(Trích đoạn Hồi ức Kinh tế mới sau 75)
Tác giả: Hoàng Kao


Những ngày giáp Tết trên kinh tế mới cũng như những ngày bình thường trong năm. Chúng tôi vẫn chặt củi, gánh đi bán rồi đi chợ mua ít nhu yếu phẩm cần dùng cho hàng ngày. Không thấy Tết ở đây, tựa hồ nàng xuân cũng sợ đến nơi rừng núi khỉ ho, cò gáy đầy lam lũ và nghèo khổ này. Chiều hôm đó, sau khi ăn cơm xong. Ba tôi nói: Sáng mai con coi về thành phố ăn Tết với má, mình ba ở lại là được rồi. Tết nhứt trên này có gì để ăn đâu mà Tết với nhứt.

Nhà còn vài lon gạo với mấy con cá khô để ba ăn qua mấy ngày Tết cũng được. Con cứ về dưới chơi, khi nào lên lại cũng được. – Khuya hôm đó, khoảng 3h, 4h sáng tôi quảy gánh củi lên vai băng rừng, băng đồng hoang để gánh xuống thị trấn bán và để lên xe lửa về thành phố. Ngày thường đi với mấy bác hàng xóm hay cùng vài thằng bạn trạc tuổi. Đi đông như vậy ít mệt vì khi nghỉ thì tụm lại nói chuyện cũng vơi bớt đi phần nào nỗi gian nan, cơ cực. Nay chỉ có mình tôi, nên cứ lặng lẽ mà gánh đi thôi. Sao trên trời nhiều thật đó, nhưng không đủ sáng rọi đường đi, cứ gánh theo quán tính về hướng đông trong sương mù lạnh lẽo của núi rừng. Gánh củi đường khuya thì chuyện vấp mô đất, hay sụp lỗ… rồi bị té lên, té xuống là bình thường. “Đường thương đau đầy ải nhân gian. Ai chưa qua chưa phải là người…” Người lớn đánh đấm thua cuộc, con nít chúng tôi cũng bị vạ lây theo thời cuộc, phải chấp nhận kiếp số mà thôi. Mờ sáng tới thị trấn, bán củi xong tôi mua 1 ổ bánh mì, rồi vừa đi vừa ăn. Sau đó lững thững vô ga leo đại lên một toa xe. Thời đó, trong mỗi toa xe lửa không khác gì cái chợ chồm hổm với đủ thứ hàng hóa, rồi thì heo, gà, vịt, rau cải ..vv… Cái mùi tổng hợp của cái thời gọi là” thời bao cấp”. Rồi thì cũng đến giờ con tàu già nua ì ạch nhả khói và rú lên mấy tiếng còi não nùng. Sau đó nó vặn mình chầm chậm trườn ra khỏi ga như một con trăn khổng lồ. Gió ban mai mát lạnh thổi vào toa xua bớt mùi phân heo, gà vịt nên cũng phần nào dễ chịu. Nhân viên soát vé bắt đầu làm việc, tôi ngồi dưới sàn tàu gần một dì bán vịt, xung quanh là bầy vịt kêu cạp cạp điếc tai. Chị soát vé nhìn tôi: Vé em đâu? Tôi: Dạ, em trên kinh tế mới không có tiền mua vé, chị cho em đi nhờ nha chị? Dì bán vịt: Nó nhỏ xíu, thôi cô cho nó đi quá giang làm phước! Chị nhân viên nghiêm mặt: Lần này thôi nghen em! Tôi cám ơn chị nhân viên tốt bụng rồi ngồi nhìn ra ngoài. Bỗng nhớ lần đi tàu chui này đâu phải lần đầu. Mà có lần tôi bị bịnh khá nặng. Gần như vừa đi vừa bò từ trên kinh tế mới xuống tới ga hơn cả buổi trời. Cũng leo đại lên tàu. Rồi bị hỏi vé, mấy dì lớn tuổi xin giùm và cô soát vé cũng nói đúng câu: Lần này thôi nghen em! Tàu chạy nhanh hơn, khung cảnh trôi qua vùn vụt hai bên tàu. Tôi nhìn về hướng Tây nơi có dãy núi xanh mờ ẩn hiện trong mây, là nơi mỗi ngày tôi ở đó, lầm lũi trong rừng như con thú hoang dã cùng những đứa trẻ như tôi. Chúng tôi sống bám vào rừng để mưu sinh. Không hề có ước mơ hay hoài bão gì về tương lai. Nó đã đóng sập lại từ sau ngày 30/4/75. Miễn bữa nào ăn cơm không có độn khoai lang, khoai mì hay rau tàu bay là đã thấy hạnh phúc lắm rồi. Chiếc xe lửa già nua cũng về tới Nha Trang. Tôi xuống ga đi bộ về nhà. Thành phố thờiđó vào những ngày giáp Tết chỉ thấy khung cảnh buồn buồn, u uẩn khó tả. Chứ không có nhộn nhịp và náo nhiệt như bây giờ. Tôi về nhà, còn dư mấy đồng bán củi tôi vét sạch đưa cho má. Vì tôi cũng đâu có nhu cầu sắm sửa gì để mà xài đến tiền. Mà về nhà cũng đâu phải để nghỉ ngơi hay chơi bời với bạn bè. Đám bạn lối xóm ngày xưa đâu còn đứa nào. Tụi nó cũng theo gia đình đi kinh tế mới hay đã đi vượt biên, hoặc ba má dẫn về quê. Nên tôi cứ quanh quẩn trong nhà. Tối thì ngủ sớm, để khoảng hơn 3 giờ sáng là tôi theo phụ má cắt rau muống dưới cánh đồng cách nhà khoảng hơn cây số. Tôi cầm cây đèn dầu hột vịt bé xíu mờ ảo như ma trơi đi bên má. Thỉnh thoảng má hỏi tôi vài câu về cuộc sống của hai cha con trên kinh tế mới. Còn lại hai má con cứ im lặng mà đi trên con đường đất dẫn đến cánh đồng. Nơi có những ruộng rau muống. Tiếng côn trùng lẫn tiếng đám nhái bén kêu dưới ruộng nghe buồn não ruột. Trên cánh đồng cũng có vài ánh đèn dầu leo lét của những người đi cắt rau về bán hay người đi làm đồng sớm. Hồi đó, má mua nguyên ruộng rau muống chừng một hay hai trăm m2. Cứ cắt hết đám này lại mua đám khác. Hai má con lầm lũi cắt rau, lâu lâu má nhắc chừng: Mầy cắt cẩn thận, cái câu liêm bén ngót mà cắt trúng tay là tới xương đó
nghe chưa! Tôi cắt không trúng tay, mà lâu lâu cắt trúng con nhái hay con cóc núp trong rau, nghe tiếng nó kêu thảm thiết là biết tôi lỡ tay làm một mạng lìa đời. Bùn dưới chân nhão nhoẹt, tanh hôi và dường như có cả mùi phân người trong đó.Tôi cứ dẫm bừa lên mà cắt, rồi xếp thành bó gọn gàng để má dùng lạt buộc lại thành những bó như nhau. Sau khi hai má con cắt và bó rau xong thì tôi gánh tới chỗ mương nước rửa cho sạch bùn đất trong rau, sẵn rửa tay chân lấm lem của mình. Trời đã bắt đầu mờ mờ sáng. Tôi gánh về nhà là coi như hoàn thành nhiệm vụ. Đoạn đường còn lại thì má gánh ra chợ bán. Cứ vậy, những ngày giáp Tết trôi qua trong buồn tẻ của thời đó, và hình như không thấy không khí Tết rộn ràng như những năm trước 1975. Âu lo trĩu nặng trên từng mặt người lớn khi cuộc sống mỗi ngày càng khó khăn hơn. Hăm chín Tết, sau khi bán rau xong, má mua khá nhiều khoai mì, lá chuối, vài ống lồ ô non để chẻ dây lạt dùng gói bánh, và ít thịt mỡ heo cùng mớ đậu xanh. Rồi cả nhà cùng má gói bánh tét khoai mì. Khoai mì đem ngâm nước, lột vỏ, sau đó mài ra thành bột. Công đoạn cuối là gói hệt gói bánh tét bằng gạo nếp vậy thôi. Xong xuôi, xếp từng cây bỏ vô cái thùng tole đặt sẵn trên 3 cục đá táp lô rồi đổ nước gần đầy thùng và đậy nắp lại. Tôi nhóm lửa