Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

Tôi có một người bạn nguyên là kỹ sư ở Saigon trước tháng 4-1975, sang đến Mỹ muộn màng, bạn tôi không đi học trở lại được cũng như không kiếm được một việc làm có đồng lương vừa ý. Từ đó bạn tôi sinh ra chán đời, nói những lời khinh bạc, nhất là khi thấy những người trước đây có địa vị thấp kém hơn mình nay lại thành công giàu có trên đất Mỹ, vừa than thân trách phận, vừa mỉa mai người khác bằng hai tiếng “đổi đời”.

Một ông Đại Tá nhất định không chịu làm trong một nhà hàng của một người lính dưới quyền ông thuộc đơn vị cũ đến Mỹ từ năm 1975, khi người này ngỏ ý muốn giúp đỡ cho ông trong những năm đầu mới sang đây theo chương trình H.O. Theo ý ông, “thà chết còn sướng bơn … ” và cũng than trách, thốt lên hai tiếng”đổi đời”.

Từ sau năm 1975 cho đến nay, người ta nghe nhiều tới hai tiếng “đổi đời”, hàm ý bao nhiêu nỗi chua xót, đắng cay, cũng không kém phần mỉa mai của người đời. Anh thợ bẻ ghi hỏa xa bây giờ là Tổng Bí Thư của cả nước:”đổi đời”. Cô hàng thịt lên làm Giám Đốc xuất nhập cảng: “đổi đời”. Chàng cần vụ trong kháng chiến ngày nào bây giờ là Giám Đốc Công An thành phố: “đổi đời”. Đó là thứ “đổi đời”, mà khi khinh ghét, người ta dùng thành ngữ “chó nhảy bàn độc” để ám chỉ đối thủ. Trái lại không thiếu những con người đổi đời đi xuống. Ông Tỉnh Trưởng ngày xưa đi làm thợ sơn hay security gác cổng: “đổi đời”. Vị Thẩm Phán vào xin một chân cắt chỉ trong shop may: “đổi đời”. Con sen nhà ta ngày nào, bây giờ là triệu phú trên đất Mỹ: “đổi đời”. Một trung sĩ trong đơn vị cũ bây giờ là luật sư:”đổi đời”. Theo quan niệm đắng cay này, những con người ngày trước, giàu có, học thức phải là những người có địa vị, ăn trên ngồi trốc vĩnh viễn, cha truyền con nối, còn những thằng “quần rách áo ôm”, xuất thân bần cùng sẽ phải chịu cảnh nghèo hèn từ đời nọ sang đời kia cho hết kiếp. Điều này người ta đổ cho tại, bởi, vì số mệnh, cho tiền kiếp, cho phúc đức, cho thành quả tu hành.

Đất nước nào có chiến tranh, thay đổi kẻ cầm quyền liên tục, có đàn áp, trả thù … thì đất nước đó có nhiều chuyện “đổi đời” hơn cả. Sau tháng 4-1975, ngoại trừ những viên chức, sĩ quan, tham nhũng, bóc lột thì đi tù mà gia đình vẫn giàu sang, của ăn của để, còn ra khi thất thế thì trung tá cũng đạp xích lô, luật sư cũng phải bán chợ trời, cô giáo cũng phải bán xôi trước giờ vào lớp. Đó là cái giá phải trả khi chế độ cầm quyền đã thay đổi và người của chế độ mới không cần trọng dụng chữ nghĩa và đầy lòng căm thù muốn đày đọa trả thù những người thua trận. Tuy vậy, ngày nay những chuyện “đổi đời” đã xẩy ra cho cả hai phía, người thắng và kẻ bại trận. Nếu cái anh chàng bỏ gia đình vào bưng, chịu mươi năm tù, ăn hầm ở hố, sau ngày cướp chính quyền có được bổng lộc, địa vị, hay anh hạ sĩ quan nhà nghèo ngày trước, sang đây có công ăn học trở thành kỹ sư, thì cũng không có gì là vô lý. Một người đàn bà trong thời chiến, lỡ lầm hay hoàn cảnh xô đẩy, sinh ra một đứa bé lai đã phải chịu bao nhiêu búa rìu dư luận, sống trên sự khinh khi, dè bĩu của thiên hạ và trong nỗi cay đắng, chịu đựng của gia đình. Khi Cộng Sản vào Saigon, thân phận đứa con lai càng bị khinh bạc, rẻ rúng. Nhưng đến một thời điểm “đổi đời” nào đó, người thiếu phụ đó có cơ hội mang con lên máy bay, xuất ngoại, thì chính việc này cũng ngoài tầm mơ ước của bao nhiêu cán bộ Cộng Sản và những người trước kia đã từng lên án, rẻ rúng về gia đình đứa con lai.

Một người cựu sĩ quan miền Nam vừa ra khỏi nhà tù Cộng Sản phải mưu sinh bằng nghề đạp xích lô hay chạy xe ôm trong nhiều năm, bỗng một ngày nào đó “đời đổi” mang được gia đình đi định cư tại Mỹ, làm lại cuộc đời, con cái ăn học thành đạt. Những sự “đổi đời” như thế xứng đáng biết bao nhiêu! Có người cho rằng ở Mỹ không có chuyện “đổi đời” vì quốc gia này ổn định, không có chiến tranh, giá trị các nấc thang xã hội vững chắc. Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy nhiều người buôn bán lỗ lã, khai khánh tận, đôi khi phải vào tù. Nhiều người homeless đứng ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ ngữa tay xin tiền, trước đây có khi cũng đã có một thời oanh liệt.

Một người nghèo túng phút chốc trúng số bỗng “đổi đời” trở thành nhà triệu phú, nhưng nhà “triệu phú” này cũng có thể phút chốc “đổi đời” trở thành một kẻ không nhà vì cờ bạc, ma túy. Qua cơn bão Katrina vừa rồi, nhiều người có cơ sở buôn bán giàu có, bỗng trở thành trắng tay, có khi phải nhờ tới trợ cấp xã hội của chính phủ nữa là khác. Vậy thì có gì đâu phải ngạc nhiên. Người ta vẫn thường nói “sông có khúc, người có lúc”, đời ai suông sẻ, tươi đẹp mãi cho những kẻ khốn cùng phải triền miên trong bất hạnh. Vậy thì thấy một người lính cũ trong đơn vị hôm nay thành đạt là điều nên mừng, vì sao lại mỉa mai.

Cũng như đời ta không lẽ mãi mãi đi lên mà không có một thời kỳ thất bại? Hiểu được chuyện đời như thế có mấy người làm được. Trong quãng đời sống dài năm bảy mươi năm, chúng ta có bao nhiêu điều bất ngờ không thể nào đoán trước được. Ngày 30 tháng 4-1975 đối với nhiều người vẫn là một chuyện bất ngờ đến tê dại. Thời gian nằm trong nhà tù Cộng Sản, mấy ai nghĩ được cỏ ngày lên máy bay đến Mỹ.

Chuyện “đổi đời” là những chuyện “sông kia rày lấp nên đồng”, là chuyện “thương hải biến vi tang điền”, để thấy cuộc đời này là vô thường, chẳng có gì vĩnh viễn.

Hắc Báo-Móng vuốt thép của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Phạm Sơn Liêm

Posted on August 14, 2026 by dongsongcu

Đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Có những đơn vị được nhớ vì quân số đông.

Có những đơn vị được nhớ vì chiến thắng.

Riêng Hắc Báo được nhớ vì chỉ cần nghe tên, đối phương đã biết phía trước là những người lính không ngại hiểm nguy.

Họ không phải một trung đoàn, cũng không phải một tiểu đoàn. Chỉ là một đại đội hơn hai trăm quân, nhưng được tuyển chọn kỹ lưỡng từ bé những người lính tình nguyện giỏi nhất của Sư đoàn 1 Bộ binh. Họ hành quân nhẹ, đánh nhanh, rút gọn, xâm nhập sâu vào vùng kiểm soát của đối phương để trinh sát, phục kích, bắt tù binh hoặc mở đường cho các đơn vị bạn.

Khu vực hoạt động của Hắc Báo trải dài khắp Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, A Shau, A Lưới, Khe Sanh, Cam Lộ, Lao Bảo… những chiến trường khốc liệt nhất của Vùng I Chiến thuật.

Người lính Hắc Báo không mang theo nhiều hành trang.

Ba lô gọn. Súng luôn sẵn sàng. Mỗi toán hoạt động độc lập nhiều ngày trong rừng núi. Đi trong im lặng.

Đánh trong bất ngờ. Rút đi trước khi đối phương kịp hoàn hồn.

Điều đáng nể nhất của Hắc Báo không phải là hỏa lực.

Mà là tinh thần.

Tinh thần của những người biết rằng mình luôn là lực lượng đi trước, đối mặt nguy hiểm trước tiên và nhiều khi cũng là những người rút lui sau cùng.

Trong các cuộc hành quân lớn tại hỏa tuyến miền Trung, Hắc Báo nhiều lần đảm nhận nhiệm vụ mở đường, phát hiện lực lượng đối phương, cứu nguy cho các đơn vị bạn và cung cấp những tin tức tình báo có giá trị ngay giữa chiến trường. Chính vì vậy, danh tiếng của họ lan khắp Quân đoàn I.

Năm tháng đã trôi qua.

Chiến tranh đã lùi vào lịch sử.

Nhiều chiến hữu Hắc Báo đã nằm lại trên các sườn núi Trường Sơn. Nhiều người khác bước vào những năm dài trong các trại cải tạo.

Có người lưu lạc khắp năm châu. Nhưng mỗi khi hai tiếng Hắc Báo được nhắc đến, những người lính năm xưa vẫn nhớ về một thời tuổi trẻ sống giữa khói lửa, mang trên vai danh dự của Sư đoàn 1 Bộ binh, đơn vị được xem là một trong những sư đoàn thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Hắc Báo không chỉ là tên một đơn vị. Đó là biểu tượng của lòng can đảm.

Là dấu chân của những người lính âm thầm đi trước.

Là một phần không thể tách rời trong lịch sử chiến đấu của Sư đoàn 1 Bộ binh và của Vùng I Chiến thuật.

Phạm Sơn Liêm.

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Hai mươi lăm khóa sinh của khóa 38 Hạ sĩ quan, trong đó có tôi, tốt nghiệp vào cuối năm 1937. Tôi được chọn làm khóa sinh ưu tú nhứt trong năm để nhận một chiếc đồng hồ bằng bạc, tặng phẩm của Thiên Hoàng.

Nhóm hai mươi lăm người chúng tôi là số còn lại trong 70 khóa sinh nguyên thủy tuyển chọn trong số 1,500 dự tranh trên toàn quốc. Chúng tôi đã trải qua một thời gian huấn luyện gắt gao và đôi khi quá đáng. Tuy nhiên, trước khi nhận nhiệm vụ ở Trung Hoa, nơi chiến tranh phát động vào tháng 7 năm 1937, chúng tôi được huấn luyện bổ túc. Mặc dù chúng tôi trải qua nhiều cuộc huấn luyện như vậy, nhiều người thuộc nhóm chúng tôi đã bị phi công địch bắn hạ, không kịp gặt hái một chiến thắng nào. Ngay cả tôi, với khả năng bay có hạng, tôi vẫn thấy cái chết trước mắt trong trận không chiến đầu tiên, nếu đối thủ của tôi tấn công mạnh thêm chút nữa. Quả thật, tôi đã quá vụng về trong trận không chiến đầu tiên này, không hỗ trợ nổi các phi công đồng đội. Tôi sống sót là do sự thiếu khéo léo của đối thủ.

Ðối với tôi, không chiến luôn luôn là một việc làm hóc búa, một nhiệm vụ quá gay go, với sự căng thẳng gần như không chịu đựng nổi. Ngay cả sau khi tôi đã vượt qua cuộc chiến đấu đầu tiên, và ngay cả sau khi nhiều phi cơ địch trở thành nạn nhân của tôi, mỗi lần chấm dứt một cuộc không chiến dữ dội trên không là mình mẩy tôi ướt đẫm mồ hôi. Luôn luôn có “cơ hội” để vấp phải một sai lầm nhỏ nhặt, điều này có nghĩa là sẽ biến thành bó đuốc. Xuyên qua tất cả hình thức diễn tập: đảo vòng tròn, đảo thật ngắn, lộn nửa vòng, lộn nhiều vòng, xoáy hình trôn ốc, bổ chúi xuống, bay vượt lên, rơi như chiếc lá, và nhiều hình thức khác nữa, chỉ sơ hở một đường tơ kẽ tóc là đi đời ngay. Hai mươi lăm bạn đồng khóa của tôi, cuối cùng chỉ một mình tôi sống sót. Cuộc chiến trên không kéo dài và đầy gian nan, do đó những ưu thế vào những ngày đầu của chúng tôi chìm dần vào cơn ác mộng. Trong cơn ác mộng đó, chúng tôi đã vật lộn một cách vô vọng với một dòng thủy triều đối nghịch càng lúc càng cuồng bạo.

Suốt thập niên 1930, hải quân Nhật huấn luyện trung bình 100 phi công mỗi năm. Nhưng chương trình huấn luyện khắc nghiệt đã loại bỏ gần hết, để cuối cùng trong vòng 10 năm chỉ khoảng hơn 100 phi công tốt nghiệp. Nếu hải quân được dành thêm ngân khoản huấn luyện và nếu hải quân giảm bớt thái độ cố chấp trong việc chọn lựa khóa sinh, tôi tin rằng con đường chúng tôi đi trong kỳ Ðệ Nhị Thế Chiến sẽ bớt chông gai. Chắc chắn kết quả của cuộc chiến không thể cải biến, nhưng những cú đấm chết người mà các đơn vị không quân của chúng tôi nhận lãnh trong hai năm cuối cùng của cuộc chiến sẽ nhẹ bớt đi phần nào. Chỉ sau khi cuộc chiến Thái Bình Dương bắt đầu, và những phi công đầy đủ kinh nghiệm hao mòn đến mức độ nguy ngập cần phải được thay thế ồ ạt, hải quân mới từ bỏ chính sách huấn luyện vô lý của mình. Nhưng lúc đó đã quá muộn rồi. Tài năng của các phi công tốt nghiệp trong những năm chiến tranh rất đáng nghi ngờ. Tôi biết chắc rằng 45 bạn đồng khóa với tôi đã bị loại khỏi Tsuchiura trước đây, còn tài cán gấp mấy lần những phi công đã hoàn tất huấn luyện trong thời chiến.

Sau khi tốt nghiệp, tôi được chỉ định đến nhiều không đoàn để thực tập. Thoạt đầu tôi được gởi đến căn cứ Không Quân của Hải Quân ở Oita và Omura ở miền Bắc đảo Kyushu. Cả hai căn cứ này là nơi đáp tạm của những phi vụ từ các phi trường ở đất liền, cũng như từ các hàng không mẫu hạm. Chứng kiến tài năng lão luyện của các phi công trên hàng không mẫu hạm đã khiến tôi hơi xao xuyến, nhứt là những cú bổ nhào của họ, khéo léo không thể tưởng tượng. Tôi ngờ vực khả năng của mình, ngay cả nhiều năm sau.

Ðáp xuống hàng không mẫu hạm đối với tôi khó khăn vô cùng. Suốt một tháng ròng rã tập luyện, tôi mới hết gặp rắc rối, nhưng sau công cuộc tập luyện này, tôi chưa từng cất cánh hoặc hạ cánh xuống một hàng không mẫu hạm nào trong lúc chiến đấu bao giờ. Tất cả những phi vụ chiến đấu của tôi đều thực hiện ở các phi trường trên đất liền. Tiếp theo sau 3 tháng thực tập liên tục trên đất liền và hàng không mẫu hạm, tôi được lệnh thuyên chuyển đến căn cứ không quân Cao Hùng (Kaohsiung) trên đảo Ðài Loan, bấy giờ thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Nhịp độ của đời sống hải quân đã đổi khác. Cuộc chiến ở Trung Hoa đến hồi ác liệt, các phòng tuyến lan rộng. Thêm phi công chiến đấu cho cuộc chiến đó, ngay cả những phi công tay mơ như chúng tôi bỗng nhiên trở thành nhu cầu thúc bách.

Từ Ðài Loan, tôi được thuyên chuyển lên Cửu Giang (Kiukiang) ở miền Ðông Nam Trung Hoa, cách Vũ Hán 200 cây số và vào tháng 5 năm 1938, tôi nếm mùi chiến đấu lần đầu tiên. Vị chỉ huy trưởng Liên Phi đoàn ở Cửu Giang rất ghét sử dụng bọn phi công mới ra trường vào các phi vụ chánh yếu, ông ta cảm thấy sự thiếu kinh nghiệm của họ sẽ làm mất mặt bọn phi công kỳ cựu đang bay ở Trung Hoa. Do đó, tôi chỉ được cắt đặt thực hiện các phi vụ thấp kém: yểm trợ các cuộc hành quân của Lục Quân. Các phi vụ không có gì nguy hiểm, bộ binh đã đè bẹp tất cả những cuộc chống đối của địch quân trên mặt đất, còn chống đối trên không hầu như hoàn toàn không có. Nhiều tuần lễ trôi qua, chỉ lãnh các nhiệm vụ yểm trợ, tôi cảm thấy bực bội. Hăng hái, nhiệt tâm và kiêu hãnh trong tư cách một trung sĩ phi công hải quân, tôi quyết định thử tài với địch quân một phen. Vào ngày 21 tháng 5, tôi hớn hở khi dò thấy tên mình nằm trong danh sách 15 phi công chiến đấu được chọn thực hiện một phi vụ tuần tiễu chánh thức ở Hán Khẩu (Hankou) vào ngày hôm sau. Chuyến đi này đầy “hứa hẹn”, vì Hán Khẩu là căn cứ không quân chánh của Trung Hoa Dân Quốc lúc đó.

Vào năm 1938, loại chiến đấu cơ Zéro chưa được mang ra sử dụng trên các mặt trận. Chúng tôi bay loại chiến đấu cơ Mitsubishi A5M 96, Ðồng Minh đặt tên là Claude, tốc độ chậm, tầm hoạt động giới hạn, bộ phận hạ cánh cố định và buồng lái lộ thiên.

Sáng ngày 22 tháng 5-1938, 15 chiến đấu cơ của chúng tôi rời khỏi Cửu Giang, từng nhóm 5 chiếc trong đội hình chữ V, nhìn rất ngoạn mục. Chín mươi phút bay từ phía Ðông Bắc của căn cứ chúng tôi đến Hán Khẩu giống như một phi vụ huấn luyện nhàn nhã. Không có chiếc phi cơ nào của địch xuất hiện tấn công chúng tôi, cũng không có một khẩu phòng không nào thăm hỏi chúng tôi. Dường như khó thể tin rằng có một cuộc chiến đang diễn ra ác liệt ở bên dưới. Từ 10,000 bộ trên cao, phi trường Hán Khẩu đánh lừa chúng tôi một cách tuyệt hảo. Tiệp một màu cỏ thẫm xanh lục chiếu lấp loáng dưới ánh mặt trời buổi sớm. Căn cứ không quân quan trọng của địch quân như một sân gôn vĩ đại được chăm sóc cẩn thận. Nhưng các chiến đấu cơ địch không phải để sử dụng một cách giản dị vào môn thể thao này. Tôi nhìn thấy 3 chấm nhỏ lướt như bay trên cỏ. Ðó là 3 chiến đấu cơ địch.

Thế rồi chúng vượt lên cùng một độ cao với chúng tôi trong chớp mắt, to lớn, đen đúa và mạnh mẽ. Không một dấu hiệu cảnh báo nào, và trước sự kinh ngạc của tôi, một trong 3 chiến đấu cơ địch tách ra khỏi đội hình và đâm thẳng vô phi cơ của tôi với một tốc độ khủng khiếp. Những gì tôi sắp xếp để đối phó với cuộc không chiến đầu tiên của mình đều biến mất. Tôi cảm thấy các thớ thịt của tôi xoắn lại, và mặc dù tình trạng lúc đó không lấy gì làm vui vẻ, tôi lại thấy toàn thân run lên với nỗi kích thích lẫn xúc động, khi thấy phi cơ địch đã “chọn” tôi làm mục tiêu.

Sau này tôi vẫn nghĩ là mình đã hành động đần độn trong những giây phút quyết định này. Tuy nhiên tôi nhấn mạnh rằng các phản ứng trí não của chúng tôi ở độ cao 10,000 bộ, tức là 3,000 thước, sau 90 phút bay không có mặt nạ dưỡng khí, không còn chính xác bằng lúc chúng tôi ở mặt đất. Không khí loãng, dưỡng khí ít đã ảnh hưởng nhiều đến trí não. Hơn nữa, buồng lái lộ thiên, tiếng động nghe đinh tai nhức óc, cũng như những luồng gió lạnh cóng thổi tạt vô kiếng che gió, và không lúc nào bỏ lơi các cần kiểm soát được. Tôi xoay đầu nhìn mọi hướng một cách lo âu để xem còn bị đối thủ nào tấn công nữa hay không, cùng lúc tay chân tôi hoạt động liên tục trên cần điều khiển, bàn đạp bẻ lái, bàn đạp ga tốc độ, và các dụng cụ khác. Tóm lại, tôi hoàn toàn rối loạn.

Những thói quen trong thời gian huấn luyện lần lượt được áp dụng. Lời dặn của tất cả các bậc đàn anh: “Luôn luôn đeo dính đuôi phi cơ cầm đầu trong đội hình chữ V của anh”. Tôi mò mẫm một tay cột những sợi dây đai của chiếc mặt nạ dưỡng khí (cung cấp dưỡng khí trong vòng hai giờ và chúng tôi chỉ sử dụng mặt nạ khi lâm trận hoặc bay ở độ cao trên 10,000 bộ), nâng tốc độ lên tối đa. Tất cả các thùng chứa xăng phụ của các phi cơ Nhật khác đều đã được thả ra. Tôi quên khuấy điều này. Tay tôi run run đưa ra ấn nút. Bình chứa xăng của tôi rơi xuống. Tôi hoàn toàn bối rối. Tất cả những điều tôi làm đều vụng về, hầu như quên mất hết các quy luật không chiến căn bản. Tôi không nhìn thấy các diễn biến ở 2 bên hoặc phía sau tôi. Phi cơ địch cũng biến mất trước mắt tôi. Tôi chỉ thấy cái đuôi của chiếc phi cơ đầu nhóm mình. Tôi cứ đảo phi cơ tôi theo, và cuối cùng tôi bay bên cạnh phi cơ dẫn đầu. Tôi lấy lại bình tĩnh, tay chân không sờ soạng trong buồng lái một cách vụng về nữa. Hít một hơi thở thật dài, tôi liếc nhìn thật mau về bên trái. Hai chiến đấu cơ địch bóng loáng đang bay thẳng vô phi cơ của tôi. Ðó là 2 chiếc Polikarpov I-16  do Nga Sô chế tạo, với bộ phận hạ cánh có thể rút vào thân phi cơ. Loại I-16 nhanh nhẹn hơn và bay mau hơn loại chiến đấu cơ Claude của chúng tôi nhiều. Tôi lại ngần ngừ, tay lơ lửng trong không khí, không biết làm gì bây giờ. Thay vì đảo cánh sang một phía hoặc vượt thẳng lên cao, tôi vẫn tiếp tục bay như trước. Nhưng bất ngờ, khi cái chết của tôi đã ở trước mắt, hai chiến đấu cơ địch vượt lên và bay mất. Cả đời tôi chưa hề biết đến sự may mắn nào huyền diệu hơn sự may mắn này. Nhưng không có gì gọi là khó hiểu. Ðoán trước tôi sẽ là “gà chết” trong trận không chiến đầu tiên này, người cầm đầu phi vụ chỉ định một trong những phi công kỳ cựu bay theo phía sau để bảo vệ phi cơ tôi. Khi thấy tôi lâm nguy, viên phi công này lách ra như chớp và chĩa mũi thẳng vào hai chiến đấu cơ địch, phá vỡ ngay ý định tấn công của chúng.

Tôi vẫn bay như đui mù, không biết ngay cả việc tôi đã xê dịch vị trí và đặt phi cơ của tôi cách 500m phía sau một trong những phi cơ địch. Tôi đang “mơ mộng”… Cuối cùng tôi bừng tỉnh và phóng về phía trước. Chiếc phi cơ địch, trước mắt tôi, đã nằm trong tử điểm. Tôi ấn cò súng. Không một tiếng nổ nào nghe thấy. Tôi ấn cò súng liên hồi, miệng không ngớt nguyền rủa hai khẩu đại liên. Cuối cùng tôi mới nhận ra tôi quên mở khóa an toàn của mấy khẩu súng trước khi chạm địch. Viên hạ sĩ quan Nhật bay bên trái thấy tôi sờ soạng một cách vụng về trong buồng lái, hắn không còn kiên nhẫn được nữa đã lướt về phía trước, và khai hỏa vào chiếc chiến đấu cơ địch đang tháo chạy. Ðạn không trúng, chiếc I-16 đảo về phía phải chỉ cách tầm súng của tôi 200m. Lần này tôi đã sẵn sàng, tôi ấn tay vào cò súng. Những viên đạn bay ra thành hình vòng cung, nhưng hoang phí. Tôi lại để mất một cơ hội bằng vàng khác.

Nếu tôi tiến gần hơn, tôi sẽ hạ đối thủ dễ dàng. Tôi gia tăng hết tốc lực. Viên phi công địch lộn nhào nhiều vòng và rớt xoáy xuống theo hình trôn ốc, tránh thoát hết tất cả những viên đạn tôi vừa bắn ra. Sau đó, phi cơ địch cố xoay lại để nghinh chiến. Ðó là một lối bay nghèo nàn đáng kinh ngạc. Hiển nhiên hắn không có dịp may. Một trong những chiếc Claude đang quần trên cao bổ chúi xuống. Viên phi công địch cố chạy thoát một lần nữa thay vì cố tiêu diệt tôi. Tuy nhiên, hắn không làm được việc này. Bây giờ hắn chỉ cách trước mặt tôi có 150m, và tôi rót ngay một tràng đạn vô đầu máy chiếc phi cơ. Một luồng khói túa ra ở mũi và chiếc phi cơ chúi thẳng xuống mặt đất. Cho đến khi nó biến thành mảnh vụn trong chiếc nấm khói phía dưới, tôi mới biết các khẩu đại liên của tôi không còn một viên đạn nào. Mọi phi công chiến đấu đều phải cố duy trì một số đạn cho lượt về, nhằm chống đỡ các chiến đấu cơ tuần thám của đối phương. Tôi đã bắn xả láng!

Tôi nhìn quanh một cách đầy lo âu, và tim tôi đập thình thịch trước khi chùng xuống. Không còn một chiếc phi cơ nào khác quanh tôi. Tôi đã lạc bầy. Chiến thắng của tôi đáng buồn cười, nó đã được các đồng đội dâng lên đến tận miệng tôi trên một chiếc dĩa bằng bạc. Những hành động quờ quạng vừa qua làm tôi xấu hổ, và mắt tôi dần dần bao phủ trong màn lệ. Chắc chắn tôi đã khóc cho đến khi, đảo mắt một lần nữa, tôi nhìn thấy 14 chiếc Claude đang bay vòng tròn chầm chậm trong đội hình, kiên nhẫn chờ đợi tôi lấy lại “tinh thần” và kết hợp với họ.

Trở lại sân bay Cửu Giang, tôi kiệt sức khi leo ra khỏi buồng lái. Viên chỉ huy phi vụ hùng hổ chạy lại phi cơ tôi, mặt mày đỏ gấc vì phẫn nộ: “Sakai! Mọi việc…” ông ta giận dữ: “Anh là một thằng ngu, Sakai! Anh sống được cũng lạ! Cả đời tôi chưa bao giờ thấy một lối bay vụng về và buồn cười như vậy! Anh…” Ông ta không thể nói tiếp được nữa vì tức giận đến nghẹn. Tôi cúi gằm mặt, buồn rầu và hối hận. Tôi muốn ông ta đấm đá tôi cho hả cơn tức. Nhưng viên đại úy phi đội trưởng không làm vậy mà ban cho tôi sự sỉ nhục tệ hại nhứt: không thêm một lời, ông quay phắt  lưng và bỏ đi.

Chị Hai Chim

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Posted 5 May 2022

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Tranh Bảo Huân

Nhóm bạn nhậu của tui ở Footscray nầy có 3 người. Tui là một, anh Tư Hiền Triết là hai. Và anh Ba Cãi là ba. Anh Tư Hiền Triết và anh Ba Cãi viết văn. Ðời mà, hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ(!?). Hai nhà văn nầy bằng mặt mà ít khi bằng lòng. Hai người chê bai nhau về tài viết văn. Tui thì dốt. Không biết viết, chỉ biết đọc, biết nghe. Nên hai thằng chả hay rủ tui nhậu để lúc xỏ xiên qua lại với nhau, tui làm trọng tài. Ðược cái là tui không phải là trọng tài “xây cá nại”. Tui rất công tâm. Ai trúng tui nói trúng; ai trật tui nói trật. Hổng chịu, giận, không ai kêu tui đó, thì tui ở nhà nhậu với con vợ của tui. Thấy tui cang cường như vậy nên hai cha đều khoái. Huỡn huỡn một chút là hú tui, nhậu hè. Ðôi khi tui cũng nhậu chực; chớ không phải không. Nhưng nói chung là tui chơi cũng đứng đắn, đàng hoàng lắm nhe! Bữa nào, vợ cho vài chục đô dằn túi là tui chi bạo hè. Anh Tư Hiền Triết xách beer, tui mua rượu đỏ đem đến garage nhà anh Ba Cãi nhậu.

***

Cái lạ là 47 năm rồi, 30 tháng Tư nào CS cũng bắn pháo bông ăn mừng vì đã giết chết khoảng 4 triệu người, kể cả hàng trăm ngàn người Việt bỏ mình khi vượt biên, vượt biển. Xương chất thành núi, máu chảy thành sông. Còn tụi tui, những người quốc gia, gọi đây là ngày Quốc hận, ngày làm đám giỗ hội cho những người đã chết. Những oan hồn đó vì Lê Duẩn quyết tâm đánh chiếm Miền Nam; đánh cho cho Liên Xô và Trung Quốc.

30 tháng Tư năm nay ở Úc nhằm ngày thứ Bảy cuối tuần, weekend, anh Ba Cãi kêu tui lại nhà chơi vì anh làm đám giỗ hội, mình ên buồn quá.

Nhân tiện anh Ba Cãi kêu tui mời anh Tư Hiền Triết với. Tui thấy hơi lạ nên hỏi lại: “Nhà anh làm đám giỗ thì anh mời, sao lại kêu tui?”. Anh Ba Cãi nói, tui có kêu nhưng thằng chả block số của tui rồi. Sao lại giận? Chẳng qua tui phê bình thằng chả viết văn mà xài tiếng tục tĩu của CS như chữ “tự sướng”. Rồi hồi xưa ông bà mình dùng từ “tham quan ô lại” để chỉ bọn ăn cắp, ăn cướp của dân. Giờ thằng cha Tư Hiền Triết lại viết “đi tham quan” là một động từ, là đi viếng một danh lam thắng cảnh nào đó. Lại tính chôm chỉa gì đó cha nội?

Theo tự điển Hán Việt, “tham quan” cũng có nghĩa là: Thăm, xem, du lãm. Như tham quan bác vật quán, xem viện bảo tàng. Nhưng bà con mình hồi xưa ít ai xài cái nghĩa nầy lắm. Tui không thấy ai xài chữ “đi tham quan” như cha Tư nầy bao giờ? Ði đã là một động từ. Tham quan cũng là một động từ. Trong tham quan đã có nghĩa là đi. Hổng đi mà chỉ nằm thì tham quan cái giống gì hè?

CS thường hay hô hào, la lối tưng bừng là hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt! Tiếng Nôm mình có sẵn, nào là đi chơi, đi thăm, đi coi, sao hổng chịu xài vậy? Xài chữ Hán Việt bừa bãi, bậy bạ như thế mà hổng sợ ông bà mình hiện hồn về vả miệng cho rụng răng hết ráo, không còn một cái mà ăn cháo!

Rồi cha Tư Hiền Triết Nam Kỳ rặt mà nấu cho mau chín thì lại viết thành nhanh chín! Rồi cái chuyện nầy mới đáng rầy thằng chả nè. Chuyện hay nhe, kể nghe chơi.

Hai tuần trước cha Tư Hiền Triết có đăng một tiểu phẩm tựa là “Air China” (Hãng Hàng không Trung Quốc) trên Tuần báo Sóng Vang (tức Sáng Dông).

Bài viết như vầy nè: “Ðồng chí Tí và đồng chí Tèo thuộc Bộ Chánh trị đảng CS VN đáp máy bay của Air China đến Bắc Kinh công cán. Mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ, nhưng sau đó một động cơ bị hỏng.

Chuông báo động vang lên trong buồng lái. Viên cơ trưởng thông báo: “Hành khách thân mến! Ðây là lời cơ trưởng của bạn. Rất tiếc chúng ta đã bị mất một động cơ, nhưng đừng lo lắng, tôi sẽ đảm bảo an toàn cho các bạn”.

Máy bay hạ cánh trên mặt nước, cơ trưởng bình tĩnh nói: “Một lần nữa xin kính chào quý hành khách. Chúng tôi đã hạ cánh thành công xuống mặt nước, tôi hy vọng tất cả các bạn đều ổn. Bây giờ, tất cả những người có thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên phải của máy bay. Những người không thể bơi được, xin vui lòng đi về phía bên trái”.

Ðồng chí Tí quay sang nói với đồng chí Tèo: “Ðó là điều làm tớ yêu thích hãng hàng không Air China này, là họ luôn có những phương án dự phòng cho mọi tình huống”.

Ðồng chí Tèo trả lời: “Vâng, tớ hoàn toàn đồng ý, phi hành đoàn có vẻ được đào tạo tốt cho những tình huống này. Họ lo lắng cho chúng ta vốn là những đồng chí môi hở răng lạnh không biết bơi”.

Sau khi mọi người đã được sắp xếp theo khả năng bơi, cơ trưởng nói: “Tất cả những ai có thể bơi ở phía bên phải của máy bay, hãy sơ tán ra khỏi máy bay ngay lập tức! Và xin gửi đến những người ở phía bên trái của máy bay lời chào “Vĩnh biệt”. “Cảm ơn các bạn đã bay với Air China!”.

Toàn là những chữ của CSBV như cơ trưởng, đều ổn, đảm bảo, phương án dự phòng… v.v và v.v. Ðọc mà muốn ứa gan, sôi máu hè!

Cha Tư Hiền Triết dùng chữ đã sai mà viết chánh tả cũng sai bét. Bĩu môi thì viết là biểu môi. Chúm chím lại viết thành chúm chiếm. Kêu thằng chả sửa lại cho trúng mà y ngoan cố đâu có chịu. Y khoe bài tui đăng có trả tiền nhuận bút nên tòa báo có tiền là nó có quyền sửa trật. Phương Tây là vậy đó. Hỏi anh có ứa gan không?

Tui nói anh phê bình cách dùng chữ của thằng cha Tư Hiền Triết như vậy là đúng, giận cái giống gì hè. Ðầu hai thứ tóc rồi đâu phải mới đẻ hôm qua. Ờ, để tui nói với thằng chả.

***

Thưa bà con, tại sao tui khoái nhậu ở nhà anh Ba Cãi? Vì nhiều lẽ. Một là nhậu ở nhà nó rẻ, ít tốn tiền. Ra nhà hàng, mình nhậu tốn phân nửa, còn phân nửa là lọt vô túi áo con vợ bé của cha chủ nhà hàng. Thiệt trùm sò, kẹo kéo thấy ớn hè. Hai là rượu vô, lời ra. Lỡ nói lớn tiếng một chút cũng không làm phiền hàng xóm đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Ý quên, cũng nhậu như mình. Ba là vợ anh Ba Cãi, nhũ danh Hai Chim, dân Rạch Giá rất giỏi nấu ăn, ngon bá chấy bù chét. Nhứt là món bún cá. Vì vậy mới có câu hát là: “Lần đầu ăn tô bún cá, chạy dìa Rạch Giá, bỏ má theo em”.

Mấy bà già Rạch Giá dạy con gái của mình là muốn đi tới cái túi tiền của đàn ông là phải đi qua cái bao tử của nó!

Thế nên, trước khi về nâng khăn móc túi anh Ba Cãi thì bà nhạc của ảnh đã dạy cho chị Hai Chim cách nấu bún cá Kiên Giang. Món gia truyền từ đời bà sở, bà sơ, tới đời bà ngoại rồi đời má như thế nầy nè: “Cá lóc trọng trọng làm sạch. Bỏ vô nồi luộc chín làm nước lèo để chan bún. Vớt cá ra và tách xương ra, lấy phần thịt. Tôm tươi có thêm gạch tôm thì hết sẩy, đem rim với một ít nước mắm đến khi cạn nước. Ăn với rau muống chẻ, rau răm, giá hoặc kẹt quá, rau đắng cũng được. Thịt cá lóc chấm nước mắm y có thêm vài lát ớt sừng trâu. Chảy nước miếng hè!

***

Sau 30 tháng Tư mất hết! Tới 8 tháng 5 Mother’s Day.

Má mình thì chết rồi, chỉ còn tiếng mẹ đẻ, mother’s tongue! Mà mình thản nhiên để tụi nó cướp luôn thì mình chết mẹ nó cho rồi.

Hồi mới quen anh Ba Cãi, tui cũng mê món bún cá Rạch Giá. Cứ tấm tắc khen ngon. Chị Ba Cãi cũng như con vợ tui, nghe khen là khoái. Móc hết ruột gan ra đãi khách cũng không từ. Chị Hai Chim rất sẵn lòng nấu bún cá cho tui nhậu nhưng chỉ yêu cầu tui là đừng có kêu bằng chị Ba Cãi nữa (chỉ không có thích bạn bè mà cãi lộn). Hãy kêu bằng nhũ danh: Hai Chim. Tôi hỏi Chim có ê không? Chị Hai Chim cười khè khè đáp lại: “Ðã gần chết nên không có ê”.

