Chick!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 14th, 2024

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Tiếng Việt mình có biết bao nhiêu là chữ để chỉ mỗi một con gà. Sơ sơ một đống như: gà trống, gà mái, gà già, gà tơ, gà con, gà mới ra ràng…

Còn nói về cái thói trăng hoa, bay bướm, lăng nhăng bỏ mặc vợ, con; hoặc lẳng lơ phớt lờ thằng chồng đang nằm chèo queo trên chõng, đèn đêm đối bóng, đợi em đi ‘ngựa’ xong, em về. Cái thói đó của thằng chồng gọi là ‘mèo mả’; của con vợ gọi là ‘gà đồng’.

Già rồi, hết xí quách, cái thói trăng hoa ‘mèo mả gà đồng’ tui hết khoái. Giờ rụng răng hết ráo, tui khoái nhứt là cháo gà, gà xé phay. Mấy đứa cháu nội của tui, đẻ ở Úc, tụi nó khoái gà KFC (Kentucky fried chicken). KFC, gà công nghiệp nuôi chuồng, thịt bở rẹt, lăn bột chiên ngập trong dầu ô liu; ăn dở ẹc mà khoái cái gì hổng biết?

Nhớ hồi xưa, học cuốn Let’s learn English, lớp đệ thất, đệ lục, thầy tui dạy chỉ một tiếng gà duy nhứt là ‘chicken’. Qua Úc gần 30 năm, tui học thêm cả đống chữ chỉ con gà. Như: Hen, gà mái; Rooster, gà trống; Turkey, gà lôi ăn lễ Tạ Ơn, (Thanksgiving).

Trong số đó, tui khoái nhứt chữ ‘chick!’ (gà tơ). Gà tơ xào với mướp già, Vợ 20 tuổi, chồng đà 60. Ra đường chị giễu, em cười. Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông. Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên. Oán cha trách mẹ tham tiền bán con.

Mấy thằng Úc cũng khoái ‘chick’ lắm đó. Tụi nó bị mấy em thưa tội quấy nhiễu tình dục ( tiếng Úc là sexual harassment) hoài hè. Già không bỏ, nhỏ không tha, cũng ‘dê húc càn’. ‘Dê Húc Càn’, viết tắt là DHC, là bút hiệu của ký giả Dương Hùng Cường. Như Trịnh Công Sơn, mà bà con quốc gia diễn dịch: ‘TCS’ là Thằng Cộng Sản.

Bà con quốc gia mình giận sôi máu sùng sục, muốn bể nồi súp de khi nghe: “Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở Miền Nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này. Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chụp ảnh lưu niệm với các học viên khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du năm 1985 (ảnh tư liệu). 

Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng Miền Nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước. Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta. Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt đẹp. Các bạn không có lý do gì sợ hãi để phải ra đi cả.

Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay.

Tranh Bảo Huân

Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất Miền Nam Việt Nam này. Gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời. Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sẵn sàng để đến đây góp tiếng nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm. Và tôi xin tất cả các anh em sinh viên học sinh của Miền Nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến bla…bla.

Bà con mình lấy làm tiếc: ‘Biết vậy hồi xưa tao bóp mũi nó cho rồi!’

Hồi sau tháng Tư, 1975, tui chăn trâu. Qua Úc, tui cũng không học hành gì. Trường học tiếng Anh của tui là quán bán beer mà Úc nó kêu là ‘pub’ (public house). Trong khi Mỹ nó gọi là bar hoặc ‘snack bar’.  Mình đi ‘bar’ nhậu sừng sừng rồi về ‘sờ nách’. Nên con ‘chick’, đúng ra là con gà mái của tui, từng trăng trối với tui là: “Nếu em chết trước, anh hãy thiêu em rồi đem tro cốt rải trước cửa pub vì ngày nào em cũng muốn gặp mặt anh yêu”

Ban đầu, ‘chick’, tiếng tượng thanh, tiếng lóng của mấy thằng Anh, ám chỉ em hơ hớ tuổi xuân, là chim non để mình săn bắt. Tui từng ngu bắt chước thằng Úc gọi con nhỏ làm chung sở là ‘chick’. Nó vả tui một cái thiếu điều sút hàm răng giả. Thằng Úc, bạn tui, cười he he, rất đểu: “Nói sau lưng nó thì được. Kêu ngay trước mặt, là tự thú trước bình minh: chú mầy không phải là một ‘gentleman’. Chú mầy là thằng đứng bến, thằng đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Ông Lãnh. Ý nó nói rằng: ‘chick’có hơi hơi bất lịch sự, Nhưng những thằng Úc khác lại cho rằng kêu ghệ (girl) ‘chick’ chẳng nhằm nhò gì. Vui thôi mà!

Quê mình cũng có một câu đối về gà hay lắm: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Câu này khen đàn ông, con trai Cao Lãnh đi đánh lộn là dách lầu, là số một. Còn gái Nha Mân đẹp ‘nghiêng thùng đổ nước’ (Nhất cố khuynh nhân thành. Tái cố khuynh nhân quốc.)

Nhưng có một ông Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, tuốt ngoài Trung, ra vẻ trên thông thiên văn dưới tường địa lý, cà khịa tui như vầy: “Gà ở câu trên là gà nòi để đá chứ đâu phải ám chỉ chị em ta ?”

Cái thằng hỗn láo dám gọi mấy em quê mình là ‘chị em ta’. Nổi quạu, bốc hoả phừng phừng lên, mặt đỏ ké, tui cự lại: ‘Ông bà mình viết ra là có nghĩ lung lắm. Thế nên khi đọc mình ráng nghĩ cho nó sâu. Hai câu này nó đối; nó nói về cái phẩm chất của trai Cao Lãnh và gái Nha Mân: ‘Trai tài gái sắc!’ Sao ông lại dám xỏ xiên, dè bỉu? Thiển nghĩ ông không nên dùng chữ ‘chị em ta’ vì tui e rằng làm vậy không được lễ phép lắm!

Chết mầy chưa! Đừng có hỗn với mấy con ‘chick’ quê tao nhá cu!

ĐXT

Chấu cắn

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post on 31 Jul 2017

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Hình như Rilke, một nhà thơ người Tiệp, từng nói lời cực đoan: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”. Cũng chính ông người “lạc hậu” kia viết ra câu: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có cứu rỗi”.

Trước, tôi có làm dăm ba bài thơ. Nay, tôi bị đẩy lên sống ở vùng kinh tế mới. Tôi van bạn đừng dại lên đây, ngoại trừ ở thành phố người ta sắp giết bạn. Kinh tế mới là gì? Đó là cụm chữ tôi không tài nào hiểu được! Một sườn đồi tiếp giáp với Trường Sơn, bên dưới là bình nguyên lắm cây cỏ hoang dại mọc dài theo con suối thỉnh thoảng có bóng người Thượng chẳng biết từ đâu tới gánh nước, gùi con sau lưng xuống tắm hoặc giặt giũ chăn màn. Với phương tiện thô sơ, hơn hai trăm mạng người sẽ “cải tạo” cái gai góc kia, biến nó thành bình địa để bắt đầu xây nhà dựng cửa khai hoang lập ấp. Tôi là một trong sĩ số hai trăm đứa cần cù lao động, đặt dấu chân người đầu tiên ở chốn đèo heo hút gió, cách thành phố cũ 40 cây số đường chim bay. Mệt chết bỏ, thở không ra hơi. Thơ thẩn cũng bỏ tôi, đi mất biệt. Thật là chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!

Một người có kinh nghiệm đi rừng truyền đạt “lời hay lẽ phải”: Bạn bị rắn cắn nơi nào, gần nơi đó luôn có thứ lá cây để sơ cứu chận độc. Ông ta kết luận: Trời hay ở chỗ ấy! Sinh cái này phải đẻ thêm thứ kia. Tôi nhìn ông ta, lời ông nào khác gì lời “ấm ớ” của Rilke. Và một ngày, ông trời đã không có mắt, tôi sơ ý bị rắn cắn ở dưới bắp chân, cây cỏ um tùm biết tìm đâu ra thảo dược. Buộc chặt một sợi dây vào đùi, ngăn máu chảy về tim, mặt xanh lè được hai người tốt bụng khiêng ra khỏi hiện trường, báo cáo mấy vị có thẩm quyền xin được chở xuống trạm xá nằm ngoài quốc lộ. Ở đó có hai người y tá, một bác sĩ chuyên chữa những bệnh kiết lỵ sốt rét hoặc gãy tay cụt giò. Tôi được một cô gái đích thân nặn máu độc ra, bôi thuốc khử trùng và cho uống hai viên thuốc, hy vọng không phải là Xuyên Tâm Liên. Cô dìu tôi nằm xuống cái giường tre ọp ẹp: Chừng nào thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc nghe tim đau thì nhớ gọi tôi. Cô đắp cho trán tôi một vuông vải ướt, mát; rồi quay lưng đi mài một con dao nhỏ, xoèn xoẹt chẳng biết để làm gì. Tôi van cô chớ giải phẫu chân tôi, ngoại trừ thiếu vết dao cắt, tôi sẽ chết vì rắn.

Tôi không đau tim, may phước chẳng ấm đầu chóng mặt nhưng “bồi dưỡng” thức gì vào cũng nhợn nôn. Nhác ăn nhác chơi. Chỗ rắn cắn tím bầm, sưng tấy. Cô y tá nhìn, xem chừng muốn buồn tay động dao động kéo. Ngày mai mới có bác sĩ chuyên khoa từ bệnh viện đến thăm, không ấy tôi cho anh thử dùng phương thuốc Nam. Lần này thay vì mài dao cô ra sau nhà chổng mông ngồi thổi lửa. Một cái nồi đất bắt lên, lởm chởm những cọng lá sắc đâm tua tủa ngâm thân chờ héo úa. Hẳn là nó rất đắng, tôi đồ vậy. Thuốc đắng đả tật. Tôi thử nhẫm tính xem đã mấy hôm rồi tôi thiếu vắng cà phê. Lòng tương tư vô hạn hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc. Lý lịch tôi mang thân phận tiểu tư sản, một đứa như thế vẫn thèm khát vu vơ những thứ xa rời hiện thực. Những bài thơ viết chùng vụng cũng chở đầy thứ tâm cảm được voi đòi tiên, đứng núi nầy trông núi nọ để chung cuộc là tiếng thở dài đánh sượt, dài miên man. Nếu vắng nỗi buồn, tôi van bạn chớ làm thơ!

Dẫu sao tôi nên cảm ơn con rắn vằn vện đã cho tôi “biết thế nào là lễ độ” khi vô cớ tới làm động hang ổ nó. Từ nơi hoang vu giờ đây được dưỡng thương bên quốc lộ nghe tiếng xe đò quen thuộc gầm rú lừ đừ đi ngang qua cùng khói xanh vương vấn nơi khung cửa. Nói dị đoan rằng vì tôi tuổi Tỵ nên đồng loại không nở ra tay ác độc. Tao cắn mày để cho mày có cơ hội được chây lười lao động, và nghĩ mà xem cô y tá ấy chẳng phải thuộc loại mát tay. Tha hồ cho mày câu giờ kiếm cớ gạ chuyện với cô. Bệnh nhân đa phần đều ông già bà lão, đa số đều không ngớt rên la. Tiếp xúc với họ thêm oải, đời mất vui. Mấy khi bệnh xá mới có con bệnh lạ kỳ như mày “nhập viện”. Thanh niên trai tráng đã đành, hắn còn biết pha trò nữa cơ. Có duyên tệ! Hay han hỏi, hay động viên tinh thần và thi thoảng hắn biết giả bộ nắm tay, xem chừng tình trong như đã mặt ngoài còn e. Mong bác sĩ chưa vội tới, ngày mai trời vẫn tối, chiếc giường vừa buông mùng ngăn muỗi rừng và không biết ca trực của mình có nên kéo dài vượt khỏi mức quy định. Tờ giấy hồ sơ bệnh lý của hắn ghi tên Tâm, mình cũng đã hé lộ tôi tên Đoan. Trao đổi thêm mới hay hắn từng làm thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm và một thứ nghề không chính đáng: Biết làm thơ. Eo ôi, giời ạ! Chảnh đến thế thì thôi! Tâm bảo: Thế nào cũng có lúc mang tặng Đoan một bài thơ, người đã ra tay tế độ vực tôi kinh qua cánh cổng của thần chết. Háo hức lắm cơ, nghe thế bảo sao không làm ngày chẳng đủ tranh thủ làm đêm. Ngẫm kỹ đi mà xem, tất cả những vần thơ đăng báo đều xưng tụng anh hùng, ca ngợi thủ trưởng, đề cao những bà mẹ liệt sĩ chớ nào có ai để tâm “phải lòng” tới hạng người y tá đâu nhỉ? Mà y tá vô danh ở chốn sơn cùng thuỷ tận!

Hạnh phúc thường mong manh. Không ai bị rắn độc cắn mà phải nằm viện ba ngày cả, ngoại trừ bị chằn ăn trăn quấn. Bác sĩ vừa lộ hình vừa tuyên bố. Ông rảy một ít bột trắng lên vết thương mưng mủ, viết một tờ giấy trao tay tôi, ký nhận rằng nạn nhân được phép nghỉ lao động nặng ít hôm, gói hai viên thuốc vào ô giấy báo vừa xé nhỏ: Chừng nào sốt hẳn uống. Ông xua tay như đuổi ruồi, yên tâm đi nhé, hồi nào có xe vào lấy củi thì quá giang họ cho đỡ nhọc thân. Đoan kiếm đâu ra một thân cây tre gầy guộc: Này, nắm lấy nó mà vượt suối băng ngàn. Tôi cầm tay Đoan: Để tôi vào lại chỗ cũ chọc cho rắn cắn và như thế đôi ta lại gặp nhau. Sưng tấy cả hai chân cũng cố lết ra đường lộ. Đoan la: Đồ quỉ nà, bộ hết cách chơi rồi sao? Giả bộ ngộ độc thực phẩm để ra xin thuốc không được sao?

Hút vừa xong điếu thuốc thì xe củi trờ tới. Đoan không mặn mà săn chắc như kiểu sơn nữ, hơi thô thiển hơi quê mùa nhưng trong tôi thấp thoáng ló ra một đôi câu thơ. Kinh tế mới và lung lay thứ tình cảm đầy gió chướng giữa đồng không mông quạnh. Đời này vốn thiếu hụt lắm thứ, hãy thử kiếm ra một chút vui vầy đặng kinh qua. Tôi được gã tài xế ra dấu cho lên ngồi ghế cạnh ông ta. Người ông có dáng vẻ một cây xương rồng không bao giờ được tưới nước. Gai góc, đen đúa, khô đét, nhiều góc cạnh. Trời sinh ông ra để bầu bạn với đường trường, với nắng nôi, với gió bụi, với chiếc xe mãi gầm rú ho hen. Chú em đã từng thấy qua cây quế chưa? Đi quàng xiên trong ấy thế nào cũng có khi bắt gặp trầm. Hai thứ đó chú em nhớ để dành, thu ém riêng một chỗ khuất, có bao nhiêu tôi thầu bấy nhiêu và rồi đời chú em sẽ đổi khác. Một đứa vô sản không có quyền ăn nói, nhưng khi chú em chất đầy túi…hề hề rời khỏi núi để đi mua tiên mấy hồi! Tôi thưa thật là vừa bị rắn cắn, không biết mặt ngang mặt dọc hình thù chiếc lá trị nọc rắn để đắp vào dấu răng. Một tay ngang dưới phố lên, lạc vào rừng bạt ngàn cổ thụ làm sao biết ngậm ngãi tìm trầm! Bác tài nhấn chân ga vượt qua con dốc đầy sỏi đá: Khỏi lo, tôi có sẵn cuốn bí kíp võ công đây. Ông moi túi áo ra tờ giấy gấp làm bốn có vẽ hình thù và những đặc điểm để nhận diện. Thứ bí kíp ấy như được xé rời từ một cuốn sách dạy cách tồn vong khi bạn lạc vào rừng sâu, thứ này ngon chứa nhiều chất kháng sinh, thứ kia độc ăn vào sẽ mắt trợn môi trề. Tôi đón nhận, cất trong ví đựng giấy tờ tuỳ thân và gửi tới ông nụ cười thật tươi để thế một thoả thuận ngầm. Tôi van bạn nên mạo hiểm, ngoại trừ trường hợp bạn muốn chết không chiếu bó thây.

Cạp nong hay hổ mang gì đó quả có vị tình, vết cắn thôi sưng kiểu dị hình dị tướng, da thịt chỉ còn lưu lại một khoanh màu vàng bọc lấy hai vết đỏ cầu chứng. Điều này có nghĩa là tôi chuẩn bị đeo đồ nghề đi phạt cỏ đốn cây. Chưa gì đã có bọn người lập ra đội xây dựng kiến trúc đòi vẽ hoạ đồ. Họ đào móng đóng cọc khu A khu B khu C các thứ. Khu D nằm sát bờ suối tạm thời dùng làm nhà bếp tập thể. Vì ham nghe lời xúi giục của bác tài nên tôi chăm lao động giấn liều đi xa mà quên bài giả bộ ngộ độc để chính đáng ra bệnh xá mân mê tay Đoan nói trăng nói cuội. Trăng bên bờ suối đẹp kiểu hư ảo, giá mà có Đoan đứng tắm thì tôi sẽ làm được bài thơ vẽ cảnh đào nguyên. Thiên thai có hai ông cọp ngồi nhai thịt người lai rai. Chừa lỗ tai để ngày mai khoan thai nhử con nai. Này gái chiếc này trai đơn hãy mau khai. Chớ lạc sai. Nhớ dòm chừng ông cai.

Sau hơn tháng vật lộn bắt sỏi đá phải thành cơm, khu kinh tế mới bắt đầu khởi sắc. Mái tranh vách đất, nhà gỗ nhà sàn tuỳ tiện chen vai, đồi sắn nương khoai cứ thế mà đào bới tự túc tự cường. Chỉ thị ở trên ban xuống: Bắt trời làm mưa, biểu đất làm lúa. Xin bà con hãy vô tư. Tôi van bạn đừng hiểu, ngoại trừ bạn muốn tắt thở vì sự nhạy cảm. Cứ trơ như đá và hồn nhiên như hòn cuội nằm dưới suối mặc cho nước chảy đá mòn. Những từ ngữ mà lãnh đạo thốt ra đều chung một bài bản sáo mòn, thấp kém hơn chữ dùng của thường dân và trong cuốn từ điển dồi dào mang đầy tính sáng tạo ấy tôi yêu hai chữ: Trúng mánh. Cuộc hành quân đầu tiên đã mang tới thắng lợi vẻ vang thần thánh. Tôi “giao lưu” với bác tài xế xe củi, môi hở răng lạnh và bác ấy thanh thoả hợp đồng theo phong cách đậm đà của tình đồng chí. Ở đâu có đói khát, ở đó có lòng tham. Ở đâu có rừng vàng ở đó có lâm tặc.

Không thể kiếm cớ chạy về thành phố mua tiên, tôi tìm cơ hội để đổ thân ra quốc lộ tìm gặp Đoan. Tôi trao tay món quà thủ công “tự biên tự diễn”, chiếc kẹp tóc làm bằng loại gỗ thơm, và cũng chính tay tôi đính nó vào đầu tóc chẳng mượt mà của người y tá chây lười việc điểm trang. Đoan cảm động khi nghe tôi bảo, thay vì ngồi nhớ Đoan để dệt vần điệu thơ ca tôi ra công trong tuần lễ để hoàn tất tác phẩm này. Hèn gì lâu nay ra tựa cửa chẳng trông thấy một người bị ngộ độc thực phẩm quờ quạng bước vào. Người Đoan run lên khi tôi ôm cô vào lòng, mắt Đoan nhắm lại để hé môi chờ đợi một nụ hôn. Ngộ độc thực phẩm là chuyện nhỏ, sao sánh được ngộ độc vì nhớ thương. Phía sau bệnh xá, chỗ khuất lấp có trồng hai bụi môn. Trong bệnh xá có người nằm rên vì chứng đau bao tử vì vậy y tá bỏ mặc mọi thứ, nắm tay tôi dại khờ tìm nơi vắng vẻ. Nếu Đoan là Nguyệt Nga thì tôi hơn Vân Tiên vạn lần. Cỏ ngứa, muỗi cắn hoặc ruồi bu kiến đậu, hoặc những âm mưu thâm độc khác đều không gây trở ngại cho hai kẻ đang thích chơi trò lấn đất dành dân, ưa mở rộng địa đạo hối chú du kích vào phục sẵn chờ phút khai hoả. Những nước theo xã hội chủ nghĩa thường có đông dân số, giản dị vì họ không có thứ gì để giải trí cả. Niềm vui duy nhất là nam nữ cứ bu như sam, nhưng nói cho ngay vì Đoan là y tá nên cô có sẵn cả tủ thuốc ngừa thai. Đoan không dại nằm thắp sáng cái sướng trong phút giây để rồi ngồi nguyền rủa nỗi đau theo tháng ngày. Em nói thật đấy, cơ quan mà biết được thì họ khai trừ em, họ bêu rếu em, họ bắt em làm bảng kiểm điểm, đày đoạ em, mắng nhiếc em nào là có chuyên mà không có hồng, nhân thân xấu, chẳng xứng đáng làm con người mới để thích nghi với chế độ ưu việt. Tôi nhìn giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt mờ tối của Đoan. Sao Đoan khóc? Vì em đang hạnh phúc, chưa bao giờ em hưởng được thứ bồi dưỡng lạ lùng như phút giây qua. Em ghi cho anh một cái lịch nhé, những giờ giấc thuận tiện để chúng ta cùng ăn nằm bên nhau. Tâm có thương em không? Còn phải hỏi, Đoan là con rắn đáng yêu nhất mà anh gặp phải, anh tự nguyện giao mạng cho Đoan cắn, như vừa cắn vết dịu dàng. Thôi đi ông tướng, vừa làm rắn bò đi lung tung còn đổ thừa cho người ta.

Trước khi chia tay, tôi vụng trộm ngó Đoan ngồi bên lu nước múc từng gáo tự sơ cứu làm hạ nhiệt. Tôi trao cho Đoan một xấp tiền. Cái gì đây? Bồi thường thiệt hại, hồi nãy lỡ làm hỏng cái quần lót của Đoan. Có thích em làm vệ sinh cho anh không? Không, anh vào tắm suối. Đoan hôn tôi đắm đuối, hụt hơi. Và tôi chẳng ngờ được, đó là trang cuối cùng của chuyện tình vắn số của chúng tôi. Vĩnh viễn tôi không còn nhìn thấy Đoan. Cũng như chiếc xe chở củi chở gỗ về thành phố người ta đã thay ông tài xế khác.

Tôi bị bắt vì tội phá hại tài sản của nhà nước. Cán bộ đã vào lán tôi ở, moi được bọc tiền làm tang chứng vật chứng chuyện móc ngoặc với thành phần bất hảo, bán và tiêu thụ trầm, quế. Họ cũng tìm đọc những bài thơ tôi giấu dưới chiếu, quy chụp rằng lời lẽ quá sức phản động, dựng chuyện lầm than đói khổ để nói xấu chế độ. “Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Đấy, mày nàm thơ kiểu đấy thì phải chóng nhập kho thôi con ạ! Thưa các cán bộ, tài sức tôi đâu đủ để viết được lời bi thảm đó. Thơ ấy là của Hồ chủ tịch đấy ạ! Một đứa hùng hổ đến sát bên tôi. Láo lếu! Tay hắn nắm dùi cui, nháng một cái tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Đất trời đều sập tối. Tôi van bạn đừng làm thơ vẽ cảnh hiện thực, và tránh xa việc trích dẫn những “lời hay ý đẹp” của lãnh tụ. Bạn sẽ chết chắc ngoại trừ bạn là đàn em của Phù Đổng Thiên Vương thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên.

Hồ Đình Nghiêm

Montréal, 31.7.2017

Sau cuộc biển dâu

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

October 18, 2015    

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

(câu chuyện từ một bộ quân phục)

Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu.

Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm.

Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bới mái tóc dài bạc trắng.  Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu.

_ Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi.

– Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm.  Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe.

Căn nhà nhỏ một phòng ngủ, phòng khách chưng bày đơn giản. Điều làm tôi chú ý là hai tấm ảnh treo trên vách, phía sau bàn ăn. Một tấm là chân dung của một người lính, tấm kia là ảnh gia đình. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh cười, bảo là ảnh của anh và vợ con anh lúc xưa. Anh chống nạng đứng lên, như có ý mời tôi đến xem.

Tôi tròn mắt ngạc nhiên, tấm ảnh chân dung là một sĩ quan trẻ, mang cấp bậc thiếu tá, trông khá đẹp trai, phảng phất nét hào hùng. Trên ngực mang khá nhiều huy chương. Tấm ảnh kia anh chụp với người vợ xinh đẹp và hai đứa con kháu khỉnh.  Lòng tôi bỗng chùng xuống, như vừa chạm vào một vết thương cũ. Tôi bất giác quay người lại, đứng nghiêm đưa tay chào:

     – Xin chào niên trưởng!

     Anh tròn mắt bất ngờ, rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Sau này, tôi được biết tấm ảnh chân dung này anh chụp sau khi được thăng cấp thiếu tá tại măt trận Quảng Trị tháng 10 năm 1971, khi anh đang là tiểu đoàn phó, thay vị tiểu đoàn trưởng bị trọng thương, chỉ huy đơn vị phá vòng vây địch,  tạo một chiến thắng lẫy lừng.

 Chúng tôi trở nên đôi bạn thân thiết kể từ hôm ấy. Hình như giữa chúng tôi có điều gì đó cùng “tần số” với nhau. Trước đây anh sống rất âm thầm, khép kín, không muốn gặp gỡ tiếp xúc một ai, kể cả những người quen biết cũ. Sau này, cứ mỗi lần đến nhà cô con gái tôi đều ghé thăm anh, mang theo cho anh một ít nem chua Ninh Hòa mà anh rất thích. Anh say sưa kể cho tôi nghe một thời hào hùng trong binh nghiệp. Anh nức nở khi nhắc tới những vị đàn anh, những đồng đội hào hùng đã phải hy sinh oan khiên tức tưởi, đặc biệt trong trận chiến Hạ Lào- Lam Sơn 719. Người được anh nhắc đến nhiều nhất, ngưỡng phục và thương tiếc nhất là Cố Đại Tá Lê Huấn, một vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi danh, tốt nghiệp Khóa 18 VBĐL mà có một thời anh được phục vụ dưới quyền.

Anh bảo tôi vào phòng ngủ để anh cho xem một kỷ vật. Anh bật đèn lên tôi ngạc nhiên khi thấy một bộ quân phục. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đây là một bộ quân phục tác chiến đã cũ, có những vết sờn rách, được giặt ủi cẩn thận và treo trong một cái tủ kính nhỏ. Loại tủ để chưng bày. Anh mở cửa tủ và cẩn thận lấy bộ quân phục, ôm vào người một cách trang trọng. Đôi mắt mơ màng như đang tìm về một quá khứ xa xăm nào đó. Anh thốt ra môt giọng trầm buồn. Dường như là để nói với chính anh hơn là với tôi, người đang đứng ngay trước mặt anh:

– Đây là bộ đồ trận của anh ấy, anh Lê Huấn.

Sau chiến thắng lẫy lừng tại Căn Cứ O’Relly, khi tiểu đoàn anh dưới tài chỉ huy tài ba của Trung Tá Lê Huấn đã đánh tan một lực lượng địch cấp trung đoàn của Sư Đoàn 304 BV, tháng 8/1970 tiểu đoàn lại đánh một trận khốc liệt với một đại đơn vị khác cũng của Sư Đoàn 304 BV này tại Hải Lăng, Quảng Trị. Khi ấy anh đang là đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn. Cả hơn một trung đoàn địch, sau nhiều đợt tiền pháo kinh hoàng đã đồng loạt xung phong nhằm tràn ngập vị trí đóng quân của tiểu đoàn 4/1. Trung Tá Lê Huấn rời khỏi hầm chỉ huy, đích thân điều động đơn vị quyết chiến trước một cuộc thư hùng sinh tử. Từng đợt địch quân bị đốn ngã ngay trước giao thông hào, nhưng bọn chúng như là những con thiêu thân lao vào lửa, lớp này ngã lớp khác lại xông tới. Nhờ sự chiến đấu kiên cường của đơn vị anh, và đặc biệt dưới sự chỉ huy tài tình và gan dạ của vị tiểu đoàn trưởng lừng danh, đã ngăn chặn, tiêu hao và cầm chân địch trước khi được những phi vụ không yểm, đánh trên đầu địch. Những trận không kích gây thiệt hại nặng nề cho địch nhưng cũng làm bị thương một số binh sĩ của đơn vị, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần. Anh là một trong những người bị trọng thương hôm ấy. Trời tối và mưa lớn, lưới phòng không dày đặc, không tản thương được, Anh Lê Huấn ra lệnh ban quân y mang anh vào nằm trong hầm chiến đấu của anh Huấn để được tương đối an toàn và  băng bó chữa trị cấp thời. Thấy máu và bụi bặm thắm đầy bộ chiến y ướt đẫm nước mưa của anh, vị tiểu đoàn trưởng bảo người lính cận vệ lấy bộ áo quần trong ba-lô của mình mang đến thay cho anh. Khi tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nhiều bác sĩ cứ tưởng anh là Trung Tá Lê Huấn, bởi bảng tên và cả cái lon trung tá còn nguyên trên ngực và cổ áo.

Vết thương chưa lành, nằm trong Quân Y Viện mà lòng anh rất nôn nao khi biết tin đơn vị tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719. Một kế hoạch qui mô với sự tham chiến của hầu hết các đơn vị chiến đấu thuộc Vùng I:  Sư Đoàn 1BB, các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân, cùng với các Lữ Đoàn Nhảy Dù và TQLC. Anh khao khát được có mặt cùng đơn vị trong trận chiến đặc biệt này, nhưng vết thương ở chân phải là trở ngại chính để bắt anh phải nằm lại ở đây.

Anh theo dõi từng ngày từ khi cuộc hành quân bắt đầu. Các tin tức không vui từ chiến trường, những tổn thất nặng nề của quân ta sau khi các căn cứ 31, 30 lần lượt thất thủ. Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù cùng nhiều cấp chỉ huy của ta bị lọt vào tay giặc. Một số phải tự sát để giữ tròn khí tiết. Từ các kế hoạch hành quân tồi tệ mà địch quân gần như biết trước để chuẩn bị trận địa đến việc thiếu thống nhất ở các cấp chỉ huy đã góp phần cho sự thảm bại. Điều đau đớn nhất đã làm tim anh thắt lại khi nghe tin Tiểu Đoàn 4/1 của anh nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, làm lực lượng chặn hậu để cho Trung Đoàn rút lui khỏi căn cứ Lolo trong tình trạng bị bao vây nguy khốn. Anh bật khóc khi nghe tin Trung Tá Lê Huấn, vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi tài năng đã lẫm liệt hy sinh, và cả tiểu đoàn chỉ còn 32 binh sĩ sống sót trở về! Anh nghĩ từ nay sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người chỉ huy mà anh ngưỡng phục và hằng mong được tiếp tục phục vụ dưới quyền. Anh nhớ tới bộ quân phục mà Trung Tá Lê Huấn đã đưa cho anh thay khi anh bị trọng thương cách đây vài tháng, anh còn chưa kịp trả lại, và bây giờ thì không còn có cơ hội để trả lại cho khổ chủ. Anh quyết định giữ lấy bộ quân phục này như một kỷ vật thiêng liêng trong cuộc đời mình. Và sau đó dù phải trải qua bao nhiêu thăng trầm, khốn khổ, nhất là sau ngày nước mất nhà tan, anh vẫn luôn trân trọng bộ quân phục mà anh nghĩ có mang hồn thiêng của anh Lê Huấn và của cả những đồng đội đã hy sinh.

Sau khi xuất viện, anh được bổ sung đến một trung đoàn khác giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Tháng 10/ 1971 anh thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận. Cuối năm anh lên nắm tiểu đoàn thay thế vị tiểu đoàn trưởng bị thương, sau đó được theo học khóa quân chánh. Một thời gian sau, vết thương cũ ở chân phải tái phát. Sau khi chữa trị anh đi khập khiễng. Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp anh vào loại 2, không chiến đấu được. Được đề nghị bổ sung về Phòng 3 Quân Đoàn, nhưng anh xin đi làm chi khu phó cho anh tiểu đoàn trưởng cũ, bây giờ là quận trưởng của một quận miền núi. Quận lỵ là một tiền đồn chiến lược, nằm tại một vị trí trọng yếu khống chế cả con đường tiếp liệu của Cộng quân, nên bọn chúng tìm mọi cách để san bằng. Gần cuối năm 1974, Cộng quân mở nhiều đợt tấn công biển người nhằm chiếm quận lỵ, vị quận trưởng bị thương nặng. anh đã phối hợp với các đơn vị bạn tăng cường, trực tiếp chỉ huy điều động cuộc phản công rất oanh liệt giữ vững được phòng tuyến qua nhiều cuộc tấn công qui mô của địch. Nhưng tổn thất của ta khá nặng và đạn dược dần dà cạn kiệt, trong lúc Cộng quân luôn được tăng cường, cuối cùng anh phải mở đường máu, rút lui trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Anh bị thương nặng ở chân, điều kỳ lạ là ngay tại vết thương cũ. Nhờ kinh nghiệm chiến trường và hai người lính nghĩa quân rất trung thành và khôn ngoan giúp đỡ, thay phiên cõng anh thoát khỏi vòng vây truy lùng của địch. Anh được đề nghị thăng cấp đặc cách lên trung tá, nhưng sau đó bị cưa mất chân phải. Nỗi đau đớn vì phải mất đi một phần thân thể chưa nguôi, thì cái đau đớn tột cùng cũng vừa ập đến: Tháng 3/75, cả Vùng I bỗng chốc lọt vào tay Cộng sản, Sư Đoàn 1BB, đơn vị nổi danh mà anh luôn hãnh diện phục vụ trong gần cả một đời binh nghiệp cũng tan tành, rồi cả miền Nam mất vào tay giặc. Những đồng đội từng chiến đấu, một thời sống chết cùng anh bỗng dưng tan tác như chỉ sau một cơn ác mộng.

Mất một cái chân, nhưng anh vẫn bị tù đày nghiệt ngã trên bảy năm trong nhiều trại tù của bọn Cộng sản man rợ. Ra khỏi tù anh lại mất cả gia đình. Người vợ xinh đẹp ngày nào đã gởi đứa con gái lớn, năm tuổi, cho bà nội già, bồng theo đứa con trai ba tuổi, lẳng lặng sang sông về một nơi nào đó. Gia tài một đời binh nghiệp của anh giờ chỉ còn mỗi một bộ đồ trận, chiến y của người chỉ huy mà anh từng kính yêu đã hy sinh. Trước khi vào tù, anh căn dặn mẹ anh phải giữ kỹ bộ quân phục này cho anh với bất cứ giá nào, bởi đó là một kỷ vật quý giá nhất còn lại của đời anh. Theo đề nghị của mẹ, anh đồng ý cho bà tháo ra và đốt đi cái bảng tên và cấp bậc may trên áo.

Có lẽ từ lâu lắm mới có người chăm chú ngồi nghe, nên anh say sưa kể cuộc đời mình. Đôi lúc sụt sùi, nước mắt tưởng đã khô cằn, bỗng ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ già nua, và từng giọt rơi xuống bộ quân phục anh đang ôm ấp trong lòng mình.

      – Sau này anh có dịp nào gặp lại chị nhà và đứa con trai? Tôi hỏi.

      – Bà đã có chồng khác từ lâu rồi, đang sống ở Âu Châu. Tôi buồn nhưng không trách. Ngại đụng chạm tới hạnh phúc riêng của bà, và cả vết đau trong lòng mình nên không muốn liên lạc. Còn đứa con trai có sang thăm tôi hai lần, nhưng cháu vẫn nhìn tôi xa lạ lắm. Cũng phải thôi, vì khi tôi vào tù thì cháu chỉ mới lên ba, trong ký ức của cháu có lưu lại một chút hình ảnh gì của tôi đâu. Riêng con gái tôi có sang thăm mẹ và em cháu vài lần.

Nói dứt câu, anh cúi xuống như muốn giấu riêng nỗi xúc động.

       –  Anh có thường cảm thấy cô đơn và tiếc nuối những ngày xưa?

       –  Cũng có chứ, nhưng lâu rồi thành quen và gần như không còn muốn nhớ tới nhiều chuyện cũ.

Tôi đưa tay nắm chặt bàn tay anh thay cho một lời an ủi khó nói thành lời. Bỗng anh ngước lên, mở to đôi mắt:

      -Điều buồn của tôi bây giờ là thấy một số trong đám anh em mình mất đi khá nhiều sĩ khí, có thằng còn khốn kiếp đã vì chút lợi lộc nhỏ nhen mà chạy hùa theo giặc, nịnh bợ thô bỉ, quên mình từng hãnh diện là sĩ quan của những binh chủng hào hùng. Nhìn bọn chúng múa may khóc lóc làm trò trước mặt bọn cộng sản mà tôi muốn buồn nôn!

Tôi cười:

     -A nh bận tâm tới những kẻ ấy làm gì. Trong tập thể nào lại không có những  con sâu, tồi tệ, bán rẻ linh hồn. Cũng có thể là những thằng khùng. Nhưng đó cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt. Cũng như nước Mỹ vừa có tên phản quốc Edward Snowden, đang trốn ở Nga-Sô. Theo tôi, đại đa số anh em mình vẫn còn giữ được tấm lòng, tình huynh đệ và trách nhiệm với quê hương đất nước chứ!

Bỗng đôi mắt anh sáng lên:

    – Điều vui và an ủi tôi nhiều nhất là các tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh sống khốn khổ ở quê nhà. Đặc biệt là các buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh thành công tốt đẹp. Thấy anh em nhà binh mình cùng bà con tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tôi mừng và cảm động lắm. Ở bên nhà các cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn cũng đã can đảm, hết lòng an ủi và làm sống dậy niềm tự hào của những anh em thương binh bất hạnh, tôi cảm phục vô cùng. Có bao nhiêu tiền dành dụm tôi đều nhờ cô con gái gởi về phụ với các cha.

Tôi cười, biểu lộ sự đồng tình. Định nói thêm đôi điều để khoe về những đóng góp phần mình, bỗng nghe anh hỏi:

     -Bạn ở Âu Châu, sang Mỹ một thời gian, chắc đã thấy trong đám anh em mình bây giờ cũng nhiều người bon chen danh lợi. Mà tội nghiệp thay toàn chỉ là danh hão! Nhiều ông tướng ông tá có danh thời trước, sang đây lại đầu quân làm tướng phường tuồng cho mấy cái chính phủ tự xưng tự diễn như đám hát chèo. Có ông giành hội này, bám tổ chức kia. Thấy mà phát ngượng! Trong đó có cả những ông ngày xưa từng là cấp chỉ huy của mình. Ngán ngẫm thật. Giấy rách mà cũng chẳng còn cái lề nào để mà giữ nữa!

Tôi cười. Chưa kịp nói một lời an ủi, bỗng thấy anh sa sầm nét mặt:

       – Điều buồn nhất là thiên hạ lạm dụng bộ quân phục một cách đến lố bịch. Đám cưới, sinh nhật, tiệc tùng nhảy nhót mà cũng có người mặc quân phục. Có lần tôi thấy một ông mặc quân phục, mang cả lon lá và đầy huy chương lên truyền hình để quảng cáo thuốc cho một ông thầy thuốc Nam tự nhận mình là bác sĩ! Tôi xấu hổ và giận đến tím cả mặt. Tối hôm ấy, tôi ôm bộ quân phục này của anh Lê Huấn mà thấy lòng xót xa vô hạn.

Nhớ lại một câu chuyện liên quan tới bộ quân phục đã xảy ra tại đất nước Na-Uy, nơi gia đình tôi đang định cư, tôi kể cho anh nghe:

     – Tháng 11 năm 2004, bà Kristin Krohn Devold, Bộ Trưởng Quốc Phòng Na-Uy, đến viếng thăm binh sĩ thuộc các đơn vị quân đội Na-Uy tham chiến tại Afghanistan trong lực lượng NATO. Bà được ca ngợi là một nữ bộ trưởng can đảm đã đến thăm binh sĩ khi chiến trường đang ác liệt nhất. Nhưng sau khi tin tức và hình ảnh về chuyến viếng thăm này được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Na- Uy (NRK), bà bị nhiều sĩ quan và binh sĩ Na-Uy phàn nàn, phản đối khi thấy bà mặc quân phục từ một chiếc trực thăng bước xuống thăm một đơn vị tác chiến Na- Uy, và cả khi được Thủ Tướng Afghanistan, Hamid Kazai tiếp đón tại thủ phủ Kabul.  Báo chí cũng góp phần tranh luận và tỏ ra bất bình về sự kiện này. Hầu hết cho rằng bà chưa hề ở trong quân đội, nên không được phép sử dụng quân phục, dù trong bất cứ chức vụ hay hoàn cảnh nào. Những quân nhân cho rằng bộ quân phục còn có tính thiêng liêng, bởi nhiều chiến binh đã hy sinh trong bộ quân phục này. Mặc dù bà và một số cơ quan chính phủ lên tiếng biện minh, viện lý do vì sự an toàn cho bà trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng vẫn không được chấp nhận.  Cuối cùng bà phải bắt buộc lên tiếng chính thức xin lỗi quân đội và cả dân chúng Na-Uy về điều này.

Nghe tôi kể xong, anh đưa bộ quân phục đang cầm trong tay lên như để khẳng định một điều gì.

     – Đúng như thế, bộ quân phục đối với tôi luôn là một kỷ niệm thiêng liêng. Có biết bao đồng đội của tôi hy sinh đã được liệm với bộ quân phục thấm đẫm máu đào của họ. Xin đừng lạm dụng và làm đau lòng họ.

