This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ngày 02 Tháng Năm 1975, UBND Cách mạng xã Phú Xuân gọi tất cả binh lính chế độ cũ mang theo “căn cước quân nhân”, “chứng chỉ tại ngũ”… đến xã trình diện.
Mọi người điền vào tờ khai nộp và xếp hàng chờ đến lượt bà Sáu Nhung (chủ tịch xã, trên 30 tuổi, mặc bà ba đen, quấn khăn rằn, mang AK) phỏng vấn vừa đập bàn: “Anh bắn chết bao nhiêu cán bộ cách mạng?” – “Nói láo, đi lính 3 năm mà không bắn chết chiến sĩ giải phóng nào ? Phải thành khẩn khai báo mới được hưởng khoan hồng của cách mạng”…
Là du kích Bến Tre, bà Sáu Nhung căm thù lính Sư đoàn 7 và lính Tiểu khu Kiến Hòa. Bà hỏi “Mày ở Trung đoàn 10, mà ở tiểu đoàn 3/10 hay 4/10?” – “Mày ở Trung đoàn 11 có biết 2 thằng tiểu đoàn trưởng 2/11 và 3/11 ác ôn đang trốn ở đâu không?” – “Mày có tham gia trận càn ngày 22 Tháng Sáu 1970 không ?”. Đối với lính địa phương quân thì bà đọc tên những đồn trưởng khát máu, ác ôn. Bà “quay” lính Sư đoàn 7 và lính Tiểu khu “lên bờ xuống ruộng” cả 15 phút/người, cho đến khi mồ hôi trán đổ ướt mặt mới thôi.
Có lẽ, bà chưa đụng trận với Lực lượng trừ bị rằn ri, như Thủy quân Lục chiến, Nhảy dù, nên bà không đưa họ vào “diện phỏng vấn đặc biệt”. Nhưng đến lượt tôi, tuy “chưa kịp gây nợ máu”, nhưng bà thắc mắc về cấp bậc của tôi ghi là “sinh viên sĩ quan”: “Chỉ có chuẩn úy, thiếu úy, làm gì có cấp bậc sinh viên sĩ quan ?”. Tôi trình bà căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ, sự vụ lệnh cử tôi đi Mỹ, tất cả đều ghi “sinh viên sĩ quan M.B.K”.
Bà hỏi “Nếu tốt nghiệp anh mang lon gì ?”, tôi nói “thiếu úy” – “Vậy anh ghi “thiếu úy”. Tôi trình bày “Tôi về nước ngày 13 Tháng Ba 1975, tuy có bằng phi công, nhưng tôi phải học thêm khóa “Điều chỉnh sĩ quan”. Ngày 28 Tháng Ba 1975 lẽ ra tôi ra Nha Trang học điều chỉnh, thì Đà Nẵng thất thủ, nên ở lại Tân Sơn Nhứt thuộc “Đơn vị thặng số”. Bà Sáu tịch thu giấy tờ của tôi rồi ký lên “Giấy đăng ký học tập cải tạo”.
Những ngày sau đó, cứ 5 giờ sáng, ông Hai Ngóc tổ trưởng đi khắp xóm gọi “ngụy quân, ngụy quyền” tập họp ở văn phòng ấp đi làm thủy lợi. Má tôi nấu cơm, tôi bỏ cơm và khô cá vào lon Guigoz để ăn trưa. Ông Hai Ngóc có con đi lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thằng Giáp đi lính VNCH xung phong làm tổ phó cũng gọi tôi “lính ngụy”.
Thằng Sủng chưa đi lính – con Sáu tiệm vàng chuyên buôn đô la đỏ, làm bí thư đoàn ấp canh me tôi sát nút, sau đó nó vượt biên sang Mỹ ! Ông Ba Sang, ông Năm Dần, ông Tư Kiệt, có đi Việt Minh rồi về thành, đến 30 Tháng Tư 1975 nhảy ra đeo băng đỏ làm trưởng ấp. Ông Ba Xuân thợ giặt ủi, xưng là người chỉ điểm pháo kích tổng kho xăng dầu Nhà Bè, làm phó công an xã, miệng hét ra lửa!
Nhớ lại, muốn thành “sĩ quan đề lô” (Détachement liaison de l’Observation) của VNCH phải tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức, rồi đến Dục Mỹ học pháo binh 6 tháng, mới đi tiền tiêu điều chỉnh tác xạ. Ông Ba Xuân thợ giặt ủi làm đề lô, nên pháo bay khỏi Tổng kho xăng dầu hơn 1 cây số, rớt trúng nhà ông Tư Tẩu làm chết 4 người!
Ông Ba Sang trưởng ấp 5, đạo Cao Đài, bận bà ba trắng mang K.54, ông Tư Kiệt người lùn mặc pijama đen, mang CKC dài chấm đất. Tôi không sợ người mặc quân phục mang súng, vì họ có quân kỷ, còn bà ba và pijama mang súng, không biết họ nổ lúc nào ? Khi họ nhắm bắn ăn cướp thì chắc chắn trúng người la làng. Trước đó, ông Ba Sang chạy xe lam, ông Tư Kiệt sửa xe đạp là người có tuổi, sống tử tế.
Nhưng bất ngờ nhất là bác Năm Dần, bác quản lý đám “ngụy quyền” đắp thủy lợi, đứng trên bờ đê chửi những bạn lười, câu giờ: “Bọn mũi nhọn, lông tay bị đánh chạy về nước hết, tụi bây là tay sai, không còn bơ thừa sữa cặn mà liếm đâu, ở đó mà làm biếng nhớt thây, “ngụy quân” phải tự giác lao động, học tập cải tạo để được cách mạng khoan hồng!
Bên thắng cuộc liên tục chửi “ngụy quân, tay sai, liếm gót” trên loa, trên đài chưa hết nhục. Đàng này bác là dân Phú Xuân mấy đời như ba tôi, sao bác chửi con cháu thậm tệ như ở miền ngoài vậy ? Hôm đó, bác Năm Dần phân công nhóm 10 “ngụy quân” tôi, một người dùng len xắn đất, chuyền tay lên đắp tại mặt bọng. Đất ruộng nơi có bọng thì trũng và nhão, nên cục đất khi tới bờ rã ra còn phân nửa, đến 11 giờ trưa vẫn chưa đầy.
Cứ mỗi lần bác đi kiểm tra ở các dây khác là có người trong dây của tôi trốn, đến 11 giờ 30 còn 3 người. Tôi xin bác cho ăn cơm trưa và cho thêm người để chiều đắp. Bác nói tụi bây không biết tự quản lý, để 7 thằng bỏ trốn, 3 thằng còn lại phải đắp cho đầy, chiều mà không đầy, 3 thằng nằm xuống để tao đắp đất, lấy thân tụi bây độn như cây ráng.
Tôi nói “Bác không có quyền coi tui tôi như thú, tôi về đây, bác muốn làm gì thì làm”. Ngày hôm sau, ông Hai Ngọc phó ban an ninh ấp gọi tôi lên xử lý. Tại văn phòng ấp, không thấy Năm Dần, tôi xin ông Hai Ngọc mời Năm Dần và hai người còn lại để đối chứng. Ông Hai Ngọc nói “Không cần, chú bị Mỹ nhồi sọ, bây giờ muốn chống chánh quyền cách mạng hả ?”
Tôi nói, tôi không hề có hành động hay lời nói xúc phạm tới chính quyền cách mạng, rồi tôi kể hết đầu đuôi câu chuyện, ông Hai Ngọc có vẻ hiểu, bắt tôi viết kiểm điểm, rồi cho về. Ba tháng sau ngày 30/04, hệ thống thủy lợi ấp 5 và ấp 6 được đắp bằng đất chèn lá dừa nước đã sạt lở. Chúng tôi gia cố cừ tràm, đắp thêm. Nhưng sau vụ lúa mùa (6 tháng), hệ thống thủy hại không giữ được nước cấy vụ đông xuân. Từ đó, xã Phú Xuân trở về một vụ như thời chưa được giải phóng.
Sau 30 Tháng Tư (hinhanhlichsu.org)
Tôi suýt bị xử tử
Rạng sáng 17 Tháng Sáu 1975, một giọng Bắc gọi “mở cửa” kèm theo tiếng báng súng dộng vào cửa trước. Tôi và ba tôi ngủ trên bộ ván nhà trên, bật dậy mở cửa, bật đèn. Một anh bộ đội bước vào chĩa súng vào bụng tôi, kéo cơ bẩm lên đạn và bảo “đứng im”. Thiếu úy Nguyễn Văn Thiệu – đại đội trưởng thuộc E.88 (quân quản ấp 4, 5, 6) buớc vào nhà cùng 3 bộ đội khác, nói “Hôm qua là ngày cuối cùng cho sĩ quan ngụy cấp úy trình diện đi cải tạo, chúng tôi đến đây để cưỡng chế đối tượng MBK đi học tập”.
Sợ quá – hóa liều, tôi đưa hai tay lên trời, ưỡn bụng ra và nói “Nếu các anh có bằng chứng tôi là thiếu úy, các anh cứ bắn tôi. Các anh qua bà Sáu Nhung xem các giấy tờ tôi nộp có ghi cấp bậc thiếu úy không? Giấy tờ đó đều ghi tôi là sinh viên sĩ quan. Ở Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức, sinh viên sĩ quan tốt nghiệp mang lon chuẩn úy, mà chuẩn úy không đi học tập trung, tôi còn thấp hơn chuẩn úy nên không đi tập trung là đúng”
Thiếu úy Thiệu nói “Nhân dân tố cáo anh là thiếu úy, học bên Mỹ về”. Tôi nói, các anh và bà Sáu Nhung là cán bộ cách mạng, ở cách nhau chưa đầy một cây số sao không gặp để xem giấy tờ của tôi nộp. Hoặc mấy anh liên lạc với đơn vị quân quản căn cứ Tân Sơn Nhất xem tàng thư tôi có phải thiếu úy không? Thiếu úy Thiệu nói “Nhân dân tố không bao giờ sai”! Tôi bỗng nhớ còn giữ thẻ lãnh lương. Thẻ màu vàng có hình tôi, có chữ ký tôi lãnh lương tháng Ba và tháng Tư là 17.800 đồng/tháng. Tôi nhờ ba tôi lấy bóp của tôi móc ra thẻ lương, tôi cắt nghĩa “17.800 đồng là lương trung sĩ, chứ không phải lương thiếu úy”!
Ba má tôi hiểu thế nào là chứng cứ, cùng lên tiếng kêu oan cho tôi. Ba tôi nói “Nếu nó là thiếu úy ông bắn luôn tôi đi”. Thấy không ổn, thiếu úy Thiệu ra hiệu, anh bộ đội rút mũi súng ra khỏi bụng tôi, lui về cạnh cửa. Chị Hai và ba em gái tôi khóc, thiếu úy Thiệu nói “Tôi đưa anh K về văn phòng đại đội để điều tra, không ai được đi theo, nếu anh K không phải sĩ quan, tôi sẽ trả về chính quyền địa phương quản lý”.
Văn phòng đại đội là nhà mượn của ông Sáu Tiệm, cách nhà tôi 400 mét, lúc đó trời sáng, hàng xóm tò mò xem tôi bị bắt. Tại nhà chú Sáu Tiệm, tôi yêu cầu thiếu úy Thiệu liên lạc với bà Sáu Nhung, nhưng anh ta lờ đi và nói “Anh học ở Mỹ, chúng nó nhồi sọ anh chủ nghĩa đế quốc, để chống phá chủ nghĩa Mác Lê, anh nên tình nguyện đi cải tạo để trở thành công dân tốt”.
Biết đây là bước nhượng bộ, tôi nói “Tôi là con trai một với 4 chị em gái, nên không di tản dù đang ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi không phải diện đi cải tạo tập trung, các anh hãy để tôi về để lo cho cha mẹ’’. Thiếu úy Thiệu đưa tôi 2 tờ giấy ca rô và bắt tôi viết tường trình. Khoảng 9 giờ, thiếu úy Thiệu cho tôi đi bộ về nhà. Từ đó, chòm xóm không ai nói chuyện với tôi, buồn nhất người anh chú bác ruột cũng lánh mặt tôi ba tháng.
Nhà tôi có cửa ngõ và rào ba mặt, mặt sau giáp con rạch không có rào. Khi bộ đội chĩa súng vô bụng tôi ở nhà trên, em gái út 15 tuổi sợ quá, mở cửa trốn ra sau, bỗng thấy hai bộ đội cầm súng, nghĩa là họ lội từ rạch lên, bao vây chu đáo ! Từ đó, mỗi đêm nghe chó sủa là tim tôi nuốn rớt ra ngoài. Sau khi hết đi thủy lợi, tôi xin làm thư ký cho “Công đoàn xe lam” (Sau là Hợp tác xã xe lam). Tôi đánh máy giỏi, viết báo cáo hay (cho phòng giao thông) nên bác Nhu chủ tịch Công đoàn quý tôi.
Làm được 4 tháng, ông Hai Ngọc phó ban an ninh Ấp thấy tôi ngồi đánh máy, bèn gọi bác Nhu ra nói “Thằng này học Mỹ về, anh cho nó làm, nó coi hết tài liệu của ta”. Thế là mất việc, tôi đành xin làm “công nhật” ở nhà máy luyện cán thép Việt Thành, dùng búa tạ đập sắt gù mới ra lò. Một tổ 4 thằng, đập 4 vỉ (40 phôi sắt) ăn 44 xu. Mỗi tổ phải đập 16 vỉ, để mỗi thằng lãnh 44 xu/ngày. Một bạn trong tổ tôi bị phôi sắt đè gãy chân, tôi không bị thương nhưng chân tay bị phỏng. Sau một năm rưỡi đập sắt gù, tôi làm cháy hai đôi giày bottes de saut (của trường Bộ binh Thủ Đức và trường bay Sheppard). Bù lại tôi biết đứng trên giàn cao 3 mét, quay búa 7 ký cả chục vòng không mỏi.
Quân nhân VNCH (nghiencuuquocte.org)
Tôi đưa em sang sông
Tôi cù lần, nhát gái, 21 tuổi vào trường Bộ binh Thủ đức chưa có mảnh tình lận lưng. Mỗi Chủ nhật, ra Vườn Tao Ngộ thấy bạn gái đi thăm bạn đồng khóa mà mơ. Tháng Mười Hai 1972, sang Không quân, tôi quen được một hoa khôi trường Trung học Cần Giuộc, nhờ người quen hai bên làm mai. Da nàng trắng, mũi cao, môi son, tóc dài, chữ viết bay bướm với nét đá, nét bụng. Tháng Sáu 1973 tôi học Anh ngữ tại Gò vấp, nàng học Trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn. Thỉnh thoảng nghỉ trưa tôi xách xe máy ra trường nàng ngồi ghế đá tâm sự, khiến nhiều bạn (nam lẫn nữ) ghen tị.
Chúng tôi có đến nhà nhau ra mắt ba má. Nàng đi coi bói kể lại tôi “Anh Tân Mẹo, cầm tinh con mèo, xuất tướng tinh con rái cá, cân nặng “1 cây hai”, mạng tòng bá mộc. Em Nhâm Thìn, cầm tinh con rồng…mạng trường lưu thủy. Thầy nói, nước sông dài nuôi cây cao, bóng cả là rất hạp nhau”. Tháng Mười 1973, tôi thi đủ điểm đi Mỹ, nàng may hai áo dài tím, hứa sẽ mặc đi dạy sau khi tốt nghiệp tháng Sáu 1974.
Tôi ở Mỹ 16 tháng, thư từ Việt Nam qua Mỹ và ngược lại mất hai tuần, tôi đã gửi 15 lá thư và nhận 15 lá. Mỗi lá tôi kèm 5-6 tấm hình màu, mỗi lá nàng kèm một chân dung trắng đen chụp ở ảnh viện, tấm nào cũng đẹp như nghệ sĩ. Năm 1974, nàng lên Lai Khê (gần căn cứ Sư đoàn 5 bộ binh) dạy tiểu học. Khi tôi về nước, nàng về hai lần vào ngày Chủ nhật trong Tháng Ba 1975 để gặp tôi ở nhà bạn học ở quận 8. Sau đó, tình hình chiến sự leo thang, quốc lộ 13 không an toàn, tôi không gặp nàng nữa.
Sau 30 Tháng Tư, tôi bị quản chế tại chỗ, không thấy nàng về thăm. Khoảng Tháng Chín 1975, nàng hẹn gặp tôi ở nhà bạn nói rằng, việc dạy học ở Lai Khê quá vất vả, thiếu điện, thiếu dầu, thiếu gạo nàng sống không nổi. Ty Giáo dục chỉ cho cô nào có chồng được về Sài Gòn. Má nàng biết vậy ép nàng lấy anh B. kỹ sư công chánh, đang làm phó giám đốc một xí nghiệp (Má nàng và má kỹ sư B. là bạn thân).
Tôi suy nghĩ một lúc rồi nói “Hiện tại của anh mất, tương lai anh không có, còn dĩ vãng của anh bị sỉ nhục, nguyền rủa mỗi ngày. Mạng anh là cây tòng bá giờ thành “tà bóng”, không thể che cho em ! Anh chúc em hạnh phúc” ! Một hồi sau, nàng nói “Em lấy chồng, rồi sẽ có ngày anh lấy vợ. Thư và hình ảnh tặng cho nhau có thể làm cho tụi mình mất hạnh phúc”. Tôi nói “Em đúng, anh sẽ trả cho em tất cả thơ, hình”.
Nhớ ngày 27 Tháng Một 1973, Mỹ và Bắc Việt trao trả tù binh cho nhau tại sông Bến Hải và Lộc Ninh. Hơn hai năm sau, tôi và nàng “trao trả thư từ” tại quận 8. Chủ nhật tuần sau đó, nàng đưa tôi xấp thư gói trong giấy báo. Tôi đưa lại nàng xấp thư, nàng giở ra kiểm tra từng tấm ảnh. Tôi không kiểm tra thư. Đám cưới nàng không mời tôi, như lời tôi dặn lúc chia tay. Nàng sinh đứa con trai đầu lòng năm 1976, nên được về Sài Gòn vì lý do con mọn. Tôi đàn guitar hay, nhưng ca rất dở, vậy mà cứ khoái hát bài “Tôi đưa em sang sông” của Y Vũ – Nhật Ngân.
Năm 1979, Trung đoàn E.88 sang Campuchia đánh PoLPot, thiếu úy Thiệu hy sinh, tôi buồn và cầu cho anh siêu thoát. Nếu anh bộ đội chĩa súng vô bụng tôi đọc được bài này, xin vui lòng liên lạc, tôi sẽ đãi anh nhậu với rượu XO. Bởi vì, anh đã không lỡ tay cướp cò, hoặc là trong băng đạn không có đạn. Dù giả thiết nào tôi đều biết ơn!
Suốt cả tuần, trận đánh vẫn chưa ngã ngũ. Hết đơn vị này tiếp đến đơn vị khác bị khựng lại khi tìm cách tiến qua mặc dù trước đó bom pháo dọn đường được trút xuống như mưa thác. Những hang đá chằng chịt và kiên cố ở sườn đồi, nhìn xuống con lộ dẫn vào sâu trong rừng đã khiến những cơn mưa bom, và đạn pháo binh phải chịu thua. Và đơn vị đã phải quay lui. Cuối cùng cấp trên điều động đơn vị chúng tôi đến mặt trận. Họ đã hiểu chiến thuật trận địa chiến phải bó tay trước những tên địch ngoan cố, xâm mình. Không dễ gì phải tấn công một cao điểm khi phải bò lên giữa một triền núi trống trải trước những họng súng đại liên đã chực sẵn. Và chỉ còn cách là dùng chiến thuật dạ kích. Chỉ có cách đó mới may ra làm câm họng những ổ súng tàn bạo. Người lính bây giờ là người lính cảm tử. Trước hết hắn phải cố làm sao để nhận rõ nơi trú ẩn của địch, phải gắng định hướng chổ đặt khẩu súng nặng bằng cách nghe tràng nổ cũng như nhìn tia đạn lửa đến từ đâu, sau đó dùng máy nhắm hồng ngoại tuyến, tìm mọi cách bò đến, lao vào, quăng lựu đạn tiêu diệt.
Đêm nay chúng tôi lại thêm một lần nữa, mặc đồ đen, ngậm dao găm, bọc đầy lựu đạn loại lân tinh. Tổ trưởng còn mang theo ống nhắm hồng ngoại tuyến. Giờ G là 3 giờ sáng. Theo kinh nghiệm chiến trường, khoảng thời gian này là khoảng lý tưởng nhất cho cuộc làm ăn đêm. Bởi lẽ bất cứ thằng lính nào cũng đã thấm mệt hay cũng đang mơ màng giấc ngủ. Và mật lệnh cho chúng tôi là hỏi Thần điểu đáp Kình Ngư.
Dĩ nhiên tôi để trung sĩ Thành làm tổ trưởng tiền sát gồm hạ sĩ Nga, hạ sĩ Y Mông và hạ sĩ Phát. Hắn gan lỳ và dữ tợn. Càng nguy hiểm chừng nào, hắn lại càng say mê, phấn khích chừng nấy.
Tôi xiết chặt tay hắn, và hắn cũng xiết chặt tay tôi như chuyền cho nhau sức mạnh. Hắn thầm thì, giọng ngạt mùi rượu đế: Có gì thì nhờ ông thầy giúp đỡ con vợ tôi. Tôi cảm động đến rưng nước mắt. Tôi biết phải an ủi làm sao để hắn cảm thấy tự tin hơn. Mục tiêu không phải dễ gì thanh toán khi kẻ địch có lợi điểm hơn chúng tôi, và nhất là họ đang cố sức bảo vệ cây súng nặng. Tôi nói nhỏ: Đừng nói bậy không nên…
Tôi dẫn một tiểu đội bò lên hướng trái, và thiếu úy Phương, trung đội trưởng trung đội hai, lãnh một tiểu đội bò lên hướng phải. Toán tiền sát của trung sĩ nhất Thành thì trực diện. Chúng tôi không gặp trở ngại nào khi bò qua bãi đất trống trước khi lên đồi. Chúng tôi phải dồn cục nhau. Hạ sĩ nhất Bảy bò đầu. Tôi bò theo hắn, vừa bò vừa quan sát bằng ống nhắm hồng ngoại tuyến. Trên lưng áo mỗi đứa có dấu hiệu lân tinh rất nhỏ để chúng tôi có thể dễ dàng nhận ra nhau. Qua máy nhắm, tôi có thể nhìn thấy mấy bóng đen của toán tiền sát đang lom khom vừa bò vừa chạy.
Bỗng nhiên, một tiếng nổ long trời lở đất nổi dậy, và sau đó là những tràng đạn tiểu liên, đại liên cắt xé màn đêm. Rõ ràng địch đã phát hiện chúng tôi. Tuy nhiên họ dường như không thể biết chúng tôi ở đâu. Chỉ có kẻ lợi là chúng tôi. Bởi vì chúng tôi có thể biết hang đá nào địch đang trú ẩn. Chúng tôi chỉ việc bò đến và quăng lựu đạn xuống hang đá.
Địch không mạnh như chúng tôi tưởng. Chúng tôi đã dễ dàng làm câm ổ súng nặng ngay đêm hôm ấy. Để đổi lại, trung đội phải chịu thiệt trung sĩ Thành, người hạ sĩ quan gan dạ nhất của đại đội. May mắn, hắn vẫn không chết, dù cả người hắn bị banh tơi tả do từ những trái lựu đạn mà địch đã gài trên lối dẫn đến hang đá. Hắn đã dọn đường cho những người lính cảm tử khác tiến lên để tiêu diệt ổ súng.
Xế trưa, các đơn vị hành quân mới thật sự giải cứu được căn cứ. Những người lính địa phương quân từ những công sự ào ra ôm lấy chúng tôi mà mừng tủi. Họ như những người tiền sử, tóc râu che phủ cả mặt, chừa lộ đôi mắt trũng sâu. Họ xin chúng tôi lương khô và nước. Họ vồ chụp từng bao gạo sấy. Có người đi không vững. Có người vừa hút thuốc chúng tôi mời vừa kể lại chuyện chiến trường. Tôi không thể hiểu sức mạnh nào đã khiến họ đứng vững giữa trùng vây như thế, trong khi bộ binh chúng tôi phải khó khăn lắm mới chiếm được mục tiêu mặc dù được phi pháo yểm trợ hết mình.
oOo
Thiếu úy Phương lại thêm một lần bất mãn. Và tôi là nạn nhân để hắn trút cơn phẫn nộ:
– Mày thấy họ đáng thương hay không. Nỗi hy sinh của đám địa phương quân này quả là quá sức tưởng tượng, nhưng bắt họ hy sinh như vậy để làm gì. Bắt họ đóng đồn, đóng bót đêm ngày, rồi đến khi địch tấn công, bắt họ tử thủ để làm gì. Ngày trước thời Mỹ còn tiếp trợ ào ào, thì không nói gì, vì khi địch tấn công, chúng ta còn có pháo binh, có trực thăng, chiến đấu cơ sẵn sàng tiếp ứng họ. Giờ đây, xin một quả đạn yểm trợ cũng không có. Như vậy bắt họ phải có mặt giữa một nơi hẻo lánh, xung quanh không có lối thoát, để làm gì chứ?
Tôi hiểu nỗi phẫn nộ của thằng bạn. Vâng, cái chiến thuật chiến lược gì mà kỳ lạ. Cái chiến thuật co cụm lại, không chủ động mà bị động. Ngày thì bung ra, mở đường, và đêm thì dồn vào trong, cùng với những hầm chìm hầm nổi. Để trở thành mồi ngon của địch. Tôi biết vậy, Phương biết vậy, những người lính trong đơn vị này biết vậy, bởi vì chúng tôi đã chứng kiến những cảnh tuyệt vọng của những đồn binh, những căn cứ được lệnh tử thủ mà chúng tôi có dịp đến giải vây.
Không phải địch đánh để mà đánh. Địch còn nhử mồi để viện binh đến, mà chơi thêm một lần nữa. Như lần này.
Nhưng chúng tôi chỉ biết im lặng. Chúng tôi dư biết chúng tôi chỉ là lọai tép riu, lọai chim sơn ca, chim sẻ. Chúng tôi không làm gì hết. Nếu có làm, thì chỉ nhắm mắt tuân lệnh để nhổ những bụi gai chó đẻ, rồi có ngày cũng được phong bốn chữ Tổ quốc ghi ơn mà thôi. Chỉ có thằng Phương mới không im lặng. Vâng, nếu đất nước này có những con người như Hà Thúc Nhơn hay Phương nắm quyền, dám ngủ đất, dám đi đầu, dám hứng cái khổ đau của đồng đội làm cái khổ đau của mình, dám làm một cuộc thay đổi cách mạng, dám để những ông lão làng về vườn, để lớp trẻ có nhiệt tình lên thay, thì đất nước chắc sẽ có cơ may…
Phương lại tiếp tục:
– Nếu địch là ma…
Tôi chọc nó:
– Thì ta là quỉ…Mày gắng vài chục năm nữa lên làm tướng thì tha hồ…
Tôi đã nghe cái điệp khúc: Nếu địch là ma ta là quỉ của hắn biết bao nhiêu lần.
Tội nghiệp cho hắn. Tại sao hắn cứ mãi phẫn nộ, bất mãn ở những điều ngoài tầm tay với. Tại sao hắn không chịu yên phận với cái lon thiếu úy tép riu. Hắn là bạn cùng quê với tôi. Tôi biết hắn có bà mẹ già mòn mỏi, có người yêu xa cách, nhưng thay vì những tình cảm dành cho người thân, hắn cứ dành cho đất nước, cho quân đội. Hắn muốn làm một cuộc cách mạng, và cứ ước mơ có quyền hành.
“Địch là ma, thì ta là quỉ”. Rõ ràng, hắn đã mang cái kinh nghiệm của đơn vị chúng tôi để chứng tỏ muốn thắng kẻ thù thì phải áp dụng lối đánh của kẻ thù. Địch đánh ban đêm, thì mình đánh ban đêm. Cứ vũ khí nhẹ, cứ lội bộ băng đồng, cứ ngậm thẻ lao vào cõi tối… Bắt kẻ thù sợ hãi, lo âu thường trực. Đó là lối đánh nhà nghèo. Ngày cho lính về nhà tiếp giúp gia đình vợ con, đêm thì bung ra làm ma là quỉ…
Phương ơi, làm sao tuổi trẻ chúng ta có tiếng nói. Tiếng nói đã bị kẻ khác nhân danh nói hộ rồi.
oOo
Giữa lúc ấy tín hiệu bay đến. Nó đến sau khi chúng tôi được tin Mặt Trời sẽ bay đến thị sát chiến trường và gắn huy chương. Cái lệnh được ban từ một trung tâm hành quân nào đó ở rất xa, nghẹn ngào và hối hả xen giữa muôn ngàn âm thanh đàm thoại hổn loạn trong máy khuếch đại, đầy tiếng chửi thề, những lời phẫn uất, những câu hỏi mà không có câu trả lời, những tuyệt vọng nghẹn ngào… Thật sự không ai có thể hiểu. Có lẽ chỉ trừ ông đại đội trưởng. Bởi vì ông bỏ máy ngồi yên như một pho tượng. Đầu bên kia, giọng nói uất nghẹn: Tôi là thiếu úy Minh, sĩ quan trực trung tâm hành quân. Tôi cũng như thẩm quyền, không còn biết ai để xin lệnh nữa. Người ta đã bỏ chạy hết cả rồi. Trong khi ấy ở dưới chân đồi, trên con lộ đã xuất hiện đoàn xe cộ di tản. Tin cho biết Sài Gòn đã ra lệnh bỏ cao nguyên.
oOo
Thôi còn gì để mà đánh đấm. Chỉ còn những khẩu súng M16, M60, và lưa thưa những trái lựa đạn còn sót lại. Tôi đợi ông đại đội trưởng để nhận chỉ thị. Chỉ thị gì. Người ta đã bỏ chạy hết cả rồi. Ông nói. Mặt ông đầy những vết xước rịn máu. Sợi dây ba chạc vẫn còn lủng lẳng bi đông nước và khẩu súng colt. Tôi hiểu là lòng ông cũng đứt đoạn. Vợ con ông vẫn còn kẹt ở trong thành phố. Ông họp đại đội còn lại. Trung úy đại đội phó đã tử trận trong một trận đánh cách đây không lâu, nên thiếu úy Hà thay quyền xử lý, trình diện hàng quân trước mặt ông. Giọng nói của thiếu úy Hà như nghẹn trong cổ họng. ” Đại đội tập họp xong, trình diện đại úy.” Rồi anh ôm lấy mặt, nức nở. Ông đại đội trưởng chào tay lại. Cả hàng quân đứng im phăng phắc. Những võng mô mất hết màu sinh khí. Những chiếc mũ rừng chụp lên những đầu tóc rối bù. Những chiếc quần trận mà bụi và đất đã lấy đi hết cả màu xanh, rách toạc lộ cả vải quần lót… Trời đã trở chiều. Nắng còn sót lại làm thắm vàng cả cánh rừng bên cạnh. Ông nói kể từ giờ phút này anh em có quyền ra đi. Trước khi chia tay, xin anh em hãy cùng tôi đứng nghiêm một phút mặc niệm cho những người bạn của chúng ta đã bỏ mình. Rồi ông hô nghiêm, buồn bã. Chúng tôi cùng cúi đầu. Có những giọt nước mắt lăn trên má khô cằn, hóp sâu, bơ phờ của người lính già. Có những giọt lệ vẫn còn long lanh trên tròng con ngươi thất thần, đục lờ vì những đêm ngày căng thẳng trong lòng hỏa ngục. Có giọt lệ chưa kịp lăn, lại thêm những giọt lệ khác trào ra. Có thằng lính trẻ khóc tức tưởi khiến người lính già phải la lên: “Mày làm như con nít lên ba. Làm sao tao gả con gái tao cho mày được”.
Chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy buồn đến độ tê tái, héo úa cả ruột gan như lúc này. Súng vẫn nổ. Tiếng pháo vẫn vang dội ì ầm từ xa… Những cuộn khói vẫn còn bốc lên trên căn cứ. Những người bị thương vẫn rên rĩ. Thiếu úy Phương ngồi ủ rủ bất động, nhìn gì vào trong phía rừng. Hôm nào hắn là con hổ, con hùm, nhưng bây giờ hắn như một con thú tuyệt vọng. Ngoài cái tình đồng đội, tôi và nó còn có tình đồng hương. Tôi biết rõ gia đình hắn. Chỉ còn một người mẹ phía sau. Còn người yêu. Hình như một cô giáo. Ở hắn, là một mẫu người trẻ dấn thân.Tôi không dùng chữ yêu nước ở đây, vì hai chữ này hơi phù phiếm, chỉ từ cửa miệng đầu môi của các vị lãnh tụ hay các cơ quan tâm lý chiến. Trái lại, dấn thân còn ý nghĩa gấp trăm ngàn lần. Hắn nguyên là giáo sư, nhưng không thèm về dạy học trở lại. Hắn là nhà thơ nhưng chẳng cần tên tuổi cho dù những bài thơ của hắn quá hay, rất hạp với tuổi trẻ chúng tôi. Sau vụ y sĩ Hà Thúc Nhơn bị giết, tinh thần hắn sa sút thấy rõ. Luôn luôn chửi thề, luôn luôn phẫn nộ. Luôn luôn bày tỏ bi quan thất vọng trước guồng máy quân phiệt. Hắn cứ kể một cơn mơ. Cơn mơ có trong tay quyền hành, chỉnh đốn lại hàng ngũ quân đội, dẹp trừ lính ma lính kiểng, tăng thêm tiền lương cho lính tác chiến, đổi chiến thuật đánh giặc theo kiểu nhà giàu sang kiểu nhà nghèo. Ngày để lính về nhà giúp đỡ. Đêm họp lính lên đường. “Nếu địch là ma, ta là quỉ. Địch nhờ bóng đêm, ta cũng nhờ bóng tối…”
Phương ơi, bây giờ tao mới hiểu thế nào là nỗi bất mãn của mày. Phải, chúng ta không làm được gì. Ngay cả định mệnh của chúng ta cũng bị kẻ khác quyết định nữa mà. Nỗi mất mát này không phải do mày, do tao, do những người lính đang chờ đợi cái lệnh của đại bàng này. Cái mất mát do từ cấp lãnh đạo, cấp ăn trên ngồi trước, dùng câu “kỷ luật là sức mạnh” để bắt thuộc cấp phải phục tùng tuyệt đối. Không cho chúng ta nói. Không cho mày nói. Hễ nói về bất công thì bị chụp mũ vô kỷ luật. Hễ nói về cấp chỉ huy bất tài thí quân thì bị trù bị ải đến khi xác bỏ ở bìa rừng. Hễ nói đến việc cứu nguy đất nước thì bị xem là điên khùng phản loạn như y sĩ Hà thúc Nhơn ngày nào.
Để rồi, dẫn đến nỗi mất mát vô phương cứu chữa như hôm nay.
Trời ơi, mới ngày nào, chừng như tuần trước, chúng tôi còn lái xe díp trở về, tôi còn ghé vào một động giang hồ, còn ngồi bỏ chân trên bàn cà phê nhìn thiên hạ, còn đêm say rượu trở về hậu cứ nhìn mấy thằng lính nhậu thịt nai với rượu đế, để chúng bắt cóc thêm một lần nữa. Bây giờ, thầy trò thi nhau mà chạy. Tướng cũng cuốn cờ, mà quân cũng cuốn vó. Lúc này là lúc tôi muốn bỏ tất cả. Tôi đã không còn đủ sức để gánh thêm cái trách nhiệm này nữa. Tội này ai gây nên. Lịch sử này ai gánh chịu. Những người lính của tôi, họ ít học, người gốc nông dân, người gốc Thượng, gốc Nùng, người bị bắt đi quân dịch, họ đâu có tội gì để gánh cái khối đá tảng của lịch sử. Những người có trách nhiệm bây giờ ở đâu, sao máy thì bặt tăm không một lời thăm hỏi. Hay họ đã chạy trốn rồi.
Chúng tôi bây giờ chẳng khác đám con lạc bầy. Rừng ơi núi ơi, phía xa, thấy những ngọn núi chìm ẩn trong mây và sương.
Những người lính Thượng thì xì xào với nhau sau đó họ tách rời chúng tôi. Đông, người lính truyền tin rất hiểu tiếng Thượng cho tôi biết là họ muốn trở lại buôn bản của họ. Đông, Tròn đòi theo tôi và Phương. Theo để làm gì. Đi đâu. Về đâu. Giữa khu rừng già bao bọc bởi những tai ách này.
Chính lúc này, chúng tôi mới hiểu thế nào là tình đồng đội. Nó không dễ gì cảm nhận nếu thật sự ta không trải qua những giờ phút nhục nhằn gian khổ bên nhau. Đừng nói đến tình đồng đội tình chiến hữu nếu ngài cứ ngồi chiếu trên, xem lính là nô lệ, chưa bao giờ biết thế nào là nỗi mất mát, nỗi căm hờn, thù hận, đau thương khi một người bạn bỏ chúng ta đi xa… Tình đồng đội đã bắt những người lính thấp nhất như Đông, Tròn vẫn còn theo chúng tôi, trong khi họ có thể tự lo liệu, hay bỏ đơn vị ra hàng phe địch.
Thôi thì nhắm mắt mà đi. Cần gì địa bàn để tìm hướng. Về phương đông, hay về phương tây, thì cũng vậy. Hai chân đã mỏi nhừ. Cổ họng khô đắng. Thuốc lá cũng hết. Đông cố lục trong túi quần, túi áo mới tìm được bao thuốc bẹp dí. Thầy trò chia nhau điếu thuốc quân tiếp vụ. Tròn đi trước dẫn đường. Có lẽ phải đi cả đêm để ngày mai còn phải lẩn tránh những đôi mắt phe địch. Gai nhọn đan nhau, những mũi gai như móc câu, móc vào da thịt Cả rừng vang động tiếng chim và tiếng kêu khỉ vượn. Nhớ lại những lần nhảy toán xuống rừng, đi tìm dấu địch, dù nguy hiểm nhưng cũng an tâm, vì mình biết chắc sau mình có trực thăng tới bốc, có những điểm hẹn để trở về. Bây giờ thì trái lại, không máy liên lạc, không trái khói để làm dấu hiệu cho trực thăng… Chỉ có những bước giày thất thểu lo âu. Kẻ đi trước nín thở. Kẻ đi sau nín thở. Càng lúc rừng càng đen tối hơn. Những tàn cây cổ thụ che cả những vì sao lấp lánh trên cao. Cả bọn dìu dắt nhau mà đi. Nhắm mắt đi bừa.
oOo
Ngày thứ ba chúng tôi mới thoát khỏi khu rừng già. Trước mặt chúng tôi là những rẫy bắp và xa hơn thấp thoáng những ngôi nhà tranh và nhà sàn. Chúng tôi không biết xóm Kinh hay một buôn Thượng hay là một mật khu của phe Bắc. Nhưng dù sao, những rẫy bắp kia là ân sủng sau mấy ngày đói khát trong rừng. Chúng tôi bò vào. Thì giữa lúc đó một bà lão xuất hiện. Bà há hốc mồm bên cạnh bó củi khô. Bà có mặt lúc nào chúng tôi không hề hay biết. Đông nói với tôi. Chết rồi ông thầy. Mình bị phác giác rồi. Rồi nó thì thào: Phải làm bà ta ngậm miệng. Rồi nó nhào tới, chụp lấy chiếc rựa từ bà lão. Nhưng thiếu úy Phương kịp thời ngăn lại, không cho. Hắn gằn từng tiếng: “Đừng. Tao cấm mày đừng. Hãy trói bả lại rồi nhét vải vào mồm bả.” Bà lão rên rỉ: “Lạy các ông tha mạng cho tôi. Tôi là dân vô tội mà.” Đông chồm tới giựt áo bà rồi xé. Hắn nhét vải vào miệng bà ta. Bà ú ớ, kêu oan. Rồi chúng tôi dùng áo bà ta để làm dây, trói hai tay bà lại. Sau đó chúng tôi vào trong ruộng bắp và thi nhau hái.
Lúc ấy là vào khoảng 4 giờ chiều. Chúng tôi lại tìm hướng khác mà đi. Vừa đi vừa chạy. Trời ơi, chúng tôi là dân thám kích nhưng lại không nhớ gì đến bài học của thằng lính thám kích. Chúng tôi vì quá sợ nên quên cả việc phi tang những dấu chân còn in lại trên con đường bùn đất nhão nhẹt do từ trận mưa lớn đêm qua. Kết quả là chỉ một ít lâu sau, chúng tôi nghe vang rền tiếng chân người rầm rập lẫn tiếng nói càng lúc càng gần. Có lẽ là du kích hay là bộ đội địa phương vì tôi chỉ nghe giọng Nam Ngãi. Tiếng nói càng lúc càng rõ, như thể từ bốn phía. Tôi biết là nhiều người lắm. Và hình như họ rất quen thuộc với địa thế khu vực. Tôi như kẻ bị dồn vào cuối đường. Hết rồi, đâu là nhà, đâu là chỗ trở về, đi đâu bây giờ. Tiếng hét hò dọa dẩm càng lúc càng kinh động của đám thợ săn người. Rồi tiếng la rất gần: “Đầu thì sống, chống thì chết.”
Thôi rồi. Không còn gì nữa. Súng không có. Lựu đạn không có. Còn gì nữa mà không đứng im, giơ hai tay lên trời.
“Hãy nghe lệnh chúng tôi. Bước ra chỗ bãi đất trống. Hai tay giơ lên đầu!”
Chúng tôi làm theo.
Một tên bộ đội nhìn thấy cái hoa mai đen thêu trên cổ áo của tôi và Phương, la lên mừng rỡ: Hai tên này là sĩ quan ngụy, và nó chĩa mũi súng vào màng tang tôi. Tôi nhắm mắt chờ đợi. Tôi bình thản chờ đợi. Hình như con người trong nỗi tuyệt vọng quá sức ê chề thì cõi lòng đâm tê điếng, dửng dưng. Nhưng rõ ràng, một thằng lính khác đã chụp lấy tay thằng cầm súng rồi ngăn lại: “Đồng chí đừng bắn nó phí đạn. Hãy giao nó cho nhân dân xử.”
Bây giờ nhớ lại tôi càng tin ở luật nhân quả. Chúng tôi đã tha mạng bà lão thì cũng có kẻ khác tha mạng cho chúng tôi. Và trong chốn sâu thẳm của con tim, vẫn còn có một hơi ấm của tình người. Có phải vậy không ?
Sau đó họ giải chúng tôi về nhà làng. Dân làng gồm bà lão, con nít, cả đàn bà bồng con đổ xô ra, nhìn chúng tôi như những ác thú. Có lẽ lần đầu tiên họ mới thấy những người lính Nam quân. Họ rủa thậm tệ chúng tôi: Bọn ngụy ăn thịt người, bọn ngụy uống máu người. Vẫn là những lời rập khuôn từ Nam ra Bắc, từ con nít đến người lớn… Ai đã gây cho họ những nỗi căm thù ghê gớm như thế này. Ai đã đầu độc cả tâm hồn trẻ thơ trong trắng bằng những độc tố ác nhơn ác đức như thế này. Nhìn họ, những người đàn bà chân đất, những đứa con nít trần truồng mới hiểu là cuộc đời của họ cũng tăm tối chẳng khác cái bóng tối của khu rừng già… Nên thương họ hay ghét họ ?
Nên thương hay ghét họ, dù họ ném đá vào chúng tôi. Dù bà lão mà chúng tôi đã tha mạng, là kẻ hùng hổ hơn ai hết. Bà ta còn nói thêm. “Chúng nó còn muốn hiếp tao nữa. Chúng cởi cả áo tao. Đúng là quân trẻ nít không tha, bà lão không từ.” Thật sự chúng tôi đã xé áo bà để làm vải nhét vào miệng bà. Thôi thì chấp nhận. Cả người tôi bị bầm dập bởi những đòn thù, bởi những hòn đá liệng tới. Miệng mũi tôi chảy máu. Bên tôi là Tròn, Đông, Phương. Mắt họ sưng vù. Những vệt máu còn đọng trên môi. Ôi, Việt Nam ơi, hãnh diện được làm người Việt Nam của Rồng Tiên Lạc Việt. Chỉ có Việt Nam mới mổ mật mổ tim, moi gan, uống máu. Chỉ có Việt Nam mới nhìn nhau bằng những con mắt chó sói, cọp beo… Chỉ có Việt Nam, mới tru tréo căm hờn, mỗi thằng trẻ bị đè ra cho một bản án tử hình khiếm diện. Sao mà đến thế kỷ 20 này, giữa lúc loài người đang nhìn lên cao, phía mặt trăng mà khám phá rằng, chị Hằng chỉ là huyền thoại, thì ở nơi này, người ta chỉ thấy máu và máu…
Bây giờ bóng đêm đã rủ xuống. Những ngọn đuốc đã được đốt lên. Và tôi nghe tiếng radio phát lớn từ ngôi nhà làng. Những tin tức về một miền Nam đang hấp hối. Các tỉnh và thành phố đã lần lượt bị thất thủ. Trong đêm, tiếng nhạc, tiếng hát ăn mừng từ chiếc loa bắt ở nhà làng, vang dội. Quả thật vậy sao? Rõ ràng thằng Đông đang kêu rên vì vết thương. Cả mặt bị nó bị bầm. Tội nghiệp, nó là kẻ bị đánh đập nhiều nhất trong bọn chúng tôi bởi vì con mẹ già kia chỉ tay vào ngày mặt nó rồi nói như hét: “Chính thằng này đã xé áo tao.”. Nó bị hết báng súng dộng, đến những cú đá, thoi, đánh tới tấp. Thoạt đầu nó còn đứng, hai tay che mặt, sau đó, hai đầu gối quị xuống, rồi máu ộc ra cửa miệng. Nhưng nó vẫn nhất quyết không chịu nhận tội: “Các ông giết tôi thì tôi xin chịu, chứ tôi đâu có hãm hiếp bà lão. Bà đáng bà nội tôi mà…” Tôi nhắm mắt lại, không dám nhìn. Sau này, ở tù, tôi đã nghe bao nhiêu lời tự kiểm từ những sĩ quan, và chính cả tôi nữa, để càng hiểu rằng, thường những tấm lòng vĩ đại cao cả đều ở từ những phận đời thấp hèn. Vua chúa lãnh tụ phải cần bầy tôi trung thành, hy sinh nhưng chắc gì vua chúa hay lãnh tụ có thủy chung hay hy sinh cùng bầy tôi của các ngài? Các ông đơn vị trưởng dùng cấp bậc để tạo quyền uy, khí phách, nhưng khi mất cấp bậc, liệu họ có còn khí phách cao ngạo bất khuất như xưa?
Trời ơi, từ lâu tôi đã nhìn những người lính như Đông là những kẻ thuộc cấp, sinh ra để tuân lệnh. Vị trí của họ là vị trí của một con tốt trong hàng ngũ, trong đám đông. Lưng họ gồng nặng ba lô gạo lương khô và súng đạn. Nhưng bây giờ, họ đã cho tôi nhìn rõ hơn thế nữa. Ai hy sinh nhiều hơn họ, ai chung thủy nhiều hơn họ, ai khí phách nhiều hơn họ. Đông ơi, chắc mày đau lắm phải không. Chúng đánh mày như vậy, báng súng AK mà tộng vào ngực như vậy, một tay lực sĩ quyền Anh hạng nặng cũng phải thổ huyết, huống hồ một kẻ nhỏ con như mày. Chắc mày oán thiếu úy Phương và tao vì không để mày giết bà lão. Nhưng mày hãy hiểu con người khác với con thú. Hắn có lương tâm. Lương tâm không thể giết một người vô tội. Nhất là kẻ ấy là một bà già.
Chừng như hả hê với những trận khảo cung, đám bộ đội địa phương bỏ đi, để lại hai thằng nhỏ chừng 13, 14 tuổi canh giữ chúng tôi. Trong đêm triền sơn, tiếng loa phát thanh từ đài Hà Nội nghe rõ mồn một. Những bản nhạc, lời ca ăn mừng tiếp tục không ngưng nghỉ sau những tin chiến thắng dồn dập. Trên sân rộng trước ngôi nhà làng, dân làng tụ tập thắp đèn, thắp đuốc, và người ta hát hò liên hoan. Thỉnh thoảng là những tràng đạn AK tiếp tục bắn lên không trung. Những tia đạn lửa xẹt đỏ ngang dọc giữa màn đêm, như những tia pháo bông.
Hình như đám bộ đội đã quên chúng tôi. Có lẽ họ đã quá say sưa phấn khích ở cuộc chiến thắng quá sức tưởng tượng đang diễn ra từng phút một. Hay cũng vì chúng tôi chỉ là những tù binh tép riu. Hay cũng vì họ bắt quá nhiều tù binh, không ai canh giữ. Chỉ có chúng tôi, với những quả tim tan nát. Chỉ có chúng tôi nhìn lẫn nhau trong bóng tối. Những trận đòn bây giờ mới thật sự thấm vào tận xương tủy. Răng buốt nhức vô cùng tận. Có lẽ một chiếc răng bị gãy cũng nên. Tôi lại khát. Tôi kêu thằng canh, xin miếng nước. Thằng bé nhìn bạn. Hai đứa xầm xì gì đó, rồi một đứa bỏ đi. Thằng còn lại nói lớn: “Tội của các ông mà còn xin được uống nước à? Cho các ông uống nước để rồi các ông đi hãm hiếp bà lão, có phải không. Lần này, chúng tôi cho các ông ân huệ đó, các ông nghe rõ không ?”
Đông nhìn tôi, lắc đầu, tỏ ý bất mãn. Tôi thấy thẹn với người lính của mình. Trời ơi, cái đau của kẻ thua cuộc, là cái tủi nhục. Hết lớn rồi bây giờ đến thằng thiếu niên mà khẩu súng còn cao hơn người nó. Càng nhục mình mới càng cảm thấy mình quá hèn. Hèn. Mình không thể hèn như vậy. Đông ơi, dù khát bỏng cổ họng, tao cũng không thể hèn như vậy đâu.
oOo
Cuối cùng, tôi và Phương được giải vào một trại giam giữa rừng già. Trại nguyên là một căn cứ của lực lượng đặc biệt. Suốt ngày, qua cái loa phát thanh, chúng tôi đều nghe những tin tức về một miền Nam trong những ngày hấp hối. Cuộc chiến trước sau cũng phải chấm dứt, nhưng cái kết thúc kiểu này, quả là một vết ô nhục khó có thể quên. Nó là hậu quả của một quyết định điên rồ. Trong trại tù, tôi có dịp chung đụng với một vài vị sĩ quan cấp cao để biết rõ hơn về nỗi ô nhục này. Tất cả bắt nguồn từ cái lệnh. Và tất cả vì nhắm mắt tuân lệnh. Thi hành trước khiếu nại sau . Không được cãi.
Nói cũng bằng thừa. Những vỏ cây rừng cũng không đủ để viết lên lòng thống hận. Nhiều khi vào buổi trưa trong rừng khổ sai, nghe tiếng chim kêu hoảng hốt, mà lòng đau nhói tận tim can. Rừng ơi. Gốc thân sao quá lớn để vai ta phải chịu như chịu khối đá tảng. Sao cứ ương ngạnh nằm lì. Chỉ tội nghiệp những ông sĩ quan già. Những ông cấp tá, một thời lẫy lừng, nay lưng còng, mắt sâu, đứng nhìn những thân cây đổ xuống. Tội nghiệp cho họ. Họ chưa được huấn luyện để trả cái nợ nhọc nhằn. Bởi vậy, có người bỏ cuộc trước. Gỗ hòm là những miếng ván tạp lấy từ căn cứ, và huyệt không thể đào sâu vì đất đá… Tội nghiệp, người vợ ông sĩ quan Thượng gốc Rhadé, lặn lội thăm chồng, nhưng chồng bà đã mất sau một cơn bạo bệnh. Tiếng khóc trở thành tiếng tru. Như tiếng tru của loài thú bị thắt cổ.
Ôi, khi người ta quá đau khổ, quá tuyệt vọng, khi nỗi đau đã quá sức chịu đựng thì tiếng khóc không còn là tiếng khóc thường tình nữa. Nó trở thành một âm thanh điên loạn, khủng khiếp, khiến người nghe phải đau nhói cả buồng tim.
oOo
Năm 1976 thì Phương và một người hạ sĩ quan người Thượng nguyên thuộc binh chủng Biệt Động quân đã trốn trại. Sự việc này không làm tôi ngạc nhiên. Tôi đã linh cảm được điều này. Vì có lần hắn tâm sự với tôi trong lúc lao động chung, như lời trối trăn:
“Mày đừng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó, nghe tin tao rời bỏ nơi này. Người ta bảo trong rừng mà nghe mùi trầm hương là gặp may. Tao đã nghe rồi.”
Tôi nói, không, tôi van lơn thì đúng hơn: “Mày nghĩ là có thể thoát được hay sao ? Mày nhớ lại có bao nhiêu người đã trốn, bị bắt lại và đã bị bắn. Mày đừng điên rồ. Nhớ là mày vẫn còn mẹ của mày, em của mày. Họ chờ mày.”
Nhưng hắn vẫn bỏ đi.
II
Cuối cùng, tôi cũng được thả sau bảy năm xa cách. Một thiếu úy với bảy năm khổ sai trong khi với cấp bậc tôi, đa số là ba năm! Hai chữ thám kích đã làm cho tôi trở thành một kẻ có rất nhiều nợ máu với nhân dân!
Bảy năm. Từ trại này qua trại nọ, vẫn những ngày đổ mồ hôi, và những đêm giấc ngủ đầy những ác mộng. Có khi nửa đêm, mưa rừng gào thét, tôi tỉnh giấc, nghe cả dường như tiếng hú lanh lảnh cũng như tiếng thét Sát Sát văng vẳng ngoài bìa rừng.. .Rừng. Nhớ ơi những câu thơ của Phạm Cao Hoàng đến thuộc lòng:
đất anh ở và rừng anh thở sáng anh đi chiều lại trở về rừng vi vút những đêm gió thổi bóng anh chìm với bóng hư vô
đôi khi đứng bên triền đá dựng anh hoang mang sợ núi đè mình có khi thấy con chồn con cáo anh giật lùi lòng thoáng hãi kinh
anh đi qua rừng cao quá đỗi anh đi về rừng quá đỗi cao anh thu mình như con sâu nhỏ nằm rung rinh giữa đám lá rì rào
và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu núi ngó anh và anh ngó núi núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu
đất anh ở và rừng anh thở qúa lâu ngày nên thấy hoang mang anh sống dở và anh chết dở giữa núi rừng cao ngất ngàn năm
Anh sống dở và anh chết dở. Bảy năm như vậy, vậy cuối cùng cũng đã trả nợ xong.
Ngày trở về, đến thăm mẹ Phương, thấy Trang, cô em gái của Phương trong bộ quần áo cũ, bạc màu lòng tôi xót xa vô bờ. Ngày ấy, trước 1975, mỗi lần tôi về phép thăm em, em liếng thoắng, em vòi vĩnh. Rồi em lên 16, tôi về phép, em bắt đầu e thẹn, tôi tặng em chiếc còng bạc, chiếc lược ngà voi, chiếc áo đen viền sọc vàng của người thiếu nữ Thượng . Rồi em 17, tôi không trở về, đón Tết trên đỉnh đồi máu. Rồi em bây giờ em 25, tôi trở về đây, thưa bác, thưa em. Anh trở về mà tấm áo của kẻ bị phóng tích chưa rũ hết những nhục nhằn, nhưng tấm áo của em, thì đau xót gấp trăm ngàn lần hơn thế nữa.
Mẹ Phương ôm tôi òa khóc nức nở. Tôi cố nén, nhưng nước mắt cũng phải lưng tròng. Nói gì để khỏi dối lòng, dối bác. Nói gì để mang niềm tin về một bà mẹ tội nghiệp. Vâng, tôi biết, chính tôi mới mang cho bà nỗi đau khổ mới. Bác nhìn tôi để nhớ đến Phương. Bác thấy tôi trở về để héo úa tim gan vì thằng con trai mất tích.
Trang kể từ ngày anh Phương trốn trại, công an khu vực cứ đến tra hỏi làm khó dễ liên miên. Còn mẹ em càng ngày càng tin đồng bóng, thần linh. Thầy nào, am nào, miếu nào mẹ cũng mang hương đèn đến cầu khẩn.
Trang nói đúng. Khi người ta tuyệt vọng, không còn gì để bấu víu, thì chỉ biết tìm đến những điều siêu hình.
Rồi bác bảo tôi:
Bác mới nghe có một ông thầy rất giỏi. Việt Kiều về vẫn nhờ ông ấy giúp tìm lại hài cốt của người thân. Bác mong cháu đi cùng với bác, để có thể trả lời khi ông ấy hỏi về thằng Phương. Con giúp bác nghe con….
Tôi trả lời: Dạ, cháu sẽ đi với bác. Chiều nay cháu đến để chở bác đến chỗ ấy.
oOo
Hai bác cháu chúng tôi được ông thầy tiếp vào một buổi chiều. Ông bắt chúng tôi ngồi trước bàn thờ. Căn phòng tối mờ nồng nặc mùi nhang trầm cùng những hình hay những tượng thần và những hình Bát Quái… Sau khi hỏi mẹ Phương về ngày sinh tháng đẻ tên họ của con bà, ngày Phương bỏ trại đào thoát, ở đâu, nơi nào, ông đã ngồi tịnh một hồi, rồi ông bỗng nhiên oà lên khóc. Chắc Thần linh đã nhập vào ông. Rồi ông hét lên: Ta là Sơn thần cao nguyên trấn, ta không tìm ra hồn ma nào như ngươi cầu xin ta giúp đỡ. Ta chỉ thấy những con thú vật kỳ lạ, nửa người nửa vượn miền Tây vực vất vưởng cứ thỉnh thoảng hú lên những tiếng thật thảm thiết…
III
Bây giờ, sau 10 năm ở nước ngoài, tôi trở về chốn rừng xưa. Tôi trở về không phải là một kẻ du lịch, hay là một người muốn nhìn lại một thời tuổi trẻ khốn khó của mình, mà trở về với một người khác, một nghiên cứu gia về nhân chủng học.
Suốt một ngày chúng tôi mới di chuyển khoảng chừng bốn cây số. Người dẫn đường, từng tự hào một thời là lính trinh sát Bắc Việt, trở nên buồn bã thấy rõ. Nỗi ngậm ngùi đọng trên ánh mắt lời nói, dáng bộ của hắn. Mỗi lần hắn dẫn chúng tôi qua một khu vục đầy hoa dại, thì hắn lại nhắc đến những xác bạn bè và đồng chí cũ. Tôi cũng vậy, không có khác gì hắn đâu. Tôi cũng có những thằng bạn bị bỏ rơi, hay thất lạc, hay bị giết, tại chiến trường này. Chúng tôi trở lại chiến trường xưa, trong lòng mỗi thằng một tâm tư khác nhau, nhưng chung qui, vẫn là nỗi kinh hoàng còn ám ảnh từ một cuộc chiến. Chúng tôi qua đây, mới thấm thía được hai chữ phù du của kiếp người trong chiến tranh. Chiến tranh ở cùng khắp. Ngay tại một nơi heo hút như thế này, nó cũng đã có mặt. Mà sao hoa lại rộ nở cả một vùng mênh mông như thế này. Hoa cúc, hoa quì, một màu vàng rực như tấm thảm vĩ đại. Hay là Thượng đế vì động lòng những người trẻ tuổi chết trong oan nghiệt nên đã tạo riêng một nghĩa địa hoa.
oOo
Cuối cùng, chúng tôi cũng đặt chân đến khu rừng mà ông tư lệnh quân đoàn BV Hoàng Minh Thảo đã một lần quả quyết là có sự xuất hiện của người rừng.
Người hướng dẫn chỉ tay về phía Tây, nói: Đây là vùng tam biên, nơi giáp ranh ba nước Việt Kampuchia và Lào. Ở đây, ngày xưa, bộ đội chúng tôi đã dừng lại trước khi xuống miền Quảng Ngãi, hoặc về Kontum, Pleiku. Bề kính trên trăm ki lô mét, đầy đường mòn, và những hố bom do B52 trải thảm trước năm 1973. Phía ông tư lệnh nói là phía sâu vào nội địa Lào… Bởi vậy, xin các ngài hãy cẩn thận khi bước đi. Tuyệt đối tránh đụng chạm đến những vật bằng thép, có thể là những ngòi nổ chậm còn sót…
Tôi dịch lại tiếng Anh cho tiến sĩ Mano và tiến sĩ Kenny. Rồi chúng tôi cùng nhìn về hướng người dẫn đường chỉ. Lâu lắm rồi, tôi mới có dịp thấy lại những cánh rừng già bạt ngàn như thế. Cả một màu xanh thẫm, mờ nhạt in trên nền trời mây xám đục, che khuất cả một đường chân trời. Lâu lắm tôi mới bắt gặp những ngọn núi chạm trời, mây trắng như những đàn cừu trở về chuồng, chạm mình trên những đỉnh cao như đụng phải trời. Lâu lắm, tôi mới trở lại một nơi mà ngày xưa, tôi đã từng có mặt cùng bao nhiêu âu lo, kinh hãi. Nhìn thấy nó êm ả, tịch lặng như thế, nhưng thật sự không phải như vậy. Những cây cổ thụ thuộc loại quí hiếm như sao, trắc bá, mun, cẩm lai… cao ngất, thân to bằng cả hai người ôm không xuể, những sợi dây leo chằng chịt rũ xuống, hay bò trên đất như những con trăn u thịt, những đụn gò mối, những tiếng chim kêu thảng thốt vang dậy, những con suối đen ngòm, do từ rong rêu hay lá mục lâu ngày, mà khi lội qua, chúng tôi phải run lên cầm cập, không hiểu vì muỗi rừng, hay vì nước thiếu ánh mặt trời, chất chứa bao nhiêu âm khí độc địa như từ thiên cổ, hay những rừng lá thấp, che khuất cả đất đá không thấy một vết chân người. Lạc vào trong đó, khó mà tìm thấy hướng. Những tàn lá cổ thụ chất chồng nhau, xếp trên xếp dưới, che cả tầm mắt, có khoảng ánh sáng không thể xuyên, như thể chìm ngập trong bóng tối. Ngoài ra, sương mù che phủ dầy dặc. Người ta muốn nhìn hướng phải trèo lên chóp cây, cao đến mấy mươi thước. Thân cây mọc lên san sát, bên những bụi gai um tùm, những sợi dây leo chằng chịt cùng những hốc đá âm u, như toát ra một vẻ thần linh đến lạnh mình. Đó là nơi mà ngày xưa người ta thả chúng tôi xuống, rình mò, để lấy những tin tức từ các đơn vị mới xâm nhập. Chúng tôi phải tự đối phó trong cô đơn. Chúng tôi chỉ biết trông cậy vào địa bàn hay máy truyền tin liên lạc. Qua ống nhòm tôi không thể nhận ra một khoảng nào trống trải, hay thưa thớt để gọi là rừng non, rừng thưa, hay rừng cỏ tranh. Trái lại, chỉ là những cánh rừng già nguyên sơ tiếp nhau như trải dài bất tận. Ở đó máy bay khó lòng nhìn thấy những gì phía dưới màu xanh bạt trùng bất tận.
Tôi hỏi người dẫn đường:
– Anh có bao giờ đến đấy chưa.
– Thưa ngài, chưa. Theo tôi biết, không ai dám vào những khu rừng đấy cả.
– Tại sao?
– Tôi đã nói mà. Chính đại tướng Hoàng Minh Thảo của chúng tôi cũng đã từng đề cập vào năm 1974 mà.
– Tại vì có người rừng, phải không ?
– Vâng. Chúng tôi sợ họ thật sự. Bộ đội chúng tôi đồn nhau, họ là thần linh, họ có mặt cả ngàn năm, không ai có thể tiêu diệt họ được.
– Bộ đội các anh lại tin thần linh sao ?
– Tại sao lại không? Trong chiến tranh, người ta chết nhiều quá. Cả rừng đầy ngập oan hồn. Ngài thấy không, cái bãi trống đầy hoa dại vàng rực kia, trước đây là cả một bãi mồ. Chúng tôi nhớ có những lần phải đạp trên những lối lót đầy xương người mà đi. Còn nữa…
Giọng nói của hắn ràn rụa xúc động:
– Còn những toán thám báo biệt kích của ngụy lúc nào cũng có mặt bên chúng tôi không rời. Mỗi khi chúng phát giác chúng tôi, chúng kêu pháo đài bay B52 bay đến trải thảm. Có khi cả tiểu đoàn không còn một người sống sót.
– Thì đổi lại, các ông cũng đuổi Mỹ cút ngụy nhào.
Tôi trả lời, chua chát. Nhưng tôi hiểu tôi hơi tàn nhẫn. Đáng lẽ tôi sẽ không nói những lời như thế. Với cương vị một người sinh viên tiến sĩ về nhân chủng học, tôi phải dành mọi nỗ lực để tìm tòi, khảo cứu cho dự án ra trường của tôi. Tôi phải cúi đầu, và có thể nuốt cay đắng nếu hắn vô tình xúc phạm đến hàng ngũ mà một thời tôi đã có mặt. Sự thật, qua lời thú nhận của hắn, hắn cũng như tôi. Chiến tranh như một cơn mộng dữ. Bạn bè hắn cũng như bạn bè tôi, hôm qua đã nằm ở đấy, vô danh, lạnh lẽo…
Tôi lại dịch cho hai ông bạn cùng nhóm. Họ có vẻ ngạc nhiên trước những lời tiết lộ của người hướng dẫn.
Tuy nhiên, họ cũng như tôi đều có một công việc chung phải làm. Không phải số tiền đóng góp của hội viên thuộc Hội Bảo Vệ Người Rừng dùng cho nỗi buồn xương cốt này. Chúng tôi bằng mọi giá phải đến những cánh rừng phía nằm sâu trong vùng đất Lào. Chúng tôi phải có bổn phận tìm kiếm một giống sinh vật quí hiếm nhất còn sót lại trên địa cầu. Đó là Forest people, một họ của Hairy Hominids, được gọi chung là Bigfoot. Liệu giống loại nửa người nửa khỉ đột này còn tồn tại không. Liệu những tài liệu, những bản tin liên quan đến những “người tuyết”, “người vượn”, là sự thật hay không. Từ lâu nay, người ta bàn tán hơi nhiều, thậm chí trên truyền hình, người ta còn đưa ra hình ảnh chụp người rừng, trong những chương trình Unsolved Mistery. Tuy vậy, những cố gắng vẫn không thể chứng minh được sự có mặt của giống loại bigfoot, như lời phát biểu của ông Richard Greenwell, chủ tịch Cơ quan quốc tế khảo sát giống người Rừng:
“Vào những ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, tôi mạnh mẽ tin người Rừngl à có thật sau khi đánh giá và đọc các bản tin tức. Vào những ngày thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy, tôi cho chuyện người Rừng là vô lý. Vào ngày Chủ nhật, tôi nghỉ.”
Bởi vậy, sau khi có tin ở Việt Nam, một giáo sư đại học đã chụp được hình những dấu chân khác thường, giống như bàn chân người, nhưng to lớn hơn, để chứng tỏ rằng có một giống vật tiền sử vẫn còn sót lại trong những rừng già, chúng tôi đã tức tốc xin ngân khoản của cơ quan bảo vệ giống vật hiếm quí trên thế giới, và nhiều tổ chức tư nhân hay tôn giáo để bảo trợ chương trình khảo sát của chúng tôi. Họ rất sốt sắng, thứ nhất, sau khi họ nghe tin ở bên Trung Hoa lục địa, người ta đổ xô đi tìm bắt người rừng để lảnh thưởng. Họ lưu tâm đến sự tuyệt chủng của một chủng loại mà đến bây giờ các nhà khoa học vẫn không thể tìm ra hay xếp hạng người hay vượn.
Và nhóm chúng tôi lên đường cách đây một tuần lễ như thể một cuộc ra quân. Những dụng cụ khoa học hiện đại nhất như máy cảm nhận hơi người, máy chụp hình bằng tia laser, máy quay phim, máy truyền tin, cả trực thăng nếu cần, đều được trang bị. Riêng cá nhân tôi, tôi đã hy sinh bỏ công việc hiện tại, để tình nguyện làm một kẻ thông dịch. Hai tiến sĩ của nhóm, một trưởng đoàn, một phó trưởng đoàn đều là giáo sư đỡ đầu cho luận án ra trường của tôi, dĩ nhiên họ rất vui mừng và khuyến khích tôi không ít. Làm sao họ hiểu được tận cùng bề sâu thẳm của lòng tôi, là tôi không thể để một ngày nào đó, đất nước tôi không còn một cái gì hết. Bây giờ, không phải là thời chiến tranh, nhưng từ rừng xuống biển, tài nguyên quí giá nhất của quốc gia đã càng ngày càng vơi cạn bởi mãnh lực đồng tiền. Lại thêm những tay con buôn Đài Loan, Nhật, Hồng Kông, Tân Gia Ba… đang đứng ngoài cửa, sẵn sàng bỏ tiền ra, để gom góp hết những gì quí giá nhất, hiếm hoi quí giá nhất mà mang về nước.
Bởi vậy, chúng tôi phải góp một tay để bảo vệ giống người tiền sử. Chúng tôi phải báo động lên Liên Hiệp Quốc, cùng các nhà lãnh đạo trên thế giới. Chúng tôi phải thuyết phục họ lập một khu an toàn riêng, chẳng những là tài sản của quốc gia, nhưng còn là tài sản chung của cả nhân loại.
Năm ngày đầu tiên khi đến Việt Nam quả hết sức bận rộn cho chúng tôi. Phải gặp các viên chức trung ương, rồi địa phương, phải trao đổi ý kiến với các nhà khoa học Việt Nam, phải đọc rất nhiều tài liệu liên quan đến người Rừng, phải đi phỏng vấn một số dân thiểu số. Dù vậy, chứng liệu vẫn còn mơ hồ. Bởi khi nói đến Người Rừng, người ta chỉ nói đến những huyền thoại như chuyện ma cổ mà tôi đã từng đọc trong tiểu thuyết của Lan Khai hay Thế Lữ ngày trước. Họ nói đến chuyện một người bị lạc vào rừng, và bị một đàn khỉ đột bắt và con vượn cái – một chúa đầu đàn – bắt làm chồng. Họ nói về những tiếng hú lanh lảnh suốt đêm nghe từ xa lắm, và tiếng cây rung chuyển, lá rụng đầy, dù chẳng có một cơn mưa hay gió bão có mặt trên vùng. Một người lính phục viên cũng nhắc lại, anh đã nghe cả tiếng SÁT trong đêm khi đơn vị anh đóng quân dưới một cánh rừng già. Không phải một mình anh nghe mà nhiều người cũng nghe như anh.
Chỉ có bức hình chụp dấu chân người của một chuyên gia đại học mới là một chứng cớ có thể tin được. Bàn chân quá kích thước của bàn chân người. Những ngón chân in trên nền đất rõ nét, rồi mất hẳn về phía Tây. Chính bức hình này đã khiến chúng tôi phải lặn lội tìm đến, hôm nay.
oOo
Đêm ấy chúng tôi đóng trại bên con suối. Nhìn bản đồ, không nhận ra nó, nhưng rõ ràng nó là một chướng ngại cho cuộc hành trình của người muốn qua phía bên phần đất Lào. Nước chảy xiết, vang dội ầm ầm vào vách đá phía xa. Không, đúng ra nó là một ngọn thác. Không biết nó bắt nguồn từ đâu và chấm dứt từ đâu. Chúng tôi phải mang áo ấm, vì gió và sương lạnh. Hai ông tiến sĩ đã lo lắng không ít trước khung cảnh lạ lẫm. Các ông thoa thuốc trừ muỗi đầy mình, lại chụp cả cái mùng trùm đầu. Riêng tôi thì quá quen thuộc với những đêm ngủ bờ ngủ bụi như thế này. Từng là một người lính thám kích, tôi đã trải qua nhiều đêm trong rừng, biết phân biệt thế nào là tiếng động của chân người hay của loài thú, biết chỗ nào an toàn nhất khi muốn dừng chân qua đêm. Chúng tôi phải ôm tim ôm ngực chui rúc trong bụi trong lùm, sợ cả dấu chân của chính mình. Chúng tôi phải tự bảo vệ cho nhau. Chỉ có một điều, là bây giờ, không còn người nữa để ta phải bận tâm. Nếu có là những loài thú rừng như cọp, beo, trăn, rắn… Nhất là cọp. Ở xứ này, cọp có tiếng có bộ da đẹp nhất nhì thế giới. Tuy nhiên, cũng vì có tiếng, nên chúng cũng hầu như tuyệt giống.
Chúng tôi đã đốt lên bếp lửa. Máy nghe tiếng động và cảm nhận hơi người cũng bắt đầu làm việc. Vầng trăng đã nhô lên, tròn vằng vặc. Tiếng nước chảy xiết nghe rõ mồn một. Ánh trăng làm một khúc suối sáng loáng như dát bạc. Lâu lắm rồi, dễ chừng hai mươi lăm năm, tôi mới được dịp ngồi lại chiêm ngưỡng một đêm trong rừng mà không còn phải để trí não căng thẳng tột cùng. Tôi lại nhớ đến người con gái Thượng nào đã tắm chung cùng tôi trong một đêm trăng xa xưa. Cả thân hình của nàng lồ lộ ngực vú. Bây giờ nàng ở đâu. Còn thằng bạn tôi nữa. Không biết Phương có tìm được mùi trầm hương giữa rừng già này không. Tôi thương hắn quá. Cuộc đời hắn đáng lẽ phải ở một chỗ khác. Tôi đốt thuốc và rưng rưng cùng kỷ niệm. Kỷ niệm với bạn bè, đồng đội. Kỷ niệm với rừng núi. Kỷ niệm với tuổi trẻ lao lung. Cũng trái giang, trái măng để làm thức ăn tạm trong ngày hết lương thực. Một thời đó gian khổ lắm… Mà hôm nay tôi trở về, âm thầm giấu tông giấu tích.
Người dẫn đường ngồi bên tôi. Tôi mời hắn điếu thuốc. Tôi lại nghe hắn kể về cuộc vượt Trường Sơn, với những đơn vị bị xóa tên, và nỗi kinh hoàng khi từng đoàn B52 xuất hiện. Những hoài niệm của hắn đầy buồn bã. “Ngày xưa, tôi thấy những bãi hoa rừng như thế, và bây giờ, chúng vẫn như xưa. Có lẽ tươi tốt hơn là đằng khác. Các đồng chí của tôi nằm xuống, yên lặng, tức tưởi như thế đó”… “Thú thật với ngài, lâu lắm tôi không dám ăn loại cá trê. Cứ nghĩ đến cảnh chúng thi nhau rỉa thịt người trong những hố bom…” Hắn còn kể về những người bạn của hắn đào ngũ trong chiến tranh. “Ngài không biết, tôi có một đứa bạn rất thân. Nó đào ngũ sau khi đơn vị bị trúng bom. ”
Người dẫn đường run đôi vai, giọng buồn buồn: “Tôi hiểu là những người B Quay này chỉ còn cách là trốn trong rừng già. Bởi vì họ không bao giờ dám trở lại Bắc. Nếu mà họ bị bắt, hoặc là họ sẽ bị xử tử hay là bị chết rục trong trại cải tạo. Không biết đến bây giờ họ có nghe chiến tranh đã chấm dứt chưa?”
Tôi nghe nỗi buồn mang mang. Thì ra, tuổi trẻ Bắc hay Nam đều có chung một mẫu số: vác cái khối đá tảng oan khiên mà từ những tham vọng, quyền lực, chủ nghĩa, trút xuống .
oOo
Khoảng hai giờ sáng tôi tự dưng thức giấc. Tôi không thể ngủ được. Sương bốc lai láng trên mặt suối, hòa lẫn cùng ánh trăng, như làm cả khung cảnh phải chìm ngập trong một giòng sữa bạc. Tiếng dội của thác từ xa, vọng về càng rõ. Hàng đàn muỗi rừng li ti trong ánh trăng kêu vo ve. Vâng, cũng con suối như thế này, tuyệt vời như thế, nên thơ như thế, nhưng, nó chính là giòng nước tai họa, đánh gục chúng tôi khi chúng tôi lội qua. Tôi nhớ đến thằng bạn đã dìu tôi đi, có khi cõng tôi, để cố trở lại điểm hẹn. Tôi nhớ đến thằng Phương…
…Và có lẽ mắt tôi hoa lên rồi. Rõ ràng trước mắt tôi, bên kia bờ suối, một đám dã thú đang hiện mập mờ. Trong sương và trong ánh trăng, chúng như những dã nhân với thân hình đầy lông lá. Tóc phủ dài đến tận lưng. Và râu chúng tua tủa. Có con thật cao lớn như Mỹ. Có con nhỏ và thấp như người Việt Nam bình thường. Mỗi con đều mang khố vải. Loại vải rằn Biệt động quân, hay màu tro xám của phi công hay cả vải màu nylong xanh bộ đội Bắc Việt. Tôi cũng thấy cả bộ đồ đen, lọai đồng phục dành riêng cho binh chủng thám kích chúng tôi khi được tung vào mật khu địch. Chúng đứng sắp hàng như một đội quân tập họp. Sau đó chúng vừa đập loạn xạ vào ngực chúng. Bịch. Bịch. Chúng lại nhảy, lại gào kêu the thé. Lọai âm thanh gì mà tôi không thể phân biệt. Có thể là tiếng người. Hay là tiếng thú. Lẫn lộn nhau.
Tôi hối hả chạy đến lều gọi hai ông tiến sĩ trưởng đoàn và phó trưởng đoàn. Họ cùng chạy ra bờ. Nhưng họ không thấy gì. Chỉ có chăng là một giòng trăng và tiếng ầm ầm của dòng thác từ xa dội về. Chỉ có chăng là những thân đại thụ vươn lên như hàng quân bên kia bờ suối. Họ ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi cố gắng thuyết phục họ, nhưng họ vẫn không tin. Ông Mano ái ngại dùm tôi:
– Xem chừng anh bị bệnh rồi đấy.
oOo
Có thật vậy không. Suốt cả nửa tháng, đoàn cũng không thể tìm ra dấu vết người rừng. Đại ngàn này quá thâm sâu, quá man dã, và quá sức bí ẩn, để chúng tôi không thể nghĩ là công trình sẽ được hoàn thành trong một tháng công tác. Ít nhất phải 6 tháng, công trình mới may ra có chút triển vọng.
Bây giờ chúng tôi phải trả lại niềm bí ẩn về lại cho rừng. Và như vậy, những câu hỏi lại tiếp tục như ông chủ tịch Cơ quan quốc tế khảo sát về Người Rừng:
“Vào những ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, tôi mạnh mẽ tin người Rừng là có thật sau khi đánh giá và đọc các bản tin tức. Vào những ngày thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy, tôi cho chuyện người Rừng là vô lý. Vào ngày Chủ nhật, tôi nghỉ.” oOo
Cách đây không lâu, vào cuối năm 1998, tôi được đọc một bản tin ngắn của hãng AFP được đánh đi từ trong nước. Bản tin cho hay chính quyền Quảng Ngãi mới đây vừa bắt giữ một người Rừng. Ông ta tên là Dương văn En, 60 tuổi, nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 70 Biệt động Quân Biên Phòng. Ông và hai người bạn vượt ngục vào năm 1979. Khi bị bắt, người lính VNCH, gốc Hre, đã không còn gì hết, trừ chiếc khố bằng vãi rằn ri. Các phóng viên diễn tả ông như một người tiền sử nửa người nửa vượn, rất khó khăn khi nói trở lại tiếng mẹ đẻ của mình…
Quả thật vậy không? Nhưng làm sao tôi có thể thuyết phục được hai vị tiến sĩ, giáo sư của tôi về một sự xuất hiện của một chủng loại người rừng mới, chỉ có mặt tại Việt Nam, mà người ta đang nói đến?
17 giờ. Đường phố Sài gòn ngập đầy bộ đội miền Bắc nón cối và giải phóng quân mũ tai bèo và cỏ đuôi chó. Cỏ đuôi chó mỗi lúc một đông thêm! Chắc ăn rồi, chắc ăn lắm rồi, lính sư đoàn 304 gây khí thế cách mạng. Xe tăng của cộng sản, trước sau chỉ có mười chiếc, nghiến xích sắt thị uy khắp đường phố Sài gòn. Xe tăng thị uy xong đến mô-lô-tô-va Liên xô và GMC Trung Quốc. Máy phóng thanh oang oang bài ca Giải phóng miền Nam của Lưu Hữu Phước. Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước Giết lũ đế quốc Phá tan bè lũ bán nước Ôi xương tan máu rơi Lòng hận thù ngút trời ——- Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng Thề cứu lấy nước nhà Thề Chiến đấu tới cùng Cầm gươm ôm súng xông tới Vận nước đã tới rồi Bình minh chiếu khắp nơi Nguyền xây non nước vững yên muôn đời… Và bài ca Tiến về Sài gòn: Tiến về Sài gòn ta quét sạch giặc thù Tiến về Sài gòn ta giải phóng thành đô *… Cỏ đuôi chó hát theo. Vì hai bài hát lải nhải hoài nên cỏ đuôi chó thuộc lòng. Tôi nhớ lại: Hoạt cảnh này đã ba lần tôi được chứng kiến trong đời. Lần thứ nhất, buổi chiều 19-8-1945, năm tôi lên mười. Và tôi đã diễn tả thật trung thực trong cuốn Con Thúy, cuốn sách đã đưa tôi vào nhà tù cộng sản để chịu đựng những hệ lụy tự khai. Lần thứ hai, buổi sáng giữa tháng 7-1954. Một thị xã được giải phóng. Bộ đội cộng sản tiến vô thong thả. Cỏ đuôi chó mọc nhanh, tung hô những khẩu hiệu nịnh bợ. Bài hát thuộc nhanh của cỏ đuôi chó hồi ấy là bài Bàn tay chúng ta: Hoan hô bàn tay anh Komsomol đã khơi dòng Volga đông. đã khơi nguồn hạnh phúc cho toàn dân.. Hoan hô bàn tay anh bạn Trung Hoa chắn sông Hoài ngăn đau thương nước không về toàn dân no ấm Raymondielle ngăn xe cho ngừng máu rơi ngăn chiến tranh cho đời huy hoàng ta nhớ ghi tên người tươi sáng bàn tay anh đem về thêm bông bàn tay anh đem về thêm lúa bàn tay ta băng miền thương xót dắt dìu nhau tiến lên… Hoạt cảnh giải phóng lần hai, tôi đã viết ở cuốn Vẻ buồn tỉnh lỵ chưa kịp xuất bản và bản thảo đã bị tich thu. Hôm nay, lần thứ ba, tôi biết thêm hoạt cảnh giải phóng 1975. Ba mươi năm. Vẫn thế. Vẫn thế ở mỗi biến động lịch sử trên quê hương tôi. Nếu cái vẫn thế còn làm cho tôi xúc động là, ngay cả tâm hồn cỏ đuôi chó, đã không dấy lên giông bão thù hận khi họ được khích lệ tuyết hận bừa bãi. Có phải tình nghĩa Việt Nam mãi mãi chế ngự chủ nghĩa cộng sản. Sài gòn chỉ bị cộng sản và cỏ đuôi chó quấy rầy ngoài phố. Sài gòn không hề bị cỏ đuôi chó đập phá nhà cửa, giết người. Cộng sản không dám ra mặt hành động. Cộng sản bất lực thủ đoạn châm lửa phẫn nộ cho người Sài gòn sát hại người Sài gòn. Không có bạo động đổ máu vô lý cho hợp lý khi cộng sản vào Sài gòn. Đừng bao giờ nghĩ cộng sản nhân đạo. Mà nên hiểu miền Nam nhân bản, Sài gòn nhân bản không chấp thuận tàn sát theo ý cộng sản hay theo ý của bất cứ một chủ nghĩa phi nhân nào: Lịch sử nào sẽ ghi chép chính xác? Thứ lịch sử gian dối của Mỹ và Tây phương thân cộng đã toa rập cộng sản, đã giả vờ quên tình nghĩa Việt Nam mà đề cao sự khoan dung, đạo lý cộng sản khi cộng sản xuất hiện ở Sài gòn. Đạo lý làm người của cộng sản đã thể hiện rõ nét ở Huế vụ Mậu Thân. Nó sẽ thể hiện rõ nét hơn, sẽ “phanh thây uống máu quân thù’, sẽ “cờ in máu chiến thắng” ở Sài gòn 30-4-75 nếu người Sài gòn muốn. Nhưng người Sài gòn không muốn, cả cỏ đuôi chó đáng ghét cũng không muốn, cộng sản đành thúc thủ. Để được tiếng nhân đạo. Cộng sản nói nhân đạo như tư bản nói nhân đạo, còn đốn mạt hơn cả đĩ điếm, ma cô giảng giải luân lý. Người ta cố tình quên rằng, chỉ cần mảy may lương tâm, cộng sản hết là cộng sản. Và người ta nên sáng suốt, nên thức tỉnh nhớ ràng, cái vỏ ngoài của cộng sản giống hệt áo thầy tu chân chính, những lời cộng sản nói hay hơn Chúa nói, Phật nói. Cộng sản quán triệt bí kíp “một thời im lặng và một thời lên tiếng” ở bất cứ không gian nào. Cộng sản xúi dục người quốc gia lăng nhục người quốc gia, chia rẽ người quốc gia rồi hô hào đoàn kết. Cộng sản nằm vùng, cộng sản hải ngoại còn tinh vi đến độ biết ẩn thân thật lâu, dám sống nghèo hèn, cố tình phô bày tác phong đạo đức, trình diễn đạm bạc, khuất thân hòa hoãn với những kẻ chống cộng dữ dội nhất. Để trở thành biểu tượng gương mẫu của người quốc gia chống cộng. Và, sau hết, đòn muôn thuở nằm trong bản chất cộng sản: Tìm mọi cách hạ bệ uy tín các tài năng của quốc gia để vô hiệu hóa sự chống cộng sản của các tài năng này; công khai đề cao tài năng của quốc gia trên các cơ quan truyền thông cộng sản để cô lập các tài năng này với quần chúng thù ghét cộng sản. Sài gòn động bên ngoài, tĩnh bên trong – cái tĩnh lo âu Cái động đã tôn vinh cái tĩnh. Đã không có “đấu tranh giai cấp” tình nguyện, tự nguyện và… tự học tập như cộng sản mong muốn. Điều đó đã “giải phóng” biển máu đe dọa của Mỹ và biển máu toan tính của cộng sản. Chúng tôi thả xuống chợ Bến Thành. Ngạc nhiên vô cùng, tôi thấy, ở các đầu đường, góc phố, người ta đã bán cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh, giữa sao vàng. Cờ may ở đâu nhanh thế? Vải của chúng ta nhập cảng cả đấy Chúng ta đã có những thằng bán thuốc âu Mỹ cho kẻ thù, bán súng đạn cho kẻ thù, chúng ta còn những thằng sản xuất cờ cho kẻ thù nữa. Cờ bán đắt như tôm tươi Kẻ hân hoan chào mừng cộng sản mua cờ, kẻ sợ hãi cộng sản cũng mua cờ. Những người bán cờ trúng mối lớn. Con buôn biết cách khai thác… cách mạng vô sản! Đã nhiều nhà treo hai mầu cờ, hai thứ cờ. Tôi thấm mệt: – Về chứ, Côn? – Tao nghĩ mày nên đi quan sát thêm. – Không đủ sức. Chỗ nào ở Sài gòn chiều nay cũng giống chỗ nào thôi. Chúng tôi trở lại. Tòa Đô Sảnh đã treo cờ kẻ thù. Công viên trước Hạ Viện đã hết náo động. Xác chết của Trung tá Long đã được kéo đi vất ở xó xỉnh nào. Pho tượng thủy quân lục chiến Mỹ đổ rạp nằm úp xuống đất. Chẳng thể diễn tả nỗi ngập ngùi. Chúng tôi cắm cúi bước qua nhà thờ Đức Bà. Giáo đường đóng cửa kín mít. Bưu Điện đã treo hai thứ cờ và giải phóng quân kè kè AK canh gác. Trong khuôn viên Dinh Độc Lập, “nhân dân” đông đầy. Cánh cổng dinh mở rộng, “nhân dân” tự do ra vào, tự do chạy nhẩy, tự do la hét. Và đó là chiêu thức giải phóng đánh đúng tâm huyệt bầy cừu. Người ta có một sự so sánh giản dị: Nguyễn văn Liệu phong tỏa Dinh Độc Lập, cách mạng giải phóng Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập, cái triều đình của những tên cầy cáo, rồi sẽ có một Hồ sơ đầy đủ về nó như một thâm cung cố sử. Thiệu cấm dân lai vãng quanh Dinh. Cộng sản mở bung cho dân vào Dinh. Sư mị dân của cộng sản, ít nhất, đã làm trí thức Lý Chánh Trung bồi hồi, cảm động mà rên rỉ “xin được nhận Hồ chủ tich làm Bác”. Tôi không thích nhìn cái Dinh ấy. Nó mang tên Độc Lập. Không, nó phải mang tên Nô Lệ. Nhưng không thích nhìn Dinh… Nô Lệ – còn nô lệ dài dài – tôi lại phải nhìn cách mạng tuyết hận danh nhân Trương Vĩnh Ký. ở cuối vườn sao góc phố Duy Tân – Thống Nhất, đối diện với hãng xe Peugeot, pho tượng Trương Vĩnh Ký đã bị giật sập. Trương Vĩnh Ký có tội gì với cách mạng vô sản? Kẻ thừa thãi công lao với nền văn hóa Việt Nam, kẻ tiên phong mở đường văn chương quốc ngữ cũng là kẻ thù của cộng sản ư? Người ta sẽ được trả lời ngay khi nghe bài hát này: Ta là người nông dân mặc áo lính chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm* … Từ bốn nghìn năm đã có… cộng sản. Và các nhà nghiên cứu mác xít bảo là cộng sản nguyên thủy. Hùng Vương là kẻ thù của giai cấp vô sản. Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt… đều là kẻ thù của giai cấp vô sản cả. Địa chủ Lê Lợi đã bóc lột giai cấp nông dân kỹ nhất? Thế thì Trương Vĩnh Ký, người đã tích cực đóng góp vào công cuộc làm thăng hoa chữ quốc ngữ để, từ chữ quốc ngữ, cộng sản Việt Nam xử dụng như võ khí tư tưởng mà truyền bá chủ nghĩa của mình, có bị thù hận là… “lô gích” rồi. Với cộng sản Việt Nam, tổ tiên của họ là Karl Marx, là Freiderich Engels, là Lénine… Họ rất nên vô ơn tiền nhân và rất nên thù hận tiền nhân tự bốn nghìn năm. Họ là quắc tế. Họ phủ nhận quốc gia. Những kẻ thân cộng sản làm dáng, những kẻ theo cộng sản ở hải ngoại nghĩ gì về “giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm”? Pho tượng Trương Vĩnh Ký bị giật sập nằm úp mặt xuống đất vườn sao. Cuốn sách trên tay ông chưa bị đập nát. Tôi mở mắt ngắm pho tượng. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi lại nghĩ đến thân phận những nhà văn chống đối tư tưởng mác xít hai mươi năm Sài gòn tự do. Và, hôm nay, khi ngồi viết những giòng chữ này ở thị trấn lrvine của Orange County thuộc tiểu bang California, tôi còn nghĩ đến thân phận những kẻ làm tay sai cho cộng sản Việt Nam trong lãnh vực chữ nghĩa và nghệ thuật. Họ có hiểu vì lý do gì Trương Vĩnh Ký cũng bị xóa bỏ. Và họ, họ là cái thứ gì, giá trị bao nhiêu để hy vọng tồn tại.
° ° °
18 giờ 30. Chúng tôi có mặt ở ngã tư Hiền Vương – công Lý. Quân trang, quân dụng, võ khí vẫn xếp đống ngổn ngang trên vỉa hè. Súng đạn sẵn sàng, thừa mứa, tha hồ lượm mà bắn giết nhau vô tội vạ. Nhưng, người Sài gòn không giết người Sài gòn. Nhiều thanh niên biết xử dụng M16 đã lượm súng, bắn chỉ thiên vung vít. Bắn cho hả giận. Bắn cho quên nỗi nhục. Bắn rồi liệng súng, nước mắt ròng ròng. Thành phố rền vang tiếng đạn nổ chỉ thiên…Chúng tôi thản nhiên đi. Lúc này, vẫn còn nhiều người lính trên đường chạy về nhà mình. Tôi nhận ra những kẻ chiến bại bất đắc dĩ và tội nghiệp ấy, vì họ mình trần, quần xà lỏn, chân đất. Làm sao tôi biết chia xẻ tâm sự uất nghẹn của người lính quốc gia đường chiều 30-4? Những trang sách nào của những ông đại tá, trung tá của Cục tâm lý chiến “không chịu đứng chung đẳng cấp xã hội và văn học nghệ thuật” với người khác đã soi tỏ tâm sự uất nghẹn này? Bầy hạc gỗ của vua Vệ, bọn ý gẩy bút cùn chỉ đủ khả năng xướng họa thơ con cóc và vấy bẩn thiên hạ thì làm nổi trò trống gì mà cũng hiệu hiệu khẩu khí ôm mối thù nặng nghìn cân? Cho nên, chúng ta có hơn một nghìn trang “Việt Nam máu lửa quê hương tôi”, gần một nghìn trang “Hồ sơ dinh Độc Lập”, vẫn còn thiếu một trang viết về người lính buông súng, lột bỏ quân phục chạy về nhà mình tức tưởi, phẫn nộ và lo âu. Chưa bao giờ tôi thấm thía thơ Đặng Trần Côn bằng lúc này:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi Chinh phu, tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn…
Những Tử Sĩ Không Cần Ai Gọi Hồn Xe tăng cộng sản từ Long Khánh qua Gia Kiệm, Hố Nai định ra xa lộ Biên Hòa đã bị chặn đánh tại Tam Hiệp trước lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. “Chiến lũy Tam Hiệp”, phải coi như thế, được sáng tạo bởi một số lính nhẩy dù, lính thủy quân lục chiến mà đại đơn vị đã tan hàng từ đêm 29-4. Họ phối hợp cùng nhân dân tự vệ và dân chúng Tam Hiệp, dùng máy cầy ủi đất đắp mô ụ nghênh địch. Mẩu chuyện này nghe kể và xem những thước phim của đài truyền hình Pháp ghi lại. Trận chiến thật ngắn ngủi nhưng rất anh dũng. Không cần hỏa tiễn Tow của Mỹ viện trợ, không cần không lực Hoa Kỳ yểm trợ. Lúc ấy, người Mỹ đã “cút”, ông đại sứ Martin cũng cuốn cờ sao xọc leo lên trực thăng bay ra hạm đội số 7. Thế giới nên công bình ghi nhận rằng, Mỹ đã “cút”, ngụy đã “nhào”, chỉ còn quân dân miền Nam chiến đấu chống cộng sản xâm lăng. Xe tăng cộng sản phải dừng lại. Chúng nổi giận bắn thẳng vào chiến lũy. Đạn của T-54 khạc tới tấp, khạc không thương xót. Quân dân ta chống trả kịch liệt. Những em nhỏ trên 10 tuổi bám sát các anh lính để được sai bảo. Một em trúng đạn giặc, máu me đầy mặt. Hai anh lính dìu em vào chỗ an toàn, băng bó cho em. Em bé khóc. Khuôn mặt hai anh lính ưu tư. Một hình ảnh đẹp nhất, nhân bản nhất của lính quốc gia. Cuộc chiến vẫn tiếp tục. Những người lính mà tướng lãnh đã bỏ trốn phóng lên phía trước. Đạn thù bắn như mưa. Lính của ta gục ngã trên những vũng máu danh dự, trách nhiệm, tổ quốc. Họ chết hết. Họ yên lòng vì họ thật sự biết họ chết vì tổ quốc, vì dân tộc. Trận chiến kết thúc mau lẹ. Xe tăng cộng sản nghiến lên xác lính của ta, nghiến lên xác của dân ta, san bằng mô ụ. Chúng ngạo nghễ bò ra xa lộ và tiến vào Sài gòn. Bất ngờ, đến cây cầu nhỏ gần nhà máy xi măng Hà Tiên, xe tăng cộng sản bị lính chi khu Thủ Đức chặn đánh thêm. Súng phóng lựu đạn, súng mọc chê, súng đại liên của lính chi khu dũng cảm đã bắn cháy một T 54. Chiến trận cũng không thể kéo dài. Cộng sản làm chủ tình hình và kết thúc lẹ. Chúng khẩn trương chạy vô thành phố. Những người lính nhẩy dù, thủy quân lục chiến và chi khu Thủ Đức đã hy sinh vào buổi sáng 30-4. Họ không cần ai mạc mặt, gọi hồn cả…
Tôi không hiểu, trong Dinh Độc Lập, Dương văn Minh và bọn hàng thần lơ láo đến mức độ nào trước ống kính xấc xược của bọn phóng viên cộng sản và trước những câu hạch hỏi hỗn láo của bộ đội giải phóng cấp tá. Họ có nghe những tiếng súng danh dự, trách nhiệm, tổ quốc của lính văn nghệ diệt T-54 ở cầu Thị Nghè, của lính nhẩy dù cách cổng Dinh Độc Lập chẳng bao xa? Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai người chiến sĩ thủy quân lục chiến Việt Nam họng súng nhắm thằng vào Hạ Viện. Những chiếc loa gắn trên cây cao đã oang oang giọng nói mới chào mừng giải phóng miền Nam. Bài hát Tiến vào Sài gòn ta quét sạch giặc thù muốn rung chuyển thành phố. Nhưng trời vẫn thiếu nắng. Cộng sản đã tiếp thu Đài phát thanh, Bưu điện… Giọng nói cầy cáo của Lý Quý Chung và ca khúc Nối vòng tay lớn không còn nữa. Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lởi hoan hô bộ đội giải phóng. Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng trấn Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Đô trưởng Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia đã đào ngũ. Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhởn sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của trung tá Cảnh sát tên Long. Cộng sản đã chẳng ngu dại phong anh hùng, liệt sĩ cho quốc gia. Họ độc quyền anh hùng, liệt sĩ. Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lãi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế thì thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại gì nhỉ? Nó không chịu, không thích vinh tôn cái thật, đã đành, nó còn nhởn chìm cái thật và vấy bẩn lên cái thật một cách thô bạo, ẩn ý và lạnh lùng. Khi cái thật bị nhận chìm, bị vấy bẩn, cái giả nổi bật, sáng giá và chói lọi, thơm tho. Như vậy, mọi giá trị về tinh thần, về đạo nghĩa bị nhởn chìm theo. Rốt cuộc, bọn giả hình sống với cái giả của chúng, huyễn hoặc mọi người bằng cái giả với bạo lực của quyền uy hợp pháp và cả quyền uy ảo tưởng hậu thuẫn. Và người công chính thụ động, buông xuôi. Cuối cùng, con cháu chúng ta sẽ chỉ biết liệt sĩ đất sét, anh hùng gian dối, vĩ nhân phường tuồng. Tôi muốn biểu dương trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài gòn. ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam anh dũng. Máu trung tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ. Cái chết của trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng thì, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc. Tôi không mấy hy vọng cái chết của trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam lưu vong vì chúng ta còn trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc. – Tôi chứng kiến tự phút đầu. – Ông nói sao? – Tôi nhìn rõ ông ta rút súng bắn vào thái dương mình. – Thật chứ? – Đáng lẽ tôi phải nói dối. – Tại sao? – Vì nói thật lúc này không có lợi. Tôi nghe hai người Sài gòn nói chuyện. Và tôi được nghe “Huyền sử một người mang tên Long” do một trong hai người kể. Truyện như vầy: 10 giờ 30, Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng, quân đội và cảnh sát tuân lệnh Tổng thống, lột quần áo, giầy vớ, nón mũ, vất súng đạn bỏ chạy về nhà mình hay nhà thân nhân của mình. Một mình trung tá Long không lột chiến bào, không phi tang tích huân chương, không liệng súng đạn. Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rõ. ông xuất hiện ở công viên trước Hạ Viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông ta trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta nhìn trước, nhìn sau, ngó ngang, ngó dọc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Khi ấy, Sài gòn đã ồn ào tiếng hoan hô cộng sản giải phóng. Bất chợt, ông ta đứng dậy, chậm rãi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ông ta ngẩng mặt. Thản nhiên, ông ta rút khẩu Colt, kê họng súng vào thái dương mình bóp cò. Tiếng đạn nổ trùm lấp tiếng hoan hô cộng sản. Trung tá Long đổ rạp. – Đó, diễn tiến cái chết của trung tá Long. – Ông có mặt ở đây trước lúc trung tá Long xuất hiện? – Phải. Tôi tuyệt vọng, không thiết về nhà nữa. – Rồi sao? – Dân chúng bu quanh xác trung tá Long. Cộng sản chưa có thì giờ kéo xác ông ta đi. Phóng viên truyền hình Pháp thu cảnh này kỹ lắm. Chỉ tiếc họ đã không thu được cái oai phong lẫm liệt của trung tá Long. Họ đến quá chậm và họ chỉ quay phim một xác chết. ông hãy nhìn cho kỹ. Trung tá Long tuẫn tiết cùng chiến bào, cùng cấp bậc, cùng tên mình. Tôi đã nhìn kỹ. Lịch sử của chúng ta đã có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô đốc Tuyết, Đô đốc Long… Hôm nay, chúng ta có thêm trung tá Long. Những ai sẽ viết lịch sử? Và liệu sử gia đời sau có soi tỏ niềm u ẩn của Trung tá Long chảy máu mắt nhìn quê hương lạc vào tay quân thù mà bất lực cứu quê hương, mà chỉ còn biết đem cái chết tạ tội quê hương, dân tộc. Đã hàng tỉ tỉ chữ viết về những chuyện khốn nạn, viết về những tên khốn kiếp, viết về những sự việc khốn cùng. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Người ta đã viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa xác chết. Người ta cũng đã viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn xác sống. Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Ai đã làm công việc sưu tầm lý lịch đầy đủ của vị liệt sĩ đích thực này? Than ôi, lịch sử đã hóa thành huyền sử. Cho nên người ta nhìn quốc kỳ mà không cảm giác linh hồn tổ quốc phấp phới bay. Chúng ta đang bị sống trong cái thời đại của những ông tướng đào ngũ, của những ông tổng trưởng đào nhiệm không hề biết xấu hổ. Thời đại của chúng ta còn đòi đoạn ở chỗ, kẻ sĩ và kẻ vô lại đồng hóa trong “lý tưởng” nguyền rủa xác chết và suy tôn xác sống. Xưa, Hàm Nghi 8 tuổi, hỏi cận thần: – Tay bẩn lấy gì rửa? Cận thần đáp: – Nước. Hàm Nghi hỏi thêm: – Nước bẩn lấy gì rửa? Cận thần ngơ ngác: – Tâu bệ hạ, thần không hiểu. Hàm Nghi nói: – Nước bẩn lấy máu mà rửa! Trung tá Long đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính nhẩy dù đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính văn nghệ đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Những kẻ tạo ra ô nhục 30-4 lấy gì nhỉ? Họ đang cầm ca, cầm đĩa xếp hàng ngửa tay lấy cơm, lấy nước ở đảo Guam. Biết đâu chẳng xẩy ra tranh cơm như tranh quyền bính. Và biết đâu chẳng bị ông quân cảnh Mỹ đen tặng một vài cái tát xiếc! Những kẻ này vẫn thừa thãi vô liêm sỉ để họp bàn, hiến kết cứu nước. Lịch sử lại thêm vài phụ trang chó đẻ. Giải phóng quân đã đổ đầy trước thềm Hạ Viện. Cỏ đuôi chó hoan hô tưng bừng. Dân chúng chiêm ngưỡng Trung tá Long tản mạn. Trung tá Long nằm nguyên chỗ ông ngã rạp cho máu rửa nhục Sài gòn. Giã từ liệt sĩ! Vĩnh quyết liệt sĩ. Xin hãy phù hộ tôi kéo dài cuộc sống hèn để có ngày được viết vài dòng về Trung tá. Đặng Xuân Côn và tôi qua Hạ Viện. ở đây, chỉ có bộ đội của Mặt trận giải phóng miền Nam mà người ta quen gọi là quân giải phóng. Quân giải phóng mặc quần áo bà ba, quấn khăn rằn, đội mũ tai bèo, chân mang giép râu. Nhiều người mặc quần xà lỏn. Bộ đội miền Bắc mặc đồng phục, đội nón cối, mang giép râu luôn. Quân giải phóng treo cờ Mặt trận, thay thế cờ vàng ba sọc đỏ. Khi lá cờ của Việt Nam cộng hòa bị vất xuống, cỏ đuôi chó bày tỏ lòng căm hờn Mỹ-ngụy, xúm nhau giành giật, xé nát. Có đứa dẵm dí dưới chân mình. Có đứa quấn quanh hạ bộ. Bây giờ, tôi đã nhận diện cỏ đuôi chó. Chúng nó là sinh viên ồn ào xuống đường tranh đấu năm xưa. Chúng nó là mấy thằng ký giả thân cộng sản. Chúng nó cách mạng hơn cách mạng. Chúng nó giải phóng hơn giải phóng. Truyền hình Tây Đức thu hết cảnh tượng này. Cỏ đuôi chó ôm quân giải phóng hôn hít thắm thiết, đưa thuốc lá mời mọc vồn vã, chuyện trò thân mật. Tôi cố gắng quan sát và chỉ quan sát giải phóng quân. Trên thềm Hạ Viện, một gã giải phóng quân béo tròn trùng trục. Anh ta để ria. Mặt mày nở nang, phấn khởi. Mặc quần xà lỏn, chân đất, anh ta đeo hai giây đạn tréo trước ngực như Django. Chưa đủ, anh lính giải phóng máng hai khẩu Colt trễ xuống gần đầu gối. Trông anh ta hề như Fernando Sanchoz. Đó là hình ảnh người lính giải phóng không đội mũ tai bèo. Rõ ràng một thứ thảo khấu. Giải phóng quân vào thành phố còn đeo lá cây ngụy trang. Tôi nhìn những quả đạn B-40, B-41, những quả đạn này đã thụt sập nhiều nhà cửa, đã sát hại vô số lương dân hồi Mậu Thân. Người Sài gòn chưa quên một đám tang tập thể. Những chiếc quan tài khiêng qua khắp đường phố. Lúc này, người Sài gòn đứng đây, ngẩn ngơ nhìn cỏ đuôi chó “ôm hôn thắm thiết” những kẻ đã âm mưu giết mình. Tôi vừa hiểu tại sao hôm nay Sài gòn không có nắng. Nếu tôi có thể có mặt ở khắp đầu đường, góc phố, xó chợ, gầm cầu Sài gòn hôm nay? Không ai có thể có cái có thể này. Tự nhiên, tôi cảm giác mình được an ủi vì đã được sống với Sài gòn từng phút giây buồn bã của Sài gòn 30-4. Tự nhiên, tôi cảm giác trời đất cũng chia xẻ nỗi buồn Sài gòn. Có tiếng la hét ở công viên nơi Trung tá Long tuẫn tiết. Chúng tôi chạy sang, đứng trước cửa Sài gòn ngân hàng.
° ° ° Một nhánh cỏ đuôi chó, tên lính sư đoàn 304, leo lên tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam. Nó buộc hai sợi giây cáp vào cổ hai pho tượng. Nó siết chặt, kỹ lưỡng. Nó dùng cái búa bổ mạnh trên đầu pho tượng cao nhất. Cỏ đuôi chó hồ hởi phấn khởi reo hò. Ống kính điện ảnh của cộng sản thu kỹ cảnh này, cảnh mà họ đã dàn cảnh. Phóng viên truyền hình Pháp, Mỹ, Đức, Nhật… quay không tiếc phim. Phía dưới, cỏ đuôi chó, búa dài, búa ngắn chuẩn bị đập phá tượng đài. Xác Trung tá Long đã được kéo lết ra xa. Vũng máu bất khuất của ông chưa kịp khô. Khi tên cỏ đuôi chó ở trên tụt xuống, cỏ đuôi chó ở dưới xúm nhau lại đập nát chân hai pho tượng Cộng sản thuyết minh là “nhân dân Sài gòn đã biểu lộ lòng căm thù Mỹ-ngụy cao độ.” Rồi tất cả cỏ đuôi chó kéo hai sợi giây cáp Pho tượng thủy quân lục chiến từ từ ngã rạp. Cỏ đuôi chó vỗ tay, hoan hô cộng sản. Truyền hình Pháp diễn giải: “Biểu tượng của miền Nam sụp đổ.” Vỗ vai tôi, Côn nói: – Đi chỗ khác, Long.
Tôi hỏi: – Đi đâu? – Đi đâu không có cảnh ô nhục này. – Phải ở đây mà nghiến răng nuốt nhục. Tôi không biết đã có người lính thủy quân lục chiến nào chứng kiến cảnh tượng này. Tôi cũng không biết ông tướng Lê Nguyên Khang, ông tướng Bùi Thế Lân đã xem những thước phim giật đổ tượng đài thủy quân lục chiến mũi súng nhắm thảng Hạ Viện chưa. Rất bất bình với tượng đài khi người ta dựng lên. Thủy quân lục chiến, những người lính của dân tộc, của tổ quốc, của quê hương như tất cả lính của các binh chủng khác, đã bị bọn ngu xuẩn nịnh bợ chế độ quân phiệt độc tài dùng làm bình phong đe dọa lập pháp, chế ngự dân sự. Tại sao họng súng nhắm thằng Hạ Viện? Lúc này, 16 giờ thiếu 10 phút, đứng ngắm hai pho tượng ngã gục, nứt vỡ, tôi quên bất bình cũ. Và cứ tưởng những nhát búa bổ xuống đầu pho tượng là những nhát búa bổ xuống đầu mình. – Đã có những ông tướng đào ngũ nuốt nhục giùm mày bên Mỹ. – Bọn bất tri vong quốc hận ấy nuốt gì? Chúng nó đã nuốt máu xương của lính, chúng sẽ tiếp tục nuốt tiền bán xương máu lính. Lảng chuyện, Côn hỏi tôi: – Trong Dinh Độc Lập có gì lạ? Tôi dịu giọng: – Có gì lạ? Tôi đang muốn biết đây…
Hàng Thần Và Hàng Thần Bất Đắc Dĩ Cuốn phim tài liệu của cộng sản nhan đề Tháng 5, những khuôn mặt do Đỗ Chu* viết lời thuyết minh, chiếu ở các rạp Sài gòn ngay trong tháng 6-1975 đã khiến dân Sài gòn buồn nôn. Nó mở ra bằng cảnh trống vắng của phòng họp của Hội đồng An ninh Quốc gia trong Dinh Độc Lập. Nó vào bằng cảnh triều đình Dương văn Minh quy hàng. Rồi nó bung ra những xóm lao động tăm tối trước tháng 4-1975. Nó giới thiệu đầy đủ khuôn mặt cỏ đuôi chó buổi sáng một tháng 5-1975. Những chủ báo nào vác cờ đỏ sao vàng. Những nhà văn nào căng khẩu hiệu chào mừng cách mạng… Mẩu bài này chỉ viết về những khuôn mặt hàng thần bất đắc dĩ. Khuôn mặt thứ nhất là tiến sĩ Nguyễn văn Hảo, phó Thủ tướng đặc trách Kinh tế, Tài chính kiêm Tổng trưởng Canh nông của nội các Trần Thiện Khiêm. Tiến sĩ Nguyễn văn Hảo đã mất hết chức tước từ khi Nguyễn văn Thiệu thoái vị, nhường ngôi cho thầy giáo Trần văn Hương. Nội các Nguyễn Bá Cẩn không có tiến sĩ Hảo. Nội các Vũ văn Mẫu không có tiến sĩ Hảo. ông tiến sĩ họ Nguyễn đã quá xa “chính quyền” bằng hai đời… Tổng thống. Tại sao ông ta lại có mặt trong đám hàng thần lơ láo ở Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975? Truyện kể rằng, tiến sĩ kinh tế Nguyễn văn Hảo và thống đốc ngân hàng Lê Quang Uyển đem bầu đoàn thê tử leo lên nóc ngân hàng Việt Nam Thương Tín, đường Hàm Nghi, từ sáng 29-4. Đây là điểm hẹn của người Mỹ. Tiến sĩ Hảo và thống đốc Uyển tin chắc người Mỹ không thể, không nỡ bỏ rơi hai ông. Hai ông kiên nhẫn chờ đợi. Sáng qua, trưa tới, tối đến… Trực thăng Mỹ vẫn chưa đến. Sao không thấy em lại? Tiến sĩ Hảo và thống đốc Uyển chơi một đêm không ngủ trên nóc ngân hàng Việt Nam Thương Tín. 9 giờ ngày 30-4, biết chính xác bị người Mỹ cho đi tầu suốt, hai ông dắt díu bầu đoàn thê tử xuống đường. Thống đốc Lê Quang Quyền về nhà lo sợ biển máu. Rồi ông trình diện học tập cải tạo. Trại cuối cùng của ông là Hàm Tân Z30D. ở đây, thống đốc Uyển đã nổi tiếng là người phá kỷ lục ăn thịt chuột. Ông ăn đủ các loại chuột. Chẳng hiểu sự ăn chuột có giúp ông soi sáng nghĩa đời hôm nay, khi ông hiển vinh tại Kuweit? Tiến sĩ Nguyễn văn Hảo không về. ông bảo bà Cao thị Nguyệt về căn nhà đầu đường Miche, gần nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi và bà vợ nhỏ về căn nhà đường Yên Đổ. Còn ông tiến sĩ Hảo chạy vô Dinh Độc Lập làm hàng thần lơ láo. Mưu của tiến sĩ Hảo rất cao. ông sẽ thoát biển máu vì quốc tế chứng kiến ông “hàng” ở Dinh Độc Lập. Cộng sản khó thủ tiêu ông ta. Có thể, cộng sản còn đánh giá cao cái thiện chí… hàng của tiến sĩ Hảo. Y trang. Tiến sĩ Hảo, nhờ khuôn mặt nghiêm túc trong những thước phim Tháng 5, những khuôn mặt mà sau 30-4 lại phom phom mặc sơ-mi hoa hòe hoa sói lái DS-19 chạy rông trên nỗi quằn quại của Sài gòn. ông ta tiếp tục chơi ten-nít ở sân quần vợt Duy Tân, Hồng Thập Tự. Rồi ông ta ra Bắc tham quan và nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Rồi cùng tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, ông ta giúp Võ văn Kiệt “mở bung kinh tế” thành phố Hồ Chí Minh. Rồi ông ta leo lên Air France… di tản – cũng có thể gọi là tỵ nạn chính trị – và được phép mang theo cả trăm chiếc áo dài thêu sẵn làm vốn lưu vong. Hàng thần lơ láo “tỵ nạn chính trị” bên Pháp có Dương văn Minh, Nguyễn văn Hảo. Dương văn Minh còn biểu diễn xé giấy thông hành qua cửa phi trường Tân Sơn Nhất do cộng sản cấp phát khi máy bay của Air France sắp đáp xuống Charles de Gaulle! Nguyễn văn Hảo thì tiết lộ Nguyễn văn Thiệu đã ăn cắp vàng của quốc gia mang theo. Tự nhiên, hàng thần lơ láo đổi màu như kỳ nhông, biến thành những người yêu nước chống cộng. Nguyễn văn Hảo tình nguyện làm hàng thần lơ láo thì được, vì ông ta đã từng là phó thủ tướng. Nhưng nghị sĩ Nguyễn văn Huyền sao cũng cam đành làm hàng thần? Ông ta do dân bầu. Dân đâu có hàng giặc. Dân đâu có thua trận. Nghị sĩ Huyền mình hạc vóc mai không thể leo lên hàng rào phi trường Tân Sơn Nhất được. Ông ta trở về. Thay vì đợi số phận mình chìm trong biển máu hay đem tấm thân già tạ lòng cử tri, ông ta vẫn tham sinh bon chen vào đám hàng thần. Rồi ông ta cũng đã chết già, chết bệnh. Cái chết của ông không để lại một ý nghĩa sống nào cho đời sống kế tiếp. Rốt cuộc, những vạt nắng óng lên trong hoàng hôn của lịch sử hiu hắt Sài gòn chỉ là máu lính văn nghệ cầu Thị Nghè, máu lính nhẩy dù đại lộ Thống Nhất, máu Trung tá cảnh sát Long dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.
Sáng hôm nay, khi người cận vệ lễ mễ đưa cái khay ăn sáng có mấy tờ báo
đến bên giường, Capone suýt nữa thì kêu lên một tiếng kinh ngạc. Cặp mắt ngái ngủ đỏ ngầu vì những ly rượu cognac uống tối qua đang lim lim bỗng trợn tròn lên. Đù mẹ mới sáng sớm mà sao đã có chuyện lạ lùng như thế này? Xếp ngồi bật dậy như một cái lò xo, chăm chú nhìn vào hàng tít lớn chạy dài trên tờ Chicago Tribune:
“Ness đã đổi giọng sau khi bị mưu sát: Việc hành quân cảnh sát tại Chicago đã trở nên không còn cần thiết nữa … ” Dưới đó là tấm hình chụp thanh tra Ness và Malone đang đứng nói chuyện với báo chí ngoài cửa ty cảnh sát Chicago. Khuôn mặt Ness có vẻ rất thành khẩn. Tờ Chicago Evening News chạy một hàng tít hấp dẫn hơn, chẳng úp mở gì cả: “Nobody is untouchable … for ever!”. Tờ Chicago Daily News:
“Câu “I come here to get Capone” đã trở thành chuyện của dĩ vãng … ” Tờ Chicago Time: “Sợ chết hay ham tiền: Thanh tra Ness thay đổi chiến thuật làm việc … “
Đã từ lâu, Al Capone chưa bao giờ bước vào nhà thờ nhưng như mọi người
công giáo khác, hắn luôn luôn tin tưởng vào những phép lạ nhiệm mầu của thiên chúa. Đây có phải là một phép lạ chúa đã làm cho thằng Capone tội lỗi ngập trời này chăng? Thì thánh kinh chẳng thường bảo là thiên chúa độ lượng từ bi vô cùng đó sao. Cuộc đời mình dù tội lỗi lớn đến đâu, dưới cái nhìn từ bi hỉ xả của chúa thì cũng trở nên … nhẹ hìu. Lạy chúa, nếu thật đây là một phép lạ thì con xin cám ơn chúa. Trong một giây phút cảm động, xếp Al Capone làm mặt nghiêm trang, hướng cặp mắt thành khẩn biết ơn nhìn ra ngoài khung cửa sổ, nơi có hình cây tháp chuông nhà thờ mờ nhạt in lên bầu trời nhỏ …
Capone lật lia lịa qua những tờ báo khác, và càng lật thì càng thấy … thống
khoái trong người. Báo nào cũng đăng một câu chuyện giống nhau: Ness họp báo tuyên bố là hắn sẽ không còn mở những cuộc hành quân cảnh sát như đã làm trong mấy tháng qua nữa. Hắn thú nhận và lấy làm tiếc vì đã có hơi nặng tay khi đối xử với các tay anh chị ở Chicago. Chà, coi sao mà thấy đã quá chừng. Tất cả mọi nhân viên của Capone bị bắt trong các cuộc bố ráp vừa rồi sẽ được trả tự do nội trong ngày …
Khi được báo chí hỏi tại sao lại có một cuộc đổi hướng 180 độ ly kỳ như
thế này, Ness nhún vai:
-Dù tình hình có bết đến đâu đi nữa, các ông nên nhớ là chúng ta đang
sống trong một quốc gia tự do nhất thế giới. Tất cả mọi người công dân đều được coi là vô tội cho đến khi nào họ bị chứng minh là có tội.
-Xin ông cho biết chương trình hoạt động trong tương lai?
-Chúng tôi không có “thói quen” thông báo trước những việc mình sắp làm.
-Tôi có thể coi như là các ông sẽ đổi chiến thuật không? Hay đây là một
cuộc đầu hàng như bao nhiêu cuộc đầu hàng khác đã xảy ra tại Chicago này?
-Tôi đã nói, tôi không có thói quen bàn về những việc mình làm, xin ông
nhà báo miễn cho câu trả lời về vấn đề chiến thuật này. Về vấn đề đầu hàng hay không, tôi nghĩ mỗi người đều có quyền phán đoán riêng của mình. Quí ông muốn nghĩ sao cũng được, tôi không có ý kiến.
Phóng viên một tờ báo khác xía vào:
-Có phải ông “lạnh cẳng” vì cuộc tấn công vừa rồi của bọn Capone không?
Nếu vậy thì danh tiếng “Ông thanh tra Eliot Ness, The best Cop of America” có phải một lời tâng bốc ông quá đáng không?
Ness cười:
-Cẳng tôi lạnh từ trước khi đặt chân xuống Chicago chứ đâu phải chờ đến
lúc chết hụt rồi mới lạnh. Còn vấn đề tôi có phải là “The best cop” hay không, tên đó do chính giới nhà báo đồng nghiệp của mấy ông ở New York đặt cho tôi thì mấy ông phải ráng mà “sống với nó”. Tôi không có ý kiến.
-Ông nhắm có thể diệt nổi Capone như đã hứa ngày nào không?
-Hồi đó, phải thú nhận là trong giây phút nóng giận, tôi tuyên bố hơi ẩu.
Bây giờ tôi mới biết là diệt Capone không phải là chuyện dễ dàng như mình nghĩ.
-Nhưng sao hôm đó ông ăn nói chắc ăn vậy? Ông nhắm là có diệt nổi không?
Ness lắc đầu:
-Tôi không biết. Nhưng vấn đề đặt ra là tôi xuống đây để bảo vệ luật pháp
chớ không phải để tiêu diệt ai cả. Mọi người công dân đều sẽ được tôn trọng công bằng trước luật pháp. Mọi vấn đề, mọi khó khăn đều có nhiều cách để giải quyết với sự hiểu biết của mọi phía …
Xếp Al Capone đọc đi đọc lại câu “Mọi khó khăn đều có thể được giải
quyết với sự hiểu biết của mọi phía … ” Bài báo còn dài nữa nhưng xếp không có thì giờ đọc hết. Xếp lật qua trang 16 của tờ Chicago Tribune, nơi thường đăng những bài bình luận nóng bỏng nhất Chicago của cây viết Ferguson.
Đúng như xếp nghĩ, bài bình luận của thằng phóng viên này dài đến hai trang chỉ nói về “Biến cố Eliot Ness”. Trước hết, hắn phân tích tình hình từ lúc trước
và sau khi Ness xuống Chicago. Thằng lỏi này viết thật hấp dẫn, với những tin tức không biết nó lấy được ở đâu mà xếp cũng phải công nhận rất là chính xác. Hắn cũng không quên chi tiết Malone trong tờ báo. Và đoạn kết luận như thế này:
“Thành phố Chicago của chúng ta từ bao lâu đã nổi tiếng khắp hoàn cầu là
một thành phố ăn chơi nhất thế giới. Chuyện này tốt hay xấu còn tùy theo quan
niệm của mỗi người. Có một điều chắc chắn mà người dân Chicago ai cũng phải đồng ý là thành phố chúng ta giàu hơn nhiều thành phố khác trong thời đại kinh tế khủng hoảng này. Tỉ số thất nghiệp chính thức và không chính thức vẫn luôn luôn ít hơn các nơi khác. Rồi bỗng một ngày, thanh tra Eliot Ness xuất hiện. Người cảnh sát cô đơn và kỳ lạ này đã làm được nhiều việc mà xưa nay chưa ai làm nổi. Trong mấy tháng qua, chúng ta đã thấy nhiều sự thay đổi ở Chicago. Thay đổi để trở thành tốt hơn hoặc xấu hơn thì chưa ai biết nhưng chúng ta đã nhìn thấy nhiều thay đổi.
Hầu như không ai nói với ai, nhưng mọi người dân ở Chicago đều chờ một sự thay đổi to lớn cuối cùng sẽ xảy ra. Sự thay đổi này sẽ làm đảo lộn tất cả những nếp sống của chúng ta …
Nhưng cho đến ngày hôm nay, sau cuộc nói chuyện của ông thanh tra Eliot
Ness với báo chí, người ta mới thất vọng khi khám phá ra rằng, sự thay đổi mà mọi người đang chờ đợi đó chính là cuộc họp báo ngày hôm nay.
Vậy thì các bạn ta hỡi, xin hãy cùng nhau nâng ly mà uống cho sự thay đổi
to lớn cuối cùng này … “
Cứ theo bài bình luận mà suy đoán, dù vô tình đến đâu cũng phải công
nhận rằng khi một thằng cảnh sát hung dữ như thằng Ness mà bắt bắt đầu xuống giọng như thế kia thì nhất định là nó muốn nói chuyện thương lượng rồi. Sự suy nghĩ của bộ óc một ông trùm mafia thành công nhất và giàu có nhất thế giới dừng lại nơi đây. Xưa nay thằng phóng viên kiêm bình luận gia Ferguson đâu có bao giờ đoán trật.
Xếp thở phào một cái, sửa lại thế ngồi, vừa nghiền ngẩm mấy bài phóng sự
vừa cố gắng sắp xếp lại mớ tư tưởng ngổn ngan trong đầu mình. Đù mẹ đây thật là một chuyện nhức đầu, dù là cái nhức đầu thống khoái. Chuyện gì xảy ra đây kìa?
Xếp vừa mất ăn mất ngủ khi nghe tin thằng Ness mới có thêm được bàn tay sắt về đầu quân dưới trướng. Mới cách đây mấy ngày, Capone còn sợ bóng sợ gió thằng Malone nên đã tăng cường thêm hai ba lớp cận vệ trong ngoài để đề phòng cái vụ “bước vô phòng ngủ bỗng thấy nó ngồi lù lù một đống trên giường mình” như nó đã làm với thằng Weiss ngày nào, sao bây giờ tự nhiên chúng nó lại bắn tiếng là “touchable” cho cả thế giới biết? Mà chúng nó có chịu ăn tiền thật sự không hay đang âm mưu chuyện gì? Có thể nào thằng phóng viên Ferguson lầm chăng? Cứ nhìn cái bản mặt lì lợm, cặp mắt sáng quắc như sao băng của thằng Ness mà lý luận thì nó không phải là dân sợ chết hay bỏ cuộc nửa chừng. Mà hình như trong tia mắt nó, nhìn kỹ ra, còn có cái gì bí ẩn lắm, dù là qua tấm hình chụp đen trắng của tờ nhật trình. Chỉ một mình nó mà mình đã ngất ngư khốn đốn rồi, giờ thêm thằng Malone thì chúng nó phải làm dữ hơn mới đúng, có đâu lại bắn tiếng muốn thương lượng như thế này? Thêm một chi tiết cần phải nghĩ đến nữa, thằng cảnh sát Malone xưa nay nổi tiếng khắp Chicago là có nhiều quỷ kế, không thể không đề phòng được.
Xếp lắc đầu, nhảy xuống khỏi giường, khoắc cái áo choàng vào rồi làm
dấu cho thằng cận vệ rót một ly rượu. Ôm chồng báo ra ngồi nơi cửa sổ, cho mớ ánh sáng buổi … gần trưa ùa vào mặt mình, xếp tiếp tục suy nghĩ. Hay có thể là chúng nó cần tiền thật? Ai biết được. Thói đời thường là như vậy. Lúc mới nhận công tác và bị thằng Frank Nitti lừa cho một vố thì nổi khùng lên, tuyên bố bậy bạ, nhưng sau khi chết hụt vài lần thì sự suy nghĩ có thể … trưởng thành để trở thành hợp lý hơn.
Trong quá khứ, đã có biết bao nhiêu thằng cớm, bao nhiêu ông quan tòa thay lòng đổi dạ nửa chừng như thế này. Mà nghĩ cho cùng, nếu diệt được thằng Capone này thì nó được gì nhỉ? Capone chỉ là một công tác trong hàng trăm ngàn công tác mà thằng cớm phải thi hành. Hết Capone này, nó sẽ còn có nhiều thằng Capone khác ở khắp nơi trên đất Mỹ để lo đối phó cho đến già. Nếu thành công, có thể chính phủ sẽ thưởng cho nó một lá thơ khen tặng để người nhận có thể trang trọng đóng khung treo trên tường dợt le với thiên hạ. Cũng có thể thăng nó lên một trật, lương mỗi tháng sẽ thêm được năm mười đô la. Lá thơ khen tặng của xếp lớn hay của cả tổng thống Hoa Kỳ thì tốt thật đó, thằng công chức nào chả ham nhưng về già túng quẩn đâu có đem nó ra bán mà kiến tiền xài được. Mà dù được thăng cấp thì số lương chết đói công chức nhà nước cũng chỉ tăng vài đồng đủ tiền để hút thuốc lá vặt. Báu bổ mẹ gì. Nhưng ngược lại, nếu nó chịu thò tay ra nhận tiền của mình, nước Mỹ cũng chẳng xấu đi chút nào, chẳng yếu đi chút nào mà 200 ngàn đô la lại chui vào nằm ngoan ngoãn trong túi nó. 200 ngàn đô la là một số tiền rất to lớn, có thể bảo đảm một cuộc sống vương giả cho bất kỳ ai. Capone tưởng tượng ra cảnh thằng cớm Ness sáng sáng diện đồ đẹp, miệng ngậm xì gà, lái xe Cadillac mới tinh đi đánh
Golf ở một hội quán sang trong nào đó. Ái chà, thằng Ness này quả có tướng điển trai, ăn mặt bình dân rẻ tiền như vậy mà người ta coi đã thấy muốn lé mắt rồi, nó mà diện đồ đẹp nữa vào thì đàn bà con gái dám phải bỏ cả chồng con để đi theo nó lắm.
Về khoảng nào không biết chứ cái khoảng này thì mình đành chịu thua nó …
Xếp Al Capone ngã người ra sau, mắt nhắm nghiền lại, tiếp tục suy nghĩ.
Mà 200 ngàn đâu phải đã hết. Ai cũng biết Capone này xưa nay tính tình rộng rãi. Cứ việc hỏi mấy thằng bồi hầu bàn, mấy thằng đánh giày, mấy thằng đứng gác cửa nhà hàng thì biết. Có bao giờ xếp cho tiền ai mà xài giấy bạc nhỏ hơn giấy 20 đô la đâu. Gặp những khi xếp vui vẻ thì giấy trăm là chuyện thường. Có khi giấy trăm mà xếp còn đi “ra phan” một lần hai ba tờ mới là kinh khủng. Xếp khoái nhìn cái bộ mặt nghệt ra như mấy thằng ngố của những người nhận ân huệ. Tiền trên trời tự nhiên rớt vào tay mình một lần hai ba trăm đô la thì không ngệt ra sao được. Chưa nổi điên đã là hay. Mỗi tháng chỉ cần hầu hạ xếp Al Capone một lần thôi thì số tiền kiếm được cũng hơn tiền lương gấp mấy lần. Đó, xếp đã rộng rãi như vậy thì nói gì 200 ngàn, cả đến tiền triệu xếp cũng không tiếc. Nếu thằng Ness này biết điều, khi hết nhiệm kỳ trở về Hoa Thịnh Đốn, không chừng số tiền trong nhà băng của nó có thể lên đến con số triệu …
Capone uống cạn ly rượu. Phải đồng ý ở một điểm là dù nó làm giả hay làm thiệt thì con đường chiến lược trước mặt của mình ngày hôm nay đã đi sang một khúc rẻ mới. Nếu nó thực lòng, mình đỡ được một gánh nặng. Vừa nghĩ đến đây, mắt xếp bỗng long lên xòng xọc, cặp môi mím lại, hai bàn tay nắm chặt vào nhau. Phải, nếu thằng Ness thật lòng thì bọn Do Thái khốn nạn O’ Bannon đã tới giờ đền tội. Hãy biết đến đó đã, xếp ngừng sự suy nghĩ của mình với bọn Do Thái tại đây, không đi xa thêm nữa. Xếp không muốn nổi điên vào một buổi sáng đẹp trời như thế này.
Còn nếu bọn thằng Ness âm mưu một chuyện gì đó, không muốn ăn tiền
thật thì sao? Chuyện này đâu có gì khó nghĩ kìa? Thì mình cứ tiếp tục theo chiến lược cũ đã soạn thảo mà thi hành. Bản án tử hình xếp đã ký và đã ban hành. Chính thằng Frank Nitti nhận trách nhiệm lo vụ này. Nội trong ngày hôm nay, thế nào cũng có tin báo về thằng Ness bị chết thảm. Mà cũng có thể là giờ này chúng nó chết rồi cũng nên. Đây chỉ là đòn tuyệt vọng cuối cùng, xếp nào có muốn vậy, nhưng xếp đâu có lựa chọn nào khác hơn?
Một thằng cận vệ tiến tới sau lưng xếp với cái khay có đựng thức ăn sáng:
-Ông phụ tá Guzick nhắc với xếp là một giờ trưa nay có cái hẹn với thượng
nghị sĩ Phil. Kính mời xếp ăn sáng để còn kịp.
Capone tỉnh hẳn người khi nhớ đến cái buổi hẹn trưa nay với ông Thượng
nghị sĩ. Có phải thiên chúa đã ban phép lạ xuống cho mình qua tay ông thượng nghị sĩ mê gái này không? Thượng Nghị Sĩ Phil. Đúng! Muốn biết bọn thằng Ness định ăn tiền hay không, chỉ cần hỏi lão là biết liền chớ gì. Chuyện lão nhờ mình, mình đã làm xong, còn chuyện mình nhờ lão, sao tự nhiên lại quên bẳng đi kìa? Mình có nhờ lão can thiệp thẳng với cấp cao nhất của bộ tài chánh để làm áp lực triệu thằng Ness về. Không móc nó về được nhưng nghe nó bắn tiếng muốn đầu hàng như vậy, phải chăng là cuộc vận động ngầm đã có kết quả? Có thể lắm.
Xếp dở cái nắp đậy của khay ăn sáng, nhìn vào rồi nhăn mặt lắc đầu, xua
tay:
-Mày nói với ông phụ tá Guzick gọi thằng Frank Nitti lên đây tao cần bàn
chút công chuyện rất gấp. Nói ổng qua đây gặp tao luôn.
Thằng cận vệ xoay người ôm khay thức ăn bước đi. Xếp tới bên giường vỗ
vào mông con đào Kathy một phát:
-Dậy đi cưng. Dậy rửa mặt rồi rút xuống nhà hàng ngồi chờ anh. Tối anh
lại xuống. Ông phụ tá Guzick qua đây liền bây giờ, anh có chuyện muốn bàn. Guzick bước vào phòng xếp khi xếp vừa mặc xong bộ đồ veste. Mẹ, quần
áo gì mỗi tháng thay một lần mà càng ngày cứ càng chật ra. Bộ nào thích lắm cũng chỉ mặc được có vài ba lần, sau đó là cho nó đi thẳng một đường vào cái thùng nhận quần áo phước thiện của nhà thờ St. Joseph để dưới lầu. Xếp tính nhẩm, giá tiền may một bộ quần áo xoàng nhất là 200 đô la, trong khi lương công chức hạng nhất của chính phủ chỉ có 35 đô la một tuần thì đâu phải rẻ. Mà có tháng nào xếp may ít hơn 5 bộ? Hao quá nhưng đối với xếp, tiền không phải là một vấn đề quan trọng. Ăn mặc sao cho đẹp đẻ đúng điệu “Xếp Al Capone”, đúng thời trang mới là quan trọng.
Xếp chỉ ghét cái màn chọn lựa màu sắc và cân đo. Mất thì giờ quá. Để cho chúng nó chọn thì xếp không vừa lòng mà chọn lấy thì mất không biết bao nhiêu là thì giờ. Nhưng con người xếp nó có cái tật thích làm dáng như vậy. Không phải lên chức “Xếp Al Capone” rồi mới thích mà kể từ ngày mới vào nghề, ôm súng đứng gác động đĩ, tiền kiếm được bao nhiêu đều đổ vào túi mấy ông thợ may hết …
Xếp chỉ vào cái ghế rồi nổi hứng lên, tự tay mình pha lấy cho ông phụ tá
Guzick một ly rượu:
-Ông có đọc tin tức sáng nay chưa?
Gì mà không đọc. Guzick còn đọc sớm hơn xếp cả mấy tiếng đồng hồ, từ
lúc 6 giờ sáng, khi xếp đang còn nằm ngủ gáy pho pho. Nhìn bộ tịch hớn hở của xếp, Guzick phần nào đoán được lý do:
-Thưa đã. Ông Oliver Randall cũng có gọi điện thoại cho tôi, cho biết là
Eliot Ness muốn thương lượng để lấy tiền lại …
Sao mà lẹ vậy kìa. Tiên sư cái thằng cớm cô hồn này. Đi bắt rượu thì mau
không ai bằng mà muốn thò tay ra nhận tiền cũng lẹ làng không kém. Capone mỉm một nụ cười khoái trá. Như vậy là bọn cớm … du đãng này đương không bỗng quay một vòng để đổi hướng đi thật rồi. Xếp lẩm bẩm: “Có thể như thế được sao, có thể như thế được sao … ” Xếp tự tay rót thêm cho mình thêm một ly rồi ngồi xuống ghế, nhìn Guzick:
-Ông thấy mình có nên uống mừng cái chuyện này hay không?
Guzick biết thế nào xếp cũng hỏi câu hỏi này. Thật ra, với đầu óc tính toán
xa cả hàng trăm năm trước của một người Do Thái, Guzick biết lúc nào nên mở
miệng, lúc nào không nên cho ý kiến mà chỉ làm tròn bổn phận của một người quản lý tài chánh của đế quốc Al Capone. Chuyện gì cũng có thể góp ý được hết nhưng những chuyện đại quan trọng có ảnh hưởng đến vấn đề sống còn của đế quốc như thế này thì không nên dính vào. Nếu nó bảo với xếp là thằng Ness hàng thật, mai mốt nhỡ thằng Ness trở mặt, quất lại một cú thì trách nhiệm đó không phải là nhẹ và tương lai có thể bị “ảnh hưởng nặng nề”. Với cái tánh nóng như lửa của xếp Al Capone thì không chừng còn có thể bị mất mạng như chơi. Một thằng Do Thái ở trong đám đầu trâu mặt ngựa rặt toàn máu Ý trong huyết quản không thể không đề phòng. Hơn nữa, consiglerie thời chiến là thằng Frank Nitti chứ không phải Guzick.
Tổ chức làm ăn và hốt bạc thì không ai qua nổi Guzick, nhưng nói về quyết định chiến hay hoà thì Guzick không muốn cho ý kiến. Nó biết sở trường và sở đoản của mình.
– Trình với xếp, cái vụ này thì chắc xếp nên hỏi thằng Frank Nitti.
Xếp Al Capone cố giấu một cái cau mày. Nếu nó là một thằng gốc Ý chính hiệu thì chắc xếp đã chửi thề rồi. Xếp muốn tỏ ra chút ít kính trọng với một
thằng … Do Thái có học. Mới hôm nào đây nó khuyên mình là “Bắn hụt thì phải lắp tên bắn mũi thứ hai liền”, sao bây giờ lại có cái màn lửng lơ con thuyền như vậy?
Xếp cụt hứng, nói bâng quơ, không nhìn ông phụ tá tài chánh:
-Tôi hiểu, nhưng ông cũng phải cho tôi một chút ý kiến chớ. Ví dụ như ông
thấy nó có muốn hoà thật không, hay nó đang âm mưu một trò gì?
Nét mặt thoáng vẻ bất mãn của xếp Al Capone không qua nổi cặp mắt
quan sát tài tình của Guzick. Cái sọ … Do Thái trong trán Guzick bắt đầu suy nghĩ.
Mình không thể lạnh lùng quá được.
-Trình với xếp đó là một sự thật. Nếu xếp hỏi tôi về cách làm ăn, cách hốt
bạc, cách tổ chức, cách mua chuộc người nào, chi tiền ra làm sao thì tôi có thể nói đâu ra đó đàng hoàng, không sai trật một chỗ nào hết. Nhưng nếu xếp hỏi tôi về vấn đề chiến lược, nên đánh hay hòa, đánh làm sao, đánh lúc nào thì tôi chịu thua. Xếp biết tôi từ nhỏ đến lớn chỉ lo đi học và đi làm, làm sao có kinh nghiệm chiến tranh như những người khác được. Tôi sợ nói ra, sự suy nghĩ không được chính xác thì sẽ gây nên trở ngại cho anh em nên tôi không dám nói. Mong xếp hiểu dùm …
Thằng này nói cũng có lý, xếp suy nghĩ. Xưa nay, có gia đình mafia nào
lại dám nuôi một thằng Do Thái trong nhà làm consiglerie như thế này. Cánh Al Capone là một ngoại lệ. Bọn kia, ngay cả đến người Ý với nhau mà không có máu Sicilian trong người thì cũng dẹp đi, đừng có hòng mà được kết nạp, nói gì đến chuyện cho gần gũi trong đại bản doanh. Nhưng xếp lại chịu cái sự suy nghĩ của đầu óc Do Thái. Thằng Do Thái này, không hiểu nó ăn cái gì mà nghĩ tới đâu là trúng tới đó, bàn tay rờ tới chỗ nào là văng tiền ra tới đó. Thì nó đã chẳng tổ chức hết mọi chuyện trong gia đình này để biến các cơ sở làm ăn của xếp ở Chicago từ một cơ sở làm ăn có tính cách “hàng xóm” trở thành một đại công ty với số lợi tức thâu vào hàng tháng là chục triệu đô la là gì …
-Tôi hiểu ý ông nói. Vấn đề chiến tranh không phải là sở trường của ông,
nhưng tôi muốn ông góp cho tôi chút ít ý kiến đại khái thôi vậy mà. Ông biết thằng Ness thay đổi chiến thuật, bắn tiếng muốn thương lượng với mình. Ông nghĩ nó muốn thương lượng thiệt không?
Guzick tính mở miệng thì Frank Nitti đẩy cửa bước vào văn phòng. Thấy
mặt thằng phụ tá là xếp Al Capone bỗng trở nên hớn hở liền. Dù gì thì ngồi nói
chuyện với một thằng Sicilian chính hiệu cũng đã hơn một thằng Do Thái.
Vừa thấy mặt nhau, xếp chưa kịp nói gì thì thằng Frank Nitti đã lắc đầu:
-Mike Casey bị đau tim nằm nhà thương rồi. Kế hoạch thứ nhất coi như bị
hủy bỏ. Tôi chỉ huy một toán ra tận ga xe lửa bắt chúng nó cũng hụt luôn.
Capone hỏi:
-Vậy là chúng nó còn sống?
-Thưa phải. Sống nhăn răng.
-Không sao hết. Biết đâu vậy mà hay vì tình hình có lẽ thay đổi rồi. Mày
đã đọc báo sáng nay chưa?
Frank bỏ mũ, cởi áo choàng giao cho thằng cận vệ ruột ra rồi tới ngồi đối
diện với xếp:
-Chưa!
-Tao đã khuyên chú mày bao nhiêu lần là muốn làm trùm mafia thì phải
chịu khó đọc báo chí mà chú mày chẳng bao giờ chịu nghe. Thằng Ness muốn cầu
hòa rồi đó, mày biết không? Nói xong, xếp Al Capone tưởng rằng nó phải nhảy
nhỏm người lên vì kinh ngạc nhưng không, nó chỉ nhún vai, đáp nhẹ nhàng:
– Tôi có nghe chúng nó báo cáo chuyện này.
Ra là nó không đọc sách đọc báo nhưng nắm vững tin tức chẳng thua mình.
-Sao mày biết hay vậy?
-Tôi có một thằng chuyên môn lo đọc báo giùm.
Xếp Capone kẹp một điếu xì gà vào môi. Thằng Frank Nitti lẹ làng chồm
tới bật hộp quẹt cho đàn anh:
-Xếp nghĩ nó muốn hoà thiệt hay không?
Quả thật trí lớn trong thiên hạ thường đụng độ nhau. Mình chưa kịp hỏi nó,
nó đã hỏi mình.
– Đó là cái tao muốn hỏi mày, mày và ông Guzick nghĩ sao?
Frank Nitti mồi một điếu thuốc:
-Ngay ở giờ phút này thì không thể nào biết được. Có thể nó ham tiền thật
mà cũng có thể là không.
-Ông Guzick nghĩ sao?
Xếp đã hỏi đến lần thứ ba thì không thể chối từ được. Guzick thở ra:
-Trình với xếp là tôi cũng nghĩ vậy: Chuyện đó rất quan trọng, không thể
phán đoán liền bây giờ được. Chúng ta cần một ít thời gian nữa, một ít dữ kiện
nữa … Nhưng dù gì đi nữa thì tôi đề nghị xếp ra lệnh cho đình hoãn mấy cái bản án tử hình lại vài ngày để chờ coi mọi chuyện ngã ngũ ra sao đã. Nếu thấy rằng chúng nó có “thiện chí” thật tình thì dẹp luôn, bằng không thì cứ tiếp tục làm …
Có lý lắm. Vấn đề then chốt là ở chỗ này. Kẹt cái là kế hoạch giết thằng
Ness coi như đã tổ chức xong. Nội trong ngày hôm nay, trễ lắm là ngày mai, xếp sẽ nhìn thấy xác nó đăng trên báo. Từ lúc xếp xuống Chicago làm ăn cho đến bây giờ, thật chưa thằng nào khó giết như thằng cớm liên bang này. Xếp đã chi không biết bao nhiêu tiền bạc, phải sử dụng cả tới thằng đại úy cảnh sát để ra tay mà chỉ mới chắc ăn có 80 % thôi, 20 % còn lại nằm cả trong tay ông đại úy già nghiện rượu.
Capone lắc đầu. Đù mẹ hao quá. Tốn thì giờ, tốn của, tốn nhân lực như vậy mà
phải hủy bỏ vào giờ phút chót thì đau thật.
-Mày nghĩ sao Frank?
-Riêng cá nhân tôi thì đã đến nước này, khỏi có hòa hiếc con mẹ gì hết.
Nó và thằng Malone đã “gây đau khổ” cho chúng ta quá nhiều rồi. Những kế hoạch gì mình đã soạn ra thì cứ thế mà làm. Bây giờ mình cho nó hòa, mai mốt chưa chắc nó đã cho mình hòa …
Capone nhăn mặt. Thằng phụ tá nói đúng ý xếp. Nhưng nó biết một mà không biết hai. Giết người, nhất là giết cớm liên bang đâu phải là chuyện muốn làm
thì làm. Làm thì được quá nhưng cái hậu quả như thế nào mới là cái đáng nói kìa. Nhãn quan của một lãnh tụ khác cái nhãn quan của một thằng đao phủ thủ.
Capone nhìn thằng đàn em, nhíu mày:
-Giết thì dễ, nhưng hậu quả ghê gớm như thế nào chú mày có bao giờ nghĩ
đến không?
-Biết! Nhưng mình đã ở trong cái thế phải làm. Xếp quên câu nói đã
thường dạy cho tụi tôi rồi à?
Capone nhíu mày:
-Tao dạy nhiều câu quá làm sao nhớ hết, mày nói lại tao nghe thử coi.
-Xếp thường dạy là có một thằng nhà văn nào đó đã nói: “Rút lui khỏi một
cuộc chiến, tức là bắt đầu cho một cuộc chiến khác.” Chúng ta cho nó hòa bây giờ, có khác gì rút lui? Đó là chưa nói đến vấn đề không biết chúng nó làm thiệt hay giả. Nếu chúng nó chỉ làm bộ để mua thời gian rồi bất thình lình quất lại một cú thì mình càng chết thê thảm hơn nữa. Tôi thấy trong chuyện này, mình chẳng có gì phải suy nghĩ hết. Một mặt cứ làm bộ bắn tiếng cho chúng nó biết là mình đồng ý thương lượng, một mặt vẫn âm thầm cho thi hành mấy bản án mà mình đã ban ra … Không lâu đâu xếp, từ bây giờ đến chiều thế nào cũng có tin …
Guzick tự nhiên chen vào:
-Như tôi đã trình bày với xếp lúc nãy, là một người chuyên lo về vấn đề
quản trị tiền bạc, chuyện đánh hay hòa tôi không có ý kiến, nhưng tôi có một vài nhận xét như thế này. Trước hết, dù sao thì mình cũng có cơ hội để tránh một cuộc chiến mà mọi người từ nhỏ tới lớn không ai muốn can dự. Đối thủ của chúng ta không phải là một cánh mafia khác, cũng không phải là loại chánh quyền địa phương lâu lâu có một thằng hứng lên cương ẩu như thằng biện lý Mcswignn ngày nào. Đối thủ của chúng ta bây giờ là chánh phủ liên bang Hoa Kỳ. Tôi muốn nói một chánh phủ mạnh và to lớn nhất thế giới. Câu hỏi sống chết nhất mà chưa ai có thể trả lời được, chưa ai có thể ước lượng được là phản ứng của Hoa Thịnh Đốn sẽ như thế nào? Có thể sẽ chẳng có gì mà cũng rất có thể là tất cả cơ đồ của chúng ta sẽ bị san bằng thành bình địa, bị tiêu diệt đến người cuối cùng. Đừng quên là tụi cớm liên bang nếu cần thì cũng biết nổi khùng và chơi bạo như tất cả mọi người. Ông biết, xếp biết, mọi người đều biết, vấn đề giết thằng Ness chỉ là giải pháp tuyệt vọng cuối cùng. Sau khi ông bắn hụt thằng Ness ở ty cảnh sát, chính tôi là người đã nói với xếp một câu như thế này: “Mũi tên đã bắn đi, nếu hụt thì phải bắn tiếp. Và bắn càng sớm càng tốt.” Đó, tôi đã nói như vậy nhưng bây giờ thì lại có ý kiến khác vì thế cờ đã
đổi khác. Cái khác nhau giữa ngày hôm đó và hôm nay là chúng ta vừa chợt nhìn thấy một lối thoát mới. Lối thoát này có tốt hay không, tôi không biết, và có thể không ai biết cả nhưng ít nhất chúng ta nên thử. Nếu thử không được, lúc ấy ra tay, dù thắng dù bại ta chẳng còn gì hối hận nữa …
Miệng lưỡi con nhà học thức có khác, nói tới đâu là lý luận đàng hoàng tới
đó. Ngừng một lúc cho mọi người thấm ý, Guzick tiếp:
-Nhưng đó chỉ là ý kiến riêng của tôi, một kẻ chỉ chuyên môn lo về vấn đề
tài chánh và làm ăn. Tôi chỉ trình bày lợi hại chớ không có đề nghị chiến hay hòa gì hết. Quyết định của xếp, ý kiến của ông Frank Nitti đây là những người đã trải qua nhiều can qua, có nhiều kinh nghiệm nên chắc chắn phải là thâm thúy hơn tôi nhiều …
Xếp Al Capone nhắm mắt lại. Có hai thằng phụ tá, một thằng muốn hòa, một thằng chủ trương đánh đến cùng. Kẹt cái là thằng nào cũng có lý hết, biết nghe
lời ai đây? Xếp mồi một điều xì gà, đứng lên đi đi lại lại trong phòng:
-Thượng nghị sĩ Phil muốn gặp tôi để nói chuyện gì?
-Đạo luật cấm rượu.
Xếp lại thấy nhói trong tim:
-Sao?
-Tình hình có vẻ đen tối lắm. Với sự vận động của tổng thống Hoover, hạ
viện Hoa Kỳ có thể bỏ đạo luật này bất kỳ lúc nào …
Đù mẹ vấn đề nhức đầu này chưa giải quyết xong đã thấy một vấn đề khác
gay go không kém hiện ra trước mặt. Capone lại ngã người xuống ghế, mặt chảy xệ ra:
-Mình chỉ cần 2 năm nữa thôi. Chúng nó chỉ cần ráng cấm rượu thêm hai
năm rồi muốn làm gì cũng được. Hai năm thôi … không biết có được không?
Cách đây hơn năm, khi ông Hoover đắc cử tổng thống, nhà chính trị đại tài
này đã đem một luồn gió mới vào Hoa Thạnh Đốn: Ông ra sức vận động quốc hội hủy bỏ cái đạo luật mà ông cho là “Chỉ làm giàu cho mấy thằng ăn cướp.” Ngài tổng thống còn khéo léo cho mời từng nhóm dân cử một vào tòa Bạch Ốc uống cà phê để thuyết phục họ. Ai cũng biết, tổng thống mà chịu khó vận động như vậy thì đạo luật Volstead Act trước sau gì cũng sẽ trở thành “Đạo luật của quá khứ.” Một tay kiếm hàng trăm triệu mỗi năm bằng đạo luật này như xếp Al Capone thì phải thấy chuyện này rõ hơn ai hết …
Trước khi luật cấm rượu ban hành, Hoa Kỳ đã có hàng trăm hãng nấu bia
nấu rượu hợp pháp của bọn tài phiệt với số sản xuất hàng trăm ngàn ga lông mỗi ngày. Quan trọng nhất là hệ thống phân phối rượu bia của chúng nó đi khắp nơi trên nước Mỹ. Khi luật ban ra, bọn này thu góp đồ nghề tạm thời rút lui vào bóng tối để nhường chỗ cho “Hãng Mafia” độc quyền hoạt động. Nằm trong bóng tối, bọn tài phiệt âm thầm tái tổ chức và vận động cho đạo luật này bị hủy bỏ. Chính chúng nó đứng sau lưng tổng thống Hoover để làm cái vụ này chớ ai? Tổng thống chỉ là một kẻ thừa hành, tất cả mọi quyền lực và quyết định nằm tại đường Wall Street New York kìa. Chúng nó chắc ăn đến độ là dù đạo luật chưa bị bác mà đương không nước Mỹ bỗng trổ ra một lần mấy trăm cái hãng “Nghiên Cứu Hóa chất” vớ vẩn ở khắp các nơi. Nghiên cứu con mẹ gì mà nhìn vào trong chỗ nào cũng thấy hàng trăm cái bồn chứa giống y hệt những thùng cất bia cất rượu đời xưa.
Nhìn thấy là ứa gan, chỉ muốn dí cho một mồi lửa. Chưa đã hết, xếp được mật báo là hãng xe hơi Ford vừa nhận được một cái đơn đặt hàng gần mười ngàn chiếc xe vận tãi hạng nặng với một kiểu rất mới lạ: Phiá trước là đầu máy và chỗ cho tài xế, còn phía sau là trần xì một cái bình chứa bằng nhôm khổng lồ. Cái bình này nếu không dùng để chở bia chở rượu đi phân phối thì để làm gì?
Cứ nhìn chúng nó chuẩn bị lực lượng mà xếp thấy sốt cả ruột. Ngay từ
ngày đó, xếp đã ra chỉ thị cho thằng Guzick chuẩn bị kế hoạch “Hậu Volstead”: “Đã đến lúc chúng mình nghĩ đến cách làm ăn … lương thiện và hợp pháp. Ông lo soạn thảo gấp một kế hoạch để chạy đua với mấy thằng tài phiệt Wall Street. Ông tính làm sao mà khi đạo luật vừa được hủy bỏ thì mấy trăm cái lò nấu rượu lậu của mình cũng đùng một cái là trở thành một công ty thương mại có giấy phép hoạt động chính thức hẳn hòi. Tụi mình sẽ trở thành một hãng sản xuất bia rượu hợp pháp và lớn nhất thế giới. Dĩ nhiên, ông sẽ làm tổng giám đốc tương lai của cái công ty bạc tỉ này … “
Mặt khác, cũng không kém phần quan trọng, xếp gọi thằng Frank Nitti đến
nói nhỏ: “Mày thông báo cho anh em biết, cứ hễ một cái công ty “Nghiên cứu hóa chất” bị đốt cháy rụi ở bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ, lên đây gặp tao để lãnh mười ngàn đô la tiền thưởng … “
Nhận chỉ thị, Guzick bắt tay vào việc liền. Sau mấy tháng cặm cụi nghiên
cứu và đi du lịch khắp nơi trở về, hắn trình cho xếp coi một dự án vĩ đại nhất thế giới: Một đại công ty chuyên trị rượu bia có hàng ngàn lò cất với số sản xuất mấy trăm ngàn ga lông một ngày, đủ cung cấp cho toàn thể nước Mỹ. Thêm vào đó là một hệ thống mấy ngàn cái nhà hàng sẽ được cất lên ở khắp các thành phố lớn.
Những nhà hàng sang trọng lịch sự nhất thế giới này là chi nhánh của hệ thống nhà hàng đang thành công lớn The Red Horses ở Chicago. Các tửu quán này sẽ chuyên trị ba thứ mà bất cứ một thằng sành ăn nào trên thế giới nghe đến cũng phải chảy nước miếng: Tôm hùm, bí tết và rượu thượng hạng. Tôm hùm sẽ được độc quyền cung cấp bởi dân anh chị có thế lực mạnh với nghiệp đoàn chài lưới ở Maine. Thịt bò bí tết sẽ được chở thẳng đến từ những nông trại vĩ đại của miền đồng cỏ Texas.
Rượu bia thì khỏi cần tính tới. Kế hoạch này mà xong, phải nói là lấy xe cam nhông mà đi chở bạc về Lexington … Dự án vĩ đại vậy mà ông Do Thái tính ra thấy dễ ợt. Hắn chỉ xin xếp Al Capone hai con số đơn giản: 2 năm và 200 triệu đô la để chuẩn bị.
Hồi đó, thằng Ness chưa xuống đây, đời còn đẹp, chuyện gì cũng dễ dàng.
Xếp Al Capone hỉ hả chấp thuận liền. Nhưng Guzick vừa bắt tay vào việc mới có mấy tháng, mọi chuyện đang tiến triển tốt đẹp thì thằng khốn nạn Ness từ đâu không biết dẫn xác về đây, gây bao nhiêu phiền phức. Thế là “Tiền Volstead” coi như còn chưa xong, không biết bị còng đầu lại lúc nào, ai có thì giờ để chú ý đến “Hậu Volstead.” Mọi việc phải gát lại cho đến khi nào tính xong “Vụ Thằng Ness … “
Sáng nay, xếp đang muốn gặp ông thượng nghị sĩ để hỏi về vụ “đổi hướng
đi bất tử” của thằng Ness thì lão lại muốn gặp mình. Thật là tốt. Một buổi gặp gỡ có thể giải quyết được hai vấn đề một lần.
Bàn cãi như vậy là đủ rồi, xếp Al Capone đã có quyết định trong đầu. Xếp
đứng dậy nhìn xuống đường. Xếp chợt nhớ ra là ngay cả cái cửa sổ này, dù bố trí người khắp nơi chung quanh cao ốc, ngày hôm qua xếp cũng chưa dám đứng đây nhìn xuống vì còn ngán thằng Malone xuất quỷ nhập thần. Bây giờ thì tình hình đã khác rồi. Xếp xoay người, cất giọng. Lần này thật chậm và thật đều. Uy nghiêm và sang sảng tựa hồ một ông tướng ra lệnh lần cuối cùng trước khi xuất quân:
-Cả hai người, ai nói cũng đúng hết. Nhưng ý của thằng Frank Nitti không
phải là cái cách vẹn toàn. Mày nên nhớ, giữa những con người văn minh với nhau, chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng. Nếu thằng Ness muốn ăn tiền thật thì có phải là chúng ta gây cuộc can qua vô ích không? Sống ở đời, ai lại không muốn đấm vỡ mặt địch thủ ra khi mình có dịp nhưng đây không phải là một cuộc đầu võ đài mà đây là vấn đề làm ăn. Thuần túy làm ăn. This is business. Và đã làm ăn thì phải biết nhịn nhục, biết tính toán … Hơn nữa, hiện giờ trong giày tao bị một hòn sỏi nhỏ:
Đó là tụi thằng O’ Bannon, tụi thằng Rusky …
Tự nhiên, xếp nghiến răng, mắt quắc lên:
-Thằng Rusky có thể tha thứ được nhưng thằng O’ Bannon phải bị trừng
phạt xứng đáng ….
Tuy biết cơn thịnh nộ của đàn anh nhưng Frank Nitti vẫn ngồi lầm lì không
nói gì. Khuôn mặt không lộ ra một vẻ gì cả. Xếp tiếp tục:
-Về chuyện thằng Ness, cũng may mà hai chuyến đột kích sáng nay của
mày đã không thành công. Bỏ chuyện đó đi, đừng nhớ tới làm gì nữa. Việc nó muốn làm hòa, dĩ nhiên, tao không phải là một đứa con nít để ngồi nhìn chúng nó cho cả bọn vào xiếc. Tao quyết định như thế này: Trước hết, Frank, mày cho đình lại liền lập tức mấy cái án tử hình của chúng nó. Mày nhớ ra lệnh cho rõ ràng: Chỉ đình hoãn tạm thời cho đến khi có lệnh mới, không phải hủy bỏ. Súng dao cứ để yên đó đừng cất đi vội, nếu có chuyện là sử dụng liền. Nói lệnh của tao cho chúng nó nghe rõ ràng như vậy. Thứ hai, lát nữa gặp thượng nghị sĩ Phil tao sẽ biết nó muốn hòa thiệt hay đang âm mưu cái gì. Có thể là Hoa Thịnh Đốn gọi nó về vì sự vận động của ông thượng nghị sĩ …
Xếp đột ngột cúi đầu xuống nhìn thằng Frank Nitti:
-Mày thấy tao nói được không?
Frank Nitti gật gù cái đầu, nét mặt rạng rỡ. Từ sáng tới giờ bắt hụt thằng
Ness hai lần, sẵn sàng nghe xài xể ai ngờ xếp chẳng lấy gì làm buồn.
-Xếp tính vậy là vẹn toàn đôi bề, tôi không có ý kiến gì cả.
-Good. Vậy thì cứ thế mà làm, đừng để sơ xẩy. Chẳng thà trời làm hư việc của mình chứ đừng để mình hay đàn em làm hư việc của mình …
Ôm súng theo xếp bao nhiêu lần, thi hành bao nhiêu công tác ghê gớm,
Frank Nitti có bao giờ nghe đàn anh dặn dò kỹ như thế này đâu. Hoa ra là uy tín mình đối với xếp đang xuống thấp thật sau khi giết hụt thằng Ness. Than ôi, bao nhiêu lần thành công cũng không gỡ được một lần thất bại. Nhưng chuyện này chấp nhận được. Frank Nitti là típ người dám nhận trách nhiệm. Đời mà! Và nó biết nếu cú này mà không làm được đúng y như lời xếp nói thì thế nào cũng có chuyện lớn. Frank Nitti đứng lên đội mũ khoác áo choàng vào, vừa tính quay lui thì xếp Al Capone gọi dật nó lại:
– Khoan đã, tao muốn nhờ chú mày một việc này.
-Dạ!
Xếp Al Capone liếc nhìn ông phụ tá Guzick, hất đầu ra phía cửa. Guzick
hiểu ý chủ, quay sang đám bốn năm thằng cận vệ đang đứng trong phòng, dơ hai tay ra sau rồi quạt tới một phát. Nhận chỉ thị, bọn khỉ đột rời phòng liền tức thì, không quên khóa trái cánh cửa lại rất cẩn thận phía sau. Chỉ còn lại ba thầy trò, xếp Al Capone tiến tới gần thằng đệ tử, nhìn thẳng vào mắt nó như đo lường chiều sâu rồi nói thật nhỏ:
– Frank, chuyện thằng Ness, mày cứ theo đúng những chỉ thị của tao mà thi
hành. Nghe rõ không? Tao nói đúng chỉ thị và hoàn toàn không muốn nghe những câu như “Tại em lỡ, tại tụi nhỏ không biết nên làm bậy … “.
Xếp ngừng nói, cặp mắt sắc như dao nghiêm nghị nhìn thẳng vào mắt thằng
đệ nhất đao phủ thủ của mình như đo lường coi những gì vừa nói sẽ ăn “sâu” tới mức nào trong trái tim nó. Xếp biết tính thằng này. Đối với nó, vấn đề thằng Ness chỉ có một giải pháp đơn giản: “Bắn thấy mẹ nó ra” rồi tới đâu cũng được. Xếp thừa biết là nó có máu “ẩu” trong người, đã dám và còn có thể dám cãi lệnh xếp để xách súng đi tìm thằng Ness một mình. Trong hoàn cảnh này, xếp Al Capone không thể chấp nhận được một chuyện sơ xẩy như vậy. Xếp chơi thêm một câu để diễn đạt ý tưởng mình lần chót:
Cặp mắt thằng đệ nhất đao phủ thủ của Capone thoáng lên một chút ngạc
nhiên rồi đôi môi xám xịt nó vén lên, phát hai chữ gọn lỏn, rõ ràng, chắc nịch:
-Yes sir Mr. Capone!
Tốt. Người Ý cùng quê hương với nhau mà xưng hô “Yes Sir” như vậy là
“tư tưởng thông đạt” lắm rồi, khỏi cần phải nhắc thêm. Xếp biết, và thằng Frank Nitti biết là nếu nó trái lời xếp, câu trả lời duy nhất mà xếp có thể chấp nhận được là cái chết của nó.
-Ngay lập tức, tao muốn mày về họp hết mấy thằng Caporegime của mình
ở Chicago lại, bàn luận với chúng nó để thảo cho tao một kế hoạch …
Frank Nitti mím môi chờ đợi.
-Nếu mọi chuyện với thằng Ness êm thắm, tụi mình sẽ “trải nệm” để diệt
thằng chó đẻ O’ Bannon. Mày sẽ chỉ huy trận đánh này. Thảo cho tao một kế hoạch thần sầu tiêu diệt chúng nó. Cú này phải là cú đẹp, nói với mấy thằng Caporegime của mày như vậy. Tao muốn tất cả nhân lực của bọn mình phải được sử dụng để bảo đảm thành công. Cuộc chiến này sẽ là cuộc chiến ngắn nhất nhưng tàn khốc và đẫm máu nhất của lịch sữ Mafia …
Hễ nghe tới chiến tranh và bắn giết là Frank Nitti cảm thấy thoải mái trong
người liền. Nó sửa lại thế ngồi, mắt nhìn xếp Al Capone đầy vẻ hứng khởi. Hóa ra là mình cũng không đến nổi bị thất sủng như đã lầm tưởng. Xếp còn trao ấn tiên phong cho mình là còn tin tưởng lắm.
-Mày hồi nhỏ đi học trường đạo chắc có được nghe giảng kinh thánh?
-Thưa có xếp.
-Good! Mày có nhớ lời nguyền của chúa Giê Su đã nói về thành phố Jerusalem?
-Có. “Thành phố này sẽ không còn một hòn đá nào chồng lên hòn đá nào”
-Đúng. Chỉ một câu đó thôi đủ nói lên cơn thịnh nộ của Thiên Chúa: “Từ
này về sau, thành phố này sẽ không còn một hòn đá nào chồng lên hòn đá nào … “.
Tao cũng muốn lập lại câu này để nói tới cơn thịnh nộ của tao: “Lãnh thổ của thằng khốn O’ Bannon sẽ không còn một hòn đá nào chồng lên hòn đá nào … “
Rồi mắt xếp long lên, nói qua hai răng nghiến chặt lại:
-Quan trọng nhất, “No Prisoner !! “
-No Prisoner?
-Đúng! No prisoner!
“No Prisoner” đối với đạo quân bách chiến bách thắng của đế quốc La Mã
ngày xưa trước một trận đánh là một mệnh lệnh đặc biệt để biểu lộ cơn thịnh nộ của người chủ tướng. Điều này có nghĩa là tất cả những tù binh bị bắt trong hay sau cuộc chiến sẽ bị tàn sát hết. Không có tù binh. Không có vấn đề đầu hàng. Đi theo Capone đã lâu và xung đột tưng bừng qua nhiều trận thư hùng, Frank Nitti chưa bao giờ thấy xếp ra cái lệnh dữ dội này. Ngay cả ngày thằng anh ruột của xếp là Ralph Capone bị chúng nó bắn chết tươi, xếp khóc hu hu hết mấy ngày, ai cũng tưởng cú này ra quân thì nhất định là “No prisoner” nên chuẩn bị kỹ càng. Nhưng mọi người đều lầm, xếp chẳng ra chỉ thị đặc biệt gì cả. Xếp coi sự ra đi của thằng anh ruột trong nhà như là chuyện thường tình phải xảy ra trong chiến tranh: Phải chuẩn bị để giết và bị giết. Tình cảm máu mủ giữa anh em là một chuyện nhưng làm ăn lại là chuyện khác. Nếu phải diệt cho hết hết lực lượng của kẻ thù mới chiến thắng được thì thứ nhất là hao tốn quá, thứ hai là chẳng có giá trị gì. Hơn nữa, xếp rành tâm lý con người. Xếp biết cả hai bên, ai cũng cầm súng vì là chuyện cực chẳng đã. Tấn công dữ dội quá, chúng nó lo sợ bèn quyết một lòng tử chiến thì cuộc tương tàn khó mà chấm dứt nổi. Xếp chỉ cần quất sụm được ông trùm của phe bên kia thì mọi
chuyện đều có thể thương lượng với nhau được. Ông trùm mới nào khi lên cầm
quyền đầu óc cũng rất … “cấp tiến” và dễ dãi …
Bây giờ, tự nhiên nghe xếp Al Capone tuyên bố như vậy thì Frank Nitti
thấy giật mình. Xếp ra lệnh như thế này thì phải căm hận thằng Do Thái lắm. Vậy mà sao mấy tháng nay không hề nghe xếp đã động đến tên nó kìa? Chính mình cũng đã từng cảnh cáo xếp nhiều lần về mấy cái vụ ăn bẩn của thằng O’ Bannon mà thấy xếp có phản ứng gì đâu? Khiếp! Cái ghê gớm của xếp là xếp đã giấu được người khác, dù kẻ đó là cánh tay mặt thân thiết nhất dưới trướng những gì xếp nghĩ hay tính toán trong đầu mình …
Capone hạ giọng:
-Mày nhắm làm được không?
Sao không! Frank Nitti gật đầu một cái thật chậm. Cặp mắt nó tròn xoe, nhìn ngược lên thẳng vào mắt xếp Al Capone. Tuy không một lời nói nào thoát ra từ
miệng nó, nhưng cả ba người trong phòng lúc ấy hiểu rõ ý nghĩa của cái gật đầu này …
Xếp Al Capone gật gù thỏa mãn. Frank Nitti lại đứng lên, không nói thêm
một lời nào. Đầu óc nó bây giờ đang có một mục tiêu mới tinh để làm việc: Tụi O’ Bannon. Phải rồi, giang hồ lâu lâu cần phải có một cú như thế này để tẩy bớt những ô uế đi, như là người ta uống thuốc xổ để rửa ruột gan vậy mà ….
Sau khi Frank Nitti bước ra khỏi phòng, xếp cùng phụ tá Guzick người trước
kẻ sau, cùng tà tà bước sang văn phòng làm việc. Ngồi xuống chiếc ghế vĩ đại sau bàn giấy, dưới dàn ánh sáng mờ mờ, trong không khí uy nghiêm của văn phòng một ông trùm, xếp Al Capone cảm thấy khoan khoái vô cùng. Đã từ lâu, xếp nhớ, mình chưa có những giây phút như thế này …
Xếp Al Capone và Guzick đang cúi đầu trên những con số chi chít trong
cuốn sổ thì tên cận vệ bước vào:
– Trình với xếp là ông thượng nghị sĩ đang chờ ngoài phòng khách, dáng
điệu có vẻ rất bận rộn …
Xếp Al Capone không thèm nhìn lên:
-Chả bận còn xếp mày đây không bận sao. Mày cứ trở ra, cho lão chờ ngoài đó thêm chừng nửa tiếng nữa rồi mời vào. Lão có thắc mắc gì thì cứ nói là tao
bận việc lắm, xin thông cảm. Còn nếu không chờ được thì cứ việc về đi, hôm khác gặp lại cũng được.
Thằng cận vệ quay lui. Xếp và Guzick tiếp tục cuộc bàn thảo đang bỏ dở.
Đúng nửa tiếng đồng hồ sau, cả hai vừa gấp sổ lại thì thằng cận vệ lúc nãy
lại mò vào, nhăn nhó thông báo đã đến giờ tiếp ông thượng nghị sĩ. Xếp hất đầu ra dấu cho Guzick rồi đứng lên tiến ra cửa, miệng nở một nụ cười tươi như hoa. Vừa thấy mặt nhau là hai người dơ tay ra bắt, dáng điệu thân thiện như bạn bè lâu lắm mới gặp mặt …
Chờ cho ông thượng nghị sĩ uống hết ly rượu, xếp hất đầu ra dấu cho thằng
cận vệ đóng cửa phòng lại rồi kéo ghế tới gần ông thượng nghị sĩ:
-Ông ở Hoa Thịnh Đốn mới về chắc có nhiều chuyện lạ?
Ông thượng nghị sĩ nhíu mày ra vẻ nghĩ ngợi. Lạ thì chắc chắc là có nhưng
mà toàn thứ lạ mà Capone không muốn nghe. Ông tới đây có hai mục đích. Thứ nhất là để cám ơn Capone về cái vụ con thơ ký mà lão tằng tẹo ngày nào. Sau lần gặp gỡ với Capone kỳ trước, chẳng hiểu xếp làm sao mà con bé tự nhiên lột xác để trở nên ngoan ngoãn như một con trừu non. Chẳng những vậy, con bé còn có vẻ rất biết điều mới là ly kỳ. Thượng nghị sĩ Phil hiểu rằng nếu không có bàn tay Capone dính vào thì con bé không tự nhiên trở thành thiên thần một cách bất tử như vậy.
Ngược lại, lão Phil cảm thấy hơi bối rối vì mình chỉ đền đáp công ơn của nó được một nửa. Đạo luật Volstead bị tay chân của tổng thống Hoover, với sự hậu thuẩn mãnh liệt của đám tài phiệt Hoa Kỳ có thể bị đem ra khai tử bất kỳ lúc nào. Lão còn biết rõ là chúng nó đã kiếm đủ phiếu của Hạ Viện, chỉ chờ một ngày đẹp trời là lôi cổ thằng Voltstead đưa lên máy chém. Nếu Hạ viện biểu quyết xong, thượng viện chắc chắn cũng phải theo gió mà bẻ măng. Dù đã vận động hết sức để trì hoãn nó, con số hai năm mà Capone mong muốn là một con số quá lớn, quá vĩ đại không thể nào đạt được.
-Capone, tôi rất lấy làm tiếc mà báo cho bạn biết là Hạ Viện sắp sửa thông
qua đạo luật này. Khi Thượng Viện nhận được nó, chúng tôi không thể làm gì khác hơn là phải phê chuẩn. Tôi đã vận động hết sức với các đồng nghiệp của mình nhưng dân chúng Hoa Kỳ đã chán cái đạo luật vô lý này quá rồi … Cộng thêm những gì đã xảy ra tại Chicago và khắp các nơi khác trên lãnh thổ Hoa Kỳ …
-Dông dài làm chi, ông cứ cho tôi một con số …
-Thực tế nhất, 6 tháng nữa!
Capone thấy trời đất tối xầm lại. Xếp liếc nhìn thằng Guzick:
-Ông nghe cụ nghị nói rồi chớ gì?
-Nghe rõ!
Xếp tính hỏi tiếp thằng phụ tá một câu gì nhưng lại ngừng lại nửa chừng,
ánh mắt bắn ra một tia sáng bí mật:
-Chắc có thằng nào kỳ đà cản mũi ở Hoa Thịnh Đốn phải không? Thượng
nghị Sĩ có có cần tôi gởi thằng Frank Nitti lên trên đó vài ngày chăng? Đường từ đây lên đó cũng đâu có xa xôi gì?
Thượng nghị Sĩ Phil giật nẩy mình lên như dẫm phải lửa:
-Không không, cho tôi can. Vấn đề này không thể giải quyết như thế được. Quốc hội là cơ quan lập pháp duy nhất và tối cao nhất của toàn thể nhân dân
Hoa Kỳ. Đó là thánh địa của nước Mỹ …
Capone ngồi thừ người ra suy nghĩ. Mình ít học, không biết cái chỗ mà
mấy ông nghị thường gặp nhau để tụ họp nói phét và la lối om xòm đó nó cỡ nào nhưng cứ nhìn điệu bộ của lão thượng nghị sĩ này thì nó phải quan trọng lắm, chưa thể khinh động được.
Xếp lẩm bẩm con số: “6 tháng, 6 tháng … “, mặt chảy dài ra làm lão thượng
nghị sĩ thấy cũng động lòng. Rồi xếp gõ vào mặt bàn một cái, giọng đanh lại, dứt khoát:
-Coi như xong một chuyện. Chuyện thằng Ness hôm nọ tôi nhờ ông đến
đâu rồi?
Thượng nghị Sĩ Phil chỉ chờ có bấy nhiêu. Cách đây mấy tháng, Capone có
nhờ lão hai việc: Thứ nhất là vận động để trì hoãn việc hủy bỏ đạo luật cấm rượu, thứ hai là tìm cách “móc” thằng Ness ra khỏi Chicago. Việc thứ nhất coi như hỏng và việc thứ hai, khốn nạn hơn, cũng hỏng bét. Thật ra, thượng nghị Sĩ Phil đã mò đến bộ tài chánh để xin gặp ông bộ trưởng để than phiền là thằng Ness … du côn quá, ai cũng than phiền, và xin triệu hồi nó về để gởi lên một người khác lịch sự hơn. Ngài bộ trưởng vừa nghe qua là tá hỏa tam tinh, ra lệnh cho thư ký gọi ông tổng giám đốc lên văn phòng liền để ông nghị “nói chuyện phải trái.” Trong lúc chờ đợi, ông cứ suýt xoa than thở vì đã có một nhân viên làm việc bê bối quá. Ông bộ trưởng vốn là con nhà học thức nên rất ngây thơ nhưng ông tổng giám đốc thì đi guốc trong bụng lão thượng nghị sĩ này. Gặp nhau, ngồi chưa kịp nóng đít, vừa nghe qua mấy lời là ông tổng giám đốc biết ngay là thanh tra của mình đang thành công dưới Chicago. Thành công lớn nữa là khác. Thật chẳng hổ danh đệ nhất cớm. Capone mà phải gởi người đi vận động ngoại giao như thế này thì đế quốc nó sắp tàn đến nơi, tin mừng chẳng bao lâu sẽ gởi về.
Dưới cặp mắt ngạc nhiên của xếp, ông tổng giám đốc bình thản nhồi đầy
một ống tẩu, kéo vài hơi cho sự sảng khoái đi đến tột đỉnh, rồi qua màn khói xanh mờ mờ, ông nhẹ nhàng nói:
-Tôi không ngờ thằng Ness lại bết vậy. Nó làm dân chúng ta thán lắm
sao?
-Nó … du côn quá lắm. Cảnh sát liên bang gì mà lại kêu mấy thằng phóng viên nhà báo lại để nghe mình chửi thề mấy thằng ăn cướp như đứa con nít. Đó là
chưa nói tới mấy vụ uống rượu say rồi đánh lộn với du đãng tưng bừng trong quán của người ta. Còn thêm chuyện này nữa, ai cho nó cái quyền đi hăm dọa thiên hạ với những câu như thế này, “Tôi xuống đây để diệt thằng này thằng nọ, để nhốt người ta vào tù nữa … ” Thật chẳng còn ra cái thống chế gì cả …
Ông tổng giám đốc cố dấu một nụ cười:
-Theo ý ông nghị thì tôi giải quyết vấn đề này cách nào?
-Cứ gọi nó về đây, cho nó đi học lại một khóa “Tư cách của nhân viên cảnh sát liên bang” rồi cho người khác xuống dưới đó là yên chuyện …
Thực sự, khi được gọi vào văn phòng, vừa nhìn thấy ông nghị tiểu bang
Illinois ngồi lù lù một đống, ông tổng giám đốc đã biết ngay lão này muốn gì. Ở trong nghề mấy chục năm, leo từ chức vụ thanh tra lên đến tổng giám đốc, ông có lạ gì cái trò này. Hoa kỳ là một nước dân chủ. Một ông thượng nghị sĩ nhiều khi có thế lực hơn cả ông bộ trưởng hay thị trưởng. Tổng thống không có quyền lột chức ông nghị, ngược lại, nếu mấy ông nghị này muốn, họ có thể họp nhau lại để cho ông tổng thống về vườn được. Dĩ nhiên, chuyện này chưa bao giờ xảy ra nhưng nếu tổng thống lạng quạng, chuyện đó đâu có khó khăn gì. Mấy ông dân cử làm được chuyện đó vì mấy ông có được cái võ khí lợi hại nhất trong tay: Đó là nhân dân. Bất bình điều gì, muốn kiện thưa ai, chỉ cần thủ con dao “nhân dân” trong tay là có thể chun vô bất cứ cơ quan nào của chính quyền để hạch sách soi mói mà không ai dám động đến. Buồn buồn không có chuyện gì làm, có quyền thảo một lá thơ đòi bất kỳ nhân vật nào của chính phủ tới trình diện tòa thượng viện để mình hạch sách chơi. Và lá thơ này có sức mạnh ngang hàng với trát của tòa án, ai cãi lệnh là ở tù như không.
Cái vụ “làm khó nhau” này danh từ của thượng viện gọi là “điều trần.” Thông thường thì chính quyền ít khi muốn làm mất lòng mấy ông nghị. Chẳng phải họ sợ hãi gì nhưng mất thì giờ quá. Thôi thì đành chìu ý mấy ông một phát để giữ tình giao hảo. Cái lạ là hễ anh nào càng làm lớn trong chính quyền thì càng sợ mấy ông nghị. Trong khi đó, một ngài thượng nghị sĩ đậu xe tầm bậy vẫn có thể bị một anh cảnh sát hạng bét tặng cho tờ giấy phạt và dạy dỗ cho một bài moran mà cóc dám làm gì. Xã hội Mỹ nó dân chủ như vậy từ lâu rồi.
Sáng hôm nay, tuy ông xếp mình là ngài bộ trưởng có vẻ kính nể ông
thượng nghị sĩ lắm, nhưng ông tổng giám đốc chẳng có coi ông nghị này ra gì đâu. Ông đã có cách giải quyết vấn đề.
-Trình ngài thượng nghị sĩ, nhân viên gởi đi làm việc ở xa thường thường cũng khó mà kiểm soát cho được chặt chẽ. Tôi xin chịu trách nhiệm vụ này và sẽ
cho điều tra tường tận. Nếu quả nhân viên của tôi làm việc tắc trách như vậy, tôi sẽ cho triệu về đây để đưa ra hội đồng kỹ luật liền cấp kỳ và sẽ gởi người khác xuống dưới đó …
Xong việc lớn rồi, ngài thượng nghị sĩ mừng như mở cờ trong bụng:
-Xin ông tổng giám đốc cho tôi biết chừng nào thì có kết quả?
– Thượng nghị Sĩ biết, công việc của cảnh sát rất nguy hiểm và nhiều áp
lực, tránh sao khỏi chuyện lâu lâu phải vung tay nện một vài thằng hay buông tiếng chửi rủa … Chuyện này xảy ra hằng ngày, và xảy ra khắp nơi trên thế giới chứ không phải chỉ ở tổng nha ngân khố này. Chúng tôi còn nhiều chuyện trọng đại hơn để lo như là chuyện đem trật tự lại cho thành phố, đem an ninh lại cho dân chúng v.v ….
Nhưng nói vậy không phải là để cho nhân viên muốn làm gì thì làm. Hơn nữa,
thượng nghị sĩ đã đích thân đến đây để than phiền thì chúng tôi bắt buộc phải cho điều tra để trừng phạt nó. Cũng xin ngài thượng nghị sĩ hiểu cho rằng điều tra những cái tội nhỏ như vậy tôi e rất khó nếu chúng tôi không có những người chịu làm chứng. Thượng nghị Sĩ có chịu giúp tôi cung cấp một vài người chứng được không?
Nếu được thì tôi sẽ triệu nó về đây trong vòng vài ngày …
Ông bộ trưởng tài chánh gật gù đắc ý, nghe tới đâu là chịu tới đó. Không
ngờ tổng giám đốc của mình giải quyết vấn đề hay quá, đâu ra đấy đàng hoàng.
Phải rồi, nói vậy là hợp lý lắm. Vừa giữ được hòa khí, vừa chạy công việc của sở. Nhưng ngài Thượng nghị Sĩ Phil nghe tới đâu thì lại thấy trong cuống họng
nghẹn tới đó. Làm chó gì có người chứng. Không lý lại kêu thằng Capone hay Frank Nitti ra làm chứng kiện thằng Ness? Ông thượng nghị sĩ đang ú ớ chưa kịp trả lời thì ông tổng giám đốc bồi tiếp luôn cho một chưởng:
-Nếu không có người chịu làm chứng, theo sự ước lượng của tôi, phải mất
sáu tháng thủ tục điều tra mới hoàn tất.
Thượng nghị Sĩ Phil cố dấu một tiếng thở dài. Sáu tháng thì đủ thời giờ cho
chúng nó nhốt thằng Capone vào trong nhà đá. Biết mình đã thua cuộc, ngài thượng nghị sĩ nhún vai một cái rất … chánh trị:
-Nói thì nói vậy thôi, quý vị hiểu là tôi chỉ làm nhiệm vụ đại diện dân chúng. Quý vị muốn giải quyết thế nào cũng được, chỉ xin để ý cho chuyện đó là đủ
rồi. Xin cám ơn quý vị rất nhiều …
Bước ra khỏi văn phòng bộ tài chánh, đếm những bước chân dài trên lớp đá
hoa trong trung tâm của thủ đô Hoa Kỳ mà lòng ngài thượng nghị sĩ đáng kính nát tả tơi như một cành hoa trước gió. Cứ nhớ đến cái mùa bầu cữ gần tới là lão cảm thấy nhói trong tim. Mấy nhiệm kỳ vừa qua, nếu không có bộ máy quyền lực của Al Capone đứng ra yểm trợ và cho tiền thì lão đâu có được thiên hạ gọi là ông Nghị. Mà nó đâu có nhờ vả gì nhiều. Lâu lâu chỉ nhờ có một lần mà như thế này thì tương lai chắc không khá nổi …
Chừng nửa tiếng đồng hồ sau khi ngài thượng nghị sĩ bước ra khỏi bộ tài chánh thì ở Chicago, Eliot Ness nhận được một cú điện thoại. Người gọi xuống là
ông tổng giám đốc:
-Ness đó hả?
– Thưa tôi đây!
-Chú mày làm ăn ra sao dưới đó mà có ông thượng nghị sĩ Phil lên đây than phiền dữ quá.
Ness thấy như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt mình:
-Than phiền về vấn đề gì?
-Còn vấn đề gì nữa? Bao nhiêu thứ tội trên đời này coi như chú mày phạm
đủ: Ăn nói bừa bãi, hăm dọa người ta bất hợp pháp, đánh lộn đánh lạo tùm lum gây náo động xòm làng và còn nhiều tội khác nữa. Cảnh sát mà làm việc gì kỳ vậy?
Điệu này thì chắc tao phải gởi giấy triệu chú mày về quá …
Eliot Ness tái mặt, ấp úng không nói lên lời. Mình thua thằng Capone ở
hiệp này rồi sao? Ai ngờ nó lại tấn công mình ở cái chỗ mà mình không bao giờ ngờ được: Ngay tại Hoa Thịnh Đốn. Đang còn phân vân chưa biết đối đáp ra sao thì đã nghe trong ống nói tràng cười hô hố của xếp … đẩy tới, rất ngứa tai. Ness lại càng chới với. Xưa nay ông tổng giám đốc có bao giờ vừa xài xể nhân viên mà lại vừa cười lên sằng sặc như thế này?
-Nói nói đùa với chú em đó thôi. Qua biết chú mày làm ăn khá lắm, thằng
Capone chịu không nổi nên mới nhờ ông thượng nghị sĩ lên đây để can thiệp. Mấy chục năm trong nghề, qua đâu có lạ gì cái đòn chính trị dơ bẩn này …
Thì ra vậy. Ness lấy lại bình tĩnh:
-Nhưng nếu ông muốn tôi về ngay thì tối nay tôi sẽ leo lên chiếc tàu hỏa
sớm nhất để đi …
-Đi cái con khỉ. Qua muốn thông báo cho chú mày biết tin đó để mà đề phòng cha thượng nghị sĩ Phil. Cứ việc cố gắng mà hoàn thành công tác, chừng nào thằng Capone lên ghế điện mới được về. Nghe rõ chưa?
-Rõ!
-Tốt, gởi lời ngợi khen chú mày. Xong việc thế nào qua cũng xin tống
thống ký cho một cái giấy ban khen … Rồi, còn gì hỏi nữa không?
-Thưa xếp, còn cái vụ xếp bảo là xếp đã gởi cho tôi một người phụ tá của
sở Fired Armed and Tabacco sao chưa thấy đến?
-Giấy tờ qua đã ký hết rồi, chắc nội trong tuần này hắn sẽ xuống dưới đó.
Chú mày biết công việc chính phủ luôn luôn chậm mà. Ráng kiên nhẫn chút đi
cưng.
-Dạ hiểu.
Ness gát điện thoại lên, đưa tay vuốt mặt và suy nghĩ. Chàng có thể ngờ được nhiều chuyện nhưng không thể đoán được thằng Capone lại chơi cái đòn này.
Tiên sư bố thằng cha thượng nghị sĩ dơ bẫn. Ai ngờ chả lại lên tuốt Hoa Thịnh Đốn để nhổ mình tận gốc. May mà có ông xếp còn tinh khôn hiểu biết, nếu không thì bao nhiêu kế hoạch thần sầu để diệt thằng Capone chắc đành phải hủy bỏ hết.
Thấy khuôn mặt Ness buồn buồn, Malone đứng gần đó hỏi:
– Mới bị xếp xài xể phải không?
Ness lắc đầu:
-Ai ngờ được ngài thượng nghị sĩ Phil khả kính của chúng ta lại lên tuốt bộ
chỉ huy để phá đám.
Malone nghiêm sắc mặt liền:
-Phá đám?
-Ừ. Chả lên trên đó than phiền, kể những cái tội tưởng tượng của tôi ra để
làm áp lực với tổng nha gọi tôi về.
-Ông có bị gọi về không?
-Còn khuya! May mà ở tổng nha còn có người biết chuyện này, nếu không
thì mọi kế hoạch coi như hỏng hết … Malone gõ gõ ống tẩu vào cái gạt tàn, gật gù cái đầu:
-Kẻ đáng sợ là thằng Capone chứ không phải ông thượng nghị sĩ Phil. Ông
Ness thấy thằng Capone nó ghê gớm chưa. Mình tưởng nắm nó được trong tay, ai ngờ nó lại đi trước mình một bước dài như thế này.
Ness mồi một điếu thuốc. Malone bỗng búng tay nghe một cái bóc. Tiếng
bóc nghe lớn đến độ Ness tưởng ai vừa đốt một viên pháo nhỏ. Cứ mỗi lần thầy đội búng tay một cái như thế này là thế nào cũng nảy ra một kế hoạch thần sầu. Ness hớn hở nhìn thầy đội:
-Thầy đội có ý kiến mới?
-Không có sao dám … búng tay.
-Vậy thì nói đi, còn chờ gì nữa …
-Ngài thượng nghị sĩ đã làm vậy thì mình cũng tương kế tựu kế, mượn tay
ngài để cho thằng Capone vào xiếc luôn.
Ness nghe qua là hiểu liền, mỉm cười khoái trá …
Mấy ngày sau, thượng nghị sĩ Phil đáp xe lửa về lại Chicago, mặt mày ủ
dột như một chiếc lá héo. Trong đầu ngài thượng nghị sĩ chỉ có một vấn đề to lớn duy nhất để suy nghĩ: Làm thế nào để ăn nói với thằng Capone đây? Nghĩ mãi chẳng kiếm được câu trả lời nào có thể chấp nhận được. Buồn quá, đoạn đường dài hơn nửa trưa này mà lão chẳng thiết ăn uống gì cả. Lâu lâu, thượng nghị sĩ Phil nhìn trước nhìn sau rồi thò tay vô trong va ly, len lén lấy ra một cái ve nhỏ màu đen, mở nút ra tu một ngụm rồi chùi miệng, liếc ngang liếc ngữa một lúc nữa trước khi cất nó vào.
Khi tàu hỏa dừng ở bến Chicago thì ngài thượng nghị sĩ đã ngủ xong được
một giấc, đầu óc còn choáng váng và vẫn còn hơi … say say. Xuống khỏi toa, nhìn thấy chiếc xe của mình đến đón là ngài thượng nghị sĩ phóng tuốt lên băng sau, ngã người xuống ghế ngồi thù lù một đống không nói được một câu chào hỏi với người tài xế. Thằng tài xế chờ có đến 5 phút, thấy ngài thượng nghị sĩ không đá động gì đến mình bèn quay người lại hỏi:
-Thưa ngài thượng nghị sĩ muốn về đâu, về nhà hay đi thăm cô Lisa trước?
Thượng nghị sĩ Phil lắc đầu, nói nhỏ:
-Chạy tới một tiệm rượu nào đó cũng được, chỗ nào càng có nhiều con gái
càng tốt. Tôi cần giải trí đêm nay.
-Yes Sir!
Chiếc xe ra tới đường cái, ngài thượng nghị sĩ bỗng nhận ra có điều gì khác
lạ trong không khí. Ủa, có cái gì kỳ kỳ đâu đây mà sao nghĩ mãi không ra. Bỗng ông thượng nghị sĩ giựt mình một phát, bao nhiêu mồ hôi trong người như muốn toát ra hết. Cái đầu óc ngất ngư vì rượu nãy giờ cũng trở nên tỉnh táo lạ thường, làm như ai vừa dội xuống đầu ngài thượng nghị sĩ một sô nước đá lạnh vậy.
Thượng nghị sĩ Phill ngồi thẳng người lên suy nghĩ. Trước hết, chú tài xế
này đâu phải là tài xế nhà. Quái lạ! Nhất định là không phải tài xế nhà nhưng
khuôn mặt lại thấy hơi quen quen. Chắc chắn là mình đã gặp nó ở đâu đó rồi. Ông thượng nghị sĩ thấy muốn té xỉu luôn khi nhận ra là còn có một thằng thứ hai ngồi thù lù một đống bên cạnh nó nơi băng trước.
Thằng Capone gởi người đi giết mình chăng? Không thể được. Lão nhớ lần
chia tay cuối cùng với nó, nó đâu có ôm mình mà hôn vĩnh biệt. Và mình cũng chưa làm gì phật ý nó. Hơn nữa, chuyện mình làm trên Hoa Thịnh Đốn nó có biết gì đâu?
Vậy hai thằng cô hồn này là ai mà hành tung coi bí mật quá. Mà nó chở mình đi đâu kìa?
Đang vãi đái trong quần thì thằng tài xế quay đầu xuống … cười hề hề:
-Kính chào ngài thượng nghị sĩ, tôi là Malone, Gary Malone!
Thượng nghị sĩ Phil thở phào một cái. Tưởng ai té ra cái thằng cảnh sát
danh tiếng nhất Chicago này. Chúng nó muốn gì đây kìa. Ngài thượng nghị sĩ chưa kịp mở miệng thì câu thứ hai đẩy tới liền:
-Và đây là ông xếp tôi. Ness, Eliot Ness.
Trong một giây đồng hồ, ông thượng nghị sĩ hiểu được nguyên nhân của sự
gặp gỡ nhức tim này. Đã có mặt thằng Ness thì thế nào vấn đề cũng có liên quan đến chuyện Capone. Chúng nó muốn gì không biết nhưng ít nhất, ngài thượng nghị sĩ thấy an tâm phần nào. Hai thằng này không phải là đao phủ thủ của Al Capone.
Ness quay người, chìa tay ra cho ông thượng nghị sĩ:
-Xin cụ nghị cảm phiền và thông cảm cho cái buổi gặp gỡ hơi kỳ lạ này.
Chúng tôi buộc lòng phải làm vậy vì nếu không thì mọi chuyện sẽ hư hết. Chúng tôi cho tài xế của cụ nghĩ đỡ một ngày để đi đón cụ.
Thấy ngài thượng nghị sĩ hầm hầm nét mặt, Ness cười tươi lên liền:
-Chúng tôi có một món quà rất lớn, rất bí mật cần phải giao gấp cho cụ, chỉ
sợ thằng Capone biết được nên đành phải làm vậy, mong cụ thông cảm …
Nghe đến món quà lớn và giọng nói sắc như dao của Ness, thượng nghị sĩ
Phil biết chúng nó không đùa. Lão đổi thái độ liền, thò tay ra nắm lấy tay anh cớm trẻ:
-Phiền hà gì, chúng ta đều có bổn phận phải thi hành. Tôi hân hạnh được
biết anh.
Ness cười. Nếu ông tổng giám đốc nhà mình không cứng cựa một chút thì
lão ắt còn “hân hạnh” hơn nhiều.
Thượng nghị Sĩ quay sang Malone:
-How do you do Mr. Malone? Lâu quá không gặp chú mày.
-Cám ơn cụ thượng, tôi vẫn thường. Để khỏi mất thì giờ và cho được kín
đáo, chúng ta ngồi nói chuyện luôn trên xe này. Nhờ cụ thượng chịu khó quay dùm hai cái cửa sổ lên.
Malone quẹo xe vào một khúc đường vắng, nhìn trước nhìn sau cẩn thận,
chạy chầm chậm rồi thắng xe lại:
-Cụ thượng đi xa về chắc mệt mõi lắm, chúng tôi không muốn cà kê lâu.
Tôi xin đi thẳng vào vấn đề như thế này: Từ lâu, Malone này biết sự “liên lạc rất là mật thiết” của cụ với thằng Capone …
Nói tới đó, thầy đội Malone ngừng một chút như chờ phản ứng của ông
thượng nghị sĩ.
-Đúng, tiếp đi.
-Chúng tôi còn biết là thằng Capone đã nhờ cụ nghị can thiệp để lôi cổ ông
xếp tôi đây là Eliot Ness về Hoa Thịnh Đốn, đúng không nào?
-Cũng đúng luôn.
Dù không thích mấy ông nghị dơ bẫn, Malone cũng thấy phục sự thẳng thắn
của ông này. Đỡ mất thì giờ. Đến lượt Ness xen vào:
-Và cụ nghị chắc đã biết là Hoa Thịnh Đốn cũng không có ngu đến độ tự
nhiên đi kéo đầu một nhân viên ưu hạng của mình về chỉ vì vài lời than phiền vớ vẩn của ông thượng nghị sĩ một cách khơi khơi như vậy …
Tới phiên Malone ra đòn:
-Vì “quí mến cụ”, thưa cụ, chúng tôi không có can đảm nhìn cụ bước vào
văn phòng của thằng Capone với hai bàn tay trắng …
Xe đậu trên một khúc đường vắng, trong xe tối hù nên không ai nhìn thấy
một nụ cười đang từ từ nở trên khuôn mặt của ngài thượng nghị sĩ. Tiếng đồn quả không ngoa, thằng Malone này xưa nay nổi tiếng có nhiều quỷ kế, để coi thử nó muốn mượn tay mình làm gì đây.
