Can hạn

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 01/12/2017 

Post by Sơn râu 9 Aug 2026

Milkmaid
Johannes Vermeer

Phòng tranh mang tên “Giao Mùa” mở cửa hơn hai ngày thì bị đóng. Mưa đang về, bay nghiêng hạt xuống một địa phận sẵn lòng đón nhận sự dầm thân trong rét mướt. Tấm bích chương mềm nhũn, hoen màu, chịu thử thách ban đầu cái tác hại của nước ngấm. Hàng chữ “từ ngày 7 đến ngày 14” đã bị mưa cào đến thủng giấy, hết còn đọc ra. Đây là cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của Nguyễn Văn Xê, 30 bức tranh sơn dầu hiện hữu sau 10 năm mài miệt vẽ. Xin được giấy phép đúng một tuần, chỉ bán được một bức “Thiếu Nữ Cởi Áo Lụa Bên Hồ” thì… giông bão tới.
Đột ngột. Khách muốn thưởng ngoạn ngác ngơ trước cánh cửa có bắt cái khoá rõ to. Những kẻ muốn lợi dụng một không gian nồng ấm để trú mưa cũng bị dội ra. Nghệ thuật mà làm gì mấy cha! Nghe đâu bão lớn ngoài biển Đông đang đe nẹt đòi thổi vào. Hai ba người đứng luận chuyện trước cửa đóng then cài. Thì ít ra phải có mặt tay hoạ sĩ đứng đó phân bua giải thích. Đóng bất ngờ kiểu này coi bộ không êm. Ừ, quả có đột xuất thật! Tay ấy bị xe điên đụng phải chăng?

Nguyễn Văn Xê, 32 tuổi. Chẳng được đào tạo từ trường ốc chính quy. Do khéo tay cộng với niềm đam mê chẳng ngơi nghỉ nên trì chí tự mày mò để bước vào con đường nghệ thuật tạo hình. Quá trình đã từng góp tranh trong những cuộc triển lãm “12 khuôn mặt trẻ”, hoặc “Sức sống và cuộc đột phá của những cây cọ miền Trung”. Nguyễn Văn Xê, chưa vợ con. Tóc để dài, trang phục bụi bặm, quần jean thủng rách lấm lem màu dầu, và như đa số bọn “tác nghiệp” thứ nghề tự do vô bổ ấy, hắn nghèo rớt mồng tơi. Nhưng chớ nên áp đặt Xê là dân vô sản chuyên chính, hắn giàu có ở mặt khác, hắn sở hữu những thứ vô giá.

Nguyễn Văn Xê ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, đóng kín. Một ngọn đèn vàng, một chiếc bàn gỗ và hai cái ghế. Phòng có trổ một ô cửa sổ, tấm kính mờ đục ở đó không bưng bít được vuông màu xám nát nhừ những giọt mưa mãi cào cấu bên ngoài. Một cốc cà phê, một điếu thuốc. Yêu cầu của Xê chẳng được đáp ứng, người ta chỉ vứt xuống mặt bàn tờ giấy vở học trò cùng cây viết từng bị những dấu răng gặm nhắm qua. Thật thà khai báo, có thể đó là đầu đề mà Xê phải trả bài, không nhất thiết phải đúng niêm luật vần điệu câu cú. Khi anh tự nhận mình vô tội thì chữ thật thà kia đã nhảy sang dối gạt. Tìm cách tạo dựng ra tình huống. Bằng không thì anh bó tay, để sự trinh nguyên cho trang giấy vở khỏi lấm màu. Anh sẽ bị bợp tai? Anh sẽ bị mắng chửi? Bị lên lớp? Bị nguyền rủa? Nguyễn Văn Xê cúi mặt xuống. Bài làm bao giờ cũng khởi đi bằng khúc dạo đầu: Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc…

Cửa mở, một “anh” cán bộ bước vào. Anh này không giống anh ban trưa dù áo quần của hai anh tựa hai giọt nước. Anh đứng ngọ dữ dằn, anh chiều tà bớt dằn dữ. Coi bộ tử tế vì ảnh có cầm theo ly cà phê, đặt xuống bàn, trước mặt Xê. Quen vẽ vời chứ không quen viết lách à? Anh ta vừa hỏi vừa kéo chiếc ghế trống, bốn chân gỗ lê thứ âm thanh nghe bất an. Uống đi, cho tỉnh trí. Nguyễn Văn Xê nghe lời, dù mãi hoang mang, hắn cố kềm giữ, không muốn để gã kia nhìn thấy năm ngón tay run. Có lần Ngọc ngồi làm mẫu đã gióng câu hỏi: Điều gì khiến anh sợ nhất? Hắn nheo mắt ngắm bầu ngực trần của cô gái tuổi 17: Anh sợ bị thương tật ở đôi bàn tay.

Cà phê rất tệ dù được uống trong hoàn cảnh này. Chẳng biết khi pha chế, người ta có hoà thêm “một thứ gì đó” vào trong chất nước đen đã mất mùi. Cán bộ sửa giọng, nhập đề buổi lấy cung: Bức tranh “Xuân Thì” là vẽ theo ngẫu hứng hay có chủ đích? Nguyễn Văn Xê khảy đất bám dưới móng tay: Xin lỗi, tôi không hiểu hết ý của anh… Người trong tranh rất giống một nhân vật ngoài đời… Ồ, cô ấy đồng ý làm người mẫu. Làm không công hay sao? Theo hợp đồng thì số tiền tôi phải chi trả là một triệu. Trả hết chưa? Cũng theo thoả thuận tôi đưa trước một nửa, số còn lại sẽ thanh toán sau khi đóng cửa phòng tranh. Chỉ mới hai hôm, tôi chẳng hiểu vì sao… Được, có hai chuyện vướng mắc nên đả thông: Thứ nhất, trên đánh giá là số tranh trưng bày đa phần đều mang tư tưởng ám tối gợi dục. Thứ hai, do đơn thưa kiện của bà Trần Thị Hoàn cáo buộc hoạ sĩ đã cưỡng bức và xâm phạm xác thân gái vị thành niên tên Phan Thị Ngọc, con bà đồng thời cũng là người mẫu trong bức “Xuân Thì”.

Sao ngồi nín khe vậy? Có phản biện không? Hay câm lặng là thú nhận lỗi lầm? Xê ngó xuống mặt gỗ trầy trụa trên mặt bàn, hắn từng vẽ chi ly, gọt tỉa sống động một cái bàn học thời niên thiếu hoen ố đầy vết mực đổ, ghim đầy nét khắc các mẫu tự cặp đôi nằm trong trái tim nham nhở. Và bức tranh tĩnh vật sống động ấy đã lọt vào mắt xanh một Việt kiều rinh về Mỹ quốc. Một ngàn đô la, hắn đã mời hai mẹ con đi vào nhà hàng cao cấp ăn mừng, đã mua quà theo sự vòi vĩnh của Ngọc. Hắn đã sống với những ngày êm đẹp ngắn ngủi gần như hoang tưởng, tận hưởng và phung phí…

Phóng lớn một tấm ảnh, chuyển qua tranh thì mất bao lâu? Nguyễn Văn Xê nhìn vào đôi mắt người quyền lực. Thú thật là tôi không hành nghề như thợ vẽ truyền thần, thứ công việc chuyên sao chép cho thật giống so với bản chánh. Đâu ai ra điều kiện khó khăn thế? Chỉ cần nhìn thoáng thôi là đủ phát hiện… kiểu như ngắm bức “Xuân Thì” thì biết ngay đấy là dung mạo cô Phan Thị Ngọc. Cũng tuỳ anh ạ, việc vẽ vời tôi chưa bao giờ tự ép mình vào một khung thời gian nhất định. Kẻ kia nhún vai: Ba hôm, giả dụ thế, là hoàn tất chứ gì?

Trước mặt Xê, vừa nằm trên vuông giấy vở là tấm ảnh cỡ 5×7 thu giữ một khuôn mặt đầy đặn của người thiếu nữ. Cứ gật đầu chu toàn cái hợp đồng nầy thì tự khắc cánh cửa kia sẽ mở rộng, tha hồ mà dầm mưa trở về nhà thu vén dọn dẹp phòng tranh. Nghe êm không? Có nghĩa là ngoài việc vẽ lại chân dung từ tấm ảnh này ra tôi không phải làm thêm thứ gì khác? Có đấy cậu ạ. Theo thủ tục cậu cứ viết cho xong tờ khai kia, những rắc rối tình cảm liên quan tới hai mẹ con ấy thì phải chính cậu tự giải quyết lấy, bồi thường tiền bạc gì đấy, chuyện đâu có gì phải náo loạn kiện tụng tới chốn pháp đình. An tâm đi, nhớ tập trung đầu óc vào việc được trao gửi. Người trong ảnh là vợ mới cưới của sếp cơ quan đấy chứ không đùa đâu nhé.

Qua trung gian một người bạn tôi gặp được Nguyễn Văn Xê, thực ra giờ này hắn đã đổi chữ ký, dưới góc tấm tranh thôi còn chữ X màu đỏ như trước đây, điền thế bằng chữ Dịch màu vàng. Hắn trú trong xóm nhỏ, cuối đường, tiếp cận với một nghĩa địa trồng lắm mộ bia và chân nhang và hoa héo. Hỏi Xê không ai biết, Dịch thì may ra có đôi ba người chỉ lối giúp. Dịch tóc húi cua, ngắn thật ngắn. Ngắn như tóc vừa mọc dài trên đầu kẻ vừa hoàn tục. Khi biết tôi có ý định in một tập truyện, hắn hứa sẽ minh hoạ giúp tôi cái bìa. Hắn hỏi viết thể loại gì? Ờ, mình viết chuyên tình. Vậy thì thay tranh tĩnh vật hoặc phong cảnh bằng môi hôn, bằng vòng tay ôm giữ, bằng thiếu nữ khoả thân, bằng cuống quýt xác thân nam nữ…

Tôi mời Xê hay Dịch đi ra đầu đường uống cà phê. Hắn mang theo xấp giấy nằm trong bìa cứng. Khi bày cả ba bức tranh màu nước cho tôi chọn, chúng làm khó tôi bởi cả ba đều đẹp hết chỗ chê, phải băn khoăn nhờ tác giả cho ý kiến. Tôi nghe lời hắn: Bức này có nhiều khoảng trống, sẽ dễ sắp xếp những con chữ nằm vào mà chẳng phá hỏng bố cục. Nhan truyện nên dùng màu nâu, những chữ khác màu cam, nét thật mảnh kiểu chân phương, như vậy nó “ăn” với màu sắc đường nét của bức tranh. Không nén được, tôi hỏi: Vì sao chữ ký lại là Dịch mà thôi còn Xê? Đơn giản vì hôm nay không còn như hôm qua. Hắn cười với tay xoa đầu. Mình xuống tóc cũng là cách cố quên đi ngày cũ.

… Khi bước vào phòng, sau khi đóng lại cánh cửa bằng lưng, N. đưa tay gạt xuống công-tắc đèn. Loay hoay một đỗi, N. xua đuổi bóng tối bằng những ngọn nến cô vừa đốt sáng lên. N. quay mặt với hai tay đang mang lại chiếc bánh kem, những đốm lửa nhảy múa, một gương mặt nửa sáng nửa tối và đôi mắt sâu, thu giữ một hân hoan long lanh. Luôn luôn, bầu khí quyển trong căn phòng này phải bị hoán đổi khi N. xuất hiện. Mãi hoài N. vẫn là người muốn xáo trộn cái trật tự mà tôi chẳng biết cách sắp xếp chúng. Nếu đó là sự bừa bộn thì một khi đã bị giăng bủa chẳng ai phải khó chịu cả. Và tôi, tôi vui vẻ thuận lòng đón nhận lấy dù đôi lúc N. tới, bắt tôi phải ngưng ngay công việc. Những mảng màu thôi tấp vào mặt bố, những đường viền phải chịu đứt ngang. Chúc mừng sinh nhật. N. nói. N. nhắc về một con số, một ngày tháng mà lý ra tôi buộc phải nhớ hơn ai cả. Tôi chùi đôi bàn tay vào cái khăn lau mặt cũ. Tôi ôm lấy N. khi cô vừa đặt bánh xuống mặt bàn. Có thể khi mua bánh cô đã nhón lấy một thỏi chocolat. Môi N. còn vị ngọt đắng, như thể nó vừa tan trên lưỡi nóng, như thể nó còn vướng víu ở kẽ răng chờ tôi dọn sạch. Bao giờ thì đến ngày sinh nhật của em? Tôi hỏi khi mũi mình đang đánh cắp hơi thở N. rối loạn. Hôm nay, em nghĩ vậy. Chính xác là ngày nào thì chẳng một ai còn nhớ, nhà bị cơn hoả hoạn đốt sạch, khi làm lại giấy khai sinh, ba em lấy ngày thành hôn cùng má để điền thế, bảo cho dễ nhớ, cho dù mai sau có bị thêm khổ nạn thì thứ tháng ngày kia sẽ không phản bội, mãi lưu vào đầu óc. Trong đống tranh nằm úp mặt kia, có bức nào anh đặt tên là “Vết Sẹo”? Hoặc “Thương Tích”? Vụ cháy nhà đã làm em phỏng nặng, khi nhìn thấy dấu tích nhăn nhúm đó, liệu anh còn thương em?

Không một ai bỏ công thổi đi những đốm lửa run rẩy trên đầu các cây nến nhỏ cắm xiêu vẹo trên mặt bánh. Chúng sẽ thầm lặng đi tới hết đường để rồi tắt ngúm, nhưng khi chúng hấp hối, chúng còn đủ lực để soi cho tôi thấy vết bỏng cháy đã thành sẹo sau mông N. Nó làm da thịt ở đó co rúm lại để phá bớt một hình thế vốn tròn trịa. Trước, tôi chỉ vẽ bán thân N. trong động tác đang cởi áo. Giờ đây thì N. thôi ngượng ngùng dấu che. Hãy cùng nhau ăn mừng sinh nhật, nghe anh. Chúng tôi nằm xuống giường và chính tay N. đã thiện nguyện mặc chiếc áo mưa cho xác thân tôi đợi cơn giông lũ đổ về…

Tôi xoá bỏ truyện ngắn này, không nằm trong mục lục cuốn sách sẽ mang đi in. Người bạn hỏi thăm rằng tôi đã gặp tay hoạ sĩ ấy để xin cái mẫu bìa chưa? Rồi, anh ta dễ chịu hơn tôi tưởng, chỉ cho mà không nhận một đền đáp nào cả. Ừ, tay ấy chơi được. Hắn từng nếm trải hương vị dịu mát cũng như sóng gió bức bối ở cuộc sống này. Hắn là nạn nhân giữa một cuộc tình tay ba. Hai mẹ con cùng yêu mù quáng riêng hắn. Một tình duyên đầy thương tật. Mình còn giữ một bức tranh thuở đầu đời của hắn, dùng toàn gam màu lạnh, vẽ một con mèo co thân dưới chân giường trông lên con chim bất động ở trong lồng. Bức tranh thần sầu ở chỗ, là khi nhìn ngắm bạn sẽ bắt gặp ở đó nguyên vẹn nỗi bất an, ngầm thông báo một tai ương sẽ xẩy tới. Đó là thời gian mà hắn ký tên X. Toàn bộ bức tranh chỉ duy có mẫu tự ấy là màu đỏ.

Tôi còn một ít tiền, tôi nghĩ nên mời Xê hoặc Dịch tới một quán ăn, thế lời cảm ơn về những gì hắn trao cho. Cuối đường vẫn là nghĩa trang cô quạnh thiếu kẻ viếng thăm vọng tưởng khấn nguyện. Cửa đóng, gõ không nghe hồi đáp. Tiếc công, tôi chưa muốn về vội, linh cảm là hắn quanh quất đâu đó, không xa. Tôi thả bộ đi men ngoài hàng rào phân định ra vuông lãnh địa, bóng chiều bắt đầu bôi xoá những hình thể, chỉ có những tấm bia mộ màu trắng là biết phát quang. Và rồi tôi trông thấy hắn. Đối mặt là tảng xi-măng khắc ghi tên tuổi tháng ngày sinh tử của kẻ bất hạnh. Là ai đã bỏ cuộc chơi? Là người tình 17 bé nhỏ, hay phần mộ má người yêu? Những cây nhang được thắp, được cắm trước bia có gió thổi qua làm chớp đỏ từng hồi, yếu mệt. Tôi nhớ có lần nói với hắn, khi tập truyện hoàn thành, bản đầu tiên tôi dùng để mồi lửa nguyên hai trăm trang chữ. Tôi muốn người ở cõi âm chứng giám trước. Lần đó hắn nhìn tôi không nháy mắt, có tin không, hắn nói, hiện tại mình chẳng còn giữ được một bức tranh nào cả. Mình khánh kiệt trước cuộc đời này. Xê rồi Dịch, cứ loay hoay mà làm gì nhỉ?

Hồ Đình Nghiêm

Người quen

BS. Phan Quý Nam

(Nguyên Giám đốc Bệnh viện Nguyễn Tri Phương)

 Phạm Tín An Ninh    

June 7, 2022    

Post by Sơn râu 9 Aug 2026

Những ngày cuối năm, bệnh viện ít nhộn nhịp. Người nằm bệnh tại các khoa thường nôn nao xin bác sĩ về sớm để còn kiếm tiền mua áo mới cho con và sửa soạn đón Tết. Chỉ có những bệnh thật nặng mới phải nằm lại theo yêu cầu của bác sĩ và một số trường hợp chính người nhà bệnh nhân xin ở lại bệnh viện để… trốn Tết vì quá nghèo. Khu vực hành chánh của bệnh viện, gồm cả ban giám đốc, buổi chiều càng vắng vẻ hơn.

Cuốn sách mua hồi đầu tuần mới đọc chưa hết 2 chương còn nằm trên bàn làm việc. Tôi lật từng trang sách định đọc tiếp nhưng không tập trung được vì thấy có bóng dáng một anh bộ đội cứ đi qua đi lại trước phòng như muốn tìm hỏi việc gì. Bước vội ra cửa vừa lúc anh nhìn vô phòng:

– Hình như anh muốn kiếm ai?

– Dạ, báo cáo đồng chí, em muốn tìm giám đốc.

– Thưa tôi đây, anh tìm có chuyện gì không?

– Dạ, báo cáo đồng chí thủ trưởng, em muốn nạp đơn xin giảm viện phí.

– Vậy thì mời anh vào.

Cô thư ký thấy khách vào, định rót nước mời thì tôi yêu cầu:

– Em cho xin 2 ly cà phê đá đi, khát nước quá.

Tôi nhìn anh, gợi chuyện:

– Sao thấy anh… quen quen, mà anh là bộ đội đóng quân ở đâu?

– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, em là bộ đội miền bắc, quê ở Thái Bình, khi giải phóng có thời gian dài đóng quân ở Trảng Lớn, sau đó chuyển lên Đồng Ban cho đến bây giờ.

– A, quê lúa Thái Bình. Trước đây, hồi còn đi học trung học, tôi có đọc sách của mấy nhà văn (trong này) viết về quê lúa Thái Bình, nhất là Hải Hậu…

– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, đó là quê em… Hình như thủ trưởng là người trong này?

– Mà sao anh hỏi vậy?

Anh ngập ngừng:

– Dạ, tại thấy thủ trưởng nói chuyện.. “khác” với với cấp trên của em.

– À, không giấu gì anh, tôi bác sĩ ra trường trước 1975, học ở Huế. Mà hồi Trảng Lớn anh ở đơn vị nào nhể?

– Báo cáo đồng chí thủ trưởng em ở L1T1 (trung đoàn 1, tiểu đoàn 1).

– Nhưng anh làm gì ở đó?

– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, em làm quản giáo, quản lý các sĩ quan ngụy quân đi cải tạo.

– Hèn gì thấy quen quá. Tôi nhớ ra rồi, anh phải là… thiếu úy X. không?

Anh trố mắt nhìn tôi, vừa dò xét, vừa thận trọng:

– Báo cáo, đúng là khi đó em là thiếu úy, sao thủ trưởng biết tên em?

– À, hồi đó, tôi là y sĩ trung úy cải tạo ở L1T1 và anh là quản giáo của tôi. Có lần nửa đêm, anh gọi tôi lên bắt làm kiểm điểm vì kết tội tôi “coi thường cách mạng” “không khai báo trung thực với cách mạng, có thành tích giết nhiều cán bộ nên mới đăng ký nghĩa vụ đã thăng quân hàm trung úy. Ai có lệnh đi nghĩa vụ, nếu ở Thủ Đức, học một năm gắn quân hàm chuẩn úy, ai học lâu hơn ở Võ Bị Đà Lạt, gắn quân hàm thiếu úy, còn anh, mới vào lính đã mang quân hàm trung úy, vậy mà lý lịch không thấy khai thành tích chống phá cách mạng, giết hại bao nhiêu cán bộ. Láo…”.

“Chắc anh không nhớ, hồi đó anh chửi tôi ngoan cố, đập bàn đá ghế tùm lum…”

Mồ hôi trán anh đổ ra. Anh hốt hoảng nhìn tôi, tay chân lúng ta lúng túng, mặt cúi gằm nhìn đất:

“Em xin lỗi thủ trưởng”.

Một thoáng, trong đầu tôi hiện nhanh loạt hình ảnh đói lạnh, cơ cực của những ngày “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá…” trong trại cải tạo, khác với (một lần đi công tác ở Đức), có thấy lằn ranh “vô hồn”ngày xưa là vết tích của bức tường Berlin ô nhục, nơi hai chân mình đứng chênh vênh bên hai bờ tử sanh, lằn ranh như phân cách giữa nề nếp giáo dục và bản năng hoang dã, giữa tình người và sự cuồng trí; rồi những đêm trực kinh hoàng trong mùa dịch sốt xuất huyết làm việc không ngơi tay đầy tiếng rên khóc hoảng loạn của trẻ con, của những người dân nghèo, ít học, thiếu thốn đủ thứ thuốc men, phương tiện.. Và bây giờ, ngồi đây…

– Báo cáo đồng chí thủ trưởng, hồi đó em không biết, chỉ làm theo lệnh chính ủy. Thời gian đầu, chúng em chưa biết, sau này thấy có nhiều người như thủ trưởng quá, chính ủy đi hỏi lại mới biết là mình thiếu hiểu biết, kết tội sĩ quan cải tạo máy móc, ngu xuẩn…

Tôi hít vào một hơi thật dài rồi nói nhanh:

– Thôi anh uống cà phê đi, nước đá tan hết rồi. Chuyện cũ, tôi quên rồi, bây giờ tôi là thầy thuốc anh là người cần giúp đở, thế thôi. Yên tâm đi.

Rồi tôi đọc hai câu thơ như đọc cho chính mình nghe và tôi biết chắc anh nghe mà chẳng hiểu gì cả:

Ngày mai, chẳng biết ra sao nữa,
Mà có ra sao, cũng chẳng sao!

Anh thở ra nhè nhẹ, hai tay bưng ly cà phê, lắp bắp:

– Mời thủ trưởng.

Tôi cũng bưng ly:

– Dạ, mời anh. Mà người nhà anh đau ra sao? Gọi tôi là bác sĩ được rồi, dễ nghe hơn.

Anh nói một hơi:

– Bố em ngoài Thái Bình vào thăm, chẳng may bị sốt ho kéo dài, bác sĩ chẩn đoán là Viêm Phổi có nước màng phổi đã nằm điều trị, chích thuốc 2 tuần, bác sĩ báo vài ngày nữa có thể xuất viện về điều trị tiếp ở nhà. Nhưng em sợ viện phí nhiều quá, không đủ tiền nên y tá có hướng dẫn làm đơn xin giảm 50%. Mong thủ trưởng giúp em. Báo cáo thủ trưởng, ngày xưa chỉ làm theo lệnh trên. Hồi đó, em còn trẻ, dốt nát…

– Tôi hiểu, thôi cho tôi xem lá đơn.

Tôi liếc nhanh những hàng chữ nghiêng ngã, xiêu vẹo rồi trả lời:

– Bây giờ như thế này nhé… Thiếu tá X xin giảm 50% nhưng tôi ký duyệt miễn phí cho anh 100% vì anh là…người quen. Được không?

Anh như không tin vào lời tôi nói, trố mắt nhìn không chớp vào người đối diện, người một thời là tù cải tạo của mình:

– Thật không thủ trưởng. Xin lỗi… báo cáo… bác sĩ nói thật chứ?

– Hồi nhỏ , tôi được dạy, không nói gạt người khác vì bất cứ lý do gì…

Có khách và cô thư ký lấp ló ngoài cửa, tôi nói nhanh:

– Bây giờ tôi là thầy thuốc. Trong gia đình, ba tôi vẫn dạy tôi, “trước khi trở thành thầy thuốc, trước khi trở thành người quản lý, con phải học làm một con người đã”. Thôi sắp Tết rồi, thay mặt bệnh viện, tôi chúc mừng bác trai lành bệnh, chúc bác và gia đình anh năm mới sức khỏe, nhiều may mắn. Anh chờ cô thư ký đóng dấu rồi nhận lại lá đơn, về gửi lại cho cô y tá. Bây giờ tôi có khách, không thể lên thăm bác trai cùng anh, xin lỗi nghe. Thôi chào tạm biệt thiếu tá X. Ở Đồng Ban, ngày xưa, tụi tôi phá rừng, làm đường, làm cầu ở đó. Bây giờ chắc khác xưa nhiều lắm…?

Anh nói lí nhí mấy câu gì tôi không nghe rõ, rồi đứng dậy, vội vàng đi theo cô thư ký lấy lá đơn có ký tên, đóng dấu và bước đi lính quýnh. Lâu lâu, lại ngoái nhìn phía sau như sợ tôi đòi lại lá đơn.

Tôi ngồi yên trên ghế nhìn ra sân bệnh viện chiều cuối năm. Những tia sáng xuyên qua tàn lá vẽ thành những vệt nắng nhảy múa lung linh sau từng cơn gió nhẹ như minh họa cho bản nhạc xuân vui tai ai đang mở ở phòng bên cạnh. Bầu trời phía trên như cao hơn, xanh hơn mọi ngày.

20/6/2016

BS. Phan Quý Nam

(Nguyên Giám đốc Bệnh viện Nguyễn Tri Phương)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Aug 2026

Còn vài ngày nữa là tới tháng 4, không phải tháng 4 năm 1975 mà là tháng 4 của ba mươi năm sau, năm 2005. Ở Saigon của nhiều người là tháng tư, nhưng ở Banmêthuột, Pleiku, Quảng Trị, Huế rồi Đà Nẵng … là tháng ba. Ba mươi năm trôi qua đối với những người đang sống trong hạnh  phúc là quá nhanh để người ta không còn nhớ gì nữa,nhưng ba mươi năm đối với những người cùng khổ, những người mất mát, đang kéo lê cuộc sống là quá dài, quá dài nên người ta khó có thể quên. Những gia đình đã chạy loạn trên đường số 7B từ Phú Bổn về Khánh Dương, những con người đã vượt đèo Hải Vân cố tìm con đường sống hy vọng về hướng Nam. Những bãi biển Thuận An, Sơn Chà, những địa danh Đại Lộ Kinh Hoàng, Cầu Đá mà chúng ta đã để lại bao nhiêu thây dân, xác lính, quân cụ, chiến xa … không còn dấu vết gì trên thực địa, nhưng không có lẽ trong lòng chúng ta cũng không còn lại gì? Trên những tờ lịch vô tri cùng những con số lớn số nhỏ, chữ đen chữ đỏ chúng ta với tay bóc mỗi ngày, có lẽ cũng không còn mang lại cho chúng ta mảy may chút suy nghĩ nào?

Tôi có một người bạn nguyên là hạm trưởng một chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam, tháng 4-1975, đang tu nghiệp ở Hoa Kỳ, anh vội vã trở về tìm mẹ, tìm vợ con và sau đó thì mọi sự đã trễ tràng, khăn gói lên đường đi cải tạo. Ra tù, người hạm trưởng của chế độ cũ là món hàng đắt giá cho những người tổ chức vượt biển tìm kiếm để đưa con tàu ra khơi, nhờ đó anh đã thu xếp đưa cả gia đình đi cùng chuyến. Cuối cùng thì rồi cũng tới đất liền, nhưng người trên tàu đã trải qua những ngày đói khát, kinh hoàng vì cướp bóc.

Tất cả đều mệt mỏi, kiệt sức, không ai chia sẻ ý nghĩ trong đầu với ai, nhưng ai cũng cầu nguyện, ai cũng tự hứa với lòng mình sẽ làm những công việc thánh thiện, tốt lành, sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc sống nếu, Trời, Phật, Chúa và Ơn Trên .. cho họ được sống và đến bến bờ. Để được sống thôi, còn ngoài ra tất cả đều là vô nghĩa. Tất cả mọi người lúc bấy giờ đều thánh thiện, đều tốt lành như thiên thần, như những đứa trẻ sơ sinh không tham lam, không sân si, không mưu tính. Như người đang bị bệnh nặng chỉ ao ước có một điều là mạnh khỏe, như câu nói “đừng cầu không bệnh tật, không bệnh tật thì tham dục dễ sinh”. Người bệnh tật tâm hồn còn trong sáng như vậy, huống gì người đang ở trong thời điểm “thập tử nhất sinh”, cái chết chỉ gần trong gang tấc.

Sự tình cờ, trong số những người đi trên chiếc tàu vượt biên ngày ấy, sang Mỹ đã có khoảng mười người được định cư tại cùng một thành phố ở miền Đông với người lái tàu Hải Quân ngày trước. Họ thân tình, quen biết, đi lại với nhau và kết thân như những người trong một đại gia đình. Nghĩa đen họ là những người đã “cũng người một bội một thuyền đâu xa”. Mỗi năm cứ vào cuối tháng tư, người lính hải quân này đã mời những người “cùng thuyền” đến nhà mình dự một buổi tiệc nhỏ, để họ có dịp gặp gỡ, trao đổi tin tức, hàn huyên tâm sự, giới thiệu con cái, gia đình với nhau. Những người này đang trong thời gian băng bó vết thương, phục hồi tâm trí, làm lại cuộc đời, họ thương yêu, quí mến, thường xuyên điện thoại hoặc thăm viếng nhau.

Nhưng rồi mọi sự không như người ta tưởng, người lính hải quân ngày nào đành ngậm ngùi nhại theo lời thơ của Vũ Đình Liên:

“Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người vượt biển nay đâu?”

Người ta có thể có hai tuần vacation, có vài ngày ra bãi biển, có suốt đêm ở sòng bài, nhưng một buổi chiều gặp

lại những người bạn “đồng thuyền” xem ra khó khăn là dường nào. Có muôn nghìn lý do để người ta có thể nêu ra vì bận bịu, đa đoan công việc làm ăn, cưới hỏi, thù tạc. Bây giờ xem ra ai cũng làm ăn khấm khá, da dẻ hồng hào, con cái thành đạt, còn thấy đâu cái hình ảnh râu tóc, gầy gò, xanh xao, mất nước, mệt mỏi cái ngày vừa leo thang giây lên boong tàu của chiến hạm, thương thuyền hay lội cạn trên bãi biển nào đó của Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân hay Thái Lan … Ôi ngày đó thật xa rồi, nói làm gì những chuyện đã trôi qua hai ba mươi năm. Vì không phải là bác sĩ chuyên môn, tôi chỉ biết đại khái rằng bệnh Alzheimer là thứ bệnh quên, quên chuyện gần trước, quên chuyện xa sau, như họ có thể quên đường về nhà sau buổi đi làm, quên tên người vợ bên mình mà hỏi “ai đây?”, nhưng họ có thể nhớ dễ dàng những chuyện xa xưa hồi còn thơ ấu như tên thằng bạn hay đánh bi đánh đáo với mình.

Nhưng gần đây, lại có thứ bệnh Alzheimer ngược đời, người mang bệnh lại hay quên chuyện cũ dù là chuyện lớn mà lại thích nhớ chuyện hiện tại, nhất là những chuyện nhỏ tủn mủn. Những người này hầu hết là người già, đã gần đất xa trời. Có người quên ngày xưa họ đã bỏ Cộng Sản về thành, quên cả chuyện di cư vào Nam sau hiệp định Genève để tìm Tự Do năm mươi năm về trước đã đành, chuyện di cư lần thứ hai mới ba mươi năm đây thôi cũng đã quên tuốt. Có người khác quên lúc được nhảy bàn độc, mỗi lần thăng quan tiến chức là đổi lấy hàng nghìn thuộc cấp phải hy sinh, hàng vạn vành khăn tang quấn trên đầu quả phụ cô nhi. Họ quên cả những lời nói do chính từ miệng họ thốt ra, cũng mới ba mươi năm đây thôi, để dành những khoảng trống trong đầu cho những chuyện lỉnh kỉnh, linh tinh miễn sao có lợi cho miếng ăn, giấc ngủ của họ là được.

Họ làm như, muốn đem cả thân thế, sự nghiệp của họ để đổi lấy chút vinh thân cuối đời. Phải chi ai cũng như ông Kiềm Lâu là một bậc cao sĩ nước Tề về thời Xuân Thu. Tính ông thẳng, bao giờ cũng giữ đạo phải, không chịu khuất thân để lụy đời. Ông nghèo lắm, lúc mất chỉ có cái chăn, không liệm đủ thân thể. Thầy Tăng Tử đến viếng thấy vậy nói:

– “Để lệch cái chăn đi thì liệm đủ thân thể.”

Bà vợ ông bảo:

 -“Lệch mà thừa không bằng ngay mà thiếu.” Lúc sinh thời, tiên sinh chỉ vì tính thẳng mới được như thế. Bây giờ tiên sinh mất mà liệm lệch cho tiên sinh thì chắc không được hợp ý tiên sinh. Tăng Tử nghe, không nói gì được nữa. Đó là “quân tử Tàu” mới dại vậy, còn quân tử … ta, ai chửi mặc ai, miễn mình vẫn đỏ thịt thắm da! Vả lại, chúng tôi cũng xin thưa rằng, nhân gian đã có câu: “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.”

Bút ký chiến cuộc Việt Nam

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Dẫn Nhập:

Sau bài Đĩ & Điếm, người viết có cảm giác “ghê ghê” khi tự hỏi: Chẳng lẽ giữa con người, trong lịch sử (lại có thật?) những “Á Thánh; Phó Thượng Đế” tổng hợp những nhân vật cái thế điễn hình như Nhậm Ngã Hành, Tả Lãnh Tiền, Nhạc Bất Quần chỉ có trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung… Những kẻ “nhất thống quần hùng-Muôn năm trường trị” – Nhưng hơn hẳn các danh tính tiểu thuyết kia, bởi từ thực tế, dẫu chết (lâu) rồi, các “đấng” vẫn tồn tại với tượng hình nơi lăng, đền, miếu thờ ngang hàng với chư vị Phật Tổ, Bồ Tác của Đạo Phật.

Không phải chuyện truyền kỳ, huyền sử như Lạc Long Quân, Vua Hùng, Thánh Gióng… mà hiện diện đầy đủ hình ảnh cụ thể trên đồng bạc mua con cá, lá rau; ở nghị quyết trung ương đảng, trong sắc lệnh nhà nước, lần chú nhỏ đá trái banh, khi chiến sĩ gái vỗ tay xem bộ đội anh hùng diễu binh! Lực lượng “thừa tự với muôn đời sự nghiệp chúng ta” không phải tự nhiên mà nên thành, nhưng được xây dựng, giáo dục, chỉ đạo bởi “đơn vị bất (hoại) tử” Lénine (1870-1924) với sấm ngôn đại loại: “Chúng ta (Đảng/Người Cộng sản) không phải là những kẻ chủ trương hòa bình. Thật là vô lý khi đòi hỏi phong trào thợ thuyền cách mạng không được (thực hiện) chiến tranh cách mạng, nếu chiến tranh nầy phụng sự cho chủ nghĩa xã hội”. Sấm truyền từ ngày 8 Tháng 4, 1917 LUÔN được “Bác-Đảng ta” rập khuôn áp dụng từ 2 Tháng 9, 1945; 19/12/1946; 20/7/1954… 1960, 1968, 1972, 1973, và trước, sau 30 Tháng 4/1975… tiếp tục tại hôm nay với những “thừa tự ủy viên” thực hiện, phát triển.

Với “trí tuệ cao nhất của thời đại” hệ thống thừa tự chủ chốt luôn vững tin: “Trong vòng năm-mươi năm, khoảng 1970, những Quân Lực (Tất cả của bọn phản cách mạng) không còn ý nghĩa nào nữa. Chúng ta (Người/Đảng CS) chỉ cần làm ung thối kẻ thù (Bọn tư bản rẫy chết) trước khi trận chiến bùng nổ, bởi vì bộ máy chiến tranh của chúng không thể xử dụng trước giờ cần thiết!” Sấm ngôn (cũng) được tuyên cáo từ 1918 bởi Tổ Sáng Lập Lénine chứ không ai khác. Tóm lại, “Sấm Ngôn/Nghị Quyết” đã được thành hình và tồn tại hơn 100 năm (1918-2026), với tượng Lénine hiện vẫn đang đứng nguyên hình nơi Hà Nội. 

Một.

Ở Đại Hội Đảng 3 (9/1960), Bác (Đã nói khá đủ về tài và tình của bác trong Đĩ&Điếm) “quán triệt-Chữ, nghĩa của ta” để những người gắn bó với Nam Bộ, Trung Bộ như Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng…vv vào Bộ Chính Trị đông đảo là Cụ (Luôn được Trần Đĩnh viết hoa trong suốt hơn 1000 trang hai cuốn Đèn Cù (ĐC, Người Việt Book, Nam Cali, US 2014) muốn bày tỏ ý gửi gắm công cuộc giải phóng miền Nam cho họ! Nhưng chuyện “Cụ của Đĩnh” không phải là chủ điểm bài viết nầy. Chúng tôi tiếp tục với những kẻ thừa tự do bác đích thân tuyển chọn. 

Trước tiên là Tố Hữu, đệ nhất văn công của chế độ. Đây là nhân sự nhờ đã viết những vần thơ hừng hực “thi khí” (Mượn chữ “văn khí” từ Ngô Nhân Dụng/Báo Người Việt, Nam Cali khi tán tụng Trần Đĩnh) nên đã lên chức Phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (Phó thủ tướng) đảm trách nông nghiệp khiến đưa đến tình cảnh cả nước gần chết đói sau 1975, sau khi đã tịch thu hết lúa gạo miền Nam chở ra Bắc trả nợ cho Tàu.

Tố Hữu bị mất “uy tín” vì chức năng “nhà (làm) thơ (lại) đi làm kinh tế (trật)” qua những vụ gây nên khủng hoảng tiền tệ (1985), cải cách nông nghiệp (1981) nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ thực tế, chỉ còn làm một chức vụ nghiên cứu vờ vĩnh – Tương tự của Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp “được” đề cữ giữ chức “Chủ tịch Ủy ban dân số”, nhằm kiểm soát đàn bà sinh đẻ (1984-1987). Trở lại chuyện năm 1953, Tố Hữu đã thành danh nhờ màn kêu khóc: “Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi! Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một. Thương ông thương mười!“ để ngợi ca tên sát nhân thấm máu 20 triệu dân Nga và các sắc dân thuộc Liên Bang Sô Viết chết (5/3/1953). Tố Hữu không khóc một mình, y có “đồng chí bác” qua lần đồng tế bi (hài) kịch diễn hình như sau: “…Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường. Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào theo sau là Cụ Hồ. Tố Hữu bước lên sân khấu, cầm lên hai tay bưng một vật gì ấp vào ngực, từ từ quay lại nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông màn đò hiện nên chân dung đại nguyên soái Stalin…  Cụ Hồ nức nở không ngừng đưa khăn tay màu trắng lên lau nước mắt. Và nước mắt thì cứ chảy trên hai má Cụ đỏ bóng, vì khóc, vì xúc động. (ĐC, Cuốn 1/Trg 73-74).

Mấy năm sau, Tố Hữu bỏ “Tổ quốc” Xô Viết, chuyển qua “Thánh địa” Trung Quốc với bài hát mới: “Mao Trạch Đông! Mao Trạch Đông! Tôi đã thấy: Dáng người cao lồng lộng. Đẹp như một ngọn cờ hồng. Trên mặt người. Mặt đất mênh mông.” Hoặc: “Bác Mao tuy ở rất xa. Bác Hổ ta đó ấy là Bác Mao”. (ĐC, Cuốn 1/trg 233). Thơ như thế quả thật rất xứng đáng với thành tích giết 50 triệu người Hoa (Có thể cao hơn nữa, theo tài liệu của nhà nghiên cứu người Mỹ Stuart Schram (1924-2012) viết (về) Trung Hoa CS, nêu ra con số 70 triệu).

Kể ra không ngẫu nhiên, Tố Hữu được cha mẹ đặt cho tộc danh Lành (1920-2002) với mong ước lớn lên sẽ là người hiền lương, tốt lành ai ngờ Lành đi theo cộng sản với “nghề giết người bằng thơ” – Chắc rằng cổ kim đông tây không có chữ/thơ nào máu me bằng: “Giết! Giết! Bàn tay không phút nghỉ! Cho ruộng đồng lúa tốt. Thuế mau xong…” của “Thi Sĩ Nhân Dân Lành/Tố Hữu”. Thật ra Lành cũng không đến nổi “máu” như thế, nhưng do “nhà thơ” ăn phải bả của ông bác – Chủ tịch HCM người ký Sắc lệnh 197/SL, 19 Tháng 12/1953 – Sắc lệnh phải giết (cho) đủ chỉ tiêu 5% tổng số bị “quy thành địa chủ” ở nông thôn Miền Bắc mà bác nhận được từ Stalin và Mao trong lần đi cẩu viện (quân sự) 1952 để đánh Pháp. Nhưng Lành/Tố Hữu không đáng bao nhiêu, còn có những “đấng thừa tự” siêu việt khác.          

Hai.

Giới thừa tự không chỉ loại văn công với những lời thơ nhảm nhí tán tụng, suy tôn như kể trên. Kẻ thừa tự phải là một đại tướng quân dẫu không hề học bất cứ trường lớp quân sự nào, kể cả học chữ – Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh.  Thanh tên thật Nguyễn Vịnh sinh ngày 1/1/1914 trong một gia đình bần nông ở Thôn Niêm Phò, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên-Huế. Gia đình bần cố tức là Vịnh không (được) đi học nên (tất nhiên) đi làm cách mạng/cách mạng vô sản (!) Tháng 8/1945, Vịnh được cử (Ai cử?!) đi dự Quốc Dân Đại Hội ở Tân Trào, gặp Hồ Chí Minh được đổi tên thành Nguyễn Chí Thanh. Đầu năm 1948, Trung ương Đảng quyết định giao cho Nguyễn Chí Thanh (tên mới) giữ chức Bí Thư Liên Khu Ủy Khu 4/Trị-Thiên, và Bác tặng thêm danh hiệu “Vị tướng du kích”.

Tháng 8/1959, Tướng du kích Thanh được điều động vào quân đội giữ chức Chủ Nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ Tổng Tư lệnh, Phó Bí thư Tổng Quân ủy Trung Ương, phong quân hàm Đại tướng. Bạn đọc đừng ngạc nhiên với cách thăng cấp quân đội tay ngang của bác?! Đây là thói “hạ mục vô nhân/dưới trời chỉ có ta” bác ta học từ Bác Mao – Người đã từng đánh giá Hán Vũ Đế (156 TCN- 87 TCN), Chu Nguyên Chương/Minh Thái Tổ (1328-1398) chỉ là bọn “Giương cung bắn ó diều /Thơ Tuyết”; hoặc đến như Thống Chế Hồng Quân Bành Đức Hoài khi cần thì hạ ngục và bắt phải ăn… cứt để (được) chết trong Cách Mạng Văn Hóa (1967-1974). Cách bác phong chức quân sự chỉ là những tiểu xảo như lần gắn lon “Đại Tá” cho thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh (1905-1990) nhằm để người nầy chỉ phải chào Tướng Raoul Salan (1899-1984) lần đi qua Pháp dự Hội Nghị Fontainbleau (9/1946). Chuyện của bác nếu cứ phải nhắc lại thêm một lần của nhiều lần vì dẫu đã nói trong Đĩ&Điếm cũng chưa đủ thiếu bao nhiêu.

Với chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại Tướng Thanh đã lập thành tích trong việc xây dựng chính trị, tư tưởng, hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, để có sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Viên tướng (gốc nông dân) nầy đã phát động chiến dịch: “…Đánh phá ác liệt tiểu thuyết “Phá Vây” của Phù Thăng vì cuốn sách có (một) câu: “Hòa bình là nguyện ước của vạn con người”! Rồi đánh tiếp tiểu thuyết “Vào Đời” của nhà văn quân đội Hà Minh Tuân (1929-1992), vốn là một chính ủy trung đoàn trong chiến tranh chống Pháp (1946-1954). Vào Đời của Hà Minh Tuân bị Đại tướng Thanh kết tội là “có lập trường giai cấp tiểu tư sản” (TrĐ-ĐC, Cuốn1/trg 234-235). Thật sự, Hà Minh Tuân công trận lớn, có học thức, phong cách hơn Thanh, vốn chỉ là một anh “Tướng du kích” Làng Niêm Phò Thừa Thiên-Huế.

Không những “chỉ đạo sâu sắc” trên mặt trận văn hóa/tư tưởng, Đại Tướng Thanh “Con người của những đột phá/Vị tướng của các phong trào (lớn)”, còn nâng cao khả năng lãnh đạo/nhận thức chính trị lên một tầm vóc mới qua sự kiện: “Năm 1963, Tướng Thanh viết bài đăng trang nhất Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận trung ương của đảng (Cũng cần nhắc lại, đánh giá của giới chính trị tư tưởng cộng sản gốc Bắc Kỳ, Hà Nội cho rằng Thanh chỉ là nông dân vô học)  kêu gọi nhân dân tiết kiệm lương thực với biện pháp là “Không ăn bún”. Thanh liệt bún vào bảng xa xỉ phẩm qua bài viết nầy lửa “Tại sao phải ăn bún?! (TrĐh, ĐC, Cuốn 1/Trg 235). Tuy nhiên, cũng nên nhắc lại sự kiện: Khi ăn thịt chó nhà Tố Hữu, chính Thanh đã một lần ca ngợi, luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc (ta) – Thanh đã rao giảng tuyên ngôn: “Thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm !“ (ĐC, Cuốn 1/Trg 173)”. Thanh còn tỏ ra rất “văn minh”, ăn thị chó uống sâm banh Moet & Chandon ướp lạnh.

Tướng Thanh đột chết tại Hà Nội, 6/7/1967 trước cuộc Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân, 1968, Tuy nhiên, Thanh vẫn được coi là người dựng kế hoạch cuộc tấn công nầy, bởi chủ trương “nắm thắt lưng địch mà đánh” để đối phó với quân đội Mỹ. Nhưng TCK Mậu Thân chỉ đánh với Quân Lực Cộng Hòa nơi 40 thành phố, quân lỵ, thị xã Miền Nam. Chỉ riêng mặt trận Huế lực lượng cs có giao tranh với liên quân Việt-Mỹ, nhưng thành tích nổi bật là chôn sống hơn 5000 người, phần đông là đàn bà, người già kể cả con trẻ. Vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế đến nay vẫn duy trì cách phủ nhận: Do cộng sản địa phương Thừa Thiên-Huế (Quê hương của Nguyễn Vịnh/Chí Thanh) hạ thủ – Đảng- nhà nước ta ở Hà Nội không biết!    

Tuy nhiên Tướng Võ (Nguyên) Giáp vẫn phê điểm tốt cho Thanh: “… Tôi (Giáp) tin là nếu anh Nguyễn Chí Thanh còn sống trong thời điểm lịch sử ấy, kế hoạch tổ chức tập kích chiến lược năm Mậu Thân 1968, “có thể” sẽ được thực hiện chắc chắn hơn, thắng lợi “có thể” to lớn hơn và nhất là cái giá phải trả có thể được hạn chế hơn”. Thật ra Giáp muốn phê phán trách nhiệm về sự thua trận (quân sự) là do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (Phần Đĩ&Điếm đã trình bày) nhưng Giáp (rất) rét vì hai đương sự nầy nắm trọn quyền lực đến cả Bác (ta) cũng phải ngồi im nơi Bắc Kinh nghe đứa nhỏ hát “Bé! Bé! Bồng bông” sau khi đọc thơ chúc Tết “Máu nhuộm Miền Nam,” 

Ba.

Chúng ta đóng lại bài viết với một trong những thủ phạm cần phải gọi đích danh: Tổng Bí Thư Lê Duẩn – Người với cái đầu được tán tụng là có đến “200 bougies/hai trăm bóng đèn”. Nhân sự nầy với cái đầu cực kỳ ghê gớm kia có khả năng: ” Lê Duẩn không bận tâm tới ý người khác. Cán bộ cộng sản các cấp chỉ là những mặt người giống như các vách hang đá cho ông thử nghiệm độ vang dội của lời ông! Khi (LD) nổi cáu thì hai con mắt càng xáp lại gần nhau. tiếng nói càng ríu lại” (ĐC, Cuốn 1/Trg 186). Cái đầu “200 bougie” của tổng bí thư Duẩn do không hiểu Marx là cái gì hết nên mới xẩy ra hoạt cảnh hài hước như sau: “Khi Lê Duẩn nói hết (về Marx), Bình (NĐBình thư ký của Duẩn) lên tiếng:”Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến. Ngơ ngác một lúc, Thảo (Trần Đức Thảo, giáo sư tiến sĩ đại học Sorbone Pháp, năm 1951 xin “cụ Hồ về nước phục vụ kháng chiến”. Sau 1956 do dính líu với vụ Nhân Văn Giai Phẩm, tuy không bị tù nhưng được giao công tác cho ra nông trường chăn bò). Thảo nói: Tôi không hiểu tổng bí thư nói gì cả! Thảo vừa dứt lời, thoắt một cái rất nhanh, Duẩn đã nhào đến đằng sau lưng, quàng hai tay vào ngực anh rồi liên tiếp xốc lên, dội xuống anh mấy bận!

Hãy tiếp xem xét tổng bí thư Duẩn đã làm gì với thảm kịch Việt Nam. Với cái đầu “cực kỳ” Duẩn chỉ đạo: “Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới sợ lạm phát chứ ta, chuyên thì sao lại là lạm phát mà sợ (ĐC, Cuốn/Trg 187) Và chuyên chính vô sản là gì? Duẩn ngắn gọn vô cùng: “Người ta lầm Marx đã đề ra đấu tranh giai cấp. Không, nhiều người đã nói cái nầy trước Marx rồi. Vậy phát kiến vĩ đại của Marx là gì? Rồi Duẩn cười cười đưa cạnh bàn tay lên ngang cổ nói: Là như Jacobin thời Đại Cách Mạng Pháp – Giết! Thủ tiêu! Bạo lực! (ĐC, Cuốn1/Trg.187). Nhưng Duẩn không nói suông. Con người nầy với Đảng cộng sản đã lập nên thành tích qua báo cáo chính trị của Đại Hội 4, 1977: Đã đập tan của cuộc phản công lớn nhất của tên đầu sỏ tư bản, đế quốc với câu nói để đời hiện vẫn còn mạ vàng nơi đền thờ của Duẩn ở Nghệ An: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”. Về miền Bắc, Duẩn nói: Thành tựu to lớn nhất là đã thủ tiêu chế độ người bóc lột người (?) Các giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ!! (ĐC, Cuốn1/Trg. 462)

Kết từ.

Tóm lại “Thành tích” đã kể ra qua hai bài viết không chỉ là thành quả riêng của “Bác Hồ vô vàn kính yêu” luôn sống mãi trong “Sự Nghiệp Chúng Ta” – Khẩu hiệu chiến lược luôn đi kèm theo “Chân lý: “Không có gì quý hơn Độc Lập-Tự Do”. Thành tích nầy là tổng hợp của: Cách mạng Tháng 8, 1945 -Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 Tháng 9/1945 – Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 – Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 – Cải tạo Công Thương Nghiệp miền Bắc (1956-1958) – Đại Hội 3/Nghị Quyết 9 TUĐ/Đồng khởi miền Nam/1960 – Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 – Chiến Dịch Nguyễn Huệ 1972 – Chiến Dịch Hồ Chí Minh 1975… và tiếp tục tại hôm nay.

Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt vửa kể ra (không loại trừ một ai) được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh… được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt… và hiện nay với Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm. Danh sách sẽ rất dài nếu muốn kể đủ.

Bản thân tôi chỉ là một Con Người/Công Dân bình thường của Miền Nam không có trách nhiệm, khả năng, bổn phận nào khác như vạn triệu Người Lính VNCH trong giai đoạn hơn 81 năm của thời đoạn 1945-2026. Nay cuối đời chỉ muốn nói cho ra lẽ: Sự ÁC có Thật – Đảng Công Sản/CSVN là hiện thực Sự ÁC toàn diện và thuần thành nhất – Cách nói đơn giản của Phan Thúy Hà, sinh 1979 ở Nghệ An vùng đất khai sinh người, đảng CS.   

Phan Phi Danh

(Tháng 8-9/2014. Viết lại Tháng 7-8/2026)

Bút ký chiến cuộc Việt Nam – Đĩ và Điếm

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Lời Người Viết:

Do một nguyên tắc tự đặt định từ khi bắt đầu cầm viết, 1968 và tuân thủ đến hôm nay: Không viết điều sai quấy, xúc phạm đến tính chất cá nhân người khác (cho dù đối với những nhân sự cầm quyền chính trị-quân sự thuộc phía đối phương cộng sản). Nhưng đến hôm nay, nhân ngày 20/7/2026, sáu mươi-hai năm sau lần ký kết Hiệp Định Đình Chiến Geneve/The Geneva Armistice, hiệp định ký kết do hai đại diện (cấp thứ trưởng Pháp-Việt Minh) ấn định lần chia cắt tạm thời hai miền đất nước – Là tiền đề chiến cuộc 1960-1975, gây nên hậu quả, hệ quả nguy hại sâu xa đối với vận mệnh Việt Nam-Toàn thể đất nước Việt Nam mãi đến hôm nay.

Và hôm nay, hơn 50 năm/nửa thế kỷ sau 1975, những thế hệ người Việt sinh sau 1975 trong và ngoài nước phần đông vẫn lập lại những “luận điệu tuyên truyền quần chúng” của đảng cộng sản Hà Nội chủ trương, thực hiện trong những thập niên 1950, 60, 70… và tiếp tục sau 1975! Hóa ra, thành phần thế hệ trẻ nầy đã KHÔNG THẤY/KHÔNG HIỂU ra được một phần căn bản: Cộng sản/Cộng sản Việt Nam là Ai? Như thế nào? cho dẫu họ đang sinh sống, học tập, làm việc tại các nước “tư bản” Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Mà phần đông (lại) không muốn trở về VN! Tại sao? Thế nên, bài viết phải được viết nên.         

Dẫn Nhập:

Sinh hoạt nhân gian thông tục Miền Nam có phương cách gọi (theo) thứ bậc thai sinh: Anh Hai, Chị Ba… Không có “Anh/Chị Cả” cốt né tránh (kỵ, húy) thứ bậc “Cả” của Hoàng Tử Cảnh, “Con Cả” Chúa Nguyễn Ánh, nên gọi trại “Cảnh thành Kiểng – Chơi Kiểng, Đình Tân Kiểng, Kiểng chùa…”.

Nơi Miền Nam, giới nhà binh thuộc những thế hệ 1930, 40, 50… thêm thắt, điều chỉnh lối gọi trên bằng cách thêm vào tộc danh những nét/tính (độc đáo) của đối tượng (muốn) đề cập nhằm phân biệt người nầy, kẻ khác. Ví dụ: Ông “Minh Râu”/Tư Lệnh Không Quân (1967-1975) nhằm  phân biệt với “Minh Bự”, người hai lần giữ chức quốc trưởng, lập nên thành tích đánh sập hai nền cộng hòa (1963, 1975), cũng để xác định không phải là ông “Minh Đờn”, Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa (1971-1973).

Trong tinh thần, với thuật dụng (bất thành văn) kể trên, thế hệ trẻ tuổi (trong, ngoài quân đội) miền Nam chế biến, bày đặt thêm hai tính từ/hình dung từ rất ấn tượng: Đĩ và Điếm. Phải nói ngay, đây không là hai tính chất, hình thái mang tính phủ định/chê trách; cũng không phải để mô tả về một “nghề/nghiệp” không mấy thiện lành của những người nữ (lỡ hoặc cố ý) sa vào cảnh đoạn trường tương tự Thúy Kiều; hoặc diễn dịch những tay quá quắt như gã Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Trong nhiều trường hợp (lại) là đánh giá cao (gián tiếp) những anh đàn ông “hình dung chải chuốc, áo khăn dịu dàng” như nhân vật Thúc Sinh trong Truyện Kiều, hoặc những tay chơi có thành tích ái tình lừng lẫy cỡ Don Juan, Casanova của văn học, xã hội cổ điển Tây Phương.

Nhưng “Đĩ/Điếm” không chỉ là nét đan thanh thông tục của sinh hoạt nhân gian như trên vừa trình bày mà lịch sử VN từ 1945, 1946… dài đến 1954, 1960, 1968, 1972… trước, sau 1975 gần một thế kỷ đã cho thấy: “Đĩ-Điếm lại là đỉnh cao trí tuệ” từ diễn tiến vận động quân sự, chính trị, ngoại giao có “tính tiến công cách mạng hơn hẳn” của “Bác và Đảng ta”. Bài viết dưới đây xin được thật chứng minh.

Một.

Vào khoảng năm 1955, khu sân Bệnh Viện Đà Nẵng đường Lê Lợi (Trước Trường Phan Châu Trịnh, xây 1954, bị nhà nước cộng sản đập phá sau 1975) trước khi giao cho Sở Học Chánh Đà Nẵng mở Trường Nam Tiểu Học có cuộc triển lãm tranh ảnh về Việt Minh (Chưa có từ thông dụng Việt Cộng sau nầy). Thằng bé mười-hai tuổi vào xem triển lãm, nhìn thấy bức hình ông Hồ Chí Minh ngồi giữa một đám thiếu nữ mặc áo dài trắng với lời chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu không hiểu rõ nghĩa thế nào là “dâm bôn”, nhưng nhìn cảnh tượng một ông già (với râu dài) vây quanh bởi đám con gái, đàn bà thằng bé (cảm) thấy ra có điều gì kỳ chướng, bất thường – Do phản ứng (thẹn) của đứa nhỏ thụ nhận cách giáo dục thông thường của học đường, gia đình, xã hội người Việt từ Thế kỷ 19, 20 trước, sau 1954 – Nền giáo dục căn bản dạy người, liên hệ hai phái nam/nữ là một điều kín đáo, cần che dấu.

Tiếp theo những năm sau lần ra trường Đà Lạt 1963, đi hành quân lục soát những căn cứ địa Việt cộng, người lính vô tình tìm thấy tài liệu, hình ảnh “Bác Hồ với thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam/Không có giới thanh niên” ra thăm sau 1960 (Thời điểm thành lập Mặt Trận Giải Phóng 20/12/1960) – Ảnh nào trông ”Bác cũng rất “đã” khi ôm hôn các em, cháu gái – Với phản ứng kinh nghiệm tự nhiên của đàn ông (chưa tới 30), bản thân hiểu ra khoái cảm (sinh tâm lý) của phái nam (lớn tuổi) khi tiếp xúc với phụ nữ trẻ, thiếu nữ và thiếu niên nhỏ tuổi/Khuynh hướng tính dục ấu dâm. Sau nầy, khi đọc bài viết và hình ảnh từ cuộc phỏng vấn (20/4/1966) của ký giả Úc Wilfred Burchett đăng trên tuần báo Life thì cảm giác về một “Bác Hồ với phản ứng sinh tâm lý mạnh mẽ kích động nhục cảm” càng thêm cụ thể rõ rệt. Cảm giác, phản ứng mà Burchett đã diễn tả: “Bác Hồ là một nhân cách lớn nhất mà tôi chưa hề gặp, người với phong thái thuần nhã giản dị với ”tính nhân bản” cao nhất”.

Nhưng không chỉ chừng ấy, cảm giác của đứa nhỏ năm 1955 khi nhìn thấy hình ảnh “Bác Hồ vây quanh bởi đám thiếu nữ”; hoặc phản ứng của gã lính trẻ do hiểu ra mối kích động nhục thể từ những tấm hình “Bác hôm hôn, ôm các cháu thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam ra thăm” … Tất cả cộng với hình ảnh, nhận định của Burchett nói rõ viết trên báo Life trong năm 1966 có thể đưa đến kết luận chung nhất: Bác “Đĩ” thật/Bác rất “Đĩ”. Nhận định có thêm chứng cứ: Bộ ảnh bác thăm Ba Lan năm 1950 do Lisa Larsen (1925-1959) cũng của Báo Life bấm ảnh. Bộ ảnh có những những tấm hình rất ướt: Khi Bác ôm hôn môi vợ thủ tướng cộng sản Ba Lan Cyrankiewicz (1911–1989); hoặc khi bác nhân cơ hội hôn bó hoa (tặng) lẫn người nữ cầm hoa. Những bức ảnh đẹp và “mặn” đến nỗi bác không dằn lòng nên đã ngỏ lời tán Lisa: “Nếu còn trẻ tôi đã yêu cô rồi!” Bác nói thật chứ không hề đãi bôi.

Tháng 2, 1959 trong lần thăm viếng Indonesia, bác 69 tuổi (theo khai sinh chính thức, 1890) đã thố lộ với một bé gái: “Em đẹp lắm!” sau khi đã hôn đủ “ba phùa” ngọt lịm: Ôm hôn bên trái – Ôm hôn bên phải – Hôn môi! Bác hôn ướt đến nổi báo The Straits Times, số ra ngày 8 Tháng 3, 1959 (Hiện lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Singapore) phải đăng lời báo động: “Nên bảo Chủ tịch Hồ phải ngừng hôn hít con gái…/President Ho is told to stop kissing girls…”. Bác không những chỉ hôn đàn bà, con gái, trẻ nít… Bác hôn cùng khắp. Bác hít đủ loại: Bác ôm hôn Thủ Tướng Ấn Độ Nehru, Bác ôm hôn ông da đen quốc trưởng Châu Phi, Bác ôm hôn đồng chí Liên Xô da trắng… Lẽ tất nhiên đồng chí vĩ đại Trung Quốc những là đối tượng không thể thiếu: Bác ôm hôn (chằm chặp) Chủ Tịch Quốc Vụ Viện/Đồng Chí Thủ Tướng Châu Ân Lai đến méo mặt, ngộp thở nhân lần đến Liễu Châu, nam Trung Hoa dự hội nghị mật quyết định số phận Việt Nam (3-5/7/1954). Chuyện “hôn, hít” của Bác đến đây tạm đủ. Bài viết qua chủ đề thứ hai: “Điếm”

Hai.

