Mười ba năm chờ đợi – Một đêm chia ly

Bài và ảnh Phạm Sơn Liêm

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng ngừng bắn.Nhưng có những cuộc chiến khác… kéo dài suốt cả một đời người.

Sau năm 1975, có những người đàn ông ra đi với lời hẹn “vài tháng sẽ về”.

Và có những người vợ lặng lẽ đứng ở cửa nhà… chờ đợi mười năm, mười ba năm, thậm chí lâu hơn thế.

Họ không cầm súng.

Họ không có huân chương.

Nhưng họ đã chiến đấu bằng sự nhẫn nhịn, bằng nước mắt, và bằng tình nghĩa vợ chồng không gì lay chuyển.

Câu chuyện này không nói về chiến trận.

Nó nói về một người vợ nghèo, ba đứa con thơ, một bà mẹ già… và một người chồng đi cải tạo mười ba năm.

Ngày đoàn tụ, họ tưởng rằng cuộc đời đã trả lại cho họ chút bình yên.

Nhưng đôi khi…

số phận lại chỉ cho con người một khoảng hạnh phúc rất ngắn, trước khi lấy đi tất cả.

Nếu khi đọc câu chuyện này, bạn thấy mắt mình ướt…

xin hãy nhớ rằng ở một góc nào đó của đất nước này, đã từng có những người vợ chờ chồng gần cả một đời người như thế.

Psl.

Lon Cơm Và Chuyến Tàu Ra Bắc

Những năm sau 1975, ở một xóm nghèo cuối thị xã, người ta thường thấy một người đàn bà gầy gò, lúc nào cũng mặc chiếc áo bà ba đã sờn vai, buộc tóc sau gáy. Ba đứa con nhỏ bám quanh, còn trong nhà là một bà già lưng đã còng như dấu hỏi.

Người đàn bà đó tên Hạnh.

Chồng chị,một sĩ quan cũ, đã bị đưa đi “học tập cải tạo”. Ngày đi, anh nói một câu nhẹ tênh:

“Ba tháng thôi… anh về.”

Ba tháng ấy kéo dài mười ba năm.

Những năm đầu, chị Hạnh còn tin.

Mỗi buổi chiều chị đứng ngoài đầu ngõ nhìn ra con đường đất, tưởng như sẽ thấy chồng xách túi trở về. Ba đứa con cứ hỏi:

“Má ơi, chừng nào ba về?”

Chị nuốt nước mắt:

“Ba đi làm xa… mai mốt ba về.”

Nhưng năm tháng cứ trôi.

Đồ đạc trong nhà lần lượt đội nón ra đi: cái đồng hồ cưới, chiếc xe đạp, rồi đến cái tủ nhỏ. Còn lại chỉ có ba đứa con và một bà mẹ chồng già yếu.

Chị làm đủ nghề: bán rau, gánh nước thuê, giặt đồ mướn. Đêm về, chị ngồi vá áo cho con dưới ngọn đèn dầu leo lét.

Có đêm mệt quá, chị gục đầu xuống bàn mà ngủ.

⸻

Đứa con trai lớn tên Tuất.

Nó mới chín tuổi đã biết cầm cái lon đi xin cơm dư ở mấy quán ăn.

Ban đầu chị Hạnh la nó:

“Con làm vậy người ta coi thường.”

Thằng bé cúi đầu:

“Con không xin… con lấy đồ người ta bỏ thôi. Má đừng khóc.”

Từ đó, sáng nào nó cũng đứng trước quán ăn, đợi khách ăn xong.

Những tô còn dư chút cơm, chút thịt… nó trút hết vào cái lon.

Mang về cho má, cho bà nội.

Nhiều bữa nó nói dối:

“Con ăn rồi.”

Nhưng chị biết nó chưa ăn gì.

Một hôm chị Hạnh nghe tin: muốn đi thăm chồng ngoài Bắc phải có giấy.

Chị bán luôn chiếc nhẫn cưới cuối cùng.

Rồi vay mượn khắp nơi.

Sau mấy tháng trời chạy ngược chạy xuôi, chị cầm được tờ giấy phép thăm nuôi.

Chuyến tàu ra Bắc kéo dài gần ba ngày ba đêm.

Chị ôm theo túi gạo, ít cá khô, mấy bộ quần áo vá chằng vá đụp.

Đêm trên tàu, chị không ngủ.

Chỉ ôm cái túi, nhìn ra cửa sổ tối đen.

Trong đầu chị chỉ có một câu:

“Không biết ổng còn sống không…”

Ngày gặp lại chồng trong trại cải tạo, chị không nhận ra anh.

Người đàn ông gầy đến nỗi hai má hóp sâu, da đen sạm, tóc lốm đốm bạc.

Anh nhìn chị một hồi lâu.

Rồi bật khóc.

Đó là lần đầu tiên chị thấy người đàn ông từng chỉ huy cả đại đội… khóc như một đứa trẻ.

Anh run run hỏi:

“Con… còn đủ không?”

Chị gật đầu.

Nhưng không dám nói rằng đứa lớn phải đi xin cơm dư.

Mười ba năm sau.

Một buổi chiều, anh được thả về.

Không có kèn trống.

Không có chào đón.

Chỉ có một người đàn bà đứng ở cổng xóm, tay run run nắm tà áo.

Anh bước xuống chiếc xe đò cũ kỹ.

Hai người nhìn nhau.

Không ai nói gì.

Chỉ có nước mắt.

Những năm sau đó là những ngày bình yên hiếm hoi.

Anh đi sửa xe đạp, vá dép kiếm sống.

Chị bán hàng ngoài chợ.

Ba đứa con đã lớn.

Thằng Tuất giờ thành thanh niên, da đen vì nắng, nhưng hiền như đất.

Có lần anh nói với vợ:

“Anh mang ơn em… suốt đời.”

Chị cười:

“Ơn nghĩa gì… vợ chồng mà.”

Nhưng hạnh phúc ấy ngắn lắm.

Một buổi sáng, đang sửa xe trước nhà, anh bỗng ngã quỵ.

Tai biến.

Nửa người tê liệt.

Từ đó, người đàn ông từng chịu đựng mười ba năm trại cải tạo… nằm một chỗ.

Chị Hạnh lại bắt đầu một cuộc đời khác.

Ngày ngày đút cơm cho chồng.

Đêm đấm bóp tay chân cho anh.

Có hôm chị ngồi bên giường, tưởng anh ngủ rồi.

Chị khẽ nói:

“Ông ơi… ráng sống nha. Tui chờ ông mười ba năm rồi… đừng bỏ tui nữa.”

Anh mở mắt.

Nước mắt chảy xuống thái dương.

Một chiều mưa.

Thằng Tuất đứng trước hiên nhà.

Trong tay nó là cái lon cũ đã móp méo – cái lon ngày xưa đi xin cơm dư.

Nó nhìn cái lon rất lâu.

Rồi lặng lẽ ném đi.

Vì bây giờ nó đã là trụ cột gia đình.

Nhưng trong lòng nó biết…

Có những năm tháng không bao giờ quên được.

Người ta thường nói chiến tranh kết thúc năm 1975.

Nhưng với nhiều gia đình…

Chiến tranh không bao giờ thật sự kết thúc.

Nó nằm trong những chuyến tàu thăm nuôi ra Bắc.

Trong cái lon cơm dư của một đứa trẻ.

Và trong đôi mắt của một người vợ…

đã chờ chồng gần cả đời người.

Đêm đó mưa rơi rất nhẹ.

Những giọt mưa gõ lộp bộp lên mái tôn cũ của căn nhà nhỏ, thứ âm thanh quen thuộc của bao năm nghèo khó. Trong căn phòng chật hẹp, ánh đèn dầu leo lét hắt bóng con người lên vách tường loang lổ.

Người đàn bà ngồi bên giường.

Đó là chị Hạnh.

Trên chiếc giường tre cũ, người chồng nằm bất động. Sau cơn tai biến, nửa người ông gần như không còn cử động được. Hơi thở yếu, ngắt quãng. Mỗi lần ông thở, ngực nhô lên rất chậm… như phải gắng hết sức mới giữ được một hơi sống.

Chị Hạnh ngồi đó, tay cầm chiếc khăn nhỏ lau trán cho chồng.

Động tác quen thuộc suốt mấy năm nay.

Nhẹ nhàng.

Chậm rãi.

Như sợ làm ông đau.

Ngoài hiên, mấy đứa con đã ngủ. Thằng Tuất đi làm phụ hồ cả ngày, mệt lả, nằm gục bên chiếc bàn gỗ. Hai đứa em nó ngủ sát nhau dưới nền nhà.

Chỉ còn chị Hạnh thức.

Và người chồng đang ở ranh giới mong manh giữa sống và chết.

Chị nhìn gương mặt ông thật lâu.

Mái tóc bạc gần hết.

Hai gò má hóp sâu.

Không còn bóng dáng của người sĩ quan ngày xưa, người đàn ông từng đứng thẳng lưng trong bộ quân phục, từng bế chị quay một vòng trong ngày cưới.

Chị khẽ nắm bàn tay ông.

Bàn tay ấy gầy và lạnh.

Ngày xưa bàn tay đó từng rất mạnh. Khi dắt chị qua đường, khi bồng con đầu lòng, khi đặt lên vai chị mà nói:

“Có anh đây.”

Mà bây giờ…

Bàn tay đó nằm im như một cành cây khô.

Chị Hạnh cúi xuống gần tai chồng.

Giọng chị nhỏ lắm.

Như nói một mình.

“Ông ơi…”

Ông khẽ mở mắt.

Ánh mắt đục, mệt mỏi.

Nhưng khi nhìn thấy vợ… nó dịu lại.

Chị cười.

Một nụ cười đã quen với nước mắt.

“Ông ráng ngủ đi… tui ngồi đây.”

Ông không nói được nữa. Cơn tai biến đã lấy đi tiếng nói của ông từ lâu. Nhưng khóe mắt ông ướt.

Một vài giọt nước mắt chảy xuống thái dương.

Chị Hạnh lau đi.

Rồi bất chợt chị thì thầm, giọng run run:

“Ông biết không… hồi ông đi cải tạo… tui sợ lắm…”

Chị nhìn ra ngoài màn mưa.

Như đang nhìn lại cả một đời.

“Tui sợ ông chết ngoài đó… mà tui không được gặp.”

Giọng chị nghẹn lại.

“Tui chờ ông… mười ba năm trời.”

Căn phòng im lặng.

Chỉ còn tiếng mưa.

Chị nắm tay ông chặt hơn.

“Ngày ông về… tui nhìn không ra ông nữa.”

Chị cười, nhưng nước mắt rơi.

“Ông gầy quá trời… tui tưởng người ta thả nhầm người khác.”

Ông chớp mắt.

Một cái chớp mắt yếu ớt.

Như muốn nói điều gì đó.

Chị cúi đầu nhìn xuống bàn tay ông.

“Nhưng mà ông về là được rồi…”

“Về để tui còn thấy ông.”

Một giọt nước mắt rơi lên tay ông.

“Ông biết không… tui không sợ nghèo…”

“Tui chỉ sợ… chờ hoài mà không thấy ông về.”

Ngoài trời, mưa nặng hạt hơn.

Gió lùa qua khe cửa.

Ngọn đèn dầu rung nhẹ.

Chị Hạnh đưa tay vuốt tóc chồng.

Động tác rất chậm.

Như vuốt từng năm tháng.

Một lúc lâu sau, chị khẽ nói.

Giọng nhỏ đến mức gần như tan vào tiếng mưa.

“Ông ơi…”

“Nếu ông mệt quá… thì thôi…”

Câu nói dừng lại rất lâu.

Rồi chị nói tiếp, nghẹn ngào:

“Ông nghỉ đi…”

“Tui… không trách đâu.”

Nước mắt chị rơi xuống gối.

“Ông đã khổ đủ rồi…”

“Mười ba năm ngoài trại…”

“Rồi mấy năm bệnh nằm đây…”

“Tui biết ông mệt lắm.”

Chị áp trán vào tay ông.

Thì thầm:

“Ông đi trước…”

“Mai mốt tui theo.”

Một lúc sau…

Bàn tay trong tay chị nhẹ dần.

Hơi thở… thưa hơn.

Rồi…

dừng lại.

Chị Hạnh ngồi yên rất lâu.

Không khóc.

Chỉ nắm tay ông.

Như sợ buông ra thì ông sẽ đi mất thật.

Ngoài hiên, mưa vẫn rơi.

Căn nhà nghèo im lặng.

Một lúc sau, chị cúi xuống.

Hôn nhẹ lên trán ông.

Rồi nói một câu rất khẽ:

“Ông về nhà rồi…”

“Không phải đi đâu nữa.”

Đêm đó…

Một người đàn bà góa chồng sau gần cả đời chờ đợi.

Nhưng lần này…

chị không còn phải chờ nữa.

Sáng hôm sau, khi mấy đứa con thức dậy, chúng thấy má vẫn ngồi bên giường, hai tay nắm chặt bàn tay ba.

Người đàn bà ấy đã thức suốt đêm.

Không gọi ai.

Không khóc thành tiếng.

Chỉ ngồi đó… như ngày xưa đã từng ngồi đợi chồng suốt mười ba năm.

Chỉ khác một điều.

Ngày trước bà ngồi chờ ông trở về.

Còn lần này…

bà ngồi đưa ông đi nốt đoạn đường cuối cùng của cuộc đời.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ.

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

“Tổng Cóc” là cái tên thân mật chúng tôi thường để gọi ông Quốc Phong từ khi ông lên chức tổng thư ký tòa soạn tuần báo Truyện Phim thời 1956-57 ở Sài Gòn. “Tổng thư ký tòa soạn Quốc Phong” nghe dài lê thê. Tên “Tổng Cóc” gọn gàng dễ nhớ, dễ gọi và cũng biểu lộ phần nào “bản tính cố hữu” của con người. Bởi Quốc Phong thẳng thắn, nóng tính, dễ nổi giận và khi đó anh vung chân múa tay, đập bàn xô ghế… oai như cóc. Vả lại cái tên “Quốc” nó gần giống với “cóc” nên anh em tặng ông cái “nickname” này quá đúng.

Tôi không nhớ ai đã tặng “biệt danh” đó cho ông, rất có thể là Hoàng Hải Thủy vì ông này thích đặt tên cho người khác theo một nghĩa nào đó mà ông cho là thú vị, đôi khi còn gợi nhắc một hình ảnh, một giai thoại dù nhỏ nhưng rất riêng biệt. Tất nhiên, những “biệt danh” đó, có người thích, có người không thích, nhưng lâu dần rồi nó cũng “chết” tên rồi, không đổi được nữa. Cứ gọi như thế, “cả làng” cùng biết. Riêng Quốc Phong thì vui vẻ nhận cái tên “Tổng Cóc” mà chính ông không biết “thằng phải gió nào” đã đặt cho mình. Lần đầu tiên, từ Pháp, ông điện thoại cho tôi và xưng danh ngay: “Tổng Cóc” đây”!

Nghe cái tên ấy thôi, dù xa nhau bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn thấy chúng tôi thật gần gụi nhau, có thể cởi mở, nói hết mọi chuyện với nhau không cần giữ gìn ý tứ, khỏi phải đề phòng, màu mè. Hơn bao giờ hết, tôi nhận thấy cái “nickname” nó quan trọng với tình bạn như thế nào. Cho nên hôm nay viết những dòng từ biệt anh, tôi vẫn giữ nguyên cái biệt danh ấy cho gần anh thêm, như chẳng bao giờ muốn rời xa.

Ông Tổng Ra Đi

Vào một buổi sáng sớm ngày 28-2-2005 tức là ngày 20 tháng Giêng năm Ất Dậu, theo thường lệ, tôi mở hộp thư điện tử, đã thấy ngay cái tin buồn của Hồng Vân, con gái Quốc Phong, từ Houston gửi cho tôi báo tin:

“Nhà báo Quốc Phong nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Vang và tuần báo Kịch Ảnh, nguyên chủ tịch Hội Chủ Báo, giám đốc hãng phim Liên Ảnh Công Ty, vừa từ trần lúc 8 giờ sáng ngày 28 tháng 2 năm 2005 tại Nice – Pháp Quốc. Ông sinh ngày 15-2-1924 tại làng Vân Ðồn, Hải Hậu, tỉnh Nam Ðịnh. Hưởng thọ 82 tuổi”.

Thật ra, đây là điều chúng tôi đã thấy ít nhất từ một hai năm trước, khi bệnh tình của anh trở nặng, phải vào bệnh viện để cắt một phần phổi và một miếng gan. Sau đó phải làm chemo để ngăn ung thư lan thêm ra. Mỗi lần vào thuốc như vậy anh rất khổ sở, mệt mỏi, buồn nôn. Thuốc đã làm rụng hết tóc. Ðã có lúc anh điện thoại cho tôi nói “không đi bệnh viện nữa vì chịu không nổi mỗi lần chemo — vào thuốc — muốn “đi” sớm cho đỡ khổ và khỏi làm phiền bà Thuận — vợ anh — nay cũng đã già yếu rồi”.

Trước tình cảnh ấy tôi chẳng biết nói câu gì, chỉ còn biết cầu nguyện cho anh mà thôi. 15 ngày trước đây, giữa tháng 2-2005, Hồng Vân gửi thư cho tôi xin lá đu đủ để gửi cho Bố uống bởi Vân nghe ai đó mách, thứ lá đó có thể chữa khỏi hoặc giảm bớt bệnh ung thư. Tôi hiểu đó chỉ là phương pháp cuối cùng, “còn nước còn tát” mà thôi, bởi anh yếu lắm rồi, hầu như chỉ còn nằm chờ ngày ra đi. Tôi thẳng thắn nói với Hồng Vân điều này.

Sự Thật Về Lá Đu Đủ Có Chữa Được Ung Thư Không?

Những năm gần đây, một đôi lần, tôi đã được một số bạn bè hoặc người quen ở nước ngoài, hỏi xin lá đu đủ để chữa bệnh ung thư. Tôi từng trình bày rõ ràng về trường hợp này. Nhân đây cũng xin trình bày cụ thể hơn về lá đu đủ có chữa được ung thư không?

Câu trả lời hết sức chân thật là tôi hoàn toàn không biết hiệu quả của nó ra sao. Tôi chỉ nghe người ta nói lại và yêu cầu tôi kiếm giùm thứ lá này. Từ đó tôi nhận được nhiều nguồn tin cho biết về một số trường hợp đã uống lá đu đủ. Có người khỏi hoặc kéo dài cuộc sống một thời gian nào đó, có người không đạt hiệu quả gì, “ra đi” luôn, nhưng hầu hết là vì bệnh tình quá nặng rồi.

Tôi chỉ biết làm mỗi công việc là đi tìm lá đu đủ phơi khô để gửi cho bạn nào ở nước ngoài cần. Sau đó người ta lại mách rằng lá đu đủ đực mới công hiệu. Thứ lá “đực” này quá hiếm vì đó là thứ đu đủ không có trái nên chẳng ai giữ làm gì cho tốn đất, cứ thấy đu đủ đực là chặt phăng ngay. Vì thế tôi lại phải nhờ người nhà ở Long Khánh vào rừng kiếm rồi trồng đu đủ đực ngay vườn nhà nên mới có để cung cấp cho bạn bè và ngay cả những người không quen. Tôi cũng xin nói rõ là tôi hoàn toàn tặng theo yêu cầu, tuyệt đối không hề nhận bất cứ cái gì của ai, dù một bao thuốc lá.

Thứ hai là dùng lá đu đủ để chữa bệnh chưa được một trung tâm y khoa hoặc nhà nghiên cứu nào công bố về tác dụng ra sao. Đây chỉ là bài thuốc dân gian, có lẽ chỉ có ở Việt Nam. Tôi chỉ biết một người bạn tôi uống lá đu đủ này từ vài ba năm nay và không gây tác hại gì, đến nay vẫn mạnh khỏe. Tuy nhiên anh ấy thỉnh thoảng vẫn đi bệnh viện khám lại nên chưa thể biết chắc vì thuốc Tây hay bài thuốc dân gian. Ðó là sự thật về lá đu đủ. Ai tin thì dùng. Chưa thể có một kết luận nào rõ ràng.

Tôi chưa kịp gửi lá đu đủ thì Quốc Phong đã ra đi rồi!

Cũng may, chứ nếu tôi vừa kịp gửi và ông Tổng Cóc vừa uống một liều đã lăn ra đi tàu suốt, tôi sẽ ân hận lắm và chưa biết chừng cái bài thuốc dân gian kia lại bị nghi ngờ cho cái tội làm chết người. Nói là nói thế thôi, tôi chắc người nhà ông Tổng Cóc chẳng ai nghĩ thế.

Một Thời Xưa Cũ

Tôi biết Quốc Phong khi viết cho tờ Truyện Phim của anh Nguyễn Ngọc Linh. Hồi đó, khoảng năm 1957, anh Linh du học Mỹ mới trở về Việt Nam, tòa soạn báo còn đặt ở một ngôi nhà nhỏ đường Ký Con, thuộc Quận 1, Sài Gòn. Tuần báo Truyện Phim nhanh chóng được độc giả trẻ yêu thích, được đón nhận và gây tiếng vang từ miền Nam đến miền Trung. Hầu như sinh viên, học sinh thời đó, không ai là người không biết đến Truyện Phim. Tờ báo cũng nhanh chóng thay hình đổi dạng, trở nên bảnh bao hơn, bìa offset 4 màu, ca sĩ tài tử ngoại quốc và Việt Nam được trưng lên trang bìa hàng tuần. Bài vở về “cinéma” dịch từ những báo Tây qua Air France rất nhanh, sáng tác trang trong hầu hết là truyện thời đại rất hợp với tuổi trẻ. Ðặc biệt là mỗi lần ra số Tết đều có tặng thêm một cuốn lịch của hãng Paramount Picture rất bảnh chọe gồm 12 trang, mỗi tháng một trang, in hình tài tử thượng thặng thời đó của Hollywood như Ava Gardner, Grace Kelly, Audrey Hepburn, Marilyn Monroe, Frank Sinatra… Mỗi năm, ông tổng thư ký đích thân đi thuê đóng tất cả số báo trong năm, thành một tập bìa da, gáy mạ chữ vàng, cho anh em tòa soạn mỗi người một cuốn dày cộm lưu giữ làm kỷ niệm. Ðó là nét rất đặc biệt của tòa soạn Truyện Phim mà không tòa soạn nào làm được.

Hồi đó tôi còn độc thân, đi chiếc vespa ọc ạch, mỗi tuần ít nhất phải đến tòa báo một lần đưa bài. Phóng sự tiểu thuyết Những Ngày Hoa Mộng là feuilleton đầu tiên của tôi đăng trên tờ này. Cùng viết với tôi có Thanh Nam, Hoàng Hải Thủy, Gia Tuấn, Mai Châu… Anh em tòa soạn thường gặp nhau vào buổi chiều, buổi tối ở một nơi nào đó để cà phê, nghe nhạc. Nhà hàng La Pagode ở góc đường Tự Do còn bày bàn ghế ra vỉa hè rộng thênh và đó là nơi hội tụ khá nhiều gương mặt “văn nghệ” của Sài Gòn thời ấy. Hầu như không ai không biết đến nhà hàng này. Muốn gặp nhau thì buổi chiều cứ đến đó.

Năm 1957, tôi được biệt phái lên Pleiku thành lập Ðại Ðội 3 Văn Nghệ của Quân Khu 3, dưới quyền ông tướng nổi tiếng kỷ luật Ðỗ Cao Trí. Nhưng tiểu đoàn văn nghệ của tôi lại trực thuộc trung ương nên thỉnh thoảng tôi có dịp bay về Sài Gòn. Mỗi lần như thế ông Tổng Cóc kéo tôi đi ăn, đi chơi và không quên nhờ viết bài giới thiệu một ca sĩ đang được yêu chuộng để làm bìa báo. Vì thế tôi bỗng có thêm nghề tường thuật về “cuộc đời ái tình sự nghiệp” các danh ca tài tử, nhưng tôi lấy một bút danh khác là Hoài Giang Ngọc và đã có chuyện trớ trêu là một nữ ca sĩ, sau khi tôi phỏng vấn và viết bài, ngay hôm báo ra đã gặp tôi và “phỏng vấn” lại:

– Anh phỏng vấn em, sao lại để anh “vớ vẩn” nào viết bài vậy?

Hôm đó, có mặt cả Thanh Nam, Hoài Bắc, Mai Thảo, Quốc Phong. Mọi người cười phá lên, tôi cũng cười.

Thanh Nam chỉ tay lên sân khấu, lúc đó Hoài Bắc đang đứng hát:

– Người viết bài cho em là “thằng vớ vẩn” đang hát trên kia đấy.

Em ca sĩ trợn mắt:

– Ui cha, thật thế không anh? Quốc Phong cũng hùa vào:

– Thật đấy, Hoài Bắc viết hay hơn nên anh đăng bài của anh ấy.

Tôi nói:

– Hoài Bắc tức Phạm Ðình Chương mà viết bài là nhất rồi, làm sao anh so sánh với anh ấy được.

Em ca sĩ nửa tin nửa ngờ, nhưng đợi Hoài Bắc hát xong, em đến cảm ơn như một người lịch sự nhất thế giới. Hoài Bắc cứ ớ mặt ra chẳng hiểu chuyện gì. Nhưng bản tính vốn hiền lành, chậm chạp, ít nói nên Hoài Bắc không thể nói nhiều và nói nhanh bằng mấy người chúng tôi họp lại. Nữ ca sĩ vẫn tin người viết bài cho mình là Hoài Bắc. Sau này khi biết chuyện, ca sĩ đó trả thù bằng cách cứ gặp tôi là chắp tay chào “Thưa chú Hoài Bắc”.

Trong số ca sĩ mà ông Tổng Cóc cùng tôi đi phỏng vấn, tôi chỉ còn nhớ mang máng có nữ ca sĩ Khánh Ngọc, Kim Chi, Minh Hiếu, Lệ Thanh, Thanh Thúy, Băng Tâm, Thùy Trang… Ơ, mà sao đến bây giờ tôi mới nhớ ra tại sao ông Tổng Cóc lại chỉ đưa tôi đi phỏng vấn nữ ca sĩ chứ không cho phỏng vấn nam ca sĩ? Lạ thật. Hay là ông cho rằng tôi chỉ có khiếu viết về nữ ca sĩ, còn gặp nam ca sĩ thì không có hứng? Câu hỏi này có lẽ phải chờ đến khi tôi gặp lại ông Tổng ở “bên kia” mới có dịp đặt ra.

Từ Báo Truyện Phim Đến Kịch Ảnh

Sau vài năm, khi tôi đã trở lại làm việc tại Sài Gòn, anh Nguyễn Ngọc Linh được lệnh động viên vào Thủ Ðức. Tờ Truyện Phim không có chủ, Quốc Phong bèn ra riêng, làm tuần báo Kịch Ảnh. Từ đó Kịch Ảnh được cải tiến nhiều trang mục khá hay và ăn khách hơn. Chúng tôi lại có mặt và công việc chẳng khác gì khi viết cho Truyện Phim. Và cũng theo thông lệ, hàng năm Kịch Ảnh vẫn đóng tập tặng cho anh em tòa soạn, đặc biệt cứ mỗi dịp cuối năm lại có một chầu tất niên rất linh đình. Sau mục ăn uống tất niên ở một nhà hàng thuộc loại khá sang như Văn Cảnh lại có mục đi ăn, đi chơi, bất chấp sang hèn ở bất kỳ nơi nào, theo đề nghị của đa số biên tập viên.

Lúc đó ông tổng thư ký đã lên chức “ông chủ báo” nhưng cái tên Tổng Cóc vẫn còn nguyên si. Không ai gọi ông là ông chủ như ông Ðinh Văn Khai hay bà Bút Trà. Kỷ niệm của chúng tôi về thời làm Kịch Ảnh quá nhiều, khó kể hết. Từ công việc tòa soạn đến những lúc đi quay phim, ngồi đánh chắn, đánh xì và sau này là xoa mạt chược còm. Trong làng mạt chược còm, giai thoại về ông Tổng Cóc đến nay vẫn còn được nhắc. Ngày đầu năm 2005 vừa qua, Nguyễn Ðình Toàn lên chơi nhà tôi ở Lộc Ninh còn nhắc lại “sự tích” này: Khi một người trong bàn mạt chược chỉ còn mỗi cây trên tay, tức là ăn và phỗng sạch rồi, chỉ còn chờ “tú la de” — có lẽ theo tiếng Tây là “tout ouvert”, mạt chược vốn là thứ ngôn ngữ loạn xà bì, Tàu, Tây, Mỹ lẫn lộn. Ông Tổng Cóc bèn đánh ngay ra con Hợp, tức là khung thứ ba ông đánh ra. Anh em trong bàn bật ngửa, nhưng biết ông mới tập chơi nên cho ông đánh lại. Nguyễn Ðình Toàn cười hăng hắc: “Nếu nó chờ con tài phao thì đúng Tổng Cóc nó là thánh”.

Ðánh xì với ông Tổng Cóc cũng dễ ăn, ông nóng tính nên thường thua nhiều hơn được, cho nên mỗi khi ông rủ tôi đi đánh xì là có anh bảo tôi đi lãnh lương. Nhưng cũng có lần ông ăn ngược tôi những ván đau như hoạn. Tôi 3 cẩu, ông có đôi xì, xì chết một con giữa bàn rồi, vậy mà ông “ta-pi”. Tôi chắc mẩm chỉ còn việc vơ tiền.

Nhưng khi ông rút bài và nặn ra “đen bụng”, ông lên ba xì, thế là ông vơ tiền, tôi ngáp.

Có những kỷ niệm cỏn con mà nhớ đời. Bạn bè lúc này chỉ còn những chuyện lẩm cẩm như thế mới thật thấm đậm. Còn chuyện lớn hơn như chuyện “Văn nghệ và phú lít” tôi đã có dịp kể trong vài số báo xuân những năm trước. Kể lại như một chuyện vui không hề giận hờn bất cứ ai trong câu chuyện thật 100% đó. Tuổi trẻ nào chẳng có những lúc sai lầm.

Ông Tổng Cóc rất hào hoa và có số đào hoa nữa. Ông cũng có vài mối tình với những người đẹp từng là danh ca, tài tử màn bạc. Chuyện này thì bà Quốc Phong đã “biết tỏng ti” đi rồi nên tôi có nhắc lại cũng chỉ là “ca tụng” một người đàn ông mà thôi. Có lần tôi đến tòa soạn báo Kịch Ảnh, lúc đó đã dọn về ngôi nhà 69 Cống Quỳnh là nhà riêng của gia đình Quốc Phong. Bà Thuận nói ngay: “Ông có muốn tìm ông Quốc Phong nhà tôi thì đến nhà cô XY… mà tìm”. Tôi hiểu ngay bà… hơi ghen một tí đấy, nhưng đó là chuyện tất nhiên của mọi bà vợ, ai chẳng vậy. Tôi chỉ thầm phục bà Thuận là bà rất trầm tĩnh, dường như bạn bè không ai biết. Bà ghen nhưng vẫn giữ gìn thể diện cho chồng con và hàng tuần vẫn tiếp chúng tôi đến nhà đánh chắn, ăn cá nướng, đớp bún chả tưng bừng, trong khi ông Tổng lợi dụng lúc bà bận rộn lỉnh đi chơi với đào. Vậy mà vợ chồng ông rất hòa thuận đến cuối đời. Sang Pháp cũng lại thỉnh thoảng dở bài ra đánh chắn với những bạn Việt kiều ở quanh đó.

Từ Kịch Ảnh Đến Liên Ảnh Và Chân Trời Tím

Làm báo Kịch Ảnh được vài năm, một bữa ông Tổng Cóc quyết định làm phim và ông tập hợp 7 hãng phim lớn ở Sài Gòn thời đó như Mỹ Vân, Alpha… thành lập công ty Liên Ảnh để làm cuốn phim “CinémaScope” màu đầu tiên ở Việt Nam. Ông đến gặp tôi bàn về việc lấy truyện dài Chân Trời Tím quay thành phim. Ðạo diễn đầu tên mà ông nhắm tới là Hoàng Vĩnh Lộc, tài tử thì ông dự định chọn một số người khác chứ không phải là thành phần tài tử đã đóng phim Chân Trời Tím. Nhưng sau đó, vì là một công ty nên có nhiều ý kiến khác nhau, cuối cùng công ty chọn đạo diễn Lê Hoàng Hoa, nữ tài tử chính Kim Vui, nam tài tử Hùng Cường. Mai Thảo và tôi được yêu cầu viết kịch bản đối thoại — bây giờ gọi là kịch bản văn học. Tôi mù tịt về cách viết kịch bản nên phải mang giấy bút đi học Hoàng Vĩnh Lộc và Hoàng Anh Tuấn. Hai tháng sau truyện phim mới hoàn thành.

Tôi gặp Lê Hoàng Hoa để thảo luận về truyện phim trên chuyến bay từ Sài Gòn đi Nha Trang và vỏn vẹn một ngày trước khi quay cảnh đầu tiên ở tiền đồn Suối Dầu. Tôi cũng là người của quân đội được cử đi phối hợp các lực lượng yểm trợ cho những cảnh quay lớn gồm căn cứ Không Quân, Hải Quân Nha Trang, trường Hạ Sĩ Quan và Trường Biệt Kích ở Ðộng Bà Thìn, Cam Ranh. Và như thế tôi nghiễm nhiên bước lên vai “cố vấn quạt mo về quân sự” cho cuốn phim. Mãi đến lúc đó chúng tôi mới quyết định mời nữ ca sĩ Mộng Tuyền đóng một vai trong phim này. Hồi đó nhà văn Ðỗ Tiến Ðức còn làm giám đốc Trung Tâm Ðiện Ảnh Quốc Gia, kiêm giám đốc Ðài Truyền Hình Việt Nam, nên Chân Trời Tím được yểm trợ tối đa. Quốc Phong, Ðỗ Tiến Ðức và tôi chỉ gặp nhau đúng một lần, mọi chuyện đã xuông xẻ ngay, không có trở ngại nào đáng kể.

Tuy vậy, thú thật là tôi cũng không hy vọng nhiều vào tương lai cuốn phim, nhất là về thành phần tài tử, không chỉ mình tôi mà ngay những người quanh tôi cũng không yên tâm. Nhưng tôi chẳng có quyền hạn gì và cũng chẳng biết gì về việc quay phim. Một đôi lần được hỏi ý kiến, tôi mang hết những hiểu biết về quân sự của mình ra bàn bạc. Ngay cả khi Hùng Cường đóng vai hạ sĩ nhất, anh cũng chưa biết cái “lon” của nó đeo ra sao, ở cánh tay hay trên cầu vai. Tôi phải đưa Hùng Cường đi mua “lon” và đích thân “gắn lon” cho anh ấy. Bọn trẻ bu lại coi danh ca cải lương đông quá.

Nhưng như nhiều bạn đã biết, cuốn Cinemascope Chân Trời Tím đã thu hút một lượng khán giả lớn và gây tiếng vang đáng kể. Ông Tổng Cóc hỉ hả chi cho tôi một khoản tiền và sau đó, khi phim mang sang chiếu ở Lào và ở Pháp, ông cũng không bao giờ quên tôi. Nhờ vậy tôi mới có được chiếc Toyota vi vút với thiên hạ.

Xin cảm ơn ông Tổng Cóc.

Người “Chạy Nhanh” Nhất Sài Gòn

Khoảng cuối tháng 2-1975, tức là trước ngày “bể dĩa” 30-4-1975 hơn một tháng, khi tôi chuẩn bị đưa phái đoàn đi du hành quan sát ở Ðài Loan thì Quốc Phong đang xin giấy tờ đi Pháp dự Ðại Hội Ðiện Ảnh. Buổi tối sau cùng, chúng tôi ăn cơm ở nhà Phương Hồng Hạnh cùng một số bạn bè, sau đó đi ăn chơi ở Bar Dancing Tự Do. Lúc đó Quốc Phong mới rù rì với tôi, đã bán nhà bán xe và mang theo cả vợ con đi Pháp. Tôi hiểu ngay anh đã dự tính ở hẳn lại Pháp rồi. Anh còn bày tỏ ý định mở một cửa hàng ăn ở Marseille là nơi anh đã có một người bà con ở đó. Chúng tôi bắt tay nhau từ biệt trong bóng tối của Tự Do. Thầm hiểu sau lần gặp này khó có cơ hội gặp lại. Tuy vậy cũng chưa ai có thể dự đoán được tình hình sẽ bi đát thế nào.

Khi tôi ở Ðài Loan về thì Quốc Phong đã đi rồi. Anh có người con trai duy nhất sau Hồng Vân là Nguyễn Văn Thông. Cậu con trai đeo cặp kính cận thường hay ra tòa soạn báo Tiếng Vang ở đường Phạm Ngũ Lão ngồi với mẹ. Cậu ngồi oách lắm và tập làm “trị sự” nối nghiệp Bố. Nhưng vào năm 1972-73 gì đó cậu đã sang Thụy Sĩ du học, cả cô con gái út là Ngân Hà cũng đi du học ở Thụy Sĩ sau khi có bằng Tú Tài 2. Còn Hồng Vân có gia đình riêng nên ở lại Sài Gòn, đến năm 1979 mới vượt biên đến Thái Lan và Tổng Cóc qua đón mẹ con Hồng Vân sang Nice đoàn tụ. Ai cũng nói là Tổng Cóc khôn và “chạy nhanh” nhất Sài Gòn.

Hoảng Hồn Vì Được Gửi Tiền

Sau này, khi tôi từ “trại cải tạo” ra, đói rách thê thảm. Có tới bốn năm cái “không”: Không nhà cửa, không vợ con, không hộ khẩu, đi ở nhờ, nhất là không tiền. Bỗng một hôm nhận được khoản tiền 1.100 quan Pháp của Nguyễn Văn Hanh gửi về từ Pháp. Lúc đó còn phải lãnh tiền ở đường Cô Giang, chợ Cầu Ông Lãnh. Tuy cánh cửa nhà nước đã hé mở tí ti, nhưng vẫn phải khai báo lôi thôi lắm. Tôi vừa khai báo xong thì một ông đúng người Bắc Kỳ 75 thứ thiệt bèn xán lại hỏi tôi:

– Nguyễn Văn Hanh có phải là Quốc Phong không và bây giờ ông ấy ở đâu? Ông quen với ông Hanh như thế nào? Tôi hoảng hồn, cứ nghĩ là ông theo dõi mình, dò xét xem “liên hệ của bọn văn nghệ” này ra sao, có làm gì “phản động” không. Vừa ở trại cải tạo ra, nghi ngại như thế là hoàn toàn “đứng đắn”, vừa ra lại vô ngay thì cuộc đời còn gì nữa. Thế nên tôi trả lời u ơ rồi lỉnh ra chỗ khác, chờ lãnh tiền xong là biến. Nhưng sau này bình tĩnh lại mới chợt nghĩ nếu là công an thì họ vào thẳng quầy trả tiền hỏi lý lịch, chứ cần gì hỏi tôi. Có thể đó chỉ là người nhà hoặc người cùng làng với Quốc Phong từ Bắc mới vô Nam mà thôi. Tôi cũng hơi yên tâm, lúc đó tôi mới trả lời Tổng Cóc là tôi đã nhận được tiền và cũng nhờ món tiền đó tôi hiên ngang xin ghi tên theo học lớp vi tính ở trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn vào những khóa đầu tiên mà hồi đó chưa có Windows nên các thày cô giáo phải dạy tôi học vỡ lòng từ hệ điều hành DOS.

Tôi lại phải cảm ơn Quốc Phong một lần nữa vì cái nghề mới mẻ này tôi đã học được để có thể kiếm cơm ngay sau đó ít lâu và cũng nhờ nó tôi có can đảm ở lại Sài Gòn. Sau này cứ mỗi năm, đến gần Tết, ông lại gửi cho tôi đúng một ngàn quan Pháp. Tôi biết là ông đã trích trong số “tiền già” ít ỏi mà ông đang nhận chứ không làm ăn buôn bán gì. Nhiều lần ông điện thoại hỏi tôi có nên về Việt Nam chơi không. Những năm đầu tôi trả lời khoan đã, đợi xem thế nào. Vài năm sau, tôi thấy có thể về chơi được nên mạnh dạn nói với ông: “Già rồi, ông còn làm được cái cóc gì nữa mà người ta làm gì ông. Tôi thấy có thể về được đấy”. Vậy mà hai ba năm sau, ông mới trở về. Hai vợ chồng và cậu con trai cùng cô con gái út và chồng kéo nhau đến nhà tôi vào một buổi chiều.

 (Ảnh: Văn Quang, Quốc Phong, Phan Nghị).

Cậu con trai bây giờ đã là kỹ sư làm việc cho một hãng nước ngoài. Tôi chợt nhớ tới hình ảnh anh “nhóc” đeo kính cận hạng nặng ngồi với mẹ ở tòa soạn báo Tiếng Vang xưa. Lúc này cậu cũng viết lách như một thú vui và ký tên Nguyên Ngã. Còn cô gái út, ngày nào chỉ thích ôm con mèo chạy lăng xăng hết trên lầu đến dưới nhà, bây giờ cũng đã có hai con. Cuộc đời trôi nhanh quá.

Chúng tôi cùng hiểu rằng ông về Việt Nam lần này chắc là lần cuối. Ðó là tâm trạng của hầu hết bạn già của tôi, muốn được trở lại nhìn quê hương, thăm họ hàng anh em một lần trước khi không bao giờ về được nữa. Dịp đó cũng là dịp đứa cháu ngoại của ông còn ở lại Sài Gòn với bố, lấy chồng ở Ðan Mạch. Chúng tôi vui vẻ đi ăn cưới và đến nay thì cô cháu ngoại ở Ðan Mạch cũng đã có một đứa con trai và cũng đã sang Nice thăm cụ cố ngoại trước khi cụ mất ít ngày. Thế là ông Tổng Cóc của tôi đã đạt cả hai ước nguyện: về thăm quê hương và bế đứa chắt đầu tiên của mình. Ðó là an ủi cuối cùng cho ông bạn tôi.

Trước Tết năm vừa qua vài ngày, khi tôi còn ở Sài Gòn, ông cũng điện thoại cho tôi ngay lúc ở bệnh viện về đến nhà ở Nice. Ông than mệt mỏi, không ăn uống gì được và chỉ mong được ra đi. Tôi không chờ đợi nhưng cái tin buồn kia rồi cũng đến. Hồng Vân kể lại, ông ra đi nhanh chóng nhẹ nhàng trong giấc ngủ với gương mặt hiền hòa toại nguyện, vì đã gặp lại tất cả con cháu và nói chuyện lần cuối cùng với những người thân thiết trong đời. Vĩnh biệt ông Quốc Phong. Mãi mãi trong lòng tôi, ông vẫn là Tổng Cóc của cả anh em chúng tôi còn ở đây hay đã ở nơi khác. Tang lễ của ông đã được cử hành tại Nice, Pháp quốc, sáng ngày Thứ Năm 03-3-2005. Sau lễ hỏa táng, gia đình gồm vợ con và các cháu nội ngoại — trừ Hồng Vân ở Houston, Texas không xin kịp visa — cùng rất đông bà con Việt kiều có mặt tại Nice, đã đưa linh hồn ông đến an nghỉ cuối cùng tại chùa Phật Quang. Chủ Nhật 6-3-2005 Thượng tọa Thích Tâm Châu sẽ làm lễ cầu siêu cho ông tại Chùa này. Tại Houston, Hồng Vân làm lễ cầu siêu cho Bố tại chùa Linh Sơn chiều Thứ Bảy 05-03-05.

Cô em họ ông, bà Phương Thảo, hiện ở Sài Gòn cũng làm lễ cầu siêu cho ông vào sáng Chủ Nhật 6-3-2005, tại chùa Hải Ðức — ngôi chùa của Hội làng Vân Ðồn — ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Xin thắp một nén hương cho người bạn thân thiết của tôi suốt một thời trai trẻ.

(Sài Gòn 6-3-2005)

Chiếc áo bà ba in hình chữ Hỷ

Đoàn Xuân Thu

Mới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: “Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ không bằng lòng: “Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội”. À ra thế!

Ba Muội, chú Phu, người Quảng Đông. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường

Má tôi đông con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.Chủ nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học Đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc Trung học Đệ nhị cấp. Cuối năm, tôi sẽ thi Tú tài hai. Đậu thì lên Đại học. Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt. Bạn tôi, rớt Tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học Đệ tam, trường Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.

Muội là cô giáo dạy tôi tiếng Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi Tú tài hai, bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới nữa là.

Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi. Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu. Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”. Tôi nói: “Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết Muội quen với tôi, ba Muội rầy.

Ba Muội nói: “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con”.

Tôi nói: “Muội đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu Tú tài hai, vào Đại học Sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.

Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.

Nhưng thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái

Cuối năm đó tôi đậu Tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa. Tôi sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.

Tôi không ao ước cao xa gì hết. Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy mà cũng không được! Mùa hè năm 72: mùa hè lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp, nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên đã ban hành. Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tôi thư về Muội bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở về! Tôi sẽ trở về! Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.

Muội hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô, áo trận.

Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy quân Lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.

Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt xuống mương, mình dính đầy những miểng.

Đường Gia Long – Mỹ Tho, 1969

Tôi không chết, như đã hứa với Muội. Trực thăng phầm phập tải thương về Bịnh viện 3 Dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè. Muội nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi thò cái tay, không bị dính miểng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước mắt. Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.

Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miểng trong người lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miểng ra, máu lại chảy. Tôi được hai tuần phép để chờ ra hội đồng giám định y khoa.

Tôi trở về Mỹ Tho gặp má. Cởi giầy sô, áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi, khi bây giờ, tôi nhớ lại.

Tôi hỏi Muội: “Đẹp tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.

Cả tháng trời nằm bịnh viện, không có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.Tôi nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!” Số tiền còn lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi, mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.

Tôi hỏi: “Chữ Tàu đó nghĩa là gì?”

Muội nói: “Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới”.

Tôi hỏi: “Muội muốn màu gì?”

“Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội”.

Tôi nói: “Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.

Tôi chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.

Tôi bảo: “Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh dù cho trời sập tới nơi.” Muội nói: “Muội sẽ chờ.”

Tôi may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bệnh viện 3 Dã chiến ngày nào.

Muội nói: “Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ Tho.”

“Ba má sanh Muội ra ở đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi nịnh Muội.

Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.

Tôi chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi năm năm sau mới thả tôi về. Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

Má ơi!

Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị thương nằm ở Bịnh viện 3 Dã chiến năm nào. Tôi nhớ những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi; đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc. Cả nhà đói, ăn độn bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi còn đâu nữa. Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.

Tôi không tìm gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn! Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ? Tôi không tìm gặp lại Muội không phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi ở tù. Thế thôi!

Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người, có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ đâu? Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi. Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương bao giờ đâu?

Tôi đã sống sót suốt năm năm trời dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói, đói đến mức phải ăn bất cứ cái gì động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội. Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã trở về, dù thân tàn ma dại.

Em gái tôi đem chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.

Đế quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường, chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười, hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất, là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.

Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích VC này có kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy. Ngồi trước gương của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt, đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.

Tôi đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ, Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu, mình chạy đó”

Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành, như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước 75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi chứ chẳng ai!

“Đi xích lô hông? Chú ba!” Chú Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi. Tôi đã đổi thay nhiều quá.

“Chèn ơi! Vậy mà ngộ tưởng nị chết rồi.”

“Chết sao được! Sống nhăn răng ra đây nè.”

Tôi chở chú Phu về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.

“Nị ở chơi, ngộ nấu hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngộ cũng không có ăn hủ tiếu.”

“Vậy chứ chú thôi bán hủ tiếu rồi sao?”

“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền đâu ăn hủ tiếu.”

“Thì bán cho mấy ổng.”

“Ổng nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.”

Chú Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.

Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo, thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.

Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.

Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để sống?”

“Thì nị thấy đó, ngộ đi mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà, nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân ký. Bây giờ khổ quá! Nhớ hồi xưa mình vui quá!”

Lít rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.

Chú Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lon.

Chú nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!”

“Muội ơi!”

“Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngộ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngộ về Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngộ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng rượt ngộ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngộ nói với con Muội: “Mỹ Tho bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!”

Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về. Ngộ nói: “Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột đèn còn muốn đi nữa mà.”

“Suốt cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng, ngộ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội một chổ.”

“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”

Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.

“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngộ cái này, nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho nị. Hu hu!”

Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.

Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau.

Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.

“Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình theo, ra biển!”

Đoàn Xuân Thu

Chi lạ rứa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 06/09/2018 
Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Tôi viết liên tiếp ba lá thư mà không nhận được hồi âm.

Chi lạ rứa?

Vì tôi đợi nên người chẳng đến.

Rứa có lạ không?

Người Huế có một chữ tôi mãi yêu. Chữ: Dễ sợ.

Đẹp dễ sợ. Xấu dễ sợ. Vui dễ sợ. Buồn dễ sợ. Mắc dễ sợ. Rẻ dễ sợ. Hiền dễ sợ. Ác dễ sợ. No dễ sợ. Đói dễ sợ. Xa dễ sợ. Gần dễ sợ. Nóng dễ sợ. Lạnh dễ sợ… Chi cũng dễ sợ cả. Rứa thì người Huế chắc yếu bóng vía dễ sợ. Hoặc họ hàm hồ dễ sợ! Việc chi mà sợ, cứ tỉnh như ruồi không được hay răng? Bởi rứa nên chữ dễ sợ nó ôm đồm tất thảy những trạng huống, nó tô son trét phấn vào từng cung bậc cảm xúc. Nó làm cho thứ đáng phải dễ sợ trở nên không dễ sợ một chút chi cả. Sự độ lượng nào mà chẳng đáng yêu? Xa em bắt anh nhớ em dễ sợ. Hỏi mà em ngậm câm chẳng trả lời làm anh ghét em dễ sợ.
Người con trai tỏ tình: Em đẹp dễ sợ. Gái vùng miền khác sẽ la: Tôi là ma quỷ chăng? Tôi là bà chằng lửa chăng? Là chèn đét toi đâm chằng ăn trăn quấn chăng? Dễ sợ mà một hai cứ đòi xấn vô cầm cái tay nắm cái chân, bu như sam nguyện làm cái đuôi, xong cái tới nhà thì dậm cẳng biến thành cây si trồng trước ngõ. Lì dễ sợ! Mặt dày mày dạn dễ sợ! Ưa làm kỳ đà cản mũi, ưa chêm cục đá ngoài đường lộ. Giận dễ sợ.

Hiện tình, đang có một thứ khiến tôi nản dễ sợ, ấy là nghe tin amazon sẽ không nhận in những thơ văn viết bằng tiếng Việt nữa. Vì răng rứa? Ba de dễ sợ! Ai đã làm chi xúi “em” giận hờn ngoảnh mặt quay lưng chối từ lòng anh trao gửi? Anh đang viết truyện dài chưa tìm ra nhan tựa thì điệu này chắc đành mang tên “Con Ai Đem Bỏ Chùa Này”. Nhiều chùa không duyên phận nên lạc hồn lén lút mang đặt ngay cổng chùa Bà Đanh. Chùa này nổi tiếng vắng lặng, giờ chỉ nổi cộm tiếng khóc rấm rức của hòn thịt đỏ hỏn cuốn trong manh tả trắng nhạt nhoà một hôn hoàng tranh tối tranh sáng, nhọ mặt người chẳng vọng về tiếng chuông thu không. Cảnh sắc có xốn xang? Sao nghe lòng đau dễ sợ!

Nguồn tin chưa được kiểm chứng hư thực, nhưng giả như người ta đi tới quyết định trên thì hẳn họ đã có lý do. Lý do dễ hiểu nhất: Chả có ma nào bỏ tiền ra mua ngoại trừ chính tác giả “thỉnh” về đôi ba chục cuốn. Hết. Thị trường tiêu thụ vắng, lặng ngắt như tờ, hỏi mấy anh chừ em biết tính làm răng? Em nghỉ chơi thì mấy anh trách em bạc tình. Hỏi lại nhé, mấy anh có ai kiếm ra lượng độc giả còn mặn nồng với thơ văn, chữ viết trên giấy? Lỗi tại ta mọi đàng! Lời than ấy mắc mớ chi tới bọn em? Xù. Đừng sợ em nhen!

Amazon nó tiện lợi ra sao thì quý vị đã tường (kể ra làm gì cho tốn giấy). Nếu nó làm mất đi sự kỳ vọng của người viết từng trông mong thì người viết muốn in ra một hai đầu sách phải trở về “con đường xưa em đi”. Bản boléro ấy du dương theo từng nhịp ngắt: Tác giả tự in tự phát hành sau khi tốn một nạm tiền chi trả vào việc nhờ người ta lay out, người ta trình bày bìa. Tác giả dọ hỏi rằng in ở Đài Loan giá rẻ (dễ sợ), nó gửi sách về bằng đường thuỷ và một ngày bất kể với thứ thời tiết gì, mình áo mão cân đai hẳn hoi ra bến tàu nhìn sóng nhấp nhô đón đợi đứa con chưa từng trông ra mặt mũi sắp vượt biển an toàn tới bến bờ đoàn tụ. Đóng thuế nhập khẩu, bìa sau cuốn sách nên in ảnh chân dung tác giả để dễ bề ăn nói với nhân viên nhà đoan: See? Sách của tớ mà lị. Mặt mày tớ nào phải là một con buôn, khệ nệ mang về để phát không cho người quen thôi mờ. Văn nhân thi sĩ thời nay luôn am tường bản tin chiến sự: Từ chết tới bị thương đếm không xuể! Cuộc chơi kia chẳng sòng phẳng một mảy may, cán cân thua lỗ đổ dốc phía người lỡ điếc không sợ súng, mất cả chì lẫn chài. Ngồi buông cần bên bờ sông đầy lau lách mà cá nào cắn câu. Rất dễ cởi áo từ quan, xếp giáp quy hàng trước một mặt trận bốn miền đều yên tĩnh. Và nghi ngờ chuyện Kiều: Mua vui cũng được một vài trống canh! Không dám đâu. Bàn lui luận tới mãi cũng không ngộ ra, chỉ còn ba chữ nghĩ là đắc địa: Chi lạ rứa!

Bây chừ rách áo trách ai
văn(g) anh dễ sợ mốt mai ăn mày
vung gậy chừa ngõ nhà này
tường cao kín cổng đã dày mặt chưa?

Mai kia sẽ có người nhắc lại một điều cần nhắc: Amazon in cho tác giả viết chữ Việt nào đầu tiên? Cáo chung bằng cuốn sách gì? Để rồi “chạy làng” không kèn chẳng trống coi thứ ngôn ngữ tiếng Việt chả ra ki-lô nào sất. Rứa chơ răng mà mình vẫn cứ nhẹ dạ, hy vọng dễ sợ rằng amazon sẽ rút lui ý định nông nổi đó dù cho công ty nọ biết rõ mười mươi “vắng mợ chợ vẫn đông”. Mợ xách giỏ đi chợ, mợ nói “đi không há nhẽ trở về không”? Đừng để tâm vào việc mua bán, mình mãi mặn nồng chung tình cùng chữ viết thì hậu vận sẽ gặp được “phú ông xin đổi ba bò chín trâu”. Và đại gia phương ấy sẽ ngáng đường cà khịa, ra bộ gia ơn: Tớ sẽ in cho đằng ấy một đầu sách, với một điều kiện là đằng ấy bớt xiên xỏ mấy ngài tai to mặt lớn, đoạn văn nào xét thấy nhạy cảm thì bọn tớ có quyền cắt bỏ, nhuận sắc lại. Có nhất trí không nào?

Không, không, trăm lần không vạn lần không. Nhạc vàng từng hát thế và thú thật là mềnh thích vàng mà ghét đỏ (dễ sợ). Bắt ở trần phải ở trần, cho may ô mới được phần khoe xương. Xưa rồi diễm. Giờ đây xiêm áo lụa là, lên bờ xuống ruộng thả tà huy bay. Cho tôi giữ sạch bàn tay, ác chi dễ sợ thày lay gạ tình.

Tôi viết thêm lá thư gửi người hỏi về cuốn sách, bỏ dấu bộ chữ Việt tân kỳ đường hoàng. Người đổi hòm thư hay răng, không ư hử. Chơi chi lạ rứa? Chữ chừng thừa mứa? Kềm chế tự ái sân si bởi tôi mong ngóng nhìn ra cái minh bạch. Có hoặc không? Yes or No? Nhớ bài nhạc “Hello Goodbye” của tứ quái Beatles với ca từ (hợp tâm cảm dễ sợ):

… I say high, you say low
You say stop, I say go
You say yes, I say no
I don’t know why you say goodbye, I say hello…

Anh và em một đằng mâu một đằng thuẫn, bên thích cà phê đen bên cương quyết đòi ăn chè đậu đỏ, đứa thích đi xe ôm kẻ ưa ngồi vào taxi, đứa nhật đứa nguyệt khó bề thống nhất hai miền âm dương. Bàn chuyện tình yêu mà gái trai nhìn ra hai hướng khác biệt biểu sao đường rầy xe hoả muôn đời là hai thanh sắt mãi song song. Một bài thơ, một đoản văn hiện hữu chỉ với duy một mong cầu: Sự hội tụ, nỗi đồng cảm để mang hai đứa ngoái đầu nhìn về một hướng. Cho dù ở hướng đó khi dõi trông cảnh sắc xúi ta phải ruột đau (dễ sợ) tới chín chiều.

Huế mộng Huế mơ ngó lơ mất dép
Lạc hồn qua sông đánh rơi con cá chép
Lên chùa gió lật xiêm y thầy la vô phép
Ngó về phố thị sân si bước đi khép nép
Trở trời nhác chơi đưa gan cho nhà thương lắp ghép

Nghe phụ huynh phản biện: Nếu phải học ngôn ngữ Bùi Hiền tôi sẽ cho bầy con nghỉ học, khỏi lẻo mép.

