Chỉ giỡn chơi thôi

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on November 3rd, 2020

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã gần kề! Không khí càng sôi động, sùng sục như chảo nước sôi dùng để cạo lông heo. Bên ‘Cuồng Trump’ lẫn bên “Cuồng Chống Trump” gấu ó, chửi nhau ỏm tỏi! Bên tám lạng; đằng nửa cân, sùi bọt mép, chí chóe với nhau như hai bà bán rau cải ở chợ Cầu Ông Lãnh!

Nhưng quyết định cuộc đua, ai thắng ai thua lại là thành phần thứ ba, đứng chàng hảng chê hê. Ðám nầy được gọi là ‘The Quiet American’ (Người Mỹ thầm lặng). The Quiet American nầy hổng cuồng đứa nào hết ráo! Họ chỉ vểnh lỗ tai lên nghe và dùng đôi  mắt kèm nhèm của mình để đọc. Ðọc xong thì lại hỏi nhà báo một câu rất lý thú là: “Ðôi khi tui nghe hoặc thấy trên ‘Facebook’ hoặc ‘Twitter’ một bài phát biểu chính trị – hoặc một bản tin – mà tui không chắc nó có đúng hay không? Làm thế nào tui có thể tìm ra được sự thật?”

Lo như vậy là quá xá đúng! Vì trong thời buổi vàng thau lẫn lộn, tin tức tùm lum, tà la, bay tá lả, bay lả tả trên ‘net’, ma quỷ và người! Thì làm sao mình biết ai là người? Ai là quỷ, là ma? (Nếu nó không có đi hổng hai chưn trên mặt đất?)

Vì vậy cho nên Fact-checkers (Người kiểm tra sự thật) là kiếng chiếu yêu, xài cũng tốt, vì soi tới đâu là tin giả nó hiện nguyên hình hè. Fact-checkers là cái hải bàn giúp cho thủy thủ biết được hải trình trong cơn sóng cả đầy những tin giả. Tin giả tràn lan vỗ miết mạn thuyền, kêu ‘oàm oàm, oạp oạp’, toan nhấn luôn đầu óc của người đọc chìm sâu vào biển ngu tăm tối!

Dà con xin trả lời ông (bà) Nội con nít như vầy: “Kiểm tra sự thật, ai nói thiệt ai nói dóc, là một chuyện rất quan trọng. Nó không chỉ giúp ông (bà) Nội đoan chắc rằng việc nghiên cứu để làm luận án ở trường Ðại học của mình không bị sai lệch, không chính xác, mà còn bảo đảm rằng ông (bà) Nội là một người có suy xét, có hiểu biết. Ngoài ra nó còn giúp cử tri mở mắt ra trao tráo, mở mắt ra thao láo, với cái đầu minh mẫn như vừa uống xong một tách ‘cà phe’ đen thật đậm vào buổi bình minh.

Ðầu óc sáng suốt để chọn lựa được người tài đức (họng), người sẽ làm đầy tớ cho mình trong vòng 4 năm sắp tới! Bằng không, mình sẽ vò đầu bứt tóc, nhéo lỗ tai, đấm ngực, than rằng: “Ta đã lầm đưa nó vô Tòa Bạch Ốc”. Ðể nó ăn trên ngồi trốc, ăn ốc bắt ta đổ vỏ ốc; bằng cách bốc, rồi lủm tiền đóng thuế của ta!

Tranh Bảo Huân

Dạ! Tui xin trình cho ông (bà) Nội con nít một số trang ‘web’ kiểm tra sự thật nổi tiếng, có uy tín, thường công bố kết quả của họ trực tuyến để ông (bà) Nội con nít có thể tham khảo một cách nhanh chóng:

  1. FactCheck.org: phi đảng phái, phi lợi nhuận, mục đích nhằm làm giảm mức độ lừa dối trong chính giới Hoa Kỳ. FactCheck.org theo dõi tính chính xác của những gì chính trị gia của Hoa Kỳ phát biểu trên quảng cáo tranh cử trên truyền hình, tranh luận, bài phát biểu, phỏng vấn và loan tin tức.
  2. LogicCheck: được lấy từ nhiều nguồn và trang ‘web’ xác minh sự thật, chuyên sử dụng các nguyên tắc và phương pháp hay nhất của báo chí để giúp người dân tách sự thật khỏi sự giả dối trong chính giới Hoa Kỳ. Ðể người dân Mỹ không bị các nguồn ‘Tin tức giả mạo’, tức ‘Fake News’, lừa phỉnh!
  3. Snopes.com: là nơi dân Mỹ có thể yêu cầu xin kiểm tra tin tức. Các nhà nghiên cứu sẽ điều tra nó và dán cho nó một trong một số thứ hạng, từ: ‘Ðúng‘, ‘Hầu hết là đúng’. Hoặc là ‘Sai’. Hay là ‘Huyền thoại’

(Huyền thoại tức là đặt dóc, như bài ‘Huyền Thoại Mẹ’ (bợ đít CS) của nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công Sơn vậy!)

Xin chúc may mắn! Good Luck! các ông (bà) Nội con nít, quởn, ở không nên nhiều chuyện, khoái xen vào chánh sự nước Mỹ như tui vậy. He he!

***

Khuya nay, khi tui leo lên ghế, ngồi khỏ bàn phím lốc cốc để viết bài nầy, thì trên Fox News của Trùm truyền thông thế giới, ‘mông xừ’ Rupert Murdoch (người Mỹ gốc Úc chớ không phải gốc cây) đồng hồ nhích từng ngày, giờ phút giây cho biết: Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ chỉ còn 15 ngày, 11 giờ 49 phút, 43 giây nữa là tan sòng đánh cá ngựa, hên xui may rủi, biết ai thắng ai thua?

Bà con cử tri Mỹ cũng như nhân dân toàn thế giới, trong đó có cả tui, sẽ biết hai con ngựa già: Joe Biden (78 tuổi), đảng Dân Chủ và Donald Trump (74 tuổi), đương kim Tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa, con ngựa nào sẽ ‘lết’ về tới đích trước.

Sỡ dĩ tui dùng động từ ‘lết về tới đích’ vì cả hai ông nầy đều già háp, gần hết xí quách, gần đất xa trời. Nhưng vì lòng yêu nước Mỹ dạt dào, bao la quá xá nên nhứt định hy sinh, thân nầy kể bỏ. Leo lên leo xuống cầu thang máy bay, hai tay run run nhưng vịn thật chắc để mà bay kiếm phiếu tùm lum, tà la vòng vòng nước Mỹ. Nhứt là ở các tiểu bang chiến trường miền Trung Tây nước Mỹ đang ngang ngửa, nhứt chín nhì bù giữa đôi bên. Cả hai ứng viên đối địch sẽ khóc than: “Ông đi qua; bà đi lại làm ơn, làm phước bỏ phiếu cho tui. Hu hu!” Thiệt thấy thảm thương luôn! Ôi Cái vòng danh lợi cong cong, Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào?!

***

Vừa bước ra khỏi chiếc ‘Air Force One’, Ông Trump tuyên bố với đám đông cuồng nhiệt tại tiểu bang Georgia, đang la ó um sùm để ủng hộ ông, rằng “Nếu tui mà thua ứng cử viên dở ẹc nhứt trong lịch sử chính trường là ‘Joe ngủ gật’; thì tui sẽ vĩnh biệt nước Mỹ dấu yêu nầy để bay ra nước ngoài, bay về nơi gió cát! Bạn sẽ không còn nghe tui đàn và hát”

Tui thì ngược lại! Xin đừng đi! Ông Trump ơi! Ðừng dắt Melania đi mất! Xin đừng bắt chước Chú ba Phạm Lãi dắt á xẩm Tây Thi lặn mất vào Ðộng Ðình Hồ hồi thời Việt Vương Câu Tiễn nhe ông!

Mất ông, tui buồn một! Nhưng mất Melania tui buồn tới một (trăm). Vì Melania là Hoa hậu trong những ‘The First Lady’ già khú đế của nước Mỹ. Nước Mỹ và tui tim sẽ vỡ tan, sẽ buồn rầu, sẽ rờ râu râu rụng; rờ rún rún rung rinh. Nước Mỹ buồn thỉu, buồn thiu! Buồn như Sa mạc Nevada hoặc Sa mạc Sahara chiều lên cơn bão cát! Cát bay làm rát hai con mắt, khóc người một con! Hu hu!

“Yêu người như thế đó. Người bỏ người ra đi. Lời thề bay theo gió. Gió ơi gió bay cao. Thôi từ nay còn nói năng gì?” Con vợ bé của tui, mới vừa lãnh từ Việt Nam qua, một thành viên trong đám chị em ta, thuộc nhóm ‘Cuồng Trump’, vừa nước mắt, nước mũi lòng thòng (thấy mà gớm), vừa khóc than như vậy đó. Sao ông nỡ bỏ đi cho đành lòng?

***

Sau một hồi bình tâm nghĩ lại, tim bớt đập mạnh, bớt xúc động vì nghe tin Trump sẽ bỏ nước Mỹ ra đi, nếu thất cử vào ngày mùng 3, tháng Mười Một tới! Vì tui chợt ngộ ra rằng ông Trump chỉ xuống ‘xề’ để chỉ giỡn chơi thôi. Ông muốn chọc quê ca, nhạc sĩ lừng danh Springsteen, 71 tuổi, vốn đã thề rằng ông sẽ lên chuyến bay tiếp ngay sau khi kết quả bầu cử được công bố, để bay đến Úc, nếu Trump tái đắc cử”.

Rồi tay trống cũng lừng danh, Tommy Lee, thề có Chúa: ‘Tôi sẽ ra khỏi đây. Tôi sẽ trở về đất mẹ, trở về Hy Lạp và kiếm một ngôi nhà nằm chơi vơi trên một đảo hoang nào đó, nếu Trump tái đắc cử”

Thôi mấy ông ơi! Cho tui xin can! Mấy ông bỏ nước Mỹ đi hết ráo thì cũng được đi! Nhưng cái tui sợ nhứt là Melania sẽ bắt chước mấy ông đòi trở về đất Mẹ, Tiệp Khắc, Slovenia, là cuộc đời của dân Mỹ sẽ buồn lắm đó mấy cha!

