng rác. Cô bạn gái của y gọi cảnh sát và y bị còng tay tống giam. Cảnh sát tìm ra y đã có tiền án và đối xử độc ác với thú vật. Y không chạy nổi số tiền “bail” lên đến $50,000 nên đành phải vào tù. Tại tòa án San Francisco sau đó, Trimn bị tòa kết án 5 năm tù vì tội đã giết con chó cưng của cô tình nhân. Đó là một trong trăm nghìn câu chuyện chó ở Mỹ. Trong đời sống Việt Nam ngày xưa, tuy con chó rất gần gũi, giúp đỡ, trung thành với con người nhưng luôn luôn bị khinh khi coi rẻ mạt. Danh từ “chó” là danh từ thấp nhất để cho con người chửi bới hay mạt sát … con người như “đồ chó”, “cẩu trệ”, “cẩu hợp”, “chó đẻ”, “cứt chó”, “chó chết”, “chó má”, “chó ghẻ” … Không ai hôn hít chó, ngủ chung với chó, gọi chó bằng “cưng”, bằng “honey”, mà còn nói mỉa mai “chọc chó, chó liếm mặt. Ngay cả chuyện dắt chó đi … ị cũng không có trong ngôn ngữ nhân gian, mặc đầu đây là chuyện bình thường trong đời sống Âu Mỹ, thuở nhỏ chúng ta chỉ nghe” à b c dắt dê đi … ị, a ă â dắt vợ đi chơi mà không nghe ai nói tới chuyện dắt chó. Chó bị khinh rẻ vì chó hay ăn bậy, nhưng người ta lại thích ăn chó vì “sống dương gian không ăn miếng dồi chó, chết về âm phủ biết có hay không? Sống ở Mỹ rồi mới biết không gì quí hơn … chó mèo. Ông Đại Sứ Martin ngày 30 tháng 4-75 di tản khỏi Saigon không quên ôm con chó nhỏ theo, ngay cả trong lúc tình hình Iraq nát như tương, sáng nay (3/8/05) trên TV tôi vừa thấy Tổng Thống Bush, ôm con chó đen bước xuống trực thăng. Chỉ tội là trong bộ nhớ của tôi, không có chỗ nào ghi lại được tên con chó “cưng” của hai vị này, nên phải đành cáo lỗi.

Người ta thương quý chó mèo hơn cả con cái, vì con cái bỏ bê không ngó ngàng đến, trong khi con chó, con mèo thì quanh quẩn bên mình, nên chó mèo được hưởng gia tài một hai triệu bạc là chuyện vẫn thường xẩy ra. Con người có gì thì chó có nấy, từ nhà thương, bác sĩ, thuốc men, thức ăn cho tới tắm gội, tỉa lông, cắt móng. Con người có “nhân phẩm”, thì chó mèo cũng có “miêu, cẩu phẩm”, không ai có quyền đánh đập, bạc đãi hoặc vô cớ giết chóc chó mèo. Chó mèo có pháp luật bảo vệ hẳn hoi, đụng vào là tù mọt gông.

Hiện nay hầu hết các tiểu bang tại Hoa kỳ đều có những đạo luật xử phạt, những đạo luật dành cho việc đối xử độc ác với thú vật có thể dẫn đến việc phạt tiền hay phạt tù những người vi phạm. Nhân viên điều tra việc đối xử độc ác với súc vật cho rằng vi phạm này thường liên quan tới việc hành hạ trẻ em (hầu hết những kẻ giết người hằng loạt đều là những người độc ác với súc vật). Ví dụ như theo “Texas Penal Code #420”, thiếu các bổn phận sau đây đối với súc vật nuôi trong nhà có thể dẫn tới việc cảnh sát còng tay: không cho ăn, không cho uống, không cho chỗ ở, không săn sóc đàng hoàng (reasonnable care). Chỉ cần thiếu một trong bốn bổn phận trên đây một cách cố ý thôi, hoặc là hành hạ, bỏ bê, giết, làm bị thương, đầu độc, săn đuổi, đánh đập hoặc lấy cớ huấn luyện để đánh đập, người vi phạm có thể bị bỏ tù một năm và số tiền phạt có thể lên tới $40.000,00. Ngoài ra những ai can thiệp hoặc dấu nhẹm các chứng cớ hành hạ súc vật sẽ bị kết án phạm trọng tội cấp ba, chịu từ 5 đến 10 năm tù. “The Humane Society of the United States” là một cơ quan bảo vệ súc vật lớn nhất nước Mỹ, gồm có 9 triệu hội viên, đã ghi nhận trong năm 2003, trên toàn quốc có 1373 trường hợp độc ác với súc vật đã bị đưa ra tòa án. Tuy người ta nói rằng, ở Mỹ, “nhất đàn bà, nhì chó mèo, ba mới tới đàn ông”, nhưng con số về các trường hợp hành hung súc vật quá nhỏ, nếu so với con số đàn ông “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” với đàn bà, vì thật sự người ta không nỡ tàn bạo với chó mèo hơn các “cục cưng” khác.

Ngày 9 tháng 7-2005 tại Belle Tire, tiểu bang Michigan, người ta đã treo giải $1,000 cho ai tìm ra để bắt thủ phạm đã vứt xác một con chó con vào thùng rác và sơn đỏ một con mèo cho tới chết. Tên tuổi người cho tin sẽ được dấu kín và xin quí vị vui lòng gọi số điện thoại (313) 943-2697 bất luận ngày đêm.

Tại Seattle, tiểu bang Washington, vào tháng 5 năm 2005 mới đây, tòa án đã kết án ông Wallace Gray một năm tù và ba tháng quản thúc tại gia và bồi thường cho bà giáo về hưu Paulo Roemer, 71 tuổi số tiền $35,000 vì đã tàn nhẫn, độc ác với một con mèo. Ông không tự tay đánh chết con vật nào, nhưng đã để con chó của ông cắn con mèo 12 năm tuổi của bà giáo cho tới chết, trong khi ông có mặt ở đó mà không can thiệp. Luật sư của bà này đã trình trước toà án rằng, từ khi con mèo đen trắng yêu quí của bà Roemer bị chết, bà đã mất ngủ, khủng hoảng và mang bệnh trầm uất. Tòa đã phán bà được bồi thường $20,000.00 cho cái chết của con mèo và $15,000.00 cho việc tổn thương tâm lý của bà.

Tại Flintville, Tennessee, ông Dennis Ray Price, 34 tuổi đã bị bỏ tù 9 tháng vì bỏ đói, bỏ lạnh và xích con chó của ông trong vườn cho tới chết. Con chó này khi được đem tới phòng mạch bác sĩ thú ý đã trơ xương, sụt ký và không kịp cứu cấp vì đã trễ! Ngày 2 tháng 7-2005 tại Pomona, California, ông Williams Dale Costner, cư dân thành phố Clairemont đã bị cảnh sát bắt giam vì đã giết con chó của ông bằng lưỡi rìu. Ông phải đóng tiền bail $20.000 để được tại ngoại. Ngày 20 tháng 7-2005, ông bị kết án một năm tù ở và ba tháng quản thúc tại gia dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Bảo Vệ Súc Vật. Ngay như chuyện “chó chết”, ở tiểu bang Florida, thương một con chó tên Heidi mà chủ nó lượm được ngoài đường rất có nghĩa, bị bệnh qua đời, người ta đã lập một cái quỹ mang tên “Heidi’s Legacy” để cứu giúp những con chó kém may mắn bị bỏ rơi khác.

Thân phận con chó ở Mỹ có được như ngày nay không phải đương nhiên mà có. Cũng như tự do của con người, những ưu đãi trong xã hội Mỹ dành cho chó mèo không ai cho không. Được vậy là nhờ sự đấu tranh bền bỉ của các tổ chức, tư nhân, hội đoàn … đã làm áp lực với xã hội, tòa án để trừng phạt những người ác độc với thú vật. Ở Mỹ này, bạn thử đánh hay giết một con chó ngoài đường, lấy ví dụ ngay trên đường Bolsa ở Little Saigon đi, coi người ta có gọi cảnh sát còng tay bạn lại không? Vậy mà tôi biết tại Quận Cam, sáu tháng nay có một người mẹ có con trai bị chết thảm khốc khi bị một xe cảnh sát đuổi theo, đè chết dí vào gốc cây. Bà đã sống để chờ đợi công lý phán xét, nhưng đến nay người ta cho bà biết, người cảnh sát cán chết con bà không vi phạm một luật lệ nào của tiểu bang và đương nhiên được coi như vô tội.

Tôi không có ý định so sánh mạng người với con mèo hay con chó, nhưng tôi biết nổi đau đớn của một người mẹ mất con không có gì có thể so sánh nỗi. Chúng ta may mắn sống trong một đất nước có pháp luật như ở Mỹ, nhưng nếu chúng ta không biết vận dụng các định chế pháp luật, tranh đấu bảo vệ cho quyền lợi của chúng ta, thì Bùi Tấn Hoàng sẽ không phải là một trường hợp duy nhất và thương tâm cuối cùng xẩy ra.

Tôi lại đem lòng ganh ghét với lũ chó ở Mỹ, ôi chúng nó sung sướng làm sao, chẳng bao giờ người ta thấy những con chó ở Mỹ lang thang đi bươi đống rác kiếm ăn, như những đứa cháu tôi ở quê nhà.

(1 th. 8-05)

Mùa khô trên núi

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 9 Aug 2026

Nhớ những mùa khô nơi rừng núi

Đời nghèo người cũng như cá khô

Đá sỏi trắng ai đào giếng nước

Suối thì xa lắc tận cuối rừng

Ta theo đám bạn đi gánh nước

Nơi hố bom ngoài cánh đồng hoang

Lận lưng vài lá bùa hộ mệnh

Khi gánh về nước không hụt hao

Ủ trong thùng nước là lá chuối

Lá khoai mì hay những lá rừng

Mùa khô nước quý như vàng trắng

Dù nước nhiều khi nước đục ngầu

Ra tới đồng hoang chờ tới lượt

Như cảnh xếp hàng thời phiếu tem

Dưới đáy hố bom toàn cóc nhái

Còn thêm cả rắn và ễnh ương

Ngồi múc vô thùng từng ca nhỏ

Nước đục như sông mùa phù sa

Nước đục như phận người buổi ấy

Nhọc nhằn quang gánh nỗi đường xa

Những thằng thiếu niên mười mấy tuổi

Vai gánh gian nan dưới mặt trời

Gánh cả mồ hôi trên lưng áo

Từng giọt nước về nơi núi xa

Nhớ những tháng năm nơi rừng núi

Kiếm bữa cơm đã khổ trời gầm

Lại thêm lao nhọc đi gánh nước

Mà vẫn cười trên nỗi gian nan

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 9 Aug 2026

Trong số nhạc sĩ tôi quen biết, điều có thể khẳng định ngay rằng Nhật Bằng là một nhạc sĩ tài hoa nhưng không hề “bay bướm”. Anh có dáng người nhỏ nhắn, đẹp trai kiểu thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ và luôn tỏ ra hòa nhã trong mọi cách giao thiệp. Thấy anh, người ta cứ nghĩ là một sinh viên hơn là một nghệ sĩ.

Cuộc sống của anh gắn bó với gia đình, xa lánh những chỗ ăn chơi chỉ trừ một thứ duy nhất anh thích là mạt chược, nhưng là thứ mạt chược “còm”, phải nói là “rất còm” mới đúng. Ðó là thú vui của gia đình anh. Cả nhà anh hợp lại đã thành một bàn mạt chược, đôi khi có thể thừa chân và gồm toàn “danh thủ” chứ không phải loại lơ mơ. Cái thú vui ấy hoàn toàn là một thú vui gia đình.

Những cái tên lớn trong một căn nhà nhỏ

Tôi biết anh từ khi về làm ở Sài Gòn năm 1957, khi anh phục vụ ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội hồi đó còn là một căn nhà nhỏ nằm ở mặt tiền đường Hồng Thập Tự, ra vô tự do, không một người lính gác. Trưởng đài hồi đó là Vũ Quang Ninh, và Vũ Ðức Vinh tức nhà văn Huy Quang làm phó kiêm trưởng ban biên tập. Ban nhạc thì gồm toàn nhạc sĩ, ca sĩ thượng thặng từ Ðệ Tam Quân Khu ngoài Hà Nội chuyển vào Nam. Các anh Canh Thân, Ðan Thọ, Anh Ngọc, Ngọc Bích, Văn Phụng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Vũ Huyến… đều có mặt trong căn nhà nhỏ bé này.

Đó là những nghệ sĩ được đồng hóa vào quân đội theo khả năng và như thế dĩ nhiên không phải “động viên” vào lính ra chiến đấu ngoài chiến trường.

Các anh ấy đều hơn tôi vài ba tuổi.

Tôi làm ở Phòng Báo chí quân đội nên việc liên hệ với Đài phát thanh là chuyện hàng ngày. Bởi Đài Quân Đội hồi đó chưa có phóng viên, nhất là phóng viên chiến trường nên phóng viên báo chí có bài tường thuật nào cũng cung cấp cho Đài Quân Đội.

Chính tôi hồi đó, thỉnh thoảng cũng đi làm phóng sự và đọc trực tiếp cho Đài Quân Đội thu thanh. Dù khác nhau về công việc, cấp bậc, tuổi đời, nhưng chúng tôi coi nhau như anh em bạn bè và riêng tôi vẫn giữ sự kính trọng đặc biệt với những bạn này.

Nhật Bằng và tôi hồi đó đều chưa lập gia đình, nhưng chưa hề đi chơi chung. Chừng hơn một năm sau anh mới lập gia đình với chị Tường Huệ, lúc đó cũng là một nhân viên khả ái của Đài Quân Ðội. Anh chị có cuộc sống đầm ấm, khép kín trong một gia đình nền nếp của những công chức cấp cao khi còn các Ðốc Phủ Sứ, ông Tham, ông Phán.

Người nghệ sĩ không làm công việc chuyên môn của mình

Đến năm 1969, khi tôi về làm việc tại Ðài Quân Đội, lúc đó chúng tôi mới có dịp gần nhau hơn. Khi ấy những Canh Thân, Văn Phụng, Anh Ngọc… đều đã giải ngũ trở về với cuộc sống dân sự, nhưng Nhật Bằng vẫn ở lại. Có một điều lạ là Nhật Bằng tuy là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ và chơi được nhiều nhạc cụ rất điêu luyện nhưng không làm ở ban nhạc của Đài mà lại làm ở ban thông tin. Anh là biên tập viên thường trực, chuyên cung cấp tin tức thời sự và chiến trường hàng ngày cho Đài. Các bản tin thường lấy ở Việt Tấn Xã và cơ quan quân sự từ các sư đoàn và Tổng Tham Mưu gửi đến.

Thấy điều này có vẻ “phí phạm nhân tài” nên có lần tôi gặp anh, đề nghị chuyển anh trở lại ban nhạc cho đúng chỗ. Nhưng anh từ chối, với một vẻ rất hiền lành.