Sau lần gặp gỡ đầu tiên này, tôi còn đến thăm anh một vài lần nữa, và bảo cô con gái: “bác ấy là người tốt, một sĩ quan đáng kính, con nên thường thăm nom và giúp đỡ bác những điều cần thiết”. Hôm đến chào từ giã anh để trở về lại Na Uy, tôi mang biếu anh hai chai rượu đỏ loại tốt. Tôi khuyên anh, khi nào buồn thì uống vài cốc cho nguôi ngoai, không nên uống nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá, có hại cho sức khỏe. Anh nở nụ cười, nhưng bỗng trở nên buồn bã:

     – Anh đi rồi, tôi lại cô đơn, chẳng còn ai tâm sự.

Hôm đó, tôi ở lại với anh tới hơn một giờ khuya. Chống gậy tiễn tôi ra cửa, anh bắt tay từ giã nhưng giữ khá lâu, không muốn tôi đi. Tôi cười, bảo nhỏ:

    -Anh cố dỗ giấc ngủ, đừng thức dậy nửa đêm, uống rượu chống nạn đi quanh nhà. Bọn tôi ở tầng dưới cũng mất ngủ với anh luôn.

Anh gật đầu, cười thông cảm.

Sáu tháng sau, khi trở lại Mỹ, tôi liền đến thăm anh. Bấm chuông mấy lần không ai mở. Tôi không còn nghe tiếng động của đôi nạng gỗ gõ xuống nền nhà như mọi khi. Buổi chiều, cô con gái đi làm về, cho tôi biết là anh ấy bị ung thư gan ở thời kỳ cuối. Con gái của anh đã đưa anh vào bệnh viện Fountain Valley từ tuần trước. Tôi lái xe xuống ngay bệnh viện. Anh nằm bất động. Khi tay tôi chạm vào anh, anh mở hé mắt nhìn tôi và miệng cố nở nụ cười, méo mó. Thấy anh cười mà tôi muốn khóc.  Trông anh tiều tụy và hốc hác quá. Nhưng anh rất bình tĩnh, như ngày xưa khi đối diện trước quân thù. Anh muốn ngồi dậy, nhưng không còn đủ sức. Tôi ngồi bên cạnh, đưa tay xoa trên ngực anh, bảo anh cứ nằm nghỉ.

       – Bác sĩ bảo tôi không còn nhiều thời gian nữa, ngày mai phải xuất viện về nhà để gia đình lo hậu sự – Anh nói bằng một giọng thì thào, yếu ớt.

Khi nhắc đến hai chữ gia đình, anh lại cười, chua chát:

       – Lại gia đình…!

Hiều ý anh, tôi nói đùa cho anh vui:

        – Phải nói là đại gia đình, vì ngoài cô con gái ra, anh còn có chúng tôi nữa. Cứ yên tâm mà đi. Nhớ dọn sẵn một bãi đáp cho ngon lành, chờ tôi đáp xuống sau anh nghe.

Chiều hôm sau anh được xe bệnh viên đưa về nhà. Cô con gái túc trực bên anh. Tôi cũng luôn có mặt. Anh ngỏ ý muốn uống với tôi một ly rượu đỏ. Cô con gái ngần ngừ, nhưng thấy tôi ra dấu gật đầu, cô rót hai ly rượu, một ly mời tôi và một ly cô cầm đưa vào miệng cha cô. Cuối cùng chúng tôi cũng cạn ly. Không ngờ đó là ly rượu từ biệt. Tôi bỗng nhớ tới lời của một bài ca cũ : “bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã đi xa rồi…”

Khuya hôm đó anh trút hơi thở cuối cùng. Cô con gái cho biết anh ra đi rất yên ả. Không trăng trối một lời gì. Chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ với vài chữ ngoằn nghèo:  “Nhớ liệm ba bằng bộ quân phục trong tủ kính, nghe con”.

Đám tang thật đơn giản theo ý muốn của anh. Mấy lần anh dặn dò cô con gái không được đăng cáo phó hay báo tin cho ai biết. Tại nhà quàn, ngoài cô con gái của anh và cậu bạn trai người Mỹ, chỉ có vợ chồng tôi cùng cô con gái út. Một nhà sư già tụng một thời kinh trước khi đậy nắp quan tài. Tôi đứng nghiêm đưa tay lên chào anh. Anh nằm uy nghiêm trong bộ quân phục, khuôn mặt ánh lên nét hào hùng. Tôi có cảm giác như anh vừa chết tại chiến trường. Không có bất cứ một nghi lễ nào, nhưng tai tôi như đang văng vẳng tiếng kèn truy điệu và khúc nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ.

Đứng nghiêm chào anh một lần nữa, khi quan tài đưa vào lò thiêu. Mọi thứ đều trở về với cát bụi. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui bất chợt, khi nghĩ anh sắp được gặp lại anh Lê Huấn và những đồng đội cũ, những chiến sĩ đích thực đã rất xứng đáng với bộ quân phục oai phong của QLVNCH. Họ đã tạo cho bộ chiến y một điều gì đó rất thiêng liêng.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Việc một dược sĩ trong cộng đồng Việt Nam chúng ta bị còng tay ra tòa lãnh 65 tháng tù vì gian lận y tế không còn là một tin “kinh thiên động địa” làm bàng hoàng những người Việt ở Quận Cam nữa. Những chuyện tương tự đã xẩy ra vào khoảng năm 1983 ở ngay đất Bolsa khi hàng loạt bác sĩ, dược sĩ bị truy tố tội mua bán thẻ y tế của bệnh nhân và mới đây thôi, năm 2005, chủ nhân một cơ sở cung cấp dụng cụ y khoa, sữa Ensure cho người già đã bị bắt vì gian lận quỹ y tế hàng triệu đô la. Chúng ta không ngạc nhiên là vì hằng ngày, những vị cao niên ở đây đã là nạn nhân và biết rõ cái thẻ medicare, medical bị lạm dụng, thao túng mà nhiều người vẫn quan niệm “một sự nhịn chín sự lành”, hay cho rằng thâm lạm là thâm lạm tiền của Mỹ không có “ăn nhậu” gì tới cá nhân mình. Bây giờ, những vụ gian lận này lần lượt được đưa ra ánh sáng thì cũng là một chuyện đương nhiên mà thôi. Phải nói rằng sẽ còn những tay khoa bảng đã thề thốt trước ông tổ Hippocrates, những con buôn cung cấp dịch vụ y tế nữa sẽ ra tòa trong những ngày tới. Căn cứ vào tội trạng mà công tố đã kết án những tội đồ này thì có những tội đồ khác cũng mang những tội tương tự nhưng chưa được phát giác hay đã phát giác mà chưa có trát tòa án và xe cảnh sát tới nhà. Vụ một công ty cung cấp sữa, xe lăn vừa bị câu lưu không phải là một công ty duy nhất có tội, vì còn nhiều công ty khác đã có những hành động phạm pháp tương tự, chắc chắn sẽ có ngày đền tội, mặc dầu cơ sở họ đã đóng cửa, chủ nhân đã ẩn trốn nhưng làm sao hủy bỏ được tất cả bằng chứng và nhân chứng hiện đang hiện diện ở quận Cam này. Vụ một bác sĩ tính tiền sửa sắc đẹp bằng cách “charge” vào thẻ bảo hiểm y tế bằng những bệnh không có thật, không là một vụ duy nhất và cuối cùng bị phát giác.

Sở dĩ người viết bài này dám nhắc tới những vụ việc mà không sợ sai lầm vì chính mình cũng là nạn nhân của những vụ medicare fraud:

– Nhiều bạn già trong đó có tôi được một trung tâm “medical supply” chở đi khám bệnh tại một trung tâm y tế ở thành phố Los Angeles, sảu đó về nhà nhận được thông báo của cơ quan medicare cho biết là họ đã tính hơn $6,000 về những thử nghiệm không bao giờ có kết quả vì những thử nghiệm này không bao giờ có thật.

– Sau khi được dẫn đi “bán” cho những vụ thử nghiệm “ma”, trung tâm này đã cung cấp cho mỗi người khoảng 80 hộp sữa dinh dưỡng (ensure), nhưng trong phiếu tính tiền với cơ quan medicare đã tính tới 420 hộp cộng với 30 dụng cụ để bơm sữa vào miệng dành cho những người già không còn ăn uống được. (tính gấp 5 lần trị giá và thêm một số dụng cụ ma).

– Cơ quan Medicare năm ngoái đã thông báo cho người viết bài này rằng vào một ngày đẹp trời nọ, một ông bác sĩ Bolsa đã gởi một bill tính tiền đến cơ quan này với một số tiền lên đến $3,000 về một dịch vụ mà bệnh nhân cũng là nạn nhân vào ngày giờ đó không bao giờ bước chân tới phòng mạch của vị bác sĩ này. (Ông bác sĩ đã tìm một công việc đắt tiền nhất trong các dịch vụ để tính tiền.) Cảm giác đầu tiên của tôi là bàng hoàng, tức giận (lên máu), sau đó đâm ra phiền muộn (trầm uất)- vụ này mà đi kiện chắc cũng có chút tiền-, vì không ngờ người ta lại có thể vô lương tâm đến độ không cần liêm sỉ vì đồng tiền như vậy. Nhiều người khuyên tôi nên chất vấn thẳng những cơ quan đã tính tiền hoặc vị bác sĩ này nhưng tôi cảm thấy vô ích, vì không đủ can đảm đối diện với những vị này, vả lại đến phòng mạch, nói năng không khéo lại bị gọi cảnh sát còng tay về tội lăng nhục hay hăm dọa. Tôi hỏi ý kiến một vài người bạn cũng thuộc loại cao niên về việc này, họ khuyên tôi:

– Tiền này là tiền của Mỹ, đâu có thiệt thòi gì cho mình.

– Dính vào những chuyện này nhức đầu lắm.

Tôi xét nghĩ sang đây ăn nhờ ở đậu, mang ơn đùm bọc của Mỹ lại “đồng lõa” để cho các vị khoa bảng này đục khoét quỹ y tế xã hội, và theo lời kêu gọi của lương tâm, tôi đã gởi toàn bộ hồ sơ gian lận này cho “Office of Inspection General” P.O. Box 23489 Washington DC.20026 và cơ quan này cho một số thứ tự và hứa sẽ chuyển sang cơ quan CMS (Centers for Medicare and Medicaid Services). Họ cũng cho biết thường thường hồ sơ sẽ được cứu xét nhanh lắm là trong vòng 6 tháng.

Nhưng sáu tháng đã trôi qua, buộc lòng tôi phải chuyển hồ sơ này đến cơ quan “Medi Care Fraud” của cơ quan điều tra liên bang (FBI) có văn phòng tại thành phố Santa Ana để nhờ điều tra và sau đó đã có một cuộc gặp gỡ, phỏng vấn, vì chúng không thể dùng hồ sơ gồm tên tuổi và số an ninh xã hội của tôi, một người đang thụ hưởng chương trình medicare để đòi chính phủ phải trả những số tiền gian lận vô lý như thế.

Chúng ta cũng biết những tay gian lận y tế này không phải là những người thất học, nghèo khó mà trái lại là những tay khoa bảng, có nhà bạc triệu, có xe hơi đắt tiền, có tài sản của chìm của nổi. Họ sang đây được ăn học, sống nhờ những người Việt đồng hương, nhưng lòng tham đã làm họ mờ mắt. Việc phanh phui và đưa ra tòa những tên tội phạm như thế quá chậm vì bọn ăn cắp quá đông mà nhân viên chính phủ dùng cho việc điều tra quá ít. Trước những vụ việc như trên:

– Chúng ta mong gì lớp trí thức khoa bảng về những chiêu bài “phục vụ đồng hương”, “phục vụ cộng đồng” qua những lời chúc tụng hoa mỹ, tốt đẹp ngày tốt nghiệp hay khai trương cơ sở trên báo chí?

– Đất nước chúng ta hy vọng gì ở hải ngoại với những “chất xám” như vậy để đem dân chủ tự do cho đồng bào.

– Lớp con cháu chúng ta mong mỏi gì nơi thế hệ cha ông chỉ biết đồng tiền mà không hề có chút lương tâm chức nghiệp và chút liêm sỉ của con người tử tế.

– Nước Mỹ hy vọng gì về những đóng góp của lớp di dân để xây dựng đất nước này và chúng ta mong gì được các sắc dân khác ở trên nước Mỹ nhìn chúng ta bằng đôi mắt thiện cảm?

Thư gửi Bậu – Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

Tôi với Bậu mấy mươi năm quen biết chỉ nói với nhau những chuyện nhỏ, vui về những nơi mà không còn mấy ai nhắc tới: Gò Dầu Hạ , Vên Vên… Nhưng nay phải viết lá thư mang vẻ “nghiêm trọng” nầy vì có liên quan đến một vấn đề chung: Nghị quyết 23 của Trung ương đảng cộng sản đề cập đến thành phần Người Việt ở nước ngoài trong đó có bậu, có tôi và rất đông Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản sau 30/4/1975; và cũng có liên quan đến số đông người Việt không (muốn) ở lại trong nước, đã ra hải ngoại bởi nhiều lý do – Những người mang căn cước nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN. Nhưng thư nầy chỉ nói rõ về thành phần thứ nhất: Thế hệ Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản hiện hành ở trong nước và con cháu của họ (thế hệ Người Việt Thứ 2, thứ 3)

I.

Nghị quyết Trung Ương Đảng CS/Đảng CSVN là gì? Phải xác định ngay “Nghị Quyết TƯĐCSVN” không là: 11/Một quyết định có tính cưỡng chế do một ban, nhóm đại biểu thuộc một bộ phận lập pháp ban hành trong nội bộ (Không cần phê chuẩn đồng thuận của nhóm đối lập); 12/Một biện pháp bắt buộc thuộc một tổ chức hành chánh, tài chánh, xã hội ban hành để điều hành hoạt động chung cho có hiệu quả tốt, năng suất cao; 13/Một phản ứng sinh hóa sau khi đã phối hợp các yếu tố, điều kiện cần và đủ.

Hoàn toàn không phải như trên, bởi “Nghị Quyết TƯĐCSVN” không là: 14/Một Hiến Ước/Hiến Chế/Hiến Chương/Công Ước/Sắc Luật do một cơ quan Pháp Lý cao nhất (của tổ chức quốc tế, quốc gia) ban hành, áp dụng – Act; 15/Không là một Điều Luật/Law; Dự Luật/Bill mà tổ chức quốc hội cả nước Âu Mỹ áp dụng, thực hiện; 16/Không là Sắc, Dụ của triều đình phong kiến hằng có trong lịch sử thế giới.

II.

Vậy Nghị quyết Trung Ương Đảng CS/Đảng CSVNi/Hà Nội là gì? Đấy là một tập hợp những điều khoản mang tính chất: Vô Đạo Lý-Phi Nhân Tính-Cưỡng ép Lịch Sử-Bất chấp Pháp Lý lẫn Luận Lý. Bài viết chứng minh:

21/ Hội nghị Trung ương lần thứ 15 diễn ra từ 12 đến 22/01/1959 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm đánh giá tình hình miền Nam từ 1954-1958 và xác định nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng miền Nam. Hội nghị đề ra: Nghị Quyết 15 khẳng định con đường cách mạng bạo lực để giải phóng miền Nam … để đạt được mục tiêu thống nhất đất nước.

Nghị quyết không chỉ là chữ và khẩu hiệu suông mà được thực hiện với mỗi lóng xương, bãi máu, nghĩa trang Người Lính Miền Bắc trãi dặm dài theo chặng đường Trường Sơn xẻ dọc để vào Nam cứu nước! 

22/Để đạt được mục tiêu của Nghị Quyết 15, Hà Nội tăng cường một nghị quyết mới: Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết.. Theo triệu tập của Bộ Chính Trị đứng đầu là Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, một đoàn lãnh đạo cấp cao của Trung ương Cục Miền Nam đã có chuyến ra Bắc bí mật vào dịp tháng 4/1973 để bàn kế hoạch hệ trọng cho một Việt Nam thống nhất. Cơ quan tham mưu của Ðảng nghiên cứu, soạn thảo và ban hành văn kiện Nghị Quyết 21 Tháng 10/1973. Nghị quyết nhất trí: “Con đường cách mạng của Miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, thực hiện thắng lợi vĩ đại cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước… 

III.

Qua hai nghị quyết kể trên, chúng ta hẵn thấy ra chiến tranh VN đã khởi động với a lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (20/12/1960), là hậu quả, hệ quả của Nghị Quyết 15 (Tháng 1/1959); và lần mở đầu cuộc tổng tấn công vào Ban Mê Thuộc ngày 10/3/1975 theo kế hoạch 275 để dẫn tới Ngày 30 Tháng 4/1975 tại Sàigòn chỉ là kết quả tất nhiên của con đường bạo lực cách mạng chống Mỹ cứu nước của NQ 21. Cho dù 152 quân nhân Mỹ cuối cùng đã rời VN trong ngày 27 Tháng 3/1973 – Bản thân người viết và viên Thiếu tá Bùi Tín đứng đếm từng lính Mỹ lên máy bay – Không 30 Tháng 4 thì cũng (sẽ) có tháng 5 hay tháng 6; không 1975 thì 1976 vậy. Hai Nghị Quyết 15 và 21 kể trên có kéo dài theo vài tháng, một hai năm vẫn phải thực hiện cho đúng tinh thần và nội dung nghị quyết trung ương đảng đã đề ra. Mấy ai nơi Miền Nam, ở Dinh Độc Lập, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sàigòn có một lần để mắt tới những hàng chữ trong hai nghị quyết 15 và 21.

Nay, qua hơn nửa thế kỷ, Nghị quyết số 23-NQ/TW ban hành Ngày 2/8/2026 mục tiêu chiến lược của Đảng CSVN cũng không có gì khác – Khácchăng,  Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ấn ký ban hành nghị quyết cốt để chỉ đạo công tác người Việt Nam ở nước ngoài thay thế con đường bạo lực cách mạng chống Mỹ cứu nước của hai Nghị Quyết 15 và 21 thượng dẫn, và sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, 26/3/2004. Phải, mục tiêu của nghị quyết trung ương đảng CSVN trước sau chỉ là vậy, cũng bởi nghị quyết trung ương đảng CHỈ để (áp dụng) cho đảng viên cộng sản VN mà thành phần gọi là “Người Việt Nam ở nước ngoài” chỉ là ĐỐI TƯỢNG CÔNG TÁC. Coi chừng, NQ 23 nầy thật sự nhắm tới du học sinh, lực lượng xuất khẩu lao động, kết hôn với ngoại kiều, đi du lịch (không chịu về nước). Thành phần gọi là “bọn phản động tay sai Mỹ Ngụy, phản bội tổ quốc, trốn ra khỏi nướcsau 30/4/1975”, tiếp biến thành “Khúc ruột ngàn dặm/Bộ phận không thể tách rời của Đại Gia Đình Dân Tộc Việt Nam” không ăn nhằm gì với nghị quyết trung ương đảng nầy. Cứ thử về VN như “Việt kiều yêu nước” Trần Trường thì biết ngay.

Kết từ:

Bậu thân,

Tự nhiên tôi với bậu dính vô câu chuyện trời ơi mà thật lòng hoàn toàn không muốn! Nhưng do bậu đã trãi lòng cầu mong cái nghị quyết mà TBT Lâm ấn ký trở thành khúc quành của một dòng sông định mệnh tốt lành cho Người Việt Hải Ngoại quay về. Không những viết bài văn mà bậu còn làm những lời thơ thắm thiết… Tôi muốn viết…Tôi viết vì tin rằng dân tộc sẽ có ngày vinh quang… Tôi sẽ về như một đứa con của Mẹ… Bởi vì tôi đang nghe tiếng gọi. Tiếng gọi của Mẹ quê hương. Đến đây, tôi cần nhắc lại lá thư Email gởi bậu Ngày 11 Tháng 8:”.. Bậu với tôi bằng tuổi, dân Miền Nam dưới Vĩ Tuyến 17, cùng viết báo, làm văn… bậu “bảnh” hơn tôi nhiều điều… Nhưng chắc chắn bậu KHÔNG THẤM ĐAU BỞI ĐÒN CS nên (tôi) có kết luận: TÔI KHÔNG NGHE RA ĐIỀU GÌ CẢ TỪ MỘT NHÂN SỰ TÊN GỌI LÀ TÔ LÂM. KHÔNG BAO GIỜ. 