ĐXT

Melbourne.

Cánh mỏng phù du

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

“Màu tối mù lau vách đá
Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ
Rồi đi biệt
Để hờn trên đỉnh gió
Ta ở đâu?
Cánh mỏng phù du
”.
(Tuệ Sỹ)

Anh không lạ khi nghe tin, bởi anh biết sức viết của cô. Cái anh chẳng ngờ là cô gom chúng lại, tự bỏ tiền in thành một tập truyện. Lúc này đây, khai sinh ra hai ba trăm trang giấy, dán keo, đóng bìa, cắt xén, tựu trung là hình thành một cuốn sách; hình ảnh ấy thấy hiếm và váng vất chút bất ổn. Dĩ nhiên anh chẳng thể nói lên cái cảm nhận quái gỡ đó. Bởi nói, chính anh là đứa buồn phiền chứ chẳng phải cô. Chúng ta sống trong giai đoạn kỳ cục hết sức. In ra cuốn truyện đầu tay nào phải là một việc làm phi pháp cho cam!
Anh cũng chẳng rõ cụm chữ “tiền mất tật mang” nhằm áp dụng vào trường hợp nào thành ra anh không nên mang ra so sánh. Có tác phẩm, trình làng một cái tên, điều ấy chả nhẽ lại bị chấn thương? Anh là đứa rất ngại kê gạch giữa đàng làm khó dễ một niềm vui đang vận hành suông sẻ. Anh thành thật, đồng thời cũng biết đóng kịch. Suốt tuần, mỗi khi gặp cô, anh vẫn khai mở những nụ cười. Anh muốn cô nhìn nhận rằng anh cũng lăng xăng hòa chung trong cái happy ending kia.

Cô muốn lôi anh vào cuộc và anh muôn đời là tên lính yếu đuối “hàng sống chống chết”. Rất cảm động, cô bảo: mình muốn tạo một kỷ niệm, ông có thể viết ngắn một cảm nhận hoặc minh họa đôi ba phụ bản. Anh thuộc loại hàng binh an tâm cải tạo và thành quả là “bảng báo cáo” dài hai trang chữ viết tay gò dũa ý tưởng khi tiếp cận cõi văn của một người viết mới. Cô hoan hỉ khen anh có văn tài nhưng đề nghị nên để tên thật chứ ba chữ Một Độc Giả thì có vẻ như nhặt từ lưới xuống. Phản hồi treo trên mạng thường ngó không sướng bởi tính hư ảo khuất mặt của nó, chẳng danh chính ngôn thuận. Cô phán. Và anh lại dong tay đầu hàng. Tên cha sinh mẹ đặt của anh trôi dạt qua nhiều bến đục bến trong, khởi đi trên những cuốn sổ điểm danh viết mực xanh suốt thuở học trò vụng dại, nằm trong học bạ, đánh máy chữ oai vệ trên thẻ sinh viên, thẻ căn cước (có lăn tay và dấu vết dị hình ghi ở mặt sau) rồi giấy chứng thực kẻ vô tổ quốc (tên họ bắt đầu rơi rụng mất dấu sắc huyền hỏi ngã), rồi thì thẻ bọc nhựa cam đoan rằng cái bản mặt lạc hồn của thằng người ấy đích thực là công dân xứ lá phong, nó thành Cà-na-điên đấy chứ chẳng phải chơi (khi không lại đổi ngược họ tên)… Trôi, ba chìm bảy nổi, trôi đắm, dật dờ và sau rốt tạt vào, nằm đường bệ trong cuốn truyện vừa lay-out xong của cô, ở những trang cuối (lần này thì nguyên vẹn hình hài thứ tên cúng cơm thời khởi thủy). Anh nói với cô tới chữ vận mệnh, tên của mỗi người dường như mang sẵn một duyên số.

Anh phụ cô việc đóng gói bao bì dán băng keo trong cẩn trọng. Y như xẻ chia một nửa người của cô ra, tẩm liệm rồi chuẩn bị xuất dương sang Đài-loan. Bên ấy in rẻ, bao trọn gói, từ a tới z, giá thành mỗi cuốn là 4 đô-la. Trẻ lên ba cũng biết làm phép tính, 12 thằng giặc Mỹ xâm lược bị bộ đội giết đi 4, đố em còn lại mấy đứa? Dạ thưa cô, nếu trời thương, sách bán chạy, chuyến này cô làm cách mạng để triệt tiêu thành ngữ dân gian ác miệng “từ chết tới bị thương đếm không xuể”. Và thành ngữ này chết đi tất yếu sẽ có thành ngữ khác hiện hữu: Bận sau cứ thế mà làm, điếc không sợ súng toàn thắng ắt về ta!

Oan cho cô, cuộc chơi này chẳng dính dáng tới chuyện tiền bạc được mất. Cô có ưu điểm: Thường đãng trí việc tính toan. Anh gần cô, thích cô do anh sợ những người con gái xem đồng tiền là thước đo mọi giá trị. Một người viết văn như cô mà còn ôm đồm thêm lãnh vực toán học thì hỏng. Hỏng hoàn toàn, vì xưa nay hai chiến tuyến ấy không cách gì hòa hợp được, anh nghĩ vậy. Một bên sống trong mộng tưởng, hư ảo, phù du và bên kia sống giữa suy tính trần trụi, những so đo rạch ròi công thức hơn thua.

Cô hẹn anh ở quán ăn, gọi là thế cho một phủi tay mãi bận bịu. Đánh chén, mừng đi xong nửa chặng đường. Cô có gọi rượu chát, thứ dùng để khai vị, và thật bảnh khi ngón tay cô chỉ vào những món nặng tiền in lệch lạc trên tấm thực đơn. Cô biết tính anh, hơi thụ động, nên cô toàn quyền lựa chọn và quyết định kia có hơi hào phóng. Hai nhân mạng nhưng thức ăn có thể chứa căng bốn cái bao tử. Chữ “tả páo” có thể sẽ nói ra sau bữa ăn và dứt khoát cô dúi mấy hộp đồ ăn dư vào tay anh. Bỏ phí tội trời, nuốt cũng được ba bốn hôm, dại gì, nhỉ? Chưa khi nào anh ngó ra vẻ linh hoạt của cô hôm ấy, cô sẽ là nhà văn và trong khi chờ đợi sự chứng thực từ bá tánh, nhiệm vụ của anh là phải chia vui. Anh nâng cốc rượu sóng sánh màu đỏ như máu sắp đông để cụng vào ly cô. Tiếng thủy tinh va nhau, anh nghĩ e khi hai trái tim có điều kiện để chạm vào nhau, bất quá nó cũng sẽ phát ra ngần ấy tiếng. Trong trẻo, vui tai và ngân lên một âm hưởng chẳng thể diễn đạt thành lời. Nói chung là rung động. Thứ rung động làm mắt cô trông long lanh hơn thường nhật. Cô không đẹp, khách quan để nói chùng vụng như thế. Duyên ngầm hoặc mang một nét dễ nhìn cũng lẫn trốn đâu đó. Anh chiêm nghiệm về vẻ đẹp khuất tất, nó sẽ hiển hiện nếu ta để tâm. Một cái gì lấp ló e ấp luôn quyến rũ hơn một bông hoa đã mãn khai. Và anh chợt phát hiện thứ đức tính có ở cô. Về cách thức cô thổ lộ, nó phá đi bao ngần ngại để mang ta đến gần, thân cận với bao đằm thắm ý nhị. Hầu như thứ ấy nằm ở dạng bù trừ bởi thượng đế khi nhào nặn ra, chẳng một ai được vẹn toàn, mất cái này được cái khác. Chớ bao giờ bạn dùng chữ “giá mà” hoặc “phải như”, bạn sẽ suốt đời cô đơn vì cách đặt vấn đề xem ra bất khả. Người ta đã có sẵn thành ngữ để chỉ đích danh hạng người như vậy: Được voi đòi Hai Bà Trưng.

Trời chưa khuya khi hai đứa rời nhà hàng. Trời không lạnh, những bông tuyết nhỏ bay vu vơ trước khi tan biến giữa muôn trùng bóng tối. Cô nói, có lẽ mình nên rảo bộ một lát để đốt cháy năng lượng vừa dung nạp quá mạng. Anh đi sát vào người cô để nếu lề đường trơn trợt giá băng cô sẽ có thứ để vịn đỡ, gượng chống. Một chút rượu thấm vào máu khiến bước chân cô trông chẳng được vững chãi. Trong cuốn Rừng Na Uy, nhà văn Haruki Murakami đã viết ra những tiểu tiết lý thú, cô nói, chẳng hạn như đôi nhân tình dắt nhau đi suốt buổi chiều, mỏi chân họ ngồi xuống trên một ghế đá, người con gái chỉ tay về cái ống khói liên tục nhã ra từng luồng trắng đục nặng nề hơn cả mây trôi. Đố anh họ đang đốt thứ gì? Đó là ngôi trường nữ mà em đang theo học. Nhìn vẻ đăm chiêu của người bạn trai, cô gái đưa ra lời giải: Họ đang đốt những cái bông băng vệ sinh dính máu tháng, trường nội trú ấy có không dưới 500 thiếu nữ, bao lâu thì khói sẽ thôi thoát ra nơi cái ống cao ngất trời xanh ấy? Cô thôi kể chuyện sau khi đặt một dấu chấm: Tuyệt cú mèo! Cô bắt đầu nắm lấy cánh tay anh để gió thôi lòn lách giữa hai đứa. Có gì cần sẻ chia không? Cô hỏi, tóc rối bên vai áo ngự hàn. A hèm, tuần trước có gặp lại người bạn cũ, anh nói chậm như bước chân vô định, cậu ấy sau khi nắm bắt một vài thông tin đã ngồi yên, gần như thiền giả: Lạ, tớ am hiểu thuật tướng số, mặt mũi cậu là thứ chứng minh rõ về những sai lạc ám vào hoàn cảnh cậu. Nói khác đi, đời cậu phải sáng lạng hơn những gì cậu đang có. Nói xong, anh cảm thấy áy náy tựa một kẻ say rượu không làm chủ được miệng lưỡi mình. Nó gần là một than van và anh thì chẳng mấy cảm tình với những kẻ vô cớ tự mình làm yếu đuối lấy mình. Anh từng đọc những truyện cô viết, thế giới cô bày ra những nghịch cảnh và thường thì nhân vật tôi trong đó luôn chiến thắng bằng những hành động có khi đi gần tới sự hủy diệt. Cô cứng rắn, hiểu ở một góc cạnh nào đó, thường những người nhan sắc kém họ vin vào thứ gì đó để ứng xử, mặt khác họ buông thả với tất cả cái lạnh lùng. Văn, có thể không là người, nhưng viết được những dòng chữ ấy ra, cũng dễ xúi mình nghĩ nó phản chiếu ít nhiều một tâm tình người viết đã dàn trải. Thứ kinh nghiệm đó, anh không có, anh thích đọc một cuốn truyện nhiều hư cấu, xa sự thật, càng nhiều hoang tưởng càng tốt.

