Vietmessenger.com
Văn Quang
Post by Sơn râu 28 Sep 2026




Hàng năm cứ đến ngày giáp Tết Âm Lịch, mọi người đều thấy các cửa hàng và sạp bán báo rực rỡ hẳn lên bởi hình bìa những tờ báo Xuân. Đủ thứ màu sắc của những tờ báo khổ lớn treo toòng teng trên các sợi dây bay phất phới, không khác gì những lồng đèn Trung Thu. Những tờ báo khổ nhỏ, hầu hết là tuần báo hoặc đặc san nằm dưới kệ hàng cũng tô điểm sặc sỡ báo hiệu mùa Xuân đang về. Mùa Xuân dường như bắt đầu từ đấy. Và mỗi nhà thường mua một tờ báo Xuân, đợi Tết trưng ra phòng khách cho vui cửa vui nhà.
Điều đó không hẳn là một tục lệ mà chỉ là thói quen, một thứ thói quen đáng yêu của hầu hết người Việt chúng ta dù bất cứ ở đâu. Nó cũng như một hình ảnh mà nhà thơ Vũ Đình Liên gợi nhắc:
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua
Hình ảnh ông đồ già có thể mất dần theo năm tháng, nhưng những tờ báo vẫn y nguyên từ thời xa xưa cho tới thời nay và có thể còn mãi mãi dù nhiều bạn đã lo rằng báo in sẽ “chết dần” bởi thời đại internet.

Nhưng internet không thể bày ra bàn, không thể trang trí cho phòng khách của ngôi nhà, không thể mang linh hồn của mùa Xuân đến từng người đọc, không thể mang hương vị ấm cúng cho cả gia đình và cũng không thể mang cả mùa Xuân tô điểm cho phố phường của bạn.
Hình bìa những tờ báo thời đó thường bao giờ cũng có những người đẹp, những giai nhân đủ loại từ ca sĩ đến tài tử màn ảnh, từ cô gái nông thôn đến thành thị uốn lượn đủ kiểu trên sạp báo còn hơn là một cuộc thi sắc đẹp. Bạn không thích thú sao? Ngắm free mà.
Và chỉ năm hết Tết đến mới có cảnh ấy.
Những thứ đó khiến tôi nhớ đến không khí làm báo Tết thời xa xưa. Hồi đó bạn làm được một tờ báo ra hàng ngày hay hàng tuần đã khó khăn rồi chứ chưa nói đến làm báo
Tết. Ngày nay làm báo chỉ cần đánh máy cho lên máy in, nó chạy rèn rẹt ra luôn ba bốn năm màu và hàng chục ngàn số trong một vài giờ, được đóng sẵn sàng đưa ra thị trường.
Ngày xưa thì khác.
Thời Đại Typo
Phải nói chính xác đó là thời đại mới ra lò của những tờ báo, thời đại in typo. Trước hết là những con chữ đúc bằng kẽm hay bằng chì, từng chữ một, mỗi chữ xếp vào một cái bát hay một ngăn dưới tay người thợ, gọi là thợ sắp chữ. Phải sắp từng chữ một và chữ in nghiêng phải được tác giả viết bài hay anh tổng thư ký tòa soạn gạch dưới bản thảo đánh máy hay viết tay hàng chữ “ital” chữ viết tắt của italic. Còn hàng chục ký hiệu như thế dành cho hàng chữ in đậm, sửa dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, thêm chữ vào dòng, bớt chữ đi. Anh thợ “cả” được gọi là chef typo chịu trách nhiệm chung cho, phải coi lại từng trang.
Muốn đưa một tấm hình vào trang báo, phải làm bản kẽm. Tôi nhớ hồi đó ở Sài Gòn có Cliché Dàu là nơi cung cấp bản kẽm cho các nhà in và các báo. Khuôn khổ bức hình ra sao để nó nằm gọn lỏn trong trang báo phải được tính toán trước hết. Đến lúc thợ lên khuôn mới đưa vào bài báo được.
Trước khi in, thợ nhà in phải làm một bản vỗ, tức là lấy tờ giấy thấm nước như loại giấy bản, đặt lên khuôn trang có dính chút mực, vỗ nhẹ để mực thấm vào giấy, gọi là morasse. Người làm việc sửa morasse được gọi là “thầy cò”. Thường phải sửa đến lần thứ hai, thứ ba. Lần cuối cùng do anh Tổng Thư Ký Tòa Soạn sửa và ký vào tờ dernière morasse, chịu trách nhiệm nếu có sai sót.
Sau thời kỳ in typo là thời kỳ “vàng son” của kỹ thuật in offset. Cả trang báo 4 màu chỉ cần đưa lên máy in 1 lần. Nhưng nói về thời kỳ này nữa thì quá dài dòng.
Xin trở về thời đại báo in typo.
Tôi Suýt Bị Tù Vì Mất Chữ “T”
Nói sơ như thế để bạn có thể hình dung ra phần đầu của công việc làm báo, và chỉ là báo thường, chưa nói đến số Tết “ly kỳ rùng rợn” hơn. Đúng là một việc bỏ ăn bỏ ngủ chứ không đùa.
Tôi từng làm báo từ anh viết bài đến anh “thầy cò” rồi nhảy lên trưởng ban biên tập và làm chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng Hòa của Quân Đội VNCH.
Tờ báo là bán nguyệt san, mỗi kỳ 200.000 số, con số ấn hành lớn nhất vào thời đó. Báo được Bộ Quốc Phòng tài trợ và gọi đấu thầu, nhà in tư nhân đảm trách việc in ấn. Tôi là người chịu trách nhiệm sửa và ký tên vào bản dernière morasse tức bản vỗ cuối cùng. Sau này làm thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ ra hàng tuần nữa càng vất vả hơn mà tòa soạn chỉ vỏn vẹn chừng mười người.
Năm nào báo Chiến Sĩ Cộng Hòa cũng ra số Xuân như thường lệ. Năm đó, có lẽ là năm 1960, khi đó đại tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH
— đến năm 1963 mới vinh thăng thống tướng, vị thống tướng duy nhất của VNCH. Mỗi năm báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa thường đăng một Thư Chúc Tết của đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Khi báo ra chúng tôi đưa lên trình văn phòng Đại Tướng. Không hiểu sao cuối thư đó lại ký tên Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Thì ra tên của ngài bỗng mất biến đi chữ T.
Đại tá Hoàng Ngọc Tiêu tức thi sĩ Cao Tiêu, chánh văn phòng của đại tướng gọi điện thoại cho tôi nói ngay: “Phen này ông đi tù là cái chắc”. Tôi tưởng ông dỡn chơi, nhưng ông nghiêm giọng nói: “Anh cứ xem lại Thư Chúc Tết của đại tướng là biết ngay, tôi không nói nhiều”.
Tôi mở tờ báo ra xem, quả nhiên là chữ Tỵ mất biến chữ T ở trước, thành ra là Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Tôi choáng người, cầm chắc đi tù rồi còn gì. Tôi gọi nhà in, đòi xem bản vỗ cuối cùng. May quá, bản vỗ cuối cùng còn nguyên chữ T. Đây là một lý do “giảm khinh” cho phần lớn tội của tôi. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính khi tờ báo đưa lên trình và gửi đi khắp các đơn vị toàn quốc. Tôi đã không kiểm tra lại.
Về phía nhà in, điều tra cũng chẳng ra, bởi khi bản vỗ đưa lên máy in vẫn còn nguyên, nhưng bởi phải xếp từng chữ nên khi bê lên bê xuống có thể rơi mất chữ T. Rơi ở đâu, khi nào hay có kẻ phá hoại không ai biết. Mà làm sao kết tội phá hoại khi không có bằng cớ chắc chắn. Thời đó, luật pháp là luật pháp rất nghiêm minh. Tôi đã chuẩn bị sẵn tư tưởng để từ giã quân ngũ hay ít ra cũng bị “hạ tầng công tác” đến một đơn vị khác, rất có thể là binh nhì vì cái tội quá nặng “bôi bẩn thanh danh Đại Tướng”.
Nhưng ông chánh văn phòng Cao Tiêu lại gọi điện thoại ngay cho tôi nói là chưa kịp trình đại tướng vì sáng đó ông bận đi dự lễ. Cao Tiêu cũng là bạn tôi nên đã hủy ngay tờ báo và nói tôi phải lấy chữ Tỵ khác đóng lên trên chữ Ỵ để ông mang vào trình.
Tôi cấp tốc làm ngay. Làm một tờ thì dễ nhưng cả 200 ngàn số đưa đến các đơn vị cũng phải làm. Thế là cả cánh thợ nhà in tư nhân và toàn phòng báo chí phải cùng làm suốt một đêm một ngày mới xong. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Từ đó tôi có thêm “kinh nghiệm xương máu” về nghề làm báo cũng như khi sang làm ở Đài Quân Đội. Tôi cẩn thận từng chữ, từng câu trong các bản tin.