-Tôi xin thành thực trình bày với cụ như thế này: Ông xếp tôi cách đây
mấy tháng có lỡ ngứa miệng nói bậy một câu: “I come here to get Capone”, nên chúng tôi đành phải … diệt nó thiệt. Cuộc chiến đã đi đến giai đoạn không thể lùi được nữa rồi. Nếu cụ thượng chịu giúp tôi, cả hai chúng ta đều có lợi. Về phía cụ, cụ sẽ có được một chiến công hiển hách để đem về lập công với Capone. Phần chúng tôi, chúng tôi sẽ được sống … dai hơn vài tháng nữa để chuẩn bị đưa nó lên ghế điện.
Thì ra vậy. Ngài thượng nghị sĩ nhíu mày suy nghĩ:
– Nói thật với hai ông, tôi là một con người lương thiện, chẳng qua vì hoàn
cảnh bắt buộc nên mới phải bán linh hồn cho quỷ. Tôi sẵn sàng giúp hai ông miễn là tính mạng và sự nghiệp của tôi được mấy chú bảo đảm. Tôi giúp được cách nào đây?
-Dễ lắm, cụ cứ vào nói với thằng Capone là việc vận động của cụ đã thành
công. Hoa Thịnh Đốn đang chuẩn bị thủ tục làm giấy để triệu thanh tra Eliot Ness về. Đơn giản và dễ dàng như vậy thôi. Phần còn lại để chúng tôi lo.
Xem ra thì việc này đâu có khó khăn gì. thượng nghị sĩ Phil hỏi:
-Chỉ nói vậy thì ai cũng nói được, nhưng lỡ ông Eliot Ness lại không về thì
tôi ăn nói với nó ra làm sao?
Malone cười hề hề. Tiên sư cái thằng này, mình năm nay đã trên 60 tuổi
mà chưa từng nghe ai có nụ cười sảng khoái như nó.
-Eliot Ness sẽ về sau khi thằng Capone lên ghế điện … Nói đùa vậy thôi,
cụ nghị cứ bảo cho nó biết là chính phủ làm việc rất tà tà, lại còn phải theo thủ tục điều tra này kia nên mất một ít thời gian. Thằng ăn cướp đó làm sao biết được … Hề hề … Nếu cụ muốn kiếm thêm một ít tiền lẻ, thì cứ bảo nó đưa cho cụ vài chục xấp, cụ sẽ lên Hoa Thịnh Đốn lo lót giấy tờ cho mau … Một mũi tên mà bắn rớt tới ba bốn con chim … Thằng Capone tuy là ăn cướp nhưng xét cho cùng thì có nó, ngài cũng được nhiều cái lợi lắm phải không cụ nghị …
Xong câu nói, Malone lại tiếp tục cười lên hô hố. Ness ngồi bên cạnh nhún
vai lắc đầu. Thằng cảnh sát này quả là thứ chẳng sợ trời, không sợ đất, chẳng biết kiêng nể ai cả.
Thượng nghị sĩ Phil thắc mắc:
-Đồng ý là mất một thời gian, nhưng bao nhiêu lâu?
Ness nói liền:
– Thượng nghị sĩ cứ nói là sáu tháng. Trong vòng sáu tháng, chúng tôi sẽ
đưa nó lên ghế điện.
-Sáu tháng! Chính phủ dù làm việc chậm thật, nhưng đâu có mất sáu tháng
để đánh một công điện triệu hồi nhân viên mình về. Tinh khôn như thằng Capone, chắc chắn nó không tin …
Malone xen vào:
-Ba tháng được không?
-Cũng hơi lâu nhưng nghe có lý hơn. Tôi sẽ cố gắng. Mà ba tháng thì mấy
ông đủ thời gian để diệt nó không?
-Nhận công điện thuyên chuyển là một chuyện, còn đi hay không lại là
một chuyện khác. Lỡ ông xếp tôi ổng bị bệnh bất tử, ổng đi không được thì sao?
Ngài thượng nghị sĩ gật gù cái đầu trong bóng tối. Nó tính vậy là toàn vẹn
đôi bề. Lão chỉ sợ quá hạn mà thằng Ness không về thì lão khó sống với thằng
Capone.
-Cụ nghị còn có thắc mắc gì không?
-Tôi sẵn sàng giúp các ông, nhưng các ông phải hứa với tôi là làm ăn cho khéo léo. Mấy ông biết tính tình thằng Capone, nó mà biết được thì tôi khó sống …
Malone nắm chặt tay ngài thượng nghị sĩ:
-Cụ thượng cứ yên trí! Malone này làm việc không bao giờ có sơ sẩy …
Ông thượng nghị sĩ ngạc nhiên vô cùng vì trong xe tối om như mực, nhìn sát
mặt vẫn không thấy nhau mà thằng cớm này chỉ cần thò tay ra một cái là chụp cứng được bàn tay mình liền. Bộ mắt nó thấy xuyên qua được bóng tối chăng? Một cảm giác vừa ớn lạnh vừa tin tưởng mãnh liệt từ … bàn tay chạy tuốt lên óc ngài thượng nghị sĩ. Thằng Malone ghê gớm như vậy, thằng Ness oai dũng như vậy thì mình sợ gì thằng Capone …
Chắc ăn như vậy nên bây giờ, vừa nghe Capone hỏi về chuyện thằng Ness,
thượng nghị sĩ Phil mỉm cười, khuôn mặt tươi hẳn lên:
-Bạn Capone, tôi đã hứa một lời là cố gắng giúp bạn là tôi … cố gắng mà.
Tôi xin thông báo cho bạn một tin mừng là cuộc vận động của tôi đã có kết quả
ngoài sự dự trù. Bộ tài chánh đang chuẩn bị gọi thằng này về. Họ sẽ gởi người khác lên thế nó …
Capone mừng như mở cờ trong bụng. Ai xuống đây cũng được hết, hễ
không phải thằng chó đẻ Ness là Capone ngủ yên giấc được rồi. Xếp vỗ tay xuống bàn nghe đến bốp một phát. Thượng nghị sĩ Phil thấy khuôn mặt nó y hệt một đứa trẻ con được quà. Càng nhìn khuôn mặt rạng rỡ của nó, thượng nghị sĩ càng nhớ đến thằng Malone. Thằng cớm này tính ít khi nào trật.
Capone thảy lên bàn tờ Chicago Tribune:
-Ông nghị có đọc báo sáng nay?
Truyện gì nữa đây? Ông thượng nghị sĩ ấp úng:
-… Ơ … không, thường thì chỉ có thơ ký tôi đọc rồi mới lọc những tin tức đưa
cho tôi …
Capone đẩy tờ báo tới trước mặt ông nghị:
-Ông đọc đi! Thằng Ness vừa bắn tiếng muốn làm hòa với tôi đó. Mới
ngày hôm qua thôi …
Thượng nghị sĩ cầm tờ báo lên, gật gù:
-Không ngờ thằng Ness mà cũng tham lam vậy. Xưa nay tôi cứ tưởng là
nó “untouchable” chớ. Vậy là đúng rồi. Nó muốn kiếm chác chút ít trước khi về
Hoa Thịnh Đốn đây mà …
Capone thở phào nhẹ nhỏm như vừa cất được một gánh nặng ra khỏi vai.
Nuôi bạn ba năm, chỉ dùng trong một giờ. Ít nhất lão thượng nghị sĩ đã làm được một việc mình nhờ cậy. Phải rồi, nếu không có lão thì dễ gì thằng cớm hung hãn này lại chịu bỏ cuộc một cách dễ dàng như vậy.
Đã đến lúc cần phải uống mừng. Xếp chỉ tay vào chai rượu. Guzick đứng
lên rót cho xếp một ly, sẵn tay đổ thêm đầy ly cho ông thượng nghị sĩ luôn. Xếp nâng ly rượu lên mời:
-Mời ông nghị một ly. Rượu này tôi gọi là “rượu chiến thắng”. Xin cám ơn
ông về những sự cố gắng!
-Xin chúc mừng ông!
Vừa uống hết ly rượu, xếp Al Capone chợt nhớ ra một chuyện. Cặp môi
đang tươi cười của Capone bỗng tắt phụt đi ngay như cái đèn dầu bị gió thổi. Ánh mắt xếp toát ra một tia nhìn hôn ám, khó hiểu:
-Chừng nào thì giấy thuyên chuyển mới đến tay nó?
Thượng nghị Sĩ Phil tằng hắng, bắt đầu làm công việc khó khăn nhất của
công tác ngày hôm nay là cắt nghĩa cho thằng ăn cướp này hiểu vấn đề thời gian của lệnh thuyên chuyển:
-Capone, bạn biết chính phủ mình làm gì cũng chậm chạp. Khi đưa một
nhân viên như vậy về nửa chừng …
-Xin ông vắn tắt đi, khỏi cần cắt nghĩa. Tôi chỉ muốn biết chừng nào cái
thằng … khó thương đó leo lên xe lửa về lại Hoa Thịnh Đốn thôi? Sao, khi nào?
-Lệnh thuyên chuyển sẽ đến tay nó trong vòng … ba tháng.
Capone trợn mắt. Chút rượu mừng còn lại trong miệng xém tí nữa thì phun
đầy xuống nền nhà. Xếp đưa tay lên quệt một cái rồi bỗng đập xuống mặt bàn nghe đến rầm một tiếng:
-Ba tháng? Ba tháng! Ông không nói giỡn tôi chớ?
Là tay đánh xì phé chuyên nghiệp, thượng nghị sĩ Phil bình tĩnh lắc đầu,
nốc cạn ly rượu rồi tố thêm tiền vô chiếu bạc:
-Không! Capone. Ba tháng là còn … mau với sự đốc thúc và nhắc nhở của
tôi đó. Nếu tôi không nhúng tay vào thì còn có thể lâu hơn. Có thể 6 tháng …
Capone lắc đầu chán nản, thở ra một tiếng thật dài:
-Ba tháng thì cũng như không. Ông biết thằng Ness chỉ mới xuống đây có
ba tháng mà đế quốc của tôi đã ngã nghiêng tơi bời rồi, giờ nó ở thêm ba tháng nữa thì tôi chịu gì nổi?
Thượng nghị sĩ Phil không ngờ thằng ăn cướp lừng danh nhất nước Mỹ, nhất thế giới này lại sợ một anh cảnh sát liên bang quèn đến như vậy. Thằng Ness
quả thật ghê gớm hơn mình nghĩ.
-Capone! Đó là lý do tại sao tôi muốn cắt nghĩa cho bạn hiểu mà bạn
không chịu nghe. Nói tới chánh phủ là nói tới cái gì chậm chạp, làm biếng, lè phè đủ thứ. Bạn biết, ngay cả tôi là một thượng nghị sĩ, nhiều khi đến ngày đến giờ mà cũng không được lãnh lương …
Capone đứng dậy, dụi tắt điếu xì gà đang cầm nơi tay:
-Đù mẹ … chính phủ, đù mẹ Hoa Thịnh Đốn, đù mẹ cả lò nhà chúng nó.
Sao lúc chúng nó thò tay nhận tiền thuế của tôi hay khi nhốt tôi vô tù thì mau lắm … Mới lạng quạng một chút là đã thấy cái còng sắt mổ cứng vào tay rồi kéo đầu đi liền. Đù mẹ muốn lấy gói thuốc đem theo chúng nó cũng không cho, vậy mà lúc thuyên chuyển mấy thằng cảnh sát mất dạy thì làm việc chậm như rùa. Đù mẹ cái chính phủ … chậm như rùa …
Thượng nghị sĩ Phil an ủi:
-Nhưng dù sao thì thằng Ness đã bắn tiếng cầu hòa, bạn đừng quan tâm về
nó quá, cứ cho nó một ít tiền là mọi chuyện coi như xong hết …
Thật ra, tiền đối với xếp đâu có phải là vấn đề. Nó muốn bao nhiêu lại không được. Xếp chỉ sợ nó giả đò đầu hàng để mua thời gian rồi rình rình quất một
cú chết người thôi. Lúc nghe ông thượng nghị sĩ thông báo là người ta đang triệu thằng Ness về, xếp tưởng là nó sẽ lên xe lửa đi liền ngày mai nên mừng hết lớn. Bây giờ, biết tin nó còn ở lại đây tới 3 tháng nữa thì không thất vọng làm sao được. Đù mẹ cuộc đời sao có nhiều chuyện rắc rối. Xếp nhìn thằng phụ tá:
-Ông nghĩ sao, Guzick?
-Xếp đừng nóng! Trình với xếp, cứ theo như cụ nghị nói thì thằng Ness sắp
sửa bị gọi về. Thời gian mất bao nhiêu lâu thì tôi không biết nhưng tôi biết một điều là chính phủ ta làm việc rất chậm. Có thể cụ nghị nói đúng. Hơn nữa, chuyện nó bắn tiếng muốn cầu hòa càng chứng tỏ việc đó: Nó muốn lợi dụng để vơ vét một cú chót. Mà nó đã muốn ăn mình cho nó ăn, tiếc gì hai ba trăm ngàn. Xếp đừng quên là nó còn ở đây ngày nào thì còn đủ sức để làm mình khốn khổ ngày đó …
Phụ tá Guzick luận vậy cũng đúng, Capone gật gù cái đầu, thấy nguôi nguôi trong lòng. Xếp ra lệnh cho ông phụ tá:
-Ông lấy tặng ngài thượng nghị sĩ năm chục ngàn để tạ ơn. Trả tiền mặt,
ngài thượng nghị sĩ không muốn nhận check …
Nói xong, xếp Al Capone nhìn ông thượng nghị sĩ nháy mắt cười một cái.
Nụ cười của xếp tự nhiên và đẹp như ngày nào, lúc Eliot Ness chưa bước chân
Sáng đó, trái với thông lệ của 20 năm làm cảnh sát, Mike Casey đi làm rất sớm. Phải nói quá sớm là đàng khác, vì lúc lão bước vào văn phòng, cả ty cảnh sát vẫn còn lên đèn sáng trưng. Nhân viên làm ca ngày chưa ai xuất hiện. Nhân viên ca đêm ngồi ngủ gà ngủ gật chờ giờ đi về.
Thấy Mike Casey bước vào, người cảnh sát trực đang ngồi gát chân ngủ
bỗng giựt mình thức dậy, đưa tay ra nhìn đồng hồ vì tưởng mình ngủ quên. Đồng hồ chỉ 6 giờ sáng. Đâu có chuyện kỳ vậy! Gã không tin được cái đồng hồ, lắc lắc bàn tay mấy cái rồi đưa sát lên tai chăm chú nghe. Ủa, đồng hồ vẫn chạy đều đặn bình thường. Tiếng tíc tắc vang lên rõ ràng như tiếng trống thế này thì đâu phải đồng hồ hư. Vậy thì không lý lão Mike Casey đi làm sớm à? Làm gì có chuyện đó. Suốt mấy chục năm ăn lương chính phủ, có bao giờ thấy mặt đại úy Mike Casey trong sở trước 9 giờ sáng. Người cảnh sát lắc đầu, rồi sực nhớ ra chuyện gì, liền quay đầu lại ngước mắt lên nhìn cái đồng hồ treo tường ở phía sau. Cây kim ngắn nằm ngoan ngoản nơi con số 6. Mới có 6 giờ!
Thế này thì Chicago sắp có loạn đến nơi. Lão Mike Casey đi làm sớm thật.
Người cảnh sát vừa ngáp vừa làm một dấu hiệu chào kính khi lão đi qua rồi sửa lại thế ngồi, đổi thế chân gác chân lên bàn, đôi mắp tiếp tục sụp xuống. Đại úy muốn đi làm sớm là chuyện của đại uý, phần em, chỉ cần tiếp tục ngủ cho hết giấc. Mike Casey biết nhân viên trong sở ngạc nhiên ghê lắm nhưng lão bất cần. Sáng nay lão có công tác trị giá 200 ngàn đô la. Tuần trước, cuộc thương lượng giá cả với Al Capone đã xong. Cái giá một triệu đô mà lão mơ ước chỉ là một ảo vọng.
Capone nói với lão:
-Tôi đem tặng nó 200 ngàn, nó không chịu. Vậy nếu ông gởi được nó vào
nhà xác, ông lấy số tiền đó về xài …
Nhận tiền đặt cọc rồi, về tới nhà Mike Casey mới thấy ăn tiền của thằng
trùm mafia quả thật là khó. Âm mưu cho một nhân viên cảnh sát liên bang cừ khôi như Eliot Ness đi tàu suốt không phải là chuyện ai làm cũng được. Nếu dễ dàng thì chúng nó đã làm rồi, đâu thèm nhờ đến mình. Bắn nhau tay đôi, chưa chắc những tay súng sừng sỏ của Chicago này có thể hạ nó nổi, nói gì đến một ông già nghiện rượu tay chân run lẩy bẩy như lão. Lão suy nghĩ. Hay là trích ra một mớ tiền để mướn người giết nó chăng? Mike Casey lục trong trí cố kiếm một thằng có khả năng để làm chuyện này nhưng chẳng thấy ai ngoại trừ thằng Frank Nitti. Bố khỉ, nếu thằng Frank Nitti làm được thì Capone đã không phiền mình đến mình.
Nghĩ tới nghĩ lui, Mike Casey thấy chỉ có một cách duy nhất để thực hiện
vụ này là cho nó ôm … trái bom. Nhưng chơi bom cũng khó khăn không kém chơi súng. Sợ có phần khó hơn vì Mike Casey xưa nay có bao giờ rờ tới trái bom đâu? Một vấn đề khác là nếu rành nghề cũng chẳng biết chỗ mà đặt. Trong nhà nó chăng? Chuyện không tưởng. Dưới gầm xe chăng? Cũng chẳng được. Một ông già 60 tuổi không còn đủ khả năng để làm chuyện đó. Mà dù cho có đủ can đảm để chun xuống thì cũng không thể nào lách cái bụng phệ dưới gầm xe thấp lè tè của chiếc Ford mắc dịch. Không khéo chun vào được mà ra không nổi thì cả xe lẫn người cùng tung lên cao như xác pháo một lần. Mike Casey không dại gì chơi vậy.
Phải mất hết mấy ngày nhưng cuối cùng rồi Mike Casey cũng tìm ra cách
bứng thằng cớm liên bang. Mà cách này lại đẹp và chắc ăn. Lão khám phá ra là
ngay dưới văn phòng của Ness là một cái hầm chứa hồ sơ cũ của cảnh sát. Cả năm chưa có ai bước vào đây lần nào.
Một buổi chiều, chờ lúc vắng vẻ, Mike Casey âm thầm mở cửa hầm vào
ngồi quan sát và nghiên cứu có đến hơn một tiếng đồng hồ. Lão tìm được một chỗ lý tưởng có thể gài trái bom. Ngay dưới đáy bàn giấy của Ness …
Vấn đề còn lại là phải tính trái bom nặng cỡ bao nhiêu ký để khi nó nổ một phát thì chỉ có thằng Ness và cái bàn giấy bị thổi bay lên trời thôi. Lão không muốn cả ty cảnh sát trở thành một đống gạch vụn.
Nói về bom thì ở Chicago này có ai qua mặt được thằng đệ nhất đao phủ
thủ của Al Capone là Frank Nitti? Nó có thể gài một trái bom ngay dưới ghế ngồi trong một nhà hàng đông đúc, cho nổ oành một phát, thằng ngồi trên đó tét … đít chết tươi mà đứa ngồi bên cạnh chỉ bị giật mình một phát thôi, quần áo nám đen nhưng chẳng hề hấn gì.
Tính toán và ước lượng xong, cho chắc ăn, Mike Casey còn lấy cái hoạ đồ
xây cất của ty cảnh sát ra ghi chép cặn kẽ những chi tiết quan trọng rồi đến gặp
thằng Frank Nitti vấn kế. Vừa nghe nói tới bom là mắt thằng đệ nhất đao phủ thủ của Al Capone sáng lên. Nó mở hộc tủ, lấy ra cuốn cẩm nang bí mật về bom của quân trường TQLC đã phát cho hồi xưa ra ngồi nghiên cứu một lúc thật lâu. Cỡ mười phút sau, nó móc cây viết chì ra tính toán một lúc rồi ngửng mặt lên, giọng nói đầy vẻ tự tin:
-Theo bề dày như thế này, bê tông loại 3 như thế này, trong một chỗ như
thế này, nếu dùng TNT thì phải đúng 12 pounds. Trên 15 pounds thì cả cái sàn nhà có thể sụp luôn. Dưới 10 pounds thì thằng Ness chỉ bị … giật mình một cái mà thôi …
Rồi chẳng cần đợi mời, nó hăng say giảng nghĩa những kỹ thuật phá hoại
đã học được ngày nào ở quân trường TQLC cho ông cảnh sát già nghe. Mike Casey ngạc nhiên vô cùng vì thằng Frank Nitti này xưa nay nổi tiếng trong giới giang hồ là một đứa rất kín mồm kín miệng. Kín đến độ mang danh là “Frank câm” mà không biết hôm nay sao lại ham nói quá chừng thế này? Hóa ra là con người ai cũng có tật ham đấu hết. Cũng y như cái máy radio vậy mà. Nó câm xưa nay bởi vì chưa ai được vặn trúng băng tần. Hễ vặn trúng thì người ta có thể nói từ sáng đến chiều không biết nghĩ. Lão Mike Casey nghe tới đâu là chịu tới đó. Chao ôi, United State of America sao lại có những cái quân trường dạy dỗ lính tráng hay như vậy. Thảo nào, bọn TQLC này đi đến đâu là chiến thắng đi theo đến đó. Niềm hãnh diện của một cường quốc có khác. Kiến thức của một một thằng TQLC Mỹ, dù chỉ là thằng hạ sĩ đào ngũ cũng thật đáng phục.
Đang thao thao bất tuyệt về cái tài bom của mình bỗng nó nín bặt, mặt xệ
xuống một đống, cặp mắt đâm ra lầm lì khó hiểu. Mike Casey giật mình. Đù mẹ lại chuyện gì nữa đây, lão đánh hơi thấy có trở ngại trước mặt liền ngơ ngác hỏi:
-Có gì khó khăn không chú mày?
Frank Nitti lắc đầu, chửi thề lên một tiếng, rồi lại … lắc đầu nữa:
-Tôi vừa nghĩ ra một chuyện. Tính toán để gài bom thì dễ nhưng làm cách
nào để cho nó nổ lại là vần đề khác.
-Thì gài bằng đồng hồ. Cứ canh đúng giờ đó thì nó nổ liền chớ gì.
Frank lắc đầu:
-Làm vậy không chắc ăn. Ngộ nhỡ đến giờ đó mà nó nổi hứng bỏ đi … ỉa
bất tử hay đi uống cà phê như ngày nào thì lại là công cốc. Ông biết là xếp Al
Capone không muốn bị thua một lần thứ hai nữa.
Mike Casey tự nhiên thấy lạnh mình. Nếu để “thua” cú này, lão biết
Capone không chừng sẽ cho lão đi mò tôm luôn để bịt miệng. Mà nếu nó không giết mình, mình cũng khó sống với thằng Ness. Một trái bom đương không nổ khơi khơi trong văn phòng ông cớm liên bang tại ty cảnh sát không phải là một chuyện dễ bỏ qua được.
Frank suy nghĩ một lúc rồi cắt nghĩa tiếp:
-Tôi suốt đời sống nhờ … bom, tôi biết cách cho nổ. Gài đồng hồ thì chỉ
dùng để phá hoại hoặc gây khủng bố thôi. Gài bom để giết người, cách lý tưởng nhất và chắc ăn nhất vẫn là hoặc do chính mình bấm ngòi, hoặc là để cho chính đương sự tự … bấm ngòi. Như gài vào xe thì chỉ cần nối một đầu vào dây công tắc. Nó lên xe, vừa mở công tắc lên thì nghe ùm một cái liền …
– Vậy thì mày cho nối dây từ trái bom lên thẳng văn phòng tao được không?
Frank bẻ cây viết chì làm đôi, quăng vào sọt rác:
-Không phải là chuyện dễ dàng. Thứ nhất là dễ bị lộ, thứ hai là ai sẽ đi nối
mấy trăm thước dây điện dài lòng thòng trong ty cảnh sát lên văn phòng ông để cho ông giết một thằng cảnh sát. Đù mẹ khó nghĩ quá.
Mike Casey chưng hửng. Frank đi đi lại lại trong phòng, đầu cúi gầm
xuống, trán nhăn lại đầy vẻ suy tư, thỉnh thoảng lại bung ra một tiếng chửi thề. Mike Casey nhìn thấy cảnh đó cũng bỗng đâm ra tức cười. Cái thằng ăn cướp này vô học này, suy nghĩ thì suy nghĩ chứ làm gì lâu lâu lại phải chửi thề một phát nghe chướng tai quá.
Bỗng chuông điện thoại trên bàn giấy Frank Nitti reo vang. Thằng đao phủ
thủ xoay người thò tay ra tính bốc máy lên nhưng tự nhiên dừng lại, rồi đứng im một cục, cứ nhìn cái điện thoại chằm chằm như kẻ mất hồn, không thèm nhấc ống nghe lên.
Rồi tự nhiên nó vỗ hai tay vào nhau nghe đến một đét phát, nhảy cẵng lên:
-Xong rồi!
-Mày nghe điện thoại đi đã, để nó reng nhức lỗ tai quá …
Frank cười, vừa thò tay nhấc ống nghe lên thì đường dây đã bị cúp. Nó gác
điện thoại lên, lắc đầu:
-Thằng nào đó gọi không được, lát nữa nó gọi lại. Nhưng tôi đã tìm ra đáp
số cho bài toán rồi.
-Là gì?
– Văn phòng ông cũng có một cái điện thoại như vầy phải không?
-Đúng!
– Vậy thì coi như vấn đề đã được giải quyết xong. Mình sẽ dùng đường dây
điện thoại của ông làm đường giây bom.
Mike Casey chưa hết thắc mắc:
-Làm thế nào được?
-Sách của TQLC dạy rằng, muốn cho một trái bom nổ, cần có một ngòi nổ
nổ trước để làm mồi. Hạt nổ này có thể làm cho nổ bằng các cơ phận máy móc hay bằng điện lực. Ông hiểu tới đó chưa?
-Hiểu. Vậy có gì mà không hiểu.
-Dòng điện là một … dòng có hai cực: Âm và Dương. Âm thì trong các
building, chỗ nào cũng có hết, khắp mọi nơi. Ông chỉ cần nối một đầu dây của ngòi trái bom vào bất cứ một nơi nào có sắt trong nhà là chổ đó có âm cực. Thường thì ống nước là chỗ có nhiều điện âm nhất … -Rồi. Còn Dương thì sao? Tao hiểu đường dây điện thoại cũng có mang dòng điện nhưng đâu có đủ mạnh để làm nổ một trái bom?
-Đúng. Mình chỉ dùng đường giây điện thoại như là một sợi dây dẫn điện
thôi. Sau khi đã có âm điện cho một đầu, còn đầu kia, nếu ông ghép nó vào đường giây điện thoại của ông, thì đường giây này có khác gì một sợi dây bom dài thòng lòng chạy lên tới văn phòng ông … Hà hà, tôi biết mỗi thầy đội Chicago được trang bị một cái đèn bấm dài gần hai feet với cục pin 16 volt có sức mạnh gần cả trăm watts …
Frank nhìn Mike Casey cười nham nhở:
-Tôi biết rõ vì ngày xưa chính tôi đã bị chúng nó giộng cho mấy cái đèn
pin này vào đầu, máu phun ra tùm lum ….
Mike Casey nhăn mặt. Thằng Frank Nitti mà đi pha trò thì ai cười cho nổi.
Frank Nitti tiếp tục:
Ông cứ việc chờ cho thằng chó đẻ Eliot Ness vào tới văn phòng, vừa ngồi
xuống thì dí đầu dương của cục pin 16-volt này vào bất cứ chỗ nào trong đường giây điện thoại ông … Bảo đảm ông chưa kịp rút nó ra là đã nghe thấy một tiếng ùm long trời lở đất liền …
Nghe nói đến đó, Mike Casey thấy lạnh mình nhưng Frank lại bật cười lên
sằng sặc. Mắt nó long lên, bắn ra những tia sáng điên dại, bệnh hoạn, làm như nó vừa cho nổ một trái bom thật vậy. Mike Casey cảm thấy vừa hơi khó chịu vừa nhẹ nhỏm trong người. Khó chịu vì dù gì, cảnh sát mà đi giết … cảnh sát, lương tâm cũng còn bị dày vò đôi chút. Và nhẹ nhỏm vì lão biết từ giây phút này đây, mạng sống của Eliot Ness hoàn toàn nằm trong tay lão. Công việc xếp Al Capone giao coi như đã xong được 80 %. Không, đúng hơn, phải nói là số tiền 200 ngàn đô la coi như đã nắm được trong tay 80 %. Thật không ngờ công tác mới đầu coi thấy khó khăn quá mà rồi cuối cùng lại trở thành dễ ẹt. Dễ ẹt nhờ bộ óc tội ác kỳ lạ của Frank Nitti.
Sáng nay, Mike Casey đi sớm hơn thường lệ không có mục đích có gì khác
hơn là để gài trái bom này. Biết được tầm mức quan trọng của công việc, tối hôm trước lão không uống một giọt rượu nào cả và đi ngủ rất sớm. Vì thế, sáng nay lão cảm thấy cơ thể thoải mái dễ chịu, đầu óc sáng suốt. Bắt tay vào việc chỉ nửa tiếng đồng hồ là lão đã để được trái bom vào đúng chỗ dự trù. Dưới sàn của văn phòng Ness, ngay dưới bàn giấy … thằng khốn nạn. Hai sợi giây mồi, sợi dây nối vô cực âm đâu có cần phải chạy đâu cho xa vì dưới sàn nhà ống nước ống cống chạy qua chạy lại chằng chịt sát ngay bên trái bom. Thằng Frank Nitti nói là một giòng điện muốn làm việc được cần phải có âm và dương. Điện âm thì có khắp nơi, nhất là trong ống nước. Đù mẹ ống nước to như thế này thì “âm” nhiều phải biết. Lão chỉ cần lấy băng keo băng lại cho chắc ăn. Sợi dây kia cũng không phải đi xa lắm, ra tới miệng hầm là gặp ngay đường dây của lão liền. Mấy hãng điện thoại làm ăn thật là khoa học.
Đường giây nào cũng có số và có màu khác nhau cho nhân viên sửa chữa dễ phân biệt. Lão chỉ cần dở cuốn cẩm nang “Telephone Network Operating Manual” của thằng Frank Nitti phát cho, điều tra một lúc là biết đường giây nào của mình liền.
Mò mẩm chừng năm phút, móc nó lên, lấy con dao gọt gọt một chút cho lớp nhựa bọc ngoài bung ra, đút sợi dây kia vào, bẻ quặp lại hai vòng, dùng tay bóp mạnh cho nó dính cứng vào rồi lấy băng keo băng lại là xong. Mike Casey vừa làm việc vừa huýt gió như một anh thợ sửa điện thoại chuyên nghiệp yêu nghề. Xong xuôi, lão kiểm soát lại mọi chuyện thêm hai ba lần
nữa rồi cất đồ nghề, lặng lẽ bước ra khỏi hầm chứa hồ sơ. Ra tới phía ngoài mới thấy thoải mái nhờ không khí trong lành.
Mike Casey liếc nhìn đồng hồ. Chưa tới 8 giờ tuy trời đã sáng hẳn. Lão tà
tà leo mấy bực thang lên tầng trệt. Lão vừa bước vừa suy nghĩ và làm một con tính nhẩm để coi số lương của mình là bao nhiều tiền một giờ cho cái công tác này. Nãy giờ cặm cụi chưa tới hai tiếng đồng hồ nhưng cứ coi như là hai tiếng đi. 200 ngàn chia cho 2 là 100 ngàn đồng một giờ. Trong thế giới, ngoại trừ Al Capone, có lẽ lão là người duy nhất làm việc với số lương 100 ngàn đô là một giờ ….
Trở lại văn phòng, lão duyệt lại lần chót kế hoạch của mình. Để coi, hễ thằng Ness trở vào thì mình sẽ tà tà chạy sang bắt chuyện với nó vài câu để xác
nhận tận mắt cho chắc ăn. Xong rồi trở về văn phòng, lẹ làng mở học bàn lấy cục pin từ cái đèn bấm ra để sẵn trên bàn. Sau đó, như kế hoạch của thằng Frank Nitti, mình sẽ bốc điện thoại gọi sang cho nó. Hễ người cất giọng nghe đúng là thằng Ness thì còn chần chờ gì nữa, cứ dí cái cục pin vào chỗ đầu dây đã gọt sẵn. “Một tiếng ầm long trời lỡ đất sẽ nổ lên ngay giữa ty cảnh sát này liền,” thằng Frank Nitti đã nói vậy mà. Cho chắc ăn hơn, Mike Casey còn lắp pin vào đèn để thử. Tốt, điện sáng như mặt trời như thế này thì sức mạnh phải biết. Không, nói theo kiểu thầy Frank Nitti thì “Dương” nhiều phải biết.
Mike Casey ngẩm nghĩ, lúc gọi điện thoại sang cho thằng Ness, mình sẽ
nói với nó câu gì lần cuối cùng đây kìa? Mike Casey mỉm cười, tưởng tượng một câu mà lão cho là rất đắc ý trước giờ phút cuối cùng của người cảnh sát liên bang: “Kính chào ông Ness, và xin vĩnh biệt ông … ” Thằng Ness chưa kịp hiểu ra câu nói kỳ lạ thì đã nghe đến ùm một tiếng liền. Mình phải gác điện thoại chui xuống gầm bàn để tránh mảnh vụn có thể rớt đầy nhà. Văn phòng nó đâu có xa gì mình.
Duyệt tới duyệt lui mấy lần nữa, thấy mọi chuyện đều vừa ý, Mike Casey
rềnh ràng tự thưởng cho mình một ly cà phê. Lão kéo ghế bành, ngồi ngữa ra sau, vừa nhâm nhi ly cà phê nóng hổi vừa liếc qua một vòng các tin tức của mấy tờ nhật báo. Ôi, cuộc đời sao có nhiều giây phút thống khoái như thế này?
Ngụm cà phê sáng đầu tiên vừa uống vào, chưa kịp chui xuống cổ họng
bỗng nghe lão “hử” lên một tiếng ai oán rồi phun ngược nó ra trở lại, ướt đầy mặt bàn. Mike Casey vừa nhìn thấy hình thằng Ness và Gary Malone mơi trang ra nhất của một tờ báo. Nhìn sang mấy tờ kia, dù góc cạnh có khác nhưng báo nào cũng có hình của hai thằng … quỷ sứ.
Mike Casey tái mặt. Chuyện gì đây kìa? Lão hối hả đặt ly cà phê lên bàn,
đầu cúi xuống như muốn nuốt sống những hàng chữ chi chít nơi trang một. Và càng đọc thì mặt lão càng tái đi trông thấy: Thằng Ness đang lên tiếng kêu gọi hòa đàm. Mike Casey lặng người trong giây lát. Ôi thôi, 200 ngàn đô la coi như đã nắm được trong tay, bây giờ chúng nó thay đổi chiến thuật một cách … chết người như thế này thì còn gì nữa. Đầu óc chiến lược của ông đại úy cảnh sát tính toán liền.
Dĩ nhiên, đây là giấc mộng vàng mà thằng Capone hằng mơ tưởng. Nó mơ ước
chuyện này đã mấy tháng nay, đi năn nỉ cầu hòa mãi không được mới quyết định cho giết, và giết không nổi mới mượn qua tay mình. Chỉ có vài giờ đồng hồ trước khi xuống lỗ, thằng Ness sao lại trở chứng quay ngược một cú 180 độ như thế này được?
Bộ có trời giúp nó chăng? Hay là nó đọc được những gì thằng Capone suy nghĩ trong đầu?
Mike Casey đập mạnh tay xuống bàn nghe đến rầm một phát. Cú đập mạnh quá làm ly cà phê nhảy tưng lên rồi rớt xuống đất đổ tung tóe. Chưa đã giận, lão cáu sườn đứng dậy vung chân đá luôn vào cái tách cà phê đang nằm trên nền
nhà vào góc phòng … Đù mẹ như thế này thì công trình chuẩn bị tính toán bao nhiêu lâu coi như hỏng bét. Thật ra, kế hoạch của thằng ăn cướp Capone có hỏng hay có ra sao lão đếch cần. Lão chỉ quan tâm đến số tiền 200 ngàn đô mà thằng Guzick sẽ bỏ vào nhà băng của lão chiều hôm nay. Điệu này thì 20 đồng mua một ly rượu cũng chưa có, nói gì 200 ngàn?
Mike Casey nhìn chằm chằm vào cái điện thoại một cách hồi hộp. Chỉ cần
một tiếng chuông rung, nhấc lên là thế nào cũng nghe giọng nói của thằng Guzick gọi tới: “Hủy bỏ kế hoạch vào giờ phút chót … “
Mike Casey đi loanh quanh cái bàn giấy, miệng không ngớt nguyền rủa cái
thằng cớm … kỳ lạ. Sáng sớm trời còn lạnh mà mồ hôi trán của lão toát ra đầy mặt. Bỗng lão nghĩ ra một chuyện. Thằng Ness mới họp báo ngày hôm qua, báo mới đăng sáng nay, chưa chắc Capone đã biết chuyện này. Thằng ăn cướp này có bao giờ leo xuống khỏi giường trước 11 giờ sáng. Hai kẻ có thẩm quyền cao nhất còn lại để giải quyết vấn đề này là thằng Guzick và Frank Nitti. Về Frank Nitti thì khỏi nói rồi, lão biết chẳng những nó muốn giết thằng Ness thôi mà nếu xong việc, gởi cho nó tí thịt đùi của thằng Ness để nó tự tay làm món bí tết mà ăn thì nó cám ơn vô cùng. Còn Guzick chỉ là một phụ tá tài chánh, chắc chắn nó không có ý kiến gì.
Vậy thì, nếu thằng Ness lò mò vô đây trước khi xếp Al Capone thức giấc, mình cứ việc cho nó … nổ tung như một xác pháo. Mike Casey lại thấy phấn khởi tinh thần đôi chút. Lão biết Eliot Ness là một người rất đúng giờ. Ngoại trừ những lúc có công tác riêng phải thi hành, hễ cứ đúng 8 giờ đi ngang văn phòng nó là thế nào cũng thấy nó ngồi lù lù một đống nơi bàn giấy. Tốt lắm. Sáng nay mày sẽ ngồi đó mà chờ thần chết đến đón về …
Mike Casey tà tà bước ra khỏi văn phòng, đánh một vòng dạo mát. Lão leo
lên lầu, ra nơi hành lang trước, đứng tựa một cái cửa sổ lơ đảng nhìn xuống đường. Quả như Mike Casey đoán, 8 giờ kém năm phút, từ cửa văn phòng nhìn xuống, Mike Casey thấy chiếc xe Ford già khụ của Eliot Ness tà tà lái vào bãi đậu. Lão thắc mắc là một siêu cường quốc giàu mạnh như Hoa Kỳ sao lại để ông đệ nhất cớm của mình lái chiếc xe cà tàng như thế này? Tiếng động cơ nổ cà khì cà khạch từ dưới vọng lên nghe như tiếng ho của một bà già bị hen suyển lâu năm. Thỉnh thoảng, người tài xế phải rú ga nhẹ một cái cho nó khỏi tắt máy. Tiếng máy xe nghe đã vậy, khi nó đạp thắng, tiếng kẻo kẹt lạnh xương sống nghe còn thấy khủng khiếp hơn nữa. Mike Casey nhìn thấy rõ thằng tài xế rướn người đạp mạnh hai ba cái, tiếng thắng kêu nghe to như vậy mà chiếc xe đâu đã chịu ngừng. Nó chỉ từ từ chậm lại cho đến khi tới gần sát bờ lề mới chịu dừng lại hẳn. Đù mẹ đứng trên nhìn xuống còn thấy nhức tim. Mike Casey chợt nghĩ nếu mình không giết nó ngày hôm nay thì trước sau thằng Ness này nếu không chết vì xe bị hỏng thắng bất ngờ dọc đường thì cũng chết vị bệnh đau tim. Trước khi hạ thủ, tên đao phủ già bỗng thấy lòng mình chùng xuống. Sao
lại có thể đến nước này hỡi Mike Casey? Lão nhắm mắt, lâm râm một lời cầu xin tha tội. Lạy chúa, xin hãy tha thứ cho bàn tay con sắp sửa phải vấy máu người. Một người mà đáng lẽ con phải dùng hết thì giờ và sức lực để phục vụ. Một người rất can đảm, rất đáng kính …
Mồi một điếu thuốc, Mike Casey tiếp tục suy nghĩ. Nó đáng kính thật
nhưng cái check … 200 ngàn đô la của mình còn đáng kính hơn nhiều. Thôi thì đành phạm tội một lần vậy. Từ này về sau quyết chẳng bao giờ giết người nữa.
Từ trên, đại úy Mike Casey nhìn xuống dưới sân không thiếu một chi tiết.
Chiếc xe vừa tắt máy, Mike Casey suýt chút nữa thì nhảy dựng lên khi nhìn thấy người đầu tiên nhảy xuống xe không phải Eliot Ness mà là thằng cớm Gary Malone.
Nó vừa nhảy xuống, chân chưa đứng vững là cặp mắt đã quét ngang một
lượt nhìn khắp nơi. Mike Casey vội vàng thụt người vào nhưng không còn kịp nữa. Ánh mắt sáng quắt của Malone như bắn trúng vào mặt người cảnh sát già. Lão thấy toàn thân bủn rủn như người mình như bị một luồn điện chạm phải. Lão và thằng Frank Nitti đã sơ ý không tính tới “yếu tố Malone” của cuộc mưu sát này … Mike Casey không biết tính toán làm sao bây giờ nhưng lão không dám ló mặt ra nữa, vội vàng dọt một nước về văn phòng mình, đóng cửa lại.
Trong khi đó, vừa bước xuống xe và thoáng nhận ra Mike Casey ở trên lầu
nhìn xuống, thầy đội Malone lẹ làng chui tuột vô xe trở lại rút cây shotgun ra đứng thủ nơi cửa:
-Ông Ness, ông cẩn thận, tôi ngửi thấy được cái mùi gì là lạ sáng hôm nay.
Không hiểu sao lão Mike Casey hôm nay đi làm sớm vậy. Chuyện này ngàn năm mới có một.
Ness đâu có lạ gì cái chuyện này. Thật ra chàng đã nhìn thấy đại úy Mike
Casey đứng nơi cửa sổ lúc mới quẹo xe vào. Nhất định phải có một cái gì bất
thường. Sau vụ nổ súng tại quán cà phê, đối với Ness, chuyện gì cũng có thể xẩy ra tại ty cảnh sát này được hết. “Sở làm việc gì mà cứ như là một bãi chiến trường … “
Ness thầm nghĩ và rút phăng cây Colt.45 ra rồi đẩy cửa nhào xuống đường như một cơn lốc. Hai ông cớm thượng thặng hung hản nhất Chicago, mỗi người cây súng đứng yên lặng sát bên sườn xe quan sát và nghe ngóng, sẵn sàng đón nhận mọi biến động có thể xảy ra. Nửa phút đồng hồ căng thẳng yên lặng trôi qua. Hai người chẳng thấy gì khác hơn ngoại trừ một số nhân viên cảnh sát đang trên đường đi vô sở. Mọi người ngạc nhiên nhìn hai ông cớm mặt mày nghiêm trọng đang ôm súng đứng thủ như sắp sửa bắn lộn với ai. Malone nhìn Ness dò hỏi. Ness nhún vai:
-Nếu chúng nó muốn chơi mình tại đây thì giờ này bãi chiến trường chắc
cũng đã xong rồi.
Chàng mở nút áo vét, chỉ ngoáy bàn tay một cái là cây súng đã chui tọt trở
vô nằm ngoan ngoản trong bao. Malone vẫn thủ cây Shotgun cùng bước song song với Eliot Ness đi vào ty. Thiên hạ nhìn thấy thầy đội Malone mặt mày hầm hầm với cây Shotgun trên tay thì … né một mực. Sáng sớm mà mặt mày hắn như vậy thì hôm nay thế nào cũng có … người chết.
Leo lên mấy bậc thềm tam cấp, Malone nói:
-Hơn hai chục năm làm cảnh sát, đây là lần đầu tiên tôi thấy lão Mike
Casey đi làm sớm như vậy.
Ness nhìn trời bâng khuâng:
-Tôi ngửi được một cái gì trong không khí, nhưng mình sẽ không ngồi yên
để chúng nó mò vào làm thịt đâu.
Malone càu nhàu:
-Tôi đã nói ông rồi, cả cái ty cảnh sát này không còn ai tin được. Đù mẹ vô
sở đi làm mà cứ như là vào hang đi bắt cọp, không biết bị chúng nó vồ lúc nào …
-Theo ông nghĩ thì chừng nào thằng Capone mới trả lới cái đề nghị của
mình?
-Nội trong ngày. Trưa nay thượng nghị sĩ Phil sẽ đến gặp nó.
-Mình chỉ mong có vậy. Chỉ sợ lệnh lạc của thằng Capone không đến kịp
thì thế nào cũng có một màn bắn giết tùm lum nữa …
-Đành chịu thôi! Cứ theo cái … lỗ mũi của tôi sáng hôm nay thì chúng nó
vẫn còn đang âm mưu giết mình …
Đầu óc Malone cứ xoay chuyển quanh chuyện có mặt một cách sớm bất
thường của lão Mike Casey. Nhất định phải có một lý do nào đây mà Malone nghĩ không ra …
Vừa bước vào văn phòng là Malone cùng Ness lẹ làng làm một vòng kiểm
soát khắp các nơi liền. Cả hai chú ý đến từng tờ giấy, từng cây viết để trên bàn. Cho tới vị trí cái thùng rác cũng không qua khỏi cặp mắt thiện nghệ của hai ông cớm. Tốt. Hôm qua mình để thế nào thì bây giờ vẫn còn yên như thế. Điều này chứng tỏ không có ai đột nhập văn phòng lúc hai người vắng mặt. Ness chụp điện thoại tính gọi đi nhưng nhanh như chớp Malone đè tay chàng xuống:
– Khoan đã, chờ tôi một chút. Một trong những chỗ lý tưởng nhất cho chúng
nó gài bom vẫn là cái điện thoại …
Rút trong túi áo ra một cái tuột vít nhỏ, thày đội tháo bung phần dưới của
máy điện thoại chỉ trong vòng tíc tắc, quan sát thật kỹ rồi vặn trở lại:
-Quái lạ thật! Tôi ngửi được cái mùi bất thường ở đâu đây mà sao tìm mãi
không thấy.
Ness dở máy điện thoại gọi số, cười:
-Ông cứ tiếp tục ngửi đi, thế nào cũng chẳng tìm thấy?
Trong lúc Ness gọi điện thoại, Malone lặng lẽ đi một đường kiểm soát
khắp các chỗ trong phòng. Hắn dở luôn cả tấm bản đồ trên tường xuống, xem xét từng ly một. Chẳng thấy gì cả. Thầy đội nhíu mày ra chiều suy nghĩ, móc ống tẩu ra nhồi đầy một tẩu, kẹp nó giữa hai hàm răng rồi nhẹ nhàng ôm cây shotgun bước ra khỏi phòng. Không biết đi đâu nhưng Malone phải bước ra khỏi cái văn phòng chật hẹp hôi hám này. Trong ty cảnh sát mà ôm shotgun đi khơi khơi như vậy thì thật chướng mắt nhưng thầy đội cóc cần. Cái lỗ mũi của Malone xưa nay đã ngửi được cái mùi gì rồi thì khó mà bỏ qua được.
Cúi đầu bước đi một lúc, tự nhiên Malone nhận ra mình đang bước đi trên
cái hành lang dẫn đến văn phòng của Mike Casey. Thầy đội gật gù cái đầu khi nhớ đến Mike Casey. Phải, Mike Casey. Nhất định thằng cớm dơ bẫn này phải có dính dáng đến cái mùi gì bất trắc mà mình đã ngửi được sáng hôm nay …
Có thể nói, đối với Mike Casey, năm phút đồng hồ sắp tới sẽ là năm phút
quan trọng nhất đời, năm phút có giá trị bằng 200 ngàn đô la, năm phút mở màn cho những tháng ngày về hưu an nhàn sung sướng với bao nhiêu người hầu kẻ hạ, bao nhiêu ngựa xe dập dồn. Lão hơi hối hận một chút vì lúc nãy đã đứng hớ hênh nơi cửa sổ để cho thằng Malone nhìn thấy được nhưng nghĩ cho cùng thì mình đâu có gì để lo sợ nó. Một người khỏe mạnh như lão không có lý do gì để đi sợ hai cái xác chết.
Theo đúng kế hoạch, Mike Casey chờ khoảng chừng mười phút. Ý chừng
hai thằng cớm đang ngồi thảnh thơi trong văn phòng để chờ chết, Mike Casey nhấc điện thoại lên gọi cho chúng nó một lần cuối cùng cho chắc ăn. Đường giây bị bận. Mike Casey gác điện thoại, chờ đúng hai phút rồi lại gọi nữa. Đù mẹ đường giây vẫn còn bị bận. Lão nhíu mày, nhún vai lắc đầu. Thôi thì khỏi cần từ giã nhau cũng được.
Mike Casey đứng dậy ra nói với bà thơ ký là mình bận không tiếp ai cả rồi
nhẹ nhàng đóng cửa văn phòng lại, khóa kỹ càng. Lão cẩn thận hạ luôn mấy tấm màn cửa sổ xuống cho được kín đáo.
“Nguyện xin thiên chúa đón rước linh hồn hai ông cớm về nơi yên nghĩ
cuối cùng … ” Mike Casey vừa lẩm bẩm cầu nguyện vừa thò tay kéo học bàn, lôi cục pin ra. Nó đây rồi. Cục pin chế đặc biệt cho cảnh sát có khác. Nó dài, tròn, cứng như một thỏi sắt để thầy đội còn có thể sử dụng như một món vũ khí bí mật. Kéo sát ghế vào gần bàn giấy, Mike Casey ngồi chồm người tới trước. Một tay nắm đầu giây điện thoại, tay kia nắm cục pin, Mike Casey mò mẫm kiếm chỗ khúc dây vừa được lão nạo vỏ ra lúc sáng. Đến giờ phút này, lão mới khám phá ra là chuyện giết người thật không phải dễ dàng. Lão thấy hơi thở của mình tự nhiên như bị tắt nghẹn, lồng ngực trở nên nặng chĩu như có bàn tay vô hình nào bóp chặt, mồ hôi lão nhỏ giọt và tệ hại nhất, hai bàn tay lão sao run lên quá chừng. Nó đây rồi, ngón tay Mike Casey chạm phải lớp kim khí của sợi dây điện thoại đã bị gọt mất vỏ. 200 ngàn đô la là đây. Thôi, xin vĩnh biệt Eliot Ness. Xin vĩnh biệt Gary Malone. Mike Casey nghiến răng dí mạnh cục pin mình đang cầm vào chỗ đó.
Lão nín thở chờ nghe một tiếng nổ long trời lở đất vang lên về phía văn
phòng Eliot Ness. Một giây đồng hồ trôi qua yên lặng. Mike Casey nhíu mày thắc mắc. Điện đâu có chạy chậm như vậy?
Hai giây đồng hồ trôi qua. Cũng chưa nghe được tiếng nổ long trời lở đất
mà lão mong đợi. Mike Casey nghiêng đầu như để lắng tai nghe tiếng bom. Mình già thật và lỗ tai có hơi nặng nhưng đâu có nặng đến độ bom nổ sát bên mà không nghe thấy?
Ba giây đồng hồ trôi qua mà bom vẫn chưa nổ. Mike Casey chửi thề, có
thể mình chưa đè mạnh đúng như lời thằng Frank Nitti nói chăng? Có thể lắm. Mike Casey chà mạnh đầu cục pin vào sợi dây lần nữa, rồi lần nữa. Vẫn không thấy gì. Lão nổi cơn điên, quên cả chuyện mình đang làm cần phải giữ bí mật, chửi “Fuck”lên một tiếng …
Một phút đồng hồ sau, chà sát kiểu nào cũng chẳng thấy có kết quả, Mike
Casey tức mình cầm cục pin trong tay giộng mạnh xuống bàn giấy một phát. Cú giộng mạnh quá, nghe đến rầm một tiếng như … bom nổ trong văn phòng lão, giấy tờ văng tung tóe khắp nơi. Đù mẹ thằng Frank Nitti này hại anh em rồi. Lý thuyết nó đẻ ra rất hay mà sao mình đã chuẩn bị kỹ vậy bom vẫn không nổ được.
Có tiếng gõ cửa rất gấp của bà thơ ký:
-Trình đại úy, tôi nghe một tiếng nổ, đại uý có sao không?
Đang điên tiết, Mike Casey quay ra nạt lớn:
-Sao cái đít của tôi. Cút cha bà đi, đồ đàn bà tò mò tọc mạch …
Có tiếng bước xa dần của đôi giày cao gót chen lẫn với tiếng nấc nghẹn
ngào của người đàn bà. Mike Casey lắc đầu, đứng dậy tính co chân đá văng cục pin đang nằm trên sàn nhà thì bỗng lão nhớ ra một chuyện. Lúc nãy vì hoảng hốt quá, mình đã dí nhầm cực Âm của cục pin thay vì cực Dương như lời thằng Frank Nitti nói.
Mike Casey tự thưởng cho mình một cái tát tai thật mạnh khi khám phá ra
điều đó. Rõ thật là hoảng quá hóa … bậy. Tát mình xong, nhớ đến hình ảnh của cái va li bạc có 200 ngàn đô la, lão thấy tinh thần phấn khởi trở lại, cúi xuống lượm cục pin lên. Lần này thì nhất định thằng Ness phải chết.
Bỗng ngay lúc ấy, lại có ai gõ cửa văn phòng lão. Không, phải nói là đập
cửa thì đúng hơn. Tiếng đập dồn dập, gấp rút và to lớn y như là có ai dùng búa mà nện vào cửa vậy. Giữa những tiếng ồn ào đó, lạ lùng thay, là tiếng khóc thút thít của đàn bà. Nghe kỹ một chút thì đúng là tiếng khóc của con mẹ thư ký. Chắc lúc nãy bị chửi một câu oan ức nên con mẹ đến ăn vạ đây mà. Mike
Casey lắc đầu, quả là chuyện lạ lùng. Bà thơ ký này làm việc với lão trên mười
năm, luôn luôn tỏ ra khéo léo và lịch sự, sao lại trở chứng vào đúng ngay cái lúc mà mình cần sự yên lặng nhất như thế này?
Mike Casey la to lên:
-Tôi đang bận công việc của sở, bà có ngưng cái trò con nít rẻ tiền đó
không nào?
Tiếng đập cửa lại càng trở nên to hơn. Thay vì tiếng khóc thút thít như lúc
nãy, bà thơ ký sổ ra một tràng tru tréo:
-Công việc gì hở cái thằng say rượu chết bầm chết chém kia? Mày mang
lon đại úy của chính phủ, ngữa tay nhận tiền thuế của dân chúng, đã không giúp gì được cho dân lại còn đi kết bè kết đảng với mấy thằng mafia … Mày có thể lừa dối được ai chứ đâu có thể lừa được bà, bà làm thư ký cho mày trên mười năm nay, bà biết hết … Bà thơ ký đang tru tréo đến đó bỗng thấy cảnh cửa phòng bật mở. Lão Mike Casey xuất hiện, Mặt lão tái mét đi vì giận giữ nhưng cặp mắt lại đỏ ngầu. Không còn kềm được bình tĩnh, lão vung tay tát vào mặt bà thơ ký một cái thật mạnh …
Chỉ nghe “đốp” một phát, bàn tay của lão Mike Casey vừa vung lên đã bị
một bàn tay khác chụp cứng ngắt. Mike Casey xoay người và hốt hoảng nhận ra bàn tay sắt của thằng Gary Malone.
-Sách có một câu là không bao giờ nên đánh một người đàn bà, dù đánh bằng một cành hoa …
Cơn giận của lão Mike Casey như ngọn lửa nhỏ được ai đổ vào đó một
thùng dầu, bốc lên ngùn ngụt. Lão nghiến răng toan nói một câu gì bỗng thấy trời đất như quay cuồng, một cơn đau không biết từ đâu ào tới xâm chiếm lấy vùng ngực lão. Hơi thở lão trở nên chậm lại, đứt khoảng. Trước khi ngã xuống, Mike Casey biết cơn đau tim lần này nặng lắm, nếu bác sĩ không đến được kịp thời, chắc lão sẽ chết.
Cầm tay lão trong tay mình và nhìn thấy sắc mặt đổi màu bất thường của
Mike Casey, Gary Malone biết ngay là lão già này đang bị lên cơn đau tim. Gary Malone vội vàng làm dấu cho bà thơ ký thôi khóc và nói:
-Gọi gấp một ông y tá hay bác sĩ. Mau mau!
Mọi người trong văn phòng nhốn nháo. Bốn năm cảnh sát viên chạy tới tính
phụ Gary Malone một tay để khiêng lão nhưng đều ngạc nhiên khi nhìn thấy thầy đội Gary Malone đã bồng khối thịt khổng lồ nặng gần 300 cân của lão lên tỉnh bơ, nhẹ nhàng đặt lão xuống cái ghế sô pha như người ta bồng một em bé. Đặt xuống xong là thầy đội săn tay áo biểu diễn màn phương pháp cứu cấp liền. Mọi người trong phòng nhìn Gary Malone dùng đôi bàn tay mình ấn lên đè xuống ngực của Mike Casey và thấy phục anh chàng đệ nhất cớm Chicago này. Quảlà một con người sắt bàn tay, sắt luôn cả tâm hồn. Suốt hai chục năm qua, hắn đã từng bị Mike Casey chơi cho nhiều vố đau ra gì, tưởng có thể tiêu tan sự nghiệp, tiêu luôn cuộc đời mà khi địch thủ bị nguy cấp bất ngờ lại hết lòng hết sức như thế này thì quả xứng danh là “Thiên hạ đệ nhất cớm”.
Gary Malone tiếp tục làm phương pháp hô hấp cho đến khi một ông y tá
cảnh sát xuất hiện. Có thầy y tá ở đây thì chắc lão Mike Casey sống được rồi. Gary Malone đứng lên nhường lại công việc cho hắn trước cặp mắt thán phục của mọi người. Thầy đội cứ tĩnh bơ không lộ một nét gì cả, một tay chụp cây Shotgun, tay kia bình tĩnh móc ống tẩu ngậm vào mồm, nhún vai rồi bước lui. Đứng trước văn phòng Mike Casey, nhìn thấy mấy tấm màn cửa phủ xuống, trán Malone tự dưng nhăn lại.
Quái lạ, lão Mike Casey không đi làm sớm vậy để vào đây bỏ màn cửa sổ xuống mà ngủ. Malone bèn lững thửng bước vào. Đàng sau, có tiếng nói của người y tá vọng ra:
-Tạ ơn chúa, mạng đại úy coi như thoát tay tử thần rồi, chỉ cần chở vào nhà
thương nằm vài tuần là khỏi. Phải nói người cứu tử đại úy là Malone chứ không phảitôi, nếu không nhờ có ông ta lúc đó thì chắc vô phương cứu chửa …
Được người ta tán tụng như vậy mà thầy đội đứng trong văn phòng của
người mình vừa cứu tử có nghe gì đâu. Cặp mắt cú vọ của Malone đảo một vòng quan sát. Chẳng có gì lạ cả ngoại trừ một mớ giấy tờ rớt ngổn ngang dưới sàn nhà. Malone tiến tới bàn giấy, tiếp tục quan sát. Lỗ mũi thầy đội lại như ngửi thấy được một cái gì. Hắn nhìn thấy một cục pin to tướng nằm chênh vênh trên bàn. Malone cầm cục pin lên lắc lắc trên tay rồi lại bỏ xuống. Lão này già rồi mà sao còn thích thủ những thứ vũ khí của cảnh sát gác đường trong văn phòng. Liếc mắt một vòng, không thấy ai để ý, Malone lẹ tay mở hết các ngăn kéo ra và bỗng lắc đầu cười. Học tủ của đại úy trưởng phòng an ninh tưởng có gì bí mật lắm hóa ra chỉ toàn là những chai lọ không của mấy hãng rượu danh tiếng. Ở ngăn kéo cuối cùng, Malone nhìn thấy hai chai rượu còn y nguyên. Thầy đội suy nghĩ một phút, nhún vai, lấy một chai đút túi rồi lẳng lặng ôm shotgun đi ra …
Ness chận Malone ngay cửa:
-Có tìm thấy gì không?
Malone lắc đầu:
-Quái lạ, tôi có bao giờ ngửi trật cái gì đâu mà sao kiếm mãi không ra.
Ness cười:
-Lỗ mũi của ông ngửi sai rồi.
Malone nhún vai:
-Già rồi, khứu giác chắc phải khác lúc còn trẻ.
-Thôi đi. Điện thoại cho tôi biết là người bạn của sở Fired Armed and Tobacco sẽ xuống Chicago trong chuyến xe lửa 10 giờ sáng nay.
Khi hai người xuống dưới xe, họ nhìn thấy Lite đang cúi đầu lom khom
dưới gầm xe. Malone đá nhẹ vào chân gã:
-Sửa xe hay kiếm bom?
-Cả hai thứ.
-Tìm thấy gì không?
-Không!
Malone leo lên xe rồ máy:
-Thằng Capone thường thường ngủ đến 12 giờ trưa mới thức giấc. Mình chỉ
cần ráng làm sao sống cho đến quá 12 giờ trưa nay là mọi chuyện coi như an toàn …
Khi chiếc xe của do Malone lái vừa đi khuất, thì người ta cũng đang
khiêng băng ca chở Mike Casey lên xe Hồng Thập Tự. Ngay lúc ấy, Frank Nitti nhận được một cú điện thoại mật gọi tới từ ty cảnh sát Chicago:
-Ông Frank đó hả?
-Nói đi. Nổ rồi hả?
-Không, hỏng hết rồi.
Frank Nitti đập tay xuống bàn nghe đến rầm một cái. Như chưa đã cơn
giận, nó hất luôn mớ ly tách trên bàn rớt xuống kêu loảng xoảng:
-Đù mẹ thằng chó đẻ Mike Casey lại làm hư chuyện nữa rồi.
-Không, cú này không phải lỗi của lão vì lão đã chuẩn bị rất kỹ càng. Chính tôi xuống hầm kiểm soát lại đường giây lão gài mà.
-Vậy tại sao nó không nổ? Tại tao tính trật chăng?
-Thưa, lão bị đau tim bất ngờ. Chúng nó vừa mới chở lão đi nhà thương.
Frank ôm đầu, thốt lên câu “Oh my God” cực kỳ chán nản.
-Ông đừng lo, tôi có cái tin này, cũng hấp dẫn không kém.
-Nói!
-Chúng nó vừa lên xe ra ga Chicago để đón một thằng cớm liên bang mới
xuống. Thằng này đáp chuyến tàu tốc hành số 234, sẽ xuống tại ga chính lúc 10 giờ sáng.
Cặp mắt thằng đao phủ thủ sáng lên. Nó dùng tay che ống nghe rồi quay
sang ra lệnh cho thằng đệ tử ruột:
-Mày chuẩn bị gấp cho tao mười thằng, mười lăm phút nữa phải sẵn sàng
để chờ lệnh điều động.
Frank bỏ tay ra khỏi ống nghe, tiếp tục cuộc đàm thoại:
-Tin tức lấy đâu ra vậy, chắc chắn không?
-Bảo đảm mà ông Frank Nitti, chính tai tôi nghe cuộc điện đàm của nó mà.
-Xong rồi, nếu thằng Ness chết chú mày sẽ được trọng thưởng.
-Cám ơn ông.
-Còn việc này nữa. Chú mày lát nữa xuống hầm tháo trái bom đó đem trả
lại cho tao.
-Coi như xong. Bom đã không nổ và cha nội Mike Casey nằm nhà thương
rồi, ông có còn muốn tôi giết chả không?
Frank nhíu mày. Theo đúng kế hoạch của xếp Al Capone, bom nổ xong, lợi
dụng lúc thiên hạ đang hốt hoảng, sẽ có một nhân viên cảnh sát đến tận văn phòng Mike Casey để tặng lão một “đường giây lụa”. Không phải Capone tiếc 200 ngàn đô la nhưng hắn không tin anh đại úy già mê rượu này có thể giữ được bí mật. Hơn nữa,Mike Casey lúc sau này cứ say sưa luôn làm hư nhiều việc, đã đến lúc cần bỏ người cũ để thay người mới vào. Nhưng lão chưa cho được trái bom nổ lại nằm nhà thương bất tử thế này thì mọi chuyện phải xét lại. Điều khó nghĩ nhất là tình hình có vẻ đã đổi thay. Báo chí sáng nay đăng tin là hai thằng Ness và Malone đã đổi giọng, có vẻ muốn nhận tiền của xếp. Frank biết người sung sướng nhất để nhận cái tin này ở Chicago phải là xếp Capone, nhưng riêng Frank thì nó chỉ muốn làm thịt hai thằng này. Nhất là thằng Malone để rửa bao nhiêu cái nhục mà nó đã chịu suốt bao năm qua.
Frank suy nghĩ và có một quyết định dứt khoát liền. Xếp bây giờ đang còn
ngủ thì coi như mình chưa nhận được chỉ thị mới, cứ việc theo lệnh cũ mà thi hành. Còn cha nội Mike Casey thì có thể tạm thời gởi cái mạng lão đó đã. Nó nói nhỏ:
-Số nó chưa chết thì thôi. Tha cho nó đi.
-Dạ tôi nghe rõ!
Frank gác điện thoại, chụp dây súng đeo vào người. Nó rút cây Colt.45
xoay tít trong tay mấy vòng rồi đút vào trở lại. Good! Nặng như thế này thì băng đạn bảy viên phải còn đầy ăm ắp. Thằng đao phủ thủ này có cái biệt tài là chỉ xoay cây súng vài vòng để đo lường sức nặng là biết băng đạn còn mấy viên trong đó. Đi bắn nhau mà để cơ bẩm súng chạy tuốt ra sau nằm một đống vì hết đạn thì chưa phải là dân chơi chính hiệu.
Frank vừa khoác xong chiếc áo bành tô vào người thì thằng đệ tử ruột Corossio cũng vừa mở cửa phòng bước vào:
-Xong rồi Frank. Tôi gom được 12 thằng.
-Gọi hết chúng nó vào đây.
Đầu óc Frank Nitti xoay chyển cực kỳ lanh lẹ. Gấp quá rồi không có thì giờ
để chuẩn bị chi tiết cho kỹ càng. Mười hai thằng, cứ chia theo kiểu TQLC là được bốn toán. Một toán chịu trách nhiệm đường rút. Một toán làm trừ bị, coi an ninh tổng quát để phòng những trường hợp bất ngờ. Hai toán còn lại cứ ôm tiểu liên chờ ngay tại chỗ “check out”. Chúng nó lâu ngày gặp nhau thì thế nào lại chẳng có màn tay bắt mặt mừng. Đang lúc chúng nó tận tình hun hít nhau, hai toán là 6 họng tiểu liên cùng khạc đạn một lần thì ai mà sống nổi?
Frank bỗng cảm thấy hứng khởi lạ thường. Nhất định mình phải giải quyết
xong “vấn đề thằng Ness” ngày hôm nay, trước khi xếp Al Capone thức giấc. Nó biết chiều nay, lệnh của xếp có thể đổi khác. Lúc đó có muốn giết cũng không dám. Chờ cho đám lâu la vây chung quanh mình, Frank lấy cục phấn vẽ sơ sài cái địa hình của khu nhà ga Chicago, hỏi mà không ngẩng đầu lên:
-Tụi mày biết tao vẽ cái gì đây không?
Không để đứa nào kịp trả lời, nó nói luôn:
– Mình không có thì giờ nhiều, đù mẹ chúng mày phải ráng tưởng tượng
một chút chớ. Đây là nhà ga thành phố Chicago, nhìn từ trên … trời xuống. Như thế này: 10 giờ sáng nay, chuyến tàu tốc hành 234 sẽ chở tới Chicago này một thằng … liên bang ác ôn nữa …
Có mấy tiếng thở dài của bọn đầu trâu mặt ngựa. Từ ngày Ness mở mấy
cuộc hành quân ma ở khắp Chicago, hễ cứ nghe tới chữ “cớm liên bang” là chúng nó thấy lạnh mình.
-Đù mẹ im hết coi, tụi mày làm tao ứa gan. Lần này tụi mình tới đây không
phải để tẩu tán rượu mà để giết hết chúng nó. Giết hết, bắn chết hết. Thằng Ness, thằng Malone, thằng Lite và cả luôn cái thằng mới xuống …
Có vài tiếng thở ra thoải mái. Phải vậy mới được chớ, cả mấy tháng nay chỉ
lo thủ lo chạy, bây giờ là lúc phải trả đũa. Frank chỉ vào một ô vuông có gạch chữ X:
-Corossio, mày dắt 6 thằng ra phục ngay lối ra vào chính của tàu hỏa. Tất
cả mọi hành khách đều lên xuống chỗ này. Chắc chắn tụi thằng Ness sẽ đến gặp người của nó tại đây. Chúng nó chưa biết mặt mày nên chẳng có gì phải lo hết. Nên nhớ, công tác của mày là công tác quan trọng nhất. Chờ cho chúng nó xuất hiện đầy đủ là nổ liền. Nghe cho kỹ đây, Corossio, 6 cây súng, mày “dành riêng” 4 cây để quất thằng Ness. Chỉ thằng khốn nạn Ness thôi. Hai cây kia để thanh toán thằng Malone. Tao đéo cần biết có bao nhiêu thằng phải chết oan. Tao chỉ muốn thằng Ness và Malone phải chết. Phải ráng mà nhớ cho kỹ những gì tao nói, không phảichuyện đùa. Mày nhắm làm được không?
Cả phòng bỗng trở nên im lặng như tờ. Corossio gật gù:
-Đàn anh đã nói vậy thì thằng này thề đem cái chết ra để bảo đảm công
tác được giao phó.
-Nói nghe được. 6 đứa còn lại, 3 đứa vô trong để bảo vệ đường rút lui cho
thằng Corossio. Lúc súng nổ loạn lên rồi, tụi mày lo kềm cứng mấy thằng cảnh sát và an ninh của sở tàu hỏa. Cứ kê súng vào đầu chúng nó, lột hết mấy con chó lửa đi là yên chuyện. Tao tính kỹ vậy thôi chớ bọn này là dân chết nhát, không chừng nghe súng nổ là đã dọt mẹ nó mất tiêu rồi.
Frank mím môi, càm bạnh ra:
-3 đứa còn lại đi với tao. Tao sẽ chờ chúng nó ở ngoài bãi đậu xe. Chúng
nó biết mặt tao rồi nên không thể vào được. Nếu nhờ một may mắn nào đó mà
chúng nó thoát khỏi được 6 họng súng của thằng Corossio, không, phải nói là 7 họng mới đúng thì cũng không thể nào ngờ còn một cú secondary của tao đang chờ sẵn chúng nó ở ngoài đường. Tao mà bắn thì bảo đảm vô nhà xác, bác sĩ không nhận diện được mặt thằng nào là Malone, thằng nào là Eliot Ness …
Cả đám côn đồ gật gù thầm phục sự tính toán của đàn anh. Tính toán làm
ăn thì đàn anh dốt đặc chứ tổ chức đi bắn nhau hay đi giết người thì không ai qua nổi nó. Frank dõng dạc ra lệnh:
-Rồi, kiểm soát lại vũ khí một lần chót, tụi mình đi. Nhớ đem theo nhiều
lựu đạn. Thành công chuyến này, danh tiếng chúng mày sẽ vang động khắp Hoa Kỳ. Tao bảo đãm như vậy!
15 phút sau, ba chiếc Cadillac nối đuôi nhau quẹo ra khỏi hàng rào của căn
nhà sang trọng nhứt khu Ceciria, trực chỉ ga xe lửa Chicago. Frank lái chiếc cuối cùng.
Cũng vào giờ đó, Gary Malone hỏi Eliot Ness trên đường trạm xe lửa:
-Cha nội Kelven Tom gì đó sẽ xuống ga nào?
-Ga chính.
-Ông nhận tin này từ trong điện thoại của sở phải không?
-Ừ. Đó mới là cái đáng ngại.
Malone nhíu mày:
-Nếu chúng nó muốn giết mình, chỉ cần cho chừng dăm thằng ôm năm cây
tiểu liên ra nhà ga mà ngồi chờ thì mình khó sống. Đừng quên là giờ này thằng
Capone còn ngủ. Hễ nó còn ngủ thì lệnh ám sát vẫn còn có hiệu lực.
Sự suy tư của ông thanh tra Ness dừng lại nơi cái … bàn giấy của mình:
-Và cái điện thoại trong văn phòng tôi thì không thể tin được.
– Thì tôi đã bảo ông từ lâu rồi mà.
Ness thấy Malone nói đúng. Cái văn phòng của mình không phải là chỗ
làm việc hay âm mưu chuyện lớn được. Chàng thấy bối rối thật tình. Nhà ga là một chỗ đông người. Nếu thằng Frank Nitti cho chừng chục thằng đao phủ thủ ôm tiểu liên đi trà trộn với dân chúng rồi bất thình lình xông ra mà … tập bắn thì mình khóthoát.
Ness lắc đầu. Bắn nhau ở một chỗ đông người như vậy tránh sao khỏi chết
dân? Mà bọn ăn cướp này chúng nó có biết kiêng nể ai đâu? Không chừng chúng nó còn dùng dân làm bia đỡ đạn để tấn công mình lắm. Chàng đâu có lạ gì mấy cái chiến thuật hèn hạ này của chúng nó. Xong cú này, nếu còn nguyên một miếng thì chắc thế nào cũng bị gọi về Hoa Thịnh Đốn, khỏi cần sự vận động của thượng nghị sĩ Phil. Như vậy là trúng y kế của thằng Capone rồi còn gì? Ness suy nghĩ thêm, hay là bỏ cuộc không đi đón. Cũng không được. Như
thế là mình thua chúng nó sao? Cảnh sát liên bang gì mà lại để cho ba thằng mafia địa phương ăn hiếp dễ dàng như vậy. Hơn nữa, không đi đón không được. Kelvin Tom là một thanh tra thượng thặng của sở Fired Armed and Tobacco, một sở có thành tích diệt cướp cả trăm năm nay, xuống làm việc với mình, phải đón tiếp đàng hoàng. Cái cảm giác đầu tiên là cảm giác quan trọng nhất. Không thể để cho hắn nghĩ là cảnh sát của tổng nha ngân khố nhát sợ mấy thằng cô bồi địa phương mà không dám đi đón hắn …
Ness đốt thuốc lá, tiếp tục suy nghĩ. Chiếc xe của Malone lái càng gần đến
nhà ga chính thì Ness càng có cảm tưởng như mình đang đi vào tử địa. Thật là tiến thoái lưỡng nan.
Bỗng nhớ ra một chuyện gì, Ness đột ngột hỏi Malone:
– Trước ga chính của Chicago là ga nào?
Vừa nghe đến đó là thầy đội nghiến răng đạp mạnh thắng, quẹo một vòng
đổi hướng 180 ngay giữa đường cái, bất kể xe cộ hai bên đang ào ào lên xuống. Lite không đề phòng bị ngã chúi nhủi sang một bên. Hắn lòm còm bò dậy ở phía sau, càu nhàu:
-Cảnh sát mà lái xe như thế này không phải là tấm gương tốt cho dân …
Malone đâu có nghe thấy gì. Thật ra, trong đầu thầy đội nãy giờ cũng đang
có một ý nghĩ y hệt như ông Ness. Tiến thì thế nào cũng có bắn giết tùm lum mà lui thì mất mặt quá. Không phải Malone sợ bắn nhau với bọn Capone mà chỉ sợ chết dân vô tội thôi. Đầu óc hắn đang xoay chuyển để tìm một kế độc. Đến chừng nghe Ness hỏi trước nhà ga này là nhà ga gì thì Malone hiểu ra liền. Nhà ga St. Claude chớ nhà ga nào nữa. Thay vì đón hắn ở nhà ga chính, cứ ra nhà ga St. Claude mà chờ là “êm đẹp mọi bề.”
Ness thấy Malone vừa nghe câu hỏi mà đã thắng xe, quẹo ngược cái rào thì
bật cười lên. Thầy đội này thông mình thật. Chỉ cần cú quẹo gắt của hắn đủ nói lên sự tinh khôn. Trí lớn trong thiên hạ thường gặp nhau.
-Nhà ga trước ga Chicago là St. Claude.
Nhưng Ness nói luôn:
-Mình tới đó kịp không?
-Dư sức nhưng có một cái khác hơi kẹt một chút xíu.
-Tàu tốc hành không ngừng ở ga phụ phải không?
-Đúng. Nhưng mình là cảnh sát, mình muốn nó ngừng là nó phải ngừng.
Nửa giờ sau, ba người đã có mặt tại ga St. Claude. Malone thắng xe nhìn
đồng hồ: 9 giờ 15. Như vậy có nghĩa là con tàu sẽ đi qua đây trong vòng 30 phút nữa, tức 9 giờ 45 để dừng tại bến chính Chicago lúc 10 giờ sáng. Lite mở cửa tính leo xuống nhưng Malone đã nhanh tay kéo hắn lại:
-Đi đâu mà vội, cứ ngồi trong xe này chơi chút đã.
-Sao không vào kiếm một ly cà phê rồi chờ luôn.
Malone mồi một ống tẩu, thảy cái diêm cháy xuống mặt đường, bình thản
trả lời:
-Thằng Capone có người gài khắp nơi, nhất là những chỗ nhà ga như thế
này. Mình ló mặt ra sớm quá, chỉ cần một cú điện thoại chúng nó gọi về đại bản doanh của Frank Nitti thì tao bảo đảm trong vòng mười lăm phút đồng hồ, sẽ có năm chiếc xe GMC chở đầy nhóc đao phủ xuống đây kiếm mình. Không nên chơi dại!
Ness ra chỉ thị:
-Tàu tốc hành thường không có nhiều toa lắm. Hễ xe lửa vừa tốp là chúng
mình làm như thế này. Tôi sẽ đi từ đầu toa xuống, ông Lite từ dưới đi ngược lên.
Vừa đi vừa hỏi ai tên là Kelvin Tom thì mời xuống liền. Ông Malone đứng ngoài để làm an ninh và lo tiếp ứng.
Lite hỏi:
-Ông cho biết hình dáng của ông Tom này coi.
Ness lắc đầu:
-Tôi có quen với chả đâu? Chưa bao giờ gặp mặt nhưng kiếm ra hắn không
khó lắm.
-Sao vậy?
-Người của sở Fired Armed and Tobacco là tinh hoa của cảnh sát Hoa Kỳ.
Nhân viên của họ được coi như lỗi lạc và thượng thặng nhất thế giới. Đại khái, đa số trẻ măng, thông minh, tháo vát và … và …
Ness chưa tìm ra một tĩnh từ để diễn tả thì Lite nói luôn:
-Đẹp trai ăn khách phải không?
Ness nhún vai:
-Cũng có thể như vậy. Tóm tắt, đó là những con người dễ nổi bật giữa đám
đông. Ông làm cảnh sát chắc ông biết mấy chuyện này. Kiếm họ không có khó …
Đúng 9 giờ 30 phút, Ness rút cây.45 ra kiểm soát lại lần cuối rồi nói với
Gary Malone:
-Tới giờ rồi. Mình đi thôi.
Malone ôm cây Shotgun đi trước. Ness và Lite tà tà giữ một khoảng cách
phía sau. Cả ba vừa đi vừa quan sát khắp nơi.
Nhà ga St. Claude là một ga nhỏ, sáng nay lại không có tàu nào ghé nên
quang cảnh vắng vẻ. Ness và Lite đứng ngoài văn phòng chờ. Malone tiến tới ghi xê ra dấu cho người bán vé mở cánh cửa lớn cho hắn vào. Nhìn bộ sắc phục cảnh sát và cây Shotgun đen thùi lùi, người bán vé đứng lên mở cửa.
Malone chui tuột vào văn phòng chính của nhà ga. Ness nhìn vào thấy hắn
trò chuyện to nhỏ với người điểu khiển chương trình một lúc rồi móc trong túi ra một chai rượu đưa cho người kia. Lát sau hắn trở ra nhìn Ness cười:
-Xong rồi.
Ness bỗng nhìn thấy một người vừa tiến tới bên máy điện thoại công cộng
quay số. Chàng hất đầu ra hiệu cho Lite. Thầy đội trẻ tuổi nhảy mau hơn một con sóc, thoáng một cái là tới ngay bên thằng nọ liền. Một tay Lite chụp cái điện thoại, miệng sủa: “Ê, giờ này gọi đi đâu mà gấp vậy?”
Hai người trao đổi nhau vài câu gì Ness không nghe rõ nhưng tiếp theo đó,
có mấy tiếng bụp bụp thì chàng nghe được. Ness nhìn sang thì đã thấy thằng lạ mặt bị thầy đội trẻ tuổi dộng cho nằm thẳng cẳng trên mặt đường. Trước khi rút lui, Lite còn quay lại hăm dọa:
-Mày mà giở cái điện thoại đó lên lần nữa thì nên gọi xe hồng thập tự tới
chở mày về …
Malone quan sát người cảnh sát trẻ, rút ống píp ra khỏi miệng, phê bình
một câu:
-Gary Malone ngày xưa cũng như vậy là cùng chớ mấy.
9 giờ 25 phút, tiếng ầm ầm của chuyến tàu hỏa tốc hành đã nghe được từ
đàng xa. Lite chợt nhớ ra một điều gì, hỏi Ness:
-Nhỡ nó không tốp ở ga này thì sao?
Ness không trả lời. Chàng đứng yên như vận trí để nghe ngóng một hồi rồi
cười nói:
-Không, nó sẽ tốp.
-Sao ông biết được.
-Nghề mà. Máy đã tắt rồi, chúng nó đang rà thắng.
Ba người thở phào nhẹ nhỏm. Ness nháy mắt ra hiệu cho Lite:
-Ông chuẩn bị đi ra cuối nhà ga là vừa rồi đó.
Khi con tàu rề rề chạy tới, Ness đếm được chuyến tàu có 5 toa cả thảy.
Good. Càng ít toa thì càng dễ kiếm. Chiếc xe lửa chưa kịp dừng bánh là Ness đã phóng tuốt lên đầu máy, tay chìa ra tấm thẻ hành sự của tổng nha ngân khố:
-Federal Agent! Tôi có công tác đặt biệt, ông cảm phiền tắt máy chờ tôi
chừng mười phút.
Hai người “tài xế” tàu hỏa nhún vai nhìn nhau không có ý kiến. Không ai
dại gì đi thắc mắc mấy ông liên bang hết. Ness bắt đầu leo lên toa hành khách thứ nhất. Chàng vừa đi vừa để mắt tìm kiếm xem ai có tướng … cảnh sát liên bang. Ness hơi mừng trong bụng vì tàu rất vắng người. Chỉ có một số rất ít hành khách đàn bà, vài ông già và con nít. Vài người đang thì thầm với nhau một cách hoang mang vì thấy tàu dừng bánh mà ga lại không phải là ga Chicago.
Ness lẳng lặng nhìn từng người một. Toa đầu không thấy. Toa thứ hai cũng
vậy. Đến toa thứ ba thì chàng đụng độ Lite đang từ dưới đi ngược lên, mặt mày nhăn nhó khổ sở:
-Ông Ness ơi, chuyến tàu này vắng người quá, tôi đâu thấy ai có tướng phú
quí của Fired Armed and Tobacco đâu?
Ness súyt phì cười:
-Ông cứ tiếp tục đi ngược lên toa đầu đi, tôi sẽ đi xuống hết toa cuối coi.
Hết toa cuối cũng chẳng thấy gì. Quái lạ thật. Rõ ràng là sở vừa gọi điện
thoại cho biết Kelvin Tom đã lên xe lửa chuyến tàu suốt tối hôm qua số 234 mà. Chàng chìa cái thẻ hành sự cho một người soát vé coi rồi hỏi:
-Đây có phải là chuyến tàu suốt 234 Hoa Thịnh Đốn
– Chicago không?
-Dạ thưa phải.
Ness cám ơn rồi đi ngược trở lên. Lại gặp khuôn mặt nhăn nhó của Lite.
Chàng hỏi:
-Ông có may mắn hơn tôi không?
-Không! Tôi chỉ thấy toàn một mớ dân nhà quê không. Chả thấy ai đáng
mặt là cớm liên bang cả.
– Khỏi cần phải tướng … quí phái ngon lành, ông có để ý thấy ai có vẻ như
là công chức nhà nước không? Như đang chờ đợi ai đến đón không? Công chức nhưng … giàu giàu một chút?
-Mình thử lại một lần nữa.
Lần thứ hai cũng không có kết quả. Ness đến gặp người trưởng xa, tự giới
thiệu rồi hỏi:
-Ông có biết có hành khách nào tên là Kelvin Tom không?
Ông trưởng xa lắc đầu:
-Cái đó thì chịu. Đâu có ai hỏi tên tuổi người mua vé tàu hỏa làm gì.
Chúng tôi chỉ soát vé thôi.
Ness lắc đầu, nói với Lite:
-Thôi thì đành vừa đi vừa hỏi vậy. Hễ gặp người đàn ông nào thì cứ hỏi
rằng “Tôi đang đón một người tên là Kelvin Tom, cảnh sát của sở Fired Armed and Tobacco … ” Hành khách chuyến này không có nhiều, mình có thể hỏi hết được. Lần này bắt đầu từ ở giữa, hai người chia hai phía đi ra. Mười lăm phút sau, Ness và Lite lại gặp nhau, cả hai cùng lắc đầu chán nản:
-Chẳng có ai hết. Tôi không thể nào hiểu được.
Ness nhớ đến bao nhiêu khó khăn, bao niêu công trình đã trải qua suốt từ
sáng đến giờ chỉ để tốp chiếc tàu tốc hành mắc dịch này lại, không lý lại bỏ cuộc vào giây phút cuối. Nhất định cha nội Kelvin phải có mặt trong chuyến tàu này. Mà hắn lại đi đâu kìa? Đi cầu chăng? Nếu đi cầu thì chắc giờ này cũng phải xong rồi.
Cho chắc ăn, Ness bảo Lite:
-Ông chịu khó đi một vòng trong mấy cái … cầu tiêu kiểm soát thử coi …
Lite nhăn mặt, miệng méo đi ra dáng chán nản lắm nhưng cũng bỏ đi. Lite
vừa đi, chàng lại bỗng nhớ đến một chuyện quan trọng: Hay là thằng Capone đã gởi người đi “đón” hắn trước mình rồi. Cặp mắt Eliot Ness tự nhiên long lên xòng xọc. Ness cắm một điếu thuốc vào môi, thò tay vô túi áo kiếm cái hộp quẹt, vừa tiếp tục suy nghĩ. Thằng Capone đâu có thể nào mau như vậy được. Hơn nữa, Kelvin Tom chưa có gây thù chuốc oán với ai mà. Chàng thấy lòng mình dịu lại. Ness móc bao diêm ra và phát lên một tiếng chửi thề. Bao diêm trống không. Chàng vất bao diêm, ngó dớn dát tìm một người hút thuốc. Đây rồi. Cách chàng không xa, một người đàn ông nhỏ bé, tuổi khoảng trên ba mươi, đeo kính cận dày cộm đang ngồi chúi đầu vào tờ báo. Bàn tay cầm tờ báo có kẹp một điếu thuốc đã cháy đến gần tới ngón. Vậy mà gã có hay biết gì đâu, cứ cắm đầu cắm cổ mà đọc.
Ness tiến tới gần, cúi xuống nói nhỏ:
-Anh cho tôi xin chút lửa.
Nói vừa xong thì Ness vừa nhận ra cái mùi chua chua của bộ đồ lâu ngày
không giặt từ gã đó bốc lên. Ness nín thở. Cũng chẳng nói chẳng rằng, mắt vẫn
không rời mấy trang báo đang đọc, người đàn ông đưa ngay cho chàng điếu thuốc nơi tay. Ness cầm lấy và nhận ra là đầu điếu thuốc của gã đã tắt ngúm không biết từ lúc nào.
Ness lắc đầu nhét điếu thuốc vào cái gạt tàn, tính bỏ đi, nhưng lại quay lui
hỏi:
-Thuốc ông tắt rồi. Xin lỗi ông cho tôi xin tí lửa.
Hắn vẫn ngồi yên. Con người gì mà lơ đãng đến thế này. Ness lại cúi
xuống, nói to hơn:
-Này anh bạn, cho tôi mượn cái hộp quẹt đi.
Lần này người đàn ông nhỏ thó đó ngừng đọc báo, quay nhìn Ness. Hắn
cười, giọng suýt soa như vừa làm một việc gì vô lễ lắm:
-Ô, ông cần lửa hả, xin lỗi, tôi vô ý quá. Có đây, để tôi lấy cho ông.
Ness chú ý thấy dù tướng hắn nhỏ con, khuôn mặt khô khan bình thường
nhưng cặp mắt hắn thật linh động. Nó như phát ra những hào quang của một con người thông minh vô cùng. Chàng tự nhiên thấy có thiện cảm với hắn.
Lục hai ba túi mà vẫn không moi được cái hộp quẹt, hắn đứng hẳn lên, cười
cười:
-Xin ông kiên nhẫn. Tôi biết là tôi có hộp quẹt mà.
Ness cũng mỉm cười. Thế là hắn móc hết hầu bao, túi trên túi dưới, túi trong túi ngoài vẫn chẳng thấy bao diêm đâu. Đồ đạc trong túi hắn sao mà nhiều thế,
đầy cả một mặt ghế. Ness cố dấu một tiếng thở dài. Tại sao trên đời lại có những con người đãng trí như thế này nhỉ? Chàng tính nói một tiếng cám ơn rồi quay lui nhưng bỗng hắn vỗ vào đầu nói như reo:
-Tôi nhớ ra rồi. Tôi bỏ nó ngay trước mặt đây chớ đâu. Thế mà quên khuấy
đi mất …
Hắn đưa cho Ness bao diêm, mặt rạng rỡ, miệng cười rất vui tươi chân
thành. Ness bật diêm châm lửa điếu thuốc trong lúc người đàn ông thu dọn đồ đạc bỏ vào túi trở lại.
Trả lại bao diêm cho người đàn ông, tính nói một lời cám ơn thì Ness nhìn
thấy một vật làm chàng khựng người lại. Phải nói là “kinh hoàng” mới đúng. Chàng vừa thấy hắn bỏ vào túi một tấm thẻ có con dấu “Federal” tựa như tấm thẻ hành sự của chàng. Không biết hắn thuộc nha sở nào nhưng nhất định cái con dấu đó phải là con dấu của một “Federal Agent”
Ness nhìn sâu vào mắt hắn:
-Cám ơn anh, anh tên gì nhỉ?
-Tom!
Ness thấy trời đất xoay chuyển. Đây có phải là một nhân viên “thượng
thặng nhất thế giới” của Fired Armed and Tobacco lừng danh cả trăm năm nay
không đây? Lạy chúa. Chàng chỉ mong là mình nghe lộn. Chưa kịp nói gì thì Tom xòe tay ra, cười hể hả, điệu bộ rất thân thiện:
-Tom! Tôi tên là Tom Calvern, còn anh?
Ness đáp giọng nửa mừng nửa phân vân:
-Ness, Eliot Ness.
Tom nghe đến tên Eliot Ness thì khựng người lại một chút như suy nghĩ
điều gì. Ness nói luôn:
-Eliot Ness của tổng nha ngân khố …
-Phải ông đi đón một người tên là Kelvin Tom không?
Đích thị là hắn rồi. Trời hỡi trời, sao sở Fired Armed and Tobacco lại gởi
xuống cho tôi một “quái nhân” mhư thế này? Ness than thầm trong bụng. Hắn nói luôn:
-Tôi là Tom Calvern chứ không phải Kelvin Tom. Tên gia đình của tôi là
Calvern, còn tên gia đình của ông kia là Kelvin.
Lại thêm một chuyện nhức đầu nữa. Hai tên này có liên hệ gì với nhau?
Chưa giải được mấy câu thắc mắc trong đầu thì hắn dơ hai tay, phân bua:
-Xin tự giới thiệu một lần nữa, tôi là Tom Calvern, người của sở thuế Liên
Bang. Đáng lẽ họ gởi cho các ông ông Kelvin Tom của sở Fired Armed and Tobacco
thì lại gởi tôi xuống .. hề hề … Hai tên đều đọc giống nhau, chỉ đánh vần hơi khác và ngược đầu thôi …
-Tại sao vậy?
Tom nhún vai, tròn miệng cười hề hề có vẻ rất dễ dãi:
-Giấy tờ họ làm lộn. Ông hiểu Hoa Thịnh Đốn mà, giấy tờ lộn như vậy là
chuyện thường …
Đến giờ phút này thì Ness không dấu được vẻ chán chường nữa. Chàng bỏ
mũ cầm tay, ngồi ngã người xuống ghế. Hoa Thịnh Đốn làm việc kiểu này thì chết tôi rồi. Bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu chờ đợi, bao nhiêu tin tưởng, bao nhiêu chương trình táo bạo Ness và Malone đã vạch sẵn trong đầu, chỉ chờ anh chàng “chuyên viên thượng thặng nhất thế giới” của Fired Armed and Tobacco xuống đây thì hành động liền mà như vậy thì coi như phải tính lại từ đầu. Cái bộ tịch anh chàng này thì chưa chắc đã biết bắn súng, nói gì đến chuyện đi bắt cướp. Ness bỗng nổi quạu. Bọn quan lại ở Hoa Thịnh Đốn làm việc như thế này thì có khác gì phá hư hết các kế hoạch của chàng.
Chàng bỗng đổ tất cả những sự giận dỗi đó cho anh chàng Tom ngờ nghệch
đang đứng trước mặt này:
-Ông có biết tôi cực khổ bao nhiêu mới chận được chiếc xe tốc hành tại
nhà ga St. Clause này để đón ông Kelvin Tom không? Tôi không muốn đón ai hết, tôi chỉ muốn đón ông Kelvin Tom thôi.
Ness hét to lên: “Kelvin Tom thôi, ông Tom Calvern hiểu không?”
Nụ cười ngây thơ tắt phụt trên khuôn mặt Tom. Dù chưa bao giờ quen nhau
và bị hét vào mặt như vậy mà hắn vẫn chẳng lấy gì làm buồn, ngơ ngác hỏi:
-Ủa, đây không phải là ga Chicago sao? Tôi trả tiền mua giấy tàu hỏa đi
đến ga Chicago kia mà? Đây là đâu?
Ngờ nghệch như thế này thì hết ý kiến. Ness chán quá, nói luôn:
-Đây là địa ngục trần gian.
Tom đứng yên một lúc, mặt nghệt ra, méo mó thảm hại. Hắn không hiểu
cái anh chàng Ness này tự nhiên gặp mình tại sao lại bỗng nổi quạu lên như vậy. Mình có làm gì đâu kìa.
Ness ngồi trên ghế, nhìn lên bộ mặt xệ ra một đống của Tom và bỗng cảm
thấy mình vô lý. Xưa nay chàng nổi tiếng là bình tĩnh và rất lễ độ, sao lại có thể hò hét một cách bất lịch sự với một người mà mình chưa hề quen biết như vậy. Mà con người này thật là dễ thương. Bị hét như vậy mà hắn không lộ một vẻ gì là bất mản. Trái lại, hắn còn có vẻ như lúng túng vì không hiểu mình đã làm gì cho người khác nóng giận. Hơn nữa, hắn có lỗi gì đâu. Ness chợt thấy hối hận. Chàng hỏi hắn, giọng lần này rất từ tốn:
-Ông … ông Calvern. Xin ông cho biết là ông xuống đây để thế chỗ ông
Kelvin Tom phải không?
Khuôn mặt bầu bĩnh như con nít của Tom lại nở lên nụ cười:
-Đúng! Hoa Thịnh Đốn đã biết họ lầm cách đây một … tháng. Tôi sẽ giúp
đỡ các ông cho đến khi nào giấy tờ điều chỉnh kịp. Lúc đó ông Kelvin Tom sẽ xuống đây đổi cho tôi.
Ness đưa tay vuốt mặt. Đã biết lầm đã một tháng nay mà vẫn gởi được con
người ta xuống thì quả là chuyện hi hữu. Nếu chờ cho đến lúc giấy tờ điều chỉnh xong thì chắc hoặc mình hoặc thằng AI Capone đã ngủ yên nơi nghĩa địa.
-Nhưng ông là người của sở thuế mà?
-Người sở thuế cũng vẫn đi biệt phái hoài đấy chứ.
-Ông biết bắn súng không?
-Cái gì?
-Bắn súng.
Tom ú ớ:
– Hồi tôi ở dân vệ, họ có phát cho cây súng để đeo chơi … nhưng tôi chưa bao giờ bắn. Mà tại sao lại bắn súng, tôi là chuyên viên sở thuế mà …
Ness thở dài, đội mũ vào đầu đứng lên:
-Thôi mình đi để chuyến tàu này còn lăn bánh. Về nhà sẽ nói chuyện nhiều. Đồ đạc của ông đâu, để tôi phụ cho một tay.
Hai người vừa bước sang toa thứ hai thì Lite cũng trở về. Từ đằng xa, thấy
Ness cầm hành lý cho một người lạ thì Lite biết là xếp mình đã gặp được “chuyên viên thượng thặng nhất thế giới” của sở Fired Armed and Tobacco. Anh chàng này nhất định phải là “thượng thặng”, còn “thượng thặng” hơn cả những gì ông Ness nói vì lúc nãy mình đã tìm kiếm khắp nơi mà đâu thấy hắn, bây giờ mới bí mật xuất hiện. Dân “thượng thặng” có khác.
Lite hớn hở chạy đến gần, gần nữa và khi nhìn thấy con người “thượng thặng” đó, hắn xém kêu lên một tiếng kinh ngạc. Hay ông Ness lầm chăng, có lẽ
nào?
Nhìn thấy Lite, Ness biết ngay là ông cớm trẻ này nghĩ gì trong đầu. Đành
vậy chứ biết sao. Đâu phải lỗi tại mình. Chàng giới thiệu Tom với Lite:
-Lite, đây là Tom Calvern. Tom Calvern, đây là Robert Lite, nhân viên
của tôi.
Hai người bắt tay nhau. Khuôn mặt Tom luôn luôn vui vẻ, trung thực, chân
thành còn mặt mũi thầy đội Lite thì cứ nghệt ra như người vừa bị rớt từ trên trời xuống.
Xuống tới nhà ga, Ness cám ơn các người tài công rồi làm dấu cho họ
chuyển bánh. Khác với Ness và Lite, hai người lúc gặp Tom càng thất vọng bao nhiêu thì Malone khi thấy gã lại càng bình thản bấy nhiêu. Hắn bắt tay Tom, ân cần:
-Tôi là Gary Malone, xin chào mừng ông xuống Chicago, chào mừng ông
bạn vừa gia nhập toán của Eliot Ness.
-Xin cám ơn ông, tôi sẽ cố gắng hết sức …
Chờ cho cả bốn người ngồi vào trong xe xong, Ness mới cắt nghĩa cho mọi
người biết cái sự lầm lẫn của Hoa Thịnh Đốn. Lite nghe xong mỉm cười:
-Có vậy chứ! Người của Fired Armed and Tobacco đâu có thể như thế
được.
Tom Calvern không hiểu ông bạn Lite ám chỉ gì trong câu nói đó. Nhưng
hầu như hắn chẳng để ý đến. Như một đứa con nít được chở đi chơi lần đầu, hắn thò đầu nhìn ra ngoài xe, luôn miệng khen thành phố Chicago hoa lệ.
Ness suy nghĩ, ít nhất, hắn là một con người dễ thương …
Trong khi đó, tại nhà ga chính của Chicago, đám lâu la của Frank Nitti ôm
sẵn súng ống căng thẳng ngồi chờ đến quá 10 giờ. Lạ thật, đến giờ đó mà bọn thằng Ness vẫn không thấy xuất hiện và tàu hỏa cũng chẳng thấy luôn.
Frank đứng ngoài nhà ga chờ nhưng lại là người nóng ruột hơn ai hết. Nó
nhìn tới nhìn lui cái đồng hồ của mình mấy lần để xác định là đồng hồ chạy đúng và mình không coi lộn. Tàu lửa Chicago có bao giờ lại đến trễ như thế này. Tàu tốc hành trễ nửa phút đã là hiếm, bây giờ 15 phút quá 10 giờ rồi. Bọn chó đẻ này trốn đi đâu? Hay tin tức tình báo của mình là tin vịt. Không, không thể được. Nhất định phải có cái gì là lạ trong không khí …
Frank suy nghĩ. Bọn thằng Ness không đến, có thể hiểu được vì chúng nó có thể sợ chết, nhưng tàu hỏa không đến đúng giờ là chuyện hi hữu. Quá hi hữu.
Nhất định hai yếu tố này không ít thì nhiều phải có liên hệ tới nhau …
Bỗng Frank nghĩ ra một chuyện, vung chân đá vào một hòn sỏi bên đường
bay tung lên, miệng văng tục:
-Đù mẹ nó. Nó lại gác mình một keo nữa rồi …
Thằng đàn em đi theo Frank chưng hững, không hiểu đàn anh ám chỉ ai.
Frank quay sang nó ra lệnh:
-Mày chạy ra kêu chúng nó ra lên xe về hết. Bọn thằng Ness không tới
đâu.
Gì chớ rút thì mau lắm. Chỉ vài cái thủ hiệu với nhau y hệt như lính TQLC
Mỹ, trong vòng năm phút đồng hồ, 12 thằng đao phủ thủ của Frank đã tề tựu về phía
trước 3 chiếc Cadillac chờ chỉ thị. Chúng nó ngạc nhiên khi thấy mặt đàn anh hầm hầm như sắp sửa giết ai vậy:
– Tụi mình đi về. Bọn thằng Ness và Malone vừa mới chơi gác mình một
keo nữa rồi. Đù mẹ chúng nó.
Nói xong là nó hồng hộc nhào tới mở cửa một chiếc xe, ngồi vào ghế tay
lái thò chân rú ga cho động cơ gầm thét lên như man dại. Chẳng thằng nào dám mở miệng hỏi chúng nó chơi gác mình ra sao. Chờ cho mấy thằng đàn em chun vào xong là nó thả “Colt”, nhấn thêm ga. Bánh xe quay tít trên mặt đường nhựa, khói bốc lên khét lẹt. Hai chiếc cadillac còn lại cũng làm y như vậy mới theo kịp đàn anh.
Trên đường về Frank không nói mà cũng chẳng có thằng nào trong xe dám
mở miệng hỏi. Vừa về tới nhà, chưa kịp xuống xe thì đã có một thằng đàn em chờsẵn, thò đầu vô nói:
-Xếp Al Capone muốn đàn anh lên gặp xếp gấp. Có chuyện quan trọng.
Frank sang số, de lui. Lúc này thì nó mới lấy lại được chút bình tĩnh:
-Tụi mày biết chúng nó chơi gác mình chỗ nào không?
Không có tiếng trả lời. Frank Nitti nói luôn:
-Chúng nó đã chận xe lửa ở một ga trước ga chính, đón thằng bạn nó đi rồi.
Mình có chờ tới … sang năm cũng chẳng thấy chúng nó.
Thì ra vậy. Mấy thằng ngồi trong xe im thin thít.
-Nhưng cái đó tao không lo lắm. Cái tao lo làm sao chúng nó biết mình
Eliot Ness đốt điếu thuốc lá, phì khói lên trần nhà rồi hỏi Gary Malone:
-Theo ý kiến ông, chúng ta phải tiếp tục như thế nào?
Gary Malone hỏi ngược:
-Tiếp tục, đồng ý, nhưng như thế nào thì còn tùy thuộc vào khả năng của
mình …
Eliot Ness trả lời liền:
-Mình có … ba người và sự giúp đỡ của cảnh sát địa phương.
Gary Malone lắc đầu. Đây là cái vấn đề chán chường nhất của hắn. Suốt
cuộc đời ba mươi năm vang danh là đệ nhất cớm Chicago, Gary Malone đã gặp
nhiều người cảnh sát gàn nhưng chưa có ai gàn bằng anh chàng Ness này. Không hiểu cái trường đại học con khỉ nào đó đã dạy dỗ hắn cách nào mà con người hắn từ ngày đầu tiên cho đến bây giờ là một … cục thép nguội. Không gì có thể thay đổi đường lối suy nghĩ của hắn được. Nhưng mình đã hứa cộng tác với hắn thì đành phải đi cho hết con đường. Vấn đề bây giờ không phải tranh luận mà cùng nhau hợp tác tìm một kế hoạch để diệt bọn Al Capone. Mà muốn diệt được Capone, Malone biết mình có một chiến trường ngay trước mặt: Cái đầu óc … thượng tôn luật pháp của anh chàng cớm liên bang này. Malone nhíu mày. Lo gì, thế nào mình cũng tìm cách đưa hắn vào xiếc được. Nếu không được thì đâu còn phải là Gary Malone nữa …
Thấy thầy đội Gary Malone có vẻ tư lự, Eliot Ness sực nhớ ra một điều gì bèn
nói luôn:
-Khoan, tôi nói lộn, đúng ra là chúng ta sẽ có tới 4 người lận, không phải là 3.
Sở vừa đánh cho tôi một điện tín. Ông tổng giám đốc báo tin mừng cho tôi biết là ổng vừa kiếm ra một người nữa để gởi xuống cho tôi. Đây, điện tín đây này, để coi tên nó là gì … À, tên nó là Kelven Tom. Cái tên nghe hơi đơn giản. Người của sở Fired armed and Tobacco. Chuyên viên điều tra tội ác lỗi lạc nhất của sở này. Điện tín còn nói rõ là anh cớm này có tài “an bang tế thế” đã từng ra tay làm sạch nhiều băng cướp ở San Francisco và làm rất đẹp.
Nhìn ánh mắt hớn hở của Eliot Ness, Gary Malone cũng cảm thấy vui lây.
Thế này thì tốt hơn được một chút, nhưng vẫn chưa phải là vẹn toàn. Ít nhất, với bốn người nếu không có chuyện gì làm trong lúc nhàn rỗi, cũng có đủ tay để chia một ván bài Gin.
-Ông biết cha nội này không?
-Không nhưng người của tụi Fired Armed and Tobacco được huấn luyện rất
kỹ. Tôi biết nhân viên thường thôi cũng còn ngon hơn cả cảnh sát hạng nhất của New York. Huống chi, một kẻ đã được “decorate” như thế này thì phải biết. Ráng lên đi anh em, đời chúng ta hết khổ rồi.
Eliot Ness thảy cho Gary Malone coi tờ điện tín nhưng hắn chỉ cầm lên, không
thèm nhìn đến rồi đưa qua cho Lite. Gary Malone rút ống píp ra khoan thai nhồi một tẩu thật đầy, mồi lửa, thả khói um lên trong cái văn phòng nhỏ của thanh tra Eliot Ness. Rồi hắn từ từ đứng dậy. Cái thân hình hộ pháp di chuyển tới lui nhịp nhàng trên đôi bốt bằng da bóng loáng. Bước nào cất lên giộng xuống là đáng đồng tiền bước đó, coi thấy sao mà oai phong lẫm liệt.
-Trước hết, tiền quỹ đen của chúng ta còn bao nhiêu?
-Còn … vài trăm nhưng tôi hy vọng có thể xin thêm chừng … vài trăm nữa.
Nhưng chúng ta phải ráng xài cho kỹ, vì sau đó là hết, sở không còn tiền nữa đâu. Gary Malone mỉm cười khó hiểu, liếc nhìn sang chú Lite, và biết chú đang cố gắng dấu một vẻ chán chường sau ánh mắt. Hắn tiến tới gần bên Eliot Ness, vỗ vai thân mật:
-Trước hết, tôi và thằng Lite đây cần mỗi đứa một chiếc xe hơi. Một chiếc xe
chạy được bây giờ, giá rẻ nhất cũng cỡ năm ba ngàn đô.
Eliot Ness nói liền:
-Chúng mình sẽ xử dụng chung xe của tôi được mà.
-Xe của ông chạy nửa đường nó tắt máy, làm sao đẩy theo bọn ăn cướp cho
kịp?
Eliot Ness cứng họng. Gary Malone bồi tiếp luôn một chưởng:
-Cái phòng hôi hám này của ty cảnh sát không xài được. Những gì mình bàn
bạc ngày hôm nay, sang đến ngày mai chúng nó biết hết. Mấy trăm bạc làm sao đủ để mướn một cái trụ sở riêng, rồi còn phải ngụy trang, phải bắt điện thoại, phải chi tiền cho mật báo viên v.v …
Eliot Ness không trả lời được. Lần đầu tiên trong cuộc đời bắt cướp chàng
mới gặp một trường hợp khó nghĩ như thế này. Những lần trước, đi tới đâu là được cảnh sát địa phương giúp đỡ tận tình tới đó. Họ trang bị cho chàng và các nhân viên từng chiếc xe, từng cây súng v.v … Cảnh sát Chicago có một lối làm việc rất là khác thường. Ngoại trừ một cái văn phòng nhỏ có sơn chữ “Eliot Ness”, mọi chuyện khác chàng đều phải tự túc hết. Cũng dễ hiểu vì Nha ngân khố gởi chàng xuống đây không phải do lời mời của thành phố như những lần trước. Chàng đến vì vấn đề quốc gia. Nếu không diệt được Capone ngay trong lúc này thì nó sẽ trở thành một tai họa cho cả đất nước. Đến chừng đó muốn làm cũng không kịp. Trong khi đó, cái thành phố này, từ ông thị trưởng xuống đến một nhân viên cảnh sát tầm thường, đều coi sự xuất hiện của chàng là một cuộc xâm phạm vàộ nồi cơm của họ. Thì cứ nhìn bản mặt của chúng nó ngày mới đặt chân tới đây là chàng biết liền.
Chàng đồng ý ông cảnh sát Gary Malone lý luận đúng. Không có tiền thì làm
gì được? Nhưng quỹ đen chỉ có vậy là hết. Không lý lại bỏ tiền túi ra hoạt động? Mà có muốn bỏ cũng không được vì trong trương mục tiết kiệm vừa để dành được mấy trăm thì đã rút ra gần hết để chi cho cuộc di chuyển gia đình xuống dưới này.
Hay là đi xin? Neu co đu can đảm để xin cung không biết xin ai luc này.
Gary Malone thấy khuôn mặt xệ một đống của Eliot Ness liền lên tiếng an ủi:
-Mũi tên của chúng ta đã bắn đi, bây giờ muốn rút lại cũng không kịp. Có
tiền hay không có tiền, thằng khốn nạn Capone cũng phải bị dẹp …
-Nhưng kẹt tiền quá thì biết lấy gì mà chi cho những chi phí của mình?
Gary Malone cười cười:
-Tôi đề nghị ông để vấn đề tiền nong tôi lo. Chỉ cần ông chấp thuận trên
nguyên tắc.
-Trên nguyên tắc … Ông không tính về nhà bán hết gia tài của mình để lấy
tiền đi dẹp ăn cướp hả ông Malone?
Tiếng cười của Gary bây giờ nghe vang động, cặp ria mép của hắn rung rinh:
-Ông dòm mặt thằng Malone này coi thử nó có phải là thứ bán nhà riêng để
lo chuyện công không?
-Không. Vậy ông sẽ lấy tiền ở đâu?
Gary Malone không trả lời. Hắn lật ngữa cái tẩu ống píp rồi búng móng tay
vào đáy nghe một tiếng póc. Trước cặp mắt kinh ngạc của Eliot Ness và Lite, dúm tàn thuốc từ trong ống tẩu bay vọt ra ngoài như được bắn đi một cách chính xác từ họng đại bác, lượn một vòng tròn và … đáp thật đẹp vào ngay chính giữa cái gạt tàn thuốc cách đó hai thước. Eliot Ness không tin được con mắt mình còn Lite thì thốt lên một tiếng kinh ngạc: “Terrific”.
Không để ý đến đến hai cắp mắt tròn xoay đang nhìn vào người mình, vẫn
bình thản, Gary Malone thò tay móc ra một mớ thuốc khác và thong thả nhồi vào tẩu, làm như không có chuyện gì xảy ra. Eliot Ness không nén được sự ngạc nhiên, hỏi:
-Ông Malone, ông có ngon thì búng thêm lần thứ hai coi thử tàn thuốc có
được như hồi nãy không?
Thầy đội không ngờ cái tài mọn nay được anh em để ý quá, bèn cười:
-Chút tài vặt này mà mấy ông làm gì quan trọng hoa nó quá vậy. Lẽ ra thì tôi
không làm nhưng thôi được, để tôi thử một lần nữa cho mấy ông coi.
Nói vừa dứt câu đã nghe một tiếng póc. Dúm tàn thuốc lần này bay cao hơn
nữa rồi cũng rớt ngay vào cái gạt tàn. Lite vỗ hai tay vào nhau, tính trẻ nít bùng
dậy, hỏi:
-Ông cho tôi mượn cái ống tẩu, để tôi thử coi.
Gary Malone lắc đầu:
-Chú mày tưởng dễ hả? Coi vậy mà không phải vậy đâu. Tuy là chút tài mọn
nhưng tao phải mất gần cả mười năm mới luyện được, nhưng chú mày có luyện cả hai chục năm vẫn chưa chắc đã được. Dẹp chuyện đó đi.
Ánh mắt Lite thoáng vẻ ngờ vực:
-Nếu ông luyện được trong vòng mười năm, thì tôi cũng luyện được trong
vòng mười năm, có gì khó.
Gary lắc đầu, cười, nhìn quanh quất một lúc chung quanh như kiếm cái gì trên
tường rồi tiến tới gần tấm bản đồ, nơi có mấy cái đinh 5 phân đóng vào tấm nẹp chung quanh đó. Chẳng nói chẳng rằng, thầy đội thò tay … nhổ bực một cây đinh ra khỏi bức tường xi măng dễ dàng như người thợ dùng xà beng mà nhổ vậy. Lần này thì tới phiên Eliot Ness bung ra một tiếng kêu: “Oh my God!” khiếp đảm. Gary Malone tiến tới gần bên Lite, kẹp cây đinh giữa ba ngón tay, đưa ngay trước mặt hắn:
-Chú mày muốn bỏ mười năm để luyện cái món lẩm cẩm này cũng được,
nhưng phải làm được chuyện này trước.
Nói vừa xong là Lite đã nhìn thấy cây đinh bị ba ngón tay của thầy đội Gary
Malone ép cong vòng rồi … ẹo luôn lại làm đôi y như là bị cây kềm bóp vậy. Lite trợn mắt kinh ngạc. Gary bẻ luôn cây đinh làm hai khúc, vất vào xọt rác, nói nhẹ nhàng:
-Mày biết sao chúng nó gọi tao là “Bàn tay sắt” rồi chớ gì.
Eliot Ness hỏi:
-Ông làm sao mà có được cái sức khỏe như vậy?
Gary cười cười, thò tay móc ra một dúm thuốc khác nhồi vô tẩu:
-Chuyện hơi dài, nhưng tóm tắt là ngày xưa tôi vô tình gặp được một ông già
người Trung Hoa. Tên lão là Vong …
Malone bật que diêm cúi đầu pập lửa. Rít một hơi thuốc dài, hắn nhẹ nhàng
nhả khói, ngồi xuống ghế:
-Chuyện xảy ra đã quá lâu, lúc tôi còn là một đứa bé, nên không thể nhớ ông
già người Á Đông này đã đến với gia đình tôi từ lúc nào. Hình như là do sự quen biết với thân phụ tôi. Lúc tôi có trí khôn, thì lão Vong đã như là một người trong gia đình. Lão hay đến nhà tôi chơi vào những ngày cuối tuần. Tôi và lão Vong có một sự thân thiết kỳ lạ. Y như là cha con hay có thể nói còn hơn thế nữa. Lão ta thường hay dắt tôi ra ngồi nơi bờ hồ Chicago, kể cho tôi nghe những chuyện rất lạ lùng về đất nước của ông ta, xứ Trung Hoa huyền bí. Những câu chuyện của ông ta kể không giống bất kỳ câu chuyện nào mà tôi nghe được lúc ấy. Lão ta lý luận về trời đất, về cuộc đời thật là đơn giản mà cũng thật là ly kỳ …
Ness cười cười. Không ngờ chỉ vì một mớ tàn thuốc của cái ống tẩu thầy đội
Malone mà một cuộc họp hành quân nghiêm trọng đi bắt cướp đã trở thành buổi … kể chuyện đời xưa. Nhưng những gì thầy đội Malone vừa biểu diễn, Eliot Ness chưa bao giờ nhìn thấy trong đời mình. Nếu không nhìn được tận mắt, chàng khó có thể tin được.
– Một ngày, lúc ấy tôi còn nhỏ, vô tình nhìn thấy ông ta nhún mình nhảy qua
khỏi một cái hàng rào cao hơn hai thước. Lần khác, tôi thấy ông ta dùng tay không đóng đinh vào thềm xi măng như mình đóng bằng búa vậy. Có những buổi sáng, trời tuyết lạnh căm căm mà ông ta cởi trần ngồi ngoài sân tập thở. Sau đó, tôi biết ông ta là một thứ võ sư của người Á Đông …
Ness gật gù:
-Mỗi người Á Đông là một thế giới bí mật. Chính họ là những người đã chế
ra cái la bàn đầu tiên trên thế giới, biết làm giấy để viết trong khi chúng ta còn viết trên da …
-Các ông biết, ở tuổi thơ, chúng ta thừơng rất thích những câu chuyện có vẻ
như hoang đường này. Lúc ấy tôi đâu biết là lão ta đã luyện tập khổ nhọc gần cả một đời mới được như vậy, cứ tưởng rằng ông lão có một phương pháp gì bí mật. Dĩ nhiên, thằng bé Gary phải kiếm cho ra cái bí mật này. Thế là suốt mấy tháng trời tôi cứ đi theo năn nỉ lão ta chỉ cho tôi biết cách làm thế nào mà để có một sức khỏe phi thường như vậy. Tôi chỉ mơ ước được bằng một phần mười hay một phần trăm của lão ta thôi là có thể làm cho những đứa trẻ hàng xóm khiếp vía rồi. Nhưng lần nào cũng vậy, ông già chỉ nhìn tôi lắc đầu: “Ta có thể cho con tất cả nhưng vấn đề đó thì không được. Không bao giờ.” Tôi hỏi tại sao, ông lão chỉ lắc đầu cười bí mật.
Lite mồi một điếu thuốc:
-Vậy nhờ đâu ông luyện được ngón “bàn tay sắt”?
Gary Malone gõ ống tẩu nhè nhẹ vào cái gạt tàn:
-Tôi đâu phải là hạng chịu thua dễ dàng như vậy. Nếu lão ta không chỉ thì tôi
đành phải học lén vậy. Tôi nhất định khám phá ra cái điều bí mật kia, dù có phải bỏ học hay nhịn đói. Tôi tìm đủ mọi cách, khi thì rình mò, lúc khác lại chun xuống dưới basement của lão ta nằm im trong đó cho đến đêm mới mò ra để rình coi xem ông lão có điều bí mật gì. Nhưng quái lạ thay, sau bao nhiêu ngày rình mò, tôi thấy ông lão chỉ sống một đời bình dị như hằng bao nhiêu khác, chẳng có điều gì bí mật để giữ, chẳng có làm gì khác lạ so với những người bình thường.
Tôi bực mình lắm, không biết ông lão người Trung Hoa này làm gì mà được
như vậy? Tôi quan sát tường tận cách ăn uống, đi đứng của ông lão, thậm chí còn vạch được một cái lỗ nơi cầu tiêu để quan sát lão ta lúc đi cầu … Người Á Đông làm chuyện đó cũng bình thường như mình thôi …
Ness và Lite cùng bật cười lên một lần. Ness nhả khói hơi thuốc:
-Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhưng hy vọng là như vậy.
Gary Malone không cười. Ánh mắt nhìn xa thăm thẳm:
-Sinh hoạt của ông lão, nói tóm tắt, không có gì khác người nhưng tôi để ý
được một điều. Ông lão có một món đồ chơi rất là kỳ lạ. Đó là hai trái banh nhỏ bằng sắt cỡ trái banh Golf, cứ được lão suốt ngày xoay chuyển trong lòng bàn tay. Điều lạ lùng hơn nữa là hầu như lão không bao giờ rời bỏ hai quả banh này. Lão Vong cứ chơi với nó suốt ngày, ngoại trừ những giây phút làm việc hay có khách trong nhà. Khi lão ta xoay chuyển trái banh, tôi thấy mặt lão ta có vẻ rất tự nhiên và sảng khoái. Một ngày, tôi hỏi, lão ta nói hai quả banh sắt đó người Trung Hoa gọi là “Lưỡng Thiết Cầu”. Đó là một bí mật của gia tộc.
Tôi hỏi:
Ông chơi nó để làm gì?
Ông già mỉm cười mà không trả lời. Tôi cố gắng hỏi nữa, nhưng ông lão nhất
định không thèm nói, chỉ tiết lộ đại khái có là một thứ của gia truyền.
Lite thắc mắc:
-Thật là một chuyện bí mật! Nhưng làm sao ông khám phá ra bí mật đó?
-Không, tôi không bao giờ kiếm ra được bí mật đó. Một thằng bé như tôi khi
đó thì làm sao đủ khả năng để khám phá một bí mật mà người Á Đông muốn giữ kín, hơn nữa, khi người đó lại là một ông già khôn ngoan như lão Vong. Cuối cùng tôi đành bỏ cuộc. Bỏ cuộc mà trong lòng rất buồn rầu. Rồi tôi cũng ngừng, không đến nhà ông già Vong chơi nữa. Mấy ông hiểu tuổi thơ mà, khi giận cái gì thì giận luôn cả trời đất vạn vật. Một ngày nọ, giữa mùa đông lạnh giá, tôi và mấy thằng bạn trời đánh kéo nhau lên một chiếc xuồng nhỏ chèo ra tuốt ngoài hồ Michigan để đi câu. Vì mãi ham chơi, chúng tôi vô tình để thuyền bị lật úp ngay giữa hồ. Đó là một tai nạn kinh khủng. Hồ Michigan mùa đông năm đó nước đóng băng gần hết, chúng tôi lại lọt ngay vào giữa, cách xa bờ và không ai hay biết. Khi tỉnh giậy trong nhà thương, tôi biết là bọn năm đứa chúng tôi đã chết hết bốn, không hiểu nhờ vào đâu mà tôi là đứa duy nhất còn sống. Tôi đã bị mê man 3 ngày liền, nhiều người, ngay cả bác sĩ cũng tưởng tôi không sống nổi. Sau đó, bác sĩ cho bố tôi biết vì bị ngâm trong nước đóng băng của hồ quá lâu, một phần não của tôi đã bị hư hỏng và dù là may mắn còn sống nhưng tôi sẽ bị tê liệt ít nhất là hai chân suốt đời.
Tôi nằm liệt giường có đến gần tuần lễ sau mới bắt đầu thấy có cảm giác của
hai bàn tay. Rồi sau bao nhiêu cố gắng, tôi đau đớn nhận ra rằng cái phần duy nhất trong cơ thể còn tuân lệnh điều khiển của đầu óc tôi là hai bàn tay tôi. Trong khi đó, đầu óc thì luôn luôn bị đau nhức không ngừng, như bị đâm vào đó hàng trăm mũi kim, và cứ lâu lâu thì nhấn sâu thêm một chút nữa. Tôi khóc tôi la suốt ngày, có khi bị ngất lịm đi vì đau đớn quá. Đã có lúc tôi xin bác sĩ chích cho tôi một mũi thuốc để tôi chết luôn cho hết đau đớn. Đến bây giờ nhớ lại tôi còn thấy lạnh mình. Khi được khiêng trở về nhà trên một cái băng ca, tôi chỉ còn là một bộ xương biết thoi thóp thở với hai bàn tay còn cữ động được …
Vừa về nhà ít lâu thì lão Vong đến thăm tôi. Nhìn thấy lão là hai hàng nước
mắt tôi chảy ra ràn rụa vì biết rằng đời mình kể từ đây coi như hỏng. Đi đứng như một người thường còn không được thì nói gì đến chuyện nhảy qua khỏi hàng rào cao hai thước? Nhưng phản ứng của ông lão làm tôi ngạc nhiên. Lão ta nhìn tôi mỉm cười dịu dàng, rờ tay rờ đầu tôi một lúc rồi nói chuyện với bố tôi. Tôi còn nhớ mãi những giây phút đó như là mới xảy ra ngày hôm qua. Nói chuyện với bố tôi xong, lão ta ngồi ngẩm nghĩ nơi giường một lúc thật lâu rồi chẳng nói chẳng rằng, đứng lên bỏ đi, chập sau trở lại với một cặp “Lưỡng Thiết Cầu” trên tay. Ông đặt hai trái banh sắt vào tay tôi, bảo tôi cứ xoay nó như ngày xưa tôi vẫn nhìn thấy ông xoay.
Tôi lắc đầu, thật không còn gì chán nản bằng. Tôi nói thẳng cho lão Vong biết là tôi không thích cái trò chơi nhàm chán này. Lão ôm chặt lấy tay tôi, nhìn thật sâu vào mắt tôi và nói bằng một gịong nghẹn ngào: “Đây không phải là trò chơi nhàm chán đâu con mà là một bí mật gia truyền của giòng họ nhà ta. Gia tộc ta sở dĩ tồn tại và vững mạnh được qua mấy chục đời trong một nước Tàu loạn lạc kinh niên là nhờ bởi món gia bảo vô giá này. Suốt mấy trăm năm nay, bí mật này chưa bao giờ lọt được ra tới những người ngoài. Hôm nay, vì muốn cứu mạng con, ta mới đành phụ lời thề nguyền với tổ tiên để đem nó cho con. Ta nhìn sắc mặt con, biết con không thể sống lâu được nếu không mau mau luyện tập Lưỡng Thiết Cầu để điều hoà kinh mạch.
Triết lý Á Đông ta cho rằng con người là một tiểu vũ trụ. Phải, một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, trong càn khôn. Mọi biến dịch, mọi bệnh tật đều bởi sự mất quân bình âm Dương mà ra. Bệnh tật chỉ là phản ứng của cơ thể để điều hoà âm dương. Cũng y như trái đất có mưa bão để dung hoà thời tiết vậy mà. Hai trái cầu sắt này sẽ giúp con điều hoà nguyên khí trở lại. Con phải rắng chuyên cần luyện tập và phải luôn luôn nhớ rằng con là kẻ rất may mắn mới được cơ hội hấp thụ cái bí mật mấy trăm năm của gia đình ta. Nếu con không bị nạn thì dù có đưa cả núi của ta chẳng bao giờ thèm chỉ cho con đâu. Con cứ xoay nó đi, chỉ trong vòng vài tháng, con sẽ thấy mọi chuyện đổi khác … “
Ngừng một chút, ông ta cúi đầu nói rất nhỏ hầu như chỉ muốn cho một mình
nghe:
-Chỉ tiếc rằng kể từ nay, Lưỡng Thiết Cầu sẽ không còn là một món gia bảo
nữa. Nó sẽ được truyền đi khắp nơi trên thế giới ….
Ánh mắt lạ lùng và lời nói của ông lão làm tôi giựt mình nhớ đến những
chuyện mà tôi đã quan sát trước kia. Không lý cái bí mật vô hình mà tôi đã mất bao nhiêu lâu tìm kiếm lại nằm trong hai trái cầu bằng sắt vô tri giác này? Nhưng theolời ông lão thì đó là một thứ của gia bảo vô giá. Lão đã nói vậy, mình không thể phụ lòng. Hơn nữa, tôi đang ở trong hố thẳm của tuyệt vọng, chẳng còn giải pháp nào khác hơn. Trước khi đi về, lão ta để lại một hộp gỗ trong đó có đúng một trăm viên thuốc màu đen, dặn tôi mỗi ngày uống một viên. Bắt đầu từ hôm đó, tôi bắt đầu xoay Lưỡng thiết cầu và uống thuốc.
Lạ lùng thay, sau vài tuần lễ, đầu tôi đã thấy bớt nhức, và càng ngày càng
thấy dễ chịu hơn cho đến khi hết hẳn. Rồi đến chân tôi cũng từ từ cữ động được. Thấy có hiệu nghiệm, tôi liền gắng xoay nhiều hơn. Vài tháng sau, tôi ra khỏi giường bệnh. Sáu tháng sau, tôi chạy nhảy được bình thường như bao nhiêu đứa trẻ khác. Ngay cả vị bác sĩ đã tiên đoán lầm về tôi cũng không tin là tôi bình phục được như vậy. Ông ta cứ nghĩ là Chúa đã làm phép lạ cho tôi …
Lúc ấy, tôi nhận được một tin buồn: Lão Vong đã bỏ Chicago đi đâu mất biệt.
Không ai biết tại sao và không ai biết lão đi đâu. Cho đến ngày hôm nay, tôi cũng chẳng bao giờ gặp được người ân nhân lạ lùng. Từ đó, cặp lưỡng thiết cầu đã trở nên một vật mà tôi không bao giờ rời bỏ …
-Còn danh hiệu bàn tay sắt có từ lúc nào?
-Ngay lúc nhỏ, ở trung học, trong một dịp đi làm công tác xã hội. Nhớ lại còn
thấy tức cười. Hồi đó, bệnh viện của thành phố có dư một mớ tiền nên dự tính xây lại hàng rào mới, bèn thông báo cho cả quận tôi biết là trường nào muốn cái hàng rào cũ của họ thì cứ việc cho người đến đào lên đem về. Thật là một công hai chuyện. Vừa khỏi tốn tiền mướn người hạ hàng rào, vừa giúp đỡ được các trường học nghèo trong quận. Kẹt một cái là quận tôi có nhiều trường nghèo quá, nên cái thông cáo đó đã vô tình mở màn cho một cuộc cuộc thi đua … nhổ cọc hàng rào của học trò. Ai nhổ được nhiều thì trường mình có nhiều …
Tôi còn nhớ rõ, đó là những cọc hàng rào bằng sắt được chôn sâu xuống đất
gần một thước, và cao một thước rưỡi. Đáy cọc là xi măng rắn chắt vô cùng. Công việc mới nhìn thì dễ nhưng khi bắt tay vào việc rồi thì ai nấy cũng táng đởm kinh hồn. Muốn đào, trước hết chúng tôi phải đào lỗ chung quanh cho có thế rồi ba bốn đứa xúm nhau lại xô đẩy cọc hàng rào cho đến khi nào gốc nó lung lay. Sau đó phải đào thêm một lúc nữa rồi mới khiêng cọc ra được …
Một cây cọc được nhổ lên là đám con gái đứng phía sau reo hò tán thưởng. Vì
thế chúng tôi hăng hái lắm. Chúng tôi hì hục lăn xả vào đào xới không biết mệt. Gary Malone là một trong những thằng tuổi trẻ hăng say đó. Nhưng tôi để ý một điều là, hễ tôi đi đến cái cọc nào, dù có khó đến đâu, tay tôi mó vào một cái là y nhiên nó phải bị bứng liền cấp kỳ. Tôi không để ý đến chuyện này vì cứ nghĩ đó là kết quả do bởi sức mạnh của nhiều người góp lại. Các bạn bè tôi, chúng nó tay chân thì đào sới hộc máu ra nhưng đầu óc thì đứa nào cũng còn đang bận suy nghĩ đến đám con gái đứng sau lưng nên chẳng ai để ý. Chỉ có một người để ý đến chuyện lạ lùng này là ông thầy dạy thể thao của trường tôi. Ông ta đứng phía sau quan sát từ lâu và nhận ra điều khác lạ này …
Tự nhiên, ông ta gọi tôi, chỉ vào một cây cọc ở gần đó nói:
-Chúng nó đã mớm sẵn cái trụ này rồi, mày tới nhổ lên đi.
Chăng nói chăng răng, theo phản ứng tự nhiên tôi tới nhô. Thây cọc còn cứng
quá, vẫn theo phản ứng tự nhiên, tôi dùng tay lắc qua lắc lại theo thói quen rồi nhổ lên. Cầm cọc hàng rào sắt trong tay, nghe đám com gái hò reo như muốn bể cả phổi tôi mới biết là mình vừa làm một chuyện phi thường. Tôi đã một mình nhổ được cây cọc hàng rào mà khỏi cần phải đào sới gì cả …
Các ông có thể đoán được ngày hôm đó trường nào nhổ được nhiều cọc hàng
rào nhất. Bây giờ, nếu ai đi ngang qua trường trung học Ben Franklin, người ta có thể còn nhìn thấy những cây cọc hàng rào do chính tay Malone này nhổ …
Lite hỏi:
-Không ngờ hai trái cầu sắt mà lại có công dụng ghê gớm như vậy.
Ness cho ý kiến:
-Tôi biết, trong thân thể con người, lòng bàn tay là chỗ có nhiều mạch máu
nhất, người Trung Hoa gọi nó là kinh mạch. Và nó cũng gần trái tim nhất. Sự xoay chuyển trái cầu sẽ có tác dụng như thoa bóp, giúp cho máu lưu thông điều hoà. Nếu máu lưu thông điều hoà thì con người sẽ khoẻ mạnh và ít bị bệnh tật nhưng còn cái chuyện tạo cho người luyện tập nó có một sức mạnh bí mật như ông Gary đây thì tôi xin chịu, không thể nào hiểu nổi.
Gary Malone nạo ống tẩu, nhìn đồng hồ:
-Thú thật, tôi cũng không thể nào hiểu nổi chuyện này. Người duy nhất có
thể trả lời được là lão Vong, nhưng bây giờ biết lão ở đâu mà tìm. Và như tôi đã nói, chuyện này đối với tôi chẳng có gì quan trọng hết. Tôi coi đó như là một tai nạn … may mắn đã xảy ra trong đời mình.
Ness rút viết máy cầm tay, đột nhiên cất tiếng hỏi Malone:
-Xong chuyện ống vố của ngày xưa rồi, bây giờ chúng ta bàn về chuyện ngày
nay. Hồi nảy ông có ý kiến về vấn đề tiền bạc, vậy ông tính lấy tiền ở đâu để trang trải sở phí?
Gary Malone liếc nhìn Ness, cười cười:
-Ông có dám giao khoán chuyện này cho tôi không?
-Ông không tính âm mưu làm chuyện gì trái luật đó chớ ông Malone?
-Luật thì có nhiều thứ luật lắm. Luật của đường phố, luật của cảnh sát, luật
của thượng đế, luật của lương tâm. Còn một thứ luật nữa mà dân Chicago đây ai cũng biết và cũng khiếp là luật … của ông Malone. Ông muốn nói Luật nào?
-Luật của chính phủ Hoa Kỳ, luật của Hiến Pháp.
Malone cười, nheo mắt:
-Hiến Pháp chúng ta nói rằng, mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị
chứng minh là có tội.
Ness suy nghĩ lung lắm vì chàng dư sức biết Gary Malone đang tính toán gì
trong đầu. Là một thanh tra cảnh sát thượng thặng của chính phủ Hoa kỳ, chàng chưa bao giờ làm chuyện gì trái luật suốt cuộc đời. Những hành động “phá luật” duy nhất của chàng, nếu có, chỉ là vài màn đấm đá vớ vẩn khi không dần được cơn nóng giận. Như chuyện chàng đã giộng cho một thằng dám nhổ nước miếng vào xe chính phủ ngày nào. Chuyện này có thể xảy ra cho bất cứ ai, đâu phải riêng mình Ness.
Nhưng 10 năm qua, sau lưng chàng, nhân viên của chàng đã phá luật bao nhiêu lần thì không thể nào biết được. Chỉ có bọn mafia và trời biết. Như chuyện chúng nó bắn chết tươi cái thằng đã đột kích vào nhà chàng bắt Catherine ngày nào. Như chuyện chúng nó còng đầu mấy thằng đã từng có thành tích giết cảnh sát rồi thảy xuống bờ biển Nữu Ước năm nào …
Ness nhớ rõ lần đó, chàng gài được một mật báo viên của mình vào trong đám
đầu nậu bến tàu. Kết quả đem về ngoài sức tưởng tượng. Chỉ trong vòng mấy
tháng, những vụ ăn cắp bí mật, những vụ giết người từ đời nào mà cảnh sát địa
phương chưa bao giờ biết tới bỗng trở thành những đống hồ sơ dày cộm trong văn phòng ông thanh tra trẻ tuổi đẹp trai Eliot Ness.
Ness đang thiết lập hồ sơ từng đứa một, tính quét một mẻ lưới lớn để tóm trọn
ổ thì thằng gián điệp bị lật mặt nạ. Chúng nó bắt đem thằng này đem đi đâu mất biệt. Ness có một điểm ai cũng phục là chàng luôn luôn coi trọng mạng sống của nhân viên làm việc dưới quyền mình. Đối với Ness, mạng sống của một người dù chức vụ nhỏ nhất là mật báo viên cũng quí hơn gấp ngàn lần cái đống hồ sơ nơi bàn giấy của chàng. Nếu không truy tố chúng nó được hôm nay, chàng còn có suốt cả cuộc đời để làm việc này nhưng mạng người ta thì chỉ có một. Chẳng cần phải suy nghĩ lâu, Ness bắn tiếng: “Tao chánh thức xác nhận thằng đó là người của tao. Chúng mày thả nó về đây còn nguyên một miếng, tao sẽ quên hết mọi chuyện, coi như cái chồng hồ sơ vĩ đại trong văn phòng là mớ giấy lộn. Chúng mình sẽ xoá bàn cờ bày lại keo khác. Hứa danh dự không chơi trò phục kích lẻ tẻ hay trả thù vặt … “
Nhưng bọn đầu trâu Nữu Ước có luật lệ riêng của chúng. Tội gì cũng có thể
tha được hết nhưng tội làm gián điệp là tội chết, không thể thương lượng. Ness
không cầm nổi một tiếng thét bi ai kinh hoàng khi nhìn thấy xác người cộng sự viên bị chặt làm nhiều khúc, bỏ dưới đường mương. Nhiều thằng cớm đứng bên cạnh bật khóc lên nức nở …
Ngay tối hôm đó, cảnh sát xông vào khu bến tàu chụp đầu hết tất cả quẳng
lên xe. Không cần biết chúng mày là ai, hễ đứng sớ rớ gần bến tàu là lên xe hết.
Tất cả đều được chở thẳng về ty ngoại trừ bốn thằng đầu đảng. Bọn này được phân loại để dắt đi “thẩm vấn riêng”. Thấy nhân viên mình còng tay chúng nó kéo ra xe riêng, Ness linh tính được chuyện chẳng lành nhưng chàng không thể nào cản được.
Luật bất thành văn của cảnh sát Hoa Kỳ xưa nay là như thế này: “Dưới ánh sáng của ngọn đuốc tượng Nữ Thần Tự Do, chúng mày có thể phạm đủ mọi thứ tội ác trên cõi đời này và luôn luôn được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội. Và mọi tội lớn nhỏ đều được đem ra cho pháp luật xét xử hết, trừ một tội: Đụng đến cảnh sát. Tội đó là tội Chết.” Mà chết thật thê thảm kìa. Không ai có thể can nổi dù người đó là “Hung thần Eliot Ness, đệ nhất cớm Hoa Kỳ”
Vài ngày sau, thiên hạ nhìn bốn cái xác bị trói tay nổi lềnh bềnh trên bến tàu
New York. Có cái xác nào mặt mũi còn nguyên một miếng đâu. Toàn là những
miếng thịt bầm dập coi thấy gớm. Ai nói cảnh sát không biết chơi bạo? Ness mấy bữa không ăn cơm được. Chàng giận ghê lắm nhưng hỏi ai thì cũng nghe được một câu trả lời cố định: “Tôi không biết, nhưng có biết cũng không nói. Cái thứ đó thì chết càng nhiều càng đỡ cho cảnh sát, có gì phải tiếc thương?”
Bây giờ ngồi đây, trước mặt bàn tay sắt Gary Malone, nhìn cặp mắt sáng quắc
như sao và đôi bàn tay cuồn cuộn những bắp thịt của hắn chàng biết những ngày sắp tới ở Chicago cũng sẽ không thua những ngày bốc lửa đã qua ở New York. Nhất định phải hơn chứ không thua. Ness lắc đầu khi nhớ đến những ngày kinh khủng đó.
Ness biết, kể từ khi hắn ký vào tờ giấy nhận việc của “Treasury Department”, tất cả những hành động của hắn, dù tốt dù xấu, Ness chịu trách nhiệm trực tiếp. Chàng không phải là một týp người trốn trách nhiệm. Nếu cho phép hắn chơi “luật của ông Malone”, lỡ xảy ra chuyện gì rắc rối, mình là người đầu tiên phải ra trước vành móng ngựa để trả lời với pháp luật. Nếu một ngày âm u như vậy xảy ra, Ness biết chàng sẽ nói rất nhiều để biện hộ, nhưng có một câu mà chàng chắc chắn mình sẽ không bao giờ nói là: “Chúng nó làm gì tôi đâu biết được.” Câu nói này là một câu nói nằm lòng của nhiều nhân viên cấp lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ. Được việc thì vinh quang hưởng riêng lấy hết một mình, còn nếu bị đổ bể thì chỉ đem lá bùa này ra để đổ tội cho đàn em. Hèn quá. Không, nhất định câu này không phải là câu của Eliot Ness. Chết thì chết chứ chàng không thể có thái độ hèn nhát như vậy được.
Ness lại nhíu mày tư lự. Mình mới làm việc với hắn có mấy ngày mà đã nghe
không biết bao nhiêu là huyền thoại về con người ghê gớm này. Cứ nhìn thái độ cung kính của thằng Lite, sự ngưỡng phục nhìn thấy được trong ánh mắt của hắn đối với Malone thì chàng biết hắn là một týp người lạ lùng, vượt lên trên tất cả những người đã từng cộng tác với chàng từ trước đến nay. Nội chuyện hắn hút ống vố cũng có thể viết thành một pho truyện ngắn đáng được xếp vào loại “Phiêu lưu mạo hiễm”.
Khó nghĩ quá. Ness lắc đầu, mồi một điếu thuốc. Nếu mình từ chối, có thể
hắn sẽ rút lại lá đơn xin việc. Ness không bao giờ muốn vậy. Hơn nữa, công tác
đang đi đến một giai đoạn mới. Thằng khốn nạn Capone vừa gởi người vào tận ty cảnh sát để âm mưu giết chàng. Gớm thật dân “chó điên Chicago.” Chuyện này dạy cho chàng thêm một bài học. Trong cuộc chiến này, không có nơi nào có thể nói là giới hạn, không có chỗ nào được gọi là chỗ an toàn hoàn toàn.
Còn nếu mình đồng ý thì sao? Dĩ nhiên, phải ủng hộ hắn hết mình. Hắn có
muốn lên trời thì cũng ráng mà mua vé tàu bay cho hắn lên, muốn xuống địa ngục cũng phải đón xe lửa cho hắn xuống. Ness suy nghĩ. Không chừng còn phải đi theo cho hắn được yên lòng. Nhưng nếu làm vậy, lương tâm của một thanh tra liên bang Mỹ, một người ôm mộc cảnh sát của chánh phủ Hoa Kỳ, một người đi bảo vệ luật pháp có cho phép chàng làm vậy không?
Chàng lại nghĩ đến trách nhiệm nặng nề được giao phó. Ness nghĩ, mấy tháng
qua, mình còn sống được là một chuyện phi thường. Catherine đã bảo chàng như vậy. Công tác coi như được thành công được một phần. Mình đã dồn bọn Capone từ thể chủ động sang bị động. Nhưng sự thành công này đạt được là nhờ bởi chúng nó không chủ trương đánh mà chỉ thủ hoà. Ai bảo bọn mafia này không biết nhịn?
Chúng nhịn hay lắm, và rất kiên nhẫn nữa. Nhưng bây giờ chiến trường đã đổi khác. Như một con mảnh hổ bị đưa vào đường cùng, chúng bắt đầu thay đổi chiến thuật, quyết trả đủa, sẵn sàng ăn thua đến đứa cuối cùng. Ness thấy ớn lạnh khi nghĩ đến cảnh chúng nó xông vào ty cảnh sát để làm thịt mình sáng hôm nọ. Làm sao mà ngờ được những chuyện như vậy nhỉ? Nếu sáng đó mình không tự nhiên nổi hứng rủ thằng Lite đi uống cà phê thì chắc giờ này đã nằm nghĩ yên nơi nghĩa địa. Hai cây Tommy Gun với nhịp bắn như vậy, được điều khiển bởi hai thằng thiện xa như vậy, bắn gần như vậy mà nổ vào người mình một cách bất ngờ như vậy thì có thánh cũng chết. Làm sao sống nổi. Công tác cho đến giờ phút này còn được coi là thành công, nhưng đó chỉ là một sự thành công tạm thời. Sự thành công của nước cờ thứ nhất.
Bàn cờ còn lâu mới đến hồi kết thúc và người đi nước tiếp là Al Capone. Nước thứ hai này, nếu chúng nó quất sụm được “thằng Ness” thì coi như nó thắng được bàn cờ, mọi chuyện sẽ bắt đầu lại từ con số không to tướng. Và Ness biết cả tổng nha ngân khố không đào ra đâu được một Eliot Ness khác nữa.
Khó thật, cờ quạt gì mà đối phương chỉ cần thắng một nước là phe ta thua.
Ness thấy hơi thở mình trở nên nặng nề khi nghĩ đến đó …
Ness đốt thêm một điếu thuốc. Lại suy tư. Hai đàng, chọn đàng nào cũng
không được. Chàng đứng dậy, đi đi lại trong phòng, thuốc lá cắm trên môi, đầu cúi gầm với những ý nghĩ không có một câu trả lời trong đầu.
Sự bối rối của Ness làm sao qua mắt Gary Malone được. Hắn đi giày trong
bụng ông thanh tra trẻ tuổi đẹp trai này. Quả đúng là mẩu người cảnh sát lý tưởng của các trường cảnh sát, của sách vỡ, của các công dân lương thiện chưa hề biết mùi mafia là gì. Ness đã bị bọn kia chơi cho mấy một vố ra gì, như cắt cổ chết tươi thằng mật báo viên, như xông vào tận ty để tìm giết mà đến giờ phút này cha nội cớm cứng đầu vẫn còn phân vân, chưa dám quyết định đường hướng hoạt động. Gary Malone nhíu mày nhìn Ness chờ đợi câu trả lời. Quả thật, chính hắn, hắn cũng chưa biết mình sẽ phản ứng ra sao nếu Ness từ chối, không thèm chơi “luật Gary Malone”. Bỏ đi thì không đành mà ở lại, làm việc cái kiểu này thì biết chừng nào mới “diệt Capone” được như lời hứa của hắn ngày nào với báo chí. Không chừng chẳng diệt nổi mà còn mang vạ vào thân là đàng khác. Cả bọn, kể cả Ness đều như những người đã ngồi lên lưng cọp, chỉ còn một con đường duy nhất là tiến tới.
Ngừng lại là chết.
Đầu óc … quyền biến của gần 30 năm cầm dùi cui làm cảnh sát trong đầu
thầy đội xoay chuyển. Muốn thắng thằng quỷ Al Capone chó đẻ, trước hết phải
thắng ông cảnh sát liên bang thánh thiện này cái đã. Gary Malone biết vậy. Cứ để hắn chần chừ như thế này thì sẽ hư việc lớn. Bỗng hắn nẩy ra một kế, cười thật tươi với Ness:
-Suy nghĩ gì mà lâu vậy? Ông đang bối rối lắm phải không, tôi có một đề
nghị này, ông nghe xong là thấy hết bế tắc liền.
Ness dừng bước. Thầy đội giang hồ này quả là thánh nhân. Mình suy nghĩ gì
trong đầu cũng không qua khỏi cắp mắt hắn được:
-Sao ông biết tôi đang bị bế tắc?
Malone cười:
-Làm thầy đội gần ba chục năm, ăn cơm chính phủ gần mòn răng ra mà
không biết mấy cái vụ này thì làm sao vang danh “Bàn Tay Sắt” trong giới giang hồ?
-Ông nói đúng. Tôi đang bị bế tắc, vậy giải pháp của ông là gì, nói nghe thử
coi?
-Bố tôi thường nói là hễ mình có hai giải pháp để chọn lựa mà suy nghĩ mãi
không biết chọn cái nào thì một trong hai giải pháp đó, giải pháp nào cũng xài được cả …
-Có thể đúng, nhưng biết chọn cài nào?
-Nhờ thượng đế!
Ness ngạc nhiên:
-Nhờ cách nào?
-Có gì khó đâu, ông thảy một đồng xu lên trời cho nó rớt xuống. Nếu ra hình
mặt người thì giải pháp một, còn chim thì giải pháp hai. Lựa chọn đó là hay nhất vì đó là ý muốn của thượng đế, của thiên chúa. Chuá đã muốn vậy rồi thì cứ thế mà làm, chẳng có gì phải nối tiếc hay lo lắng nữa cả …
Hay quá, thật dân cảnh sát giang hồ nhiều khi có tư tưởng hay hơn dân cảnh
sát … đại học. Ness từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ đánh bạc nhưng đề nghị này rất là hợp lý và đúng. Câu nói của ông thân Gary Malone nghe lại càng thấy chí lý hơn nữa. “Nếu có hai giải pháp mà mình đắn đo không thể lựa được thì giải pháp nào cũng tốt cả.” Đúng thật, vì nếu có một giải pháp nào tốt hơn thì người ta đã chọn nó từ lâu rồi, khỏi suy nghĩ làm chi cho mất thời giờ.
Ness hỏi ngược:
-Đồng ý, nhưng nếu chúa muốn cho chúng ta theo giải pháp đường đường
chính chắn, thượng tôn luật pháp Hoa Kỳ thì ông có ở lại với tôi để giúp tôi không?
Malone gật đầu quả quyết:
-Tôi hứa danh dự. Chúa muốn thằng Gary Malone này theo con đường nào
thì nó sẽ nghe theo. Một lời nói danh dự.
Ness quay sang nhìn Lite:
-Còn ông thì sao?
Lite đứng bật dậy, dõng dạc:
-Tôi cũng lấy danh dự mình mà thề như vậy.
Thế này thì quá tốt. Ness như mở cờ trong bụng. Malone nói luôn:
-Rồi, ông chọn đi, tôi thảy đồng xu cho.
Tuy không phải là dân cờ gian bạc lận nhưng Ness đâu có ngu. Mình đâu thể
đưa đồng xu cho một tay bợm cỡ Gary Malone thảy được. Bàn tay sắt vốn nhiều tài vặt, dúm tàn thuốc trong ống vố mà hắn còn búng một cái cho bay bỗng lên cao rồi rớt ngay vào giữa cái gạt tàn bé tí tẹo cách đó hai thước được thì hắn muốn thảy xấp hay ngữa gì mà chả có. Không, Ness này tuy hiền lành nhưng đâu phải là một tay dễ lừa. Chàng lắc đầu nhìn Malone mỉm cười:
-No way! Cám ơn ông, tôi tuy không phải là dân cờ bạc nhưng cũng không
phải là không có chút kiến thức tối thiểu. Tôi không thể tin bàn tay sắt được. Tự tay tôi sẽ thảy đồng xu.
Malone nhún vai:
-Được! Tùy ông, ông muốn thảy cũng được, nhưng ông phải cho anh em biết
sự chọn lựa trước. Hình người là gì, hình chim là gì?
Ness nhắc lại một lần nữa cho chắc ăn:
-Mà tôi thảy đồng xu lên rồi các ông có giữ đúng như lời hứa không? Ness
này không muốn phí thời giờ vào các công việc lẩm cẩm.
Malone và Lite lại hứa. Ness nói, giọng rất nghiêm trang:
-Được rồi, tôi tính thế này, anh em nghe cho kỹ: Nếu đồng xu rớt xuống là
hình, thì chúng ta xử sự theo đúng luật pháp của chính phủ Hoa Kỳ và hiến pháp Hoa kỳ đã làm ra. Còn nếu là chim, chúng ta sẽ chơi luật Malone. Đồng ý chưa?
Malone gật đầu, cố giấu tia nhìn bí mật trong ánh mắt. Lite cũng gật đầu.
Ness hít một hơi dài, nhắm mắt nhẩm lời cầu kinh trong đầu rất thành khẩn:
“Lạy chúa, xin hãy giúp con để con có được một quyết định dứt khoát. Xin Chúa từ nhân chí cao chí đại giúp cho con được hoàn thành sứ mạng khó khăn mà chính phủ đã giao phó cho con … “
Xong lời cầu kinh, chàng chậm rãi đưa tay vào túi nhưng Malone đã lẹ làng đưa tới cho chàng một đồng xu:
-Đồng xu này bố tôi đã dùng nó suốt bao nhiêu năm nay, rất hiệu nghiệm.
Ness ngần ngừ một chút rồi cầm lấy, nói “Thank You” và búng nó lên cao.
Đồng xu rớt xuống nền nhà, lăn vài vòng rồi nằm im trước mặt ba người. Ness
cúi người xuống nhìn rồi thốt lên:
-Chim!
Cả bọn im lặng. Gary Malone đứng im, ống vố đã tắt lửa cắm méo méo trên
mép, nét mặt bình thản. Vẻ bình thản của một tay cờ gian bạc lận vừa biết mình
thắng cuộc. Lite cũng cúi người xuống nhìn rồi đứng lên không nói gì. Ness tuyên bố thẩn thờ như một người vừa thua bạc:
-Chim! Chúng ta chơi luật Malone. Chúa muốn chúng ta chơi luật Malone.
Mặc cho Ness thẫn thờ, Gary Malone nhẹ nhàng cúi xuống, nhặt đồng xu cất
vào túi áo bên phải:
– Vậy là từ nay chúng ta khỏi có bàn cãi vần đề nhức đầu này nữa nhé. Chúa
đã muốn vậy rồi mà, có phải không ông Ness?
Ness gật đầu, ngồi xuống trở lại bàn:
-Đúng. Chúa đã muốn vậy, chúng ta không còn gì phải suy nghĩ nữa.
Ba người lại ngồi quây quần. Ness hỏi:
-Chơi theo luật Malone, để tôi hỏi lại câu hỏi hồi sáng, theo ông thì chúng ta
sẽ bắt đầu như thế nào?
Malone nhìn tới nhìn lui một lúc rồi đứng lên:
-Đây không phải là chỗ cho chúng ta bàn chuyện lớn được. Phải ra khỏi cái
văn phòng hắc ám này liền cấp kỳ rồi muốn nói gì cũng được.
Ness gật đầu. Ba người bước xuống cầu thang. Ness chợt hỏi:
-Lần đầu tiên tôi thấy ông hút ống tẩu.
Malone xoay chuyển ống vố từ mép bên trái sang mép bên phải:
-Ngày xưa tôi hút ghê lắm nhưng đã bỏ hơn mười năm nay, bây giờ mới hút
lại. Mẹ kiếp, mới có … mười năm mà hàm răng đã thấy hơi nặng nề khi ngậm lại ống tẩu, hồi trước đâu có vậy.
-Mười năm. Tại sao ông lại bỏ hút mười năm?
Malone im lặng một lúc, đôi mắt của ông đệ nhất cớm thoáng một chút buồn.
Hắn nhún vai:
-Chuyện dài lắm, khi nào có dịp tôi sẽ nói cho ông nghe. Ông vố tôi chấm
dứt bằng một chuyện tình. Nhưng tóm tắt là mười năm qua, tôi không tìm thấy được nguồn cảm hứng trong đời mình nên không hút nữa. Chỉ những khi nào tìm thấy được ý nghĩa cho đời sống mình, chỉ khi nào thấy mình là Gary Malone thật thì tôi mới hút ống tẩu.
Ness lại lắc đầu. Làm việc với hắn mới có mấy ngày mà con người kỳ lạ đã
kể cho chàng nghe không biết bao nhiêu là câu chuyện ly kỳ, bây giờ còn chuyện tình … bỏ ống tẩu nào nữa đây? Ness chợt nhớ đến nàng Colleen mà Malone đã nói sơ qua cho chàng nghe ngày nào. Không biết có phải chuyện tình này không? Lite tính hỏi một câu gì đó nhưng ba người đã ra đến xe hơi.
Tất cả leo lên xe. Malone ngồi ghế tay lái, chạy thẳng tới một quán ăn xa
lắc, ở ngoại ô Chicago, không lớn lắm nhưng rất sang trọng. Nơi đó có mấy cô hầu bàn thật đẹp.
Malone nhìn ngang ngữa một lúc rồi nói:
-Đây là đất bất khả xâm phạm, lại được ăn uống thả dàn mà khỏi sợ tốn tiền.
Ness giựt mình:
– Khỏi sợ tốn tiền nghĩa là sao?
Malone cười:
– Thầy đội Malone chỉ cần một tuần vào đây đớp hít một lần thôi cho thiên hạ
thấy mặt thì không có thằng nào dám đến đây phá hay bắt địa.
-Vậy nghĩa là ông bắt địa một cách gián tiếp rồi.
-Tôi có bao giờ thò tay lấy tiền của ai đâu. Tôi chỉ ăn thôi mà.
-Nhưng ông ăn mà người ta không lấy tiền thì cũng là một hình thức như là
bắt địa vậy.
-Hê, lần nào ăn xong tôi cũng đến quầy trả tiền đàng hoàng, nhưng kẹt cái là
ông chủ cứ một mực từ chối không chịu lấy, còn nói là nếu tôi ép hắn quá, bắt hắn phải lấy tiền thì hắn sẽ … đóng cửa tiệm luôn. Trong trường hợp của ông, ông sẽ xử thế cách nào?
Lite chen vào:
-Đúng ra, ông Ness không biết, ở Chicago này, hàng quán nào được Malone
ghé đến ăn uống là một đại phúc cho chỗ đó. Đây là một vinh dự mà các ông chủ nhà hàng hằng ngày mơ ước. Vinh dự vì thứ nhất, Malone không bao giờ đến ăn ở những tiệm xoàng. Chicago có mấy chục ngàn hiệu ăn mà Malone chỉ chọn trên dưới mười tiệm. Cho nên, hễ Malone ăn bí tết ở đâu thì ngày hôm sau thiên hạ ùn ùn kéo tới chỗ đó thưởng thức bí tết liền, chủ tiệm khỏi cần tốn tiền quảng cáo làm chi. Chuyện này có thật. Thứ hai, bàn tay sắt đã ghé chỗ nào rồi thì chỗ có coi nhưlà đất “bất khả xâm phạm” với mấy thằng anh chị địa phương.
Ness lắc đầu. Làm cảnh sát như anh chàng này thì cổ kim chỉ có một. Chàng
đã nghe danh bàn tay sắt, nhưng không ngờ hắn ta ghê gớm đến như vậy. Mà chàng để ý, từ lúc bước vào, vừa nhìn thấy Malone là cả tiệm xôn xao hẳn lên, chạy tới chạy lui như gà mắc đẻ, trông đến tội nghiệp. Đích thân ông quản lý nhà hàng kéo ghế cho Malone ngồi, điệu bộ khúm núm ít khi thấy được nơi những người khác.
Chicago này quả thật là một thế giới lạ lùng. Lạ lùng hơn cả New York.
Ness gọi ly cà phê rồi nói:
-Chúng ta có thể bắt đầu được rồi.
Malone cho một cây diêm vào cái ống píp:
-Nơi đây thì mình có thể tính công chuyện được. Tôi sẽ trình bày qua loa
những điều tôi nhận thấy cho hai ông nghe. Trước hết, để tôi nhận định tình hình cho anh em được nắm vững.
Ness mỉm cười. Chàng đã không lầm. Malone không phải chỉ là một týp
“Cớm giang hồ” đơn giản chỉ chuyên môn đấm đá bậy bạ mà còn có một bộ óc chiến thuật đáng nể. Chàng hí hửng chờ nghe lời phân tích tình hình của thầy đội. Biết tường tận về giới giang hồ Chicago thì chắc chỉ có Al Capone và Gary Malone này.
-Từ ngày ông Ness xuống đây, tôi tuy đứng ngoài vòng nhưng không phải là
không biết những diễn tiến của sự việc. Mới cách đây 3 tháng, Chicago này là giang sơn của Capone. Bây giờ, Chicago cũng vẫn còn là giang sơn của nó nhưng tôi đã nhìn thấy những kết quả của các vụ hành quân bắt rượu ma của ông Ness. Kết quả thứ nhất, giá bia ở Chicago bắt đầu tăng vọt lên như pháo thăng thiên. Phẩm chất cũng kém thấy rõ. Thứ hai, tôi đã bắt đầu ngữi được thấy mùi chiến tranh trong không khí vì cái vụ giá tiền bia lên cao quá như thế này. Bọn O Bannon thấy tụi Capone không sản xuất được nhiều bèn đứng ra sản xuất giùm. Trong giới giang hồ, chờ người ta có tang gia bối rối rồi chơi một đòn hèn nhát như vậy đằng sau lưng là điều cấm kỵ. Hiệp ước bất tương xâm ký năm 1926 coi như đã bị O Bannon xé bỏ không thương tiếc. Chúng lại còn lén lút mở thêm nhiều tiệm rượu …
Lite thắc mắc:
-Với luật cấm rượu khắp lãnh thổ Hoa Kỳ, ai cung giấy phép cho chúng nó
mở tiệm công khai mà không nói là lén lút?
-Không, tôi không nói lén lút với luật pháp Hoa Kỳ. Lén lút đây là giữa giới
giang hồ chúng nó với nhau. Chicago vốn là một thành phố gồm có bốn tiểu quốc họp thành. Thứ nhất là tiểu quốc Capone, thứ nhì là Colosimo, thứ ba là O Bannon và thứ tư là Rusky. Nhưng sau khi trùm Colosimo bị quất sụm và nguyên băng tham mưu của thằng đao phủ thủ Antonio bị chết thảm trong ngày The Saint Valentine’s Day massacre thì chỉ còn ba. Ranh giới đã được phân định rõ ràng giữa tất cả bốn gia đình ngay sau trận “huynh đệ tương tàn” năm 1926 bằng một thoả ước. Không ai thò tay ký vào cái thoả ước này nhưng chúng nó đã đồng ý với nhau về ranh giới các khu vực. Một điều quan trọng trong thoả ước này là chúng nó đã ấn định sẵn cho Chicago một số lượng rượu tối đa mỗi bên có thể nấu được, số lượng nhà hàng cũng như số lượng nhà Thổ được hoạt động. Bọn ăn cướp này tuy chưa bao giờ đi học nhưng chúng biết rõ cái định luật cung cầu bất dịch của kinh tế. Nếu số cung vượt qua số cầu, hàng hoá sẽ bị mất giá … Chúng nó giữ giá bằng cách ấn định một số lượng nhà thổ và nhà hàng vừa đủ không mắc quá để không ai có thể đến, và không rẻ quá để không thể làm giầu. Điều lạ lùng là ngay cả trong thời kỳ chiến tranh, đang giết nhau loạn như vậy mà nếu khách đến khu của Capone uống một ly bia giá
một đồng, sang khu kẻ thù là O Bannon kêu một ly bia thì cũng trả giá một đồng, tuyệt không có cái màn phá giá để làm lợi cho người khác. Đó, tụi Ý kỳ lạ như vậy. Cái hay của chúng nó là dù bắn giết nhau rầm rầm nhưng vẫn không bao giờ để kẻ khác hưởng lợi, không bao giờ sao lãng cái sứ mạng … kiếm tiền.
Lite gật gù. Malone tiếp:
-Khi tụi Al Capone bị ông đập, dĩ nhiên, rượu bia đã trở nên hiếm hoi vô cùng
trong phần đất của AL Capone. Ông hiểu tâm lý con người mà. Đi đến chỗ nào một vài lần mà thấy không vừa ý thì ít khi người ta trở lại, dù chủ nhân nó là ai. Thằng Do Thái O bannon đánh được mùi liền. Đã bảo lỗ mũi Do Thái cách 3 dặm còn ngữi thấy tiền mà. Hắn liền bất chấp hiệp ước, xé rào mở thêm một lô nhiều tiệm gần ngay biên giới của bọn Capone. Thế là bao nhiêu khách lớn nhỏ xưa nay của Capone bây giờ chạy qua bên O Bannon hết. Mấy ông nên nhớ, đây là một biến cố vĩ đại. Tụi chúng nó có thể giết nhau chỉ vì một câu chửi bới vô tình, nay thằng Do Thái chơi vậy thì Capone đâu có bỏ qua được, nhưng chưa làm được gì vì còn bị ông Ness nhà mình kèm cứng quá …
Malone liếc nhìn Ness mỉm cười:
-Ông thấy sự ghê gớm của ông chưa ông cớm. Lịch sử Chicago chưa có ai
một thân một mình mà làm được chuyện động trời như vậy.
Ness không nói gì, vẫn giữ nguyên khuôn mặt chăm chú bình thản. Malone
tiếp:
-Điều đáng suy nghĩ trong biến cố này là tại sao thằng O Bannon lại dám làm
vậy? Hơn ai hết, nó biết lực lượng ghê gớm của bọn Capone. Có thể nói, nếu
Capone muốn, bọn O Bannon sẽ bị tiêu diệt chỉ trong vòng vài tuần lễ. Thằng O Bannon cũng không phải là thứ ngu, hễ ngữi thấy tiền là tối tăm mặt mũi lại. Nó còn sống được cho đến này hôm nay là cũng nhờ bởi cái tài biết nhịn nhục, biết ngồi chờ thời …
Lite góp ý:
-Có thể tại vì nó tưởng thằng Capone sắp sửa bị ông Ness tiêu diệt.
Malone vỗ nhẹ tay xuống mặt bàn một phát. Vỗ nhẹ vậy mà ly chén trên bàn
cũng tung lên như muốn nhẩy ra ngoài:
-Đúng! Chú mày nói đúng. Tụi Do Thái có đường giây gốc rể khắp nơi trên
nước Mỹ, từ Hoa Thịnh Đốn đến New York, chỗ nào mà không có vài ông dân cữ nhận tiền của chúng nó. Có thể nó biết được một điều gì đó mà ngay chính cả ông thanh tra liên Bang Eliot Ness này chưa chắc đã biết. Vì vậy nó quyết định trở mặt … Còn chuyện này nữa, bệnh ham đếm tiền là một thứ bệnh hay lây. Hết cánh O Bannon bây giờ đến tụi Rusky. O Bannon ăn có được thì sức mấy tụi Rusky chịu đứng ngoài mà nhìn. Chúng nó cũng xé rào, nhưng cẩn thận hơn bọn O Bannon …
Những chuyện này làm sao qua nổi cắp mắt của Al Capone. Nhưng dù có tài giỏi và thế lực đến đâu Capone cũng không thể một lần vừa chơi cớm liên bang, vừa chơi O Bannon, vừa chơi luôn cả Rusky được. Hơn nữa, nó biết đánh giá tình hình, biết chuyện nào quan trọng cần phải giải quyết liền, chuyện nào có thể chờ …
Cô hầu bàn bưng nước tới, đưa cho mỗi người một ly cà phê, còn Malone một
ly pha lê lớn có chất nước màu xanh lóng lánh. Tay cô hầu bàn chưa kịp kéo về thì Malone đã lẹ làng kẹp vào ngón tay nàng một tờ giấy 5 đô la. Ness mỉm cười. Ông bàn tay sắt này cho típ cũng mau và đẹp y như là rút súng ra vậy. Cái bàn tay coi hộ pháp như vậy mà sao cử động lanh lẹ quá chừng. Thật chẳng hổ danh bàn tay sắt. Malone nâng ly ra dấu mời rồi chẳng thèm khách sáo, ngữa cổ uống một hơi cạn hết nửa ly. Uống xong, hắn khà một phát ra điều khoái trá lắm:
-Rượu chỗ này pha không chê được.
Ness lại muốn nhảy nhổm ra khỏi ghế:
-Rượu?
-Thì rượu chớ còn gì nữa. Malone này đâu đi xuống đây để uống sữa hay
uống cà phê như mấy ông. Mà ông Ness à, nếu muốn, tôi đề nghị ông nên thử một chút coi. Lâu lâu cũng nên xé rào một chút để thưởng thức hương vị cuộc đời …
Ness lắc đầu xua tay. Chàng nhớ đến đồng xu có hình con chim hồi sáng. Đây là ngày đầu tiên mình chơi luật Malone. Mới ngồi chưa im đít mà đã muốn
nhảy nhỏm ra khỏi ghế mấy lần rồi, không biết rồi đây sẽ còn có bao nhiêu cú bất ngờ như vậy nữa.
Malone tiếp tục:
-Như tôi đã nói, thằng Capone là một đứa biết nhiều và biết đúng. Nó hiểu là
trong tất cả những người đang gây khốn đốn cho nó, không ai có thể tiêu diệt nó nổi ngoại trừ ông Eliot Ness. Theo tin tức riêng của tôi thì không phải chờ cho ông chơi trò hành quân cảnh sát ma, quần chúng nó nát bét ra thì nó mới biết con người ghê gớm của ông. Con cáo già này đã biết chuyện này ngay từ ngày đầu tiên. Cái ngày mà ông réo tên nó ra ông chửi đó ông còn nhớ không?
Ness gật đầu. Malon tiếp:
-Vì vậy, nó tạm làm ngơ để dồn hết lực lượng ra lo đối phó với ông. Chừng
nào giải quyết được ông xong, thì cả bọn O Bannon chỉ còn hai chỗ ở được: Nhà thương hoặc nghĩa địa. Lăn lộn trong nghề này hơn 20 năm rồi, tôi có thể nhìn thấy được cơn thịnh nộ của nó …
-Nó sẽ “giải quyết” tôi cách nào?
-Như tôi đã nói, nếu mua ông không được, nó sẽ giết ông. Và chuyện này đã
xảy ra đúng như ý tôi đoán.
Ness mím môi, đốt một điếu thuốc:
-Tôi hiểu chuyện đó từ lâu và sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi chuyện có thể
xảy đến cho mình. Vậy thì, theo ý ông, phần tiếp theo chúng ta phải làm gì?
-Chúng ta cần tiền. Tiền mà tôi muốn nói đây là cỡ vài chục ngàn đô la, hoặc
nhiều hơn chứ không ít. Ông chịu khó bỏ dùm cái đầu óc “cảnh sát đại học” qua một bên đi để nhìn vấn đề một cách thực tế như thế này: Mình cần tiền để giải quyết nhiều vấn đề. Thứ nhất chúng ta đều cần mỗi người đều cần ít nhất là một chiếc xe hơi, nếu có hai chiếc thì càng tốt, thay đổi mà đi thì đỡ bị gài bom hơn. Chúng ta cần một trụ sở làm việc an toàn, không thể mỗi lần họp hành là kéo ra hàng quán như thế này. Hơn tất cả mọi chuyện, chúng ta cần tiền để mua tin tức. Dân giang hồ Chicago kín miệng lắm, chỉ khi nào thấy tờ giấy trăm đô phe phẩy trước mặt mới chịu … hé ra nói một chút rồi đóng lại liền. Malone có uy thật đó nhưng cái uy đó chỉ đủ làm cho chúng nó sợ, không đủ để biến chúng nó thành gián điệp làm việc không lương cho mình. Mình chỉ có thể mua được chúng nó bằng tiền mà thôi …
Ness bóp trán. Chàng thấy Malone nói đúng nhưng biết đào đâu ra tiền bây
giờ?
-Ông có … ý kiến gì để kiếm tiền không?
Hỏi vậy là yếu rồi, Malone cười:
Để từ từ rồi tôi sẽ đi tới vần đề đó. Theo tình hình lúc nãy tôi vừa phân tích,
bây giờ chúng hãy đặt thử một giả thuyết như thế này: Nếu như Capone giải quyết suông sẻ được “vấn đề Eliot Ness,” chuyện gì sẽ xảy ra?
Lite nói liền:
-Nổ lớn. Thằng O Bannon sẽ khốn đốn bằng thích.
-Đúng. Trong giới giang hồ, tội gì cũng có thể tha thứ được nhưng cái tội
“thừa nước đục thả câu” để phản bội anh em là tội chết. Capone dư sức để trừng trị và sẽ trừng trị bọn này đích đáng. Khi cơn thịnh nộ của thằng Capone chấm dứt, tôi chắc chắn, tên tuổi của bọn O Bannon sẽ chẳng còn bao giờ được nhắc đến trong giới giang hồ nữa …
Malone làm dấu cho Ness và Lite gom đầu lại, rồi nói thật nhỏ, hầu như qua
hơi thở:
-Vậy thì, nếu chúng ta giúp cho nó giải quyết xong “vấn đề Eliot Ness” sớm
hơn một chút thì chúng ta chỉ việc khoanh tay ngồi nhìn bọn Capone đập thằng Do Thái. Tụi O Bannon sẽ không bao giờ ngờ được chuyện này. Nhưng chẳng sao, đất nước này mà thiếu mất một mớ thằng Do Thái hôi tanh như thằng O Bannon thì cũng chẳng có gì quan trọng. Dĩ nhiên, tụi O Bannon chắc chắn không ngồi yên nhìn phe Capone đào huyệt chôn mình. Hai bên sẽ giết nhau đến tay súng cuối cùng. Tôi biết chắc cú này sẽ chẳng có màn thương lượng đâu …
Malone ngước mặt lên, cặp mắt quét một vòng chung quanh nhà hàng ăn một
phát nhanh như điện rồi tiếp tục:
-Nhưng chiến tranh nào mà không có đổ vỡ kìa? Thằng Capone giết tụi O
Bannon được mười đứa thì thế nào cũng bị giết lại năm bảy đứa. Đốt được nhà
chúng nó thì thế nào cũng bị đốt lại … Tôi biết, cuối cùng thằng Capone sẽ thắng nhưng chúng ta hãy tưởng tượng đi, lực lượng của nó lúc ấy sẽ ra sao? Tôi dùng bốn chữ “tan nát tả tơi.” Đó là lúc mà chúng ta phải xuất hiện để nện cho nó nằm thẳng cẳng luôn. Vụ này, nếu chúng nó không đánh nhau thì mình sẽ chẳng bao giờ dở được trò gì hết. Mấy ông nghe tôi đi, tôi ở đây lâu rồi tôi biết …
Ness gật gù cái đầu, đưa mắt nhìn chung quanh trước khi trả lời:
-Lý luận rất đúng. Nhưng theo ý ông, mình sẽ làm sao để giúp nó giải quyết
“vần đề Eliot Ness” được? Không lý ông muốn tôi … giả chết à?
-Không, tôi có một ý kiến này rất hay. Nếu áp dụng được, mình sẽ vừa tạm
thời bảo vệ tính mạng cho chúng mình, vừa có tiền trang trải công tác phí, vừa có thì giờ chuẩn bị lực lượng để đánh trận đánh cuối cùng.
Thầy đội này quả là một thiên tài. Ness vừa nghe là đã thấy muốn chảy nước
miếng rồi. Lite cũng giấu nổi vẻ bồn chồn, mặt nghệt ra hỏi:
-Ý kiến gì độc đáo vậy, có thực hiện được không?
-Ông có nhớ tôi từng nói với ông là nếu không mua được ông, nó sẽ giết ông
không? Tôi đã nói không sai. Bây giờ, nói thật với ông, dù tôi là bàn tay sắt, hơn hai chục năm nay, khắp hang cùng ngỏ hẻm Chicago ai ai nghe đến tên cũng phải nể phục nhưng nếu Capone muốn tôi chết tối nay thì chắc chắn sẽ có một thằng nào đó làm được chuyện này trước khi mặt trời mọc. Là một cảnh sát phải nói ra chuyện đó thật là đau lòng nhưng đó là sự thật. Tôi biết rõ Capone hơn ai hết. Các ông phải nhớ một điều là đừng bao giờ coi nhẹ lực lượng của Al Capone. Nó đã mọc rễ ở thành phố này hơn 20 năm. Nó có hơn một ngàn tay súng loại sẵn sàng bắn chết tươi con người ta chỉ để được nghe một lời khen “Good Job” của xếp. Nó chưa bao giờ muốn cho ai chết mà người đó còn sống được, kể cả tôi hay ông. Chuyện ông Ness thoát chết hôm nọ chỉ là một may mắn tình cờ thôi. Chúng nó rồi đây sẽ nghĩ ra nhiều trò táo bạo hơn nữa để giết ông cho bằng được. Đời người, tôi sợ mình không được có nhiều may mắn lắm, nhất là những cái may mắn lạ lùng như vậy …
Ness sốt ruột:
-Biết rồi, nói mãi, ông cho biết ý kiến độc đáo của ông đi!
Malone nhìn thẳng vào mắt Ness:
-Tôi nghe nói nó có cho người đem đến tặng ông 200 ngàn đô la nhưng bị từ
chối. Đúng không?
Ness gật đầu:
-Đúng! Tôi chưa cho còng đầu nó lại là may.
Malone nắm hai bàn tay Ness, nói rất chậm:
-Bây giờ, hãy ví dụ như ông Eliot Ness vì sợ chết liền đổi ý, trở lại thò tay
nhận tiền của Al Capone thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ông thử nghĩ đi.
Lite ồ lên một tiếng, vỗ hai tay vào nhau thích thú:
– Tuyệt kế. Nghe người ta đồn Gary Malone mưu trí hơn người, bây giờ mới
thấy đúng.
Ness mỉm cười:
-Đúng là tuyệt kế. Nếu tôi nhận tiền, chúng nó sẽ tưởng Eliot Ness là “Touchable”.
-Phải! Một thứ “Hard touchable” nhưng rồi cuối cùng cũng bán linh hồn cho
ma quỷ như bao nhiêu người khác. Tôi nghĩ thằng Do Thái O Bannon không bao giờ ngờ được điều này. Nếu mình nhận tiền nó, mình có ba cái lợi trước mắt. Thứ nhất là nó sẽ đình hoãn mấy cái án tử hình đã ban ra. Tụi mình sẽ … còn sống được để tính chuyện đưa nó lên ghế điện. Thứ hai, 200 ngàn đô la là dư sức cho chúng ta hoạt động để thực hiện ý định của mình. Trên đời thật không còn gì lý thú bằng dùng tiền của kẻ thù để đánh kẻ thù. Thứ ba, sau cuộc chiến, thằng Capone dù mạnh đến đâu cũng trở thành yếu xìu. Bấy giờ mình chỉ quét một mẻ lưới chót là yên hết mọi chuyện …
Ness ngồi thẳng người lên đốt điếu thuốc lá. Chàng thấy cảm phục Malone
vô cùng, nhưng vẫn còn hơi thắc mắc:
-Ý kiến rất hay, nhưng còn vài chi tiết nhỏ mình chưa giải quyết được như sau
này nếu ra tòa, chúng nó khai là tôi nhận tiền hối lộ của chúng thì sao? Thanh tra Ness này không muốn bị mất thanh danh hay vô tù vì những chuyện dơ bẩn như vậy.
Malone cười:
-Chuyện đó ông để Malone lo cho. Chả có gì khó, chính tôi là người đi nhận
tiền chớ không phải ông. Ông đừng quên một điều là muốn nói được, người ta
phải … còn sống. Xác chết không bao giờ biết làm chứng ở toà.
Một lần nữa, Ness lại muốn nhảy nhổm ra khỏi ghế. Malone nói là Malone
sẽ làm. Ra thầy đội này tính thủ tiêu con người ta thật. Hình ảnh hình con chim đại bàng trên đồng xu lại hiện ra trước mắt chàng. Chàng tự hỏi, nếu lúc sáng, hình người hiện lên thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Malone tiếp:
-Một chuyện quan trọng khác mà chúng ta cần phải giải quyết. Các ông biết
thằng Capone và consiglerie của nó, thằng Do Thái Guzick không phải là hai thằng ngu. Nếu tầm thường chúng nó đã không gây dựng được đế quốc Capone khổng lồ như vậy. Mình phải làm sao cho chúng nó vào xiếc mà chúng không nghi ngờ kìa. Nếu chúng nó biết được âm mưu của mình, sẽ tương kế tựu kế quất lại một phát thì chúng ta nếu không vào tù để nghiên cứu lại bộ luật Malone thì cũng vô nghĩa địa …
Ness gật gù:
Đó là sự khác biệt giữa luật Malone và Hiến Pháp. Nếu xử dụng hiến pháp,
chúng ta chỉ chỉ có một nơi để đến là nghĩa địa mà thôi. Còn luật Malone thì có mở thêm một con đường thênh thang dẫn đến nhà tù …
Malone cười:
-Sai! Luật Malone còn có con đường đưa chúng ta thẳng đến chiến thắng vinh
quang nữa chứ. Đi con đường nào là tùy thuộc vào đầu óc và khả năng của chúng ta …
Người bồi bạn dọn thức ăn lên. Malone nhét ống vố vào túi áo, hỏi:
-Ông thấy ý kiến tôi thế nào, có thực hiện được không?
Ness trả lời một cách quyết liệt:
-Hay lắm! Tôi đồng ý hoàn toàn, không có gì phải suy nghĩ cả. Mình theo
luật Malone, ngày mai cứ thế mà làm. Nếu xuống nghĩa địa, chúng ta sẽ nằm cạnh nhau. Nếu vào tù, chúng ta cũng sẽ vận động để được ở chung một xà lim. Còn nếu chiến thắng, chúng ta sẽ cũng sẽ cùng nhau chia sẽ …
Ness đưa hai tay ra, Malone và Lite mỗi người nắm lấy một tay, hân hoan xiết
chặt …
Khi bắt đầu ăn đến món tráng miệng, Malone chợt nói:
-Ông Ness, tôi có một lời thú tội cần phải nói.
Bữa ăn ngon miệng quá làm Ness cũng thấy dễ dãi:
-Tội gì, nói đi.
Malone thò tay trái rút ra một đồng xu đưa cho Ness:
-Ông coi thử hai mặt của đồng xu này có hình gì?
Ness cầm lấy. Chàng lại muốn nhảy nhổm ra khỏi ghế lần nữa và suýt kêu
lên một tiếng khi nhận ra cả hai mặt của đồng xu đều có hình người. Malone lại đưa cho chàng một đồng xu khác từ tay phải:
-Ông coi thử giùm cái này luôn.
Ness thấy đồng này cả hai mặt đều có hình chim. Thật đúng là quân cờ gian
bạc lận. Không ngờ thanh tra thượng thặng của nha ngân khố liên bang lại bị lừa dễ dàng như vậy. Nhìn khuôn mặt ngẩn ngơ của Ness, Malone cười cười tiếp:
-Cái trò bịp này ở xóm tôi một thằng con nít lên năm cũng biết nhưng tôi lại
lừa ông được dễ dàng. Khi đánh cá với ông, nếu muốn ra cái gì, tôi chỉ móc đồng xu có cái đó ra đưa cho ông thì ông thảy đến … mười năm cũng chỉ ra cái mà tôi muốn.
Cái hay là làm thế nào cho người thảy đồng xu phải tin tưởng hoàn toàn nơi việc may rủi là xong …
Ness lắc đầu, nắm chặt hai đồng xu trong tay, mặt hơi đỏ. Ôi, còn gì là thanh
danh Đệ nhất cớm của Nha Ngân Khố Liên Bang? Chàng nghĩ các trường cảnh sát nên thêm môn học cờ gian bạc lận vào chương trình giáo huấn thì mới vẹn toàn. Nhưng chàng không cảm thấy giận mà tức cười cho sự ngây thơ của mình. Trường đời quả còn nhiều chuyện mà trường đại học hay trường cảnh sát không thể nào dạy hết được.
-Nếu đã lừa được tôi, sao ông còn nói ra làm gì?
-Vì Malone này không bao giờ lừa dối bạn bè. Tôi nói ra để tùy ông quyết
định. Nếu bây giờ ông đổi ý kiến, bảo chúng ta bỏ luật Malone, chơi đúng luật của hiến pháp Hoa Kỳ tôi cũng chịu nữa, và hứa danh dự sẽ theo ông đến giây phút cuối cùng. Vậy ông hãy quyết định đi, chúng ta còn dư thời giờ mà.
Ness lắc đầu, trả lại Malone hai đồng xu, cười nhẹ nhàng:
-Không! Chúng ta sẽ chơi luật của Malone. Tôi bắt đầu thấy khoái bộ luật
Viết kính dâng về anh linh Trung úy Tuấn, Thiếu úy Tiến và các bằng hữu trực thăng đã vĩnh viễn an nghỉ nơi lòng đất quê hương.
Giữa một thung lũng xanh tươi man mác thuộc vùng núi rừng cao nguyên Trung Việt, từng đàn trực thăng rầm rộ lao vào, mang theo những chiến binh không kỵ đầu tiên quân lực Hoa Kỳ của thập niên 60, nhưng khi chân họ vừa chạm mặt đất cũng là lúc hàng tràng đạn lớn nhỏ dòn dã nổ vang đón tiếp như đã chờ đợi từ lâu; cuốn phim “We Were Soldiers” đang đến đoạn gay cấn, thì tiếng chuông điện thoại reo lên, theo thói quen thường lệ, đợi đến hồi chuông gần dứt, hắn mới nhắc điện thoại lên áp vào tai rồi chậm rãi cất tiếng:
– “Alô! Tôi là Mẫn đây! Xin lỗi ai đầu máy.”
Như đã nhận ra giọng người đối thoại, cái âm thanh bỡ ngỡ ban đầu mau chóng đổi qua hân hoan:
– “Dạ! Trung-úy Mẫn đó hả! Em là Phương, Trung-sĩ Phương, cơ phi phi đoàn 225 đây! Trung úy còn nhớ em không? Em trong phi hành đoàn của Trung úy Tuấn và Thiếu úy Tiến bị bắn rớt ở Cà Mau hồi …..”
Hắn giật mình hơi sửng sốt bàng hoàng một phần vì lối xưng hô mà đã từ lầu rồi hắn chẳng còn được nghe, một phần vì cách gợi trí nhớ bằng một câu chuyện của người bên kia đầu giây thật bất ngờ, nên từ đó cho đến khi chấm dứt cuộc điện đàm tâm hồn hắn cứ ngơ ngẫn như kẻ đang sống ở thế giới này, đột nhiên bị ném trở về một nơi chốn nào đó chẳng phải lạ lẩm gì lắm đối với hắn đâu, nhưng sao thật là xa vời mà lại cũng vừa thân cận làm sao! Ừ nhỉ mới đó đã hơn hai mươi lăm năm rồi!”, hắn thầm nhủ. Cái thời khoảng hào hùng, dọc ngang đi về với gió lộng, mây ngàn ăm ắp biết bao kỷ niệm đầy trầm thống vinh nhục một thời là chất men cay nồng trong ly rượu chinh chiến mà cuộc sống lúc nào cũng sẵn dành cho những kẻ như hắn, hương vị xuân xanh của tuổi trẻ đầy nhựa sống chưa tận hưởng được bao nhiêu, thì đã vội vã hào sáng ngửa cổ nốc cạn những mật ngọt đắng cay ấy.
“Trung uy Mẫn!” Hắn lại lẩm bẩm mẫu danh xưng một thuở thật là quen thuộc này, và rồi quảng đời oanh liệt cùng với ẩn tích kỷ niệm quá nghiệt ngã kia bỗng hiện rõ dần trong tâm tưởng hắn sống động như hình ảnh chiếc trực thăng trúng đạn lảo đảo đập mình xuống nền cỏ xanh mơn mởn trên màn ảnh truyền hình trước mắt mặt hắn.
. . . . . . . . .
Đang lặng yên thưởng thức hương vị đậm đà tách cà phê đầu ngày qua từng ngụm nhỏ, bỗng có tiếng máy nổ vang vọng đến từ cuối con hẽm khuấy nhiễu sự tĩnh mịch của khu cư xá sĩ quan đầy khiêm tốn này, thế là hắn uống cạn cốc cà phê đen còn nóng đã vừa giúp hắn xua đuổi cơn ngái ngủ, đứng dậy xách chiếc túi đựng nón bay bên cạnh, dừng chân ghé lại chiếc giường còn nóng ấm hơi người, hôn vội lên môi vợ và vầng trán thơm tho của hai đứa con trai đang say sưa đều hơi thở, rồi bước nhanh ra ngõ; đây là cái thói quen mà gã đã có kể từ lúc khép mình vào cuộc đời bay bổng đầy bấp bênh, gian nguy cua kiếp hoa tiêu trực thăng thời binh lửa mà cái chết lúc nào cũng rình rập đâu đó như một hứa hẹn không chờ đợi; hơn nữa có ai biết được nụ hôn nào cho người thân yêu là nụ hôn cuối đời! Bên ngoài trời vẫn tối đen, ánh sáng mờ mờ từ một vài cột đèn đêm rải rác dọc theo con lộ duy nhất soi bóng chiếc Honda của Tuấn đang rẽ đến, nhảy gọn lên phía sau. Chiếc xe gắn máy rú lên lấy sức chuyển bánh, tiếng động cơ lại vang lên nặng nề trêu chọc bầu không khí yên lặng của khu xóm buổi tàn đêm, đâu đó vài tiếng chó sủa phụ họa, Tuấn mở miệng vài câu pha trò lấy lệ:
– “Khôn hồn thì câm mồm lại! Nếu không thì ông gởi chúng mày ra cái quán ơ cầu Bình Thủy ‘chả chìa, rựa mận’ chúng mày bây giờ. “
Cổng vào Sư đoàn và phi trường sáng choang ánh đèn của phiên gác đêm gần mãn, hắn dơ tay chào đáp lại người quân cảnh bên lề lối nhỏ phía trái. Con đường tráng nhựa quanh co qua các phần sở dẫn đến phòng hành quân phi đoàn thưa thớt bóng người, rải rác dăm ba người lính đổi phiên co ro rảo bước trong làn sương lạnh ẩm ướt, vừa phì phèo trên môi điếu thuốc, cứ thỉnh thoảng lại sáng lên theo từng hơi rít đầy thỏa mãn.
Trong lúc Tuấn lui cui dựng chiếc xe, hắn bước vào phòng hành quân, giờ này vắng lặng không một bóng người lai vãng ngoài viên sĩ quan trực phiên đêm đang ngồi che miệng ngáp nơi chiếc bàn một bên sau cánh cửa ra vô, những dãy ghế trước mắt lạnh lẽo bất động lờ mờ nửa tối nửa sáng nhìn lên chiếc bảng xanh ghi tên những phi hanh đoàn trong ngày, to choáng gần hết chiều ngang căn phòng. Hắn rút cây bút trên túi áo vai chuẩn bị điền số phi vụ lệnh trước khi ra phi đạo để làm tiền phi, bỗng Tuấn lớn tiếng đầy vẻ xì nẹt hỏi người sĩ quan trực:
– “Ai đổi phi hành đoàn của phi đội tôi vậy?”
– “Ông 33, đại úy Tường chứ ai.
Giọng Huế nhỏ nhẹ của thiếu úy Chư như đã chuẩn bị từ trước, đi kèm với nụ cười cố hữu có ý vuốt giận người đàn anh. Có tiếng lẩm bẩm chửi thề, hắn bước vội ra ngoài tránh lên tiếng để làm dịu đi cái tình huống lận cận mất vui này. Bình thường mỗi khi cắt cử phi vu, Tuấn hay chọn gã ngồi ghế trái để đi “lead” trong các phi vụ võ trang yểm trợ, thật ra chẳng phải vì tài ba bay bổng gì của hắn, mà chỉ vì cả hai đã quen biết nhau lúc còn thời gian huấn luyện, nhà thì ở cùng một khu cư xá rất tiện cho việc đi về và có lẽ một phần lớn là do cái kinh nghiệm từng trải qua nhiều tinh trạng nguy hiểm cũng như khẩn cấp thuở còn phục vụ một phi đoàn nơi vùng Tam Biên nổi tiếng hiểm địa trước khi thuyên chuyển về đây, và Tuấn đã nghe kể lại từ những người bạn thân của hai người. Đã có lần Tuấn tâm sự “nhảm” cùng hắn: “Nếu lỡ tàu hay tôi có bề gì! Đi với ông vẫn nhiều hy vọng hơn, vì ông có nhiều kinh nghiệm và đủ khả năng để có thể đem tôi về với vợ con tôi !”; và chính hắn đã bật cười trêu đùa cái ý tưởng bi quan kỳ quặc này của bạn mình. Do đó chả trách gì Tuấn nổi “cau”, khi bị đổi tên qua bay chiếc số hai với thiếu úy Quách Dũng Tiến, một hoa tiêu vừa mới “check-out” hành quản không bao lâu, còn hắn thì vẫn đi “lead” với đại úy Tường.
Hai chiếc trực thăng võ trang xề xệ bên hông hai bó “rocket”, súng đạn nặng nề oai nghi lướt mình trong sương mai, rời căn cứ khi mặt trời vừa nhô lên ngang ngọn cây. Quốc lộ Bốn như con rắn len lõi giữa những thửa ruộng xanh tươi ngút ngàn đã bắt đầu ồn ào khoe sức sống của một ngày mới với rộn rịp xe cộ qua lại. Và đây dòng sông Hậu bao ghe đò tấp nập nhấp nhô trên sóng, cùng trườn mình quanh co dạt dào sinh lực, tẻ ra nhiều nhánh chan hòa khắp mọi nơi, rồi ào ạt tuôn nước ra hướng đại dương; tất cả những sinh động quen thuộc ấy của miền Tây thân yêu trải dài dưới ánh bình minh của một buổi sáng chớm xuân. Trong phòng lái qua khung cửa kính hắn lặng yên kéo hơi thuốc lá đầu ngày đã được dành sẵn, đôi mắt mơ màng tận hưởng những giây phút thoải mái hiếm hoi này; tiếng cánh quạt chém gió hòa vào âm thanh động cơ nổ đều đều xen lẫn với tiếng gió ve vuốt thân tàu đã giúp hắn trong khoảnh khắc tạm quên bao khổ lệ, nhọc nhằn đời quân ngũ cũng như những gian truân, rình rập của kiếp chim trời! Chả trách gì thế nhân cứ thi vị hóa lối sống của những người như hắn! Dẫu thế cũng có dăm sự ganh tị nho nhỏ khá dễ thương của vài đồng nghiệp bay qua những đặc danh dành riêng cho phi công trực thăng như “tài xế máy bay” hay “pilot xe đò” bởi khả năng đáp hầu như vô giới hạn bất kể diện tích lớn nhỏ của nơi hạ cánh. Khách quan mà nói cũng như chẳng phải để phân biệt, bất kể loại máy bay nào, nỗi gian nguy cũng đều như nhau bởi có lần cất cánh nào bất trắc chẳng chực chờ; tuy nhiên có những lạc thú mà chỉ có hoa tiêu trực thăng mới có cơ hội trải qua như: một buổi chiều khi sương mù sắp phủ trên đỉnh đồi căn cứ Nam vùng Dak To, dang chân làm một cái “tiện nhỏ” mà nghe gió núi lùa vào thổi phồng chiếc áo bay làm mát lạnh cả toàn thân, hay ngất ngưởng kéo vội vài hơi rượu Cần nơi tiền đồn Dak Peck heo hút của núi rừng Tam Bien rồi vội vã cất cánh trước khi các đám mây đen dày đặc chung quanh ngọn Ngọc Long chực chờ giang phủ lối về, hoặc buổi trưa dừng cánh ở ngôi làng nhỏ gần quận lỵ thuộc tỉnh Chương Thiện, khề khà chai bia nóng với món mắm lóc dẻo quánh thơm phức vừa mới đào lên sau vườn và còn nhiều lắm kể sao cho hết; nhưng bên cạnh đặc thù kể trên, chẳng thể nào không nói về sự tận mắt đau xót chứng nhân cho bao khổ nạn mà người lính Việt Nam phải oằn nặng trên vai trong cuộc chiến đầy oan nghiệt này; căn hầm gác chật chội ngay vòng đai an ninh trông xuống con đường mòn Hồ Chí Minh của căn cứ lực lượng đặc biệt Ben He , người lính biệt động quân biên phòng miền cao nguyên xoay sở vất vả để vừa tạm tru cho cả gia đình, vợ và ba con, vừa sẵn sàng chiến đấu khi Cộng quân tấn công; còn nữa chị vợ trẻ một quân nhân nào đó của đồn Trà Tiên lẻ loi vùng Rạch Giá, Hà Tiên không đường bộ liên lạc, chờ mãi phương tiện di chuyển vào thăm chồng và nhận tiền lương, cho đến khi cạn cả tiền đường đành bán chút nhan sắc đương xuân nơi cái quán nhỏ bên lề đường, để kéo dài thời gian chờ đợi mong gặp gỡ người chồng thân yêu! Đang miên man với mớ ý tưởng hỗn độn này, thì giọng nói của đại úy Tường lại vang lên phân trần về chuyện vừa xảy ra đã đưa hắn trở về với tình hướng kém vui này, và cũng có lẽ vì nguyên cơ này mà liên lạc bình thường trên tần số nội bộ giữa hai chiếc hầu như không có kể từ lúc cất cánh cho đến bây giờ. Từ xa những cao ốc, nha cửa biểu tượng nếp sống phố thị đang ló dạng, hắn chuẩn bị điều chỉnh cần lái cho tàu giảm dần cao độ đáp xuống phi trường Cà Mau. Tuấn vẫn giữ thái độ lầm lì, tránh nói chuyện ngay cả với hắn, và trong buổi thuyết trình về tình trạng áp lực của địch tại mục tiêu cũng như kế hoạch thi hành phi vụ, Tuấn cũng không đưa ra một ý kiến nào cả; mặc dù thường nhật, là một hoa tiêu can trường Tuấn rất hăng say trong việc đóng góp ý kiến nhất là những lúc quan hệ như lúc này bởi sinh mạng của người hoa tiêu lẫn con tàu và bao người khác thường được định đoạt trong cái phút giây ấy, chỉ cần một sơ xuất hay thiếu xót nhỏ thôi, hậu quả sẽ không thể nào lường được! Biết rằng bạn vẫn còn bực cái “của” mình (chữ của Tuấn thường dùng khi không hài lòng về một chuyện gì!), hắn cũng như đại úy Tường cũng cố gắng pha trò, nhưng chẳng làm Tuấn thay đổi thái độ.
Khoảng xế trưa sau giờ cơm, ba chiếc trực thăng, hai võ trang và một tản thương được lệnh quay may cất cánh lấy cấp bay về hướng tọa độ mục tiêu. Nắng đã lên cao, rải rác trên bầu trời xanh lơ thơ vài cụm mây trắng lửng lơ vô định, từng thửa ruộng xanh tươi mát nối tiếp nhau trải dài ngút tầm mắt thỉnh thoảng lại điểm dăm ba hố bom tràn nước lấp lánh dưới anh mặt trời, chính nơi đây là chỗ trú thân bao loài thủy sản cho nên thường là địa điểm ghé kiếm chất “tươi” cho buổi nhậu của nhiều phi hành doàn trực thăng sau những chuyến hành quân cực nhọc. Nơi làm việc là một cứ điểm quân sự trọng yếu nhằm nghe ngóng sự di chuyển và ngăn chận những hoạt động của lực lượng địch trong vùng; do đó Việt cộng thường xuyên đẩy mạnh áp lực tấn công cũng như quấy rối vào đồn này. Đã hơn một tháng nay ngày nào chúng cũng pháo kích hoặc tấn công lai rai vào lực lượng trú phòng. Nhất là trong thời gian gần đây, các chuyến bay tiếp tế hay tản thương bị đình trệ vì bãi đáp không còn an toàn, khoảng hai tuần trước đã có một chiếc trực thăng tản thương suýt rớt vì hoả lực của địch; do đó căn cứ này đã tạm coi như trong tình trạng cô lộp dù là chỉ cách quận lỵ Năm Căn vài cây số đường chim bay. Tinh thần anh em binh sĩ trong đồn xuống thấp là điều có thể hiểu được nên bộ chỉ huy tiểu khu Cà Mau hy vọng là chuyến tản thương sẽ nâng cao quyết tâm chiến đấu của các anh em.
Theo kế hoạch dự định, hai chiếc võ trang vào trước để dọn đường cũng như “clear” bãi đáp, chiếc tản thương sẽ bay vị trí số ba vô đáp; trong lúc ấy hai trực thăng võ trang làm vòng chờ bên trên bao vùng bảo vệ an toàn bãi đáp cho đến khi chiếc tản thương hoàn tất phi vụ bình yên rời khỏi mục tiêu; sau đó với hoả lực còn lại hai trực thăng võ trang sẽ làm việc với quân bạn trong đồn để giải tỏa phần nào áp lực của địch xung quanh. Như thông lệ trước khi vào một bãi đáp “hot”, phi hành đoàn được lịnh nai nịt cẩn thận, hắn xiết chặt chiếc “chicken plate” trước ngực vừa đủ để thở dễ dàng, đẩy chắn đạn hông của ghế ra trước, kiểm soát lại cái cần an toàn đỏ bên cửa trái và sau đó là . hít những hơi thở thật dài rồi ngồi “đồng” để chờ đợi những phút giây căng thẳng sắp tới mà có lẽ chỉ có những kẻ đã kinh qua mới thông cảm được mà thôi. Trong thời khoảng ác nghiệt này, dường như não bộ cũng muốn tê liệt, hình ảnh kẻ thân yêu cũng chập chờn trong hư aỏ; tiếng phằn phặt vòng quay, tiếng gào thét động cơ, tiếng ào ào của gió đập vào thân tàu, tất cả trộn lẫn vào nhau tạo thành loại âm ba cuồng nộ, chát chúa; .và rồi khi con tàu tiến vào gần mục tiêu, từng tràng đạn đại liên gầm vang đe dọa, thân tàu rung lên như giận dữ, tiếng lách cách của vỏ đạn chạm vào sàn tàu mang theo mùi thuốc súng nồng nồng; mắt hắn dán chặt vào các phi kế trước mặt, chân tay trong tư thế sẵn sàng chụp lấy các cần điều khiển; mé rừng cây thấp gần mục tiêu lớn dần theo độ cận tiến phi cơ! Bỗng có tiếng báo cáo của Tuấn vang lên một cách hốt hoảng trên tần số nội bộ phi đoàn:
– “Số hai bị trúng đạn nặng! “break” trái rời vùng”.
Đại úy Tường cũng vội vã cho con tàu làm vòng quanh gắt về trái vừa cố gắng liên lạc với chiếc số hai. Riêng hắn quay hẳn nửa người bên trái đẩy vội cái chắn đạn ra sau, ngước mắt nhìn lên tìm kiếm bóng dáng con tàu của bạn mình. Trên cao khoảng hai mươi bộ hướng một giờ, con tàu trúng đạn bốc khói đen mù mịt đang lảo đảo cắm đầu tìm chỗ hạ cánh. Hắn rùng mình kinh sợ cho số phận phi hành đoàn lâm nạn bởi cái cảm giác trông con tàu bị bắn cháy giữa thinh không chẳng lạ xa gì đối với hắn!
Trong một cuộc hành quân cuối năm 1972, phi cơ hắn đã bị phòng không địch bắn bốc cháy trong lúc đổ quân trên đỉnh Phượng Hoàng đầu phi đạo Đức Cơ. Năm đó, phi đoàn hắn, Lạc Long 229 cùng Thần Tượng 215 phối hợp với sư đoàn 23 bộ binh trong một cuộc hành quân lớn vùng Tam Biên, hôm ấy hắn và Phước “râu bắp” bay vị trí số ba của hợp đoàn gồm nhiều chiếc; đội hình bay là hàng dọc, mỗi chiếc cách nhau bốn mươi lăm giây, hoả lực địch được báo cáo bởi tin tình báo cho biet là rất dữ dội quanh vùng hành quân, đại lien 12 ly 7 chỉ là đồ ăn chơi; món ăn chính là súng phòng không 14 ly 5. Để bảo đảm an ninh, hợp đoàn chỉ ra vào một hành lang, với cao độ thấp. Ngay trong đợt đầu của cuộc đổ quân, vì nhiều nguyên nhân có thể là địa thế đáp quá hiểm trở, gió lại khá lớn; do đó chiếc số hai (thường là vị trí dành cho hoa tiêu “non” tay nhất của hợp đoàn) cứ cố kềm tàu trên bãi đáp nên khi số ba vào đến rồi mà chiếc số hai vẫn còn chưa rời vùng; thế là chiếc số ba đành phải “treo lồng đèn”; và ngay giây phút hiểm nghèo ấy, phi cơ hắn đã trở thành tấm bia ngon lành đẻ tác xạ cho pháo thủ phòng không 14 ly 5 của địch. Con tàu hắn bị trúng đạn, tắt máy, bốc cháy trên không, cố lết khỏi vùng, trước khi chạm đất hắn còn nghe vang vang trên tần số nội bộ VHF công điện sắc, gọn đến lạnh người của “Báo Mun”, trưởng hợp đoàn trực thăng võ trang 229:
-“Báo cáo Charlie! Chiếc số ba bị bắn cháy! Phi hành đoàn chắc tiêu rồi!”
Vận may chưa hết nên tàu đã xuống đất kịp lúc! Thoát nạn thiêu sống và sau đó chiếc tàu do Lý Cương Quyết, trưởng phi cơ thuộc phi đoàn 215 đã nhào xuống bốc phi hành đoàn hắn trước khi địch quan có đủ thời gian truy đuổi; nếu không có lẽ giờ này xác thân hắn đã theo con tàu tan thành tro bụi và vợ con hắn cũng đã là quả phụ, cô nhi rồi!
Chiếc số một bất lực bay kề sát bên hông như cố gắng chia xẻ những giây phút cùng cực này với con tàu lâm nạn! Riêng hắn, hai bàn tay nắm chặt, đôi mắt mở to, nói lớn như gào: “Ráng lên Tuấn ơi! Gần tới đất rồi!”. Bỗng dưng miệng hắn khô khốc lại, âm thanh chết cứng trên môi vì cảnh tượng kinh hoàng xảy ra trước mắt; còn khoảng ba thước , con tàu kiệt lực uất ức hét lên một tiếng nổ lớn rồi ngọn lửa bùng mạnh dữ dội, thân tàu quay nhanh những vòng cuối tức tưởi, uất ức đập mạnh xuống mặt ruộng xăm xắp nước, dẫy dụa rồi lật ngửa phơi bụng thoi thóp hấp hối giữa vòng lửa cường hung!
Đại úy Tường cho tàu hối hả hạ càng đáp trên bờ ruộng cách khoảng độ gần hai mươi thước, đầu hướng về mé rừng cây, hắn tháo vội nón bay quay ra sau thét lớn thúc hối hai người cơ phi, xạ thủ rời tàu để tiếp cứu phi hành đoàn lâm nạn. Nhưng cả hai có lẽ như bị chết cứng vì sợ hãi trước thảm cảnh quá rùng rợn đang xảy ra trước mắt. Hắn điên lên vì giận dữ, giật tung dây an toàn, vất chiếc nón bay xuống ghế, leo vội ra sau đẩy mạnh vai người hạ sĩ quan cơ khí một làn nữa để thúc dục; rồi nhảy khỏi tàu. Do nước ruộng sâu vừa đủ làm hắn té chúi nhủi về phía trước, chống vội hai tay đứng dậy, nước bùn ngập gần gối cứ níu kéo chân khiến hắn khấp khểnh tung bước co chạy về hướng chiếc phi cơ đang bị ngọn lửa bao trùm; vài loạt súng AK của địch cất cao giọng hăm dọa, vang vang từ mé bìa rừng nhưng chưa đủ để ngăn cản cái cơn “khùng” của hắn lúc bấy giờ. Đám cháy vẫn ngạo nghễ cất cao, hơi nóng hắt mạnh vào người, rõ ràng nước ruộng đã toa rập đẩy ngọn lửa lan thật nhanh bao kín cả con tàu, hắn bất lực gào to tên bạn mình rồi lúp xúp chạy quanh đám cháy. Chợt trước mặt hắn một thân người trong chiếc áo bay xám nằm úp mặt xuống nước hai tay dang ra như xác chết trôi, hắn mừng rỡ nắm lấy hai cổ chân lật ngửa thân người với hy vọng nhìn lại được khuôn mặt quen thuộc. Nhưng khi nhận ra đó là người cơ phi, nên thất vọng hắn vừa nắm chặt cổ chân lôi tấm thân bất động này vừa tiếp tục công việc tìm cứu. Lại một thân người nữa trong tư thế nằm ngửa, rất nhanh hắn nhận ra được người đó cũng chẳng phải là kẻ hắn đang mong mỏi. Thế là hai tay hì hục lôi hai tấm thân bất động ấy, hắn tiếp tục cuộc chạy đua tuyệt vọng với số mệnh giữa tiếng đạn ròn rã bắn ra từ chiếc phi cơ đơn độc giữa cánh đồng về phía mé rừng cây để che chở và kéo dài dăm phút giây phù du bảo vệ hắn. Đến lúc biết là không còn hy vọng gì cả! Hắn đành bước thấp bước cao trở lại con tàu với hai thương binh mà sinh mạng vẫn còn nằm trên làn ranh sống chết, bất lực ngoái lại nhìn ngọn lửa vẫn đang hăm hở thiêu đốt chiếc phi cơ và hình hài của hai bằng hữu hoa tiêu kém may mắn, trung úy Tuấn và thiếu úy Tiến. Tít trên cao tàu tản thương vẫn bay vòng vòng để chia xẻ niềm đau đớn với phi hành đoàn hắn.
Ngồi yên như chết trên chuyến bay hối hả trở lại phi trường Cà Mau, chẳng buồn làm cả cái nhiệm vụ thông thường của một hoa tiêu ghế trái, tay chân rã rời, đầu óc trống rỗng, mắt mờ mờ như muốn khóc mà sao dòng lệ chẳng chịu tuôn ra; hắn cắn chặt răng lại chịu đựng! Có tiếng phía sau rên rỉ, đau đớn, hắn quay lại lặng lẽ nhìn người cơ phi bị thương vừa hồi tỉnh, nằm sóng soải trên sân tàu bên cạnh anh xạ thủ có lẽ bị nặng hơn nên vẫn còn mê man. Bên ngoài nắng đã dịu theo bóng dáng buổi chiều, ngọn gió quen thuộc vẫn luồn qua thân tàu, hắn gục đầu hai bàn tay đập từng hồi vào chiếc nón bay để cố xua đuổi đi nỗi bi thương khốn nạn đang dày vò tâm tư.
Đăm đăm nhìn theo chiếc trực thăng tản thương đang vội vã băng mình cất cánh rời phi đạo, tiếp tục cuộc chạy đua còn lại với thần chết để dành lại mạng sống của hai thương binh cùng đơn vị; hắn trở lại tàu tiếp tục tình trạng “chờ”, vì phi hành đoàn hắn tinh nguyện trở vào vùng để yểm trợ quân bạn tiến vào vị trí con tàu bất hạnh kia với mong mỏi thu lượm những di thể người tử nạn còn sót lại khi đám cháy tan; mặt trời xuống dần mang theo những tàn lụi mong manh của kiếp sống cũng như bao hy vọng nhỏ nhoi tội nghiệp sót lại của hắn! Cho đến khi trời gần sụp tối, chẳng còn làm gì hơn được, phi hành đoàn hắn đành lẻ loi độc phi trên đường trở về căn cứ; gió vẫn thổi, mây vẫn trôi, con tàu vẫn miệt mài bay bay trong niềm đau luyến tiếc những cánh chim mãi mãi vừa lìa đàn, xa bầy!
Trước cửa phòng hành quân, một số nhân viên phi hành của phi đoàn đang tụ tập để hỏi hắn cũng như chia xẻ niềm đau mất mát với người trở lại. Thuận, người bạn cùng khóa, khều nhẹ tay hắn ra ngoài rồi nói nhỏ:
-“Về lẹ đi mày! Vợ mày tưởng mày đã “đi” rồi! Tao có nói mà bã không tin vì hồi tối mày bảo là đi bay với thằng Tuấn, bà ấy đang ôm con khóc như “rươi” ngoài khu cư xá đấy, leo lên đây tao đưa về!
Chẳng buồn nói một lời, hắn lẳng lặng theo chân bạn ra xe trở về nhà, dọc hai bên đường đèn đã tỏ ngọn. Vừa tới đầu ngõ chưa kịp rẽ vào, hắn đãa thấy hình dáng vợ trẹn tay bồng đứa bé chưa tròn tuổi, còn đứa con trai lớn thì đang đứng một bên níu áo mẹ, mắt mũi cả ba mẹ con đang đầm đìa những giọt lệ, trông thấy hắn từ xa vợ hắn bỗng bật khóc lớn thành tiếng. Hắn vội vàng ôm chầm lấy vợ con mà không kềm được dòng nước mắt, vừa vỗ về an ủi; hai bên con hẽm có nhiều ánh mắt nhìn theo như chia xẻ niềm vui lẫn đau đớn này, hắn liếc nhanh về phía cuối hẽm, trong đó giờ phút này có người thiếu phụ với thai nhi chẳng bao giờ có dịp biết mặt bố đang tuôn tràn những giọt lệ khóc thương cho một mất mát vĩnh viễn; và thằng bé đầu lòng tuổi vừa biết ra ngõ đón mong bố, để rồi không kịp cởi chiếc áo bay còn thoáng mùi thuốc súng, bạn hắn chạy đuổi theo chiếc xe ba bánh be bé mà Tuấn đã dành tất cả số tiền thưởng Tết để mua cho con; những vòng bánh xe con con đó đã vừa đổi chỗ bao vòng quay oan nghiệt cuối cùng cuốn theo niềm hạnh phúc tươi mát ngọt ngào vào hố sâu tàn bạo của tan tác, phân ly! Đêm xuống thật chậm hun húc như cuốn trôi hắn vào nỗi cay đắng khôn cùng; trên cao hình như có hai vì sao vừa bất chợt rụng rơi!
“Chúng ta phải đánh giặc kiểu nhà nghèo”, lời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Để tưởng nhớ cố Trung úy phi công khu trục Hoàng Phi Hùng, thứ nam Bác Sĩ Hoàng Văn Đức, đã “Về với đất…” tại chiến trường An Lộc năm 1972. Phi công A1, Thái Dương Phạm Văn Thặng, đã bỏ mình tại chiến trường Tây Nguyên…
Đồng thời, xin quý mến thân tặng các Thái Dương lẫy lừng của phi đoàn 530 khu trục A1 Skyraider, những “đao phủ thủ lừng danh” nhất của vòm trời Tam Biên với những định mệnh nghiệt ngã đau thương cuối cùng….
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Người sĩ quan ban 3 thuyết trình xong, phòng họp hành quân của sư đoàn trở nên im lặng lạ thường. Người ta nghe rõ được tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ treo cuối phòng. Bỗng ông trung tá trung đoàn trưởng đứng dậy, tiến lên bục thuyết trình. Ông là một sĩ quan trẻ, mới về nắm trung đoàn chưa tới ba tháng. Áo quần ông nhăn nhúm hình như cả tuần lễ chưa thay, mắt ông ngầu đỏ, tóc ông rối bời…
Đứng trên bục, ông đưa mắt nhìn xuống phòng họp, đặc biệt ở dãy bàn có lố nhố mấy chiếc áo bay của không quân. Cái nhìn của ông thật là khó hiểu nhưng chẳng ai mở miệng hỏi.
Người sĩ quan trung đoàn trưởng bộ binh trẻ tuổi đứng lặng yên như vậy một lúc. Mấy ông phi công của sư đoàn VI Không Quân tự nhiên thấy mình được để ý, liền sửa thế ngồi, ngoan ngoãn nhìn lên, chờ đợi.
Cuối Cùng thì ông trung tá lên tiếng:
-Các ông tiểu đoàn trưởng của tôi chắc biết hai ngày sắp tới sẽ quan trọng như thế nào rồi, tôi khỏi cần phải nói thêm ở đây…
Rồi ông mỉm cười. Nụ cười bất ngờ chẳng ai mong đợi nở lên lúc này không làm giảm bớt được bầu không khí căng thẳng của phòng họp. Ông nói liền như sợ mất đi cái giá trị của nụ cười mình vừa biểu diễn:
-Thuyết trình xong, tôi sẽ có vào lời tâm tình với mấy anh em Không Quân một chút…
Mấy người mặc áo bay phía sau nghe tới đó lại …sửa thêm thế ngồi một lần nữa, mặt mày ai nấy đều cố gắng làm ra vẻ nghiêm trọng. Một trong những người mặc áo bay đó là đại uý Trần anh Trí, trẻ măng, phi tuần trưởng sáng giá nhất của Không Lực Việt Nam vùng II chiến thuật, người vang danh là “đệ nhất đao phủ thủ” của phi đoàn khu trục 530.
-Các anh em biết, cách đây vài ngày, tổng thống ta vừa tuyên bố một câu rất …giật gân là chúng ta phải “đánh giặc theo lối con nhà nghèo”…
Đây không phải là lần đầu tiên Trí đi họp hành quân với bộ binh. Thông thường những buổi họp này rất giống nhau. Mới đầu, sĩ quan ban 3 của trung đoàn hay sư đoàn lên thuyết trình. Đại khái ông sẽ trình bày một lô tin tình báo như: Sư đoàn sao vàng sư đoàn sao đỏ hay gì đó đã xâm nhập, trang bị những vũ khí nặng đủ cỡ với những cái tên mà Trí không thể nào nhớ hết. Tiếp đến là ý đồ “thâm độc” của địch, âm mưu cắt khúc này, đánh chỗ nọ. Phần thứ ba là quân ta đang mở một cuộc hành quân tại tọa độ … Mục đích của mọi cuộc hành quân, dĩ nhiên là để tiêu diệt và bao vây địch, là “đánh chết mẹ nó ra”. Hào hứng nhứt là phần hội thảo và kế hoạch. Sau đó, thông thường là một vị cấp bậc cao nhất trong phòng họp lên cho chỉ thị hay phương thức tấn công và cuối cùng, trước khi chấm dứt buổi họp thì thế nào cũng có màn yêu cầu khu trục yểm trợ tối đa, hay trực thăng bốc cho thật đẹp v.v…
Hôm nay, Trí thấy phòng họp có không khí lạ vì ông trung đoàn trưởng này mới tinh. Gặp lần đầu là thấy chịu liền. Trí nhận xét ông ta có khẩu khí hoàn toàn khác hẳn những ông trước. Sĩ quan trẻ xuất thân từ lò Đà Lạt ra có khác. Dám chê tổng thống là ăn nói giật gân thì ắt phải là “nhân tài.” Mà ông ta muốn tâm tình gì với anh em khu trục đây, Trí thắc mắc. Vậy là có chuyện rồi.
-Anh em biết, tổng thống nói đúng, nhưng chỉ đúng …một phần. Thứ nhất, trên chiến trường không có vấn đề giàu nghèo mà chỉ có thắng bại, sống hay chết, tủi nhục hay vinh quang. Nhưng, anh em cũng như tôi, chúng ta đều biết rằng từ ngày hiệp ước ngưng bắn ký xong, chính phủ Hoa kỳ cúp bớt viện trợ cho chúng ta rất nhiều…
Ông dừng lại một chút như chờ cho mọi người thấm ý câu nói rồi tiếp tục:
-Tôi không dốt đến độ không biết những gì đang xảy ra trên đất nước mình. Tiếp tế và tiếp liệu của chúng ta càng ngày càng cạn đi. Ngay cả chiếc xe díp của tôi, thiếu cái bình điện mà còm măng cả tháng chưa có, phải lấy xe của người khác đi… Nói như vậy để anh em hiểu tình hình bi đát như thế nào. Ngày xưa chúng ta đánh giặc kiểu Mỹ, bây giờ, tôi không muốn nói chúng ta phải đánh giặc kiểu con nhà nghèo, nhưng chúng ta phải đánh giặc kiểu Việt Nam. Đúng. Tôi nhấn mạnh, đánh kiểu Việt Nam. Ý tôi muốn nói là mình phải “Suy nghĩ ba lần trước khi bắn một trái pháo, suy nghĩ bẩy lần trước khi thả một trái bom…”
Thật là một câu “châm ngôn” nghe rất tới nhưng không kém đau thương. Trí nhớ lại câu tục ngữ của người Pháp: “Uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói” mà thuở xa xưa có lần thầy giáo đã bắt chàng chép 500 lần vì tội ăn nói bậy bạ trong lớp.
Rồi ông trung tá trẻ tuổi xoay người, cầm lấy cây thước, chỉ vào một cao độ trên tấm bản đồ treo phía sau. Khỏi cần nhìn Trí cũng biết cái “hột lạc” mà ông ta đang chỉ là ngọn đồi chiến lược 982 nằm ở phía bắc Kontum, nơi chàng đã đánh xuống không biết nhiêu là trái bom suốt mấy năm qua. Ngọn đồi chiến lược này là “con mắt” của thành phố Kon Tum. Ai đứng trên này có thể nhìn thấy hết được thành phố. Ngày xưa ngọn đồi này được một đơn vị LLĐB Hoa Kỳ trấn đóng, nhưng sau khi Mỹ rút đi thì ta và giặc thay phiên nhau làm chủ ngọn đồi này.
-Trước khi đi vào chi tiết, anh em cho tôi bắt đầu bằng câu này: Bằng mọi giá, vào lúc 1800 giờ ngày mốt, anh em phải …”đem nó về cho tôi.” Để tôi lập lại một lần nữa lệnh của tôi cho quí vị tiểu đoàn trưởng nghe rõ: Trễ lắm là 1800 giờ ngày mốt, chúng ta phải chiếm được ngọn đồi này.
Ông đưa mắt nhìn xuống cuối phòng, nơi có treo cái đồng hồ:
-Bây giờ là 17 giờ 45 phút. Các anh có 48 giờ 15 phút đúng để “đem” ngọn đồi đó về cho tôi.
Một “dàn” bốn ông tiểu đoàn trưởng và mấy ông tá khác đen đủi sạm nắng trong bộ đồ nhà binh bạc màu ngồi ở bàn đầu im lìm nhìn lên. Cũng như Trí, mấy ông tiểu đoàn trưởng này đâu có lạ gì với cao điểm 982. Giày họ đã vẹt gót khắp “giang sơn” của vùng hai chiến thuật, nhiều người bạn đồng đội của họ đã nằm xuống, hoặc đã bị tàn phế để gìn giữ những địa danh vô nghĩa như tên của ngọn đồi máu này.
-Sĩ quan ban 3 vừa trình bày cho các anh biết tình hình địch. Với quân số 3 tiểu đoàn của ta tấn công 1 tiểu đoàn của chúng, theo binh pháp thì quá ít. Con số lý tưởng là 7-1 chứ không phải 3-1. Anh em thấy chốt nó nằm dài dài bắt đầu từ dưới chân đồi lên tới trên đỉnh. Mấy hôm nay bay trực thăng quan sát chiến trường, tôi đã đi đến một kế hoạch tấn công như thế này…
Ông lật tấm bản đồ thứ hai. Trí nhìn lên thấy toàn những ô vuông đánh dấu vị trí của quân bạn và địch.
-Trước khi tiếp tục, tôi xin giới thiệu với anh em một nhân vật quan trọng của cuộc hành quân này.
Ông đưa tay ra, hướng về phía một người sĩ quan bộ binh nãy giờ ngồi im lặng trong một góc phòng:
-Mời Trung úy An đứng dậy.
Một ông trung uý bộ binh trẻ tuổi, nhỏ người đứng lên dơ tay chào mọi người. Tất cả đều quay nhìn nhân vật được giới thiệu. Trí cũng nhìn sang và thoáng giật mình vì khuôn mặt của người này thấy hơi quen quen. Chắc chắn Trí đã gặp hắn ở một nơi nào đó…
-Tôi xin giới thiệu với anh em, trung úy An là đại đội trưởng đại đội 45 trinh sát của trung đoàn, đơn vị nắm phần quyết định cho trận đánh này. Trung úy có thể ngồi xuống được rồi.
Trí nhìn người trung uý trẻ hơn tuổi mình ngồi xuống và cố moi óc để nhớ xem đã gặp anh chàng này ở đâu.
Tất cả các đơn vị bộ binh từ cấp trung đoàn trở lên, đều có một đại đội trinh sát. Hai chữ trinh sát thôi đủ nói lên sự hiểm nghèo. Đơn vị này luôn luôn là con cưng của trung đoàn trưởng. Trong quân đội, người ta không có thì giờ để đi “cưng” bậy bạ. Được “cưng” thì phiền toái lắm. Những công tác nguy hiểm, những công việc không ai làm nổi đều giao khoán cho mấy đứa con cưng này. Vì thế, tuổi thâm niên trung bình của lính trong đại đội trinh sát rất thấp và cấp chỉ huy thì thay đổi luôn luôn. Ủa, thì có vinh quang nào mà không được xây bằng máu kìa?
Trí biết trung uý trẻ măng như vậy mà nắm được đại đội trinh sát thì phải là “nhân tài.” Mà chắc phải là tài lắm vì bộ binh ít có khi nào thèm biểu diễn mấy cái màn giới thiệu vớ vẩn như vậy.
Vị trung tá chỉ vào một chỗ phía đông ngọn đồi tiếp tục:
-Nội trong sáng mốt, tiểu đoàn một phải sẵn sàng ở tuyến xuất phát tại đây, tiểu đoàn hai bên này, tiểu đoàn ba sẽ nằm ngay đây làm trừ bị và để chặn luôn quân cứu viện của chúng nó nếu có. Khu trục tiền oanh kích xong là hai ông một và hai cho chúng nó xung phong lên…
Tới đây, ông dừng lại, và nhìn xuống hàng ghế có mấy chiếc áo bay. Cả phòng họp lại im lặng như tờ.
Rồi ông chỉ cây thước vào lưng chừng phía Đông của ngọn đồi trên bản đồ, tiết lộ một bí mật bất ngờ:
-Vào khoảng giữa trưa hay tùy theo tình hình cho phép, tôi sẽ cho thằng 45 Trinh sát nhảy vào giữa đỉnh đồi, ngay chỗ này này. Từ trên cao, chúng nó sẽ đánh xuống, vòng ra hai bên để bắt tay với anh một và hai.
Cả phòng họp im lặng đến rợn người. Biết ngày mà, trong quân đội, hễ có chút vinh quang thì thế nào cũng có một cú “chết người” như vậy kèm theo.
-Tiểu đoàn một và tiểu đoàn hai phải ráng làm cho đẹp. Mấy thằng nhỏ trinh sát của tôi đánh thọc xuống mà không gặp được các anh để bắt tay thì hết đường quay lui…
Trí liếc mắt nhìn qua bàn ông trung úy An, thấy gã vẫn ngồi yên, bình thản.
Ông trung tá xoay người, bước vài bước tới trước, thảy cây thước trên bàn thuyết trình rồi hỏi:
-Những chi tiết nhỏ khác, anh em có thể liên lạc và phối hợp với ban 3 Trung đoàn để giải quyết. Có ai thắc mắc gì không?
Một ông tiểu đoàn trưởng bộ binh dơ tay lên liền.
-Mời anh.
-Thưa trung tá, trung tá vừa nói tiền oanh kích, xin trung tá cho biết sẽ có bao nhiêu phi tuần và sẽ đánh vào đâu?
Một nụ cười gượng hiện ra trên khuôn mặt ông trung tá. Hình như ông biết câu hỏi này sẽ được hỏi, và ông thì không muốn trả lời.
-Phòng không trợ Sư đoàn cho tôi biết chúng ta sẽ có hai phi tuần A-1 sẽ làm việc với chúng ta. Một phi tuần tiền oanh kích và một phi tuần đánh yểm trợ tiếp cận.
-Vậy là chỉ có một phi tuần A-1 tiền oanh kích?
-Đúng, một phi tuần A-1.
Lần đầu tiên kể từ khi bước vào đây, Trí nghe được những tiếng xì xầm to nhỏ.
Trả lời xong câu này, ông trung đoàn trưởng thấy nhói trong tim. Rừng núi tam biên dày đặc, chúng nó lại có công sự phòng thủ vững chắc, hai chục phi tuần còn chưa thấy thấm thía vào đâu thì hai phi tuần nghĩa lý gì? Lính của ông làm sao đánh giặc nổi? Ông lại nhớ đến những ngày còn quân đội Đồng Minh yểm trợ. Chỉ cần nhắc cái điện thoại lên thì nào là “F-4”, “F-111” đủ thứ “F” bay trên trời, thậm chí nếu muốn có cả B-52 cũng được. Nhưng tình thế bây giờ đã khác rồi.
Ông trung tá gõ nhè nhẹ ngón tay vào bục thuyết trình. Chờ cho phòng họp lại trở lại yên lặng, ông tiếp:
-Các anh em có nhớ khi bắt đầu buổi họp, tôi có nói là tôi có vào lời muốn tâm tình với anh em Không Quân?
Ông dừng lại một chút rồi tiếp tục:
-Lời tâm tình rất chân thật của tôi với anh em Không Quân là: Mong anh em ráng giúp chúng tôi. Anh em biết pháo của ta bắn không xa bằng pháo địch, chúng ta lại không được chọn chiến trường. Vậy, sự chiến thắng tùy thuộc rất nhiều vào các anh em Không Quân. Nếu anh em cố gắng giúp, chúng tôi sẽ tiết kiệm được rất nhiều xương máu của binh sĩ tôi, bằng không, chúng tôi vẫn đánh được chúng nó, nhưng cái giá của chiến thắng có thể sẽ rất mắc…
Đi họp hành quân đã bao lần, Trí chưa bao giờ nghe được một lời nói thống thiết của một vị chỉ huy như ngày hôm nay. Trí nhìn lên bục chỉ huy. Chàng cảm thấy khâm phục hơn khi nhận ra vẻ bơ phờ mệt mỏi của ông trung đoàn trưởng trẻ tuổi. Mắt ông quầng sâu vì thiếu ngủ, áo quần nhăn nhó dính đầy bụi đỏ cao nguyên.
Ông kết luận:
-Nếu không còn gì, anh em có thể ra về liền bây giờ để chuẩn bị cuộc hành quân. Mong anh em hiểu rõ những gì tôi nói. 18 giờ ngày mốt, chính tôi sẽ có mặt trên đỉnh ngọn 982. Cám ơn tất cả các anh em.
Từng người một, họ từ từ rời phòng họp, không ai nói với ai một câu nào. Ngay cả những cái bắt tay thông thường cũng không có. Trí đón được trung úy An khi hắn vừa leo lên xe díp:
-Tôi thấy anh quen quen.
An cũng nói:
-Tôi thấy đại úy cũng quen quen…. Đúng rồi, phải hồi xưa đại úy học La San Tabert không?
Trí cười hớn hở:
-Tôi nhớ ra rồi, anh học Lasan Tabert sau tôi hai lớp phải không?
-Dạ phải. Đại úy hay lái chiếc Vélo Solex đen. Ngày đại úy tình nguyện đi lính Không Quân, cả trường đều biết…
-Gọi tôi là anh đi, đại úy mẹ gì… Có rảnh không, mình ghé vào câu lạc bộ này làm một ly cà phê?
-Dạ rảnh thì không nhưng với đại úy thì được.
-Đại úy mẹ gì, mình học chung trường, gọi anh em cho tiện.
Trí quay lui kêu mấy người bạn mình về trước rồi cùng An bước vào câu lạc bộ. Khi người hầu bàn xuất hiện, thay vì gọi cà phê, Trí dơ 2 ngón tay:
-Cho hai chai 33 đi “cưng”…
Hai người nói đủ chuyện đời xưa của tuổi học trò yêu dấu. Trí hỏi:
-Ông tình nguyên đi lính à?
-Dạ không… Ngu gì. Em thi rớt tú II hai lần, bị lọt sổ phong trần.
Trí uống một ngụm bia:
-Ông làm gì mà trung đoàn trưởng để ý dữ vậy? Vài hôm nữa được thay lon là cái chắc.
An lắc đầu, cười:
-May mắn thôi anh. Ông này hồi trước là tiểu đoàn trưởng của em. Năm 72, tiểu đoàn bị chúng nó vây kín ở Võ Định, tưởng tan hàng rồi. Tối đó, ổng dụ em: “Đù mẹ đàng nào cũng chết. Tụi nó vây mình mấy ngày nay rồi, đang chắc ăn như bắp. Tối nay chú mày bất ngờ dắt lính đột kích thẳng vào bộ chỉ huy chúng nó. Không xanh cỏ thì thế nào cũng đỏ ngực. Tao sẽ thừa cơ đánh thốc ra, mình có hy vọng dọt về…”
Nghe như chuyện thời tam quốc. Trí hỏi:
-Rồi có đỏ ngực được không?
-Không nhưng tụi em đánh một trận ra gì, phá tan nát bộ chỉ huy của chúng nó. Tiểu đoàn thoát về được gần hết… Ổng lên nắm trung đoàn là giao trinh sát cho em liền.
-Làm ăn gì được chưa?
An mồi điếu thuốc, lý luận:
-Đại đội còn nhiều lính mới quá. Người cũ chết hết rồi. Từ sĩ quan xuống tới lính, ông nào thâm niên nhất là 6 tháng chiến trường. Cần phải huấn luyện nhiều thì mới đánh giặc tới được.
-Bây giờ sẵn sàng chưa? Đủ khả năng để từ trên đánh thốc xuống chưa?
-Nói sẵn sàng thì chẳng bao giờ được như ý mình cả, nhưng cũng tạm được. Nhưng em có thể bảo đảm với anh là trận này mình nhất định thắng.
-Chắc ăn vậy?
-Có gì đâu, ông trung đoàn trưởng đánh “xa luân chiến”, đem mấy tiểu đoàn thay phiên nhau quần chúng nó cả tháng nay rồi, bây giờ xông vô dứt điểm làm sao chúng nó chịu nổi?
Trí uống cạn ly bia, tính kêu thêm thì nghe tiếng gọi tên mình. Tưởng ai, té ra thiếu tá Quân, người bạn thân trong phi đoàn đang lù lù bước vào. Ông tướng này từ ngày đeo lon thiếu tá làm việc gì cũng có vẻ nghiêm trọng như… đi hỏi vợ. Chưa tới gần, ngài đã hét toang lên:
-Bố Trí, tụi tôi kiếm bố mãi.
-Kiếm làm gì, ngồi xuống đây làm một ly đã.
Quân lắc đầu, giọng có vẻ nghiêm trọng, pha lẫn một chút buồn phiền:
-Phi đoàn trưởng kêu về họp liền, có chuyện không hay rồi.
Nhìn sắc mặt và lời nói, Trí biết Quân không đùa. Chàng gọi bồi tính tiền nhưng An cản lại:
-Anh để đó cho em.
Khỏi cần khách sáo từ chối, Trí đứng lên ngay, xiết chặt tay An:
-Chúc ông may mắn. Ngày mốt tôi sẽ cố gắng đánh thật đẹp cho ông.
-Cám ơn anh. Anh ráng đánh cho đẹp giùm. Chỉ sợ trực thăng đáp không được. Nếu chạm được đôi bốt đờ sô xuống đất, con cái em sẽ làm đẹp.
-O.K. Hẹn lúc khác mình gặp lại.
Ngồi bên phải chiếc pick up do Quân lái, Trí hỏi dồn dập:
-Có chuyện gì mà gấp vậy mày, lâu lâu gặp lại một người bạn học cũ mà mày cũng không cho tụi tao có thì giờ uống với nhau vài chai bia.
Quân im lặng. Trí biết xưa nay ông phi công này là một người có tật ham đấu. Chuyện gì cũng vậy, chưa ai hỏi là đã mở miệng ra bô bô lên rồi. Vậy mà hôm nay hắn câm như thế thì nhất định là có chuyện rồi, mà phải là chuyện lớn chứ chẳng chơi. Trí thắc mắc:
-Có việc gì thế? Hay có thằng nào mới rớt tàu?
Quân vẫn im lìm không nói gì. Quái lạ, phi đoàn lâu lâu cũng có đứa “đi không ai tìm xác rơi” mà Quân đâu có phản ứng kỳ cục vậy? Vào phi trường, Trí nhìn thấy những chiếc khu trục A1 nằm im lìm thành từng dẫy. Dưới trời chiều cao nguyên đang tắt nắng, coi chúng oai hùng như những con mãnh hổ đang nằm thiêm thiếp ngủ sau một ngày chiến đấu oanh liệt.
Tự nhiên, Trí để ý thấy hai hàng nước mắt ứa ra từ đôi mắt Quân. Quen biết Quân từ bao nhiêu lâu, chàng biết bạn không phải là hạng mau nước mắt. Ngày thằng Sanh, bạn thân nhất của Quân bị SA-7 bắn nổ tung giữa trời, hắn đã không khóc. Nhất định phải có chuyện lớn rồi. Đù mẹ bạn bè với nhau từ đời nào, có cái gì không biết mà lại giấu kỹ vậy. Trí bực tức, gầm lên:
-Có chuyện gì? Đù mẹ có chuyện gì thì nói mẹ nó ra, sao mày cứ giấu tao. Đù mẹ lớn hết rồi, đủ sức lái tàu bay đánh giặc thì đủ can đảm để nghe bất cứ nguồn tin nào dù nó bi thảm đến đâu. Mày nói đi, thằng nào vừa chết?
Quân thắng xe, quẹo vào bờ cỏ rồi tắt máy. Vẫn không thèm nói năng gì, chàng leo xuống, bước từng bước một tới phía hàng rào, đứng nhìn vào bãi đậu có những chiếc khu trục A-1 của phi đoàn. Trí lắc đầu, mở cửa phóng xuống theo.
Đứng bên cạnh Trí nơi hàng rào, Quân lắc đầu nói:
-Chẳng có đứa nào trong phi đoàn mình chết cả…
Rồi chàng đưa tay chỉ vào những chiếc tàu bay, giọng nói thẩn thờ như người mất hồn:
-Đúng ra, tất cả những con chim sắt thây yêu này đều sắp chết hết. Chúng nó đều sắp sửa bị bức tử hàng loạt, chỉ trong vòng vài ngày nữa thôi.
Trí kinh hoảng:
-Mày nói gì? Ai giết chúng nó? Không có nó thì mình làm sao sống được?
Lần này thì hai hàng nước mắt Quân xuất hiện rõ ràng trên gò má:
-Bộ tư lệnh vừa đánh điện ra, cho lệnh ground hết tất cả phi cơ của phi đoàn mình.
Trí gầm lên, phẫn nộ:
-Ground, ground, đù mẹ lệnh lạc c… gì mà ngu vậy? Chúng nó vừa mở một loạt các cuộc tổng tấn công ở khắp nơi. Tại sao lại ground?
Giọng Quân lạc đi, chua xót và buồn thảm:
-Đơn giản lắm: Hết xăng và không có phụ tùng thay thế. Không ground thì cũng chẳng kiếm đâu ra xăng mà bay. Chính phủ không còn đủ xăng cho khu trục cơ A1 nữa. Phi vụ của mày là phi vụ cuối cùng. Sau đó, A-37 sẽ bao vùng. Chúng nó xài Jet Fuel, nên còn nhiều…
Không còn gì để cãi nữa. Trí đưa hai tay bưng lấy mặt. Cái tin này quả kinh khủng hơn chàng nghĩ. Có sống đến một ngàn năm nữa, Trí vẫn không tưởng tượng được chuyện này sẽ xảy ra. Dù từ ngày hiệp ước ngưng bắn ký, Trí đã biết tiếp liệu của quân đội bị cắt rất nhiều. Tàu bay hư không có cơ phận thay thế, phải lấy từ chiếc này để sửa chiếc khác. Bom đạn nếu không đánh được thì phải đem về mà đáp. Nhưng ai có thể ngờ được lại có một ngày như hôm nay. Ngay đến cả xăng cũng không còn để mà bay.
Trí hỏi Quân, lần này thì chính giọng của chàng lạc đi:
-Mày nói thật, mày không đùa giai với tao đấy hả Quân?
Quân không trả lời nhưng Trí cũng biết là bạn mình không đùa. Ai thèm đùa cái chuyện đau thương như vầy. Chàng hỏi để mà hỏi, buồn quá mà hỏi. Chẳng cần nghe trả lời.
Hai người phi công khu trục đứng yên lặng bên nhau cạnh hàng rào, nhìn đăm đăm vào nơi bãi đậu phi cơ. Dưới những tia nắng yếu ớt của trời chiều cao nguyên, đoàn khu trục cơ A-1 vẫn nằm im lặng lẽ. Lặng lẽ nhưng cao cả và oai hùng như những con cọp già trở về hang mình nằm im lặng và bình thản chờ cái chết ụp tới sau một cuộc đời tung hoành ngang dọc. Những con cọp già đã trở về lại khu rừng xưa yêu dấu, nhưng sao rừng chưa hề bị tàn phá mà cọp đành phải nhắm mắt vĩnh biệt rừng…
Trời hởi, có nỗi buồn nào lớn hơn nỗi buồn của phi công bị mất tàu, của rừng bị mất thú..
Trí thấy đôi mắt mình ngứa ngứa, chàng đưa tay lên chùi theo phản ứng và nhận ra là mặt mình đã đầm đìa nước mắt…
Chẳng muốn chạy đến, ôm xiết những con cọp yêu dấu kia vào lòng mình, nói một lời xin lỗi, một lời an ủi, một lời gì cũng được cho chúng nó đỡ tủi hờn…
Đau thương quá…
Cọp ơi là cọp, buồn quá đi thôi. Ta đã từng cỡi ngươi tung hoành khắp nơi trong những cõi trời bập bùng lửa đạn, người đã che chở ta, ngoan ngoãn nghe lời ta… Đã bao nhiêu lần thân xác người lổ chỗ những viết đạn thù, từ đạn đại liên cho tới đạn phòng không lớn nhỏ, nhưng chỉ sau vài ngày nằm dưỡng bệnh, người lại lặng lẽ bò ra bãi đậu, nằm im lim ngạo nghể dưới anh mặt trời để chờ một phi vụ khác.
Với 2200 mã lực, lúc cất cánh lên, ngươi gầm thét vang dội cả núi rừng, đánh thức cả thành phố Pleiku dậy. Thú lắm hả? Lúc lâm trận, ngươi dù chậm chạp hơn anh A-37, nhưng sự chậm chạp chính là điểm son của ngươi, chính là điểu làm cho kẻ thù kinh hồn tản đởm. Người khạc ra trái bom nào là trúng ngay mục tiêu quả bom đó. Còn 4 cây cà-nông 20 ly của ngươi mới là đáng sợ. Mỗi một lần ngươi khạc lửa ra là giặc chạy như một đàn vịt dưới chân ngươi…
Hồi ta mới tập bay, thấy ngươi cũng khó tánh bỏ mẹ. Phi công đáp không chính xác để ngươi bị văng lên cao, nếu không bình tĩnh nhấn ga từ từ mà cứ chụp cần ga đẩy tới thì sức votex của cánh quạt sẽ làm tàu bay lộn đầu liền. Ngươi cũng có tật .. ở dơ nữa. Anh A-37, cậu F-5 sạch sẽ bóng bẩy thế nào thì người dơ bẩn thế ấy. Mình mẩy ngươi lúc nào cũng đầy khói, dính đầy dầu mở, pilot leo lên tàu mà không cẩn thận thì có ngày sẽ té lộn đầu…
Nhưng khi được làm bạn với ngươi rồi thì ngươi dễ thương ngoan ngoản lắm. Bao nhiêu người phi công khác thèm được cỡi ngươi một lần mà chẳng bao giờ được. Ta lấy làm hãnh diện lắm…
Vĩnh biệt tất cả các ngươi… Thôi, hãy yên nghĩ đi nhé. Các ngươi đã làm tròn bổn phận của mình. Dù các ngươi không sinh ra trên cái quê hương khỏi lửa này, nhưng các ngươi đã sống trọn quảng đời tươi trẻ của mình trên quê hương đầy đau khổ này, đã chia xẻ những vui buồn sướng khổ, những nắng sớm mưa chiều, những cay đắng cùng những ngọt ngào với anh em ta trên quê hương khốn khổ của ta…
Trí thầm thì: “Rest in peace, dear old boys…” Còn ta, ngày nào đất nước ta còn điêu linh thì ta còn phải chia xẻ những điêu linh này với đồng bào ta, dân tộc ta….
Cả hai người đứng đó thẫn thờ nhìn vào đàn chim sắt và đốt thuốc lá liên miên cho đến khi mặt trời lặn, phi trường lên đèn. Cuối cùng, Trí hỏi:
-Mày kêu tao về họp cũng chỉ để nghe chuyện này thôi phải không?
-Ờ. Nhưng giờ này thì họp hành gì nữa, trễ rồi.
Trí quay lại nhìn Quân, giọng chắc nịch:
-Vậy thì đi. Đù mẹ đi. Mày đi với tao ra phố, tao cầm cái đồng hồ rồi hai đứa mình kiếm một chỗ nào ngồi uống rượu tới sáng để ghi nhớ ngày đại tang của mấy con chim sắt yêu quí này.
-Sáng mốt, tao và mày sẽ dẫn hai phi tuần đánh 2 phi vụ cuối cùng…
Hai người trở lại, leo lên chiếc pick-up. Lần này Trí lái. Chàng sang số nhấn ga, miệng vẫn còn lẩm bẩm:
-Phi vụ cuối cùng…
**********
Sáng ngày N, ngày tấn công đồi 982, Trí thức dậy vào lúc 5 giờ. Tối qua, chàng thức đến 3 giờ sáng để biên lá thư gởi cho Trang, người yêu của chàng. Trí có một thói quen đáng yêu là những khi gặp chuyện buồn bực, chàng hay lấy giấy bút ra để biên thư tâm sự cho người yêu. Mỗi lần gởi lá thư đi, Trí cảm thấy tâm hồn nhẹ nhỏm thư thái. Tối qua, Trí viết thư cho Trang như sau:
Pleiku ngày 24 tháng 10 năm 1974
Trang yêu dấu,
Nhận được thư anh, chắc thế nào em cũng nhăn mặt nói: “Mon petit prince lại có tâm sự u uẩn rồi đây…” Không, lần nay em trật lất. Chiều nay biên thư cho em, anh chẳng có tâm sự gì u uẩn cả mà chỉ có một tin buồn muốn nói cho em biết. Nghe xong, anh cấm Trang không được khóc, không được than vãn gì cả vì phần số nước mình nó như vậy rồi em ạ.
Em biết là anh mê nghiệp bay bổng như thế nào rồi. Anh mê lái tàu bay như người nghiện á phiện nhớ thuốc. Đối với anh, đời anh, kể từ ngày anh được đeo cánh, anh chỉ biết có một cách sống. Đó là sống ngang dọc trên trời, trong không gian bát ngát, với mây ngàn gió lộng…
Nhưng, khốn nạn thay, tất cả những chuyện đó sắp hết rồi Trang ơi. Bộ tư lệnh vừa ra lệnh ground tất cả các phi cơ của phi đoàn anh lại. Tại sao em biết không? Vì một lý do mà có sống đến ngàn năm anh cũng không thể nào ngờ được: Mình không còn loại xăng đó cho phi cơ nữa.
Nhưng em đừng vội sợ cho anh thất nghiệp. Quân đội không bao giờ để cho những phi công như bọn anh ngồi chơi xơi nước. Bọn anh sẽ được thuyên chuyển qua các phi đoàn khác để bay A-37, loại phi cơ phản lực mà anh thường gọi là “tàu bay con rệp” vì nó có hình dáng giống con rệp.
Chắc em sẽ thắc mắc, tàu bay gì cũng là tàu bay, sao lại u buồn quá sức như vậy?
Trang yêu dấu,
Em chưa bao giờ lái tàu bay, nên em chắc sẽ không thể hiểu được sự ràng buộc kỳ lạ giữa con người và chiếc phi cơ mình đang lái. Mỗi lần cất cánh đem tàu lên cao giữa không gian bát ngát, với mây ngàn và gió lộng, anh luôn luôn coi chiếc phi cơ của anh là một con thiên mã mà anh là người chiến sĩ cỡi nó. Nó đã gần gũi anh suốt bao nhiêu năm qua, đã cùng anh xông pha khắp nơi trong cõi sơn hà, đã chia sẻ với anh từng hòn tên mũi đạn, đã đem vinh quang đến cho anh khi chiến thắng, cũng như đã cùng anh nghẹn ngào xót thương khi nhìn thấy bạn mình tan nát giữa trời…
Anh nhớ mãi một lần, sau trận yểm trợ tiếp cận đồn Dakto, con thiên mã bị bắn rách bươm. Nó khục khặc, nó ho ra khói, nó mửa ra dầu nhớt văng đầy cả kính tàu bay. Vậy mà, dù sắp chết, nó vẫn gượng hết sức tàn để khập khểnh đưa anh về bến đậu. Em biết không, khi anh leo xuống tàu, nhìn thấy thân thể nó rách tươm, thịt da nát nhừ từng chỗ mà cảm giác như chính người mình bị ai dày xéo hành hạ. Lớn nhỏ gần một trăm lỗ đạn, chắc gì ai sẽ vá nổi. Và anh đã ngậm ngùi khi biết người ta quyết định đưa nó vào ụ phế thải để chết già ở đó…
Sáng ngày mai, anh sẽ cỡi con thiên mã yêu dấu của anh một lần cuối cùng. Sau đó, người ta sẽ leo lên bịt mắt nó lại, lấy vải phủ kín thân người nó như người ta tẩm liệm những xác chết. Anh còn nhớ, khi làm lễ đón nhận nó từ tay những người bạn Hoa Kỳ, chúng ta đã mở party, đã khui sâm banh, đã đọc diễn văn diễn từ rất là long trọng. Bây giờ, sau bao nhiêu năm góp công sức để gìn giữ và phục vụ tổ quốc chúng ta, chúng ta chôn sống chúng đồng loạt mà không thổi được một hồi kèn đưa linh… Riêng anh, ngày mai đi bay về, anh sẽ đốt cho chúng nó vài cây nhang rồi cắm trong phòng lái. Người Việt Nam mình vốn trọng lễ nghĩa tình cảm mà em, anh không thể bạc như thế được.
Trang,
Cổ truyện có nhiều điển tích mà khi còn bé anh không thể nào hiểu nổi, như chuyện Chung Bá Nha và Trương Tử Kỳ. Chắc em còn nhớ chuyện này. Bá Nha đánh đờn hay, và Tử Kỳ thì biết nghe đờn nên hai người trở thành tương đắc. Một ngày, Bá Nha nghe tin Tử Kỳ chết, ông liền đập cây đờn liệng đi và từ đó về sau chẳng bao giờ rờ tới đờn nữa. Hồi còn đi học, anh luôn luôn cho rằng là Chung Bá Nha đã quá “quân tử tàu”. Chiều hôm kia, khi đứng với anh Quân nơi hàng rào để ngắm nhìn những chiếc khu trục sắp sửa bị bức tử, anh đã thấm thiá hiểu được tâm trạng đau khổ của Chung Bá Nha ngày nào. Và, Trang ơi, có lẽ em không thể nào hiểu nổi nhưng anh lại đang có một tâm trạng như Chung Bá Nha ngày xưa vậy. Nếu không lái được A-1, anh có lẽ sẽ chẳng bao giờ thèm lái một thứ tàu bay nào khác nữa. Có lẽ anh sẽ xin xuống đất để chôn đời mình trong bốn bức tường, treo một chiếc áo bay đen trong văn phòng để cho thiên hạ biết là ta đây cũng đã một thời “cỡi gió lướt mây” như ai, và sống bình dị âm thầm như những anh công chức nhà binh khác. Hoặc anh sẽ xin ra bộ binh, hay, khốn nạn hơn, anh sẽ đào ngũ…
Nói vậy thôi nhưng anh biết nỗi buồn nào cũng qua đi, nỗi nhớ thương nào rồi cũng theo thời gian mà âm thầm chìm xuống, kể cả sự mất mát này. Anh không viết lá thư này chỉ để nói bấy nhiêu. Điều làm anh lo sợ đến mất ăn mất ngủ là, Trang ơi, nếu ngày hôm nay chúng ta không có đủ xăng cho phi cơ A-1 thì ai dám chắc rằng ngày mai chúng ta sẽ còn đủ xăng cho phi cơ A-37? Anh theo dõi báo chí hằng ngày và mơ hồ cảm thấy một ngày như vậy sẽ xảy ra. Chỉ cần nghĩ đến đó là anh thấy lạnh mình. Anh muốn nhấn mạnh một lần nữa cho em hiểu là anh như mơ hồ nhìn thấy một chuyện gì đại bất hạnh sẽ xảy ra cho đất nước mình. Anh thấy như vậy.
Bây giờ là 1 một giờ sáng. Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là anh lên yên ngựa để rong đuổi nơi cõi trời thênh thang lần cuối cùng với con cọp già yêu dấu của anh. Anh thường nói với em, đời anh, anh chỉ biết một cách sống. Anh hiểu, khi anh đem tàu trở về đáp, đời anh sẽ chẳng còn bao giờ như xưa nữa. Sau ngày mai, cả em nữa, chúng mình phải bắt đầu học lại từ đầu để sống một cách khác… Một cách sống khác mà chúng ta chưa bao giờ biết tới, chưa bao giờ nghĩ đến…
Trước khi dừng bút, Trang này, anh có bao giờ nói là anh yêu em chưa nhỉ? Anh quên rồi. Nếu chưa, cho phép anh tâm tình là “Anh yêu em từ lúc mới gặp em”. Còn nếu đã, thì cho anh nói thêm là, anh chưa bao giờ thấy mình cô đơn và cần em như sáng hôm nay…
Bức hình em tặng hồi tết, anh để trong bóp, nằm ngay trong túi áo bay bên trái, sát ngay trái tim anh.
Yêu em,
Trần anh Trí
Đọc lại lá thư thêm một lần nữa, Trí bỏ vào phong bì rồi dán lại, viết địa chỉ lên. Vừa cất lá thư vào túi, Trí chợt nhớ đến một điều gì, liền phóng như bay chạy ra ngoài nhìn lên trời. Hãy còn tối mịt, chưa thấy gì cả. Trí chỉ sợ thời tiết xấu, phi vụ bị trì hoãn thì coi như không cất cánh phi vụ cuối cùng được. Đúng hơn, Trí sợ người ta cúp luôn cái phi vụ cuối cùng của chàng. Thời buổi này, lệnh lạc ra rất bất ngờ, bất cứ chuyện gì cũng có thể thay đổi.
Trí là người có mặt đầu tiên trong phi đoàn. Ông thiếu úy sĩ quan trực đêm còn đang nằm ngủ ngáy khò khò trên đi văng, cây P-38 để dưới tấm nệm lòi cán ra ngoài làm như đang ở trong rừng vậy. Những anh chàng thiếu úy sữa mới về phi đoàn luôn luôn là như vậy. Thích mặc áo bay đi tán gái, thích đeo súng trệ trệ như Dăng Gô trong phim cao bồi và vô tư yêu đời một cách hồn nhiên, chân thật. Trí lắc đầu cười và nhớ lại lúc chàng mới ra trường, cũng trực phi đoàn và cũng nằm ngủ như vậy ban đêm. Chàng bỏ lá thư vào hộp thư, nhẹ nhàng đánh thức sĩ quan trực dậy rồi gọi điện thoại lên phòng khí tượng để xin tiên đoán thời tiết trong ngày.
Tốt. Trời hôm nay tương đối khá, tuy buổi sáng có mây broken ở khoảng 8000 bộ. Trí trao đổi vài câu nói bâng quơ với người sĩ quan trực rồi lặng lẽ qua phòng locker để trang bị phi hành.
Vừa xách nón ra khỏi phi đoàn, nhìn thấy một dàn phi cơ A-1 nằm im lìm dưới ánh đèn của bến đậu, Trí lại thấy đau nhói trong tim mình. Dù đã chuẩn bị trước, tâm hồn Trí vẫn không tránh khỏi những thổn thức.
Sinh hoạt của phi đạo hôm nay cũng có một vẻ buồn thảm lạ lùng. Không khí tang tóc như bao trùm cả không gian. Những người cơ khí viên xưa nay ưa cười ưa nói vậy mà bây giờ mặt mày ai nấy cũng thấy ủ rủ. Ủ rủ đến độ Trí phải bắt chuyện với họ để kiếm vài nụ cười.
Trí leo cánh con tàu được cắt cho chàng bay ngày hôm nay: chiếc NB 167. N-B tức November-Bravo, đọc theo âm thoại truyền tin của hàng không thế giới, hay “Non Nước-Bắc Bình” theo âm thoại của QLVNCH. Trí vừa đẩy kiếng cokpit ra sau vừa lẩm bẩm: “Non Nước Bắc Bình, Non Nước Bắc Bình…”
Mặt trời rồi cũng từ từ ló lên ở đằng xa. Trí chầm chậm làm các phương thức tiền phi của người phi công trước khi cất cánh. Chàng làm việc chậm rải và trịnh trọng như ông linh mục thi hành các nghi lễ thờ phượng ở trong nhà thờ.
Kiểm soát trong phòng lái xong, Trí leo ra, đứng trên chiếc cánh đầy dầu mỡ của chiếc phi cơ, nhìn lên những cao độ chập chùng của dãy Trường Sơn mờ mờ sau làn sương mỏng. Núi non hùng vĩ như thế này, giang sơn cẩm tú như thế này mà biết chừng nào mới được gặp lại? Gió cao nguyên buổi sớm thổi phần phật vào chiếc khăn quàng cổ màu trắng của chàng…
Trí leo xuống tàu, đánh một vòng thật chậm chung quanh để kiểm soát tiền phi. Chàng gõ gõ vào thân tàu mà cảm thấy như mình đang vỗ vào lưng một người bạn già thân thiết. Càng vỗ thì lòng càng thấy dâng lên một niềm nhớ thương và tiếc nuối vô vàn. Rồi không cầm được, nước mắt Trí tự nhiên ứa ra. Ôi, hỡi con tàu vô tri giác, không biết ngươi có linh hồn hay không mà sao làm cho lòng ta sao xuyến quá đỗi. Trí có cảm giác như mình là người nông phu cần mẫn vì túng quẫn đành phải đem con trâu yêu quí nhất đời ra chợ bán. Trí vuốt ve thân tàu, nghẹn ngào tâm sự: “Người bạn già thân thiết, người bạn đã cùng tôi sống qua một quãng đời, tôi biết nói gì để diễn tả hết tâm trạng của tôi cho bạn hiểu? Bạn là sản phẩm của một nền văn minh giàu mạnh, một quốc gia phú cường bậc nhất thế giới. Còn tôi, một “anh lính” của một nước nghèo. Bạn đã đến đây từ một chân trời xa lạ và chúng ta đã trở thành một đôi bạn thân khắng khít. Bạn và tôi, chúng ta đã cùng nhau chia sẻ những giây phút vinh quanh cũng như những khoảnh khắc u buồn để làm hết bổn phận mình, đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi qua bao nhiêu ngày tháng. Tôi biết rằng trước sau gì chúng mình sẽ có ngày chia tay nhau nhưng không ngờ lại trong một hoàn cảnh như thế này. Sau chuyến bay này, người ta sẽ xếp cánh bạn, đẩy vào ụ để bạn chìm vào quên lãng…”
Trí đã ra đến đầu phi cơ, đưa tay cầm cánh quạt và ngước nhìn lên đầu máy như ngắm nhìn một kiệt tác bất hủ, một kỳ công tuyệt hảo của nhân loại: “Số phận bạn vậy, còn tôi chưa chắc đã hơn gì. Tôi cũng không biết ngày mai đời mình sẽ ra sao?”
Trí vuốt ve thân cánh quạt: “Thôi, dù sao thì cũng xin chúc bạn được yên nghỉ an bình. Sinh Ly Tử Biệt bạn ạ. Bạn đã làm xong bổn phận của mình. Còn tôi, bạn biết, vẫn còn trách nhiệm nặng nề của một người trai thời loạn. Tôi sẽ bay một loại phi cơ khác…”
Trí nhìn ra xa, nơi mặt trời vừa từ từ ló dạng đàng sau dãy Trường Sơn, giọng đanh lại: “Tôi sẽ chiến đấu đến giây phút cuối cùng để bảo vệ quê hương tôi. Nếu ngày nào đó, không còn điều kiện để bay nữa, tôi sẽ xuống đất cầm súng. Hoặc, ví dù có ngày chẳng còn súng đạn nữa, chúng tôi sẽ mài đá làm dao để bảo vệ mảnh đất thân yêu này…”
* * * *
Chừng mười lăm phút trước giờ phi tuần thứ nhất cất cánh, Trí, Quân, Dương và Hiển tụ tập chung quanh tấm bản đồ trải trên mặt đất. Quân bắt đầu phần briefing:
-Mấy ông biết hết mục tiêu rồi, ngọn đồi này đây, đánh nó cả ngàn lần rồi, còn lạ gì nữa. L-19 sẽ cho biết đích xác đánh chỗ nào. Thời tiết sáng nay tương đối tốt, có một ít mây broken ở khoảng 8 ngàn bộ. Mình sẽ piqué từ trên 8000. Quân báo cho biết phòng không của chúng nó rất dữ dội, đan kín bầu trời. Ngoài hoả tiễn tầm nhiệt SA -7, lần đầu tiên họ ghi nhận có đại bác phòng không 100 ly bắn bằng Ra Đa. Súng này bắn cả B-52 cũng rớt chứ nói gì khu trục mình. Anh em nên cẩn thận, có gì thay đổi L-19 sẽ thông báo thêm. Có ai hỏi gì không?
Ngừng một chút, Quân nhìn Trí tiếp:
-Tôi và Hiển sẽ bay phi tuần đầu, đánh tiền oanh kích. Ông Trí và ông Dương bay phi tuần thứ hai đánh yểm trợ tiếp cận. Còn ai có ý kiến gì không?
Bốn năm cái đầu… phi công cùng cúi xuống im lìm, không ai nói với ai một lời nào. Quân chép miệng than:
-Phi vụ cuối cùng trước khi gói tàu bay lại trả cho chính phủ… Đù mẹ chúng nó đặt súng dầy đặc như rừng để chờ mình vào mà tập bắn, bom thì chỉ có mấy trái 500 cân và quân ta thì nhất định lấy cho được ngọn đồi này… Rắc rối quá, lần cuối cùng, mấy ông cố gắng đánh cho đẹp một phát để… làm kỷ niệm. Vài hôm nữa muốn chụp một tấm hình đứng cười nhe răng dưới chân chiếc A-1 chưa chắc đã có mà chụp.
Họp xong, Quân và Hiển lững thững xách nón bay ra phi cơ. Trí hỏi trung uý Dương, người phi tuần viên của chàng:
-Còn lâu mới tới phiên mình, ông cà phê cà pháo gì chưa?
-Dạ rồi.
-Rồi thì uống thêm một ly cũng chả chết thằng Tây nào, ông vào đây tôi mời ông một ly…
Hai người sóng bước vào căn nhà nhỏ dùng làm nơi làm việc của anh em phi đạo. Tại đây, bên cạnh chiếc bàn dài có một bộ domino và vài bộ cờ tướng, một anh thợ máy nào đó đã nẩy ra sáng kiến kê cái bình cà phê bí tất lớn cỡ… 15 lít. Cà phê đen được bán với giá 25 đồng một ly. Ai muốn uống sữa, xin chi thêm 5 đồng. Rẻ chán và uống rất ngon. Trí có hơi thắc mắc là từ khi về phi đoàn đến giờ, chàng chưa bao giờ nhìn thấy người ta lôi cái bít tất ra thay. Phi công khu trục vốn là những người ít thắc mắc những chuyện lặt vặt nên không ai để ý. Miễn cà phê uống ngon và có tí mùi… cà phê là được.
Trí mua cho Dương một ly cà phê. Hai người thả bộ ra sân bay, ngồi trên mặt đất ngó mông lung ra phi trường. Xa xa, hình ảnh của hai chiếc A-1 nối đuôi nhau tà tà ra phi đạo. Chong chóng đánh từng vòng đều đặn chậm rải, con tàu run lên nhẹ nhàng sau làn khói xanh của động cơ.
Trí lại thấy đau nhói trong tim. Chàng hỏi Dương:
-Ông có biết là sau phi vụ này mình sẽ xếp cánh mấy chiếc Skyraider lại không?
-Dạ biết.
Rồi cả hai bỗng im lặng như vừa cắn phải một trái đắng không thể nào nuốt nỗi. Trí cắn răng che dấu một nỗi nghẹn ngào vừa xông lên. Suốt từ khi được tin phi đoàn sẽ ground mấy chiếc phi cơ, tâm hồn chàng đâm ra thờ thẫn như người vừa bị mất mát một cái gì to lớn lắm. Chàng hỏi Dương:
-Thất nghiệp, ông tính làm gì?
Dương dụi điếu thuốc lá:
-Em tốt nghiệp trường bộ binh Thủ Đức, có bằng trung đội trưởng bộ binh. Nếu không đánh nhau trên trời được thì mình đánh nhau dưới đất…
-Ông thấy rồi tương lai đất nước mình sẽ như thế nào?
-Đen tối quá. Tụi Mỹ đã phủi được bàn tay của họ. Quốc hội Hoa Kỳ càng ngày càng siết chặt cái vòng viện trợ quanh cổ mình. Nước mình bây giờ như một con bệnh bị xuất huyết trầm trọng, đang nằm chờ tử thần. Cái bi kịch đau đớn nhất của mình là biết rằng trước sau gì cũng chết mà không ai đủ sáng suốt và can đảm tự tìm lấy cho mình một con đường nào để tự giải thoát…
Trí cảm thấy hơi ngạc nhiên về những nhận định của ông trung úy trẻ tuổi:
-Theo ông, mình sẽ tự giải thoát được bằng cách nào?
