Vietmessenger.com
Văn Quang
Post by Sơn râu 1 Oct 2026




Chương cuối
Tổng cộng đã hơn 80 mùa xuân đi qua trong cuộc đời tôi. Nhưng 12 mùa xuân trong những cái được gọi là “trại cải tạo” là những mùa xuân đáng nhớ nhất.
Từ Nam chí Bắc, từ Sơn La, Vĩnh Phú đến Hàm Tân, mùa xuân nào đến cũng mang đầy dấu tích buồn như những vết sẹo trong tận cùng tâm khảm, đến nỗi đến bây giờ có đêm còn nằm mơ thấy mình đang bị đày đọa trong lao tù khiếp đảm ấy. Giật mình tỉnh dậy mừng như khi vừa được thả từ trại tù ra.
Tuy nhiên, con người thật lạ, sống lâu trong tù rồi cũng… quen. Đó là bản năng sinh tồn hay con người phải thích ứng với từng hoàn cảnh để sống, dù để sống cho qua ngày chờ đợi một cái gì sẽ đến. Nhưng cái gì sẽ đến ở trong một thứ tù đày không có án, không có thời hạn là điều đáng sợ hơn nữa. Tù cải tạo làm gì có thời hạn. Thích bắt thì bắt, thích thả thì thả, người ra trước, kẻ ra sau, chẳng bao giờ biết lý do, tất cả chỉ là suy đoán.
Tôi đã sống như thế suốt 12 năm.
Khoảng 8-9 năm, khi đã là “tù cũ”, có lẽ tụi cai ngục cũng “xuê xoa” cho đôi phần, không còn xiết chặt cùm kẹp như mấy năm đầu. Tôi bị đưa từ các trại tù miền Bắc vào miền Nam, bởi hồi đó miền Bắc dân đói quá thiếu mọi thứ thực phẩm kể cả ngô khoai sắn, không thể nuôi thêm tù. Chúng tôi bị cùm hai tay suốt ba ngày hai đêm trên xe. Khi vào đến trại Hàm Tân mới được tháo cùm.
Tôi nhớ hôm đó là ngày 19-5-1978 và biết đó là ngày “sinh nhật Bác” vì xe chạy qua mấy con đường có dăng mấy khẩu hiệu đỏ chót “Nhiệt liệt chào mừng sinh nhật Bác”. Một sự trùng hợp khá thú vị, được trở lại miền Nam cũng như sống lại vậy. Không nhớ sao được.
Gặp Lại Người Bạn Cũ
Thật ra chế độ tù “cải tạo” từ Bắc chí Nam chẳng có gì khác nhau. Đi lao động mệt phờ phạc và tối tối lại ngồi kiểm điểm – chúng tôi gọi là “ngồi đồng” – cho đến khi mệt rũ, chẳng còn nghĩ được gì ngoài việc lăn ra ngủ. Có lẽ đây cũng là một “đòn” kìm hãm mọi suy tư của bọn tù được gọi là trí thức.
Chế độ ăn khá hơn ngoài Bắc một chút, nếu ở Sơn La – Vĩnh Phú, trước khi đi làm buổi sáng chỉ có một củ khoai nhỏ như ba ngón tay thì ở miền Nam được ăn một bát nhỏ bắp nấu hoặc bát bo bo.
Nhà văn Đặng Trần Huân thường có cái muỗng nhỏ xíu bằng nhựa, thứ đồ chơi của trẻ con, cứ nhấm nháp từ từ cho đến hết buổi sáng. Ông truyền “bí kíp” rằng ăn như thế có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, quên cảm giác đói đi. Tôi không biết có bao nhiêu “tín đồ” tin theo bí kíp này, riêng tôi theo không nổi, vì đói quá, không nhịn được, ăn luôn một lèo, chỉ ba phút là hết nhẵn nên anh em có câu nói cửa miệng là “ăn rồi cứ tưởng là mình chưa ăn”.
Tôi ở trại này chẳng nhớ bao lâu thì bỗng một ngày năm 1985, thấy mấy anh cai tù đưa một đoàn tù từ nơi khác đến. Đám tù này còn rách rưới, gầy còm xanh xao hơn chúng tôi nhiều. Tôi là tù cũ nên tiến lại gần khi tù mới vừa được ngồi xuống bên hàng rào. Lúc đó tôi mới biết đó là những người bạn tù ở các trại Pleiku, Kontum và ở những trại nổi tiếng “ác ôn” nhất như Gia Trung, Bù Gia Mập… Tôi nhận ra trong đó có nhiều văn nghệ sĩ đã từng là bạn khi tôi còn viết báo và làm trong các đài phát thanh ở Sài Gòn.