Thơ đó ư? Dở dễ sợ. Cứ quen thói kiểu nớ thì người ta không in mô tề. Mà nói tình ngay dù thơ hay dàng trời khi in ra, bạn hàng làm biếng mua lắm lận. Sao ghẻ lạnh, thờ ơ, rẻ rúng tới độ đó? Thật chán mớ đời! Đời thì luôn nảy sinh lắm đột biến, có nhiều tâm sự cần kể ra, phơi bày, ruột để ngoài da ưa chia sẻ nhưng dòm qua ngó lại chẳng còn ai muốn nghe. Như nông dân tay bưng thúng hạt giống mà không có đất thịt để vãi xuống, gieo hạt. Ruộng đồng sáng ngập nước mặn chiều trở qua khô hạn. Mưa chưa bao giờ thuận gió không khi mô hoà.

Trịnh Công Sơn hát: Rừng xưa đã khép em hãy quay về… rồi lại đổi: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Rồi lại xướng: Mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi. Cứ vòng vo Tam quốc, cứ tiến thoái lưỡng nan. Mãi chưa tìm ra thông lộ. Buồn dễ sợ! Buồn vương cây ngô đồng (trong Đại nội có trồng), mùa Thu đang tới, mênh mông vàng rơi. Rơi phủ đầu để cảm thán: Sách truyện ích gì cho buổi ấy!

Nhân thất học bất tri lý, nhỏ không học lớn làm Đại uý (công an?) Mày cứ tìm cách bôi bác chế độ thì sẽ biết tay tao, siết cái hầu bao rồi sẽ nhốt cho hư hao, ở đấy mà luận chuyện tào lao toàn cả rêu rao. Nếu bốc thơm về đây tao sẽ khao, tha hồ lao nhao như bồ chao.

Lại kiên trì bày giấy bút ra, bóp trán. Nhớ và thương ông Bùi Giáng quá thể. Thích dễ sợ:

“Viết thư cho em
Viết rằng mỗi tháng
Có một đêm rằm
Mỗi năm có bốn mùa
Và có nhiều chuyện
Ly kỳ trên mặt đất”.

Ly kỳ như thế nào? Ôi cả ngàn vạn ức triệu điều, nôm na là thiếu giống.

“Người có ý chi
Nhìn ta như thế
Hôm qua nhìn rồi
Bữa nay nhìn nữa
Ở dưới nhìn lên
Nhìn cái chi lạ rứa?”

Nhìn cũng thấy lạ. Nghĩ cũng thấy lạ. Viết cũng thấy lạ. Nói chung, thời buổi này thảy đều lạ. Bốn mươi mấy năm (lâu dễ sợ) chung đụng tới trầy trụa mà vẫn chưa hề thấy quen. Cái sự cắc cớ nọ biết tỏ cùng ai? Ưa chơi trò bịt mắt bắt dê đó ru?

Hồ Đình Nghiêm

Người góa phụ giờ thứ 25

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

October 15, 2018

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Tôi gặp chị trong buổi họp mặt của các anh Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, được tổ chức  tại một nhà hàng ở thành phố Westminster, Nam Cali, nhằm kỹ niệm 55 năm ngày mãn khóa. Vợ chồng tôi có chút cơ duyên được xếp ngồi cùng bàn với chị. Qua đôi lời chào hỏi đầu tiên, chúng tôi biết chị từ Việt Nam mới sang theo lời mời của Ban Tổ Chức, muốn dành cho chị một ân tình đặc biệt để có cơ hội gặp lại những người bạn cùng khóa Lê Lai với phu quân của chị, Cố SVSQ Đoàn Đình Thiệu.

Sau nghi thức chào quốc kỳ là một lễ tưởng niệm những vị đồng môn đã hy sinh trong không khí rất trang trọng, cảm động và mang nhiều ý nghĩa. Trên bàn thờ, phía sau những ngọn nến lung linh là hình phóng lớn của tấm bia đá tưởng niệm có khắc đậm tên 79 vị sĩ quan Khóa 17 đã lẫm liệt hy sinh trong cuộc chiến. Tấm bia này là một kỳ công được các cựu SVSQ Khóa 17 thực hiện và dựng tại Công viên Victor Memorial Veterans Park, thuộc Thành phố Greer, Tiểu Bang South Carolina, Hoa Kỳ từ tháng 6 năm 2008.

Khi chị Thiệu cùng một số cô nhi quả phụ khác của Khóa 17 được mời lên thắp hương trước bàn thờ tử sĩ và nhận món quà lưu niệm của Khóa, qua lời giới thiệu của người điều khiển chương trình, chúng tôi được biết nhiều hơn về chị. Và trong số những cô nhi quả phụ cùng đứng chung với chị chúng tôi còn nhận ra cháu Võ Hải, trưởng nam của Đại Tá Võ Toàn, vị đại tá duy nhất của Khóa, đã hy sinh cũng vào giờ thứ 25 khi Quân Đoàn I di tản, đến bây giờ chưa biết thân xác nằm  ở  nơi đâu;  và phu nhân  của Trung Tá Võ Vàng,  một cấp chỉ huy nổi tiếng trong Binh chủng Biệt Động Quân, đã bị kẻ thù sát hại dã man tại trại tù Kỳ Sơn – Quảng Nam, sau 1975.

Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu tử trận tại Phú Lâm vào khoảng 12giờ 30 trưa ngày 30.4.75, hơn một giờ sau lệnh “buông súng” của Tướng Dương Văn Minh. Khi ấy anh là Tiểu Đoàn Phó của Tiểu Đoàn 86 BĐQ mà Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Trần Tiễn San, một niên đệ Khóa 19 Võ Bị của anh. Trước khi ra đơn vị này, Thiếu tá Thiệu phục vụ nhiều năm tại TTHL Biệt Động Quân Dục Mỹ với chức vụ Trưởng Khối Yểm Trợ. Do quyết định của Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Biệt Động Quân, một số sĩ quan phục vụ lâu năm tại quân trường hay giữ những phần hành tham mưu được điều động hoán chuyển ra các đơn vị tác chiến.  Cuối năm 1974, đúng vào lúc Thiếu Tá Thiệu nhận lệnh hoán chuyển,  tại TTHL/BĐQ đang có Liên Đoàn 8/BĐQ vừa mới được thành lập với đa phần quân số từ các Tiểu Đoàn 7, 9, 11 Quân Cảnh giải tán bổ sung cho Binh chủng Biệt Động Quân, nên nhân tiện, ông xin ra phục vụ ở đơn vị tân lập này. Vì ở quân trường và đảm trách một phần hành tham mưu khá lâu, nên khi ra đơn vị tác chiến, ông không thể đảm nhận một chức vụ chỉ huy ngay trong thời gian ban đầu, do đó ông tìm gặp Thiếu Tá Trần Tiễn San, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 86 và ngỏ ý muốn được về làm Tiểu Đoàn Phó cho Thiếu Tá San, một niên đệ Khóa 19, mà lúc còn trong trường Võ Bị Đà Lạt, ông có trách nhiệm hướng dẫn, dạy dỗ với tư cách niên trưởng. Biết ông là niên trưởng lại có thâm niên cấp bậc hơn mình, Thiếu Tá San muốn giúp đỡ, nhưng rất e ngại nên đề nghị ông phải làm đơn gởi lên Thiếu Tướng CHT/BĐQ để trình bày nguyện vọng của mình.

Cuối cùng ông được toại nguyện. Để nhận Thiếu Tá Thiệu về làm Tiểu Đoàn Phó cho mình, Thiếu Tá Trần Tiễn San còn phải giải quyết một vài khó khăn tế nhị khác. Vì lúc ấy Tiểu Đoàn đã có Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Phan Trí Viễn. Thiếu Tá San đã năn nỉ Đại Úy Viễn sang làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn và xin Liên Đoàn nhận anh Đại Úy Trưởng Ban 3 cũ về giữ một chức vụ tại BCH/ Liên Đoàn. Thông cảm cho anh, tất cả đều vui vẻ chấp nhận sự sắp xếp của anh.

Kính nể một niên trưởng có tư cách, Thiếu Tá San đã dành cho vị Tiểu Đoàn Phó nhiều ưu ái đặc biệt. Có điều đúng vào thời điểm Thiếu Tá Thiệu ra đơn vị, cuộc chiến đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Sau khi Mỹ bất chấp những phản đối của VNCH, đã tự cho mình ngồi ngang hàng với Cộng Sản Bắc Việt và đơn phương nhượng bộ quá nhiều điều trong Hiệp Định Paris ký kết ngày 27.1.1973, chứng tỏ ý định sớm bỏ rơi đồng minh, phủi tay cuộc chiến.  Lợi dụng điều này, Cộng quân đã ồ ạt tung nhiều sư đoàn với lực lượng chiến xa, từ miền Bắc và Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập Nam Việt Nam, đồng loạt mở các cuộc tấn công qui mô vào các đơn vị phòng thủ của ta. Phước Long là tỉnh đầu tiên bị thất thủ vào ngày 6 tháng 1/1975  nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào từ phía Hoa Kỳ can thiệp hay phản đối CSBV vi phạm hiệp định,. Điều này đã báo hiệu cho số phận của VNCH.

Liên Đoàn 8 BĐQ ban đầu đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Vũ Phi Hùng, với ba vị tiểu đoàn trưởng  đều là niên đệ Võ Bị của Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam (K.20) TĐT/TĐ 84, Thiếu Tá Trần Tiễn San (K.19) TĐT/TĐ 86, và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh (K.20) TĐT/TĐ 87. Thiếu Tá Thiệu chọn về làm Tiểu Đoàn Phó cho một niên đệ Khóa 19, là khóa đàn em có nhiều gắn bó và xem như học trò của Khóa 17 thời họ còn là những sinh viên sĩ quan.

Dù chưa được trang bị và huấn luyện đầy đủ, Liên Đoàn nhận lệnh của Bộ TTM di chuyển về Sài gòn để giữ an ninh trong dịp Tết nguyên đán. Liên Đoàn đặc trách phòng thủ khu vực từ QL 1 đến  QL 4, ngoại trừ TĐ 84 đặc trách một khu vực kế cận. Vào những ngày đầu tháng 4/75, Liên Đoàn 8 BĐQ thường phối họp cùng Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập mở các cuộc hành quân vào Mật khu Lý Văn Mạnh và đã phát giác có sự hiện diện của nhiều đơn vị chính quy Bắc Việt đang hoạt động, ém quân tại đây.

Để đề phòng cho trường hợp bị tấn công bởi các đại đơn vị này của địch, Đại tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng bàn bạc với các Tiểu Đoàn Trưởng, vạch ra một kế hoạch ứng phó khi tình hình trở nên nguy ngập, được gọi là kế hoạch “Bravo”: Các tiểu đoàn tự rút về Giáo xứ Tân Phú của Linh Mục Đinh Xuân Hải để tái phối trí và tiếp tục chiến đấu tại đây.

Khoảng hai tuần lễ sau đó, Sư Đoàn 106 BĐQ được thành lập, với vị Tư Lệnh là Đại Tá Nguyễn Văn Lộc. Đại Tá Vũ Phi Hùng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 8 BĐQ được chỉ định giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng, và bàn giao Liên Đoàn cho Trung Tá Chung Thanh Tòng từ BĐQ Vùng I di tản.

Ngày 27/4/75 Cộng quân mở các cuộc tấn công liên tục vào tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 84 và 87. Hai vị Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc cùng xuất thân Khóa 20 VB đã anh dũng điều quân chiến đấu, yểm trợ cho nhau để giữ vững phòng tuyến. Lực lượng địch quá đông và có chiến xa T 54 hỗ trợ, trong khi bên ta đã có nhiều binh sĩ thương vong, đạn dược cạn dần. Đến tối ngày 29/4/75 tình trạng trở nên tồi tệ hơn nên các đơn vị đề nghị thực hiện kế hoạch “Bravo”, rút về Giáo xứ Tân Phú lập tuyến phòng thủ mới như đã dự trù. Nhưng Đại Tá Vũ Phi Hùng từ BTL/SĐ 106 cho biết kế hoạch này không thể thực hiện được nữa, vì nhiều đơn vị Cộng quân đã thâm nhập vào Sài gòn từ các hướng khác.

Trong tình huống này, vẫn không có cách nào khác hơn, sáng sớm ngày 30/4 Liên Đoàn ra lệnh bằng mọi giá phải mở đường máu lui binh về hướng Sài gòn. Tiểu Đoàn 84 của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nam lúc ấy đang bố trí dọc theo xa lộ Đại Hàn, bị áp lực nặng nề nhất do nhiều chiến xa của địch bao vây tấn công liên tục. Tiểu Đoàn 87 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Mạnh rút ra từ Mật Khu Lý Văn Mạnh, mở đường cho BCH/ Liên Đoàn và Tiểu Đoàn 86 của Thiếu Tá Trần Tiễn San vừa rút ra sau cùng, vừa làm lực lượng án ngữ bọc hậu.  Cuộc lui binh rất khó khăn trong lúc bị địch quân bao vây, tấn công  từ mọi phía.

Thiếu Tá San ra lệnh cho Tiểu Đoàn Phó Đoàn Đình Thiệu thu nhặt hết số súng thặng dư bỏ vào ụ súng cối 81 ly để thiêu hủy. Pháo Đội Pháo Binh trong căn cứ BCH/ Liên Đoàn có bốn khẩu đại bác 105 ly, nhưng mỗi khẩu chỉ còn một quả đạn trong nòng. Thiếu Tá San cho lệnh bắn trực xạ vào những điểm địch quân tấn công mạnh nhất, sau đó phá hủy súng, và yêu cầu Pháo Đội rút theo BCH/ Liên Đoàn. Tiểu Đoàn phải mở đường máu để có thể thoát ra khỏi vòng vây của địch, nên tất cả thương binh đành phải bỏ lại phía sau. Trong lúc vừa điều quân vừa chiến đấu, Thiếu tá San bị thương ở mặt, phải bò đến một mô đất tạm ẩn nấp để tự băng bó.  Đúng lúc ấy,  Trung Úy Đoàn Ngọc Lợi (K.26VB), Đại Đội Trưởng ĐĐCH chạy đến báo cáo là Niên trưởng Đoàn Đình Thiệu vừa mới hy sinh bên bờ ruộng. Ông bị bắn đứt động mạch ở chân.  Mấy người lính trung thành ngỏ ý cõng ông theo, nhưng ông khoác tay, bảo “chạy gấp đi, anh không thể sống được!” Trung Úy Lợi còn cho biết, trước khi nhắm mắt ông hỏi Lợi: “Moa chết rồi ai sẽ nuôi vợ con đây?” Lúc ấy khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 30/4, sau đúng một giờ Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng!

Sau đó Thiếu Tá San cùng nhiều cấp chỉ huy khác bị bắt đưa vào làng. Vì bị thương ở đầu, máu ra nhiều, nên anh được cho về, gia đình đưa vào điều trị tại Bệnh viện Triều Châu. Một ông chú nghe tin vào thăm, biếu anh 30.000 đồng. Anh cho người nhà tìm gặp gia đình Thiếu Tá Đoàn Đình Thiệu báo tin về cái chết của người niên trưởng. Chị Thiệu tìm đến thăm anh và hỏi kỹ địa điểm anh Thiệu đang nằm để đi tìm. Anh San chỉ dẫn, chia buồn và biếu chị Thiệu 30.000 đồng mà ông chú vừa mới cho anh.

Theo lời kể của chị Thiệu, vì tình hình lúc ấy rất hỗn loạn, tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi, nhiều đơn vị của ta không chịu buông súng và vẫn tiếp chiến đấu, nên chị không dám đi tìm anh Thiệu, hơn nữa chị cũng không rành đường sá ở đây,  đành phải nhờ cậu em trai, dùng xe Honda len lỏi tìm đến vị trí mà Thiếu Tá San chỉ dẫn. Cậu em tìm được xác anh Thiệu, nhưng không thể tìm được bất cứ một phương tiện nào để chuyên chở, và cũng không biết sẽ chở về đâu, trong tình thế lúc này. Cuối cùng, rất may mắn, một anh tài xế xe rác nặng tấm lòng với QLVNCH, đã vui vẻ nhận lời giúp đỡ. Sau khi đổ hết rác trên xe xuống vệ đường, theo sự hướng dẫn của cậu em chị Thiệu, nhưng cũng rất nhiều khó khăn, anh tài xế mới đưa xe đến được vị trí, nơi anh Thiệu nằm. Sau một lúc thảo luận, cuối cùng hai anh chở xác Thiếu Tá Thiệu đến Nhà Thờ Bùi Phát để nhờ giúp đỡ. Và cũng rất may mắn, đã gặp đúng một vị linh mục nhân từ. Cha Trần Quốc Phú vui vẻ nhận lời, đứng ra tẩm liệm và chôn cất Thiếu tá Thiệu ngay trong khu đất của nhà thờ.

Chị Thiệu thường xuyên đưa các con đến đây thăm viếng và xây lại ngôi mộ cho chồng. Mấy năm sau, chị xin hỏa táng, và mang tro cốt anh về thờ tại tư gia ở Mỹ Tho. Lúc Thiếu Tá Thiệu mất, anh chị có ba con, hai trai 9 và 7 tuổi, cô con gái út chưa tròn 12 tháng. Sau này, cháu trai lớn mất, cháu gái định cư ở Úc.  Hiện nay chị sống với cậu con trai thứ tại Mỹ Tho, quê hương của chị. Điều đáng ngưỡng mộ hơn, khi chồng hy sinh, chị còn khá trẻ, nổi tiếng có nhan sắc, nhưng không hề bước thêm một bước nào nữa, ở vậy nuôi dạy các con trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nghiệt ngã. Cả hai cháu đều nên người, thành đạt, hiếu thảo và luôn sống với niềm tự hào về người cha Võ Bị, từng sống rất tư cách và chết hiên ngang.

Cuộc chiến Việt Nam đã gây ra biết bao đau thương tang tóc. Vào giờ thứ 25 của cuộc chiến có biết bao nhiêu người đàn bà trở thành góa phụ, biết bao đứa con thơ  trở thành cô nhi, nhiều cháu chưa hề biết mặt cha mình. Không những không được hưởng bất cứ một ân sũng nào của quôc gia khi chồng, cha hy sinh cho Tổ Quốc mà họ còn bị kẻ thù phân biệt đối xử, nhục mạ và phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trong cuộc sống. Những người như chị Đoàn Đình Thiệu rất xứng đáng để chúng ta biết ơn và ngợi ca. Sự hy sinh nào của những người lính, hay vợ con của lính, cũng đều tiềm ẩn những ý nghĩa cao quý, cho dù những cái chết vô danh, không được truy thăng hay chôn cất theo lễ nghi quân cách. Với Tổ Quốc và lịch sử dân tộc, những hy sinh dù trong âm thầm, vẫn mãi mãi là điều bất diệt.

Viết những dòng này, xin được thay bó hoa hồng tươi thắm nhất, gởi đến Chị Đoàn Đình Thiệu và các cháu cũng như những cô nhi quả phụ khác của giờ thứ 25, lòng tri ân và ngưỡng mộ của những người một thời từng là đồng đội, là huynh đệ của phu quân các chị, người cha đáng kính của các cháu. Và xin cầu chúc những điều tốt đẹp nhất cho những người đã sẵn sàng chấp nhận những số phận nghiệt ngã, hy sinh, nhưng vẫn luôn hãnh diện có chồng, cha là lính chiến VNCH, đã dám chết cho quê hương, dân tộc.

Cali, tháng 4/ 2018
Phạm Tín An Ninh

Đàn bà ghê thật

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Tuần trước tôi vừa đọc tin một người đàn bà ở Liverpool, Anh Quốc, Amanda Monti 24 tuổi, có một cuộc đấu khẩu với người bạn trai, Geoffrey Jones, 27 tuổi về vấn đề quan hệ chăn gối, đã dùng móng tay xé nát bì nang ngọc hoàn của người tình. Điều ghê gớm là người đàn bà này, để phi tang, đã bỏ vào miệng cố nuốt hai viên ngọc hoàn này, nhưng đã bị nôn tháo ra. Chuyện này đã làm cho người ta sởn tóc gáy và ghê tởm. Người ta tưởng tượng ra là bàn tay người đàn bà phải có những móng nhọn sắc như móng chim ưng và trong lòng phải có một quyết tâm cao mới hoàn tất được công việc này, vì các bạn thử tưởng tượng chúng ta muốn xé một miếng da đỏ sần sùi, lòng thòng dưới cổ một con gà tây bằng tay không, là khó khăn biết dường nào. Cô Monti bị hai năm tù giam và người bạn trai trở thành “hoạn quan” suốt đời, vì cuộc giải phẫu bất thành.

Câu chuyện kinh hoàng chưa phai trong trí nhớ thì báo chí lại đưa tin về hành động của một người đàn bà khác, đau đớn thay, lần này lại là một người đàn bà Việt Nam, vì người viết bài này cũng như hằng nghìn người viết lách khác đã từng ca ngời người đàn bà Việt Nam là người đàn bà công dung ngôn hạnh, hiền lành, chịu đựng, hy sinh và có tâm hồn đẹp đẽ hơn bất cứ người đàn bà nào có mặt trên trái đất này. Cô Kim Trần, 35 tuổi ở tận thủ đô giá lạnh Anchorage của tiểu bang Alaska đã dang tay cắt đứt chim chàng và thản nhiên vứt vào bồn cầu; xả nước. Nghe nói hai đằng có một cuộc gây gổ lời qua tiếng lại, sau đó họ thỏa thuận làm tình và chàng thuận cho nàng trói tay mình vào thanh cửa sổ trên đầu giường, chắc là muốn bắt chước trong phim ảnh Mỹ. Thay vì làm tình, nàng dùng dao cắt chim của chàng vứt vào bồn cầu, nhưng lại mở trói và chở người tình tới bệnh viện để cấp cứu ngay sau đó. Cảnh sát đã hiệp cùng công ty nước phá vỡ bàn cầu, truy tìm vưu vật để trả “cái của Cesear về lại cho Cesar”, và việc ráp nối, theo bác sĩ giải phẫu Sarah Troxel ở Anchorage, cũng dễ dàng như nối lại một ngón tay đã đứt lìa.

Chuyện này khiến chúng ta nhớ lại một trường hợp nổi tiếng khác ở Virginia năm 1993 khi nàng Lorena Bobbitt xẻo “của nợ” người chồng và vứt ra đường. Hai vợ chồng này đã có nhiều mâu thuẫn và căng thẳng trong đời sống, ông chồng là tay rượu chè va hay hành hạ vợ. Một tối, sau khi đã say sưa, John Bobbitt trở về nhà ở Manassas, đòi hỏi làm tình với vợ. Bực mình từ lâu, cô Lorena lấy cớ xuống bếp uống một ly nước, thay vì cầm ly nước, cô đã xách con dao lên phòng ngủ, giật phăng tấm chăn đắp trên mình chồng và cắt đứt bộ phận sinh dục của anh này. Bỏ mặc ông chồng quằn quại trên giường, Lorena nắm chặt cái “của nợ” trong tay, trong cơn hoảng loạn cô đã lái xe đi và liệng nó qua cửa xe. Sau khi hoàn hồn, cô đã gọi cảnh sát cho biết sự việc đã xẩy ra. Cảnh sát đưa John đi cấp cứu và khẩn cấp truy tìm bộ phận của anh. Các bác sĩ đã bỏ ra 9 tiếng đồng hồ để nối lại “đường to” cho John Bobbitt và đã thành công mỹ mãn. Trong phiên tòa vào tháng 2-1994, cô vợ Lorena đã được trắng án, và vụ này đã thu hút được con số kỷ lục 60% dân chúng Mỹ theo dõi.

Cách đây vài năm, ở Houston- Texas, một phu nhân khi thấy đức ông chồng của mình “ăn chè” với đào trong khách sạn sang trọng bước ra, đã dùng chiếc Mercedes của mình cán ngay ông chồng ngã xuống và chà đi xát lại tới năm bảy lần cho hả giận. Thảm kịch này đã được một người qua đường thu vào ống kính trước là cung cấp tài liệu cho tòa án, sau nữa là dành cho “Viện Bảo Tàng phái … yếu”.

Nói chuyện Việt Nam những người cao tuổi ở Saigon hẳn đều chưa quên vụ Cô Quờn đốt chồng đã được nhạc sĩ Trần Văn Trạch đưa vào một bài hát của ông. Ở Hà Nội,vào cuối thập niên 30, vụ án ông Huyện Trường đã được viết thành kịch bản, hát chèo. Nguyên ông Huyện Trường là con nhà nho thanh bạch, được cô Cúc là gái nhà nghèo tần tảo, buôn bán nuôi cho ăn học, nhưng khi đỗ tri huyện lại phụ bạc đi cưới vợ con nhà giàu, bị cô này chém nát người bằng ba mươi sáu nhát dao thái thịt. Tất cả cũng đều do một chữ “ghen” đã có xưa nay, nói văn chương là “máu Hoạn Thư”; thâm trầm mưu chước thì “làm cho, cho mệt, cho mê; làm cho đau đớn, ê chề, cho coi … “, nóng nảy nhất thời thì “bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang”, cái gì cũng cắt, cũng chặt, cũng đốt cho “biết tay bà”.

Chỉ nội hai vụ trên đây thôi, chúng ta đã thấy đàn bà … ghê thật. Họ dám làm những việc mà giới đàn ông tuy lâu nay vẫn mang tiếng hùng hùng hổ hổ, nhưng thuê tiền cũng không dám làm. Và những ai thường mạnh miệng gọi đàn bà là phái … yếu thì cũng nên nằm vắt tay lên trán mà ngẫm lại, vì yếu thể xác hay yếu bóng vía thì không thể nào làm những chuyện tày trời như thế. Dù với động lực nào đi nữa thì chúng ta, kẻ nam nhi vẫn thường cho mình là phái mạnh cũng phải nép bên vệ đường mà nhường bước, vì chúng ta, giới đàn ông, sách sử chưa ghi được một biến cố tương tự nào do đàn ông làm nên cho ra hồn. Nghe nói con Bọ Ngựa cái, sau mỗi lần làm tình xong là xơi tái ngay con đực, nếu so sánh tai tiếng như chuyện con Yêu Râu Xanh trong chuyện cổ cũng chưa có tàn bạo bằng. Lại nói thêm, về thể chất, người đàn ông nếu so cùng với tuổi một người đàn bà, theo tính toán của các nhà khoa học thì phải từ giã cõi đời này sớm hơn quí bà tới sáu năm. Thông thường quí Ông lấy vợ trẻ hơn mình từ hai tới mười hai tuổi thì phải tính bằng công thức 6 + x. Trong mọi nursing home số quí ông “thân bại danh liệt, xếp giáo quy bàng” nhiều hơn số phụ nữ gấp đôi, trên ở chỗ trang 8 trang 10 của các tờ nhật báo, chúng ta thường thấy quí Bà là quả phụ nhiều hơn là quí Ông chết vợ.

Sự yếu đuối về tinh thần thấy rõ rệt ở chỗ Quí Bà vẫn còn sống vui, sống khỏe nhờ bổn phận với con cháu, với chùa, nhà thờ sau khi các Ông ra đi, trái lại ít thấy người đàn ông sống thọ sau khi người vợ từ giã cõi đời ô trọc này khi thiếu sự săn sóc, lo lắng hằng ngày của người phối ngẫu.

Một người bạn tôi đã làm sự khảo sát này trong một buổi chiều lang thang trong nghĩa trang, bên những mộ bia vợ chồng nằm cạnh nhau, và đã có một kết luận nếu bà ra đi trước thì chắc chắn cách đó không lâu, ông cũng đi theo Bà. Chưa tin, xin các bạn hãy nhìn chung quanh và làm nhẩm một con toán xem sao. Còn như đàn ông vẫn thường khoe khoang cái “sức mạnh” của giới mình, cho rằng khi đầu gối còn cắt ra máu thì vẫn còn thói “hung hăng”, theo quí Bà, chuyện đó là …đồ bỏ.

Samurai!Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Với tâm trạng đen tối, tôi quay về căn cứ Omura thuộc thủ phủ Nagasaki. Cuộc không kích tàn phá phi trường Hán Khẩu làm mất đi một số đồng đội, cái chết của Mikiko, và các vết thương của tôi, tất cả khiến tôi rủn chí. Hơn nữa, mặc dù căn cứ gần sát bên nhà, tôi không được phép về thăm gia đình cho đến khi các vết thương của mình hoàn toàn lành lặn.

Trước tiên tôi đến gặp vị Chỉ huy trưởng căn cứ  với tất cả sự e dè. Khi tôi được chỉ định về phục vụ tại căn cứ này vào năm trước đây, thái độ khinh bỉ không thiện cảm của ông đối với tất cả các phi công mới ra trường thật đáng buồn. Thái độ ấy làm tôi lo âu. Nhưng tôi đã kinh ngạc xiết bao khi vị chỉ huy mỉm cười rạng rỡ lúc tôi đứng nghiêm trước bàn giấy của ông. Ông nhìn tôi trong giây lát, ngắm nhìn bộ quân phục, mặt mày, và đôi mắt của tôi đang nhìn thẳng về phía trước. Dần dà tôi hiểu thái độ hiện thời của ông. Tin tức về việc tôi đơn độc chống lại 12 phóng pháo cơ địch, mặc dù kết quả không rõ ràng đã bay trước bước chân tôi trở về Nhựt Bản. Thái độ khinh thường trước đây của ông đã chuyển hướng, vị chỉ huy báo cho tôi biết, tôi có thể nghỉ ngơi nhàn nhã ở Omura và trong thời gian này tôi sẽ khỏi phải thi hành một công tác nào cả. Việc này thật đáng kinh ngạc. Những tay lính mới chưa hề được đối xử như thế bao giờ.

Xuống phòng ăn, tôi biết các phi vụ ở Trung Hoa của tôi, với việc hạ 1 chiến đấu cơ và tấn công 12 phóng pháo cơ địch, được thêm mắm giặm muối rất nhiều khiến tôi trở thành một vị anh hùng nho nhỏ đối với các phi công ở đây. Họ bao lấy tôi, nôn nóng nghe câu chuyện không chiến trên lục địa Trung Hoa. Suốt một tuần lễ, tôi ăn ngủ thoả thích và nhìn các phi công khác thực tập các phi vụ huấn luyện của họ. Sau đó, tôi nhận được lá thơ của cô gái tôi chưa từng quen biết tên là Fujiko Niori. Nàng viết: “Tôi là chị của Mikiko, và tôi muốn nhân cơ hội này để chân thành cảm ơn bức thơ của anh đã gởi cho má tôi, cùng những lời lẽ tử tế và lưu tâm mà anh đã dành cho em gái của tôi. Bức thơ của anh là một tia nắng ấm chiếu rọi vào nỗi tuyệt vọng đang trùm lấp gia đình tôi sau cái chết của Mikiko. Tất cả chúng tôi đều than van rằng Mikiko đã rời bỏ chúng tôi trong lúc nó đang hạnh phúc nhất, tôi không hổ thẹn để nói với anh như vậy.

Tôi phải thú nhận, trước khi nhận thơ của anh, tôi luôn mang cảm tưởng rằng tất cả các phi công chiến đấu chỉ thích đánh nhau, họ thiếu tình cảm và sự xúc động. Dĩ nhiên, bức thơ của anh đã làm tôi thay đổi ý kiến. Tôi thành thật ước muốn được kết bạn với anh, nếu anh cho phép, nhứt là nhân danh em gái của tôi. Nỗi vui mừng của tôi sẽ trọn vẹn nếu anh phúc đáp bức thơ này.” Trong phong bì kèm theo một tấm hình của Fujiko. Cô gái 18 tuổi này còn đẹp hơn cô em nàng. Tôi lập tức viết thơ trả lời. Nói cho nàng biết tôi chỉ bị thương nhẹ ở Trung Hoa và hiện thời đã trở về Nhựt để chữa trị cho lành hẳn. Tôi nói với nàng theo lời các bác sĩ cho biết, tôi sẽ sớm được bay trở lại và, ngay khi bình phục, tôi hy vọng sẽ gặp mặt nàng.

Bức thơ thứ nhì Fujiko kể cho tôi nghe nhiều về đời sống của nàng và những việc xảy ra hàng ngày trong thành phố Tokushima trên đảo Shikoku. Tháng kế đó, ít việc ở căn cứ, nên tôi bỏ nhiều thì giờ viết thơ cho Fujiko và đọc đi đọc lại những bức thơ nàng đã gởi cho tôi.

Vào tháng 11 năm 1939, tôi nhận được 24 giờ phép đầu tiên trong năm. Với các vết thương đã hoàn toàn bình phục, tôi nôn nóng trở về nhà. Từ Omura về nhà tôi không quá 1 giờ xe lửa. Mùa gặt đã qua rồi, đồng ruộng quạnh hiu khi mùa Ðông đến, nhưng quang cảnh này không làm tôi chú ý mấy. So với quang cảnh lục địa Trung Hoa đầy buồn chán, tỉnh nhà của tôi không khác nào một vườn hoa và khi xe lửa hướng về ngôi làng, tôi ngắm nhìn dãy núi Kyushu vươn cao trên bầu trời, với màu xanh thẳm của những cánh rừng dày bịt, những dòng suối sáng lóng lánh dưới ánh nắng ban trưa. Khi bước xuống con đường dẫn vô ngôi nhà nhỏ bé, cũ kỹ, tôi không còn tin vào đôi mắt của mình nữa. Một đám đông đang tụ họp trong sân, đứng tràn ra ngoài đường, cùng cất tiếng chào mừng tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy má tôi cùng đi với xã trưởng và nhiều viên chức khác trong làng bước ra đón tôi. Vị xã trưởng cất cao giọng: “Mừng anh trở về, Saburo, vị anh hùng của ngôi làng nghèo khó của chúng ta!”. Tôi bẽn lẽn, tôi chưa bao giờ mơ tưởng sự việc như vầy có thể xảy ra. Tôi ấp úng mãi mới nói cho vị xã trưởng biết tôi không có gì gọi là anh hùng cả, tôi chỉ là một hạ sĩ quan bắn rơi được 1 chiến đấu cơ duy nhứt của địch. Ông ta ngắt lời: “Tánh khiêm nhường rất tốt, nhưng tất cả chúng tôi đều biết anh đoạt được cái đồng hồ bằng bạc của Thiên hoàng ở trường phi công hải quân và điều này có nghĩa là anh được chọn làm phi công nhiều hứa hẹn nhứt của đất nước chúng ta!” Tôi lặng yên. Những hình ảnh của 5 năm về trước chiếu rọi lại trong trí tôi, lúc tôi bước xuống cùng con đường này, với tâm trạng của một kẻ gây tủi nhục cho gia đình làng xã, với những bạn bè hồi còn để chỏm quay mặt ngượng ngùng. Nếu những người này biết tôi đã vụng về, hầu như chết sững trong buồng lái phi cơ khi đụng trận lần đầu tiên ra sao, hoặc nếu họ biết hành vi của tôi khiến cho vị đại úy phi đoàn trưởng phẫn nộ đến nỗi tức nghẹn không thốt ra lời như thế nào..! Và hiện thời… những tiếp đón long trọng này! Thật là quá mức!

Sau đó, một con heo to tướng được quay ngay trong sân. Hàng đống thức ăn, rượu sakê và rượu nếp. Tôi vẫn còn đứng ngơ ngác trước quang cảnh đón tiếp không ngờ này cho đến khi má tôi gọi lại bên cạnh khẽ nói: “Tất cả mọi người đều tốt với con. Các thức ăn này do họ góp lại để mừng ngày trở về của con. Ðừng nhăn mày nhíu mặt nữa. Hãy vui lên.” Mọi người đều muốn nghe đủ chuyện ở Trung Hoa và thường ngắt lời tôi để hỏi rõ nhiều chi tiết liên quan đến trận không chiến và việc tôi đã tấn công nhóm phóng pháo cơ địch ra sao. Ai ai cũng tỏ vẻ kính nể. Ðôi mắt má tôi sáng long lanh, trong niềm hãnh diện. Ba anh chị tôi, mặc quần áo mới, ngồi mỉm cười, mặt mày rạng rỡ! Khi thực khách ra về, tôi sớm tìm hiểu và biết gia đình tôi vẫn nghèo khổ, như lúc tôi bước chân vô hải quân. Má tôi trấn an tôi, cho biết cả làng giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều và khó kiếm ra hàng xóm tử tế bằng.

Trong thời gian ở Trung Hoa, tôi đã gởi hơn phân nửa tiền lương về nhà, vì tiền bạc bên ấy không tiêu dùng nhiều. Tôi không bao giờ uống rượu và quả thật tôi không giao du với bất cứ cô gái nào. “Saburo,” má tôi tiếp, “cả nhà cám ơn con đã gởi đều đặn hết số lương của con về. Nhưng hiện thời má không muốn con gởi nữa. Con phải để dành mà tiêu dùng, đã đến lúc con phải nghĩ đến con, và bắt đầu dành dụm để một ngày nào đó còn lập gia đình.” Tôi phản đối mạnh mẽ. Tôi có dành dụm chút ít tiền, nhưng không hề dự định gì vào những năm sắp tới. Nhưng bỗng nhiên tôi nhớ đến Fujiko. Tôi hiểu rõ, nếu tôi vẫn ở trong làng này thay vì gia nhập hải quân để trở thành một phi công, gia thế của nàng sẽ không cho phép nàng giao du với tôi.

Trở về Omura, vị Chỉ huy trưởng trả lại nghiệp bay cho tôi, và tôi bắt đầu thực hiện một loạt phi vụ tập luyện để lấy lại phong độ. Ðầu tuần lễ thứ hai của tháng Giêng năm 1940, tôi nhìn thấy tên tôi trên bảng thông cáo. Theo đó, tôi được chọn với nhiều phi công khác để bay biểu diễn trên thành phố kỹ nghệ rộng lớn Osaka vào ngày 11 tháng 1 năm 1940, ngày quốc khánh của chúng tôi.

Tôi vội vã gởi thơ cho Fujiko, báo cho nàng biết chuyến đi của tôi. Trong thơ phúc đáp, nàng hỏi tôi sẽ ở đâu tại Osaka, vì “ba má và tôi muốn gặp anh tại Osaka vào ngày này.” Cả gia đình này đều có mặt! Quả thật đó là một danh dự đối với tôi. Muốn đi, gia đình nàng phải mất trọn một ngày từ Tokushima xuyên qua biển Nhựt Bản để đến Osaka.

Phi vụ biểu diễn không có gì khó khăn. Quá trưa hôm đó, sau khi phi vụ hoàn tất, chúng tôi vô ngụ trong một khách sạn ở Osaka. Khi tôi đang cạo râu và thay bộ quân phục mới, một trong những hạ sĩ quan chạy ùa vô phòng hả họng rống lên:

“Phi công Sakai! Mau lên! Vị hôn thê của anh đang chờ gặp anh dưới lầu!”

Mọi người cười ồ. Tôi đỏ mặt và vội vã đi ra ngoài.

Fujiko đang bối rối. Tôi ngừng lại trên thang lầu và nhìn nàng. Trong chiếc Kimono khép nép xinh xắn, Fujiko cùng với cha mẹ đứng chờ tôi ngoài hành lang. Tôi khom mình chào họ.

Ðêm đó tôi được gia đình Fujiko mời ăn cơm tại một trong những nhà hàng danh tiếng nhất ở Osaka. Tôi chưa bao giờ đặt chân vô một nhà hàng như vậy trước đây. Song thân của Fujiko thật phi thường đối với tôi. Cả hai đã làm mọi cách để tạo cho tôi sự thoải mái. Nhưng tôi không tránh khỏi ké né, vì hiển nhiên tôi nghĩ mình đang bị xăm xoi, ngắm nghía như một chàng rể tương lai của họ. Ðiều làm tôi rụt rè hơn nữa khi tôi biết được gia đình Niori là một trong những gia đình tiếng tăm nhứt ở Nhựt Bản, xuất thân từ một giòng họ Samurai xuất sắc trong xứ, và thân phụ của Fujiko hiện thời là giáo sư đại học, một địa vị đầy danh vọng thời ấy. Trong bữa ăn, tôi đã từ chối ly sakê do ông Niori tự tay rót cho tôi. Ông cười và thúc giục tôi uống mãi, cuối cùng tôi phải nói cho ông biết tôi không uống rượu, vì tôi là một phi công chiến đấu. Câu đáp của tôi rõ ràng đã làm cho cả gia đình nàng hài lòng.

Ðêm hết quá mau và những lời từ giã được trao đổi, tuy nhiên lời cầu hôn của tôi chưa thốt ra. Trở về Omura, tôi vùi đầu trong công việc huấn luyện bổ túc từ sáng sớm cho đến tối mịt. Mùa Xuân lướt qua rồi mùa Hạ đến và đi. Tôi vẫn ở Omura, vẫn miệt mài với chương trình huấn luyện. Những gì làm cho tinh thần tôi phấn chấn chính là những bức thơ đều đặn của Fujiko. Những bức thơ dâng niềm hy vọng và mộng mơ trong tôi. Nhưng tôi trở nên nôn nao. Nhiều bức thơ tôi nhận được từ mấy người bạn phi công vẫn còn bay ở Trung Hoa kể lại những chiến công mà họ đã gặt hái được từ tuần này qua tuần khác. Hầu hết mấy người bạn này đều đã hạ trên 10 phi cơ địch, gây thất điên bát đảo cho kẻ thù trên không phận Trung Hoa. Tin lành sau cùng cũng đến, tôi được lịnh thuyên chuyển đến căn cứ không quân Cao Hùng (Kaohsiung) ở Ðài Loan. Từ Trung Hoa trở về nước đúng 1 năm, và bây giờ tôi lại được gần gũi với cuộc chiến. Hiện thời Cao Hùng trở thành căn cứ không quân hải ngoại chánh yếu của Nhựt Bản, và sự thuyên chuyển này có nghĩa là tôi sẽ lâm trận ngay sau đó.

Trước khi lên đường tôi đi mua ngay một vật mà tôi đã ao ước suốt năm nay. Ðó là chiếc máy chụp hình hiệu Leica, thấu kính 2.0 Sonar, lúc đó được xem là máy chụp hình tốt nhất thế giới. Giá chiếc máy này hơn 3 tháng lương, và tôi đã vét hết số tiền dành dụm. Các chiến đấu cơ của chúng tôi không được trang bị loại máy chụp hình tự động như máy bay Mỹ, và chiếc máy Leica thích hợp để chụp không ảnh từ phòng lái.

Ðến Cao Hùng, tôi sững sốt tột cùng. Trên phi đạo, tôi nhìn thấy nhiều chiến đấu cơ loại mới, xa lạ, khác hẳn loại 96 Claude. Ðây là loại chiến đấu cơ Zéro Mitsubishi A6M vừa chế tạo, trơn bóng và tối tân. Chiếc máy bay đã gây cho tôi sự thích thú chưa từng thấy. Phòng lái của loại phi cơ này có nắp che, động cơ cực mạnh và bộ phận hạ cánh có thể rút vào thân. Thay vì chỉ có 2 khẩu đại liên hạng nhẹ như loại 96 Claude, loại chiến đấu cơ Zéro được trang bị đến 2 đại liên 7 ly 7 và 2 đại bác tự động 20 ly.

Chưa hết. Vận tốc và tầm hoạt động của chiếc Zéro gần gấp đôi chiếc Claude. Các cơ phận điều khiển tuyệt hảo, chỉ cần ấn nhẹ cần là lập tức động cơ phản ứng tức thì. Ðộ nhạy của chiếc Zéro vượt lên trên tất cả các loại máy bay tôi từng lái. Chiếc Zéro đáp ứng giấc mơ của mọi phi công, làm chúng tôi thêm nôn nóng thử nghiệm nó trong không chiến.

Chúng tôi mang ra thử lần đầu tiên trong cuộc xâm chiếm Ðông Dương thuộc Pháp. Nhiệm vụ là bao che cho các đơn vị lục quân đánh chiếm những vị trí then chốt trên mặt đất. Ðiều này có nghĩa là phải bay không ngừng nghỉ suốt 800 hải lý (1,482 km) từ Cao Hùng đến đảo Hải Nam. Ðó là một khoảng cách không thể nuốt trôi đối với các loại chiến đấu cơ trước đây, nhứt là phi trình phần lớn trên mặt đại dương. So với Claude tầm ngắn, chiếc Zéro như một kỳ quan đối với chúng tôi.

Tuy nhiên, khi tiến vô Ðông Dương chúng tôi không gặp một sự chống đối nào ngoại trừ một vài cuộc đụng độ nhỏ sát biên giới, gây ra bởi một số đơn vị Pháp không kịp thông báo. Cuộc xâm chiếm xúc tiến một cách “hoà dịu” sau thoả hiệp với chính quyền Bảo hộ, tránh được sự lan rộng của chiến tranh.

Tôi vẫn chưa nếm mùi chiến đấu với loại khu trục cơ Zéro cho đến khi được bổ nhiệm trở lại ở Liên Phi đoàn Hán Khẩu vào tháng 5-1941. Tôi nhận thấy phi công địch mất hẳn tinh thần chiến đấu. Sự hùng hổ của phi công Nga-Sô trong trận không chiến đầu tiên của tôi không còn nhìn thấy ở đối phương nữa. Các phi công địch tìm mọi cách để tránh né chúng tôi, và họ chỉ chấp nhận đụng độ khi nào chiếm được ưu thế, lao từ trên mây xuống đánh úp chúng tôi. Thái độ co đầu rụt cổ này bắt buộc chúng tôi càng lúc càng tiến sâu vô nội địa, dồn họ vào thế phải chấp nhận đánh nhau.

Tôi được chỉ định một nhiệm vụ như vậy vào ngày 11 tháng 8 năm 1941, với mục đích ép buộc đối phương lâm trận. Ðó là một phi vụ 1,500 km bay không ngừng nghỉ từ Nghi Xương (Ichang) tỉnh Hồ Bắc đến Thành Ðô (Chengtu) tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan).

Khu vực này quen thuộc, phía trên Nghi Xương, bấy giờ nằm trong tay địch quân, mà tôi đã từng đối đầu với 12 phóng pháo cơ Nga-Sô trước đây. Trong phi vụ xâm nhập này, chúng tôi có thêm nhiệm vụ hộ tống 7 oanh tạc cơ loại Mitsubishi G4M hai máy, phía Mỹ gọi là Betty. Quá nửa đêm, các oanh tạc cơ cất cánh từ Hán Khẩu và được chúng tôi hộ tống đến Nghi Xương. Sau đó, chúng tôi tiếp tục hướng đến phi trường Thành Quan (Wenkiang). Chúng tôi ở trên mục tiêu trước bình minh và bay quần chầm chậm chờ ngày lên hẳn. Chúng tôi nhìn chiếc Zéro dẫn đầu, nghiêng cánh và chúi xuống. Ðó là ám hiệu khai hoả. Từng chiếc một, chúng tôi túa xuống phi trường địch, nơi tôi nhìn thấy nhiều chiến đấu cơ Nga-Sô chạy trên phi đạo, chuẩn bị cất cánh. Nhân viên dưới đất chạy túa mọi nơi, hướng đến hầm trú ẩn. Tôi sà thật thấp, lướt đến phía sau một chiến đấu cơ Polikarpov I-16 của địch vừa cất đầu lên khỏi mặt đất. Ðó là một mục tiêu ngon ăn, và chỉ một viên đại bác tầm ngắn đã biến chiếc phi cơ thành cây đuốc. Tôi xẹt ngang qua phi đạo, đảo sang phải thật ngặt và vượt thẳng lên để quành lại kiếm ăn nữa. Súng phòng không địch vây tôi mọi mặt, nhưng tốc lực của chiếc Zéro mau không thể tưởng, khiến xạ thủ địch bó tay. Nhiều chiếc Zéro khác bổ nhào xuống, cày nát sân bay. Một số chiến đấu cơ Nga phát hoả hoặc vỡ tan. Tôi lại đâm đầu xuống để chụp một chiếc phi cơ khác trong tầm ngắm. Một viên đại bác thứ hai, rồi là trái cầu lửa hình nấm phồng lên. Không còn gì để xạ kích nữa. Cuộc tấn công của chúng tôi đã dọn sạch phi cơ địch trên phi đạo, không một chiếc nào ngốc đầu lên nổi. Ða số bốc cháy hoặc nổ tung. Trở lên cao 7000 bộ (2100m), chúng tôi nhận thấy nhiều nhà chứa phi cơ và các cơ sở bao trùm trong lửa đỏ. Nhiệm vụ trơn tru từ đầu đến cuối. Chúng tôi thất vọng vì thiếu màn đánh nhau trên không, nên tiếp tục đảo vòng, hy vọng các cột khói sẽ lôi cuốn phi cơ địch từ nơi khác.

Thình lình 3 chiếc Zéro tách khỏi đội hình và chúi xuống. Xa xa phía dưới, tôi nhìn thấy một phi cơ cánh đôi sơn màu sáng chói đang bay sà sát mặt đất. Trong nháy mắt 3 chiến đấu cơ Nhựt nhảy xổ vào phi cơ địch, tung ra hàng loạt đạn đại liên và đại bác nhưng không có kết quả, vì viên phi công địch lộn nhào tránh né tài tình. Cả 3 chiến đấu cơ Nhựt bay vượt qua chiếc phi cơ cánh đôi. Bây giờ đến lượt tôi. Tôi chúi xuống và tìm cách cho phi cơ địch vào tầm súng, tôi siết cò. Phi cơ địch đảo thật ngặt về phía trái và thoát khỏi. Một chiếc Zéro khác nhập cuộc, và cả 5 chúng tôi hùa nhau đuổi bắt chiếc phi cơ quỷ quái đó. Tài tránh né của phi công địch quả đáng bực thầy. Chiếc phi cơ cánh đôi như hồn ma bóng quế. Nó lộn nhào, rơi xuống theo hình trôn ốc, xoáy vượt lên cao và xoay ngang xoay dọc tài tình đến nỗi khó thể tin vào mắt. Chúng tôi không thể nào nhắm chiếc phi cơ ấy một cách chính xác.

Sau đó, bất ngờ chúng tôi bay đến gần đỉnh của một ngọn đồi thấp phía Tây Thành Ðô. Viên phi công địch thay vì tránh né, đã bay vượt lên ngọn đồi, và khi vượt lên hắn xoay vòng chậm chạp. Ðó là một lỗi lầm chết người mà không phi công nào dám để mắc phải. Bụng hắn loé sáng trước mắt tôi, và những viên đạn đại bác của tôi xé rách, xuyên thấu tận buồng lái. Ðang lúc chiếc phi cơ cánh đôi rơi xuống như một chiếc chong chóng thì một chiến đấu cơ Zéro khác bồi thêm một loạt đạn vô ích vào thân xác chết. Nó chạm vô sườn đồi và nổ tung.

Tôi ghi hai điểm, và đây là chiến thắng đầu tiên với chiếc Zéro.

Ðó là phi vụ chiến đấu cuối cùng của chúng tôi ở mặt trận Trung Hoa. Không lâu sau đó chúng tôi nới tầm hoạt động lên Vận Thành (Yungcheung), là một thị trấn nhỏ ở mãi tận sông Hoàng Hà. Suốt nhiều tuần lễ, các phi vụ tuần thám của chúng tôi thất bại trong việc khám phá ra phi cơ địch. Ðầu tháng chín, các phi công phải trở về Hán Khẩu, nơi phó đô đốc Eikichi Katagiri, tư lịnh Không Hải đoàn Nhựt (1) ở Trung Hoa, bất ngờ xuất hiện. Vị phó đô đốc cho biết tất cả chúng tôi sẽ thuyên chuyển về Ðài Loan, ở đó chúng tôi sẽ lĩnh một sứ mạng quan trọng nhứt. Ông không tiết lộ nhưng tất cả chúng tôi đều biết rõ Nhựt Bản sắp khai chiến với các cường quốc phương Tây.

Giữa tháng chín, chúng tôi quay về Ðài Loan. Sau đó, toàn thể 150 phi công chiến đấu cơ với con số phi công oanh tạc cơ tương đương di chuyển từ Cao Hùng đến Ðài Nam để gia nhập Tân Không đoàn Ðài Nam (Tainan).

Cuộc chiến Thái Bình Dương trên đà bùng nổ.

Người lính không còn lon

Phạm Sơn Liêm

Posted on August 9, 2026 by dongsongcu Đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Có những mất mát nhìn thấy được. Một lá cờ. Một doanh trại. Một khẩu súng. Một quân phục.

Nhưng có những mất mát không ai nhìn thấy. Đó là ngày một người lính đánh mất tên gọi của chính mình.

Ông tên Minh. Năm 1975, ông ba mươi hai tuổi. Cấp bậc đại úy. Mười bốn năm quân ngũ. Ông thuộc lòng từng điều lệnh, từng nghi thức chào cờ, từng tiếng kèn báo thức mỗi buổi sáng.

Đời ông được đo bằng những lần đổi đơn vị, những cuộc hành quân và những người đồng đội đã nằm xuống. Ông chưa từng nghĩ sẽ có một ngày mình phải sống mà không còn là một người lính.

Thế nhưng ngày ấy đã đến.

Ông cởi chiếc áo trận. Tháo khẩu súng. Rồi tháo luôn hai chiếc lon trên vai. Đôi bàn tay run đến mức không gỡ nổi chiếc ghim cài. Ông ngồi rất lâu. Nhìn hai chiếc lon nằm lặng lẽ trong lòng bàn tay.

Lần đầu tiên trong đời, ông cảm thấy mình trống rỗng.

Những năm cải tạo đi qua.

Ngày trở về, đứa con trai út nhìn ông bằng ánh mắt xa lạ.

Nó chỉ nhớ người cha trong tấm ảnh cũ. Còn người đàn ông gầy gò đứng trước cửa hôm ấy giống một người khách hơn.

Ông ôm con. Nó ôm lại. Nhưng giữa hai cha con có gần mười năm mà không cái ôm nào lấp đầy được.

Sang Mỹ. Ông làm đủ nghề.

Rửa chén. Quét kho. Đẩy xe hàng.

Mỗi sáng, ông mặc đồng phục công nhân. Chiếc bảng tên bằng nhựa cài trước ngực. Dòng chữ “MINH”.

Không có đơn vị.

Không có quân số.

Chỉ còn một cái tên. Có lần, người quản lý trẻ hơn con ông mấy tuổi lớn tiếng trách vì ông làm chậm.

Ông chỉ im lặng.

Một người bạn hỏi:

– Sao anh không cãi?

Ông cười.

– Ngày xưa tôi từng ra lệnh cho cả đại đội. Bây giờ cãi một cậu bé để làm gì?

Đó không phải là cam chịu Đó là sự bình thản của một người đã đi qua những điều lớn hơn rất nhiều.

Một buổi chiều cuối thu. Ông lên gác lấy chiếc hộp gỗ cũ.

Bên trong chỉ có vài tấm hình.

Một huy hiệu. Và đôi lon bạc đã ngả màu. Ông đặt chúng lên bàn.

Advertisement

Rồi soi gương. Trong gương là một ông già tóc bạc. Ông nhìn thật lâu. Rồi khẽ hỏi:

“Tôi là ai?”

Không còn quân đội.

Không còn cấp bậc.

Không còn những người lính gọi mình là “đại úy”.

Vậy mình là ai? Căn phòng im lặng.

Ngoài sân, lũ cháu đang cười đùa bằng tiếng Anh.

Chúng không biết nhiều về chiến tranh. Cũng chưa từng thấy ông mặc quân phục.

Nhưng bỗng đứa cháu gái chạy vào. Nó ôm lấy ông.

– Grandpa, ba nói ông là người hùng.

Ông bật cười.

– Không. Ông chỉ là một người lính.

Con bé hỏi tiếp:

– Người lính là gì hả ông?

Ông nhìn ra khoảng trời xanh ngoài cửa sổ. Chậm rãi đáp:

– Là người làm điều mình tin là đúng, ngay cả khi phải trả giá.

Con bé chưa hiểu hết. Nhưng nó gật đầu.

Ôm ông chặt hơn. Đúng lúc ấy, ông bỗng tìm được câu trả lời mà mình đã kiếm suốt hơn năm mươi năm.

Ông không phải là hai chiếc lon. Ông không phải quân phục. Cũng không phải chức vụ. Tất cả những thứ ấy chỉ là dấu hiệu của một thời.

Điều còn lại mới là con người thật.

Là danh dự.

Là lời thề.

Là tình đồng đội.

Là lòng yêu quê hương chưa bao giờ tắt.

Chiếc lon có thể tháo khỏi vai. Nhưng không ai gỡ được nó khỏi trái tim.

Ông cẩn thận đặt đôi lon trở lại chiếc hộp. Khép nắp. Mỉm cười. Bước ra sân. Nắng chiều phủ lên mái tóc bạc. Đứa cháu nắm lấy bàn tay đầy vết chai của ông. Bàn tay ấy không còn cầm súng. Nhưng vẫn đủ vững để dắt cháu đi.

Và ông hiểu rằng, cuộc đời đã lấy đi của mình rất nhiều.

Nhưng vẫn để lại điều quý giá nhất. Đó là được sống đến cuối đời mà không hổ thẹn với lời thề của một người lính.

Vì có những cấp bậc chỉ tồn tại trên quân phục. Nhưng cũng có một cấp bậc không cần đeo trên vai. Đó là cấp bậc của danh dự.

Và người giữ được danh dự ấy… Dẫu quân đội không còn, dẫu mái đầu đã bạc, dẫu tên mình không còn được gọi trong quân ngũ…

Vẫn mãi mãi là một người lính.

Phạm Sơn Liêm.

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Đại uý Eric Pham (gốc Việt), Phi công Không quân Hoa Kỳ, Sĩ quan huấn luyện Phi công phản lực 14 Quốc Gia Liên hợp NATO được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2026.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on August 16, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Đại uý Eric Pham (hình của linkedin.com).