Rất hoang tưởng, cô bảo anh vào cái apt. cô thuê để ngủ đêm nay khi anh đưa cô về tận cửa. Cô thấy lạnh, cô đưa cảm tưởng, bổ túc thêm, như thể ngộ độc thực phẩm. Hơn nữa, trời trở, để ông về một mình đường xa thấy ngại quá. Cô run tay với chùm chìa khóa lập cập và mở cánh cửa kính mờ đục hơi ẩm một cách khó nhọc. Tấm tapis dơ bẩn in dấu những vệt tuyết tan, căn chung cư tịch lặng với ngọn đèn thắp sáng thường trực chói chang nỗi thọc mạch. Gió nhốt bên ngoài và cô đi dáng tự tin dẫn lối vào cái hành lang thâm sâu giữ chặt hơi ấm. Vẫn là sự xao động quen mặt mỗi bận anh tới nhưng nó gia tăng bội phần do bởi cái khác biệt giữa ngày và đêm. Chưa bao giờ anh bước chân vào lộ trình này vào buổi tối, quen thuộc đã vừa giã từ và anh nghe mệt nhịp tim với lạ lùng đột ngột ùa ra chào đón. Hai ba lần cửa được mở, chẳng phải vì điều đó mà người ta sẽ nắm giữ được bí mật. Bí mật có khi chôn sâu trong đầu óc, chỉ có duy thứ máy đọc sự thật mới thông hiểu. Và ngu ngơ, có khi là một dằn vặt, lúc khác mình nên tri ân. Anh đang ngu ngơ, một cậu bé con được mẹ nắm tay dắt tới trường học buổi ban đầu cũng mang vẻ choáng ngộp tựa anh.

Cô pha cho anh một cốc cà phê đậm đặc như kiểu muốn anh tỉnh thức vùng thoát mê muội. Cà phê đen uống vào lúc 11 pm nó ngon khủng khiếp, người uống sẽ dễ ngủ sau đó bởi cái phản ứng của nó chưa kịp tác hại. Giống như uống Viagra, bác sĩ khuyên: Ông cụ nên xơi nó nửa giờ trước khi xung trận. Ba mươi phút dài dằng dặc ấy, như một thiên thu, cụ ông sẽ phải làm gì để đốt thời gian? Đấy là một công án. Thiền giả như anh chậm rãi cởi giày, cởi áo tìm an lạc nơi động từ nhấm nháp chất đen expresso. Thư giãn nghe tiếng nước chảy thoát ra từ phòng vệ sinh. Ngoài hương liệu cà phê mũi anh luôn hít thở hô hấp một mùi kỳ hương dị thảo luôn chờn vờn trong căn phòng quét vôi hồng. Rèm cửa treo màn vải nâu, đèn để bàn sáng với công suất dịu dàng. Những cuốn sách đưa gáy ra đứng chen vai trên giá gỗ. Chiếc bàn khá lớn đặt ở góc, nơi hứng đỡ giàn computer, máy in, điện thoại và lỉnh kỉnh những thứ máy móc dây nhợ rắc rối khác. Đó là nơi hằng đêm cô ngồi vật lộn với chữ nghĩa, ngồi thầm lặng, ngồi lẻ loi, ngồi đối mặt với một thế giới đầy ảo tưởng và cô tin, thế giới đó mang cô thoát ra khỏi cái đời sống tịch lặng này, đánh đổi những mất ngủ, những ríu mắt, những bần thần, dẫu biết ngày mai hư không vẫn còn trên đôi tay.

Cô bỏ anh đi không lời từ biệt, như người ta viết truyện không màng tới một kết thúc, buông thả, ai muốn hiểu sao thì hiểu, người đọc thế tác giả để tự tìm một dấu chấm hợp lý. Điện thoại reo tiếng đục, lát sau có giọng nói: Số này hiện không còn hiệu lực. Anh đi ngang chỗ cô ngụ và thấy chủ nhân yết bảng cho thuê. Trong phút bốc đồng anh lưu số điện thoại người chủ vào iphone, anh gọi và được họ đồng ý cho thuê một năm mà chỉ phải trả 11 tháng tiền mướn. Anh từ chối những tu bổ hoặc họ sẽ quét lại lớp sơn mới ngó cho tươm tất. Anh không thích tươm tất, ít ra trong hoàn cảnh này. Anh muốn ngửi lại, trọn vẹn những hương mùi cũ. Cô đi, nhưng chắc chắc trong căn phòng nhỏ bé ấy còn rơi rớt những thứ cô chẳng thể mang theo.

Cuốn truyện của cô được đón chào khá ấm áp trong thời “gạo châu củi quế”. Chữ bông lơn đó anh dùng để nói với cô với một chú thích: Người ta mặn với internet hơn, người ta làm biếng bỏ tiền mua sách đọc trong lúc thiên hình vạn trạng ở thế giới ta bà tả pí lù miễn phí kia bao giờ cũng rộng mở. Hư đốn cũng có mà nghiêm trọng cũng có. Bịt miệng cũng có trói người cũng có lột truồng cũng có trấn nước dân chủ nhận chìm tự do thì vô số kể nếu cho con chuột đụng mũi tên vào hai chữ VN. Viết, có nên động lòng tới những phần số kém may mắn hơn ta? Nhà văn và thi sĩ, chẳng phải họ luôn dấu kín một trái tim mềm yếu? Chẳng lẽ cứ say cùng trăng và mơ cùng gió suốt kiếp sao? Hôm ấy anh có uống bia với người bạn biết coi tướng số, anh ghé cô và trong cuộc đối thoại, vui miệng anh đã lỡ lời như thế. Cô giận anh, nhưng anh hoàn toàn tin rằng, cô bỏ đi chỉ vì một nguyên cớ đại sự hơn. Cô đi tìm một nửa mãi thất lạc của cô chẳng hạn. Cô lấy chồng hoặc dọn tới một chốn đìu hiu để lấy chất liệu viết tiếp tác phẩm khác? Không chính xác nhưng thực sự thì cô đã vắng mặt chốn này mất rồi. Cô đang là nhà văn nữ, giao tiếp rộng, tự dưng lắm bằng hữu, cô có cả triệu lý do để dời đổi một cảnh sống mà không việc gì phải thông báo cho ai hay. Đột ngột bao giờ cũng là điều lý thú, cô từng nói với anh vậy.

Đồ đạc không nhiều, anh làm chim thiên di trong khoảnh khắc, chẳng mỏi cánh. Anh sẽ chung đụng thế giới hoang lạnh mà cô đã từ chối. Theo trí nhớ, anh bày biện những vật thể của mình trùng khít vào vị trí cô định đoạt trước đây. Này giường này nệm này tủ này bàn này sách này vở. Anh bỏ công lùng sục nhưng chả còn chứng tích cô để lại, hệt một thám tử chuyên lo trọng án anh chỉ nhìn ra đôi ba sợi tóc của cô, một cái khăn khô quắt để quên trong phòng tắm, hết. Mang cho chó đánh hơi, liệu sự tinh tường của chó đặc nhiệm có lần ra tung tích? Mà tìm ra để làm gì cơ chứ, khi một kẻ đã cứng lòng quay lưng. Khi người đã quyết định, cách hay nhất là bạn câm lặng đối phó với chất chồng những dấu hỏi người để lại. Anh không đối phó, anh lỡ nghiện cà phê cô pha. Lóng rày anh uống nhiều, siêng ghé starbucks và đêm về thường mở mắt mường tượng ra dáng cô đi khật khưỡng vào bồn cầu giải thủy. Cô có kể chuyện, bà hàng xóm thường dặn con thơ, chớ nên nghịch bốc tuyết vàng. Anh chậm hiểu, không ngờ xứ này cũng có kẻ mang bệnh tiểu đường. Hay đó là thành quả của một bợm nhậu? Khi say, ta có quyền đái ngoài lộ ở đêm khuya thanh vắng. Vấn đề là anh có đủ can đảm để moi cái vật đáng ghét kia ra khỏi quần khi hàn khí bên ngoài đang chỉ dưới 20 độ âm. Tuyết vàng, như vậy là nhân tạo bởi dễ hiểu điều ấu trĩ: nước đái bà Trời luôn trắng ngần. Trắng nhức nhối, trắng buốt xương, trắng đau lưng mỏi chắc.

Có hôm, trong hộp thư, chen với các thứ biên lai đòi nợ ghi tên anh (muôn năm không bỏ dấu) lạc loài lá thư xanh viết tay cái tên họ cô đủ đầy văn phạm tiếng Việt nhuần nhuyễn. Người gửi là một ông nội nào đó ở tuốt bên Paris. Par avion, dĩ nhiên, nhưng không khẩn cấp nên thư chậm lụt chẳng rơi vào tay khổ chủ. Lịch sự tối thiểu cũng tạo cho anh chút lần khân nhưng sau rốt anh là đứa có thể chai mặt đứng đái đường đêm hôm khuya khoắt mình ên với Tào Tháo bên lưng. Anh vào phòng, thảy lá thư đặc biệt xuống bàn, dằn lòng đi pha một cốc cà phê đen. Từ từ, đi đâu mà vội, chuyện gì cũng còn có đó, anh phát tiếng để nghe hồi âm tiếng vọng của cô đơn. Chưa khi nao, anh thèm được làm nhà văn như hôm nay, để thử xem nó sẽ viết xuống những xáo trộn nào vừa dấy lên trong lòng.

Anh đọc đúng ba lần lá thư với thứ lời lẽ dễ làm xiêu lòng kẻ đón nhận. Bức thư mà đọc xong, nó có hấp lực xúi người đọc phải hồi âm. Anh thay mặt cô, anh tập tành viết văn và anh viết thẳng vào máy vi tính: Anh Nguyễn thân mến, thư anh đến lúc tôi đang chuẩn bị đi xa. Anh có thể gọi đó là hình ảnh của con chim trốn tuyết. Tôi ghét mùa đông, nói chung là sự lạnh lẽo. Anh có thể nói tôi cường điệu nhưng chất thép có trên con dao bén là thứ mà tôi nghĩ anh cũng không ưa khi ngó thấy. Đe dọa, rợn cảm, ngọt cắt da, mùa đông Paris có mang đủ những thứ ấy không? Tôi trốn lạnh, những ấm áp có trong thư anh, tiếc thay nó không làm xáo trộn được cái cơ hàn mà tôi đang hứng chịu. Thú thật cùng anh, tôi có quen một người ở cùng thành phố tôi ngụ, là người viết nên cái bạt in trong cuốn truyện của tôi, chắc anh có để mắt qua. Anh ấy giúp tôi nhiều thứ, kể cả việc qua hình ảnh anh, tôi đã viết nên những trang văn mụ mị gần như bị đồng nhập. Tôi đã ngủ với anh ấy, tôi muốn tự mình khám phá ra những cõi miền mà tôi chưa hề đi thực tế. Chúng tôi làm tình và đớn đau thay việc làm nọ khiến chúng tôi bị đẩy rời ra. Tôi khóc trên chăn nệm, chẳng phải nước mắt đổ ra cho hoan lạc mà nó chảy xuống chỉ vì một tỉnh mộng. Tôi cứ ngỡ sự dâng hiến, cách đi sâu vào nhau của hai thân thể sẽ tạo ra một chấn động khiếp đảm đến mê đắm, nhưng mọi thứ chỉ là hư tưởng. Andre Gide nói:” Sắc màu của sự thật là cái xám ngoét”. Tấm màn xám kia vừa phủ chụp quanh tôi. Tôi phải tìm cách thoát ra mà không gì hơn là một chuyến đi xa. Tôi sẽ ghi nhớ địa chỉ của anh, để biết đâu có ngày buồn chân tôi sẽ thăm thú Paris, sẽ hẹn anh ở quận 13 và chúng ta vào ngồi quán ăn mang tên ấn tượng: “Ớt”. Ngày mai tôi lên đường, không một ai hay. Tôi không thích nhìn cảnh tiễn đưa, sự bịn rịn luôn làm hành lý mình thêm nặng. Tôi biết ít nhất sẽ có một người vô cùng thất vọng cho thái độ của tôi. Tôi cũng không mong người ấy hiểu. Trao thân, có khi chỉ nên giải thích là một hành động ơn đền oán trả. Và oán thì nên cởi chứ không nên buộc. Anh đồng ý không? Tôi đang tự do và tôi nghĩ anh và tôi cũng chỉ nên đứng ngay trên một lằn ranh nào đó thôi. Tôi dẫm qua giới hạn một lần nên tôi hiểu rõ cái thất thoát đớn đau của một giọt nước làm tràn ly. Mong anh vui, khỏe. Ký tên.

Anh tắt máy, chẳng dò lại những dòng chữ viết. Anh tắt đèn, lên giường nằm và dọn giấc ngủ muộn bằng vuông khăn đắp mặt. Chiếc khăn ngày nào cô bỏ quên trong phòng tắm, chiếc khăn lưu giữ một hương mùi, hình như sau đêm làm tình vội vã, cô đã vào rửa ráy và lau khô chỗ kín bằng vuông đắp mặt này. “Khóc mùa hè mà khô cả đại dương”. Anh nhẫm đọc câu thơ Tuệ Sỹ trong lúc đợi mộng dữ đón đường.

Hồ Đình Nghiêm

Trời đất bao la

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới mười ngàn cây số khứ hồi, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước hù, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe, thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.

Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống dầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước mà tôi nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa Tulip, với vườn hoa lớn và đẹp nhất thế giới, những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.

Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên dược cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y 90%, dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom, thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò huyết và những con “hàu”. Mấy loại này ở đây chỉ cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng chúng tôi đến Pháp.

Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân. Tôi bắt gặp đâu đó những đứa trẻ trong Sans Famille của Hector Malo, những người đàn bà trong Les Misérables, và cả những bến tàu có cảnh tiễn đưa trong Oceano Nox của Victor Hugo. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn 50 năm trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong quận 13, nơi có đông ngưòi Việt Nam sinh sống.

Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Đại Tây Dương, gần thành phố Cannes nơi qui tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.

Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ,, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố ” lệnh hành quân”. Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế. Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ “tuyến xuất phát”, tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đuờng tắt này. Vì chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người.

Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt, vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô- lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chập, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mớí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ cỏ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh ” đóng quân tại vị trí ” vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.

Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa, thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi.

Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu:

– Chắc là xe các anh bị hư? Có cần tôi giúp điều gì không?

Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu:

– Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.

– Các anh ở tỉnh nào tới?

– Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.

Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính..Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.

Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng 10 phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chập sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.

Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.

Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.

– Các anh là người Việt Nam? Anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.

– Nhưng làm sao anh biết được vì ở bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn, người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.

– Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.

Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.

Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.

Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.

Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam tỏa ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia.. 
Khi đọc đến tên người mẹ: 
JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER – tôi bỗng giựt mình. 
Cái tên này tôi thấy quen lắm. Bà mất lúc tròn 50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.

Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng? – Không thể nào! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.

Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang, dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét và cũng để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong tình yêu thì ông Trời phạt tôi: phận nhà nghèo mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn, vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có tiền đi học tiếp. Nhưng rồi cũng chẳng có ai chịu thuê một thằng thư sinh nhà quê như tôi. Vừa buồn vừa không có tiền trả tiền cơm cho bà Cả Đọi, tôi đăng vào lính.

Khi chân ướt chân ráo vào Sài gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được tòa đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài gòn, Đà lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách Tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.

Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn Alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn Alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai Alpha.

Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi. và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.

Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc loại nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.

Tới hơn hai giờ sáng, tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.

Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, tôi bất chợt nhớ đến nàng, mở xách tay ra tìm lại tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi: À toi, avec tout mon coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc Sylvie Vartan.

Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình: Đúng là lãng mạn như Tây.

Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng 30 cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buôn súng.

Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do Thổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh sáng lập để thu hút di dân sau 1954.

Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vã và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học , và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì? Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi , thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.

Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội solo xuống núi biệt phái cho tiểu khu Lâm Đồng

Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên QL 14, từ Saigòn chạy lên Đàlạt, vừa bị đặc công giựt sập trong hai đêm trước.

Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng, nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yễm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cây cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.

Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối hợp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.

Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sài Gòn lên. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra. À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ? Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát ; cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng Tây mà anh chưa kịp hiểu.

Cô nhìn tôi cười rạng rỡ:

– Anh là anh Ninh, phải không? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie.

– Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. –

Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền –

– Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chổ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.

Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:

– Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.

Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.

Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt, như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.

Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bửa cơm chiều với ông. Bửa cơm đầy đủ hương vị tây, mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bửa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.

Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa ánh vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng, nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng: muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bải cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông

– Anh có thấy gì lạ không?

Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối

– Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?

Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không?

– Lúc học Littérature Francais, anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động. Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.

Nàng cất tiếng khe khẻ hát bài thơ Les feuilles mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu:

            Et la vie sépare ceux qui s’aimant
           Tout doucement, sans faire de bruit
           Et “le vent” effface sur la “plaine”
           Les pas des amants désunis.

Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.

Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ lại mẹ và hai chị em nàng. Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ? mấy lần nàng hỏi tôi như thế.

Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.

Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân TK Lâm Đồng xin gặp ông Tiểu Khu Trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông Tiểu Khu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.

Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn La Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cỡi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya.

Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thưởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.

Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine de Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt: Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Hôn anh.

Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẩn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.

Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.

Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.

Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.

Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.

Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng: Jacqueline Cuvéro.

May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais’s mon amour silensieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la vie

Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sàigon. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt Nam.

Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.

Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đôi tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong.

Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ: Jacqueline, màu vàng. Mấy thằng lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giã vờ: tại vì tao ái mộ bà vợ của Tổng Thống Kennedy.                                     
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bũa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.

Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.

Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.

Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.

Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió:

Et la chanson que tu me chantais
Toujours, toujours je l’entendrai.!

