This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đại tá John T. Nguyễn, thủy quân lục chiến trừ bị (ảnh của hạ sĩ I Danny Nateras, MARFORPAC).
Đại tá John T. Nguyễn được thăng cấp đại tá thủy quân lục chiến (TQLC) trừ bị Hoa Kỹ vào tháng 10 năm 2017. Ông là một trong ba sĩ quan gốc Việt mang cấp đại tá TQLC, trước ông có đại tá* William H. Seely III ( nay là thiếu tướng chỉ huy trưởng trường đại học tham mưu liên quân ) và sau ông là đại tá Jackson T. Đòan, trưởng phòng G-35, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương. Đại tá John T. Nguyễn được bổ nhiệm làm phụ tá trừ bị, đặc trách hệ thống truyền tin cho tham mưu trưởng bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương. Một sự trùng hơp đặc biệt là cả 2 vị đại tá gốc Việt John T. Nguyễn và Jackson T. Đòan cùng phục vụ tại bộ tham mưu, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ.
Đại tá John T. Nguyễn sinh năm 1973 tại Sài gòn, ông và gia đình rời Sài gòn vào cuối tháng 4 năm 1975 di tản đến trại tỵ nạn Camp Pendleton Hoa Kỳ. Sau đó gia đình ông định cư tại Southern California. Cũng từ trại tỵ nạn Camp Pendleton, là nơi gia đình ông được các quân nhân TQLC Hoa Kỳ giúp đỡ trong những ngày đầu tạm trú, những hình ảnh đẹp từ Camp Pendleton đã ghi lại trong ký ức của ông cho đến khi trưởng thành, ông gia nhập TQLC và trở thành một sỉ quan.
Binh nghiệp:
Thiếu úy John T. Nguyễn gia nhập TQLC năm 1996, sau khi thụ huấn và tốt nghiệp chương trình quân sự tại đại học California, Los Angeles. Sau đó ông theo thụ huấn các khóa căn bản sĩ quan TQLC và khóa sĩ quan truyền tin TQLC. Sau khi hoàn tất các khóa học, thiếu úy Nguyễn được lệnh thuyên chuyển đến đại đội truyền tin, tiểu đoàn tổng hành dinh sư đoàn 3 TQLC tại Okinawa Nhật Bản. Tại đây thiếu úy Nguyễn là trung đội trưởng truyền tin và kiêm nhiệm trung đội trưởng dữ liệu.
Năm 1998, trung úy Nguyễn là sĩ quan quản lý hệ thống thông tin cho đơn vị 12 TQLC tại San Diego, California.
Năm 2001, đại úy Nguyễn thuyên chuyển sang phục vụ trong lực lượng TQLC trừ bị. Từ năm 2001 đến năm 2003, ông là sĩ quan truyền tin tại phi đoàn 6 yểm trợ không vụ (MASS-6) tại Miramar, California.
Năm 2003, ông là sĩ quan xử lý thường vụ một ban trong phi đoàn 48 truyền tin, không đoàn 4 TQLC. Trong thời gian nầy đơn vị truyền tin của ông tham dự chiến đấu yểm trợ cho cuộc hành quân Enduring Freedom. Sau cuộc hành quân trở về, đại úy Nguyễn được bổ nhiệm chức vụ phân đội trưởng trong phi đoàn 48 truyền tin, tại Miramar, California.
Năm 2004, đại úy Nguyễn là sĩ quan dữ liệu truyền tin yểm trợ cho cuộc hành quân Iraqi Freedom 2-2 tại Al Taqqadum, Iraq.
Năm 2006, thiếu tá Nguyễn được thuyên chuyển đến đại đội 3 liên lạc yểm trợ hải pháo làm trung đội trưởng, trung đội chỉ huy kiêm sĩ quan truyền tin. Trong thời gian nầy, ông đã tham dự liên lạc yểm trợ hải pháo trong các cuộc thao dợt hành quân hỗn hợp Ulchi Focus Lens, Talisman Sabre và Cobra Gold.
Năm 2008, Thiếu tá Nguyễn được bổ nhiệm làm chỉ huy phó, đơn vị truyền tin chiến lược, yểm trợ cho lực lượng an ninh quốc tế của khối NATO A Phú Hãn, tại tỉnh Kabul.
Năm 2010, thiếu tá Nguyễn được thuyên chuyển đến đơn vị II MEF IMA tại Okinawa, Nhật Bản, tại đây ông làm trưởng ban 6 và được thăng cấp trung tá vào năm 2011.
Trung tá* John T. Nguyễn, chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin, không đoàn 4 TQLC trừ bị (ảnh của MWCS-48)
Đến tháng 1 năm 2011, trung tá Nguyễn được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin, không đoàn 4 TQLC trừ bị (tương đương với tiểu đoàn truyền tin bộ binh TQLC, nhưng danh xưng của không quân TQLC gọi là Phi đoàn/Squadron).
Sau nhiệm kỳ 14 tháng làm chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin, trung tá John T Nguyễn đã hoàn thành nhiệm vụ và bàn giao đơn vị cho nữ trung tá* Valerie A. Jackson vào năm 2013 ( nay là đại tá tham mưu phó lực lượng TQLC trừ bị). Sau đó ông nhận nhiệm vụ khác phục vụ trong TQLC trừ bị.
Từ tháng 5 năm 2017, đại tá John T. Nguyễn phục vụ tại quân đoàn III TQLC ( III Marine Expeditionary Force ), và hiện nay là phụ tá trừ bị đặc trách về hệ thống tuyền tin cho tham mưu trưởng bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps Forces Pacific).
Hoạt động trong lãnh vực chuyên môn kỷ thuật tin học (dân sự):
Ngoài hoạt động trong TQLC trừ bị Đại tá John T. Nguyễn còn hoạt động trong lãnh vực chuyên môn kỷ thuật tin học và dữ liệu (dân sự), ông đã từng đảm nhận vai trò giám đốc tại các công ty như: Catalyst Solutions, LLC Greater San Diego Area Information Technology and Services; HP Enterprise Services; EDS, an HP company và Electronic Data Systems và hiện nay ông là chủ tịch công ty Innovatus Technology Consulting.
Học vấn:
Đại tá John T. Nguyễn hoàn tất văn bằng cử nhân khoa học toán tại đại học California, Los Angeles và văn bằng cao học khoa học về hệ thống thông tin điện toán tại đại học Phoenix. Ngoài ra ông còn thụ huấn và tốt nghiệp tại các trường quân sự chiến tranh thủy bộ, khóa nhảy dù và trường chỉ huy tham mưu.
Thăng thưởng:
Đại tá John T. Nguyễn được thăng cấp thiếu úy năm 1996, trung úy năm 1998, đại úy năm 2001, thiếu tá năm 2006, trung tá năm 2011 và được thăng cấp đại tá vào tháng 10 năm 2017.
Sau hơn 25 năm phục vụ TQLC, Đại tá John T. Nguyễn được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Huy chương Joint Commendation Medal, huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal (with two gold stars), huy chương Navy and Marine Corps Achievement Medal and the Navy/Marine Corps và một số huy chương cao quý khác**.
Sĩ quan gốc Việt TQLC:
Theo các tài liệu thu thập được thì sĩ quan TQLC gốc Việt không nhiều như sĩ quan gốc Việt khác phục trong các quân chủng không quân, hải quân và lục quân. Sĩ quan gốc Việt đang phục vụ trong quân chủng TQLC hiện nay gồm có ( không tính sĩ quan cấp trung/thiếu úy ) : 1 Thiếu tướng, 2 đại tá, 7 trung tá ( không tính 3 vị đã hồi hưu ), 26 thiếu tá và trên 40 đại úy.
Nguyễn Quân
*Ghi theo thời giang mang cấp bậc; **ghi theo tài liệu thăng thưởng huy chương khi còn mang cấp trung tá.
Nguồn tài liệu: U.S. Marine Corps Forces, Pacific; Congress.gov; marines.mil/News/Messages/MARADMINS; Navy Personnel Command; Marine Wing Communications Squadron 48; History of MWCS-48; LinkedIn; Bienxua-15 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá năm 2017; dongsongcu-Đại tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ gốc Việt John T. Nguyễn.
Trên hòn đảo chánh Kyushu (Cửu Châu) ở cực Nam Nhật Bản, thành phố Saga nhỏ bé nằm giữa lộ trình đưa đến hai trung tâm quan trọng, mà những năm gần đây đã trở thành quen thuộc đối với hàng nhiều ngàn người Mỹ. Ở Sasebo có căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ với hầu hết hạm đội đã tham dự vào cuộc chiến Triều Tiên, và từ các phi trường ở Ashiya, chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Mỹ cất cánh bay ngang qua eo biển nhỏ hẹp Tsushima (Ðối Mã) để tấn công quân Trung Cộng và Bắc Hàn.
Các cuộc viễn chinh xuyên eo biển Tsushima không phải mới mẻ gì đối với thành phố Saga. Tổ tiên của chúng tôi đã từng có chân trong lực lượng Nhật Bản, phát xuất từ Saga, xâm chiếm Triều Tiên vào năm 1592. Hình ảnh của cuộc xung đột mới ở Triều Tiên không phải là không có trước đây. Cuộc chiến Nhật Bản – Triều Tiên thời Trung Cổ, năm 1597, đã bị đẩy vào nước bí sau khi triều đình nhà Minh tung lực lượng Trung Hoa vào Triều Tiên, giống như hành động của Trung Cộng ở cuộc chiến hiện đại.
Như vậy, giòng họ của tôi có một nguồn gốc binh nghiệp, và trải qua nhiều năm, tổ tiên của tôi đã trung thành phục vụ lãnh chúa Saga cho đến kỳ Trung Ương Tập Quyền vào thế kỷ XIX, tất cả lãnh chúa đều quy về tay Thiên Hoàng. Trong thời phong kiến, dân chúng Nhật Bản chia ra làm bốn giai cấp, giòng họ tôi được hưởng đặc quyền của giai cấp cầm quyền, đó là giai cấp Samurai. Sống cách biệt hẳn với các giai cấp khác, giới Samurai kiêu hãnh không quan tâm đến các vấn đề riêng tư, họ tận tụy với công việc điều hành chánh quyền địa phương, và luôn luôn chuẩn bị các biến cố đòi hỏi lòng dũng cảm chiến đấu của họ. Vị lãnh chúa sẽ đảm bảo đời sống của các Samurai, họ không cần chú ý đến gia sản hoặc lợi lộc nào khác.
Việc phế bỏ các giai cấp vào thế kỷ XIX như một cú đấm chí tử nện vào giới Samurai đầy kiêu hãnh. Chỉ một cú đấm, tất cả những đặc quyền trước đây của họ đều bay hết, và họ bắt buộc phải chuyển sang nghề buôn bán, hay nghề nông. Họ không thể nào thích nghi với đời sống mới. Có lẽ vì vậy mà hầu hết Samurai trở nên nghèo khốn, cố gắng tìm miếng ăn bằng những nghề lao động ti tiện nhứt, hoặc quần quật suốt ngày trên mảnh đất nhỏ bé của họ. Ðời sống của ông nội tôi không hơn gì các bạn hữu của ông. Khi rời nghiệp võ, ông được cấp cho một nông trại nhỏ. Ở đó, ông đã quần quật sống một cách thống khổ, và ở đó vào ngày 26 tháng 8 năm 1916, tôi chào đời. Ba tôi có 4 trai, 3 gái, tôi thứ ba.