nấu bánh và nhận luôn phần thức canh nồi bánh đến sáng. Bên bếp lửa bập bùng, tôi nhớ những đêm giá lạnh trên kinh tế mới, hai cha con đốt đống lửa giữa nhà để sưởi ấm vừa xua lũ muỗi rừng đói khát. Mới đó mà gần 3 năm nằm sạp cây nếm mùi “nước mắm đại dương” và ăn ” bánh xe lịch sử” trên vùng kinh tế mới chứ ít gì. Bàn tay học sinh non nớt thuở nào, bây giờ thô ráp chai sần cục cục. Còn hai bàn chân toàn đi chân trần riết cũng chai ngắt như da trâu. Hai bả vai chai lì vì gánh củi hàng ngày nên không còn biết đau là gì. Tôi ở nhà ăn Tết đến mùng 3. Sáng mùng 4 tôi xin tiền má để đi xe lên kinh tế mới. Má đưa tôi thêm 2 đòn bánh tét khoai mì và nói cầm lên hai cha con ăn cho vui. Tôi ra chỗ chiếc xe hay đậu để chở người lên kinh tế mới, rồi lên xe ngồi trên cái băng ghế dài. Trên xe đã có khá đông người. Mấy đứa nhỏ ngồi gần cứ nhìn nhìn 2 đòn bánh tét tôi treo lủng lẳng trên vai. Một đứa nói: Anh cho em xin miếng đi…! Tôi cười, rồi gỡ xuống 1 đòn bánh và tháo lớp lá chuối ra. Vài đứa khác bu lại. Vậy là, tôi lấy dây lạt cắt ra từng khoanh cho mỗi đứa một lát bánh. Tôi cùng ăn với tụi nhỏ. Lát sau sạch bách 1 cây. Khi hành khách đã lên gần đầy xe, bác tài cho xe lăn bánh, bỏ lại thành phố buồn sau lưng để đưa những phận người từng ở đó đi lên vùng núi rừng xa hút. Nơi không có tương lai nào dành cho họ ngoài việc miệt mài trong rừng ngày này qua ngày khác, sống bám vào mẹ thiên nhiên, cố gắng sinh tồn ở thời điểm đầy rẫy khó khăn. Bánh tét khoai mì cũng là một kỷ niệm khó quên trong đời. Nó ghi dấu một giai đoạn khốn khổ không chỉ riêng gia đình tôi, mà là hàng triệu gia đình miền Nam thời bấy giờ sau cuộc chiến. Cho dù ở thành phố hay trên những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh. Cuộc sống gian nan, nghèo khổ gần như bình đẳng và chia đều cho mỗi người. Từ người lớn cho đến những đứa trẻ vị thành niên như tôi. Những cái Tết buồn như vậy, kéo dài đến nhiều năm sau, cho đến khi cuộc sống gọi là tạm dễ thở hơn một chút. Năm tháng dần trôi như bóng câu qua cửa sổ. Những tháng năm đó, nay đã xa lắc gần nửa thế kỷ, nhưng món bánh tét khoai mì vẫn còn nằm hoài trong ký ức tôi. Thậm chí, mỗi khi Tết đến, xuân về thì tôi như thấy lại cảnh tôi cùng má cắt rau dưới ruộng sình. Rồi thì, hình ảnh một chú nhóc đeo lủng lẳng 2 cây bánh tét khoai mì lững thững đi bộ ra bến xe để trở về núi rừng trong cái không khí mùa xuân buồn buồn trong thành phố và trên mỗi mặt người. Một đêm bên bếp lửa hồng canh nồi bánh tét khoai mì dưới hàng triệu vì sao lấp lánh trong đêm tĩnh mịch. Tôi tự hỏi: rồi mai này cuộc đời sẽ ra sao khi cứ mãi quẩn quanh nơi chốn núi rừng tịch mịch làm bạn cùng cây cỏ, chim muông… Tri kỷ là những gánh than, gánh củi mỗi ngày đeo đẳng trên đôi vai gầy guộc, nặng trĩu trong cả những giấc mơ không bao giờ trọn vẹn.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.