Anh cho biết là có những phức tạp ở ban nhạc mà anh không muốn liên quan. Tôi nghĩ có lẽ trong một ban nhạc gồm nhiều nhân tài quá, rất có thể có những va chạm mà tôi chưa biết hết. Giả dụ như sự phân công, người làm trưởng ban chỉ huy dàn nhạc, người phụ trách hòa âm, người chỉ có nhiệm vụ đệm đàn cho ca sĩ hát… nếu so về khả năng chuyên môn, có thể người này hơn người kia, nhưng cấp bậc trong quân đội và những điều tế nhị lại là vấn đề khác hẳn. Ðiều này sau một thời gian tôi mới thấy rõ, tuy nó không trầm trọng nhưng cũng là một “ẩn khúc” mà anh Nhật Bằng muốn tránh. Biết tính cách của Nhật Bằng nên chúng tôi không đề cập đến vấn đề này nữa.

Suốt những năm tháng làm việc bên nhau, Nhật Bằng lặng lẽ lo công việc “không chuyên môn.” Anh làm hết nhiệm vụ, tròn trịa như một công chức gương mẫu, không chú ý tới bất cứ chuyện gì khác.

Sau một ngày làm việc cho Ðài, anh có cuộc sống riêng với các ban nhạc, các tổ chức văn nghệ, sân khấu ca nhạc, phòng trà mà anh cộng tác. Anh không hút thuốc, không uống rượu, khi lái chiếc xe hơi cũ, khi đi xe gắn máy đến nơi làm việc. Trong bộ đồ “nhà binh” rất gọn gàng, tươm tất, Nhật Bằng vẫn cứ là một thư sinh ngồi ngay ở bàn điện thoại của ban thông tin thời sự ngay căn phòng trực của Đài.

Những đêm trăm phần trăm

Những ngày “dầu sôi lửa bỏng” như biến cố Mậu Thân, những lần đảo chính thật đảo chính hụt, Nhật Bằng cũng chung lo công việc như tất cả anh em khác. Anh làm hết sức cho công việc.

Vào thời kỳ chiến tranh leo thang những năm sau này, cấm trại 100%, tối nào chúng tôi cũng có dịp gặp nhau trong Đài. Những hôm yên tĩnh thì bày bàn mạt chược trong một phòng nào đó cho anh em chơi chung. Như thế vừa đông đủ, vừa vui vẻ, không anh nào “nhớ vợ”, không anh nào “chuồn” trong đêm cấm trại. Một tháng 30 ngày mà ngày nào cũng cấm trại 100% thì khá mệt nên phải có trò gì cho vui. Nhất là những anh em có việc làm thêm ở các phòng trà, dancing, thì đời sống có nhiều trở ngại. Lương quân đội, hầu hết là cấp bậc nhỏ làm sao nuôi nổi gia đình giữa thành phố. Thông cảm với những khó khăn đó, tôi hết sức vận động cho các nhạc sĩ và ca sĩ được phép đi làm đến giờ giới nghiêm mới trình diện ở Ðài.

Rất may đề nghị này được ông Cao Tiêu, có thời làm chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, ủng hộ nên được chấp thuận. Thế là danh chính ngôn thuận, cứ hàng đêm, anh em ca nhạc sĩ có giấy phép được “hành nghề” ở ngoài trong một giới hạn thời gian cho phép. Lúc sau này thường là từ 20 giờ đến 24 giờ đêm. Cuộc sống như thế vất vả lắm, hết lo việc của Đài đến lo việc của gia đình, anh nào cũng phờ râu. Dù vậy so với các anh em ở ngoài chiến trường thì chưa thấm vào đâu. Quan niệm như thế nên mọi người đều làm hết sức mình.

Ðôi khi tôi được Nhật Bằng giúp đỡ về phạm vi chuyên môn, bởi anh là người có nhiều kinh nghiệm về lãnh vực ca nhạc và phát thanh. Thí dụ một bản nhạc có tính “chiến dịch” phải làm sao cho hay hơn, cho sôi động và dễ dàng phổ biến trong “quần chúng”. Anh vui vẻ giúp ý kiến nhưng không bao giờ trực tiếp nhúng tay vào. Anh luôn là người mẫu mực, không bon chen, không màng tới bất cứ thứ quyền lợi nào bên mình.

Tấm lòng của gia đình người bạn

Sáng ngày 30-4-1975 khi các chiếc xe tăng bò qua cầu Thị Nghè, ầm ầm chạy qua cổng Ðài Quân Đội là lúc tôi rời khỏi Đài. Có lẽ Nhật Bằng cũng rời khỏi Ðài vào thời gian đó. Bởi khi Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre đã bị chiếm, làn sóng điện của chúng tôi không lên ăng-ten được, có nghĩa là Ðài không thể phát thanh được nữa, tôi còn thấy Nhật Bằng và một số anh em cùng đứng ngẩn ngơ ngoài sân. Dù sao anh và tôi cũng là những người làm việc cho đến phút chót và rời Đài sau cùng. Vài hôm sau, Nhật Bằng đến nhà tôi chỉ với mục đích là “xem tình hình ra sao”.