Vâng, tôi đã viết như thế và thư nầy tôi muốn nhắc lại thêm một lần: Nhân sự gọi là TBT/T.Lâm và Bộ Chính Trị của ĐCSVN nơi Hà Nội là người và tổ chức đã biến danh, biến tính Sài Gòn thành một thành phố biển với Vũng Tàu; Thành Phố Cao Nguyên Ban Mê Thuột/Tỉnh Daklack thành tỉnh miền biển Phú Yên; ủi sạch ngoại ô văn hóa lịch sử ngàn năm của Thăng Long/Hà Nội để xây “đô thị văn minh”… Nhân sự BCT/ĐCSVN điễn hình với Cựu thủ tướng Phạm Minh Chính, Bộ trưởng công an Tô Lâm trong lần viếng thăm Mỹ (5/2022) đã có lời chân thật: “Mẹ…Đếch sợ!!” Vâng, họ đã nói rõ như thế tại hành lang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ! Thế nên, khi đọc bài viết, lời thơ cầu mong tha thiết trở về quê hương của bậu họ cũng sẽ nói: ”… Mẹ… Ông đếch cần chúng về hay không về!”. Tôi không khôi hài, tiếu lâm hóa một vấn đề chính trị tâm lý nghiệm trọng (Về/Không về), cũng không thông tục hóa lời nói, thái độ chính trị của thành phần lãnh đạo cấp cao (nhất) của ĐCSVN, nhưng do tôi đã là chứng nhân, nạn nhân, ngoại (thứ) dân của chế độ CS từ 1950, 1960, 1970… 1972, 1975 và tại hôm nay – Tôi thấm  đau của đòn cộng sản hơn bậu – Thật là như vậy nên không thể nói khác.

Người Lính Pnnam.

Đất Mỹ, 13/8/2026

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào thời gian này chúng tôi không thể truy ra quốc tịch các phi công lái loại chiến đấu cơ do Nga Sô chế tạo. Có nhiều lý do để tin rằng có một số “phi công chí nguyện Nga” lái phi cơ vượt biên giới để giúp đỡ Trung Hoa, nhưng chúng tôi đã thất bại trong việc nhận dạng xác phi công Nga bên cạnh các phi cơ địch bị bắn hạ. Hải quân Nhật tin tưởng mạnh mẽ rằng có một nhóm phi công “Lê dương” đã gia nhập không lực Trung Hoa. Nhóm phi công này đủ quốc tịch, lái nhiều loại phi cơ khác nhau, vì chúng tôi đụng đầu không chỉ với phi cơ Nga mà còn phi cơ Mỹ, Anh, Pháp và của vài quốc gia khác. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng các phi công Trung Hoa Dân Quốc cũng lái những phi cơ này. Có lần một phi cơ do Hoa Kỳ chế tạo rơi gần Thượng Hải, binh sĩ của chúng tôi vội vã tiến đến nơi và mang về xác của một phi công Mỹ. Giấy tờ trong xác chết đã cho biết như vậy.

Tài nghệ nghèo nàn đáng chán nản của tôi được khỏa lấp bởi việc tôi hạ được chiến đấu cơ Nga Sô Polikarpov I-16. Ngay ngày hôm sau, tôi kẻ ngay một ngôi sao xanh dương trên thân chiếc Claude mà tôi đã lái, như vậy có tất cả 6 ngôi sao. Các phi công Nhật, nhứt là các phi công mới ra trường như tôi, không thực hiện các phi vụ với cùng một phi cơ, bởi lẽ không đủ số. Cứ mỗi khi đến lượt bay, chúng tôi nhảy đại lên chiếc nào có thể sử dụng được. Ðiều này lại hỗ trợ cho các phi công thiếu kinh nghiệm, bởi lẽ phi công địch mỗi khi thấy hàng tá ngôi sao xanh, hoặc nhiều hơn nữa kẻ trên thân phi cơ của chúng tôi, hắn sẽ nể mặt ngay! Mỗi ngôi sao xanh dương là một phi cơ địch bị hạ. Cuộc chiến ở Trung Hoa là một cuộc chiến không thể tin được. Nó không bao giờ được xem là một “cuộc chiến” giữa các lực lượng của chúng tôi. Ðó chỉ là một biến cố Hoa – Nhật. Tôi phỏng đoán lúc người Mỹ tung quân vào Triều Tiên, trong khi Quốc hội của họ không tuyên chiến chánh thức, đó chỉ là một “hành động chính trị” , như chính phủ Nhật đã cảm thấy nhiều năm trước khi xảy ra cuộc xung đột hiện thời. Chúng tôi không tuyên chiến, vì vậy cuộc xung đột chỉ là một “biến cố” đối với chúng tôi. Ngay khi tình thế cho phép, chúng tôi dựng lên một chính phủ bù nhìn dưới sự lãnh đạo của Uông Tinh Vệ, công khai chống đối với Quốc Dân Ðảng của Thống chế Tưởng Giới Thạch. Tuy nhiên, viễn ảnh ngại nhất của cuộc chiến là sự xung đột ác liệt trong xứ giữa các lực lượng Tưởng và Cộng Sản Mao. Cộng Sản Trung Hoa lợi dụng mọi cơ hội chận đánh lực lượng Trung Hoa Quốc Gia khi bị quân chúng tôi đẩy lui.

Các lực lượng trên bộ và trên không của Nhật Bản ở Trung Hoa thường phải đối đầu với chiến thuật biển người. Hàng nhiều đạo quân với cả triệu binh sĩ Tàu cố gắng tràn ngập chúng tôi. Tuy cán cân quân số chênh lệch hẳn nhưng người Trung Hoa hiếm khi nắm được ưu thế, bởi vì binh sĩ của họ huấn luyện kém cỏi và trang bị nghèo nàn. Hết loạt này đến loạt khác, địch quân ùa đến các đơn vị võ trang hữu hiệu của chúng tôi, nhưng chỉ để bị đánh bật ra và rước lấy những thương vong trầm trọng. Ngay cả sự yểm trợ như thác lũ của Ðồng Minh trên phương diện tiếp tế xuyên qua Miến Ðiện, Mông Cổ, Mãn Châu, vẫn không giúp được quân của họ Tưởng hay quân Cộng sản Mao trên chân quân của chúng tôi. Các nguồn tiếp tế này tỏ ra hữu hiệu trong việc giúp họ Tưởng chạy vắt giò về Trùng Khánh, hơn là giúp ông ta tập trung một cuộc phản công xứng hợp nhằm chống lại chúng tôi. Ðúng là một cuộc chiến chỉ có một bên đánh, và tình trạng này kéo dài cho đến khi Nhật Bản đầu hàng Ðồng Minh vào tháng 8 năm 1945.

Tuy nhiên, Nhật không có ý định chinh phục, hoặc không thể chinh phục cả khối người Trung Hoa khổng lồ, và chiếm lấy lãnh thổ bao la này. Thay vào đó, lực lượng của chúng tôi chỉ chiếm lấy những thành phố then chốt tại khu vực chiến lược, cắt đứt hệ thống giao thông của địch quân và góp các sắc thuế của nhiều nông dân Trung Hoa nằm trong thẩm quyền của các lực lượng chiếm đóng Nhật Bản mà thôi. Nhưng bên ngoài các thành phố quan yếu có thành lũy bao quanh, tử thần luôn luôn chờ đợi các đơn vị Nhật Bản. Du kích của họ Tưởng, cũng như của Cộng Sản Mao, phục kích sẵn hết để chờ tiêu diệt các nhóm quân Nhật rơi vào tròng. Có nhiều viên chức Trung Hoa trong các thành phố chiếm đóng làm việc với chúng tôi. Tuy nhiên, bên ngoài họ ton hót và hợp tác rất chặt chẽ nhưng bên trong họ lại tiếp xúc với du kích quân hoạt động ở các vùng quê và miền núi. Nhiều khi các cuộc tiếp xúc như vậy lại được duy trì với sự chấp nhận của các vị chỉ huy Nhật Bản nhằm gây thuận lợi cho nhiều vấn đề cai trị trong các thành phố chiếm đóng.

Quả thật đây là một cuộc chiến kỳ lạ. Nhiều lần thực hiện các phi vụ yểm trợ bộ binh, quang cảnh phía dưới đã làm cho tôi kinh ngạc. Tôi thấy các nông dân Trung Hoa cắm cúi làm ruộng, không để ý đến các trận đánh xáp lá cà hoặc khai hoả vào nhau giữa quân Hoa – Nhật cách đó không đầy 2 cây số. Nhiều lần tôi cũng bay sà trên đường phố của các thị trấn có tường lũy xung quanh đang bị chúng tôi bao vây và pháo kích. Những dãy hiệu buôn dọc theo đường phố vẫn hoạt động, mua bán như thường lệ, mặc dù máu của quân phòng thủ Trung Hoa vung vãi trên mặt đường.

Tuy nhiên, nhiệm vụ ở Trung Hoa không có gì gay go, nếu không nói là đáng chán, đối với các đơn vị không quân Nhật. Hiển nhiên, ưu thế trên không nghiêng hẳn về phía chúng tôi. 16 tháng sau khi tôi đến Cửu Giang (Kiukiang), lực lượng bộ binh của chúng tôi tiến sâu vô lãnh thổ địch quân, đánh chiếm Hán Khẩu (Hankou) dễ dàng và chúng tôi dời đến phi trường ở đây. Lúc bấy giờ báo chí có loan tải vụ tôi hạ được chiếc chiến đấu cơ I-16 của Nga Sô. Má tôi có gởi cho tôi một bức thơ với lời lẽ tràn đầy hãnh diện. Ðiều làm tôi thích thú nhứt là bức thư của Hatsuyo Hirokawa, con gái của chú tôi, hiện thời đã 16 tuổi. Nàng viết cho tôi: “Ba em vừa được bổ nhiệm vào chức Giám đốc Chánh sở Bưu điện ở Shikoku. Em đang theo học trường nữ trung học Tokushima, và anh có thể tưởng tượng được không, là đã có sự thay đổi lớn lao nhường nào giữa Ðông Kinh với Shikoku. Bức thơ hôm trước của anh đã khiến em cực sung sướng và xúc động, và đã làm cho tất cả các bạn em trong lớp đều thích thú. Mỗi ngày tụi em đều chúi mũi trên báo để dò thêm tin tức của anh. Chúng em không muốn bỏ sót tin tức nào về chiến công của anh ở Trung Hoa. Bỗng nhiên, Saburo, em muốn giới thiệu với anh cô bạn thân nhứt của em ở Tokushima, tên là Mikiko Niori. Mikiko đẹp nhứt lớp của em, và cũng học giỏi “số dách”. Ba cô ta dạy học ở đại học Kobe. Trong số mấy cô được em cho coi qua thơ của anh, Mikiko tỏ vẻ thích anh nhứt. Nàng năn nỉ em giới thiệu anh cho nàng đó!”

Thơ có gởi kèm bức hình chụp chung của Hatsuyo và một lá thơ của cô gái mà tôi chưa từng gặp mặt. Cô ta đẹp, đúng như lời Hatsuyo đã nói, và những lời cô ta mô tả về thành phố và gia đình cô ta khiến tôi khoái chí.

Mấy bức thơ gây phấn chấn tinh thần của tôi vô cùng, làm tôi không ngớt ca hát. Tôi nhớ rõ cái ngày vui sướng tột độ ấy, ngày 3 tháng 10 năm 1939, tôi vừa đọc thơ vừa lau chùi mấy khẩu đại liên trên chiếc chiến đấu cơ của mình. Mọi người ở phi trường được nghỉ xả hơi. Còn gì đáng lo? Chúng tôi hầu như đã quét sạch bọn phi công quốc tế và Trung Hoa trong mỗi cuộc đụng độ.

Nhưng không khí an ổn thình lình bị phá vỡ. Còi báo động trên đài kiểm soát hụ vang. Ngay lúc đó, một loạt tiếng gầm thét lướt đến và mặt đất rung chuyển với những làn sóng bom đinh tai nhức óc. Có ai đó thét lớn một cách không cần thiết: “Không kích!”. Không có thời giờ để chạy vô hầm trú ẩn. Tiếng bom nổ kéo thành dây như tiếng sấm liên tục. Khói bốc cao trên phi đạo. Tôi nghe cả tiếng miểng bom lướt vèo vèo qua không khí. Nhiều phi công khác cùng với tôi chạy ra khỏi xưởng cơ khí để chui vô hầm trú ẩn. Tôi bò dưới đất để tránh miểng bom, và sau đó chúi đầu vô giữa 2 bồn chứa nước vĩ đại. Tôi cũng khá mau chân. Một kho súng gần đó nổ tung lên, bao trùm lửa và mấy trái bom như những cây gậy chọc trên mặt đất, nện vào 2 mang tai tôi, và vít tung lên hàng bụm đất vĩ đại. Bom bỗng nhiên dứt tiếng, tôi ngóc đầu dậy để nhìn những gì xảy ra. Tai tôi tràn ngập tiếng la hét, rên rỉ. Những người nằm xung quanh tôi đều bị thương trầm trọng, và khi tôi bắt đầu bò đến 1 phi công nằm gần nhất, tôi nghe ở bắp đùi và mông tôi đau nhói như dao cắt. Tôi đưa tay rờ và cảm thấy máu thấm ướt qua quần. Ðau đớn quá đỗi, nhưng cũng may vết thương không sâu. Ðầu óc choáng váng, tôi gượng đứng dậy và chạy ngược về sân bay. Tôi vừa chạy vừa ngước nhìn lên bầu trời, tôi thấy 12 oanh tạc cơ bay trong đội hình, đảo một vòng thật rộng ở độ cao ít nhất 20,000 bộ. Ðó là loại phóng pháo cơ SB Tupolev ANT-40 hai máy do Nga Sô chế tạo, oanh tạc cơ chánh của không lực Trung Hoa. Hiệu quả vượt bực của cuộc tấn cống bất thần này không thể phủ nhận được. Cho đến khi bom từ phi cơ rơi xuống và nổ tung mọi người mới biết.

Ða số 200 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của Hải quân và Lục quân Nhật đậu san sát dọc theo phi đạo Hán Khẩu đang bốc cháy. Những bựng lửa vĩ đại túa ra từ các bồn chứa xăng nổ tung, biến thành những cột khói trên không. Xăng từ các phi cơ chưa cháy đang thoát ra ngoài qua các lỗ hổng do miểng bom xoi thủng. Lửa bén xăng cháy lan từ phi cơ này sang phi cơ khác. Các oanh tạc cơ nổ bùng như dây pháo và các chiến đấu cơ lóe sáng như diêm quẹt. Tôi chạy quanh dãy phi cơ đang bốc cháy như điên cuồng cố tìm xem còn chiếc nào nguyên vẹn hay không. Một vài chiếc chiến đấu cơ nằm riêng rẽ thoát khỏi cuộc hủy diệt. Tôi leo lên buồng lái của một chiếc, rồ máy và cất cánh tức khắc ngay sau khi ra phi đạo.

Các oanh tạc cơ địch tăng thêm độ cao khi chiếc chiến đấu cơ Claude nhanh nhẹn hơn của tôi đuổi theo ráo riết. 20 phút sau khi cất cánh, hầu như tôi bắt kịp đối phương. Một mình trên không, nhưng tôi không để ý đến điều này. Tôi cũng biết rằng chiến đấu cơ của tôi trang bị yếu, sự đe dọa không đủ trầm trọng đối với 12 oanh tạc cơ địch. Phía dưới tôi là thành phố Nghi Xương (Ichang Shi) nằm cạnh bờ sông Dương Tử, vẫn còn nằm trong tay quân phòng ngự Trung Hoa. Bị bắn hạ ở đây, cho dù thoát chết khi rơi xuống, nhưng không thể nào thoát chết trong tay binh sĩ của họ Tưởng. Nhưng tôi phải tấn công, không thể trì hoãn.

Tôi bay sát đến từ phía sau và ở phía dưới dãy phi cơ địch đang lướt đi. Súng địch khai hoả, nhưng không trúng tôi. Tôi tiến sát hơn nữa, và tập trung hỏa lực vào chiếc oanh tạc cơ bên trái. Khi bay lảng ra và vượt lên trên tôi nhìn thấy khói từ phi cơ địch túa ra. Chiếc oanh tạc cơ rơi khỏi đội hình, bắt đầu mất hướng khi tôi đảo lại và sắp bổ nhào xuống vồ thêm một cú ân huệ. Nhưng tôi bỏ dở lợi thế. Ngay khi đẩy cần điều khiển, tôi nhớ lại Nghi Xương nằm cách phía Tây Hán Khẩu ít nhất là 150 dặm. Nếu tôi truy đuổi chiếc oanh tạc cơ què quặt thêm nữa, tôi sẽ không đủ xăng để quay về căn cứ, và như vậy nghĩa là tôi bắt buộc đáp xuống đất địch. Sự liều lĩnh chống lại một nhóm địch quân vượt trội khác hẳn với sự liều mạng. Tiếp tục tấn công là tự sát, hành động này không thể gọi là can đảm. Tôi quay về căn cứ. Dĩ nhiên tôi không biết chiếc oanh tạc cơ địch có về đến phi trường của nó được hay không. Trở lại Hán Khẩu, sự hủy diệt chỉ do 12 chiếc oanh tạc cơ địch gây ra khủng khiếp không thể tưởng. Hầu hết phi cơ của chúng tôi tan tành. Vị chỉ huy trưởng căn cứ mất cánh tay trái, nhiều sĩ quan cũng như phi công và nhân viên bảo trì lớp chết lớp què quặt. Tôi đã quên mấy vết thương của tôi, nhiệt độ của cuộc truy đuổi và sự căng thẳng của trận chiến làm cho cơn đau tạm thời biến mất. Leo xuống và rời khỏi phi cơ một vài bước, tôi ngã quỵ trên phi đạo.

Các vết thương lành lặn một cách chậm chạp. Một tuần lễ sau, trong khi vẫn còn nằm trong bệnh viện, tôi nhận được thơ của Hatsuyo, với những tin tức còn tàn phá hơn cuộc oanh tạc vừa qua. Hatsuyo viết: “Em rất buồn khổ khi phải viết thơ này, nó chứa đựng một tin tràn ngập đớn đau cho anh. Mikiko, người bạn thân thiết nhất của em, chết thình lình trong một tai nạn lưu thông vào ngày 3 tháng 10. Em không biết nói gì với anh nữa, Saburo. Em rối loạn và đau đớn. Em tức giận Thượng đế. Tại sao, tại sao một người toàn vẹn như Mikiko lại phải chết tức tưởi lúc mới 16 tuổi, trong hoàn toàn ngây thơ vô tội? Em đã tự oán ghét mình khi báo tin này cho anh, một trong những phi công đang chiến đấu cho quê hương. Nhưng không còn ai khác để em kể lể ngoài anh…”.

Bức thơ của Hatsuyo còn kèm theo mấy giòng do má của Mikiko viết: “Con Mikiko bất hạnh ngày ngày thường nói về anh với gia đình chúng tôi. Sau khi gởi thơ cho anh, nó nôn nóng trông chờ phúc đáp. Nhưng thơ của anh chỉ đến vào ngày cử hành tang lễ của nó. Ôi! nếu nó được đọc thơ của anh trước thì vui vẻ biết bao! Tại sao đấng toàn năng mang nó đi sớm như vậy? Tôi không hiểu nổi. Tôi đã kêu gào nhiều ngày. Tôi muốn anh biết rằng bức thơ của anh đã được đặt trong áo quan của con gái tôi, và bức thơ sẽ theo nó về trời. Xin anh nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của chồng tôi, và của chính tôi về những giòng chữ mà anh đã viết cho con tôi. Hiện tại, chúng tôi cầu nguyện linh hồn của Mikiko sẽ che chở anh trên không trung, trước lằn tên mũi đạn của quân thù.”

Ðầu óc tôi trống rỗng. Tôi choáng váng và hụt hẫng. Nhiều giờ, sau khi nằm trên giường, tôi viết một bức thơ dài cho má của Mikiko để chia buồn với bà. Trong thơ tôi gởi kèm một số tiền để góp vào việc xây mộ cho nàng, hành động này theo đúng với tập tục của tổ tiên chúng tôi. Trải qua nhiều ngày, lòng nhớ quê hương của tôi trổi lên mạnh mẽ, tôi mong muốn gặp lại gia đình, má tôi và các anh chị tôi. Niềm mong ước này chờ đợi không mấy lâu. Hai ngày sau tôi nhận được lịnh thuyên chuyển, chỉ thị tôi trình diện Không đoàn Omura, căn cứ không quân gần nhà tôi nhứt. Viên đại úy phòng nhân viên, mặt mày lạnh lùng với hai gò má cứng như đục trong đá, cảnh cáo: “Vì lý do an ninh, khi về Nhật anh không được kể với ai về thảm họa vừa xảy ra. Anh hiểu chớ?”

“Dạ, thưa đại úy vì lý do an ninh, tôi sẽ không kể lại với ai về thảm hoạ vừa xảy ra.”

Tôi đáp rồi chào và bước ra sân bay, leo lên một vận tải cơ sẽ mang tôi về quê nhà.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

– “Mời bạn hãy vào.

Cửa vườn tôi đã mở sau 5 năm trời khép kín.

Vườn của tôi sau khoảng thời gian giam cầm trong SUY NGHĨ, trong DẰN VẶT, trong GIẬN HỜN để tìm những cánh màu của tâm tư chắp nối lại và thêu dệt bằng TIN TƯỞNG, tạo thành một thế giới của HÌNH THỂ, của SẮC MÀU, qua bức tường vách ngăn của LÝ TRÍ và RUNG ÐỘNG…” (Tạ Tỵ – 8-8-1956)

Đó là những hàng chữ mở đầu tập sách giới thiệu về triển lãm Tạ Tỵ 1950-56 tại Sài Gòn tôi vừa tìm lại được. Tôi muốn mượn chữ nghĩa của anh để nói về anh như một khu vườn đầy kỳ hoa dị thảo vừa khép lại. Nó khép lại với anh, nhưng hương sắc của nó sẽ còn mãi mãi với thời gian, với con người. Nó chỉ có nghĩa là từ nay sẽ không còn bông hoa nào tỏa thêm sắc hương nào nữa.

Nói về Tạ Tỵ, người yêu nghệ thuật hội họa không xa lạ gì tên tuổi ấy trong nửa thế kỷ qua. Anh không chỉ là một họa sĩ mà còn viết văn, làm thơ. Nhưng tôi không gọi anh là nhà văn hay nhà thơ, bởi sự nghiệp vẽ tranh của anh lấn át hết những tài năng khác. Con người anh, tôi vẫn nhìn nguyên vẹn là một họa sĩ. Một họa sĩ rất hiếm hoi trong làng nghệ thuật hội họa Việt Nam. Tự anh đã đứng vững sừng sững với màu sắc, hình khối và tâmlinh. Nhìn tranh của anh, không thể lẫn với bất cứ tranh của một tác giả nào khác không chỉ ở Việt Nam mà với cả thế giới bên ngoài. Thời kỳ đầu mới vào nghề anh từng vẽ sơn mài, nhưng vài năm sau anh vẽ sơn dầu và có người xếp anh vào trường phái “lập thể”, cũng có người cho rằng anh thuộc trường phái “trừu tượng”. Nhưng dù trường phái nào, tranh của anh chỉ thoạt nhìn đã thấy vững vàng, khỏe mạnh, đặc sắc, riêng biệt mà chỉ có thể thấy ở Tạ Tỵ. Ðó là cái nhìn rất thường tình của một người yêu và kính phục tài năng của anh như tôi.

Vài Hàng Tiểu Sử

Vì thế ở đây tôi không nhắc lại chi tiết phần tiểu sử cùng những tác phẩm dù là trong văn chương hay hội họa của anh. Tôi chỉ xin tóm tắt rất ngắn gọn: Anh tên thật là Tạ Văn Tỵ, sinh ngày 3-5-1921, tức ngày 26 tháng 3 năm Tân Dậu tại Hà Nội. Về điểm này có nhiều nguồn tin cho rằng anh sinh năm 1922, nhưng tôi đã kiểm chứng lại với các con anh, được biết trong giấy khai sinh của anh khai muộn mất một năm, đó cũng là chuyện thường thấy ở những vùng quê hay “thói tục” ngày xưa của các cụ nhà ta, mừng sinh con mà quên làm giấy khai sinh hoặc vì thấy cũng chẳng quan trọng gì nên để đó “bao giờ tiện thì làm cũng được”. Nên chính anh đã nói đúng năm sinh của mình và đã tính thành ngày giờ Âm lịch.

Anh tạ thế lúc 10 giờ sáng 24-8-2004, tức ngày Thứ Ba, mùng 9 tháng 7 năm Giáp Thân tại nhà riêng số 18/8 đường Phan Văn Trị, Q.5, Sài Gòn. Thọ 84 tuổi.

Anh động viên Khóa 3, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, sau đó phục vụ hầu hết tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực VNCH. Anh giải ngũ trước năm 1975, nhưng năm 1975 anh vẫn bị gọi đi “cải tạo.” Khi trở về Sài Gòn, anh vượt biên, định cư tại Hoa Kỳ. Trong thời gian ở nước ngoài, anh tiếp tục sáng tác.

Năm 2003, sau khi vợ anh qua đời tại Mỹ, anh trở nên buồn chán và trở về Sài Gòn sống với người con gái út của anh vẫn còn ở lại Sài Gòn từ sau năm 1975 đến nay trong căn nhà trước kia anh cùng gia đình đã sống.

Những Ngày Tháng 8 Định Mệnh

Cuộc triển lãm năm 1956 của Tạ Tỵ cũng vào tháng 8-1956 tại Sài Gòn. Ðó là lần đầu tiên, tôi được dự triển lãm của anh và là thời kỳ tôi mới quen anh khi bắt đầu về Nha Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Quốc Phòng, hồi đó vừa được chuyển từ Nha Tác Ðộng Tinh Thần ở đường Gia Long về đường Thống Nhất. Cơ sở còn chật chội, chỉ có một dãy nhà trệt, chia ra hai dãy chính và vài căn nhà phụ nhỏ hẹp. Nha Chiến Tranh Tâm Lý cũng chỉ có vài Sở chia ra hơn 10 phòng và nhân viên chỉ có năm bảy chục người, kể cả “quan” và “lính”.

Tôi về ban Báo Chí làm việc cùng với Huy Sơn, Tô Kiều Ngân, Phy Phy tục gọi là Phi chọi, Lý Quảng, Viêm Hồng… trong hai tòa soạn báo Phụng Sự và Quân Ðội sau đổi thành bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa. Vài năm sau có thêm Huy Vân, Tường Linh…

Lúc đó Tạ Tỵ là trưởng phòng Hội Họa, mang cấp trung úy, nhưng so về tuổi tác và “thâm niên”, anh hơn tôi đúng một giáp – 12 năm – và ra khóa trước, nên tôi vẫn coi anh như đàn anh, cả trong nghề nghiệp và đời thường.

Cũng đến những ngày cuối tháng 8-2003, tôi được tin anh về Việt Nam và đang nằm ở bệnh viện của Ðại Học Y Dược thành phố. Tôi và Phan Nghị đến thăm anh.

Vừa gặp tôi, anh nhận ra ngay, nhưng Phan Nghị phải xưng tên anh mới nhận ra được.

Những giọt nước mắt của anh chảy dài.

Có thể nói anh là người rất “mau nước mắt”.

Còn nhớ vào năm 1970, khi anh được lệnh giải ngũ, chúng tôi làm một tiệc trà tiễn anh rời quân ngũ, khi nói vài lời giã biệt, nước mắt anh cũng chảy dài như thế.

Và đến ngày 24-8 năm nay, anh cũng bỏ chúng tôi để vĩnh viễn ra đi. Phải chăng đó là những ngày cuối tháng 8 của định mệnh?

Hai Con Người Trong Một

Vào những năm 1956-1964, hàng ngày chúng tôi ở quá gần nhau nên thường xuyên gặp mặt, liên hệ công tác về hai tờ báo quân đội mà anh là người vẽ minh họa, gần như phụ trách phần trình bày cả hai tờ báo.

Nhưng về cách sinh hoạt thì anh ít có dịp đi chung cùng với anh em. Những buổi sáng khi chúng tôi rủ nhau đi ăn bánh cuốn hoặc ra ngồi ở Givral cà phê thì anh chững chạc bên bàn làm việc.

Ngay cả những chiều Thứ Bảy, Huy Sơn, Nguyễn Ái Lữ thường rủ tôi đi ăn, đi nhảy cũng chẳng bao giờ “dám” rủ anh Tạ Tỵ, vì anh sống rất mẫu mực.

Hồi đó sở chúng tôi còn có các “chánh sở” như anh Phạm Xuân Ninh, Phạm Văn Sơn và Nguyễn Xuân Vinh tức nhà văn Toàn Phong mới du học ở Mỹ về cũng “tá túc” ở đó một thời gian ngắn trước khi về làm Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân. Bên Đài phát thanh Quân Đội có Vũ Quang Ninh, Vũ Ðức Vinh tức nhà văn Huy Quang và những ca nhạc sĩ như Ðan Thọ, Nhật Bằng, Văn Phụng, Canh Thân, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Vũ Huyến, Hoàng Hải… Tất cả hợp thành một khối, “chung sống hòa bình” và thân thiện.

Tạ Tỵ có lối sống riêng, nghiêm khắc với chính mình và cả những người xung quanh. Từ gia đình đến công sở, cái gì cũng phải ngăn nắp, sạch bóng từ chiếc xe đến bàn giấy. Việc gì cũng phải trọn vẹn từ đầu đến cuối, cẩn thận từng chi tiết theo đúng ý anh không được sai sót. Anh có nguyên tắc sống và làm việc của mình cùng thực hiện những nguyên tắc chung cũng như thế.

Nếu không hiểu anh chắc chắn có những nhân viên cảm thấy khó chịu.

Ðối với bạn bè, sự thân thiết cũng ở mức độ nào đó. Dường như sau công việc ở sở, mọi suy nghĩ và thì giờ của anh đều dành cho hội họa.

Việc viết lách làm thơ chỉ là sau những ngày giờ nhàn rỗi, cảm thấy hài lòng khi đã hoàn thành những tác phẩm hội họa. Tuy vậy anh cũng có những tác phẩm văn thơ xuất sắc, riêng tôi nhớ nhất bài thơ Thương Về Năm Cửa Ô Xưa đã phổ nhạc, một thời lừng lẫy trên các đài phát thanh và đại nhạc hội.

Tạ Tỵ có hai tính cách hoàn toàn khác biệt trong một con người. Một con người chi ly, cẩn trọng, tiết kiệm từng chút thì giờ, quý từng món đồ dùng thường ngày và áp dụng nguyên tắc luật lệ như một cỗ máy. Một con người phóng túng trong màu sắc và bay bổng với những nét bút tài hoa trong từng bức tranh.

Con người gần như khép kín ấy lại chan hòa tình yêu thương trong nghệ thuật như “tình yêu thương giữa con người với con người” mà anh đã mở lòng trong “Triển lãm Tạ Tỵ 1950-56”.

Tôi đã nhìn anh như thế suốt những ngày tháng tôi được hân hạnh quen anh và sống gần anh. Cứ cho là hơn mười năm, tôi quen anh, chỉ có vài lần cùng đi ăn với anh. Lần anh thăng chức đại úy, tôi không nhớ rõ vào năm nào, có lẽ là năm 1961-1962 gì đó, anh ôm vai tôi đưa xuống câu lạc bộ khao một chầu ăn sáng.

Và nếu tôi nhớ không lầm một lần Cao Tiêu, Phan Lạc Phúc và tôi được anh mời đến nhà ăn cơm. Ðó là sự “đãi ngộ” rất đặc biệt dành cho những người bạn mà anh thân quý. Một lần khác sau cuộc triển lãm anh đưa tôi và vài người bạn nữa vào ăn chim bồ câu quay ở nhà hàng gọi là “nhà hàng ga xe lửa cũ” trong Chợ Lớn.

Các điều đó chứng minh anh rất ít hoang phí thì giờ vào những cuộc ăn chơi. Khó lòng rủ được anh đi phòng trà nghe nhạc chứ đừng nói đến chuyện ăn chơi vô ích khác.

Chị Tạ Tỵ lại là một mẫu người đàn bà chịu đựng rất giỏi, hết lòng vì chồng con. Tôi chưa từng thấy chị đi cùng anh đến bất cứ nơi nào có hội hè đình đám. Có lần anh nói với tôi, chẳng hiểu anh nói chơi hay nói thật: “Bà ấy chỉ may có hai cái áo dài nên không thiết đi đâu hết”.

Tạ Tỵ cũng là một mẫu nghệ sĩ rất chung thủy.

Tôi chưa từng thấy anh có tình ý với bất kỳ phụ nữ nào khác, mặc dầu bên cạnh anh không thiếu những “nữ độc giả” trẻ đẹp coi anh là thần tượng.

Và trong những câu chuyện phiếm cũng rất ít khi nghe anh nói về “đàn bà”.

Con người Tạ Tỵ là như thế.

Những Ngày Cuối Cùng Của Tạ Tỵ Ở Sài Gòn

Sau gần ba mươi năm xa cách, một ngày cuối tháng 8 năm ngoái, 2003, tôi được tin anh từ Mỹ trở về Sài Gòn và có ý định ở hẳn lại đây.

Tôi chưa tin hẳn, khi điện thoại tới nhà mới biết anh hiện nằm trong bệnh viện. Tôi rủ Phan Nghị tới thăm.

Không ngờ đến hôm nay, tháng 8-2004, thì cả hai anh bạn tôi đã ra đi. Tôi có cảm tưởng như “họ” đã bỏ tôi lại một mình.

Phan Nghị kém Tạ Tỵ 4 tuổi nhưng “đi” trước hai tháng, Tạ Tỵ đi sau và cuối cùng gặp nhau ở Bình Hưng Hòa. Lúc ở bệnh viện, Tạ Tỵ bày tỏ ý định thật của mình sẽ ở lại Sài Gòn và hỏi chúng tôi: “Ở đây sống thế nào?”

Phan Nghị cười: “Người ta sống được thì mình cũng sống được, chấp nhận một số điều kiện, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn”. Một thời gian ngắn, sau khi ở bệnh viện ra, Tạ Tỵ gọi điện thoại cho tôi hỏi chỗ nào bán màu và bút vẽ chuyên nghiệp. Tôi rất mừng, hy vọng anh đã có thể làm việc lại được. Anh nói còn một vài bức tranh để lại nhà, màu đã phai và xuống sắc hết rồi, phải làm lại.

Tôi đi tìm chỗ bán đồ dùng cho những họa sĩ chuyên nghiệp. Biết tính anh cẩn thận nên đến tiệm rồi, tôi điện thoại về nhà hỏi từng thứ màu, từng loại bút anh cần. Khi tôi mang dụng cụ đến, mắt anh sáng rỡ và gật gù: “Để đó cho tớ, khi nào hứng, tớ bắt đầu”.

Gần một tháng sau, tôi đến anh vẫn không nói gì đến chuyện sửa các bức tranh mà hỏi tôi: “Bức caricature tôi vẽ cho cậu hồi xưa còn không?”.

Tôi lắc đầu: “Đến vợ con nhà cửa còn mất, tôi chẳng còn cái gì cả”.

Anh nhỏm dậy khó nhọc, vận quần áo đàng hoàng kéo tôi ra nhà ngoài, nhờ bác Tư – người săn sóc anh từ ngày anh về cho đến ngày anh ra đi – chuẩn bị giấy và bút chì.

Anh ngồi ngắm tôi rồi bắt đầu vẽ. Nhưng tôi nhận thấy rất rõ sự chậm chạp trong tư thế và nét vẽ của anh. Nó khác hẳn với dáng vẻ phóng túng, nhanh nhẹn của anh vào năm 1957 khi anh vẽ cho tôi lần thứ nhất. Lần đó chỉ trong vài phút tôi đã thấy nét tài hoa rất Tạ Tỵ trên tờ giấy trước mặt. Trong Phụng Sự, đặc san văn nghệ ra đời năm

1957, anh vẽ cho hàng chục anh em như Phạm Văn Sơn, Diên Nghị, Mạc Ly Châu, Huy Sơn… Mỗi bức vẽ của anh như một giây phút vui chơi, hứng thú, song với tôi đó là một sáng tạo nghệ thuật. Có thể nhận định khó có ai sánh kịp với Tạ Tỵ về lối vẽ chân dung.

Nhưng bây giờ cái nhìn của anh chắc cũng khác đi và bàn tay đã không đi theo ý anh nữa. Một chút bùi ngùi xúc động dâng ngập khi tôi nhìn nét vẽ của anh trong những ngày tháng sau cùng này. Chính anh cũng không bằng lòng với mình nên ngay khi đó anh vẽ cho tôi bức caricature thứ hai. Anh ngắm nhìn rồi buông bút không nói lời nào. Làm sao mà hiểu hết được những gì anh đang nghĩ. Làm sao mà nói hết được những ẩn chứa sắc như dao trong lòng một người nghệ sĩ khi tuổi tác làm cho tài năng không phát huy hết được tinh hoa của mình.

Tôi nghĩ đó là bức vẽ caricature cuối cùng của anh.

Một Ước Mơ Không Thực Hiện Được

Có lẽ chính vì thế nên dự định làm lại những bức tranh treo trong nhà của anh cũng không bao giờ thực hiện. Bệnh già càng làm anh suy yếu thêm. Những lần sau này tôi đến thăm, anh không nói về chuyện hội họa mà nói về những cuốn sách anh đang đọc, anh đọc rất nhiều như một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hiện tại.

Anh nói về cuộc sống ở Mỹ và những người bạn ở đó. Nhận xét của anh chín chắn, rất rõ ràng về từng con người, từng sự việc. Anh cởi mở hơn xưa nhiều và bằng lòng với đời sống hiện nay tại Sài Gòn.

Có lần anh nói với tôi: “Ở Mỹ, tớ chưa bao giờ được sống trong một căn phòng như thế này”.

Tôi cho là anh nhún mình hoặc quá bằng lòng với những gì anh đang có. Người con gái út của anh đã chăm sóc anh hết lòng, thuê hẳn một người giúp việc cho bố ngày cũng như đêm. Anh sống trên lầu ba trong hai căn phòng rất đầy đủ tiện nghi. Một bên là phòng ngủ, một bên là phòng làm việc và tiếp khách. Bác Tư là người đã săn sóc anh suốt một năm cuối trong đời.

Chỉ tiếc cho một ước mơ cuối cùng của anh không bao giờ thực hiện được. Những bức tranh cũ vẫn nằm trên tường, vàng vọt theo ngày tháng.

Anh là người rất kén ăn, không ăn thịt heo, thịt gà và cả thịt bò. Anh chỉ ăn chim bồ câu, sau này không ăn quay được thì nấu cháo nhừ, và cua lột, tôm hấp.

Hai tháng cuối cùng anh bị té từ trên giường xuống sàn nhà. Từ đó anh không đi lại được nữa và sức khỏe của anh suy sụp nhanh hơn. (Ảnh: Ông Ngoại Tạ Tỵ bên các cháu, 5 ngày trước khi vĩnh viễn ra đi)

Mới Thứ Sáu tuần trước đây thôi, 20-8-2004, anh còn điện thoại cho tôi hỏi thăm về nhà cửa và cảm ơn về chuyện tôi cho người mang cháo sang cho anh. Anh đòi cảm ơn “bà xã cậu chứ không phải cậu”.

Anh rất cẩn thận, mỗi lần mang cho anh tô canh anh cũng phải cảm ơn bằng được người đã đích thân nấu canh cho anh và dặn người nhà nhớ mang trả lại cái cà men nhựa. Cho anh mượn cuốn sách, anh xem xong gọi tôi sang nói chuyện về cuốn sách đó và gói ghém rất đàng hoàng đưa trả tận tay.

Lúc này anh rất mong được gặp bất cứ ai trong số những người quen cũ.

Nhưng hai hôm sau cùng thì anh nói gì trong điện thoại tôi nghe không rõ nữa.

Bác Tư phải “thông ngôn” lại tôi mới hiểu anh nói gì. Nhà tôi sang nhà anh rất gần chỉ cách có một cái ngã tư. Anh hứa hôm nào khỏe sẽ sang nhà tôi ngồi ăn cơm với các bạn bè cũ. Nhưng rồi chẳng bao giờ anh sang được.

Mười Phút Trước Khi Anh Ra Đi

Ðúng 6 giờ sáng ngày Thứ Ba 24-8 vừa qua, người điện thoại báo tin cho tôi anh Tạ Tỵ mất lại là Phan Diên từ Mỹ gọi về. Tôi bàng hoàng trước nguồn tin này vì không lẽ anh mất mà người nhà anh không cho tôi biết?

Tôi vội báo tin cho vài người bạn rồi phóng sang nhà anh. Lúc đó các con từ Mỹ đã về Việt Nam đầy đủ.

Nhưng anh vẫn nằm đó thở bằng bình oxy, không biết gì nữa. Chiếc máy laptop để bên đầu giường rỉ rả những câu chuyện cũ.

Hoàng Song Liêm, Nguyễn Quốc Thái rồi vợ chồng Ðằng Giao cũng đã có mặt. Lúc đó gia đình anh cũng đã lo mọi chuyện lễ tang chỉ chờ giờ phút anh ra đi mà thôi. Chúng tôi đến bên anh, ai cũng biết đó là lúc cầm tay anh và nhìn anh lần cuối.

Tôi ra về, điện thoại sang Mỹ báo tin lại cho các anh Thái Thủy, Vũ Ðức Vinh, Phan Diên về nguồn tin ở Mỹ chưa đúng hoàn toàn.

Nhưng chỉ mười phút sau đó, gia đình anh cho tôi biết đúng 10 giờ sáng anh đã ra đi. Tôi lại phải điện thoại báo tin cho các bạn ở nước ngoài.

Theo như dự định gia đình anh sẽ quàn anh một ngày tại chùa Xá Lợi, sau đó quàn linh cữu anh ở nhà. Hôm sau, hầu hết bạn bè anh còn ở lại Sài Gòn đều có mặt. Trong số hàng trăm vòng hoa của thân hữu ở Việt Nam, tôi thấy có vòng hoa của Ðinh Cường từ Virginia đưa đến và một vòng hoa của Hội Nghệ Thuật thành phố Sài Gòn.

Đến 9 giờ sáng ngày 26-8 đưa anh đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.

Buổi đưa tiễn anh có rất nhiều những khuôn mặt thân quen của anh từ xa xưa.

Ông Mạnh Ðan râu bạc như cước, anh Lê Cao Phan cũng đã 82 tuổi rồi song còn khỏe mạnh, lớp người trên 70 như Hoàng Song Liêm và tôi hoặc kém một chút như Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Vũ Ðông Sơn… trong cái “đám” này được coi là còn “trẻ”.

Vĩnh biệt Tạ Tỵ, một họa sĩ tài hoa.

Sự ra đi của anh là một mất mát lớn lao thực sự cho làng hội họa, ở Việt Nam không dễ gì có được một nghệ sĩ rất đặc biệt như Tạ Tỵ.

(Sài Gòn 26-8-2004)

Chí Phèo mắc dịch

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

Tranh Bảo Huân

Như một người bán thuốc Sơn Ðông mãi võ, giới truyền thông thế giới suốt hai tháng nay cứ bên nầy chết, bên kia chết vì con coronavirus Wuhan nên em yêu cũng lo sốt vó vì sợ, bèn lên cái ‘phác đồ’ phòng dịch như vầy:

“Ngủ ít nhất bảy giờ một đêm. Sáng thức dậy, vươn vai, tập thể dục 30 phút.

Trước khi ngồi vô bàn ăn sáng thì rửa tay bằng xà bông.

Ăn xong dọn bàn thì dùng thuốc xịt khử trùng, đừng dùng khăn lau; lau cái nầy, lau cái nọ, lau tùm lum vi khuẩn sẽ lây lan từ bề mặt này sang bề mặt khác…”

Xách ‘đít’ leo lên xe ‘bus’ đi làm, em yêu còn dặn vói theo:

“Nhớ ngồi gần cửa sổ nhe, vì gió thổi vô mang không khí trong lành cho cái lỗ mũi của anh. Ðừng có xán lại ngồi gần em nào dù nó có đẹp cỡ người đẹp ưa cởi truồng Ngọc Trinh đi chăng nữa!”

“Em đừng lo! Mấy em Úc thấy anh da vàng mũi tẹt cứ nghĩ anh là Chú Ba, người về từ Vũ Hán, là ẻm đã ngồi cách anh chừng ba dãy ghế lận.”

“Xong vô Sở, đừng ôm hun con nhỏ nào hết ráo. Cũng đừng bắt tay ‘bông rua’ hay cụng tay nhau như hai võ sĩ đánh bốc lúc thượng đài. Vì bắt tay có nguy cơ lan truyền vi khuẩn gấp 10 lần so với cụng tay nhau. Bắt chưn thì được!”

Chiều về gặp lại em yêu, tui bèn cúi chào con vợ mình theo kiểu Nhựt Hoàng vừa lịch sự; vừa giữ vệ sinh cho em.

Bữa tối, em dọn ra toàn là rau rác, may mà còn được một dĩa thịt bò ‘beefsteak’ để ăn bằng dao nĩa. Em yêu hùng hồn tuyên bố:

“Cho tới hết mùa dịch (vật) nầy, nhà mình sẽ ăn theo kiểu Tây, không dùng đũa muỗng thọc tùm lum vô tô canh rồi húp rột rột như trước nữa!”

Em yêu còn dặn thêm lúc đi làm về anh đừng có vác cái mặt buồn xo, buồn nào hơn hôm nay, trong mùa ôn dịch nầy vì cái mặt hãm tài nầy gây lo lắng cho em nhiều hơn con ‘coronavirus’ thực sự.

Thứ Bảy rồi, em kêu tui đi chích ngừa để tránh nhầm lẫn cúm theo mùa với con COVID-19.

Ông bác sĩ gia đình mang khẩu trang như người dơi, tui than phiền với ổng là:

“Tối em yêu kêu tui ngủ trên lầu đi, em có bật cái máy tạo độ ẩm rồi vì vi khuẩn không thích không khí ẩm.

Em sẽ ngủ trong phòng khách dưới nhà trên ghế ‘sofa’.

Chu cha cái nầy găng nhe! Mất cái gối ôm hằng đêm thì làm sao tui ngủ cho được đây hỡi Trời?”

Thì ông bác sĩ lại binh em, nói:

“Bà cụ nói đúng quá xá đó! Mấy người bị tiểu đường, bị cao huyết áp, lại cao tuổi, sức đề kháng yếu xìu như cụ đây lỡ dính con coronavirus chưa có thuốc chữa thì dễ đi chầu ông bà ông vải lắm đó!”

Chủ Nhựt, em đi siêu thị mua kìn kìn nhu yếu phẩm đủ cho vợ chồng già ‘nhơi’ ít nhứt hai tuần lễ trong trường hợp cơn dịch bùng phát ngoài tầm kiểm soát. Tui cũng chất đầy một xe đẩy toàn là rượu đỏ.

Em yêu hỏi:

“Anh mua rượu chi mà dữ thần ôn vậy?”

“Cái nầy đâu chỉ là rượu thôi đâu mà nó còn là cồn sát trùng cái cổ họng và bao tử của anh.

Em thừa biết con vi khuẩn nầy nó tấn công vào hai buồng phổi của mình. Mà trước khi nó theo không khí đi vô thì nó phải qua cái miệng, cái lỗ mũi của anh, nó gặp chất cồn sát trùng nầy thì cha nó cũng chết!”

Ði ‘shopping’ về, chưa kịp soạn đồ ra là em yêu leo lên ‘facebook’ đọc được cái bài: ‘Dịch Thiếu Văn Hoá’. Em phùng mang trợn mắt trắng dã thấy ghê, gầm lên như Chúa Sơn lâm:

“Thằng nầy dám chửi em, chửi luôn cả người Việt mình ở hải ngoại nè anh”:

“Cha! Sao đứa nào xăm mình dữ vậy nè? Ðâu để anh đọc coi!”

Chí Phèo làng Vũ Ðại viết dại, viết dột như vầy:

“Cả ngày hôm nay tôi nhìn những hình ảnh người Việt hải ngoại đi mua đồ trữ dịch corona mà tôi thấy thật hổ thẹn.

Chen nhau, xô đẩy vì mấy két nước, mấy bao gạo cho bản thân mà quý vị để lại hình ảnh ích kỷ, xấu xa trong mắt người khác.

Quý vị ở Mỹ mà tư cách quý vị thể hiện trên miếng ăn thật tồi tàn, không thể chấp nhận.

Quý vị may mắn sống ở đất nước có tự do nhưng quý vị đã không tự ý thức được việc mình làm ảnh hưởng như thế nào cho cộng đồng người Việt và cả văn hoá gốc Á.

Quý vị đang tự phản ứng quá mức về dịch bịnh. Ðiều này chứng tỏ quý vị chỉ lo sợ mất quyền lợi của riêng mình mà thôi.

Quý vị quá ích kỷ!

Dịch corona không lan tỏa nhanh bằng hành động quý vị ngày hôm nay.

“Ê! Viết như vậy là hỗn hào quá đáng; do nhìn không quá cái lỗ mũi của mình, mà đòi làm cha để phê phán, rồi chửi bới lung tung hè!

Bộ chú mầy không thấy nhiều ông tai to mặt lớn lãnh đạo quốc gia trên thế giới nầy lo sốt vó chạy đôn, chạy đáo, chạy tới, chạy lui hay sao? Ngay cả Thủ tướng Úc Scott Morrison cũng phải xính vính, mặt rầu rầu như vừa bị em yêu xét túi.”

Thị trường chứng khoán trên toàn thế giới từ New York tới Hong Kong, London, Sydney gì gì đó đua nhau lao dốc. Nền kinh tế sẽ rơi vào suy trầm là cái chắc, làm ảnh hưởng tới túi tiền còm cõi của mọi người, trong đó có ta!

Nhà hàng Tàu bán nhẫm-xà đua nhau khánh tận! Cái nào còn ngáp ngáp cứ than dài thở vắn hổng biết chừng nào ‘ngộ’ sẽ đi đây!?

Hãng máy bay có cái đã sập tiệm rồi, du thuyền hổng còn ai dám đi, hòa nhạc, trình diễn thời trang đều dẹp hết.

Ngược lại gạo, đường, mắm, muối, xà-bông, giấy ‘toilet’  mấy người mẹ, người vợ ào ào đi mua về vì lo sợ như hồi Tết Mậu Thân năm 68 Việt Cộng vô tới tận Sài Gòn vậy. Giờ thì sợ cơn đại dịch nó có thể vượt ngoài vòng kiểm soát, thành phố sẽ giới nghiêm 24/7 cả nước như bên nước Ý.

Vậy mà chú mầy dám chửi vợ của ta sao?

Ở đất nước tự do, người ta được quyền làm cái gì mà pháp luật không cấm. Ði mua nhiều chừng nào thì nhà sản xuất và các siêu thị mừng chừng ấy. Dĩ nhiên sản xuất sẽ nhiều hơn, buôn bán ì xèo hơn. Tiền vô ào ào ngu sao mà không mừng?

Trong chế độ tư bản thị trường tự do, việc mua bán là hàng đầu, là ưu tiên số một qua cầu Bến Lức. Mua nhiều bán nhiều là kinh tế khởi sắc; nó mà tăng lên thì sẽ tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm, tốt cho người dân chớ?

Ðâu phải là cái thời lúc CS Bắc Việt mới chiếm được Sài Gòn:

“Con cắn cơm cắn cỏ, con lạy bà mậu dịch viên bán cho con 100 ‘cà gram’ thịt ‘nợn’ vì con của con đang bị ốm!”

Chắc chú mầy đã quên câu khẩu hiệu:

“Ðả đảo Thiệu Kỳ mua gì có nấy!

Hoan hô Hồ Chí Minh mua cây đinh phải xin giấy!” 

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Y tế CS Việt Nam Vũ Ðức Ðam, tai to mặt bự, tuyên bố Việt Nam sẽ hết dịch (vật) vào tuần tới.

Nghe vậy, vợ chồng, cha con dân Hà Nội ùn ùn bỏ chạy vô Sài Gòn trốn (dịch). Còn ai có gan ở lại chịu trận thì cũng đổ xô đi mua gạo, đường, mắm, muối, giấy toilet ùn ùn ra đó.

Còn trên thế giới từ Âu sang Mỹ, các sắc dân trắng, vàng, đen, đỏ, cũng làm y hịt như bà con mình, cũng ùn ùn đi siêu thị mua nhu yếu phẩm đó thấy hông?

Chú mầy chửi những người quá tham lam vét sạch hàng, không cần biết người khác cũng cần mà không có mua thì còn được. Chứ chửi lung tung thì ta e rằng chú mầy không còn một cái răng mà ăn cháo trắng!

ĐXT

Melbourne

Cây nhang chẳng đủ ấm trang thờ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Aug 2026

thương quý tặng tất thảy những người MẸ

 Hôm nay ngày đầu năm, thứ hai đầu tuần mình cũng đi làm như thiên hạ. Ra về tuyết mỏng, nhẹ rơi, câm nín. Đường tới métro trơn trợt, gió đuổi sau lưng, tự dưng buốt lạnh: Mình đang lần hồi già yếu đi, có phải? Lực vơi, dầu cạn, ngọn lửa yếu. Đèn dần lu mờ soi chẳng tỏ, ái ngại nhìn ra phận mình chẳng làm nên công trạng gì suốt tháng năm dài đầu tắt mặt tối. Sáng đi chiều về, an tâm vì có việc làm, chỉ rứa thôi. Không đòi hỏi, vui được ngày mô hay ngày nớ. Và ngày, ôi thôi, trôi rất mau. Hết xuân tới hè, qua thu lại gặp đông. Bữa ni lạnh dữ, xứ này chưa tới xuân, mùa màng xa nửa vòng trái đất kỳ khôi trái khuấy! 

Trời lạnh, mình ghé chợ mua cá về kho với thịt ba chỉ, ớt trái cùng thơm cắt lát mỏng; vô internet họ bày sao thì nghe vậy, tùy miệng lưỡi mà gia giảm muối tiêu đường nước mắm. Chuyện ăn, mình chẳng nhiêu khê cầu kỳ, mình thích ăn cá vì tình cờ đọc thấy ở đâu đó câu nói cảm động, chân tình, và mộc mạc: “Cơm với cá như mạ với con”. Bao giờ cũng vậy, trước khi ăn, mình ra trang thờ thắp cho đấng sinh thành một cây nhang. Chỉ một, không ba cây vì ngại khói dâng rồi đánh thức còi báo động đề phòng hỏa hoạn. Nó thức, nó ré kêu thảng thốt, nghe mệt tai, nghe hồi hộp, mất sướng! Dĩ nhiên trên miếng gỗ mình mua từ cửa hàng Ikea về tự đóng lấy có đặt để khuôn ảnh trắng đen người mình thờ phượng hoài tưởng. Hôm nay mồng Một, mình nói cho mình nghe, rồi tự nhiên đâm nhớ tứ tung, quàng xiên về ngày tháng cũ. 

Mạ mình thời trẻ ngó đẹp gái, chẳng biết trai làng có anh mô xao xuyến? Không nghe anh chị mình kể duyên do đâu thành hình một mối tình và rồi người lấy Ba mình làm chồng, để sau này chăm chỉ đẻ lai rai những mười đứa con. Trong “đội tuyển” của ông bà, mình khoác áo số 10 mà lại vào vai hậu vệ. (Một đội bóng đá, số 10 bao sân trên, thường là vua phá lưới). Mình là nâm-bờ ten, cú rặn cuối cùng, để mạ giã từ ngao ngán kiếp bầu bì sinh nở. Đẻ mình, nghe nói mạ không hao tổn sinh lực cho lắm, như thể ra đồng ẻ một bại, khỏe re. Cục thịt đỏ hỏn đặt lên bàn cân, kim độ lượng chỉ ngang lằn vạch 4 kí 200 gr. Bệnh viện nhỏ xớn xác, y tá nổi hứng bồng mình chạy đi khoe tứng lừng lựng: Ngó nì, ngó thằng cu con mụ tra nì. Ý nói già như rứa rồi mà đẻ thằng qúy tử bồng bắt trẹo tay, chưa kể cái khoảng nhan sắc: Ngó nì, cái mặt chộ dễ ghét chưa! 

Người quê mình có cái dở mà cũng có cái dễ thương. Nói dễ ghét là do sợ vào điều gì đó, nói trại đi kẻo ai đó quở. Vì thế, tuy là bây-bi mà mình đã lộ ra cái vấn nạn dễ thương rất mực. (Chủ quan cũng có cái “dễ ghét” của chủ quan. Hihi). Chữ hoa cũng thế, kiêng cử nên đẻ ra chữ huê. Xứ Huê-kỳ. Một vài bông huê… Tên mạ mình là một loài huê hiếm, tựa như hoa Trang, màu trắng và thường nở rộ từng cụm lớn. Mình không muốn nói tên người ra, quen rồi, như thuở học trò luôn dấu kín tên cha mẹ bởi sợ bọn bạn nhất qủy nhì ma sẽ kêu đích danh khi đứng ngoài ngõ réo gọi đi học. Chắc bạn cũng từng gặp vấn nạn như vậy, để người trong nhà nghe được rồi quở mắng: Học trò học bè chi mà mất dạy rứa bây! Thiệt ba de… Giống hoa, thân thể mạ luôn sản sinh ra mùi quyến rũ. Mình đeo bà không sợ chúng bạn cười, lớn đầu rồi mà tối ngủ phải thò tay sờ bụ mạ mới an giấc. Ba mình đánh không nương tay do bởi cái tật xấu ấy. Đánh và chửi: Đồ con hư tại mạ! Mình nghĩ, quả nhiên mình có lỗi với ông, đeo mạ như rứa thì ba mình không có cơ hội để dụ khị mạ mình làm chuyện tối lửa tắt đèn. Giáo dục có khi phát sinh từ lòng ghen tuông. Mạ thằng Yên cưng thằng Út quá làm tao chẳng được xơ múi gì! Thôi đi tiá, bộ tiá hổng sợ tui có thêm đứa em sao tiá? Tiá nơ-pa nhưng má ngán sinh con thì nên để cho bả nghỉ hưu chớ. Bệnh viện kêu là mụ tra thì phải nên hiểu là rơi vào hạng tuổi đó, người thông thường chả còn tơ vương ham muốn chuyện mần ăn. Xem ra để cho thằng út sờ bầu sữa mẹ e dễ chịu hơn là hứng đỡ cái thân xác nặng nhọc của ba thằng Yên. Yên là tên gọi nựng nịu đứa con đầu của hai người. Mình sinh sau đẻ muộn nên chả biết mặt ngang mặt dọc của tay “đầu sỏ” kia. Ổng bỏ nhà đi làm cách mạng từ đời tám hoảnh cơ. Mạ mình quay quắt thương nhớ. Gạt lệ đôi ba phen để âm thầm tìm cách đi thăm đứa trai trưởng. Nghe nói mạ mình thu vén việc nhà, cực khổ lặn lội ra tuốt ngoài Vinh, han hỏi bới xách cho kẻ bỏ nhà ăn bờ ngủ bụi ấy, chẳng biết phút giây đoàn tụ ngắn ngủi kia có làm cho bà nguôi ngoai phần nào? Có nghe được lời hứa hẹn gì không? Mình ghét thảy những đứa nổi loạn ưa đi làm cách mạng, bởi ít ra, trước mắt, cái đứa ấy vô tình hành hạ xác thân mạ mình quá lắm. Anh bất hiếu cũng chừng mực nào đó thôi, sao không lo ở cạnh người để phụng dưỡng mà dâng hết tuổi xanh cho một bọn người cuồng tín với những học thuyết xa lạ? Từ đó về sau nhà mình đoạn tuyệt hẳn với đứa con “rơi” kia. Tựa như anh bị thẻ đỏ, truất quyền thi đấu, kéo áo che mặt hổ ngươi buộc phải rời khỏi sân cỏ. Đội tuyển thưa người dần nhưng điều đó chẳng khiến ba mạ mình đỡ chật vật một mảy may. Trong sổ gia đình ghi, ba mình: công chức, mạ: nội trợ và một dọc con cái bên dưới toàn là học sinh. Ngần ấy miệng ăn nương nhờ vô hai chữ công chức, mà công chức hạng trung một đời trong sạch. Đói cho sạch rách cho thơm. Giấy rách phải giữ lấy lề. Đại loại thế, là thứ phương ngữ mà ba mình ưa nói. Thanh bần, đạm bạc, hơi bị nghèo là hoàn cảnh sống của gia đình mình thời ấy. Mình nhỏ nhít, lại ham chơi nên chẳng lưu giữ những đắng cay thuở nọ, chơi không sợ mưa rơi. Hết thả diều thì đá banh, cầm sào hái trộm trái cây vườn kẻ khác, cầm que có bôi keo để bắt ve, moi lỗ đổ nước để bắt dế, suốt ngày chạy rông ngoài đường để chiều về mạ quở: Úi chào, cái đầu hôi cứt trâu, mồ hôi mồ kê rít chìn chịt như hủ mật, có ra giếng tắm lia tắm lịa không thì nói. Ăn ở kiểu mất vệ sinh như ri đây đố họa tối ni tao cho nằm chung. 

Dĩ nhiên là mình trần như nhộng sau đó, đứng bên giếng cho mạ mình xối từng gàu nước ngộp thở. Mạ kì cọ, mạ giứt đất, mạ bôi xà phòng 72 phần dầu. Răng con cu hắn sưng ri? Con không biết, chắc bị kiến cắn mạ nờ. Con đừng ngẳng nghịch đái trước am miếu mà bị thánh thần khiển trách. Với mình, mạ có cả vạn điều răn, mạ chuyên cần nói tới điều hay lẽ phải. Và mình thuở nọ giống cái gàu bị thủng, hứng chẳng đầy những lời vàng ngọc kia. Dạ dạ cho có lệ rồi sáng mai lòng vẫn hồn nhiên theo chúng bạn bổn cũ soạn lại. Rứa đó, nhỏ nhít mà, làm sao tránh đi trên con đường “thơ mộng” ấy? Nhưng tình ngay thì mình không hề là đứa phá làng phá xóm, mình ngon cơm hơn mấy đứa khác. Chúng hả? Đi ăn cắp hương hoa quả phật trên bàn thờ người ta bày cúng ngoài trời, đi rình mấy o mấy chị tắm sông tắm giếng, chúng hoang dàng trời và chúng “sáng mắt”. Mi còn con nít ranh, tụi nó nhận xét về mình như rứa đó. Mi nỏ biết rình bụi môn mà dòm Nguyệt Nga đi ẻ chùng ẻ vụng. Ui chào, cơ thể đàn bà con gái hắn lạ lùng lắm thê, nói không ngạ. Chỗ ni thì lồi ra, chỗ nớ thì có tóc, nơi nọ thì… nơi kia thì… Chúng sa đà tả tình tả cảnh mặc dù đứa nào đứa nấy đều bị ăn hột vịt môn luận văn. Ai đời cô ra đầu đề: “Em hãy tả người mà em yêu thương nhất trong nhà” thì có đứa viết như ri: Trời ơi, ngó xuống mà coi, một lòng hy sinh không chịu ngủ để canh chừng ăn trộm, một dạ trung thành không phản bội, đeo cứng bên chưn cẳng lại còn vẫy đuôi lè lưỡi liếm. Em thương con Vện nhà em không bút mực mô noái hết. 

Tuy không đứng đầu môn luận văn nhưng bài tập của mình cũng được cô đọc cho cả lớp nghe. Cô nói, đây là một trong năm bài mà cô ưng ý, bởi khi nói về mẹ mình các em này đã biểu lộ cái thành thực dù vụng về. Công sinh thành dưỡng dục thì ngay cả cô cũng không đủ sức để viết hết ra giấy và cô thấy chúng ta chỉ cần lòng thành là đủ. Lòng thành cũng khiến người ta cảm động. Bài luận ấy mình viết khá dài, mình nói về một đêm mưa và mình ấm áp vô hạn khi có mạ mình ngủ sát bên lưng, chẳng có gì an toàn hơn khi mình ý thức đó là nơi nương tựa có một không hai; mình nói khi yêu thương mình chẳng đề ra một điều kiện nào cả, sai đi mua thuốc Cẩm lệ ngoài phố là mình cầm tiền chạy u đi ngay. Và mình kết luận, có lẽ suốt cả cuộc đời, điều mình ao ước là mạ mình mãi khỏe mạnh, mãi an vui để sống lâu, nhìn nhận ra thằng con út của bà đã trưởng thành qua bao gian khó. 

Mạ mình gặp bạo bệnh, anh chị mình đem người vào Sài-gòn để điều trị nhưng các bác sĩ trong bệnh viện nổi tiếng ấy bó tay. Bà hấp hối, tay chân lạnh ngắt, khi mang bà về lại Đà-nẵng mạ mình mới thật sự ra đi. Anh chị mình giải thích: Mạ dùng tàn hơi để mong nhìn thấy em lần cuối. Xin cho mình được cải lương ở đây, bao nhiêu lạc thú và mộng tưởng về cuộc đời của mình đều sụp đổ ở phút giây oan nghiệt ấy. Mình sẽ phải gắng gượng bước đi trên con đường hoàn toàn chẳng có ánh mặt trời. Mình ngồi bên quan tài câm lặng trong ba đêm, mình cắt giấy thành hình hoa sen và dán thành quả vụng về kia quanh áo quan sơn đỏ. Mình nói với người nằm xa hơn một đâu lưng: Con đang là kẻ mù, con tuyệt đối không nhìn ra một lối đi khi ngày mai người ta chôn mạ xuống ba tấc đất. 

Mình từng nói ở đâu đó, trong một cuộc phỏng vấn đã lâu, rằng mình luôn quý chuộng các vị phụ nữ, nghiệm lại, có thể do bởi trong tâm mình luôn tỏa sáng hình ảnh mạ mình. Hồi xưa bà là người ưa thích đọc sách truyện, điều ấy vô tình bà cấy vào người mình lòng yêu văn chương. Mình viết văn và tiếc thay mạ mình chẳng thể đọc được những thứ nhăng cuội này. Mạ ơi, ngoại trừ bài luận thuở đầu đời, con chưa hề một lần ngợi ca tấm lòng mạ dành cho con. Con đúng là đứa tệ hại, hệt như khi người ta chê bai ai, họ có sẵn câu: Đồ nâm-bơ-ten! 

Mình muôn đời là số 10, chẳng thể le lói 1, 2. Xin được ngụy biện lần cuối: Viết về một người Mẹ, mình biết dùng những từ gì để chuyên chở cho vừa đủ? Người xưa dặn dò: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Họ ví von, đó là chuối, như mật, tợ đường miá lau… Liệu chúng ta có nguôi ngoai với thứ hình ảnh nghèo nàn kia không? Hơn một lần họ đã bất lực, và mình cũng đã bất hiếu. “Mẹ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ”. 

Mồng một, mồng hai, mồng ba. Mấy ngày tết lưu lạc mình chỉ ăn cơm với cá. Không mứt món, không bánh chưng bánh tét, chẳng “cầu dừa đủ xoài”. Không pháo nổ (đã đành) chẳng lì-xì (chuyện tất yếu). Không rượu nồng (đau gan, ăn tục nói phét). Không nhìn thấy “chỗ ni lồi ra, chỗ nớ có tóc”. Trời lạnh căm, mình co ro ngồi gõ chữ và chữ thì quá đỗi thanh bần. Các bạn thân mến, ngày đầu xuân, hãy vị tình nếu mình nói điều không vui. Xin cho mình sống lại chút hương vị ngày cũ, dẫu mỗi một hồi tưởng là mỗi một đớn đau. “Tết nhất làm chi, ai bày?” Mình ra bếp, chuẩn bị ăn “cơm với cá như mạ với con”. Rứa thôi. Đòi chi hơn?!

Hồ Đình Nghiêm

Cuộc trùng phùng bi thảm

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

May 16, 2015    

Post by Sơn râu 15 Aug 2026

Theo đoàn quân tiếp thu Sài gòn mà lòng ông Hai Chi rối như tơ vò. Ông và hầu hết các đồng chí của ông ngơ ngác tưởng như chuyện mộng mị không thể nào xảy ra. Chính đơn vị của ông bị đánh tan tác gần như phải xóa sổ trong mùa hè 1972, đến nay vẫn chưa bổ sung xong, và đám bộ đội còn sống sót cũng chưa kịp hoàn hồn. Vậy mà Ban Mê Thuột mất, Tây Nguyên, Vùng 2, đến Vùng 1 có lệnh bỏ, để rồi cả miền Nam thất thủ chỉ trong vòng bốn mươi lăm ngày. Có lẽ những người ngồi trong Bộ Chính Trị ngoài Hà Nội cũng còn bất ngờ, huống hồ Hai Chi, chỉ mang quân hàm thiếu tá, làm sĩ quan hậu cần của một sư đoàn nằm tận vùng rừng núi Tây Nguyên heo hút..

Từ ngày vào bộ đội, ông Hai Chi luôn bị điều về những đơn vị chiến đấu. Nhờ phước đức mấy đời nên còn sống cho đến ngày tàn cuộc chiến. Không chết, nhưng trên người, và có thể cả trong lòng ông còn mang nhiều thương tích. Vết thương nặng nhất khi đơn vị ông bị B.52 dội bom trong trận Hạ Lào. Tiểu đoàn do ông làm thủ trưởng chỉ còn lại dưới 50 người. Nhờ thương tích ấy ông được điều về Sư Đoàn 320 làm cán bộ hậu cần. Mùa hè năm 1972, cả sư đoàn từng mang danh là Sư Đoàn Điện Biên hay Sư Đoàn Thép này gần như bị xóa sổ, khi tướng Hoàng Minh Thảo tung vào trận địa Kontum với ý đồ chiếm lấy Tây Nguyên, làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Nhờ làm việc ở hậu cần nên ông Hai Chi sống sót để cuối tháng 4/75 có mặt trong đoàn quân ngơ ngác về tiếp thu Sài gòn.

Hai Chi chỉ là bí danh. Tên thật của ông là Nguyễn Công Chính, con cả của một gia đình gốc tiểu tư sản. Quê ở Hải Phòng. Trước 54 gia đình làm chủ một tiệm bán xe đạp và sản xuất găm bánh xe. Bố mẹ sinh được năm người con, nhưng cả ba cô con gái mất sớm, chỉ còn hai cậu con trai, Hai Chi và người em út, nhỏ hơn đến mười một tuổi. Khi ông đang học Y khoa ở Đại Học Hà Nội, thì trận chiến Điện Biên Phủ kết thúc với sự thắng lợi của phe Việt Minh để Pháp phải ký Hiệp Định Genève, chia đôi đất nước. Từ vỉ tuyến 17 trở ra cả miền Bắc thuộc về Cộng Sản. Làn sóng di cư đổ xô về Hải Phòng, quê ông, nơi có những chiếc tàu há mồm chở họ vào Nam. Bị lực lượng Việt Minh tìm mọi cách ngăn chặn, nên khi ông về đến được Hải Phòng, thì nhà cửa đã bị tich thu, không tìm được bố mẹ và người em trai của mình. Ông phải bỏ Hải Phòng, bỏ cả con đường trở thành bác sĩ, lên sống với một bà dì trên Ý Yên, Nam Định.

Nhờ có trình độ học vấn và phấn đấu liên tục để giấu đi gốc gác con nhà tiểu tư sản, ông được cho theo học khóa sĩ quan. Nhưng sau này, khi hầu hết bạn bè cùng khóa lên đến cấp đại tá, thiếu tướng, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội hay công an, có người còn lọt vào Bộ Chính Trị, thì ông Hai Chi cứ vẫn là thiếu tá tiểu đoàn trưởng và cuối cùng, sau khi bị thương, được điều về làm cán bộ hậu cần của một đơn vị bại trận, cần thời gian để “biên chế”, bổ sung.

Giữa tháng 3/75 Ban Mê Thuột mất, rồi Quân Đoàn II và Quân Đoàn I gần như xóa sổ, sau những kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sữ chiến tranh, để cuối cùng ngày 30/4/75 cả miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

Sư Đoàn 320 từ Tây Nguyên cũng được tăng cường cho đoàn quân tiến về Sài gòn, khi Cộng quân bị các đơn vị VNCH chặn đánh tại tuyến Long Khánh gần hai tuần lễ gây tổn thất khá nặng nề. Chiến tranh kết thúc, ông Hai Chi được chỉ định bổ sung cho đoàn cán bộ tiếp thu Tổng Kho Long Bình của QLVNCH bỏ lại. Sau thời gian quân quản, ông là một trong số những cán bộ may mắn được “biên chế” ở lại miền Nam. Nhiệm vụ của ông là kiểm kê và tổ chức chuyển hàng trong các kho về miền Bắc. Từng đoàn xe liên tục từ Nam ra Bắc suốt ngày đêm, chở theo các loại chiến lợi phẩm, không những đã tịch thu được của Quân Đội hay Chính Phủ mà của cả dân chúng miền Nam, nhất là sau kế hoạch “Đánh Tư Sản”. Lúc này trong dân gian truyền miệng một câu nói khá đau lòng mà lý thú: Đất nước thống nhất để miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận “hàng”. Như con chuột gầy sa hủ nếp, ông Hai Chi trở nên giàu có. Ngôi biệt thự tại thành phố Biên Hòa tịch thu từ gia đình một tư sản gốc Hoa được cấp cho ông, cũng là nơi để ông cất giấu hàng ngàn cây vàng kiếm được. Một năm sau, vợ và đứa con trai của ông cũng từ ngoài Bắc được chuyển vào ở với ông. Học đòi một chút vương giả, bà vợ muốn có người ở, phụ bà lau nhà rửa bát và để cho bà có người sai vặt. Nhưng ngại nếu thuê mướn một người lớn, chuyện “làm ăn” và cả sinh hoạt trong nhà dễ bị “tai vách mạch rừng” lọt ra ngoài, nên sau khi bàn tán kỹ lưỡng, vợ chồng Hai Chi quyết định đi xin một đứa con nuôi. Vừa có một đứa đầy tớ không mất tiền thuê, vừa được tiếng nhân từ, giữ “truyền thống đạo đức cách mạng”.

Vợ chồng ông Hai Chi tìm đến các viện cô nhi để tuyển lựa “đối tượng”. Ông bà muốn có một đứa con gái khoảng 7-8 tuổi, khỏe mạnh và mặt mày sáng sủa. Cuối cùng vợ chồng cũng được như ước muốn. Khi bà sœur “quản nhiệm” Cô nhi viện Biên Hòa dắt con bé ra giao, bà chỉ cho biết con bé tên Phượng, 8 tuổi. Bố mẹ đã chết trong trận đánh Long Khánh. Có người thấy nó ngồi khóc trên vỉa hè nên mang về nhà nuôi. Một thời gian sau “giải phóng” gia đình này trở nên túng quẩn, không có đủ cơm ăn, đúng lúc con bé lại bệnh hoạn không sai bảo gì được, nên đã mang cháu đến giao cho cô nhi viện. Lúc ấy cô nhi viện cũng lâm vào cảnh khốn khó, nhưng các sœur không nở chối từ, chia bớt phần ăn của mình, lo chữa trị và nuôi dưỡng cháu lành bệnh, ngày một khỏe mạnh, xinh xắn.
Thực ra, thì sœur quản nhiệm biết bố của Phượng là lính Cộng Hòa, qua lời kể dù không rõ ràng lắm của cháu, nhưng trong thời buổi nhá nhem còn đầy không khí hận thù lúc ấy, sœur luôn dặn dò Phượng phải giấu kín điều này không cho ai biết. Ông Hai Chi làm khai sanh cho con bé, đặt tên Nguyễn Thị Hồng Phượng, để nhớ tới thành phố “Hoa Phượng Đỏ” Hải Phòng, quê hương ông.

Những năm 1978 – 1979, bọn cầm quyền cộng sản muốn đuổi những người Viêt gốc Hoa ra khỏi nước nhằm cướp hết tài sản của họ, bày ra chiến dịch quái đản, được người ta đặt tên là “Ra đi bán chính thức”. Nhờ biết tiếng Hoa và có nhiều kinh nghiệm trong các đường giây mua bán, ông Hai Chi lại được “đồng chí” Mười Vân ( tên trên giấy tờ là Nguyễn Hữu Giộc) , Giám đốc công an tỉnh Đồng Nai móc nối vào tổ chức “đen”, vừa đi tìm những người Việt gốc Hoa giàu có (và cả những người không phải gốc Hoa nhưng chịu chi nhiều vàng để nhận hồ sơ Hoa kiều giả), vừa cho đám đàn em lập ra những toán “lâm tặc” chiếm cứ, làm chủ các khu rừng, chặt hết gỗ quý đóng tàu bán với giá rất cao cho các nhóm người Hoa “ra đi bán chính thức”. Bọn họ mở nhiều xưởng cưa, nhiều cơ sở đóng tàu. Chỉ sau một thời gian ngắn, Hai Chi đã trở thành đại gia, một nhà tư bản đỏ đầy quyền lực.

Bé Hồng Phượng lớn lên theo nhịp độ phát đạt của gia đình ông Hai Chi cùng nỗi cơ cực của một ô-sin. Điều may mắn duy nhất, cũng có thể do ông bà Hai Chi muốn tránh tiếng xấu, Phượng được cho đi học lớp đêm, và nhờ vào tính thông minh cần mẫn, Phượng học rất giỏi.

Điều may mắn khác, nhưng lại trở thành tai họa cho Phượng, là càng lớn Phượng càng xinh đẹp. Năm lên 16, nhan sắc của Phượng đã làm si mê bao cậu học trò. Và người say mê nhất lại là Diệp, thằng con trai duy nhất của ông bà Hai Chi. Diệp lớn hơn Hồng Phượng 3 tuổi và khi ấy đang là sinh viên của Trường Đại Học Bách Khoa. Mỗi lần Phượng ra ngoài, Diệp tìm mọi cách đi theo, ngăn chặn bất cứ gã con trai nào muốn tán tỉnh Phượng, lấy cớ là anh trai của Phượng. Ở nhà, Diệp thường bênh vực Phượng, trách cứ mẹ đã bắt cô em nuôi phải làm quá nhiều công việc.

Chưa bao giờ Diệp tỏ ra mình là một ông anh nhân từ tốt bụng như lúc này. Hơn nữa cậu ta cũng nể nang, tôn trọng nết na hiền thục cùng sự khôn ngoan của Phượng. Bà Hai Chi vốn nuông chiều cậu quí tử nên không dám làm Diệp buồn lòng. Điều này làm bà khó chịu, nhưng đó không phải là điều mà bà quan ngại. Điều lo âu nhất của bà chính là ông Hai Chi, mỗi lần bà bất ngờ bắt gặp đôi mắt của ông chồng say đắm nhìn cô con gái nuôi trong tuổi dậy thì xinh đẹp, cũng là con bé ô-sin của nhà bà.

Ngày xưa, sau khi kết thúc chiến tranh, ông cũng nể nang cái tình bao năm chờ đợi và thương cảm cảnh khổ của bà, nhưng kể từ ngày kiếm ra nhiều tiền, ông tỏ ra uy quyền và lơ là chăn gối với bà. Bà tìm mọi cách để giữ chồng. Nhờ người giới thiệu một số bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ tiếng tăm ở Sài gòn, chịu bỏ ra một số tiền khá lớn, bà là một trong những người Hà Nội 75 sửa sắc đẹp sớm nhất. Nhờ tài năng của mấy ông bác sĩ miền Nam còn sót lại, nhan sắc của bà có khá hơn nhiều lắm, nhưng so với những cô gái miền Nam, thì bà vẫn chỉ thuộc loại hàng phế thải được “tân trang” phần bên ngoài. Không đủ hấp dẫn ông chồng đang trên đà “đổi mới tư duy”

Vốn là con gái của một gia đình cộng sản, và sống bao nhiêu năm dưới chế độ tàn ác man rợ này, bà đã học được biết bao mưu chước và thủ đoạn để hại người. Trước mắt chồng con, bà luôn tỏ ra thương yêu nhỏ nhẹ với Phượng, nhưng trong đầu đang bày mưu tính kế để hãm hại cô bé mồ côi tội nghiệp này.
Ban đầu bà tính tạo cơ hội cho Diệp, thằng con trai duy nhất của bà cướp đi đời con gái của Phượng, để cho ông chồng già chứng kiến, bỏ cuộc, rồi lấy cớ đuổi Phượng đi, nhưng ngẫm nghĩ thấy mưu kế này có thể là con dao hai lưởi, không chừng thằng quý tử của bà mê luôn Phượng và quyết lấy Phượng làm vợ thì quả là tai họa, gậy bà lại đập đúng lưng bà! Không thể nào để con trai một của cán bô đại gia đi lấy con ô-sin. Cuối cùng bà nghĩ tới tay đàn em thân tín của ông. Bà để ý mỗi lần đến nhà, thấy Phượng là anh chàng này như kẻ mất hồn, nhìn chăm chăm vào Phượng rồi bất ngờ giật mình, sượng sùng quay đi chỗ khác. Hắn e ngại vì dù gì Phượng cũng là con gái nuôi của ông Hai Chi. Hắn tên Đạt, thượng úy công an, tay chân đắc lực của gã Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, được “đặc phái” tới làm việc bên cạnh ông Hai Chi trong tổ chức “đen”, móc nối đưa người Hoa ra đi và phá rừng lấy gỗ.

Đạt có vợ, một con mang từ miền Bắc vào. Nghe nói cô vợ, trước kia là một “bộ đội gái”, từng mấy năm ở trạm giao liên trên miệt Trường Sơn trong thời “chống Mỹ”, phục viên khi chiến tranh kết thúc, nhưng con vi trùng bệnh sốt rét rừng vẫn còn mai phục trong máu, nên trông khá xanh xao vàng vọt.

Bà Hai Chi biết Đạt mê mệt cả nhan sắc lẫn thân hình của cô con gái nuôi đang độ dậy thì, nên đã dễ dàng dụ chàng ta vào kế hoạch. Hắn ta bất ngờ như trúng số độc đắc cặp mười, đưa tay thề xin hứa sau này sẵn sàng làm bất cứ mệnh lệnh nào của bà. Bà đích thân ra chợ trời tìm mua mấy gói thuốc ngủ. Tổ chức buổi cơm cuối tuần, gọi Đạt đến nhậu nhẹt cùng chồng như mọi khi. Trong bữa ăn, ông Hai Chi, Đạt và cả thằng Diệp thi nhau uống rượu ngoại. Chỉ có bà và Phượng uống nước cam vắt do chính tay bà làm. Trong bếp, bà đã lén bỏ vào ly nước của Phượng mấy gói thuốc ngủ mà bà đã tán nhỏ ra bột. Khuya hôm đó sau khi thấy Phượng thắm thuốc, ngủ say, bà mở cửa gọi Đạt vào để hiếp Phượng. Bà giả vờ vào phòng nằm với chồng, chờ tiếng ho, như là một ám hiệu của Đạt, sau khi đã thỏa mãn cơn dục tình thèm khát bấy lâu nay. Bà chuẩn bị lấy giọng để la lên cho cả ông Hai Chi và thằng Diệp chứng kiến cảnh Phượng đang lõa lồ sau khi ân ái với thằng đàn em thân tín của ông. Bỗng dưng bà nghe nhiều tiếng động và sau đó là một tiếng súng nổ chát chúa từ phòng của Phượng. Không cần gọi, tất cả ông Hai Chi, thằng Diệp và bà vội vàng chạy ùa vào. Một cảnh tượng kinh hoàng. Đạt nằm trần truồng trên vũng máu, còn Phượng nép vào góc phòng hai tay còn cầm chặt khẩu súng K54 sẵn sàng nhả đạn tiếp.
Ông Hai Chi năn nỉ dụ dỗ mãi, Phượng mới đưa khẩu súng cho ông. Nhưng thằng Diệp vội vàng giật lấy khẩu súng từ tay cha với ý định xử tội Đạt. Trong lúc giằng co, một phát đạn nổ, may mắn không gây thêm thương tích. Tay thượng úy Đạt bị thương rất nặng ở vùng bụng, được xe cứu thương chở vào bệnh viện Biên Hòa cứu chữa, sau khi ông bà Hai Chị vội vã mặc áo quần vào cho hắn. Thằng Diệp hò hét chạy theo đòi giết hắn ta. Bà Hai Chi thì rất đỗi ngạc nhiên, cứ nghĩ rằng mấy gói thuốc như vậy, nhất định sẽ làm Phượng say ngủ mê man tới sáng, tại sao lại có thể giật súng bắn thằng Đạt. Sau này, bà nhờ bác sĩ thử nghiệm, kết quả: bình thường. Hóa ra thuốc bán ngoài chợ trời chỉ là thuốc giả.

