Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 2 Oct 2026

Tôi là một người lính cũ của QLVNCH vừa từ Úc sang thăm nước Mỹ. Ngay khi vừa qua, tôi được anh em cùng binh chủng cũ có lòng thương cho đi tham dự một ngày họp mặt. Vừa mới chân ướt chân ráo tới đây nên lễ tiết này thật là xa lạ đối với tôi. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên và xúc động nhất là lễ chào quốc kỳ. 17 năm nay tôi mới thấy lại lá cờ này, 17 năm nay tôi mới nghe lại quốc ca này: “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi … ” Bản quốc ca bỗng tràn ngập tâm hồn tôi, đánh thức dậy bao nhiêu hình ảnh cũ: Anh em đồng đội người còn kẻ mất, người gục ngã ngoài chiến địa, người bỏ thân nơi chốn lao tù … và đôi mắt tôi bỗng nhạt nhòa dòng lệ. Trong 10 năm lao tù cải tạo, tôi không khóc đâu dù đời sống tù đày không thiếu gì cảnh đắng cay, chua chát. Cũng phải nói cho đúng là có khóc nhưng mà khóc thầm, khóc một mình, khóc nước mắt chảy ngược vào bên trong. Những ngày 30 tháng 4 trong trại cải tạo, ngày đớn đau khốn nạn nhất cho tù “ngụy” lại chính là ngày hội lớn của cán binh cộng sản: Ngày đại thắng miền Nam. Tiếp theo là ngày 1 tháng 5 Quốc Tế Lao Động. Ngày ấy trại tù nào cũng trống rong cờ mở. Tù được nghỉ không phải đi làm. Một vài anh em chúng tôi khẽ lén gặp nhau, im lặng, nắm chặt tay nhau. Muốn khóc quá mà không dám khóc. Nhưng mà hôm nay ở đây, đất nước Hoa Kỳ đầu năm 92, anh em trong nhà cả, xin phép cho tôi được khóc. Khóc cho những bạn bè đã chết, khóc cho những người vì nước quên mình. Trong cuộc chiến kết thúc ngày 30.4.75, có năm vị tướng của Quân lực VNCH đã tự tìm cho mình một cái chết theo vận nước; năm vị đó là các ông tướng Nguyễn Khoa Nam, ông tướng Phạm Văn Phú, ông tướng Lê Văn Hưng, ông tướng Trần Văn Hai và ông tướng Lê Nguyên Vỹ. Tôi không dám ghi danh các vị theo danh xưng chính thức của hệ thống quân giai, mà xin suy tôn các vị là ông tướng như một người nông dân thành kính gọi những vị thần – “Sinh vi tướng, tử vi thần”, các vị một phút về trời sẽ hiển linh mãi mãi trong tâm hồn đồng đội.

Các vị, với tư cách Tư lệnh quân khu, Tư lệnh phó, hoặc Sư đoàn trưởng chắc chắn sẽ dễ dàng có một chuyến trực thăng bay ra hạm đội 7 trước ngày 30.4. Nhưng các vị đã hành sử theo khuôn mẫu kẻ sĩ Đông phương, nhận lãnh trách nhiệm trước mọi người theo đúng tinh thần “tiên thiên hạ chi ưu, nhi ưu”, mỗi người mỗi cách đã tìm cái chết để tạ lỗi với quốc dân khi sứ mạng cầm quân bảo vệ quê hương đã không được thi hành trọn vẹn.

Anh em chúng tôi, những người ở lại, trong những năm tù đày cải tạo, thường cảm nhận sự tầm thường nhỏ bé của mình khi bám lấy một kiếp sống thừa. Không biết có bao nhiêu người còn nuôi chí lớn … còn phần đông còn sống là vì cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ. Lũ thường nhân chúng tôi đành ngưỡng vọng về quý vị để đỡ thấy mình thấp kém. Một số anh em chúng tôi thường tự hứa với nhau rằng sau này nếu có dịp nào đến được bến bờ Tự do, sống trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài thì phải đến dâng một tuần hương, thành kính tưởng niệm các vị và bao nhiêu đồng đội khác, những anh linh đã vì nước quên mình. Các vị là những người đã đem cái chết của mình ra làm liều thuốc giải oan, tẩy độc cho cộng đồng người Việt nói chung, quân lực VNCH nói riêng trước những chiến dịch bôi tro, trát trấu của đối phương và đồng lõa. Sau thất bại nhục

nhã 30.4, ít ra chúng ta cũng có một niềm vinh dự thầm lặng và đau xót là đã có khá nhiều tướng, tá, úy, binh sĩ sẵn sàng chết theo vận nước. Cái chết của các vị và những anh linh sau ngày 30.4, đối với quốc nội và quốc ngoại là những bằng chứng sinh động nhất về lối sống của kẻ sĩ Việt Nam, là hình ảnh cụ thể nhất của văn hóa Việt Nam.

***

Trong những ngày Tết vừa qua, tôi đã cố ý đi tìm một nơi để dâng một tuần hương “bao năm chờ đợi” ấy, mà tìm mãi không có nơi nào. May mà có ngày họp mặt vừa qua. Có thể tôi chưa được hướng dẫn đầy đủ chăng? Có người lại bảo “Cứ lên chùa, chỗ cúng vãng sinh, nơi dành cho những oan hồn uổng tử”. Ở đây những nơi hội họp để tranh luận, để ca hát, để dạ vũ thì dễ kiếm, còn tìm ra một chốn thâm nghiêm, tạm dời xa những ma sát của cuộc đời phiền tạp, hướng về những giá trị đã qua thì thật là khó kiếm. Từ sự kiện này tôi mới nhận ra rằng lũ người như chúng tôi phế thải thật rồi. Một xã hội năng động là một xã hội sống với hiện tại và hướng về tương lai – không có thì giờ lẩm cẩm cho quá khứ.

(1992)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment