Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 30 May 2025

Về Một Cái Chết
Nguyễn Hữu

Vì là một cựu quân nhân thâm niên trong QLVNCH nên trong số những bạn H.O. xấp xỉ tuổi tôi, tôi đều quen gần hết. Mỗi khi được tin một H.O. quen biết vừa đặt chân tới Hoa Kỳ, đặc biệt là tới Cali, tôi thường tìm cách đến thăm hỏi trong ý nghĩa của tình đồng đội và nhất là trong tình nghĩa giữa người đến trước và kẻ đến sau.

Hôm nay, tôi được dịp tiếp xúc với một anh bạn H.O. mới sang, một người bạn cũ thuộc CÙNG một đại đội tại quân trường và cũng là một chiến sĩ Dù đã từng chiến đấu oai hùng từ miền Bắc Quảng Trị đến vùng Hạ Lào. Tôi mến anh vì dáng điệu hiên ngang của anh và nhất là vì cái cái lì của anh trên chiến trường, một cái lì đã từng thắng được kẻ thù Cộng Sản trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Trong cuộc gặp gỡ thân mật này, tôi đã được anh thổ lộ cho biết những năm tù đày đầy gian khổ của anh, cộng với sức chịu đựng vượt mức của anh trước một nghịch cảnh mà anh cho còn ghê gớm hơn cả những chiến trận anh đã từng trải qua.

Nghe anh kể lại cuộc đời lao tù, tôi chỉ biết khâm phục lòng can trường vượt mức của anh và khi được hỏi về bí quyết của sức chịu đựng vô bờ bến của anh, anh đã vui vẻ trả lời.

Nói đến sự hành xác của Cộng Sản, phải nói rằng “có một không hai trên thế gian này”. Chúng tôi đã chịu đựng đủ mọi cực hình, đủ mọi hành động hạ nhục. Vì biết tôi là một chiến sĩ Dù, chúng đã đặc biệt chú tâm vào để hành xác tôi, bắt tôi làm việc nặng hơn những người khác, cho ăn đói hơn những người khác và đặc biệt cũng dành cho tôi một sự đối xử “tàn tệ” hơn đối với mọi người khác. Những khi tôi bệnh hoạn, tôi không có một viên thuốc nhỏ, đi kiết, đi lỵ cũng không có thuốc, còn lên cơn sốt rét, run bắn người, cũng không có một viên ký ninh. Hết cơn rét rồi đến cơn nóng, hết nóng lại đến lạnh. Mỗi lần như vậy, tôi chỉ cần bấm ngón tay vào người để xem thấy mình còn biết đau hay không và, nếu còn biết đau là còn sống và nếu còn sống là còn hy vọng. Trước nghịch cảnh phũ phàng, tôi sống nhiều vào nội tâm hơn vào hiện tại. Những khi đang đau khổ vì bệnh hoạn, tôi dành hết thì giờ để nghĩ đến gia đình, vợ con. Tôi mường tượng thấy vợ tôi đang nhìn tôi, với tất cả lòng trìu mến, tôi thấy các con tôi như đang xúm quanh tôi, đứa sờ trán, đứa sờ mặt như để chia sẻ sự đau khổ của tôi. Tôi mải mê với những hình ảnh tươi đẹp của gia đình và hầu như quên hẳn cả thực tại. Tôi đã ngủ những giấc ngủ dài hơn người thường, tôi đã du hồn đi thật xa mà bọn cán bộ Cộng Sản hay các bạn đồng cảnh không hề biết đến. Họ tưởng tôi đang khổ lắm, đang đau đớn lắm nhưng trái lại, những lúc đó là lúc mà tôi cảm thấy sung sướng nhất. Thật vậy, cảnh nhà tù, cảnh mấy thằng Cộng Sản đội nón cối, ăn nói tục tằn, chèn ép mình một cách đê hèn như hạn chế ăn uống, như không cho người bệnh một viên thuốc, hay la hét, hoạnh hoẹ, tất cả có gì đáng để tôi mở mắt ra coi. Mỗi lúc tôi nhắm mắt lại, tôi đều thấy những cảnh tượng ít ra cũng tươi đẹp gấp mấy trăm ngàn lần cảnh tượng được diễn ra trước mắt tôi thực sự. Nhiều anh bạn hiểu rõ tâm tư của tôi, thường tỏ vẻ ái ngại cho tôi. Đôi khi, thấy tôi ngủ nhiều, họ lay tôi dậy, sợ tôi ngủ luôn. Vì ngủ dở giấc, tôi đã gắt lên với họ rồi lại tiếp tục ngủ thêm. Thật ra, họ đâu có hiểu được tâm trạng của tôi. Tôi đâu có ngủ mà tôi đã trở về ngôi nhà cũ và tôi đang sống giữa những người thân yêu nhất của tôi. Đúng vậy, khi con người đau khổ, người ta thường tìm người thân để được chăm sóc, chiều chuộng. Theo ý nghĩa này, càng ngủ bao nhiêu, tôi càng cảm thấy thú vị vì trong lúc đó, chỉ có gia đình là nguồn sống duy nhất của tôi. Sở dĩ tôi hết sức chịu đựng gian khổ vì nghĩ rằng ở cách trại tù hàng ngàn đặm, vẫn có một người đàn bà cùng một bầy con nhỏ vẫn đang chờ đợi để đón mừng ngày về của tôi. Vì vậy, khi bọn cán bộ Cộng Sản cố tình “làm tình, làm tội” tôi để mong tôi chán nản đến mức độ có thể tự sát được, tôi vẫn cương quyết bám chặt lấy cái sống. Chết sao được khi vợ con tôi còn đó, khi tình vợ chồng và con cái vẫn dạt dào chan chứa. Nếu không có những tình cảm đó, có thể là tôi đã chấp nhận cái chết chứ không chịu để chúng nhục mạ hay hành xác…

Tôi chỉ ngồi im để nghe anh “thao thao bất tuyệt” tả lại những cảm nghĩ của anh trong nhà tù.

Chạnh nghĩ đến một H.O. vừa tự vận tại Cali, tôi tò mò hỏi anh:

– Anh T… Anh có nghe nói đến vụ anh H.O. N… vừa tự tử chết không?

Anh nhanh nhẩu đáp lại:

– Có chứ. Tôi đã được xem báo tường thuật về vụ này.

Thấy vậy, tôi bèn tiếp tục hỏi anh:

– Về vụ này, ý kiến của anh ra sao?

Thấy tôi tò mò muốn biết quan điểm của anh, anh gật gù, chậm rãi nói với một nét mặt rầu rĩ: 

-Tôi không rõ vì nguyên nhân nào, anh N đã tự vẫn nhưng theo ý kiến riêng của tôi, vẫn có một động lực nào đó khá mạnh để đẩy con người vào cõi chết.

Không đợi tôi phải hỏi thêm, anh nói tiếp:

– Như tôi đã trình bày với anh ở trên, nếu nói đến buồn phiền và lo lắng thì phải nói rằng không có ai buồn phiền và lo lắng hơn người bị lâm vào cảnh tù đày. Lo lắng vì phải xa gia đình, vợ con, buồn phiền vì không biết trong những ngày tháng dài đằng đẵng kia, vợ mình làm gì để sinh sống, con mình có khỏe mạnh hay đau yếu không và tất cả còn hướng vào họ không, tất cả có trông chờ ngày về của họ không. Mặc đầu khổ biết mấy nhưng họ vẫn chịu đắng nuốt cay để chờ ngày về tụ với gia đình. Có lúc họ đã nảy ra tự tử nhưng tự tử đối với Cộng Sản nào có ý nghĩa gì. Đối với bọn người vô lại, chết chỉ có nghĩa là bớt cho chúng một nhiệm vụ canh chừng, thế thôi. Tuy nhiên, đối với người tù cải tạo, chết là thiệt thân, chết là thiệt cho vợ, cho con. Chính trong lập luận đó mà người tù không tự vẫn vì họ vẫn còn có một liên hệ đáng quý, họ vẫn còn một lẽ sống, đó là những người  thân, là vợ, là con. Ở trong tù mà không chết là vì vậy.

Đến khi sang Hoa Kỳ, mặc dầu phải chạm trán với thực tại phũ phàng, mặc dầu được cho biết trợ cấp xã hội chỉ lâu 12 hay 8 tháng, sự thiếu thốn này cũng chưa phải là một lý do đưa đến cái chết. Đến ngày hết hẳn trợ cấp, người tù cải tạo cũng có thể dấn thân làm đủ mọi nghề để sống và, nếu đem so sự sống đó với đời sống trong nhà tù, cuộc sống bên Hoa Kỳ này vẫn còn gấp trăm ngàn lần hơn. Nhìn vào mấy người Mễ “lội rào” sang Hoa Kỳ, họ vẫn vui sống làm việc tại tất cả các tiệm tạp hóa của người Việt trong vùng Cali này. Đâu có lúc nào họ nghĩ đến tự vẫn. Làm được tiền, họ vẫn cố dành dụm gởi về quê nhà giúp đỡ cho vợ con… Người H.O. chúng ta chưa thấy ai phải làm những nghề vất vả như vậy, nhưng nếu có làm đi chăng nữa, chỉ là chuyện thường tình.

Con người đi đến tự vẫn là khi họ không còn gì để bấu víu nữa, không còn gì để luyến tiếc, nghĩa là khi họ đã mất hết.

Tôi có được nghe nói đến một số các bạn H.O. đã tự hủy hoại cuộc đời tại Hoa Kỳ, tôi không khỏi ngạc nhiên và thắc mắc tự hỏi tại sao trong những ngày cùng cực tại trại cải tạo họ không hề nghĩ đến cái chết và tại sao khi đã đặt chân lên mảnh đất tự đo này lại vội vàng tìm lấy một quyết định tang thương như vậy. Phải chăng chính cái hậu quả của sự “va chạm văn hóa” của riêng anh hay của gia đình đã xô đẩy các anh vào tình trạng tuyệt vọng vì, theo kinh nghiệm của riêng tôi, con người chỉ đi tìm cái chết khi hoàn toàn mất hết niềm hy vọng vào cuộc sống. Nếu đúng như vậy thì thật là điều vô cùng đáng ái ngại..

Tôi cũng được nghe nói có một bạn H.O. khi sang tới Hoa Kỳ, không thấy vợ con ra đón mà chỉ thấy lèo tèo mấy đứa con dại. Gặp nhau, cha con mừng, tủi ôm nhau khóc và khi được hỏi đến mẹ chúng, một em nhỏ đã thủ thỉ vào tai bố “mẹ đi lấy chồng rồi!!”

Một anh H.O. khác cũng ở trong tình trạng tương tự. Khi đặt chân xuống phi trường Cựu Kim Sơn, anh chỉ được gặp lại các con sau trên 10 năm xa cách nhưng không hề được gặp lại người vợ chăn gối trên nhiều chục năm vì bà cũng đã sang ngang. Tuy nhiên, các anh vẫn kiên trì sống vì mặc dầu đã mất hết tình nghĩa phu thê, các anh vẫn còn được sự âu yếm của các con và chính tình thương này đã giữ các anh ở lại nơi dương thế  thay vì đi tìm cái chết…

Riêng trường hợp của anh N… tôi chắc không phải vì vấn đề “cạn túi” mà vì tuyệt vọng…

Để kết luận, anh bạn H.O. của tôi đã tươi cười chỉ vào vợ anh và các con nói:

-Đấy mới là nguồn sống chính yếu của tôi, tiền trợ cấp xã hội chỉ là một yếu tố thứ yếu. Nếu tôi đã chịu đựng trên 10 năm tù đày là vì vợ con tôi vẫn nhất mực yêu thương và chia sẻ những đau khổ của tôi. Sang đây, gia đình tôi vẫn giữ nguyên truyền thống cũ, truyền thống của đạo đức, và đây là niềm hứng khởi to tát cho tôi để tạo dựng đời sống mới…

Trong giai đoạn hiện tại, vì nền kinh tế của Hoa Kỳ hiện đang trên đà suy thoái, nạn thất nghiệp đang tràn lan. Tại sao có người thất nghiệp tự vẫn và tại sao có người vẫn phây phây đi tìm việc để tạo lập cuộc sống mới? Nếu người thất nghiệp về nhà bị vợ con khinh rẻ hay bạc tình và khi đã mất “job” lại mất luôn cả vợ con thì còn gì để giữ họ lại trên dương thế này? Trái lại, nếu họ bị thất nghiệp, mà vẫn được sự an ủi và nâng đỡ tinh thần của gia đình thì đâu đến nỗi phải tự vẫn…

Nguyễn Hữu

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 30 May 2025

Chương 13.

Ông Mười Hấu ngồi uống trà, suy nghĩ cẩn thận. Nếu hỏi ý kiến cậu Cẩu thì tốn thời giờ và khó giải thích. Theo ý ông thì Xí Vĩnh ra tay theo lịnh cô Huôi.

Giết cô Huôi trong lúc nầy là thất sách, chưa ắt Xí Vĩnh cung khai sự thật. Nhưng ít ra, vụ án này khiến cô Huôi mất khá nhiều uy tín. Cô đã xin tội cho một đứa có tội, và đứa ấy đã tái phạm.

Ông Mười úp chén trà xuống dĩa, đứng dậy thay áo.

Trời đã xế chiều.

Khi ra sân, ông thấy bầu không khí quá buồn tẻ. Dường như sắp xẩy ra một biến cố quan trọng mà ông không đoán được. Bọn hộ vệ ngồi trong nhà mát ở mé sông. Ghe xuồng đều vắng bóng.

Nãy giờ một trận mưa nhỏ đã tuôn xuống Hòn Chông. Mấy ngọn đồi hiện ra sừng sững bên kia sông, màu xanh chàm.

Gà gáy nghe não nuột từng hơi dài rồi chấm dứt, nặng nề. Mỗi tiếng gáy là mảnh kim khí rơi rụng xuống đáy nước. Gió thổi nhẹ, mấy ngọn trúc gục đầu xuống rồi hất lên.

 Ông Mười quơ tay, lau mặt.

Hai tên hộ vệ chạy theo, như thường lệ.

Ông khoát tay:

– Ai biểu? Để tao đi một mình.

Rồi ông lưỡng lự, đứng nhìn bọn nó. Rủi bọn nó là tay sai thân tín của cô Huôi thì làm sao ông trở tay kịp? Nhưng nếu đi một mình, dọc đường gặp kẻ bất lương thì ai chống trả giùm ông?

Mấy bụi lức, bụi nhãn lồng hiện ra bên đường. Vài con chim nhẩy nhót trên mặt đất.

Dưới mắt ông, mỗi gốc cây, mỗi ngọn cỏ đều là nơi ẩn nấp của quân thù. Bước chân ông như chập chờn, không chấm đất. Trong phút giây, ông nhớ tới cái chết của Bá Vạn. Dường như oan hồn Bá Vạn còn phảng phất đâu đây. Bọn hộ vệ của ông ta gồm trên năm mươi đứa, làm sao tin cậy được?

Rốt cuộc, ông quyết định:

– Ta cứ đi một mình. Nãy giờ chưa thấy ai hăm dọa ta. Nếu dẫn theo vài đứa hộ vệ, cô Huôi sẽ tức giận.

Đứa nữ tỳ đưa ông Mười vào gặp cô Huôi.

Cô vẫn bình thản, nụ cười trên môi như không chuyện gì xảy ra cả.

Ông Mười hơi sợ, vô cớ. Có lẽ vì cô Huôi quá xinh đẹp.

– Thưa cô…

Cô Huôi không nhìn lên:

– Ông ngồi! Buổi lễ vui vẻ chứ? Làm gì mà tôi nghe tiếng la hét, chén dĩa bị đập nát…

“Thật là lạ”. Ông Mười Hấu nghĩ thầm như thế. Hay là lúc xảy ra vụ đầu độc, cô Huôi có mặt tại nhà bếp?

Trong khi ông ngồi yên, cô nói thêm:

– Bọn nó cho tôi biết…

Dịp tốt để Mười Hấu đi vào vấn đề:

– Thưa cô, Xí Vĩnh đầu độc, con chó nằm chết. May là cậu Cẩu không ăn con tôm nướng…

Rồi ông nói rõ từng tiếng, như để tố cáo cô Huôi:

– Tôm nướng ở nhà bếp.

Cô Huôi đã hiểu nhưng vẫn trầm tĩnh trả lời:

– Ông Mười ngồi đó. Để tôi bảo đứa nữ tỳ đốt thêm một ngọn đèn sáng. Hôm nay, nhà hơi tối.

Ngọn đèn cháy sáng. Đứa nữ tỳ rút lui. Cô Huôi nói:

– Chuyện đó, tôi không biết rành. Vùng cậu Ba, muốn làm gì mặc ý.

Ông nắm hai tay như để giữ vững niềm tin. Trong khi ông còn phân vân chưa biết trả lời thế nào cho ổn thì cô Huôi lại cười, lần đầu tiên mà ông Mười nghe và thấy cô cười ra tiếng:

– Phận sự của tôi ở đây không phải là lo chuyện nhỏ nhặt. Bởi vì cậu Cẩu còn nhỏ, tánh tình nóng nảy bất thường nên tôi ở ngôi nhà nầy cho qua ngày. Tôi muốn về núi Đất từ lâu rồi, ở đây, tôi chán lắm! Đừng tưởng tôi thích ăn ngon, ở nơi cao ráo, có nữ tỳ bên cạnh.

Ông Mười Hấu nói:

– Thưa cô, cậu Ba muốn xử tử con Xí Vĩnh vì nó thú nhận tội lỗi. Cô muốn khuyên can gì không?

Cô Huôi trợn mắt, nói to:

– Ông nói sao? Ông muốn ngồi trong nhà nầy hay là muốn ra ngoài sân? Tôi mà khuyên can cậu Ba để bênh vực con Xí Vĩnh. Tại sao ông…không khuyên can, vì nó là cháu ngoại của ông?

Đã đến đây rồi, chẳng lẽ về không. Lần đầu tiên, ông Mười Hấu bị mắng nhiếc to tiếng như vậy.

Mười Hấu van nài:

– Thưa cô, tôi nói lỡ lầm điều gì, xin tha thứ…

Nhưng không thèm nghe lời Mười Hấu, cô Huôi nói tiếp:

– Tôi bày ra cuộc lễ hôm nay là để cho cậu Ba nở mày nở mặt, lên địa vị cao. Ngoài ra còn gây tiếng tốt, khiến quân Lang Sa nể nang vùng Hòn Chông nầy. Nếu muốn đem binh rồng tướng mạnh tới đây, bọn Lang Sa phải điều đình, xin cầu hoà. Vậy thôi. Ở núi Đất, tôi sung sướng hơn. Tôi cất một kiểng chùa, mỗi ngày, tôi đến chùa hai lần. Tôi cho người đào ao sen, thỉnh thỏang tôi câu cá. Nhà chùa rộng rãi và mát mẻ hơn ở đây.

Mười Hấu cúi mặt:

– Thưa cô, cô ở đây để dạy cậu Cẩu. Nó là cháu ngoại, tôi nói nó không nghe bằng cô.

Cô Huôi hỏi:

– Bây giờ ông muốn gì? Tôi chỉ khuyên ông nên cẩn thận. Cậu Ba là đứa con nít, tôi tới đó để nghe cậu dạy đời sao?

– Dạ đâu có!

Mười Hấu cau mày, nghĩ ra một lời mời mọc khéo léo hơn:

– Tôi đâu dám nghĩ vậy. Nhưng con Xí Vĩnh khóc lóc muốn gặp cô, chắc cô thương xót người sắp chết.

– Thế gian nầy, sớm muộn gì vua chúa hay thường dân cũng chết. Tôi đi đây. Nhưng ông nên nhớ rằng tôi đi vì lời mời mọc của ông.

– Dạ, cô đến thì dễ dàng hơn. Trước khi quyết định chuyện quan trọng, tôi muốn hỏi ý cô.

Tại phòng khách của Mười Hấu, Xí Vĩnh bị trói vào cây cột, hai chân quỳ xuống.

Khi cô Huôi đến, Xí Vĩnh ngẩng mặt lên rồi nói cương quyết:

– Con xin cô ở lại bình yên. Con chết nhưng con vui lắm.

Ông Mười Hấu và cậu Cẩu ngồi trên ghế trường kỷ đối diện với cô Huôi. Bấy giờ, ông Mười biết mình vừa làm một việc vô ý thức, bất lợi.

Cậu Cẩu nói:

– Như vậy chừng nào tra tấn nó?

Cô Huôi cười dòn, nhìn thẳng vào mặt ông Mười Hấu:

– Ông gọi tôi tới đây để xem tra tấn chớ gì? Nếu vậy thì tôi về. Xí Vĩnh đã chịu chết, đã nhận tội. Tra tấn là làm chuyện ác độc.

Cậu Cẩu trợn mắt, chưa hiểu nên ứng phó cách nào. Lúc này, cậu muốn đánh đập Xí Vĩnh để nó cung khai rằng người bày mưu đầu độc chính là cô Huôi. Giờ đây, cô Huôi không tán thành việc đó. Cậu thử nhìn lên.

Đôi mắt cô Huôi như tỏa ra ánh hào quang. Cô nói:

– Cậu Ba nên nhớ hồi nào…cậu đem con Xí Vĩnh vô nhà. Muốn giết nó thì giết. Tra tấn trước khi giết là thái độ tầm thường. Người có “chơn mạng đế vường” chẳng lẽ lại cãi vã tay đôi với nó!

Bỗng dưng mà cậu Cẩu lại vỗ tay, reo lên như đứa bé:

– Phải rồi! Ta cãi vã, đánh đập người tầm thường để làm gì, giết thì giết cho nhanh.

Day qua ông Mười Hấu, cậu Cẩu nói như trách móc:

– Vậy mà ông ngoại biểu tra tấn nó cho nó cung khai.

Cô Huôi hỏi:

– Ông Mười, đúng vậy không? Ông muốn nó cung khai như thế nào? Tại sao cần có mặt tôi? Ở đây, ông có chức vị lớn hơn tôi hay là tôi có chức vị lớn hơn ông?…

Mười Hấu cúi mặt, trong khi cô Huôi đứng dậy nói tiếp:

– Vậy thì tôi về. Ở đây, mấy đứa hộ vệ lo cho ông.

Mồ hôi tràn xuống từng giọt trên trán ông Mười Hấu. Phải chăng cô muốn hăm dọa rằng tất cả bọn hộ vệ đều đứng về phe cô và giờ nầy cậu Cẩu cằn nhằn:

– Phải dè như vậy, tôi giết nó hôm qua cho xong…

Bầu không khí trở nên nặng nề. Thật ra, cô Huôi muốn ở lại an ủi Xí Vĩnh. Xí Vĩnh biết rằng mình đã thoát khỏi cuộc tra tấn dã man, nhưng dầu sao đi nữa, nó vẫn mang bản án tử hình. Nó gào lên:

– Xin cô ở lại.

Cậu Cẩu đấm mạnh xuống ghế:

– Mầy có quyền gì mà nói chuyện với cô?

Xí Vĩnh đáp:

– Cậu không được quyền gì chưởi mắng người sắp chết. Hay là cậu quen thói…lưu manh? Cậu là đứa hèn hạ, nếu không có cô đây giúp đỡ thì cậu chẳng ra cái gì cả! Hồi ở núi Mo So, tôi nhớ kỹ mấy người lớn tuổi nói rằng cậu chỉ biết đá cá thia thia.

Cậu Cẩu muốn giết ngay Xí Vĩnh nhưng còn nể nang cô Huôi:

– Ta là người …khí tượng đế vương. Hơi đâu mà nghe lời của người phàm.

Xí Vĩnh cười khanh khách:

– Nhưng người phàm tục nầy cứ chưởi kẻ chơn mạng đế vương như cậu lại tức giận. Cậu là đứa phàm tục, háo sắc, bất tài. Cậu bày mưu giết ông Bá Vạn. Không có cô giúp đỡ, giờ nầy cậu chỉ là đứa du đãng, sống vất vưởng với nghề hái ong ở núi Mo So…

Cô Huôi không ngăn được hai giọt lệ:

– Được rồi, Xí Vĩnh cứ yên tâm. Ngày mai ta rước ông đạo Đất tới cho mi được yên ổn tinh thần.

Rồi day qua ông Mười và cậu Cẩu, cô Huôi nói gắt:

– Sao nãy giờ chưa tuyên án xử tử nó cho ta nghe! Cứ xử vào trưa mai. Cậu Ba còn do dự quá.

Tư Thiện ngồi uống trà. Lần đầu tiên ông ta được hân hạnh uống trà do cô Huôi rót ra, trao tận tay. Theo lời cô Huôi thì đây là chén trà thưởng tài năng và công lao, sau buổi lễ.

Nhưng ông ta cứ trầm ngâm. Chiều hôm qua cô Huôi đến nhà ông Mười Hấu để lo chuyện riêng, Tư Thiện lên trên núi để ngắm về phía Tây.

Vài người tiều phu đến chào ông rồi cho biết thêm:

– Phía biển, có mấy chiếc tàu đen ngòm, chạy tới lui phun khói.

Ông cau mày, giả vờ như chưa tin:

– Hay là…cá Ông, ông Nam Hải đại tướng quân hiện ra để cứu ghe khi sóng gió.

Họ đồng thanh trả lời:

– Làm sao tụi tôi lầm lẫn được!

Như vậy có nghĩa là người Lang Sa sớm muộn gì cũng tới vùng Hòn Chông nầy. Một trận chiến sẽ diễn ra. Cậu Cẩu sẽ chống cự tuyệt vọng vì quá khờ khạo như con ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung. Hồi ra đi, Tư Thiện đã hay tin rằng chợ Hà Tiên đã mất. Đó là phố thị cuối cùng lọt vào tay quân Lang Sa.

– Sao ông hơi buồn?

Câu hỏi của cô Huôi khiến Tư Thiện trở lại thực tế.

– Thưa, có chuyện gì?

– Nói trước thì ông hốt hoảng vô ích. Cậu Cẩu làm mà chẳng bao giờ nghĩ đến dư luận. Mấy chục đứa hộ vệ đâu phải là lực lượng mạnh.

– Tôi bình tĩnh lắm. Xin cô nói ra để tôi chia sớt phần nào…

– Chuyện riêng. Lát nữa ông thấy rõ. Uống thêm chén nước nữa đi.

Tư Thiện hơi thất vọng? Mối tình của ông ta chưa đến đỗi tuyệt vọng, nhưng ai dám đặt hy vọng vào một tương lai xa xăm, trong tình thế biến chuyển đột ngột.

Đứa nữ tỳ chạy vào, mặt mày hơ hải:

– Thưa cô…

Cô Huôi nghiêm mặt:

– Cái gì?

– Trời ơi! Họ làm lớn chuyện lắm. Năm bảy chục người ngồi sẵn dưới bến. Có một cái lồng bằng cây, như cái cũi nhốt heo.

– Còn gì nữa?

– Dạ, để con ra ngoài coi thử.

Tư Thiện không biết chuyện đầu độc nên hé miệng hỏi:

– Thưa cô…

Cô Huôi đáp:

– Ông cứ ngồi nhà, nếu rảnh thì đến trước sân mà xem cho hiểu thêm sự đời. Tôi bực bội lắm rồi. Thà về núi Đất mà vô chùa.

Đứa nữ tỳ lại trở vô nhà. Lập tức cô Huôi xỏ chân vào dép. Tên hộ vệ đến, nói khá to:

– Thưa bà, ông Mười dạy tôi đến trình với bà rằng lát nữa cậu Ba xử tử Xí Vĩnh trước bến.

Trong lúc cô Huôi muốn hỏi thêm vài chi tiết, bỗng đâu có tiếng trống nổi lên inh ỏi. Trống đánh ba hồi dài để chấm dứt bằng ba tiếng rời rạc, khô khan.

Cô ra lệnh cho tên hộ vệ:

– Ta đến bây giờ.

Dân chúng tụ họp khá đông ở bên kia rạch. Nắng lên cao, dưới rạch không một bóng người. Vài giề lục bình trôi nhanh về phía vàm biển, báo hiệu cơn nước ròng. Trước nhà cậu Cẩu, bọn hộ vệ đứng chỉnh tề, bao vây căn nhà mát. Đó là kiểu nhà thủy tạ cất gie ra ngoài sông hình lục giác. Khi ông Chúa Hòn còn sống, thỉnh thỏang ông và bọn hộ vệ xuống đó để câu cá, uống rượu.

– Cái gì vậy?

Nghe cô Huôi hỏi, tên hộ vệ hơi ấp úng. Mặc dầu câu hỏi quá mơ hồ, nhưng anh ta biết rằng cô muốn nói đến cái cũi thật to mà suốt đêm qua cậu Cẩu vẽ kiểu và kiểm soát thực hiện. Đó là cái lồng to cao vừa đầu người để nhốt Xí Vĩnh.

Cái lồng ấy được treo tòn ten trên cây trụ cắm nghiêng ra ngoài sông.

Tên hộ vệ thưa:

– Dạ, đó là để xử tử. Để…nhận nước cho Xí Vĩnh chết ngộp.

Cô Huôi thở dài, nghĩ đến Bá Vạn. Đúng là Bá Vạn đã làm bài toán sai lầm khi dựng cậu Cẩu lên làm ông vua con. Nếu cậu Hai Điền còn sống, làm sao xảy ra thảm cảnh nầy. Bá Vạn chết rồi, hơi đâu mà phiền trách.

Đáng lý ra, trong dịp nầy cô Huôi nên huy động dân chúng và bọn hộ vệ đến nhà cậu Cẩu để đốt phá. Nhưng bọn hộ vệ còn sợ oai cậu ta. Việc làm táo bạo như vậy khó bề thành công. Tốt hơn là nên nhẫn nhịn chờ dịp khác, không xa lắm.

Cô Huôi được mời ngồi ghế. Cô trả lời:

– Sao để ta ở gần mé sông? Ghê gớm lắm. Xí Vĩnh đâu có tội tình gì với ta? Ta đâu có lên án xử tử nó bằng cách nầy!

Mười Hấu hơi sượng sùng. Mục đích ông ta vẫn là áp đảo tinh thần cô Huôi. Dường như cô Huôi đã lo âu. Ông ta đã thành công một phần rồi.

Ông Mười Hấu nói:

– Xin lỗi cô.

Cô Huôi đáp:

– Để tôi ngồi phía sau, cậu Ba ngồi phía trước.

Cậu Cẩu bỗng dưng cười khan:

– Để tôi …trả thù ông Bá Vạn. Tôi nói nhiều lần rồi. Hễ làm chức lớn, mình phải được quyền giết vài người chớ. Giết được nó, tôi mới sung sướng.

Chiếc cũi cứ treo lủng lẳng, bốn phía bện bằng tre, với dây mây chằng chịt. Bên trong chưa có mặt Xí Vĩnh.

Cậu Cẩu nói lớn tiếng:

– Nó muốn giết tôi thì tôi giết nó! Đánh trống lên. Dẫn nó ra đây.

Cậu ngồi xuống, mặt day qua như dò xét phản ứng của cô Huôi.

Nãy giờ, cô chưa biết nên xử trí thế nào. Để Xí Vĩnh chết như vầy, cô đau xót và tủi hổ vô cùng, vì chưa tận dụng quyền lực để cứu nó.

Đột nhiên, một tên hộ vệ la lên:

– Có người tới! Người đó…

Ông Mười Hấu giật mình, ngỡ rằng cô Huôi đang xúi giục dân chúng nổi loạn:

– Ai? Người nào?

Cậu Cẩu quát to:

– Tụi bây đứng án bóng, dạt ra hai bên cho tao. Tao muốn biết ai tới đây? À!

Khi bọn hộ vệ bước qua một bên, cô Huôi nhận ra bóng dáng người đang đi tới. Đúng ông đạo Đất, không lầm lẫn gì cả. Ông chống gậy, mặc quần áo màu da, bước chân nhanh nhẩu. Từ xa, ông đưa cây gậy lên trời như làm dấu hiệu:

– Có tôi đây! Nên chờ tôi!

Trong phút giây, cô Huôi hối hận vô cùng. Sau hôm gặp Mười Hấu, cô biết rằng Xí Vĩnh phải bị xử tử nhưng chưa rõ ngày giờ và cách thức xử phạt. Cô đã nghĩ đến ông đạo Đất, muốn mời ông đến để an ủi Xí Vĩnh, luôn dịp cô hỏi ông đạo vài điều tương lai. Nhưng cô đã quên lửng.

Dầu sao đi nữa, sự có mặt đúng lúc nầy của ông đạo cũng là điều may mắn. Ít ra, Xí Vĩnh cũng được an cư trước khi thọ hình, sống thêm giây lát. Cậu Cẩu hỏi:

– Thưa dì…

Cô Huôi nói:

– Ông đạo Đất là người tu hành đáng kính mến. Xưa kia, nhờ ông mà cậu được ngày nay.

Ông đạo Đất tiến đến gần. Mười Hấu đoán chừng cô Huôi muốn nhờ oai quyền ông đạo để xin ân xá cho Xí Vĩnh.

Theo ý ông Mười thì hôm nay cậu Cẩu bày ra hình thức xử phạt quá độc ác dã man, nhốt Xí Vĩnh trong chiếc cũi rồi nhận xuống nước cho nó chết ngộp. Nhưng việc xử tử rất đúng, để hăm dọa gián tiếp cô Huôi, đồng thời để làm gương cho kẻ khác, nhất là bọn hộ vệ sẽ sớm đầu tối đánh.

Ông Mười Hấu hơi lúng túng:

– Chuyện gì đây, thưa cô?

– Thì ông đạo đến đây chứng kiến việc làm của cậu Ba.

Ông hỏi nhanh:

– Thưa cô, tại sao ông đến đúng giờ…bọn hộ vệ như bàn tán! Cô nghĩ thế nào?

Cô Huôi nói gắt, như tạt một gáo nước vào đầu Mười Hấu và cậu Cẩu:

– Tôi còn đây thì bọn hộ vệ còn tuân lời tôi. Hay là ông còn nghi ngờ bọn nó dính líu tới ông đạo Đất? Không đâu. Trăm việc đều do tôi. Khi ông Chúa Hòn và cậu Hai Điền chết bất ngờ, sau chuyến săn heo rừng, đáng lý ra, bọn nó đã nổi loạn, không phục tòng người mới. Nhưng có tôi. Tôi là người cũ. Tôi nói, thừa lịnh ông Chúa ngày xưa. Nãy giờ ông sợ hả?

Ông Mười cúi mặt, trong khi cậu Cẩu hơi bối rối. Theo lệnh cô Huôi, một tên hộ vệ đem ghế tới, mời ông đạo Đất.

Ông đạo mỉm cười, không nói gì hết, mặc dầu Mười Hấu nói vài câu xã giao.

Uống chén nước, ông đạo Đất lấy khăn lau mặt. Dường như ông muốn hỏi ý kiến cô Huôi bằng giọng nhỏ nhẹ:

– Hồi đêm rồi, tôi nằm chiêm bao, thấy một vì sao rụng ngay phía nầy. Hừng đông, thì thức dậy sớm, tôi tới đây.

Trong lúc ấy, cậu Cẩu và ông Mười Hấu đều nghiêng tai để nghe ngóng. Họ hiểu rằng xưa kia ông đạo nầy được cô Huôi kính trọng và chính ông đã tiên đoán ngày vinh quang của họ.

Cô Huôi nói rõ rệt:

– Ông đến đây là điều may cho Xí Vĩnh. Nó chết sau khi nghe ông dạy về việc sống chết trên cõi đời nầy.

Rồi cô nhìn thẳng vào cậu Cẩu:

– Ta không xin tha tội cho Xí Vĩnh đâu. Cậu cứ làm điều gì cậu thích. Nhưng cậu phải để cho ông đạo nói riêng vài lời với Xí Vĩnh.

Cậu Cẩu hơi lưỡng lự. Bao nhiêu thói xấu, hung bạo dường như tạm lắng xuống. Hôm qua, khi tuyên án Xí Vĩnh, cậu sung sướng như người lần đầu tiên cầm cây dao bén trong tay, gặp đâu cứ chém đó cho sung sướng. Người xung quanh kính nể và sợ cậu.

Hôm nay bầu không khí hơi khác.

Ngồi chờ quá lâu, dường như dân chúng bắt đầu chán nản. Bọn hộ vệ cứ nhìn nhau, vài đứa bàn tán chuyện riêng. Người lớn tuổi như Mười Hấu đâu khờ dại gì mà không hiểu tâm lý dân chúng. Nồi nước để trên bếp lò, nếu muốn nấu thì cứ chụm củi cho thật nhanh, chụm không dừng tay. Nếu do dự thì nồi nước trở nên nguội lạnh. Cậu Cẩu nói với cô Huôi:

– Dì tính sao?

– Tôi không muốn xen vô việc làm của cậu. Cứ hành động.

Ông đạo Đất nói:

– Tôi nghe dân chúng đồn đại về buổi lễ, tôi biết thế nào cô Xí Vĩnh cũng chết. Tôi tới đây, nếu cậu không thích thì tôi về.

Ông Mười Hấu nghĩ thầm: nên cứu vãn tình thế, cho ông đạo Đất an ủi Xí Vĩnh vài lời rồi hãy giết. Dân chúng và bọn hộ vệ sẽ cho rằng cậu Cẩu không quá ác độc.

Trong khi ấy, cô Huôi đè nén bao nhiêu tình cảm. Xí Vĩnh chết, cô ân hận suốt đời. Nhưng nó chết có lợi cho đại cuộc hơn. Dân chúng sẽ gớm ghiếc cậu Cẩu. Cậu ta có thể nổi cơn điên, làm nhiều điều xằng bậy, thất nhân tâm.

Đến lúc thuận tiện, cô ra tay nhanh chóng. Nếu cô xin tội cho Xí Vĩnh lúc nầy thì ông Mười Hấu và cậu Cẩu sẽ ngạo mạn, lấn hiếp và thanh trừng cô.

Cô Huôi nói gắt gỏng:

– Cậu Ba cho ông đạo an ủi Xí Vĩnh hay không? Đây là chuyện của cậu, ta không muốn can dự vào. Ta mệt rồi.

– Dạ, ông đạo cứ…tụng kinh.

Ông đạo trợn mắt:

– Đạo của ta không cần kinh kệ.

E rằng ông đạo sẽ nói nhiều chuyện kín với Xí Vĩnh, Mười Hấu truyền lịnh:

– Vậy thì đem con Xí Vĩnh tới đây, gần bên ông đạo.

Bọn hộ vệ vâng lời, hai đứa đến phía nhà sau.

Đứa hộ vệ giữ cái trống lên tiếng:

– Thưa cậu…đánh trống hay không?

Cậu Cẩu nổi cơn bực dọc:

– Kêu tao bằng cậu hả? Dẹp cái trống qua một bên.

Xí Vĩnh bước chậm rãi, ông Mười Hấu muốn tỏ vẻ khoan hồng rộng lượng nên ra lịnh cho bọn hộ vệ không trói tay.

Cô Huôi ngồi yên khi nghe cậu Cẩu hỏi:

– Dì tính sao?

Cô đáp:

– Cậu đã quyết định rồi, cứ thi hành.

Ông Mười Hấu hỏi:

– Rồi ông đạo ngồi ở đâu mà nói chuyện?

Cô đáp:

– Đó là chuyện riêng của ông ấy và người sắp chết. Tốt hơn là ta đừng dính líu vào. Nếu muốn nghe ổng giảng dạy, ông cứ lại gần. Tôi thì không.

Ông Mười Hấu cho trải chiếc chiếu, mời ông đạo Đất ngồi. Nhưng ông nầy lại từ chối, nhường chỗ sạch sẽ ấy cho Xí Vĩnh:

– Cô ngồi giây lát. Tôi ngồi trên đất dơ dáy cũng được. Vì tất cả mọi người, từ vua chúa đến dân gian đều lần lượt nằm trong lòng đất.

Câu nói vừa nghiêm trang vừa khôi hài ấy khiến bọn hộ vệ trố mắt nhìn nhau. Ông đạo Đất nói tiếp:

– Tôi lại đây đâu phải để nói chuyện với mấy chú! Ai mời mấy chú nghe.

Ông Mười Hấu ngồi sau lưng ông đạo với dụng ý nghe ngóng từng lời nói, đề phòng trường hợp ông đạo xúi giục bọn hộ vệ nổi loạn. Ông đạo như hiểu ý, day lại:

– Thưa ông, ông còn sống nhiều ngày, nghe làm gì? Tôi là bạn của ông mà! Ngày trước, tôi tiên đoán cô Huôi sẽ làm chức lớn. Và nhờ vậy mà ông và cậu Ba mới được quyền xử tử người khác, như hôm nay.

Ông Mười Hấu hơi bẽn lẽn:

– Xin lỗi ông…

Khi Mười Hấu đến ngồi bên cạnh cậu Cẩu, ông đạo Đất mới ngỏ lời:

– Cô Xí Vĩnh, chắc cô vui lòng mà chết.

Xí Vĩnh đáp:

– Tội tôi làm, tôi chịu. Nhưng thưa ông, chết là làm sao? Sau khi chết, người như tôi đi về đâu? Cực khổ hay là sung sướng? Đêm rồi, tôi sợ quá, nhưng sáng nay, tôi không còn biết lo sợ gì nữa. Bất quá tôi đau đớn thể xác trong giây lát. Hôm nay, gặp ông tôi quá mừng. Nghe đồn rằng ông biết tất cả mọi việc trong cõi nầy và sau khi chết.

Ông đạo Đất gật đầu:

– Người biết suy nghĩ như cô thì không còn phân biệt cái chết cái sống. Vì người chết sớm muộn gì cũng sống lại và người còn sống là người đang chết.

Xí Vĩnh rưng rưng nước mắt:

– Dầu sao đi nữa, sống mà chịu cực vẫn sướng hơn chết. Tôi chưa trả xong mối thù. Thù oán là chuyện vô ích, nhưng nếu để cậu Cẩu sống vài chục năm nữa thì bao nhiêu người phải chết oan ức. Ai mà tôn thờ được một người điên khùng như vậy. Tôi liều lĩnh nghĩ rằng mình nên trừ hậu họa cho dân chúng và bao nhiêu nữ tỳ khác. Bây giờ tôi hỏi ông: Nếu chết, tôi đi về đâu? Có thiên đường, địa ngục không?

– Câu hỏi đó, tôi nghe quá nhiều lần rồi. Bây giờ cô cứ nghĩ như vầy. Nếu có địa ngục, cô xuống đó chắc còn gặp nhiều người quen thân. Dưới địa ngục, từ mấy ngàn năm rồi, số tội nhân đông đảo gấp ngàn lần người trần thế. Trong đó, nhiều người là bà con với cô, họ chết từ trước. Nếu có thiên đường, cô lên trên ấy thì còn gì vui cho bằng.

Xí Vĩnh hỏi:

– Nếu như không có thiên đường địa ngục thì tôi đi về đâu?

Ông đạo Đất cười:

– Thì cô không đi về đâu hết. Tâm hồn cô thảnh thơi, không mừng vui, cũng không sợ sệt. Cô xem cái chết như trò chơi vậy thôi…

– Ông nói có lý.

Từ nãy giờ, ông Mười Hấu chờ đợi cho thời khắc trôi nhanh để giải quyết dứt khoát. Ông day qua cô Huôi:

– Cô tính sao?

Cô Huôi lắc đầu:

– Chuyện nầy do ông với cậu Ba bày ra thì hai người nên hỏi với nhau rồi sau này gánh lấy hậu quả.

Nói xong cô đứng dậy ra về.

Lúc bối rối, cậu Cẩu nổi cơn điên, nắm tay đấm mạnh xuống ghế:

– Xong chưa! Đánh lên một hồi trống. Dẫn nó vô trong cái cũi. Chẳng lẽ ta bày ra cái cũi mà không xài tới.

Khi bọn hộ vệ đến gần, Xí Vĩnh hỏi, giọng run run:

– Thưa ông, tôi đủ sức để chịu đựng cái chết này không?

Ông đạo Đất gật đầu:

– Dư sức chịu. Cô nên can đảm. Rồi đây tất cả mọi người có mặt hôm nay đều lần lượt gặp cô trong cõi chết. Cô đâu chết một mình. Nhiều ông vua giàu sang đã chết trước cô rồi!

Xí Vĩnh bước nhanh, hai tay bị trói ra sau lưng. Khi đến gần cậu Cẩu, Xí Vĩnh la rống lên:

– Cậu giết tôi cậu nhớ đó!

Cậu Cẩu xám mặt lại:

– Sao? Xí Vĩnh muốn sống thì cứ quỳ lạy, ta tha cho.

Xí Vĩnh đáp:

– Cậu là người sắp chết, đâu có quyền lực gì để tha tội cho một người như tôi. Tôi không cần.

– À! Cho nó chết.

Xí Vĩnh phun nước bọt vào mặt cậu Cẩu:

– Cậu là người đáng khinh. Vì khinh rẻ cậu nên tôi chết cho cậu thấy. Thế gian nầy có ai sợ cậu đâu? Cả xứ này nổi lên giết cậu.

Cậu Cẩu đứng dậy:

– Nhốt nó trong cũi. Đóng cửa cũi lại rồi thòng xuống nước, từ từ.

Cậu Cẩu trở mình, đập tay xuống giường.

Ông Mười Hấu ngồi bên cạnh, thỉnh thỏang lấy cái khăn nhúng vào dấm, đắp lên trán đứa cháu ngoại.

Nhưng dường như cơn bịnh không thuyên giảm chút nào cả. Hồi chiều cậu không ăn cơm, cứ ném dĩa vào đầu bọn nữ tỳ. Ông Mười Hấu năn nỉ mãi cậu mới chịu uống chút nước nóng rồi nằm xuống.

Ngỡ rằng cậu đã ngủ yên, ông Mười đặt lưng, dỗ giấc ngủ. Đột nhiên, ông Mười thức dậy, nhào tới để cản ngăn. Thế rồi cậu Cẩu bứt tất cả nút áo ngồi dậy sẵn.

Ông Mười lên tiếng:

– Cháu uống rượu không? Cậu chụp cái tô, đưa lên miệng. Ông Mười nói:

– Không được! Đó là dấm, chua lắm, để ông kiếm nước nóng.

– Cứ uống cho mát.

Vừa nói, cậu vừa nâng cái tô, uống ngon lành. Ông Mười giựt ra. Cậu trợn mắt, nắm vành cái tô ném mạnh vào vách:

– Muốn chết thì lại gần tôi! Còn ông nầy! Ra ngoài! Tôi giết bây giờ, ông là ai?

Trong lúc ông Mười bối rối, cậu Cẩu nghiêng mình đỡ cái ghế cẩm thạch lên vai. Lạ thật, cái ghế quá nặng, ấy thế mà đêm nay cậu đủ sức làm lay chuyển. Dẫu biết rằng lời can gián không còn hiệu quả nữa, ông Mười vẫn thét:

– Cháu ơi! Để ông khiêng cho!

Cậu Cẩu đứng thẳng người:

– Đâu cần tới ông…

– Nhưng cháu coi chừng, rủi cái ghế rớt xuống, dập tay dập chân thì sao? Để xuống nền gạch đi. Cháu muốn gì thì ông gọi bọn hộ vệ vô tiếp…

Cậu Cẩu nghiêng mình, buông tay. Cái ghế rớt xuống khiến nền đất rung rinh. Thân ghế tiện bằng cây trai, nặng như đá, trên ghế lại còn miếng cẩm thạch Vân Nam khá dày.

– Làm sao bây giờ?

Lúc bối rối, ông Mười Hấu định dùng võ lực để đè đứa cháu xuống. Lần này, ông lại thua mưu trí cậu Cẩu. Cậu nhảy tới chụp thếp đèn dầu, ném vào vách. Gian phòng tối om như mực.

Tiếng cậu quát to:

– Tao giết mày. Mười Hấu ơi!

Nhanh như chớp, ông Mười chạy ra ngoài, vói tay lại đóng cánh cửa. Đến phòng bên cạnh, ông thấy đứa con gái đang ngồi, hơ hải. Ông gọi:

– Ngó ơi! Thằng con của mầy tệ quá rồi.

Cô Ngó hỏi:

– Sao vậy? Nãy giờ con muốn qua thăm nhưng con sợ…

Ông Mười Hấu đáp:

– Nó nổi cơn điên.

Vì quá thương con, cô Ngó nói để cho riêng cô nghe:

– Thì hồi nào đến giờ, nó nổi cơn từng chập.

– Nhưng con ơi! Lần này thì khác. Con nên giữ kín, đừng cho người ngoài biết. Hồi đầu hôm, nó ra lịnh đuổi tất cả bọn hộ vệ ra ngoài thật xa. Nó sợ bị ám sát. Bây giờ nó nhịn cơm, cứ uống giấm thay nước, rồi nó ném cái ghế cẩm thạch.

– Ba kêu thầy thuốc tới chưa?

Ông Mười lắc đầu:

– Nó giết luôn ông thầy thuốc. Rước thầy bùa thì họa chăng? Khổ lắm. Nếu thiên hạ đồn đãi rằng nó mang bịnh ngặt thì còn ai tin cậy nó nữa.

Trong phòng, cậu Cẩu gào lên:

– Má ơi! Lại đây con biểu.

Lối ăn nói vô lễ ấy khiến cô Ngó cười ra nước mắt. Con cái trong nhà, biết làm sao bây giờ. Dầu gì đi nữa, cô cũng mừng thầm vì cậu Cẩu vẫn còn sống và khoẻ mạnh.

Ông Mười tìm cái thếp đèn, đốt lên rồi trao cho con gái:

– Con qua thăm nó. Bên đó, đèn tắt rồi.

Khi chưa đến ngưỡng cửa, cô Ngó đứng lại vì có tiếng khóc nức nở:

– Khổ tôi quá. Tôi chết rồi.

Cô Ngó kêu cứu với cha:

– Ba đi theo con.

– Phải đó. Nhưng con nên cẩn thận. Nó đang lên cơn điên. Đừng vội vã, nó giận thêm vô ích.

Ánh đèn chiếu sáng gian phòng. Khi bước vào, cô Ngó sửng sốt vì không thấy hình bóng cậu Cẩu ở đâu cả.

Cái ghế nằm ngổn ngang choán góc phòng. Miểng tô, miểng chén chớp lên, đầy nền gạch. Cô gọi to:

– Con ơi!

Đến gần giường, cô mở mí mùng lên. Ngoài cái gối và cái mền thì chẳng còn gì khác. Cô day lại gọi ông Mười Hấu:

– Ba ơi! Nó đâu rồi?

Ông Mười chạy vào, quan sát kỹ lưỡng. Phòng kín không có cửa sổ thì cậu thoát ra bằng nẻo nào được! Ông ngẩng đầu, trông lên mái ngói:

– Lạ thiệt!

Trong lúc đó, cô Ngó quỳ trên nền, khom lưng trông vào gầm giường. Đúng là cậu Cẩu. Cậu đang nằm khoanh, đầu gục xuống ngực, hai tay che mặt, hai chân co rút.

Cô gọi:

– Con ơi! Má đây nè.

Cậu Cẩu nói:

– Má cứu con. Con té xuống nước.

Bấy giờ cô Ngó mới đoán ra lý do cậu Cẩu phát điên. Đó là hình ảnh Xí Vĩnh. Hồi sáng, Xí Vĩnh bị nhốt trong cũi thòng xuống nước cho chết ngộp.

Lúc nóng nảy và hăng hái, cậu Cẩu chưa thấy hậu quả tai hại. Về nhà, khi nằm lên giường, cậu mới nhớ đến Xí Vĩnh. Chăn gối còn đó, làm sao cậu quên được.

Cô Ngó chui vào, vỗ nhẹ lên đầu con:

– Má đây nè! Con ra ngoài chơi. Có gì mà sợ sệt! Đói bụng không? Má nấu cơm cho con ăn.

Cậu Cẩu ngoan ngoãn bò ra ngoài rồi ngồi lên giường. Cậu lại la lên:

– Nó đó! Nó nằm dưới nước, mình mẩy lạnh ngắt. Nó thò hai tay bóp cổ tôi…

Cô Ngó đáp:

– Con đừng sợ. Con Xí Vĩnh chết, bị chôn rồi.

Cậu Cẩu cau mày:

– Chôn cách nào? Phải làm một cái quan tài bằng đá, tệ lắm là bằng cây trai, để xung huyệt rồi dằn lên mấy lớp đá. Còn cái cũi nhốt nó, đâu rồi?

Vì sơ ý, cô Ngó trả lời vu vơ:

– Chắc là bỏ đâu đó! Con hỏi làm chi vậy?

Cậu Cẩu đập đầu xuống giường, gào khóc thảm thiết:

– Hèn gì tôi thấy con Xí Vĩnh trồi hụp, tay nó xé mấy cái cây chấn song, móng tay nó sứt ra hết, máu chảy có vòi, mặt nước thì sôi ùng ục. Một chân nó đạp xuống, dính vào kẽ hở rút lên không được. Da thịt nó lạnh ngắt, hồi nãy nó chạy vô đây….

– Con ơi!

Cô Ngó kêu gọi tuyệt vọng nhưng chưa dám lại gần. Chưa chi cậu đã hăm he:

– Lại gần đây tao liệng cái thếp đèn, phun máu đầu nghe chưa?

Cô chạy ra, đóng cửa phòng lại.

Một tiếng “bốp” vang lên. Thếp đèn đổ vỡ, tim đèn bốc cháy thành ngọn khá cao trên nền gạch. Thấy ánh lửa, ông Mười Hấu la hoảng, lấy cái mền ở bên ông, chạy vào chụp thật nhanh.

Ngọn lửa tắt hẳn.

Dưới gầm giường, cậu Cẩu rên hừ hừ:

– Nó nhốt tôi trong cái cũi. Nó nhận nước, tôi thở không ra hơi.

Đã đến lúc ông Mười Hấu đưa ra quyết định, nhưng ông chưa đủ tự tin. Ông bàn với cô Ngó:

– Con nghĩ sao? Ba mời cô Huôi tới.

– Chi vậy?

– Họa chăng cô Huôi mới đủ tài trí dàn xếp chuyện nầy.

Cô Ngó vốn ganh tị nên phản đối ngay:

– Làm vậy, cô Huôi thấy mình là quan trọng.

– Con ơi! Lúc nầy địa vị mình ở đây yếu ớt lắm. Nếu biết thằng Cẩu mắc bịnh điên nặng, không tài nào chạy chữa thì bọn hộ vệ sẽ đứng về phía sau cô Huôi. Ai còn tin cậy cha con mình!

– Nhưng mình nên giấu kín.

– Khó lắm. Sớm muộn gì bọn hộ vệ và dân chúng Hòn Chông cũng biết. Họ ghét, có một thì đồn đãi tới mười. Chi bằng cha chịu mất mặt, đến gặp cô Huôi, nhờ cô bày mưu kế.

– Liệu cô giúp đỡ không? Con biết chuyện thằng Cẩu giết Xí Vĩnh khiến cô Huôi buồn giận.

– Để ba lo. Con ở nhà coi chừng trong ngoài. Ba đi bây giờ…

Khi ông Mười Hấu ra sân trong phòng vang ra nhiều tiếng khua động ầm ầm. Bọn hộ vệ ngồi dụm năm dụm ba trước sân.

Gà gáy văng vẳng báo hiệu canh tư.

Ông Mười Hấu giựt mình khi bọn hộ vệ trước cổng vụt đứng dậy.

– Cài gì! Tao mà! Tụi này đêm nay sao không ngủ bớt.

Một tên hộ vệ nói:

– Thưa ông, thấy ông thức, tụi tôi ngủ sao được. Đó là phận sự. Nếu có điều gì, ông cứ dạy tụi tôi.

Đột nhiên, ông Mười Hấu nảy ra một sáng kiến; bắt nhốt tất cả bọn hộ vệ. Nhưng làm vậy bất tiện quá, nếu bọn chúng kháng cự thì ông làm sao? Vả lại, muốn làm được chuyện đó ông phải nắm sẵn trong tay ba bốn đứa thân tín.

Bọn hộ vệ nhìn nhau lấm lét. Ông cằn nhằn:

– Ra ngoài. Ai cho tụi bây nghe lén chuyện trong nhà! Ra ngoài thật xa…

Con trai của cụ “Tâm Hồn Cao Thượng”

Giao Chỉ, San Jose

Post by Sơn râu 30 May 2025

Chuyến bay South West từ TX đến San Jose khoảng 1 giờ trưa nay. Từ lối ra tôi chợt thấy cụ Hà Mai Anh xuất hiện. Hơn 70 năm xưa đây là tác giả cuốn Tâm Hồn Cao Thượng. Tôi là cậu bé lớp tiểu học trường Gốc Ngái, Nam Định khi thấy ông hiệu trưởng là sợ mất vía. Nhưng hôm nay tôi là ông già 85 đi đón người con trai của thầy Anh là đại tá thiết giáp Hà Mai Việt. Việt cùng tuổi với tôi nhưng giống bố như đúc. Cùng một chiều cao. Cùng một nét già. Khắc khổ nhưng hiền lành. Chúng tôi học cùng trường. Sau những năm tiểu học, cả hai lên trường Cửa Bắc. Khi toàn quốc kháng chiến tôi tản cư về học tại Nguyễn Khuyến Yên Mô. Rồi sau amh em lại gặp nhau ở Nguyễn Khuyến Nam Định. Di cư vào Nam, tôi vào Đà Lạt đầu năm 1954. Việt vào Thủ Đức cuối năm 54. Trải qua 21 năm chinh chiến, chúng tôi lưu lạc qua Hoa Kỳ. Việt định cư ở TX, Tôi về CA. Trong thời chinh chiến và qua đời lưu vong, anh em có gặp gỡ đôi lần. Hôm nay cùng ở tuổi 85, ra mắt thêm cuốn sách, Hà Mai Việt cứ nhắc đi nhắc lại, đây là lần cuối. Tôi đã có nhiều dịp viết về cuộc đời các chiến hữu. Nói là   lần cuối, tôi xin kể hầu anh em về cuộc đời của anh bạn học, bạn nhà binh, bạn đồng hương lưu vong và cũng là bạn văn chương. Đại tá thiết giáp Hà Mai Việt, tác giả tác phẩm độc đáo nhất về kỵ binh Việt Nam. Bản Việt Ngữ và bản Anh Ngữ, tựa đề Thép và Máu. Ra trường Thủ Đức khóa 5, anh học tiếp khóa thiết giáp số 1 và đậu thủ khoa. Nếu phần số may mắn, sau hơn 20 năm trong binh chủng mà còn sống, đã lên lon đại tá ắt hẳn phải giữ chức chỉ huy trưởng binh chủng thiết giáp. Nhưng vóc dáng tuy cao lớn nghênh ngang, khả năng tham mưu và tác chiến kỵ binh xuất sắc, từ quân trường cho đến chiến trường đều ngon lành, nhưng số mệnh không tới nên anh đã phải gián tiếp ra khỏi binh chủng rồi lang thang từ miền Đông qua đến duyên hải cho đến miền hỏa tuyến. Đời binh nghiệp của Hà Mai Việt quả thực hoàn toàn không giống ai. Gặp nhiều ngang trái hết sức lạ lùng. Xin các bạn bình tĩnh để lần lượt theo dõi câu chuyện.