Mỉa may thay, tôi lại bước trên con đường gần gũi với con đường mà ông nội tôi đã đi qua. Khi Nhật Bản đầu hàng Ðồng Minh tháng 8 năm 1945, tôi là phi công dẫn đầu các phi công hạ trên 10 phi cơ địch còn sống sót của xứ sở tôi. Tôi đã chánh thức đốn ngã 64 phi cơ địch trong các trận không chiến. Tuy nhiên, với sự kết thúc của chiến tranh, tôi bị sa thải khỏi Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản và bị cấm nhận bất kỳ công việc nào của chính phủ. Không một xu dính túi, không nghề không nghiệp, tôi không thể tìm được một việc làm thích hợp trong một thế giới mà tất cả đều đổ nát quanh tôi. Giống như ông nội của tôi, tôi đã sống bằng sức lao động chân tay, nhọc nhằn không kể xiết. Nhiều năm phấn đấu gay go, tôi tìm cách dành dụm đủ số tiền để mở một nhà in nhỏ và lấy đó làm sinh kế…
Công việc trồng trọt nhọc nhằn trên mảnh đất nhỏ bé của gia đình oằn xuống đôi vai của má tôi, người đã bỏ cả một đời cho 7 đứa con. Khi tôi lên 7, gánh nặng trên vai má tôi oằn thêm, vì người trở thành góa phụ. Những gì mà tôi nhớ về má tôi vào thời gian đó là hình ảnh một người đàn bà cần cù làm việc, còng lưng hết giờ này sang giờ khác trên thửa đất dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, với đứa con gái nhỏ nhất đai trên lưng.
Người đàn bà ấy, không bao giờ tôi nghe hở môi than thở một lời. Bà là một trong những người can đảm nhứt mà tôi chưa từng thấy, một mẫu người vợ Samurai, kiêu hãnh và cứng rắn, nhưng không phải là không có một trái tim biết xúc động.
Thỉnh thoảng tôi bị bọn học sinh lớn tuổi đánh đập, tôi khóc sướt mướt trở về nhà. Những giọt nước mắt của tôi không làm má tôi động lòng, người còn nhíu mày và gay gắt nói: “Con không biết xấu hổ à! Ðừng quên con là con trai của một Samurai, con không được quyền khóc.”
Lúc còn theo học trường tiểu học trong làng, tôi chăm chỉ học hành và luôn đứng đầu lớp trong suốt 6 năm. Nhưng con đường học vấn xa hơn nữa của tôi quá mù mịt. Ðiều quan trọng là nếu muốn học cao hơn nữa, gia đình học sinh phải đài thọ tiền bạc. Dĩ nhiên, điều này quá khả năng đối với gia đình tôi, vì chỉ lo ăn, lo mặc cũng vẫn chưa đủ. Tuy nhiên, bất ngờ người chú bà con xa của tôi ở Ðông Kinh đề nghị lo liệu hết mọi khoản học phí của tôi. Gia đình tôi đã chấp nhận lòng tốt này không một chút đắn đo. Chú tôi là một viên chức có địa vị ở Bộ Thông Tin, và đề nghị của ông: ngoài việc nuôi ăn học còn nhận tôi làm con nuôi. Chúng tôi tiếp đón dịp may này với lòng biết ơn.
Khắp nước Nhật, lãnh địa phong kiến Saga là một trong những lãnh địa nghèo nhất. Trải qua nhiều thế hệ, giai cấp Samurai ở Saga đã sống một đời sống khắc khổ, và nổi tiếng nhờ kỷ luật bản thân nghiêm ngặt của họ. Saga là tỉnh lỵ duy nhứt xem Bushido, tức tâm niệm của giới Samurai, như là một giáo lý. Một trong những câu chánh yếu của tâm niệm này: “Samurai đã sống một đời sống như vậy, hắn luôn luôn chuẩn bị để chết.”
Trong những năm chiến tranh, những tâm niệm Bushido đã trở thành sách giáo khoa cho tất cả học đường Nhật Bản. Chúng đã thấm nhập vào tôi, và giúp tôi rất nhiều trong đời sống lúc còn đi học, cũng như những năm chiến đấu sau này.
Mọi thứ ở Ðông Kinh đều làm tôi ngơ ngác. Tôi chưa bao giờ biết qua một thành phố lớn nào hơn Saga, với 50,000 dân cư của nó. Sự ồn ào náo nhiệt ở thủ đô Nhật Bản khó có thể tưởng tượng nổi. Với tiếng động ầm ĩ suốt ngày, những tòa nhà vĩ đại và mọi hoạt động khác, có thể nói nơi đây là một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Tôi cũng nhận thấy Ðông Kinh vào năm 1929 là một nơi chốn ganh đua trên mọi lĩnh vực, không chỉ các học sinh đã ra trường ganh đua một cách gay go để tìm chỗ làm, nhưng ngay cả các học sinh nhỏ cũng ganh đua ráo riết để giành giựt cho được một chỗ ngồi trong mấy học đường danh tiếng.
Những tưởng những gì tôi đã đạt được ở thôn quê đã là giỏi giang và dư sức có được chỗ học. Tôi tin vào sự phi thường của mình trong tư cách là một học sinh dẫn đầu lớp trong suốt cả 6 năm ở bậc tiểu học. Nhưng ở đây, tôi không bao giờ đối đầu nổi với các học sinh cặm cụi đèn sách ngày đêm, luôn luôn rình mò để đánh bại các bạn đồng lớp của mình. Các trường trung học chọn lọc ở Ðông Kinh đều tuyển chọn những học sinh xuất sắc của các trường tiểu học. Hơn nữa cứ 30 học sinh dự tuyển chỉ chọn 1 học sinh là cùng.
Ðó là điều không thể nào ngờ đối với một đứa trẻ nhà quê như tôi. Không khí náo loạn và xa lạ này đã khiến tôi ngơ ngác. Không hy vọng vô học trong các học đường danh tiếng, tôi đành ghi tên vô trường Aoyama Gakuin, do các nhà truyền giáo Hoa Kỳ thiết lập nhiều năm trước đó. Mặc dù trường này không nổi danh bằng các trường khác, nhưng nó cũng có chút ít tiếng tăm. Ðời sống của tôi trong gia đình người chú rất dễ chịu. Mặc dù chú tôi nghiêm khắc, ít chú ý đến con cái, nhưng mợ tôi và mấy đứa em bà con của tôi tỏ ra tử tế và thân mật. Trong không khí vui vẻ này, tôi lại bắt đầu những ngày của một học sinh trung học, với lòng đầy nhiệt thành và tham vọng. Tôi nhứt quyết phải luôn luôn đứng đầu lớp.
Không đầy một tháng sau, giấc mộng của tôi tan biến. Hy vọng dẫn đầu lớp như trước kia của tôi đã vỡ thành từng mảnh. Việc này hiển nhiên không chỉ do lỗi mấy ông thầy trường làng của tôi mà cũng do chính tôi nữa. Tôi nhận thấy có nhiều học sinh chưa bao giờ đứng đầu lớp hồi còn ở tiểu học lại học giỏi hơn tôi khi lên bậc trung học. Ðiều này khó tin, nhưng là sự thật. Bởi lẽ họ biết nhiều thứ mà tôi không biết cho dù tôi cố học ngày học đêm, tôi cũng không thể nào tiến bộ mau lẹ hơn họ được.
Kỳ thi đệ nhứt lục cá nguyệt chấm dứt vào tháng bảy. Hạng trung bình trong kết quả học của tôi khiến chú tôi thất vọng não nề, và gây nhiều chán nản, tôi biết sở dĩ chú tôi đài thọ tất cả tiền bạc ăn học cho tôi vì ông cảm thấy tôi là một đứa trẻ đầy hứa hẹn, có thể luôn luôn đứng đầu lớp. Sự bất mãn của ông không thể nào không nhìn thấy. Do đó, thời gian nghỉ hè, tôi cắm đầu cắm cổ lo học. Trong khi các bạn đồng lớp vui chơi, tôi miệt mài đèn sách, quyết định lấp đầy khoảng trống học vấn của mình. Nhưng niên học bắt đầu vào tháng Chín đã chứng minh các nỗ lực của tôi là vô ích. Tôi không đạt được một tiến bộ nào.
Việc học hành gặp hết thất bại này đến thất bại khác đã làm cho tôi tuyệt vọng cùng cực. Không những các môn học của tôi chỉ đứng trung bình trong lớp, mà ngay cả những môn thể thao tôi cũng thua sút mọi người. Rõ ràng có nhiều học sinh trưởng thành nhanh nhẩu, hoạt bát hơn tôi. Thay vì tiếp tục cố gắng để vượt qua các bạn đồng học xuất sắc trong lớp, tôi làm bạn với một số học sinh kém cỏi. Tôi cầm đầu bọn này, và sau đó tôi bắt đầu khai chiến với các học sinh lớn tuổi. Không ngày nào tôi không tìm cách đánh nhau với họ. Hầu như mỗi đêm tôi đều về nhà với mình mẩy bầm giập. Tuy nhiên, tôi đã giấu kín những cuộc phiêu lưu này một cách kín đáo. Cú đấm đầu tiên giáng xuống vào cuối niên học của tôi. Một bức thư của thầy học thông báo cho chú tôi biết tôi là một “học sinh cần phải lưu tâm”. Ðiều tốt nhất mà tôi có thể làm là bỏ qua những trận đấm đá không quan trọng, nhưng tôi không bỏ qua những phương cách chứng tỏ rằng tôi là một học sinh “tốt hơn” các học sinh lớn tuổi. Vì vậy, những bức thư của thầy dạy tôi tiếp tục bay về nhà nườm nượp, và cuối cùng, chú tôi được mời đến trường để nghe báo cáo trực tiếp về hành vi xấu xa của tôi.
Tôi chấm dứt niên học thứ nhì hầu như ở cuối danh sách. Như vậy, đối với chú tôi cũng đã quá nhiều rồi. Những bài “lên lớp” của ông càng lúc càng gia tăng thịnh nộ, và bây giờ quyết định của ông là không cho tôi ở Ðông Kinh nữa. Lời nói sau cùng của chú tôi: “Saburo, chú chán rầy la cháu rồi và chú thấy không thể làm gì khác hơn, có lẽ chú đã sai khi không kèm cặp cháu nhưng dù gì đi nữa, thì vẫn giống như chú đã khiến cho một người con của giòng họ Sakai đầy kiêu hãnh đi vào con đường quấy. Cháu nên trở về Saga.” Không biết làm sao hơn. Tôi không thốt ra một lời bào chữa nào, vì những điều chú tôi nói đều đúng sự thật. Tôi nhận tất cả phần lỗi về tôi. Nhưng tôi không để lộ vẻ gì gọi là tủi hổ khi phải trở về Saga. Tôi quyết định giấu kín nỗi lo lắng, nhứt là với con gái của chú tôi, Hatsuyo, cô em họ mà tôi rất yêu mến. Tôi lên đường, như là một chuyến về thăm gia đình ở Kyushu.
Tuy nhiên, đêm đó, khi xe lửa rời nhà ga Trung Ương Ðông Kinh trực chỉ 800 dặm đến Saga, tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi đã làm cho gia đình tôi thất vọng, và tôi cảm thấy sợ hãi khi phải trở về nhà.
Melbourne Cup là cuộc đua ngựa. Trường đua Flemington, đầu đường Balarat ngó qua dòng sông Maribyrnong lặng lờ xuôi chảy! Mỗi năm Melbourne Cup được tổ chức vào ngày thứ Ba đầu tiên của tháng Mười Một. Năm nay, Melbourne Cup rơi vào ngày mùng 3, tháng Mười Một năm 2020.
