Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 27 Apr 2025

Chương ba mươi mốt

Eliot Ness đốt điếu thuốc lá, phì khói lên trần nhà rồi hỏi Gary Malone:

-Theo ý kiến ông, chúng ta phải tiếp tục như thế nào?

Gary Malone hỏi ngược:

-Tiếp tục, đồng ý, nhưng như thế nào thì còn tùy thuộc vào khả năng của

mình …

Eliot Ness trả lời liền:

-Mình có … ba người và sự giúp đỡ của cảnh sát địa phương.

Gary Malone lắc đầu. Đây là cái vấn đề chán chường nhất của hắn. Suốt

cuộc đời ba mươi năm vang danh là đệ nhất cớm Chicago, Gary Malone đã gặp

nhiều người cảnh sát gàn nhưng chưa có ai gàn bằng anh chàng Ness này. Không hiểu cái trường đại học con khỉ nào đó đã dạy dỗ hắn cách nào mà con người hắn từ ngày đầu tiên cho đến bây giờ là một … cục thép nguội. Không gì có thể thay đổi đường lối suy nghĩ của hắn được. Nhưng mình đã hứa cộng tác với hắn thì đành phải đi cho hết con đường. Vấn đề bây giờ không phải tranh luận mà cùng nhau hợp tác tìm một kế hoạch để diệt bọn Al Capone. Mà muốn diệt được Capone, Malone biết mình có một chiến trường ngay trước mặt: Cái đầu óc … thượng tôn luật pháp của anh chàng cớm liên bang này. Malone nhíu mày. Lo gì, thế nào mình cũng tìm cách đưa hắn vào xiếc được. Nếu không được thì đâu còn phải là Gary Malone nữa …

Thấy thầy đội Gary Malone có vẻ tư lự, Eliot Ness sực nhớ ra một điều gì bèn

nói luôn:

-Khoan, tôi nói lộn, đúng ra là chúng ta sẽ có tới 4 người lận, không phải là 3.

Sở vừa đánh cho tôi một điện tín. Ông tổng giám đốc báo tin mừng cho tôi biết là ổng vừa kiếm ra một người nữa để gởi xuống cho tôi. Đây, điện tín đây này, để coi tên nó là gì … À, tên nó là Kelven Tom. Cái tên nghe hơi đơn giản. Người của sở Fired armed and Tobacco. Chuyên viên điều tra tội ác lỗi lạc nhất của sở này. Điện tín còn nói rõ là anh cớm này có tài “an bang tế thế” đã từng ra tay làm sạch nhiều băng cướp ở San Francisco và làm rất đẹp.

Nhìn ánh mắt hớn hở của Eliot Ness, Gary Malone cũng cảm thấy vui lây.

Thế này thì tốt hơn được một chút, nhưng vẫn chưa phải là vẹn toàn. Ít nhất, với bốn người nếu không có chuyện gì làm trong lúc nhàn rỗi, cũng có đủ tay để chia một ván bài Gin.

-Ông biết cha nội này không?

-Không nhưng người của tụi Fired Armed and Tobacco được huấn luyện rất

kỹ. Tôi biết nhân viên thường thôi cũng còn ngon hơn cả cảnh sát hạng nhất của New York. Huống chi, một kẻ đã được “decorate” như thế này thì phải biết. Ráng lên đi anh em, đời chúng ta hết khổ rồi.

Eliot Ness thảy cho Gary Malone coi tờ điện tín nhưng hắn chỉ cầm lên, không

thèm nhìn đến rồi đưa qua cho Lite. Gary Malone rút ống píp ra khoan thai nhồi một tẩu thật đầy, mồi lửa, thả khói um lên trong cái văn phòng nhỏ của thanh tra Eliot Ness. Rồi hắn từ từ đứng dậy. Cái thân hình hộ pháp di chuyển tới lui nhịp nhàng trên đôi bốt bằng da bóng loáng. Bước nào cất lên giộng xuống là đáng đồng tiền bước đó, coi thấy sao mà oai phong lẫm liệt.

-Trước hết, tiền quỹ đen của chúng ta còn bao nhiêu?

-Còn … vài trăm nhưng tôi hy vọng có thể xin thêm chừng … vài trăm nữa.

Nhưng chúng ta phải ráng xài cho kỹ, vì sau đó là hết, sở không còn tiền nữa đâu. Gary Malone mỉm cười khó hiểu, liếc nhìn sang chú Lite, và biết chú đang cố gắng dấu một vẻ chán chường sau ánh mắt. Hắn tiến tới gần bên Eliot Ness, vỗ vai thân mật:

-Trước hết, tôi và thằng Lite đây cần mỗi đứa một chiếc xe hơi. Một chiếc xe

chạy được bây giờ, giá rẻ nhất cũng cỡ năm ba ngàn đô.

Eliot Ness nói liền:

-Chúng mình sẽ xử dụng chung xe của tôi được mà.

-Xe của ông chạy nửa đường nó tắt máy, làm sao đẩy theo bọn ăn cướp cho

kịp?

Eliot Ness cứng họng. Gary Malone bồi tiếp luôn một chưởng:

-Cái phòng hôi hám này của ty cảnh sát không xài được. Những gì mình bàn

bạc ngày hôm nay, sang đến ngày mai chúng nó biết hết. Mấy trăm bạc làm sao đủ để mướn một cái trụ sở riêng, rồi còn phải ngụy trang, phải bắt điện thoại, phải chi tiền cho mật báo viên v.v …

Eliot Ness không trả lời được. Lần đầu tiên trong cuộc đời bắt cướp chàng

mới gặp một trường hợp khó nghĩ như thế này. Những lần trước, đi tới đâu là được cảnh sát địa phương giúp đỡ tận tình tới đó. Họ trang bị cho chàng và các nhân viên từng chiếc xe, từng cây súng v.v … Cảnh sát Chicago có một lối làm việc rất là khác thường. Ngoại trừ một cái văn phòng nhỏ có sơn chữ “Eliot Ness”, mọi chuyện khác chàng đều phải tự túc hết. Cũng dễ hiểu vì Nha ngân khố gởi chàng xuống đây không phải do lời mời của thành phố như những lần trước. Chàng đến vì vấn đề quốc gia. Nếu không diệt được Capone ngay trong lúc này thì nó sẽ trở thành một tai họa cho cả đất nước. Đến chừng đó muốn làm cũng không kịp. Trong khi đó, cái thành phố này, từ ông thị trưởng xuống đến một nhân viên cảnh sát tầm thường, đều coi sự xuất hiện của chàng là một cuộc xâm phạm vàộ nồi cơm của họ. Thì cứ nhìn bản mặt của chúng nó ngày mới đặt chân tới đây là chàng biết liền.

Chàng đồng ý ông cảnh sát Gary Malone lý luận đúng. Không có tiền thì làm

gì được? Nhưng quỹ đen chỉ có vậy là hết. Không lý lại bỏ tiền túi ra hoạt động? Mà có muốn bỏ cũng không được vì trong trương mục tiết kiệm vừa để dành được mấy trăm thì đã rút ra gần hết để chi cho cuộc di chuyển gia đình xuống dưới này.

Hay là đi xin? Neu co đu can đảm để xin cung không biết xin ai luc này.

Gary Malone thấy khuôn mặt xệ một đống của Eliot Ness liền lên tiếng an ủi:

-Mũi tên của chúng ta đã bắn đi, bây giờ muốn rút lại cũng không kịp. Có

tiền hay không có tiền, thằng khốn nạn Capone cũng phải bị dẹp …

-Nhưng kẹt tiền quá thì biết lấy gì mà chi cho những chi phí của mình?

Gary Malone cười cười:

-Tôi đề nghị ông để vấn đề tiền nong tôi lo. Chỉ cần ông chấp thuận trên

nguyên tắc.

-Trên nguyên tắc … Ông không tính về nhà bán hết gia tài của mình để lấy

tiền đi dẹp ăn cướp hả ông Malone?

Tiếng cười của Gary bây giờ nghe vang động, cặp ria mép của hắn rung rinh:

-Ông dòm mặt thằng Malone này coi thử nó có phải là thứ bán nhà riêng để

lo chuyện công không?

-Không. Vậy ông sẽ lấy tiền ở đâu?

Gary Malone không trả lời. Hắn lật ngữa cái tẩu ống píp rồi búng móng tay

vào đáy nghe một tiếng póc. Trước cặp mắt kinh ngạc của Eliot Ness và Lite, dúm tàn thuốc từ trong ống tẩu bay vọt ra ngoài như được bắn đi một cách chính xác từ họng đại bác, lượn một vòng tròn và … đáp thật đẹp vào ngay chính giữa cái gạt tàn thuốc cách đó hai thước. Eliot Ness không tin được con mắt mình còn Lite thì thốt lên một tiếng kinh ngạc: “Terrific”.

Không để ý đến đến hai cắp mắt tròn xoay đang nhìn vào người mình, vẫn

bình thản, Gary Malone thò tay móc ra một mớ thuốc khác và thong thả nhồi vào tẩu, làm như không có chuyện gì xảy ra. Eliot Ness không nén được sự ngạc nhiên, hỏi:

-Ông Malone, ông có ngon thì búng thêm lần thứ hai coi thử tàn thuốc có

được như hồi nãy không?

Thầy đội không ngờ cái tài mọn nay được anh em để ý quá, bèn cười:

-Chút tài vặt này mà mấy ông làm gì quan trọng hoa nó quá vậy. Lẽ ra thì tôi

không làm nhưng thôi được, để tôi thử một lần nữa cho mấy ông coi.

Nói vừa dứt câu đã nghe một tiếng póc. Dúm tàn thuốc lần này bay cao hơn

nữa rồi cũng rớt ngay vào cái gạt tàn. Lite vỗ hai tay vào nhau, tính trẻ nít bùng

dậy, hỏi:

-Ông cho tôi mượn cái ống tẩu, để tôi thử coi.

Gary Malone lắc đầu:

-Chú mày tưởng dễ hả? Coi vậy mà không phải vậy đâu. Tuy là chút tài mọn

nhưng tao phải mất gần cả mười năm mới luyện được, nhưng chú mày có luyện cả hai chục năm vẫn chưa chắc đã được. Dẹp chuyện đó đi.

Ánh mắt Lite thoáng vẻ ngờ vực:

-Nếu ông luyện được trong vòng mười năm, thì tôi cũng luyện được trong

vòng mười năm, có gì khó.