Trong tuổi trung niên và…

Thấy Hà Mai Việt tưởng cụ Mai Anh. 

Ông thầy tôi, cụ Hà Mai Anh là người hết sức liêm khiết và đạo đức. Ông dịch cuốn Tâm Hồn Cao Thượng trở thành khuôn vàng thước ngọc cho đám hậu sinh. Người con trưởng của ông tuyệt đối suốt đời không đi ra ngoài khuôn phép của thân phụ. Học thiết giáp xuất sắc, Hà Mai Việt được lưu giữ tại trường suốt 6 năm. Từ thiếu úy huấn luyện viên trở thành đại úy trưởng khoa. Đã có lúc trung tá Nguyễn Văn Thiệu muốn đưa lên coi khoa thiết giáp trên Đà Lạt. Nhưng Việt xin ra tác chiến. Đã thành công trong tham mưu và huấn luyện, anh mau chóng thành công trong chức vụ tác chiến. Trận Ấp Bắc là một kỷ niệm đau thương của kỵ binh Việt Nam. Lần đầu tiên phối hợp chiến xa và trực thăng vận nhưng bị thua tại Mỹ Tho. Chi đoàn của Lý Tòng Bá thất bại phải gọi chi đoàn của Hà Mai Việt băng rừng về tiếp cứu. Nhưng không kịp. Địch quân đã kịp thời rút lui. Khi lên đến cấp trung tá Hà Mai Việt chỉ huy thiết đoàn hành quân vào Đồng Tháp đã thắng một trận rất vẻ vang cho Biệt Khu 44. Với 1 tiểu đoàn biệt động quân tùng thiết, Việt cho tấn công nửa đêm về sáng 4 giờ trước lệnh hành quân. Ông tư lệnh bên ta còn ngủ và quân cộng sản bên địch cũng còn ngủ. Chiến đoàn của trung tá Tâm Hồn Cao Thượng tấn công hết sức bất ngờ đánh tan quân địch và lấy được kho vũ khí lớn. Phi đội trực thăng chở súng chiến lợi phẩm về Cần Thơ suốt ngày chưa hết. Tổng thống xuống gắn một sao cho ông tư lệnh biệt khu 44 nhưng mọi người gần như quên công trận chính của kỵ binh. Đây là chiến công của thiết giáp mở đầu mùa Việt Nam Hóa chiến tranh và rửa mặt cho niềm đau Ấp Bắc. Hồ sơ chiến công này được trình lên bộ tổng tham mưu duyệt lại. Trong khi đó trung tá Việt đợi về làm chỉ huy trưởng trường kỵ binh. Nào ngờ định mệnh đã an bài, chức vụ đã giao cho người khác, anh đeo trung tá trở về làm phòng 3. Đến đây định mệnh đã đưa một sĩ quan có nhiều khả năng binh chủng qua một giai đoạn khác. Cụ Hà Mai Anh và người con trưởng của cụ là Hà Mai Việt dù cố sống theo sách Tâm Hồn cao thượng nhưng cũng phải công nhận là con người ta ai cũng có một phần số. Bộ quốc phòng ra lệnh các đơn vị phải cử người đi học lớp quân chánh. Tốt nghiệp sẽ đi làm quận trưởng hay tỉnh trưởng. Ông trung tá một đời thiết giáp đang ngồi chơi sơi nước bèn được hân hạnh đi học lớp làm quan. Hà Mai Việt là sĩ quan kỷ luật, y lệnh bèn khăn gói quả mướp lên đường. Tốt nghiệp quân chánh, ông trung tá cao lớn đội mũ đen về làm quận trưởng thuộc tỉnh Bình Dương. Ông tỉnh trưởng vốn là thiếu tá tân thăng trung tá được tin hoảng hồn không biết lý do. Hay là tay này về để sẽ thay thế mình. Ông chạy đi hỏi khắp nơi không ai biết tin tức. Chỉ được vài tháng phù du chợt có giấy tờ gửi tới. Sau khi xét lại trung tá Hà Mai Việt thăng cấp đại tá vì các chiến công ngày xưa từ biệt khu 44. Ông trung tá tỉnh trưởng lại một phen điên đầu không biết làm sao mà chỉ huy ông quận trưởng duy nhất trên toàn quốc đeo lon đại tá thiết giáp. Nhưng may mắn thay chỉ chờ thêm 2 tuần nữa, phủ thủ tướng có lệnh cho các ông quận phải đi học lớp xây dựng nông thôn tại Vũng Tàu. Đại tá quận trưởng báo cáo lên ông tỉnh trưởng. Ông tỉnh hết sức vui mừng thưa rằng xin đại tá cứ thong thả lên đường. Việc quận để em lo. Đại tá mũ Đen lại ra Vùng Tàu trình diện ông chỉ huy trưởng trung tâm nông thôn. Lính gác cổng báo tin có ông đại tá thiết giáp nón đen đến thăm. Ông Nguyễn Bé hết hồn không biết có chuyện gì bên lật đật mặc quần áo chỉnh tề ra đón tiếp. Hóa ra ông học viên đến trình diễn để học khóa nông thôn. Chưa bao giờ trung tâm lại có ông học trò cao lớn và cao cấp như thế. Ông chỉ huy thưa rằng xin đại tá từ nay là trưởng lớp, không phải nội trú. Ông ở nhà bên ngoài. Ra vào thong thả. Việc huấn luyện xin ngài ghi nhận và cho ý kiến. Rồi ngài đại tá thiết giáp cũng học xong khóa nông thôn. Trong khi đó ông tỉnh trưởng cũ đã thu xếp xong. Quận có người khác. Hà Mai Việt mãn khóa nông thôn được chính tướng Cao hảo Hớn đưa vé máy bay Air Việt Nam đi Quy Nhơn. Gặp đại tá Công Binh Nguyễn Văn Chức tiểu khu trưởng bèn giao cho ông Việt làm tư lên mặt trận Nam Bình Định. Được một thời gian, một hôm ông Chức tập hợp tất các quân nhân công chức của thị xã và tiểu khu hết sức trịnh trọng tiễn đưa ông đại tá thiết giáp nông thôn lên đường trình diện tướng Ngô Quang Trưởng tại miền hỏa tuyến.   Ra gặp ông trung tướng Trưởng, chợt thấy đại tá thiết giáp quen thuộc bên giao ngay cho về làm chỉ huy phó lữ đoàn 1 kỵ binh. Lữ đoàn trưởng cũng là tay bạn thân từ lúc mới ra trường.

Ông Trưởng có ý riêng hay là muốn thử gân Hà Mai Việt cho lệnh lữ đoàn trưởng ở hậu cứ, anh phó chỉ huy các thiết đoàn ngoài tiền tuyến. Việt nhảy ngay vào trận tái chiếm Quảng Trị. Chỉ huy hai thiết đoàn yểm trợ cho mũ đỏ bên quốc lộ. Hai thiết đoàn yểm trợ cho mũ xanh ven biển. Cùng tiến vào Cổ Thành. Sau khi tái chiếm xong thị xã, tướng Trưởng bổ nhiệm đại tá Hà Mai Việt làm tỉnh trưởng Quảng Trị.  

Tân tỉnh trưởng nhận bàn giao chức vụ tai trại ty nạn Đà Nẵng. Nhiệm vụ làm việc với quốc vụ khanh Phan Quang Đán đem 180 ngàn dân về Quảng Trị. Ai còn nhớ bài ca Cờ bay, Quảng Trị hồi sinh, dân về quê cũ, quỳ hôn đất thân yêu, Quảng Trị ơi, Quảng Trị ơi…

Đại tá thiết giáp làm tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng được gần một năm. Tổng thống Thiệu ra thăm 3 lần. Lần thứ ba, Việt lái xe cho tổng thống. Ông Trưởng ngồi phía sau bên cạnh đại tá Chiêm, chánh võ phòng.  Hà Mai Việt thưa rằng việc định cư tạm xong, xin tổng thống cho tôi về lại quân đội. Ông Thiệu nói: Mọi chuyện đang tiến triển tốt, cứ thẳng mà làm. Sao lại thôi. Việt vội thưa ngay. Thưa tổng thống, cứ thẳng mà làm nên tôi làm không được. Tổng thống quay sang ông Trưởng nói để thu xếp cho về. Sau đó Hà Mai Việt được về Sài Gòn học lớp Chỉ Huy và tham mưu cao cấp. Cụ Hà mai Anh rất mừng khi thấy con trai được treo ấn từ quan. Bạn tôi, anh Hà Mai Việt người trai Bắc kỳ vẫn còn kỷ niệm một thời Quảng Trị. Người còn nhớ thời đó tiền bạc nhiều vô kể, toàn tiền mặt phát cho đồng bào ty nạn. Còn phụ nữ Quảng Trị, Đông Hà, Cam Lộ trong trại đẹp vô cùng. Nhắc lại chuyện cũ, anh bạn thở dài. Nào biết vì sao lại thở dài. Luyến tiếc thời hoa niên, tiếc tiền bạc trên sông Thạch Hãn hay nhớ các cô gái Đông Hà. Ngày xưa mà ông léng phéng thì ngày nay người đất Quảng sẽ chẳng còn thương yêu quan đầu tỉnh với tâm hồn cao thượng.

 —   

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393


Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 May 2025

Tập I – (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

6. Châu Kỳ

Châu Kỳ xuất hiện vào khoảng thập niên 50-60, cùng một lúc với các nhạc sĩ ở Huế như Nguyễn Hữu Ba, Văn Giảng, Ung Lang, Ngô Ganh, Ngọc Linh, Lê Quang Nhạc … là những người đã đóng góp công sức làm nên một thời huy hoàng của nền tân nhạc Việt Nam.

Các ca khúc Trở Về, Khúc Ly Ca, Nhạc Sĩ Trong Sương Chiều, Từ Giã Kinh Thành của Châu Kỳ đã được hát rất nhiều trên khắp các đài phát thanh từ Nam ra Bắc khi ấy. Bài Trở Về của Châu Kỳ đã được Minh Đỗ, Thu Hương, Tâm Vấn, Thanh Hằng, Ngọc Bảo, Quách Đàm, Thanh Hiếu trình bầy trên sóng của đài phát thanh Hà Nội. Trong các cuộc thi tuyển lựa tài tử do đài phát thanh Hà Nội tổ chức khi đó, người ta đã được nghe rất nhiều các thí sinh chọn nhạc Châu Kỳ để hát.

Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì trong một cuộc thi, có hai thiếu nữ Trung Hoa, đã hát bài Trở Về của Châu Kỳ bằng hai giọng (duo) và đã đạt thứ hạng cao. Những người sống ở Hà Nội vào các năm trước 54, hẳn vẫn còn nhớ, các sáng chủ nhật có những buổi trình diễn của Ban Quân Nhạc dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Vũ Thành tại Vườn Hoa Chí Linh. Trong các buổi hòa nhạc ấy, người ta được nghe hầu hết các ca khúc của Châu Kỳ do

Quách Đàm, Tiếu Lan, Thanh Hằng, Thanh Hiếu, Kim Nga hát.

Và trong ký ức của nhiều người, tiếng hát Kim Nga còn lanh lảnh vút cao cùng những vạt nắng vàng chiếu trên nhũng tàn cây xanh quanh công viên với bài Khúc Ly Ca của Châu Kỳ:

Uyên ương chia lìa theo gió sương

Ai sầu ai vấn vường

Ai chạnh lòng nhớ thương

Kim Nga là tiếng hát mới nổi tại Hà Nội lúc bấy giờ, sau 54, không còn nghe ai nhắc tới nữa. Nhưng rất nhiều thanh niên, học sinh rời bỏ Hà Nội sau hiệp định Geneve vẫn còn nhớ. Nó dính liền với kỷ niệm, hình ảnh tốt đẹp, người ta thường bị mất trong các cuộc chia lìa.

Nhạc Châu Kỳ giản dị, dễ hát. Lời ca của ông nhiều chất thơ. Về nội dung các ca khúc của Châu Kỳ cũng không khác bao nhiêu với các ca khúc thịnh hành lúc bấy giờ. Người ta thường nói tới ước mơ thanh bình, các chuyến viễn du tưởng tượng, các cuộc tình lỡ dở, quê hương tan nát vì chiến tranh.

Nhạc của chúng ta trong những năm tháng đó tựa hồ một tấm gương, cái buồn như vết nứt đằng sau tấm gương ấy, báo hiệu một thời không may sắp tới, mọi thứ dường như đều dập vỡ.

Và quả thực, lịch sử của chúng ta đã liên tiếp trải qua những ngày đen tối.

Có lẽ không một người Việt Nam nào còn một quê hương nguyên vẹn.

Về đây buồn trông cánh chim bay

Về đây buồn nghe gió heo may

Nơi xưa ôi giờ đây nát tan

Đò vắng không người sang

Thôn xóm trong điêu tàn

Xa xa nghe tiếng chim kêu đàn

Nghe suối reo bên ngàn

Dường như oán như than

Chiến tranh đã xua đuổi người ta ra khỏi quê hương, lang bạt khắp chốn.

Quê hương tượng trưng cho những ràng mối, gốc gác bền vững, không còn nữa. Vì vậy không có gì lạ, khi nhạc của chúng ta một thời, bằng hình thức này hay hình thức khác, đã mang nặng hai điều: chia ly và mong ước trở về.

Mong ước trở về có nghĩa là vẫn còn đang lưu lạc. Vậy thật sự chỉ còn những cuộc chia ly.

Chia ly với người

Chia ly với cảnh.

Chia ly với đất.

Ra đi là hết rồi

Sương mờ chập chùng rơi

Mênh mang ôi lạnh lùng

Hồn xao xuyến

Chia ly một bóng người

Tay buồn cầm khăn lay

Như nhắc ai một tiếng: lên đường

Nhạc của chúng ta khi ấy không phải nhạc ngợi ca các cuộc chia ly dầu sao vẫn có những nét đẹp, theo cái cách lấy đau khổ làm hạnh phúc hay thú đau thương, theo cách nói của Lưu Trọng Lư chẳng hạn, mà gần như người ta không còn điều gì khác để nói.

Từ những kẻ “một mình làm một cuộc chia ly” trong thơ Nguyễn Bính trước đó không bao lâu, chúng ta có nhiều cuộc chia ly khác: Con Thuyền Không Bến (Đặng Thế Phong), Con Thuyền Xa Bến (Lưu Bách Thụ) Biệt Ly (Dzoãn Mẫn) Hòn Vọng Phu (Lê Thương), Chinh Phu Khúc (Lê Xuân Ái) Chinh Phụ Ca (Phạm Duy) … và còn nhiều nữa, không thể kể hết. Ngay cả những bài hát được coi là hạnh phúc nhất khi ấy, cũng mang trong nó ít nhất một câu nào đó chất chứa nỗi lo sợ của chia lìa. Những bài xưng tụng cuộc đời nghệ sĩ giang hồ đây đó, tự nó, cũng đã mang sẵn các cuộc chia ly rồi. Cho đến khi đất nước bị chia cắt năm 1954 người ta mới biết đó là những tín hiệu báo trước một cuộc cắt xé lớn lao hơn. Châu Kỳ còn phổ nhạc hai bài thơ, một của Tchya, bài Luyến Hoa:

Hoa ơi sao hoa buồn

Má hồng hoen ố lệ hồng tuôn

Mờ đôi mắt sáng sầu che kín

Nhạt má đào tơ phấn rũ mòn

Đời tạt gió sương tung tóc rối

Tình phai xuân cảm ủ tim non

Đời tươi trăng sáng đường muôn lối

Tội gì hoa héo hon

Bài thứ hai là bài Tiếng Ru, thơ của Văn Nhân:

Một mảnh trăng vàng qua lá cây

Rọi niềm thương nhớ suốt đêm nay

Biên thùy nơi ấy xa xôi quá

Kinh thành còn vạn đắng nghìn cay

Tiếng ru hờ, tiếng ru hờ

Nghe như âm điệu một bài thơ

Nghe như tiếng khóc người cô phụ

Như trách người sao khéo hững hờ

Cả hai đều là những bài hát hay. Nhưng hình như chưa có ca sĩ nào thu thanh vào băng hay đĩa. Ngoài sáng tác Châu Kỳ có một thời hát cho đài phát thanh Huế và thu thanh giọng hát vào đĩa nhựa thương mại. Nhưng ông không thành công trong địa hạt này.

Sau biến cố 1975, Châu Kỳ ở lại trong nước. Thỉnh thoảng người ta gặp ông, thường là ông say khướt tại một cái quán cóc nào đó.

Và khi say ông hay “chửi bậy”. Ông đã bị bắt đi cải tạo vài lần vì tội ấy. Từ sau 1975, cũng ít ai để ý đến đời sống của người khác, bởi một lẽ giản dị là người ta tha cái đời riêng của mình còn không xong.

Nhạc Sĩ Trong Sương Chiều

Chiều dần rơi chìm dưới sương mờ

Chạnh lòng lữ thứ đầy bao ước mơ

Tay nắn phím rung tơ

Tơ vương niềm thương nhớ

Ngày xa lắng trong mơ

Nhạc chiều theo ngày tháng mong chờ

Gợi lòng buông tiếng vờn trong gió mưa

Đây quán vắng nơi xưa

Chân phiêu linh nương nhờ

Đời trôi đâu bến bờ

Dừng đây ta lần nắn cung đàn

Cho quên bao điêu tàn

Cho quên hận lầm than

Chiều ơi, gieo màn tối xuống rồi

Ta đi mong ngày tới

Vượt thời gian lướt trôi

Nhẹ niềm riêng tìm chốn xa vời

Bạn cùng sông núi tình gieo khắp nơi

Nghe tiếng sáo chơi vơi

Miên man bên phương trời

Thầm như than oán thời

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 30 May 2025

Tập I

(Phần 1 và 2)

Phần 1

Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

Canh Thân

Có một thời Hà Nội được gọi là Đất Tề. Những người Hà Nội chạy giặc, bỏ Hà Nội đi về các vùng quê, các miền xa, gọi chung là hậu phương hay các vùng kháng chiến, rồi bỏ các vùng ấy trở về Hà Nội (hoặc các thành phố khác) gọi là về Tề. Những người về Tề ấy mang theo nhiều dấu vết của hậu phương. Một trong những dấu vết ấy là những ca khúc. Phần lớn các ca khúc người ta được nghe vào các năm từ 47, 48 và ít lâu sau đó, của những Văn Cao, Phạm Duy, Việt Lang, Ngọc Bích, Đỗ Nhuận … đều được mang về từ các hậu phương. Khi được phổ biến tại các vùng Tề, người ta đã sửa đổi lời ca đi đôi chút cho hợp thời như “giặc Pháp” thì gọi là “giặc cướp” chẳng hạn. Một trong số những người rời bỏ kháng chiến về Tề sớm

nhất là ca sĩ Ngọc Toàn. Ông từ hậu phương về và gia nhập vào đoàn cải lương của nữ nghệ sĩ Ái Liên lúc ấy đang hát tại Hà Nội. Ca sĩ Ngọc Toàn đã mang theo mình hai bài hát: Cây Đàn Bỏ Quên của Phạm Duy và Cô Hàng Cà Phê của Canh Thân.

Nhưng không phải Canh Thân chỉ có một bài Cô Hàng Cà Phê. Ông sáng tác khá nhiều. Các ca khúc như: Khúc Ca Mùa Hè, Vỉa Hè, Đi Với Tôi

Tới Chân Trời Xa, Hoa Mai, Túi Đàn … của Canh Thân đều là những ca khúc hay cả. Có người cho rằng nhạc của chúng ta nói chung quá buồn. Các bản nhạc vui có thể đếm trên đầu ngón tay. Chưa ai biết chính xác số lượng tác phẩm của Canh Thân. Nhưng chỉ trong mấy ca khúc nêu trên, đã có tới ba bài vui, từ giai điệu, nhịp điệu tới lời ca, hết thẩy đều chan chứa vẻ trẻ trung, lòng yêu đời và đều có thể xếp vào hàng những ca khúc hay nhất của chúng ta. Nhạc hài của chúng ta càng hiếm hơn nữa. Canh Thân cũng có một bài có thể làm người nghe vừa cười vừa chảy nước mắt đó là bài Vỉa Hè.

Giữa hai màn tuồng, trong khi chờ đợi thay đổi cảnh trí, Ngọc Toàn thường ôm đàn ra sân khấu để hát mấy ca khúc này.

Và Cô Hàng Cà Phê đã được hoan hô nhiệt liệt. Có những tác phẩm nổi tiếng hơn tác giả. Đó cũng là trường hợp Cô Hàng Cà Phê và Canh Thân.

Rất nhiều người khi ấy thích bài hát này, nhưng ít người biết ai là tác giả.

Chỉ mãi khi đài phát thanh Hà Nội cho phát bài hát này với các giọng hát đương thời như Ngọc Bảo, Quách Đàm, Thanh Hiếu … và nhất là do chính Canh Thân (sau đó cũng về Tề hát) tên tác giả mới thực sự được gắn liền với tác phẩm.

Thế nhưng hình như bài hát này cũng đã bị quên mất, vì đã rất lâu rồi không thấy ai hát hay thậm chí nhắc đến nữa. Xin ghi lại (theo trí nhớ, nghe được, ngày còn nhỏ, ở Hà Nội):

Hôm qua tôi trông thấy một con chó nhà kia

Tôi thấy nó ăn mà tôi thèm

Toàn những thứ béo và thật đắt

Và ướp nước đá cho thật tươi

Eo ôi tôi trông miếng thịt ngon quá là ngon

Bò tái thái phay thật mê hồn

Anh bồi còn lấy trứng gà đập vào

Bốn cái trứng xinh đẹp sao

Sữa bò một ống rót vào đầy đầy

Mà chó thì liếm một loáng hết ngay

Thương thay thân tôi đói bụng không có hột cơm

Tôi móc túi không một xu nào

Nhìn chó ngấu nghiến mà rỏ rãi

Rằng nó sướng hơn là tôi nhiều

Rằng chó sướng hơn là tôi nhiều …

Bài hát có cái gì đó quá quắt, gây khó chịu. Nhưng nó đã được viết ra. Như một vết đen len lẫn trong tấm gương. Không phải vì chúng ta thấy đẹp mà hoa nở. Cũng không phải vì chúng ta thấy hay mà chim hót. Nhưng người thì khác. Người cần sự cảm thông. Không có cảm thông thì không có nghệ thuật. Hình như sách tướng số cho rằng tuổi thân là tuổi vất vả. Điều này cũng đúng với Canh Thân chăng?

Nhớ lại những ngày cuối đời. Canh Thân làm việc tại đài phát thanh Quân Đội. Có những buổi trưa, trong bóng mờ của cái phòng vi âm vắng vẻ, lặng lẽ, người ta hướng nhìn thấy Canh Thân trong bộ quân phục xộc xệch ngồi ngủ gục trên thành chiếc đàn dương cầm, bên cạnh là một cái ly người ta không biết đựng rượu hay đựng nước, trong vắt, thường vơi hết một nửa. Có vẻ như ông đã hóa thành một chiếc bóng trước khi biến mất.

Buồn.

Không biết còn có bao nhiêu người muốn góp hoa để tạ ơn ông?

Cô Hàng Cà Phê

Ở chợ Dầu có hàng cà phê

Có một cô hàng be bé xinh xinh

Cô hay cười hồn xuân phơi phới

Cứ xem dáng người độ chừng đôi mươi

Làn thu ba cô liếc nghiêng thành

Mùi hương lan thơm ngát vương bên mình

Làm say mê bao gã thiếu niên đa tình

Mấy anh nho nhỏ thường hay đến ngồi

cười với cô

Lơ thơ tơ liễu buông mành

Cho hay cái sắc khuynh thành

Làm cho bao chàng chết mê mệt

Đi đâu cũng ghé qua hàng

Mong trông thấy bóng cô nàng

Thì trong lòng chàng mới yên

Hôm nao dưới ánh trăng mờ

Tôi mơ ngắm cánh tay ngà

Nhẹ nâng ly trà ướp sen ngạt ngào

Trông cô rón rén ra vào

Đôi môi hé cánh hoa đào

Lòng tôi rạt rào muốn xiêu

II

Một chàng trai dáng người hiên ngang

Đến tự phương nào trong gió đông sang

Khách bên đàng vì cô lưu luyến

Đã ba tháng trường ước dược nên duyên

Chàng yêu cô vô bến vô bờ

Mà sao cô, cô vẫn cứ hững hờ

Buồn cho anh yêu quá hóa như điên rồ

Chiếc thân bơ phờ dường như muốn chờ

một kiếp mai

Vô duyên cái túi không tiền

Anh mua chuốc lấy ưu phiền

Rồi đến một ngày ốm la liệt

Không sao lê bước tới hàng

Anh mong bóng dáng cô nàng

Hiện đến dịu dàng với anh

Thương thay lữ khách bên đàng

Cô mang thuốc đến cho chàng

Ngờ đâu con người trước bao hiên ngang

Lim dim khóe mắt hoe vàng

Anh đi sắp đến Thiên Đàng

Vừa lúc cô nàng biết yêu

Giờ đây đã mấy thu qua

Những lúc mơ về đường xa

Tôi nhớ những đêm trăng tà

Cô hàng với bàn tay ngà

(Cô hàng có còn chăng là?)

Elvis Phương

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 30 May 2025

Người Tù Binh Dũng Liệt
Thơ Thái Tú Hạp

Trên dốc đèo đá dựng
bà mẹ già thăm nuôi
qua trại tù khép vắng
đứa con mẹ về dâu?

Trên cánh rừng thẳm sâu
người vợ hiền qua trại
nắng chiều động bờ lau
ngậm ngùi như chiếc lá

Trên hàng sắn mộ xanh
xác người tù rã mục
mắt em bé long lanh
nuốt hờn căm sôi sục.

Ngồi lại bên dòng sông
đời tan như bọt sóng
trên nhánh cây sầu đông
con chim vừa bay mất!

đường dốc sỏi quạnh hiu
tóc rừng xưa nhuộm bạc
núi mỗi mùa âm u
chỉ còn nghe xào xạc

lá rụng sầu thiên thu
bên mồ hoang hiu hắt
Cõi hư vô về đâu?
người tù binh tự sát

Tôi vẫn nhớ về anh
người tù binh dũng liệt

Trái tim vẫn nguyên trinh
giữa cùm gông đốn nhục
hồn ngọc vẫn tinh anh
giữa đọa đày địa ngục
anh như lá rừng xanh
giữa hồn xuân nhân loại

tôi vẫn nhớ về anh
niềm tự hào dân tộc
như ánh sáng bình minh
rạng ngời trong đêm tối
đêm Việt Nam hờn căm
thét gào trong vực thẳm…

Thái Tú Hạp
(Trại cải tạo Kỳ Sơn 1978)

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 30 may 2025

Những Người Ở Lại

Hồ Đăng Định

Tặng các bạn đã gặp gỡ ở Trảng Lớn Tây Ninh 75.

Trường La San Taberd Saigon 27-7-1975

Chia tay vội vã với người vợ trẻ trước cổng trường, vác ba-lô, chạy vội vào trong, không ngoảnh lại. Thôi thì cũng liều nhắm mắt đưa chân. Bạn bè cũ mới, mừng rỡ gọi nhau ơi ới.

Thiếu úy Nhảy Dù, Trung úy Biệt Động Quân, Đại úy Thiết Giáp, ôi thôi đủ mọi binh chủng. Rồi Cha Tuyên úy Công Giáo, Đại đức Tuyên úy Phật Giáo, Bác sĩ, Kỹ sư biệt phái, mọi người đều khăn gói gió đưa tình nguyện đi ở tù.

Có người mặt mày ủ ê buồn thảm vì viễn tượng ngày mai u ám nhưng cũng có một đôi khuôn mặt rạng rỡ, tràn đầy hy vọng, tin tưởng sẽ được đoàn tụ gia đình sau 10 ngày xa cách ngắn ngủi. Mình mừng gặp được hai thằng bạn Huế ngày xưa: Lâm bác sĩ, Thúy kiến trúc sư. Gom hành trang một góc tường, gối đầu lên chiếc ba lô rách bươm thuở đi hành quân trên Cao Nguyên, nói chuyện thời học trò, thời lính tráng và rồi san sẻ những âu lo về những ngày trước mặt.

Nhìn lên bảng đen, có cái thằng cò mồi mô đó bắt bài hát “Tự nguyện” của một tên sinh viên nằm vùng ở miền Nam:

“Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương.”

Hay thực, đúng thực, thằng chó nào không ưa hòa bình, có thằng nào không muốn chết cho quê hương, nhưng quê hương mô mới được chứ! Quê hương Xã Hội Chủ Nghĩa ư?

Chữ nghĩa các ông không giống với chữ nghĩa chúng tôi. “Dân chủ” của các ông là do Đảng lãnh đạo và “Tự do” của các ông phải có Tổ Chức lo.

12 giờ đêm được lệnh tập họp lên đường, vào rừng U Minh, Hố Bò, Bố Lá hay đi vào cõi U Minh đây? 30 đứa lên một xe GMC, ngồi chồm hổm, bạt phủ kín mít. Bốn ông bộ đội cầm súng AK 47, lựu đạn đeo tòn ten, đứng bốn góc. Chẳng thấy đường xá mô tê chi cả. Tiếng xe thiết giáp ầm ĩ dẫn đầu, đoàn xe dài dằng dặc e cũng vài trăm chiếc, chạy mãi chạy hoài trong đêm. Cả bọn ngủ gà ngủ gật. Tiếng bánh xe lăn trên mặt đường hòa với tiếng ngáy tập thể thành một hợp âm buồn thảm lạ lùng.

Căn cứ Trảng Lớn – Tây Ninh 28-7-1975

Xe ngừng đột ngột, cả bọn dồn cục, thức giấc, thầm thì trời sáng rồi, đây là đâu?

Có lệnh xuống xe, mặt nhìn mặt ngơ ngác. Bỗng có tiếng la lớn: “A! Trảng Lớn, Tây Ninh bây ơi! Căn cứ của đơn vị tau đây mà. Chà, mới có hai tháng mà tan tành như sau một trận động đất.”

Động đất thiệt còn chi nữa, hơn cả động đất mà trời sập lận.

Rồi cũng không biết có lệnh của ai mà mọi người đều túa ra tứ phía, vô các giao thông hào tìm chỗ ở. Người cầm một miếng các-tông, kẻ phủi phủi cái bao ni-lông, anh nọ tâng tiu cái thùng đạn. Cũng có người giành nhau la chí chóe như con nít. Nghĩ cũng tức cười, cũng ông này ông nọ, bỏ nhà cao cửa rộng, xe cộ sang trọng, vợ đẹp con khôn, vào đây giành giựt từng miếng ni-lông, từng miếng gỗ, từng cái thùng đạn rỉ sét. Đúng là óc tư hữu, thói ích kỷ của chúng ta nặng nề quá, càng ở trong hoàn cảnh khó khăn càng bộc lộ dữ đội.

Có tiếng còi tập họp chia đội, chia tổ và chi khu vực. Cứ 10 người là một tổ, 60 người thành một đội và 200 người là một khối. Tổ mình được chia cho một cái lô-cốt gần ụ đạn, ngổn ngang sắt thép và súng đạn đủ loại: súng cối 81 ly, M 79, M 16 v.v.. Dọn dẹp súng đạn qua một bên, kê mấy tấm ván, trải tấm ni lông nằm đỡ hơi đất và rắn rít. Đêm nay lại nằm trên súng đạn và ngủ với giun dế như những ngày hành quân năm xưa. Không ai ngủ được vì lạ chỗ, nhớ nhà nhớ vợ, nhớ con, ngổn ngang trăm mối bên lòng. Thỉnh thoảng có tiếng thở dài và hình như có tiếng khóc.

30-7-1975

Anh đội trưởng lên họp Tiểu đoàn về thông báo kế hoạch “của trên”:

– Tuần thứ nhất: ổn định nơi ăn chốn ở .
– Tuần thứ hai: làm bản tự khai .
– Tuần thứ ba: “lên lớp” học tập chính sách của Cách Mạng..

Có tiếng xì xầm trong hàng và một người hỏi:

– Ủa, CM nói chỉ đi học 10 ngày thôi, nay đã 3 ngày rồi, chỉ còn một tuần nữa mà sao có chương trình những 3 tuần?

Anh đội trưởng cười cười, cái miệng méo xệch:

– Tôi chỉ có nhiệm vụ truyền đạt lại những gì mà anh Trạm, chính trị viên Tiểu đoàn nói buổi giao ban sáng nay mà thôi. Tôi cũng lên thắc mắc đó của anh em thì được trả lời là CM ra lệnh cho anh em “chuẩn bị” 10 ngày và sau đó CM sẽ lo cho anh em sau mười ngày là về đâu. Từ nay chúng ta được gọi là Học Viên. Ngay hôm nay anh em ra phi trường trước mặt, nạy các tấm vỉ sắt lót đường bay về kê mà nằm cho cao ráo, sửa soạn nơi ăn chốn ở vệ sinh sạch sẽ, để chúng ta có điều kiện “học tập tốt, lao động tốt”.

Mặt tên nào tên nấy dài thòng, xìu như cái lốp, nghe như chuyện buồn trăm  năm. Cả bọn lục tục kéo nhau ra phi trường, mình chui vô xác chiếc máy bay rớt ngồi chơi. Một thằng miệng ăn mắm ăn muối hát nghêu ngao mấy câu trong bài “Em tôi” của Lê Trạch Lựu. Mình chỉ nghe được một câu: “Ngày về xa lắm… người ơi”.

Cậu Thạnh, dược sĩ, 26 tuổi, Bắc Kỳ di cư 54, lầu bầu chửi thề: “Có mà về với Chúa. ĐM, ngu như chó cả lũ, ngơ ngáo đưa tay cho chúng nó còng, đưa đầu cho chúng nó chặt, chết cả nút cũng đáng đời.”

Nằm bên Thạnh đêm nay nghe tâm sự đời chàng, cả nhà di tản, vì thương người yêu, những tưởng ở lại để được kết tóc xe tơ, ai ngờ cũng phải chia lìa.

Ngoài sân, hai con chó rượt đuổi nhau rần rật.

 – Ê, Nixon, Johnson lại đây, lại đây!

À thằng chính trị viên Trạm này bần tiện và ghê gớm thật. Nó đặt tên hai con chó là tên hai ông Tổng Thống Mỹ đã ra lệnh dội bom vào đầu chúng. Có lẽ thằng này đã từng suýt chết đâu đó vì B.52 trên rừng Trường Sơn hay ngoài núi rừng Bắc Việt nên thâm thù “Mỹ – Ngụy” ghê lắm. Mấy ngày ni hễ cứ nhắc đến miền Nam là hắn chửi thằng Kỳ, thằng Thiệu, thằng Hương v.v… lạ tai và khó nghe quá, nhưng thôi, ngủ đi, mai kể tiếp kẻo phạm “nội quy qui định của trại” thì khốn.

16-8-1975

Cả bọn cởi trần trùng trục, quần xà lỏn, mồ hôi dầm dề, mải mê đánh vật với cái bản tự khai chết bầm. Khai từ khi cha sanh mẹ đẻ cho đến khi trời sập, mất hết 3, 4 ngày suy nghĩ nát óc, mà khi nộp lến trại cũng bị trả về, bắt buộc phải viết lại vì chưa thành thật khai báo. Cách Mạng biết hết rồi nhưng chính bản thân phải “thấy rõ tội lỗi”, phải “thành thật khai báo” với CM mới được CM cứu xét khoan hồng mà sớm về với vợ con, cha mẹ. Chức vụ chưa đúng, tội lỗi chưa khai hết. Phải khai như gợi ý của CM là đã đốt bao nhiêu cái nhà, giết bao nhiêu đứa trẻ, hiếp dâm bao nhiêu phụ nữ, tra khảo bạo nhiêu cán bộ CM v.v… Cụ thể ngày giờ, địa điểm v.v. ..

Chàng Dân, kiến trúc sư, hiền như bụt, làm ở Khu Quân Sản Tạo Tác, chỉ biết có công việc xây nhà cho lính ở, không một ngày cầm súng tác chiến, đến nỗi mang khẩu súng Colt 45 ứng chiến cấm trại mà chẳng biết cái gắp đạn có mấy viên. Thế mà cứ bị chính trị viên lên, kêu xuống hạch sách đủ điều, khai năm lần bảy lượt, lần nào anh cũng viết là chẳng có tội tình chi với ai cả. Lần thứ 8 chàng ta nổi điên, thành thật khai báo là đã đi hành quân hơn trăm trận, đốt hơn 3,000 ngôi nhà và nhất là vô cùng hối hận vì đã hiếp dâm hàng trăm phụ nữ nhớ không hết; sau khi thỏa mãn thú tính, chàng ta còn xẻo vú xẻo tai ngâm dấm đem về nhậu rượu nữa chứ.

Thế là chàng ta bị tội ngoan cố cùng cực, chống đối CM đến cùng, khi dễ, diễu cợt cán bộ, bị gọi lên Văn Phòng, bị trói vào cọc sắt bỏ đói sau ụ đạn. Anh em bị cấm liên lạc, chỉ biết nhìn nhau ái ngại, nước mắt lưng tròng.

Hai giờ sáng, một tiếng nổ dữ đội, anh em hốt hoảng chạy về ụ đạn mới hay Dân đã khều được một quả lựu đạn, rút chốt an toàn ôm vào lòng để được sớm đi vào cõi bình yên.

Chia nhau đi lượm từng phần thân xác anh, gom lại trong một chiếc poncho, đặt vào chiếc hòm gỗ đóng vội bằng thùng đạn pháo binh. Bốn đứa bốn góc đưa lên vai khiêng anh ra phi trường, vùi nông một nấm cuối đường bay ngày xưa. Ngủ đi anh giấc ngủ bình yên.

Xin gửi cho anh những dòng nước mắt này thay nén hương thành kính tưởng niệm một người bạn tù anh dũng, một chiến hữu can trường.

Còn chúng tôi, biết ra sao ngày mai, sẽ đến phần ai đây?

Trảng Lớn tháng 9-1975

Cuộc sống tù túng, thiếu thốn trăm bề, tương lai mù mịt, thương nhớ gia đình vợ con quay quắt. Con người ta trở nên điên khùng nóng nảy, khắc nghiệt, ích kỷ hơn bình thường. Thế nên, rất dễ bùng nổ dù chỉ là những chuyện cỏn con giữa những người anh em, giữa bạn tù với nhau.

Phần lớn anh em chúng mình đều có học thức, có tư cách, tự chế được, nhưng cũng có một vài anh em tinh thần sa sút hoặc tâm địa không tốt, dễ “chao đảo”, cam tâm làm mật báo viên (trong trại chúng tôi gọi là Antenna) báo cáo hại bạn đồng đội để mong lập công chuộc tội, hy vọng sớm trở về với vợ con.

Một vài người thì không chịu nổi đói thiếu thốn nên sinh tật ăn cắp, ăn trộm từ cá khô, từng cục đường hoặc giành ăn cơm cháy trong khi anh em đi lao động. Thỉnh thoảng xẩy ra những cuộc ẩu đả vì miếng ăn, thực đau lòng không kể xiết.

Thế mà mình cũng dính vào trong một vụ xung đột không phải vì miếng ăn mà chỉ là lời nói. Cậu Như, bác sĩ nhà ta có tật ăn tục nói phét của Bắc Kỳ quốc, mình lại có tật nói móc lò, móc họng của Trung Kỳ quốc. Thế mới ra nông nổi.

Đang nằm mơ mơ màng màng gửi hồn về căn gác nhỏ góc Bàn Cờ – Nguyễn Thiện Thuật, nơi có vợ hiền con dại đang mỏi mắt chờ chồng, chờ cha trở lại thì bị tiếng oang oang của cậu BS Như cắt đứt giấc mộng đẹp:

“Mẹ kiếp, tớ khi chọn vợ đã dựa trên 4 tiêu chuẩn sau đây: thứ nhất là con gái đẹp, trinh trắng; thứ hai phải là con nhà giàu; thứ ba là học giỏi; thứ tư là phải biết đàn piano. Không đủ 4 yếu tố đó tớ đếch thèm lấy.”

Nói xong cậu ta cười hô hố tự đắc, tự mãn.

Nghe đã chói lỗ tai, thấy bộ tịch gai con mắt nên mình mới  buột miệng:

“Ê, cậu không biết chỗ mà tìm vợ đó, chứ 4 điều kiện đưa ra dễ ợt à, cậu tới nhà thờ mà kiếm mấy bà xơ là có ngay. Bà xơ nhiều bà đẹp lắm, trinh trắng hơn tờ giấy trắng, quỹ của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo thì giàu lắm, chắc chắn không nhà giàu nào sánh nổi, mà khi vào lớp 1, lớp 2 là đã học piano rồi và đi tu thì lo học chứ đâu còn nghĩ chuyện chi khác đâu nên bà xơ học giỏi lắm. Ít ra cũng có Tiến sĩ Thần học ngang hàng với Tiến sĩ Y khoa của cậu đó.”

Thế là cậu ta nổi xung lên, tuôn một tràng tiếng Đan Mạch rồi chụp cây dao hùng hổ chạy đến kiếm mình xin tí huyết: “Cái thằng Huế, cái miệng ăn mắm ăn muối độc địa”. May mà có chàng Nông đẹp trai ra tay nghĩa hiệp bênh vực kẻ nhỏ con không thì cũng lãnh đủ vì vạ miệng. Thôi từ nay xin chừa.

Trảng Lớn tháng 10-1975

Rứa là đã gần 100 ngày trôi qua, mòn mỏi đợi chờ. Tin đồn tràn ngập. Người nào cũng lý luận theo cảm quan của mình. Chẳng có ai đúng cả. Một ít đồ ăn mang theo đã hết từ lâu. Mỗi ngày hậu cần phát gạo, thịt hộp Trung Cộng, thịt hộp của QLVNCH, tự nấu lấy mà ăn. Thèm đủ thứ, một hơi thuốc lá, một ngụm cà phê, nhất là thèm ngọt chi lạ.

Tối hôm qua có chú bộ đội tới gạ bán thứ đường kho cá ở nhà, đen thủi đen thui, 1 kí-lô 42 cục. Thèm quá ăn luôn một hơi 1 kí-lô, sáng mai cái miệng sưng vù vì nhiệt…

Không biết bây giờ em ở mô? Sàigòn hay đã về Huế? Con cái ra răng? Tội nghiệp con bé út Móm đã đầy năm, nhớ quá đi mất, nhớ muốn đứt ruột mà cái anh chàng Phong mặt rỗ hoa mè, đẹp trai, hát hay đàn giỏi lại rên rỉ “Xuân này con không về chắc mẹ buồn lắm…”. Tự nhiên nước mắt cứ ứa ra. Bỗng, có tiếng báo động:

– Ê! Stop, please. Xuỵt, xuỵt… xì tốp.

À, ông Trạm, Thượng úy chính trị viên Tiểu đoàn đến. Ông này cái miệng cá ngão, răng hô như cái mái hiên, đội thêm cái nón cối thì giống y chang cái bia Việt Cộng bằng giấy ngoài sân bắn của các quân trường.

– Anh Phong hát bài nhạc vàng gì đấy nhẩy?

– Dạ tôi không nhớ tên chỉ nghêu ngao vài câu cho đỡ buồn.

– Thế các anh buồn lắm à, tại sao lại buồn? Nước nhà Hòa Bình, Độc Lập rồi mấy anh buồn cái gì? À mà này, anh Phong ở trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị giữ chức vụ gì nhẩy?

– Dạ thưa anh, tôi làm phụ khảo ạ.

– À, ghê nhẩy, “phụ tá tra khảo” những người yêu nước! Thế mà trong bản tự khai anh vẫn chưa thấy rõ tội lỗi của mình.

– Dạ thưa anh, không phải ạ. Công việc của tôi là phụ giúp ông giáo sư chính, giảng lại bài cho sinh viên và giải đáp thêm những điều sinh viên chưa hiểu rõ mà thôi.

– Ừ, các anh tưởng CM không biết gì hết hay sao? CM biết rõ tất cả các anh, từng người, từng chân tơ kẽ tóc và còn biết trong đầu các anh đang nghĩ gì, đang định làm gì nữa kia. Anh Phong, lên Tiểu đoàn gặp tôi, nhớ mang theo giấy bút.

Anh em nhìn Phong ái ngại nhưng Phong cười cười tỉnh bơ, khoác vội cái áo trận bạc màu, vừa đi vừa diễu:

“Trạm ơi thương lấy Phong cùng
Tuy khác Chiến Tuyến nhưng chung một Ngành.”

Hồ Đăng Định
(Trích trong Nhật Ký 2,000 Ngày Thử Lửa)

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 30 May 2025

Phần 15.

Về Miền Đất Hứa

Chương 1 – “Người công dân mất quyền”

Tôi được thả về cuối tháng 1/1981, hơn một tuần lễ trước tết Tân Dậu, trong Giấy Ra Trại ghi “Không được cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh sau thời hạn 6 tháng”. Lúc đó vợ con tôi đã có hộ khẩu và ở trên lầu một căn nhà nhỏ trước kia là cái bếp của nhà người dì út. Vợ con tôi được “an cư” là nhờ bản lĩnh của nàng cộng với sự quen biết một ông “30 tháng Tư” làm nghề đạp xe ba gác, trước kia được người dượng của tôi cho miếng đất để cất nhà.

Nguyên vào giữa thập niên 1960, dượng tôi, khi ấy là một Thiếu tá phục vụ tại Tổng Nha Thanh Tra QLVNCH, bán căn nhà lầu ở Hẻm 6 Trương Minh Ký để mua một khu đất khá rộng bên bờ kinh Nhiêu Lộc, cũng thuộc ấp Tây Ba, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, nhưng đi sâu vào phía trong, cách đường rầy xe lửa khoảng 100 mét về hướng bắc (phía nam đường rầy xe lửa là giáo xứ Bùi Phát).

Khu đất này được dân địa phương gọi là “khu ao cá” vì có mấy cái ao nuôi cá khá lớn, một bồn nước (do máy bơm lên) để cung cấp nước cho các nàng ma-ri phông-ten (ngày ấy thủ đô Sài Gòn chưa có nước từ nhà máy Đồng Nai), được dượng tôi khuyếch trương thêm với một cơ sở nuôi gà khá quy mô.

Sau khi người dượng út, một Trung úy xuất thân Khóa 13 Võ Bị Đà Lạt, phục vụ tại Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, đền nợ nước, người dượng lớn cho dì út tôi một miếng đất trong khu đất nói trên để xây nhà, bà ngoại và tôi cùng ở với dì để chăm sóc bốn đứa cháu mồ côi cha. Cũng từ đó, tôi được người dượng lớn trao trách nhiệm về “an ninh” của khu đất, trong đó có việc mỗi tối khóa cổng – một cái cổng lớn khá lớn đủ để xe hơi ra vào.

Tới khi tôi chuẩn bị thi Tú Tài 1, dượng tôi trao mọi việc cho ông S, tức ông “30 tháng Tư” nói trên. Nguyên ông S làm nghề đạp xe ba gác, thường được dượng tôi mướn đổ đất hoặc dọn dẹp, chở gạch đá xà-bần đem đi đổ. Ông S là dân Bắc di cư 1954 nhưng không phải người Công giáo, tuổi độ chừng 40 tuổi, mặt mũi dáng dấp quê mùa thô kệch, nhỏ thó, chỉ cao trên dưới mét rưỡi (có thể vì vậy mà không phải đi quân dịch?)

Vợ chồng ông và mấy đứa con nhỏ sống trong một cái lều tựa vào đầu hồi nhà một người bà con ở một khu lao động nghèo nàn. Thấy ông là người siêng năng, thật thà, dượng tôi cho một miếng đất nhỏ, nằm sát bờ kinh Nhiêu Lộc để dựng một căn nhà mái tôn vách thiếc (thiếc “cao-bồi”), tuy đơn sơ nhưng cũng được gọi là nhà chứ không phải lều.

Ông S và vợ con gọi tôi và các con của hai dì là cô, cậu như một sự tôn trọng giai cấp. Bù lại, dì lớn của tôi cũng thường giúp đỡ vật chất, chẳng hạn quần áo cũ cho mấy đứa con nhỏ, chăn chiếu, bàn ghế cũ, cho bánh kẹo vào các dịp lễ tết… Sau khi tôi nhập ngũ vào cuối năm 1968, khu ao cá có những thay đổi lớn, dần dần trở thành một khu dân cư. Nguyên dượng tôi bị thất bại thê thảm trong việc nuôi gà, sau hai đợt dịch cúm gà đã dẹp bỏ, cho lấp bớt mấy cái ao lấy đất bán cho người ta xây nhà. Thời gian này, người cậu lớn của tôi, một Trung tá ngành Chiến Tranh Chính Trị, được thuyên chuyển về gần Sài Gòn, cũng lấy một miếng để xây một căn nhà lầu rất đẹp, nằm giữa nhà dượng tôi và nhà người dì út. Đồng thời cái nhà bếp khá rộng của dì út được phá bỏ lấy đất xây một căn nhà lầu nho nhỏ, trên lầu thì cho thuê, ở dưới làm nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh, buồng tắm…

Từ đó, cái cổng lớn ra vào khu ao cá bị dẹp bỏ, phía bên trong chia ra hai khu riêng biệt: khu kín cổng cao tường gồm nhà dượng tôi, cậu tôi và dì út đều có hàng rào và cổng vào riêng, khu “xôi đậu” gồm 5, 7 căn nhà trệt sát vách nhau.

Vì thế, ông S cũng không còn đảm trách công việc gác-dan của khu ao cá nữa. Rồi ngày 30 tháng Tư ập đến. Mấy ngày sau, khi gia đình người dượng, người cậu lớn và dì út của tôi đã rời nhà tìm đường ra đi, người ta thấy ông S mang băng đỏ trên cánh tay; không phải mang để lấy điểm với cách mạng, hoặc để được an thân như một số người nhanh trí mà mang vì được cách mạng trao phó trách nhiệm một khu vực trong đó có khu ao cá!

Lần đầu tiên trong suốt bao năm tôi mới thấy ông S mặc một cái áo sơ-mi thay vì cái áo may-ô (áo thun ba lỗ) hoặc cái áo nhà binh màu ô-liu của dượng tôi cho. Có lẽ ông cũng chẳng nghĩ xa xôi tới việc giữ thể diện cho cách mạng mà chỉ để tương xứng với cái băng đỏ ông được mang.

Lúc này vùng đất có khu ao cá – ấp Tây Ba, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định – đã bị đổi thành Phường 13, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Sau mấy ngày được cán bộ cách mạng “quán triệt” ở trụ sở phường, ông S bắt đầu thi hành nhiệm vụ được trao phó: phổ biến đường lối chính sách của Ủy ban Quân quản thành Hồ, kiểm kê tổng số hộ và nhân khẩu trong khu vực, thiết lập danh sách “ngụy quân ngụy quyền” và đôn đốc những người này trình diện đăng ký tại những địa điểm ấn định. Vì trình độ văn hóa quá kém – chỉ có khả năng đọc một cách khó khăn chứ không biết viết – ông S phải dắt theo đứa con gái lớn khoảng 11, 12 tuổi làm “thư ký”.

Mặc dù không được đeo súng ngắn (K-54 hoặc Colt 45 của VNCH để lại) như một số tay 30 tháng Tư khác, ông S cũng được mọi người nhìn với ánh mắt nể nang, e dè vì có đám mũ tai bèo trang bị AK thường xuyên ra vào nhà ông. Ông cố gắng ăn nói dõng dạc, cất cao giọng như để mọi người hiểu rằng những gì ông truyền đạt tới họ đều quan trọng, bắt buộc phải đả thông!

Cũng may cho cư dân trong khu vực, tất cả những gì được gọi là “30 tháng Tư” nơi ông S chỉ có thế. Riêng với chúng tôi, ông vẫn xưng hô như trước đây, gọi bà ngoại tôi là “cụ”, vợ chồng tôi là “cô, cậu”, chỉ có điều là không còn thái độ nể nang trọng vọng ra mặt như trước kia.

Sau khi tôi bị đi học tập cải tạo, chỉ có căn nhà của dượng tôi bị Ủy ban nhân dân Phường tịch thu, còn căn nhà lầu của người cậu lớn thì vợ con của người cậu út (cũng bị đi học tập cải tạo) chiếm ngụ, căn nhà của người dì út thì bà ngoại tôi bán đi, chỉ còn căn nhà lầu nhỏ (trước kia là nhà bếp) đứng tên bà tôi. Tất cả những vụ mua bán sang nhượng, chiếm ngụ nói trên chỉ cần ông S đâm thọc với Ủy ban nhân dân phường là đổ bể, nhưng ông ta đã nhắm mắt làm ngơ.

Tới khi làm hộ khẩu, cũng nhờ ông S mà vợ con tôi được hợp thức hóa tình trạng cư trú. Nguyên tôi ở Sài Gòn với bà ngoại và các cậu các dì từ ngày mới lớn cho tới cuối năm 1968. Sau tôi khi nhập ngũ, phục vụ tại phi trường Pleiku, lấy vợ rồi thuyên chuyển về phi trường Biên Hòa, mướn nhà ngoài phố thì tên tôi không còn trong sổ gia đình (đã được cập nhật) của bà ngoại nữa. Nhưng nhờ có ông S làm chứng tôi đã ở địa chỉ này từ trước khi đi lính, vợ con tôi đã được cấp hộ khẩu.

Trên nguyên tắc, có hộ khẩu là được hưởng mọi quyền lợi của một công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó quan trọng nhất là được cấp tem, phiếu mua lương thực thực phẩm ở các cửa hàng quốc doanh, nhưng trên thực tế hầu như quanh năm chẳng có gì để mà mua, hoặc đáng để mua.

Thời gian này – từ năm 1976 tới năm 1986 – được chế độ CSVN gọi là “thời kỳ bao cấp”, tức là nhà nước hoạch định, điều hành toàn bộ nền kinh tế, gom thu tất cả mọi thành phẩm, sản phẩm, và giữ độc quyền phân phối qua hình thức tem, phiếu.

Ngày ấy, với đại đa số dân chúng miền Nam, hai chữ “bao cấp” đồng nghĩa với đói khổ. Về sau, khi đã bắt buộc phải chấp nhận “đổi mới”, nhắc lại 10 năm kinh hoàng nói trên, CSVN thường lấp liếm bằng lập luận: VN noi gương Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa – là những nước đã áp dụng thành công chế độ bao cấp – tuy nhiên vì phải “khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, VN đã gặp một số khó khăn, nhưng đã cố gắng vượt qua”.

Trước hết nói về nông nghiệp, nếu trong những năm đang diễn ra cuộc chiến khốc liệt, dân chúng miền Nam vẫn có đủ lúa gạo, tại sao sau khi đất nước thanh bình lại thiếu? Câu trả lời khá đơn giản: tất cả mọi nông phẩm đã vào tay nhà nước qua một hệ thống cán bộ thu mua dày đặc, cùng với lệnh ngăn sông cấm chợ khiến không một hạt lúa hạt gạo nào có thể lọt vào tay tư nhân, hoặc đưa từ địa phương này qua địa phương khác.

Lúa gạo thu mua một phần được sử dụng để nuôi cán bộ viên chức nhà nước và bộ đội, một phần được xuất khẩu sang Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa anh em để trả nợ – những món nợ mà trong thời gian chiến tranh được gọi với mỹ từ “viện trợ có hoàn lại”!

Không có gạo để nuôi dân, CSVN phải nhập khẩu cao lương từ Liên Xô và Ấn-độ. Cao lương (sorghum), mà dân trong Nam thường gọi là “bo bo”, là loại thực phẩm dễ trồng và có thu hoạch cao nhất trong ngũ cốc – gồm: lúa gạo, lúa mì, bắp (ngô), lúa mạch (barley), và cao lương.

Người ta trồng cao lương chủ yếu để nuôi gia súc hoặc sử dụng trong kỹ nghệ. Trang mạng Wikipedia tiếng Việt viết: “Hạt cao lương có đường kính từ 3-4 mm. Hạt được dùng làm lương thực (lưu ý phải xay ra thành bột), hoặc nuôi gia súc, sản xuất ethanol…”

Vậy mà ngày ấy, không ít người dân miền Nam đã phải nhai cao lương nguyên hạt! Theo lời vợ tôi kể lại thì tới năm 1977, 1978, người dân còn phải ăn độn thêm khoai mì – loại khoai mì kỹ nghệ có năng xuất cao để sử dụng trong kỹ nghệ nuôi gia súc, khi tới tay người dân thường đã bị khô mốc.

Vậy mà tới khi xảy ra nạn đói năm 1979, nhiều người cả đến cao lương và khoai mì cũng không có mà ăn. Nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – trước kia được mệnh danh “vựa lúa của Đông Nam Á” – có người đã phải ăn củ hoang rau dại để khỏi chết đói. Đây không phải tuyên truyền xuyên tạc của “các thế lực thù nghịch” mà là phóng sự của báo Tuổi Trẻ, xuất bản tại thành Hồ! (1)

Tóm lại, việc vợ tôi được cấp hộ khẩu chỉ mang lại cái lợi duy nhất là không bị đuổi khỏi Sài Gòn, không bị cưỡng bách đi vùng kinh tế mới, còn no đói mặc kệ! Vào khoảng thời gian tôi được thả về (đầu năm 1981), trước sự chống đối của dân chúng trong Nam, lệnh cấm chợ ngăn sông đã được nới lỏng, thị trường chợ đen từng bước khôi phục hoạt động cho nên nếu có tiền, người Sài Gòn có thể ăn cơm. Gia đình bé nhỏ của tôi nằm ở nấc thang dưới cùng trong thành phần may mắn ấy, nghĩa là không phải ăn, hoặc độn bo bo, khoai mì nữa nhưng cũng chỉ đủ khả năng tài chánh ăn loại gạo tệ hại nhất, thường mất cả tiếng đồng hồ để nhặt sạn trước khi nấu cơm!

Trước năm 1975, ở một số vùng trong Nam, nơi có những đường lộ tráng nhựa tương đối ít xe cộ qua lại, nông dân thường chiếm dụng một phần bề ngang của con đường để phơi lúa. Hậu quả là gạo sẽ có sạn.

Nhưng không thấm thía gì so với gạo sạn sau 1975, với những hạt sạn có khi to bằng hoặc to hơn hạt gạo, nhai trúng mẻ răng là cái chắc! Các báo trong nước giải thích nguyên nhân như sau: chính các nông dân đã lén trộn thêm đá xanh (đã được xay nhuyễn) vào lúa trước khi giao nộp cho cán bộ thu mua để thêm cân lượng!

Nếu trước 1975 có người làm như thế sẽ bị lên án là táng tận lương tâm, nhưng sau ngày miền Nam được “giải phóng”, để sinh tồn không ít người đã nhắm mắt bắt chước nhau. Lúa gạo trộn sạn còn đỡ, bởi bị mẻ răng là cùng, rượu bọt mía pha thuốc rầy (để rượu được trong) mới khủng khiếp, hầu như tuần nào cũng có tin người chết vì uống phải rượu pha thuốc rầy!