Bà con Úc, tay làm hàm nhai, được nghỉ. Phải cho dân nghỉ vì cuộc đua nầy làm ngưng trệ cả nước Úc. Bắt nó đi làm thì nó cũng khai bịnh, trước sau cũng phải cho nó nghỉ. Nghỉ có giấy bác sĩ thì trả tiền. Hổng có giấy bác sĩ chứng nhận nhức đầu sổ mũi (coi chừng con Covid-19) thì xù. Chủ thợ làm được gì nhau? Nghỉ để cắm đầu vô đánh cá ngựa (thua cho chết tía mầy luôn!).
Tuy nhiên, năm nay vì đại dịch Covid-19, Melbourne Cup không có khán giả. Vì người dân phải tuân theo lịnh cách ly của chánh phủ tiểu bang Victoria. Trường đua Flemington vắng như chùa Bà Ðanh. Chỉ có những cánh hồng đong đưa theo gió. Nhưng cuộc đua vẫn được tiến hành để phục vụ dân cá cược.
Cuộc đua nửa chừng thì buồn thay con ngựa “Anthony Van Dyck” đang đua nước rút thì sựng lại vì bị gãy giò. Con ngựa đã từng mang niềm hào hứng, nỗi hồi hộp cho dân cá cược, chỉ vì gãy có một giò mà bị chích một mũi để an nghỉ giấc ngàn thu.
Nước mắt khóc thương con ngựa xấu số chưa kịp khô thì mấy thằng Úc đã quên mất cái nỗi buồn rầu (đúng là dân bội bạc). Tay cầm lon beer; mắt chăm chăm nhìn lên màn ảnh truyền hình theo dõi cuộc đua khác hào hứng cũng không kém. Cuộc đua này cũng xảy ra ngày mùng Ba, tháng Mười Một, nhưng ở bên Mỹ, cách tui cả một biển Thái Bình.
Cuộc đua này cũng quyết liệt, cũng không kém phần sôi nổi và hào hứng là cuộc đua tranh giành chức Tổng thống Hoa Kỳ.
“Chuyện của Mỹ có liên quan gì tới Úc đâu nè?”, thằng bạn nhậu hỏi tui một câu ngây thơ như vậy. “Sao không? Bộ chú mầy không biết là Ðế quốc Mỹ là siêu cường duy nhứt còn lại trên thế giới hay sao? Khi nước Mỹ sổ mũi là cả thế giới nhức đầu!”.
Thế nên các chánh trị gia Úc theo dõi đàn anh Mỹ của mình sát sao lắm! Theo dõi để mà đón gió, để mà dựa hơi trên con đường làm chánh trị. Bầu cử chưa có kết quả chánh thức thì Thủ tướng Úc hoặc lãnh tụ đối lập nín khe hè. Ðợi rõ ràng ông nào lên ngôi cửu ngũ thì mình gọi điện chúc mừng. Chúc mừng sảng, chúc mừng trật thì ông đắc cử thiệt ông để bụng, ổng giận mình thì khó cho việc bang giao quốc tế sau nầy.
Vậy mà, Thủ tướng Janez Jansa của nước Slovenia, quê của Melania, chưa gì hết đã nhanh nhẩu chúc mừng thằng rể Donald Trump đã chiến thắng rõ ràng; trong khi dân Mỹ vẫn còn ấm ớ hội tề chưa biết. Nịnh thì từ từ mà nịnh, cũng đâu có muộn?
Mấy chánh trị gia lá mặt lá trái xưa giờ là vậy đó. Còn dân Úc nó đâu có huỡn mà chúc mừng sảng như vậy. Nó chỉ theo dõi bầu cử để mà cá cược như cá đua ngựa đấy thôi. Vì dân Úc là dân có màu cờ bạc thuộc hạng nhứt, nhì trên thế giới. Cái gì nhúc nhích, bò được, chạy được như chó hoặc rùa, nó đều cho đua để cá cược hết ráo. Nhưng tiền đánh cá chắc phải chào thua một ông anh ở xứ Anh Cát Lợi. Ông nội con nít nầy dám cá cược tới năm triệu bảng Anh, bắt ông Trump sẽ thắng.
Ô hô ai tai! Ðêm bầu cử, hãng Sportsbet cho cái tỉ lệ ăn thua: Ai theo Biden, cá 1 đô ăn được có 22 xu. Trong khi theo Trump, cá một đô ăn tới 3 đô 33 xu.
Dẫu sao, tui xin chúc ông may mắn. Bằng không, tui sẽ đến thăm ông ở gầm cầu Westminster bắc qua sông Thames ở thủ đô London, nước Anh nhe .
TranhBảo Huân
***
Từ hồi lập quốc tới giờ, cuộc bầu cử Tổng thống của Mỹ không giống ai và cũng không ai giống. Nó rối rắm, rắc rối và lôi thôi lắm! Vì kết quả ai thắng, ai thua không dựa vào số phiếu phổ thông nhiều hay ít mà lại căn cứ vào phiếu đại cử tri của từng tiểu bang. Ông D. Trump giành được ít nhứt là 270 trên 538 phiếu đại cử tri thì tiếp tục ở thêm 4 năm nữa. Nếu không đủ số phiếu trên thì dọn ra để ông Tổng thống Mỹ thứ 46 dọn vào.
Bà con mình ai cũng biết màu Xanh, đảng Dân Chủ hoặc màu Ðỏ thuộc đảng Cộng Hòa. Cử tri tiểu bang Texas xưa giờ rất trung kiên với màu đỏ. Từ đời ông nội tới tía tui rồi tới tui đều bỏ phiếu cho ông do màu Ðỏ đưa ra.
Tuy nhiên cũng có các tiểu bang miền Trung Tây nước Mỹ khoái đong đưa, đu qua, đu lại. Kỳ nầy bỏ cho màu đỏ; kỳ tới lại bỏ cho màu xanh. Chính vì mấy em vô thủy, vô chung,õng ẹo như Thúy Kiều, “đưa người cửa trước rước người cửa sau”; nên hai ứng cử viên nầy phải nườm nượp bay tới ve vãn, o bế để mấy em bỏ phiếu cho anh.
Ông Joe Biden đã từng hy vọng có một chiến thắng long trời lở đất. Quánh một cú là hạ đo ván, làm Donald Trump ngã cái ạch xuống sàn võ đài, nằm ngay đơ cán cuốc. Nhưng điều đó đã không có xảy ra.
Ðêm bầu cử, trời quá nửa đêm về sáng, dân Mỹ vẫn chưa biết được ai thắng ai thua? Vì chưa có ai đoạt được 270 phiếu đại cử tri.
Sợ người ủng hộ mình ngáp lên ngáp xuống, ngáp muốn sái quai hàm rồi trật cần cổ luôn nên ông Joe Biden xuất hiện cười mỉm chi, tay giơ nắm đấm, nhắn nhủ rằng:“Xin quý vị giữ vững niềm tin. Chúng ta trên đường chiến thắng! Hãy kiên nhẫn đợi đến lá phiếu cuối cùng được kiểm.”
Tới phiên ông Donald Trump tuyên bố thắng lớn; đòi ngưng không kiểm hàng triệu phiếu mà cử tri gởi bằng thơ trước ngày bầu cử. Tui ăn rồi, kiểm chi nữa? Kiểm nữa lỡ tui thua sao? Nếu không làm theo ý ông là ông sẽ đi thưa Tối Cao Pháp Viện.
Vụ kiện thưa tới 9 Tòa quan lớn nầy chỉ là một vở tuồng cũ, hát từ năm 2000, về phiếu bầu của tiểu bang Florida. Chỉ khác biệt có 537 phiếu mà George W. Bush lên làm Tổng thống Mỹ tới 8 năm. Còn Al Gore về nhà bị vợ bỏ. Hu hu!
Chính vì rắc rối lôi thôi như vậy cho nên đến cuối tuần nầy hoặc có thể lâu hơn bà con bên Mỹ mới biết được hai ông già nầy, một ông 74, một ông 78 ai sẽ vô nhà dưỡng lão?
***
Hồi tranh cử thì các chánh trị gia cứ cho dân uống nước đường, ăn bánh vẽ. Ăn nói gió đưa ngọt ngào như Sở Khanh. Nó nói dóc; ai biểu nghe theo thì ráng chịu!
Người dân thì một lần bất tín, vạn lần họ bất tin. Nên một chiều nọ, một chiếc xe buýt chở các chánh trị gia chạy trên con đường quê. Ðột nhiên, chiếc xe buýt chệch khỏi đường và đâm cái rầm vào một gốc cây. Thấy tai nạn xảy ra, ông làm ruộng liền chạy đến coi. Sau đó ông lấy cái xẻng đào một cái hố và chôn cất tất cả các chánh khách.-
Vài ngày sau, viên cảnh sát trưởng địa phương đi tuần tra, nhìn thấy chiếc xe buýt bị móp đầu, bể kiếng nằm chỏng chơ giữa ruộng bèn hỏi: “Họ đã chết hết chưa?”
“Chà!” Ông già trầm ngâm đáp” “Một số chánh trị gia nói rằng họ chưa chết. Nhưng thầy đội biết các chánh trị gia là vua nói dối. Họ nói họ chưa chết nhưng tui đâu có ngu đâu mà tin; nên tui chôn hết ráo rồi ạ!”.
Tôi không biết làm thơ. Có viết được một đôi bài đăng báo, chị tôi đọc thấy và bảo “cái này mà gọi là thơ ư?”. Ai chỉ trích thì bụng tôi không vui nhưng khi nghe chị tôi nói, tôi buộc phải đưa tay ra sờ sau ót. Chị tôi đọc nhiều sách, yêu thơ rất mực và có một trí nhớ đáng nể. (Chị từng phê bình là văn viết của tôi có nhiều điển tích bị trích dẫn sai, liền mang sách ra đọc rõ ngọn ngành; nói có sách, mách có chứng, hết đường chối cãi). Thời nữ sinh, chị chép tay nhiều bài thơ tiền chiến trong một tập giấy xanh, lên tới hai ba cuốn, nâng niu. Chị gieo cho trí óc dại khờ tôi dạo nọ một hoài nghi: Có phải thơ là món cần thiết?
Người ta sống thở có cần tới thơ không? Cần Thơ cũng là tên gọi một thành phố mà ngày đó tôi chưa có cơ may ghé thăm qua. Khi bị đẩy ra khỏi nước, đôi khi an lành ngồi trên cuộc đất này đâm nhớ quàng xiên về chốn xưa. Ai đâu ngờ được sự vận hành của cuộc bể dâu, giá mà ngày cũ được rộng cẳng xuôi Nam, thăm thú, nhìn ngó cho thoả biết bao thành phố “gấm vóc” thì khi đã già đầu, tiếc nuối đi kèm với hối hận có vơi bớt phân nao?
Sau 1975, nhà thơ Bùi Giáng có làm ra bốn câu (viết theo trí nhớ):
“Tôi gọi Cần Thơ là cần thở Cần Thơ ơi cần thở đến bao giờ? Tôi gọi Bình Dương là bình dưỡng Dượng dì ơi có thương nhớ con không?”