Giữa không khí chộn rộn đó chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra, chưa biết ai đi ai ở, ai còn ai mất, ai lo tính cái gì cho những ngày sắp tới. Cũng như Mai Thảo, Phạm Ðình Chương xuống nhà tôi, không để làm gì, chỉ để nhìn thấy nhau và rồi có hôm lại đâm lì, ngồi ăn uống với nhau, lần nào cũng cứ như lần chót. Rồi ít lâu sau có nhiều anh em nghĩ đến tìm đường “vượt biên”. Mai Thảo, Hoài Bắc cũng nhắc chuyện đó nhưng Nhật Bằng thì không. Tôi hiểu anh gắn bó với gia đình nên không tính đường ra đi một mình, nếu có thì anh phải đi cùng vợ con anh mà chuyện này lại quá khó khăn.

Sau đó chúng tôi không gặp nhau nữa vì mỗi người đã ở một trại “cải tạo” khác. Anh về trước tôi sáu năm. Khi tôi về năm 1987, nghe tin gia đình anh vẫn ở chỗ cũ. Tôi chưa kịp đến thì anh lần mò đến căn nhà tối tăm ở giữa khu chợ Bàn Cờ thăm tôi trước. Anh lại tổ chức đánh mạt chược còm ở nhà và mời tôi xuống chơi.

Có lẽ mạt chược ở nhà anh là thứ “còm” nhất Sài Gòn.

Hầu hết anh em đi “học tập” về, anh nào cũng rách như tổ đỉa trong khi gia đình anh cũng chẳng làm ăn gì. Thế nhưng trưa nào anh cũng bắt chúng tôi ở lại ăn cơm với gia đình anh. Phải nói thẳng thắn rằng, lúc đó mời một vài người bạn ở lại ăn cơm, dù là bữa cơm bình thường đơn giản cũng là một điều cần phải tính toán.

Hồi đó có Duy Trác, Thái Thủy, và đôi lần cụ Hà Thượng Nhân, Phan Lạc Phúc cũng tới chơi. Cụ Hà rất thẳng thắn, cứ “cơm nắm muối vừng” hoặc cái bánh, nắm xôi mang theo chứ không chịu làm phiền gia đình Nhật Bằng. Nhưng cả nhà anh chị lại rất hiếu khách, rất tha thiết với bạn bè. Thỉnh thoảng tôi mang theo vài gói cà phê, anh chị cũng không bằng lòng. Tôi hiểu thấm thía được cái tình thương yêu anh chị dành riêng cho tôi cùng những bạn thân khác. Ít năm sau, anh chị đi định cư ở Mỹ, tôi lại “bơ vơ” ở Sài Gòn, thỉnh thoảng có dịp ghé ngang khu Chí Hòa sao mà nhớ đến thế, nhớ cây mít đầu nhà anh có năm chỉ ra được đúng một trái, anh chị cũng để phần cho tôi. Trái mít thơm và ngọt lạ lùng, có lẽ nó đã sống cùng gia đình anh từ ngày “di cư” 1954 cho đến những ngày tháng đó.

Dường như anh Nhật Bằng chịu khó trở lại thăm quê hương bởi một lẽ giản dị anh còn người con trai lớn sống ở Sài Gòn không đi cùng gia đình được vì lúc đó cháu đã có gia đình và có một đứa con kháu khỉnh. “Ông bà nội” nhớ cháu thì phải mò về là chuyện đương nhiên.

Lần gặp sau cùng

Từ trái: Văn Quang, Nhật Bằng.

Lần sau, Nhật Bằng cũng lại đến thăm tôi khi tôi đã về ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Anh vẫn vậy, không già đi bao nhiêu, bản tính cứ hiền lành ít nói như chẳng có chuyện gì xảy ra, chẳng có chuyện gì đáng nói ở Mỹ. Lần gặp nhau sau cùng là lần anh đến nhà tôi ăn món “nhà quê Bắc Kỳ” nhưng anh còn vài chỗ mời nên chỉ ngồi được gần một tiếng đã phải ra đi “đám” khác.

Ngày 7-5-2004, khi tôi vừa vĩnh biệt Phi Thoàn thì lại nghe tin anh đã từ trần lúc 8 giờ sáng ngày 8 tháng 5, giờ Việt Nam. Thật ra hôm trước tôi đã nhận được email của Thái Thủy báo tin anh Nhật Bằng phải đưa đi cấp cứu, nhưng khó có hy vọng qua khỏi.

Tôi điện thoại sang Virginia hỏi thăm, chỉ gặp anh Hoàng Hải Thủy và Hoàng Song Liêm, hai anh xác nhận là Nhật Bằng vẫn còn nằm trong bệnh viện. Nhưng nay thì đã có tin anh ra đi rồi. Tôi điện thoại cho Nhật Hào, con trai lớn của anh đang sống ở Sài Gòn cùng với vợ con và cũng là một ca sĩ có hạng của thành phố Sài Gòn bây giờ. Nhật Hào xác nhận và tỏ ý muốn được đi Mỹ dự đám tang của bố. Nhưng rất tiếc là gặp đúng ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, tòa lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn không làm việc. Thế nên mọi việc phải đợi đến ngày Thứ Hai 10-5 mới biết kết quả chắc chắn.

Cho đến khi viết bài này, tôi chưa biết Nhật Hào có kịp đến nhìn mặt bố lần cuối và đưa bố đến nơi an nghỉ cuối cùng hay không. Tôi mong rằng cháu sẽ đi được dù không kịp đám tang cũng là dịp cho gia đình anh Nhật Bằng đoàn tụ. Tôi điện thoại thông báo tin này cho một số bạn bè ở Sài Gòn, người nào cũng giật mình thương tiếc một người bạn chân thật hiền hậu, không ngờ anh ra đi nhanh thế. Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì la lên: “Trời sao thế, nó là phù rể trong đám cưới của tao đấy”.

Rồi anh lặng đi một lát mới nói được: “Có email thì cho tao gửi lời chia buồn cùng gia đình, chứ tao biết làm gì hơn bây giờ. Anh em… thế là xa nhau mãi”.

Ðó cũng là lời tôi chuyển đến gia đình Nhật Bằng của những anh em bạn bè của anh còn ở lại Sài Gòn. Anh còn nhiều bạn lắm và tất cả đều thương tiếc anh.

(Sài Gòn 13-5-2004)

Cày trên xứ Úc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 9 Aug 2026

Rai lai báo chí có chạy tin là: nhân viên hãng xưởng của Nhựt Bổn nhảy lầu tự tử vì áp lực của công việc đã quá sức chịu đựng. Quốc hội Nam Hàn nghe vậy chắc cũng sốt vó, lo cho con dân của mình nên vừa thông qua một dự luật cắt giờ làm việc từ 68 tiếng một tuần xuống còn 52 tiếng.

Vì theo thống kê, tính sa cạ, cho biết mấy Củ sâm Cao Ly nầy cày tối tăm mặt mũi, cực đứng hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Mexico và Costa Rica.

Chính vì làm chết bỏ, làm bất cần thân thể như vậy nên sau Thế Chiến Thứ Hai, Nam Hàn tăng trưởng về kinh tế rất đáng kể và đáng nể.

Đánh đổi cái tăng trưởng thần kỳ nầy, Nam Hàn đã trả một cái giá không hề nhỏ.

Làm việc nhiều mà chưa chắc chết ngay bây giờ; nhưng cũng sẽ chết chắc vì đủ thứ loại bịnh như tim mạch, cao máu vì căng thẳng thần kinh.

Phụ nữ Nam Hàn từ bỏ cái truyền thống khuê môn bất xuất để lăn xả vào đời, chịu chết vì chi phiếu trả lương “Dying for a Paycheck”.

Phụ nữ Đại Hàn giờ đây lập gia đình trễ. Lấy chồng không chịu đẻ nhiều như gà nữa. Bình quân chỉ có 1.2 con. Sinh suất thuộc hàng thấp nhứt trên thế giới. Hậu quả là dân số sẽ già nua hơn, trong tương lai số người trong tuổi lao động sẽ ít đi hậu quả tất nhiên đưa tới những bất ổn về xã hội.

***

Mấy thằng Úc đọc tin nầy, nó cười khè khè nói: “Sống là lè phè. Làm để sống; chớ sống đâu phải để đi làm! Sống vừa làm vừa chơi! Làm vừa đủ xài. trả ‘biu bộng’ là được. Cày là phải để dành thời giờ đi ăn nhậu với bạn bè. Rồi ‘trả bài’ cho con vợ nữa chớ.

Cày hoài, bỏ nhà riết, thì một hôm đi làm về sẽ nhận được bức tuyệt tình ca của em gài trên cánh cửa trong khi bếp lửa chiều hôm đã tắt rồi vì em đã bỏ nhà, tiếu ngạo giang hồ theo thằng khác. Lúc đó có hối cũng không còn kịp nữa. Vì đời đâu phải em lúc nào cũng cần ăn mà còn cần cái ‘khác’ nữa! Mà ‘cái khác’ cần cũng không thua kém gì ‘ăn’. Thiếu là bức rức lắm, ngủ không có được hè!”

Nhân sinh quan của Úc như vậy là đúng ngay chóc với bà con mình!

Nhớ lại Miền Tây quê mình được thiên nhiên ưu đãi, mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu nhờ nước phù sa sông Cửu Long bồi lấp nên bà con mình xưa sống rất lè phè! Làm ruộng, lúa mùa 6 tháng mưa; sáu tháng nắng nghỉ nhậu cho nó phẻ! Không có vụ ăn bữa sáng chạy lo bữa chiều bao giờ cho đến khi trời sập vào tháng Tư năm 1975. CS chiếm được chánh quyền, bọn quan lại ăn không chừa một thứ gì làm bà con mình mới bị lâm vào vòng đói khổ đến mức phải bỏ nước ra đi.

Người kẹt lại phải bán vợ, đợ con cho cái bọn Chệt Đài Loan hay bọn Củ Sâm Cao Ly. Làm quan cai trị để dân đến nông nỗi nầy thì thiệt là nhục!

Còn bà con mình may mắn hơn, chạy thoát được chế độ CS, tới đảo, mười người là hết chín đều muốn đi Mỹ định cư; vì nước Úc ngày ấy có ai biết mặt mũi nó tròn méo ra làm sao? Rồi một số bà con ở đảo lâu nhưng không thấy Mỹ kêu réo gì hết ráo, sợ mục đảo, nên liều mạng đến Úc thử xem sao?

Đúng là hay không bằng hên! Đến đây thì ở lại đây; bao giờ bén rễ xanh cây cũng hổng thèm về nếu còn ‘Vi Xi’! Vì đến đây như cá gặp nước, (mặc sức lội); rồng gặp mây (mặc sức bay).

Mới tới, vô nhà tạm trú ‘hostel’ tạm 1, 2 tháng, chờ mướn nhà bên ngoài dọn ra, là ‘Social Security’, Sở An sinh Xã hội, ứng trước cho một mớ xài chơi… rồi từ từ mình tính.

Hồi nhỏ tới lớn, chưa thấy ai cho cắc bạc nào, trên răng dưới dép, lẹp bẹp tới đây, được móc xỉa cho xài, hỏi sao hỏng khoái nè Trời!

Bèn thư qua đảo nói: “Đi Úc đi sướng lắm!”. Và bà con mình ùn ùn kéo tới!

Bây giờ con số người Úc gốc ‘Mít’ đã tăng lên tới hơn 200 ngàn rồi đó! Ra đường, dạo tới dạo lui, đi lên đi xuống, may mà có em đời còn dễ thương, cứ 1000 người Úc mình gặp được tới 10 người Việt!

Úc đủ loại chủng tộc trắng, đen, vàng, đỏ sống chung  đụng với nhau. Đôi khi cũng có cự nự qua lại, do cái bọn chánh trị gia ‘láu cá’ đem vấn đề chủng tộc ra mà câu phiếu… Nhưng không có đến nỗi hở ra là kêu lính bắt vì da chú mầy đen quá như em nhân viên quán cà phê Starbucks bên Hoa Kỳ.

Vì người Úc nói chung vốn là dân ‘Outlaw’, coi pháp luật không ra ‘cà ram’ nào, khoái nghĩa khí giang hồ, coi ai cũng vậy, tụi mình bị áp bức, khổ quá mới giạt đến đây thì ăn hiếp nhau chi?

Phần lãnh thổ mênh mông gần 8 triệu cây số vuông, trải tới 3 múi giờ, tài nguyên quặng mỏ nằm ngủ yên dưới đất nhiều vô thiên lủng bấy nay, dân chỉ hơn 23 triệu một chút, hết tiền, đào đất lên bán cho Tàu cộng lấy tiền, chia đứa một mớ sống cầm hơi để chờ kinh tế qua cơn suy trầm cũng được mà; có chết đói đâu; nên giành ăn làm chi cho chúng nó khi.

***

Chính vì sướng lè phè như vậy nên Úc chế ra câu chuyện là: “Ông Trời đã tao ra nước Úc như thế nào?

Ngày đầu tiên, tạo thiên lập địa, Ộng Trời lấy đất sét nặn một đứa con thân yêu của người tên là ‘Aussie’ (Úc).

Ngày thứ hai, Người tạo ra ngày và đêm. Đêm để đi câu tôm về nhậu! Ngày có mặt trời, để Aussie chơi bóng bầu dục kiểu Úc gọi là: ‘Footy’. Chơi đồ mồ hôi, đi trượt sóng cho mát, đói bụng, leo lên ăn thịt nướng.

Rồi Người tạo ra đất để ‘Aussie’ trồng cây thuốc lá, vấn hút chơi, rừng cho củi để nướng thịt, men để làm ra beer.

Sau bảy ngày, mấy chú ‘Aussie’ nầy chỉ biết ăn rồi nhậu mà không ai dọn dẹp rửa chén, chùi lò gì hết ráo nên Ông Trời bèn tạo ra em Sheilas để dọn dẹp rửa chén, chùi lò, ẵm con, dỗ ngủ xong… bèn chiều chồng một tí!”

(Ông thần nào vẽ ra cái chuyện nầy thiệt là phi thực tế. Nói cho sướng miệng thôi chớ sự thực là mấy chú em ‘Aussie’ nầy phải sống một đời nô lệ, rửa chén, giặt đồ, bồng con mệt nghỉ trong khi con vợ nằm chình ình ở ghế sa lông, xem ti vi…

Bởi vì cũng theo thống kê, số đàn ông Úc nhiều hơn đàn bà. Mà theo quy luật cung cầu cái gì thiếu, ít là nó lên giá hè. Do đó làm đàn ông xứ Úc nầy đây so với đàn bà Úc không có ‘cà ram’ nào hết. Mấy thằng bạn nhậu của tui bị vợ bỏ hà rầm hè… Chắc mai mốt chắc sẽ tới phiên tui!)