Trong khi tạm gọi là an cư, vợ tôi vẫn chưa được xem là lạc nghiệp sau hơn 5 năm bươn chải từ ngày tôi bị bắt đi học tập cải tạo. Nguyên trước kia vợ tôi học y tá ở Bệnh viện Biên Hòa, học xong đi làm cho một cơ sở tư nhân nuôi giữ trẻ ở Tân Định, sau khi lấy chồng thì bỏ nghề, theo chàng ra tận phi trường Pleiku, rồi về phi trường Biên Hòa…; trong suốt 5 năm ấy nàng chỉ biết sống nhờ vào đồng lương của chồng và “viện trợ” từ mẹ chồng lẫn mẹ ruột! Vì thế, tới khi biết mình mắc mưu cộng sản trình diện học tập cải tạo mang theo 10 ngày lương thực để rồi bị nhốt không có ngày ra, tôi vô cùng lo lắng, không biết vợ tôi sẽ xoay sở ra sao để nuôi con. Những gì xảy ra sau đó đã cho thấy ông bà mình nói không sai: đói thì đầu gối phải bò!

Trước hết, vợ tôi và K, một cô bạn có chồng đại úy bị mất tích trong cuộc di tản của Quân Đoàn II hồi tháng 3/1975, buôn bán đủ thứ tinh tinh ở cái chợ trời mới mọc lên cạnh đường rầy gần cổng xe lửa số 6.

Ngày ấy, những ai sống ở Sài Gòn vào thời gian sau khi thành phố được “giải phóng” hẳn còn nhớ chợ trời mọc lên khắp nơi. Có hai nguyên nhân chính:

(1) Buôn bán những mặt hàng đang được dân Bắc kỳ 75 – từ cán bộ, bộ đội, viên chức nhà nước tới người dân thường – đổ xô đi mua, từ “đài đổng đạp” (máy thu thanh, đồng hồ đeo tay, xe đạp), kính râm (kiếng mát), bút máy tới chén bát nhựa, quần áo may sẵn, nhất là áo sơ-mi trắng cụt tay, mặc cho trông giống “các đồng chí lãnh đạo”…

(2) Lo sợ sẽ bị thiếu thốn, đói khổ trước một tương lai lành ít dữ nhiều, dân Sài Gòn đã bán bớt những vật dụng dư thừa hoặc không cần thiết, vừa để lấy tiền cất dấu vừa tránh sự dòm ngó của đám cán bộ cộng sản từ Bắc vào hăm he kiểm kê để sung công, trưng dụng… Thành thử cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có những gia đình khiêng cả bàn ghế, thậm chí nguyên một bộ xa-lông ra chợ trời bán, hoặc gọi vợ tôi và K tới nhà để định giá bộ màn cửa, cái quạt máy, cái survolteur…

Tới khi chợ trời bị công an phường dẹp, vợ tôi gửi con cho bà ngoại của tôi rồi cùng K đi buôn trà ở Bảo Lộc. Buôn trà thất bại, hai nàng chuyển sang buôn lậu cá khô từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn…

Tới năm 1978, nhờ những người Việt “ôm chân đế quốc Mỹ” tháng Tư 1975, hai nàng đổi sang một nghề cao cấp hơn: buôn hàng ngoại quốc.

Nguyên vào thời gian này, hầu như người Việt nào ở nước ngoài cũng cố gắng gửi quà về cho thân nhân trong nước như một hình thức cứu trợ; nhận được quà, thân nhân thường chỉ giữ lại một ít bánh kẹo, thuốc men cần thiết, còn phần lớn quần áo, mỹ phẩm và những mặt hàng khác thì bán đi để lấy tiền chi dụng.

Từ đó đẻ ra cái nghề buôn đi bán lại những mặt hàng nói trên. Người nào có vốn lớn thì buôn thuốc tây, quy tụ ở đường Nguyễn Thông (khúc gần đường Kỳ Đồng và Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn). Vợ tôi và K là dân vô sản chuyên chính, chỉ biết sử dụng nước bọt, lấy công làm lời cho nên phải vất vả ngược xuôi.

Có khi hai nàng được người ta gọi tới nhà để bán, cũng có khi vào tận chỗ lãnh quà trong phi trường Tân Sơn Nhất để mua ngay tại chỗ.

Tới khi tôi được thả về vào đầu năm 1981 thì hai nàng đã mướn được một cái tủ kính có bốn bánh xe đặt phía trước một cửa tiệm ở gần ngã ba Trương Minh Giảng – Trương Tấn Bửu (lúc đó đã được đổi tên nhưng tôi chỉ nhớ tên cũ).

Vẫn biết tiền mướn cái tủ kính – tính luôn cả “mặt bằng” trước cửa tiệm – không phải là rẻ nhưng việc có một “địa chỉ” cố định để mua, bán đỡ phải chạy tới chạy lui, vừa gia tăng uy tín vừa có giờ đi về cố định cũng đáng tiền.

Hơn nữa, nếu có mối hai nàng vẫn có thể tới nhà người bán sau khi đóng tủ kính, hoặc khi biết có đợt lãnh quà từ ngoại quốc gửi về, một trong hai nàng sẽ vào phi trường để canh me.

Nhờ có đồng ra đồng vào, vợ tôi đã “nuôi đủ hai con với một chồng”.

Sau khi được thả, theo đúng quy định, sáng hôm sau tôi ra trụ sở công an phường trình diện. Đó là một căn nhà lầu khang trang ở đường Trương Minh Ký, nằm ở khoảng giữa cổng xe lửa số 6 và ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức, trước kia là một cửa tiệm nay đã bị cách mạng tịch thu; không hiểu vì chủ nhân di tản năm 1975 hay đã bị cưỡng bách đi kinh tế mới.

Khu vực này tôi đã lui tới mòn chân từ năm 1958 cho tới khi nhập ngũ vào cuối năm 1968, nơi đã ghi lại biết bao kỷ niệm của thời niên thiếu, của tuổi học trò.

Nguyên từ năm lớp Nhất, bố mẹ tôi lên lập nghiệp ở tỉnh Phước Long mới được thành lập, tôi ở lại Sài Gòn với bà ngoại để ăn học với các cậu.

Trước khi di chuyển vào khu ao cá bên bờ kinh Nhiêu Lộc, đại gia đình của bà ngoại tôi ở Hẻm 6 Trương Minh Ký, cuối thập niên 1950 còn gọi là đường Trương Minh Giảng nối dài.

Đường Trương Minh Giảng (Quận 3) tới khúc này trở thành đường Trương Minh Ký (Phú Nhuận).

Đi thêm một đoạn, bên trái là đường vào Giáo xứ Bùi Phát – hình chụp năm 1966

Hẻm 6 nằm gần ngã tư Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức; tuy gọi là “hẻm” nhưng khá rộng, khúc phía ngoài xe hơi có thể ra vào hai chiều, có một cái chợ chiều, một dãy nhà 10 căn tường gạch mái ngói đỏ mới xây, cư dân ngày ấy đa số là công tư chức, sĩ quan, văn nghệ sĩ, sinh viên… chứ không xô bồ như sau này khi quân đội Mỹ đã hiện diện tại Hòn Ngọc Viễn Đông.

Năm 1958, bà ngoại tôi mua một khu đất có mấy cây xoài (vùng này trước kia gọi là Vườn Xoài) ở khoảng giữa hẻm 6, xây hai căn nhà lầu chung vách. Đây là hai căn nhà lầu đầu tiên trong con hẻm này, đứng trên ban-công, chúng tôi có thể nhìn thấy phi cơ lên xuống phi trường Tân Sơn Nhất, vì ngày ấy từ cổng xe lửa số 6 lên tới Lăng Cha Cả chưa có nhiều nhà cửa.

Lui vào phía trong khoảng 50 mét, dưới tàng cây điệp cổ thụ là nhà một cô ca sĩ đang lên (xin miễn nêu phương danh) tự tử chết vì thất tình một nam danh ca nọ; nghe kể ban đêm cô hay hiện về ngồi trên cây điệp khóc tỉ tê…

Sau lưng nhà bà ngoại là một cái ngõ cụt, trong đó có nhà của thủ môn Đực 2.

Đi ra đầu hẻm, phía bên mặt, trước khi tới tiệm ăn tàu Xuân Lạc Viên là một tiệm chạp phô chủ cũng là người gốc Hoa; tiệm chạp phô này có thêm “business” phụ là cho con nít mướn xe đạp chạy chơi. Tôi còn nhớ tiệm có 3, 4 cái xẹ đạp khá cũ cho mướn với giá 1 đồng 1 giờ đồng hồ. Đám con nít chỉ cần trả 1 đồng rồi lấy xe chạy, ông chủ tiệm không cần biết tên thằng nhỏ là gì, con cái nhà ai… Có lần tôi hỏi ổng xem đã có bao giờ tụi nhỏ lấy xe đi luôn không thì ông trả lời chưa bao giờ!

Phía bên trái, nhìn ra đường Trương Minh Ký là nhà nữ ca sĩ Minh Hiếu. Ngày ấy cô mới nổi tiếng, được xưng tụng đẹp sang giống nữ minh tinh Liz Taylor của màn bạc xứ Cờ Huê, và dĩ nhiên chưa trở thành “bà Vĩnh Lộc”. Cô chạy một chiếc xế hộp thể thao màu đỏ, sau này bán lại cho ông trung úy Không Quân mướn trên lầu nhà bà ngoại tôi.

Đối diện hẻm 6, phía bên kia đường Trương Minh Ký là một con đường đất không tên (sau này gọi là đường Thiệu Trị), đi sâu vào vài trăm mét bên trái có một cái nghĩa địa hoang phế với tháp Phong Thần, bên mặt là sân quần vợt; từ đây có ngõ tắt đi sang đường Công Lý.

Cho tới cuối thập niên 1950, một bên của con đường đất không tên ấy hãy còn lũy tre già che khuất ánh dương, một bên là nhà và cũng là nơi hành nghề của các bà đồng, thầy cúng nhưng chẳng hiểu sao lại lọt vào một gia đình Bắc kỳ có một bông hoa biết nói rất đáng yêu và về sau khá nổi tiếng: nữ văn sĩ Lệ Hằng.

Cổng xe lửa số 6 sau năm 1975, nhìn về hướng trung tâm thành phố

Còn ở ngoài đường Trương Minh Ký, từ ngã tư (Trương Minh Ký – Nguyễn Huỳnh Đức) tới cổng xe lửa số 6 chưa tới 100 mét nhưng có khá nhiều hàng quán, cửa tiệm. Nhìn về hướng Sài Gòn, bên trái trước hết là tiệm sửa đồng hồ (có hai người con trai là bạn của tôi), quán cơm Việt Nam, tiệm giặt ủi Ngọc Lan, nhà thuốc tây, vật liệu xây cất Thế Quang…, bên phải là tiệm tàu Xuân Lạc Viên, quán bi-da, nhà may Thưởng, tiệm chụp hình & uốn tóc Việt Tân, tiệm sắt Thăng Long…

Hầu hết hàng quán, cửa tiệm này nếu không quen tôi cũng biết khá rõ, nhất là những nhà có con gái.

Ngoài ra, phía trước nhà may Thưởng và tiệm chụp hình & uốn tóc Việt Tân còn có một xe bánh mì thịt và một xe đậu đỏ bánh lọt nổi tiếng khắp vùng Phú Nhuận, cả hai đều của người Tàu…

Gần sáu năm sau, từ ngục tù cải tạo trở về tuy cảnh cũ hầu như không có gì thay đổi nhưng phần lớn người xưa đã vắng bóng, tôi cảm thấy cô đơn như đang ở một nơi chốn hoàn toàn xa lạ…

Tại trụ sở công an phường, tay công an gốc Nam Kỳ khá trẻ có nhiệm vụ làm thủ tục đăng ký cho đám sĩ quan “ngụy” học tập cải tạo về lấy chi tiết trong Giấy Ra Trại của tôi ghi vào hồ sơ lưu rồi phát cho một cuốn vở 50 trang có đóng dấu công an phường.

Theo hướng dẫn của tay công an, tôi sẽ phải ghi mọi sinh hoạt trong ngày của mình, đi đâu, làm gì, rồi mỗi sáng Thứ Hai đem theo khi ra trình diện công an phường. Sau này tôi mới biết ở thành Hồ có những nơi sĩ quan tù cải tạo về phải trình diện công an phường mỗi tuần hai lần, hoặc hai ngày một lần, thậm chí có nơi mỗi ngày một lần!

Tại Phường 13, Phú Nhuận, đám sĩ quan đi cải tạo về không chỉ được thoải mái về số lần trình diện mà còn vì đám công an trẻ gốc Nam Kỳ ở đây tương đối dễ chịu so với những nơi khác, có lẽ vì đa số là dân cậu, được gia đình chạy chọt, lo lót cho gia nhập công an để khỏi phải “đi nghĩa vụ quân sự”, tức gia nhập bộ đội sang Căm-bốt đánh nhau với Khmer Đỏ.

Kể cả tay Trung úy Trưởng công an phường 13, một tay Nam Kỳ thích ăn nhậu (và ăn hối lộ) cũng không đến nỗi hắc ám. Nhưng không may cho tôi, tay công an hắc ám nhất, bị ghét nhất ở phường 13 lại chính là tay công an khu vực của tôi, Trung sĩ Huỳnh, người Quảng. Gã không chỉ trách nhiệm khu vực của tôi mà còn làm xếp một số công an khu vực lận cận.

(Ngày ấy, những năm đầu thập niên 1980, lon lá trong ngành công an còn có giá, chứ không như sau này, Trưởng công an phường thường mang cấp trung tá)So với đám công an gốc Bắc, gốc Trung mà tôi biết ở hai trại tù Suối Máu, Tống Lê Chân, Trung sĩ Huỳnh khá cao ráo, trắng trẻo, ăn nói lịch sự nhưng nét mặt lạnh lùng và ánh mắt rất đáng sợ.

Theo lời vợ tôi kể lại, người ta không biết tay Huỳnh này đã có vợ con gì chưa, chỉ biết gã sống độc thân tại chỗ. Ngay từ ngày tới phường 13 làm công an khu vực, Huỳnh đã ra mặt ve vãn một số bà vợ trẻ có nhan sắc của các sĩ quan QLVNCH bị đi học tập cải tạo, trong số đó có vợ tôi.

Vừa ve vãn y vừa gây áp lực bằng cách “đề nghị” đi kinh tế mới để “giúp chồng sớm được về”!

Thời gian tôi ở Phước Long và vợ tôi cùng cô bạn K còn đi buôn lậu cá khô từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn cũng là khoảng thời gian tên Huỳnh theo vợ tôi sát nút. Cũng may mỗi lần y tới nhà đều bị kỳ đà cản mũi!

Như đã viết ở một đoạn trên, sau khi bỏ phi trường Biên Hòa chạy về Sài Gòn, vợ con tôi ở trên lầu căn nhà nhỏ (trước kia là nhà bếp) của dì út tôi, sau này đứng tên bà ngoại.

Tầng trệt thì cho một bà cụ cũng gốc Bắc di cư 54 mướn. Bà cụ sống với người con gái là một single mother với hai đứa con trai nhỏ.

Vì cầu thang nằm trong nhà cho nên vợ con tôi bắt buộc phải vào tầng trệt mỗi khi lên, xuống lầu. Chính vì sự chung đụng ấy mà hai phía trở nên thân nhau; bà cụ xem vợ con tôi như con cháu trong nhà, ngược lại vợ con tôi cũng bắt chước con cháu bà cụ để gọi là “bà me” (mère: mẹ, tiếng Pháp).

Từ chỗ thân nhau ấy, vợ tôi được biết bà me cũng là dân Hà Nội tương đối có học nhưng chẳng hiểu tại sao ngày ấy lại làm lẽ. Người chồng của bà xuất thân từ một gia đình trung lưu, có nhiều thành phần trí thức đi theo Việt Minh. Trong số này có một người cháu lên tới cấp trung tá trong Quân Đội Nhân Dân, phục tại một cơ quan tham mưu, gọi bà bằng cô.

Sau năm 1975, ông trung tá QĐND này thường xuyên vào Sài Gòn công tác. Mỗi lần như thế ông lại tới thăm bà me và biếu cô khi thì ký đường cát trắng, lúc thì gói trà Thái Nguyên, hoặc ít lương khô Trung Quốc… mà ông đã dành dụm trước mỗi chuyến công tác trong Nam.

Theo lời vợ tôi kể lại, ông trung tá này khác hẳn đám cán bộ ngoài Bắc vào tiếp thu miền Nam, thường ba hoa ca tụng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chê bai mọi thứ trong Nam, đả kích “đế quốc Mỹ”, lên án “ngụy quân ngụy quyền”… Trái lại, xuất thân là một sinh viên Hà Nội trước năm 1954, nay vừa vì được tận mắt chứng kiến những tốt đẹp chế độ VNCH để lại, ít nhất cũng về mặt vật chất, vừa vì nhận ra đầu óc “phản động” ngay trong gia tộc mình (bà me và con cháu), ông đã hoàn toàn “giác ngộ”.

Nói là hoàn toàn bởi trước 1975 ông cũng đã thấy được phần nào bản chất của chế độ cộng sản mà ông đang phục vụ. Trong một lần trò truyện tại nhà bà me, khi vợ tôi và cô bạn K không tiếc lời đả kích, châm biếm đám cán bộ cộng sản Bắc Việt, ông trung tá đã đáp lại một cách cay đắng pha lẫn buồn tủi:

– Các cô không nên vơ đũa cả nắm. Các cô phải biết rằng ngày ấy có biết bao thanh niên thuộc thành phần trí thức yêu nước, vì nhiệt huyết của tuổi trẻ mà đi theo Việt Minh, tới khi biết ra thì đã quá muộn, họ không còn lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận sống dưới chế độ ấy, phục vụ chế độ ấy… Hiện nay, người miền Nam các cô còn có lối thoát là đi vượt biên, nhưng chúng tôi thì chẳng có lối thoát nào cả!

Hiểu được tâm trạng ông trung tá, từ đó mỗi lần ông ghé nhà bà me, vợ tôi cố né tránh đề cập tới chuyện chính trị chính em.

Nhưng riêng bà me, dù sao đi nữa thì việc có một người cháu là trung tá QĐND đã khiến bà được mọi người trong xóm, và cả Trung sĩ Huỳnh nể nang.

Chính nhờ cái thế ấy mà bà đã góp phần giúp vợ tôi thoát được sự theo đuổi ve vãn của tay công an khu vực này.

Vì cầu thang nằm trong nhà cho nên mỗi lần y tới kiếm vợ tôi thì trước hết phải chào hỏi bà me. Lẽ dĩ nhiên, bà dư biết gã công an khu vực tới kiếm vợ tôi với ý đồ gì cho nên luôn tỏ thái độ lạnh lùng.

Chưa hết, sau khi hắn lên lầu, lâu lâu bà lại bước lên lưng chừng cầu thang làm bộ hỏi vọng lên lầu chuyện này chuyện nọ để vợ tôi phải trả lời cho bà yên tâm…

Một thời gian sau, Trung sĩ Huỳnh bỏ cuộc theo đuổi vợ tôi. Để đề phòng trường hợp bị gã công an tìm cách đẩy đi kinh tế mới, vợ tôi với cái mác y tá đã tình nguyện tham gia Tổ Y học Dân tộc của phường, trở thành học trò châm cứu bất đắc dĩ của một ông “thầy” nọ, nhưng không bao giờ thành tài vì cái tật lơ đễnh…

Khoảng hai ba tháng sau khi tôi được thả về, hai tay bạn thân trước năm 1975 cùng phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân là Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông cũng lần lượt được thả.

Trước hết, Trần Ngọc Tự được thả về từ miền Bắc. Tự là người bạn thân nhất trong đời tôi. Hai thằng ở cùng xóm từ nhỏ, mặc dù hắn hơn tôi một tuổi, học trên một lớp và vào trường Luật trước tôi một năm, chín chắn chững chạc hơn tôi nhiều, nhưng từ khi cùng đi Khóa 3/69 Thủ Đức, thằng nằm giường trên thằng nằm giường dưới, mãn khóa cùng về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân, cùng theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản Chiến Tranh Chính Trị ở Đà Lạt năm 1970, rồi tôi lấy vợ hắn làm phù rể, có thể nói chúng tôi coi nhau như anh em ruột.

Rất tiếc, sau khi được thả, Tự và vợ con tá túc bên nhà vợ ở Hàng Xanh, rộng rãi thoải mái hơn nhà của bố mẹ, giờ đây đã trở thành nơi nương náu của lũ cháu mồ côi.

Vì thế, sau bữa tiệc mừng tại nhà bố mẹ hắn, lâu lâu Tự và tôi mới gặp nhau. (2)

Phan Lạc Giang Đông thì tôi chỉ gặp lại một lần. Chỉ một lần nhưng để lại biết bao câu hỏi xen lẫn mừng tủi, bùi ngùi.

Hôm ấy vào khoảng gần trưa, tôi đạp xe từ nhà sang bên Bà Chiểu, sử dụng một con đường nhỏ dành cho xe hai bánh và người đi bộ, Đông đạp xe ngược chiều và hai thằng thấy nhau.

Lúc đó cả hai chúng tôi mới được thả, chưa có nghề ngỗng gì cho nên chỉ kể cho nhau nghe về thời gian bị đi cải tạo. Kể xong phần mình, Đông nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi:

– Bạn nghe người ta đồn về mình nhiều lắm phải không?

Tôi biết Đông muốn nói đến những tin đồn nói rằng trong trại cải tạo Đông làm ăng-ten để lập công với “cách mạng”, mong sẽ được thả sớm! Nhưng riêng tôi không tin.

Thời gian gần 6 năm trong các trại cải tạo đã khẳng định điều mà tôi thường nghe nói hoặc đọc trong sách vở: sống trong cảnh khốn cùng người ta dễ để lộ ra con người thật của mình.

Sau này đọc hồi ký của một số sĩ quan cựu tù cải tạo, chúng ta được biết đã có những người, từ cấp úy tới cấp tá, hoặc làm ăng-ten hoặc bắt anh em bạn tù lao động cật lực (trường hợp được làm đội trưởng) để lập công với cách mạng, với hy vọng sẽ được thả sớm, trong số này có cả một ông bác sĩ và một nhà nhạc sĩ tên tuổi!

Dĩ nhiên, một khi đã đặt bút viết với tên tuổi thật của mình, những nhân chứng sống ấy phải viết sự thật bởi vì còn có hàng trăm, hàng nghìn bạn tù khác ở chung trại hiện vẫn còn sống.

Nhưng bên cạnh đó cũng có một số trường hợp bị đồn oan, trong đó có người bạn Phan Lạc Giang Đông của tôi. Sau này, lập trường của Đông ở Thành Ông Năm và hoạt động chống đối ở Suối Máu được kể lại qua bài viết của những người trong cuộc thì xem như Đông đã được minh oan, nhưng trước đó, vào những năm đầu thập niên 1980, tin đồn “em ruột của Phan Lạc Tuyên làm ăng-ten trong trại cải tạo” lan truyền khá rộng rãi và được không ít người tin!

Trong số người tin ấy dĩ nhiên không có tôi, bởi vì tuy không cùng K với Đông ở Suối Máu, tôi đã được nghe anh em kể lại việc Đông tham gia Ban Hành Động K1 trong cuộc nổi dậy đêm Giáng sinh 1978 và sau đó bị đưa về Chí Hòa…

Sau khi tôi trả lời Đông đại khái có nghe người ta đồn nhưng đời nào tôi tin, Đông cho tôi biết hiện nay hắn vẫn bị “họ” (cách mạng) theo dõi, đồng thời chuyện gia đình của hắn cũng “rất phức tạp”, nên hắn nói tôi đừng tới nhà, khi nào thuận tiện hắn sẽ ghé thăm tôi.

Từ giã nhau, tôi vừa tính đạp xe đi thì bỗng Đông gọi giật lại, nhoẻn một nụ cười thật tươi:

– Này bạn, cô P có lên trại cải tạo thăm mình!

Nghe nhắc tới tên P, tôi bỗng thấy lòng mình chùng xuống, bâng khuâng nhớ lại mối tình văn nghệ của Đông với P, của tôi với M ở Đà Lạt hơn 10 năm về trước.

Thực ra tôi và Phan Lạc Giang Đông không thân nhau lắm, nhưng trong cái “không thân lắm” ấy lại có một vài kỷ niệm đáng nhớ liên quan tới mục cặp kè văn nghệ văn gừng.

Tôi biết Đông qua Trần Ngọc Tự, vốn trước kia đã quen Đông qua các sinh hoạt thơ văn. Thời gian này, cuối năm 1969, gần 20 tân Chuẩn úy Khóa 3/69 Thủ Đức trong đó có tôi và Tự được tuyển về ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân; trong lúc chờ bốc thăm đi đơn vị, Tự giới thiệu tôi với Đông, khi ấy mang cấp bậc Hạ sĩ I, đang chuẩn bị lên Thủ Đức theo học Khóa 6/69 SQTB.

Đông sinh năm 1940, khá lớn tuổi hơn tôi và Tự; nghe kể lại thì nguyên nhân khiến trước đây Đông – một người có cử nhân Sử Địa tại Đại học Văn khoa Sài Gòn – khi tới tuổi nhập ngũ không được theo học khóa sĩ quan Thủ Đức là vì có anh ruột là Đại úy Biệt Động Quân Phan Lạc Tuyên, người tham gia cuộc đảo chánh hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó bỏ chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản.

Sau vài lần găp nhau tại Bộ tư lệnh Không Quân vào cuối năm 1969, tới giữa năm 1970, tôi mới gặp lại Đông khi từ Pleiku về Sài Gòn chuẩn bị ra Đà Lạt theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị cùng với Đông, Tự và một số sĩ quan KQ cùng ngành.

[Theo lời Tự kể thì ông Dương Hùng Cường – vốn xuất thân ngành Kiểm soát Không lưu – lẽ ra cũng học khóa Chiến Tranh Chính Trị này nhưng đàn anh đã xin hoãn để ở nhà đóng phim Người Tình Không Chân Dung]

Tại Đà Lạt, Tự và Đông ở trong Ban Báo chí của khóa học, tôi trong Ban Văn nghệ, qua đó quen biết một số anh em cầm bút hoặc đàn hát thuộc các quân binh chủng khác. Thường thường, mỗi Chủ nhật đám khóa sinh sĩ quan chúng tôi lại kéo nhau ra phố Đà Lạt, chia ra từng nhóm đi chơi đây đó. Bộ ba gồm tôi, Tự và Đông thường đi với nhau, có khi thêm Trung úy Đỗ Đức Kỳ, một đàn anh KQ dễ mến (và có cái máy chụp hình khá xịn).

Buổi chiều, trên đường về trường chúng tôi thường tụ tập tại quán cà phê Tình Nhớ dưới chân dốc nhà thờ Tin Lành.

Đà Lạt 1970, từ trái: tác giả, Trần Ngọc Tự, Phan Lạc Giang Đông

Được vài tuần thì đám sĩ quan trẻ chúng tôi bắt đầu làm quen với các cô nữ sinh Đà Lạt để có người dung dăng dung dẻ cuối tuần. Riêng ba thằng chúng tôi thì Tự xé lẻ vì hắn đã có sẵn người yêu nội trú ở một ngôi trường danh giá, còn lại tôi, Đông và T, một tay Thiếu úy Thiết Giáp cùng khóa, quen được “tam nương đồng hành”.

Sau khi đi chơi chung được vài lần, T và người đẹp tên Đ, một cô bé khá mi-nhon với những đường cong hấp dẫn, rã đám vì hai người không hợp nhau.

Còn lại hai cặp, Đông và nàng P, tôi và nàng M, ra vẻ rất tâm đắc; về sau chúng tôi không chỉ dung dăng dung dẻ vào cuối tuần mà cả ngày thường hai thằng cũng “cúp cua” để hò hẹn hai em (cũng “cúp cua”).

Thật ra, hầu hết những mối tình văn nghệ giữa các sĩ quan khóa sinh trẻ người non dạ, các sinh viên sĩ quan chưa “ra ràng” của các quân trường ở Đà Lạt với các cô nữ sinh thành phố sương mù thường… trong sạch; nhiều khi tới ngày chia tay vẫn chưa hề… nắm tay nhau lần nào!

Thế nhưng ai cũng thích cặp. Có người nói đó là một truyền thống ở Đà Lạt – thành phố của hai quân trường nổi tiếng là Võ Bị Quốc Gia và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị.

Cũng có người cho rằng khung cảnh thơ mộng và không khí trữ tình ở Đà Lạt – tiếng thông reo, con dốc đá, hoa ven lối, đồi cỏ xanh, cái se lạnh, con gái má đỏ môi hồng… khiến người ta trở nên mơ mộng hơn, dễ rung động hơn.

Hơn ba tháng sau, chúng tôi mãn khóa học; từng toán được quân xa chở ra phi trường Cam Ly để đi về Sài Gòn hoặc Vùng chiến thuật của mình. Trong lúc chờ phi cơ trong Trạm Hàng Không, trong khi mọi người nói cười vui vẻ vì sắp được hưởng một tuần nghỉ phép bên cạnh những người thân yêu hoặc vi vút với cô bạn gái sau bao ngày xa cách thì tôi thẫn thờ nhìn về hướng thành phố, mường tượng bóng dáng quen thuộc của M trong sân trường Bồ Đề, trước cổng chùa Linh Sơn…

Nhưng sau khi chiếc phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, cửa mở ra, không khí nóng lùa vào thì tôi trở về với thực tại…

Năm 1972, tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa. Thường xuyên về Bộ tư lệnh Không Quân công tác, hầu như lần nào tôi cũng gặp lại hai ông bạn quý đang phục vụ trong Đoàn Công Tác Chính Huấn, thuộc Văn phòng TMP/CTCT Bộ tư lệnh Không Quân: Trần Ngọc Tự, Trưởng ban Biên soạn Tài liệu kiêm Sĩ quan Thuyết trình, Phan Lạc Giang Đông, Trưởng ban Giáo dục Chính trị.

Rồi Đông rủ tôi ghi danh Ban Báo chí tại Đại học Vạn Hạnh. Tôi vốn đã chán bút nghiên nhưng ham vui nên nhận lời, vì đi với hắn sẽ có nhiều cơ hội gặp gỡ những tên tuổi trong giới thi văn, ngồi chầu rìa nghe thiên hạ tán dóc cũng thú vị…

Một ngày nọ, Đông tiết lộ với tôi P, cô nữ sinh Đà Lạt hắn quen biết hai năm về trước, hiện nay đã về sống ở Sài Gòn, và hai người thường xuyên gặp nhau!

Theo suy nghĩ của một người bình thường thì đã có vợ con mà còn bay bướm là việc… không bình thường. Nhưng Đông kể chuyện này với tôi một cách hết sức vô tư, hồn nhiên, không một chút mặc cảm tội lỗi.

Quen biết Phan Lạc Giang Đông, tôi thấy có những lúc hắn rất nghiêm nghị, thậm chí khó tính, cao ngạo; chẳng hạn mỗi lần nghe Lệ Thu hát bản Nước mắt mùa thu của Phạm Duy, một ca khúc khá thịnh hành lúc đó, hắn lại lắc đầu:

– Hỏng, hỏng, cả đến Phạm Duy bây giờ cũng làm nhạc sến!

Ngược lại nhiều khi hắn cứ như một cậu con trai mới lớn, mới biết yêu lần đầu, chẳng hạn trong thời gian học ở Đà Lạt, khi hắn và P đi chơi chung với tôi và M, lúc lên đồi xuống dốc, khi ngồi cà-phê Tùng, nhiều khi hắn phát ngôn một câu hết sức ngây ngô, dại khờ, dễ thương…

Trở lại với chuyện tình giữa Đông và P, sau khi khoe với tôi là cô nữ sinh Đà Lạt này đã về sống ở Sài Gòn và hai người thường xuyên gặp nhau, Đông rủ tôi tới nhà P. Nể lời bạn, tôi theo Đông tới nhà P một lần duy nhất; và sau này mỗi lần về Tân Sơn Nhất công tác, gặp lại nhau tôi cũng không bao giờ hỏi về P nữa, bởi tôi thực sự không cảm thấy thoải mái trước việc quan hệ giữa Đông và P đã không chấm dứt cùng với khóa học ngắn ngủi của chúng tôi tại Đà Lạt.

Tôi không đạo đức giả mà chỉ quan niệm một cách sòng phẳng: một khi đã cùng ai kết nghĩa phu thê thì cùng lắm cũng chỉ có thể “thân này ví xẻ làm đôi” chứ trái tim thì không thể “chứa chấp” thêm một bóng hồng nào khác!

Nhưng giờ đây, được Đông cho biết sau này P còn lên tận trại cải tạo thăm hắn, tôi cũng không biết phải gọi quan hệ tình cảm giữa ông bạn thi sĩ của mình và nàng P là gì? Chỉ biết nó hơi khác thường và… hay hay. (3)

Sau này một số tác giả đã viết đại khái: với một cựu sĩ quan hay viên chức VNCH bị bắt đi học tập cải được thả về thì cũng giống như từ một cái nhà tù nhỏ bước ra cái nhà tù lớn!

Riêng bản thân tôi sau khi được thả về lại có tâm trạng hơi khác. Tôi không có cảm tưởng mình đang sống trong một cái nhà tù khổng lồ mà sống trong một thế giới khác.

Thực ra, không cần tới một nhà phân tâm học, cũng có thể giải thích chẳng qua chỉ vì tôi không có khả năng thích ứng với mọi sự thay đổi sau ngày 30/4/1975.

Nhìn thấy một lá cờ đỏ sao vàng, một cái nói cối, một tấm hình Hồ Chí Minh, một khẩu hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh Muôn Năm”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… là tôi bị dị ứng, mặt nóng bừng!

Vì thế chẳng đặng đừng tôi mới bước ra khỏi nhà. Đám bạn học cũ hoặc bạn tù cải tạo như Đức “cống”, Phát “tịt”… tới rủ đi uống cà phê – cà phê “bắp rang” 1 đồng một ly ở góc đường – tôi miễn cưỡng đi theo chứ chẳng hứng thú gì.

Ban ngày đã thế, ban đêm còn tệ hơn. Viết ra có thể bị cho là cường điệu nhưng sự thật nó là như thế. Sau một thời gian ngắn hưởng hạnh phúc “vợ mới cưới không bằng vắng lâu”, cứ đêm về là tôi trằn trọc, nằm vắt tay lên trán, thở dài…

Tôi không chỉ bực bội, chán nản trong lòng mà còn hay cáu gắt với vợ con. Lúc đầu vợ tôi còn cố gắng chịu đựng nhưng riết rồi nàng cũng phải nói thẳng ra, từ đó vợ chồng thường bất hòa, và mỗi lần như thế tôi lại nhớ tới việc mình đang ăn bám vợ.

Tôi đã từng nghĩ tới việc bỏ đi. Nhưng đi đâu bây giờ? Vào rừng theo các lực lượng phục quốc là chuyện phiêu lưu không tưởng!… Lúc đó tôi chưa hề nghĩ tới chuyện vượt biên vì chẳng quen biết ai mà cũng tự biết mình không đủ khả năng tài chính.

Cuối cùng đành ở lại Sài Gòn thử tìm kế sinh nhai. Trước hết, tôi cùng với Phạm Khắc Khiêm làm xà bông bột.

Như đã kể trong phần đầu của thiên hồi ký này, thời gian ở Thành Ông Năm tôi cùng đội với hai tay trung úy “bách nghệ tinh”: Khương Hữu Thành, Quân Vận Sư Đoàn 18BB, và Phạm Khắc Khiêm, Hải Quân Công Xưởng.

Phạm Khắc Khiêm là con nhà khá giả, gia đình có ngôi nhà ba tầng khá lớn ở đường Công Lý, trước kia vừa để ở vừa cho thuê. Vì có tiền, bố mẹ anh em Khiêm đã tìm cách thoát khỏi VN từ giữa tháng 4/1975, chỉ để vợ chồng Khiêm ở lại vì ai cũng tin rằng nếu điều tệ hại nhất xảy ra, Khiêm và vợ con sẽ được di tản bằng tàu của Hải Quân.

Nhưng rốt cuộc hắn bị kẹt lại, ngôi nhà bị cách mạng tịch thu chỉ để lại một gian trên tầng ba cho vợ chồng con cái hắn ở.

Thời gian này (năm 1981) sau ba đợt đánh tư sản, toàn bộ nhà cửa của người di tản, của người bị cưỡng bách đi kinh tế mới đã bị đám cán bộ ngoài Bắc vào chiếm ngụ. Ngôi nhà của bố mẹ Khiêm cũng thế, nhưng cũng vì hắn bị ở tận trên lầu ba, có cầu thang đi lên sân thượng cho nên chúng tôi mới có chỗ nấu xà bông bột.

Thời gian này, hầu như tất cả sĩ quan bị đi cải tạo trở về dù còn sức khỏe cũng đều thất nghiệp vì người nào cũng nửa thầy nửa thợ, và cũng vì cái mác “sĩ quan ngụy” cho nên dù có muốn làm cu-li, làm phu khuân vác cũng không nơi nào nhận. Chỉ có một số rất nhỏ xin được việc làm trong các tổ hợp gia công hoặc đạp xích-lô.

Trong nhóm tù cựu tù cải tạo năm bảy người chúng tôi – ở tù chung trại, hoặc quen biết nhau trước kia hay sau này – chỉ có một mình Đức “cống” đạp xích-lô nhưng cũng chỉ đạp tài tử, đủ tiền cà phê thuốc lá, còn lại thì hai tay làm trong tổ hợp vỏ xe đạp (thủ công nghệ) không đủ tiền mua gạo, một tay còn độc thân đạp xe đi giao hàng may cho mấy cô em gái, mà ai cũng hiểu là các cô cố ý trao việc để ông anh trai bớt mặc cảm ăn bám gia đình!

Phần tôi thì thất nghiệp toàn thời. Mỗi ngày chỉ có một công việc duy nhất là nấu cơm chiều đợi vợ về ăn. Hai đứa con, 9 và 8 tuổi, đã đủ khôn lớn để đi học một mình ở một tư gia gần nhà thờ xứ Tân Hòa (còn gọi là nhà thờ Kiến thiết vì ở phía trong cư xá Kiến Thiết).

Thật ra vợ tôi cũng không dư giả tới mức cho các con học “trường tư” mà chỉ vì sau mấy buổi đi học ở trường nhà nước (trường tiểu học của giáo xứ bị nhà nước tịch thu), hai đứa con về nhà cứ hát những bài hát của “cháu ngoan bác Hồ”, nhắc tới tên những anh hùng bắn rơi hàng chục B-52, diệt hàng trăm xe tăng của đế quốc Mỹ, đồng thời bị gọi là “con ngụy”…, vợ tôi đã bắt hai đứa ở nhà, thà thất học còn hơn!

Sau đó, có một cô giáo bị mất việc ở trường giáo xứ mở lớp dạy học tại gia, tuy không ai nói ra nhưng mọi người đều hiểu là dành riêng cho những đối tượng “con ngụy” hoặc những gia đình Công giáo nhất định không cho con học trường nhà nước.

Đám cán bộ địa phương thừa biết việc này nhưng không hề làm khó dễ bởi họ cũng không muốn gây thêm căng thẳng trong một khu vực mà đại đa số dân cư là người Công giáo Bắc kỳ di cư năm 1954.

Khi tôi tới nhà tìm Khiêm thì được biết hắn được thả sớm hơn tôi cả năm. Với quà gia đình từ Mỹ gửi về đều đều, gia đình Khiêm cũng không đến nỗi đói; chưa kể hắn còn làm trung gian mua bán hải đồ, hải bàn và lấy khách cho những đường dây vượt biên. Hắn chỉ nảy sinh ý tưởng làm xà bông bột khi tôi tới chơi và kể về hoàn cảnh phải ăn bám vợ, hơn nữa hắn cũng muốn nhân dịp này thực hành những gì đã học từ Khương Hữu Thành (cũng được thả về trước tôi).

Giờ này tôi không còn nhớ chi tiết cách thức hai thằng làm xà bông bột vì hầu như Khiêm bao hết mọi viêc, tôi chỉ đóng vai thợ vịn. Tôi chỉ nhớ đại khái mua dầu dừa về nấu lên, sau khi thành bột thì vô bao ny-lông, mỗi bao 250g, rồi lấy bàn ủi ủi cho mép trên dính lại.

Tôi vẫn còn nhớ “thương hiệu” xà bông bột của chúng tôi là “Rose”, không phải do chúng tôi chọn mà chỉ vì những cái bao có in hình bông hồng màu đỏ này là do Thành cận in sẵn để phân phối cho những người quen biết làm nghề này.

Những khách hàng đầu tiên của tôi là mấy bà buôn bán lẻ ở chợ Kiến Thiết do vợ tôi giới thiệu. Vì hầu hết là chỗ quen biết, tôi giao xà bông cho các bà bán, mỗi bà 5 bịch, một tuần sau mới trở lại lấy tiền và giao hàng mới.

Kết quả thật thảm hại, đa số các bà chỉ bán được 1, 2 bịch. Nguyên nhân, theo lời các bà, xà bông bột của chúng tôi bị chê… không có bọt.

Sau khi được tôi báo cáo kết quả, Khiêm tìm Thành “cận” học hỏi thêm bí quyết rồi hai thằng lại hì hục nấu đợt hai. Nhưng vì ngay từ đầu, cái nhãn hiệu “Rose” của chúng tôi đã bị chê nên sau đó hai thằng phải dẹp nghề.

Chú Thích:

(1) Ba đợt đánh tư sản miền Nam:

Đợt X1 (theo cách gọi của đảng và nhà nước CSVN) được bắt đầu vào sáng sớm ngày 11 tháng 9 năm 1975, diễn ra tại thành phố Sài Gòn và trên khắp 17 tỉnh thành miền Nam. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà cửa của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ nạn nhân phải đi về các vùng Kinh Tế Mới.

Đợt X2 – tức chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ nhất – bắt đầu vào tháng 12/1976.

Đợt X3, tức chiến dịch cải tạo tư sản (công thương nghiệp) lần thứ nhì được Hà Nội tiến hành từ tháng 3 năm 1978 và kéo dài cho đến sau khi có “Đổi Mới”, tức là khoảng năm 1990 mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thương, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất hạ tầng vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do, được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích, nâng đỡ trong suốt 20 năm trước khi xảy ra biến cố 30/4/1975.

Đỗ Mười, sau này làm Tổng Bí Thư Đảng, trực tiếp chỉ huy X3.

Đỗ Mười (ảnh AP)

Ngày 21/3/1978, tại hội trường Trường đảng Nguyễn Ái Quốc ở Thủ Đức, Đỗ Mười khi ấy là Phó thủ tướng kiêm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp XHCN, đặc trách vấn đề Cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam, đã đọc chỉ thị 100-CP của Chính phủ và phát biểu những lời lẽ cực kỳ hung hăng sắt máu, trong đó có những đoạn sau:

“Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ…

“Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta…

“Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”.

Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Hơn 10 năm sau, tháng 9 năm 1989, báo Sài Gòn Giải Phóng và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan, đã ước tính có khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn cư ngụ trong những ngôi nhà bị tịch thu.

Riêng về Chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị vào tháng 5/1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất”, dẫn đến nạn đói năm 1979 vì sản lượng lúa gạo và tất cả mọi loại nông sản trên toàn miền Nam bị sút giảm một cách trầm trọng.

(2) Trần Ngọc Tự trước năm 1975 còn đảm trách thêm chức vụ Thư ký tòa soạn cuối cùng (1974-1975) của đặc san Lý Tưởng BTL/KQ.

Sau khi đi cải tạo về, tới năm 1984 anh bị chế độ CSVN bắt giam cùng với Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Khuất Duy Trác (ca sĩ Duy Trác) trong vụ án mà báo Công An thành Hồ gọi là “Những những tên biệt kích cầm bút”.

Do sự can thiệp của Văn Bút Quốc Tế, năm 1988 Trần Ngọc Tự được thả sớm nhưng quyết định không đi định cư tại Hoa Kỳ vì muốn ở lại VN phụng dưỡng mẹ già. Nhiều năm sau khi bà cụ mất, anh mới đi theo diện HO “vớt” vào năm 2006.

Trần Ngọc Tự tại Hoa Kỳ

Những bài viết gần đây nhất của Trần Ngọc Tự đăng trên Hội Quán Phi Dũng là Chuyện về ông tướng Tư lệnh, Bên dưới những đôi cánh sắt trong chuyên mục Quân Sử Không Quân.

(3) Năm 1994, Phan Lạc Giang Đông sang Hoa Kỳ trong chương trình HO cùng với vợ và hai con trai, định cư tại Seattle, tiểu bang Washington.

Phan Lạc Giang Đông tại Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, PLGĐ viết báo và sáng tác thơ; một số bài thơ đã được chuyển sang Anh ngữ để đăng trong các tuyển tập thi ca Hoa Kỳ. Năm 2001, chàng thi sĩ đã đạt tới đỉnh cao danh vọng (tạm gọi như thế) khi trở thành Hội viên Ưu tú của Hiệp hội Thi ca International Society of Poets, trước khi qua đời vì bạo bệnh vào tháng 11 năm đó, hưởng thọ 62 tuổi.

Nghe bạn bè ở Việt Nam kể lại, trong những lần về thăm quê hương, PLGĐ lại có thêm một mối tình văn nghệ nữa; ly kỳ hơn vì lần này nàng là một con chiên của Chúa. Nghe nói Đông đã lấy sẵn “tên Thánh”, dự tính sẽ về VN rửa tội vào đạo, sống quãng đời còn lại trên quê hương, nhưng việc chưa thành thì đã vội sớm ra đi.

Tang lễ của PLGĐ tại Hoa Kỳ được tổ chức theo nghi thức Phật giáo; tại Sài Gòn, bạn bè và đồng nghiệp còn ở lại cũng tổ chức một buổi cầu siêu và tưởng niệm ở chùa.

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 30 May 2025

Chương 12.

Cô Huôi ngồi nhà, bỗng đứa nữ tỳ chạy vào mặt mày hơ hải:

– Cô ơi! Ở đằng kia, cậu Ba la hét. Mấy người hộ vệ đứng sắp hàng dưới bến.

Cô Huôi đoán chừng:

– Chuyện nhà nầy, mi cứ lo. Hơi đâu lo chuyện đằng kia.

Linh tính như báo trước với cô điều gì quan trọng, lát sau, cô đứng dậy:

– Ra ngoài sân coi thử.

Đứa nữ tỳ ra ngoài rồi trở vào, hai tay run run vịn vào cánh cửa:

– Thưa cô…

– Cái gì?

– Dạ…có người nào tóc tai rối nùi, quần áo ướt mem đứng trước sân. Người đó đưa tay ngoắt tôi.

Cô Huôi ngạc nhiên. Khi nhận ra tên hộ vệ, cô hỏi:

– Tới đây làm gì? Ta gọi hồi nào mà tới? Say rượu rồi làm càn sao chớ? Đi ra.

Tên hộ vệ chắp tay:

– Thưa cô! Cậu Ba lên án chém đầu tôi, ngày mai nầy. Cô Xí Vĩnh bị nhốt rồi, ngày mai cũng bị chém. Trăm lạy cô. Cô nói một tiếng thì cứu được mạng tôi.

Cô Huôi nói:

– Vô đây. Nói đầu đuôi cho ta nghe.

Tên hộ vệ đứng khép nép bên góc cột, tay chân run rẩy.

– Thưa bà, tôi sợ quá. Chắc là tôi chết. Nếu cậu Ba biết tôi vô đây, làm sao tôi trở ra. Cậu Ba hung hăng, tự xưng là ông Chúa.

– Cứ ngồi xuống, tự nhiên. Ta hứa cứu giúp cho. Ta còn sống đây thì không ai dám lấn hiếp, giết chú mầy vô cớ. Nếu cậu Cẩu không dùng mày thì ta trả tiền hàng tháng, chú mày canh giữ nhà này.

Tên hộ vệ nói tỉ mỉ những gì xảy ra. Lần đầu tiên, kể từ khi về Hòn Chông, cô gặp một trường hợp khó xử, vô cùng nguy hiểm. Chuyện giam cầm Xí Vĩnh nào phải là sự cao hứng ngẫu nhiên.

Đồng ý rằng cậu Cẩu thường nổi cơn điên, nhưng đó là cơn điên khôn ngoan để thỏa mãn tham vọng vô bờ bến.

Từ khi Bá Vạn chết, Mười Hấu mất bình tĩnh, muốn nắm trọn quyền. Những gì ông ta nói luôn luôn được cậu Cẩu tuân theo. Hỗm rày cô Huôi chỉ giữ thái độ yên lặng. Việc giam cầm Xí Vĩnh là âm mưu của ông Mười để dò xét phản ứng.

Suy luận như thế, cô Huôi thấy mình cô độc hơn bao giờ hết. Trước mặt chỉ còn hai đường: một là sống ngoài vòng thế sự, mỗi ngày dùng hai bữa cơm ngon, tai ngơ mắt điếc. Hai là phản ứng lại để cho Mười Hấu và cậu Cẩu hiểu rằng người có nhiều quyền hạn nhứt ở Hòn Chông hiện giờ chính là cô.

Nếu giữ thái độ thụ động, trong cơn hốt hoảng nào đó, cậu Cẩu dám cho bọn hộ vệ bao vây căn nhà nầy.

Cô Huôi ra lịnh cho tên hộ vệ:

– Xuống nhà bếp mà ngủ. Ngày mai, ta cứu chú mầy…

Nhưng tên hộ vệ vẫn chắp tay:

– Tôi sợ quá. Rủi ngày mai bà cứu không được. Còn cô Xí Vĩnh?

Cô Huôi gật đầu, nhìn nhận rằng tên hộ vệ biết lo xa:

– Mi trở lại nhà ông Mười Hấu.

Tên hộ vệ run lên:

– Hễ trở lại là tôi bị bắt luôn.

– Ta chết thì mi mới bị bắt. Mi quên rằng ta là người có quyền hạn rộng. Ta là mẹ của cậu Cẩu. Muốn làm việc gì lớn thì phải…nghe ta can gián. Nếu ông Mười Hấu hỏi, mi cứ nói đúng lời ta.

Tên hộ vệ mừng thầm:

– Xin bà dạy việc.

– Không có gì lạ. Nói rằng ta mời ông Mười Hấu đến.

Khi tên hộ vệ ra đến thềm nhà, cô Huôi gọi:

– Trở vô đây. Nếu ông Mười Hấu do dự thì bảo rằng đó là lịnh của ta.

Vừa ra tới đường cái, tên hộ vệ bắt đầu lo. Trời đã xế, dưới sông không còn một chiếc ghe xuồng qua lại. Trước nhà cậu Cẩu, hai tên hộ vệ cầm đoản đao đi tới đi lui.

Đến gần cổng nhà ông Mười Hấu – nơi ông Chúa Hòn cư ngụ trước kia – tên hộ vệ nghe tiếng gọi:

– Hy! Mầy về đây làm gì? Chỗ anh em, ta khuyên mầy nên lánh mặt.

Hy là tên đứa hộ vệ. Nó trả lời:

– Tao muốn trốn qua xứ khác, nhưng cô Huôi bắt buộc tao tới đây gặp ông Mười.

– Nãy giờ ông Mười cằn nhằn. Ông biết mầy cầu cứu với cô Huôi. Khi người lớn ăn thua với nhau thì kẻ nhỏ hứng chịu tất cả. Mầy thấy cô Xí Vĩnh không? Cô ta bị giam về tội làm tình với ông Bá Vạn hồi mấy năm về trước.

Đột nhiên tên hộ vệ nghiêm mặt, nói khẽ:

– Ông Mười tới.

Rồi anh ta đổi giọng:

– Mầy đứng lại cho tao trói.

Thằng Hy tin vào quyền lực của cô Huôi nên bình thản trả lời:

– Lát nữa hãy trói. Bây giờ, tôi là người tới đây theo lệnh của cô Huôi.

Ông Mười Hấu hơi ngạc nhiên vì cô Huôi đã có phản ứng quá nhanh. Cô là người mà ông ta ghét nhưng kính nể:

– Sao? Cô Huôi nói gì? Mầy vô đây.

Đến phòng khách, thằng Hy dừng lại:

– Thưa ông, cô Huôi dạy tôi mời ông tới thật gấp.

Để khai thác tin tức, ông Mười bèn giở giọng quát nạt:

– Mầy nói xấu tao điều gì? Ai cho mầy vô nhà đó?

– Dạ, cô Huôi gọi tôi vô rồi bắt buộc tôi tới đây.

Mười Hấu quát mắng:

– Tại sao mầy không cãi lại?

– Dạ, lúc ban đầu tôi cãi.

– Mầy cãi như thế nào?

– Dạ…tôi nói rằng…tôi là tôi tớ vừa bị rầy la.

– À! Mầy có cho cô Huôi biết chuyện con Xí Vĩnh bị lên án chém đầu không?

– Dạ, cô Huôi hỏi thì tôi phải trả lời…

– Mầy chưa nói thật. Tao giết mầy! Tôi tớ không được phép nói xấu chủ. Mầy hiểu chưa? Mầy là tôi tớ của tao chớ đâu phải của cô Huôi. Tại sao mầy vâng lời người ngoài?

Đã đến lúc thằng Hy nói liều:

– Cô Huôi bảo rằng cô là mẹ cậu Cẩu, ở Hòn Chông nầy không ai có quyền hạn lớn hơn cô.

– Xuống nhà bếp!      

Câu trả lời của thằng Hy khiến ông Mười lo sợ. Nếu đến gặp cô Huôi lập tức thì còn gì thể diện? Nhưng nếu không đến thì đó là hành động khiêu khích quá đáng.

Lúc nầy, nói chung thì dân chúng vùng Hòn Chông đều nhớ tới ông Chúa Hòn ngày trước. Hoặc cô Huôi bị giết, hoặc cô ra đi thì cậu Cẩu không tài nào trấn áp dư luận được. Kinh nghiệm cuộc khởi loạn ở núi Mo So đã cho ông Mười thấy rằng cậu Cẩu quá sợ chết và dân chúng sẽ kéo đến Hòn Chông nếu không có Bá Vạn cản ngăn kịp thời.

Lát sau, ông cũng mặc chỉnh tề ra sân. Ông cố ý đến trễ để chứng tỏ rằng mình chỉ tuân lịnh cô Huôi trong chừng mực nào đó thôi.

Đứa nữ tỳ đã thấy dạng ông Mười. Nó chạy vào. Nhưng cô Huôi nghiêm nét mặt:

– Cứ đứng đó hay vô đây luôn. Đừng chạy. Không có chuyện gì quan trọng cả.

– Ông Mười mặc áo gấm.

Cô Huôi cười thầm vì rõ ràng ông Mười đã xuống nước. Từ khi về Hòn Chông, chưa bao giờ ông ta ăn mặc như thế. Vì muốn ra vẻ trang nghiêm bệ vệ, vô tình ông ta để lộ mặt sợ hãi, thiếu tự tin.

Đứng lóng nhóng hồi lâu, đứa nữ tỳ bèn vào trong, chuẩn bị rót nước trà. Cô Huôi lại nhắc nhở:

– Ông Mười là ông của cậu Cẩu nhưng là người không làm chức gì ở Hòn Chông nầy. Lát nữa, khi nào ông ta gọi cửa thì mi ra đón rồi vào đây xin phép ta. Ông ta thắc mắc thì mi trả lời như ta vừa nói.

Thoạt tiên, ông Mười Hấu bước nhanh. Nhưng khi thấy đứa nữ tỳ chạy nhanh vào nhà cô Huôi, ông ta thêm kiêu hãnh, nghĩ thầm:

– Cô Huôi đang sợ. Hiện giờ, cô không còn vây cánh ở xứ nầy.

Đến trước cổng, ông Mười đứng thẳng người để chờ đợi đứa nữ tỳ. Ông hơi sốt ruột. Bên trong cửa mở he hé. Đứa tớ gái mở cánh cửa rồi khép lại.

Ông Mười đưa tay ngoắt:

– Đứa nào đó! Mở cửa chớ.

Nhưng đứa tớ quay mặt. Mười Hấu chưa biết nên chọn thái độ nào? Một là về, không thèm gặp cô Huôi. Hai là xô cổng tự tiện vào sân.

Đứa tớ gái bước chậm rãi:

– Thưa ông…

Mười Hấu ngoắt tay:

– Lại đây cho tao hỏi. Tại sao mầy không chào tao lúc nãy? Tao tới đây. Mầy không có mắt?

Đứa nữ tỳ chắp tay:

– Thưa ông, cô dạy rằng…ông là…

– Là gì?

Đứa nữ tỳ nói khéo léo:

– Nếu nói ra, chắc tôi bị rầy. Ông tha thứ thì tôi mới dám nói sự thật. Cô nói rằng ông là người không có quyền hạn gì ở xứ nầy. Nhưng cô dạy tôi mời ông vô.

Mười Hấu hơi ngại ngùng. Bỗng dưng, ông nảy ra ý nghĩ trở về nhà vì cô Huôi cố ý làm mất thể diện ông. Hai cánh cửa mở rộng. Đứa nữ tỳ thứ nhì chạy ra, chắp tay chào:

– Thưa ông, cô tôi xin mời.

Cô Huôi ngồi trên bộ ván gõ. Khi bước vào, ông Mười Hấu cứ im lặng, đến cái trường kỷ ở sát vách đối diện mà ngồi xuống.

Bầu không khí trở nên khó chịu. Ông Mười muốn rằng cô Huôi lên tiếng chào trước. Cô Huôi thì chờ đợi ông Mười. Ông Mười tằng hắng để lấy nghị lực.

Cô Huôi càng tự tin, cứ nâng tô trà lên uống rồi hạ cái tô xuống khá mạnh. Nghe tiếng động, Mười Hấu nhìn thẳng về cô Huôi. Cô Huôi lên tiếng:

– Sao ông Mười chưa nói gì? Tôi thì không quên ông, nhưng có lẽ vì bận rộn công việc nên ông quên tôi. Chắc không có chuyện gì lạ.

Mười Hấu đành chịu thua trước vẻ đẹp lộng lẫy nhưng oai nghiêm của đối phương:

– Dạ, thưa cô. Con Xí Vĩnh bị lên án xử tử. Chắc cô mời tôi tới đây vì chuyện đó!

Cô Huôi lắc đầu:

-Xí Vĩnh là người nhỏ tuổi. Nó bị lên án, đó là chuyện riêng trong gia đình cậu Cẩu. Tùy ý cậu biện định. Ngày cậu đem Xí Vĩnh về làm vợ, tôi không được báo trước. Nhưng đó là chuyện của cậu.

– Vậy cô mời tôi tới đây có việc gì?

Cô Huôi lườm ông Mười Hấu:

– Tôi muốn hỏi về ông Bá Vạn.

– Hôm đó, tôi có trình với cô: Bá Vạn chết vì cảm mạo.

Cô Huôi khoát tay:

– Con người chết rồi thì thôi. Nhưng tại sao không ai lo mồ mả cho Bá Vạn, hoặc lo cúng kiếng? Bá Vạn là người có tội nhưng cũng có công.

Mười Hấu dọ thử phản ứng của cô Huôi để biết cô có kiêng nể cậu Cẩu chăng:

– Tôi muốn làm lễ cầu siêu tại đây nhưng cậu Cẩu ghét Bá Vạn. Nếu vậy, xin cô nói cho cậu biết…

– Cứ làm lễ nơi khác. Hỗm rày, chắc cậu Cẩu muốn làm lễ “xưng vương”? Ông cứ nói thiệt. Tôi đồng ý chuyện đó.

Nghe qua, Mười Hấu mừng rỡ như mở cờ trong bụng:

– Thưa cô, nếu vậy còn gì may mắn cho bằng. Tôi không dè cô lo lắng cho cháu tôi đến mức đó. Vậy mà bấy lâu nay nó thất lễ với cô. Trời ơi! Mừng quá.

– Nó được nở mặt nở mày thì tôi vui mừng.

– Cô còn dạy điều gì không?

– Ngày mai tôi tới thăm cậu Cẩu. Sẵn có Tư Thiện, người ở chợ Rạch Giá mới vô, tôi muốn bày ra nhiều trò vui để chứng tỏ rằng ở Hòn Chông dân chúng không kém …người Lang Sa.

Mười Hấu ra khỏi ngưỡng cửa, day lại xá dài.

– Thưa cô!

– Gọi tới đây thật gấp.

Khi Mười Hấu vừa khuất dạng ngoài cổng, cô Huôi uống thêm một chén trà. Thế là bao nhiêu kế hoạch sẽ được thi hành như ý muốn. Cô cho một tên hộ vệ thân tín đến núi Đất, nhờ cha cô tìm một mớ thuốc độc.

– Gọi ông Tư Thiện tới đây!

Đứa nữ tỳ vào với Tư Thiện. Cô Huôi nói:

– Ông nên bày ra một buổi lễ với nhiều trò chơi…giống hệt như ở Rạch Giá. Mới đây, cậu Cẩu nổi cơn điên đòi giết những người chung quanh. Nếu không trấn áp kịp thời thì cậu ta sẽ nghi ngờ tới ông.

Mấy ngày qua, Tư Thiện sống vui vẻ, được cô Huôi che chở. Nhiều khi, ông ta muốn trốn ra khỏi vùng đồi núi nầy nhưng về Rạch Giá để tiếp tục nghề mua bán và dọ thám là điều ông ta không thích cho lắm. Ở đây, bên cạnh cô Huôi, ông ta thấy yêu đời hơn. Cô quá xinh đẹp, có cử chỉ nhã nhặn. Nếu cô từ chối không yêu, chừng đó ông ta trốn cũng không muộn.

Tư Thiện nói:

– Sống chết là do cô. Cô dạy là tôi tuân lời. Bày cuộc lễ tại đâu? Tốn kém bao nhiêu? Cô nói rõ thì tôi mới lo liệu được. Ở ngoài chợ Rạch Giá, khi người Lang Sa mới đến, có nhiều trò giải trí tuyệt diệu.

– Thì ông cứ chờ ý kiến cậu Ba.

Tư Thiện mừng khấp khởi. Rồi đây, nếu quân kéo vào chiếm Hòn Chông, ông ta sẽ giúp một tay đắc lực, cho bên này hay bên kia, tùy theo tình thế.

Lẽ dĩ nhiên, mấy tên hộ vệ làm sao chống cự nổi với binh hùng tướng mạnh. Nhưng trước khi xảy ra cuộc náo loạn đó, Tư Thiện có thể đứng về phe cậu Cẩu để kiếm chút ít bổng lộc. Mấy chục năm qua, ông Chúa Hòn đã vơ vét bao nhiêu vàng bạc của đám tá điền.

Nhưng cái bồng bột mà Tư Thiện ao ước trước tiên là vóc dáng yểu điệu của cô Huôi. Cô đã xinh đẹp, còn trẻ lại thông minh.

Liệu rồi đây ông ta được dịp thố lộ tâm tình? Cô Huôi ăn nói nghiêm nghị, lúc bối rối nầy nếu ông ta nói chuyện yêu đương ắt bị từ chối. Cô sẽ khinh rẻ và trừng phạt là chắc.

Đứa nữ tỳ chạy vào, bàn tán rằng cậu Cẩu sắp tới.

Cô Huôi nghĩ đến tánh mạng Xí Vĩnh. Nó sống thì kế hoạch đầu độc mới thực hiện được. Cậu Cẩu là đứa ngạo mạn mà chịu hạ mình tới đây thì cô nên tâng bốc để cậu ta vui lòng. Trong ngày lễ tưng bừng chánh thức nhìn nhận cậu là ông Chúa trẻ, Xí Vĩnh sẽ có dịp tốt nếu Tư Thiện bày ra nhiều trò vui lạ khiến cậu Cẩu quên đề phòng những chi tiết nhỏ nhặt lúc ăn uống.

Trước ngưỡng cửa, cô Huôi cười dòn:

– Cậu Ba hôm nay coi đạo mạo quá.

Khi ra đi, cậu được ông Mười Hấu dạy tỉ mỉ cách xưng hô vì cuộc gặp gỡ nầy có lợi cho cậu. Nhưng cậu quên phần lớn lời căn dặn.

– Dạ! Dì nói đúng quá. Hết thời buổi ăn chơi thì tôi phải đạo mạo cho thiên hạ sợ. Dì nhớ hôm ở núi Mo So không? Tôi ưa giỡn, luôn luôn dưới ghe có vài cô gái hầu hạ.

– Mời cậu ngồi!

Cậu Cẩu ngồi xuống ghế trường kỷ. Cô Huôi bèn ra lịnh:

– Nữ tỳ đâu? Rót nước rồi ra ngoài. Hôm nay, ta nói chuyện riêng với cậu. Chúng bây trót khờ dại hôm nay, ta tha tội cho. Lần sau đừng vô phép như vậy nữa.

Một đứa nữ tỳ cúi đầu trình bày:

– Xin cô dạy con.

– Hễ gặp cậu Ba thì chắp tay xá ba lần. Ra ngoài đi!

Khi đứa nữ tỳ khuất dạng bên kia cánh cửa, cô Huôi gọi:

– Cậu Ba lại đây! Cậu mến tôi không? Lúc sau nầy, thấy cậu làm được nhiều chuyện quan trọng, tôi mừng.

Cậu Cẩu thích chí vì được khen ngợi:

– Thưa dì, hôm qua tôi muốn giết một người để ăn mừng. Đó là con Xí Vĩnh.

Giả vờ như chưa hay biết chuyện ấy, cô Huôi hỏi:

– Nó là cái gì mà giết?

Vì nghe không rõ, cậu Cẩu trả lời:

– Thưa dì, nó dám ho lớn tiếng khi tôi ra lịnh cấm tất cả mọi người không được ho, trước mặt tôi.

Đối với cô Huôi thì chỉ cần một lời nói khéo léo là gỡ được tội cho Xí Vĩnh:

– Tôi hỏi: Nó là cái gì? Tôi đâu có hỏi: Nó làm chuyện gì? Cậu trả lời kỹ lưỡng giùm.

Cậu Cẩu cau mày:

– Dạ, nó là cô gái mà tôi đem về để mua vui.

– Nó phải là vợ cậu không?

– Dạ, đâu phải là vợ! Một thứ đầy tớ. Ngày xưa, nó ở với ông Bá Vạn rồi qua tay thằng A Chúa, đàn hát tại xóm Vàm Rầy, trong căn phố dự trữ bong bóng cá, tôm khô. Dơ dáy quá. Bởi vậy mà tôi ghét. Nó sống để làm gì?

Lời lẽ ấy xúc phạm đến tự ái của cô Huôi. Là đàn bà, cô chẳng bao giờ muốn nghe lời khinh miệt hồ đồ ấy. Cô Huôi sống vui vẻ, im lặng trả thù những ai khinh miệt rằng đàn bà bất tài. Nếu không gì bất trắc xảy ra, nhứt định trong đôi ba ngày nữa cậu Cẩu phải chết vì tay con người mà cậu Cẩu xem là trò chơi dơ dáy.

– Cậu nói đúng!

Dáng điệu cậu Cẩu lúc bấy giờ thật dễ ghét, với hàm râu lún phún và đôi mắt xếch, như chỉ muốn nhìn lên cao. Cậu ta ưỡn ngực:

– Dì muốn tôi trừng trị nó cách nào? Hồi đó, đá cá thia thia ở núi Mo So, hễ bực mình thì tôi ném bỏ. Có con cá mun, hớt được ở trên núi trong bọng cây. Ai cũng nói nó là cá quí. Vậy mà tôi coi như con trùn, con dế.

Giọng cô Huôi tỏ rõ từng tiếng:

– Người sắp được tôn làm Chúa Hòn, người có khí tượng đế vương như cậu thì chớ nên ăn thua với những cô gái dơ dáy.

Bị công kích thình lình, cậu Cẩu nắm tay lại:

– Dì nói sao? Tôi làm một chuyện không xứng đáng à?

– Chớ còn gì nữa. Người có khí tượng đế vương nên ăn thua với kẻ khác, ngang hàng với mình. Thí dụ như bọn Lang Sa. Nếu cậu ăn thua với con Xí Vĩnh thì thiên hạ có thể hiểu lầm rằng cậu ngang hàng với nó, phàm tục như nó.

Cậu Cẩu chụp lấy cái tô đựng nước trà trước mặt. Cô Huôi bèn khiêu khích:

– Trước kia, khi còn đá cá thia thia, cậu là người phàm. Bây giờ, cậu là người cao cả hơn. Nếu tha tội cho con Xí Vĩnh, cậu được tiếng tốt.

– Nhưng người ta nói tôi hèn nhát…

Cô Huôi đáp:

– Ai nói thì cậu giết người đó. Thí dụ như ông Bá Vạn cậy thần cậy thế.

Hồi lâu, cậu Cẩu mới buông cái tô ra:

– Dì nói đúng.

– Nãy giờ, cậu muốn làm gì? Đừng nóng nảy vô cớ. Vua chúa luôn luôn bình tĩnh và rộng lượng.

– Nhưng mà tôi lỡ lên án xử tử nó rồi. Chẳng lẽ tôi nói ngược với tôi.

– Nhơn dịp lễ “tôn vương”, cậu tha tội cho Xí Vĩnh. Đồng thời, cậu cho mọi người ăn uống no say suốt ngày đêm. Trong kho, còn nhiều tiền mà! Ngày xưa, khi lên ngôi, vua chúa mở ngục, ân xá tất cả tội nhơn…Ân xá vì khinh rẻ họ, chớ đâu phải vì sợ họ…

Bỗng dưng, cậu Cẩu cười dòn, vỗ tay như đứa bé đang gặp cái bánh:

– Tôi tha tội cho Xí Vĩnh. Buổi lễ chừng nào cử hành vậy dì? Nhờ dì giúp đỡ.

Hồi lâu, cô Huôi giảng dạy cho cậu Cẩu nghe rõ về tình hình ở chợ Rạch Giá. Trong khi quân Lang Sa muốn dò xét sự việc ở Hòn Chông, buổi lễ nầy là một lời hăm dọa. Tư Thiện biết những trò chơi lạ mắt, vui tai. Nếu dám tốn tiền thì ảnh hưởng lớn lao vô cùng. Bọn dọ thám sẽ báo cáo với quân Lang Sa rằng ở Hòn Chông có ông Chúa thông minh, oai vệ không kém bọn chúng. Muốn gây sự, chúng cũng do dự. Hơn nữa, người tài giỏi nhứt của quân Lang Sa đã đầu hàng…ông Chúa rồi.

Cậu Cẩu nói:

– Xin dì cho Tư Thiện tới gặp tôi để biết rõ tốn kém bao nhiêu tiền.

Cô Huôi tiễn cậu Cẩu ra cửa:

– Tư Thiện là tôi tớ của cậu. Hỗm rày ông ta ghi chép sổ sách rành mạch lắm.

Hai ngày sau, dân chúng Hòn Chông tha hồ ăn uống, khỏi tốn tiền. Tư Thiện muốn biểu diễn tài năng của mình để lấy lòng cậu Cẩu, nhứt là để làm vui mắt cô Huôi.

Thật ra, Tư Thiện chỉ là người có tài bắt chước. Năm ngoái, tại chợ Cái Bè (Mỹ Tho) ông ta chứng kiến một buổi lễ khao quân do người Lang Sa tổ chức, sau khi dẹp loạn ở Đồng Tháp Mười.

Quan tổng đốc Lộc vì viên quan ba người Pháp ngồi trên cái đài khá cao để uống rượu và cổ võ dân chúng.

Tư Thiện gây lại bầu không khí lạ lùng ấy, thêm thắt nhiều chi tiết. Lẽ dĩ nhiên, từ cô Huôi đến ông Mười Hấu, cậu Cẩu đều trố mắt. Từ thuở bé đến lớn, chưa lần nào họ thấy cuộc vui sôi nổi, hoàn toàn mới lạ so với những buổi hội hè đình đám vào dịp kỳ yên.

Bọn hộ vệ khăn xanh, lưng thắt dây nhiễu đỏ, ống quần túm gọn, bó sát phía trên mắt cá. Mỗi đứa cầm ngọn dao ngắn, trên ngực có vải vuông, vẽ chữ “tốt”.

Trên khán đài, cậu Cẩu ngồi trên chiếc ghế vuông cẩn đá cẩm thạch. Ông Mười Hấu ngồi bên cạnh, phía sau có hai đứa bị quạt đứng hầu.

Giữa sân, một thân cau lão cặm đứng, bào trơn láng chấp chóa dưới ánh mặt trời. Trên chót cây cau, treo lủng lẳng nào là gấm vóc lụa là, tiền điếu, những giỏ đựng trái cây, bánh ngọt.

Mấy món nầy buộc chung quanh vành tròn. Vành nối lên ngọn cau, dựa vào cái rỏ rẻ, có sợi dây dài điều khiển từ bên dưới.

Tư Thiện nắm đầu dây kéo mạnh.

 Cái vành tròn và mấy miếng lụa, mấy cái giỏ đựng bánh được rút lên cao.

Ông ta từ từ buông dây.

Cái vành tròn từ từ hạ xuống.

Cậu Cẩu cười híp mắt:

– Cái trò nầy chắc vui lắm. Tại sao chưa bắt đầu? Dân chúng chờ đợi từ nãy giờ…

Đôi mắt Tư Thiện phảng phất chút gì buồn bã. Phải chi cô Huôi có mặt trên khán đài để chứng kiến trò vui nầy, do ông ta bắt chước theo kiểu của người Lang Sa.

Ông ta đâu có dè cô Huôi có ý vắng mặt để tỏ ra khiêm tốn, khinh thường địa vị. Cô ngồi trong nhà mà ăn trầu. Bọn nữ tỳ chạy lăng xăng dọn chén dọn dĩa. Từ nhà bếp, thức ăn thơm ngon bay mùi quyến rũ.

Tư Thiện giựt mình khi nghe cậu Cẩu thúc hối:

– Xong chưa? Người ta đang chờ. Dòm cái gì vậy?

Tư Thiện đáp nhanh, che giấu tâm trạng của mình:

– Dạ, chờ cho đông hơn. Tôi không dè vùng nầy dân chúng giàu có đến mức nầy.

Cậu Cẩu hỏi:

– Giàu hơn chợ Rạch Giá không?

– Dạ, hơn nhiều.

– Nghe nói thành Gia Định – Sàigòn sung túc lắm.

– Nhưng thưa ông, vùng Hòn Chông nầy đâu kém..

– Tư Thiện đáng được thưởng. Này, uống một chén rượu với ta. Ngươi thoa dầu chai với mỡ heo lên thân cây cau để làm gì?

Nãy giờ ông Mười Hấu ngồi ưỡn ngực, khoe chiếc áo gấm. Để cho Tư Thiện đừng chê cậu Cẩu là trẻ con, dại dột, ông bèn đỡ lời:

– Để trèo lên, hễ sảy chân thì té.

Một dịp để Tư Thiện nịnh hót khéo léo:

– Thưa ông, trò chơi nầy thú vị ở chỗ có nhiều người té vì ham leo trèo giựt phần thưởng.

Cậu Cẩu cằn nhằn:

– Nắng quá! Ta ra lịnh. Đừng cãi ta.

Tư Thiện khoát tay. Hai tên hộ vệ đánh trống inh ỏi theo nhịp trống múa lân. Ông ta đưa một tay lên cao. Tiếng trống dứt hẳn.

– Bà con cứ trèo lên cây cau nầy mà lãnh thưởng. Cứ được món nào đem về nhà món ấy. Nhưng hễ té thì ráng chịu.

Sợi dây được buông lơi. Cái vành tròn hạ xuống thấp. Năm ba chàng trai chạy tới, đưa tay giựt mấy miếng lụa. Nhanh như chớp, Tư Thiện rút sợi dây, cái vành lên cao, khỏi tầm tay bọn trai.

Các cậu đứng sát gốc cột.

Tư Thiện nói:

– Anh em cứ trèo lên. Cây cau ngoài vườn, anh em lên tới ngọn, huống gì cây nầy thấp chủm.

Các cậu ôm thân cau, trợt chân nhưng cố gắng phóng. Một ông lão nói:

– Nè! Làm như vầy.

Rồi ông ta quỳ gối xuống đất:

– Tụi bây đứng trên vai tao. Hễ tao đứng thẳng chân thì tụi bây ôm sát cây cau, làm sao té được? Dù cho cây cau..cao tới đâu, mình cũng trèo tới.

Cậu Cẩu trố mắt, chờ xem kết quả. Một chàng trai đứng trên vai ông lão. Để gây sự hào hứng, Tư Thiện cố ý buông thòng cái vòng.

Chàng trai chụp được cái giỏ đựng bánh. Nhưng chàng ta ôm gốc cau với một tay còn lại nên mất thăng bằng té nhào xuống đất.

Bánh trái văng ra, bọn người chung quanh vỗ tay:

– Cho tụi tôi ăn với.

Ông lão nói:

– Cứ ăn đi. Lần hồi, tôi giựt tất cả mấy món trên cái vòng. Anh em trai tráng ra đây, người nầy đứng trên vai người kia, đứng hai lớp là tới chót ngọn.

Ba chàng trai cởi áo, chạy ra. Ông lão và chàng trai lúc nãy cười hì hì, tay chân đều lem lấm dầu mỡ. Tư Thiện mừng thầm vì trò chơi nầy đã làm hài lòng cậu Cẩu.

Cậu đưa tay ngoắt:

– Tư Thiện! Đưa sợi dây cho ta nắm. Ta điều khiển giỏi hơn mi! Ngồi gần ta cho vui.

Cậu Cẩu nói to giọng:

– Ta nóng nảy lắm. Một là tụi bây té gãy tay. Hai là tất cả mấy món quà bị mất sạch. Nè!

Cậu thòng cái vòng xuống. Bao nhiêu lụa là, hoa quả di chuyển tòn ten, trong tầm tay.

Ông lão quỳ xuống. Cậu giựt cho cái vòng chạy lên cao. Một chàng trai đứng lên vai ông lão rồi với lên. Cậu rút cái vòng tận chót ngọn cây cau. Ông lão đứng dậy.

Tình cờ, cậu hạ thấp xuống, khi chàng trai vừa đưa tay lên thì cậu giựt mạnh. Chàng trai chới với, đạp lên vai ông lão để lấy trớn.

Khi té xuống, chàng ta nắm trong tay một xâu tiền kẽm..

Cậu Cẩu day lại Tư Thiện:

– Một năm, ta bày mười cuộc lễ như vầy. Cho thiên hạ té lăn cù…như con heo.

Tư Thiện đáp:

– Hễ ông ra lịnh thì tôi sẵn sàng. Còn trò chơi khác vui hơn, ở mé sông.

– Vậy hả?

Cậu buông sợi dây, cái vòng hạ sát đất…Trẻ con chen nhau chạy tới. Cậu Cẩu gật đầu:

– Người Lang Sa bày trò nầy khéo thật, nhưng còn thua ta. Lần sau ta làm như vầy. Tư Thiện đoán thử…

Mặc dầu muốn nịnh hót để làm vừa lòng ông Chúa trẻ con ấy, Tư Thiện vẫn không tìm ra lời nói duyên dáng nào cả:

– Thưa ông, người Lang Sa ngu dốt.

– Họ ngu dốt lắm. Nếu khôn ngoan thì họ lấy lọ chảo mà thoa vào cây cột. Mấy người giành giựt sẽ đen đúa, mặt mày có vằn có vện. Thôi! Ta ăn uống cái gì cho vui miệng rồi hãy xuống bến.

Cậu Cẩu và Mười Hấu rời khán đài vào nhà. Nãy giờ cô Huôi chờ đợi một cơ hội thuận tiện nhất. Hôm nay, ở nhà bếp hơn chục đứa nữ tỳ làm việc không hở tay. Khi được tha tội, Xí Vĩnh ăn mặc như đứa nữ tỳ, đi tới lui sau bếp.

Xí Vĩnh tin chắc rằng hôm nay thể nào cậu Cẩu cũng chết. Cô ta đến gần cô Huôi:

– Thưa cô, chừng nào?

Cô Huôi trả lời:

– Lát nữa. Bây giờ hơi sớm.

– Dạ thưa, cậu vô kìa!

Cô Huôi nghiêm nét mặt:

– Kêu bằng ông. Ngu dại quá! Nên mềm mỏng, nịnh hót. Còn sớm lắm. Rủi cậu ta té lăn sau khi ăn uống thì ông Mười Hấu dễ truy ra thủ phạm. Chờ khi ban nhạc Dù Kê múa hát, cậu uống rượu. Nhớ chưa?

Khi bước vào nhà, ông Mười Hấu sanh nghi vì Xí Vĩnh và cô Huôi nói chuyện với nhau, gương mặt kém trầm tĩnh. Ông Mười đến gần cô Huôi:

– Hôm nay vui quá. Tư Thiện là người có tài. Phải chi cô ra xem cho đỡ buồn.

Cô Huôi nghiêm mặt:

– Đàn bà không nên ngồi trên cao. Nếu ngồi gần cậu Cẩu thì thiên hạ hiểu lầm, cho rằng tôi muốn án bóng. Thà rằng tôi ở đây, coi sóc chuyện bếp núc. Hôm nay là ngày lễ của cậu Cẩu chớ đâu phải của tôi.

Cậu Cẩu bước tới:

– Cám ơn dì. Lát nữa vui lắm. Tụi nó giựt giàn tại mé sông. Dì ra thì con mới vui.

Cô Huôi muốn từ chối, ngặt vì chưa có lý do xác đáng. Xí Vĩnh bạo dạn nhưng vụng về. Cô muốn ở bên cạnh nó để đỡ gạt giùm nếu có điều gì lộ bí mật. Hơn nữa, trong trường hợp Xí Vĩnh bị bắt quả tang, Mười Hấu sẽ làm hỗn, tra tấn tàn nhẫn để bắt buộc nó tố cáo cô.

Cậu Cẩu ngồi xuống ghế, nâng chén uống rượu cạn rồi hinh hỉnh lỗ mũi:

– Cái gì ngon quá vậy?

Cô Huôi cười:

– Cậu muốn ăn thử? Chắc là mùi tôm chiên. Tôm tươi, nướng lửa than.

– Ngon thiệt. Cho ta ăn thử một con.

Theo lịnh cô Huôi, Xí Vĩnh bưng cái dĩa:

– Thưa cô, con tôm này chưa chiên, chờ đợi lát nữa thì mới ngon…

Cậu Cẩu nói đùa, liếc về Xí Vĩnh:

– Con nhỏ này bữa nay coi ngộ quá!

Xí Vĩnh cúi mặt, không dám trả lời. Cậu Cẩu chụp lấy con tôm, lột vỏ rồi đưa lên miệng nhai lua láo:

– Chưa chín thì ngọt hơn là chín. Ta uống rượu vô cái gì mà không cháy? Hay lắm. Vừa ăn vừa uống, ta lại xem trò hề dưới nước. Nè! Lát nữa, nướng thêm vài con tôm, làm nước mắm thật ngon.

– Được rồi…Cậu cứ vui chơi, lát nữa đói hơn, ăn còn ngon hơn lúc nầy.

Ông Mười Hấu hơi áy náy vì khi cậu Cẩu nói chuyện, Xí Vĩnh như lúng túng, hai tay rờ vào túi áo rồi rút ra vuốt tà áo cho thẳng. Hôm nọ, lúc chuẩn bị đầu độc Bá Vạn, ông Mười đã từng trải qua cơn khủng hoảng tương tự. Nếu cô Huôi không có mặt tại đây, ông Mười ra lịnh xét bắt lập tức.

Đôi mắt cô Huôi sáng ngời lên khi nhìn Mười Hấu:

– Ông muốn ăn? Hồi sáng tới giờ, tôi nhịn đói vì bận rộn bao nhiêu công chuyện.

Ông Mười nói:

– Đáng lý thì hôm nay con gái tôi phải có mặt. Từ khi ông Bá Vạn mất, con gái tôi cứ bấn loạn, điên không ra điên. Thằng Cẩu cũng mang một chứng bịnh như mẹ nó. Chắc là tôi chưa làm điều gì từ thiện. Tội nghiệp ông Bá Vạn.

Dụng ý của Mười Hấu là dò xét phản ứng cô Huôi để biết rõ cô dính líu tới mức nào trong âm mưu sắp tới. Cô Huôi dư hiểu rằng Bá Vạn chết vì đầu độc. Nhưng cô Huôi nói lảng qua chuyện khác:

– Hôm nào, ông gọi cô Ngó tới nhà tôi cho vui.

Cậu Cẩu ăn xong con tôm, đưa mấy ngón tay lên góc cột mà quệt cho sạch. Đó là cử chỉ không sang trọng chút nào cả. Cô Huôi hơi bực nên ra lịnh:

– Còn trò tiêu khiển nào thì cứ làm cho nốt, còn ăn uống nữa chớ? Đêm nay, ban hát Dù Kê của người Cao Miên diễn một tuồng xuất sắc.

Cậu Cẩu đi nhanh xuống bến. Mười Hấu ngỏ lời với cô Huôi:

– Mời cô coi cho vui trong giây lát.

Tình thế thật khó xử. Cô Huôi muốn ở gần Xí Vĩnh. Nếu từ chối lời Mười Hấu thì ông ta thêm nghi ngờ. Chưa chi mà cô Huôi hơi buồn bực. Cô nhớ tới Bá Vạn. Hồi còn sống, Bá Vạn là người giàu sáng kiến và cũng là người thực hành quá giỏi. Hay là việc đầu độc sẽ thất bại?

Cô thì có đủ quyền lực để tự biện hộ. Nhưng ai cứu cho Xí Vĩnh lần thứ nhì!

– Tôi đi bây giờ. Nhưng tôi nói trước là tôi đứng trong giây lát.

Tư Thiện mừng rỡ về việc cô Huôi đến chứng kiến một trò chơi mới mẻ do ông ta bày ra.

Một cây cau trơn láng được đóng vào bờ, thân cây giơ ra ngoài như cây cầu. Ngoài chót cây cau, có miếng vải để treo vào cây cờ.

Cậu Cẩu cúi xuống khen ngợi:

– Tư Thiện giỏi quá. Cây cau nầy giống như cây cột hồi nãy trơn láng, thoa dầu. Dầu gì hôi hôi.

Tư Thiện đáp:

– Dạ, dầu mù u. Tốt lắm.

Như sực nhớ đến khí tượng đế vương của mình, cậu Cẩu ưỡn ngực hỏi:

– Người Lang Sa dùng dầu gì?

– Dạ, họ thoa cây cau bằng một thứ mỡ, kêu là mỡ bò.

– Mỡ bò tốt hay là dầu mù u tốt?

– Dạ, dầu mù u trơn hơn nhiều. Người Lang Sa đâu có dầu mù u. Họ dốt lắm. Xứ họ quá nghèo, làm sao có dầu nầy.

Một hồi trống nổi lên. Tư Thiện tuyên bố điều kiện dự giải. Mỗi người phải đứng trên bờ, ngay gốc cây cau rồi chạy ra ngoài giựt cho bằng được lá cờ để sau đó lãnh thưởng. Dân chúng tỏ ra vui vẻ, bàn qua lại:

– Dễ ăn hơn hồi nãy. Rủi té thì mình tắm luôn, không sợ gãy tay, trặc chân.

Tư Thiện liếc phía sau. Cô Huôi bước chậm rãi, đến gần cậu Cẩu. Tư Thiện khoát tay. Một hồi trống nổi lên.

Hai ba người đến gần cây cau, chạy thẳng ra ngoài như đi trên cây cầu trơn trợt. Vừa di chuyển được vài bước là tất cả đều té. Nước văng lên trắng xoá. Họ trồi đầu lên, lội vào bờ.

Cậu Cẩu thúc giục:

– Không lẽ xứ mình thiếu nhân tài? Té hoài vậy?

Một chàng trai bước chậm rãi đến gốc cây cau, ngắm nghía hồi lâu. Anh ta nói với đồng bọn:

– Mình đi cho chậm..Để tôi đi một mình. Cây cau nầy giơ ra ngoài, như cây cần câu. Nhiều người đi một lượt thì đầu cầu giựt lên, dễ té.

Nhưng vừa đi được bốn bước, anh ta lảo đảo như người say rượu, nhào xuống nước.

Cậu Cẩu day lại Tư Thiện:

– Thứ nầy sao khó chơi quá vậy? Người Lang Sa đi qua cây cầu như vầy được không?

Để làm thỏa mãn tự ái cậu Cẩu, Tư Thiện đáp:

– Tụi nó lớn con, dễ té hơn người mình. À! Chú nầy…

Một chàng trai đứng ưỡn ngực, lướt thật nhẹ rồi nhắm mắt chạy nhanh trên cây cau. Ngọn cây đưa qua đưa lại. Nhưng trước khi té, anh ta đã kịp thời phóng tới chụp cây cờ, nắm gọn trong tay.

Cử toạ vỗ tay ầm ĩ.

Nhưng có hai người không vỗ tay. Đó là cô Huôi và Mười Hấu. Cô Huôi day lại:

– Ông Mười có xem không?

Mười Hấu biết rằng cô Huôi nói châm chọc. Người theo dõi đang bị theo dõi ngược lại. Lúc nầy, nếu buông lơi, xem thường mọi cử chỉ của cô Huôi thì ông Mười và cậu Cẩu có thể bị suy sụp tan tành sự nghiệp. Mười Hấu càng nghi ngờ khi bắt gặp trong ánh mắt Tư Thiện một chút gì tình tứ kín đáo. Tư Thiện đã mê cô Huôi. Nếu cô Huôi liên kết với hắn thì còn gì là cậu Cẩu! Hèn gì cô tìm cách giúp đỡ Tư Thiện, giao phó cho bao nhiêu công việc quan trọng.

Cuộc vui đã kết thúc.

Cậu Cẩu ra lịnh:

– Bây giờ thì ăn uống.

Cô Huôi nghĩ đến Xí Vĩnh. Lúc vắng mặt cô, nãy giờ nó còn giữ vững tinh thần hay không? Mớ thuốc độc phải để trong món ăn mà cậu Cẩu thích nhất. Cô chưa căn dặn kỹ lưỡng. Phải gặp Xí Vĩnh để nói một lần chót. Rõ ràng Mười Hấu muốn theo dõi cô.

Khi đến gần nhà bếp, cô Huôi day lại:

– Ông Mười! Ông đi đâu?

Mười Hấu hơi bẽn lẽn:

– Tôi mừng ngày hôm nay. Hồi nãy tôi mời cô xuống bến coi tụi nó đi…cầu.

Cô Huôi chụp lấy tiếng nói kém thanh tao ấy:

– Trước mặt bọn nữ tỳ, ông đừng ăn nói cẩu thả.

Mười Hấu giận căm gan. Lần đầu tiên, ông bị cô Huôi mắng nhiếc. Nhưng đó là lỗi của ông. Ông vừa đi vào nhà vừa nghĩ tới lúc cậu Cẩu đưa con tôm nướng vào miệng mà nhai rồi lột con tôm khác, chấm vào chén nước mắm. Cậu té lăn ra, chân co lại rồi đạp mạnh, hai tay bíu vạt áo, thò vào cổ họng. Đúng là hình ảnh của Bá Vạn, trong đám sậy.

Mười Hấu muốn chạy trở lại để khuyên đứa cháu đừng ăn uống bất cứ món gì từ nhà bếp dọn lên. Đồng thời, ông khuyên cậu Cẩu nên bắt con Xí Vĩnh mà tra tấn, đừng cho cô Huôi hay biết.

Ông quơ tay:

– Lão bộc đâu?

Bàn tay đụng nhằm chồng dĩa. Lão bộc vào khom lưng, lượm mớ miểng bể:

– Thưa ông!

– Ai biểu lượm? Đốt đèn lên, hai cây đèn sáng. Trong tủ không còn tăm dạng cái dĩa xanh, vậy chớ nó ở đâu?

Hai ngọn đèn sáp được đốt lên. Mười Hấu cầm một cây, rọi lên cái án thư mà không bao giờ ông dùng đến. Ông nhớ đến cái rương xe, đựng nào quả, nào tráp, nào chén uống trà:

– À! Đây rồi!

Lão bộc tiếp một tay, dỡ nắp rương lên. Ông Mười Hấu mở cái tráp:

– Nó ở đây. Vậy mà nãy giờ…

Cái dĩa khá nặng, mát lạnh nằm gọn trong bàn tay ông. Ông quăng ngọn đèn sáp ra sân, đi thẳng đến nhà cậu Cẩu. Vì ông đi quá nhanh, bầy chó cứ sủa theo.

Ông la lên:

– Chó! Mày quên tao rồi hả? Tao đập bây giờ.

Đó là mấy con chó săn của cậu Hai Điền còn để lại. Với cái dĩa ngừa thuốc độc trong tay, ông Mười mừng thầm, cầu mong rằng đằng kia bữa tiệc chưa mở đầu vì còn chờ ông.

Con chó chạy theo, cong đuôi. Nó cắn ống quần ông, đôi ba lần.

Ông nghĩ thầm:

– Chó là loài thú có linh tánh. Cứ cho nó đi theo. Bữa nay nó làm điềm gì lạ quá!

Trên bộ ván cẩm lai, cậu Cẩu ngồi uống rươu, tay nâng cái đùi gà lên mà khen ngợi:

– Ngon quá!

Phường nhạc ngũ âm trổi lên. Ông Mười Hấu đến ngồi gần đứa cháu ngoại. Ông liếc tứ phía không có Xí Vĩnh và không có cô Huôi. Phải chăng họ từ bỏ tham vọng, dời việc đầu độc qua một dịp khác?

Gương mặt cậu Cẩu vẫn hồng hào. Ông Mười hỏi:

– Cháu ăn lâu mau rồi?

Cậu Cẩu không nhòm ông Mười, cứ trả lời:

– Ăn uống là chuyện kéo dài. Nãy giờ ăn nhiều lắm nhưng mà cũng như chưa ăn.

– Cháu nói lạ quá. Rượu ngon không?

– Mới uống được hai chén, chưa say.

Đôi mắt cậu Cẩu trở nên mơ màng lim dim. Thật là khó xử cho ông Mười. Nên dẹp tiệc rượu nầy, ném bỏ tất cả các thức ăn, hay cứ ngồi mà chờ đợi?

Thuốc độc có loại chỉ công phạt sau khi ăn một buổi hay đôi ba ngày. Nghe đâu mấy ông thầy Chà chế biến ra thứ thuốc lợi hại, nạn nhân chỉ chết sau khi ăn nhằm thịt bò hoặc thịt vịt Xiêm.

Đó là chưa nói đến những thứ thuốc bột giống như tiêu sọ đâm nhỏ. Hễ ăn vào, nạn nhân lần hồi mang chứng đau bụng kinh niên. Mớ bột ấy nở ra to dần rồi quấn lại, tạo ra những mớ tóc rồi, những cây đinh dày gần một tấc trong bao tử.

Vài con ruồi bay gần dĩa thịt. Một con ruồi nhỏ rơi vào chén nước mắm. Ông Mười rùng mình tự hỏi:

– Phải chăng con ruồi là miếng da trâu trá hình? Nhiều người bị “thư” miếng da trâu. Vô bụng, miếng da nở to ra, choán đầy cái bao tử.

Cậu Cẩu hạ chén xuống:

– Ông ngoại nghe ngũ âm không?

Để dò xét sức khoẻ của đứa cháu ngoaị, ông Mười nắm tay cậu Cẩu:

– Uống rượu giỏi quá vậy? Thôi, bây nhiêu đủ rồi. Uống nhiều sanh bịnh. Cỡ nầy tiết trời độc địa.

Cậu Cẩu đáp:

– Ông ngoại coi kìa! Mấy con đó múa coi được quá.

– Cháu buồn ngủ thì nằm xuống..

Cậu Cẩu lắc đầu:

– Làm gì mà buồn ngủ!

Như vậy có nghĩa là từ khi ông Mười vắng mặt, cậu Cẩu chưa ăn hoặc uống món gì có chất độc.

Giàn ngũ âm biểu diễn khá vui, gồm những dụng cụ lạ lùng: trống bịt bằng da sấu, những miếng tre già dày mỏng khác nhau, mỗi miếng tạo một âm thanh. Ngoạn mục nhứt là mớ cồn bằng đồng, sắp xếp theo hình vòng cung. Nhạc công ngồi xếp bằng trên chiếu, giữa vòng cung ấy. Anh ta dùng hai cái dùi nhỏ, mỗi lần gõ trên hai miếng cồn.

Âm thanh dồn dập, một nhạc khí mà rộn rịp bằng hai nhạc khí cộng lại. Nơi góc nhà, một ông lão mù loà đờn cây đờn kìm khổng lồ. Đờn có cần dài, bốn dây. Thùng đờn là con cần đước ôm không xuể trong vòng tay, bị móc ruột. Mai và yếm láng bóng vì xài quá lâu năm.

Cậu Cẩu vỗ tay:

– Hay lắm! Hay lắm!

Một hàng vũ nữ gồm bốn đứa, từ góc phòng tiến ra. Mỗi vũ nữ đầu đội mão nhọn, mấy ngón tay có gắn chóp nhọn bằng đồng, bóng láng.

– Hay lắm! Hay lắm!

Cậu Cẩu đứng dậy, nghiêng mình như muốn nhìn bọn vũ nữ từ phía sau lưng.

Cậu cười toe, nói tiếp:

– Rượu đâu! Rượu với tôm nướng!

Nghe lịnh ấy, Xí Vĩnh chạy xuống nhà bếp. Từ nãy giờ, nó đứng ngoài cửa. Cô Huôi hỏi:

– Dọn thức ăn ra?

– Dạ, cậu đòi rượu với tôm nướng.

Cô Huôi nói khẽ với

– Đem ra quá sớm họ nghi ngờ. Chờ lát nữa. Mi trở lên coi ông Mười Hấu đang làm gì? Nãy giờ ổng tức lắm.

Xí Vĩnh đến gần ngưỡng cửa. Nó thấy bàn tay ông Mười đang thò vào túi áo, đem ra cái dĩa màu xanh.

Cậu Cẩu vỗ tay, nói to:

– Rượu đâu! Tôm đâu! Lúc này ăn …cho chết. Uống cho chết. Ta muốn chết với mấy nàng tiên này.

Ông Mười Hấu hơi áy náy. Giờ này, cô Huôi đang suy nghĩ và theo dõi kế hoạch giết cậu Cẩu và giết luôn ông.

Nếu bỗng dưng ông ra về thì vô lý quá. Biết đâu cô Huôi và Xí Vĩnh không giết cậu Cẩu bằng thuốc độc nhưng dùng một thủ đoạn khác. Bỗng dưng bọn vũ nữ bước đến trước mặt cậu Cẩu, điệu vũ đã chuyển biến theo một tiết tấu khác.

Có bóng người thấp thoáng ngoài cửa.

Day lại, ông Mười thấy cô Huôi. Cô vẫn nghiêm nét mặt, nói với đứa nữ tỳ:

– Tôi về nhà.

Như quá ham vui, đứa nữ tỳ ngỏ lời:

– Thưa bà, họ múa hát đẹp quá…

Cô Huôi nói gắt:

-Ta hơi mệt, buổi lễ còn kéo dài tới nửa đêm.

Đứa nữ tỳ ngoan ngoãn vâng lời. Cô Huôi nói nhưng không nhòm thẳng vào mặt ông Mười Hấu:

– Tôi về. Ông ở lại với cậu Ba. Buổi lễ nầy là trò giải trí của đàn ông.

Cô Huôi và đứa nữ tỳ khuất dạng ngoài cổng.

Hai đứa nữ tỳ bước chậm rãi; dọn thức ăn. Đó là món tôm nướng, bên cạnh dĩa tôm còn có dĩa nước mắm. Tất cả là bốn dĩa đầy, mùi tôm bay phảng phất, hửi qua là khó nhịn thèm.

Ông Mười Hấu cau mày. Bọn vũ nữ cứ bước tới một bước là trở lui một bước. Cậu Cẩu cười hề hề:

– Đẹp lắm! Lại gần đây…

Cô vũ nữ dẫn đầu khá mạnh khoẻ, mắt đen đậm mở rộng nhìn cậu Cẩu. Mấy ngón tay cô ta đều có gắn chóp nhọn, mười ngón tay trở thành mười mũi dùi sắc bén. Nhớ đến vài mẩu chuyện nghe lóm đó đây, ông Mười hơi run tay. Phải chăng bọn vũ nữ nầy là võ sĩ, được luyện tập kỹ lưỡng! Nếu bọn chúng thét lên một tiếng, xúm nhau bao vây cậu Cẩu rồi dùng ngón tay mà đâm thì làm sao trở tay cho kịp?

Cậu Cẩu nói:

– Đẹp lắm! Lại đây..

Rồi cậu thò tay vào dĩa, đưa lên con tôm khá to, lột cái vỏ cứng ở đầu con tôm.

Cậu đưa cho cô vũ nữ xinh đẹp đang múa lượn trước mặt:

– Ăn cho vui. Tài nghệ tuyệt diệu, đáng khen thưởng!

Cô vũ nữ cứ mỉm cười, nụ cười chai đá. Cậu Cẩu đứng dậy bỏ con tôm xuống:

– Hay là muốn uống rượu?

Thừa lúc cậu Cẩu không chú ý đến thức ăn, ông Mười Hấu bèn để thử một con tôm vào cái dĩa màu xanh mà khấn vái lầm thầm:

– Xin thần linh phò hộ tai qua nạn khỏi. Nếu xảy rủi ro, xin cho tôi chết thay thế đứa cháu.

Màu xanh chấp chóa, dường như không thay đổi. Như vậy, có nghĩa là cô Huôi và Xí Vĩnh dùng thủ đoạn khác để trả thù. Khi ngước mắt lên, đột nhiên ông Mười gặp Xí Vĩnh. Xí Vĩnh đứng nép bên ngưỡng cửa ăn thông xuống nhà bếp. Nó bước lui như để tránh né. Ông tằng hắng lên, gọi to:

– Xí Vĩnh!

Xí Vĩnh vẫn đứng yên tại chỗ. Ông Mười không phiền hà cho lắm vì ban nhạc ngũ âm bắt đầu chuyển qua một điệp khúc nhanh hơn, có lẽ để chấm dứt.

Cậu Cẩu chụp bầu rượu, đưa lên uống. Ông Mười toan cản lại. Bên ngưỡng cửa, Xí Vĩnh cúi mặt, liếc xéo, hai giọt mồ hôi chảy long lanh trên trán.

– Nhứt định là có âm mưu gì đây. Cô Huôi về trước để khỏi gánh lấy trách nhiệm. Tại sao thời tiết không nóng bức mà Xí Vĩnh lại đổ mồ hôi? Nó đứng bên ngoài, nơi có gió thổi.

Nghĩ vậy, ông Mười bèn kiểm soát cẩn thận cái bầu rượu. Ông hửi thử mớ rượu còn đọng trên đáy bầu rồi nhủ thầm:

– Rượu nầy không có thuốc độc. Vậy thì con Xí Vĩnh đứng lên còn chờ đợi cái gì? Hay là cô Huôi về nhà gọi bọn hộ vệ đến. Chúng nó dùng gươm giáo chạy tràn vào.

Nghĩ vậy, ông Mười bước ra sân. Bọn vũ nữ cứ bước tới, mỗi cô nghiêng mình khi đi ngang qua cậu Cẩu. Cậu chụp một con tôm, đưa lên miệng.

Ông Mười Hấu la hoảng:

– Cháu ơi!

Rồi chạy vô ấp úng. Nếu tri hô rằng con tôm nọ có tẩm thuốc độc thì quá sớm, cô Huôi mà biết được thì xảy ra chuyện rắc rối. Cô sẽ trách mắng rằng ông Mười muốn vu khống.

Cậu Cẩu hỏi:

– Cái gì? Sao làm cho ông giận?

Bỗng đâu một con chó săn từ ngoài sân chạy vào, con chó mà cậu Hai Điền nuôi lúc trước để săn heo rừng. Bọn vũ nữ la hoảng. Cậu Cẩu hỏi:

– Cái gì? Giết con chó cho tôi!

Con chó nhảy chồm lên, hai chân trước vịn vào bộ ván. Nó sủa lớn tiếng rồi hả miệng, lỗ mũi phồng lên, hướng về dĩa tôm, cái dĩa màu xanh mà người lão bộc bảo rằng có thể ngừa thuốc độc.

Không bỏ lỡ cơ hội, ông Mười Hấu cầm lấy một con tôm nướng, ném vào miệng con chó.

Con chó gục đầu xuống, há miệng ra.

Cậu Cẩu hỏi:

– Ông ngoại làm gì vậy?

– Con chó nầy không chịu ăn tôm nướng.

Bọn nữ tỳ đứng hơ hải nhìn nhau.

Ông Mười Hấu chú ý một điều quan trọng là Xí Vĩnh vẫn đứng đó, mồ hôi chảy ròng ròng trên trán.

Cậu Cẩu hỏi:

– Ông ngoại…nói sao?

– Đừng ăn mấy con tôm nướng đó!

Rồi ông Mười day ra sau lưng:

– Hộ vệ đâu? Bắt con chó nầy cho nó đứng tại chỗ. Nhét vô miệng nó vài con tôm nướng.

Bọn hộ vệ vừa đến là cậu Cẩu ra lịnh:

– Bắt tất cả bọn nữ tỳ dưới nhà bếp.

Con chó hả miệng, hửi từng con tôm trên nền gạch. Nó trợn mắt, day mũi qua hướng khác.

Ông Mười Hấu truyền cho bọn hộ vệ:

– Bắt con chó lại!

Hai tên hộ vệ chạy tới, cầm giữ bốn chân con chó. Con chó cứ sủa, hả miệng lởm chởm răng. Cậu Cẩu hỏi:

– Cái gì vậy, ông ngoại?

– Đầu độc! Con đi súc miệng…

Cậu Cẩu vẫn bình tĩnh:

– Ai đầu độc hồi nào? Cháu là người chơn mạng đế vương, tại sao nãy giờ cháu mạnh như rồng?

Nhanh như chớp, ông Mười Hấu lấy một con tôm đút liền vào miệng con chó. Con chó cứ sủa, không chịu nuốt. Bấy giờ cậu Cẩu bắt đầu lo sợ. Chó mà gặp tôm nướng thì táp ngay, đâu có bao giờ do dự.

Quả thật là mấy con tôm trong dĩa đều có tẩm thuốc độc.

Là người tinh ranh, Mười Hấu nói:

– Tụi bây cầm bốn chân nó cho chắc. Đứa nào mạnh thì cạy miệng nó ra.

Con chó săn vùng vẫy vô hiệu quả. Con tôm nướng nằm trong miệng con chó trong khi ông Mười nói gắt:

– Tao làm vầy coi mầy nuốt không?

Ngón tay ông ta bóp lỗ mũi con chó. Vì ngộp thở con chó nấc lên để tìm không khí. Con tôm chạy tuốt qua cuống họng.

– Được rồi!

Ông Mười Hấu ra lịnh buộc con chó vào góc cột. Quả nhiên, con chó trợn mắt đập đầu xuống nền gạch, đôi mắt đỏ ngầu như hai cục than lửa.

Rồi nó dậm chân, quào móng xuống nền, quào thật mạnh đến chảy máu. Nó nằm xuống, quơ bốn chân lên trời, sủa không ra tiếng.

Con tôm văng ra khỏi miệng con chó.

Cậu Cẩu lắc đầu:

– Ghê thiệt! Nhưng mà…nó còn sống.

Ông Mười Hấu quỳ xuống sờ vào ngực con chó. Con chó rú lên một tiếng dài, giống như trường hợp sủa ma lúc ban đêm.

Nó nằm nghiêng, bốn chân nhịp đều đều rồi nằm yên, miệng há hốc, máu đỏ tuôn chảy dài theo khoé mép.

– Nó chết rồi! Còn chối cãi nữa thôi!

Nói xong câu ấy, ông Mười mới sực nhớ đến một việc làm cần kíp:

– Hộ vệ đâu! Bắt nó!

Bọn hộ vệ nhìn nhau và chẳng một đứa nào biết rõ thủ phạm.

Một đứa hỏi:

– Thưa ông! Bắt ai bây giờ?

Cậu Cẩu vỗ bàn:

– Bắt tất cả mọi người ở…xứ nầy!

Ông Mười bèn nói với bọn hộ vệ:

– Cứ nghe lời tao. Bắt tụi đàn bà con gái ở nhà bếp.

Rồi ông ta nói rỉ tai tên hộ vệ thân tín nhứt:

– Coi cho kỹ đứa nào chạy trốn phía sau vườn. Phận sự của mầy là vậy thôi! Đừng bỏ sót bất cứ ai.

Con chó há miệng, bốn chân co rút lại. Cậu Cẩu trợn mắt, không có đủ thời giờ để mà sợ. Hai bàn tay cậu run lên, mấy ngón tay duỗi ra, co lại mò mẫn trên bộ ván, như hai con nhền nhện khổng lồ.

Bọn hộ vệ trở lên, lùa một đám bảy tám đứa nữ tỳ và hai ba bà lão. Họ cúi mặt, người này nắm tay người kia cho bớt run sợ. Họ biết rằng, cậu Cẩu đang giận dữ, đang nổi cơn điên. Hôm trước vì ho hen một tiếng mà Xí Vĩnh bị tuyên án tử hình. Hôm nay, nhứt định cậu sẽ hung hăng, xử tử cả bọn.

Nỗi vui mừng của ông Mười Hấu là thấy Xí Vĩnh đứng gần đám nữ tỳ ấy.

Nếu điều tra Xí Vĩnh, nhứt định ông tóm ra manh mối. Nhưng dầu sao đi nữa, ông vẫn còn nể nang cô Huôi. Nếu Xí Vĩnh khai ra cô Huôi giữa đám đông như vầy thì e xảy ra nhiều điều bất lợi.

Uy tín cô Huôi còn quá cao đối với bọn hộ vệ và dân chúng ở Hòn Chông.

Nếu Xí Vĩnh cung khai, ông phải bắt cô Huôi. Chừng đó chẳng một ai tin là sự thật. Thiên hạ sẽ bất mãn, đồn đãi rằng đây là âm mưu để trả thù cá nhân.

Bởi vậy ông Mười nói:

– Đem nhốt bọn nó, chiều nay ta liệu định. Những người khác thì về nhà. Ta cấm không được bàn tán, ra khỏi nhà.

Nhưng cậu Cẩu quát to:

– Ông ngoại hiền quá vậy! Đây là quyền hạn của tôi. Tụi nó giết tôi, tôi được quyền xử phạt theo ý muốn. Bọn vũ nữ này…hôi hám quá! Tao là người “chơn mạng đế vương”, trời đánh không chết, huống gì mấy con tôm nầy!

Cậu vung tay, ném từng cái dĩa vào mặt bọn vũ nữ, nhạc công:

– Đứa nào tránh né? Tránh né là xem thường ta!

Bọn vũ nữ kêu la ơi ới. Vài cô ôm mặt, miểng chén cắt đứt thịt da, máu chảy ròng ròng.

Cậu Cẩu ném tơi bời, hết dĩa tới chén:

– Đứa nào đầu độc tao?

Ông Mười Hấu liệu bề không đình hoãn được cuộc điều tra, nên đành lên tiếng:

– Mấy đứa nữ tỳ! Ai dọn mấy con tôm đó ra?

Một đứa lên tiếng:

– Thưa ông…cô Xí Vĩnh.

Nghe nói tới tên mình, Xí Vĩnh mím môi. Vì nãy giờ, nó đã chọn lựa một thái độ: liều chết, không bao giờ nhắc đến cô Huôi. Cô Huôi là người đáng kính nể. Để cô sống thì có ngày cô sẽ trả thù giùm nó. Vả lại, lúc đầu độc, cô Huôi vắng mặt.

Cậu Cẩu rít lên:

– Ư…Nhục nhã quá! Tao muốn cho mầy sống để làm gì? Bá Vạn giết chết cuộc đời con gái của mầy. Tao phải giết mầy, xé xác mầy mà ăn tươi nuốt sống. Phải mầy không?

Xí Vĩnh đáp:

– Nếu cậu bảo rằng tôi thì tùy ý cậu!

Cậu Cẩu chụp cái bình rượu, ném mạnh về phía Xí Vĩnh.

Xí Vĩnh hụp xuống.

Bầu rượu bể nát, rượu văng ra ướt áo. Cậu Cẩu nói:

– Mầy…dám kêu tao bằng cậu? Mầy không nhìn nhận tao là vua?

Xí Vĩnh cười lạt:

– Cậu chỉ là người phàm thôi.

Người phàm! Hai tiếng ấy khiến cậu Cẩu giận tột độ, hai tay run run:

– Tao là người phàm mà được nối nghiệp ông Chúa Hòn? Đừng nói xấu tao. Hộ vệ đâu?

Xí Vĩnh đáp:

– Tôi không sợ chết nữa. Để tôi nói chuyện.

Ông Mười Hấu không ngờ rằng Xí Vĩnh có bãn lãnh đến thế ấy. Nếu để lâu, cô ta sẽ chửi mắng, gây ảnh hưởng không tốt trước mặt bọn hộ vệ.

Nhưng cậu Cẩu nói to:

– Ai cấm mầy nói? Mầy là người không ra gì. Mầy mất nết với lão Bá Vạn.

Bọn hộ vệ cứ nhìn nhau. Tuy không nói ra, ai cũng nhận thấy rằng cậu Cẩu là người quá nhỏ mọn. Lý do khiến cậu oán ghét Xí Vĩnh hiện rõ rệt: khi về ở với cậu, Xí Vĩnh đã mất trinh tiết. Vì vậy, cậu mang mặc cảm nặng nề, muốn giết Xí Vĩnh. Và chỉ khi nào giết được, cậu ta mới cảm thấy rằng mình có oai quyền cao hơn Bá Vạn ngày trước.

– Cháu đem nó về nhà rồi tra tấn để hiểu đầu đuôi công việc. Chẳng lẽ nó dám làm chuyện nầy một mình! Đập rắn thì đập trúng ngay đầu, chớ cắt khúc đuôi thì ích lợi gì?

Vì quá tức giận, cậu Cẩu chỉ biết nhắm vào Xí Vĩnh:

– Tôi giết nó.

– Nhưng mà nếu nó chết thì còn nhiều đứa khác nổi lên để giết cháu.

Cậu Cẩu vẫn chưa hiểu được thâm ý của ông Mười Hấu:

– Đứa nào dám nổi lên? Tôi là bực “chơn mạng đế vương”.

Ông Mười đáp:

– Hoặc là…trong bọn nữ tỳ còn vài đứa khác, ác độc hơn con Xí Vĩnh. Nè! Uống rượu thêm đi cháu. Hộ vệ đâu? Bắt con Xí Vĩnh, trói lại rồi đem qua nhà tao.

Dường như cậu Cẩu chưa hết cơn điên. Hai tay cậu vung lên, ném tứ tung mớ chén dĩa còn lại trên bộ ván. Bọn nữ tỳ kêu la bài hải. Cậu nói:

– Lần nầy, nó phải chết. Ông ngoại à! Tôi nghe lời ông nhưng mà …ông nên nghe lời tôi.

Câu nói vô lễ ấy vẫn được ông Mười Hấu chấp nhận với thái độ bình thản:

– Cháu nói gì? Thì sớm muộn gì nó cũng chết. Lần nầy không có ai xin tội cho nó được đâu.

– Nó phải chết thật lâu.

– Lâu nghĩa là làm sao?

– Khó nói quá! Lát nữa, tôi tính toán kỹ lưỡng rồi nói cho ông biết. Như mấy người làm thịt gà, để con gà sống nhăn rồi nhổ lông. Coi nó dãy chết, tôi sung sướng lắm.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 29 May 2025

Tập I – (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

Bạch Bích

Chúng ta có khá nhiều nhạc sĩ chỉ viết một ca khúc rồi thôi. Nghe lại những ca khúc ấy, đôi khi người ta không khỏi thắc mắc tự hỏi, tại sao, những người đã có được một tâm hồn bén nhậy, cảm thông được với cái hay, cái đẹp của trời đất và đã có thể chia xẻ sự cảm thông ấy với mọi người, lại chỉ làm công việc đó có một lần, rồi thôi? Thế nhưng trong đời sống có biết bao điều người ta không giải thích được.

“Trăng Muôn Thuở” là bài hát duy nhất của Bạch Bích người ta được biết. Âm điệu trong trẻo của nó khiến người ta luôn tưởng như đó là một bài hát dành riêng cho tuổi thơ. Nhưng nghe hết bài hát người ta lại thấy tác giả tỏ ý mong ước “quân cướp tham tàn đừng làm hoen sắc trăng” và “mây tô thêm hồng màu hờn căm”. Những lời ca ấy đã làm cho cái vẻ long lanh của ánh trăng tràn đầy trong ca khúc bỗng trở nên u ám. Đó cũng là không khí chung, cái hồn nhạc chung của chúng ta một thời, kéo dài vài chục năm, và cho đến bây giờ vẫn chưa hết, không có một ca khúc nào hoàn toàn hạnh phúc. Chiến tranh đã đổ cái bóng nặng nề, tang tóc lên đất nước và chúng ta chưa ra thoát khỏi ảnh hưởng của nó.

Trăng Muôn Thuở.

Trăng vừa gây bao ước mơ

Chuông chùa vừa thôi tiễn đưa

Sóng thu dâng hồn

Đắm đuối trong hương

Trời thu sáng lan tràn

Gió rung tơ đàn

Lòng thêm xốn xang

Theo ánh trăng thu vừa lan

Trăng thu ơi là trăng thu ơi

Ta hát ca vang trời mừng mùa thu khắp nơi

Trăng thu ơi là trăng thu ơi

Hương thắm dâng ngang trời bầy ta reo múa chơi

Trăng trăng là trăng trăng trăng

Quân cướp kia tham tàn đừng làm hoen sắc trăng

Mây ơi mây là mây ơi mây

Mây hãy tô thêm hồng màu hờn căm lúc này

Trăng mùa đạn bom chiến chinh

Hương trời ngập hương sắc xanh

Mùa thu khắp thanh bình

Giết xong quân thù

Toàn dân ấm no

Ta đón trăng tươi ngàn thu

Trăng vừa lên sau khóm tre

Mây vàng vừa thôi khuất che

Chúng ta mơ màng

Ngắm ánh trăng thanh

Vườn hoa biếc huy hoàng

Gió thu chan hòa

Theo ánh vàng đưa nhẹ lay