Vào năm 1965 an lành, tại một ngôi trường Trung học ở Cần Thơ, có một nữ sinh học lớp đệ Nhị, mang tên Lý Thị Kim Xương đã viết nên một bài thơ. Từ một cô gái (17, 18 tuổi) ẩn mặt, bài thơ “Thư Cho Anh” đã mang chị Lý Thị Kim Xương thoát khỏi Cần Thơ, vang danh ra chốn xa, kể cả hải ngoại giờ này. Tôi xin mượn nguồn từ nhà văn Trần Hoài Thư để chép lại bài thơ ấy, ra đây, chỉ thế tấm gương tự soi vào mặt mình: Học lớp đệ Nhị (lớp 11, sẽ thi Tú tài Một) tôi vẫn còn là thằng học sinh ngây thơ, nhút nhát, yêu chùng thương vụng chẳng dám biểu lộ, hổ ngươi chịu kém anh thua chị cả đoạn đường dài. Theo cảm nhận riêng tôi, bài thơ này quá tuyệt, có muốn nói khác cũng thừa bởi tự thân bài thơ mang thứ giá trị mà qua thời gian, mãi còn đó là nụ tường vi chưa phai nhạt hương mùi:
THƯ CHO ANH
anh nghĩ gì khi người ta nói yêu em? khi trời mưa người ta đưa em đến trường người ta bảo người ta thường hay khóc vì em nhìn người ta quá dửng dưng
chủ nhật người ta đi xem lễ anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em? người ta đọc kinh khe khẽ em nghe người ta đọc tên em
mai nhớ về thăm em nghe anh! cho người ta hiểu em không sống một mình nếu người ta yêu thì phải yêu hai đứa (yêu em và yêu anh)
người ta yêu em anh có buồn không? nhỡ một mai em gọi người ta bằng chồng anh có còn yêu em không nhỉ? (chết! người ta đang nhìn em ngoài song).
LÝ THỊ KIM XƯƠNG
Bài thơ ra đời năm 1965. Nếu vậy thì tác giả giờ này đã là tuổi hạc, tóc bạc phôi pha. Giáng Sinh vừa rồi tôi không đọc-kinh-khe-khẽ nhưng tôi có đọc tên Lý Thị Kim Xương. Tôi nghĩ, bạn làm thơ, nếu hay một vài, hậu thế sẽ có người mang ra đọc thầm. Tôi không rõ Lý Thị Kim Xương là tên thật, hay đó chỉ là bút hiệu của tác giả, dẫu sao tôi có cảm tình với danh xưng khác lạ kia.
Kim Xương sáng tác có nhiều không? Chị ra sao giờ này? Chị vẫn ngụ ở Cần Thơ? “Nếu người ta đọc tên Xương khe khẽ chị có buồn không?”.
Cần thơ? Thế kỷ trước, khi báo giấy còn sống hùng sống mạnh, người ta rất cần đến thơ. Một bài thơ là thứ xét thấy “hợp lý” nhất dùng để “điền vào khoảng trống” một trang báo. Người ta tính toán độ dài có ở câu chữ hòng “ăn” với chỗ trống kia mà chẳng thiết tới nội dung thơ ấy muốn diễn đạt về điều gì. Rẻ rúng. Tuỳ tiện. Coi thường, vô tội vạ.
Thế kỷ này, hôm nay, khi nhà nhà đều hứng thú với thế giới ảo, ai ai cũng có facebook, người ta có còn cần thơ hay chúng sinh cần thở? Ai đó đã chụp lại một vuông giấy mà bề mặt ghi ra thứ nội dung “đáng sợ” rồi post lên (nguyên văn): “Thằng Nguyễn Văn Mít. Nếu mày không trả nợ. Tụi tao sẽ tag thơ vô phây búc của mày”. Trong cõi hỗn mang đó, rõ ràng thơ đã trở thành một thứ vũ khí lợi hại mang ra để đe nẹt, cảnh báo, dằn mặt con nợ. Hơn cả thư rơi, thư nặc danh, black mail, thơ nào khác gì đao, kiếm, a-xít, kim tiêm có nhiễm bệnh sida? Không phải vô tình, Bùi Chí Vinh từng viết nên:
“Mới đầu ta định làm thơ Sau cùng nghĩ lại giặt đồ hay hơn”.
Lao động tay chân có khi mà thiết thực, “hay hơn” ngồi động não dệt nên vần điệu. Để thu hút số đông, giờ này người làm thơ “chịu khó” lùng sục trên mạng cố tìm lấy được một tấm ảnh “mát mẻ”, chụp hình một cô bé phơi bày da thịt hở hang xem đó là thứ phụ kiện cần thiết, minh hoạ, cộng hưởng với tấc lòng của thi nhơn.
Một quan chức có quyền thế ở Việt Nam phán: “Thơ trên phây búc toàn cả thơ rác”. Lời ông ta đã gây ra sự phẫn nộ lây lan trong cộng đồng nhiễu nhương ấy mặc dù ở Việt Nam người ta vẫn truyền khẩu câu:
Gặp nhau tay bắt mặt mừng Rượu chè thì được nhớ đừng tặng thơ.
Chao ôi, nghe luống những ngậm ngùi! Giá mà có ai rộng lượng tặng tôi một bài thơ tựa như “Thư Cho Anh” của Lý Thị Kim Xương thì thằng tôi sẽ bỏ thói rượu chè, sẽ trân quý thơ, xem món quà nọ là vô giá, sống bỏ bụng chết mang theo. Ở phương Tây nói chung, tất cả những người sinh hoạt trong lãnh vực sáng tác nghệ thuật đều có chung một nhận định, rằng nên sắp hạng thi ca là thứ đứng hàng đầu. Ví dụ như lời tâm sự của nhà văn William Faulkner: “Tôi là một thi sĩ thất bại. Có thể là các tiểu thuyết gia đầu tiên đều muốn làm thơ, thấy rằng mình không làm được rồi mới thử viết truyện ngắn, là món khó khăn đứng sau thơ. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, rốt cuộc họ mới quay ra viết tiểu thuyết”.
Tuổi học trò đã vuột trôi, đến tuổi nhi nhĩ thuận tôi cũng chẳng làm được một bài thơ cho ra hồn. Tôi nghĩ đến chị tôi, về lời cảnh báo không sai trật mà chị từng nhận xét, ngầm khuyên nhủ tôi đừng làm thơ nữa. Tôi cũng nhớ tới ông Mao Trạch Đông: Các đồng chí cứ ca ngợi chế độ cho nhiều vào, thế nào trong hằng hà ức triệu các sáng tác kia cũng nhặt ra được một bài thơ hay, chí ít.
Năm mới, nhà nước phía bên kia biển sẽ ban hành luật an ninh mạng. Nó thành lập để thế cho một cái còng, một gọng kìm hầu siết chặt, ngăn ngừa những lời lẽ phản động, bêu rếu nói xấu chế độ. Nếu nó hoá thân là một cái chổi thì nó không tài nào quét sạch “thơ rác”. Biết đâu, khi bà con chí thú tạo ra rác, bà con quên đi phần nào thứ hiện thực trái ngang đang diễn ra thường nhật chứa lắm thương đau. Xã hội nhờ “rác” mà làm nguội, tạm lắng bớt những oan ức, thôi diễn ra cảnh xuống đường biểu tình ra yêu sách dân chủ này nọ. Hãy để bà con vùi đầu sống trong thế giới ảo, nơi họ được làm vua không ngai.
Người ta yêu thơ anh có buồn không? Nhỡ một mai người ta xem Thơ là thứ cần thở Bình Dương thiếu dưỡng khí thơ bỏ trốn Em thôi làm thơ anh mừng vui chăng? Chủ nhật người ta đi xem lễ Nghe tiếng nguyện cầu đất nước bình yên.
Thức trên gọi là tức cảnh sinh tình, mang thơ Lý Thị Kim Xương ra nhào nặn lại. Điều này chẳng hay ho gì, bạn chớ nên làm loài ốc mượn hồn. Bạn nên tự tạo ra được một cái vỏ bọc, chữ dùng trong nước kêu bằng “gây được thương hiệu riêng”. Tôi yêu hai câu của Hồ Dzếnh, bởi trước sau, nó luôn hợp với tâm cảm tôi mang:
Mộng tàn nước chảy mây trôi Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa.
Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:
– Ê! bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à..cả ba thằng khựng lại : đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”:
– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!
Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.
Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:
– Đ.m. con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao. Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trể. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt). Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút. Cha tôi nói đúng, hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.
Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.
Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình diện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu ).
Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường(!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!
Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ..
Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn…vào hồn không tên nào đó ). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.
Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ.. vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.
Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:
– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông..ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?
Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:
– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.! Vous cứ tự nhiên.
Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.
Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm”thôi chứ sư với siếc gì.
Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó..
Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.
Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức” bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.
Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao : Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt..nhìn xa xăm.
Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và.. lãng mạn đa tình.
Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.
Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc :
N gày tháng trôi dần theo nhớ thương Inhư duyên nợ đã vấn vương Nên tình mây nước cùng trăng gíó Hẹn ở ngày mai một nẻo đường YÊUvầng trăng sáng in cành lá Và khúc nhạc lòng dâng đến hương Ân ái giờ đây là mơ ước Ngỡ một tâm tình một vấn vương
Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:
– Sao bài thơ không có tên?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?
Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:
– Tên với tựa gì đâu, không thấy, trả lại thầy, không thèm.
Tôi cười, vuốt ve cô học trò:
– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.
Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất:
– Không thèm chơi với Thầy nữa.
Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.
Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu…đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.
Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to..của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nhatrang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít..
Vậy mà cái tình yêu ấy ( không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút ) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo.
Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường.Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình..con cóc.
Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò.. lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.
Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc dơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.
Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng- để nhớ những ngày cô còn ở đó.. Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi “ biết đâu mà hẹn.
Tháng 3 /1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ : Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.
Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói“nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh”!
Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội ” luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quânrượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.
Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ”của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.
Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đội thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:
– Là em, là Tiểu Thơ đây à?
Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.
– Tiểu Thơ, à quên…Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.
Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.
Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:
– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yễm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.
– Còn ba em đâu? – Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết. – Vậy bây giờ Vân ở với ai? – Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.
Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.
Sau đó tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không dủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.
Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.
Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà.. Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.
Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Nauy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Nauy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali,.Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.
Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương.
Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.
Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.
Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.
Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ.
Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.
Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại:
– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.
Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi
Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.
Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.
Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.
phạmtínanninh (Viết lại nhân Ngày Hội -Ngộ trường Võ-Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang ở Orlando/Florida 2007)
Tôi có một bà cô ruột trước năm 1954 lấy chồng tận Quảng Bình. Tháng 7-1954, cả gia đình cô tôi di cư vào Nam, để lại một người con gái bên kia vĩ truyến 17. Chị lấy chồng đã lâu, nhưng không có con. Năm 1972, chị nuôi một đứa con nuôi nhưng rủi ro khi lên sáu, cháu tắm sông bị chết đuối khiến cho chị tuyệt vọng vô cùng. Sau tháng 4-1975, nhân vào Huế thăm mồ mả cha mẹ và bà con, chị đã đến cô nhi viện Tây Lộc xin một đứa trẻ đem về nuôi, đó là một bé gái lai đen lên ba tuổi. Chị đem cháu về làng Cổ Hiền, Quảng Bình là nơi quê quán của chị. Từ khi đem cháu về trong gia đình, chị tôi chuốc lấy bao điều phiền phức, khinh khi của xóm làng. Chính quyền địa phương không có hảo ý với lòng từ tâm của chị, vẫn mỉa mai đứa con lai đen là di sản của đế quốc Mỹ xâm lược. Chị cho cháu đi học thì bị bạn bè trêu chọc, đánh mắng, hất hủi, thậm chí chị phải quà cáp lo lót cho cô giáo để nhờ cô bênh vực cháu. Bà con lối xóm thấy chị săn sóc, yêu thương đứa con lai thì đem lòng ganh tỵ khi so sánh với sự thiếu thốn của con mình. Cháu mới học đến lớp ba trường làng thì phải bỏ học. May mắn là cháu bé con lai rất hiền lành và có hiếu, mặc dầu bà chị tôi rất cưng chiều cháu, hơn cả người ta đối với con ruột. Không ai ngờ tới có một ngày nước Mỹ dang tay đón nhận những đứa con lai, hậu quả những năm chiến tranh mà người Mỹ hiện diện ở Việt Nam. Chị tôi đã phải tiếp những người bỏ công xa xuôi từ Hà Nội, Hải Phòng … vào trả giá để mua đứa con lai của chị với mười, hai mươi cây vàng, một gia tài mà chị nằm mơ cũng khó thấy. Cuối cùng chị đã bỏ miền Bắc và đem đứa con lai của Chị đến Mỹ vào năm 1993 sau bao nhiêu khó khăn và nhọc nhằn từ tâm hồn đến thể xác. Con cá trên cạn đã được trả về sông rạch. Cháu no đủ, được ăn học và sống một cuộc đời tử tế tại Mỹ, mặc dầu cũng không biết tới cha là ai, một người Mỹ gốc Phi Châu vô danh đã một lần tìm tới một người đàn bà quê mùa, lam lũ nào đó trên đoạn đường viễn chinh. Cháu cũng không thể nào tìm ra dấu vết của người sinh ra mình, vì một buổi tối nhá nhem mùa đông tại thành nội Huế, có một người đàn bà nghèo khổ, bất hạnh mới ở nhà hộ sinh ra, đã dấm dúi bồng một sinh vật đen đủi, gầy gò trong đống giẻ rách, đến cô nhi viện Tây Lộc dúi vào tay bà “xơ” phụ trách, rồi tất tả ra đi như kẻ tội phạm.
Cuộc đời một đứa con lai đen trong một xã hội như xã hội miền Bắc sẽ gánh chịu bao nhiêu điều kỳ thị, khinh khi, chưa nói đến những biện pháp về an ninh mà Cộng Sản dùng tới khi có chiến tranh “giết lầm hơn tha lầm” trong quá khứ. Trong thời gian, nếu bạn có dịp đi tù ngoài Bắc, đều đã chứng kiến những đứa con lai lớn lên và trôi nổi từ trại cải tạo này sang trại tù khác cho đến hết cuộc đời, không nhớ cha mẹ là ai, làng xóm ở đâu, vì những đứa con lai đối với chính sách ác độc của Cộng Sản, đó là “thành phần nguy hiểm của xã hội” cần phải tập trung “cải tạo”. Tôi biết chị tôi đã nhiều khi tự hỏi, phải chăng đem một đứa bé lai đen từ miền Nam về nuôi là một sự sai lầm quá lớn. Sau một thời gian bệnh hoạn và vì còn chồng ở Quảng Bình, chị tôi quyết định trở về và sống luôn ở Việt Nam. Con chim nhỏ từ đây đã đủ lông đủ cánh, dù không đẹp đẽ cao sang như phượng hoàng cất cánh đi xa thì cũng như con chim bồ câu nhỏ sống trong quãng trời tự do bay bổng.
Trong thời gian xa mẹ, cháu đã giúp đỡ cho chị tôi hết lòng vì biết chị tôi đã yêu thương cháu như thế nào. Chị tôi mất tại Việt Nam vào năm 2004, cháu trở thành đứa trẻ “tứ cố vô thân”, không biết cha mẹ, thân thích là ai và tôi trở thành ông cậu ở xa để lâu lâu cháu gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe.
Điều băn khoăn cho một bé gái lai đen lớn lên ở Mỹ là việc hôn nhân, nhất là khi cháu không có nhan sắc, cũng chẳng có tài năng gì đáng kể. Cháu sẽ kết hôn với ai và ai sẽ tìm đến cháu. Vì cháu lai Mỹ đen chẳng có cội nguồn, không một người Việt bình thường nào muốn lấy cháu làm vợ. Cháu cũng không muốn kết hôn với một người Mỹ gốc Phi Châu vì cháu thường tỏ ra sợ hãi những người cùng một nguồn gốc với cha mình, và những người này cũng không xem cháu như là đồng bào của họ. Tôi nói với cháu rằng ở Mỹ, người đàn bà không cần phải có chồng để nương tựa, nhưng khuyên cháu nên có một đứa con để hủ hỉ lúc về già. Đến nay thì tôi thực sự yên tâm, vì năm ngoái cháu đã kết hôn với một người có gốc gác và hoàn cảnh như cháu: một thanh niên Việt lai đen và mới đây đã sinh được một bé gái.
Những người con lai sang được đất Mỹ này, ai cũng trải qua những ngày tháng khó khăn, bất hạnh và buồn tủi, dù mỗi người một hoàn cảnh. Miền Bắc thì kỳ thị ra mặt, đã xô đẩy bao nhiêu đứa con lai tới chỗ chết dần chết mòn trong các trại cải tạo. Xã hội miền Nam ngày trước cũng không niềm nở gì với đứa con lai, thường thì các em sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, mẹ mang mặc cảm với xã hội, thất học, có khi vướng cảnh lang thang, bụi đời và bị xem là thành phần thấp kém của xã hội.
Khi sang được tới bờ rồi, nhiều gia đình đã đoạn tình bỏ rơi đứa con lai trước đây đã là tấm vé nhập cảnh cho cả gia đình, nhiều em đã không có gia đình hướng dẫn, có cơ hội học hành, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, không mấy người được may mắn thành đạt … Hôm nay các em đã không còn lo đến cơm áo, cô đơn hay bị kỳ thị trên đất Mỹ, nhưng trong thâm tâm các em vết thương cội nguồn vẫn còn là một điều ray rứt khôn nguôi.
Chỉ một số nhỏ quá ít được cha nhìn nhận, còn lại việc đi tìm tông tích, lý lịch không phải dễ dàng, một số đông nhìn đó như chuyện qua đường, một số khác sẵn sàng chối bỏ dĩ vãng. Cùng hoàn cảnh với đứa cháu lai đen của tôi, người con lai có thể nào loại bỏ mặc cảm ấy trong ngày một ngày hai. Chuyện con lai là vết thương của nước Mỹ, phải coi nó như chuyện lính Mỹ mất tích hay tử trận, nhưng 15 năm rồi, việc có một đạo luật cho con lai Mỹ nhập tịch khỏi qua các thủ tục thi cử và phỏng vấn vẫn còn là một điều gì xa vời khó thực hiện. Phải chăng nước Mỹ đang cố quên đi những di sản của chiến tranh Việt Nam để lại vì trước mắt còn những chuyện phức tạp từ những cuộc chiến mà nước Mỹ đang tham chiến.
Cơ hội được gặp gỡ nhau, thông cảm với nhau, tranh đấu cho quyền lợi của tập thể là điều cần thiết của anh chị em con lai trên đất Mỹ, vì không ai thương mình bằng chính những người cùng hội cùng thuyền, “cùng một lứa bên trời lận đận” như mình. Một cuộc họp mặt con lai sẽ diễn ra trong những ngày tới tại Nam California, nhưng trong tương lai tôi thực sự mong mỏi có một cuộc hội ngộ con lai trên toàn nước Mỹ, như trước đây các thuyền nhân ty nạn đã có dịp gặp gỡ nhau. Cô cháu lai đen bất hạnh của tôi hẳn phải ấm lòng khi được về nắm tay anh chị em, bạn bè trong một cuộc hội ngộ, chắc chắn vui, nhưng sẽ không thiếu những dòng nước mắt.
(1) Một câu chòng ghẹo con lai vô nghĩa của trẻ em trong vùng Cộng Sản.
Saburo Sakai đã trở thành một huyền thoại “sống” ở Nhật Bản trong suốt thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Khắp nơi, các phi công Nhật Bản đã nói đến những chiến công không thể tưởng tượng được của Sakai với tất cả sự nể phục.
Sakai đã hưởng một tăm tiếng khác thường mà tất cả những phi công chiến đấu hằng ôm ấp trong lòng. Giữa các phi công Nhật Bản bắn rơi trên mười phi cơ địch, Saburo Sakai là phi công duy nhất chưa bao giờ để mất một đồng đội nào bay bên cánh với anh trong khi chiến đấu. Ðó là điều đáng kinh ngạc đối với một người đã từng tham dự hơn 200 trận không chiến, và việc này đã giải thích tại sao sự ganh đua ráo riết nhiều khi xảy ra xung đột giữa những phi công khác để giành bay cho được ở vị trí kề cận bên anh.
Nhân viên bảo trì cho phi cơ Sakai tâng bốc anh không tiếc lời. Một chuyên viên cơ khí sẽ lấy làm hãnh diện khi được chỉ định săn sóc cho chiếc chiến đấu cơ Zéro của Sakai. Theo lời những nhân viên dưới đất, trong suốt hơn 200 phi vụ chiến đấu, Sakai khéo léo đến nỗi chưa bao giờ phải thực hiện 2 lần đáp, chưa bao giờ để cho phi cơ lật nhào hoặc va chạm cho dù phải đáp xuống trong đêm, người mang đầy thương tích và phi cơ bị hư hại nặng nề.
Saburo Sakai nhận lãnh những vết thương trầm trọng trong trận không chiến ở Guadalcanal vào tháng 8 năm 1942. Anh đã cố gắng hết sức để đưa chiếc chiến đấu cơ què quặt trở về Rabaul, với các vết thương gây tê liệt cho cánh tay trái và chân trái, với con mắt bên mặt mù hẳn và con mắt trái chỉ thấy lờ mờ, với những mảnh kim loại ghim vào ngực và lưng, và với 2 mảnh đạn đại liên 12.7 mm chui vào nằm trong hộp sọ của anh. Hai vết thương sau cùng này là một trong những thiên anh hùng ca trên không vĩ đại nhất, một biến cố mà tôi tin rằng sẽ trở thành một huyền thoại giữa các phi công khu trục.
Hai vết thương này đã quá đầy đủ để chấm dứt những ngày chiến đấu của bất cứ ai. Hãy hỏi bất kỳ một cựu phi công khu trục nào đã từng gặp những khó khăn kinh khiếp, xem họ có bao giờ lâm trận chỉ với một con mắt hay không? Nhứt là khi viên phi công một mắt đó phải quay lại chiến đấu trong một chiến đấu cơ Zéro cổ lỗ để chống lại những chiếc Hellcat tối tân và siêu đẳng của Hoa Kỳ vừa đưa vào sử dụng.
Sau những tháng dài dằng dặc oằn oại đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần, giữa lúc hy vọng trở lại với tình yêu đầu, tức không gian bao la kia, đã tắt hẳn. Một lần nữa Sakai lại bước vào trận chiến. Không chỉ lấy lại phong độ khéo léo của ngày trước, nhưng anh còn hạ thêm bốn chiến đấu cơ địch nữa nâng tổng số lên 64 phi cơ Ðồng Minh bị anh hạ (28 chiến thắng khác của Sakai không được ghi nhận vì thiếu nhân chứng).
Người đọc chắc hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết được rằng cho đến cuối năm 1944, Saburo Sakai chưa bao giờ nhận bất kỳ một loại huy chương hoặc tuyên dương công trạng nào do chính phủ của anh ban tặng. Những loại ban tặng nầy, người Nhật chưa hề biết đến. Công trạng chỉ được thừa nhận sau khi một người đã nằm xuống. Trong khi những phi công giỏi hạ trên 10 phi cơ địch của các quốc gia khác, bao gồm cả Hoa Kỳ, trên ngực họ sẽ lòe loẹt hết dãy huy chương nầy đến dãy huy chương khác và kèn trống rình rang mỗi khi được ban tặng. Sakai và những phi công đồng đội thực hiện các phi vụ chiến đấu không biết bao nhiêu lần mà họ vẫn chưa từng được nếm mùi sự thừa nhận công khai như vậy. Phải đến khi Nhật Bản kiệt quệ và cần chống nạng cho những trận chiến cuối, để nâng cao tinh thần binh sĩ, Hải quân mới thừa nhận chiến tích của Sakai. Một tuyên dương ở phút cuối cùng cuộc chiến. Sakai không lấy đó làm hãnh diện mà giận dữ cho những đồng đội của anh đã gục ngã không một ân hưởng.
Lần đầu tiên, mười hai năm sau cuộc chiến, cuộc đời của Saburo Sakai cung cấp cho người đọc một sự hiểu biết cặn kẽ về phía “đối phương”. Sakai tiêu biểu cho một lớp người Nhật mà chúng ta ít biết hoặc chưa từng biết đến. Ðây là những Samurai võ sĩ đạo lừng lẫy, những chiến sĩ thiện nghệ, bỏ cả một đời để phục vụ cho xứ sở họ. Lấy cái chết làm bản mệnh. Thế giới của họ cách biệt hẳn với thế giới của chính dân tộc họ. Các Samurai xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, không phải là lời nói ngoa. Bây giờ, lần đầu tiên, chúng ta sẽ có thể nghe được suy tư, cảm xúc và xúc động của những người đã từng chĩa “mũi dùi Nhật Bản” vào không trung ấy.
Trong lúc thực hiện quyển sách này, tôi có được sự may mắn đàm luận với nhiều người bạn Hoa Kỳ trong số những người đã từng lái chiến đấu cơ tham dự mặt trận Thái Bình Dương trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Những người này đã nhìn các phi công chiến đấu Nhật Bản, địch thủ của họ, như là một thực thể khó hiểu. Họ không bao giờ nghĩ các phi công chiến đấu Nhật là một con người đúng nghĩa của nó, mà là một cái gì xa lạ và khác biệt đối với họ. Chẳng hạn như Saburo Sakai! Những kẻ đã đem trận chiến trên không ở Thái Bình Dương vào một phối cảnh mới. Các nỗ lực tuyên truyền thời chiến của Hoa Kỳ đã bóp méo hình ảnh người phi công Nhật, biến họ thành một bức hoạt kê khó chấp nhận được. Nội dung của bức hoạt kê này là mô tả một kẻ sẩy chân từ trên không trung xuống với đôi mắt kèm nhèm, và hắn ta sở dĩ còn lơ lửng được là nhờ ơn trời.
Thái độ khinh thường này là một thái độ nguy hiểm. Saburo Sakai là một thiên tài bậc nhất trên không, không thua gì các phi công tài ba nào của bất kỳ quốc gia nào. Anh luôn luôn phải được xếp vào hàng những phi công vĩ đại nhứt mọi thời đại. 64 phi cơ đã rơi trước họng súng của Sakai. Tiếng chuông báo tử sẽ gõ nhiều hơn nữa, nếu Sakai không nhận lãnh những vết thương trầm trọng. Hành vi và lòng can đảm của các phi công Hoa Kỳ được mang ra thử thách trong suốt Ðệ Nhị Thế Chiến không cần đòi hỏi sự biện giải. Chúng ta, người Mỹ, cũng có sự vĩ đại và tầm thường của chúng ta. Tuy nhiên, rất nhiều trong số những chiến thắng trên không của chúng ta được ghi vào tài liệu cũng chỉ dựa trên giấy tờ.
Chẳng hạn như câu chuyện phi thường của Ðại úy Colin P. Kelly Jr., người đọc sẽ không tìm thấy một mảy may hứng thú nào trong câu chuyện kể của Sakai về cái chết của Kelly vào ngày 10 tháng 12 năm 1941 trong quyển sách này. Chính Sakai là người đã bắn hạ Colin Kelly.
Theo câu chuyện về cái chết của Kelly trước đó: ông đã tấn công và đánh chìm thiết giáp hạm Haruna, ông đã tả xung hữu đột mở lối xuyên qua một nhóm chiến đấu cơ đối phương, ông đã tự sát bằng cách bổ nhào xuống một chiến hạm địch, ông đã được truy tặng Huân chương Danh dự của Quốc Hội Hoa Kỳ. Nhưng tất cả chỉ là một câu chuyện sai lầm. Tại vì sự quan sát chiến trường không chính xác hoặc tại vì nôn nóng muốn tìm cho ra một vị “anh hùng” sau trận Trân Châu Cảng của dân chúng Hoa Kỳ?
Vào lúc mà Thiết giáp hạm Haruna được báo cáo bị đánh chìm, nó đang ở phía khác của biển Nam Hải, đảm trách nhiệm vụ yểm trợ cho mặt trận Mã Lai Á. Không có một thiết giáp hạm nào của Nhật ở quần đảo Phi Luật Tân. Chiến hạm mà Kelly đã tấn công nhưng không đánh chìm, theo Sakai và các phi công Nhật bay bao che trên chiến hạm này là một tuần dương hạm hạng nhẹ 4000 tấn. Sau khi tấn công, Kelly rời khu vực trước khi các phi cơ Nhật phát hiện và truy đuổi. Ông không cho phi cơ bổ nhào xuống nhưng vừa trốn chạy vừa thả bom từ cao độ 22,000 bộ và sau đó bị Saburo Sakai bắn rơi gần phi trường Clark ở Phi Luật Tân. Kelly được truy tặng, không phải là Huân chương Danh dự của Quốc Hội Hoa Kỳ mà là huy chương Chiến Công Bội Tinh.
Ðể bổ túc đầy đủ thành tích và câu chuyện của Saburo Sakai, trong vòng một năm Fred Saito đã gặp Sakai mỗi cuối tuần, để khai quật quá khứ chiến đấu của một phi công đại tài Nhật Bản, hiện nay vẫn còn sống ngay sau chiến tranh, Sakai đã sắp xếp lại tập ghi chép đồ sộ của mình về những kinh nghiệm mà anh đã trải qua. Tập ghi chép này, cộng thêm hàng ngàn câu hỏi được đặt ra bởi Saito, một thông tín viên tài ba và kinh nghiệm của Associated Press đã làm sống lại câu chuyện riêng của Sakai.
Sau đó, Saito đã tìm tòi lục lọi qua hàng ngàn trang hồ sơ của Hải quân Hoàng gia Nhật Bản. Ông đã đi khắp nước Nhật, phỏng vấn nhiều sĩ quan và phi công còn sống sót, để thâu thập những câu chuyện do họ kể lại. Nhằm tạo ra tập tài liệu xác thực này, quân nhân mọi cấp, từ anh binh nhì thuộc nhóm cơ khí viên bảo trì cho đến hàng tướng lãnh và đô đốc đều được hỏi dò. Thật ra, nhiều câu chuyện kể về các trận đánh của Sakai vẫn vấp nhiều thiếu sót, bởi lẽ những hồ sơ chánh thức của Nhật Bản hoặc Hoa Kỳ không thể dùng làm tài liệu được. Do khiếm khuyết ghi nhận tường tận phía Nhật, vì đã không có ban báo chí trong các phi đoàn và không có ban quân sử ở các không đoàn. Phía Hoa Kỳ vì mục đích khoa trương, càng không muốn chứng nhận tài năng của các phi công Nhật vào đầu cuộc chiến.
Tài liệu có giá trị đặc biệt là nhật ký chiến đấu của cựu Ðại tá phi công hải quân Masahisa Saito. Ðại tá Saito, Không đoàn trưởng Không đoàn Ðài Nam rồi Chỉ huy trưởng căn cứ tiền tiêu Lae, là cấp chỉ huy của Sakai ở Lae, đã ghi chép tỉ mỉ các biến cố xảy ra trong suốt thời gian ông tham chiến tại khu vực này. Vì đây là một quyển nhật ký cá nhân nên không phải đệ trình lên Tổng Hành Dinh Hoàng Gia, nên các ghi nhận về mất mát, thiệt hại cùng khó khăn khôn lường không bị kiểm duyệt. Fred Saito và tôi xem nó như là một tài liệu đơn độc có giá trị nhất của các cuộc không chiến Thái Bình Dương.
Có một khuyết điểm vào lúc đó, là các sĩ quan Nhật hầu như không báo cáo những khó khăn vấp phải trong khu vực chỉ huy tiền tuyến của họ về Tổng hành dinh hậu phương. Sự kiện đặc biệt thường xảy ra trong hệ thống chỉ huy của Hải quân Hoàng gia. Nhật ký cá nhân của Ðại tá Saito ngược hẳn, đã ghi lại đầy đủ chi tiết con số phi cơ trở về hoặc không trở về từ các phi xuất thực hiện hầu như hàng ngày ở mặt trận New Guinea. Ông cũng ghi lại nhiều cuộc chiến thắng của phi công Hoa Kỳ với sự chứng kiến trực tiếp của ông. Ðại tá Saito vẫn còn sống, và những cuộc phỏng vấn kéo dài với ông đã chứng tỏ sự giá trị của hồi ký của Sakai. Một trùng khớp các con số, sự kiện và hoàn cảnh.
Trung tá phi công hải quân Tadashi Nakajima, nhân vật xuất hiện hầu như trong suốt quyển sách này, hiện thời là một đại tá trong Tân Không lực Nhật Bản. Qua nhiều cuộc tiếp xúc với Ðại tá Nakajima, ông đã cung cấp cho chúng tôi nhiều dữ kiện cần thiết nhất. Ðồng thời giúp chúng tôi nhận được sự giúp đỡ lớn lao của Trung tướng Minoru Genda, nguyên là một đại tá phi công hải quân và là người đã chỉ huy Sakai trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Chúng tôi cũng mang ơn Ðại tá Masatake Okumiya hiện thời là giám đốc cơ quan tình báo kiêm tham mưu trưởng hỗn hợp Nhật Bản. Ðại tá Okumiya, một trong những người cộng tác với tôi để viết 2 quyển “Zéro” và “Chiến đấu cơ Zéro”, đã tham dự nhiều trận không chiến hơn bất kỳ sĩ quan Nhật Bản nào khác, và vào năm cuối của cuộc chiến, ông đã chỉ huy cao xạ phòng không nội địa của Nhật Bản. Qua các cố gắng của ông, chúng tôi mới được xem qua những hồ sơ cần thiết trong các văn khố của Bộ Hải quân Hoàng gia trước kia.
Tôi thấy cũng cần phải nói qua thái độ của Sakai đối với đời sống hiện tại của anh, trong tư cách một phi công đại tài nhất của Nhật Bản còn sống sót. Sakai cảm thấy rằng sở dĩ anh còn sống sót trong cuộc bại trận và trong những trận không chiến từ năm 1943 trở về sau đó, chỉ là may mắn. Có nhiều phi công Nhật Bản đại tài khác như: Nishizawa, Ota, Takatsuka, Sasai … những người đã chiến đấu cho đến khi các trận không chiến quá chênh lệch đã hạ gục họ.
Lá thư của Sakai vào đầu quyển sách, nói lên tinh thần và cá nhân anh.
Chuyện cổ tích kể rằng: Thạch Sanh, tính tình chân thật, làm tiều phu, đốn củi bán cho Lý Thông. Lý Thông thì tánh tình láu cá, nấu rượu lậu. Hai người làm ăn lâu ngày chày tháng, bù khú với nhau nhiều lần, từ bạn nhậu rồi kết nghĩa anh em.
Thạch Sanh giết được Chằn Tinh, cứu công chúa. Nhưng bị Lý Thông cướp công. Anh em cắt máu ăn thề, kết nghĩa sanh đồng sanh, tử đồng tử, cục muối chia hai, sao cục đường huynh đành lòng lủm hết? Chơi vậy chơi với ai? Kết quả là Lý Thông bị Trời đánh chết.
***
Những nhân vật phụ trong truyện cổ tích nầy đã đi bán muối hết ráo rồi; chỉ còn sót lại tới ngày nay là Thạch Sanh và con Chằn Tinh hay hãm hại dân lành.
Thạch Sanh ngày xưa giờ chỉ còn giữ được cái họ Thạch, tên đã đổi từ Sanh qua Sang!
Thạch Sang không đi đốn củi nữa mà về thành, coi trụ sở dân phòng Khu phố 1, đường Trần Khắc Chân, Phường Tân Ðịnh.