    (Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe
     Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây)

Vương Quốc Nauy, mùa hè 2004
Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Không biết ông bạn già của tôi nghĩ gì khi vào cuối tháng mười, lúc trời bắt đầu se sắt lạnh, nước Mỹ đổi giờ và trời hình như bắt đầu tối nhanh hơn. Từ lễ Thanksgiving trở đi, các trung tâm thương mãi đã sửa soạn giăng đèn kết hoa, đón mời khách mua, rộn ràng âm thanh và hình ảnh của những ngày lễ cuối năm. Trẻ em chắc phải hớn hở vui mừng, lòng hân hoan đón những ngày nghỉ sắp đến, quà cáp, ăn uống, sum họp. Những đôi vợ chồng trẻ lo lắng, sắp đặt những chuyến đi chơi xa hay trở về nhà bố mẹ lòng đầy phấn khởi nghĩ đến tương lai.

Riêng tôi, mỗi năm lúc bắt đầu nghe tiếng nhạc Giáng Sinh, nhìn những ánh đèn nhiều màu nhấp nháy trên những cành thông ngoài phố hay trong phòng khách, lòng bỗng xúc động lạ thường và một nỗi buồn xâm chiếm lấy tâm hồn. Khi tuổi trẻ nghĩ đến tương lai, thì người già nhìn lui về quá khứ.

Đã biết bao nhiêu mùa Giáng Sinh trôi qua, từ lúc cắp sách đến trường, tuổi biết yêu, rồi quê hương chiến trận đạn bom, rồi trại tù giá lạnh, rồi nước Mỹ mênh mông lạnh buồn làm chạnh lòng người xa xứ. Nhìn lại tháng ngày qua, mới đó mà thấy đã thật xa, thăm thẳm dài, nhìn tương lai đàng trước, còn lại chẳng bao nhiêu, thấy chừng rất ngắn ngủi. Khi sống trong đau khổ, ta muốn kéo sợi chỉ thời gian nhanh hơn, khi hạnh phúc ta muốn giữ tháng ngày chậm lại. Nhưng ngày tháng vẫn trôi đi như những dòng nước không bao giờ trở lại như một nhà thơ đã nói: “Thời gian và con nước không chờ đợi ai”. Ông bạn già của tôi có bao giờ nghĩ đến việc đi tìm lại một hình ảnh cố nhân không? Người thiếu nữ ngày xưa mà bạn thường mơ mộng, theo đuổi hay đã có một thời yêu thương. Có mấy người còn có cơ hội để gặp lại nhau, mà:

“Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi con mắt còn có đuôi! (Phan Khôi)

Bây giờ đã bốn, năm mươi năm rồi. Xin hãy để những hình ảnh ấy yên ngủ trong dĩ vãng dịu dàng, xin đừng đánh thức những sự thật phũ phàng khi gặp lại một bà cụ già bệnh hoạn, vầng trán nhăn nheo và mái tóc rối bạc. Những hình ảnh đã mất đi là những hình ảnh đẹp nhất của đời người, có thể chẳng bao giờ tìm lại được.

Trên cuốn sổ điện thoại, tên nhiều người bạn chưa được xóa đi nhưng những con số không bao giờ dùng tới. Những đoạn đường hay thành phố, qua đó bỗng chạnh lòng khi nhớ đến một vài người thân đã không còn nữa. Đi thăm một người quen đã hôn mê trong bệnh viện, ghé nhà quàn thắp một nén hương, đứng lặng một vài giây để nhìn người bạn lần cuối hay buổi sáng sớm nghe điện thoại một người ở xa báo tin buồn, để thấy cuộc đời không còn vô tư, phấn khởi như những ngày còn trẻ.

Chúng ta có bao nhiêu điều để hối hận, tiếc nuối hay buồn rầu về những lỗi lầm của tuổi trẻ, những cơ hội đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại như những dòng sông vẫn trôi. Mỗi sáng thức dậy, mỗi buổi tối lên đèn lập lại từng ngày, càng lúc càng nhanh như ai đó làm người kéo màn khép lại từng màn kịch và mở ra những màn nối tiếp. Rồi cuối cùng vang lên tiếng vỗ tay trong màn cuối, nhà hát bật đèn, mọi người đứng dậy và một đêm kịch thực sự đã chấm dứt. Nhân vật của kịch bản đã chết nhưng diễn viên vẫn sống để đóng vai trở lại, mà chúng ta thì sẽ không bao giờ còn cơ hội đó nữa. Đây chính là cuộc sống. Nếu cho chúng ta “đi lại từ đầu”, chúng ta có sửa sang, tu bổ, khôn ngoan chọn và viết lại kịch bản, thánh thiện hơn phàm tục, ở hiền thay sống ác cho hết một đời người, hay cuối cùng vẫn chẳng có gì đổi thay.

Bây giờ mùa đông tới, trong những khớp xương nghe đau nhức như nỗi buồn đã thấm vào da thịt. Bây giờ người già trở lại như đứa trẻ thơ, nhớ nhớ quên quên, vụng về, lẩm cẩm. Những đứa cháu mới bé thơ năm nào nay đã lớn như thổi, vậy thì cũng không mấy ngạc nhiên khi tóc mình càng ngày càng thưa dần và chuyển sang bạc trắng. Tre già bên những mầm măng mới mọc, những ngọn lá vàng rơi xuống và nằm yên ẩm mục để làm nhựa cho cây. Vòng quay của sự sống diễn ra từng giờ trước mắt chúng ta, nhưng mỗi khi nghĩ đến chuyện ra đi, người ta có bình thản như một người sắp trở về, đi trên con đường quê nhà quen thuộc thời thơ ấu, như một triết gia nào đó đã nói chăng?

(tgv 05)

Lần đầu con đi bên cha

Phạm Sơn Liêm

Posted on August 7, 2026 by dongsongcu

Đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 13 Aug 2026

Sau ngày tìm được hồ sơ quân dịch của cha trong National Archives, Emily thay đổi.

Không phải chỉ vì tập hồ sơ.

Mà vì lần đầu tiên… Cô biết người cha hiền lành, suốt đời chỉ cặm cụi đi làm, từng có một tuổi trẻ rực lửa.

Một buổi sáng tháng Sáu. Emily gõ cửa phòng cha.

— Ba…

Advertisement

— Ừ?

— Cuối tuần này… ba có đi Ngày Quân Lực 19 tháng 6 không?

Người cha ngẩng lên. Đôi mắt ông đầy ngạc nhiên. Mấy chục năm nay… Ông vẫn đi.

Nhưng luôn đi một mình.

Ông khẽ gật đầu.

— Có.

Emily cười.

— Cho con đi với.

Ông tưởng mình nghe lầm.

— Con… đi thật sao?

— Dạ.

Sáng hôm ấy. Emily bước xuống cầu thang. Cha sững người. Con gái ông… Đang mặc áo dài trắng.

Advertisement

Chiếc áo dài ngày xưa mẹ mua. Bao lần bảo mặc, nó đều lắc đầu.

Hôm nay… Nó tự mặc. Emily hơi ngượng.

— Ba…

Con mặc vậy… có kỳ không?

Ông nhìn con thật lâu.

Khóe mắt đỏ lên.

— Đẹp lắm.

Đẹp như mẹ con ngày xưa.

Đến nơi.

Lá cờ vàng tung bay. Tiếng quân nhạc đang tập dợt vang lên. Những mái đầu bạc đứng đó đây…

Có người chống gậy.

Có người ngồi xe lăn.

Trên ngực áo, đầy huy chương.

Advertisement

Emily bỗng thấy tim mình nghẹn lại. Đây không phải những “ông già” như cô từng nghĩ. Đây là những chàng trai của năm mười chín, hai mươi tuổi…

Chỉ là thời gian đã bạc tóc họ.

Một bác cựu quân nhân bước đến. Nhìn Emily rồi cười.

— Cháu là con ông phải không?

Emily gật đầu.

— Dạ.

Người lính già quay sang cha cô.

— Mày giỏi.

Nuôi được con như vậy là thắng rồi.

Hai ông già ôm nhau. Không ai nói gì thêm. Chỉ vỗ vai.

Như năm mươi năm trước.

Buổi lễ bắt đầu.

Advertisement

Người điều khiển chương trình xướng danh từng quân binh chủng.

Không quân.

Hải quân.

Thủy quân Lục chiến.

Biệt Động Quân.

Nha Kỹ Thuật.

Mỗi lần một quân kỳ đi ngang. Những người lính già đều đứng dậy. Emily cũng đứng theo.

Lần đầu tiên… Cô đứng nghiêm vì lịch sử của chính gia đình mình.

Sau buổi lễ. Một bác lớn tuổi lấy từ túi áo ra chiếc huy hiệu cũ. Đã trầy xước. Đã phai màu.

Bác nói:

— Cái này ngày xưa của đơn vị ba cháu. Bác giữ mấy chục năm.

Advertisement

Hôm nay… Cho cháu.

Emily cầm chiếc huy hiệu bằng hai tay. Như cầm một báu vật. Cô quay sang cha.

Run run cài chiếc huy hiệu lên ngực áo ông. Hai bàn tay cô vụng về. Cài mãi không được.

Người cha chỉ mỉm cười.

Đứng yên. Để con gái cài giúp.

Khi chiếc huy hiệu nằm ngay ngắn trên ngực áo… Emily bất ngờ ôm lấy cha.

Giữa hàng trăm người.

Giữa những lá cờ đang bay.

Cô nghẹn ngào:

— Ba… Con xin lỗi.

Ông vuốt tóc con.

— Xin lỗi gì vậy con?

Advertisement

Emily khóc.

— Hồi nhỏ… con ghét áo dài.

Con ghét nhạc lính. Con nghĩ ba cứ sống với quá khứ… Con không hiểu…

Người cha lắc đầu.

— Không sao.

Ba chưa bao giờ buồn. Ba chỉ chờ… Một ngày con tự hiểu.

Emily ngước lên. Nước mắt chảy dài.

— Ba… Con hãnh diện vì ba.

Chỉ một câu nói. Người cựu quân nhân từng đi qua chiến tranh.

Từng sống sót sau trại cải tạo.

Từng cắn răng làm đủ nghề nơi đất khách. Đã không khóc khi mất quê hương.

Không khóc khi đói.

Advertisement

Không khóc khi bị giam cầm.