***

Còn mấy em gái Úc đi cày cũng được đối xử ưu tiên hơn mấy anh ‘Aussie’. Đứa nào làm ‘boss’, ‘dê sảng’ nên mấy em không chịu, lại ỷ vào thế lực làm ẩu, bốc hốt bậy bạ như những quan lại CS trong nước, thì chịu khó vô hộp!

Thừa thắng xông lên, mấy em lợi dụng cái nữ quyền, cái thân liễu yếu đào tơ của mình một cách rất thông mình! Và anh ‘Aussie’ (láu cá vặt) rình rình ‘ăn theo’ em như vậy nè:

Một em công nhân nói “Em có thể khiến thằng cha quản lý cho em nghỉ làm bữa nay?” “Bằng cách nào vậy cưng?” “Coi nè!” Xong em chổng ngược chân lên trần nhà!

Boss bước vào hỏi: “Nè em gái đang làm gì vậy?” “Em làm cái bóng đèn!”

Boss nói: “Em làm việc nhiều quá nên đâm khùng rồi. Thôi ‘qua’ cho em nghỉ làm một ngày!” Nghe vậy anh ‘Aussie’ đồng nghiệp dợm bước theo em. Boss chặn lại: “Nè anh kia đi đâu đó?” “Tui đi về nhà; vì tui đâu có thể làm việc trong bóng tối!”.

***

Úc cu li, cà chớn bị đuổi việc bữa nay là mai có công ty khác nhận cho nó vô làm liền hè. Chỉ cần thấy cái đơn xin việc ‘John Smith’ là nó thích. Còn ‘Teo Nguyen’ tức Nguyễn văn Tèo chắc còn hơi lâu lâu; đối đế quá hỏng kiếm được ai mới tới phiên mình.

Tuy nhiên thấy Úc cà chớn làm vậy, mình đừng có xớn xác bắt chước theo nhe! Lợi bất cập hại! Bởi có chuyện vầy: “Trưởng phòng Kinh doanh, Trưởng phòng Nhân viên và Tổng Giám đốc điều hành công ty cùng đi ăn trưa. Quẹo qua con hẻm, tình cờ cả ba thấy một cái đèn có vẻ cổ xưa.

Trưởng phòng Kinh doanh nhặt lên, chùi xem nó có phải bằng vàng hay bạc? Thì bất ngờ có ông thần đèn từ trong đám khói hiện ra.

“Ta bị lời nguyền, nhốt trong chiếc đèn nầy gần 3000 năm. Bữa nay được các người giải thoát. Để tạ ơn, ta cho mỗi đứa một điều ước.”

Em Trưởng phòng Kinh doanh ước: “Trên bãi biển tuyệt đẹp Jamaica, một chiếc thuyền buồm, có kép đẹp như Alain Delon hồi còn trẻ. Tài khoản ngân hàng đủ để sống suốt cả đời mà không phải làm gì hết ráo!”

“Được!” Sau câu nói của Thần đèn, em Trưởng phòng Kinh doanh biến mất.

Anh Trưởng phòng Nhân viên: “Tôi muốn có một con vợ đẹp cỡ Nicole Kidman, thuở chưa có chồng. Tôi muốn sở hữu 3 tòa lâu đài ở ba nơi: New York, Paris và Hong Kong.” “Được” Sau câu nói của Thần đèn, anh Trưởng phòng Nhân viên biến mất.

“Còn ông Tổng Giám đốc công ty thì ước cái gì hè?” Thần đèn hỏi.

“Tui muốn hai đứa ‘ngu’ đó trở lại văn phòng làm việc lúc 2 giờ chiều nay!”

Bài học rút ra là bất cứ chuyện gì cũng phải nhường cho thằng ‘boss’ nói trước.

Nó nói gì cũng được… hơi sức đâu mình nghe!

Úc cu li, cày chừng 5 năm là nó lên đốc công, chỉ tay năm ngón, sai mình làm;

nhưng xạo sự là: “Mấy bồ đừng coi tui là ‘boss’ mà là bạn nhưng một người bạn có quyền ‘đá đít’ bồ!”

Chớ quý anh mình hồi xưa ở trong nước cũng bằng cấp đầy mình đó chớ nhưng qua Úc nầy xin làm cu li cày chừng hai, ba chục năm vẫn cứ cu li… thì chọc cho thằng boss, nó quạu mà chi?

Nên tâm niệm là: “The boss is always right!” Nghĩa là thằng ‘boss’ luôn luôn đúng; cho dù nó ngu đến nỗi ‘con bò’ còn thấy sợ!

Muốn trả thù nó, mười năm chưa muộn mà. Rán làm nuôi con cho nó lớn lên làm bác sĩ đi. Một ngày nào đó, vợ thằng ‘boss’ đến khám bịnh, con mình kêu nó cởi truồng ra, sau đó gởi cái ‘bill’ về tính tiền thằng chồng của bả, tức thằng ‘boss’ của mình!

Trong khi chờ ngày tới con mình phục mối hận thù âm ỉ cháy trong lòng, thì mình cứ giả dại qua ải, nhẫn nhục đi cày, lè phè ít hơn Úc một chút… để nó nghĩ mình siêng!

đoàn xuân thu.

melbourne