Chằn Tinh ngày xưa, biến thành Phó Chủ tịch Quận !
Chẳng qua con Chằn Tinh nầy dẫn đám lâu la đến phá dỡ trụ sở dân phòng vì nó chiếm lề đường khoảng 1m. (Xưa nó ra lịnh cất, giờ cũng chính nó phá đấy thôi!)
“Anh nầy xô vào người tôi! Mà anh là cán bộ tại đây. Tôi sẽ xử lý anh ngay lập tức!” Chằn Tinh nghiến răng hăm dọa.
Thạch Sang biết mình sức yếu thế cô bèn xuống nước nhỏ: “Ðâu biết mặt anh đâu!”
Chằn Tinh bèn kêu một tên đầu lĩnh lâu la tháp tùng đến: “Nghĩa đâu? Lại đây! Nghĩa! Nghĩa!”
Nghĩa đây là Phó Chủ tịch Phường Tân Ðịnh đến hỏi Thạch Sang: “Lỗi gì?”
(Hai đứa đều làm Phó, chức nhỏ như cái lỗ mũi mà đứa Quận gọi đứa Phường như là gọi con của thằng chả vậy hè!)
Thạch Sang cắt nghĩa: “Ði ngang đụng ảnh thôi!”
Một tên lâu la, ra chiều nịnh bợ không biết nhục, ăn cơm hớt, chen vào đánh hôi: “Ðường rất trống anh à!”
Chằn Tinh bèn chụp ngay câu nói của đàn em, kết tội Thạch Sang ngay lập tức. “Ðường rất trống anh đi anh xô vào tôi luôn! Tức là sao? Anh thể hiện sự chống đối, cấp dưới với cấp trên!” (Cái nầy gọi là chụp mũ nhe!)
“Tôi đề nghị thế nầy!” Chằn Tinh ra lịnh: “Mời anh nầy về Phường! Anh Nghĩa về đơn vị anh viết kiểm điểm ngay lập tức cái anh nầy. Nếu cần thiết cho ra khỏi guồng máy…” Anh nhớ chưa?” “Dạ rồi!”
“Tất cả chúng ta làm việc vì cái chung. Nhưng mà anh nầy có thái độ chống đối cấp trên! Tôi không cần anh làm việc nầy nữa. Tôi mời anh đi chỗ khác. Nhanh!”
Tên đầu lĩnh đám lâu la, miệng: ‘Dạ’ rân, nhưng mắt láo liên ngó chỗ khác, chắc trong bụng nghĩ: “Chuyện nhỏ như con thỏ mà cũng làm rùm beng trước máy thu hình để đánh trống thùng thình cho dân xem mình đang hát Chèo cổ Bắc phần!
***
Thạch Sang trần tình cùng bá tánh, trước máy thu hình, như vầy:
“Chiều có đoàn giải tỏa trụ sở. Khiêng một thùng đồ nặng mới vô tình quẹt trúng ảnh. Thật ra không cố tình chuyện gì. Không xích mích gì với ảnh. Trụ sở nầy của Phường chớ không phải của riêng anh mà anh bức xúc!
Nếu anh có lỡ va chạm với ảnh thì anh xin lỗi vậy thôi! Chuyện đã lỡ vậy rồi… Anh giãi bày cho anh. Muốn xử lý làm sao là anh chịu chớ làm sao?!”
Chu choa! Hồi xưa Thạch Sanh dám chém Chằn, còn Thạch Sang ngày nay yếu xìu như cọng bún thiu, chắc sợ mất một triệu rưỡi đồng lương tháng, làm bảo vệ dân phố hay sao chớ?
Cái con Chằn Tinh nầy hống hách như Nghị Hách trong Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ngày xưa vậy!
Thạch Sang, nhịn là nhục! Lỡ mất ‘job’ rồi, tao cự lại chú mầy tới bến luôn cho biết mặt dân Quyên Tân Ðịnh đã từng tỉ thí với Dzũng Ða Kao trong truyện của nhà văn Duyên Anh chớ! Dư luận quần chúng nhân dân chia hai bờ sông Bến Hải. Bờ Bắc sông Bến Hải, quen cái thói điếu đóm ăn tàn, theo voi hít bã mía thì vặn vẹo là:
“Tôi ở Hà Nội mà biết ổng, Ông ở Sài Gòn mà không biết sao? Tôi ủng hộ. Phải dứt khoát ngay!”
Nhưng bờ Nam sông Bến Hải, dân Sài Gòn vốn có máu Lục Vân Tiên, giữa đường thương kẻ thế cô mà bị Chằn Tinh vồ… nên lên giọng kẻ cả dạy đời rằng:
“Ðề nghị đồng chí hết sức bình tĩnh. Ðừng cực đoan, cố chấp, hung hăng! Cần phải có cái đầu lạnh.”
(Muốn vậy đề nghị mỗi lần hỏa vượng lên thì Chằn Tinh nên đút cái đầu mình vào cái ngăn lạnh của nhà xác là nó ‘mát’ dây ngay chớ gì?)
“Nhìn gương mặt và lời nói nhỏ nhẹ, tôi tin rằng người này rất đàng hoàng. Ông nên nhớ rằng, các anh chị làm việc trong khu phố, tổ dân phố chủ yếu vì cộng đồng dân cư chứ phụ cấp chẳng đáng là bao. Hãy quý trọng họ và đối xử mềm mại hơn, tế nhị hơn!”
“Ông nên cương quyết với tội phạm, mại dâm, ma túy thì hay hơn nhiều!”
(Thiệt là khích tướng bậy bạ không hè. Ðụng vô cái bọn bán Trời không mời Thiên Lôi nầy… sức mấy mà dám?!)
Học ăn, nói nói, học gói, học mở chưa có xong mà bày đặt đòi làm quan. “Làm việc là: Thưa ông, thưa bà… rồi xưng tôi; chớ không có cái vụ anh nói em nghe, em nghe anh nói gì hết ráo ở đây nha!”
Bất cứ hành động gì, chánh sách gì là cũng phải nghĩ tới dân trước. Muốn đuổi hàng rong, muốn làm sạch bóng cái vỉa hè, là phải giải quyết công ăn việc làm cho cả hàng trăm ngàn người dân bán hàng rong, thằng Tư, con Tám lê la trên phố xa hoa, mưu sinh vất vả trong cái thành phố 13 triệu người nầy trước đã!
***
Nói nào ngay, chúng có lo cho dân bán hàng rong đấy chớ: đang tập trung dân bán hàng rong vào 70 quầy hàng cố định đường Nguyễn Văn Chiêm và Công viên Bách Tùng Diệp.
Bà con cười he he phán: “Mấy thằng quan nầy tiếng Việt không có rành. Không hiểu bán hàng rong là cái giống gì?!”
Rồi có một quan hơi tưng tửng, đề xuất là:
“Người bán hàng rong có thể kinh doanh qua mạng Facebook! Những người kinh doanh vỉa hè, những hộ có tay nghề ẩm thực, những người buôn bán hàng rong… Bà con sẽ đăng lên đó sản phẩm và số điện thoại. Khách hàng có nhu cầu sẽ đặt hàng qua điện thoại.
Cách làm này không chỉ giải quyết được việc làm cho người dân đó mà còn giúp những lao động nhàn rỗi có thêm công việc giao hàng.
Ðiểm tích cực nữa là không tốn mặt bằng, bảo đảm an toàn thực phẩm mà lại giải quyết được bài toán về trật tự đô thị.”
Muốn bán hàng qua mạng, trước tiên mấy quan nên xuất tiền ăn hối lộ nhiều vô thiên lủng của dân bấy nay, giờ ‘sùy’ ra chút đỉnh để mua cho bà con bán hàng rong Sài Gòn mỗi người một cái ‘laptop’, rồi nối mạng internet để họ bán hàng rong qua mạng nhe. He he!
Thiệt là ăn cơm dưới đất mà nói chuyện trên trời!
***
Ðó không phải là chuyện một ngày, một buổi, cứ đem xe ủi xuống là xong ngay đâu? Ngay cả nhà độc tài Lý Quang Diệu rồi con là Lý Hiển Long, hai tía con phải cần tới gần 30 năm mới gọi là tạm xong.
Mà cái đất nước Singapore độc tài, độc đảng làm Thủ tướng mà cứ nghĩ mình là cha mẹ của dân: Ðứa nào lỗi nhỏ như vẽ bậy, nhai kẹo cao su vứt tùm lum… là đè ra đét đít. Tội kha khá hơn một chút như vài chục gram cần sa, ma túy là a lê hấp treo cổ người ta… thì man rợ quá!
Singapore bất quá chỉ là một siêu thị khổng lồ, một cái Chợ Lớn như của Lý Long Thân vậy; nhưng dân chúng bị kềm kẹp, bị đe nẹt như những con chim bị nhốt túm hụm trong cái lồng son nhiều màu sặc sỡ… thì hay ho gì đó mà sì sụp tôn nó làm sư phụ?
Thế nên, thôi nhe! Ðừng tối ngày dắt đám lâu la, chạy vô chạy ra như gà mắc đẻ, đục chỗ nầy, kéo sập chỗ kia nữa mà chi. Tuồng hát nó chán phèo mà cứ đòi đóng vai chánh ‘ngôi sao cô đơn’ hoài hè!
Làm ăn căn theo luật lệ đàng hoàng đi! Làm công chức, là phục vụ dân chớ hổng phải là ông Trời con: “Tui không cho!”
Quen cái thói Chằn Tinh, muốn ăn thịt ai là ăn, ngồi xổm lên luật pháp mà cứ ra rả cái miệng là: “Làm vì cái chung! Vì 13 triệu dân Sài Gòn!”
Chúng tôi đoán không lầm hình như thời gian gần đây sức sáng tác của ông có vơi đi?
Vơi nỗi gì? Ngắc ngoải gần chết đấy chứ lị.
Mắc phải bệnh gì mà ghê gớm thế?
Tháng trước, đang đi, chỗ có đặt tượng Lê-nin đấy, vô cớ một thằng dở hơi chạy xe điên nó đâm không khoan nhượng vào người tôi cô ạ. Nằm thẳng cẳng, thấy sao luôn. May phước chẳng theo ông bà, nếu không thì lắm đứa thối mồm lại rêu rao: Ôm chân tượng đài lãnh tụ mà chết.
Kết quả?
Tôi gọi xe ôm, nhìn mặt một đứa tử tế, bảo chở gấp vào bệnh viện. Nó tử tế thật, lấy giá mềm, không nỡ chặt chém. Đợi hơn tiếng, bác sĩ khám nghiệm linh tinh rồi chứng nhận tôi dính 35 phần trăm thương tật.
Có phải nằm viện không, mất bao lâu?
Mất hai hôm và bay biến gần ba triệu đồng.
Hai hôm. Thế nào cũng có bài thơ ghi lại cảm xúc khi va vấp hoạn nạn?
Thơ phú gì cho buổi ấy. Rêm mình và hận đời đen bạc quá lắm.
Vậy thì ông làm thơ trong trạng thái nào? Ông tự ngăn mình không được lạm dụng thơ văn để chuyển tải lời nguyền rủa?
Hỏi thế thì hoá ra cô ít đọc thơ tôi? Tôi từng chửi vung vít trong lắm bài thuộc dạng thất ngôn. Chửi cạnh chửi khoé thôi, chả dại nêu đích danh thằng nào cả. Con người cũng tựa mưa nắng cô nhỉ, vui thì ca ngợi vẻ đẹp mà buồn thì bêu rếu cái ác cái đểu.
“Em dong buồm trắng ra khơi, sóng xô đồng vọng cuộc chơi đầu hàng”. Trong tập thơ mới này ít thấy những bài lục bát của ông?
Lý do là tôi tính gom riêng những bài lục bát cho tập sau. Tính là tính vậy chứ chẳng biết có bận sau không. Mấy ngày trong nhà thương nó xúi tôi mang cái ý tưởng, rằng mọi thứ thảy đều tạm bợ. Tôi rất tâm đắc câu nói của ai đấy, một người ngoại quốc, nôm na như thế này: Mỗi tối lên giường, chúng ta không đảm bảo rằng mình còn sống tới bình minh, nhưng chúng ta vẫn để chuông báo thức cho ngày mai. Đó là sự hy vọng.
Ông có vẻ bi quan? Ông có nuôi niềm hy vọng nào không?
Nếu tôi lạc quan, cô có gọi tôi là kẻ ngoài hành tinh không? Tôi hy vọng là thọ được tới tuổi 58.
Có bước ngoặc quan trọng vào hạng tuổi đó?
Nói cô đừng cười, một lão thầy bói rất uy tín nắm lấy tay tôi và bảo thế này: Ông sẽ lấy vợ lần thứ hai, người ấy kém ông đúng thập niên, 48 tuổi.
Ông tin vào những thứ siêu nhiên vô hình?
Đâu phải riêng tôi, cả xã hội này đều vậy mà cô. Nếu không, sao bỗng dưng đẻ ra lắm nhà ngoại cảm thế? Chết mất đất, chết dấm chết dúi, chết trên ba chục năm, vậy mà nhà ngoại cảm đi xăm xăm vào rừng chỉ đích danh một nắm xương tàn cô quạnh nằm dưới ba tấc đất. Giời ơi, mấy sếp chúa duy vật nghe thế phải xiêu lạc thần trí ngay. Hơn cả máy dò mìn với lại radar các thứ.
Trước, tôi có nghe ông gặp chuyện buồn. Giờ, ông có đôi phần nguôi ngoai?
Tôi cố quên nhưng nguôi ngoai chẳng tìm tới tôi cô ạ. Đọc báo tôi thấy thằng cha đại gia gì đấy nó bỏ tiền đúc tượng ba bà vợ cũ từng phụ bạc nó đặt trong góc vườn. Sáng sáng nó ra đứng đái trước mặt ba bức tượng. Trời, sao nó chơi ngông và nó thù dai tới mức đó. Là thương gia thành đạt, nếu nó nổi hứng nhảy vào địa hạt thơ văn thì xem như chết một cửa tử. Bọn chúng mình có mà bốc đất!
Ông nói vậy có ý gì?
Ý tôi là ngày nay muốn làm nhà thơ đâu khó khăn gì. Bộ cô chưa nghe người ta từng bảo là con dân Việt ai cũng có máu thi sĩ sao?
Con đường dẫn ông vào thế giới thi ca có suông sẻ không? Hình như thoạt đầu ông từng gây nên xì-căng-đan.
Cô đã nhắc thì tôi cũng nên vui miệng kể ra. Đó là bài “Thân Thể”, tôi gửi cho một tập san văn chương nhưng bị ném vào thùng rác. Tôi gặp tay thư ký toà soạn bôi trơn cho lão một phong bì dày cộm. Thế là ổn, bài thơ moi ra từ thùng rác được chễm chệ nằm trong số báo chủ đề “Thơ Hậu hiện đại” của các nhà thơ đương đại. Ôi chao, sao tôi ghét thậm tệ cái chữ đương đại này quá, y như là đồ hàng nhái của Trung quốc.
Ông còn nhớ mặt ngang mặt dọc bài thơ ấy không?
Để tôi châm một điếu thuốc, thong thả đọc cô nghe. Phải mà có cốc rượu cầm tay nhỉ. Mẹ, mấy thằng bác sĩ làm hỏng chuyện cả. Chúng nạt nộ bố nó: Ông kiêng đi nhé, thích đi bắt tay với Các Mác Lê Nin đấy phỏng? Chừa đi, nhớ? Hút thuốc thì “tha hồ mây trắng bay”. Đây, bài thơ siêu thực đầu đời của tôi nó như thế này:
nói thân Em không phải chỉ là thân Em nói thân Em không phải chỉ quan hệ xác thịt với anh nói thân Em không phải toàn bộ vấn đề thân Em nó chỉ có một cái chỗ cửa mình với hai cái vú.
Khi họ ném vào thùng rác họ có thông báo lý do cho ông biết không? Đại loại như ngửi không vô, tỉ dụ như tối như hũ nút hoặc mang âm mưu hiểm độc bôi bẩn hội nhà văn…
Cô mà nói thêm thì không khéo mà mang tội phạm thượng đấy. Bài này tôi ăn cắp ý tưởng siêu việt trong đoạn diễn văn kinh điển của ngài Nguyễn Phú Trọng. “…nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa”.
A, thảo nào! Tờ báo văn học ấy đăng cũng phải phép thôi, đọc lên nghe rất… hậu hiện đại. Thế ông còn bài thơ nào ấn tượng như vậy không?
Chán khối. Gò đống. Hằng hà. Gạt đi không hết. Ngẫm ra chúng ta phải nên mang ơn các vị lãnh đạo cô ạ. Cứ bình tâm và kiên nhẫn nghe họ nói, thế nào cũng nhặt ra được đôi điều thú vị, những thứ mà người bình thường như chúng ta không tài nào nghĩ ra. Nhờ vào họ mà đám bình dân đẻ được từ mới: Biết chết liền! Những nhà thơ đương đại của chúng ta, nói tình ngay, cần phải trau dồi cái sự cố “biết chết liền” ấy. Anh làm thơ mà như phép giải một bài toán đố thì bỏ mẹ rồi. Phải sương khói, phải mù mờ, phải đánh đố dư luận, phải chơi trò bịt mắt bắt dê mới thống khoái.
Ông nghĩ sao về lần phát ngôn mới đây của Đại tướng Bộ trưởng bộ quốc phòng: “Không phong tướng, anh em tâm tư”?
Cá nhân tôi, tôi cho đó là câu nói chứa đầy sự nhạy cảm. Chữ “tâm tư” ấy hay chứ không đùa đâu. Chúng ta chẳng nên đòi hỏi một quan võ phải ăn nói có thoa mỡ ở mồm như bọn quan văn. Riêng trong giai đoạn nhiễu nhương này thì chữ “tâm tư” nó mang một nội hàm cực khủng. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, chẳng phải đó là phương châm của bọn làm thơ siêu thực sao? Tôi ủng hộ ông ấy, ở cái tính thật thà không lấp liếm man khai trình độ học vấn như đại đa số đảng viên.
Nếu có người dí súng vào bụng ông buộc ứng khẩu ngay một bài thơ ngắn, trong nhất thời ông sẽ xổ ra bài gì?
Sao cô ác với tôi thế? May mà trời sinh tôi ra làm kẻ dại khờ luôn bị tập thể hiếp đáp. Giai cấp bị bóc lột xin có mấy câu ngẫu hứng:
Du là đi Chẩn là đoán vừa đi vừa đoán nói trẹo quai hàm là có dân chủ.
Tuyệt! Giả như có rượu ở đây tôi buộc ông phải cụng ly với tôi ngay.
Thôi nhé. Đừng phỏng vấn linh tinh nữa nhé. Nói thêm ra tôi sẽ bị quy chụp là chao đảo đánh mất lập trường rồi hệ quả bị cô lập, tứ cố vô thân.
Họ đồn đoán rằng vợ ông đã bỏ đi, thôi sống chung cùng ông? Thú thật là tôi không tin những gì họ thêu dệt…
Tôi rất “tâm tư” về chuyện đó cô ạ. Tôi hằng tin có lửa ắt phải có khói, đứa làm thơ như tôi suốt đời rớt mồng tơi bởi hắn cố giữ đôi tay không nhúng chàm. Thời bây giờ bắt bà ấy phải làm vợ ông Tú Xương nghĩ cũng xốn lòng. Bà ấy xuôi Nam mưu cầu một cuộc sống sáng lạng cho bản thân thì tôi không đủ tư cách để níu chân van nài bà ấy ở lại, làm thế là chà đạp vào sự tự do dân chủ của riêng cá nhân bà ấy. An ủi là phút lên đường bà ta không gửi lại tiếng chì tiếng bấc mắng nhiếc các thứ. Bà ấy chỉ đọc khẩu quyết, nhại lời ông Nguyễn văn Bình làm thống đốc ngân hàng: “Dân có vàng thì dân giàu, nhà nước giữ vàng của dân thì nước sẽ mạnh”. Ngày nào giàu mạnh tôi sẽ quy cố hương san sẻ cùng ông bổng lộc, tạm thời căn hộ này tôi giao khoáng cho ông tuỳ nghi hành sử. Chỉ có vậy thôi. Bà ấy tự tay ghi xuống cái dấu chấm vào bài trường thi chưa hoàn thành của tôi. Căn nhà lạnh không bằng hồn đầy gió, giấc ngủ neo triền dựng bóng cảm hàn.
Thơ ông đấy à? Khi về già, điều gì ám ảnh ông nhất?
Sự hối tiếc. Hối tiếc đủ điều, quả thực là tôi thiếu học thức, nhân cách, sự đối chọi với cuộc sống… Có nhà văn nổi tiếng ở Nam Mỹ nói thế này: Tôi chỉ có duy một niềm hối tiếc, là khi tôi chết tôi chẳng được chết cho tình yêu. Nói bỏ lỗi, nếu ngày nào bọn xâm lược phương Bắc tràn qua biên giới gây hấn, tôi sẽ xin được ôm súng ra án tuyến đầu, chết cho quê hương e phải nên xem đó là thứ “anh em họ tâm tư”.
Chúa ơi, tôi can ông đừng vẽ chuyện. Ông liệu mà giữ mình và giữ mồm, ra đường nhớ ngó trước trông sau. Bớt làm thơ thời cuộc kẻo xe điên lại thay phiên húc vào người.
Cô về đấy à? Có dư thời gian không, chúng ta ra ngồi cái quán đầu ngõ đánh chén.
Ông khao tôi hay sao? Tiền bạc rủng rỉnh thế cơ!
Ậy, chú bán thịt chó ấy luôn vui vẻ mỗi bận tôi ghi sổ, tình đồng chí vẫn bất diệt.
Ừ, thì bất diệt. Nhưng tôi chả dại xơi thịt chó, ông nghe có tâm tư không?
Hả. Tâm tư, tâm tư. Và dại khờ nữa chứ. Đi xe cẩn thận, nón bảo hiểm đâu? Mà này, chớ thông báo cho ai hay về cuộc trao đổi giữa chúng ta hôm nay, một chiều nhọ mặt người.
Vâng ạ. Chào ông. Hồi nào lấy vợ hai nhớ tống cho tôi cái hồng thiệp.
Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6 Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: – Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi “báo cáo” môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
– Trong này có anh nào thuộc Sư 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
– Thưa cán bộ, có tôi ạ.
– Anh ở trung đoàn mấy.
– Trung Đoàn 44.
– Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
– Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:
– Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
– Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
– Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
– Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
– Sau đó cán bộ được trao trả? tôi hỏi.
– Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi lán được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:
– Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một người tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong lán, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
– Tôi để một giỏ cá đằng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc giấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
– Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:
– Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
– Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? – một anh tù hỏi.
– Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằn vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
* * *
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 50 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen cho biết bố của cô trước kia là cán bộ cao cấp của tòa đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thuở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ – 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe. Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
– Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
– Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
– Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
– Ông Thà, Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?
– Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
– Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng nhiều lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.
– Bây giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.
– Cháu đang trốn ở nhà một người bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
– Ba cháu bây giờ làm gì?
– Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
*** Các Anh thân quí
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại để chăm lo cho bộ lông của mình”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”
* * *
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.