Đại uý Eric Pham, Phi công Không quân Hoa Kỳ vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2026 (CY26A), theo thông báo của Trung tâm nhân sự Không quân (Air Force’s Personnel Center), ngày 17 tháng 7 năm 2026. Trong bản danh sách đề cử thăng cấp còn có một số nam, nữ Đại uý gốc Việt khác bao gồm: DUONG MARTINEZ, AMANDA M; HUYNH, NGOCANH CHU; LAM, RYAN N; LUONG, JENNIFER HONG DIEM; NGUYEN, ALICIA ELIZABETH; NGUYEN, JONATHAN P; NGUYEN, LIANNE M; TRAN, BRYANT. Danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Uỷ ban quân vụ Thượng viên (Committee on Armed Services) nhận được ngày 7 tháng 8 năm 2026.

Đại uý Eric Pham hiện là Phi công huấn luyện trong chương trình huấn luyện Phi công phản lực cho Không quân các Quốc Gia Liên hợp Euro-NATO. Chương trình huấn luyện Phi công đa Quốc gia này, với sự tham dự của 14 Không quân của các Quốc gia trong Khối NATO, mang đến cơ hội tuyệt vời để đóng góp vào việc phát triển các Phi công chiến đấu cơ đẳng cấp trên thế giới. Các năng lực chính yếu bao gồm hướng dẫn chỉ huy, năng lực tổ chức và nhận thức tình huống. Trong chương trình đào tạo Phi công phản lực chung Euro-NATO (ENJJPT), Đại uý Eric Pham cộng tác hàng ngày với các học viên và đồng nghiệp Quốc tế để cung cấp chương trình huấn luyện phi công xuất sắc, bằng cách thúc đẩy tinh thần đồng đội và hợp tác, hướng đến việc tăng cường năng lực phòng thủ toàn cầu và trang bị cho thế hệ Phi công chiến đấu NATO tiếp theo, phương pháp tiếp cận, phù hợp với sứ mạng xuất sắc và cam kết đối với an ninh toàn cầu của chương trình, mang đến sự kết hợp độc đáo giữa năng lực chỉ huy, quản lý và chuyên môn phi hành.

Thiếu uý Eric Pham (hình của OK-943rd AFJROTC Alumni Association).

Đại uý Eric Pham thụ huấn Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (AFJROTC) tại Đại học Oklahoma (University of Oklahoma) và tốt nghiệp năm 2016. Sau khi ra trường, Thiếu uý Eric Pham được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công, ông bay loại Phi cơ vận tải C-17 Globemaster III thuộc Phi đoàn vận tải viễn chinh 816 tại căn cứ Không quân Al Udeid. Ông được đào tạo trở thành Phi công huấn luyện Phi cơ vận tải C-17 Globemaster III.

Từ tháng 4 năm 2023, Đại uý Eric Pham được bổ nhiệm làm Phi công huấn luyện Phi cơ T-6 tại Wichita Falls, Texas, Hoa Kỳ. Ông là Giảng viên huấn luyện Phi công của chương trình huấn luyện Phi công đa Quốc gia duy nhất trên thế giới được thành lập để đào tạo Phi công chiến đấu cơ cho Khối NATO. ông làm việc với Không quân 14 Quốc gia tham gia và bay cùng các học viên Quốc tế hàng ngày để đào tạo họ trở thành Phi công chiến đấu xuất sắc.

Đại uý Eric Pham (hình của Trung sĩ Joseph Pick, dvidshub.net).

Đại uý Eric Pham tốt nghiệp Đại học Oklahoma với Văn bằng Cử nhân quản trị kinh doanh chuyên ngành tài chánh năm 2016, và Văn bằng Cao học quản lý tại Đại học Illinois Urbana-Champaign năm 2025.

Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân ngoài tân Thiếu tá Eric Pham còn có hơn 160 vị (không tính những vị được thăng cấp Trung tá và đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit; Thiếu tá Khoa Huỳnh, Phi công thử nghiệm; Thiếu tá Allan Pham, Phi công phi cơ C-130J; Thiếu tá Khiem Nguyen, Nha sĩ phi hành; Thiếu tá Chau Tran, Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base; Thiếu tá Vu Q. Nguyen, Trưởng ban nhạc Không quân Vệ binh Quốc gia vùng bờ biến Tây, Quần đảo Channel, Port Hueneme, California; Thiếu tá Dalton Nguyen, Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force); Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh, Sĩ quan phi hành; Nũ Thiếu tá Ashleigh Nguyen, Luật sư Quân pháp Không quân; Nữ Thiếu tá Lynn Nguyen, Điều dưởng phi hành, Phi đoàn 18 Quân y; Nữ Thiếu tá Tina Nguyen, Bác sĩ phi hành Không đoàn 104; Nữ Thiếu tá Thoa Phạm, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 49 chẩn đoán và trị liệu; Nữ Thiếu tá Anh Ison, Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân y; Nữ Thiếu tá Jessica Pham; Nữ Thiếu tá Fiona M. Pham; Nữ Thiếu tá Linda Kim Nguyen; nữ Thiếu tá Caroline H. Nguyen; Nữ Thiếu tá Cecilia T. Nguyen; Nữ Thiếu tá Thuy Trang Thu Lam; Nữ Thiếu ta Diana P. T. Le; Nữ Thiếu tá BaoHan Huynh; Nữ Thiếu tá Augustine D. Tran; Nữ Thiếu tá Lyndney U. Vu, và còn rất nhiều nam, nữ Thiếu tá Không quân gốc Việt chưa cập nhật hết được.

Chúc tân Thiếu tá Eric Phạm thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Họ và tên Việt, H Phạm.

Nguồn: OK-943rd AFJROTC Alumni Association; ou.edu/rotc; alamy.com; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 17 Aug 2026

Đây là lần thứ nhất tôi ăn Tết ở nhà quê, sau… không biết sau bao nhiêu năm rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn. Ðiểm lại hành trình cuộc đời, chắc nhiều bạn ở nước ngoài cũng như tôi, đón Tết ở nhiều nơi quá, không nhớ hết. Cái “thế hệ thứ nhất” tức là gồm những người đã có tuổi, nay còn ở nước ngoài, không thể nào không trải qua những ngày tháng “lênh đênh” ở một vùng nào đó xa quê hương. Còn những người thuộc “thế hệ thứ hai, thứ ba” có lẽ đỡ long đong hơn, nhưng cũng không tránh khỏi cuộc sống nay nơi này mai nơi khác ở những tiểu bang, những tỉnh, những thành phố khác nhau.

Cảm giác đón Tết “tha hương” hầu như ai cũng có, chẳng ít thì nhiều, nhưng mỗi nơi mỗi khác. Song để nhớ lại những ngày thơ ấu sống trong không khí ấm cúng cùng với gia đình vẫn mang đến cảm giác ngậm ngùi, bâng khuâng hơn cả.

Tìm lại chút không khí Tết xưa không dễ dàng chút nào bởi phong tục tập quán mỗi nơi mỗi khác. Mỗi vùng, có khi chỉ từ làng này sang làng khác, đã có những tục lệ khác nhau. Mỗi tục lệ có những nét đặc trưng riêng và chính nó làm thành sợi dây vô hình gắn kết tâm hồn của những người đồng hương với nhau hơn. Vì thế nên ở đâu cũng có đoàn, có hội ái hữu của tỉnh này tỉnh kia.

Tuy vậy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những tập tục chung, ở bất kỳ nơi nào cũng như nhau. Cái linh hồn của Ðêm Giao Thừa ở đâu và bao giờ cũng mang ý nghĩa thiêng liêng, trang trọng và gợi lên tình cảm của sự đoàn tụ, của tình quê hương dân tộc. Bởi thế nên có những người lam lũ vất vả quanh năm, đến gần ngày 30 Tết vẫn bằng mọi cách, tìm về với gia đình. Bà con Việt kiều ở nước ngoài cũng nhân dịp này trở lại thăm quê hương. Có người phải thu xếp vài ba năm mới trở lại VN được. Họ không chỉ ở thành phố mà hầu hết tìm về quê nội, quê ngoại để được hưởng cái Tết ở chính nơi mình đã sinh ra với những kỷ niệm cũ và để cho cái “thế hệ thứ hai thứ ba” biết thế nào mới đúng là cái Tết Việt Nam.

Cái phong bao lì xì nhỏ nhắn, đỏ chót, đã ăn sâu vào ký ức không thể nào quên. Và những giây phút sung sướng được cầm phong bao ấy sao mà sảng khoái đến thế. Dù bao nhiêu năm rồi mà vẫn muốn được sống lại với những giây phút thần tiên ấy. Người Việt Nam chúng ta ở đâu cũng vậy. Chẳng có gì khác, chẳng có gì thay đổi được. Chỉ vài nét đơn sơ thế thôi đủ nói lên tất cả.

Cho nên ngày Tết đối với chúng ta, cho dù trải qua trăm ngàn thăng trầm, vẫn là những ngày quan trọng trong cuộc sống.

Về Quê Ăn Tết

Năm nay tôi mới có điều kiện để tìm về ăn Tết ở nhà quê. Tôi cho rằng đó là một sự may mắn lắm. Những năm trước, có muốn về quê cũng chẳng được vì có chỗ nào đâu mà về? Cứ ro ró trong cái căn phòng chung cư rộng không quá 4m, dài không quá 8m. Ðêm 30 và ngày Mùng Một cúng ông bà gia tiên, không thể bỏ đi được, rồi còn họ hàng, bà con, anh em đến chúc Tết, ba ngày Tết cứ như sống trong cái rọ.

Rồi chạy đi chạy lại, chúc qua chúc lại, từ Sài Gòn nhẩy xuống Gò Vấp, từ Gò Vấp nhảy tuốt vào Chợ Lớn, cứ như con thoi. Ðường sá chen chúc, mồ hôi nhễ nhại, cơm chẳng buồn ăn. Người ta nói “đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, nhưng thực ra ba ngày Tết ăn gì cũng chẳng thấy ngon. Chỉ có mỗi cái thú làm mọi “thủ tục” cho nhanh rồi ngồi vào một bàn mạt chược xoa với bạn bè cho hết Tết. Hầu như trong dịp Tết, kể cả những ông bà không có máu cờ bạc cũng ngồi vào một bàn bài “lấy hên đầu năm” chung vui với lũ trẻ. Cũng chính bởi “thông lệ” này lâu ngày biến thành các sòng cờ bạc giữa đường phố, không phải từ ngày Tết mà từ những ngày trước Tết và còn kéo dài cho hết tháng giêng, tháng hai.

Tháng Giêng Là Tháng Ăn Chơi, Tháng Hai Cờ Bạc, Tháng Ba Rượu Chè…

Các cụ đã “dạy” thế nên vào dịp đó mấy thầy cảnh sát cũng dễ dãi, nhắm mắt bỏ qua cho bà con vui chơi. Méo mặt, cháy túi cũng vì cờ bạc ngày Tết, nó là một cái cớ để các ông lăn lộn trong những sòng bài.

Nếu là người thành phố, chắc hẳn ai cũng có dịp chứng kiến những sòng bài ở đầu đường, trong những xó kẹt building, gầm cầu thang chung cư… những người lao động nghèo khó túm tụm đánh bài. Nhìn họ say sưa sát phạt, không ai không động lòng thương hại, có đồng nào chui hết vào sòng bài bạc, rồi vợ con họ sẽ lấy gì mà sống? Biết bao gia đình nheo nhóc đói khổ, lủng củng, thậm chí tan vỡ sau những ngày Tết như thế.

Từ nhiều năm nay tục lệ đốt pháo không còn nữa.

Nó làm mất đi một nét truyền thống nhưng quả thật là một điều đáng mừng.

Tôi nhớ những năm 1987-1990 khi còn ở chung cư, mỗi lần giao thừa đến là mỗi lần tưởng có thể chết ngộp vì khói. Khói và mùi thuốc pháo đặc kín, những ông già phải nhanh chân chạy ra đứng thở ở công viên cho đến hết giao thừa mới dám mò về. Nó cũng gây ra nhiều tai nạn. Tôi rất tiếc không còn được nghe tiếng pháo Tết, nhưng đó là một việc đáng làm.

Nhưng dù thế nào thì đó vẫn là những hình ảnh thật nhất, sống động nhất của những ngày Tết ở thành phố.

Năm nay, tôi rời Sài Gòn vào trưa ngày 28 Tết để trở lại vùng quê mà tôi đã chọn. Vào ngày này, tôi cứ nghĩ xe đò sẽ chật cứng, nhưng trái lại nó lại rộng rãi, thừa khá nhiều chỗ. Lúc này tôi mới biết vào những ngày giáp Tết, người dân ở đây không còn đi lên thành phố buôn bán gì nữa. Chỉ còn lại lác đác một số người về quê ăn Tết. Có lẽ đây là sự khác biệt giữa miền Tây và miền Ðông của Nam bộ. Nhưng trên quốc lộ 13 thì xe cộ đông hơn ngày thường. Cái tất bật của ngày Tết như đã bắt đầu từ đây.

Người… “Trăm Năm Cũ” Bây Giờ Là Đây

Chiều 29 Tết, một người làm vườn cho nhà hàng xóm, cạnh nhà tôi, hấp tấp dắt chiếc xe ra cổng. Có điều lạ là chiếc xe gắn máy tuy cũ mèm song tất nhiên là còn đi được như bao nhiêu chiếc xe từ đời “tam quốc” nào đó mà tôi nhìn thấy ở vùng này, vẫn phom phom trên mọi nẻo đường, vậy mà anh ta lại dắt xe leo lên con dốc cổng.

Thì ra xe anh bị xẹp lốp. Mà từ đây phải đi gần một cây số ra đến cái chợ chồm hổm đầu đường quốc lộ mới có người vá xe. Anh ta nhìn tôi lắc đầu:

– Sửa được cái máy cho nó nổ thì bây giờ đến cái lốp.

Cái này thì chịu.

Nhìn anh mồ hôi nhễ nhại, tôi mời anh vào nhà uống nước. Anh dựng xe trước cổng, vui vẻ vào nhà. Anh nhìn mấy bức ảnh treo trên tường rồi bất ngờ hỏi:

– Hồi này cụ Mạnh Ðan còn khỏe không, ông?

– Cụ khỏe lắm, tôi không nhớ chính xác tuổi cụ nhưng chắc chắn là trên 80.

Và tôi nhìn người đàn ông có vẻ phong trần này, ướm lời:

– Ông cũng biết cụ Mạnh Ðan sao? Người đàn ông thoáng một nụ cười:

– Tôi cũng là dân “Sài Gòn cũ” mà. Ba mươi năm trước, thỉnh thoảng tôi cũng gặp cụ.

Gặp dân Sài Gòn cũ, tôi mừng rơn:

– Hồi ở Sài Gòn anh làm gì?

– Em làm thợ sắp chữ. Tôi càng thú vị hơn:

– Té ra mình cùng một nghề với nhau đấy.

– Em cũng có nghe nói anh trước kia anh là nhà báo? Em không biết anh tên gì, nhưng quả là thấy quen quen.

– Tên tuổi chẳng có gì quan trọng. Anh làm thợ sắp chữ ở nhà in nào?

– Em thường xuyên sắp chữ cho báo Màn Ảnh của ông Mai Châu. Rồi có sắp chữ thêm cho mấy tờ báo Trắng Ðen, Sóng Thần, Chính Luận nữa. Ông Mai Châu thế nào rồi?

– Tôi chỉ nghe tin ông ấy mất lâu rồi, còn bà ấy tôi cũng không gặp.

Người đàn ông kể một loạt những cái tên con ông Mai Châu, cậu Tuấn, cô Phượng… và một loạt ông bà chủ báo và những người “sếp typo”. Dường như ông muốn chứng minh rằng ông là người Sài Gòn cũ thật hoặc lâu không được nhắc đến tên những người ấy. Ở nơi này thì kể với ai ở đây, được dịp, ông kể ra cho hả.

Sau đó ông nói về những đường phố, nơi có các tòa báo hàng ngày và hàng tuần trước năm 75. Ðường Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện, Võ Tánh… Ông hỏi:

– Bây giờ nó thế nào?

– Bây giờ khác hết rồi. Con đường trước kia nhiều tòa báo, bây giờ là Phố Tây Ba Lô, toàn khách sạn, nhà ngủ, dịch vụ du lịch và đủ thứ dịch vụ miễn là kiếm được đô-la của bất cứ khách du lịch nào dù là dân du lịch rách.

Người đàn ông thở dài:

– Ba mươi năm rồi, em chưa có dịp trở lại Sài Gòn. Hồi làm thợ sắp chữ, em mới 18 tuổi. Ðược làm thợ sắp chữ, khỏi đi lính, mấy ông chủ báo bảo lãnh hết. Thế nên cả 3 anh em nhà em đều làm thợ sắp chữ. Sau này “giải phóng”, tụi em cũng được… giải phóng luôn khỏi cái nghề sắp chữ, đâm ra thất nghiệp.

Anh ta cười, nụ cười… méo mó:

– Nhưng nhà nước nuôi.

Tôi tròn mắt, song chợt nhớ ra hoàn cảnh của mình nên hỏi ngay:

– Nhà nước nuôi nghĩa là anh cũng bị đi “cải tạo”? Anh ta xua tay:

– Chết, ông đừng đùa chứ. Em ngán cái thứ đó lắm. Nghe hết cả hồn. Hồi mới, tụi em chưa hiểu nghĩa “cải tạo” là gì, sau này mấy ông ở ngoài Bắc vào giảng nghĩa cho, tụi em cứ nghe đến hai chữ đó là hồn vía lên mây.

– Thế nhà nước nuôi anh theo kiểu nào?

– Là đi vùng kinh tế mới. Phát cho gạo ăn 6 tháng và một số tiền, rồi lên vùng rừng núi làm “kinh tế” gia đình. Ðược phát cái nhà, không có vách, chỉ có 6 tấm tôn.

Anh bật người ra và cười:

– Hồi đó em chẳng biết làm gì với cái cảnh rừng rú, đất đỏ hoang vu này. Ðẻ ra đã là dân thành phố, không biết cầm cái cuốc. Nên sau 6 tháng, lại thất nghiệp, mà lần này thất nghiệp nặng hơn, ở một vùng xa lạ chẳng biết nương nhờ vào ai. Từ lúc đó bắt đầu cuộc đời làm mướn cho đến bây giờ.

Tôi biết khá rõ về những người làm mướn cho những nhà vườn ở đây. Nhân công thật rẻ, làm từ sáng đến tối, chỉ có 30 ngàn một ngày, phải mang cơm đi ăn, nếu chủ nuôi cơm thì chỉ còn 25 ngàn hoặc có khi không có việc thì 20 ngàn cũng phải làm. Làm bất cứ việc gì chủ vườn cần. Vét mương, đào giếng, cuốc đất, trồng cây… hầm bà làng, đủ thứ việc. Ngoại trừ một số thợ có chút nghề chuyên môn như làm nhà, làm điện, có “cánh” có “nhóm” thì đồng lương cao hơn chút đỉnh.

Anh lắc đầu:

– Hồi xưa làm thợ sắp chữ thì đồng lương nuôi cả nhà. Mỗi ngày 5 ngàn thôi, lãnh lương hàng tuần, mọi thứ đều rẻ. Bây giờ làm không đủ nuôi vợ con, nhà có bao nhiêu người đến tuổi động đậy được chân tay là phải làm hết. Ðứa con lên 10 là lao động rồi. Vợ cũng phải làm, thế mà gặp lúc ít việc cũng túng thiếu mờ mịt.

Ngày Xưa Thức Dậy

Nói chuyện lan man, anh kể về cuộc đời mình:

– Hồi ở Sài Gòn, em cũng có vợ rồi đấy chứ. Vợ em là thợ sắp giấy, em là thợ sắp chữ, đẹp đôi lắm. Cô ấy xinh xắn, đẹp người đẹp nết, anh nào cũng muốn tòm tem, nhưng cô ấy lại chịu em. Thế là chúng em lấy nhau, nhà bố mẹ em ở bên bến Phạm Thế Hiển, bên kia cầu chữ Y. Sáng sáng đèo nhau trên chiếc xe gắn máy đi làm, chiều dắt nhau về tổ ấm, tình lắm. Nhưng đến khi lên vùng kinh tế mới thì cô ấy chịu không nổi. Không có việc làm, lại còn sinh bệnh tật, cô ấy trở lại Sài Gòn rồi không bao giờ lên nữa.

– Thế lúc đó đã có cháu nào chưa?

– Rất may là chưa. Nếu có một đứa con thì may ra giữ chân cô ấy lại chốn này được.

Ðôi mắt người đàn ông mờ đi dưới ánh đèn. Rồi anh ta tặc lưỡi, buồn rầu:

– Nhưng như thế cũng may cho cô ấy. Chứ ở đây chịu cái cảnh này với em suốt 30 năm nay thì tội nghiệp cho cô ấy quá. Chẳng biết hồi sau này cô ấy thế nào.

Nhìn anh thoáng một chút mơ mộng, tôi nghĩ anh còn nặng tình với người vợ cũ lắm. Nếu không có cái vụ “kinh tế mới” chắc vợ chồng anh còn sống với nhau cho đến bây giờ. Anh lại trầm ngâm:

– Ðôi lúc em cũng muốn ghé về Sài Gòn hỏi thăm tin tức xem sao, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, để cho nhau yên có lẽ tốt hơn. Vả lại cũng chẳng có tiền mà về. Ăn ở vào đâu? Thế nên ba mươi năm, em cứ ở chỗ này. Còn anh, sao anh lại về đây?

– Tôi kiếm một chỗ yên tĩnh dưỡng già.

Lúc này chúng tôi đã có vẻ thân mật hơn nên xưng hô bằng anh em cho gần.

Anh lại chợt nhớ ra một người nào đó trong số những người làm báo trước kia, anh hỏi về các ông Mai Thảo, Thanh Nam, Hoài Ðiệp Tử, Ngọc Hoài Phương, bà Trùng Dương, ông Thanh Thương Hoàng… rồi nhảy sang mấy ông chủ nhà in, ông Hợi, cô… gì làm thư ký cho nhà in bên cạnh báo Tiếng Vang của ông Tổng Cóc, có cậu con trai đeo kính cận hay ra tòa báo ngồi với mẹ… Chẳng hiểu các ông ấy bây giờ ra sao?

Anh cũng có nhắc đến tên tôi và vẫn không hề biết người đang ngồi với anh là ai, tôi cứ mặc cho anh kể. Ở những chốn xa xôi này, chẳng mấy khi người ta được kể về những người quen biết xưa kia. Ðó cũng là một thứ nhu cầu thầm lặng, chỉ khi nào nó đến mới biết là nó thú vị như thế nào. Có lẽ nó cũng thấm và say như men rượu. Tôi càng xúc động hơn khi người đó lại là một người nghèo khổ, nay đã có tuổi nhưng hầu như chưa bao giờ quên cái “ngày xưa” của mình, mọi thứ như đã trôi vào tiềm thức, nó đột ngột thức dậy với tất cả tình yêu thương lâu ngày đã chìm lấp kín vì khổ cực, gian nan. Càng nhìn kỹ, càng thấy người đàn ông có cái bề ngoài rất tiều tụy, song khuôn mặt vẫn mang chút hình ảnh nào đó của một người con trai thành thị.

Tôi hỏi tiếp:

– Còn chị ấy bây giờ anh gặp hồi nào? Là dân ở đây à?

– Bà ấy cũng là dân “kinh tế mới.” Nghèo nàn cực khổ cùng nhau nên dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Chúng em có 3 đứa con rồi đấy. Nhưng cũng như bố thôi, đi làm công, làm mướn cho người ta kiếm ăn.

– Tết này các con anh về sum họp với anh chị đông đủ không?

Anh lắc đầu:

– Chẳng bao giờ có Tết cả anh ạ. Tết lại là những ngày chúng em sợ nhất. Chẳng ai mướn làm việc gì. Ai cũng nghỉ Tết, họ chỉ quên một điều là chúng em nghỉ Tết thì cũng nghỉ ăn luôn. Phải dành dụm từ cả tháng trước.

Tôi không thể nào ngờ 30 năm rồi mà cuộc sống của anh vẫn chẳng thay đổi được gì. Tôi mời anh ở lại dùng bữa cơm với chúng tôi, nhưng anh từ chối:

– Em phải về kẻo bà xã em mong. Từ bao năm nay, em đi đâu giờ này cũng phải về. No đói có nhau.

Từ giã tôi ra về, anh cặm cụi dắt chiếc xe gắn máy cũ rích ra cổng. Bóng anh đổ xuống dưới ánh đèn cùng với những bóng lá dừa trải dài bên con đường vắng tanh, lạnh ngắt. Tôi hỏi tên và hỏi nhà, hứa sẽ đến thăm anh vào những ngày Tết sắp đến.

Lửng Lơ Ngày Ba Mươi

Buổi sáng ba mươi, tôi tà tà đi chiếc xe gắn máy leo lên dốc đi thăm cái chợ Tết của thị trấn Lộc Ninh nhỏ bé này. Khu chợ nằm dưới con dốc dài, như thu gọn trong một thung lũng khá sâu.

Ngay từ đầu dốc là bến xe ôm và cũng là chợ hoa của thị trấn. Hàng hoa cúc, hoa mai cùng với vài chậu quất bày rải rác theo lối đi. Giá hoa ở đây rất rẻ và những cây hoa Tết cũng chỉ là loại tầm thường, không thể kiếm được một chậu hoa quý. Mặc dầu ở đây toàn là những nhà vườn song chưa ai trồng hoa quý để bán. Họ trồng hoa ở nhà nên thường không cần mua. Chỉ có vài nhà có cửa hiệu buôn ngoài phố mới cần đến những loại hoa chợ này. Vài ba chục một cây mai hoặc một chậu cúc đại đóa vàng rực, tươi tắn. Vậy mà cũng vắng khách. Vài chiếc xe đạp chở những chiếc bong bóng ăn dỗ tiền trẻ con, bay lơ lửng trên bầu trời đầy nắng coi cũng vui mắt và cũng đủ làm thành không khí Tết ở cái chốn quê mùa được bao bọc bởi những con dốc và những vườn cây này. Cuộc sống của những người dân ở đây cũng đang lửng lơ như những chiếc bong bóng. Kể từ khi cây tiêu không mang lại lợi tức nữa, có nhiều nhà đã phá vườn tiêu, mỗi nhà chừng vài ba mẫu, song chưa biết trồng gì. Một số nhà khác lại chưa dám phá tiêu, cứ phải để đó chờ thời mà chẳng biết bao giờ cái “thời” ấy mới đến. Họ lúng túng xoay xở mà chẳng biết đi đường nào. Cũng chẳng ai khuyên họ phải làm cái gì, trồng cái gì, cứ mạnh ai nấy đợi, mạnh ai nấy sống. Những khu vườn đất đỏ trù phú cứ như sống tạm với đủ những loại cây ăn trái, những loài hoa mà chẳng có mục đích gì rõ rệt cho kinh doanh. Bởi vậy những nhà vườn cứ như đang đi lang thang trên khu vườn của chính mình.

Những cậu con trai và những cô con gái đến tuổi lớn khôn, thường phải đi kiếm việc ở thành phố. Giờ này họ mới lác đác từ những chuyến xe đò trở về ăn Tết. Người nào cũng chỉ có một chiếc ba lô mang chút quà rất nhỏ cho gia đình. Thị trấn không phát triển được cũng vì thế.

Nỗi ước ao của họ chỉ giản dị là có một khu công nghiệp nào đó ở gần thị trấn này hoặc ở Bình Long cũng được, để có nơi chốn làm việc cho con em mình, đời sống sung túc hơn, từ đó thị trấn sẽ có cơ hội phát triển mạnh chứ không èo uột như hiện nay.

Ngày hôm sau, Mùng Một Tết, đi trên đường phố vắng vẻ hơn ngày thường, nó mang một vẻ ngơ ngác kỳ lạ. Tuy vậy, một vài người đi chúc Tết sớm, cũng quần áo chỉnh tề, những cái áo còn thấy rõ nguyên nếp gấp, đôi khi còn nguyên nếp nhăn, dường như họ cũng chẳng cần chú ý đến sự là ủi, chỉ cần có bộ cánh tươm tất là đủ rồi. Trên thị trấn cũng có một vài cặp nam nữ thanh niên ăn diện theo lối tỉnh thành đi trên vài chiếc xe kiểu cách, cũng “tóc vàng, tóc đỏ hoe hoe” nhởn nhơ, lượn đi lượn lại cho ra vẻ ngày xuân. Vài cửa hàng dăng hàng chữ “Chúc Mừng Năm Mới”, thứ băng-rôn năm nào cũng có thể mang ra xài lại được. Các bà chủ xênh xang áo quần hàng “hiệu”, nhưng chỉ quanh quẩn trước cửa hàng. Các ông chủ rủ nhau đi chúc Tết thành từng đoàn chứ không đi lẻ tẻ như ở thành phố, nhưng tìm mãi cũng không ra một bộ complet. Làm như ở đây người ta “cấm mặc complet” và cũng chẳng có một chiếc cravate. Năm thì mười họa mới thấy một ông đi “giày Tây”. Dép vẫn là thứ “ngôn ngữ đi bộ” thông dụng nhất mọi lúc mọi nơi. Nắng bắt đầu lên cao cũng là lúc thị trấn vui vẻ nhất. Vài hàng cà phê vẫn mở cửa song chỉ lèo tèo vài đám khách.

Người Đồng Hương.

Trở lại xóm tôi, con đường nhựa cong queo vẫn vắng vẻ như chẳng có gì đổi khác. Các hội đoàn cũng đi chúc Tết thành từng nhóm, mỗi nhóm năm ba người. Nhóm của cựu chiến binh, nhóm của hội phụ nữ, nhóm của hội phụ lão. Nói cười râm ran.

Ðó là không khí của ngày Tết đường làng.

Về đến nhà, tôi đã thấy ngay một ông ngồi chờ sẵn. Ông tự giới thiệu là người cùng quê với tôi, dân Thái Bình. Quả là dân ở đây nhanh nhạy thật, không hiểu sao họ biết tôi là dân “Thái lọ”, nhưng không biết huyện.

Tôi nói là dân huyện Quỳnh Côi, nhưng ông ta “đính chính” ngay: bây giờ là huyện Quỳnh Phụ – tức là hai huyện Quỳnh Côi – Phụ Dực xưa ghép lại làm một.

Tôi biết ngay ông là người từ đâu tới và vào Nam từ năm nào. Ông ta còn khá trẻ, trẻ hơn tôi chừng chục tuổi. Ông là hàng xóm phía sau nhà tôi, cách một con suối, mùa này nước cạn nên ông lội qua suối sang thăm. Ông theo bố vào Nam ngay từ đầu những năm 80, làm việc ở đây một thời gian rồi ở luôn chứ không về Bắc.

Ông thành thật tâm sự với người đồng hương:

– “Ðất lành chim đậu”, ở đây dễ làm ăn hơn chứ về Bắc làm sao có được một mẫu vườn như ở đây được.

Hàng ngày tôi vẫn nhìn sang vườn nhà ông, mùa này ông trồng cải, vừa để ăn, vừa bán. Nhưng công việc chính của ông lại ở trong rẫy, trồng đủ thứ kiếm ra tiền kể cả tỏi, ớt, cà tím, cà chua.

Sau khi ông ra về, mấy ông bà hàng xóm lân bang “tả hữu” cũng lại đến thăm. Họ thân thiện nhưng săm soi xem nhà cửa, vườn tược của tôi như thế nào. Họ chỉ dẫn cho tôi đủ cách tưới nước làm vườn. Mỗi nơi có một “bí quyết” riêng, tùy theo thổ nhưỡng và tình hình thời tiết. Họ cũng cho tôi biết thêm về phong tục tập quán ở đây.

Những ông hàng xóm thường bao giờ cũng có cái tên là ông Hai hoặc ông Ba, ông Tư. Ông Hai Thạnh, ông ba Xê, ông Tư Hoàn, bà năm Bình bán thịt heo… Tôi chưa có tên nên người ta gọi nhà tôi là nhà bà Hai Ngân. Và cái xóm tôi cũng được người ta gọi là xóm Hai Sơn. Cứ gọi thế ai cũng biết, kể cả người ở thị trấn. Ðấy là cái địa chỉ nếu có ai muốn kiếm nhà tôi ở nơi này.

Buổi tối có cái Hội Hoa Xuân ở công viên được gọi là công viên Văn Hóa huyện, lối đi vào thị trấn. Nó cũng chiếm một khoảng đất rất rộng và “hùng vĩ” lắm. Nhưng có những khoảng sân gạch lớn, có lẽ người ta sử dụng nó cho những buổi mít tinh biểu tình nhiều hơn những mục đích văn hóa khác. Ở hầu hết các vùng thôn quê, cái gì nghèo thì được chứ những công viên, trụ sở ủy ban thì phải “hoành tráng” cho ra vẻ bề thế. Ít ra là cái bề ngoài.

Hội hoa xuân chính là nơi tập hợp của mọi lớp người, nhưng nó chỉ mở cửa vào buổi tối. Trong cái không khí se lạnh của vùng rừng núi nhấp nhô, “trai thanh gái lịch” đều tụ về đây vui chơi. Những trò chơi nửa dân gian, nửa giải trí, có vài chục gian hàng bán vài thứ đồ giải khát, bánh mứt lơ mơ. Vài tay chụp hình dạo khá đắt khách. Có những gia đình đứng dưới những cây hoa đồ sộ và có cả những cặp “tình nhân nhà vườn” đỏ mặt đứng bên nhau chụp tấm hình dưới gốc anh đào cho tình tứ ướt át. Những tấm pa nô quảng cáo tối mùng 5 Tết sẽ có “văn nghệ” giúp vui, có cả những “danh ca” từ Sài Gòn về “biểu diễn”.

Quả nhiên, tối mùng 5 Tết, tôi ghé qua hội chợ, chiếc loa phóng thanh oang oang giới thiệu tên những danh ca như Cao Sơn, Ưng Hoàng Phúc, TVT hay TTV gì đó và “đặc biệt có danh ca hải ngoại Giao Linh”. Trời đất! Tôi không ngờ ở nơi hoang dã này lại được hân hạnh đón “danh ca hải ngọại” về biểu diễn. Bộ Cali và Sài Gòn hết chỗ kiếm “cát sê” rồi sao? Giá vé chỉ có 40 ngàn nhưng đã hơn 7 giờ tối mà trước rạp còn vắng ngơ vắng ngác. Chỉ có trò đu quay cho mấy đứa con nít là đông.

Ký Ức Vàng Son Của Người Thợ Sắp Chữ

Ngày mùng 2 Tết chúng tôi đến thăm nhà anh bạn sắp chữ như đã hẹn trước. Anh là Lê Văn Một ở xã Lộc Hưng, cách nơi tôi ở chừng ba cây số.

Theo đường anh đã chỉ dẫn, chúng tôi phải mò mẫm mãi mới hỏi thăm được đường đến nhà anh. Từ quốc lộ rẽ vào một con đường bờ ruộng rộng không quá 1 mét, chỉ đủ đi được chiếc xe gắn máy. Gặp chiếc xe đạp đi ngược đường cũng khó tránh.

Nhà cửa thưa thớt, cái xóm này bày ra một khung cảnh nghèo nàn, không thể tìm ra cái Tết nào trong những gian nhà này ngoài các lá cờ treo lủng lẳng trước gió. Ðến ngay cả gió cũng lười, chẳng buồn rung cây.

Vòng vèo qua mấy con đường mòn với những cành cây vươn dài ra giữa đường mới thấy vài căn nhà lụp sụp, mấy đứa trẻ đứng tròn mắt nhìn khách lạ. Chúng cũng nhem nhuốc như ngày thường, chẳng biết gì là Tết. Có lẽ cả đời chúng cũng chưa bao giờ được biết đến cái phong bao “lì xì” đỏ hay xanh.

Nhà anh Một đứng chơ vơ giữa một khu đất hẹp. Nó được dựng lên từ bao giờ, không ai đoán được số tuổi, và được “lắp ghép” bằng đủ mọi thứ: gỗ cũ, gỗ mới, tôn, ni lông, giấy bồi, bao xi măng… Kiếm được cái gì che chỗ nào được thì cứ che. Gần Tết anh mua được vài thước ni-lông xanh, “trang hoàng” lại mấy cái cửa chính, cửa sổ cho ra vẻ mùa xuân. Vợ anh và mấy đứa con vẫn cặm cụi ngoài vườn, lo cho con bò mới đẻ được một con bê hơn là lo cho Tết. Ðó là tất cả gia tài nhà anh sau 30 năm đi vùng kinh tế mới. Anh cho biết:

– Ðất này chẳng trồng được bất cứ thứ gì. Sỏi đá khô cằn suốt bốn mùa, mưa thì lầy lội, nắng thì khô cạn, trồng gì chết nấy. Cho nên chúng tôi cứ thất bại từ mùa này sang mùa khác. Bây giờ chỉ còn biết đi làm mướn, mượn tiền của quỹ xóa đói giảm nghèo, mua được con bò làm vốn từ mấy năm nay. Ðợt trước nó đẻ được con bê thì phải mang bán lấy tiền sửa nhà, chữa bệnh cho con. Ðợt này con bê chắc cũng sắp phải bán lấy tiền ăn, tiền thuốc suốt mùa mưa sắp tới. Mùa nắng còn có người mướn đào giếng làm vườn, chứ đầu mùa mưa, họ chỉ mướn xịt thuốc diệt cỏ rồi thôi. Mà đi xịt thuốc diệt cỏ hại người lắm, xịt xong nhà chủ “bồi dưỡng” cho thêm hộp sữa vài ngàn đồng. Biết rằng có hại nhưng vẫn cứ phải làm. Bao giờ ốm thì lại bỏ tiền nhà ra mà chữa bệnh. Nhà anh không đủ chỗ cho hai người ngồi, chúng tôi ngồi ngay ngoài trái nhà đầu hiên, nắng chiều dọi vào chói chang. Anh thợ sắp chữ lại tiếp tục nói về cái thời xa xưa của mình, lại tiếp tục thăm hỏi về những “ông nhà văn nhà báo” mà anh chỉ biết chứ không hề quen, những ông bà chủ, cô chủ nhà in. Những con đường “tòa báo”, những thay đổi của Sài Gòn mà 30 năm chưa thể quay trở lại một lần.

Nhân dịp đầu xuân, tôi xin chuyển lời thăm hỏi này của anh Một đến các bạn và cho tất cả những “người Sài Gòn cũ của anh Một.” Nếu các bạn có viết thư thăm hỏi cũng khó mà đến được. Tuy vậy vẫn có thể gửi “cầu may” cho ông Lê Văn Một, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Mùa xuân đầu tiên của tôi ở vùng quê năm nay, đó là điều khiến tôi xúc động hơn cả.

(Sài Gòn 14-2-2005)