Người đầu tiên tôi gặp là Thái Thủy với cặp kính cận mất gọng, chỉ có hai chiếc dây vải buộc vào mắt kính.
Câu đầu tiên tôi hỏi là “đói không?”. Thái Thủy chỉ gật. Thế là tôi tức tốc chạy về phòng lấy một ít mì sợi của tôi và Nguyễn Gia Quyết để chung trong một thùng sắt mang chia cho Thái Thủy. Hồi đó chúng tôi ở trại này gần Sài Gòn, đã được “thăm nuôi” vài tháng một lần nên cuộc sống cũng tạm dễ chịu. Sau đó tôi mới gặp lại một loạt những Nguyễn Sĩ Tế, Mặc Thu, Nguyễn Viết Khánh, Thảo Trường, Trần Dạ Từ. Ông nào cũng đói trơ xương.
Mấy hôm sau, trại cho bán thịt heo, tôi chỉ còn tiền mua đúng một kí lô mang cho Trần Dạ Từ, nhưng ông này lại bảo “tớ còn chịu đựng được, ông đưa cho ông Nguyễn Sĩ Tế đi”. Thế là tôi lại phải tìm cách gặp Nguyễn Sĩ Tế. Mỗi người ở một buồng giam khác nhau.
Cuộc sống cứ thế trôi đi, anh em gặp nhau mỗi buổi sáng thường chỉ biết nhìn nhau.
Con Gà Mất Tích
Đến khi tôi được coi tủ sách – gọi là thư viện – của trại. Tôi ở trong một căn nhà tranh nhỏ nằm ngay lối cổng trại ra vào. Bữa đó là Chủ Nhật, Trần Dạ Từ nhờ tôi mua một con gà của một anh cũng là tù nhưng được gọi là “trại viên tự giác” ở ngoài trại. Anh ta làm thợ mộc nên nuôi thêm mấy con gà, con vịt để ăn và thỉnh thoảng bán lấy tiền mua thuốc hút. Tôi đích thân mang con gà vào trại đưa cho Trần Dạ Từ.
Buổi chiều Trần Dạ Từ chạy kiếm tôi kêu toáng lên: “Con gà của tôi mất rồi ông ơi, nó giẫy giụa làm tuột dây cột chân rồi chạy mất. Tôi đi tìm hoài không có”.
Tôi chẳng biết làm gì hơn, nhưng bỗng nảy ra một “sáng kiến” là đợi hoàng hôn khi gà lên chuồng, con gà có thể tìm về chuồng cũ, tôi sẽ ra hỏi chủ của nó xem.
Trần Dạ Từ đành phải về ngồi chờ.
Tối đó, chờ giờ điểm danh xong, tôi bò ra ngoài gặp anh chủ gà. Anh ta là người ngay thẳng nên đưa tôi ra chuồng gà, chỉ có chừng chục con. Không thấy con gà mái buổi trưa đã bán đâu. Chắc nó lưu lạc trong trại tù mênh mông, không tìm được đường về chuồng cũ hoặc có anh nào tóm được nó rồi. Hôm sau cũng không tìm thấy con gà. Thế là Trần Dạ Từ đành nhịn ăn thịt gà.
Còn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh có tuổi nên được giao cho chức “trực buồng”, không phải xếp hàng đi lao động, chỉ ở buồng dọn dẹp vệ sinh cho đội. Các ông Mặc Thu, Nguyễn Sĩ Tế, Thảo Trường vẫn phải đi làm như mọi người khác.
Mặc Thu “Xỉn”
Có lần con ông Mặc Thu lên thăm, mang theo thức ăn và cả đồ nhắm cùng rượu ngon cho bố. Mặc Thu cao hứng đánh chén tì tì. Đến khi vào trại, đi xiêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, mồm sặc mùi rượu. Tay trưởng trại, ở ngay phòng trực trước cổng trại, gọi Mặc Thu vào. Lúc đó Mặc Thu còn sặc mùi rượu, nói năng lè nhè lung tung nên buổi chiều bị nhốt ngay vào nhà lao, cùm hai chân.
Nhà lao bằng tranh nhỏ xíu nằm gần phía sau trại chỉ có một lối nhỏ dẫn vào. Hằng ngày mấy tay gọi là “thi đua” trong trại phải mang cơm đưa vào cái ô cửa nhỏ, đồng thời lấy bô vệ sinh của anh tù ra ngoài mang đi đổ.
Tôi phải nói mãi với tay thi đua để mang thêm cho ông ấy ít cơm và thức ăn. Vài ngày sau Mặc Thu được thả, nếu để ông nằm trong nhà lao kiểu ấy, có thể chết bất cứ lúc nào. Từ đó mỗi lần bọn cán bộ trại có tổ chức đám cưới, liên hoan, lễ Tết thường bắt mấy anh tù có tài vặt đến trang trí hội trường. Tôi lôi Mặc Thu lên ngồi vẽ, cắt dán đủ thứ. Ông rất có tài vẽ vời và cắt dán khiến mấy anh “cán” rất mê. Từ đó ông dễ thở hơn nhiều.

Khi được thả, tôi thường đến thăm Mặc Thu.
Những năm sau này đã rời nhà tù, ông bà Mặc Thu được con gái lớn bảo lãnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Nhưng ông bà đông con, một số con cháu không thể cùng đi. Vậy là cả ông lẫn bà đã trở lại Sài Gòn vào những ngày cuối đời.
Khi sắp mất, Mặc Thu bắt con trai gọi tôi đến. Gặp nhau lúc đó, có lẽ ông biết chắc sắp vĩnh viễn ra đi nên nắm tay tôi bùi ngùi nói lời từ biệt: “Không thể quên cậu và anh em trong tù được”.
Quả nhiên đêm hôm đó ông ra đi mãi mãi.
Ăn Tết Trên Chiếu Rách
Đúng là không thể quên. Một buổi chiều cuối năm 1986, trại tù tổ chức cho trại viên trình diễn văn nghệ. Họ giao cho tôi tổ chức ban hợp ca. Tôi lôi tuốt mấy văn nghệ sĩ vào ban văn nghệ. Thảo Trường khỏi “đi rừng”, ngồi ở buồng viết kịch. Một bạn tù đội mộc tự chế được một cây violon. Nguyễn Sĩ Tế được tặng cây violon cà cộ này, mang kéo cho ban nhạc. Trần Dạ Từ biến thành nhạc trưởng bất đắc dĩ, lo bắt giọng cầm nhịp. Mặc Thu râu dài đóng vai đạo diễn.
Trưởng trại tù sau đó mang ra phê phán “toàn những ông trốn việc quan đi ở chùa. Nhạc sĩ gì mà chơi đàn cò cử, hát cứ như làm hề”.
Tôi biết lão nói đúng nhưng cãi cối rằng anh em như thế là làm hết sức rồi nên thưởng mới đúng. Đề nghị được mấy tay đội trưởng vỗ tay tán thành. Thế là cả ban nhạc được nghỉ thêm vài ngày sau Tết. Tết đó, tôi để dành phần quà thăm nuôi của tôi và Nguyễn Gia Quyết làm bữa cơm “thịnh soạn” mời mấy anh em lên ăn trưa, có rượu trắng đàng hoàng. Buổi họp mặt đông đủ chẳng thiếu ông nào. Địa điểm tôi nhờ chỗ bên bệnh xá vắng người. Bàn tiệc là chiếc chiếu rách trải trên chiếc giường tre.
Vậy mà chén chú chén anh, đấu hót cũng xôm trò. Khi tàn tiệc, Mặc Thu lại lảo đảo đi ngật ngưỡng giữa trưa nắng trong sân trại. Cũng may tên lính gác trại tù nhìn thấy nhưng là ngày Tết nên nó tha, không nói gì. Hôm sau nó vào gặp tôi kể công về sự “nhân từ” đó. Tôi đành phải đi xin một con gà cho nó mới yên.
Thời kỳ đó ông nào cũng trên 10 năm tù cả rồi nên không khí bớt ngột ngạt hơn.
Tháng 9-1987, chúng tôi mới được tha về, riêng Thảo Trường phải nằm lại trong tù thêm mấy năm nữa cho đủ 17 năm. Như tôi đã viết trong một bút ký, khi ra tù, chúng tôi được chở trên xe từ trại Hàm Tân về hội trường trại giam Chí Hòa.
Tôi mạn phép xin nhắc lại đoạn bút ký đó:
“Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là buổi chiều tháng 9-1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới thoát khỏi cánh cửa sắt Chí Hòa.
Ngay cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, để chứng tỏ cái “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những kẻ may mắn không chết trong ngục tù. Lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ.
Thấy sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn vào đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người tò mò nhìn “cảnh lạ.” Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Đến đường
Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn mình với vẻ xa lạ, xót thương?
Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, rủ tôi ghé qua đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây.
Tôi chọn quán phở sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà tôi cùng bạn bè vẫn đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu anh về đoàn tụ với gia đình, chứ tôi vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì lúc đó tôi chưa biết sẽ sống ra sao giữa thành phố này”.
Tưởng Nhớ
Vậy mà tôi vẫn phải sống như thế đến hôm nay.
Các bạn tôi đều đã rời xa, người còn kẻ mất, đôi khi chẳng biết tin gì về nhau. Nhưng kỷ niệm vẫn đầy ắp trong tôi. Đêm cuối năm Ất Mùi 2016 này, cứ chớp mắt là thấy hình ảnh từng người xuất hiện.
Thảo Trường luôn tưng tửng, ngang ngang, như bất cần đời. Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh lúc nào cũng thanh thản chẳng thèm nghĩ gì đến thân phận tù đầy. Mặc Thu có chùm râu tơ, luôn thích vuốt khi “đối ẩm” với trà, rượu cùng những việc vẽ vời lặt vặt cho “lãng quên đời”. Nguyễn Sỹ Tế rất kiệm lời, vẫn nét mặt trang nghiêm của những “thầy đồ”. Trong trại tù, có lúc ông Tế nằm cạnh Trần Dạ Từ. Mỗi lần Nhã Ca lên thăm nuôi, Từ rủ mấy anh em bù khú. Có lần tôi nhập bọn, ông Tế còn mang cây violon do bạn tù tự chế ra biểu diễn nhạc cổ điển Tây phương. Sau màn nghiêm chỉnh thưởng thức, chúng tôi cùng cười vui nghe Trần Dạ Từ nói nhờ chiều nào anh cũng được ông Tế bắt nghe Schubert bằng cái đàn lạc giọng này mà thừa sức lao động.
Trong các bà thăm nuôi ngày đó, Nhã Ca là dân cùng nghề văn, cũng từng đi tù rồi nuôi tù nên quen biết mọi người. Tôi nhớ chuyện kiếp trước, một sáng mùa xuân nào đó thời đầu 1960, khi có dịp ra Huế, tôi đã cùng Thanh Nam lái xe đến gặp Nhã Ca và Từ ở ngôi nhà khu Bến Ngự. Thanh Nam đã ra đi từ lâu. Thái Thủy cũng vậy. Ba tên bạn thân của Sài Gòn ngày nào, nay chỉ còn mình tôi.
Mới đó đã 30 năm, từ ngày chia với Thái Thủy gói mì khi đoàn tù tả tơi từ Gia Trung chuyển trại về Hàm Tân. Cũng mới đó thôi, khi Trần Dạ Từ – Nhã Ca ghé thăm từ biệt tôi để rời xa, nay đã hơn một góc thế kỷ. Bây giờ, trong đám bạn tù nhà văn, Mặc Thu, Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sĩ Tế, Thái Thủy, Thảo Trường đều đã ra đi, chỉ còn lại Trần Dạ Từ và tôi.
Đêm cuối năm, mỗi chớp mắt lại thấy một người, một thời. Đúng như thơ Tản Đà: Thời gian ngựa chạy…
Vù một cái, tôi thấy mình nhận lời chúc xa xôi của Từ cho “Bát Tuần Thượng Thọ”.
Tết này, dù không thắp hương cho bạn đã vĩnh viễn ra đi, nhưng tự đáy lòng tôi vẫn có hương khói tưởng nhớ từng người bạn thuở trong tù. Nhận lời Từ hỏi thăm mừng thọ 80, tôi viết bài này để cùng bạn tưởng nhớ.
Ước gì lại có cái Tết được hội ngộ cùng các bạn dù chỉ trên một chiếc giường tre, nhưng không phải là trong trại tù mà là ở một khung trời tự do đầy nắng vàng.
Chúng ta đâu cần gì hơn thế.
(Sài Gòn, một đêm cuối năm, tháng 2-2016)

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.