Hôm ấy… Ông khóc.

Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống hai má nhăn nheo.

Chiều xuống. Hai cha con ra về. Emily nắm tay cha. Như ngày xưa… Chỉ khác là lần này, người dẫn đường không còn là cha nữa. Mà là cô con gái. Bước thật chậm. Để cha đi bên cạnh.

Trong ánh nắng cuối ngày.

Người cha mỉm cười. Ông biết… Có thể mình đã mất quê hương. Nhưng không mất tương lai.

Bởi hôm nay… Con gái ông đã tìm thấy cội nguồn. Và từ nay, câu chuyện của người cha sẽ không kết thúc cùng thế hệ ông. Nó sẽ được kể tiếp…

Bằng chính tiếng nói của đứa con gái sinh ra trên đất Mỹ.

Phạm Sơn Liêm.

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 13 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Tôi trở về nhà như là một sự điếm nhục cho gia đình tôi cũng như cho làng nước. Gặp nhiều vấn đề rắc rối, sự nghèo đói của gia đình tôi càng lúc càng trầm trọng. Má tôi và người anh lớn cắm cúi trên thửa đất nhỏ từ bình minh cho đến hoàng hôn. Cả hai người và ba chị gái của tôi, ăn mặc quần áo tả tơi. Mái tranh, nơi tôi đã lớn lên, tiêu điều dột nát. Mọi người trong làng đã hân hoan đặt hết tin tưởng vào chuyến đi Ðông Kinh của tôi, họ chờ đợi chia sẻ sự thành công của tôi. Bây giờ, mặc dù tôi làm cho họ thất vọng, nhưng không ai buông thẳng một lời trách cứ nào. Tuy nhiên trong đôi mắt họ có bóng dáng của sự xấu hổ và họ thường quay mặt để tránh làm tôi bối rối. Bởi thái độ này mà tôi không dám đi lại trong làng. Tôi không thể nào chịu đựng nổi sự trách mắng lặng lẽ của họ. Mong muốn chạy trốn khỏi nơi tủi hổ này trở thành mong muốn mãnh liệt trong tôi. Bấy giờ tôi nhớ lại tấm yết thị to tướng ở nhà ga Saga kêu gọi thanh niên tình nguyện gia nhập vào hải quân. Ðầu quân hình như là lối thoát duy nhứt cho một kẻ sống trong tình trạng khổ sở. Má tôi, từng chịu đựng sự vắng mặt của tôi trong mấy năm, đã than khóc trước quyết định ra đi một lần nữa của tôi. Nhưng bà không còn cách chọn nào khác.

Ngày 31 tháng 5 năm 1933, tôi đầu quân ở căn cứ hải quân Sasebo, và trở thành một thủy thủ 16 tuổi cấp bậc Thủy binh hạng IV (Yontosuihei). Căn cứ này cách phía Ðông nhà tôi 50 dặm. Tôi bắt đầu một đời sống mới của một thứ kỷ luật sắt, của một sự cứng rắn vượt xa cả những cơn ác mộng kinh hoàng nhất trong cuộc đời tôi. Và chính nhờ vào tâm niệm Bushido mà tôi đã tồn tại.

Chắc chắn rằng độc giả xứ ngoài sẽ khó tán thành thứ kỷ luật thép mà tôi phải chịu đựng trong Hải Quân. Các hạ sĩ quan không ngần ngại trong việc đánh đập tàn nhẫn tân binh mà họ thấy cần trừng phạt. Trong trường hợp tôi phạm kỷ luật hoặc lỗi lầm trong huấn luyện, đêm đến một hạ sĩ quan lôi đầu tôi ra khỏi giường hét lên: “Chống tay vô tường! Cúi gập xuống, tân binh Sakai! Tôi làm việc này không phải oán ghét anh, nhưng vì thương anh, muốn anh trở thành một thủy thủ giỏi! Cúi xuống!”.

Và hắn vung cây gậy thật dài đập xuống mông tôi. Ðau đớn khủng khiếp, và mạnh mẽ không thể tưởng. Không có cách nào khác hơn là nghiến răng để khỏi bật tiếng kêu la. Nhiều khi tôi bị đánh tới 40 gậy. Thường thường tôi ngất xỉu. Tuy nhiên hình phạt không thể bỏ qua vì lý do bất tỉnh. Viên hạ sĩ quan sẽ dội một thùng nước lạnh lên thân xác mềm nhũn của tôi, dựng tôi dậy, và tiếp tục áp dụng “kỷ luật”. Một tân binh phạm lỗi, tất cả 50 tân binh khác đều bị đánh. Do đó, mỗi tân binh đều tìm hết cách ngăn chặn đồng đội phạm lỗi. Mỗi lần bị đánh, chúng tôi không thể nằm ngửa trên giường. Hơn nữa, chúng tôi không được phép buông lời than oán, ngay cả một tiếng kêu trong đau đớn của mình. Ðể cho một người rên rỉ khóc than vì đau đớn hoặc tủi thân, mọi người sẽ bị đá hoặc lôi cổ ra khỏi giường để lãnh hình phạt.

Lẽ dĩ nhiên sự đối xử như vậy làm cho chúng tôi oán ghét bọn hạ sĩ quan. Bọn này đa số đều 30 tuổi, và hình như không được lên cấp trong suốt cuộc đời binh nghiệp của họ. Ám ảnh quan trọng nhứt của họ là tìm cách khủng bố tân binh. Chúng tôi coi hạng người này như những con thú bạo dâm hèn hạ nhứt. Trong vòng 6 tháng, công việc huấn luyện khắc nghiệt đã biến chúng tôi thành bầy gia súc. Chúng tôi không bao giờ dám hó hé trước các mạng lịnh đưa ra, không dám tỏ ý nghi ngờ cấp trên. Chúng tôi không dám làm bất cứ cái gì khác hơn là thi hành lập tức mệnh lệnh của thượng cấp. Chúng tôi vâng lời như những người máy.

Công việc huấn luyện tan thành một khối lờ mờ sự tập dượt, học hỏi, và tập dượt, của những cây gậy vung lên liên hồi, của những chiếc mông ê ẩm luôn luôn, của thịt da bầm giập và mặt mày nhăn nhó khi ngồi xuống. Khi hoàn tất khóa huấn luyện tân binh, tôi không còn là một chàng thanh niên hăng hái và đầy nhiệt tâm như lúc rời khỏi ngôi làng nhỏ bé đi học tại Ðông Kinh nhiều năm trước đây. Ðường học vấn thất bại, sự tủi hổ của gia đình và kỷ luật huấn luyện, tất cả hợp lại đè bẹp tôi, tánh tự tôn tự đại của tôi bị hạ sát ván. Nhưng không bao giờ, trong suốt thời gian huấn luyện cũng như sau này, nỗi phẫn nộ sâu xa về sự tàn ác của bọn hạ sĩ quan giảm bớt trong tôi. Ra trường tôi được chỉ định làm thủy thủ tập sự trên thiết giáp hạm Kirishima. Tôi đã nghĩ, sau thời gian huấn luyện, sự đối xử tàn nhẫn sẽ giảm bớt đi. Nhưng không, và có thể nói tôi còn bị đối xử tệ hơn trước đây. Cách tốt nhất mà tôi phải làm: vượt khỏi số kiếp của một tên thủy thủ hèn mọn này. Mỗi ngày tôi không được rảnh rang tới một tiếng đồng hồ, nhưng tôi cũng đã sử dụng thời gian này học hỏi thêm. Mục đích của tôi là xin theo học khóa huấn luyện đặc biệt của Hải Quân. Như vậy, một anh lính tình nguyện mới có thể hoàn tất về kỹ thuật và chuyên môn, đủ điều kiện để thăng chức.

Năm 1935, tôi đậu kỳ thi tuyển vô trường huấn luyện tác xạ hải pháo của hải quân. Sáu tháng sau, tôi lên Thủy binh cấp I (Ittosuihei), và được chỉ định nhiệm vụ trên biển trở lại, lần này trên thiết giáp hạm Haruna, phụ trách một trong những pháo tháp 356 ly. Tình trạng của tôi khá hơn, sau nhiều tháng lênh đênh trên chiến hạm Haruna, tôi đã trở thành hạ sĩ quan với cấp bậc Hạ sĩ (Santoheiso).

Cháo gà đi bộ

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

June 23rd, 2022

Post by Sơn râu 13 Aug 2026

Tranh Bảo Huân

Tháng Sáu, trời mùa Ðông Melbourne xuống tới 5 độ C. Lạnh quéo râu mà con vợ lại vắng nhà. (‘Em yêu’ đã bay về Việt Nam sửa sắc đẹp: chẻ cằm, nâng mũi, gắn mụt ruồi duyên… rồi trồng răng giả).

Tui đang lui cui bưng con gà nấu cháo ra, đặt lên dĩa, để lên bàn, đốt nhang, rót bia vào ly, lâm râm khấn vái, để mời Ba về ăn giỗ Má cho vui thì có tiếng khỏ cửa cóc cóc. Hơi ngạc nhiên! Vì ở cái xứ Úc nầy ít khi có cái chuyện khách tới nhà mà không thèm điện thoại báo trước cho gia chủ.

Mở cửa thì thấy anh bạn thân cười hí hí, nói: “Tớ ghé nhà cậu, ăn cháo gà đi bộ đây!” “Ủa mình nín khe hổng mời ai hết ráo sao thằng chả biết mà đến vậy ta?

Tỉnh bơ như người Hà Nội 75, để thùng bia nặng trịch trên vai xuống, ảnh xăm xăm vô bếp, bỏ bia vào tủ để cho nó kịp lạnh.

Tên của anh bạn nầy hồi cha sanh mẹ đẻ là: Nguyễn văn Tép. Ảnh nói hồi tớ mới sanh ra nhằm nạn đói năm Ất Dậu 1945. Ðói là vì Phát xít Nhựt Bổn nó bắt đồng bào mình phải nhổ lúa bỏ đi, trồng cây đay cho nó sản xuất quân trang, quân phục.

Hậu quả là dân không đủ gạo mà ăn, đói chết như rạ. Thiệt là tội nghiệp!

Vì vậy trong bụng mẹ, tớ đã suy dinh dưỡng. Ðẻ ra, tớ nhỏ xíu con hè chưa tới 2 kí lô gram. Nên Thầy, U tớ mới đặt tên tớ là: Tép!

Nhưng khi vượt thoát gông cùm Cộng Sản chạy qua được tới Melbourne, nước Úc nầy đây, tớ nghĩ tên Tép coi bộ hổng có ‘oai’. Nên tớ lựa cái tên lớn hơn con Tép một chút là con Tôm.

Phần tớ đọc truyện trinh thám rất nhiều, nên tớ lấy tên là Sherlock Tôm. Tên na ná Sherlock Holmes để ‘boss’ Úc dễ kêu, dễ sai, dễ biểu.

Với cậu, người Việt Nam mình, thì cậu gọi tớ Tép hoặc Tôm gì cũng được!

Nghe ảnh từ bỏ tên Tép, cái tên cha sanh mẹ đẻ của mình cho, tui cũng hơi quạu vì nghĩ rằng thằng cha Mít nầy tham đó, bỏ đăng; thấy trăng quên đèn! Ðồ mất gốc.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại tui cũng thông cảm cho bạn hiền. Vì mặc cảm nhỏ con, vì tên Tép, Úc khó đọc, khó xin làm cu li cho Úc. Ăn tiền thất nghiệp không có dư cắc nào để em yêu đi ‘shop’ em giận bỏ theo thằng khác thì tối lạnh teo bu gi biết nhờ ai mà sưởi ấm đời ta?

Anh Sherlock Tôm rót bia ra ly cho người viết. “Cụng một cái cho đã!”

Uống bia bằng ly mới có vẻ quý tộc, anh nói, còn uống bằng lon sao tui hổng chịu chú mầy ơi! Trông có vẻ lè phè làm biếng sao đâu! Mình bây giờ là “Việt Kiều’ rồi mà! Hí hí!

Anh Tôm rất dễ thương là khi anh nói đố ông nào chen ngang vô được. Nên mỗi lần nhậu với ảnh là người viết lễ phép ngồi nghe; mặc dầu đôi khi cũng ngứa miệng quá trời!

Thần tượng, thầy của Sherlock Tôm là Sherlock Holmes vốn nổi tiếng nhờ trí thông minh, quan sát tinh tường, suy luận hợp lý. Sherlock Holmes gặp Bác Sĩ Watson, căn cứ vào chiếc giày bên trái của bạn mình có vết xước. Ai làm?

Sherlock Holme bèn suy luận: Rõ ràng vết xước đó do một người bất cẩn khi lau bùn chiếc giày. Làm bác sĩ không thể là người bất cẩn cho được. Vì bất cẩn sẽ làm chết bịnh nhân. Vợ lau giày cho chồng ư? Chuyện đó chờ tới Tết Công Gô. Người lau giày chỉ có thể là người hầu gái của bác sĩ Watson.

Kết luận trúng ngay chóc. Giỏi thiệt! Nhưng Sherlock Holmes giỏi chưa bằng Sherlock Tôm, ‘Made in Việt Nam’ nầy đâu!

Ðể chứng minh mình không bố láo, tớ Sherlock Tôm, sẽ truy tìm “Ngày xưa Hoàng Thị’ Em là ai? Là ai?

Cho cậu phải ngả nón cúi đầu khâm phục Sherlock Holmes. Lim dim đôi mắt hí, nghe hết bài “Ngày xưa Hoàng Thị’ của Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư do em vợ Phạm Duy là Thái Thanh hát.

Mấy chục giây sau, Sherlock Tôm mới mở mắt ra mà bừng tỉnh nói: Ca từ thì ông thi sĩ là người Bắc. Viết trong Nam thì ổng phải là Bắc Kỳ di cư 54. Thơ tình những năm cuối 50 ắt ổng phải sanh khoảng độ năm 1940.

Là mối tình học trò, nhà thơ nhát hít, hổng dám hó hé gì hết, chỉ lẳng lặng bám đuôi em. Nhà thơ và người thơ ít nhứt phải học lớp đệ tam. Còn đệ tứ trở xuống mà đã yêu đương nhăng nhít thì là con nít quỷ! Trộng trộng một chút mới biết thơ thẩn trông vời áo tiểu thư chớ?

Em tan trường về? Dám kêu bằng em nghĩa là ổng lớn tuổi hơn. Lớn tuổi hơn, học cùng lớp, lại học trường tư là ổng học dở!

Trường công lập thời đó phải thi tuyển rất gay go, nam nữ học riêng. Nam sinh là Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trần Lục. Còn nữ sinh: là Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt.

Ðúng vậy! Ông Phạm Thiên Thư học trường Văn Lang ở Tân Ðịnh! Còn con ghệ làm chàng mê đắm là Hoàng Thị Ngọ. Tên Ngọ, sanh năm Nhâm Ngọ, năm 1942.

Chỉ dựa vào ca từ của một bài nhạc phổ thơ, Sherlock Tôm đã dùng tam đoạn luận đoán cái nào cũng trúng hết trơn! Thiệt là tâm phục và khẩu phục!

Nghe khen khoái quá, nên Thám tử Sherlock Tôm “nổ’ thêm: Nhà thơ và người thơ ‘áo tà nguyệt bạch’ nầy không lấy nhau vì thường thường mấy đứa con gái coi mấy thằng con trai học cùng chung lớp với mình là con nít. Mấy em kêu mình bằng ‘thằng’ không hà. Kêu bằng ‘thằng’ thì cách chi mà yêu cho được hả?

Thứ hai là muốn người ta mà người ta không muốn nên mới vác bộ giò đi xuống đi lên. Ði hoài mòn giày, mòn dép nên mới có bài thơ trải lòng tâm sự tình đơn phương tha thiết để ra khỏi nỗi buồn u uất! Ðường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn; lấy nhau không được thương hoài ngàn năm là vậy! Chớ còn về với nhau thì hôn nhân sẽ ‘bóp cổ’ tình yêu lè lưỡi ra mà chết ngắc!

Ðể chấm dứt bữa cháo gà đi bộ nầy, tui bèn đem cái thắc mắc giữ trong lòng chiều giờ ra hỏi: “Anh Sherlock Tôm à! Sao bữa nay anh biết nhà tui có cháo gà mà lại gà đi bộ, để anh vác càng tôm đến ăn nhậu vậy? Anh trả lời: “Tại anh nấu ngon quá, thơm bay qua tới tận nhà tui! Giỡn chơi thôi! Chớ dựa vào tam đoạn luận thì dễ ợt: Anh chánh gốc là người Việt, mà bữa nay là ngày đám giỗ bác gái thì theo truyền thống của dân mình đám giỗ là phải cúng gà đi bộ chớ không cúng vịt.

Gà công nghiệp nuôi nhốt trong chuồng của Úc bở rệp, nước không, dở òm, ai ăn?

Giống mấy ‘cha’ Việt Nam khác, chỉ biết ăn thôi chả biết gì! Chị vắng nhà, tài làm bếp của anh tới nấu cháo là hết mức rồi!”

“Còn tại sao tớ biết ngay chóc bữa nay mà tớ vác càng tôm tới nhà cậu để ăn chực?” “Chẳng qua tớ có cuốn sổ bộ đời. Ðám giỗ tớ ghi ngày âm (lịch). Còn đám Sinh nhựt tớ ghi ngày dương (lịch). Dẫu năm ngoái được mời nhưng năm nay không ai kêu tui đó, tớ cũng vác càng tôm tới nhậu.

Cháy nhà không tiếc; vì nhà có bảo hiểm. Nhưng lỡ cháy cuốn sổ nầy là tớ tự vận chết theo!

Bái Sherlock Tôm như Lưu Bị ‘bái’ Khổng Minh, để đáp lễ, cuối tuần rồi tui khệ nệ vác thùng bia đến khỏ cửa nhà Sherlock Tôm.

“Tui ghé nhà anh, ăn cháo ‘gà đi bộ’ đây!” “Ủa! Sao mà cậu biết?”

“Dễ ợt! Dù anh xưng là Tôm hay Tép gì đi chăng nữa, anh cũng là người Việt gốc Mít, từng đường trường xa con chó nó tha con mèo. Từ binh nhì, chưa tới hai năm, mà anh đã mang cánh gà chiên bơ trên tay áo trận.

Dù trả súng đạn nầy khi sạch nợ sông núi rồi, bữa nay 19 tháng Sáu ngày Quân lực VNCH với chiến tích lẫy lừng đó thì dễ gì anh quên? Rồi chị nhà bay về Việt Nam xăm môi, cắt mắt, cấy lông mày. Cu ky ở nhà, dở ẹc giống như tui, anh chỉ biết nấu cháo ‘gà đi bộ’ là hết mức phải không anh Tôm; í quên anh Tép?

ĐXT

Cà-na-Điên

sangtao.org

Posted 04/09/2019

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Aug 2026

lão vào nhà
thương
rồi ra
khu kia vực nọ
người
ma
mặt lờn
sáu dây
bốn sợi níu đờn
ghi ta ghì tớ ngậm hờn ngũ cung
lão điên vận sự kiết hung
cà na tuy lạnh đụng chung kẻ lành
phương này tử tế thập thành
rộng lòng gia hạn phép dành tháng năm
trở trời khó ở vào nằm
năm sao khách sạn chả nhằm nhò chi
không nghe ra tiếng bấc chì
đi tàu suốt hở? lão thì chậm chân
bệnh tình tha thứ xác thân
lá phong đỏ thắm lần khân vui cành
lão chẳng có gì để dành
mang đi trả nợ ơn thành người điên

đất lành chim đậu đương nhiên
đâu như chốn cũ trường thiên đoạn trường
bây giờ có chết cũng tường
linh hồn lạc lối bỏ đường lộn lui
lão thua chúng bạn tìm vui
việt kiều du lịch chột đui đã từng
riêng mình ên
lão tự mừng
giữ thân thanh tịnh quên rừng rú xưa
bạn chửi đồ điên
dạ thưa
tôi ca-na-điên
đủ vừa thiệt hơn
từng qua sông rộng mừng rơn
ao nhà vẫn đục thuốc lờn bó tay

ngày mai xuất viện thời may
theo toa bác sĩ mới hay thọ tường
tránh đàn bà ngủ riêng giường
đêm hai ngày một cột rường bền lâu
hồi nào bên đó bò trâu
theo nhau xuống lỗ vuốt râu lão về.

Hồ Đình Nghiêm
Labour Day 2019

Trên chiến trường xưa

baovecovang2012.wordpress.com

Phạm Tín An Ninh

Posted on April 23, 2021 by Lê Thy

(33 năm sau ngày gãy súng)

Post by Sơn râu 13 Aug 2026

(nguồn: manhhai flickr)

Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới – thành phố Pleiku.

Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.

Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.

Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm…Chúng tôi tìm đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi khi không còn bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.

Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không còn nữa, người ta đã giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.

Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh. Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn tốt bụng, sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.

Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào đó. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làngTân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất. Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.

– Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.

Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh. Điều cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh nghèo nàn của gia đình anh, một trung tá phi công của QLVNCH.

– Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà tham quan. Phải không?

Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật mình. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.

– Không, bọn tôi tìm thăm người quen, nhưng không gặp.

– Ở khu vực nào, có nhớ địa chỉ không? Tôi sẽ tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.

Tôi mỉm cười:

– Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.

Chị chủ quán khựng lại chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nhìn tôi ngạc nhiên:

– Sao lại phải ở trong nghĩa trang?

– Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bã trả lời.

– Vậy chắc các anh đây là lính Cộng hòa mình? thuộc đơn vị nào?

Nghe mấy chữ “lính Cộng hòa mình” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện:

– Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.

– À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát?

– Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn. Một người trong chúng tôi trả lời.

Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:

– Em có mấy người bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.

Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự.

Thì ra chị là bạn gái của anh Bình, trung sĩ Bình, ở đại đội trinh sát của đại úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là trung úy đại đội phó. Anh Bình thường theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.

Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với lính.

Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói một mình:

– Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện

Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc: Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn 320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm nổ lực chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để có thể dùng những khẩu M 72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đã dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh bởi bị chính mìn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đã nằm xuống dọn đường cho đơn vị mình cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch. Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chin khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã cùng đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liểu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.

– Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không?

Câu hỏi của chị đã cắt mất dòng hồi tưởng của tôi. Tôi lên tiếng trả lời chị:

– Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.

Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc.

– Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.

Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.

Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo. Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.

Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài:

– Tham nhũng bây giờ còn tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước.

Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.

Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.

Đúng vào sáng 30 tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải tỏa, QL 19 đã khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa thiết lâp lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ. An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như phải xóa sổ.

Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.

Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.

Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được lần lượt không vận vào ban đêm bằng C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.

Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa phía trước.

Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng. Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang, lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao, nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của anh) cũng vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân ông, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.

Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của BTL/SĐ23BB, đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đã xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đã gắn lon Tướng cho đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.

Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ con anh đã sang Pháp, nhưng chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi – người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về -, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh thì đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được – dù chỉ một phần nhỏ nào – món nợ máu xương cho họ.

Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.

Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh Bình, mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi có lẽ ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà mãi mãi vẫn còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu bè bạn, anh em – những người đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.

Phạm Tín An Ninh

(33 năm sau ngày gãy súng)

(nguồn: phamtinanninh.com)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 Aug 2026

Đức Khổng tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẩy đàn cầm vừa đi vừa hát. Đức Khổng tử hỏi: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ như thế?”

Ông Vinh Khải Kỳ nói: “Trời sinh muôn vật, loài người quí nhất mà ta được làm người. Trong loài người đàn ông quí hơn đàn bà mà ta được làm đàn ông. Người ta sinh ra có đui què, non yểu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi. Đó là ba điều đáng vui, có gì mà phải lo buồn”.

Đó là chuyện xưa bên Tàu. Chuyện nay bên Mỹ thì tôi vừa nhận được một thiệp Giáng Sinh, xin lược ghi lại vài câu hay hay để trình các bạn:

– Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, quần áo mặc trên người, một mái nhà để nương náu và một nơi để nghỉ ngơi, bạn đã giàu có hơn 75% dân số trên quả đất này.

– Nếu bạn có tiền gởi trong ngân hàng, để trong ví và tiền lẻ rải rác đâu đó trong nhà, bạn đã ở trong 8% những người giàu có trên địa cầu này.

– Nếu sáng nay thức dậy, bạn thấy khỏe mạnh hơn là đau ốm, bạn đã có phước hơn cả một triệu người sẽ không sống qua tuần lễ này.

– Nếu bạn chưa bao giờ trải qua cơn dần vặt của đói khát, nguy hiểm của chiến tranh, lẻ loi vì tù đày hay đau

đớn vì bởi tra tấn, bạn là người có phước hơn 500 triệu người trên hành tinh này.

– Nếu bạn có thể đi đến nơi thờ phượng theo tôn giáo của bạn mà không sợ bị sách nhiễu, bắt bớ, nhục hình hay thậm chí bị mất mạng thì bạn đã có phước hơn 3 tỉ người trên thế giới này.

– Nếu song thân của bạn còn sống và còn ở với nhau, trường hợp này rất hiếm hoi ngay tại nước Mỹ này.

– Nếu bạn có thể đọc những dòng chữ này, bạn hạnh phúc hơn hai tỉ người khác mù chữ trên quả đất này.

Và trong kinh Phật, chúng ta cũng đọc được những câu như sau:

“Hạnh phúc thay, ta sống không hận thù giữa đám người thù hận.

– Hạnh phúc thay, ta sống mạnh khỏe giữa những người đau yếu.

– Hạnh phúc thay, ta sống không khao khát (dục lạc) giữa những người khao khát.”

Con người ta thường lạc quan hơn là bi quan: hy vọng trúng số độc đắc hơn là nghĩ mình sẽ chết chiều nay (số

người chết vì tai nạn, bệnh tật trong ba ngày chờ xổ số ở Cali là hằng nghìn trong khi người trúng số độc đắc chỉ là một, hoặc đôi khi không có người nào).

Tuy vậy khi nhìn lại mình, hầu hết đều cho mình là khổ nhiều hơn là hạnh phúc. Chúng ta thường than cuộc

đời buồn chán phải uống rượu, hút thuốc hay đánh bạc để giải sầu. Nào chuyện làm ăn khó khăn, nhà cửa bề bộn, chủ sở càu nhàu, gia đình xào xáo, mới bị ticket, con hư, bạn bè không tốt, trời hôm nay lạnh quá, kẹt xe trên xa lộ, bill ngập đầu …

Trời ơi, sao bao nhiêu chuyện khổ sở thế này? Tôi là người khổ nhất trên thế giới này … Bạn coi, có ai khổ hơn bạn.

tôi không?

Thật tình, các bạn, những người hôm nay giở trang báo này ra, tình cờ ghé thăm mục “Tạp Ghi” của chúng tôi, dù bạn đang ngồi trong xe, đứng ngoài đường, nơi chỗ làm việc, hay nằm nhà thì bạn là những người hạnh phúc nhất. Hạnh phúc vì những điều chúng tôi mạn phép ghi lại ở trên: mạnh khoẻ, mắt còn rõ và đọc được sách báo, có cơm ăn, có xe đi- không thì cũng có tiền lên xe bus, có một mái nhà hay có thêm một hai người thân để tối nay có thể về nghỉ ngơi- sum họp, trong ví chắc chắn là có tiền- không nhiều thì ít, ăn được bát phở còn thấy ngon miệng, không bị ai hăm dọa, mắng nhiếc, đánh đập …

Ôi, quá sung sướng, hạnh phúc được làm người như bạn.

Hiện nay chúng ta không làm ruộng mà có đủ cơm ăn, hơn hẳn những nông dân chân lấm tay bùn ở Việt Nam. Chúng ta không phải là phu mỏ mà có than đốt mùa đông, hơn cả triệu phu mỏ nghèo đói bất hạnh ở Trung Quốc. Chúng ta không dệt vải mà có áo quần mặc ấm; hơn cả trăm nghìn công nhân ngành dệt khốn khổ ở Bắc Hàn. Vậy mà cứ tới mùa Giáng Sinh vẫn có người đi theo Chúa khóc lóc, lải nhải:

“Chúa ơi! Chúa ơi! Người ta lại bỏ con rồi, Chúa ơi!”

Chúa bỗng quay lại nói với người ấy rằng: “Con nhìn thế giới này chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo, tai ương,

chết chóc, thù hận … Con có biết con là người hạnh phúc nhất không. Hiện nay trên trái đất này có 800 triệu người bị vợ hay bạn gái đánh đập, mắng nhiếc hay khinh bạc mà không thể dứt ra, riêng con lại được nàng bỏ đi thì còn than vãn nỗi gì? Nỗi khổ của con có đáng thá gì mà phải kể. Thôi về đi, chớ có theo ta mà rên rỉ mãi!”

Hy vọng đến đây, bạn có thể nở một nụ cười. Thêm một điều chứng minh rằng bạn đang hạnh phúc. Rồi ra bạn sẽ thấy được niềm hạnh phúc của mình và xin nhắc nhở với mọi người là chúng ta đang sống trong hạnh phúc mà chúng ta không hề hay biết. Cũng xin bạn san sẻ hạnh phúc ấy với những người chung quanh bạn.

Xin chúc các bạn một mùa Giáng Sinh Hạnh Phúc.

Xmas 2005