Bác không chỉ “Đĩ chất lượng” như trên. Bác còn “Điếm đúng tiêu chuẩn” hơn hẳn. Nếu phần trên “Đĩ” đã được bổ túc, xác chứng qua nhận định của Burchett. Tuy nhiên với bản năng/kỹ năng/tri thức của một người phương Tây (vốn) thuần lý, Burchett chưa biết/không thể biết những khả năng/tính chất/việc làm THẬT sau đây của “Bác” đối với những người từng liên hệ… Jean Sainteny (1907-1978), Ủy Viên Cộng Hòa Pháp, người đã nhảy dù xuống Hà Nội (10/1945) để tiếp xúc với “Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh” nhằm thực hiện kế hoạch (không tưởng): Thiết lập “quan hệ ngoại giao với chính phủ HCM – Một tổ chức chính trị chưa được bất kỳ quốc gia nào công nhận kể từ lần thành hình 2/9/1945 tại Hà Nội” có mục đích tái lập, duy trì quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương, hớt trên tay Đồng Minh, cụ thể đối với Mỹ. Kế hoạch ngoại giao (không thực tế) do Sainteny thiết kế, xác lập đã bị phá bỏ bởi chiến tranh Pháp-Việt Minh (19/12/1946-20/7/1954). Nên năm 1972, trong hồi ký cá nhân Sainteny đã phải kêu lên: “Ông ấy con như cáo muốn vồ lấy tôi”–Dẫu rằng Sainteny luôn kỳ vọng: “HCM (vẫn) là một Gandhi của Đông Dương!”

Nhưng không chỉ một mình Sainteny bị “Bác phỉnh” mà Tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương (sau 8/1945), khi đưa quân từ Nam ra Bắc (thay thế quân Quân Dân Dảng Trung Quốc của Lư Hán) trong ngày 18 Tháng 3, 1946 đã có quyết định “… Nên bàn thảo với Việt Minh với mọi giá vì vấn đề “chống cộng sản (Việt Minh) hoàn toàn không cần thiết?!”. Dẫu Leclerc hiểu hơn ai hết: “Hồ là người của Cộng sản Liên Xô nhằm thực hiện thống trị thế giới.” Cũng hiểu (rõ) Hồ tương tự như thế, nhưng Cao Ủy Đông Dương Thierry D’Argenlieu vẫn rất vui thích khi ra Hà Nội trong Ngày 19 Tháng 5, 1946 được một rừng cờ đỏ sao vàng chào đón – Vì Ngày 19 Tháng 5 là “sinh nhật bất ngờ” do Bác (vừa) dựng chuyện/thông báo để Thư Ký (riêng của Bác) Vũ Đình Huỳnh (1908-1990) ra lệnh tổ chức khẩn cấp từ đêm trước! Vụ (giả) chào cờ mừng Cao Ủy Pháp không đi tới đâu, nên chỉ sau mấy tháng, Ngày 19 Tháng 12, 1946 chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ với máu xương của bao người Việt, lính Pháp đổ xuống cho đến ngày 7 Tháng 5, 1954 lần cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ – Tiền đề ký Hiệp Định Đình Chiến Genève, 20/7/1954 – Buộc Pháp nhường nửa nước Việt Nam cho Việt Minh, 1954 – Mất trọn Đông Dương, 1956 – Mất Algérie, 1962… hiện thực “Thơ khẩu khí của Bác” khi thăm đền Trần Hưng Đạo: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng!”

Bác không chỉ “điếm” đối với những đối thủ chính trị cao cấp, tầm cỡ quốc tế, bác giở trò điếm cùng khắp, bất kỳ lúc nào, với bất kỳ ai. Sau 15 Tháng 8, 1945 về Hà Nội, bác và thành phần lãnh đạo Việt Minh được vợ chồng ông bà Trinh Văn Bô (1914-1988), nhà tài phiệt lớn nhường cho căn biệt thự số 48 Hàng Ngang để lập trụ sở chính phủ lâm thời; ông bà Bô còn góp 5.147 lượng vàng vào ngân quỹ nhà nước (vốn không có một xu nhỏ). Vợ chồng ông bà Bô lo từ miếng ăn đến áo quần (loại hàng vãi đắc tiền) để xứng danh vị chủ tịch nước VNDCCH (?!). Nhưng đến mỗi bữa ăn, bác “diễn xuất” lấy một lon gạo đổ vào “hủ gạo bác Hồ” để cứu dân đói! Bác vừa đổ gạo vào hủ vừa thấm nước mắt! Bác “thương dân” chăng? Không phải! Hãy xem trường hợp Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953), chủ cơ sở thương mãi lớn Cát-Hanh-Long ở Hải Phòng.

Bà Nguyễn Thị Năm là chủ nhân khu đồn điền ở Thái Nguyên nơi đã tiếp đón, nuôi ăn hầu hết đám cán bộ trung ương Việt Minh trong những ngày trước Tháng 8, 1945, trước khi bác khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, 2 Tháng 9, 1945 tại Hà Nội. Tương tự như ông bà Trịnh Văn Bô, Bà Năm góp 20.000 ngàn bạc Đông Dương, tương đương 800 lượng vàng cho chính phủ của bác làm ngân quỹ. Tuy nhiên, dù đang lúc chiến tranh với Pháp, (vừa) nhận tiền/vàng của Bà Năm, bác (lại) lên kế hoạch “giết” người ân nhân để đạt chỉ tiêu “5% địa chủ/Hộ nông dân đề ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956). Bà Năm là đối tượng điễn hình, đầu tiên được bác chọn trong kế hoạch đấu tố. Bác giết người ân nghĩa đối với bản thân mình với chữ!

Hãy đọc Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù, in 2014 do Cơ Sở Người Việt Book, Nam Cali:”… Để phối hợp với bài viết của tôi (Trần Đĩnh) trên Báo Nhân Dân (Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản VN từ 1950), có một người viết ký tên “CB/Của Bác – lại một bí danh nữa” gởi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Bài viết có nội dung: “Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con (cán bộ chỉ huy quân sự Việt Minh) và mấy tên lâu la với các tội, con số cụ thể (Đèn Cù, trg 85).”

Bà Nguyễn Thị Năm bị đưa ra đấu/giết để dọa quần chúng nhưng không “được chết” một cách yên lành mà với cảnh tượng kinh hoàng: “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh…” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liên nổ sát lưng… Mua được áo quan thì không cho (xác) bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miệng cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này!!” Nghe xương kêu răng rắc!! Cuối cùng xác bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy…” (Đèn Cù, trg 86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của Bác, Trần Đĩnh viết rõ hơn: ”… Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm chỉ cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. (Đèn Cù, trg 84) 

Tóm lại, thành tích giết bà Nguyễn Thị Năm đã được chỉ đạo/thực hiện/chứng kiến nhất quán với quyền giết người của Bác. “Tôi (Trần Đĩnh) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (Đèn Cù, trg 90). Nhưng Bác được tay em (Hoàng Tùng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) chạy tội trong hồi ký: “Thật ra Bác cũng chỉ là kẻ thi hành vì mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải Cải Cách Ruộng Đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện!!” Nạn nhân Miền Bắc bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) hãy nhớ: Bác bị buộc phải giết người theo lệnh của Nga-Tàu, dẫu Bác rất “thương dân”. Bác đã khóc nhận lỗi trên Đài Hà Nội vào ngày 18 Tháng 8, 1956. Bác khóc thật.

Ba.

Rõ ràng “nước mắt Bác” trong màn khóc lóc kể trên không đủ xóa trôi tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Nhưng không chỉ có thế, Tết Mậu Thân, 1968 bác ban lệnh Tổng Tấn Công-Tổng Nổi Dậy thanh toán Miền Nam với “Thơ/Thơ Chúc Tết”: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. Nhưng (cũng) không phải chỉ là thơ xúi giục khởi động cảnh máu xương, hãy xem lại «tuyệt chiêu điếm» của bác:  “…Sau hội nghị trung ương 14, đầu tháng 1, 1968 bác lỉnh đi Bắc Kinh lấy cớ chửa bịnh (?!). Và đêm 31 Tháng 1, 1964 khi toàn miền Nam chìm trong khói lửa của cuộc tổng tiến công do bác khai hỏa, trong căn phòng vắng ở Bắc Kinh với thư ký Vũ Kỳ, bác cười hả hê (chẳng có gì là bịnh hoạn) nghe một em bé Hà Nội hát bài “Bé bé bồng bông..” và thưởng thức «Thơ Chúc Tết » của chính mình (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/Cuốn II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).

Sau hai đợt tổng công kích (Tháng 1 và 5, 1968), chiến dịch thất bại (về mặt quân sự), bác (lại) lấy cớ giải thích với Chủ Tịch Mao ở Bắc Kinh và trung ương đảng Hà Nội: «Bản thân bác không chủ trương tổng tấn công quân sự (để giữ sức đảng, yêu nước, thương dân…) mà chỉ cốt thực hiện chiến lược Chiến Tranh Nhân Dân/Dùng Nông Thôn Bao Vây Thành Thị – Chủ trương của Chủ Tịch Mao – Trái với kế hoạch tổng tấn công với hỏa lực do Liên Xô cung cấp –Trong giai đoạn Liên Xô –Trung Cộng đang ở cao điểm chống đối. Cuộc tổng tấn công còn là một thất bại nghiêm trọng đối với lực lượng vũ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN – Con bài chính trị của Bắc Kinh cốt nhằm làm yếu thế/lực/áp lực của Hà Nội. Sau ký kết Hiệp Định Ba Lê 27/1/1973, Ngày 30/4/1975 nhận định nầy càng được thật xác chứng.

Tóm lại, Bác né thất bại Mậu Thân, đổ trách nhiệm qua Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, hai nhân sự có thực quyền, thực lực trong Bộ Chính Trị không được Bắc Kinh cho điểm tốt – Và (nếu) thắng thì Bác (sẽ) lấy phần «đọc Thơ» đã ra lệnh tổng tấn công – Quả thật, Bác là bậc thầy (chạy) của «Kế mưu tuyệt điếm/Tá đao sát nhân/Mượn dao kẻ khác để giết người ». Lịch sử điếm đông-tây kim cổ khó ai qua mặt. Cỡ Tào Tháo, Lưu Bị cũng xoàng.

Bốn.

Nhưng bác không « Điếm độc diễn ». Bác có những tay em, những học trò «Kiệt xuất với cường độ điếm» không kém bác: Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân-Bộ Trưởng Quốc Phòng Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp. Trước khi trình bày «năng lực, mức độ điếm » của Võ Giáp (Tên thật), bản thân người viết cần nói rõ một phản ứng có tính cách cá nhân đối với nhân sự tên tuổi nầy. Đấy là do bản năng, phản ứng của một người lính chuyên nghiệp, bản thân rất khâm phục khả năng, trí năng của Tướng Võ Giáp về mặt quân sự – Khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy hai cuộc chiến tranh vượt thắng hai đối thủ hơn hẳn về vũ khí, kỹ thuật. (Phần thất bại của hai lực lượng quân đội Pháp, Mỹ không thuộc về nội dung của bài viết nầy). Nhưng song song với sự thán phục về mặt quân sự đối với Võ Giáp, bản thân thấy rõ một điều bất cập nơi con người nầy: Cách thức ăn mặc, màn hí kịch «diễn xuất» lộ liễu bày ra bản chất nhỏ nhen, tầm thường của một viên đại tướng lừng lẫy: Luôn «diện» veston, thắt cà-vạt, đội mũ phớt theo mode «công tử Hà Thành» thông dụng trước, sau 1945 tại Hà Nội. Khổ nổi, những bộ đồ mồi của Giáp là những chiếc áo veston cũ, cà-vạt màu mè nhăn nhúm vì đang ở «chiến khu»; nhưng khi đi duyệt binh đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân trong ngày 22/12/1944, Giáp lại đeo thêm súng colt ngang hông, chân đi giày botte cao cổ của lính cỡi ngựa – Hình tướng của một kép hát bội diễn dỡ. Võ Giáp không chỉ «diện » như trên để «hù » đám du kích quê mùa quần cộc, chân trần, đương sự để nguyên bộ khi chụp hình với tổ Biệt Kích OSS Mỹ trong cảnh núi rừng Tây-Bắc (có lẻ) nhằm nâng «tác phong (văn minh) của một đại tướng» -Xuất thân là một ông gíáo trung học dạy môn sử địa được « Chủ tịch Bác» ngang xương phong cấp đại tướng theo ngẫu hứng. Những điều tầm ruồng về áo quần, cách diệu võ, giương oai của Võ Giáp không hề ngẫu nhiên dần được hiện rõ qua những việc như sau… 

Từ đầu tháng 1/1968 Võ Giáp đã «bị/được» Lê Duẩn, Lê Đức Thọ « bố trí » cho đi Hungary chữa bệnh (?!). Ngày 28/1, trên đường từ Hung trở về nước, Võ Giáp ghé Bắc kinh xin gặp Chủ Tịch Mao. Mao không tiếp, còn ra lệnh đàn em đãi cơm cho Giáp với một cái chén mẻ (Mao ghim Giáp vì đánh giá Giáp là phe của Mạc Tư Khoa). Giáp ngồi tỉnh ăn cơm Tàu với cái chén mẻ bằng thái độ «khôn ngoan » của AQ, nhân vật vô sản Trung Cộng được Lỗ Tấn (1881-1936) mô tả qua kỹ thuật khôi hài (đen) với chước láu cá gọi là «thắng lợi tinh thần ». Ví dụ, như khi bị đánh, bị chửi, bị trò đểu thì hãy nghĩ “chúng đang đánh, chửi, chơi đểu bố của chúng”. Tương tự như thế, Võ Đại Tướng tỉnh bơ nâng cái chén mẻ với lý luận khôn ngoan – Ăn chén mẻ cũng là ăn cơm Tàu/Coi như ta ăn cơm của bố thằng Tàu! Ngày 29 Tết, máy bay Trung cộng đưa Giáp về Hà Nội. Giáp luận tiếp: «Nó/Thằng Tàu chơi đểu ta nhưng vẫn phải đưa ta về bằng máy bay chúng». Triết lý «thắng lợi tinh thần » của AQ được Võ Giáp thực hiện đúng. Hôm sau Tướng Giáp được Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích-Tồng Khởi Nghĩa”–Kế hoạch thay đổi hẳn cục diện chiến tranh VN, Võ Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản (cách «khôn ngoan/chịu trò điếm» của AQ để che dấu niềm cay đắng: Bộ Trưởng Quốc Phòng- Tổng Tư Lệnh đã không được biết một kế hoạch thay đổi vận mệnh quốc gia trước khi nổ súng CHỈ ĐÚNG MỘT NGÀY (Sách Huy Đức sđd; trg 159). Sau nầy khi được hỏi về «thất bại Mậu Thân», Võ Giáp nói nước đôi/của ngón «võ điếm» chân truyền: « Đợt Một (1-2/1968) «chưa » có kết quả cụ thể mà mở đợt Hai (2/1968) là « kém cơ sở!» Dẫu Giáp biết thua nặng nhưng do «ngón điếm» có sẵn, ông đại tướng không dám nói rõ, phần rất ngán Duẩn và Thọ vốn ghim Giáp từ lâu!  

Năm

Tướng Giáp không những “điếm mà còn (rất) ác” không kém ông bác. Xin xem câu chuyện sau đây giữa Võ Giáp và nữ ký giả người Ý Oriana Fallaci (1929-2006). Cuộc gặp diễn ra tại Hà Nội trong Tháng 2, 1969, được kể lại trong sách Phỏng Vấn (với) Lịch Sử/Interview with History (NXB Houghton Miffilin Co Boston, chuyển dịch, tái xuất bản bởi Liveright Newyork, US. 1977). Buổi gặp mang tính chất “nói chuyện” giữa hai người hơn là một cuộc phỏng vấn đúng nghĩa về những vấn đề nghiêm trọng thuộc lãnh vực ngoại giao-chính trị-quân sự, nên có lúc Fallacio dùng danh xưng “thưa ông” thay vì “thưa đại tướng”. Vì chỉ để “nói chuyện” nên Fallaci đã hỏi những vấn đề mà (nếu) là cuộc phỏng vấn chính thức người hỏi thường tránh né hoặc dùng những hình thức đối thoại khác. Fallaci hỏi về Điện Biên Phủ (11/1953-5/1954), chiến thắng của bộ Đội Việt Minh do Giáp chỉ huy (trên danh nghĩa) chứ trong thực tế do Cố Vấn Trung Cộng La Quý Ba, Vi Quốc Thanh quyết định toàn thể về vũ khí, quân trang, quân dụng cho chiến trường, và do các Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn về tham mưu, chiến thuật. Tuy nhiên, đây không là chủ điểm của cuộc nói chuyện.

Hỏi về Điện Biên Phủ, nhưng Fallaci không đề cập đến khía cạnh vinh quang của Võ Giáp/Việt Minh, nhưng lại hỏi về cái giá tổn thất 45 ngàn bộ đội Việt Minh. Và Võ Giáp đã trả lời rất tỉnh: “Cứ hai phút, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Có nghĩa lý gì với 45 ngàn bộ đội chết tại Điện Biên Phủ?!” (O.F. sđd, trang 67). Fallaci lại cố “truy” Võ vấn đề thứ hai:”… Mặc dù mọi người đều đồng ý là cuộc tổng tấn công Tết (Mậu Thân 1968) là một thắng lợi tâm lý lớn. Nhưng về mặt quân sự, ông có nghĩ rằng đây là một thất bại không? Vì trên tổng quát, đứng về mặt chính trị cũng không hẳn là hoàn toàn thắng lợi! Dân chúng không nổi dậy. (Phía cộng sản-Pnn) chỉ chiếm đóng ở Huế trong khoảng một tháng. Ở Huế có những đơn vị lính Miền Bắc… Thưa Đại Tướng, phía Mỹ bảo rằng ông đã mất đến nửa triệu (lính), tính đến 1969” (O.F. sđd, trang 82).

Võ Giáp (thành thật): “Sự thiệt hại đúng là như vậy… Nhưng Mậu Thân là một vấn đề nhạy cảm. Cô nên hỏi phía Mặt Trận thì rõ hơn. Tôi không thể xét đoán vấn đề nầy, những gì xẩy ra nơi chiến trường. Tổng tấn công Mậu Thân không thuộc (quyền tôi-Tất nhiên). Cũng không thuộc về chúng tôi (Ai là “chúng tôi”-Pnn). Chiến dịch do Mặt Trận thực hiện (O.F. sđd, trg 83) Cuối cùng, khi Oriana Fallaci hỏi về chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu với người dân (VN) khốn khổ phải chịu đựng, hy sinh và chết? Võ Giáp lập lại chiêu cố thức “Điếm” cố hữu của Bác-Với Sự Ác: “Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Như Bác Hồ của chúng tôi đã từng nói… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” (O.F. sđd, trang 87)

Hậu Từ:

Bài viết đã khá dài, tôi phải chấm dứt do tâm trạng (nặng) não nề với câu (tự) hỏi: Có thể nào như thế? Chẳng lẻ những nhân vật quá quắt trong tiểu thuyết như Vi Tiểu Bảo của Kim Dung (1924-2018) hoặc Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là những con người có thật Với Lịch Sử- Giữa Con Người- Trong Cuộc Sống? Gã Xuân Tóc Đỏ xuất thân là kẻ nhặt banh trong sân quần vợt biến thành “Người Ái Quốc, xây dựng, giữ vững nền ngoại giao, hòa bình giữa hai nước An Nam-Xiêm La?” Tương tự như thế qua sự THẬT: Lucien Emile “Lou” Conein (1919-1998) chỉ là một nhân viên CIA trung cấp, nhưng chỉ với bao tiền 42,000 Đô-La đem vào văn phòng Tướng Trần Thiện Khiêm trong ngày 1/11/1963 đã đủ để bảo chứng cho một kế hoạch sát nhân gồm những nhân vật tài trí của quân đội VNCH: Đại Tá Lê Quang Tung (1926-1963), Hồ Tấn Quyền (1927-1963)… và tiếp theo Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1900-1963), người khai sinh VNCH, mà ngày Tết 1962/1963 (vừa) nhận cành hoa đào từ Hồ Chí Minh gởi từ Hà Nội với lời xưng tụng: “Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách (riêng) của ông ấy”. Nhưng cũng chính Bác Hồ nhân nghĩa nầy là người đã khởi động, lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh:”… Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” như trên đã trích dẫn.

Bác không nói suông. Bác làm thiệt qua lần “tâm sự” với Madelein Riffaud (1924-?) Tháng 6/1964 trong vườn nhà bác tại Hà Nội. Riffaud, nữ phóng viên, nhà thơ vốn là “nữ kháng chiến quân” của phong trào xã hội/cộng sản Pháp trong chiến tranh trước, sau 1945. Bác không nói với Riffaud với vị thế cách chủ tịch nước VNDCCH mà với tính cách “câu chuyện giữa chúng ta” – Cách thức mà bác thực hiện vô cùng “nhân bản” với Burchett (1966) hoặc giữa Võ Giáp và Onario Fallacci (1969). Nói chuyện với cách nhìn thăm thẳm “nhân bản, mưu lược, chen lẫn ác hiểm” khiến Fallaci dẫu đã gặp đủ mặt Kissinger (Mỹ), Arafat (Palestine); Hussein (Jordan)… cũng phải chột dạ. Đấy mới là Võ Giáp, chỉ là “học trò” của bác – Huống chi gặp phải tay bác vừa phà khói thuốc, vừa nâng ly rượụ, ngồi sát bên cạnh… Sức mấy “em” nhỏ 40 tuổi (sinh 1924-1964), đến từ Paris, đất Pháp chịu đời cho thấu? Đến cỡ Sainteny còn phải kêu lên suýt nữa bị bác vồ từ 1945, 1946. Hóa ra Đĩ và Điếm không là tính chất mà là Thuộc Tính của Người. Biểu tượng sụp đỗ của Babylon trong Khải Huyền của Thánh John là con Điếm Vĩ Đại với Màu Đỏ thẫm máu tươi.

Phan Phi Danh,

Đất Mỹ, 20/7/2026.

Bút ký chiến cuộc Việt Nam – Ngày 30 tháng tư – Lần thật chét với quê hương

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Dẫn Nhập:

Hoá ra cảm giác nhạt nhạt trong miệng, buồn buồn đè nặng, đau đau ở trũng ngực làm đứa nhỏ có thói quen luôn rờ tay lên ngực áo như muốn gỡ đi một khối nặng vô hình dính sâu đâu trong người mà sau nầy khi khôn lớn, nó mới biết đó là vị trí gần quả tim làm chặn ngang đường thở. Cảm giác nầy vốn có từ thời thơ ấu nhưng do còn quá nhỏ nên đưá bé chưa biết gọi ra tên. Cảm ứng xa xưa ấy chính là Nỗi Đau sau nầy khôn lớn anh mới biết ra qua thân phận Người Lính trên Quê Hương Việt Nam.  

Nhưng không hẳn chỉ là thế, sâu xa hơn ám ảnh của thời ấu thơ, mối phiền bực ngày tuổi trẻ, còn có điều gì khác, lớn lao, kinh hoàng, khốc liệt hơn.. Đấy là Năm 1965, sau trận chiến bùng nỗ ngày 11 tháng 6, với cơn mưa u uất mùa hạ Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa không đủ lớn, không dài lâu để cho người có cảm giác được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị gồm Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7  Sư đoàn 5 Bộ Binh; của Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân; và đơn vị đầu đời, thiết thân, thương mến, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù với những người lính anh quen mặt từ buổi trưa cuối năm 1963 khi mang chiếc xắc marin nhà binh bước qua cổng doanh trại, vào trình diện tiểu đoàn trưởng.. Những người lính với sức chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của thùng đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, ghìm lại hơi thở dài nặng nhọc… Nhưng ngày ấy, tất cả những người lính gần gũi thuơng mến nầy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh  xao tanh tưởi.. Những khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi trẻ của tuần, tháng trước biến dạng thành những khối thịt ủng lầy máu sẫm, đất bùn đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm mưa của bao ngày nằm nơi đụng trận, một chốn gọi là xã Đồng Xoài, Quận Đôn Luân, Tỉnh Bình Dương, nơi chỉ xa Sài Gòn khoảng năm-mươi cây số đường chim bay.

Từ Giao Thừa Mậu Thân, bắt đầu ở Huế, ngõ Âm Hồn, lối đi ra đường Mai Thúc Loan, hướng Cửa Đông Ba. Khoảng đường u thẫm chập dầy bóng đen đêm Xuân 1968, với tình thế nguy biến tang thương hơn qua hoạt cảnh người lính xao xác chạy dọc những khu nhà đỗ nát, vừa chạy tránh đạn, vừa kéo xác đồng đội.. Anh đi ngang qua căn nhà có xác người đàn bà chết trong vị thế quỳ trước chiếc bàn thờ xiêu đỗ tung toé, hẳn đang khấn lạy, cầu xin.. Nhưng xác chết chỉ còn thân người, bởi chiếc đầu đã bị cắt lià, vất tung đâu đó. Bên cạnh, thây cô gái tóc dài lây lất, khuôn mặt chỉ còn những tảng thịt rời rã.. Nhận biết đấy là người thiếu nữ do chiếc áo dài trắng và áo len màu tím than, màu riêng biệt đặc trưng của người thiếu nữ xứ Huế. Nhưng, như một an ủi khốn cùng, ở Huế, hay quanh ngoại ô Sài Gòn, vùng Nhị Bình, Thạch Lộc, Hốc Môn, Gia Định trong dịp chiến loạn Mậu Thân 1968, người ta vẫn còn khả năng phân biệt đấy là xác chết của lính hay của dân; của dân chúng Huế hay gã bộ đội Sinh Bắc-Tử Nam, hoặc cán binh Mặt trận giải phóng.. qua áo quần, dạng tướng, đôi dép Nhật làm ở Chợ Lớn, giày botte de saut của lính cộng hòa hay loại dép râu mang theo từ Miền Bắc của bộ đội cộng sản. Suốt dọc cù lao sông Sài Gòn chảy qua Bình Phước, Bình Triệu, Thạnh Lộc, Nhị Bình, Gò Vấp.. Cả một vùng hoa mai tàn tạ trong ánh nắng lung linh mùi tử khí.

Tiếp đến năm 1972, cảnh chết trên quê hương miền Nam tăng vụt cường độ với  bất  hạnh, tang thương nhân lên gấp bội phần cho dù trí tưởng tượng về tình huống khốn cùng từ lâu đã được người Việt hằng mang nặng, chuẩn bị gánh chịu. Trên chín cây số từ La Vang, nam Quảng Trị đến Cầu Trường Phước lớp nhựa đường đã hoàn toàn chảy nhão, đun nóng sôi bởi một thứ lửa nhân tạo. Lửa được cháy lên do từ áo quần, tay nải, bao bị, gồng gánh, và tế bào thịt da của người tẫm vào lưỡi lửa của xe cộ, xăng nhớt.. Tất cả biến thái nên thành ngọn lửa bền bỉ âm ỉ. Thế nên trên quảng đường chín cây số nam Thị Xã Quảng Trị mà báo chí Miền Nam đặt nên tên đau thương Đại Lộ Kinh Hoàng hoàn toàn không còn dạng thây ma để được gọi nên là xác chết, mà chỉ là những mảnh xương cốt rời rã, lăn lóc, lẫn lộn đất, đá, cát vương vãi dưới gầm khung xe cháy nám, nơi ổ súng cong queo, sau những bụi lùm trơ trọi, những gò, đụn oan khiên mà ổ mối đùn lên gây tanh mùi máu. Trong cùng lúc, vào thời điểm đầu mùa Hè, 1972 ở An Lộc nơi Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long cũng xẩy ra tình cảnh kinh hoàng đau thương tương tự. Vì pháo binh yểm trợ chocác sư đoàn 5, 7 bộ binh cộng sản đã học được một kinh nghiệm hữu dụng: “Ban ngày chỉ pháo xuống nhiều điểm bên trong thị xã để dân chúng tin rằng “bộ đội giải phóng” không pháo kích vô chỗ bệnh viện!” Nhưng vào ban đêm, Trường Trung Học Cộng Đồng, Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long.. nơi lớp lớp người bị thương đang lê lết trong bãi máu, giữa những người hấp hối để cầu sống sót, cầu được lúc bình yên.. Cho dẫu bình yên được chết.. Những nơi nầy biến thành những điểm tập trung của pháo binh cộng sản.. Điễn hình chỉ trong một đêm 10 tháng Tư tám ngàn quả đạn 130 ly rơi xuống xé toang đám xác người.. Người sống lẫn kẻ chết.. Tất cả đồng tung lên ngật ngật với thân thể con người chỉ còn là những mảnh vụn tơi tả lẫn với bụi, khói, mãnh thép.. 

Với tình cảnh sống-chết đan kín, xen kẻ cùng nhau trong suốt chặng đường dài hơn một thập niên như trên vừa kể ra.. Nên đã rất nhiều lần, trong đêm khuya bất chợt anh nghe ra tiếng gọi oan hờn từ Nghĩa Trang Quân Đội nhìn từ Đồi Mũ Đỏ, hậu cứ của Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trên vùng đồi Long Bình.. TẤT CẢ HIỆN ĐỦ TRONG BUỔI SÁNG HÔM NAY – Ngày 30 Tháng Tư, Năm 1975.

Sự Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 Tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh của những chiếc A37 do viên phi công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Đạn phòng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngỏ tháo chạy của Sài Gòn đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối, chìm dần trong lửa hoả ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đỗ xuống không ngắt nhịp… Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác rơi xuống..Tân Sơn Nhất vật vã, co quắp, rã chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn.. Cuộc hành hình kéo dài từ 1 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ DAO, Văn phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ, ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nhìn lên trời, giữa vũng lửa, đếm rõ từng viên đạn pháo rơi xuống.. Đống hành lý khổng lồ gồm quý kim, vàng, kim cương, giấy bạc Năm Trăm Trần Hưng Đạo của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam; giấy bạc đô-la của ngân khố Mỹ.. Tất cả cùng trộn lẫn với thịt da thân thể người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung toé, hiện thực nơi trần thế cảnh địa ngục vô vàn mà nhà thơ Dante đã diễn tả qua thi ca. 

Sáng 29 tháng 4, những tướng lãnh đã ra đi, những sĩ quan cao cấp cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị.. Nhưng, Trung Úy Phi Công Trang Văn Thành còn lại. Thành có danh hiệu “Thành mọi” bởi nước da ngâm đen quá độ ra chỗ đậu tàu.. Anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao, Trung Úy Thành thấy rõ những vị trí pháo của binh đội cộng sản.. Anh nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh.. Lửa nháng lên dưới thân tàu, toán phòng không cộng sản phản pháo, nhưng không kịp, Thành bình tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa tập lưới đạn của giặc. Anh đáp xuống lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói mù bởi cuộc dội bom chiều hôm trước, và cuộc pháo kích cường tập từ sau nửa đêm về sáng của ngày đau thương tang tóc nầy. Mặc, Thành một mình tự tay nạp đạn vào tàu, anh trở lại bầu trời trên phi cảng Tân Sơn Nhất – Cửa ngỏ của Miền Nam. Anh nhìn xuống những vị trí pháo cộng sản mà giờ nầy tạm ngưng hoạt động vì vừa bị anh tấn công.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ còn được lần cứu viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Thành chúc mũi tàu, bấm chặt hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một mình anh lấy đường nhắm.. Một mình anh.. Phải chỉ một mình anh – Trung úy Trang Văn Thành, “Thành Thiếu Sinh Quân”. Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi.. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt.. Người phi công chìm trong lửa, gục chết giữa không gian trên quê hương.

Sáng 30 tháng 4, năm 1975. Anh lục túi lấy hết giấy tờ gồm Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư mang Danh Số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương… ném tất cả xuống miệng cống trước trước nhà sách Khai Trí, Đường Lê Lợi.. Coi như mình đã chết…Hình như anh vừa nói ra lời với cảm giác thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Tay anh giữ hai chiếc máy ảnh trước ngực.. Anh tự nhắc nhở: Ít ra còn có vật dụng để thực hiện một công việc, làm một nhiệm vụ. Đây là những hình ảnh không thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết đến, thấy ra lần tận diệt của Sàigòn. Của miền Nam. Với cách giải thích tội nghiệp cùng đường nầy, anh đi về phía Công Trường Lam Sơn, trước trụ sở Hạ Viện. Chung quanh Sàigòn vắng hoe. Trời bỗng nhiên trở mưa.. Cơn mưa ngắn, từng giọt khô nồng, u uất. Chiếc xe Molotova Trung Cộng (sau khi đi tù mới biết đấy là xe Zil) từ hướng đường Trần Hưng Đạo, chạy chậm rãi qua bùng binh chợ Bến Thành.. Những người đi đường nhìn lên, ngó mông trống trải. Xe tới trước thềm Hạ Viện, đám thiếu nữ nhẩy xuống, một người đội mũ tai bèo, chắc là người chỉ huy trung đội lính phụ nữ, từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí gọi là “chiến đấu”… Các đồng chí, các đồng chí… bố trí đây nì, sẵn sàng tác chiến… Giọng người vùng miền Bắc Trung Việt cấm cẳng, the thé. Những thiếu nữ ngồi bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh dương, quần đen, vải nội hoá còn nguyên dấu hồ, giây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Băng đạn trên thân người mới tinh màu đồng đỏ au.

Từ Công Trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai xe đổ quân trước rạp Rex. Lính cộng sản nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, những nơi có cơ sở của Mỹ kiều, những văn phòng mà chủ nhân đã bỏ đi. Bất chợt, tất cả lắng lại để nghe rất rõ .. Có người tự tử. Có người mới bắn chết. Ai? Lính hả? Không biết, chỉ thấy mặc đồ lính mình. Ở đâu? Ở ngoãi, chỗ tượng Thủy Quân Lục Chiến.. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng, thức ăn, rượu, bia. Tiếng súng nổ, đạn bay lên trời.. Và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Tòa Đô Chính. Anh đưa máy hình lên làm động tác quen thuộc, thuần thục hằng thực hiện trước kia nơi những chiến trường lửa đạn vây bủa. Đồng thời  anh chợt nhói đau, nói thầm.. Đây là lần cuối cùng. Đây là giờ cuối cùng với cảm giác cạn ly rượu ân huệ hành quyết trước khi bịt mắt dẫn đi bắn. Anh đi theo đám lính cộng sản với hai thanh niên cầm cờ đỏ chạy vào chiếm Tòa Đô Chánh. Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, nơi có Người Lính vừa chết. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia NGUYỄN VĂN LONG.

Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác không chủ đích đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi các bạn hôm qua hằng vui vầy, sống động.. Anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa giòng âm động dồn dập của Sài Gòn đang hồi tẫm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài. Mà quả thật có nhiều quan tài của những người vừa chết.. Đến trước cổng trại Nguyễn Trung Hiếu, hậu cứ  Tiểu Đoàn 1 Dù, gặp Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Dù. Anh hỏi Hạnh: “Bây giờ bạn tính sao?” Tròng mắt người bạn khô khan ráo hoảnh sau bao ngày đêm không ngủ. Hạnh nói dứt khoát, dẫu mệt nhọc, rời rã: “Tôi còn đến 500 người lính, tất cả các đại đội trưởng đang đợi lệnh tôi. Anh xem tôi có thể làm gì, đi đâu?!” Có một xác con trẻ trần truồng không biết ai ném ra từ bao giờ lên mặt đường. Một cô gái mặc áo dài trắng nữ sinh đi đến, gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường, bình thãn, thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy góc cạnh thây đứa trẻ chết. Anh hỏi cô gái: Cháu chụp tấm hình nầy làm gì trong khi không dám nhìn đến thây đứa bé mà giờ nầy đã miết xuống mặt nhựa đường do đám người chạy loạn từ khu Ngã Tư Bảy Hiền dẫm lên. Cô gái nhỏ trả lời mau chóng: Chụp để làm chứng tội ác Mỹ-Ngụy trước khi bọn chúng rẫy chết! Giọng cô nhỏ đanh lại, mắt quắt lên sau lớp kính trắng. Anh thoáng kinh hãi vì chứng kiến một điều ghê rợn: “Hóa ra Sự Ác do cộng sản giáo dục có thể chụp xuống lòng người mau chóng đến thế sao?” Bấy giờ chỉ mấy mươi phút sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

Một trung đội lính Dù mà thật sự chỉ khoảng hơn một tiểu đội giữ nhiệm vụ an ninh cư xá sĩ quan Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, trước 1972 là Tư lệnh phó Sư đoàn Dù. Chuẩn Tướng Hậu đang trãi chiếc bản đồ trên mui xe jeep, bàn tính với những viên sĩ quan. Khi biết lệnh đầu hàng đã thi hành, ông vất tung chiếc bản đồ, gầm lên lời nguyền rũa.. Anh nói với viên thiếu úy trung đội trưởng: Tôi vừa gặp ông Hạnh ngoài cổng Tiểu Đoàn 1. Ông Hạnh không có ý kiến, bảo anh em ai về nhà nấy. Nhưng viên thiếu úy trả lời quyết liệt: “Tôi không đầu hàng, tôi với trung đội sẽ ra bến tàu tiếp tục chiến đấu..”. Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển.. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng, khi tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn.. Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm.. Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam.

#10-NĐT: Sau nầy, anh biết thêm, trên đoạn đường anh vừa đi qua, ngõ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đã diễn nên hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia đình quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh thuộc Khoá 1 Nam Định, chuyên ngành tình báo đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường giây quốc ngoại. Người con trai lớn của gia đình, Trung Úy Đặng Trần Vinh sĩ quan Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu.. Hai người cùng trao đổi lời đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng.. Tùy con, riêng bố đã quyết như đã nói với con từ trước. Nếu bố đã quyết như thế, con và các cháu cũng đồng lòng. Toàn gia đình uống chậm những liều thuốc độc cực mạnh đã chuẫn bị từ trước. Cuối cùng Trung Úy Đặng Trần Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung phần sọ não sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!

#11-NĐT: Ở Vùng IV, đồng bằng châu thổ Sông Củu Long, chị Nguyễn Thị Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm, thay chồng giữ đồn đến trái lựu đạn cuối cùng. Chị kết thúc đời mình bên cạnh thây của chồng, các con, với những vũ khí, máy truyền tin đã bị phá hủy.. Không để cho Việt cộng một cái gì cả! Người chồng đã dặn chị trước khi lâm tử. Cùng lần với những danh tướng vị quốc vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn… rất nhiều người không ai biết cấp thiếu, trung úy kể cả binh sĩ, hạ sĩ quan,.. cũng không thiếu những người dân, những người dân thường đã chết cùng lần vĩnh quyết Miền Nam. Anh đi qua biên giới tử sinh nầy với mặc cảm phạm tội – Tội đã sống sót. Đấy là cảm ứng có thật từ ngày 15 tháng 3 khi theo đoàn người di tản dọc Tỉnh Lộ 7 từ Pleiku về Phú Bổn, xuống Tuy Hoà.. Khi đứng trên Đèo Hải Vân ngày 25 tháng 3, nhìn đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế vào Đà Nẵng. Khi nghe ra tiếng hờn đau ai oán của người đàn bà chân trần, tóc rối, lật vạt áo dài ra để thấy đứa con nhỏ đã chết từ lâu trên tay. Nay sáng 30 Tháng tư, anh đi về nhà với màn nước mắt pha máu.. Máu trên áo, ở đầu ngón tay, nơi cánh mũi gây gây, nồng gắt mùi nồng lạnh do khi anh đến gần, cúi xuống chụp hình Thiếu Úy Thái và những người lính nhảy dù tự sát. Mắt người chết nhìn anh trừng trừng khốc liệt. Không hiểu anh đã về đến nhà theo lối nào, nhưng quả thật đây thật là đoạn đường dài nhất, gớm ghê nhất anh vừa đi qua với cổ đắng, miệng khô rốc, trí óc vỡ loãng trỗng không.

Hậu từ:

“Người Nhật là một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ hiến tế, tức Sepuku (mỗ bụng tự sát) khi danh dự cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc phạm. Dân tộc Việt Nam không có nghi thức uy hùng, dũng cảm ấy. Tuy nhiên, Người Việt cũng có phương thức riêng để bày tỏ Lòng Yêu Nước, cách gìn giữ phẩm giá Con Người. Người Việt xử dụng Cái Chết để chứng thực nguyện vọng kia qua cách thế im lặng và đơn giản nhưng không kém phần cao thượng. Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy ra với thời điểm 30 tháng tư, 1975 mà sau đó, suốt hai thập niên 70, 80, hai triệu người Việt Nam, không phân biệt người Nam, hay người Bắc những người đã sống lâu dài dưới chế độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954.. Tất cả đã cùng phá thân băng qua biển lớn, xuyên rừng rậm vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600.000 người chết trên đường di tản ra khỏi nước. Hóa ra Dân Tộc Việt, những người Việt Nam bình thường đã đồng lần thực hiện một điều mà họ không hề diễn đạt nên lời: Chết vì Tự Do để bảo vệ Phẩm Giá, Quyền Làm Người. Người Việt Nam đã và  đang hiện thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày vượt sống trên quê hương khổ nạn, với chính thân xác của mình.

Viết lại sau 37 năm

Với lời kính nguyện

Dâng lên Tổ Quốc

Và Anh Linh Người Việt đã lâm tử trong

Ngày Thật Chết Với Quê Hương.

Tháng tư, 2012

Cali, PNN

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Chương trình “quân nhân học tập” đã được khai sinh vài năm trước khi tôi về làm việc ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội. Có lẽ nó có từ những năm 1967-68. Chương trình này do hai nghệ sĩ Phi Thoàn, Khả Năng phụ trách và là một chương trình “ăn khách” nhất của Ðài Quân Ðội cùng những chương trình đặc biệt khác như Dạ Lan, Nghệ Sĩ với Chiến Sĩ…

Hầu hết anh em trong quân đội và gia đình họ rất thích nghe hai ông Binh Méo, Cai Tròn “tán dóc”. Dĩ nhiên là “tán dóc” trong một chủ đề đã được chọn lọc để phổ biến một đường lối, chủ trương nào đó của quân đội, tránh hình thức học tập khô khan. Nhờ vậy nó chuyên chở được hầu hết bài học mà người lính cần hiểu và hiểu sâu sắc hơn.