Tay Đạt thoát chết nhưng bị cắt đi một khúc ruột và mất khá nhiều máu. Phượng bị bắt giam. Thằng Diệp đòi ra công an làm chứng, tố cáo Đạt chủ động hiếp dâm và Phượng chỉ tự vệ. Nhưng ông bà Hai Chi vừa quyết liệt ngăn cản vừa năn nỉ. sợ mang thêm tai họa. Bà Hai Chi lo lắng bị lộ ra cái quỷ kế ác độc của bà. Còn ông Hai Chi thì nghĩ Đạt là đàn em thân tín của tay Mười Vân, giám đốc công an tỉnh, quyền uy như ông vua một cõi. Đến các “đồng chí” phó bí thư, ủy viên thành ủy còn bị hắn ta lập kế bắt giam năm ngoái. Vả lại tay Đạt cũng chưa làm gì được thì đã ăn đạn rồi. Hắn ta chủ quan, cứ tưởng là Phượng đã say thuốc ngủ. Trút bỏ hết áo quần và cả khẩu “súng ngắn” để trên giường, trước khi đưa hai bàn tay sàm sở lên người Phượng. Chưa kịp bàng hoàng khi bất ngờ bị Phượng đạp mạnh xuống giường thì một phát súng đã nổ vào bụng. Cuối cùng Phượng bị tạm giam để đưa ra tòa án nhân dân, với cái tội “phản động”đã định sẵn. Các báo Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên cho đăng tải tin tức này theo chỉ thị: “tàn dư Mỹ Ngụy dùng mỹ nhân kế ám sát cán bộ cách mạng”

****

Trận chiến Long Khánh, dưới tài chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo, đại quân CS bị các đơn vị VNCH chặn đánh tan tác. Đặc biệt hai quả bom CBU được thả xuống địa điểm “tập kết” của địch, giết cả hai trung đoàn “sinh Bắc tử Nam”. Mang hận thù này, nên sau khi chiếm được Long Khánh, bọn chúng đã bắn giết dã man bao người dân vô tội, trong đó có mẹ của Phượng. Khi xông vào nhà, thấy tấm ảnh của bố Phượng treo trên vách, mang quân phục và cấp bậc VNCH, chúng đã bắt trói mẹ Phượng dẫn đi. Phượng chạy theo khóc kể, rồi lạc vào một nơi xa lạ đầy những xác người, sợ hãi, không còn biết đường về. Bố của Phượng là sĩ quan thuộc một Liên Đoàn Biệt Động Quân từ Vùng 3 tăng phái cho Vùng 2, bị bắt lúc bị thương trên đường di tản theo Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku vào giữa tháng 3.75. Ông bị cầm tù qua rất nhiều trại. Nhiều năm sau không hề biết được tin tức vợ con, ông nghĩ là tất cả đã chết vì biết có những trận đánh lớn tại Long Khánh trước ngày mất nước.

Ngày 2/ 9 năm 1984, ông được thả. Ra tù, ông vội vã tìm về Long Khánh. Ngôi nhà của cha mẹ để lại, nơi vợ con ông đã sống từ ngày sinh ra Phượng, đã bị “cách mạng” tịch thu. Người chủ mới là một gã công an. Khi nghe ông hỏi thăm vợ con mình, những người chủ đích thực của căn nhà này, gã công an trợn mắt nhìn chằm chặp vào ông rồi thốt ra mấy tiếng cộc lốc, lạnh lùng: “tôi không biết, hỏi làm gì?”, bằng giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh rất khó nghe. Khi đến trình diện công an xã, ông bị chỉ định về trình diện chính quyền trong một Khu Kinh Tế Mới nằm sâu trong núi để được tạm trú và quản chế. Một nơi ông hoàn toàn xa lạ, không có bất cứ một người thân quen nào.
Ông đón xe đi Biên Hòa, nơi có trại gia binh nằm bên cạnh doanh trại của đơn vị ngày xưa. Chắc chắn là trại gia binh đã bị tịch thu, nhưng hy vọng tìm được người tài xế và vài người lính cũ có thể còn ở lại gần đâu đó. Họ là những người thân thiết cuối cùng còn lại trong đời ông. Ông muốn đến thăm và tìm hiểu tình hình hầu tìm một con đường sống.
May mắn, anh tài xế vẫn còn ở căn nhà cũ phía ngoài trại gia binh. Căn nhà tôn mà trước kia vợ chồng anh đã hốt hai đầu hụi và mượn thêm cả một tháng lương của ông để mua với giá rẻ, mở cái quán nước nhỏ, bán cho anh em lính. Bây giờ cái quán không còn, nhưng anh hành nghề xe ôm với chiếc Honda từ đời 70 còn lại, nên cuộc sống cũng đáp đổi qua ngày. Thầy trò gặp nhau bất ngờ như từ cõi chết trở về, vừa vui mừng vừa cảm động. Anh tài xế ôm chầm lấy ông, bảo hết mình lo lắng cho ông Thầy. Anh bảo vợ và thằng con trai lớn chạy đi báo tin, gọi thêm hai anh em cùng đơn vị cũ còn ở lại trong vùng. Mỗi người góp một tay, làm mấy món nhậu uống mừng được gặp lại ông Thầy.

Men rượu ngà ngà, nước mắt ông cũng đầm đìa vì cảm kích cái tình huynh đệ, và nhớ tới những anh em đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trên con đường 7 B oan nghiệt, tất cả đều chết trong tức tưởi. Bỗng tất cả im lặng hướng về chiếc máy truyền hình nhỏ để trên tủ thờ trước mặt, khi nghe giọng nói sắc máu của người nữ xướng ngôn viên thông báo trực tiếp phát sóng: Tòa Án Nhân Dân tỉnh Đồng Nai xét xử một cô gái mang tội “phản động, âm mưu ám sát cán bộ cách mạng”. Ông há hốc miệng, đôi mắt ráo hoảnh, khi nhìn thấy cô con gái đứng trước vành móng ngựa, hai tay bị còng, phía sau là một đám công an cả nam lẫn nữ mặt mày đằng đằng sát khí. Cô bé giống vợ ông như đúc. Khuôn mặt hiền lành xinh đẹp này ông đã gặp bao nhiêu lần trong giấc mộng, suốt hơn chín năm tù. Không kịp giải thích, ông bảo anh tài xế tìm mọi cách giúp chở ông thật nhanh đến tòa án Biên Hòa, nơi phiên xử mới bắt đầu.

Chỉ hơn 10 phút sau anh tài xế và ông đã có mặt. Phiên tòa đang tiếp tục phần “buộc tội” của một bà được gọi là đại diên Viện Kiểm Sát Nhân Dân. Ông giật mình khi nghe tên cô con gái “thủ phạm” là Nguyễn Thị Hồng Phượng. Đứa con gái duy nhất của ông có tên Nguyễn Lê Tuyết Phượng. Chưa kịp hình dung trọn vẹn hình ảnh người vợ và đứa con gái năm tuổi, khi ông được ba ngày phép về nhà đưa cháu vào bệnh viện mỗ tim rồi vội vàng chia tay lần cuối cùng để ra đơn vị, thì một điều bất ngờ khác làm ông bàng hoàng hơn: Người nhân chứng được gọi lên cung khai có tên là Nguyễn Công Chính, trùng tên với ông anh cả, đã thất lạc trên ba mươi năm, sau ngày ông cùng bố mẹ di cư vào Nam. Khi nhìn kỹ Nguyễn Công Chính bước lên vị trí nhân chứng, ông sững sờ nhận ra ngay, đó đúng là người anh ruột của mình. Dù dung mạo có đổi thay, nhưng ông không thể nào nhầm lẫn được. Với con mắt hơi lồi và hàm răng vễnh của bao năm trước. Lúc còn bé, ông anh còn có tên gọi trong nhà là cu Tun. Ông đứng bật dậy, định gọi lớn tên anh mình, nhưng kịp nhớ ra đang ở trong phiên tòa, và bản thân mình cũng là người tù chưa trình diện nơi quản chế. Lòng dạ rối bời, ông chưa kịp trấn tỉnh để nghe nhân chứng vừa nói điều gì, thì bỗng có tiếng la từ hàng ghế phía trước. Một cậu thanh niên đứng bật dậy, hét to:

-Tôi là Nguyễn Công Diệp đã đủ tuổi để xin làm nhân chứng. Tôi chứng kiến tận mắt, ông thượng úy Đạt định hiếp Phượng, cô em nuôi của tôi. Em tôi chỉ phải tự vệ bằng chính khẩu súng của ông Đạt.

Bất chấp tiếng búa gõ và phản đối ra lệnh ngồi xuống của chủ tọa phiên tòa, cậu thanh niên vẫn tiếp tục:

-Khi bị bắn, ông Đạt nằm trần truồng ngay dưới giường ngủ của em tôi, chứ không phải mặc nguyên áo quần công an như bố tôi vừa nói. Tôi phản đối.

Tất cả nhốn nháo. Có lệnh tạm ngưng phiên tòa, buổi chiều sẽ nghị án. Ông Trực vội vàng chạy tới Phượng, nhưng chưa kịp nói điều gì thì mấy gã công an đã đẩy Phượng đi. Ông chạy ra hành lang tìm gặp Hai Chi. Ông ta bỏ đi trước một mình khi vợ và đứa con trai đang còn lớn tiếng cãi nhau

Khi thấy có người đập mạnh trên vai, ông Hai Chi quay lại, nhưng chưa kịp nhận ra ai. Nước mắt ràn rụa, giọng nói dường như nghẽn lại, ông Trực cố gắng lắm mới thốt ra lời:

-Anh Cu Tun ơi! Em là Trực, Nguyễn Công Trực, em út của anh đây. Cháu Phượng là con gái của em!

Ông Hai Chi khựng lại, sững sờ, trố mắt nhìn. Trời đất như quay cuồng trước mặt khi ông vừa nhận ra đứa em thất lạc đã gọi đúng cái tên cúng cơm của mình mà cả vợ con ông cũng chưa hề biết. Ông kéo tay ông Trực ra xa, đến dưới một bóng cây bên kia đường vắng. Trời đang vần vũ một cơn mưa. Cả hai đều chưa biết tung tích của nhau, nhưng riêng ông Trực thì đã đoán ông anh của mình phải là một cán bộ cộng sản cao cấp, với cái vẽ bệ vệ của ông cùng sự sang trọng của bà vợ và đứa con trai. Một cảm giác rờn rợn lẫn một chút xót xa thoáng qua trong đầu ông Trực. Ông Hai Chi căn dặn Trực tạm thời đừng tiết lộ điều gì với vợ và con trai ông. Bởi vợ ông là một người cộng sản thực thụ, có thể gây bất lợi cho em mình. Ông sẽ bảo vợ, Trực là một đàn em thân tín nhưng hoạt động trong bí mật.
Đưa Trực về nhà. Cả một buổi trưa, ông Hai Chi tưởng mình như đang rơi xuống chín tầng địa ngục. Ngoài trời mưa tầm tã, nhưng trong lòng ông nóng còn hơn lửa đốt. Ông nhắm mắt ngữa mặt lên trần nhà khi nghe người em của mình cho biết:
-Bố mẹ đã chết trong Tết Mậu Thân do pháo kích của các anh. Em bị các anh bắt giam cầm hành hạ hơn 9 năm trời, tưởng đã bỏ xác trong tù, vợ em có lẽ cũng bị các anh giết tập thể ở Long Khánh, và cháu Phượng là đứa con duy nhất của em, mới mấy tuổi đầu mà phải bị ức hiếp tù đày.

Là một người Cộng sản “theo thời thế”, ông Chính vẫn còn ít nhiều cái gốc tiểu tư sản. Một chút lương tâm còn sót lại bỗng làm ông bật khóc. Thực ra thì ông cũng đã từng bao lần khóc thầm, khi suýt bỏ mạng ở các chiến trường Hạ Lào, Tây Nguyên, chứng kiến những cái chết kinh hoàng và vô nghĩa của hàng vạn thanh niên nam nữ từ miền Bắc bị cưỡng bách đi B. Vài lần thoáng hiện trong đầu ông hai chữ “hồi chánh”, nhưng phân vân vì khi ấy vợ con ông ở ngoài Bắc, chắc chắn sẽ phải khốn khổ với đám cường quyền. Ý tưởng chưa ngã ngũ thì chiến cuộc kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Ông tiếp tục “nín thở qua sông”, cố đóng cho thật khéo vai trò “đảng viên trung kiên”, để hưởng cho tròn cái lợi danh của người “bên thắng cuộc”.

Buổi chiều, phiên tòa tái nhóm. Ông Hai Chi xin được phản cung, thay đổi lời khai nhân chứng. Là một đảng viên có chức quyền, lại là bạn thân của “đồng chí” Mười Vân giám đốc ông an tỉnh, ông cũng được mấy ông bà “quan tòa” vị nễ. Nhưng tất cả đều ngỡ ngàng khi nghe ông tuyên bố:

-Lời nói của cậu con trai tôi sáng nay là đúng. Chính đồng chí thượng úy Đỗ Hữu Đạt đang thực hiện ý đồ hiếp dâm cháu Nguyễn Thị Hồng Phượng, là con gái nuôi của chúng tôi, còn đang tuổi vị thành niên. Với tư cách là một đảng viên và cán bộ nhà nước, tôi cam kết những lời xác nhận này là hoàn toàn chính xác. Sáng nay, vì muốn giữ danh dự cho chiến sĩ ngành công an, tôi có ý che giấu cho anh Đạt, nhưng rồi tôi đã kịp nghĩ ra, làm như vậy trước tòa là phạm pháp, có tội với đảng, với nhân dân.

Bà Hai Chi tròn mắt ngạc nhiên, tức giận, trước thái độ thay đổi bất ngờ của ông chồng.Tay thượng úy Đạt được tòa gọi đứng lên đối chất. Hắn ta không phản biện, vì biết tội đã quá rõ ràng, nhưng lại trút tội lên đầu bà Hai Chi. Hắn ta khai ra tất cả kế hoạch bỉ ổi của bà. Nội vụ lại chuyển sang một hướng khác, hoàn toàn ngoài dự trù của Viện Kiểm Sát. Phiên tòa tạm ngưng để tiếp tục điều tra.

Không khí trong nhà ông Hai Chi trở nên ngột ngạt, nhưng ông Trực cố nán lại đây để mong được sớm gặp con gái của mình và cũng tránh bị xét hỏi giấy tờ. Ông Hai Chi đích thân làm đơn bảo lãnh Phượng được tại ngoại. Cha con gặp nhau trong ngỡ ngàng. Phượng không nhận ra cha mình. Nhưng huyết thống phụ tử rất nhiệm màu, hơn nữa khi nghe ông Trực bảo “phía dưới ngực bên trái của con có một vết sẹo dài khi con mỗ tim”, Phượng òa khóc và ôm chặt lấy cha. Trong lòng Phượng như vừa mới nở ra một đóa hoa tươi thắm nhất.

Giữa tháng 10/ 1984, khi phiên tòa chưa tái nhóm thì tại tỉnh Đồng Nai xảy ra một biến cố lớn, làm xôn xao cả nước, đặc biệt đối với dân chúng miền Nam, sau hơn chín năm vẫn chưa kịp nhận ra hết bộ mặt thật của những người cộng sản:

Mười Vân Nguyễn Hữu Giộc, đảng viên cao cấp, con hùm xám Nam Bộ một thời, đang là Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai bị bắt. Đích thân “đồng chí” bộ trưởng công an, âm thầm đưa cả một lực lượng công an chuyên nghiệp và tin cẩn từ Hà nội vào Sài gòn lập kế bắt Mười Vân ngay trong phòng họp. Lục soát tư dinh và nhiều nơi khác, công an tịch thu hơn hai ngàn cây vàng và cả trên 500 kg vàng cùng hột xoàn các loại.

Ngày 1.11.1984, một phiên tòa đặc biệt được khẩn cấp triệu tập tại thành phố Biên Hòa, dưới sự “chủ trì” và xét xử của Viện Kiểm Sát Nhân Dân và Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Phiên tòa đặt dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của “đồng chí” Trần Quyết, Bí Thư Trung Ương Đảng, Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao.

Mười Vân bị xử tử hình. Bản án sơ thẩm cũng là chung thẩm, được thi hành cấp kỳ sau một tuần tại trường bắn Long Bình.

Lần đầu tiên báo chí tại Sài gòn được đăng tải tin tức phiên tòa mà thủ phạm là một ông lớn, đảng viên cao cấp. Người ta cũng biết được có những chiếc tàu chở người Hoa đã bị bỏ đói, nhận chìm, ngoài bờ biển Cát Lái, Rạch Giá ,Phú Quốc và vài nơi khác ở miền Trung, làm chết rất nhiều người. Và khắp cả nước bàn tán về chuyện cướp bóc, tham nhũng, ăn chia không đều giữa những người cộng sản!

Sau đó nhiều phiên tòa đặc biệt khác được tiếp tục, xử những người đồng lõa, trong đó có cả mấy ông bà trong Tòa án nhân dân Đồng Nai. Nhờ đó, vụ án của Phượng bị bỏ quên, không còn ai nhắc tới. Nhưng ông Hai Chi và cả tay thượng úy công an Đỗ Hữu Đạt lại dính vào vụ án lớn. Bởi cả hai đều là cánh tay đắc lực của gã Mười Vân.

Biết không thể nào vượt qua số phận, ông Hai Chi tự động đến trình diện trưởng ban điều tra của “ban chuyên án”, và xin giao nộp 800 cây vàng, ông khai là Mười Vân nhờ giữ hộ. Và cũng nhờ ông khai thêm những đường giây làm ăn của Mười Vân, nên ủy ban bắt thêm một số đàn em, trong đó có thượng úy công an Đỗ Hữu Đạt, tịch thu thêm cả ba ngàn cây vàng, gồm cả 800 cây được giấu kỹ dưới hồ nước sau nhà một đàn em thân tín của Mười Vân, phải điều xe cần trục câu lên.

Tất nhiên với dạn dày kinh nghiệm, ông Hai Chi kịp thời tẩu tán một số vàng. Ông vội vàng móc nối một đường giây quen biết cũ, tung vàng ra để gởi cha con ông Trực, dắt theo Diệp, thằng con trai duy nhất của ông vượt biển khẩn cấp ra khỏi nước.

Nhờ tàu Cap Anamur cứu vớt trên biển, bố con ông Trực và Diệp được đến định cư tại Tây Đức.

****

Mùa Hè năm 1990, trong một dịp sang thăm người bạn thân cùng tù Hoàng Liên Sơn lúc trước, tôi được gặp anh Nguyễn Công Trực, một cựu sĩ quan Biệt Động Quân, là bạn láng giềng thân thiết với người bạn tù của tôi. Anh đã kể cho tôi nghe về những ngày cuối cùng của đơn vị anh trên Tỉnh Lộ 7B – từ Pleiku di tản xuống Tuy Hòa, và cả câu chuyện trùng phùng bi thảm này. Tôi cũng được nói chuyện với cháu Phượng, cô con gái hiền thục xinh xắn của anh, vừa mói tốt nghiệp dược sĩ. Chúng tôi cũng đến thăm cậu Diệp, con trai của ông bà Hai Chi, cũng là cháu ruột của anh. Diệp đang sống chung với cô vợ người Đức và đứa con trai hai tuổi.

Tôi cũng được biết ông Hai Chi, nhờ “thành khẩn khai báo”, nên được hưởng khoan hồng với hai mươi năm tù. Vợ ông, bà Hai Chi bị án sáu năm tù về tội đồng lõa và tàng trữ vũ khí, vàng bạc phi pháp. Bà chết trong tù sau hai năm thụ án, do chính tay công an Đỗ Hữu Đạt, người bị giam cùng trại, đánh lén bằng cuốc trong giờ lao động, để trả mối thù xưa. Hắn ta nghĩ rằng chính bà đã lập mưu để hại hắn, chứ Phượng không hề bị bà cho uống thuốc ngủ. Hắn ta cũng nghi ngờ ông Hai Chi đã khai hắn là tay chân đắc lực của Mười Vân, đã từng giết người bịt miệng, nên nhà cửa bị tịch thu cùng với bản án bốn mươi chín năm tù.
Và sở dĩ có phiên tòa và vụ án làm xôn xao cả nước thời ấy, hoàn toàn không phải chống tham nhũng mà chỉ vì bọn chúng không ăn chia đồng đều. Tay Mười Vân đã dành riêng cho mình một số vàng quá lớn, và từng làm mưa làm gió, qua mặt đám đàn anh, không còn xem trung ương ra thể thống gì.

Về sau tôi còn biết thêm: Sau khi ông Hai Chi giảm án ra tù, được con trai bảo lãnh sang Đức. Nhưng ông đã quẫn trí, thường ngồi thẫn thờ nhìn lên trời cao, lúc khóc lúc cười. Ông qua đời năm 2006.

Phạm Tín An Ninh