Lại Chuyện Ở Đài Phát Thanh
Hồi đó nhiều đoàn thể, giáo phái đều có tiếng nói trên các đài phát thanh Sài Gòn cũng như Đài Quân Đội. Một lần vào năm 1970 hay 1971, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đi dự một cái lễ ở Long Xuyên do Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức. Sau đó tổ chức này có một bản tin gửi cho các báo trong nước. Đài Quân Đội cũng nhận được bản tin này. Bản tin chia làm ba hay bốn phần gì đó, cả mấy phần trên đều là lời lẽ ủng hộ chính phủ, đoạn cuối cùng có đề nghị chính phủ phát súng cho giáo phái để tự giữ gìn an ninh tổ quốc.
Tôi suy nghĩ mãi rồi bỏ đoạn cuối này, bởi phát súng cho một tổ chức chẳng khác nào một quốc gia có hai quân đội, nên tôi chỉ tóm tắt nội dung chứ không cho đọc nguyên văn, cuối cùng loan tin là những đề nghị khác sẽ được Tổng Thống và Chính Phủ cứu xét cẩn trọng.
Quả nhiên bí thư của Tổng Thống lúc đó là Hoàng Đức Nhã, được gọi là “ông trùm truyền thông” điện thoại cho tôi hỏi “Anh có cho đọc nguyên văn bản tin của Phật Giáo Hòa Hảo không?”. Tôi trả lời: “Không, tôi chỉ tóm tắt nội dung chính còn đề nghị phát súng tôi không loan, bởi vì…” Hoàng Đức Nhã ngắt lời tôi ngay: “Đúng rồi, anh làm vậy là đúng lắm”.
Từ đó tôi được nhìn bằng con mắt khác và nhận ra một kiểu hỏi “mẹo” khôn khéo của “trùm truyền thông”.
Đi Làm Phóng Sự Tết
Phòng báo chí của chúng tôi có lệ là phải đi làm phóng sự Tết ở các đơn vị từ miền Nam đến miền Trung và Cao Nguyên. Tòa soạn quá ít người nên chính tôi cũng phải làm phóng viên. Anh em đi hết, chẳng lẽ trưởng phòng ngồi nhà nên dù mới cưới vợ cũng phải bò đi làm phóng sự Tết.
Tôi nhớ năm đó, vào ngày 28 Tết có trận đá bóng giữa đội bóng của Bộ Tổng Tham Mưu với một đội bóng Peru. Thế mà tôi phải rong ruổi ra miền Trung làm phóng sự. Tôi mê đá bóng từ nhỏ nên phải mang theo cái radio transistor, để khi đi trên xe lửa vẫn nghe được anh Huyền Vũ tường thuật trận đấu cho đã ghiền.

Giao Thừa Trên Đỉnh Đèo Hải Vân
Ra đến Đà Nẵng, tôi vào chào trung tướng Đỗ Cao Trí là Tư Lệnh Phó Quân Khu 2, tôi còn một mục đích khác là lôi Thanh Nam mới bị tái ngũ đang học ở trường huấn luyện ra cùng đi. Tướng Trí ra lệnh cho Thanh Nam ra đi cùng tôi ngay hôm đó. Chúng tôi qua đèo Hải Vân vào buổi chiều sắp tàn. Thấy một tiền đồn đóng tuốt trên ngọn núi Hải Vân nằm lẫn trong mây, tôi nghĩ sinh hoạt ở đơn vị nằm cao tít tắp chín từng mây này chắc là đặc biệt nên cho xe jeep theo đường mòn leo lên đỉnh đèo.
Anh lính gác ở đồn canh cho biết đây là một trung đội Địa Phương Quân trấn giữ mỏm núi. Phía sau còn hai trung đội khác. Tôi và Thanh Nam quyết định ngay là sẽ đón Giao Thừa cùng anh em đơn vị này.
Một buổi tối khác hẳn mọi buổi tối. Chúng tôi nằm giữa những đám mây mỏng không nhìn thấy lưng đèo.
Giao thừa thật thú vị với những màn lửa trại và thi hát, thi nói chuyện vui.
Một anh tân binh nói chuyện tình yêu của chính mình rất láu cá. Anh em chất vấn tại sao mày lấy được vợ giàu và đẹp thế? Anh ta kể bị gia đình nhà vợ phản đối, hai đứa bàn nhau “ăn cơm trước kẻng”. Em bị con vợ em nó tát cho một cái nên thân, tưởng em lợi dụng nó.
Em nói chúng mình chỉ giả vờ thế thôi mà. Em cứ giả vờ thú nhận với mẹ là em có bầu rồi. Con vợ em đồng ý. Thế là nhà nó bắt phải làm đám cưới ngay. Cưới xong vài tháng thì em vào địa phương quân rồi lên đây.