Gary lắc đầu, cười, nhìn quanh quất một lúc chung quanh như kiếm cái gì trên

tường rồi tiến tới gần tấm bản đồ, nơi có mấy cái đinh 5 phân đóng vào tấm nẹp chung quanh đó. Chẳng nói chẳng rằng, thầy đội thò tay … nhổ bực một cây đinh ra khỏi bức tường xi măng dễ dàng như người thợ dùng xà beng mà nhổ vậy. Lần này thì tới phiên Eliot Ness bung ra một tiếng kêu: “Oh my God!” khiếp đảm. Gary Malone tiến tới gần bên Lite, kẹp cây đinh giữa ba ngón tay, đưa ngay trước mặt hắn:

-Chú mày muốn bỏ mười năm để luyện cái món lẩm cẩm này cũng được,

nhưng phải làm được chuyện này trước.

Nói vừa xong là Lite đã nhìn thấy cây đinh bị ba ngón tay của thầy đội Gary

Malone ép cong vòng rồi … ẹo luôn lại làm đôi y như là bị cây kềm bóp vậy. Lite trợn mắt kinh ngạc. Gary bẻ luôn cây đinh làm hai khúc, vất vào xọt rác, nói nhẹ nhàng:

-Mày biết sao chúng nó gọi tao là “Bàn tay sắt” rồi chớ gì.

Eliot Ness hỏi:

-Ông làm sao mà có được cái sức khỏe như vậy?

Gary cười cười, thò tay móc ra một dúm thuốc khác nhồi vô tẩu:

-Chuyện hơi dài, nhưng tóm tắt là ngày xưa tôi vô tình gặp được một ông già

người Trung Hoa. Tên lão là Vong …

Malone bật que diêm cúi đầu pập lửa. Rít một hơi thuốc dài, hắn nhẹ nhàng

nhả khói, ngồi xuống ghế:

-Chuyện xảy ra đã quá lâu, lúc tôi còn là một đứa bé, nên không thể nhớ ông

già người Á Đông này đã đến với gia đình tôi từ lúc nào. Hình như là do sự quen biết với thân phụ tôi. Lúc tôi có trí khôn, thì lão Vong đã như là một người trong gia đình. Lão hay đến nhà tôi chơi vào những ngày cuối tuần. Tôi và lão Vong có một sự thân thiết kỳ lạ. Y như là cha con hay có thể nói còn hơn thế nữa. Lão ta thường hay dắt tôi ra ngồi nơi bờ hồ Chicago, kể cho tôi nghe những chuyện rất lạ lùng về đất nước của ông ta, xứ Trung Hoa huyền bí. Những câu chuyện của ông ta kể không giống bất kỳ câu chuyện nào mà tôi nghe được lúc ấy. Lão ta lý luận về trời đất, về cuộc đời thật là đơn giản mà cũng thật là ly kỳ …

Ness cười cười. Không ngờ chỉ vì một mớ tàn thuốc của cái ống tẩu thầy đội

Malone mà một cuộc họp hành quân nghiêm trọng đi bắt cướp đã trở thành buổi … kể chuyện đời xưa. Nhưng những gì thầy đội Malone vừa biểu diễn, Eliot Ness chưa bao giờ nhìn thấy trong đời mình. Nếu không nhìn được tận mắt, chàng khó có thể tin được.

– Một ngày, lúc ấy tôi còn nhỏ, vô tình nhìn thấy ông ta nhún mình nhảy qua

khỏi một cái hàng rào cao hơn hai thước. Lần khác, tôi thấy ông ta dùng tay không đóng đinh vào thềm xi măng như mình đóng bằng búa vậy. Có những buổi sáng, trời tuyết lạnh căm căm mà ông ta cởi trần ngồi ngoài sân tập thở. Sau đó, tôi biết ông ta là một thứ võ sư của người Á Đông …

Ness gật gù:

-Mỗi người Á Đông là một thế giới bí mật. Chính họ là những người đã chế

ra cái la bàn đầu tiên trên thế giới, biết làm giấy để viết trong khi chúng ta còn viết trên da …

-Các ông biết, ở tuổi thơ, chúng ta thừơng rất thích những câu chuyện có vẻ

như hoang đường này. Lúc ấy tôi đâu biết là lão ta đã luyện tập khổ nhọc gần cả một đời mới được như vậy, cứ tưởng rằng ông lão có một phương pháp gì bí mật. Dĩ nhiên, thằng bé Gary phải kiếm cho ra cái bí mật này. Thế là suốt mấy tháng trời tôi cứ đi theo năn nỉ lão ta chỉ cho tôi biết cách làm thế nào mà để có một sức khỏe phi thường như vậy. Tôi chỉ mơ ước được bằng một phần mười hay một phần trăm của lão ta thôi là có thể làm cho những đứa trẻ hàng xóm khiếp vía rồi. Nhưng lần nào cũng vậy, ông già chỉ nhìn tôi lắc đầu: “Ta có thể cho con tất cả nhưng vấn đề đó thì không được. Không bao giờ.” Tôi hỏi tại sao, ông lão chỉ lắc đầu cười bí mật.

Lite mồi một điếu thuốc:

-Vậy nhờ đâu ông luyện được ngón “bàn tay sắt”?

Gary Malone gõ ống tẩu nhè nhẹ vào cái gạt tàn:

-Tôi đâu phải là hạng chịu thua dễ dàng như vậy. Nếu lão ta không chỉ thì tôi

đành phải học lén vậy. Tôi nhất định khám phá ra cái điều bí mật kia, dù có phải bỏ học hay nhịn đói. Tôi tìm đủ mọi cách, khi thì rình mò, lúc khác lại chun xuống dưới basement của lão ta nằm im trong đó cho đến đêm mới mò ra để rình coi xem ông lão có điều bí mật gì. Nhưng quái lạ thay, sau bao nhiêu ngày rình mò, tôi thấy ông lão chỉ sống một đời bình dị như hằng bao nhiêu khác, chẳng có điều gì bí mật để giữ, chẳng có làm gì khác lạ so với những người bình thường.

Tôi bực mình lắm, không biết ông lão người Trung Hoa này làm gì mà được

như vậy? Tôi quan sát tường tận cách ăn uống, đi đứng của ông lão, thậm chí còn vạch được một cái lỗ nơi cầu tiêu để quan sát lão ta lúc đi cầu … Người Á Đông làm chuyện đó cũng bình thường như mình thôi …

Ness và Lite cùng bật cười lên một lần. Ness nhả khói hơi thuốc:

-Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhưng hy vọng là như vậy.

Gary Malone không cười. Ánh mắt nhìn xa thăm thẳm:

-Sinh hoạt của ông lão, nói tóm tắt, không có gì khác người nhưng tôi để ý

được một điều. Ông lão có một món đồ chơi rất là kỳ lạ. Đó là hai trái banh nhỏ bằng sắt cỡ trái banh Golf, cứ được lão suốt ngày xoay chuyển trong lòng bàn tay. Điều lạ lùng hơn nữa là hầu như lão không bao giờ rời bỏ hai quả banh này. Lão Vong cứ chơi với nó suốt ngày, ngoại trừ những giây phút làm việc hay có khách trong nhà. Khi lão ta xoay chuyển trái banh, tôi thấy mặt lão ta có vẻ rất tự nhiên và sảng khoái. Một ngày, tôi hỏi, lão ta nói hai quả banh sắt đó người Trung Hoa gọi là “Lưỡng Thiết Cầu”. Đó là một bí mật của gia tộc.

Tôi hỏi:

Ông chơi nó để làm gì?

Ông già mỉm cười mà không trả lời. Tôi cố gắng hỏi nữa, nhưng ông lão nhất

định không thèm nói, chỉ tiết lộ đại khái có là một thứ của gia truyền.

Lite thắc mắc:

-Thật là một chuyện bí mật! Nhưng làm sao ông khám phá ra bí mật đó?

-Không, tôi không bao giờ kiếm ra được bí mật đó. Một thằng bé như tôi khi

đó thì làm sao đủ khả năng để khám phá một bí mật mà người Á Đông muốn giữ kín, hơn nữa, khi người đó lại là một ông già khôn ngoan như lão Vong. Cuối cùng tôi đành bỏ cuộc. Bỏ cuộc mà trong lòng rất buồn rầu. Rồi tôi cũng ngừng, không đến nhà ông già Vong chơi nữa. Mấy ông hiểu tuổi thơ mà, khi giận cái gì thì giận luôn cả trời đất vạn vật. Một ngày nọ, giữa mùa đông lạnh giá, tôi và mấy thằng bạn trời đánh kéo nhau lên một chiếc xuồng nhỏ chèo ra tuốt ngoài hồ Michigan để đi câu. Vì mãi ham chơi, chúng tôi vô tình để thuyền bị lật úp ngay giữa hồ. Đó là một tai nạn kinh khủng. Hồ Michigan mùa đông năm đó nước đóng băng gần hết, chúng tôi lại lọt ngay vào giữa, cách xa bờ và không ai hay biết. Khi tỉnh giậy trong nhà thương, tôi biết là bọn năm đứa chúng tôi đã chết hết bốn, không hiểu nhờ vào đâu mà tôi là đứa duy nhất còn sống. Tôi đã bị mê man 3 ngày liền, nhiều người, ngay cả bác sĩ cũng tưởng tôi không sống nổi. Sau đó, bác sĩ cho bố tôi biết vì bị ngâm trong nước đóng băng của hồ quá lâu, một phần não của tôi đã bị hư hỏng và dù là may mắn còn sống nhưng tôi sẽ bị tê liệt ít nhất là hai chân suốt đời.

Tôi nằm liệt giường có đến gần tuần lễ sau mới bắt đầu thấy có cảm giác của

hai bàn tay. Rồi sau bao nhiêu cố gắng, tôi đau đớn nhận ra rằng cái phần duy nhất trong cơ thể còn tuân lệnh điều khiển của đầu óc tôi là hai bàn tay tôi. Trong khi đó, đầu óc thì luôn luôn bị đau nhức không ngừng, như bị đâm vào đó hàng trăm mũi kim, và cứ lâu lâu thì nhấn sâu thêm một chút nữa. Tôi khóc tôi la suốt ngày, có khi bị ngất lịm đi vì đau đớn quá. Đã có lúc tôi xin bác sĩ chích cho tôi một mũi thuốc để tôi chết luôn cho hết đau đớn. Đến bây giờ nhớ lại tôi còn thấy lạnh mình. Khi được khiêng trở về nhà trên một cái băng ca, tôi chỉ còn là một bộ xương biết thoi thóp thở với hai bàn tay còn cữ động được …

Vừa về nhà ít lâu thì lão Vong đến thăm tôi. Nhìn thấy lão là hai hàng nước

mắt tôi chảy ra ràn rụa vì biết rằng đời mình kể từ đây coi như hỏng. Đi đứng như một người thường còn không được thì nói gì đến chuyện nhảy qua khỏi hàng rào cao hai thước? Nhưng phản ứng của ông lão làm tôi ngạc nhiên. Lão ta nhìn tôi mỉm cười dịu dàng, rờ tay rờ đầu tôi một lúc rồi nói chuyện với bố tôi. Tôi còn nhớ mãi những giây phút đó như là mới xảy ra ngày hôm qua. Nói chuyện với bố tôi xong, lão ta ngồi ngẩm nghĩ nơi giường một lúc thật lâu rồi chẳng nói chẳng rằng, đứng lên bỏ đi, chập sau trở lại với một cặp “Lưỡng Thiết Cầu” trên tay. Ông đặt hai trái banh sắt vào tay tôi, bảo tôi cứ xoay nó như ngày xưa tôi vẫn nhìn thấy ông xoay.

Tôi lắc đầu, thật không còn gì chán nản bằng. Tôi nói thẳng cho lão Vong biết là tôi không thích cái trò chơi nhàm chán này. Lão ôm chặt lấy tay tôi, nhìn thật sâu vào mắt tôi và nói bằng một gịong nghẹn ngào: “Đây không phải là trò chơi nhàm chán đâu con mà là một bí mật gia truyền của giòng họ nhà ta. Gia tộc ta sở dĩ tồn tại và vững mạnh được qua mấy chục đời trong một nước Tàu loạn lạc kinh niên là nhờ bởi món gia bảo vô giá này. Suốt mấy trăm năm nay, bí mật này chưa bao giờ lọt được ra tới những người ngoài. Hôm nay, vì muốn cứu mạng con, ta mới đành phụ lời thề nguyền với tổ tiên để đem nó cho con. Ta nhìn sắc mặt con, biết con không thể sống lâu được nếu không mau mau luyện tập Lưỡng Thiết Cầu để điều hoà kinh mạch.

Triết lý Á Đông ta cho rằng con người là một tiểu vũ trụ. Phải, một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, trong càn khôn. Mọi biến dịch, mọi bệnh tật đều bởi sự mất quân bình âm Dương mà ra. Bệnh tật chỉ là phản ứng của cơ thể để điều hoà âm dương. Cũng y như trái đất có mưa bão để dung hoà thời tiết vậy mà. Hai trái cầu sắt này sẽ giúp con điều hoà nguyên khí trở lại. Con phải rắng chuyên cần luyện tập và phải luôn luôn nhớ rằng con là kẻ rất may mắn mới được cơ hội hấp thụ cái bí mật mấy trăm năm của gia đình ta. Nếu con không bị nạn thì dù có đưa cả núi của ta chẳng bao giờ thèm chỉ cho con đâu. Con cứ xoay nó đi, chỉ trong vòng vài tháng, con sẽ thấy mọi chuyện đổi khác … “

Ngừng một chút, ông ta cúi đầu nói rất nhỏ hầu như chỉ muốn cho một mình

nghe:

-Chỉ tiếc rằng kể từ nay, Lưỡng Thiết Cầu sẽ không còn là một món gia bảo

nữa. Nó sẽ được truyền đi khắp nơi trên thế giới ….

Ánh mắt lạ lùng và lời nói của ông lão làm tôi giựt mình nhớ đến những

chuyện mà tôi đã quan sát trước kia. Không lý cái bí mật vô hình mà tôi đã mất bao nhiêu lâu tìm kiếm lại nằm trong hai trái cầu bằng sắt vô tri giác này? Nhưng theolời ông lão thì đó là một thứ của gia bảo vô giá. Lão đã nói vậy, mình không thể phụ lòng. Hơn nữa, tôi đang ở trong hố thẳm của tuyệt vọng, chẳng còn giải pháp nào khác hơn. Trước khi đi về, lão ta để lại một hộp gỗ trong đó có đúng một trăm viên thuốc màu đen, dặn tôi mỗi ngày uống một viên. Bắt đầu từ hôm đó, tôi bắt đầu xoay Lưỡng thiết cầu và uống thuốc.

Lạ lùng thay, sau vài tuần lễ, đầu tôi đã thấy bớt nhức, và càng ngày càng

thấy dễ chịu hơn cho đến khi hết hẳn. Rồi đến chân tôi cũng từ từ cữ động được. Thấy có hiệu nghiệm, tôi liền gắng xoay nhiều hơn. Vài tháng sau, tôi ra khỏi giường bệnh. Sáu tháng sau, tôi chạy nhảy được bình thường như bao nhiêu đứa trẻ khác. Ngay cả vị bác sĩ đã tiên đoán lầm về tôi cũng không tin là tôi bình phục được như vậy. Ông ta cứ nghĩ là Chúa đã làm phép lạ cho tôi …

Lúc ấy, tôi nhận được một tin buồn: Lão Vong đã bỏ Chicago đi đâu mất biệt.

Không ai biết tại sao và không ai biết lão đi đâu. Cho đến ngày hôm nay, tôi cũng chẳng bao giờ gặp được người ân nhân lạ lùng. Từ đó, cặp lưỡng thiết cầu đã trở nên một vật mà tôi không bao giờ rời bỏ …

-Còn danh hiệu bàn tay sắt có từ lúc nào?

-Ngay lúc nhỏ, ở trung học, trong một dịp đi làm công tác xã hội. Nhớ lại còn

thấy tức cười. Hồi đó, bệnh viện của thành phố có dư một mớ tiền nên dự tính xây lại hàng rào mới, bèn thông báo cho cả quận tôi biết là trường nào muốn cái hàng rào cũ của họ thì cứ việc cho người đến đào lên đem về. Thật là một công hai chuyện. Vừa khỏi tốn tiền mướn người hạ hàng rào, vừa giúp đỡ được các trường học nghèo trong quận. Kẹt một cái là quận tôi có nhiều trường nghèo quá, nên cái thông cáo đó đã vô tình mở màn cho một cuộc cuộc thi đua … nhổ cọc hàng rào của học trò. Ai nhổ được nhiều thì trường mình có nhiều …

Tôi còn nhớ rõ, đó là những cọc hàng rào bằng sắt được chôn sâu xuống đất

gần một thước, và cao một thước rưỡi. Đáy cọc là xi măng rắn chắt vô cùng. Công việc mới nhìn thì dễ nhưng khi bắt tay vào việc rồi thì ai nấy cũng táng đởm kinh hồn. Muốn đào, trước hết chúng tôi phải đào lỗ chung quanh cho có thế rồi ba bốn đứa xúm nhau lại xô đẩy cọc hàng rào cho đến khi nào gốc nó lung lay. Sau đó phải đào thêm một lúc nữa rồi mới khiêng cọc ra được …

Một cây cọc được nhổ lên là đám con gái đứng phía sau reo hò tán thưởng. Vì

thế chúng tôi hăng hái lắm. Chúng tôi hì hục lăn xả vào đào xới không biết mệt. Gary Malone là một trong những thằng tuổi trẻ hăng say đó. Nhưng tôi để ý một điều là, hễ tôi đi đến cái cọc nào, dù có khó đến đâu, tay tôi mó vào một cái là y nhiên nó phải bị bứng liền cấp kỳ. Tôi không để ý đến chuyện này vì cứ nghĩ đó là kết quả do bởi sức mạnh của nhiều người góp lại. Các bạn bè tôi, chúng nó tay chân thì đào sới hộc máu ra nhưng đầu óc thì đứa nào cũng còn đang bận suy nghĩ đến đám con gái đứng sau lưng nên chẳng ai để ý. Chỉ có một người để ý đến chuyện lạ lùng này là ông thầy dạy thể thao của trường tôi. Ông ta đứng phía sau quan sát từ lâu và nhận ra điều khác lạ này …

Tự nhiên, ông ta gọi tôi, chỉ vào một cây cọc ở gần đó nói:

-Chúng nó đã mớm sẵn cái trụ này rồi, mày tới nhổ lên đi.

Chăng nói chăng răng, theo phản ứng tự nhiên tôi tới nhô. Thây cọc còn cứng

quá, vẫn theo phản ứng tự nhiên, tôi dùng tay lắc qua lắc lại theo thói quen rồi nhổ lên. Cầm cọc hàng rào sắt trong tay, nghe đám com gái hò reo như muốn bể cả phổi tôi mới biết là mình vừa làm một chuyện phi thường. Tôi đã một mình nhổ được cây cọc hàng rào mà khỏi cần phải đào sới gì cả …

Các ông có thể đoán được ngày hôm đó trường nào nhổ được nhiều cọc hàng

rào nhất. Bây giờ, nếu ai đi ngang qua trường trung học Ben Franklin, người ta có thể còn nhìn thấy những cây cọc hàng rào do chính tay Malone này nhổ …

Lite hỏi:

-Không ngờ hai trái cầu sắt mà lại có công dụng ghê gớm như vậy.

Ness cho ý kiến:

-Tôi biết, trong thân thể con người, lòng bàn tay là chỗ có nhiều mạch máu

nhất, người Trung Hoa gọi nó là kinh mạch. Và nó cũng gần trái tim nhất. Sự xoay chuyển trái cầu sẽ có tác dụng như thoa bóp, giúp cho máu lưu thông điều hoà. Nếu máu lưu thông điều hoà thì con người sẽ khoẻ mạnh và ít bị bệnh tật nhưng còn cái chuyện tạo cho người luyện tập nó có một sức mạnh bí mật như ông Gary đây thì tôi xin chịu, không thể nào hiểu nổi.

Gary Malone nạo ống tẩu, nhìn đồng hồ:

-Thú thật, tôi cũng không thể nào hiểu nổi chuyện này. Người duy nhất có

thể trả lời được là lão Vong, nhưng bây giờ biết lão ở đâu mà tìm. Và như tôi đã nói, chuyện này đối với tôi chẳng có gì quan trọng hết. Tôi coi đó như là một tai nạn … may mắn đã xảy ra trong đời mình.