Cẩu xực

Hồ Đình Nghiêm

 Sợi dây căng thẳng có khi chùng. Con chó như dẫn người đàn bà đi không giới hạn vào buồn vui vận tốc. Nó thích gầm đầu hôn hít bậy bạ, bờ hoa bụi cỏ rồi tìm gốc cây như thể ưa chơi trò trốn tìm. Ồ, hoá ra là chó mà cũng biết cả thẹn. Nghe nói ở bên mình, người ta bú mồm nhau thì lôi vào chỗ um tùm kín đáo còn thường khi việc tiểu tiện thì cứ vạch quần chu mõ huýt sáo mà đái giữa chốn thông thoáng thanh thiên bạch nhật. Sảng khoái cầm vòi vẽ rồng vẽ rắn vào tường vôi chưa đủ đậm mùi hôi khai.
Khi vật đứng ba chân sè sè nắm đất bên đàng, hai tay khổ chủ chỉ còn một, năm ngón tự động lôi từ túi áo ra cái bao ny-lông vệ sinh chốn công cộng, làm chủ tập thể, thể hiện nếp sống văn minh. Gần mực thì đen gần đèn thì sáng. Sông có khúc người có lúc. Lúc này tự dưng đâm yêu thú vật, mà nói nào ngay con cún này nó tình nghĩa với mình không bút mực nào tả xiết. Xẻ ruột đẻ ra đứa con chưa chắc nó “trả hiếu” bằng Lu nhà ta. Đi làm về nó chực sẵn sau cửa, cuống quýt tha dép tới cho mình thay giày. Nó bu sau mông đít mình mà thổ lộ nỗi nhớ mong, phụ giúp mình chuyện tha rác ra bỏ ngoài đường lộ. Thương hết biết!
Dắt chó đi dạo chẳng qua là nó muốn đi ngoài. Sợi dây căng, gượm đã, chờ tao hốt phân. Chốn đây kỳ khôi những sắp hạng: Trẻ con phụ nữ mèo chó mới tới kỳ cùng phàm phu tục tử. Giờ này ổng ngồi nhà chat chit với thằng em cách một đại dương, thi thoảng nghe má đứng hình trải lòng dặn dò, lập một danh sách dài toàn nhu yếu phẩm mang về kính lão đắc thọ. Má lóng rày coi bộ đã nhác chơi. Quê mình con Hương tội nghiệp bị uống nhằm thuốc giả, 13 tuổi vừa có kinh, xong biến thành tuổi nghi bất hoặc, không dưng tóc úa màu đành xem như quá độ tuổi thanh xuân, ai nào ngờ. Bởi vậy bà Quê gần 60 mà vẫn còn trinh, nói ra chẳng ai nghe còn trách bả “chảnh”. Pilot trẻ trong xóm chả có ma nào ham lái máy bay bà già! Khổ thế! Người còn vậy huống chi hoa quả, trái mít đang xanh lè chích một liều hoá chất thành vàng lườm, mủ thôi rít tay và thơm ngọt đúng quy trình. Mãi chung đụng thứ này sớm có ngày phủi chân “leo lên nóc tủ ngắm gà khoả thân”.
Bị chẳng ai trông con và chăm cún nên đành xốn lòng để ổng về mình ên. Em à chuyện bất đắc dĩ thôi mà. Bản thân anh rất ngại đường xa, dắt con Lu đi loanh quanh đã nghe oải huống hồ ngồi chết cứng gần ngày trời trên máy bay. Bả sắp xuống lỗ rồi, chuyến này về có thể nhìn nhau một lần cuối. Khi xưa học thuộc lòng câu: “Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Giờ này khôn dại chưa tường nhưng là thời điểm phải ở nhà với mẹ. Chỉ một tháng thôi em à, 30 ngày phù du, một chợp mắt.
Lão vác hành lý ra đi, kêu taxi, bộ tịch xẳng xái. Con Lu đứng nhìn chả thèm vẫy đuôi. Thằng con mới có 12 tuổi, phát ngôn như trong phim bộ: Mom thiệt dại khờ khi thả hổ về rừng. Con nghe bạn học “say”: Ở bển có tiền mua tiên dễ như ăn cháo, tha hồ húp, nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Người đóng vai mom hát thầm nhạc vàng boléro “một mai xa cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, ta lại về bên nhau”. Mệt mày quá, tao dắt con Lu ra công viên hít thở khí trời cho điều hoà kinh mạch.
Thằng em chở lão trên xe gắn máy dềnh dàng. Như giao hẹn, thổ công đã chí tình dắt ông anh khúc ruột ngàn dặm đi thư giãn tới bến. Đã quá mày! Về đây tao nghe như vừa trẻ lại 10 tuổi. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, sợ mình không lắm bổi thôi chứ tam cung lục viện có cả tỉ món đồi truỵ. Mày đừng vui miệng kẻo bà già nghe được thì thêm giảm thọ. Chưa kể bả mét cho con vợ tao hay thêm bù lu bù loa rách hết chuyện đại sự. Nàng bế môn toả cảng, nàng đóng cửa không cho bận sau ló mặt đi giao lưu linh tinh.
Xe tấp vào một quán nhậu, khói thịt nướng thơm điếc cả mũi. Bia ngoại mang ra cùng món đặc sản. Cậu em cụng bia: Chúc sức khoẻ, mừng anh thôi xa quê hương nhớ mẹ hiền. Mày gọi món này ngon a! Thịt con gì thơm quá mạng? Đứa em vốn không quen nói ra sự thật, hắn lấp liếm: Là thịt heo sữa đấy, chúng được tẩm hương liệu của Trung quốc nên thơm ngon là chuyện ắt phải có. Kêu thêm đĩa giả cầy nữa nhé? Ừ, mày cứ vô tư đi mà. Đồ nhắm quán này ngon nhức răng. Ông Việt kiều ham ăn nhậu, ham dòm cô phục vụ viên ăn vận thông thoáng nên không thấy đằng sau tủ kính treo lủng lẳng cả chục con chó co quắp hình hài khi thịt bị thui, bị nướng, bị quay, bị nung lửa…
Chỗ hai anh em ngồi nhậu, đồng hồ điểm 10 giờ đêm. Nhưng nơi công viên xứ lạ lại là 10 giờ sáng. Sợi dây trong tay người đàn bà bị vuột khỏi năm ngón, con Lu phóng rượt theo một trái banh từ cú sút sai mục tiêu của một đứa mơ làm cầu thủ. Trái bóng bay khỏi sân cỏ dội thình thịch xuống đường nhựa. Tiếng đạp thắng gấp rút của một chiếc xe vừa vụt ngang, chấm dứt hai tiếng kêu cùng lần: Chó và người đàn bà lạc giọng. Máu từ tốn chảy, mặt đất từ tốn hút lấy. Nước mắt người đàn bà đổ ra, hoen mờ, thác lũ. Hai tròng con Lu không nhắm, nó nhìn lên người đàn bà với thứ nỗi niềm câm lặng. Chẳng mấy lâu, từ hố mắt thăm thẳm kia ứa ra một giọt lệ. Người đàn bà ngồi bệt xuống đường, cong lưng phủ che lên xác chó thân thương. Bà gào lên: Lu. Lu ơi… Lu ơi! Bà khóc thành tiếng, nước mắt nóng hổi rơi vào, đọng trong đôi mắt trừng mở. Lu, Lu ơi. Bà đưa tay vuốt mắt.

Hồ Đình Nghiêm

Cái bóng của vị thầy tu

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

January 2, 2017

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

   

 

(tặng bạn tôi N.V.L)

Dừng xe trước quán cà phê nằm bên triền núi, tôi kéo Lân vào ngồi bên chiếc bàn nhỏ, nằm riêng rẽ dưới bóng mấy cành thông. Ngày thường, quán vắng khách. Đã hơn bốn giờ chiều mà mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Mùa hè Bắc Âu ngày dài ra, có những ngày cuối tháng sáu, gần như không thấy bóng đêm. Trời nắng, nhưng không nóng lắm. Thỉnh thoảng có vài cơn gió làm lung lay những cành thông, như muốn khuấy động cái không gian tĩnh mịch và tạo thêm chút mát mẻ, thư thái cho khách nhàn du.

Đến đây đã nhiều lần, dần dà bọn tôi trở thành khách quen của ông chủ quán, người Na-Uy, vốn trước kia ở cùng xóm với tôi, nên đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi đặc biệt, thoải mái. Hơn nữa đã từng nghiên cứu về Đạo Phật, nên thấy Lân trong bộ áo thầy tu, ông chủ cũng tỏ ra ít nhiều tôn kính, có khi trao đổi đôi điều về Phật và Thiền học, mặc dù ông chưa hề biết quá khứ, nhất là cả một thời tuổi trẻ đầy sôi nổi, hào hùng và biến động của Lân.

    Gần mười năm nay, sau khi về hưu, hằng năm, vào khoảng giữa tháng Mười, vợ chồng tôi thường sang Cali ở sáu tháng để trốn mùa Đông Bắc Âu, mà với tuổi già càng lúc cái lạnh như càng ngấm vào da thịt và cả trong lòng mình.  Đến hè, mỗi lần trở lại Na-Uy, tôi thường ghé lại thăm Lân. Từ lúc nhận ra tuổi già qua nhanh quá, cái quỹ thời gian không còn nhiều, và một số bè bạn đã lần lượt ra đi, chúng tôi dành nhiều thì giờ cho nhau hơn. Lân về hưu trước tôi một năm, và anh đã chọn một hướng đi đặc biệt cho tuổi già: tu tại gia. Anh xuống tóc, ăn chay trường và mỗi ngày sống với kinh kệ như một vị thầy tu, mặc dù không đến chùa. Anh cho rằng cái khung cảnh và sinh hoạt ở một số chùa chiền bây giờ không thích hợp với anh. Hầu hết bạn bè và những người quen biết đều tôn trọng cái quyết định đó, cũng như rất mến mộ phong cách, đạo đức của anh. Thực ra, trước khi chọn con đường tu hành, anh cũng đã có đầy đủ tố chất của một vị chân tu rồi. Hiền lành, đạo hạnh, luôn chia sẻ tấm lòng với tha nhân, nhất là những người không may, gặp điều khốn khó, và với ai anh cũng luôn nở một nụ cười hiền hòa nhân ái. Lân dùng nguyên ngôi nhà ở sửa sang lại làm tịnh thất, nằm trong khu ngoại ô, bên bìa rừng yên tĩnh. Anh sống ẩn dật, chỉ tiếp vài ba người bạn chí thân.Tôi thường đến đây với Lân, có khi ở lại cả tuần, theo anh ngồi tĩnh tâm hay tập thiền, nhưng thỉnh thoảng Lân cũng chìu tôi, theo tôi ra ngồi ở cái quán cà phê  bên vách núi yên tĩnh này. Tôi nghĩ đây là nơi lý tưởng để Lân còn nhìn thấy một chút “thế gian” và chúng tôi có thể ngồi hằng giờ tâm sự chuyện đời xưa,  nhắc nhớ khoảng thời gian khá dài mà chúng tôi có cùng chung quá khứ.

***

Tháng sáu năm 1976, sau khi bị chuyển tù ra Bắc, đến Trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi gặp lại người bạn cũ, có thời ở cùng đơn vị. Anh ở khác lán với tôi, nhưng cùng tổ và nằm bên cạnh Lân. Qua anh bạn này, tôi quen biết Lân từ đó, để rồi sau này trở thành thân thiết. Điều đặc biệt là dù qua bao lần “biên chế”, bị chuyển đi nhiều trại, Lân và tôi đều được may mắn, đi chung với nhau cho đến ngày Lân ra tù, tháng 9 năm 1981.

    Trước ngày miền Nam thất thủ, Lân là thiếu tá, làm việc ở Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (thuộc Bộ Tư lệnh Không Quân). Một công việc bất đắc dĩ, ngoài sở thích của Lân. Anh vốn là phi công trực thăng được chuyển về đây sau khi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa và được Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp vào loại 2, không thể phi hành hay chiến đấu được. Anh bị trọng thương trong một chuyến bay cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi trong trận chiến An Lộc.

     Lớn hơn tôi một tuổi.  Lân tình nguyện vào Không Quân và được sang Mỹ học ngành hoa tiêu trực thăng. Về nước được bổ sung cho Phi Đoàn Long Mã 219 ở Đà Nẵng, từ thời còn sử dụng trực thăng loại H-34, về sau này được thay thế bằng UH-1. Đây là một phi đoàn đặc biệt. Trên các máy bay sơn toàn màu đen, không vẽ quốc kỳ và  bất cứ danh hiệu hay mã số nào, ngoài hình những lá bài “ách xì” cơ, rô, chuồn, bích. Phi Đoàn có nhiệm vụ thả và bốc các toán lôi hổ, biệt kích, hoạt động trong vùng đất địch. Lân nổi tiếng là một phi công tài giỏi, thông minh và can đảm.

      Sau đó, được thuyên chuyển về một phi đoàn thuộc Vùng 3. Năm 1970, Lân cùng phi đoàn đã đóng góp nhiều chiến công trong các cuộc hành quân sang lãnh thổ Cam- Bốt. Năm 1972, tham dự trận chiến An Lộc, đổ quân, tản thương cho Liên Đoàn 81 BCND và một số đơn vị thiện chiến khác, Lân mấy lần bị thương nhẹ, được đặc cách thăng cấp thiếu tá. Khi đã có lệnh và đang chờ thuyên chuyển đến một phi đoàn khác để giữ chức vụ Phi Đoàn Phó, thì anh tình nguyện tham gia phi vụ cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi. Nhờ tài năng, lòng dũng cảm và nhất là tình đồng đội “không bỏ anh em không bỏ bạn bè”, anh đã bất chấp mọi hiểm nguy, cứu được 3 trong 4 người của một phi hành đoàn, khi phi cơ phải đáp khẩn cấp vì bị trúng đạn phát hỏa, người xạ thủ đã bị tử thương. Được bốn gunships yểm trợ, Lân đã lừa địch và bất ngờ đáp xuống trong màn lưới đạn, bốc ba người bạn đang bị Cộng quân truy bắt. Nhưng khi vừa bốc phi cơ lên, Lân bị trúng hai viên đạn, làm gãy xương cánh tay và ống chân trái. Sau này, trong một dịp tình cờ, tôi gặp anh co-pilot trong phi vụ này, kể lại chuyến bay rescue vô cùng hiểm nguy với tất cả lòng thán phục Lân.  Anh bảo, nếu không có Lân hôm ấy, chắc chắn việc cấp cứu đã không thành và ba người bạn cùng phi đoàn đã bị địch quân giết hay bắt sống.

     Khi ở trại Nghĩa Lộ, tôi được sắp xếp cùng tổ với Lân. Chúng tôi thuộc đội phát rừng (vào mùa Đông) và tăng gia (vào mùa Hè, vì mùa Đông, ở vùng này rất lạnh, không trồng rau được). Tù ăn uống thiếu thốn và lao động cực khổ, nhưng Lân rất khỏe mạnh. Có lẽ nhờ vào khả năng mưu sinh. Phải nói đây là một sở trường đặc biệt của Lân mà bạn tù ai cũng nể phục. Anh có thể bắt tôm, cá bằng tay không,  khi đứng giữa một dòng suối hay con sông. Nhìn dấu chân các loài vật anh biết ngay đó là con vật gì. Chỉ cần một nhánh cây anh có thể “sáng chế” thành một cái bẫy để bắt các loại chim, chồn, và cả thỏ rừng. Nhờ vậy mà anh nuôi sống cả một tổ tù, đặc biệt cứu vài người bị đau bệnh, kiệt sức. Anh còn biết cả thuốc Nam, các loại lá, vỏ cây trị bệnh. Một lần đi rừng chặt nứa, tôi bị một con ong đất chích vào tay, sưng vù lên và tím cả một vùng da. Lân cho biết nọc loài ong này rất độc, có thể làm chết người. Anh dùng dây rừng cột chặt cánh tay tôi lại, đi tìm một loại lá và vỏ cây gì đó đắp lên. Chỉ sau một giờ đồng hồ vết sưng biến mất. Một buổi trưa nhân ngày lễ, được nghỉ lao động, anh đã câu được gần ba mươi con ếch ngay trong trại, dưới các rãnh mương thoát nước. Chính tay trưởng trại đã đi theo xem và phục tài của Lân. Tất cả ếch câu được đều giao cho nhà bếp “hậu cần” để có thêm chất thịt cho anh em.  Lân cho biết là chỉ cần nghe tiếng ếch kêu đêm hôm trước là anh biết có khoảng bao nhiêu con và đang trốn ở đâu. Cần câu chỉ là một thanh tre và một sợi chỉ từ cái bao cát được Lân xe lại, và mồi câu chỉ bằng một miếng bông gòn nhỏ. Tối hôm ấy, tôi khuyên Lân nên chấm dứt chuyện câu ếch và cần phải giấu kín cái tài mưu sinh, vì có thể bị bọn cai tù nghi ngờ, “ra tay” trước đề phòng khả năng anh trốn trại. Tôi cũng ngạc nhiên, khi Lân là một phi công “hào hoa”, nhưng khả năng mưu sinh thoát hiểm rất tuyệt vời. Lân cho biết, khi còn nhỏ, nhờ cả thời tuổi thơ sống bên quê ngoại, một vùng quê ở Tây Ninh, anh đã theo đám bạn bè và cả những người nông dân lớn tuổi, học được rất nhiều điều như thế.

      Điều làm tôi nể phục hơn, ngoài mưu trí, lanh lẹ, Lân còn là một con người gan dạ, liều lĩnh và chí tình với bạn bè. Một lần trải qua một trận kiết lỵ kéo dài, thuốc men không có, tôi chỉ còn khoảng ba mươi ký, kiệt sức đứng không vững. Lơi dụng lúc đi lấy “phân xanh” (loại lá cây để ủ thành phân bón), không có vệ binh canh giữ, Lân đã lén vào trại heo của Hợp Tác Xã (cách trại khoảng vài trăm mét, mà trước đó đám tù bọn tôi có đến vài lần làm chuồng cho họ) bắt một chú heo con (heo sữa) mang về giấu ngoài khu vực tăng gia (nằm sát bên hông trại), để hôm sau vùi vào hầm lửa (do tù đào và dùng các gốc cây đốt lửa sưởi ấm) cho tôi ăn dần. Nhờ đó mà tôi sớm lấy lại được sức. Một lần khác, khi được giao cho công việc lên phơi lúa trên sân trại, nằm ngay trước ban chỉ huy trại, Lân thấy có một buồng chuối thật dài sắp chín được đám bộ đội chăm sóc cẩn thận, bao lại bằng mấy tấm bao cát và chống lên bằng hai thanh gỗ. Vài hôm sau, trong một buổi sáng sớm mùa Đông, khi sương mù còn dày đặc (đứng cách vài thước không nhìn thấy nhau), Lân đã lẻn lên sân trại cắt trộm cả buồng chuối mang ra chôn giấu ngoài khu lao động. Hai hôm sau chuối chín, chờ lúc không có mặt tay quản giáo, Lân đào buồng chuối lên để cả tổ cùng ăn. Vì sợ mùi chuối chín dễ bị phát hiện, nên Lân đề nghị phải ăn cho hết. Một thời gian quá lâu thiếu chất đường, nên cả tổ tám người thanh toán buồng chuối khoảng một trăm quả trong vòng 20 phút đồng hồ mà vẫn chưa thấy ngọt. Nhưng vì ăn nhiều quá, nên khi vừa đứng dậy, cả bọn bị ói thốc tháo ra toàn là chuối.

      Biết tài bắt cá của anh, nên mỗi lần trại tù hay hợp tác xã bên cạnh tổ chức “tảo” các hồ cá để thả cá con, Lân đều được chọn đi bắt cá. Hầu hết các hồ chỉ nuôi loại cá trắm cỏ, nhưng có nhiều loại cá khác, như cá lóc, cá trê sống trong đó, sẽ ăn hết đám cá trắm cỏ con. Nên trước khi thả cá, phải “tảo”hồ, băng cách bơm cạn và bắt tất cả các loại cá khác nằm dưới bùn. Lân sở trường về việc này. Nhưng thay vì  phải giao tất cả cả bắt được cho trại, anh tìm vài cái hang dưới bờ hồ, tạo thành những cái hộc để nhốt một số cá lóc vào đó. Những cái hồ cá này, cũng là nơi cho tù rửa ráy hay tắm sau giờ lao động. Và cứ mỗi lần tắm, Lân lại bắt một con cá nhốt sẵn trong hộc, mang về cho cả tổ cùng ăn. Vì là đội tăng gia, được giữ mấy cái bình tưới bằng nhôm, nên dễ dàng giấu cá trong đó mà không bị “phát hiện”.

      Có một kỷ niệm tôi không thể nào quên. Một khoảng thời gian ở Trại Hang Dơi, bọn CS luôn tìm mọi cách vắt kiệt sức của chúng tôi. Tất cả tù đều phải lên rừng chặt nứa (loại tre nhỏ) mang về bán cho nhà máy giấy Việt Trì, theo hợp đồng của trại. Chỉ tiêu mỗi ngày là ba mươi cây. Nếu không đủ, sẽ không được nhận khẩu phần ăn. Chỉ sau một tháng là nứa ở các vùng núi chung quanh trại tù hết sạch. Chúng tôi phải chia nhau một toán ba người đi rất xa lên các dãy núi cao tìm nứa.  Lân và tôi luôn đi chung một toán. Trời mùa Đông, lạnh buốt xương, và suốt cả ngày mưa phùn rả rích. Các lối mòn, ngõ ngách lên núi biến thành bùn nhão, trơn như mỡ. Bọn tôi phải đóng những cái cọc ngắn dọc trên các con đường, mỗi lần vác nứa xuống, dùng đầu ngón chân tì vào các cọc để không bị trượt ngã xuống vực. Nguy hiểm hơn là khi bị té ngã, bó nứa chùi xuống đâm vào người đi trước, có thể mất mạng. Một buổi trưa, len lỏi trong rừng già, rất khó khăn để chui qua những cây mây già, nằm chằng chịt như những con trăn dài chặn các lối đi, những cây cổ thụ cao to che hết ánh sáng mặt trời. Khi bọn tôi đang lo âu có thể bị lạc đường, chia nhau đi chặt vào các thân cây làm dấu, thì bất ngờ một một cây cổ thụ bỗng rung rinh, lá cây xào xạc,  bóng một con vật to lớn nhảy xuống. Cả ba thằng khựng lại, rồi như theo bản năng, nhanh chóng tìm lại ngồi sát vào nhau, mặt thằng nào cũng tái xanh. Bỗng Lân quát lớn: “Đừng sợ, đứng dậy, đưa dao lên!” Tôi làm theo Lân như cái máy. Khi hoàn hồn, nhận ra ngay trước mặt mình không xa, một con dã nhân (vượn người?), cao to bằng ba con người, lông lá đầy mình, mặt mày dữ tợn, đang rú gào đe dọa chúng tôi. Lân rất bình tĩnh, bảo bọn tôi cùng hét thật lớn và bước tới với con dao đưa lên chém vào không khí. Không ngờ con dã nhân lùi lại, rú thêm mấy tiếng rồi nhảy phóc lên cây, phóng đi nơi khác. Hôm ấy bọn tôi về tay không và biết là sẽ bị phạt mất phần ăn, nên Lân đã đi tìm mấy mụt măng rừng và luộc lên cho bọn tôi ăn đỡ đói. Tôi và anh bạn tù kia phục Lân vô cùng. Nếu hôm ấy mà không có Lân, chẳng hiểu bọn tôi sẽ phản ứng ra sao. Cũng đã từng bao lần vào sinh ra tử, nhưng đứng trước một tình huống quá bất ngờ này, thực tình chúng tôi mất hết bình tĩnh, chẳng biết cách nào đối phó. Đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con vật lạ lùng, ghê sợ, mà trước đây chỉ biết mơ hồ qua sách vở và lời kể của ông bà.

     Năm 1979, trước khi chuyển trại để rời khỏi Hoàng Liên Sơn, vì Trung Cộng đang tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc, đội tù chúng tôi được chọn ra hai tổ đi lao động “thông tầm”, gặt lúa cho một HTX nông nghiệp, ở cách xa trại khoảng mười cây số. Lân được chọn làm toán trưởng. Chúng tôi khoảng 20 người, đi bộ, có hai tên vệ binh đi theo. Đến nơi vào buổi chiều, trời sắp tối, bọn tôi được trú ngụ trong một cái đình làng bỏ hoang, một phần mái và một bức tường đã rệu rã. HTX dùng cái sân đình để chứa và phơi lúa. Không biết có phải để “khuyến khích tinh thần” hay tạo thêm sức, HTX “bồi dưỡng” cho bọn tôi một bữa xôi nếp với thịt trâu khá no nê. Có cả một xị rượu mía. Đây có lẽ là bữa ăn thịnh soạn nhất trong đời tù bọn tôi.

      Sáng hôm sau, tay Chủ nhiệm HTX hướng dẫn chúng tôi ra khu ruộng, nằm cách ngôi đình làng khoảng 100 mét. Khi đến nơi bọn tôi mới ngỡ ngàng. Đây là những đám ruộng sình, lúa rất tốt, nhánh nào cũng trĩu đầy hạt, nhưng nếu bước chân xuống ruộng, người ta sẽ bị lún sâu xuống ngay, khó mà ngoi lên được, vì càng cử động, tìm cách thoát lên, lại càng bị lún xuống thêm, có thể ngập đầu. Bọn tôi lắc đầu ngán ngẩm, khi vừa hiểu ra cái giá của bữa cơm nếp có thịt trâu, rượu mía tối hôm qua. Trong khi cả bọn nhìn nhau bất lực, Lân đưa ra sáng kiến. Dùng các tấm cửa cũ của ngôi đình bỏ hoang, cột dây kéo hai đầu, chỉ cần một người (chọn những người nhẹ ký nhất) ngồi trên tấm cửa, gặt lúa, những người còn lại, đứng trên bờ hai đầu, thay phiên kéo và giữ thăng bằng tấm cửa và an toàn cho người gặt lúa. Một tấm cửa khác kéo theo bên cạnh, để chứa những bó lúa gặt được. Khi nào đầy lúa, người gặt ra dấu, để được kéo vào bờ. Sáng kiến của Lân được mọi người hoan nghênh, kể cả tay Chủ nhiệm. Khoảng mười tấm cửa cũ đủ loại lớn nhỏ được mang ra sử dụng, một số cuộn dây được cung cấp, kể cả một số tre được mang tới để vài anh chẻ ra đan thành những cuộn dây dài.  Không ngờ sáng kiến của Lân lại tuyệt vời. Chỉ hai hôm, tất cả lúa trên hơn mười thửa ruộng sình được gặt xong. HTX “thu hoạch” được số lượng lúa khá lớn. Tay Chủ nhiệm xin cho bọn tôi được ở lại thêm một ngày để nghỉ ngơi và “liên hoan”.  Ăn cơm trắng với cá “trám cỏ”. Thấy có một cái trống rách, bỏ nằm lăn lóc trong góc đình, Lân bèn nghĩ ra một điều “kỳ lạ” khác.  Anh tháo da từ cái trống ra, mượn một cái chảo đun sôi gần cả một đêm, sáng hôm sau, các miếng da nở ra, mềm, dẻo và trắng mướt. Lân thái nhỏ ra, xin thêm đậu phụng (lạc), giã nát cùng với ít rau, rắc lên. Miếng da rách trong chiếc trống lăn lóc ngày hôm qua, bây giờ đã trở thành một món ăn khoái khẩu. Những bạn tù hôm ấy chắc chắn không ai có thể quên Lân và những ngày tù thật đặc biệt này.

        Sau khi được chuyển về Trại Nghệ Tĩnh, Lân rủ tôi và một người bạn thân nữa tổ chức một cuộc trốn trại. Tôi rất tin tưởng vào khả năng vượt thoát của Lân. Thời gian này bắt đầu được thăm nuôi, Lân đã nhờ người nhà mang theo nhiều thức ăn khô, một số tiền mặt và một cái địa bàn nhỏ dấu kín trong hũ mắm ruốc. Nhờ hối lộ hậu hỉ cho tên công an phụ trách, nên mọi thứ đều trót lọt. Nhưng chưa tới ngày thực hiện thì bất ngờ Lân có lệnh thả. Anh rất ngạc nhiên về việc này. Kế hoạch trốn trại phải hủy bỏ, vì tôi và người bạn còn lại không tin vào khả năng của mình, nếu không có Lân.

         Năm 1983, sau gần một năm được chuyển về Trại Z-30 C Hàm Tân, tôi được thả. Ra trại, thay vì về quê ngoài Nha Trang, tôi vào Sài gòn tìm Lân. Vì trước lúc chia tay, Lân cho biết là sau khi về nhà, anh sẽ mua ghe tổ chức vượt biên. Anh còn dặn dò, bất cứ lúc nào ra khỏi tù, tôi nhớ tìm gặp anh ngay. Tôi luôn tin tưởng vào khả năng, đạo đức và chân tình của Lân.

      Thời gian trong tù, qua tâm sự của Lân, tôi biết rất rõ về nhà cửa, địa chỉ và tất cả những người trong gia đình anh. Ông cụ đã mất trước 75, Lân chỉ còn bà cụ đang sống với hai cô em gái trong ngôi nhà khá lớn ở bên Quốc lộ, gần Ngã Tư Hàng Xanh. Ông anh duy nhất là một Biên Tập Viên Cảnh Sát, làm việc tại Sài gòn, đã kịp rời khỏi Nhà Bè vào sáng sớm ngày 30.4.75.

      Lân được cả nhà, đặc biệt là bà mẹ hết lòng yêu thương. Chính vì điều này mà Lân đã không đành bỏ mẹ để ra đi khi CS chiếm Sài gòn, mặc dù khi ấy Lân có nhiều phương tiện trong tay, đã giúp khá nhiều bạn bè ra khỏi nước. Sau này Lân còn cho tôi biết, chính mẹ và các em gái của Lân đã bán nhiều tài sản và dùng vàng bạc giấu được sau các đợt “đánh tư  sản”, tìm đường dây đến một tay thứ trưởng Bộ Nội Vụ CS mua cho Lân cái giấy ra trại, để vượt biên sớm.  Lân là một trong số rất ít tù được thả sớm từ miền Bắc trong thời gian ấy.

        Khi tìm đến nhà, tôi gặp mẹ và cô em lớn của Lân. Bà mẹ cũng là một người tu hành.  Bên kia phòng khách, tôi nhìn thấy một tượng Phật Quan Âm lớn hơn một người thật, cao gần đến trần nhà. Tôi bảo tôi là bạn tù rất thân của Lân vừa mới được thả ra, tìm đến thăm Lân, nhưng cả mẹ con đều bảo Lân đang sống ở vùng kinh tế mới dưới Phước Tuy. Nhìn vẻ mặt của hai người tôi biết là họ đang nghi ngờ tôi, có thể là một gã công an nào đó muốn thăm dò tin tức Lân. Khi tôi hỏi xin địa chỉ nơi ở của Lân trong vùng kinh tế mới để đi thăm, viện cớ là tôi ở ngoài Trung, sau này khó có thể gặp Lân, hai người bảo là không biết, hơn nữa người lạ cũng không được phép đến đó. Đoán là có điều gì xảy ra cho Lân, nên cả  mẹ và em Lân cố tình giấu giếm, tôi lấy tờ Giấy Ra Trại đưa cho cô em xem và kể thêm một số chi tiết về Lân cũng như những người trong gia đình. Khi ấy hai người mới tin và cho tôi biết là Lân tổ chức vượt biên, kéo theo một số bạn bè, nhưng chẳng may ghe bị mắc cạn ở cửa sông Mỹ Tho, Lân bị bắt và đang bị nhốt trong một trại tù rất khắc nghiệt. Tôi cám ơn và xin tạm biệt, nhờ chuyển lời thăm Lân khi có thăm nuôi. Tôi cũng để lại địa chỉ và nhờ nói lại với Lân, khi ra tù nhớ liên lạc với tôi. Mẹ của Lân bảo cô em vào lấy một số tiền biếu tôi. Tôi từ chối nhưng hai mẹ con nhất mực bắt tôi phải nhận. Cô em đã nhét tiền vào túi áo của tôi.

        Sau hơn tám năm, trở về nhà, chưa kịp làm quen với mấy đứa con, nhất là con gái út còn nằm trong bụng mẹ ngày tôi vào tù, và cũng chưa kịp hỏi được tin tức về nơi chôn cất cha tôi, ông đã chết trong môt trại tù khác trong Nam từ tháng 6/1976, thì bốn hôm sau, tôi được “mời” ra công an thị trấn, nhận cái giấy trả lại trại tù, với lý do “nhân dân địa phương không chấp nhận cho tôi được tạm trú”. Khăn gói vào lại trại tù Z-30C, được cho ở tạm nhà thăm nuôi ba hôm, sau đó nhận một tấm Giấy Ra Trại khác, với nơi chỉ định tạm trú mới là sinh quán của tôi. Ở đó tôi chẳng còn ai, ngoài bà cô già, góa bụa sống trong ngôi nhà từ đường của ông bà nội tôi để lại. Tôi lại bị chính quyền CS ở đây hành hạ, làm nhục đủ điều. Không còn con đường nào khác, ngoài vượt biên. Nhờ một ông anh con ông cậu ruột, nguyên là một HSQ Hải quân, đang có sẵn ghe đánh cá, tôi liều lĩnh âm thầm khuyến khích và tổ chức vượt biên, chỉ dành cho gia đình và những người thân thiết nhất. Tôi nhờ đứa cháu vào nhà Lân. Rất may là Lân vừa mới ra khỏi tù hơn một tuần lễ, cũng nhờ bà mẹ lo lót.  Lân mua giấy tờ giả, đóng vai một “cán bộ thương nghiệp” ra Nha Trang công tác. Tôi gởi Lân ở chung nhà với một người bạn thân khác của tôi, là căn phòng nhỏ ngay phía sau một trường tiểu học mà anh là hiệu trưởng, không ai để ý. Đúng giờ hẹn, tôi cho người đón Lân bằng xe Honda và đưa Lân trốn trong một ghềnh đá sát bên bờ biển ở một nơi an toàn. Tôi hẹn cho ghe ghé đến, đậu xa bờ khoảng 200 mét, báo mật hiệu bằng đèn và cho thằng cháu chèo thúng chai vào đón. Nhưng Lân bảo không cần, vì thúng chai chèo chậm lắm, anh sẽ bơi ra tàu cho nhanh. Khi kéo Lân lên tàu, hai đứa ôm chầm lấy nhau, như thầm hứa hẹn một “trang sử” mới.

       Mặc dù có người anh định cư ở Mỹ từ 1975, nhưng Lân quyết định cùng đi Na-Uy với chúng tôi. Mấy lần tôi hỏi, có phải trong lòng Lân còn “hận” Mỹ, đã phản bội, bỏ rơi người bạn đồng minh, để đất nước và cả dân tộc mình điêu đứng lầm than?  Lân cười, bảo chỉ muốn sống gần tôi, người bạn đã cùng sống chết với anh trong suốt đoạn đời tù đày khốn khổ.

       Lân cùng học rồi cùng vào làm một sở với tôi cho đến ngày về hưu. Chúng tôi cùng hăng say hoạt động trong một tổ chức kháng chiến ngay từ ngày đến Trại Tị Nạn Bataan, Phi Luật Tân. Vào thời điểm ấy, tổ chức này rất nổi tiếng và được nhiều người khắp nơi tham gia, ủng hộ. Khi một cán bộ cao cấp của tổ chức từ Hoa Kỳ đến Na-Uy sinh hoạt, cả Lân và tôi xin tình nguyện được về “chiến khu quốc nội”(?), nhưng ông ta bảo không còn cần thiết nữa. Chỉ một tháng sau đó, tổ chức này rạn nứt, tan vỡ, phơi bày bao điều không thật, đau lòng. Chúng tôi thất vọng và phẫn nộ khi có cảm giác mình bị lừa dối. Những năm sau, Lân sang Mỹ nhiều lần, thăm ông anh, họp bạn bè và tìm hiểu các tổ chức, hội đoàn hoạt động ở đây. Anh háo hức, thiết tha mong được đóng góp phần mình. Lân thường bảo, cuộc sống lưu vong này sẽ trở nên vô nghĩa, nếu chúng ta không làm được điều gì. Chẳng lẽ rồi bọn mình cũng chỉ là những “con chim ẩn mình chờ chết!”hay sao?

      Cuối cùng, dường như Lân đã không tìm được một “ánh sáng nào ở cuối đường hầm”. Anh bảo những hình thức, phô trương, những bộ quân phục và lon lá bị lạm dụng, những ông bà háo danh chủ tịch, tranh giành cộng đồng này, hội đoàn nọ, tệ nhất là mấy cái chính phủ với đám tướng tá tự phong, tự diễn, lố bịch như đám phường tuồng, làm anh muốn buồn nôn.

      Có những ông chưa có một ngày trong lính, nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một nhà quân sự tài ba, huênh hoang chê bai ông tướng này ông tá khác, phê phán đủ các trận chiến ngày xưa. Cũng có những ông gốc lính, chẳng biết tài năng đến đâu, chửi bới không sót một người nào, từ các cấp chỉ huy của mình ngày trước cho đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bằng lời lẽ hạ cấp bẩn thỉu, chụp mũ người này người khác, nếu không hoan hô “cái tài thao lược” của phe ông.

      Bạn bè thì một số thoải mái với cuộc sống mới và đã biến thành những con người mới, quên mình đã từng là lính và bị tù đày. Một số thì tìm đến với nhau trong những hội hè, mong có nhiều cuộc họp mặt tiệc tùng, để có dịp mặc bộ quân phục, tìm lại chút “dư âm ngày cũ”. Chưa kể một số đua nhau về Việt nam, để đi trở lại trên những “đường xưa lối cũ.”  Lân bảo, vẫn biết mỗi người có quyền chọn cho mình một cách sống riêng để bù đắp những mất mát hay xoa dịu phần nào vết thương quá khứ, tất cả đều tội nghiệp, nhưng sao anh vẫn thấy có điều gì đó làm xót xa, đau đớn trong lòng.

      Đôi khi Lân than thở với tôi:

      -Đã hơn 30 năm sống trong cái cộng đồng ly hương này, sao nhiều lúc mình vẫn có cái cảm giác bồng bềnh như ngày nào còn ngồi với bạn trên chiếc thuyền vượt biển ra khơi!

       Tôi lên mặt lý sự cốt an ủi Lân:

      -Bạn đừng lý tưởng quá, thời gian nó sẽ xói mòn và làm đổi thay tất cả. Trong cái xô bồ, mình phải gạn lọc để chấp nhận và trân trọng những gì tương đối, bởi rất nhiều anh em, cũng như chúng ta, đành phải “lực bất tòng tâm” trước những ước vọng đó sao!

        Tôi thầm tiếc và tội nghiệp cho Lân, một con người yêu nước, tài ba, can đảm và đức độ như vậy mà chẳng còn một nơi nào để “dụng võ”.

         Nhiều lúc thấy Lân trầm ngâm, ngồi im lặng như một thiền sư, tôi tự hỏi, từ ngày chọn con đường tu hành, ngày đêm với kinh kệ, không biết trong lòng Lân có còn nỗi khắc khoải nào không? Tôi ngại không dám hỏi Lân. Mới đây, trong lúc ngồi bên nhau Lân nói với tôi:

      -Bây giờ tôi chỉ còn mong ước hai điều, trước khi chết được thấy đất nước mình đổi thay, không còn Cộng sản, và khi nhắm mắt được có bạn ở bên cạnh để vuốt mắt và niệm cho tôi một bài kinh A Di Đà!

***

Con chim gỗ trên chiếc đồng hồ treo trong quán cà phê vừa hót lên bảy tiếng. Như vậy là bọn tôi ngồi đây đã ba giờ đồng hồ. Trời không tối nên cứ tưởng còn sớm lắm. Ánh mặt trời vẫn chói chang qua những tàng cây. Tôi đứng dậy dành đi trả tiền. Lân bước ra trước, đứng chờ ở vệ đường, nhắm mắt ngước mặt lên trời. Không biết anh đang cầu nguyện điều gì hay muốn xóa đi, quên hết những gì mà chúng tôi vừa tâm sự, để trở về với cái tâm yên tĩnh của một thầy tu. Anh đứng yên lặng nhưng cái bóng của anh lung linh, sống động trải dài theo bờ con dốc đá. Nhìn cái bóng, tôi mơ hồ như bất ngờ được gặp lại người phi công trẻ, hào hoa, oai hùng, mà mình đã từng quen biết từ một thời nào xa xưa như trong tiền kiếp.

      Bỗng dưng, tôi nhớ tới những đồng đội bạn bè đã hy sinh, nhớ tới những chàng phi công hào hùng đã từng sống chết với đơn vị tôi trong Mùa Hè 1972 và suốt một thời binh lửa. Khi bước đến bên Lân, tôi vẫn thấy anh đứng lặng yên, bất động, hướng mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Trên không gian bao la chỉ có vài áng mây đang chầm chậm bay về phía cuối chân trời.

Phạm Tín An Ninh

(30.4 2016)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường … nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái. Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”. Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hang trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã paid off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dặm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm ‘home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang ngồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

– “Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

– “Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình. Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Samurai!Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Quân lực Ðế quốc Nhật Bản chia ra làm hai binh chủng, Lục Quân và Hải Quân. Mỗi bộ tư lệnh đều có Không Lực riêng trong tay. Một Không Lực độc lập, không phụ thuộc Lục Quân hay Hải Quân không hề được nghĩ đến trước đó hoặc ngay cả trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Nhật Bản cũng không có binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tự trị như Hoa Kỳ hoặc các cường quốc khác, tức binh chủng Thủy Binh được huấn luyện cho các cuộc hành quân vừa trên bộ vừa dưới nước.

Vào giữa năm 1935, tất cả các phi công thuộc Hải Quân được huấn luyện tại trường hoa tiêu phi hành ở Tsuchiura, cách Ðông Bắc Ðông Kinh 50 dặm. Mỗi khóa học có 3 lớp, một lớp dành riêng cho các thiếu úy xuất thân từ Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima, miền Tây Nhật Bản, một lớp dành cho các sĩ quan đang phục vụ, và lớp cuối cùng dành cho các thanh niên dưới 20 tuổi muốn khởi nghiệp Hải Quân của họ trong tư cách khóa sinh phi công.

Sau khi Nhật Bản khai chiến toàn diện với Hoa Kỳ, Hải Quân phát triển mạnh mẽ các căn cứ huấn luyện phi công, trong nỗ lực tuyệt vọng đào tạo hàng loạt phi công chiến đấu. Tuy nhiên, vào năm 1937, quan niệm huấn luyện phi hành ồ ạt này không hề được đặt ra. Phi công huấn luyện gồm toàn những người được chọn lọc kỹ càng, chỉ các ứng viên xuất sắc trên toàn quốc mới hy vọng được thâu nhận. Năm 1937, năm tôi theo học, chỉ có 70 người được chọn theo học lớp phi công trong tổng số 1,500 người dự thi. Khi tôi biết có tên mình trong danh sách 70 người được thâu nhận, nỗi vui mừng của tôi không thể nào tả xiết. Việc này có nghĩa là tất cả những tủi hổ trên đường học vấn ở Ðông Kinh của tôi được quét sạch, danh dự và kỳ vọng của gia đình đặt nơi tôi, được bảo toàn.

Kỳ nghỉ phép đầu tiên, tôi trở lại nhà của người chú ở Ðông Kinh với tất cả niềm vui sướng. Tôi không còn là một thiếu niên cứng đầu và bực tức, đối diện với vấn đề học vấn một cách đầy sợ sệt. Tôi đã trở thành một chàng thanh niên hai mươi tuổi, đầy kiêu hãnh, bảnh bao trong bộ đồng phục phi công hải quân mới toanh, với 7 chiếc nút đồng sáng chói, và mong muốn, mong muốn nhứt, nhận lãnh những lời khen ngợi của gia đình chú tôi.

Ánh mắt của cô em họ Hatsuyo hướng về tôi đăm đăm. Cô học trò bé bỏng ngày nào đã biến mất, nhường lại cho sự chững chạc, hấp dẫn của một nữ sinh trung học 15 tuổi. Cô em họ gây cho tôi ấn tượng mạnh. Hatsuyo đã đón tiếp tôi thân mật và nồng nhiệt hơn. Tôi nói chuyện rất lâu với người chú. Ông tỏ vẻ hài lòng, tất cả niềm kiêu hãnh đã trở lại trong ông. Quá khứ thất bại của tôi không còn vướng vấp chút nào. Chuyến viếng thăm này khiến tôi không quên được trong nhiều năm. Sau bữa ăn tối, chúng tôi ngồi trong phòng khách và nghe Hatsuyo dạo dương cầm. Nàng mới bắt đầu học trong vòng 3 năm trở lại. Nhưng tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, vì vậy tiếng đàn của nàng đối với tôi rất tuyệt diệu. Hatsuyo xinh tươi, thoải mái và thân ái, tất cả đã xóa sạch những ngày huấn luyện đầy gian khổ nhọc nhằn. Tuy nhiên, cuộc viếng thăm ngắn ngủi và tôi sớm trở lại quân trường.

Căn cứ huấn luyện Tsuchiura tọa lạc bên cạnh một cái hồ rộng lớn và tiếp cận một sân bay có 2 phi đạo, 3,000 mét và 2,500 mét. Nhiều nhà chứa phi cơ khổng lồ có thể chứa hàng mấy trăm phi cơ cùng lúc và căn cứ luôn luôn hoạt động rộn rịp. Mỗi chương trình huấn luyện mới của Hải Quân là mỗi kinh ngạc đối với tôi. Những thứ kỷ luật mà tôi đã từng trải qua so với quân trường mới đến này không thấm vào đâu. Kỷ luật ở căn cứ Hải quân Sasebo nhiều khi còn dễ chịu hơn ở Tsuchiura. Ngay cả thứ kỷ luật sắt đá ở trường huấn luyện pháo thủ hải quân cũng ấu trĩ đối với trường phi công.

“Một phi công khu trục phải hung tợn và cố chấp, trong mọi tình huống!” Là câu đầu tiên huấn luyện viên môn đấu vật nói với chúng tôi. “Ở đây, Tsuchiura, chúng tôi sẽ dạy cho các anh hai đặc tính này. Nếu không thâu nhận được, các anh sẽ không bao giờ trở thành một phi công giỏi.” Không để mất thì giờ và nhằm chứng tỏ cho chúng tôi thấy sự hùng hổ ấy cần thiết ra sao, hắn ta bất chợt chỉ ngay hai khóa sinh và ra lệnh cho họ vật nhau. Kẻ chiến thắng sẽ được phép rời khỏi đấu trường, kẻ thua cuộc chuẩn bị đấu với một khóa sinh khác. Thua cuộc chừng nào hắn ta phải đấu nhiều chừng nấy, hắn có thể lần lượt đấu với cả 69 khóa sinh. Và nếu thua hết, ngày mai hắn lại phải tiếp tục đấu nữa. Cái ngày mai đó, hoặc là hắn chiến thắng một người hoặc là hắn ôm gói ra khỏi khóa học.

Ðối với những khóa sinh nào không muốn bị đuổi ra khỏi khóa phi công, các màn đô vật sẽ trở thành những màn tranh đua dữ dội nhất của họ. Thường thường hễ khóa sinh nào bị đánh gục đều bất tỉnh. Nhưng bất tỉnh không phải hy vọng được miễn trừ. Một thùng nước lạnh hoặc nhiều cách khác để làm hắn tỉnh lại, và cuộc đấu lại tiếp diễn.

Sau một tháng huấn luyện căn bản trên mặt đất, chúng tôi bắt đầu những bài học phi hành vỡ lòng. Những bài học này dạy vào buổi sáng, các môn khác dồn cho buổi chiều. Sau bữa ăn chiều, chúng tôi học thêm 2 giờ nữa.

Nhiều tháng trôi qua, con số khóa sinh sút giảm hẳn. Khóa huấn luyện đòi hỏi khóa sinh phải hoàn hảo mọi mặt, và khóa sinh không thể nào tránh khỏi lỗi lầm nhẹ nhàng nhứt. Vì các phi công hải quân được xem là thành phần ưu tú nhứt của binh chủng hải quân, của ngay cả các lực lượng võ trang Nhật Bản, thì không có chỗ nào gọi là chỗ sai lầm dành cho họ. Trước khi giai đoạn huấn luyện 10 tháng hoàn tất, 45 trong số 70 khóa sinh bị loại khỏi trường. Thẩm quyền áp dụng kỷ luật thể xác dữ dội không đáng sợ bằng thẩm quyền loại bỏ khóa sinh, với bất kỳ lý do nào của các huấn luyện viên.

Ngay trong ngày mãn khóa, một trong những khóa sinh còn lại, bị sa thải. Một nhóm tuần tiễu nhìn thấy hắn bước vô một quán rượu bị cấm ở Tsuchiura để ăn mừng “ngày thành tài” của hắn. Khi trở về trường, hắn được lịnh trình diện hội đồng kỷ luật, và biện hộ bằng cách quỳ gối trước mặt các sĩ quan cán bộ. Nhưng lời biện hộ của hắn như đàn gảy tai trâu.

Hội đồng kỷ luật tìm thấy hắn phạm 2 tội không thể tha thứ được. Tội đầu tiên, mọi phi công đều biết: một phi công chiến đấu không bao giờ, vì bất kỳ lý do nào, uống rượu đến say khướt trong đêm trước khi bay. Ngày hôm sau chúng tôi sẽ có một chuyến bay theo đội hình, chuyến bay này được xem như một phần thực tập tốt nghiệp mà chúng tôi đã trải qua. Tội thứ hai, thường tình hơn nhưng nghiêm trọng không kém, không một binh sĩ hải quân nào làm giảm giá trị binh chủng của mình bằng cách bước vô một nơi có để bảng “cấm”.

Sự huấn nhục ở Tsuchiura có thể là đáng sợ nhứt so với các trường khác ở Nhật Bản. Một trong những môn huấn nhục hóc búa hơn hết: leo cột sắt. Cột này rất cao, chúng tôi phải leo lên tận ngọn và chỉ được nắm lơ lửng một tay. Khóa sinh nào bám không tới 10 phút mà để rơi xuống sẽ nhận ngay một cái đá chớp nhoáng và bị bắt leo trở lên. Cuối môn huấn luyện này, khóa sinh nào muốn khỏi bị loại trừ thì ít ra cũng phải bám lâu đến 15 hoặc 20 phút.

Tất cả các quân nhân trong binh chủng Hải quân Hoàng gia đều phải biết lội. Có nhiều khóa sinh người miền núi nên không biết lội như thế nào. Phương pháp huấn luyện rất đơn giản. Các khóa sinh cột dây quanh lưng rồi bị quăng xuống biển, một là họ lội được hai là họ chìm lỉm. Hiện thời tôi đã 39 tuổi rồi mà vết dây siết chặt vẫn còn để dấu lại trên thân thể tôi. Tôi có thể lội 50 mét trong vòng 34 giây. Ở trường phi công, lội khoảng cách đó dưới 30 giây là chuyện thường. Mỗi khóa sinh buộc phải lặn sâu xuống nước 50 thước và duy trì ít nhất 90 giây. Một người bình thường với tất cả nỗ lực, có thể nín thở được 40 – 50 giây, nhưng thành tích này được xem là trung bình đối với một phi công Nhựt. Riêng tôi có thể nín thở 2 phút 30 giây dưới nước.

Chúng tôi trải qua hàng nhiều trăm buổi tập lộn nhào để làm quen với cảm giác thăng bằng, giúp một phần sau này khi chúng tôi cho các chiến đấu cơ lộn nhào nhiều vòng trong bất kỳ cách thức nào. Có lý do đặc biệt để chúng tôi chú tâm vào các buổi tập này, vì một khi thấy chúng tôi lộn nhào đã thành thuộc, các huấn luyện viên ra lịnh cho chúng tôi leo lên một cái tháp cao và lộn nhào xuống mặt đất cứng. Trong lúc rơi xuống, chúng tôi phải lộn nhào 2 – 3 vòng trong không khí và đáp xuống bằng đôi chân. Ðương nhiên, nhiều lỗi lầm xảy ra với những kết quả thảm khốc. Môn lộn nhào này được xem là một phần huấn luyện thân thể quan trọng, đòi hỏi chúng tôi hoặc là phải thực hành chính xác và đầy đủ những gì mà huấn luyện viên đưa ra hoặc là bị loại khỏi khóa học. Môn đi bằng tay cũng được xem là quan trọng. Thêm vào đó là môn cắm đầu xuống đất và giữ thăng bằng thoạt đầu 5 – 10 phút, và cuối cùng khóa sinh có thể giữ thăng bằng đến 15 phút hoặc hơn nữa. Dần dần, tôi có thể giữ thăng bằng hơn 20 phút, trong thời gian này mấy bạn đồng khóa đốt thuốc cho tôi hút. Ðương nhiên, mấy trò xiệc này không chỉ có tánh cách luyện tập thân thể mà thôi, mà chúng còn giúp cho chúng tôi phát triển một cảm giác thăng bằng cả tinh thần lẫn thể xác đáng kinh ngạc, và có giá trị cứu mạng sống chúng tôi nhiều năm sau này. Mỗi khóa sinh ở Tsuchiura đều phải có thị độ sắc bén, việc này, dĩ nhiên, là một đòi hỏi tối thiểu khi mới bước chân vô quân trường. Lúc nào chúng tôi cũng phải học nhìn, để chỉ với một cái liếc mắt chúng tôi có thể biết các mục tiêu cách bao xa. Tóm lại, chúng tôi phát triển mọi kỹ năng giúp chúng tôi thắng thế phi công đối phương.