Thanh Nam khoái chí bèn tặng ngay cái khăn quàng mà cô bồ là ca sĩ trẻ đẹp vừa gửi tôi mang ra tặng chàng làm quà Tết. Trong đời tôi sẽ không bao giờ có được một đêm giao thừa như thế nữa.
Làm Báo Ngoài Thì Sướng
Hồi đó tôi viết khá nhiều feuilleton cho các báo. Mỗi dịp Xuân về, chẳng cần biết các ông ở tòa soạn bận rộn ra sao, chúng tôi chỉ việc gửi bài rồi ung dung chờ lãnh tiền lương tháng 13 và dự tiệc tất niên của chủ báo. Có lẽ làm với báo Truyện Phim của ông Nguyễn Ngọc Linh khoảng những năm 1958- 1960 là khoái hơn cả. Tờ báo lớn đầu tiên về điện ảnh quốc tế và Việt Nam do anh em ông Linh sáng lập ở đường Ký Con. Tòa soạn bé tẹo nhưng rất… Ăng Lê. Chủ nhiệm ngồi một mình trong phòng kính. Bên ngoài là bàn giấy của tổng thư ký tòa soạn, hồi đó là Quốc Phong nên chúng tôi gọi là “ông Tổng Cóc”. Cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xíu của biên tập viên Gia Tuấn đeo kính trắng, gọi là “Gia Tuấn Sì Cốp”.
Tờ báo được hầu hết bạn trẻ, học sinh, sinh viên đón đọc hàng tuần. Tất nhiên năm nào cũng có báo Xuân và đặc biệt khán giả mua báo được tặng cuốn lịch thật đẹp của hãng Paramount Pictures, in màu trên giấy couché trắng nõn với 12 tấm hình tài tử thượng thặng quốc tế như Marilyn Monroe, Ava Gardner, Audrey Hepburn, Grace Kelly… cũng nõn nà chết người. Riêng anh em cộng tác, cuối năm còn được tặng một tập báo đủ 12 tháng đóng gáy da mạ chữ vàng cẩn thận.
Sau đó là một chầu ăn uống nhảy nhót tưng bừng tại một nhà hàng lớn và tăng 2 có thể đi, có thể không, tùy thích. Tôi chưa bao giờ quên những kỷ niệm đó.
Nhật Báo Chính Luận Và Ông Chủ Nhiệm Đáng Yêu
Đó là phía tuần báo, còn phía nhật báo có tờ báo lớn là Chính Luận, do bác sĩ Đặng Văn Sung làm chủ nhiệm.
Cuối năm cũng có chầu tất niên tưng bừng nhưng ông chủ nhiệm đứng đắn nên không cho anh em “múa tay múa chân” ở vũ trường. Ông cho tổ chức đánh phé ở nhà anh thủ quỹ Lê Tâm Việt. Tôi nhớ năm đó vừa lãnh lương xong, về chơi phé với anh em trong tòa soạn.
Chẳng may thua nhẵn túi.
Tôi đứng dậy ra về thì ông chủ nhiệm hất đầu cho anh thủ quỹ Lê Tâm Việt ra lệnh “Phát cho cậu ấy lương tháng 13 đi”. Lê Tâm Việt nói em phát rồi. Bác sĩ Sung cười hiền lành “Nó thua hết rồi, lấy gì cho nó ăn Tết, phát cho cậu ấy ngay đi”. Thế là tôi lãnh thêm 1 tháng lương nữa rồi ra về, hồi đó tháng lương viết feuilleton cho báo Chính Luận tôi nhớ mang máng là 12.000 đồng VN. Bằng ấy là khoản tiền khá lớn để lại có “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh ở nhà”. Thật thú vị cho một năm mệt nhoài vì viết, nhưng hồi đó viết là viết chứ không cần lách như bây giờ.
Bạn đã thấy việc của dân làm báo hay nói chung làm truyền thông xã hội không hề dễ chút nào.
Nhưng tôi vẫn nhớ, vẫn chưa bao giờ từ bỏ được cái “nghiệp” của tôi. Tính ra bây giờ là hơn 60 năm rồi, cuộc đời tôi vẫn chẳng làm được nghề ngỗng gì ngoài viết và viết. Tết cũng chẳng bao giờ được nghỉ vì “báo bà nghỉ thì báo ông ra” nên cứ phải có đủ bài cho báo.
Năm nay cũng vậy thôi.
Nhưng đã trở thành thói quen, tôi chưa bao giờ ân hận vì cái nghề này.
Đó, nghề làm báo long đong như thế, nhưng nếu vào nghề rồi thì khó lòng dứt áo ra đi cho đành. Nó có ma lực quyến rũ đấy, các bạn ạ.
(Sài Gòn, 7 tháng 11-2015)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.