-Có gì khó đâu, đằng nào cũng chết, mình đem hết lực lượng đổ ra miền Bắc sống mái với chúng nó một trận “trời sầu đất thảm.” Mày đốt nhà tao thì tao đốt nhà mày, nếu có chết thì cũng chết được một cái chết ra hồn, đỡ hơn chờ chúng nó đến cắt cổ…
-Còn yếu tố Mỹ…
Mắt Dương long lên, oán hận:
-Xin lỗi đại úy, đấm c… thằng Mỹ. Nó bắt mình chết, mình có quyền chọn lựa cách chết cho mình. Mình có quyền bắt hàng khối đứa đi theo…
Trí đã nhiều lần nghĩ đến chuyện này nhưng làm gì được? Mình chỉ là một đại úy phi công hạng bét. Nói lạng chạng không vừa ý chúng nó đì cho hộc máu. Chàng cười:
-Ông biết muốn chơi chúng nó, có cách nào làm chúng nó sợ nhất không?
-Cách nào?
-Chỉ có đem bom thả tận nhà chúng là chúng mới sợ. Mình cứ chờ vào ngày lễ lao động hay lễ quốc khánh, đúng lúc cha con chúng nó tập họp đầy đủ, lẳng lặng chất vài trái bom con heo lên C-130, bay tuốt ra Hà Nội, biến cái Bắc bộ phủ của chúng nó thành một cái hố bom khổng lồ thì có hoà bình liền chớ gì.
Dương khoái chí nhe răng cười, nhưng nghĩ ra điều gì, gã chặc lưỡi:
-Hay quá đại úy nhưng bom con heo của Mỹ, sức mấy mà nó đưa cho mình khơi khơi như vậy.
-Tôi đã nghĩ đến chuyện này, mình chế lấy cũng được. Có gì khó đâu, chỉ việc gom chừng vài chục trái bom 500 pound lại cột thành một chùm, tăng cường thêm chừng chục phuy xăng ở chung quanh, đóng chung chúng nó lại thành một thùng rồi mở cửa C-130 đẩy lên. Tới nơi cứ việc bung cửa ra mà cho nó rớt xuống. Bom con heo cũng nổ đến như vậy là hết cỡ…
-Ý kiến hay vậy mà sao không thấy mình áp dụng nhỉ?
Trí lắc đầu:
-Ông biết rồi. Lãnh đạo của mình là một bọn tham nhũng, hèn nhát và thụ động. Chúng nó đâu biết rằng chúng nó đang xé nát cái quê hương này ra hàng trăm mảnh…
Mắt Dương tự nhiên thoáng một tia nhìn bí ẩn:
-Vậy thì diệt chúng đi. Mình lái khu trục, mình làm được.
Trí nói nhỏ vào tai Dương:
-Nói nhỏ thôi, tai vách mạch rừng. Tôi đã nghĩ đến chuyện này rồi nhưng ông nghĩ coi, diệt nó đi thì biết ai đủ khả năng để lên thay thế? Ông không nhớ cái thời “Đông châu liệt quốc” ở Sài Gòn sau năm 1963 à?
Dương nhún vai, nhìn lên trời:
-Tôi nghĩ thời thế sẽ tạo được anh hùng đại úy. Có nhiều người muốn làm chuyện này mà không bao giờ có cơ hội. Mình lái khu trục, có bom đạn trong tay nếu không dám xả thân một lần thì sau nay chắc sẽ hối hận…
Trí vỗ vai Dương:
-Ông muốn “làm” thiệt không?
Dương nhìn thẳng vào mắt Trí:
-Một người biết mình sắp chết chẳng có gì để sợ cả.
-Nếu vậy thì tối nay qua barrack tôi, anh em mình bàn lại. Vài hôm nữa lái A-37 mình có nhiều cơ hội hơn…
Ngồi tán gẫu một lúc mà mặt trời lên cao lúc nào không hay. Quân đã dắt thằng em về đáp. Thân tàu loang lổ những lỗ đạn. Chàng nhìn đồng hồ rồi nói với Dương:
-Tới giờ cất cánh rồi ông, mình ra quay máy. Phi vụ cuối, ráng đánh cho đẹp.
Dương cười:
-Tôi đánh phi vụ này mà không đẹp thì nghỉ ăn lương chính phủ.
Trí trịnh trọng leo lên tàu, ngồi vào phòng lái. Chàng đeo đôi găng tay vào rồi run run nâng từng sợi dây an toàn, thắt vào người. Trí siết dây thật chặt, và càng chặt thì càng cảm thấy mình như gắn liền với con chim sắt yêu dấu này. Trí ra dấu cho người thợ máy dưới đất chuẩn bị rồi mở nút xăng, nhấn động cơ quay máy. Con chim sắt khổng lồ khục khặc cái đầu, run mình, cánh quạt quay uể oải vài vòng. Trí nói nhỏ:
-Ráng lên bạn, phi vụ này là “kỷ niệm cuối cùng của đôi ta”.
Chiếc khu trục bỗng thở ra một mớ khói đen rồi máy nổ lên dòn dã. Chong chóng đánh những vòng tròn đều đặn, “quí phái.”
Dù đã bay hàng ngàn phi vụ, mỗi lần nghe tiếng động cơ nổ lên ròn rã lòng Trí tự nhiên lại rộn lên một nổi niềm cảm khoái lâng lâng khó tả. Đó là âm thanh của niềm vui, của ngày xanh êm ái lúc nghe mẹ gọi tên để cho một món quà, của thuở học trò trắng tinh màu giấy khi nghe tên mình vừa trúng tuyển một kỳ thi, của tuổi đôi mươi chất ngất khi nghe một người con gái thì thầm kêu tên mình một cách bẽn lẽn. Những tiếng động cơ của máy móc vô tri giác mà sao nghe ấm cúng, thân thiện, hiền hoà. Một lần nữa, Trí lại tự hỏi rằng không biết chiếc phi cơ này có linh hồn hay không. Sao nó làm người ta xao xuyến quá đỗi…
Và ngàn lần như một, hễ chong chóng bắt đầu quay đều thì Trí liền biến thành một con người khác. Giống y như một cái radio đang khò khè bỗng được vặn vào trúng băng tần có đài phát thanh cực mạnh. Chàng thấy bình tĩnh, tự tin, lạc quan và thoải mái như một con người mới. Mọi ưu phiền, mọi khó khăn vụn vặt của kiếp người bỗng biến mất.
Đâu đây, xa thẳm trong đáy trái tim của Trí, hình như dậy lên bài hát “Xuất quân”.
“Này, bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết chiến…”
Hai bàn tay của Trí chuyển động mau lẹ, nhịp nhàng. Điều chỉnh máy, sửa lại đồng hồ, mở vô tuyến, check in vô tuyến với thằng hai.
-Pleiku đây Thái Dương 22, radio check và xin chỉ thị di chuyển hai phi cơ A1-H, bạn.
-Thái Dương 22 đây Pleiku. Bạn di chuyển ra đầu phi đạo 26, gió êm, áp lực là 30.03.
Trí “Roger” rồi ra đưa hai tay trỏ lên trời. Hai người thợ máy dưới đất nhận được dấu hiệu, gỡ chèn bánh ra…
Bài xuất quân lại văng vẳng: “Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành, quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành…”
Chàng mớm nhẹ tay ga, con tàu ngoan ngoãn nhào tới trước. Trí đạp nhẹ hai thắng. “Từ từ, làm gì gấp vậy bạn hiền, trước sau gì mình cũng lên trời…”
Dương nối đuôi Trí đem phi cơ đến cuối cầu phi đạo, hai chiếc đậu xéo xéo bên nhau thử máy lần cuối cùng. Trí kéo cần lái vào người, đạp mạnh thắng, tống ga lên 1700 vòng phút. Con tàu rung chuyển và gầm lên dữ tợn như cọp rống. Gió đánh phần phật vào thân tàu, thổi rạp cả một bãi cỏ rộng phía sau. Tay chân Trí cử động nhịp nhàng theo từng động tác phải làm. Left magneto, right magneto… Tốt, máy móc và tất cả mọi cơ phận trong phi cơ hoạt động hoàn hảo. Trí cười. Con chim sắt này ra đời khi đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, đến bây giờ tuổi hạc đã cao mà vẫn còn oai phong lẫm liệt không thua lão tướng Hoàng Trung thời Tam Quốc.
Thử máy xong, Trí quay đầu phi cơ vào núi, thòng hai tay ra ngoài phòng lái cho chuyên viên vũ khí được… an tâm tháo chốt an toàn. Buổi sáng hôm nay trời trong xanh và đẹp lạ thường trong không khí gây gây lạnh của những ngày tháng mười…
-Pleiku, Thái Dương 22 số một cuối đường bay xin ra phi đạo cất cánh hai phi cơ A1H.
-Thái Dương 22 chấp thuận ra phi đạo, gió yên. Chúc bạn may mắn.
“Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành. Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, đi là mang mối thù thiên thu…”
Trí hạ cánh cản, kéo cockpit ra trước, đóng cửa phòng lái rồi mớm chút ga cho tàu ra so hàng nơi phi đạo. Dương lái chiếc thứ hai bám theo như một cái đuôi. Chờ cho số hai xếp hàng ngay ngắn, Trí quan sát phi cụ một lần chót rồi đẩy hết cần ga tới trước, lút cán. 2200 mã lực của sản phẩm cơ khí tuyệt hảo và vĩ đại được xử dụng tận lực, rống lên một tiếng gào khủng khiếp tưởng có thể xé nát không gian. Trí cảm thấy như máu tự nhiên chảy rần rần trong người chàng. Cánh quạt xoay tít như điên cuồng, ép gió thổi ra sau, biến hơi nước trong không khí thành những đường chỉ trắng chạy dài chung quanh. Chiếc phi cơ run lên, lồng lộn như con ngựa chứng.
Trí giữ cần lái và nhả thắng ra. Con chim sắt vĩ đại với cái bụng đầy ắp bom ào tới trước, hung hãn và dũng mãnh như một con bò mộng.
“Đi là đi chiến thắng, đi là đi chiến đấu, bước lên đây người Việt Nam…”
Hai chiếc phi cơ A-1H cùng bốc lên cao một lúc ở khoảng giữa phi đạo. Tiếng gầm thét của động cơ sáng hôm nay nghe như những gầm than thở oai oán của hai chú mãnh hổ biết mình chỉ được lên trời rong chơi lần cuối cùng. Trí nghiêng phi cơ rời vòng kiểm soát không lưu phi trường. Ôi, quê hương đất nước dưới cánh chiếc khu trục đẹp không làm sao nói được. Đồi núi chập chùng xanh biếc với những con sông con lạch nhỏ. Theo luật địa lý, đã có núi cao, thì phải có sông rộng đi kèm mới hoà hợp. Núi của dãy Trường Sơn quá cao, mà sông lạch thì ít, lại ngoằn ngèo đứt khúc nên chả trách gì lòng người có những ý chí phi thường nhưng hẹp hòi ít quảng đại, khó tha thứ. Hơn mấy chục năm chiến tranh chưa làm ai thấy mệt mỏi.
Trí leo lên 10 ngàn bộ, Dương bám sát phía sau. Trí rời tần số đài kiểm soát Pleiku sang đài kiểm báo Peacock. Giọng chàng ồ ồ vang vang:
-Peacock đây Thái Dương 22!
-Thái Dương 22 Peacock! nghe.
-Thái Dương 22, hai phi cơ A 1 -H, cất cánh được 5 phút lên làm việc với Sao Mai 10 ở toạ độ Zulu Papa …
-Roger! Sao mai 10 chờ bạn ở tần số UHF 226.7
Rồi Peacock… im luôn, không thấy thông báo tác xạ pháo binh. Trí thấy nhói trong tim. Vậy là quân ta ngay đến đạn pháo binh cũng gần hết. Chàng nhớ ngày xưa,đánh lớn như thế này thì một đoạn đường từ Pleiku đến Dakto có ít những khoảng vài trăm khẩu pháo đặt khắp nơi gây thành một trận địa pháo như thiên la địa võng. Bây giờ mọi chuyện đã đổi khác. “Đánh giặc kiểu con nhà nghèo” là như vậy sao?
Đường đến điểm hẹn với cô Lan 19 bay không đến mười phút là tới nơi. Đang đấu loạn cào cào với mấy cánh quân dưới đất, nghe Trí lên, người phi công L-19 mừng rỡ:
-Thái Dương 22 đây Sao Mai 10.
-Nghe năm. Hai A 1-H, tám trái 500 pounds và hai… trái tim rực lửa căm thù.
Có tiếng cười hềnh hệch trong máy:
-Thái Dương nói nghe được. Phòng không của chúng nó dày đặc như thế này, không rực lửa thì nên về nhà mà ngủ cho … bà xã vui lòng.
-Chưa có vợ bạn ơi… O.K., chúng tôi đang ở phía bắc mục tiêu khoảng 10 ngàn, cho biết tình hình đi bạn.
-Tình hình đại khái như thế này: bộ binh xung phong lên hai lần mới mớm được một chút nơi chân đồi. Mẹ, chưa kịp làm ăn gì thì pháo chúng nó đã lồng khung sẵn rớt tùm lum xuống quân mình. Vất vả quá. Nhưng pháo mình cũng phản pháo đẹp đáo để, hai bên đang đấu pháo loạn xị xà ngầu.
-Bây giờ bạn muốn tôi đánh đâu?
-Đánh đâu thì dễ quá, có khoảng vài trăm mục tiêu cho bạn đánh. Nhưng chuyện quan trọng nhất hiện giờ là tụi chuồn chuồn sắp vào để đổ thằng 45 trinh sát, kẹt một cái là cây phòng không 100 ly nằm trên đỉnh đồi. Từ trên đó, nó có thể quất sụm bất kỳ một hợp đoàn trực thăng nào của mình.
Khỏi cần suy nghĩ lâu Trí cũng hiểu được sự thành công của lối đánh diều hâu táo bạo này tùy thuộc vào yếu tố… chuồn chuồn. Trực thăng không vào được thì lấy gì mà nhảy? Cũng không thể vào lần thứ hai vì yếu tố bất ngờ sẽ bị mất. Chúng nó sẽ gom súng trên đỉnh đồi chờ mình vào để tập bắn… tàu bay lên thẳng.
Trí đề nghị:
-Vậy bạn muốn đánh nó phải không?
-Biết còn phải hỏi. Bạn bứng giùm nó thì may ra hợp đoàn trực thăng mới vào được.
-Xong ngay. Vào cho trái khói đi bạn.
-Có ngay.
Trí lắc nhẹ cánh và hỏi Dương qua vô tuyến:
-Hai đây một.
-Nghe năm.
-Ông nghe Sao Mai nói rồi chớ gì, mình qua combat formation.
-Hai nhận rõ. Combat formation.
-Mình sẽ piqué ở 10 ngàn. Phòng không như thế này thì phải đánh 60 độ bank.
-Hai rõ.
Chiếc L-19 quẹo một vòng rất quí phái nhàn nhã rồi tự nhiên cắm đầu thẳng xuống từ 8 ngàn bộ. Nàng lắc lư thân mình rồi xịt ra một trái khói. Trí mỉm cười. Ông nội nào lái chiếc L-19 này chắc là có máu khu trục trong người. Bắn rất đẹp, gần ngay trên đỉnh ngọn đồi.
-Thái Dương 22 đây Sao Mai mười.
-Thấy trái khói rồi bạn.
-O.K. phía bắc trái khói khoảng 200 thước là cây phòng không 100 ly đó. Phòng không mạnh quá, bạn muốn đánh trục nào cũng được. Chúc bạn may mắn, coi chừng súng chúng nó đặt khắp mọi nơi.
Hình như Trí lại nghe được bài tiến quân văng vẳng trong nón bay:
“Cờ vang thay tiếng tiếng chân đang dồn dập xa xa, tiếng gào, thiết tha…”
Trí sửa lại đôi găng tay, mở nút bom, nói thật chậm vào máy vô tuyến:
-Số một Dô.
Trí nghiêng cánh rồi lật ngược chiếc tàu bay và đưa tay kéo cần gà về. Trí mớm nhẹ cần lái cho đầu phi cơ rớt xuống…
Con tàu rơi xuống gần như thẳng đứng. Ở khoảng 8 ngàn bộ hoa khói bắt đầu nở chung quanh tàu. Đù mẹ bắn gì… sớm vậy mấy cha? Trí lẩm bẩm. Rõ là quân thừa đạn bắn vãi.
Trí tiếp tục cho tàu cắm xuống. Kia rồi, từ đàng xa, Trí nhận rõ được vị trí của ít nhất mười mấy cây phòng không. Tất cả đồng loạt nổ vang rền. Đù mẹ sao chúng nó lắm súng thế này. Những giây phút đối diện với tử thần thật là khủng khiếp. Thằng nào lái tàu bay mà nói coi phòng không giặc không ra gì là những thằng nói phét. Làm người, ai lại không sợ chết, tại sao lại phải phét lác nhỉ?
Xuống thêm một chút nữa, Trí vẫn không nhìn thấy cây 100 ly đâu cả. Câu nói của ông trung đoàn trưởng bộ binh lại vang vang trong đầu chàng: “Suy nghĩ bảy lần trước khi thả một trái bom…” Không thể được, mình phải kéo tàu lên làm một vòng khác. Mấy cây 12 ly 7 nhí này không xứng đáng để lãnh bom của chàng. Trí tống hết ga, lướt tàu qua mục tiêu rồi kéo lên. Phòng không vẫn bám cứng lấy phía sau.
-Sao mai đây Thái Dương.
-Nghe năm, không thấy bom của một nổ.
-Có thả đâu mà nổ. Không tìm thấy súng của chúng nó, thả uổng bạn ơi.
-Thái Dương hôm nay đánh lì quá. Lúc nãy bạn xuống, tôi thấy nó khạc lửa tưng bừng lên đó bạn.
-Để thằng hai xuống tôi quan sát thử coi.
Dương lên vô tuyến:
-Số hai dô…
Dương nghiêng cánh nhào xuống như một cành lá. Trí quẹo ngược trở lại, đảo mắt quan sát. Nhìn chúng nó bắn thằng số hai Trí mới thấy xót ruột. Vừa lớn vừa nhỏ, ít nhất cả trăm khẩu. Phòng không chúng nó không những chỉ đặt trên ngọn đồi 982 thôi, ngay cả những ngọn đồi chung quanh nó cũng đầy những súng.
Chiếc phi cơ của Dương như con thuyền nhỏ bé ngụp lặn trong một biển lửa hãi hùng. Nó kia rồi, cây 100 ly mà chàng đang tìm kiếm vừa khạc lửa ra dữ dội. Ông đã thấy rồi thì mày có chạy đàng trời.
Dương xuống sâu thêm nữa rồi bấm rớt bom, kéo lên. Hai đoá hoa khói đen nở tung trên mặt đất. Sao mai la ùm trời đất:
-Số hai đánh trúng mấy cây phòng không rồi đó bạn. Số một thấy cây 100 ly của nó chưa?
-Thấy rồi bạn, số một “Dô” lại đây.
Miệng nói, tay Trí lật ngược tàu bay, lại cắm đầu xuống. Lần này Trí nhắm thẳng vào hướng cây 100 ly, cứ thế mà tới. Hình như chúng nó cũng biết đã bị lộ mục tiêu, nên khạc lửa lên rất dữ dội. Trí nhìn thấy những viên đạn lửa bay lên, tưởng như cắm thẳng vào mặt mình nhưng khi đến gần thì lại biến mất. Và tiếng nổ mới là khiếp đảm. Tiếng nổ phát ra từ họng súng đang chĩa thẳng vào người mình khác hẳn bất cứ một loại tiếng động nào khác trên thế giới này mà chàng đã nghe được. Nó lạnh, sắc, khô và rờn rợn.
6 ngàn bộ, Trí biết mồ hôi trán mình toát ra đầy trong nón bay. Chàng còn biết là có vài viên đạn đã ghim vào thân tàu. Mặc kệ, “Mày sinh Bắc Tử Nam” thì tao “Sinh Nam chôn sống mày”. Tiếng Sao Mai la chói lói trong tần số:
5 ngàn, Trí bấm rớt bom rồi nghiến răng kéo phi cơ lên. Tốc độ quá cao, cả người chàng bị một tảng đá nặng nghìn cân đè dính vào ghế. Trí nghe tiếng nói của người phi công L-19:
-Đẹp quá bạn ơi, nhưng… hụt mẹ nó rồi.
Chưa lấy hết cao độ nhưng Trí đã thấy muốn nhào xuống trở lại ngay. Chẳng bung một tiếng chửi thề trong bụng. Đù mẹ, công dã tràng. Chàng bấm máy:
-Hai đây một.
-Nghe năm.
-Ông thấy cây 100 ly của nó không?
-Thấy!
-Pass cuối cùng, ráng làm đẹp đi.
-O.K. roll.
Dương nghiêng cánh chúi mũi xuống. Lại một lần nữa Trí căm phẫn nhìn những tràng đạn của quân thù bắn lên như muốn xé cả bầu trời ra hàng trăm mảnh. Chàng cứ suy nghĩ và không hiểu sao chúng nó chuyển được hàng núi súng vào đây được.
Số hai vừa kéo tàu lên, Trí biết ngay là Dương đánh không trúng. Chúng nó bắn rát quá, làm sao thả bom cho chính xác? Trí mím môi nghiêng cánh vào thử một lần chót.
Quái lạ, từ lúc cất cánh đến giờ, Trí mới để ý là văng vẳng trong nón bay có bài hát “Tiến quân ca” như đến từ một cõi vô hình.
“Này bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết chiến, bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành, quân Việt Nam đem hồn non nước xây thành…”
Lần này, với một quyết tâm trong đầu Trí bình thản lượn chiếc phi cơ hầu như thẳng góc xuống mặt đất. Dù đã cắt hết ga, chỉ trong phút chốc, tàu đã đạt đến tốc độ tối đa. Gió ép vào thân tàu, làm cặp cánh như uốn cong lên. Đến 6 ngàn bộ, Trí hơi kéo nhẹ cần lái. Tàu hơi chếch mũi lên, tốc độ giảm vừa đủ để Trí đưa cây 100 ly của giặc vào đường nhắm.
Có tiếng la hốt hoảng của Sao Mai trong nón bay:”Thái Dương 22, bạn xuống thấp quá, coi chừng…” Nhưng Trí đâu còn nghe thấy gì nữa. Ở gần 400 dặm một giờ trên vùng địch, giữa những lằn đạn thù nổ chung quanh, người phi công không còn nghe thấy gì ngoại trừ tiếng gọi của non sông và trách nhiệm. Phi cơ chàng cứ nhắm cây súng mà vùn vụt lao tới như một mũi tên sắt. Trời đất như trở thành mờ ảo ở chung quanh. Cuối cùng thì nó cũng nằm trên đường bắn của chàng. Trí bấm rớt bom, tống hết ga và kéo phi cơ lên. Cú này không trúng không ăn tiền. Chàng thoáng nhìn thấy nhiều bộ đồ ka ki Nam Định từ trong ổ súng bỏ chạy loạn cào cào.
Vừa bốc tàu lên, Trí đã nghe được hai tiếng nổ liên tiếp và tiếng hò reo vui mừng của Sao Mai 10 “Xong rồi, Thái Dương 22, xong rồi.” Đù mẹ thật là sướng hơn… chơi. Trí ôm cần lái sát vào bụng, người chàng bi áp lực như đè lún sâu vào trong ghế ngồi nhưng lòng chàng lâng lâng một niềm cảm khoái vô bờ bến.
Số hai không bỏ phí một giây đồng hồ nào, lật ngửa tàu bay, cắm đầu thẳng xuống như một chiếc lá tre để tiếp tục trò chơi dang dở. Có qua có lại, cuộc tranh hùng bắt đầu trở hào hứng kể từ giây phút này. Trí mỉm cười: “Ai bảo đi bay là khổ, đi bay sướng lắm chứ…”
Lấy được một chút cao độ, Trí xoay đầu nhìn lại “tác phẩm” của mình. Một cục lửa lớn cháy bùng lên, khói đen bốc cao thành từng cụm. Trí đang quan sát Dương thì nghe được tiếng gọi của hợp đoàn trực thăng. Một C and C, 12 slick và 4 gunship đang xình xình bay tới.
Trí cảm thấy yên bụng khi thấy Dương kéo tàu lên. Thêm hai ổ phòng không bị bứng mất gốc. Tốt. Chúng nó chỉ còn mấy cây 12 ly 7 lẻ tẻ này làm sao bắn lại Minigun của Gunship. Thua là cái chắc.
Dương đã kéo tàu lên, vào hợp đoàn trở lại với Trí. Hết bom rồi, coi như nhiệm vụ đã xong nhưng Trí vẫn chưa muốn đi về. Phi vụ cuối cùng thật hào hứng nhưng ngắn quá. Trí muốn kéo dài thời gian ly biệt này để được gần gũi với người bạn già càng lâu càng tốt lần cuối cùng.
Dương hiểu ý Trí, cho tàu bay vào thật sát bên người phi tuần trưởng. Sát đến độ nếu rờ tay ra, Dương có thể chạm vào cánh bay của Trí. Trong phòng lái phi cơ, Trí như một chàng dũng sĩ trên yên ngựa bách thắng của mình. Lúc nãy, nhìn những tràng đạn thù bắn lên, ít ai có thể tưởng tượng được chiếc phi cơ sẽ “còn nguyên một miếng”. Vậy mà không có một viên nào trúng tàu mới là tài.
Trí lượn những vòng tròn lớn phía trên ngọn đồi, đưa mắt nhìn xuống hợp đoàn trực thăng đang nối đuôi nhau tiến tới. Ủa, sao chúng nó không bay thẳng vào đỉnh đồi mà lại bay ngược lên hướng Bắc làm gì kìa? Bọn chuồn chuồn chấm lộn toạ độ chăng? Nhưng rồi Trí nghĩ ra liền. Ra là mấy anh bay như vậy để đánh lạc hướng địch quân. Xuất kỳ bất ý, làm cái quẹo gắt rồi “rớt” gọn gàng xuống đỉnh thì ai mà biết được. Hay lắm, hay lắm. Quả đúng là “Ôi phi công danh tiếng muôn đời…”
Trí xuống 8 ngàn bộ, Dương bám sát phía sau, đánh những vòng lớn ngay trên mục tiêu. Địch quân trên đồi 982 hình như đang bối rối vì tiếng động cơ trực thăng xuất hiện bất ngờ. Phòng không bắn đã thấy rời rạc. Cú này cho chúng mày đi theo Bác luôn. Bỗng Trí nẩy ra một ý tưởng ngộ nghĩnh. Chàng bấm máy hỏi Dương:
-Hai đây một.
-Nghe năm.
-Phi vụ cuối cùng rồi, ông muốn xuống dưới đó “ngao du một vòng” không?
-Sợ thằng Tây nào mà không xuống. Xuống để coi thử phòng không chúng nó bắn hay tới cỡ nào.
-Ông nhớ bám cứng theo tôi.
Trí gọi máy cho Sao Mai, thông báo mình sẽ xuống thấp để quan sát một vòng. Phi công L-19 có lẽ đang bận rộn điều chỉnh pháo cho bộ binh nên không có ý kiến.
Trí nghiêng cánh và đạp bàn đạp cho tàu trượt xuống. Hàng chục đoá hoa khói vây lấy con tàu liền. Dương bám theo cứng ngắc như nhựa đường. Thằng này bay hay thật, không thua gì Pilot Navy, Trí thầm nghĩ. Trí cứ để cho tàu trượt xuống, rơi mãi cho đến gần sát ngọn cây, mới lấy thăng bằng lại. Thấp như thế này thì mấy chú có muốn bắn cũng không biết đường đâu mà mò.
Nhìn “thiên hạ” ở cao độ trên ngọn cây coi thấy rõ ràng quá. Phi cơ chàng lướt qua trên những hàng cây dầy đặc bằng một tốc độ nhanh như hỏa tiễn. Dưới cánh chàng, thỉnh thoảng là hình ảnh của những giao thông hào và hầm hố cá nhân không hiểu của ta hay của địch lướt qua thật mau.
Trí lượn một vòng ra quốc lộ, nơi phe ta vừa mớm được một tí ở chân đồi. Đây rồi, mấy ông bộ binh đang đánh nhau tưng bừng cũng phải ngạc nhiên dở nón sắt nhìn lên hai chiếc khu trục bay sát ngọn cây, chơi trò chơi táo bạo…
Lượn đến vòng thứ ba Trí mới có một ý niệm về tình hình bên dưới. Quân ta vừa hùng hổ xung phong lên, không biết lần thứ mấy sau một loạt pháo mở đường. Hình như họ muốn đánh lạc hướng để hợp đoàn trực thăng có thể vào đáp bất ngờ. Trí nghe tiếng C and C vừa chỉ thị cho hợp đoàn trực thăng đổi hướng, bay thẳng vào mục tiêu. Trí thoáng nhìn được những cây 12 ly 7 từ trên cao, chĩa nòng xuống nổ ròn rã vào những người lính của sư đoàn 23 bộ binh. Còn 300 viên cà nông để làm gì, Trí gọi máy cho Dương, bảo mở nút cà nông và chuẩn bị tấn công. Chàng ước lượn mấy con chuồn chuồn phải ít nhất 10 phút nữa mới đến mục tiêu được, dư sức cho chàng cùng Dương làm vài straffing pass. Trí lắc cánh, Dương hiểu ý, nới rộng khoảng cách để chuẩn bị cho trò chơi mới.
Hết vòng thứ tư, Trí quẹo ra xa để chuẩn bị một đường bắn dài. Dương làm một vòng lớn hơn ở phía sau. Bỗng chàng kinh ngạc suýt reo lên một tiếng. Cặp mắt thần của người phi công khu trục vừa thoáng nhìn thấy một đám bộ đội bu quanh cây súng ở ngọn đồi kế bên ngọn đồi 982. Cây súng lớn lắm, không biết là bao nhiêu ly với cái nòng dài thòng lòng. Tiên sư, chúng nó giấu kín như thế này thì tàu bay nào kiếm ra được? Trí thấy toát mồ hôi lạnh. Rõ ràng là chúng nó dấu súng ở đây để yểm trợ cho ngọn đồi 982. Từ cao điểm đó, nếu chúng nó bắn thì nãy giờ chắc chàng và Dương đã rụng từ lâu rồi. Vậy tại sao nãy giờ chúng không bắn mình kìa? Trí thắc mắc.
Trí bấm máy báo cho Dương “Ông ở ngoài này chờ tôi một chút” rồi bất thình lình đổi mục tiêu, lấy cây cao xạ vừa nhìn thấy làm chuẩn, quẹo một vòng tròn lớn chung quanh đó. Cha con chúng nó đang hì hục quay nòng xuống hướng về phía đỉnh ngọn 982. Chàng có thể nhìn thấy rõ hai ba thằng xạ thủ cầm mấy cái tay quay quay lấy quay để.
Đù mẹ chúng mày, muốn quay súng để bắn ông sao? Câu chửi thề vừa dứt thì Trí biết ngay là mình lầm. Tàu bay khu trục mà hết bom thì cũng như con rắn không có nọc, chỉ có nước đi bay duyệt binh cho đẹp, chúng nó đâu thèm bắn. Bọn khát máu này đang quay súng để chờ đón một món mồi ngon hơn gấp ngàn lần hai chiếc khu trục… già nua ốm yếu: Một hợp đoàn trực thăng mười mấy chiếc với hàng trăm chiến sĩ trinh sát tinh nhuệ nhất của sư đoàn 23 bộ binh.
Trí quẹo tàu trở ra, thầm cám ơn trời đất. Chàng ráng bình tĩnh để suy nghĩ thật mau những gì mình phải làm. Trước hết, Trí có thể gọi máy cho C and C để kêu họ cho hợp đoàn trực thăng… thôi đáp, chở lính về nhà. Không được. QLVNCH ít khi nào làm như vậy, dù ngay cả khi biết rằng đi là chết. Hơn nữa, nếu bỏ về thì chừng nào cờ ta mới cắm được trên ngọn 982 đồi. Và chưa chắc đã còn xăng để làm chuyến thứ hai. Hoặc chàng có thể gọi cho Sao Mai biết để hắn xin pháo binh hỏa tập. Dẹp chuyện này đi. Mấy ông nội bay tuốt trên mây xanh làm sao điều động pháo kịp. Hợp đoàn trực thăng lại đang xình xình tống hết ga bay vào, phải nghĩ ra cách nào để khoá họng cây súng này liền lập tức trước khi đại họa xảy ra.
Một lần nữa, văng vẳng trong nón bay của Trí, bài tiến quân ca lại vang lên. Lần này nhịp nhàng dồn dập:
“Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, đi là mang mối thù thiên thu…”
Xong rồi, Trí đã có quyết định. Trận này thắng hay bại là do Trần Anh Trí này đây! Chàng nghiến răng tống hết ga, vừa quẹo vừa kéo tàu lên để chuẩn bị tấn công.
Nhưng, người phi công khu trục của QLVNCH với mấy ngàn giờ bay vừa phạm phải một lỗi lầm nặng quá. Ở những nơi mà “phòng không kèm cứng một rừng” như vậy, ngoại trừ những khi tấn công, một là bay thật thấp, hoặc là bay thật cao, ai lại kéo tàu lên đưa cái bụng trắng hếu cho chúng nó tập bắn bao giờ? Cái chuyện căn bản này thằng phi công mới ra trường cũng biết, nhưng Trí quên mất.
Tàu vừa quẹo lên được vài ngàn bộ thì Trí nghe hàng loạt đạn chát chúa của ít nhứt một chục cây súng nổ lên dòn dã. Trí biết là mình vừa phạm một lỗi lầm không thể nào tha thứ được, tàu bị trúng đạn nặng lắm. Và chính chàng, chàng cũng thấy đau nhói nơi ba sườn. Trí chưa bao giờ bị đau như vậy trong đời mình.
Phản ứng tự nhiên của người phi công gần mười năm bay bổng, bày tay Trí ôm cần ga đẩy mạnh tới và đồng thời tay kia đè mũi con tàu xuống và lộn một vòng tránh đạn. Khốn nạn thay, mấy chục cây súng quái ác kia vẫn bám cứng chàng như sam. Trí nhận thêm vài chục viên nữa.
Có tiếng la hốt hoảng của Dương trong máy:
-Một đây hai, một đây hai, nghe không trả lời…
Ngay lúc đó, khi hai chiếc gunship đang xình xình bay vào, vừa cách mục tiêu độ 5 dặm thì một tràng đạn từ cây súng bí mật dấu ở sườn đồi bên cạnh nổ lớn lên nghe khủng khiếp.
Đạn đạo này chúng nó đã nghiên cứu và lồng khung bao nhiêu ngày nên bắn làm sao trật được. Loạt đạn nổ chưa hết đã thấy một chiếc gunship bốc cháy bùng lên như bó đuốc, cắm đầu xuống. Chiếc kia hốt hoảng cho tàu rớt xuống theo để mong tránh tràng đạn. Mấy cây Minigun cũng trả đủa như mưa nhưng đâu có thấm thía gì. Chúng nó dấu súng trong hầm trong hố làm sao đạn của minigun lách vào nỗi.
Hợp đoàn đổ quân từ phía sau vẫn chưa biết tai họa đang chờ đợi mọi người, đang xếp hàng dọc xình xình quẹo vào. Hai chiếc gunship còn lại của hợp đoàn đang hùng hổ bắn phá trên đỉnh ngọn đồi 982. Hình như chưa ai biết những gì đang chờ đón họ ở cao điểm kế cận.
Giây phút quan trọng và hãi hùng nhất của cuộc đổ quân đã bắt đầu. C and C, L-19, pháo binh và bộ binh gọi nhau trên tần số nghe loạn xạ. Không hiểu tại sao trong giây phút mà ai cũng căng thẳng tột cùng đó, dù tàu vừa bị trúng đạn, Trí thấy bình thản lạ thường. Chìa khoá của cuộc đổ quân ngày hôm nay là cây phòng không quái ác kia. Khoá họng được nó là thành công. Bằng không thì có vào cả sư đoàn cũng chết nữa, nói gì một hợp đoàn lẻ.
Hợp đoàn trực thăng bây giờ đã bay gần đến nơi phòng không lồng khung của chúng nó lắm rồi. Trễ một chút là từng chiếc một của hợp đoàn sẽ rụng như sung chín cho mà coi. Trí xuống thấp được một chút, không có thì giờ kiểm soát phi cụ và tình trạng tàu, quẹo lại thật gắt, mở nút cà nông nhắm cây cao xạ lao tới.
Bây giờ thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Ra là bọn chúng nó đã bố trí sẵn súng để yểm trợ lẫn nhau. Mình nhắm thằng này thì thằng kia ở phía đối diện bắn sang, đánh thằng kia thì thằng này bắn tới. Đạn đan kín cả bầu trời. Trí vẫn nghiến răng lao tới như một con thuyền giữa con bão.
Nhìn thấy mục tiêu, chàng bóp cò, kéo một tràng cà nông dài từ phía ngoài vào tới tận cây súng rồi quẹo tàu lên. Ngay lúc ấy, Trí bỗng nghe một tiếng nổ to khủng khiếp trong phòng lái như xét đánh ngang tai. Mặt chàng như bị ai đấm vào một trái thôi sơn.
Cặp mắt Trí nhắm tít lại theo phản ứng tự nhiên. Khi mở ra, Trí nhận ra kính phòng lái đã vỡ nát, gió, khói, và dầu của tàu bay ùa vào khắp nơi trong phòng lái.
Chàng chỉ còn thấy mờ mờ nhưng trí óc thì minh mẫn vô cùng. Phải thoát ra khỏi nơi này cái đã rồi sẽ nhảy dù. Chàng kéo tàu lên nhưng quái lạ, sao mà cần lái lại trở nên nặng thế này. Dù đã dùng hết hai tay mà kéo, con tàu chỉ lơ lững lướt qua đỉnh mấy ngọn cây. Hơn ai hết, Trí biết chàng đang bay trên một vùng núi non trùng điệp, nếu không kéo lên kịp thì tàu sẽ đâm vào núi. Mà con mãnh hổ của chàng như bị thương nặng quá rồi, nhất định không thèm lên nữa. Trí đành nghiến răng đạp hết bàn dạp trái và nghiêng hết về bên trái.
Chiếc A1-H quẹo sát ngọn cây, cánh phi cơ móc theo một mớ lá. Trí lại nghe tiếng la hốt hoảng của Dương trong máy:
-Một đây hai, một đây hai, tàu của một bốc khói rồi. Nhảy đi, nhảy đi…
Nguy hiểm nhất là chàng không biết mình đang ở đâu và ở cao độ nào. Trí bấm máy tính hỏi Dương nhưng radio không còn làm việc nữa. Đó là lần cuối cùng chàng nghe được tiếng gọi của Dương. Kể từ giây phút này, Đại úy Trần Anh Trí đơn độc một mình trên bầu trời, không liên lạc được với ai và không biết mình ở đâu.
Mắt mình sao mờ vậy kìa? Trí đưa tay lên dụi và nhận ra là mặt mũi tay chân toàn những máu là máu. Máu ướt đẫm bộ găng tay, máu trong nón bay, máu trong microphone…
Càng dụi càng không thấy đường. Thế này thì đành phải nhảy dù ra vậy. Vĩnh biệt người bạn già thân thiết. Chẳng còn gì để suy nghĩ nữa. Phải nhảy ra ngoài trước khi tàu đâm vào núi hay nổ tung trên trời bởi đạn phòng không. Có thể mình sẽ nhảy ngay xuống đầu địch và sẽ được đi “du học Bắc Việt” nhưng ít nhất, xuống dưới đất còn có hy vọng sống để lập kế thoát hiểm.
Trí thò tay xuống nắm chặt cần thoát hiểm và kéo mạnh. Không thấy gì. Trí kéo lần nữa, và lần nữa cũng chẳng thấy gì. Tiên sư, hoả tiển bắn ghế thoát hiểm ra ngoài đã tịt ngòi nó từ đời nào rồi.
Vậy là hết. Chàng bị kẹt cứng trong phòng lái, không biết mình bị thương ở đâu, mắt không thấy đường và con tàu chỉ bay nghiêng mà không bay lên được. Lần đầu tiên, Trí nghĩ đến cái chết. Đời người trước sau ai cũng một lần chết mà. Điều quan trọng là cái chết của mình có hữu ích cho gia đình, cho tổ quốc, cho tha nhân hay không kìa?
Chàng nhận ra là mình đã bay nghiêng như vậy được gần một phút đồng hồ mà không đụng núi. Với độ nghiêng này, một phút đồng hồ là đủ để làm thành một vòng tròn. Sách hình học ngày xưa dạy rằng quỹ tích của những điểm cách đều một điểm cố định sẽ là vòng tròn mà điểm cố định là tâm. Sách cơ học phi hành dạy rằng nếu quẹo một phi cơ và giữ mãi ở một độ nghiêng cố định, phi cơ sẽ làm một vòng tròn và quan trọng nhất, sẽ trở về điểm khởi hành. Vấn đề quan trọng là, chỉ sợ phi cơ phát nổ trước khi chàng trở về điểm khởi hành.
Trí bỗng tìm ra đáp số cho số mạng của mình và cây súng phòng không khốn nạn kia. “Ông sẽ lao nguyên chiếc phi cơ này vào chúng mày, coi thử còn bắn được không cho biết.”
Dù chỉ thấy đường mờ mờ, Trí biết là nếu mình giữ được tàu ở một độ nghiêng cố định, mình sẽ trở về được điểm khởi hành tức là điểm có cây cao xạ của chúng nó, lúc chàng vừa kéo tàu lên.
Bằng cảm giác, Trí giữ cho tàu quẹo ở một độ nghiêng không thay đổi. Con cọp già vẫn gầm gừ đểu đều, không có dấu hiệu gì sẽ bị phát nổ bất ngờ. Nhưng ai biết được, có thể giây phút đồng hồ tới, nó sẽ thay đổi…
Giữa cảnh bi đát thê lương đó, tự nhiên lòng Trí thấy thanh thản vô cùng. Thanh thản như lần đầu tiên được lái máy bay đi solo, rong đuổi con tàu một mình trong vùng trời thênh thang im vắng. Nếu lấy cái chết của đại úy Trí để thế cho mấy trăm cái chết của các anh em bộ binh và trực thăng thì mình lời chán. Từ những ngày bắt đầu bay khu trục, Trí chưa bao giờ phục hay thích cái hình ảnh đâm tàu bay vào mục tiêu để tự sát của các phi công Nhật. Chàng cho như vậy là bất trí và dã man. Nhưng trong hoàn cảnh này, mình đã chiến đấu hết sức để làm trọn bổn phận, đã làm mọi cách để sống còn nhưng không được, thì sự lựa chọn “đâm cả phi cơ vào chúng mày” là một quyết định can đảm và sáng suốt, không phải là một cuộc tự sát điên cuồng.
Khi quẹo đến vòng thứ hai, nhờ chút nhãn quan lờ mờ và tiếng tiếng nổ to lớn dị thường phát ra từ họng cây súng vĩ đại, Trí tìm được vị trí nó ngay.
Nhìn thấy là mắt Trí long lên sòng sọc, mắt tóe lửa ra, uất hận thấu trời. Bọn khốn nạn! Chúng mày đem quỷ thuyết ngoại bang về đầu độc dân tộc, đem súng đạn ngoại bang về tàn phá và giết chóc đồng bào anh em, đã biến cả một nửa quê hương thành một địa ngục tăm tối nhất trần gian, chúng mày chưa biết hối hận hay sao mà còn muốn nuốt thêm cả mảnh đất thân yêu còn lại này? Tội lỗi này của bọn chúng mày biết mấy giòng sông mới rửa cho sạch? Bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc có bao giờ đất nước lại lầm than và khốn nạn như thế này chưa? Tao chỉ tiếc lãnh đạo miền Nam yếu hèn để đến nổi quê hương gấm vóc phải tả tơi như thế này, và số mạng tao nửa đường đứt gánh, nhưng Trần Anh Trí này chết đi thì vẫn còn trăm ngàn Trần Anh Trí khác sẵn sàng đem máu đào ra để bảo vệ mảnh đất này.
Chẳng còn gì để suy nghĩ và tiếc nuối nữa. Ai rồi cũng một lần chết. Được chết mà lấy xác khu trục bọc thân mình như ngày xưa người ta lấy da ngựa bọc thây là một vinh hạnh của người chiến sĩ. Đời người mấy ai được chết như thế?
Trí nghiến răng, thét lên một tiếng kêu bi ai rùng rợn rồi lật úp tàu bay, cắm đầu thẳng xuống, nhắm cây phòng không đang nổ ròn rã lao tới. Làm sao trật được. Tuy nhản quan bị giới hạn nhưng trước khi phi cơ đâm vào ụ súng, Trí còn nhìn thấy rõ ràng mấy thằng lính bộ đội xâm lược hoảng hốt bỏ chạy lấy thân khi chiếc phi cơ lao tới…
Một tiếng nổ long trời lở đất vang lên khi chiếc Skyraider A1-H cắm đầu xuống ổ súng. Bụi và khói bốc lên cao đến nổi từ dưới chân đồi 982, các chiến sĩ của trung đoàn 45 bộ binh ai ai cũng nhìn thấy rõ. Trên cao, bất kể phòng không, chiếc A-1 còn lại đánh những vòng tròn dài nặng nhọc chung quanh đám bụi đất điêu tàn. Giữa những tiếng súng nổ, tiếng pháo rớt, tiếng cánh quạt trực thăng vừa đáp trên đỉnh đồi, tiếng động cơ lẻ loi của chiếc khu trục đơn độc trên bầu trời nghe u buồn và ai oán như tiếng tru thảm thiết của một con diều hâu khóc bạn…
16 giờ chiều ngày hôm đó, đúng như lời hứa, trung tá trung đoàn trường trung đoàn 45 bộ binh đáp trực thăng, đặt chân lên đỉnh ngọn đồi 982 để gắn lon đại uý cho trung úy An, đại đội trưởng đại đội 45 trinh sát.
Trận này, dù hiếm xăng hết đạn, quân ta đã thắng lớn. Xác chúng nó nằm dài dài khắp nơi…
12 ngày đêm ác chiến với Cộng Sản Bắc Việt (8/4/1975 đến 20/4/1975)
(Cựu Đại Tá Hứa Yến Lến – Tham Mưu Trưởng/HQ/SĐ18BB)
(Bài viết lần thứ hai sau khi bổ túc và Thiếu Tướng “LÊ MINH ĐẢO” đã duyệt)
Phần 4
42) Cá nhân
Trong quyển sách vinh danh QLVNCH với tựa đề “Cái chết của Nam/VN”, ông Phạm Kim Vinh đã chuyển ngữ lời nhận xét của 4 nhà trí thức ngoại quốc về mặt trận Xuân Lộc như sau: (16)
A. Dawson, trưởng phòng Thông tin của hảng UPI tại Sàigòn đã viết: “Lúc địch quân bắn 3000 quả đạn đại bác vào Xuân Lộc thì Tướng Đảo không có mặt tại đó. Nhưng ông đã nhanh chóng đến nơi lúc binh sĩ của ông đang giao tranh tại đường phố để kiểm soát thị xả. Hỏa lực của hai bên đều rất dữ dội. Trong vài giờ đầu, SĐ18BB phải rút bỏ một phần thị xả, nhưng sau đó đã phản công để chiếm lại; đến tối thì SĐ6/CSBV phải gom quân và triệt thoái để chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác. Trận đánh kéo dài từ ngày nầy qua ngày nọ và cứ thế… Tướng Đảo và binh sĩ của ông đã đánh một trận quyết liệt mà ít người dám nghỉ rằng họ có thể làm được. CS tung vào Xuân Lộc một sư đoàn nữa. SĐ18BB vẫn tiếp tục chống cự. Ngày 10/4/1975, Cộng quân lại đánh vào giữa thị xã và lại bị đẩy lui. Ngày 12/4/1975, quân CSBV vẫn không tiến chiếm được chút nào. Hai Trung Đoàn của Quân Đội Nam/Việt Nam không những đã giữ vững được vị trí mà còn phản công dử dội hơn. Thêm 3000 quả đạn đại bác nữa rót vào Xuân Lộc xé nát mọi vật. SĐ18BB vẫn đứng vững. Tướng Đảo ở lại bên cạnh các binh sĩ của ông và tiếp tục chiến đấu.
D. Warner, ký giả kỳ cựu của Úc đã viết: “Với 3 SĐ6+7+341/CSBV, Văn Tiến Dũng tin tưởng sẽ chiếm được Xuân Lộc một cách dể dàng nhưng ông đã lầm. SĐ18BB chưa bao giờ được xem là một sư đoàn thiện chiến của miền Nam/Việt Nam, trái lại có lần sư đoàn nầy còn được xem là một sư đoàn tệ nhứt. Thế mà trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, Sư đoàn nầy đã chiến đấu một cách dũng cảm; không những họ đã giữ vững được trận địa mà lại còn phản công mổi ngày. Tuy nhiên không phải chỉ có SĐ18BB đã anh dũng chiến đấu đến giờ phút cuối cùng mà còn nhiều đơn vị khác của QLVNCH như giáo sư người Mỹ…
A.T. Bouscaren đã viết: “Mặc dầu thiếu thốn đủ mọi thứ cấn thiết để chiến đấu nhưng các SĐ5+18+25/VNCH và các SĐ/ND+TQLC+BĐQ, v.v… đã chiến đấu thật hay. Tại Gò Dầu Hạ, đại bác 105+155ly của Quân Đội Nam/Việt Nam chỉ được sử dụng vài viên cho mổi khẩu; các chiến đấu cơ/Không Quân không thể yểm trợ liên tục vì thiếu nhiên liệu; Bộ Binh do đó đã phải tự lực chiến đấu, v.v…
P. Darcourt (sử gia người Pháp) đã nhận xét: “Cộng quân có một đơn vị phòng không hùng mạnh trên xe kéo; các phi công Nam/Việt Nam phải đối diện với nguy hiểm khi yểm trợ cho quân bạn dưới đất. Tại Xuân Lộc quân bạn dưới đất đã sáp chiến với địch và PB/CSBV đã tác xạ hơn 6000 trái đạn đại bác liên tiếp trong 2 ngày vào các vị trí của SĐ18BB; liên lạc vô tuyến với BCH của Tướng Đảo lúc đầu bị gián đoạn rồi sau đó được tái lập. Quân của ông bám sát trận địa, chiến đấu cực kỳ dũng mảnh và nhứt định không lui mặc cho những trận mưa lửa cứ trút lên đầu họ.
Tướng Văn Tiến Dũng/TL/CD/HCM đã phải ngạc nhiên viết tiếp khi lực lượng QĐ4/CSBV phải dừng lại tại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) (14): “Kế hoạch tấn công Xuân Lộc của QĐ4/CSBV lúc đầu chưa tính hết được sự phát triển phức tạp của tình hình, chưa đánh giá hết tính chất ngoan cố của địch. Tính chất giằng co ác liệt qua trận đánh nầy không phải chỉ trong phạm vi của Xuân Lộc nửa rồi. Nó liên quan đến việc “mất hay còn” của ngụy quyền SÀIGÒN, đến việc “giẩy chết” của chế độ Thiệu. Việc tổ chức, chỉ huy và tiến hành các cuộc chiến đấu của ta không thể làm như củ được nữa. Cách đánh cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với tình hình lúc đó.
Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức BCT/TU/ĐCSBV cũng phải thú nhận (3) “Sau 2 lần B2 xin thêm quân thì tôi vào chiến trường gặp lúc hội nghị Miền cũng vừa kết thúc. Tôi được nghe anh em báo cáo lại là đã bàn về việc đánh Xuân Lộc. Tôi có tham gia với anh Dũng và các đồng chí rằng: “Vội gì mà phải đánh Xuân Lộc vào lúc nầy.” Hiện nay ta đang điều quân và các cánh quân cũng đang trên đường hành quân gấp. Đánh SÀIGÒN thì các nơi tự khắc tan rả và tạo điều kiện rất thuận lợi cho chúng ta đánh địch. Anh Văn Tiến Dũng nói: “Tôi cũng thấy như vậy. Nhưng anh em đã quyết định rồi. Tôi mới vào chưa nắm được cụ thể tình hình. Thôi cứ để anh em đánh. Lúc ấy tôi cũng được biết trước đó, theo chủ trương của Miền, anh em đã đánh Thủ Thừa, đường số 4, bị thiệt hại nặng không giải quyết được chiến trường. Ngoài ra còn có bọn địch ngoan cố chống cự như trận đánh vào Đồng Dù và Nước Trong là các trận đánh ác liệt tại miền Đông, thương vong của ta không phải là ít. Do đó tôi mới có ý toan bàn với các đồng chí ngưng đánh Xuân Lộc. Nhưng nghe anh Dũng nói, tôi cũng nghỉ có thể mình mới vào, chưa rõ hết tình hình, cứ để các đồng chí đánh vậy. Kết cục là anh em cũng không đánh được Xuân Lộc bị thương vong nặng, phải rút ra. Thực tế diển biến chiến đấu sau đó, chứng tỏ việc đánh Xuân Lộc lúc ấy là chưa cần thiết.”
Robert D. Hein (ký giả người Mỹ) đã viết: “Dầu sao thì các Sư đoàn của Nam/Việt Nam cũng đã chiến đấu tuyệt vời năm 1972 và bị đối phương tấn công tới tấp để rồi 3 năm sau, đối phương mới đánh bại được quân của Nam/Việt Nam. Chắc chắn là tinh thần của Quân lực Nam/Việt Nam suy sụp vì cái ý nghĩ bị bỏ rơi và sự sụp đổ xảy ra là vì Quân đội miền Bắc được 2 đại cường quốc CS giúp đở tận tình để trắng trợn xâm chiếm miền Nam/Việt Nam.” (“All Quiet On The Eastern Front” do Devin-Aldair xuất bản năm 1977, trang 47).
Tướng Westmoreland. Trong cuốn “All Quiet On The Eastern Front” do Devin-Aldair xuất bản năm 1977, trang 47, tác giả A.T. Bouscaren trích dẩn lời truy điệu của Tướng Westmoreland nguyên Tư lệnh các lực lượng Đồng Minh tham chiến tại Việt Nam về cái chết của Nam/Việt Nam như sau: “Sau những hy sinh chồng chất kéo dài suốt nhiều năm, lẽ ra Nam/Việt Nam xứng đáng nhận được cái chết cao cả hơn thế. Sự thất bại nầy do một số nguyên nhân gây ra như sau: “Thỏa hiệp ngưng bắn để mặc cho quân Bắc Việt hiện diện tại Nam/Việt Nam; sự sa sút tinh thần của Nam/Việt Nam khi biết rằng bị bỏ rơi trong khi phía Bắc Việt được tiếp tế đều đều bởi hai cường quốc Cộng sản. Yếu tố then chốt là nước Mỹ không hành động gì.
Tướng Pháp hồi hưu “Vanuxem” Tư lệnh mặt trận Bàn Yên Nhân (gần Hànội mùa Xuân năm 1954 đẩm máu) không đầy 6 tháng, sau khi Việt Nam sụp đổ đã ghi rõ trong cuốn “La deuxieme Mort du Viet Nam” rằng: “Trong chiến tranh Việt Nam, cứ mổi 8 phút lại có một chiến sĩ Quốc gia tử trận và sau khi “thỏa hiệp ngưng bắn Paris” ra đời (27/1/1973) Nam/Việt Nam hoàn toàn chiến đấu một mình để mổi tháng phải đặt mua 3000 quan tài chôn tử sĩ. Số thương vong năm 1974 đã vượt xa số thương vong năm 1968 (Guenter Lewy-America in Viet Nam, trang 207). Sau khi nêu những con số rùng rợn trên đây, Tướng Vanuxem đặt câu hỏi: “tại sao vẫn còn những kẻ cứ nặng nặc la lối rằng Nam/Việt Nam không chịu chiến đấu.”
Tướng Vanuxem nói thêm: “Chỉ riêng cho năm 1974, Bắc Việt nhận được đồ tiếp tế trong số đó có “1500 xe tăng loại T.54+T.55+T.59 + 600 đại bác hạng nặng + gần 2000 phi đạn SAM + hơn 240.000 tấn đạn và một số tàu phóng ngư lôi. (17)
Tướng Trần văn Trà, Tư lệnh QĐ4/CSBV tham chiến tại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) đã thú nhận (18): “Các báo cáo cho biết các mủi tiến triển tốt, ta chiếm được nhiều mục tiêu. Nhưng vào cuối ngày 10/4/1975 trở đi, tình hình trở nên căng thẳng. Địch phản kích điên cuồng tuy chúng bị thiệt nặng. Máy bay địch đánh phá ác liệt có tính chất hủy diệt mục tiêu chúng đã mất. Quân Đoàn đã kêu thiếu đạn các loại, nhứt là SĐ6+SĐ341 riêng SĐ7 thì thiếu quân số; tình hình rất gay go. Các đồng chí Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng và cả anh Lê Đức Thọ, rất lo lắng khi thấy địch càng tập trung thêm lực lượng và ta có vẻ khựng lại. Chiếm mục tiêu không nhanh gọn. Hoặc bị đẩy lui.”
Đại tá William E. Le Gro, nhân chứng giờ hấp hối của Nam/Việt Nam cuối tháng 4 năm 1975. Ông ta phục vụ tại Trung Tâm Quân Sử của Lục Quân/Mỹ đã kết luận: “Lấy từng đơn vị so với từng đơn vị; lấy từng cá nhân so với cá nhân, thì các lực lượng của Nam/Việt Nam liên tiếp tỏ ra trên chân các lực lượng đối phương. Nhưng sự lãnh đạo Quân sự và Dân sự cấp cao nhứt của Nam/Việt Nam không có, cũng như không có sự yểm trợ tinh thần và vật chất kiên trì của Mỹ.”
Leslie Gelb, ngày 20/3/1975 trên tờ báo New York Times đã nhận định: “Người ta đồng ý rằng trong 2 năm qua, Nam/Việt Nam đã phải chết nhiều hơn trước để bù lấp sự cắt giảm hỏa lực yểm trợ. Các cấp chỉ huy trẻ và Hạ sĩ quan chết nhiều nên đã đưa tới nạn thiếu hụt trầm trọng về cấp chỉ huy. Sự thiếu hụt ấy làm cho tinh thần binh sĩ sa sút thêm. Quân Lực Nam/Việt Nam càng ngày càng tức giận vì cái cảm tưởng bị Đồng minh Mỹ đã bỏ rơi rồi lại còn không hề phản ứng trước các sự vi phạm trắng trợn của Hànội sau thỏa hiệp ngưng bắn 27/1/1973. Quốc hội và báo chí Mỹ gia tăng sự nhục mạ Nam/Việt Nam khi cứ đều đều kết tội Nam/Việt Nam là không chiến đấu, là không đáng được giúp đở. Tất cả những điều nầy khiến cho Nam/Việt Nam cảm thấy bị phản bội và thấy ý chí chiến đấu suy yếu.”
Solzhenitsyn, văn hào Nga lưu vong, gởi cho thế giới tự do lời truy điệu trong cuốn sách mới nhứt của ông có tựa đề: “Lời cảnh cáo gởi Tây phương”. Đặc biệt trong cuốn sách nầy, ông ta gay gắt lên án thế giới vì đã bất công trong sự xét đoán ý chí của Nam/Việt Nam. Ông ta viết: “Sau sự sụp đổ của Nam/Việt Nam năm 1975, ta thường được nghe những lời giải thích “chúng ta không thể bảo vệ những kẻ không cố ý và không có khả năng tự bảo vệ tới tài nguyên nhân lực của chính mình; chúng ta không nên bảo vệ những kẻ không có nền dân chủ đầy đủ”. Quả thật đó là những lời giải thích kỳ quái. Thế giới đã làm gì khi Cộng sản miền Bắc trắng trợn xâm lăng Nam/Việt Nam.
Bùi Diễm, nguyên Đại sứ lưu động của VNCH, đã ghi lại cảm nghỉ như sau (19): “Lực lượng Bắc Việt với số lượng quân cụ to tát của Xô Viết và Trung Hoa đã phô bầy ra khi từng đoàn quân CSBV tiến theo các quốc lộ chính. Điều kiện rất thuận lợi cho các cuộc “không tập”.
Chỉ cần sự can thiệp của Không quân Mỹ (sự can thiệp mà Nixon và Kissinger đã hết lòng hưá hẹn với “Tổng Thống Thiệu” năm 1973) để tiêu diệt các đoàn quân nầy, làm tê liệt khả năng tác chiến của CSBV trong nhiều năm. Tại Xuân Lộc (Long Khánh) chu vi phòng thủ xa Sàigòn, SĐ18BB của miền Nam/Việt Nam đã đẩy lui tất cả các cuộc tấn công của địch quân.
Sự kiện xảy ra tại miền Nam/Việt Nam, hoàn toàn tuỳ thuộc vào Quốc Hội sắp tái nhóm. Một Quốc Hội quá chán ngán chiến tranh và mệt mỏi vì đã yểm trợ một đồng minh có quá nhiều khuyết điểm. Tại Hoa Thạnh Đốn, tôi cũng còn chút hy vọng mong manh có được từ phái đoàn của Tướng Weyand (đang công tác tại Việt Nam) nhưng hy vọng trên lại vụt tắt ngay ngày 11/4/1975 (2 ngày sau khi phái đoàn Weyand trở lại Mỹ, được biết “đề nghị chuẩn chi viện trợ khẩn cấp cho VNCH bị bác bỏ”. Việc phủ quyết sau cùng đã đánh dấu việc bỏ rơi Đồng Minh của Huê Kỳ. Những binh sĩ đang chiến đấu can trường tại Xuân Lộc (Long Khánh) cũng như hàng triệu người Việt Nam tị nạn đang trốn chạy Cộng Sản đều không biết rằng “án tử hình” của họ đã được “tuyên bố” trên đồi Capitol.
V) CẢM TƯỞNG CỦA THIẾU TƯỚNG “LÊ MINH ĐẢO” TƯ LỆNH MẶT TRẬN XUÂN LỘC (LONG KHÁNH) ĐỂ THAY CHO LỜI KẾT CỦA BÀI VIẾT NẦY
“Chiến thắng Xuân Lộc chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phải là không chịu đánh mà rất chịu đánh. Anh em chiến sĩ không bao giờ chấp nhận một sự bại trận dù trong tình thế tuyệt vọng; họ đã chứng tỏ hùng hồn cho thế giới thấy là họ đã đánh một trận “tuyệt vời” như thế nào tại Xuân Lộc.
Cuộc chiến đấu của QLVNCH là một cuộc chiến đấu quá chính đáng và cần thiết. Chính nhờ cuộc chiến đấu nầy mà miền Nam/Việt Nam đã được sống thanh bình, ấm no trong vòng hơn 20 năm qua, nhân phẩm con người được tôn trọng.
Trước hết, tôi muốn nói đến tâm hồn cao thượng của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Họ hy sinh cho người khác sống. Họ sẳn sàng hy sinh sanh mạng mà họ không oán trách, không hận thù cả địch, cả những cấp lãnh đạo chỉ huy đã không chăm sóc họ đúng mức.
QLVNCH cao cả lắm, đời đời chúng ta hãy ngẩng mặt lên. Chúng ta phải thấy được sự kiêu hùng của QLVNCH.
Ở thế hệ của chúng tôi tri ân những người đã hy sinh; các em thanh niên là thế hệ kế tiếp cũng biết ơn họ; sau nầy những thế hệ con em chúng ta cũng sẽ nhớ ơn họ mãi mãi. Đó là những người con yêu của Tổ Quốc chúng ta.
Trời Việt Nam, đất Việt Nam cũng đồng tình với chúng ta!!! (13)
Cựu Đại Tá Hứa Yến Lến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Nguyễn Tấn Hưng & JL Schecter – Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, C&K Promotions, Inc. California 1986 – Moshe Dayan (Chương XXII – trang 594) – “Hưng” phỏng vấn Eric Von Marbod, 10/5/1985 (Chương XXI – trang 573)
2) Nguyễn Đức Phương – Chiến Tranh Việt Nam (toàn tập) trang 551+577+792 – Làng Văn – năm 2001
3) Tập san “Lịch sử Quân sự” (số 3) Bộ Quốc Phòng/Viện lịch sử Quân Đội CSBV Hànội 1988
4) Người đất đỏ, nhìn lại những ngày, tháng 4/1975 – Xuân Lộc đã chiến đấu như thế nào? VNTP số 270
5) C. Doughan and D. Fulghum – The Vietnam experience – The Fall of the South – Boston Publishing Co – Boston 1985
6) Nguyễn Văn Đỉnh – Hồi ký chiến trường – LĐ1ND tại mặt trận Xuân Lộc (Long Khánh) – Tuần báo VN/Mới số 485 đến 493/2000
7) W.E Le Gro – Viet Nam from Cease-Fire to Capitulation (trang 174) – US Government Printing Office – WA/DC 1985
8) O. Todd Cruel – April – The Fall of Saigon – WW Norton & Co – New York 1990
9) Ý Yên – Trận Đánh Đồi Móng Ngựa – Sàigòn Post
10) Phạm Huấn “Những uất hận trong trận chiến mất nước 1975” – Tác giả xuất bản – California 1988
11) Tobin Carter – Daisy Cutter in Viet Nam 1989 – Arsenal VN/Summer (trang 12+14)
12) H. Nam – Mặt Trận Đông Bắc/Sàigòn – nxb. Văn Học/TP.HCM năm 1978
13) Phạm Phong Dinh – TT/Lê Minh Đảo và cuộc chiến đấu cuối cùng tại MT/Xuân Lộc (Long Khánh) tháng 4/1975 – Chiến sử QLVNCH – trang 187 đến 197, nxb Xuân Thu 1988
14) Văn Tiến Dũng – Đại Thắng Mùa Xuân – nxb Quân Đội Nhân Dân – Hànội 1976
15) J.J. Clarke – Advice and Support – The Final Year 1965-1973 – US Gorvernment Printing Office – WA/DC 1988
16) Phạm Kim Vinh – Cái Chết của Nam/Việt Nam (những trận đánh cuối cùng) trang 342-344-345, nxb. Xuân Thu – California 1988
17) Vanuxem – La Deuxième Mort du Viet Nam – trang 44, nxb. Paris 30/4/1975
18) Trần văn Trà – Kết thúc chiến tranh 30 Năm – nxb. Văn Nghệ TP/HCM 1983
19) Bùi Diễm & Chanoff – In the Jaws of History – nxb. Houghton Mifflin – Boston 1987 – University Press – Indiana 1999 – Gọng Kềm Lịch Sử, nxb. Phạm Quang Khải năm 2000.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.