Một trong những môn học mà chúng tôi khoái nhứt là tìm tòi các ngôi sao vào ban ngày. Các huấn luyện viên thường nhấn mạnh rằng việc nhận diện một ngôi sao giữa ban ngày còn dễ hơn một chiếc phi cơ ở khoảng cách nhiều trăm thước. Và một phi công khám phá kẻ thù trước tiên rồi chuẩn bị vị thế tấn công thuận lợi, phi công đó có thể đánh “trăm trận trăm thắng”. Sau nhiều lần thực tập, công việc “săn sao” của chúng tôi trở nên thiện nghệ. Chúng tôi có phương pháp nhìn và định vị trí một ngôi sao đặc biệt một cách chính xác và nhanh như chớp. Các phi công chiến đấu Nhật Bản đều làm được. Ðôi khi để tự gây khó khăn hơn, chúng tôi quay đầu 90 độ rồi quay ngược lại và tìm ra tức khắc ngôi sao ban nãy.

Cá nhân tôi đánh giá cao điều học hỏi đặc biệt này, nó có vẻ xuẩn ngốc với những ai không biết đến những chiến pháp trên không, chết hoặc sống chỉ trong nháy mắt. Tôi biết như vậy trong suốt 200 trận không chiến của tôi, ngoại trừ 2 lỗi lầm nhỏ, tôi không bao giờ để vấp vào một cuộc tấn công bất thần bởi các chiến đấu cơ địch, tôi cũng không để mất một đồng đội nào bay bên cánh bao giờ. Những giờ rảnh rỗi trong suốt cuộc huấn luyện ở Tsuchiura, không lúc nào chúng tôi không tìm những phương pháp có thể thu ngắn thời gian phản ứng và cải tiến những cử động chính xác của chúng tôi. Một trong những phương cách ưa thích của chúng tôi là chụp bắt những con ruồi đang bay. Chúng tôi trông có vẻ đần độn trong lúc luyện tập cách này, nhưng chỉ sau vài tháng lũ ruồi bay ngang mặt chúng tôi đều bị túm gọn trong lòng bàn tay. Ðó là cách tự tạo những cử động chính xác không thể không có được trước cơ man những dụng cụ trong buồng lái hẹp của một chiến đấu cơ.

Phản ứng nhanh đã giúp chúng tôi thoát chết một ngày. Một lần bốn khóa sinh chúng tôi phóng xe gần trăm cây số giờ, rồi bất thình lình xe lạc tay lái và đâm vào kè đá. Cả bốn chúng tôi mở tung 4 cửa xe cùng một lúc và lăn ngay xuống đường. Tai nạn chỉ để lại vài vết trầy mà không ai bị thương, tuy đầu xe hoàn toàn bể nát.

Nữ Trung tá Phi Tran (gốc Việt), Chỉ huy trưởng Phi đoàn 9 Quân y Không quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá.

dongsongcu.wordpress.com/

Nguyễn Quân

Posted on August 13, 2026 by dongsongcu

13/08/2026

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Trung tá Phi Tran (hình của instagram.com).

Trung tá Phi Tran vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân chọn đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá năm 2026 (CY26B), trong danh sách đề cử còn có Trung tá Vy S. Nguyen cũng được chọn thăng cấp Đại tá. Danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Uỷ ban quân vụ Thượng viên (Committee on Armed Services) nhận được ngày 7 tháng 8 năm 2026. Trung tá Phi Tran hiện là Chỉ huy trưởng Phi đoàn* 9 Quân y sẳn sàng chiến đấu (9 OMRS) thuộc Liên đoàn 9 Quân y (9 MDG) tại căn cứ Không quân Beale, California từ tháng 6 năm 2025.

Phi đoàn 9 Quân y sẳn sàng chiến đấu do Trung tá Phi Tran chỉ huy là Phi đoàn Quân y lớn nhất của Liên đoàn 9 Quân y Không quân hỗ trợ cho 44.000 khách hàng, tài sản trị giá 24 tỷ đô la và 4 đơn vị hỗ trợ mặt đất (GSU), bảo đảm 5.500 chuyến bay trên toàn cầu. Quân số Phi đoàn 9 bao gồm hơn 130 nhân viên, 6 Phi hành đoàn, 24 chuyên ngành Không quân (AFSC), quản lý vật liệu sẵn sàng chiến đấu trị giá 1,6 triệu đô la và các chương trình ứng phó y tế trị giá 719.000 đô la. Giám sát sự sẵn sàng về y tế cho tổng số 3.800 thành viên Lực lượng. Cung cấp dịch vụ trị giá 45 triệu đô la, cho phép vận hành các hệ thống vũ khí trị giá 45 tỷ đô la cho 33 đơn vị và một tài sản được bảo vệ ở cấp độ 1.

Các Sĩ quan trong đơn vị chúc mừng Trung tá Phi Tran được chọn đề cử thăng cấp Đại tá (hình của instagram.com).

Từ năm 2006 đến nay, Trung tá phi Tran, được bổ nhiệm phục vụ các đơn vị Quân y Không quân được ghi nhận:

Nhiệm kỳ từ tháng 9 năm 2019 đền tháng 8 năm 2022, Trung tá Phi Trần được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Phi hành đoàn, Y tá phi hành, quản lý lâm sàng, quản lý điều dưỡng thuộc Phi đoàn 18 vận chuyển y tế hàng không (18 AES), tại căn cứ Không quân Kadena.

Nhiệm kỳ từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 10 năm 2025, Trung tá Phi Tran giữ chức Phó phụ tá quản lý chương trình cơ quan Y tế Quốc phòng, tại Falls Church, Virginia, làm việc kết hợp hệ thống thông tin Y tế tác chiến Liên hợp (JOMIS), tập trung vào Y tế ảo, quản lý di chuyển bệnh nhân & danh mục cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho Quân y tác chiến liên hợp.

Nhiệm kỳ từ tháng 6 năm 2025 đến nay, Trung tá Phi Tran chỉ huy Phi đoàn 9 Quân y sẳn sàng chiến đấu (9 OMRS) thuộc Liên đoàn 9 Quân y tại căn cứ Không quân Beale, California,

Trung tá Phi Tran tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cao học Điều dưỡng, Lãnh đạo & Quản lý, Trường Đại học American Sentinel, năm 2021; Văn bằng Cao học Nghệ thuật và Khoa học/Nghiên cứu tác chiến quân sự, Trường Cao đẳng Chỉ huy và Tham mưu Không quân Hoa Kỳ (USAF Air Command and Staff College), năm 2019 ; Văn bằng Cao học Khoa học – Y tế công cộng Quốc tế/Sức khỏe Quốc tế Đại học Quốc tế Trident năm 2014; Văn bằng Cử nhân Khoa học – Điều dưỡng/Y tá, Trường Đại học Tiểu bang San José, năm 2005.

Trung tá Phi Tran người sáng lập kiêm Giám đốc điều hành của Fostering Our Youth Incm (Nuôi dưỡng thế hệ trẻ của chúng ta Incm), và là Phó Giám đốc Chương trình phát triển chuyên môn của Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt (VAUSA).

Tân Đại tá Phi Tran là 1 trong 37 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 1 vị nay là Thiếu tướng (Thiếu Tướng John R. Edwards), 15 vị hồi hưu, 1 vị chuyển sang Lực lượng Không gian (USSF) đã hồi hưu, và 1 vị đã qua đời, danh sách 19 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm ghi nhận bao gồm: Đại tá Bui S Jeffrey; Nữ Đại tá Duong T. An; Nữ Đại tá Tina H. Nguyen, Đại tá Van T. Thái; Nữ Đại tá Tam T. Dinh; Đại tá Vinh Q. Tran; Đại tá Lawrence Vu Nguyen; Đại tá Anthony LeMinh Truong; Nữ Đại tá Dorothy Nguyen Hinkley; Đại tá Nga T. Do; Đại tá Cang Quốc Bui; Đại tá Asan Q Bui; Đại tá QuocNam T. Nguyen; Đại tá Lim Dinh Vu; Đại tá Diep H. Le; Đại tá Loc H; Nguyen, Tân Tân Đại tá Peter Tran; Tân Đại tá Vy S. Nguyen và Tân Đại tá Phi Tran.

Chú thích: *Phi đoàn=Squaron không quân tương đương với Tiểu đoàn=battalion Bộ binh và Thuỷ quân lục chiến.

Nguồn: afpc.af.mil; congress.gov; linkedin.com; instagram.com

Gặp lại Pilot 215 Phi đoàn trực thăng Thần Tượng

Phạm Sơn Liêm

Post by Sơn râu 14 Aug 2026

Ngày đó, giữa rừng sâu, chúng tôi không biết mặt nhau.

Chỉ biết một điều: khi nghe tiếng cánh quạt từ xa vọng lại, là tim bắt đầu đập khác đi. “215 inbound.” 4 chữ ấy, qua làn sóng rè, đối với chúng tôi không chỉ là tín hiệu. Đó là hy vọng. Là con đường về. Là sự sống treo lơ lửng dưới bụng trực thăng.

Tôi chưa từng thấy mặt người lái. Chỉ thấy bóng chiếc chim sắt lượn vòng trên rừng già. Chỉ nghe tiếng rotor quần nát khói và lá cây. Chỉ cảm được sự liều mạng khi nó hạ thấp hơn mức an toàn, để kéo chúng tôi ra khỏi vòng vây lửa đạn đang rượt đuổi.

Trong đầu tôi, “Pilot 215” là một huyền thoại. Một người không sợ chết. Một thần tượng vô danh của toán lính dưới đất.

Rồi chiến tranh qua… Đơn vị tan…

Thần tượng ở lại trong ký ức như một biểu tượng, không tuổi, không tên, chỉ có tiếng máy và bầu trời.

Tết năm nay 2026. Một buổi họp mặt Tết Bính Ngọ cựu quân nhân vùng Bay Cali.

Tôi đứng lặng nhìn mấy ông già tóc bạc kể chuyện xưa.

Một người nhỏ con, dáng lưng hơi còng, đeo cặp kính dày. Ông nhìn phù hiệu trên ngực tôi, hỏi:

– Anh từng ở bãi bốc rừng năm… đó?

Tôi gật. Ông cười nhẹ:

– Bãi đó… tôi đáp bốc toán xâm nhập về hai lần.

Tôi lạnh tê sững người:

– Anh… bay 215?

Ông không nói ngay, chỉ gật đầu.

Thế giới như thước phim chậm lại….

Trước mặt tôi không phải huyền thoại. Không phải một biểu tượng bất tử giữa trời xanh. Chỉ là một ông lão với đôi tay đã run, với giọng nói trầm và hiền. Tôi nhìn ông mà cổ họng nghẹn cứng.

Ngày đó, khi ông cho máy bay hạ thấp hơn quy định, khi đạn bắn vạch những vệt lửa ngang thân tàu, khi chúng tôi bám càng leo lên trong khói, tôi nghĩ người Pilot trên buồng lái chắc là một vị thần.

Hóa ra… là một con người. Một con người cũng biết sợ. Cũng có gia đình chờ. Cũng có trái tim đập nhanh khi kim xăng tụt xuống và đạn chạm thân tàu. Tôi nói nhỏ:

– Anh là thần tượng của tụi tôi.

Ông cười, lắc đầu:

– Không. Tôi chỉ làm phần việc của mình. Mấy anh dưới đó mới là người liều mạng.

Câu nói ấy làm tôi quay mặt đi. Vì thần tượng của tôi, không chỉ từng cứu tôi mà còn khiêm nhường đến mức, không bao giờ nhận mình đã làm điều phi thường.

Chúng tôi bắt tay. Bàn tay ông gầy và ấm. Bàn tay từng giữ cần lái giữa lằn ranh sống chết.

Ngoài kia, Tết rộn ràng….

Còn tôi, đứng trước người phi công năm ấy, chỉ thấy lòng mình mềm ra như đất ướt.

Có những thần tượng không đứng trên sân khấu. Không có huy chương lấp lánh.

Họ chỉ lặng lẽ bay vào lửa đạn, để bốc một toán lính vài ba người dưới đất, còn có ngày, được già đi.

Và Tết này, tôi mới biết mặt người anh hùng của đời mình. Không phải trên trời. Mà ở ngay trước mắt.

Phạm Sơn Liêm
2-2026

(Nguồn: Hội quán Phi Dũng)