AI LÀ BINH MÉO, AI LÀ CAI TRÒN?

Hai nhân vật chính của chương trình này là Phi Thoàn đóng vai “Binh Méo” và một người đóng vai “Cai Tròn”.

Nhìn bề ngoài lúc đó Phi Thoàn gầy gò nên cái biệt hiệu Binh Méo dành cho anh bên cạnh diễn viên Khả Năng tướng người to cao nên được tặng biệt danh là “Cai Tròn” rất đúng điệu. Cũng có người ví hai anh như Laurel & Hardy. Hai nhân vật ấy rất quen thuộc với các sân khấu kịch quân đội và người lính suốt nhiều năm. Thậm chí khi các anh đi diễn những “sô” ở các rạp hát, rạp chiếu bóng ngoài phạm vi quân ngũ cũng có nhiều nơi yêu cầu các anh diễn theo phong cách “Binh Méo, Cai Tròn” đủ chứng tỏ ảnh hưởng của hai vai diễn này rất mạnh.

Bên cạnh phòng làm việc của tôi có một phòng vi âm nhỏ chuyên dùng để thu thanh trước các chương trình đặc biệt chỉ cần một số ít người.

Phi Thoàn.

Hàng tuần vào một ngày cố định, tôi không còn nhớ rõ là ngày thứ mấy trong tuần, chương trình “quân nhân học tập” được thu thanh tại đây. Vài tuần đầu tôi để ý thấy chỉ có Phi Thoàn và một số nhân viên vào ghi âm chương trình này, không thấy Khả Năng. Vậy mà chương trình vẫn có “Cai Tròn Binh Méo” và giọng nói của Khả Năng.

Tôi chưa kịp hỏi thì một buổi Phi Thoàn thu thanh xong, anh gõ cửa vào phòng tôi. Bao giờ cũng vậy, gặp anh là thấy nụ cười trước tiên. Anh đưa tay chào kiểu nhà binh nhưng vẫn xưng hô với tôi như tình anh em:

– Nghe nói anh về Đài mà mấy lần định vào nhưng anh lại có khách.

Cần nói rõ là Phi Thoàn làm ở tiểu đoàn 30 Chiến Tranh Chính Trị chứ không phải nhân viên của Đài Quân Đội. Anh chỉ là người cộng tác và vẫn được hưởng cát-sê như những nghệ sĩ dân chính khác cộng tác với Đài. Chúng tôi quen nhau qua cái tình văn nghệ trong quân đội từ lâu. Nhưng hồi đó tôi còn làm việc ở phòng Báo Chí, nay mới có dịp làm chung một “nghề”. Tôi hỏi:

– Còn Khả Năng đâu sao không vào chơi luôn? Phi Thoàn cười:

– Ông ấy giận tôi nên không chơi với tôi nữa. Hồi này tụi tôi đi làm ăn riêng hết, không chơi chung như xưa.

PHONG CÁCH PHI THOÀN

Lúc đó tôi mới biết rằng sau này Phi Thoàn “một mình một chợ” đảm nhận vai trò nồng cốt trong chương trình Binh Méo, Cai Tròn mà người đóng vai Cai Tròn lại là một xướng ngôn viên khác có giọng nói y hệt Khả Năng. Có lẽ điều này rất ít thính giả biết cho đến tận bây giờ. Cũng như chương trình Dạ Lan, sau khi Dạ Lan của thời kỳ đầu nghỉ không làm nữa thì lập tức một xướng ngôn viên có hạng của Ðài được thay thế với tiếng nói y chang Dạ Lan làm nhiều người cứ tưởng vẫn chỉ là một giọng nói. Mãi sau này mới có một số người biết.

Tôi lấy làm tiếc vì sự “chia đôi đường” của cặp bài trùng đang trong thời kỳ rất ăn khách này. Tôi ngỏ ý với

Phi Thoàn lúc nào có dịp tôi sẽ mời Khả Năng đến Đài rồi cùng ngồi nói chuyện. Nhưng Phi Thoàn lắc đầu:– Vô ích thôi, anh ạ. Vài “sếp” đã tính đến chuyện này, nhưng tôi thấy không vui vẻ với nhau nữa thì cứ để nó như thế cho yên chuyện đời.

Thiệt thòi cho sân khấu là từ đó khán giả không còn có dịp thấy “Laurel và Hardy Việt Nam” xuất hiện chọc cười thiên hạ nữa, dù trên làn sóng phát thanh họ vẫn cứ như hình và bóng. Đâu có ai biết Binh Méo sẽ không bao giờ diễn chung với Cai Tròn nữa.

Và chuyện đời cứ như thế trôi cho đến những ngày trước cuối tháng 4 năm 1975, Phi Thoàn vẫn hàng tuần đến thu thanh bên phòng của tôi. Thỉnh thoảng gặp nhau nói dăm ba câu chuyện vặt rồi ai làm việc nấy.

Ngoài công việc của quân đội, thỉnh thoảng Phi Thoàn đảm nhận “xô” diễn của các đoàn ca kịch bên ngoài. Lối diễn hài của anh rất độc đáo, không phùng mang trợn mắt mà là lối diễn rất thông minh, hóm hỉnh do chính anh tự khám phá ra cho mình và đôi khi cho bạn diễn cùng với mình có cơ hội được chọc cười khán giả.

Lối diễn của anh gần như của Trần Văn Trạch, nếu anh Trạch có vẻ Tây phương hơn thì Phi Thoàn lại quay về với những cử chỉ, lời thoại của người thôn quê, ngây thơ chất phác thú vị. Tràng cười của anh không dung tục quá đáng đến sỗ sàng mà mang hơi thở của chú Tư Cầu Lê Xuyên với ruộng đồng mộc mạc. Vì thế sau này anh diễn các vai bác nông dân rất thành công và còn được khán giả đặt cho cái tên “chú Sáu Mỹ Thuận”. Anh khôi hài châm biếm rất hồn nhiên, không cường điệu quá lố, không cố ép khán giả phải cười mà là tiếng cười bật lên từ chính trong lòng khán giả qua phong cách tự nhiên của anh, qua sự việc hợp tình hợp lý chứ không gán ghép để buộc khán giả phải cười dù nó có vô lý. Anh không thích sự vô lý trong cách bố cục một kịch bản, dù là kịch bản đó của mình hay của người khác. Tôi đã thấy Phi Thoàn yêu cầu người viết kịch bản là trưởng ban thông tin thời sự của Đài, thay đổi mạch hành văn của một câu chuyện thời sự cho hợp lý hơn, lúc đó anh mới chịu diễn. Có thể nói anh là người rất kỹ tính với kịch bản. (Ảnh: Phi Thoàn và Tô Kiều Lan trong vở cải lương “Nếu Em Là Hoàng Đế”).

Về thành tích của nghệ sĩ Phi Thoàn, phải nhắc đến sự đa dạng trong diễn xuất. Nhờ sự đam mê sân khấu từ hồi còn nhỏ mà, từ một anh chuyên đóng hài trên đài phát thanh, anh nhanh chóng chiếm lĩnh vai trò chủ chốt các đại nhạc hội Sài Gòn thời đó. Tên tuổi Phi Thoàn một thời được xem là sự bảo đảm bán vé đắt cho buổi diễn. Cùng với các danh hài thượng thặng như Thanh Hoài, Tùng Lâm, Thanh Việt, La Thoại Tân, Xuân Phát…, anh mang lại tiếng cười sôi nổi cho người xem.

Sau một thời gian tham gia các ban kịch ở Sài Gòn, anh còn đóng nhiều thể loại phim hài. Cứ mỗi lần có một đoàn làm phim tính chuyện “làm phim hài chiếu Tết” là người ta nghĩ ngay đến Phi Thoàn. Các ông chủ hãng phim thi nhau đến mời anh ký hợp đồng và hầu như bất kỳ phim hài loại nào có anh đóng là y như bà con đến chật rạp, chủ hãng phim hốt bạc.

Không còn gì đúng hơn và khôn ngoan hơn là làm phim hài vào dịp tết, người Việt Nam có thói quen kiêng khem và đôi khi đi xem hát, xem kịch vào dịp đầu năm là để “bói tuồng” nên thường chọn những phim kịch vui để được vui vẻ suốt năm.

THUỞ ẤU THƠ CỦA BINH MÉO

Tên thật của anh là Nguyễn Phi Thoàn, sinh năm 1932 tại Trà Vinh. Bắt đầu hoạt động nghệ thuật từ năm 1948 và trở thành nghệ sĩ hài nổi tiếng khi mới bắt đầu khôn lớn.

Nhắc lại tuổi thơ, anh thường kể một sự kiện, đó là anh sinh ngày 19-6-1932, ngày người Pháp cho chạy thử chiếc tàu thủy rất lớn trên sông Trà Vinh. Chiếc tàu đó tên Phi Thoàn nên ba mẹ anh quyết định đặt tên cho đứa con trai duy nhất trong nhà là Nguyễn Phi Thoàn. Nhưng số anh lại là con khó nuôi, cứ đau bệnh liên miên, nên ba mẹ anh đã nhờ một người thầy Khmer nhận làm con nuôi. Bởi vậy anh còn có tên Sen. Cái tên gắn chặt tâm hồn mình với quê hương. Anh thường kể với bạn bè:

– Có lẽ nhờ chết hụt lúc còn nhỏ nên lớn lên tôi là một thanh niên sống thảnh thơi, thích nhìn những sự việc tréo ngoe để gây tiếng cười. Năm tôi 16 tuổi, ở xóm đã nổi danh là thằng “Sen tếu”. Một lần bạn bè xúi “mày có máu khôi hài nên lên Sài Gòn xin vào đài phát thanh kể chuyện tiếu lâm”. Tôi khăn gói một phen thử vận. Hồi đó ở Đài Phát Thanh Sài Gòn có chương trình tuyển chọn ca sĩ trẻ, giữa giờ giải lao thường có một anh hề ra chọc cười khán giả. Tôi xin thử kể, không dè ông chủ lắc đầu. Lúc định quay về thì trời đổ một cơn mưa thiệt lớn. Nhờ vậy tôi mới được thử. Câu chuyện tôi kể là hình ảnh một anh nông dân say bí tỉ gây lộn với con chó. Một mình tôi giả hai giọng: người và chó. Không ngờ ông “sếp lớn” nhận tôi vào làm ngay và đó là bước ngoặt gắn chặt đời tôi với sân khấu.

NỖI NHỚ SÀN DIỄN CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ VỀ GIÀ

Nghệ sĩ Phi Phụng, con gái của nghệ sĩ Phi Thoàn, đã tâm sự:

“Với tôi, ba không chỉ là một người cha kính yêu mà còn là một người thầy tận tuỵ. Ngay khi còn rất rất nhỏ tôi đã bắt chước ba hát diễn đúng kiểu “cha truyền, con nối”. Tôi được ba chăm chút, uốn nắn từng chút, rồi ba dắt tôi vào hát từ năm 1978, đi hát “xô” cũng dắt tôi theo. Hồi mới vào nghề chưa có kinh nghiệm, chỉ đóng cảnh “ngất xỉu” mà tôi bị ba bắt đóng tới, đóng lui hoài… Không chỉ với riêng tôi mà với các bạn diễn ba cũng rất nghiêm khắc trong tập luyện. Nhà tôi có 7 chị em nhưng hễ một đứa có lỗi là ba “phạt… tập thể”. Ông bắt tất cả nằm sắp lớp xuống nền nhà rồi phán: “Nằm yên đó, đợi tao đi diễn về là tụi bây biết tay!” Tụi tôi thay phiên nhau 6 đứa nằm còn 1 đứa ra canh cửa. Một chặp sau đứa canh cửa báo động:

“Ba về! Ba về!”. Thật ra ông già chỉ đi loanh quanh đâu đó, về thấy đàn con vẫn nằm sắp lớp nghiêm chỉnh, ổng cười hì hì: “Thôi, tha!”. Khi chị em tôi có bạn trai, dù đi chơi tập thể ở tận Bửu Long ba cũng đòi lên tận nơi “canh chừng”, sợ… con hư! Còn nữa: “Ðứa nào mà đi nhảy đầm thì tao chặt giò!”. Trong nhà là thế, nhưng bước ra ngoài là ba trở thành “chú Sáu Mỹ Thuận” rất ư vui tính với bạn bè đồng nghiệp, với khán giả và với cả bà con chòm xóm. Ba nằm bệnh viện hai tháng rồi 9 tháng nằm ở nhà, khoảng thời gian ấy ba nhớ sàn diễn, nhớ bạn diễn vô cùng. Có những đêm ba thức rất khuya, chờ tôi về để chỉ hỏi một câu: “Con đi hát về, có gì vui kể cho ba nghe với!” Nỗi nhớ sàn diễn của người nghệ sĩ về già sao mà tha thiết quá. Hình dung ra cảnh Phi Thoàn nằm đó nhớ ánh đèn sân khấu, nhớ khán giả, nhớ vai diễn và bạn diễn chắc bạn đọc cũng thấy lòng nao nao.

CHÚT KỶ NIỆM CUỐI CÙNG

Sau một thời gian dài, suốt từ năm 1975 đến khoảng năm 1991-92, khi tôi ở trại “cải tạo” ra, trở về Sài Gòn, tôi chỉ gặp lại Phi Thoàn đúng một lần.

Khi đó tôi còn lang bang xách “bút nghiên” đi học computer ở trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn.

Chẳng biết hôm đó chiếc xe ca đón nghệ sĩ nào ở đường Hùng Vương, Phi Thoàn ngồi đợi ở một quán trước cổng trường gần đó.

Tôi tan lớp học bước ra, Phi Thoàn nhìn tôi ngờ ngợ rồi anh đứng ra giữa đường cản lối, hai tay chống nạnh nhìn tôi trừng trừng.

Vừa nhìn thấy anh là tôi nhận ra ngay. Anh vồ lấy tôi:

– Bắt được ông rồi đây nhé. Cứ nghe ông về mà chẳng biết ở đâu.

Tôi đùa:

– Coi chừng anh quen một tên “ngụy” hơi nguy hiểm đấy nhé.

Anh cười:

– Tôi quen với nguy hiểm rồi. Mà ông đi đâu đây? Bộ lúc này phải đi dạy học kiếm sống à?

– Ði học chứ dạy cái nỗi gì, ai cho dạy mà dạy. Phi Thoàn không tin:

– Ông tính thay tôi đóng phim giễu hay sao đây?

– Nói thật đấy. Học computer mà. Ở trong trại, đọc thấy cái máy vi tính ghê quá, về học xem nó ghê đến đâu.

– Ông có chí thật.

Tôi cười trừ:

– Ðừng có khen tôi, chẳng qua đói quá và cũng hơi nhục nên mới đi học đấy, tôi là học trò già nhất ở cái trường này.

Phi Thoàn an ủi:

– Việc quái gì mà nhục! Ông cứ hiên ngang mà sống chứ, đời anh em mình còn dài mà.

– Không phải như ông nghĩ đâu, tôi ở chung với mấy người bạn, họ đánh mạt chược suốt ngày, họ có tiền, còn tôi thì rách như tổ đỉa. Có ba chân, thiếu người, họ cứ bảo tôi ra ngồi đánh cho đủ chân. Tiền đâu mà chơi nên tôi cứ phải giả vờ ốm nằm trùm mền. Mình là dân chơi từ xưa, quen máu đi rồi nên nằm trùm mền mãi, nghe họ lóc cóc chơi ở nhà ngoài, chịu hết nổi và cứ thấy nhục thế nào ấy.

Phi Thoàn cười ha hả:

– Vì thế ông cắp sách đi học cho khuất mắt chứ gì.

Chuyện đó của ông viết thành kịch được đấy.

– Còn khối chuyện viết thành kịch được, nhưng bây giờ tôi chưa có thì giờ.

Phi Thoàn kéo tôi vào quán đãi ly cà phê đá.

Anh tỉ tê tâm sự cuộc đời anh gắn liền với sân khấu và bây giờ vì cuộc sống nên vẫn cứ đi diễn.

Tôi hỏi thăm đến một số anh em khác và Khả Năng. Phi Thoàn nói hồi này cũng không biết Khả Năng ở đâu. Nghe tin anh ấy đi vượt biên.

Tôi kể cho Phi Thoàn nghe hồi mới vào trại “cải tạo” tôi ở trại Suối Máu, một hôm nghe có người bạn nói Khả Năng đợi tôi ở hàng rào phía hông trại.

Tôi chạy ra. Khả Năng đứng bên hàng rào kẽm gai trại bên kia, chúng tôi nhìn nhau ngao ngán. Xem ra Khả Năng có vẻ mất tinh thần lắm. Anh ấy không còn là một cây cười ngoài đời nữa, trại giam đã giam cả tiếng cười của anh ấy rồi. Trao đổi vài câu chuyện trời đã vào tối, chúng tôi chia tay. Sau đó tôi chuyển trại ra miền Bắc, từ đó tôi không còn có dịp gặp lại Khả Năng.

Mãi những năm sau này, tôi nghe nói Khả Năng đã vượt biên sang được đất Thái Lan nhưng rồi tử vong vì một lý do nào tôi không rõ.

Nay thì đến lượt tôi phải từ giã Phi Thoàn.

Anh mất lúc 16 giờ 40 ngày 4 tháng 5 năm 2004 tại nhà riêng, hưởng thọ 73 tuổi.

Thế là hai anh Binh Méo, Cai Tròn đều đã ra đi cùng với anh trưởng ban thông tin hồi đó là Mai Trung Tĩnh.

Những tài hoa xưa đã rơi rụng dần. Chiều nay, 7 tháng 5, khi tôi viết bài này, đám tang Phi Thoàn vừa cử hành.

Một nỗi buồn mênh mông trùm lên không khí Sài Gòn bắt đầu vào một mùa mưa mới mà chưa mưa được!

(Sài Gòn 7-5-2004)

Cẩm Lệ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Lý lịch Phan Thị Cẩm Lệ thoạt đầu sơ sài, giản đơn. Mở mắt chào đời vào mùa xuân có vạn người vui có triệu người buồn. Sinh quán: Hoà Vang, Quảng Nam. Ba: Cầm súng cho Nguỵ quyền. Mẹ: Nội trợ, sau đổi qua mua bán phế liệu, ve chai đồng nát. Học lực: Xong tiểu học.

Không cần tới thầy bói, nếu cứ “sao y bản chánh” như thế mà luận thì đời con gái của Cẩm Lệ e mãi lầm lạc đi trong đường hầm chẳng bao giờ nhìn ra ánh sáng. Bóng tối là thứ gì rất đỗi quen thuộc, hiện thực; bao trùm mọi hoàn cảnh chứ nào chừa cho một ai cá biệt. Không có lê nên cứ vui với lựu, ánh trăng nhợt nhạt nên vẫn thuỷ chung nương cậy vào đốm sáng đèn dầu. Bình địa, chẳng có núi để leo lên đứng trông vời núi khác. Không có nhà ngói nên đành thiệt thòi trú ẩn vào nhà tranh. Voi không thấy đi qua nên chẳng đơm mộng ước được ngó ra tiên. Đời bày ra khẩu quyết “ai sao ta vậy” và khó khăn làm bức tử một sự phân bì, so đo, hơn thiệt. Thoát ra khỏi vùng đất chôn nhau cắt rốn này thì hoạ may…
Năm Cẩm Lệ lên sáu thì cha được người ta thả về. Phút đầu gặp nhau Lệ rất hãi sợ khi ngó thấy một ông già còm cõi lạ hoắc lạ huơ dang tay đòi bế đòi bồng đòi hôn đòi hít. Khi nào Lệ chướng đều nghe mẹ doạ: Mi mà còn khóc la thì ông kẹ đứng rình ngoài cửa sẽ bước vô. Bây chừ thì mình có gây lỗi lầm gì đâu mà tự dưng ông kẹ xuất hiện “ăn dầm ở dề’ trong căn nhà xiêu vẹo vì “xuân này ba vắng nhà, không người sửa sang”.

Khi bắt đầu quen hơi, khi dần bỏ rơi bao chướng ngại, khi tiếng đầu đời biết gọi chữ cha thì ông Phan Văn Được hạnh phúc một sớm vác cuốc đi làm rẫy, ham lấn đất sao đó cong lưng cuốc phải một quả mìn. Tin đâu sét đánh ngang tai, Được không chết khi ngày cũ theo Sư đoàn 2 xung trận, không bỏ thây trong trại tù cải tạo, Được “may phước” được chết trong thời bình ngay trên cuộc đất máu thịt của cha ông. Một người trong xã khi thuật chuyện đã lấy làm tiếc nuối: Có điều kiện như xưa kia, chở ảnh vào bệnh viện thì đâu đến nỗi. Tội nghiệp!

Lật giở lại vài trang quá khứ, trong khi tạo hoá trêu ngươi xúi người chồng đi trình diện cải tạo với bản án vô thời hạn, không hẹn ngày về, thì người vợ lủi thủi cô quạnh của Được có một anh chàng ngụ ở Hoà Khánh ngắm nghía chùng vụng tìm cớ lân la rù quến tranh thủ chở đi ăn chè ăn cháo, mang bộ mặt ba phần lấm le bảy phần lấm lét. Mèo (dấu cứt ngoài) mả gà đồng là chuyện cực chẳng đã, chồng bất ngờ trở về, cuộc diện chưa có bề ngã ngũ thì con tạo lại khéo xoay vần lần nữa. Đùng một cái chồng vắn số phủi chân lên bàn thờ ngồi và cỏ vừa xanh trên nấm mồ còi cọc cả sạn cát thì “trai đơn gái chiếc” đồng tình vượt rào lấn qua phương án hai rất chi là danh chính ngôn thuận. Ảnh nói: Gái một con trông mòn con mắt thì cũng chừng mực nào đó thôi, bông ở trong chậu không có ai tưới nước thì ắt sẽ héo úa tàn tạ, nói hồ đồ thì em bỏ lỗi chứ gái mà thiếu hơi trai thì nhác chơi sinh đổ bệnh, tiếc nuối xuân sắc đang đổ dốc vùn vụt chạy tìm về cái nhăn nhó già cỗi một sớm một chiều.

Anh này quả có khiếu ăn nói dù ảnh làm thợ mộc chính hiệu chuyên bào cưa xẻ đục, trong nhà lúc nào cũng có sẵn một hai cái quan tài mới cáu dựng nắp đậy một bên chờ người có phúc phận đến rước đi. Siêng đóng hòm nên coi vậy mà ảnh luôn có đồng ra đồng vào, chốt lại là việc nuôi hai mẹ con em nào thành vấn đề, chuyện nhỏ, anh dư sức qua cầu đầy đủ tơi nón nhằm che nắng mưa cho cả ba nhân mạng. Cẩm Lệ đôi phen được mẹ dẫn đi “thực tế” đến giang sơn người dượng tương lai, Lệ thử chui vào nằm trong áo quan. Ui chu choa, nó mát đến sảng hồn sảng vía. Mùi diêm bào, mạt cưa, mùi thịt gỗ của thân cây to vừa bị đốn hạ ướt át nồng nàn thơm đến mụ mị; được ngủ một giấc thì cái oi ả của hạ nồng đang chụp lửa ngoài trời cũng chẳng thể can dự tới, cứ riu riu cứ mơ màng cho đến hồi mẹ xớn xác gọi lớn tiếng: Lệ mô rồi? Lệ, chơ răng mi ngẳng nghịch rứa con tê! Bộ hết cách chơi rồi à? Ông bạn trai của mẹ cười hề hề: Em chớ rầy rà con, biết đâu nhờ vào hơi hám của Lệ vướng mắc mà sinh ra việc buôn đắc bán chạy cũng không chừng.

Sau đó chừng vài ba niên, Cẩm Lệ đột ngột biến mất. Dì Ba chấm dứt tâm sự. Dì thòng thêm phụ chú: Tui bán buôn lặt vặt ở chợ Cồn, Đà Nẵng. Sáng sớm đi, tối mịt bắt xe ôm về. Tiếng là dì cháu nhưng thú thiệt cũng xa cách, bị cuộc sống nó bắt mình phải điên đảo thần hồn, ít kiếm ra cơ hội hỏi han biểu lộ tình cảm cho nhau. Dịp Tết thì cho nó chiếc áo mới, mua tặng cháu bộ nội y, chỉ chừng đó thôi. Hỏi: Cẩm Lệ thương ai nhất nhà? Nó trả lời: Thì mỗi mình dì chớ ai khác. Biết còn làm bộ hỏi! Nó đi, chẳng để lại một câu giã từ. Nhưng không biết do đâu, người nhà, nhất là ông bạn trai của mẹ cứ khẳng định, vẫn tin chắc là số nó chẳng thể chết bụi chết bờ được, nó vẫn thích chui vào ngủ trong quan tài mà. Cứ đơm một ý nghĩ, nó thử giang hồ xuôi Nam đặng mong cầu tìm gặp một cuộc sống mới, khả dĩ thông thoáng hơn. Số nó coi bộ không hợp với mẹ nó…

Lý lịch Cẩm Lệ tới ngang đó thôi. Chỉ “nửa chừng xuân”, hơi bị trong sạch, hơi bị nhân thân tốt. Dì Ba đâu ngờ tới một hôm trở trời gây đột biến, Cẩm Lệ bị số phận han hỏi làm tình làm tội khiến đứa cháu dại khờ của dì Ba buộc phải đi bụi chẳng buồn báo cáo sự tình. Nguồn cơn phát sinh ban đầu là bữa nọ nghe trong người trống trải, ma đưa lối quỷ dẫn đường, buồn chân Cẩm Lệ lang thang ra ngoài khu chợ tân lập nhóm bên kia con sông cạn nước. Người ta đang bu lại bãi đất trống đầy rác thải hiếu kỳ xem có con khỉ biết mặc áo quần, tay cầm dù đỏ, nhỏ nhắn, biết làm trò cười nhảy nhót lung tung, y như khúc dạo đầu cho tuồng mãi võ Sơn Đông. Có một ông mình trần nằm dưới đất chờ một bà điệu bộ nhanh lẹ đặt hai cục gạch lên trên bụng, xong rồi bà ta nhổ nước miếng vào hai tay, kế đến cầm lên thanh sắt nhắm hai cục gạch mà đánh xuống, cật lực. Bà con la lên “bộ tính giết người không gươm đao hả”? Cục gạch vỡ làm đôi, làm ba, làm tư nhưng người kia ngồi dậy mặt tỉnh như ruồi kiểu như gãi chưa đã ngứa. Ui, cha nội này mà được vô đoàn lực sĩ nước nhà đi dự thế vận hội thì cầm chắc rinh về cái huy chương đồng. Hiện tại thì cha nội đang gào lên: Nhức đầu sỗ mũi cảm mạo ho hen trở ngại đường ruột đau lưng mỏi gối bệnh trĩ hoặc mồng gà hoa liễu giang mai mau nóng chóng nguội hoặc sớm xuất tinh chúng tôi đều có bài thuốc trừ khử hiệu nghiệm chóng lấy lại phong độ. Mại dô mại dô trong uống ngoài thoa ngày làm ba cử thì xuyên tâm liên nghe thế phải hổ thẹn cúi đầu, mua một tặng một dịp may hiếm có…

Đang há miệng theo dõi, Cẩm Lệ nghe tiếng nói thật gần, vẳng bên tai: Cưng muốn sở hữu hai triệu đồng thì đi theo chị. Êm ru bà rù, việc nhàn nhã, khoẻ re. Chắc rằng cưng đang thắc mắc, tạm thời mình lại đằng quán kia ngồi uống nước, chị sẽ lần lượt giải đáp ngọn ngành cho cưng nghe. Chị vừa lĩnh hai triệu đây, vào quán chị sẽ dành phần chiêu đãi. Người đàn bà mở ví cho Cẩm Lệ thấy cả đống tiền xanh đỏ nằm cộm trong đó, bà rút ra một chiếc khăn tay và thoáng chốc Cẩm Lệ không còn nhận biết đôi chân đang đặt ở đâu, người lâng lâng chẳng biết trời cao đất rộng là thứ gì, lòng tự nhiên thấy vui như mở hội. Ở nhà, có thể Cẩm Lệ biết cự cãi lại mẹ nhưng đang ở chốn mờ ảo này, người đàn bà ấy nói gì nhất nhất Cẩm Lệ đều nghe theo. Ở quán nước có người đàn ông chực sẵn, ông đứng lên theo hiệu lệnh của “bà chị”, liền bước ra và khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy. Ông hối hả chở “kiện hàng trinh nữ” đi tới một nhà nghỉ, hối hả lột bỏ áo quần Cẩm Lệ, phô bày da thịt trong ngọc trắng ngà, chân chất hương đồng cỏ nội, mùi gái quê thuần khiết không pha tạp. Hôn hít rồi đi sâu vào người nó ắt sẽ khiến điều hoà kinh mạch, làm ăn hanh thông, vận hên luôn tới và tuổi thọ có thể kéo dài thêm đôi ba năm.

Gần một giờ đồng hồ sau, Cẩm Lệ thực sự tỉnh thức. Chiếc gối đẫm đầy nước mắt, tay chân nhừ mỏi, cửa mình đau rát và một cõi lòng đầy cả sợ hãi, nát tan. Một tuần trước, ở thành phố khác, báo có thuật chuyện theo lời kể của chủ nhân tiệm bán vàng: Đúng ngọ, trời nắng gắt, một bà bước vào hỏi mua vàng, tự nhiên người tôi như say nắng, hoa cả mắt, bà ấy chỉ thứ gì nằm trong tủ kính tôi đều lấy ra, xong cái bả biến đi hồi nào tôi chẳng hay. Khi đã lại thần hồn thì chỉ biết đứng chết điếng, nói không ai tin, tôi vừa mất đi tới bảy lượng vàng, êm ru bà rù.

Cẩm Lệ vừa bị chúng cướp đi cái ngàn vàng, nhưng may phước là bọn ác ôn còn tử tế, không nhẫn tâm, qua việc chúng có để lại một triệu đồng giữa chăn chiếu tơi tả. So ra bà bán vàng kia quả là vô phước hơn. Cẩm Lệ ngó thứ tài sản quá lớn vừa từ trên trời rơi xuống. Cẩm Lệ dòm tờ lịch: 13 tháng 3. Làm tính đố cộng trừ một chốc, hay ra đó là ngày sinh nhật mình tròn 15 tuổi. Không ai hơi sức đâu để tâm tới chuyện lặt vặt ấy, chỉ có bọn giàu có mới bày đặt trưởng giả học làm sang mượn cớ ngày sinh tháng đẻ để gầy tiệc tùng bù khú ăn nhậu. Cẩm Lệ ra chợ mua bộ áo quần mới rồi tìm về tiệm đóng hòm của ông “dượng”, nói mà chẳng cần tới sự đồng ý của gia chủ: Cho tui vào tắm một phát nhen, nóng chết cha mệ nội luôn. Ủa, có sao đâu, bữa rày còn làm bộ khách sáo! Ông nói thêm: Mới sai thằng Quới đi ra quán cơm bụi mua mấy dĩa sườn bì chả, có gì nán lại ngồi ăn chung một thể. Ăn ba hột cũng được, cốt lấy thảo.

Quới trạc tuổi với Cẩm Lệ, nó dưới quê ngác ngơ lên đây được “dượng” nuôi cơm để học nghề thợ mộc. Học thì ít mà bị sai vặt là nhiều. Chỉ mình Quới phụ việc, hô đâu chạy đó. Nó có sứ mạng phải đi, nên “giang sơn” chuyên cung cấp “bộ đồ lớn” cho người chết chui vào chỉ còn duy một mình ông chủ tiệm. Và chủ tiệm cũng vừa nghỉ tay thôi bào thôi đục, sẵn ngồi không nên khi nghe tiếng nước đổ rào rào trong phòng tắm có dựng tấm tồn ngăn che mong manh thì không ngăn nổi sự tò mò thọc mạch. Lóng rày nó trổ mã dù thiếu hơi trai, nói theo giọng thằng Quới thì là “điện nước đầy đủ”. Dượng nhón chân nín thở đi lại chỗ đáng để đặt mắt vô thăm dò. Thót tim. Tóc tai nó dày rậm e hơn cả mẹ nó, thiệt là con hơn mẹ thì nhà có phúc. Gỗ thì có không dưới ba loại thuộc hàng quý, giá đắt phỏng tay, cưa khoan cắt đục phải bở hơi tai mới đoạn lìa thân cứng. Và do méo mó nghề nghiệp, “dượng” nghĩ chùng vụng, thân thể con Cẩm Lệ nhễ nhại ướt át trơn láng đó coi bộ săn chắc bên tám lạng bên nửa cân so với loài thảo mộc đang dần khan hiếm trong rừng rậm.

Cẩm Lệ đã tắm xong, đã dội nước kỳ cọ tẩy rửa vùng miền bị xâm hại, ô uế. Không có khăn để lau mình lau mẩy, cứ thế mà tròng bộ đồ mới mua vào người. Hơi rộng chút đỉnh, nhưng chẳng hề gì, mang đi giặt qua một lần thì hàng vải nội hoá này sẽ tự khắc bó lấy thân, khít khao. Dượng giả bộ ngó lơ mà chẳng đặng, vải áo in hoa hoè hoa sói kiểu gì mà bắt con mắt quá. Người ta quen nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” thì chỉ đúng có nửa phần. Bộ y phục con Cẩm Lệ đang mặc thì rõ là vừa tốt gỗ mà nước sơn cũng tốt không khoan nhượng. Tiệm hòm dù không mở hai bóng đèn néon dài tám tấc cũng nào có tối tăm gì, tự nhiên có luồng ánh sáng chiếu rọi một cách lạ thường do bởi có Cẩm Lệ đứng đó. Dượng nuốt nước bọt, nó vừa tắm xong, nó như một cây cà-rem có ai vừa chăm chỉ mút, chảy mềm, hẳn là ngọt ngào hết biết, hẳn là mật ngọt chết ruồi, hẳn là giết người không gươm đao.

Bao lâu thì thằng Quới trở về? Nó đi đã lâu chưa? Cẩm Lệ gióng tiếng. Dượng nhìn ra con đường: Hỏi chi vậy? Thằng này có tật ưa la cà, như gà sổng chuồng, đôi lúc sai việc mà thiên lôi cứ vác búa chạy rông. Cẩm Lệ dùng tay thử độ co giãn ở thắt lưng quần. Một là nó hơi rộng, hai là do bởi bụng đói ăn. Cẩm Lệ nói với cúi mặt, tóc rủ che: Có việc này không nên để cho người thứ ba biết… Dượng đến khép bớt một cánh cửa, phía trống trải. Bên kia đã có cái quan tài kê trên đòn, án lối. Có nghĩa là sao? Chuyện bí mật thì bao giờ cũng nóng lòng muốn nghe qua. Cẩm Lệ ngắt lời: Có sẵn tiền đó không? Đưa tui hai triệu, xong cái leo lên bộ phản gỗ kia tui lột đồ nằm ngữa muốn làm gì thì làm. Bảo đảm là cuộc mua bán này chỉ có người trong cuộc biết thôi…

Dượng ngó chăm vô người Cẩm Lệ. Sao lại đột xuất thế? Sao bữa nay nó đưa ra lời đề nghị táo tợn như rứa? Nghe mà khí huyết đảo lộn, người nóng ran, dễ nhồi máu cơ tim, dễ chui vô áo quan ra đi không lời từ giã quá. Dượng nuốt nước bọt: Hai triệu đâu phải nhỏ, muốn có hoạ may phải đợi tới chiều mai. Thứ nữa là thằng Quới hắn đường đột dẫn xác về thì chết một cửa tử. Phải lên phương án hành động nhằm tránh sơ suất, cụ thể là tính toan vẹn toàn xong, chiều mai dượng chốt cửa ngồi trong bóng tối đợi Lệ chui vô. Cẩm lệ nhìn ra vuông nắng chiều xắn một khoảng nơi bậu cửa: Nước đến chân mà không chịu nhảy, phải đợi tới mai thì không sợ tui đổi ý sao. Một là tối nay hai là mãi mãi chẳng còn cơ hội. Ui, sao ưa chơi kiểu thắt họng thế? Vậy thì khi thằng Quới mua cơm về cứ ngồi ăn với nó, dượng đi chạy tiền xong tìm cách tống khứ nó ra khỏi nhà đặng tụi mình làm việc bí mật với nhau.

Chiếc xe tay ga được chủ nhân dắt ra, vụng về quờ quạng một lát mới điều khiển nó vặn vẹo chạy thoát khỏi cơ sở chuyên bán hòm. Chứng tỏ là ổng thành thật, không đủ số tiền mà đối tượng ra giá, đòi hỏi. Hai triệu cũng chả nhiều nhặng gì, nhưng tình ngay lóng rày bà con cứ sống mạt máu, lặt lìa vướng trăm thứ bệnh rề rà mà chẳng ai chịu chết cả, việc kinh doanh vì thế đâm hơi bị ế. Dượng mà ngồi ngáp vặt thì sự thiệt hại đó lại kéo theo một bộ phận không nhỏ khác đói cơm, đó là mấy ông thầy tụng, mấy bà rành phong thuỷ, các vị thầy bói, tập đoàn phu phen đào huyệt và công ty chuyên sản xuất bia mộ khắc tên tuổi kẻ vừa về nơi chín suối.

Cẩm Lệ mó tay vô công tắc đèn khi thằng Quới tay xách bịch ny-lông rõ to lần khân bước qua ngạch cửa. Hắn chỉ la đúng một chữ “Ủa”, mặt tái đi như kiểu trông thấy ma. Con ma nọ nửa quen mặt nửa lạ lùng. Cỡ tuổi Quới bắt đầu biết ngánh biết nghía biết nghễ biết nhìn đểu con gái. Mặt nổi mụn, thanh quản có cục gì mắc kẹt lộ hình làm phải đổi giọng, bể tiếng. Con ma dễ thương ấy chưa biết tới áo nịt vú nên chi cái thứ trốn đằng sau cứ thế mà lên xuống phập phồng. Đã đoạn tuyệt với quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân, bây giờ là cam thì mai kia mốt nọ sẽ là bưởi, mà cực đoan làm trái với quy định thì hổng chừng mà biến đổi thân phận thành trái dừa. Ai cầu dừa đủ xoài thì mặc họ chớ bản thân thằng Quới có ưa nếm lê nếm cam thì hoàn cảnh nào có cho phép mà thử qua. Ngoài chợ chỉ bán thuốc trừ sâu diệt chuột chứ nào có thuốc liều, gan ai to chứ gan thằng Quới này nhỏ có chút xíu hà. Phải mà được làm giáo viên cho cam, cứ mang chiến thuật đổi điểm lấy tình mệt nghỉ.

Thế ông chủ đi đâu hổng thấy. Dượng mới sai tui đi mua thức ăn đó mà… Mua hai phần chứ gì? Mày với tao cứ thế mà ăn vô tư. Ổng đi lo công chuyện rồi? Quới quẹt mồ hôi mặt: Mới có người vừa qua đời à? Hay việc gì quan trọng xúi phải khẩn trương? Ừ, có thể. Lo ăn lia ăn lịa đi, bởi không chừng ổng về lại giao sứ mạng cho mày đi giải quyết. Quới kéo lê chiếc ghế: Ngoài chợ dạo ni nổi lên nhiều nguồn thông tin lạ lắm nghen. Quới nói trong khi bày hai phần cơm ra trên nắp quan tài dùng thế mặt bàn. Mày chăm đi hóng tin hèn gì ổng la cái thằng thiên lôi vác búa chạy không, đi đâu đi lâu dữ! Quới ngó một hạt nút nằm trên áo Cẩm Lệ, có thể do trời nóng nực nên nút phải bung ra cho gió lọt vô, mát chút đỉnh. Làm con gái thật khổ, riêng cái khoản không được ở trần thông thoáng như hắn. Đang mặc sơ-mi thấy nóng: Cởi. Áo thun ba lỗ vẫn nực: Cởi. Tuy chẳng vai u thịt bắp nhưng muốn mát mẻ thì dứt khoát phải khoe thân, ruồi bu kiến đậu muỗi cắn chỉ là chuyện nhỏ. Quới rưới nước mắm lên mặt cơm:

Biết ông Thôn không?

Thôn nào?

Thôn chạy xe ôm. Thôn Bù đó.

Tại răng kêu ổng là Thôn Bù?

Bị ổng lúc nào cũng ngợi ca vẻ đẹp giòng sông Thu Bồn chảy qua quê ổng. Tán mà hổng ai nghe thì bù trất. Thu Bồn chẳng Thôn Bù thì biết kêu chữ gì khác?

Thôn Bù chạy xe thồ, rồi sao nữa?

Tối hôm qua ổng trúng mánh lớn, chở được một ông Việt kiều về thăm quê, cuốc xe chừng có mười cây số chứ xa xôi gì mà khoắm được tiền công tới ba triệu. Mừng húm. Tới khi trở xe ra đường lộ, dưới ngọn đèn đường sáng moi cọc tiền ra đếm lại cẩn tắc vô ưu mới phát hiện tiền giả. Mặt bác Hồ đàng hoàng, giống y chang nhưng tiếc cái là hổng có chòm râu. Ba triệu đồng cộng hoà xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc đó ngoài chợ kêu bằng tiền âm phủ.

Chết mẹ. Loạn quá! Bọn tiêu thụ bạc giả chơi kiểu đó rõ là không khoan nhượng coi khinh tới nền công đạo nhà nước rồi.

Biết bà Tôn không?

Hết ông Thôn xong tới bà Tôn. Lập ngôn xong tới bán trôn. Tôn nào?

Bà Tôn Lò chủ cà phê đèn mờ trên đường Đồng Khởi đó.

Khi không sao thêm chữ Lò vào tên bả? Thôn Bù cho cố xá lại đến lượt Tôn Lò, kỳ cục!

Đâu biết, ai bảo sao mình nghe vậy. Bả kể là người ta vừa triệt phá đường dây tội phạm chuyên đi vào vùng quê hẻo lánh để mua người.

Cái gì? Trộm chó hoặc mua heo gà bò trâu, xưa nay vẫn thế, người mô phải là súc vật mà nói tới chuyện bán mua?

Nghe đồn là bọn Đài Loan khuyến mãi tiếp thị gì đó, giá một cô trinh nữ được trả là 5 tới 8 ngàn đô la Mỹ. Làm vợ xong cái vô luôn quốc tịch xứ người. Khoẻ re.

Cẩm Lệ nuốt không trôi cục cơm, nhai nhằm một vụn xương sườn heo thiếu đường mẻ răng, đau như cắn phải lưỡi. Phun ra. Quới nhìn: Ưa nghe thêm chuyện bùa chú mang về từ Thái từ Cam không? Mấy “em” dấu dưới lưỡi đợi Tây ba-lô bú mồm xong cái thì tối tăm mặt mũi bủn rủn tay chân giao trứng cho ác liền khi. Nhưng mà đôi lúc đâu phải nương nhờ tới việc yểm bùa, ai mà hôn Cẩm Lệ đứa đó cũng phải bổ nhào say lăn quay. Mày nói vậy là có ý gì? Thuốc lá Cẩm Lệ đó, tui thử hút rồi, đi mây về gió lâng lâng goắt cần câu. Nếu trong cơm còn cát sạn hoặc xương xóc hoặc gặp phải ớt cay nuốt không xuống thì cứ việc phun vô miệng tui chứ phun cơm xuống đất thêm mang tội với trời. Mồ tổ mày nghe Quới, bị không có mặt dượng đây nên mày ưa làm tới đòi trèo cao sao? Quới phát tiếng he he he. Đừng nổi sùng, thầy bói nói sau này ai mà lấy được chú em thì cô ấy sướng lắm lận, nào khác gì được quới nhơn phù hộ độ trì. Mày quới đản thì có, không dám đâu.

Quới cất tiếng cười. Rõ là quái đản, cười mà nghe nào khác tiếng dê kêu. Mình trần tươm đổ mồ hôi láng lườm, phía dưới thì quần xà-lỏn nhăn nhàu bèo nhèo thu dấu một bộ phận rất chi là cà chớn. Lớn bao dường mà đòi hăm he muốn khoe hàng? Cẩm Lệ thôi nhá cơm: Sức vóc mày trai tráng nên ăn hết phần này đi, lại rót cho tao ly nước coi. Chuyện nhỏ. Quới nói. Không phải đặt điều chứ Cẩm Lệ sai việc gì tui cũng vui trong bụng, còn nghe dượng ấy chỉ việc tui hổng thích chút nào, lao động tắt quạt mà mô có vói tới được vinh quang. Mày thề bán mạng thì tao tin, giả như mai này tao làm chuyến đi bụi xa khỏi chốn heo hút cùn mằn này thì mày có dám làm bạn đường với tao không? Mắt Quới lại đặt để vô hạt nút áo, hay đúng hơn là nhìn cái chữ V vén mở thứ màu da ăn nắng. Hắn nói: Hai đứa đang ngồi quanh với mấy cái quan tài, thằng Quới đây xin thề thốt nguyện bỏ theo Lệ dù trôi sông lạc chợ tới chốn sơn cùng thuỷ tận cũng không sờn lòng, nói láo sẽ chết dấm chết dúi bờ cây bụi cỏ chẳng có hòm che thân. Đã được chưa? Hắn xuống giọng: Tui nghe chữ bú mồm hơi bị lạ, Lệ cho tui thử một miếng. Đồ qủi, sao không nói sớm? Biết vậy hồi nãy đã mớm cơm thừa cá cặn cho mày nhai.

Dượng về, tiếng máy nổ của chiếc xe coi bộ dòn dã hơn lúc đầu hậm hực gầm rú chạy ra đường. Tiếng động cơ đôi khi cũng chất chứa tâm trạng chứ không đùa, nó ngầm bảo chứng rằng như thế trong túi quần dượng đã xoay đủ hai triệu đồng. Công đoạn tiếp là tìm cách tống khứ thằng đệ tử Quới cản mũi kỳ đà sớm chừng nào tốt chừng đó, khỏi gai con mắt. Có mặt thằng du kích thêm rách việc, khó hoàn thành công cuộc giải phóng minh bạch đời đứa con gái thịt thơm từng xúi thế lực dượng vắt tay lên trán nuôi kế hoạch mười năm ngỗn ngang cả mộng mị. Treo tòng ten ở tay lái là cái túi ny-lông chứa đựng một chai lít chất lỏng gì đó. Chắc hẳn không phải là dự trữ xăng dầu vì sợ thị trường đang thay phiên lên giá vượt mức quy định. Khớp với hoàn cảnh thì e rằng đó là rượu ngâm ngũ xà, hoặc nhân sâm Hàn quốc nhập lậu, hoặc ngâm thai nhi Trung quốc xuất xưởng, hoặc đậm đà bản sắc dân tộc là toa thuốc Minh Mạng lục giao sinh ngũ tử. Tóm tắc là dược liệu ông uống bà khen hay, hoặc một thứ cường dương bổ thận hoàn chơi cho xứng đồng tiền bát gạo.

Cẩm Lệ đứng vòng tay quan sát, đã cùi thì nào sợ hủi, chim bị thương một lần thấy ná giương lên thì giật bắn nhưng đã là phận con người thì phải can trường hơn chim chóc. Cẩm Lệ làm bài toán cộng rất mực đơn giản: Một triệu máu đổ gộp với hai triệu nước mắt vị chi là ba triệu đời hoa chưa thể bỏ cuộc, vùi dập, tàn héo. Ôm ba triệu, kiểm tra bạc ông Hồ có râu đàng hoàng để tránh đồ hàng nhái, xong cái hú thằng Quới mần chuyến xuôi Nam. Quới à, mày thề rồi đó và mày phải nên tin tao, đường ra trận mùa này đẹp lắm dù trời đất cực đoan thay phiên nổi cơn gió bụi lấm lem.

Hồ Đình Nghiêm

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

thoibao.com

Phạm Tín An Ninh

Ngày 19/12/2018

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máutrong lòng. Muốn tạm quêntrong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượutrong một cái quán nằmtrong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếngtrong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhàtrong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng. anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượngtrong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chếttrong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hải hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:
– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhấttrong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lạitrong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhautrong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của côtrong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhấttrong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quântrong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cốtrong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mìnhtrong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằmtrong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạmtrong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứtrong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡtrong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằmtrong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chếttrong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

– Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.
– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặt.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển,trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng,trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này,trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượutrong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lạitrong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.


Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 Aug 2026

Năm ngoái, Thông Tấn Xã CSVN đã công bố một thành tích xuất cảng gạo trong năm 2003: 4.2 triệu tấn, tăng 400,000 tấn so với năm 2002. Nguồn tin này còn cho biết, năm 1999 là năm vô địch, Việt Nam đã xuất cảng gạo ra nước ngoài tới 4 triệu rưỡi tấn. Năm 2003 cũng là năm đầu tiên Việt Nam sản xuất 400,000 tấn gạo sang Châu Phi. Gạo Việt Nam không chỉ đạt số lượng cao mà còn đạt chất lượng tốt, chỉ thua gạo Thái Lan 5-10 đô la một tấn. Đọc tin này, chúng ta buồn hay vui? Vì sao Việt Nam đạt con số gạo xuất cảng đứng hàng thứ hai thế giới, mà ở Orange County, ông mục sư Nguyễn Xuân Bảo còn quyên tiền của đồng bào, đem về Việt Nam mua từng bao gạo nhỏ để phát cho đồng bào vùng thôn quê?

Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại năm 2002 tải về cho VN 2.4 tỉ, năm 2003: 2.8 tỉ đô la; năm 2004: 3tỷ 3. Miền Nam trên bờ vực thẳm 1975 chỉ cần 300 triệu đô la trong cơn hấp hối mà không kiếm ra. Đó là qua các đường dây chính thức, cộng đồng gởi qua các đại lý gởi tiền ở Mỹ có giấy phép chính thức, chuyển qua trung gian ngân hàng ở Singapore rồi về ngân hàng Việt Nam đem tiền tới khách hàng. Thống Đốc “Ngân Hàng Nhà Nước CSVN” đã cho biết “thặng dư ngoại tệ sau khi đã cân đối các khoản trả nợ tín dụng ngoại quốc là khoảng 1 tỉ đô la một năm. Mức thặng dư ngoại tệ trong năm 2004 sẽ gần với mức đó.” Ngoài ra số tiền Việt kiều đem lậu về Việt Nam cho gia đình không tính, trong tổng số tiền đem về này, số tiền dùng vào việc cứu trợ không phải là ít. Các bạn thấy CSVN giàu có hay nghèo đói, để chúng ta phải cưu mang, cứu giúp?

Đúng ra chính phủ CS quá giàu, nhưng dân Việt Nam thì quá nghèo. Đó là sự thật xẩy ra ở hầu hết các nước CS, từ Liên bang Xô Viết, CS Đông Âu trước kia và Bắc Hàn, CSVN ngày nay. Và ngày nay, nhờ đồng tiền của hải ngoại gởi về cho Việt Nam, càng ngày chính phủ CS càng thấy rõ mối lợi lớn có thể lợi dụng này đã có những chiến dịch kêu gọi tình thương của những người đã bỏ nước ra đi. Họ không từ nan việc thổi phồng các thiên tai, thiệt hại ở quê nhà để đánh động lòng thương của hải ngoại. Con người Việt Nam là con người sống bằng tình nghĩa, lương tâm, đồng bào chúng ta đi thoát được sang ngoại quốc không bao giờ quên gia đình, thân quyến kể cả bạn bè, lối xóm còn ở lại. Do đó dù việc gởi tiền về Việt Nam có thể làm cho chính quyền CS thêm sức mạnh, như thức ăn nuôi người đang bệnh, đương nhiên cũng làm cho các tế bào ung thư lớn mạnh thêm. Nhưng vì mục đích nhân đạo, chúng ta không thể làm ngơ trước hoàn cảnh khó khăn của người thân. Ngoài việc giúp tiền, có thể nói hằng tháng cho thân nhân ở quê nhà, đồng bào chúng ta ở hải

ngoại còn sốt sắng đóng góp tự nguyện hay được các tổ chức tự do hoặc thân CS kêu gọi:

Giúp đỡ các nạn nhân thiên tai (bão lụt) gần như hằng năm. Giúp đỡ các trại cô nhi, người già, người tàn tật (mù, què cụt) bằng tiền bạc hay xây dựng cơ sở, nơi tạm trú 1. Giúp đỡ phương tiện cho các học sinh nghèo hiếu học. Gởi tiền về xây chùa, trùng tu nhà thờ (kể cả việc sửa một cái cổng hay nới rộng hoặc xây to lớn thêm).

2. Về xây trường học ở các vùng thiếu trường. Giúp đỡ thương phế binh (VNCH hay nói chung là nạn nhân của chiến tranh ở cả hai miền) tiền bạc, nhà, xe lăn, thực phẩm. Làm đường, đào giếng nước. Các phái đoàn bác sĩ khám chữa bệnh, vá môi, giải phẫu dị tật … và giúp đỡ thuốc men. Xây nhà riêng cho thân nhân, xây mộ phần, tô đắp nghĩa trang tổ tiên, thân quyến làm đẹp thêm cho vẻ đẹp bề ngoài của chế độ.

Tính con số ngoại tệ gởi về mỗi năm lên đến hằng tỷ đô la, thì cộng với những sự giúp đỡ vữa kể trên, hải ngoại chúng ta đã đem tiền về cho Việt Nam lên tới con số bao nhiêu?

Chúng ta thấy rằng trong nhiều năm gần đây, chính quyền CS không bao giờ làm khó dễ hay ngăn cấm những phái đoàn cứu trợ về Việt Nam, nếu những công cuộc cứu trợ đó không đem theo những lời tuyên truyền cho chính trị hay đạo giáo có tính cách chống lại chế độ, trái lại còn làm ngơ và khuyến khích bằng những chiến dịch qua tin tức phổ biến bằng cách phóng đại những thiệt hại ở quê nhà. Thái độ của Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng CS là tuy biết Việt Nam đang ôm chặt cái bầu sữa bổ béo “khúc ruột ngàn dặm”, của hai triệu người phải di tản, luôn luôn tỏ thái độ có vẻ o bế nhưng đầy tính cách hằn học, khinh miệt khi phải đụng tới vấn đề chính kiến. Vẫn bám chặt lấy vú con bò sữa, nhưng mồm thì đầy vẻ khinh thị, bất cần. Tại sao những công tác về y tế, giáo dục, xã hội như xây trường, xây bệnh viện, làm đường, đào giếng nước, giúp đỡ người đau ốm, CS không muốn làm, trong khi lại khuyến khích việc xây khách sạn, nhà hàng, khiêu vũ trường, sân đánh gôn. Vì sao cán bộ CS và những tay nhà giàu có gởi con đi du học, chịu tốn phí hằng chục nghìn đô la hằng năm, trong khi chúng ta tom góp từng đồng bạc hải ngoại để mua từng cuốn tập, cây viết, đôi dép cho đám học sinh nghèo. Vì sao bọn cán bộ cao cấp quyền thế trong chế độ CS có năm bảy cái xe hơi đắt tiền, có nhiều ngôi nhà cho thuê, có hàng nghìn cổ phần trong các công ty lớn, hải ngoại chúng ta đi kêu gào xin từng tấm tôn lợp nhà cho dân? Trong khi ngay ở Saigon, những anh cán bộ và gia đình lắm tiền vào nằm các bệnh viện cao cấp của Pháp, Mỹ … mỗi ngày phải trả $100 US, và các bác sĩ Việt ở đó có đồng lương mỗi tháng 3,000 đô la, thì hải ngoại có những phái đoàn bác sĩ về đi làm công tác nhân đạo, khám bệnh, phát thuốc cho đồng bào nghèo khó quần rách áo ôm. Việc cứu trợ đồng bào khốn khó ở quê nhà, nói thế, nhưng chúng ta cũng dư biết, như muối bỏ biển, chẳng thấm vào đâu đối với cái nghèo khó, khốn khổ kinh niên và rộng lớn của con dân nước Việt.

Những người có lương tâm ở hải ngoại đã làm việc thay cho bọn vô lương ở quê nhà, chúng ta hành động với con tim đầy tình thương thay cho bọn có con tim bằng sắt đá. Những việc làm đó có đáng cho chúng ta làm không? Đó là câu hỏi lớn mà chúng ta đã nghe nhiều người đặt ra với cộng đồng. Người ta nói những người đặt câu hỏi này là những thành phần chống Cộng quá khích. Người “quốc gia” chúng ta thường sống theo tình cảm, theo nhân tính và chính việc này chúng ta đã thua CS nhiều phen. Ngày xưa bao nhiêu sĩ quan miền Nam đã tiếp đón thân nhân, người quen thuộc hoạt động cho CS, có khi vì một lời giới thiệu xa mà người miền Nam đã chứa chấp cán bộ hoạt động nội thành CS ngay trong nhà mình. Nhiều bà mẹ “nuôi ong tay áo”, đào hầm nuôi bọn nằm vùng không phải vì chống quốc gia mà vì tình thương hay vì bị hăm dọa, bị đưa vào đường cùng phải hành động như thế.

Gần đây báo chí cả CS lẫn bên Mỹ loan tin một cách có thiện cảm với việc xây dựng những làng Việt Kiều có đầy đủ tiện nghi ở vùng Nhà Bè, Khánh Hội, với giá mỗi ngôi nhà lên tới giá $200,000 và làm những bài phóng sự về cuộc sống phong lưu phè phỡn của những con người trước đây đã vượt biên. Có thể trước đây họ là những con người cũng khốn khổ, lam lũ như mọi người, nay sau một thời gian ở nước ngoài đã thay da, đổi thịt, trở lại quê nhà, đổi đời và sống trong những ngôi nhà đắt tiền bên cạnh đồng bào ruột thịt chúng ta còn quá ư nghèo đói, lầm than trong những xóm nghèo bùn lầy, nước đọng. Đó là một sự hưởng thụ cạnh những đau khổ, khốn khó của những người kém may mắn của mình và tô son vẽ phấn thêm cho chế độ. Khi những người đã ra đi vì tránh hiểm họa và sự cai trị của CS, nay đã đem đồng đô la trở về ung dung mua đất, mua nhà để hưởng thụ, thì chế độ CS đâu còn là một chế độ “cọp dữ” mà người ta phải đi tránh nạn như trước đây nữa!

Như vậy, nếu việc khuyến dụ Việt kiều về Việt Nam mua nhà thành công thì coi như những chữ “đi tìm tự do”, những câu chuyện vượt biên vượt biển, “bỏ phiếu bằng chân” không còn một chút mảy may giá trị gì nữa, mà tự những người vốn là nạn nhân của CS phải bỏ nước ra đi, tự thân họ đã làm cái việc phủ nhận những hành động của họ trước kia. Và chế độ CS được ngẳng mặt lên nhìn thế giới tự do để nói rằng chế độ bây giờ quá tốt đẹp, không có gì đáng chê trách, bằng chứng là “người về càng ngày càng đông, người đi càng lúc càng thưa dần” như lời nhạc của Trịnh Công Sơn. Cộng đồng hải ngoại phải chăng là không có sức mạnh để có thể làm khuynh đảo chế độ CS ở quê nhà?

Chúng ta có thể thấy rõ là chính chúng ta hôm nay đi biểu tình hoặc tuyệt thực chống Cộng tích cực, nhưng ngày mai lại nhịn ăn, nhịn mặc để gom góp đồng đô la gởi về cho thân nhân vừa để nuôi thân mà nuôi luôn chế độ bất hảo càng thêm lớn mạnh. Việc cứu trợ cho đồng bào ruột thịt ở quê nhà cần được cân nhắc đúng, chúng ta chỉ giúp cho cá nhân bị nghèo đói, thiệt thòi, không giúp cho “nhà nước” CSVN xây dựng lại hạ tầng cơ sở như trường học, bệnh viện hay cầu cống, vì đây là bổn phận của các cơ quan chính phủ “nhà nước CS”.

Hiện nay chính phủ CS đang đổ tiền vào đầu tư trong các ngành du lịch để kiếm tiền, móc túi khách ngoại quốc, hoặc phục vụ cho một số nhỏ giai cấp có tiền như xây sân “gôn”, sân quần vợt, khu giải trí … trong khi thực sự bỏ bê những vùng dân cư xa đô thị, thiếu cả những tiện nghi căn bản trong đời sống.

Cũng chính vì cái bề mặt luôn luôn được tô son trát phấn, vậy mà đồng hương của chúng ta trở về, có người vì nông cạn, hời hợt đã có cái nhìn lạc quan, Việt Nam bây giờ giàu có, nhà cao cửa rộng, mọi người ăn ngon mặc đẹp, vũ trường đông người nhảy, nhà hàng nhiều người có tiền vào ăn nhậu. Những dân ở các vùng xa, lội qua sông rạch không có cầu, gạo không có ăn, như những tờ báo của chính đảng CS đã loan tin nhiều người phải ăn cây xương rồng như nguồn tin một vài năm trước đây. Các tổ chức nhân đạo quốc tế đã kêu gọi lòng từ tâm của nhân loại để rồi đi xây những ngôi trường khang trang tốt đẹp sát quốc lộ 1 hay ở ngay thị xã như Đồng Hà hay Quảng Nam, Quảng Trị. Điều đó có thiết thực giúp cho đồng bào nghèo khó không hay chỉ tô điểm thêm cho chế độ CSVN ở bề mặt để cho mọi người dễ trông thấy. Con người việt Nam ở hải ngoại là con người thương nước, nhớ nhà, đầy tình nghĩa, nhịn ăn nhịn mặc (vì không phải ai cũng khá giả). Hải ngoại không thể quên thương binh, quả phụ là những người phải đền ơn đáp nghĩa, bà con họ hàng đang nghèo khó phải giúp đỡ, nhưng những công việc có tính cách giúp đỡ cho chế độ ở quê nhà khác, có lẽ cần phải xem xét lại. Đây là một vấn đề rất khó xử giữa lý và tình, giữa thái độ chính trị và lòng nhân đạo đã gây nhiều tranh luận trước đây. Chế độ Cộng Sản là một khối ung thư trong thân thể gầy còm, suy dinh dưỡng Việt Nam, khổ một nỗi khi tẩm bổ cho thân thể thì cũng làm cho các tế bào ung thư phát triển mạnh hơn.

Hải ngoại có nghe những lời tuyên bố hoàn toàn xác thật pha đôi chút hãnh diện của nhà cầm quyền CSVN: “sau khi đã cân đối các khoản nợ tín dụng ngoại quốc, thặng dư ngoại tệ của Việt Nam lên tới một tỉ mỗi năm” chưa? Vậy chúng ta còn giúp đỡ, gánh vác cho cái “nhà nước” tham ô, bất nhân này bằng cách góp tay xây giúp trường học, xây cầu cống, xây nhà dưỡng lão … cho đến bao giờ?