Ness rút viết máy cầm tay, đột nhiên cất tiếng hỏi Malone:

-Xong chuyện ống vố của ngày xưa rồi, bây giờ chúng ta bàn về chuyện ngày

nay. Hồi nảy ông có ý kiến về vấn đề tiền bạc, vậy ông tính lấy tiền ở đâu để trang trải sở phí?

Gary Malone liếc nhìn Ness, cười cười:

-Ông có dám giao khoán chuyện này cho tôi không?

-Ông không tính âm mưu làm chuyện gì trái luật đó chớ ông Malone?

-Luật thì có nhiều thứ luật lắm. Luật của đường phố, luật của cảnh sát, luật

của thượng đế, luật của lương tâm. Còn một thứ luật nữa mà dân Chicago đây ai cũng biết và cũng khiếp là luật … của ông Malone. Ông muốn nói Luật nào?

-Luật của chính phủ Hoa Kỳ, luật của Hiến Pháp.

Malone cười, nheo mắt:

-Hiến Pháp chúng ta nói rằng, mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị

chứng minh là có tội.

Ness suy nghĩ lung lắm vì chàng dư sức biết Gary Malone đang tính toán gì

trong đầu. Là một thanh tra cảnh sát thượng thặng của chính phủ Hoa kỳ, chàng chưa bao giờ làm chuyện gì trái luật suốt cuộc đời. Những hành động “phá luật” duy nhất của chàng, nếu có, chỉ là vài màn đấm đá vớ vẩn khi không dần được cơn nóng giận. Như chuyện chàng đã giộng cho một thằng dám nhổ nước miếng vào xe chính phủ ngày nào. Chuyện này có thể xảy ra cho bất cứ ai, đâu phải riêng mình Ness.

Nhưng 10 năm qua, sau lưng chàng, nhân viên của chàng đã phá luật bao nhiêu lần thì không thể nào biết được. Chỉ có bọn mafia và trời biết. Như chuyện chúng nó bắn chết tươi cái thằng đã đột kích vào nhà chàng bắt Catherine ngày nào. Như chuyện chúng nó còng đầu mấy thằng đã từng có thành tích giết cảnh sát rồi thảy xuống bờ biển Nữu Ước năm nào …

Ness nhớ rõ lần đó, chàng gài được một mật báo viên của mình vào trong đám

đầu nậu bến tàu. Kết quả đem về ngoài sức tưởng tượng. Chỉ trong vòng mấy

tháng, những vụ ăn cắp bí mật, những vụ giết người từ đời nào mà cảnh sát địa

phương chưa bao giờ biết tới bỗng trở thành những đống hồ sơ dày cộm trong văn phòng ông thanh tra trẻ tuổi đẹp trai Eliot Ness.

Ness đang thiết lập hồ sơ từng đứa một, tính quét một mẻ lưới lớn để tóm trọn

ổ thì thằng gián điệp bị lật mặt nạ. Chúng nó bắt đem thằng này đem đi đâu mất biệt. Ness có một điểm ai cũng phục là chàng luôn luôn coi trọng mạng sống của nhân viên làm việc dưới quyền mình. Đối với Ness, mạng sống của một người dù chức vụ nhỏ nhất là mật báo viên cũng quí hơn gấp ngàn lần cái đống hồ sơ nơi bàn giấy của chàng. Nếu không truy tố chúng nó được hôm nay, chàng còn có suốt cả cuộc đời để làm việc này nhưng mạng người ta thì chỉ có một. Chẳng cần phải suy nghĩ lâu, Ness bắn tiếng: “Tao chánh thức xác nhận thằng đó là người của tao. Chúng mày thả nó về đây còn nguyên một miếng, tao sẽ quên hết mọi chuyện, coi như cái chồng hồ sơ vĩ đại trong văn phòng là mớ giấy lộn. Chúng mình sẽ xoá bàn cờ bày lại keo khác. Hứa danh dự không chơi trò phục kích lẻ tẻ hay trả thù vặt … “

Nhưng bọn đầu trâu Nữu Ước có luật lệ riêng của chúng. Tội gì cũng có thể

tha được hết nhưng tội làm gián điệp là tội chết, không thể thương lượng. Ness

không cầm nổi một tiếng thét bi ai kinh hoàng khi nhìn thấy xác người cộng sự viên bị chặt làm nhiều khúc, bỏ dưới đường mương. Nhiều thằng cớm đứng bên cạnh bật khóc lên nức nở …

Ngay tối hôm đó, cảnh sát xông vào khu bến tàu chụp đầu hết tất cả quẳng

lên xe. Không cần biết chúng mày là ai, hễ đứng sớ rớ gần bến tàu là lên xe hết.

Tất cả đều được chở thẳng về ty ngoại trừ bốn thằng đầu đảng. Bọn này được phân loại để dắt đi “thẩm vấn riêng”. Thấy nhân viên mình còng tay chúng nó kéo ra xe riêng, Ness linh tính được chuyện chẳng lành nhưng chàng không thể nào cản được.

Luật bất thành văn của cảnh sát Hoa Kỳ xưa nay là như thế này: “Dưới ánh sáng của ngọn đuốc tượng Nữ Thần Tự Do, chúng mày có thể phạm đủ mọi thứ tội ác trên cõi đời này và luôn luôn được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội. Và mọi tội lớn nhỏ đều được đem ra cho pháp luật xét xử hết, trừ một tội: Đụng đến cảnh sát. Tội đó là tội Chết.” Mà chết thật thê thảm kìa. Không ai có thể can nổi dù người đó là “Hung thần Eliot Ness, đệ nhất cớm Hoa Kỳ”

Vài ngày sau, thiên hạ nhìn bốn cái xác bị trói tay nổi lềnh bềnh trên bến tàu

New York. Có cái xác nào mặt mũi còn nguyên một miếng đâu. Toàn là những

miếng thịt bầm dập coi thấy gớm. Ai nói cảnh sát không biết chơi bạo? Ness mấy bữa không ăn cơm được. Chàng giận ghê lắm nhưng hỏi ai thì cũng nghe được một câu trả lời cố định: “Tôi không biết, nhưng có biết cũng không nói. Cái thứ đó thì chết càng nhiều càng đỡ cho cảnh sát, có gì phải tiếc thương?”

Bây giờ ngồi đây, trước mặt bàn tay sắt Gary Malone, nhìn cặp mắt sáng quắc

như sao và đôi bàn tay cuồn cuộn những bắp thịt của hắn chàng biết những ngày sắp tới ở Chicago cũng sẽ không thua những ngày bốc lửa đã qua ở New York. Nhất định phải hơn chứ không thua. Ness lắc đầu khi nhớ đến những ngày kinh khủng đó.

Ness biết, kể từ khi hắn ký vào tờ giấy nhận việc của “Treasury Department”, tất cả những hành động của hắn, dù tốt dù xấu, Ness chịu trách nhiệm trực tiếp. Chàng không phải là một týp người trốn trách nhiệm. Nếu cho phép hắn chơi “luật của ông Malone”, lỡ xảy ra chuyện gì rắc rối, mình là người đầu tiên phải ra trước vành móng ngựa để trả lời với pháp luật. Nếu một ngày âm u như vậy xảy ra, Ness biết chàng sẽ nói rất nhiều để biện hộ, nhưng có một câu mà chàng chắc chắn mình sẽ không bao giờ nói là: “Chúng nó làm gì tôi đâu biết được.” Câu nói này là một câu nói nằm lòng của nhiều nhân viên cấp lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ. Được việc thì vinh quang hưởng riêng lấy hết một mình, còn nếu bị đổ bể thì chỉ đem lá bùa này ra để đổ tội cho đàn em. Hèn quá. Không, nhất định câu này không phải là câu của Eliot Ness. Chết thì chết chứ chàng không thể có thái độ hèn nhát như vậy được.

Ness lại nhíu mày tư lự. Mình mới làm việc với hắn có mấy ngày mà đã nghe

không biết bao nhiêu là huyền thoại về con người ghê gớm này. Cứ nhìn thái độ cung kính của thằng Lite, sự ngưỡng phục nhìn thấy được trong ánh mắt của hắn đối với Malone thì chàng biết hắn là một týp người lạ lùng, vượt lên trên tất cả những người đã từng cộng tác với chàng từ trước đến nay. Nội chuyện hắn hút ống vố cũng có thể viết thành một pho truyện ngắn đáng được xếp vào loại “Phiêu lưu mạo hiễm”.

Khó nghĩ quá. Ness lắc đầu, mồi một điếu thuốc. Nếu mình từ chối, có thể

hắn sẽ rút lại lá đơn xin việc. Ness không bao giờ muốn vậy. Hơn nữa, công tác

đang đi đến một giai đoạn mới. Thằng khốn nạn Capone vừa gởi người vào tận ty cảnh sát để âm mưu giết chàng. Gớm thật dân “chó điên Chicago.” Chuyện này dạy cho chàng thêm một bài học. Trong cuộc chiến này, không có nơi nào có thể nói là giới hạn, không có chỗ nào được gọi là chỗ an toàn hoàn toàn.

Còn nếu mình đồng ý thì sao? Dĩ nhiên, phải ủng hộ hắn hết mình. Hắn có

muốn lên trời thì cũng ráng mà mua vé tàu bay cho hắn lên, muốn xuống địa ngục cũng phải đón xe lửa cho hắn xuống. Ness suy nghĩ. Không chừng còn phải đi theo cho hắn được yên lòng. Nhưng nếu làm vậy, lương tâm của một thanh tra liên bang Mỹ, một người ôm mộc cảnh sát của chánh phủ Hoa Kỳ, một người đi bảo vệ luật pháp có cho phép chàng làm vậy không?

Chàng lại nghĩ đến trách nhiệm nặng nề được giao phó. Ness nghĩ, mấy tháng

qua, mình còn sống được là một chuyện phi thường. Catherine đã bảo chàng như vậy. Công tác coi như được thành công được một phần. Mình đã dồn bọn Capone từ thể chủ động sang bị động. Nhưng sự thành công này đạt được là nhờ bởi chúng nó không chủ trương đánh mà chỉ thủ hoà. Ai bảo bọn mafia này không biết nhịn?

Chúng nhịn hay lắm, và rất kiên nhẫn nữa. Nhưng bây giờ chiến trường đã đổi khác. Như một con mảnh hổ bị đưa vào đường cùng, chúng bắt đầu thay đổi chiến thuật, quyết trả đủa, sẵn sàng ăn thua đến đứa cuối cùng. Ness thấy ớn lạnh khi nghĩ đến cảnh chúng nó xông vào ty cảnh sát để làm thịt mình sáng hôm nọ. Làm sao mà ngờ được những chuyện như vậy nhỉ? Nếu sáng đó mình không tự nhiên nổi hứng rủ thằng Lite đi uống cà phê thì chắc giờ này đã nằm nghĩ yên nơi nghĩa địa. Hai cây Tommy Gun với nhịp bắn như vậy, được điều khiển bởi hai thằng thiện xa như vậy, bắn gần như vậy mà nổ vào người mình một cách bất ngờ như vậy thì có thánh cũng chết. Làm sao sống nổi. Công tác cho đến giờ phút này còn được coi là thành công, nhưng đó chỉ là một sự thành công tạm thời. Sự thành công của nước cờ thứ nhất.

Bàn cờ còn lâu mới đến hồi kết thúc và người đi nước tiếp là Al Capone. Nước thứ hai này, nếu chúng nó quất sụm được “thằng Ness” thì coi như nó thắng được bàn cờ, mọi chuyện sẽ bắt đầu lại từ con số không to tướng. Và Ness biết cả tổng nha ngân khố không đào ra đâu được một Eliot Ness khác nữa.

Khó thật, cờ quạt gì mà đối phương chỉ cần thắng một nước là phe ta thua.

Ness thấy hơi thở mình trở nên nặng nề khi nghĩ đến đó …

Ness đốt thêm một điếu thuốc. Lại suy tư. Hai đàng, chọn đàng nào cũng

không được. Chàng đứng dậy, đi đi lại trong phòng, thuốc lá cắm trên môi, đầu cúi gầm với những ý nghĩ không có một câu trả lời trong đầu.

Sự bối rối của Ness làm sao qua mắt Gary Malone được. Hắn đi giày trong

bụng ông thanh tra trẻ tuổi đẹp trai này. Quả đúng là mẩu người cảnh sát lý tưởng của các trường cảnh sát, của sách vỡ, của các công dân lương thiện chưa hề biết mùi mafia là gì. Ness đã bị bọn kia chơi cho mấy một vố ra gì, như cắt cổ chết tươi thằng mật báo viên, như xông vào tận ty để tìm giết mà đến giờ phút này cha nội cớm cứng đầu vẫn còn phân vân, chưa dám quyết định đường hướng hoạt động. Gary Malone nhíu mày nhìn Ness chờ đợi câu trả lời. Quả thật, chính hắn, hắn cũng chưa biết mình sẽ phản ứng ra sao nếu Ness từ chối, không thèm chơi “luật Gary Malone”. Bỏ đi thì không đành mà ở lại, làm việc cái kiểu này thì biết chừng nào mới “diệt Capone” được như lời hứa của hắn ngày nào với báo chí. Không chừng chẳng diệt nổi mà còn mang vạ vào thân là đàng khác. Cả bọn, kể cả Ness đều như những người đã ngồi lên lưng cọp, chỉ còn một con đường duy nhất là tiến tới.

Ngừng lại là chết.

Đầu óc … quyền biến của gần 30 năm cầm dùi cui làm cảnh sát trong đầu

thầy đội xoay chuyển. Muốn thắng thằng quỷ Al Capone chó đẻ, trước hết phải

thắng ông cảnh sát liên bang thánh thiện này cái đã. Gary Malone biết vậy. Cứ để hắn chần chừ như thế này thì sẽ hư việc lớn. Bỗng hắn nẩy ra một kế, cười thật tươi với Ness:

-Suy nghĩ gì mà lâu vậy? Ông đang bối rối lắm phải không, tôi có một đề

nghị này, ông nghe xong là thấy hết bế tắc liền.

Ness dừng bước. Thầy đội giang hồ này quả là thánh nhân. Mình suy nghĩ gì

trong đầu cũng không qua khỏi cắp mắt hắn được:

-Sao ông biết tôi đang bị bế tắc?

Malone cười:

-Làm thầy đội gần ba chục năm, ăn cơm chính phủ gần mòn răng ra mà

không biết mấy cái vụ này thì làm sao vang danh “Bàn Tay Sắt” trong giới giang hồ?

-Ông nói đúng. Tôi đang bị bế tắc, vậy giải pháp của ông là gì, nói nghe thử

coi?

-Bố tôi thường nói là hễ mình có hai giải pháp để chọn lựa mà suy nghĩ mãi

không biết chọn cái nào thì một trong hai giải pháp đó, giải pháp nào cũng xài được cả …

-Có thể đúng, nhưng biết chọn cài nào?

-Nhờ thượng đế!

Ness ngạc nhiên:

-Nhờ cách nào?

-Có gì khó đâu, ông thảy một đồng xu lên trời cho nó rớt xuống. Nếu ra hình

mặt người thì giải pháp một, còn chim thì giải pháp hai. Lựa chọn đó là hay nhất vì đó là ý muốn của thượng đế, của thiên chúa. Chuá đã muốn vậy rồi thì cứ thế mà làm, chẳng có gì phải nối tiếc hay lo lắng nữa cả …

Hay quá, thật dân cảnh sát giang hồ nhiều khi có tư tưởng hay hơn dân cảnh

sát … đại học. Ness từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ đánh bạc nhưng đề nghị này rất là hợp lý và đúng. Câu nói của ông thân Gary Malone nghe lại càng thấy chí lý hơn nữa. “Nếu có hai giải pháp mà mình đắn đo không thể lựa được thì giải pháp nào cũng tốt cả.” Đúng thật, vì nếu có một giải pháp nào tốt hơn thì người ta đã chọn nó từ lâu rồi, khỏi suy nghĩ làm chi cho mất thời giờ.

Ness hỏi ngược:

-Đồng ý, nhưng nếu chúa muốn cho chúng ta theo giải pháp đường đường

chính chắn, thượng tôn luật pháp Hoa Kỳ thì ông có ở lại với tôi để giúp tôi không?

Malone gật đầu quả quyết:

-Tôi hứa danh dự. Chúa muốn thằng Gary Malone này theo con đường nào

thì nó sẽ nghe theo. Một lời nói danh dự.

Ness quay sang nhìn Lite:

-Còn ông thì sao?

Lite đứng bật dậy, dõng dạc:

-Tôi cũng lấy danh dự mình mà thề như vậy.

Thế này thì quá tốt. Ness như mở cờ trong bụng. Malone nói luôn:

-Rồi, ông chọn đi, tôi thảy đồng xu cho.

Tuy không phải là dân cờ gian bạc lận nhưng Ness đâu có ngu. Mình đâu thể

đưa đồng xu cho một tay bợm cỡ Gary Malone thảy được. Bàn tay sắt vốn nhiều tài vặt, dúm tàn thuốc trong ống vố mà hắn còn búng một cái cho bay bỗng lên cao rồi rớt ngay vào giữa cái gạt tàn bé tí tẹo cách đó hai thước được thì hắn muốn thảy xấp hay ngữa gì mà chả có. Không, Ness này tuy hiền lành nhưng đâu phải là một tay dễ lừa. Chàng lắc đầu nhìn Malone mỉm cười:

-No way! Cám ơn ông, tôi tuy không phải là dân cờ bạc nhưng cũng không

phải là không có chút kiến thức tối thiểu. Tôi không thể tin bàn tay sắt được. Tự tay tôi sẽ thảy đồng xu.

Malone nhún vai:

-Được! Tùy ông, ông muốn thảy cũng được, nhưng ông phải cho anh em biết

sự chọn lựa trước. Hình người là gì, hình chim là gì?

Ness nhắc lại một lần nữa cho chắc ăn:

-Mà tôi thảy đồng xu lên rồi các ông có giữ đúng như lời hứa không? Ness

này không muốn phí thời giờ vào các công việc lẩm cẩm.

Malone và Lite lại hứa. Ness nói, giọng rất nghiêm trang:

-Được rồi, tôi tính thế này, anh em nghe cho kỹ: Nếu đồng xu rớt xuống là

hình, thì chúng ta xử sự theo đúng luật pháp của chính phủ Hoa Kỳ và hiến pháp Hoa kỳ đã làm ra. Còn nếu là chim, chúng ta sẽ chơi luật Malone. Đồng ý chưa?

Malone gật đầu, cố giấu tia nhìn bí mật trong ánh mắt. Lite cũng gật đầu.

Ness hít một hơi dài, nhắm mắt nhẩm lời cầu kinh trong đầu rất thành khẩn:

“Lạy chúa, xin hãy giúp con để con có được một quyết định dứt khoát. Xin Chúa từ nhân chí cao chí đại giúp cho con được hoàn thành sứ mạng khó khăn mà chính phủ đã giao phó cho con … “

Xong lời cầu kinh, chàng chậm rãi đưa tay vào túi nhưng Malone đã lẹ làng đưa tới cho chàng một đồng xu:

-Đồng xu này bố tôi đã dùng nó suốt bao nhiêu năm nay, rất hiệu nghiệm.

Ness ngần ngừ một chút rồi cầm lấy, nói “Thank You” và búng nó lên cao.

Đồng xu rớt xuống nền nhà, lăn vài vòng rồi nằm im trước mặt ba người. Ness

cúi người xuống nhìn rồi thốt lên:

-Chim!

Cả bọn im lặng. Gary Malone đứng im, ống vố đã tắt lửa cắm méo méo trên

mép, nét mặt bình thản. Vẻ bình thản của một tay cờ gian bạc lận vừa biết mình

thắng cuộc. Lite cũng cúi người xuống nhìn rồi đứng lên không nói gì. Ness tuyên bố thẩn thờ như một người vừa thua bạc:

-Chim! Chúng ta chơi luật Malone. Chúa muốn chúng ta chơi luật Malone.

Mặc cho Ness thẫn thờ, Gary Malone nhẹ nhàng cúi xuống, nhặt đồng xu cất

vào túi áo bên phải:

– Vậy là từ nay chúng ta khỏi có bàn cãi vần đề nhức đầu này nữa nhé. Chúa

đã muốn vậy rồi mà, có phải không ông Ness?

Ness gật đầu, ngồi xuống trở lại bàn:

-Đúng. Chúa đã muốn vậy, chúng ta không còn gì phải suy nghĩ nữa.

Ba người lại ngồi quây quần. Ness hỏi:

-Chơi theo luật Malone, để tôi hỏi lại câu hỏi hồi sáng, theo ông thì chúng ta

sẽ bắt đầu như thế nào?

Malone nhìn tới nhìn lui một lúc rồi đứng lên:

-Đây không phải là chỗ cho chúng ta bàn chuyện lớn được. Phải ra khỏi cái

văn phòng hắc ám này liền cấp kỳ rồi muốn nói gì cũng được.

Ness gật đầu. Ba người bước xuống cầu thang. Ness chợt hỏi:

-Lần đầu tiên tôi thấy ông hút ống tẩu.

Malone xoay chuyển ống vố từ mép bên trái sang mép bên phải:

-Ngày xưa tôi hút ghê lắm nhưng đã bỏ hơn mười năm nay, bây giờ mới hút

lại. Mẹ kiếp, mới có … mười năm mà hàm răng đã thấy hơi nặng nề khi ngậm lại ống tẩu, hồi trước đâu có vậy.

-Mười năm. Tại sao ông lại bỏ hút mười năm?

Malone im lặng một lúc, đôi mắt của ông đệ nhất cớm thoáng một chút buồn.

Hắn nhún vai:

-Chuyện dài lắm, khi nào có dịp tôi sẽ nói cho ông nghe. Ông vố tôi chấm

dứt bằng một chuyện tình. Nhưng tóm tắt là mười năm qua, tôi không tìm thấy được nguồn cảm hứng trong đời mình nên không hút nữa. Chỉ những khi nào tìm thấy được ý nghĩa cho đời sống mình, chỉ khi nào thấy mình là Gary Malone thật thì tôi mới hút ống tẩu.

Ness lại lắc đầu. Làm việc với hắn mới có mấy ngày mà con người kỳ lạ đã

kể cho chàng nghe không biết bao nhiêu là câu chuyện ly kỳ, bây giờ còn chuyện tình … bỏ ống tẩu nào nữa đây? Ness chợt nhớ đến nàng Colleen mà Malone đã nói sơ qua cho chàng nghe ngày nào. Không biết có phải chuyện tình này không? Lite tính hỏi một câu gì đó nhưng ba người đã ra đến xe hơi.

Tất cả leo lên xe. Malone ngồi ghế tay lái, chạy thẳng tới một quán ăn xa

lắc, ở ngoại ô Chicago, không lớn lắm nhưng rất sang trọng. Nơi đó có mấy cô hầu bàn thật đẹp.

Malone nhìn ngang ngữa một lúc rồi nói:

-Đây là đất bất khả xâm phạm, lại được ăn uống thả dàn mà khỏi sợ tốn tiền.

Ness giựt mình:

– Khỏi sợ tốn tiền nghĩa là sao?

Malone cười:

– Thầy đội Malone chỉ cần một tuần vào đây đớp hít một lần thôi cho thiên hạ

thấy mặt thì không có thằng nào dám đến đây phá hay bắt địa.

-Vậy nghĩa là ông bắt địa một cách gián tiếp rồi.

-Tôi có bao giờ thò tay lấy tiền của ai đâu. Tôi chỉ ăn thôi mà.

-Nhưng ông ăn mà người ta không lấy tiền thì cũng là một hình thức như là

bắt địa vậy.

-Hê, lần nào ăn xong tôi cũng đến quầy trả tiền đàng hoàng, nhưng kẹt cái là

ông chủ cứ một mực từ chối không chịu lấy, còn nói là nếu tôi ép hắn quá, bắt hắn phải lấy tiền thì hắn sẽ … đóng cửa tiệm luôn. Trong trường hợp của ông, ông sẽ xử thế cách nào?

Lite chen vào:

-Đúng ra, ông Ness không biết, ở Chicago này, hàng quán nào được Malone

ghé đến ăn uống là một đại phúc cho chỗ đó. Đây là một vinh dự mà các ông chủ nhà hàng hằng ngày mơ ước. Vinh dự vì thứ nhất, Malone không bao giờ đến ăn ở những tiệm xoàng. Chicago có mấy chục ngàn hiệu ăn mà Malone chỉ chọn trên dưới mười tiệm. Cho nên, hễ Malone ăn bí tết ở đâu thì ngày hôm sau thiên hạ ùn ùn kéo tới chỗ đó thưởng thức bí tết liền, chủ tiệm khỏi cần tốn tiền quảng cáo làm  chi. Chuyện này có thật. Thứ hai, bàn tay sắt đã ghé chỗ nào rồi thì chỗ có coi nhưlà đất “bất khả xâm phạm” với mấy thằng anh chị địa phương.

Ness lắc đầu. Làm cảnh sát như anh chàng này thì cổ kim chỉ có một. Chàng

đã nghe danh bàn tay sắt, nhưng không ngờ hắn ta ghê gớm đến như vậy. Mà chàng để ý, từ lúc bước vào, vừa nhìn thấy Malone là cả tiệm xôn xao hẳn lên, chạy tới chạy lui như gà mắc đẻ, trông đến tội nghiệp. Đích thân ông quản lý nhà hàng kéo ghế cho Malone ngồi, điệu bộ khúm núm ít khi thấy được nơi những người khác.

Chicago này quả thật là một thế giới lạ lùng. Lạ lùng hơn cả New York.

Ness gọi ly cà phê rồi nói:

-Chúng ta có thể bắt đầu được rồi.

Malone cho một cây diêm vào cái ống píp:

-Nơi đây thì mình có thể tính công chuyện được. Tôi sẽ trình bày qua loa

những điều tôi nhận thấy cho hai ông nghe. Trước hết, để tôi nhận định tình hình cho anh em được nắm vững.

Ness mỉm cười. Chàng đã không lầm. Malone không phải chỉ là một týp

“Cớm giang hồ” đơn giản chỉ chuyên môn đấm đá bậy bạ mà còn có một bộ óc chiến thuật đáng nể. Chàng hí hửng chờ nghe lời phân tích tình hình của thầy đội. Biết tường tận về giới giang hồ Chicago thì chắc chỉ có Al Capone và Gary Malone này.

-Từ ngày ông Ness xuống đây, tôi tuy đứng ngoài vòng nhưng không phải là

không biết những diễn tiến của sự việc. Mới cách đây 3 tháng, Chicago này là giang sơn của Capone. Bây giờ, Chicago cũng vẫn còn là giang sơn của nó nhưng tôi đã nhìn thấy những kết quả của các vụ hành quân bắt rượu ma của ông Ness. Kết quả thứ nhất, giá bia ở Chicago bắt đầu tăng vọt lên như pháo thăng thiên. Phẩm chất cũng kém thấy rõ. Thứ hai, tôi đã bắt đầu ngữi được thấy mùi chiến tranh trong không khí vì cái vụ giá tiền bia lên cao quá như thế này. Bọn O Bannon thấy tụi Capone không sản xuất được nhiều bèn đứng ra sản xuất giùm. Trong giới giang hồ, chờ người ta có tang gia bối rối rồi chơi một đòn hèn nhát như vậy đằng sau lưng là điều cấm kỵ. Hiệp ước bất tương xâm ký năm 1926 coi như đã bị O Bannon xé bỏ không thương tiếc. Chúng lại còn lén lút mở thêm nhiều tiệm rượu …

Lite thắc mắc:

-Với luật cấm rượu khắp lãnh thổ Hoa Kỳ, ai cung giấy phép cho chúng nó

mở tiệm công khai mà không nói là lén lút?

-Không, tôi không nói lén lút với luật pháp Hoa Kỳ. Lén lút đây là giữa giới

giang hồ chúng nó với nhau. Chicago vốn là một thành phố gồm có bốn tiểu quốc họp thành. Thứ nhất là tiểu quốc Capone, thứ nhì là Colosimo, thứ ba là O Bannon và thứ tư là Rusky. Nhưng sau khi trùm Colosimo bị quất sụm và nguyên băng tham mưu của thằng đao phủ thủ Antonio bị chết thảm trong ngày The Saint Valentine’s Day massacre thì chỉ còn ba. Ranh giới đã được phân định rõ ràng giữa tất cả bốn  gia đình ngay sau trận “huynh đệ tương tàn” năm 1926 bằng một thoả ước. Không ai thò tay ký vào cái thoả ước này nhưng chúng nó đã đồng ý với nhau về ranh giới các khu vực. Một điều quan trọng trong thoả ước này là chúng nó đã ấn định sẵn cho Chicago một số lượng rượu tối đa mỗi bên có thể nấu được, số lượng nhà hàng cũng như số lượng nhà Thổ được hoạt động. Bọn ăn cướp này tuy chưa bao giờ đi học nhưng chúng biết rõ cái định luật cung cầu bất dịch của kinh tế. Nếu số cung vượt qua số cầu, hàng hoá sẽ bị mất giá … Chúng nó giữ giá bằng cách ấn định một số lượng nhà thổ và nhà hàng vừa đủ không mắc quá để không ai có thể đến, và không rẻ quá để không thể làm giầu. Điều lạ lùng là ngay cả trong thời kỳ chiến tranh, đang giết nhau loạn như vậy mà nếu khách đến khu của Capone uống một ly bia giá

một đồng, sang khu kẻ thù là O Bannon kêu một ly bia thì cũng trả giá một đồng, tuyệt không có cái màn phá giá để làm lợi cho người khác. Đó, tụi Ý kỳ lạ như vậy. Cái hay của chúng nó là dù bắn giết nhau rầm rầm nhưng vẫn không bao giờ để kẻ khác hưởng lợi, không bao giờ sao lãng cái sứ mạng … kiếm tiền.

Lite gật gù. Malone tiếp:

-Khi tụi Al Capone bị ông đập, dĩ nhiên, rượu bia đã trở nên hiếm hoi vô cùng

trong phần đất của AL Capone. Ông hiểu tâm lý con người mà. Đi đến chỗ nào một vài lần mà thấy không vừa ý thì ít khi người ta trở lại, dù chủ nhân nó là ai. Thằng Do Thái O bannon đánh được mùi liền. Đã bảo lỗ mũi Do Thái cách 3 dặm còn ngữi thấy tiền mà. Hắn liền bất chấp hiệp ước, xé rào mở thêm một lô nhiều tiệm gần ngay biên giới của bọn Capone. Thế là bao nhiêu khách lớn nhỏ xưa nay của Capone bây giờ chạy qua bên O Bannon hết. Mấy ông nên nhớ, đây là một biến cố vĩ đại. Tụi chúng nó có thể giết nhau chỉ vì một câu chửi bới vô tình, nay thằng Do Thái chơi vậy thì Capone đâu có bỏ qua được, nhưng chưa làm được gì vì còn bị ông Ness nhà mình kèm cứng quá …

Malone liếc nhìn Ness mỉm cười:

-Ông thấy sự ghê gớm của ông chưa ông cớm. Lịch sử Chicago chưa có ai

một thân một mình mà làm được chuyện động trời như vậy.

Ness không nói gì, vẫn giữ nguyên khuôn mặt chăm chú bình thản. Malone

tiếp:

-Điều đáng suy nghĩ trong biến cố này là tại sao thằng O Bannon lại dám làm

vậy? Hơn ai hết, nó biết lực lượng ghê gớm của bọn Capone. Có thể nói, nếu

Capone muốn, bọn O Bannon sẽ bị tiêu diệt chỉ trong vòng vài tuần lễ. Thằng O Bannon cũng không phải là thứ ngu, hễ ngữi thấy tiền là tối tăm mặt mũi lại. Nó còn sống được cho đến này hôm nay là cũng nhờ bởi cái tài biết nhịn nhục, biết ngồi chờ thời …

Lite góp ý:

-Có thể tại vì nó tưởng thằng Capone sắp sửa bị ông Ness tiêu diệt.

Malone vỗ nhẹ tay xuống mặt bàn một phát. Vỗ nhẹ vậy mà ly chén trên bàn

cũng tung lên như muốn nhẩy ra ngoài:

-Đúng! Chú mày nói đúng. Tụi Do Thái có đường giây gốc rể khắp nơi trên

nước Mỹ, từ Hoa Thịnh Đốn đến New York, chỗ nào mà không có vài ông dân cữ nhận tiền của chúng nó. Có thể nó biết được một điều gì đó mà ngay chính cả ông thanh tra liên Bang Eliot Ness này chưa chắc đã biết. Vì vậy nó quyết định trở mặt … Còn chuyện này nữa, bệnh ham đếm tiền là một thứ bệnh hay lây. Hết cánh O Bannon bây giờ đến tụi Rusky. O Bannon ăn có được thì sức mấy tụi Rusky chịu đứng ngoài mà nhìn. Chúng nó cũng xé rào, nhưng cẩn thận hơn bọn O Bannon …

Những chuyện này làm sao qua nổi cắp mắt của Al Capone. Nhưng dù có tài giỏi và thế lực đến đâu Capone cũng không thể một lần vừa chơi cớm liên bang, vừa chơi O Bannon, vừa chơi luôn cả Rusky được. Hơn nữa, nó biết đánh giá tình hình, biết chuyện nào quan trọng cần phải giải quyết liền, chuyện nào có thể chờ …

Cô hầu bàn bưng nước tới, đưa cho mỗi người một ly cà phê, còn Malone một

ly pha lê lớn có chất nước màu xanh lóng lánh. Tay cô hầu bàn chưa kịp kéo về thì Malone đã lẹ làng kẹp vào ngón tay nàng một tờ giấy 5 đô la. Ness mỉm cười. Ông bàn tay sắt này cho típ cũng mau và đẹp y như là rút súng ra vậy. Cái bàn tay coi hộ pháp như vậy mà sao cử động lanh lẹ quá chừng. Thật chẳng hổ danh bàn tay sắt. Malone nâng ly ra dấu mời rồi chẳng thèm khách sáo, ngữa cổ uống một hơi cạn hết nửa ly. Uống xong, hắn khà một phát ra điều khoái trá lắm:

-Rượu chỗ này pha không chê được.

Ness lại muốn nhảy nhổm ra khỏi ghế:

-Rượu?

-Thì rượu chớ còn gì nữa. Malone này đâu đi xuống đây để uống sữa hay

uống cà phê như mấy ông. Mà ông Ness à, nếu muốn, tôi đề nghị ông nên thử một chút coi. Lâu lâu cũng nên xé rào một chút để thưởng thức hương vị cuộc đời …

Ness lắc đầu xua tay. Chàng nhớ đến đồng xu có hình con chim hồi sáng. Đây là ngày đầu tiên mình chơi luật Malone. Mới ngồi chưa im đít mà đã muốn

nhảy nhỏm ra khỏi ghế mấy lần rồi, không biết rồi đây sẽ còn có bao nhiêu cú bất ngờ như vậy nữa.

Malone tiếp tục:

-Như tôi đã nói, thằng Capone là một đứa biết nhiều và biết đúng. Nó hiểu là

trong tất cả những người đang gây khốn đốn cho nó, không ai có thể tiêu diệt nó nổi ngoại trừ ông Eliot Ness. Theo tin tức riêng của tôi thì không phải chờ cho ông chơi trò hành quân cảnh sát ma, quần chúng nó nát bét ra thì nó mới biết con người ghê gớm của ông. Con cáo già này đã biết chuyện này ngay từ ngày đầu tiên. Cái ngày mà ông réo tên nó ra ông chửi đó ông còn nhớ không?

Ness gật đầu. Malon tiếp:

-Vì vậy, nó tạm làm ngơ để dồn hết lực lượng ra lo đối phó với ông. Chừng

nào giải quyết được ông xong, thì cả bọn O Bannon chỉ còn hai chỗ ở được: Nhà thương hoặc nghĩa địa. Lăn lộn trong nghề này hơn 20 năm rồi, tôi có thể nhìn thấy được cơn thịnh nộ của nó …

-Nó sẽ “giải quyết” tôi cách nào?

-Như tôi đã nói, nếu mua ông không được, nó sẽ giết ông. Và chuyện này đã

xảy ra đúng như ý tôi đoán.

Ness mím môi, đốt một điếu thuốc:

-Tôi hiểu chuyện đó từ lâu và sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi chuyện có thể

xảy đến cho mình. Vậy thì, theo ý ông, phần tiếp theo chúng ta phải làm gì?

-Chúng ta cần tiền. Tiền mà tôi muốn nói đây là cỡ vài chục ngàn đô la, hoặc

nhiều hơn chứ không ít. Ông chịu khó bỏ dùm cái đầu óc “cảnh sát đại học” qua một bên đi để nhìn vấn đề một cách thực tế như thế này: Mình cần tiền để giải quyết nhiều vấn đề. Thứ nhất chúng ta đều cần mỗi người đều cần ít nhất là một chiếc xe hơi, nếu có hai chiếc thì càng tốt, thay đổi mà đi thì đỡ bị gài bom hơn. Chúng ta cần một trụ sở làm việc an toàn, không thể mỗi lần họp hành là kéo ra hàng quán như thế này. Hơn tất cả mọi chuyện, chúng ta cần tiền để mua tin tức. Dân giang hồ Chicago kín miệng lắm, chỉ khi nào thấy tờ giấy trăm đô phe phẩy trước mặt mới chịu … hé ra nói một chút rồi đóng lại liền. Malone có uy thật đó nhưng cái uy đó chỉ đủ làm cho chúng nó sợ, không đủ để biến chúng nó thành gián điệp làm việc không lương cho mình. Mình chỉ có thể mua được chúng nó bằng tiền mà thôi …

Ness bóp trán. Chàng thấy Malone nói đúng nhưng biết đào đâu ra tiền bây

giờ?

-Ông có … ý kiến gì để kiếm tiền không?

Hỏi vậy là yếu rồi, Malone cười:

Để từ từ rồi tôi sẽ đi tới vần đề đó. Theo tình hình lúc nãy tôi vừa phân tích,

bây giờ chúng hãy đặt thử một giả thuyết như thế này: Nếu như Capone giải quyết suông sẻ được “vấn đề Eliot Ness,” chuyện gì sẽ xảy ra?

Lite nói liền:

-Nổ lớn. Thằng O Bannon sẽ khốn đốn bằng thích.

-Đúng. Trong giới giang hồ, tội gì cũng có thể tha thứ được nhưng cái tội

“thừa nước đục thả câu” để phản bội anh em là tội chết. Capone dư sức để trừng trị và sẽ trừng trị bọn này đích đáng. Khi cơn thịnh nộ của thằng Capone chấm dứt, tôi chắc chắn, tên tuổi của bọn O Bannon sẽ chẳng còn bao giờ được nhắc đến trong giới giang hồ nữa …

Malone làm dấu cho Ness và Lite gom đầu lại, rồi nói thật nhỏ, hầu như qua

hơi thở:

-Vậy thì, nếu chúng ta giúp cho nó giải quyết xong “vấn đề Eliot Ness” sớm

hơn một chút thì chúng ta chỉ việc khoanh tay ngồi nhìn bọn Capone đập thằng Do Thái. Tụi O Bannon sẽ không bao giờ ngờ được chuyện này. Nhưng chẳng sao, đất nước này mà thiếu mất một mớ thằng Do Thái hôi tanh như thằng O Bannon thì cũng chẳng có gì quan trọng. Dĩ nhiên, tụi O Bannon chắc chắn không ngồi yên nhìn phe Capone đào huyệt chôn mình. Hai bên sẽ giết nhau đến tay súng cuối cùng. Tôi biết chắc cú này sẽ chẳng có màn thương lượng đâu …

Malone ngước mặt lên, cặp mắt quét một vòng chung quanh nhà hàng ăn một

phát nhanh như điện rồi tiếp tục:

-Nhưng chiến tranh nào mà không có đổ vỡ kìa? Thằng Capone giết tụi O

Bannon được mười đứa thì thế nào cũng bị giết lại năm bảy đứa. Đốt được nhà

chúng nó thì thế nào cũng bị đốt lại … Tôi biết, cuối cùng thằng Capone sẽ thắng nhưng chúng ta hãy tưởng tượng đi, lực lượng của nó lúc ấy sẽ ra sao? Tôi dùng bốn chữ “tan nát tả tơi.” Đó là lúc mà chúng ta phải xuất hiện để nện cho nó nằm thẳng cẳng luôn. Vụ này, nếu chúng nó không đánh nhau thì mình sẽ chẳng bao giờ dở được trò gì hết. Mấy ông nghe tôi đi, tôi ở đây lâu rồi tôi biết …

Ness gật gù cái đầu, đưa mắt nhìn chung quanh trước khi trả lời:

-Lý luận rất đúng. Nhưng theo ý ông, mình sẽ làm sao để giúp nó giải quyết

“vần đề Eliot Ness” được? Không lý ông muốn tôi … giả chết à?

-Không, tôi có một ý kiến này rất hay. Nếu áp dụng được, mình sẽ vừa tạm

thời bảo vệ tính mạng cho chúng mình, vừa có tiền trang trải công tác phí, vừa có thì giờ chuẩn bị lực lượng để đánh trận đánh cuối cùng.

Thầy đội này quả là một thiên tài. Ness vừa nghe là đã thấy muốn chảy nước

miếng rồi. Lite cũng giấu nổi vẻ bồn chồn, mặt nghệt ra hỏi:

-Ý kiến gì độc đáo vậy, có thực hiện được không?

-Ông có nhớ tôi từng nói với ông là nếu không mua được ông, nó sẽ giết ông

không? Tôi đã nói không sai. Bây giờ, nói thật với ông, dù tôi là bàn tay sắt, hơn hai chục năm nay, khắp hang cùng ngỏ hẻm Chicago ai ai nghe đến tên cũng phải nể phục nhưng nếu Capone muốn tôi chết tối nay thì chắc chắn sẽ có một thằng nào đó làm được chuyện này trước khi mặt trời mọc. Là một cảnh sát phải nói ra chuyện đó thật là đau lòng nhưng đó là sự thật. Tôi biết rõ Capone hơn ai hết. Các ông phải nhớ một điều là đừng bao giờ coi nhẹ lực lượng của Al Capone. Nó đã mọc rễ ở thành phố này hơn 20 năm. Nó có hơn một ngàn tay súng loại sẵn sàng bắn chết tươi con người ta chỉ để được nghe một lời khen “Good Job” của xếp. Nó chưa bao giờ muốn cho ai chết mà người đó còn sống được, kể cả tôi hay ông. Chuyện ông Ness thoát chết hôm nọ chỉ là một may mắn tình cờ thôi. Chúng nó rồi đây sẽ nghĩ ra nhiều trò táo bạo hơn nữa để giết ông cho bằng được. Đời người, tôi sợ mình không được có nhiều may mắn lắm, nhất là những cái may mắn lạ lùng như vậy …

Ness sốt ruột:

-Biết rồi, nói mãi, ông cho biết ý kiến độc đáo của ông đi!

Malone nhìn thẳng vào mắt Ness:

-Tôi nghe nói nó có cho người đem đến tặng ông 200 ngàn đô la nhưng bị từ

chối. Đúng không?

Ness gật đầu:

-Đúng! Tôi chưa cho còng đầu nó lại là may.

Malone nắm hai bàn tay Ness, nói rất chậm:

-Bây giờ, hãy ví dụ như ông Eliot Ness vì sợ chết liền đổi ý, trở lại thò tay

nhận tiền của Al Capone thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ông thử nghĩ đi.

Lite ồ lên một tiếng, vỗ hai tay vào nhau thích thú:

– Tuyệt kế. Nghe người ta đồn Gary Malone mưu trí hơn người, bây giờ mới

thấy đúng.

Ness mỉm cười:

-Đúng là tuyệt kế. Nếu tôi nhận tiền, chúng nó sẽ tưởng Eliot Ness là “Touchable”.

-Phải! Một thứ “Hard touchable” nhưng rồi cuối cùng cũng bán linh hồn cho

ma quỷ như bao nhiêu người khác. Tôi nghĩ thằng Do Thái O Bannon không bao giờ ngờ được điều này. Nếu mình nhận tiền nó, mình có ba cái lợi trước mắt. Thứ nhất là nó sẽ đình hoãn mấy cái án tử hình đã ban ra. Tụi mình sẽ … còn sống được để tính chuyện đưa nó lên ghế điện. Thứ hai, 200 ngàn đô la là dư sức cho chúng ta hoạt động để thực hiện ý định của mình. Trên đời thật không còn gì lý thú bằng dùng tiền của kẻ thù để đánh kẻ thù. Thứ ba, sau cuộc chiến, thằng Capone dù mạnh đến đâu cũng trở thành yếu xìu. Bấy giờ mình chỉ quét một mẻ lưới chót là yên hết mọi chuyện …

Ness ngồi thẳng người lên đốt điếu thuốc lá. Chàng thấy cảm phục Malone

vô cùng, nhưng vẫn còn hơi thắc mắc:

-Ý kiến rất hay, nhưng còn vài chi tiết nhỏ mình chưa giải quyết được như sau

này nếu ra tòa, chúng nó khai là tôi nhận tiền hối lộ của chúng thì sao? Thanh tra Ness này không muốn bị mất thanh danh hay vô tù vì những chuyện dơ bẩn như vậy.

Malone cười:

-Chuyện đó ông để Malone lo cho. Chả có gì khó, chính tôi là người đi nhận

tiền chớ không phải ông. Ông đừng quên một điều là muốn nói được, người ta

phải … còn sống. Xác chết không bao giờ biết làm chứng ở toà.

Một lần nữa, Ness lại muốn nhảy nhổm ra khỏi ghế. Malone nói là Malone

sẽ làm. Ra thầy đội này tính thủ tiêu con người ta thật. Hình ảnh hình con chim đại bàng trên đồng xu lại hiện ra trước mắt chàng. Chàng tự hỏi, nếu lúc sáng, hình người hiện lên thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Malone tiếp:

-Một chuyện quan trọng khác mà chúng ta cần phải giải quyết. Các ông biết

thằng Capone và consiglerie của nó, thằng Do Thái Guzick không phải là hai thằng ngu. Nếu tầm thường chúng nó đã không gây dựng được đế quốc Capone khổng lồ như vậy. Mình phải làm sao cho chúng nó vào xiếc mà chúng không nghi ngờ kìa. Nếu chúng nó biết được âm mưu của mình, sẽ tương kế tựu kế quất lại một phát thì chúng ta nếu không vào tù để nghiên cứu lại bộ luật Malone thì cũng vô nghĩa địa …

Ness gật gù:

Đó là sự khác biệt giữa luật Malone và Hiến Pháp. Nếu xử dụng hiến pháp,

chúng ta chỉ chỉ có một nơi để đến là nghĩa địa mà thôi. Còn luật Malone thì có mở thêm một con đường thênh thang dẫn đến nhà tù …

Malone cười:

-Sai! Luật Malone còn có con đường đưa chúng ta thẳng đến chiến thắng vinh

quang nữa chứ. Đi con đường nào là tùy thuộc vào đầu óc và khả năng của chúng ta …

Người bồi bạn dọn thức ăn lên. Malone nhét ống vố vào túi áo, hỏi:

-Ông thấy ý kiến tôi thế nào, có thực hiện được không?

Ness trả lời một cách quyết liệt:

-Hay lắm! Tôi đồng ý hoàn toàn, không có gì phải suy nghĩ cả. Mình theo

luật Malone, ngày mai cứ thế mà làm. Nếu xuống nghĩa địa, chúng ta sẽ nằm cạnh nhau. Nếu vào tù, chúng ta cũng sẽ vận động để được ở chung một xà lim. Còn nếu chiến thắng, chúng ta sẽ cũng sẽ cùng nhau chia sẽ …

Ness đưa hai tay ra, Malone và Lite mỗi người nắm lấy một tay, hân hoan xiết

chặt …

Khi bắt đầu ăn đến món tráng miệng, Malone chợt nói:

-Ông Ness, tôi có một lời thú tội cần phải nói.

Bữa ăn ngon miệng quá làm Ness cũng thấy dễ dãi:

-Tội gì, nói đi.

Malone thò tay trái rút ra một đồng xu đưa cho Ness:

-Ông coi thử hai mặt của đồng xu này có hình gì?

Ness cầm lấy. Chàng lại muốn nhảy nhổm ra khỏi ghế lần nữa và suýt kêu

lên một tiếng khi nhận ra cả hai mặt của đồng xu đều có hình người. Malone lại đưa cho chàng một đồng xu khác từ tay phải:

-Ông coi thử giùm cái này luôn.

Ness thấy đồng này cả hai mặt đều có hình chim. Thật đúng là quân cờ gian

bạc lận. Không ngờ thanh tra thượng thặng của nha ngân khố liên bang lại bị lừa dễ dàng như vậy. Nhìn khuôn mặt ngẩn ngơ của Ness, Malone cười cười tiếp:

-Cái trò bịp này ở xóm tôi một thằng con nít lên năm cũng biết nhưng tôi lại

lừa ông được dễ dàng. Khi đánh cá với ông, nếu muốn ra cái gì, tôi chỉ móc đồng xu có cái đó ra đưa cho ông thì ông thảy đến … mười năm cũng chỉ ra cái mà tôi muốn.

Cái hay là làm thế nào cho người thảy đồng xu phải tin tưởng hoàn toàn nơi việc may rủi là xong …

Ness lắc đầu, nắm chặt hai đồng xu trong tay, mặt hơi đỏ. Ôi, còn gì là thanh

danh Đệ nhất cớm của Nha Ngân Khố Liên Bang? Chàng nghĩ các trường cảnh sát nên thêm môn học cờ gian bạc lận vào chương trình giáo huấn thì mới vẹn toàn. Nhưng chàng không cảm thấy giận mà tức cười cho sự ngây thơ của mình. Trường đời quả còn nhiều chuyện mà trường đại học hay trường cảnh sát không thể nào dạy hết được.

-Nếu đã lừa được tôi, sao ông còn nói ra làm gì?

-Vì Malone này không bao giờ lừa dối bạn bè. Tôi nói ra để tùy ông quyết

định. Nếu bây giờ ông đổi ý kiến, bảo chúng ta bỏ luật Malone, chơi đúng luật của hiến pháp Hoa Kỳ tôi cũng chịu nữa, và hứa danh dự sẽ theo ông đến giây phút cuối cùng. Vậy ông hãy quyết định đi, chúng ta còn dư thời giờ mà.

Ness lắc đầu, trả lại Malone hai đồng xu, cười nhẹ nhàng:

-Không! Chúng ta sẽ chơi luật của Malone. Tôi bắt đầu thấy khoái bộ luật

này rồi …


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply