Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 29 May 2025

Tập I – (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

Anh Việt Thu

Anh Việt Thu mất sớm. Những ngày còn làm việc tại phòng Văn Nghệ Thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (do Thiếu Tá Đinh Thành Tiên, tức Thi sĩ Tô Thùy Yên làm trưởng phòng) Anh Việt Thu chắc chỉ mới ngoài 30 tuổi. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì khi ấy, cùng làm việc trong phòng Văn Nghệ còn có nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường. Chính trong thời gian này, Anh Việt Thu khám phá bị ung thư gan (hay phổi?) rồi qua đời.

Như thế ca khúc Dòng An Giang hẳn đã được Anh Việt Thu viết vào những năm ông còn rất trẻ, ở độ tuổi chưa đến 20, vì bài hát đã nổi tiếng trước đó nhiều năm. Những người quen biết Anh Việt Thu cho biết, ông là người ít nói, hiền lành và sống với bạn bè rất nhiệt tình. Có một thời ông muốn làm nhà xuất bản nhạc, nhưng hình như chỉ in được một, hai tập nhạc ngoại quốc lời Việt, rồi thôi. Có thể coi Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng sinh trưởng tại miền Nam (nếu lấy ngày 30 tháng 4/75 làm dấu mốc) những người viết nhạc với tâm hồn đôn hậu của người miền Nam, ít cầu kỳ, cả trong giai điệu lẫn ca từ. Nghe nhạc Anh Việt Thu người ta nghĩ đến những kinh rạch chứ không phải những ao hồ. Ao hồ có một vẻ gì đó u uẩn, tù túng. Kinh rạch, đổi thay và phơi mở theo với thủy triều lên xuống.

Dòng An Giang sông sâu nước biếc

Dòng An Giang cây xanh lá biếc

Lả lướt về qua Thất Sơn

Châu Đốc dòng sông uốn quanh

Soi bóng Tiền Giang Cửu Long

Dòng An Giang xanh xanh khóm trúc

Dòng An Giang tung tăng múa hát

Đêm đến dòng sông thở than

Bên mấy hàng cây hắt hiu

Đã mấy mùa xuân thanh bình

Dòng An Giang đáy nước in sâu

Nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa

Nắng vẫn chiếu trên làn sóng nhấp nhô

Nắng vẫn chiếu trên gò má hây hây,

mơ màng, ngây thơ

Cô thôn quê đang giặt yếm trên sông

Tiếng sáo vẳng trên đồng lúa xanh tươi

Trâu lang thang đôi cò trắng tung bay dập dìu

Dòng An Giang ai qua vẫn nhớ

Dòng An Giang lơ thơ bến nước

Đâu những thuyền ai lắc lơ

Đôi mái chèo trăng lướt qua

Lơ lửng vầng trăng vỡ tan

“Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu là một tình khúc. Nhưng ông đã nhập cái tình riêng của mình vào với tình yêu quê hương, đất nước. Một đất nước tràn ngập điêu linh, tang tóc, mỗi tiếng hát như một lời thở than, kêu gọi yêu thương nhiều hơn là tỏ tình.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có lần nói rằng, ông rất thích bài hát này của Anh Việt Thu, mặc dầu nghe cả bài trong một lúc khó nắm bắt tác giả nói gì, nhưng nghe từng đoạn tách rời, âm điệu day dứt của nó làm cho rất buồn.

Tám Điệp Khúc

1. Trời làm cho mưa bay giăng giăng

mây tím dệt thành sầu

Bàn tay năm ngón mưa sa

Dìu anh trong tiếng thở

Đưa tiễn anh đi vào đời

Mẹ Việt Nam ơi!

Con xin dâng xin hiến trọn đời người

2. Trời làm cho mưa bay giăng giăng

mây tím dệt thành sầu

Nằm nghe tiếng hát đu đưa

Dìu anh trong giấc ngủ

Ôi tiếng ru ru ngọt nào

Mẹ Việt Nam ơi!

Ai chia ly tan tác cả ngàn đời

3. Tiếng hát, hát trên môi

Giấc ngủ, ngủ trong nôi

Một đàn đàn chim nhỏ

Bay khắp trời Việt Nam mến yêu

Ôi tiếng chim muông gọi đàn

Mẹ Việt Nam ơi!

Con xin dâng, xin hiến trọn cả đời

4. Trời làm cho mưa bay giăng giăng

mây tím dệt thành sầu

Từng đêm ấp ủ trong tim

Từng đêm khe khẽ gọi

Anh nhớ thương em từng giờ

Mẹ Việt Nam ơi!

Ai chia ly tan tác cả ngàn đời

(Trở lại đoạn 3)

5 Trời làm cho mưa bay giăng giăng

mây tím dệt thành sầu

Trùng dương sóng nước bao la

Trùng dương vang tiếng gọi

Ôi sóng thiêng em về trời

Mẹ Việt Nam ơi!

Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề

6. Trời làm cho mưa bay giăng giăng

mây tím dệt thành sầu

Rừng thiêng lá đổ âm u

Rừng thiêng vang tiếng gọi

Ôi núi thiêng em về nguồn

Mẹ Việt Nam ơi!

Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề

Vì nhu cầu của cơ quan nơi ông làm việc Anh Việt Thu còn sáng tác nhiều ca khúc khi ấy được gọi chung là “nhạc chiến dịch” nhưng rất có giá trị, đã được nhiều ban hợp ca trình bầy, thu thanh, và được phát trên làn sóng điện và truyền hình khắp trong nước.

Anh Việt Thu mất trước khi xẩy ra biến cố 1975 không bao lâu. Trước và sau đó, người ta có biết bao điều bận, âu lo, nên sự tưởng nhớ dành cho ông không xứng đáng. Rồi đất nước lại chìm ngập trong những năm dài đầy rẫy những chuyện bi thương, cho đến nay vẫn chưa xong. Sự quên, nhớ đối với một số tác phẩm cũng không biết thế nào. Có những bài hát lọt vào trong tiềm thức người ta và trở thành những vết nội thương. Và có cả những nấm mồ người ta tưởng nhớ nhưng không còn dịp thăm viếng.

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 29 May 2025

Duy Lam

Tặng Nguyễn Khoa Dánh: người bạn chết tại trại Đầm Đùn năm 1981 với lòng tiếc thương vô hạn.

Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Nắm không buông như níu kéo cuộc đời
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Người bạn tôi vừa rời bỏ cuộc đời

Chỉ vừa đây trong tiếng rên hấp hối
Anh đã xin hãy tìm hộ anh
Một chiếc kẹo vì đã thèm của ngọt
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi lúc này.

Ý nguyện ấy anh chỉ còn dám nói
Khi thịt da cái lạnh đã ngập tràn
Khi chúng tôi bạn anh cùng chạy loạn
Trong trại tù miệng rối rít van xin:
Một cái kẹo nhanh nhanh cho người bạn
Sắp ra đi “Mau mau kẻo muộn rồi!”

Trong tuyệt vọng vẫn thoáng niềm hy vọng
Sẽ mang về kịp lúc anh lâm chung
Và hoan hỉ tôi nhìn anh ngắm nghía
Trong bàn tay rộng mở kẹo vô tri
Nụ cười nhẹ trên đôi môi nhợt nhạt
Anh thầm thì: “Ồ thú quá sẽ ăn
Chiếc kẹo này thì khỏe vui chi lạ!”
Sao nỗi vui chỉ nhỏ bé thế thôi.

Rồi anh chết không kịp ăn chiếc kẹo.
Nằm lặng yên trong những ngón tay xanh
Chúng tôi liệm anh trong im lặng nặng nề
Lần vải thô lớp quần áo thuở nào
Khi tôi cạy tay anh bàn tay mở
Chiếc kẹo rơi nằm nhẹ trên ngực anh
Đầy cẩn trọng trong niềm kinh hãi:
Tôi nhặt lên để cạnh bát cơm
Cạnh quả trứng: món quà cho người chết
Chẳng bao giờ anh sẽ nếm vị hương

Rồi tất cả chúng tôi đều nức nở
Nước mắt tuôn cứ mãi mãi chẳng ngừng
Khóc cho anh, cho chúng tôi tất cả
Biết khi nào sẽ đến lượt khi nào?
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Chẳng kịp ăn khi từ giã cuộc đời!

Cô Gái Nhỏ Hấp Hối
Tặng cô gái nhỏ cả làng bỏ rơi
tại Thanh Hóa trong nạn đói 1988

Cô gái nhỏ trơ trọi
Trong căn nhà vắng tanh
Gia đình đã đi hết
Bỏ cô nằm một mình
Trong làng không chó sủa
Chim chóc cũng chẳng về
Dưới ao không tăm cá
Im lặng thật thảm thê
Làng cô đã vắng ngắt
Người người kéo nhau đi
Để tìm ăn tìm sống
Quê hương bỏ sau lưng

Trong cơn mê hoảng loạn
Cô rên rỉ van xin
Ông Táo trong bếp lạnh
Cho cô một bát cơm!
Trời hỡi trời hãy thương
Cô bé đang hấp hối
Hãy cho cô được thấy
Một khuôn mặt dịu dàng
Để cô bé khỏi chết
Làm ma đói lang thang

Lawndale 3/10/1991

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 29 May

Con Sói Đơn Độc Và Sợi Xích
Nguyễn Tiến Đức

Người bạn tù của tôi tên Phốc. Anh thuộc lực lượng biệt kích. Anh người mạn ngược. Dáng anh rất thô. Anh thường nằm trên một cái võng tự đan lấy mắc từ gốc cây nọ sang gốc cây kia. Anh ít trò chuyện với ai. Chúng tôi gọi anh là con sói đơn độc. Anh chỉ chơi với con gà con bạn anh cho.

Anh thân với tôi trong trường hợp đặc biệt. Một hôm trại đánh kẻng. Nghe kẻng, một là chuyển trại, hai là chúng tôi sắp bị khám xét. Chúng tôi gặp trường hợp sau. Việc đầu tiên là phải giấu những vật bén nhọn. Thứ hai là phải thủ tiêu tất cả giấy tờ có tiếng Anh.

Tôi thấy các bạn tôi giấu dao dưới cống gần bếp. Tôi lóe lên một sáng kiến. Tôi lấy con dao tây rất đẹp của mẹ tôi gửi cho tôi đâm phập vào cây chuối gần giếng nước. Tôi lấy chân đạp mạnh cho lút cán. Lúc đó Phốc đứng cạnh tôi cũng theo tôi đâm con dao díp của anh vào một thân cây chuối khác. Trong nháy mắt.

Sau cuộc khám xét chúng tôi trở lại bụi chuối moi dao ra an toàn. Lúc đó không có cặp mắt của người thứ ba. Chúng tôi đã làm chuyện này sau bữa cơm chiều và người nọ canh chừng cho người kia. Kể từ đó, thỉnh thoảng Phốc nói chuyện với tôi.

Anh nằm ở góc phòng kế phòng tôi và gần cầu tiêu. Một buổi chiều anh nhờ tôi đun thêm một “gô” nước cộng thêm với “gô” nước sôi của anh đổ xuống cái tổ kiến lửa dưới chiếu của anh. Có cả ngàn con. Thế mà đêm đó anh vẫn bị lũ kiến đỏ đốt sưng cả lưng.

Có lần đào giếng, tôi đã bắt phải cái thăm đào khúc gần dưới đáy. Anh tình nguyện đào khúc của tôi để tôi được đào tầng đất đầu tiên. Xuống sâu rất ngộp thở. Bây giờ tôi và Phốc trở nên hai người bạn thân.

Tôi ăn ít nên thường nhường cả một phần tư thau bo bo cho anh. Phốc có thể ăn gấp ba tôi. Cứ đến lần tôi làm vệ sinh bếp – có nghĩa là rửa chảo cơm – bao giờ anh cũng làm hộ tôi để vét cháy dính ở chảo ăn mới đủ no. Có một thời gian Tàu đánh Việt Nam, trại tôi không được thăm nuôi, tôi thấy Phốc chiều chiều vác cái cần câu lúi húi ở những ao rau muống nở đầy hoa tím để câu vài con nhái con bằng đầu ngón tay cái nấu canh với rau dền dại ăn. Tôi luôn luôn cung cấp cho anh bột ngọt. Anh không còn thân nhân nào.

Anh bảo tôi mình phải sống còn. Ngoài ra không còn gì đáng kể đối với một người tù không biết ngày nào trở về. Hãy ăn mọi thứ có thể ăn được, kể cả bò cạp nướng, kể cả bất cứ con gì nhúc nhích trừ rắn độc!

Một lần anh và tôi đang đào đất để chôn cọc, rào lại hàng kẽm gai ba lớp gần mấy cái chòi canh của vệ binh, tôi cuốc lên một vật xanh biếc. Hóa ra là con cánh cam. Tôi nhớ con gái tôi quá. Nếu ở nhà, tôi đã buộc sợi chỉ để cho con cánh cam bay vòng vòng cho con tôi chơi như bà ngoại tôi thường làm như thế hồi tôi còn nhỏ. Tôi cầm con cánh cam và tung lên trời. Con cánh cam xòe cánh bay qua rào kẽm gai rồi mất hút trong không nhìn về phía con cánh cam. Tôi thấy Phốc nuốt nước bọt cũng nhìn về phía con cánh cam. Ngoài rào kẽm gai phía xa, có một cậu bé chăn bò đang thả diều.

Một buổi sáng chủ nhật, tôi thấy anh xuống cái phòng trước kia thuộc ban quân xa để tập thể dục. Trong phòng toàn mùi dầu. Mặt sàn đen. Giữa sàn là một sợi xích to treo từ trên bó thông và gắn xuống sàn. Anh rủ tôi tập cùng. Tôi thấy có lý. Thế là tôi tập cùng anh. Tôi và Phốc thường nắm lấy sợi xích để tập tay và tập bụng. Anh cũng rủ tôi chạy tại chỗ cho bền sức chịu đựng. Sau một thời gian tập với Phốc, lúc nào phải “xuống gạo” hay bột mì với những bao nặng 50 cân tôi không còn thấy đứt hơi và tim muốn ngừng đập như hồi mới đi tù. Tôi sợ nhất vác gạo và khiêng củi từ rừng về. Tôi nặng có 45kg kể cả giầy và quần áo! Cân lúc ăn no.

Có một đêm tôi nghe thấy tiếng hỏa châu nổ. Tôi hãy còn mất ngủ. Ngoài song cửa, bầu trời được rọi sáng. Năm phút sau, quản giáo đi cùng một vệ binh vác AK ra lệnh mọi người ra khỏi phòng. Chúng tôi xếp hàng. Quản giáo lấy đèn pin rọi xuống chân từng người. Điểm danh xong lại tiếp tục vào ngủ..

Tôi thức trắng đêm. Tôi đoán có người vượt trại tìm tự do.

Sáng hôm sau, chúng tôi mới biết người vượt trại chính là Phốc. Tôi không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho cả Phốc lẫn tôi. Vì sáng nào tôi cũng tập thể dục nhất là tập chạy với anh. Hóa ra Phốc đã chuẩn bị cả mấy tháng rồi. Hôm trước anh có xin tôi một số đường thẻ. Bây giờ tôi mới biết tại sao Phốc tập chạy dai sức. Bây giờ tôi mới biết tại sao VC bắt chúng tôi đào ao nuôi cá trước đó một tháng. Cái ao cá khá sâu chạy vòng bờ rào kẽm gai trại giữa hai chòi canh có gắn đèn pha. Ao rộng đến 10 thước.

Tôi rất mừng dù sao Phốc cũng được sống ngoài vòng kẽm gai như con cánh cam hôm nào tôi và anh bắt gặp. Cái hôm mà tôi thấy anh nuốt nước bọt nhìn lên bầu trời với ánh mắt khao khát.

Không khí trại rất căng. VC không nói gì. Tôi vẫn quyết định ra chỗ cũ tập. Tôi lập luận nếu bỏ tập có thể bị nghi ngờ liền. Tôi vẫn tập với sợi xích. Tôi không thấy quản giáo gọi lên “làm việc”. Tôi chờ điều này. Điều tệ hại nhất luôn luôn có thể xẩy ra trong bất cứ một trại tù Cộng Sản nào trên toàn thế giới.

Một tuần sau, anh bạn trong tổ làm rò rèn được lệnh chặt sợi xích làm đôi và đóng một cái còng chân bằng gỗ rất nặng. Quản giáo nói lờ mờ Phốc đã bị bắt lại.

Sau hồi kẻng, chúng tôi bị tập trung và VC đã đưa Phốc ra để kết tội. Anh đi rất khó khăn với cái cùm có xích. Hai tay anh phải nâng sợi xích lên mới bước được. Tự nhiên tôi ứa nước mắt.

Phốc đã bị bắt khi anh trốn tới Biên Hoà. Có lẽ đói quá, Phốc đã ra ruộng bắp bẻ bắp ăn. Anh đã bị mấy đứa bé chăn bò đi báo công an địa phương.

Phốc đã bị biệt giam trong thùng sắt mấy ngày ở trại. Thứ hỏa lò khối vuông.

Có hôm anh được ra để đi vệ sinh ở một gốc cây me gần bờ rào phòng tù của tôi. Tôi thấy an toàn, ném lén cho anh một gói 9 viên đường thẻ. Tôi mong anh hên với con số 9.

Đó là 9 viên đường cuối cùng tôi cho anh và cũng là lần cuối tôi trông thấy anh. Ngay đêm hôm đó, VC đã đưa anh đến một trại khác nghe đồn ở tận ngoài Trung. Cái kỷ vật cuối cùng anh để lại cho tôi là con gà trống con bằng nắm tay mù cả hai mắt vì lên đậu. Tôi nuôi vài ngày rồi quyết định chặt cụt đầu nó thật nhanh để con gà đỡ đau. Tôi không dám ăn thịt con gà con. Tôi giết con gà để đỡ nghĩ tới Phốc.

Sau này, nghe đồn là anh đã bị bắn chết trong rừng mây. Lần vượt trại thứ hai.

Nguyễn Tiến Đức
(Đồng Chó Ngáp)

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Hoài Nam – Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 29 May 2025

Phần 14.

Chương 6 – Suối Máu & Tống Lê Chân

Bên cạnh khu vực nhốt tù chính nói trên còn có một khu phụ nhỏ hơn, có lối đi thông với khu vực chính. Khu phụ này nằm sát phía sau khu nhà của ban giám thị trại, gần một con suối khá lớn, cũng giống như con suối ở Phước Long, là một trong số hàng trăm con suối tạo thành thượng nguồn sông Sài Gòn.

Khu phụ này chỉ có hai dãy nhà, cũng mái tôn vách ván như nhà của ban giám thị nhưng cũ kỹ, vá víu, được dành cho tù cải tạo cấp tá được đưa tới vào đầu năm 1979.

Ở Tống Lê Chân không hề có các buổi học tập chính trị, và cũng không có các màn cán bộ vào từng nhà để kiểm soát. Nguyên nhân chính là vì ở đây không có hội trường, còn các dãy nhà dành cho cải tạo thì quá tối tăm, chật hẹp.

Chỉ thỉnh thoảng mới có một buổi tập họp toàn trại ngoài sân để ngồi nghe cán bộ “lên lớp” chuyện này chuyện nọ, và cũng là nơi tập họp mỗi buổi sáng để nghe phân công lao động trong ngày.

Qua những lần tập họp ấy, tôi ước lượng tổng số tù cải tạo ở Tống Lê Chân chỉ vào khoảng 1000 người, chia ra từng đội và một số tổ chuyên môn như tổ tăng gia (trồng rau), tổ mộc, tổ may.

Mỗi buổi sáng, vào khoảng 7 giờ, hai ba tay trong ban giám thị, thường là cấp trung úy, thiếu úy cho mở khóa cổng và tiến vào cùng với một số bảo vệ mang súng có nhiệm vụ canh chừng các toán đi lao động.

Nếu không có tin tức, chỉ thị cần loan báo cho tù cải tạo, đám giám thị sẽ cho các tổ chuyên môn ra khỏi cổng trước tiên, không có công an bảo vệ, sau đó mới lần lượt phân công tác cho các đội: làm rẫy, đi chặt tre, cưa gỗ, hoặc công tác trên “khung”: tu bổ nhà cửa, làm cỏ, dọn dẹp, và làm những công việc linh tinh trên khu nhà của ban giám thị.

So với thời gian còn ở trên Phước Long dưới quyền bộ đội, mọi công tác lao động ở Tống Lê Chân nhàn hơn nhiều, có lẽ vì không trực thuộc một hệ thống hàng dọc, hoặc nằm trong một đại đơn vị sản xuất như thời bộ đội nên không bị cấp trên đưa ra chỉ tiêu.

* * *

Nhàn nhất là làm rẫy. Rẫy quanh trại, bên trong cũng như bên ngoài hàng rào, đã được khai hoang từ hồi nào, đám tù cải tạo chúng tôi chỉ phải làm cỏ, trồng khoai trồng mì, đậu phộng… cho đám công an thu hoạch. Công tác chặt tre tuy phải đi bộ mấy cây số nhưng thú vị hơn. Thú vị vì cảnh sắc thiên nhiên, không khí trong lành, và được tự do. Không hiểu vì thiếu nhân sự hay không mấy quan tâm tới việc tù cải tạo có thể bỏ trốn, ban giám thị ở Tống Lê Chân chỉ cho hai tay bảo vệ đi theo mỗi toán chặt tre trên dưới 50 mạng. Rừng tre ở đây không biết có từ đời nào, mọc kín dọc các bờ suối, khó khăn lắm mới tìm được một thân tre tương đối trống trải có thể leo lên để chặt (vì không thể nào chui vào gốc tre), cho nên mọi người phải phân tán mỏng, có lúc chẳng còn ai nhìn thấy ai.

Một ngày nọ, xảy ra một việc khá ly kỳ mà nếu không có mặt ở đó chỉ nghe kể lại, tôi nhất định không tin!

Lúc ấy, tôi và một vài anh em đang quanh quẩn bên bờ suối quan sát, tìm tre để chặt, đứng bên cạnh là tay công an bảo vệ gốc Bắc mặt còn non choẹt. Bỗng có một con nai khá lớn có lẽ đang uống nước dưới bờ suối thấy động hoảng hốt bỏ chạy lên bờ và bị vướng trong một bụi tre. Mọi người chưa biết phải phản ứng ra sao thì tay bảo vệ đã vội vã đưa khẩu súng trường CKC về phía một anh tù cải tạo, miệng lắp bắp:

– Anh bắn đi… anh bắn đi!

Cũng may, ngay lúc đó con nai đã thoát ra khỏi bụi tre và phóng chạy vào rừng; bằng không chúng tôi cũng không biết phải phản ứng ra sao trước diễn tiến tức cười này!

Sau này có dịp tìm hiểu khi làm công tác trên “khung”, chúng tôi được biết đa số công an làm công tác bảo vệ, canh gác ở Tống Lê Chân là đám trẻ mới lớn lên sau 1975, tới tuổi đi “nghĩa vụ” được gia đình chạy chọt, lo lót cho gia nhập công an để khỏi phải đi bộ đội lên biên giới đánh nhau với quân Trung Cộng, hoặc sang Căm-bốt đánh nhau với Khmer Đỏ.

Theo luật cung cầu, càng có nhiều người muốn vào ngành công an thì Bộ Nội Vụ càng “vẽ” thêm nhu cầu tuyển mộ để có chỗ trốn nghĩa vụ cho con cái cán bộ cao cấp, và để ăn hối lộ.

(BỘ NỘI VỤ: Trước năm 1975, Bộ Nội Vụ và Bộ Công An của CSVN là hai bộ riêng biệt, tới năm 1975, Bộ Công An bị sát nhập vào Bộ Nội Vụ; năm 1998, do tranh chấp quyền lực trong nội bộ, tầm quan trọng của ngành công an được nâng lên tương đương với quân đội, Bộ Nội Vụ trở thành Bộ Công An. Năm 2002, Bộ Nội Vụ được tái lập nhưng chỉ còn đặc trách những công việc mang tính cách hành chánh mà thôi)

Có lẽ vì phải dành ưu tiên cho việc huấn luyện bộ đội, đám công trẻ này đa số không qua một khóa học nào về vũ khí trước được đưa đi các nơi, con ông cháu cha hoặc gia đình biết cách chạy chọt thì được ở phường, quận, thành phố, không thì đi về các miền quê, hoặc Cục Trại Giam để làm bảo vệ.

Trong đám công an trẻ ở Tống Lê Chân, trừ một hai tay gốc Bắc tương đối lạnh lùng, đa số còn lại, gốc Bắc cũng như gốc Nam, mặt búng ra sữa, ăn nói khá nhã nhặn và không hề tỏ thái độ hằn học, thù nghịch với tù cải tạo như công an ở Suối Máu… Sau khi chặt tre, trên đường về trại, nếu gặp người dân, chúng tôi được phép dừng lại dăm ba phút để “thương lượng” mua những con thú nhỏ mà họ đánh bẫy được.

Người dân ở đây hầu hết là người Thượng thuộc sắc tộc S’tiêng, cùng sắc tộc với những người Thượng mà chúng tôi gặp ở Phước Long (Sông Bé).

Người S’tiêng (có khi viết X’tiêng) là một sắc tộc tương đối nhỏ trong tập thể người Thượng sống ở Việt Nam. Về hình dạng, họ cũng nhỏ con và đen đủi hơn các sắc tộc Ra-đê (nay gọi là Ê-đê), Ba Na, Gia Lai… ở Tây Nguyên.

Nhưng nói về tinh thần chống cộng thì người S’tiêng nếu không hơn cũng phải bằng người Ra-đê, người Ba Na. Trước năm 1975, ở Bình Long, Phước Long hầu như không bao giờ người ta nghe tới chữ “Thượng cộng” như ở Kontum, Pleiku… Trái lại, đa số binh sĩ trong Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu ở vùng này đều là người S’tiêng.

Về sau, năm 1970, khi Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu được cải biến thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, đại đa số binh sĩ người S’tiêng ở trại Tống Lê Chân đã tình nguyện ở lại để trở thành quân nhân của Tiểu Ðoàn 92 BÐQ Biên Phòng.

Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, phần lớn người S’tiêng ở Bình Long, Phước Long đã bỏ chạy sang phía bên kia biên giới Việt-Miên, cho nên chỉ thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp một vài người. (1)

* * *

Công tác lao động nặng nhất là đi cưa gỗ. Gọi là nặng nhưng vẫn đỡ hơn nhiều so với ở Phú Quốc, về thể xác cũng như tinh thần.

Khi được phân công đi cưa gỗ, chúng tôi ra khỏi cổng gác, đi trên con đường đất đã đưa chúng tôi tới trại, tức là đi về hướng Quốc lộ 13, luôn luôn có một tay giám thị cùng với mấy tay bảo vệ trang bị AK đi theo.

Ra khỏi trại khoảng hai cây số, chúng tôi được đưa vào khu rừng thưa ở phía bên mặt nơi có vô số gốc cây lớn nhỏ. Tay giám thị đích thân chọn những gốc cây không lớn lắm (chỉ khoảng một vòng tay ôm) ở những vị trí tương đối dễ hạ. Cây hạ xuống, chúng tôi cưa thành từng khúc dài khoảng một mét, rồi xếp thành từng khối vuông vức.

Chỉ sau vài lần đi cưa gỗ, chúng tôi khám phá ra có những khối gỗ “đặc biệt” nằm ở những vị trí kín đáo, không thuộc “thành phẩm của trại” mà sẽ được bán lén cho những tay buôn củi để lấy tiền bỏ túi. Vì có một toán tù cải tạo dành riêng cho công tác này, chúng tôi đoán họ (công an trại) có ăn chia từ cấp trên xuống cấp dưới.

Càng ngày các toán cưa gỗ càng được đưa đi xa hơn, cuối cùng gần tới cái quán ở khu kinh tế mới bỏ hoang. Mỗi lần như thế, tay giám thị thường cho phép hai tù cải tạo đi tới cái quán để mua thuốc rê, đường thẻ, bánh kẹo cho những anh em muốn mua.

Viết “bánh kẹo” chỉ để nghe cho thuận tai còn trên thực tế, cũng giống như cái quán trên đường đi chặt le ở Đồng Ban, cái quán này chỉ bán một thứ bánh kẹo duy nhất là kẹo dừa, loại kẹo sản xuất sau năm 1975 vừa cứng vừa nồng mặc mùi xà bông (tôi cũng không hiểu tại sao?)

Trong những lần đi xa như thế, thỉnh thoảng anh em tù cải tạo đã gặp một số thanh thiếu niên của trại tù “tệ đoan xã hội” ở gần Quốc lộ 13 cũng bị bắt vào rừng cưa gỗ.

Cùng là thân tù tội nhưng chúng tôi đã không thể cầm lòng trước những thân hình tiều tụy, những khuôn mặt hốc hác, những cặp mắt không còn sinh khí của đám thanh thiếu niên này. Mặc dù bị nghiêm cấm tiếp xúc với tù cải tạo, họ vẫn lén lút mò tới, hy vọng sẽ xin được một nhúm thuốc rê, một hai cục đường thẻ…

* * *

Hơn một tháng sau khi đám tù cải tạo cấp úy chúng tôi bị đưa từ Suối Máu lên Tống Lê Chân, có thêm một đợt tù đặc biệt được đưa tới nơi. Gọi là “đặc biệt” bởi gồm nhiều thành phần đối tượng khác nhau, trong đó có cả một hồi chánh viên người miền Nam, tức gốc gác Mặt Trận Giải Phóng.

Để có chỗ cho những người mới tới, chúng tôi bị dồn nhà. Nhờ đó, trong khi chỗ ngủ trở nên chật chội hơn, tôi được gần gũi với một số anh em cùng chí hướng, lập trường (nói theo từ cách mạng là “có tư tưởng phản động”), phần lớn thuộc ngành Chiến Tranh Chính Trị.

Thực ra có hay không có tư tưởng phản động thì giờ này tất cả tù cải tạo ở Tống Lê Chân cũng cùng chung một “chính sách”, cùng một tương lai vô định như nhau.

Viết là vô định bởi vì khác với ở Suối Máu và những trại chúng tôi ở trước kia, người tù có thể suy diễn, đoán mò những gì sắp xảy ra qua các buổi “lên lớp” của giáo viên, tiết lộ của quản giáo, qua tin tức trên đài phát thanh, đài truyền hình, qua hệ thống loa phóng thanh trong trại (ở Suối Máu), và quan trọng không kém là những gì được thân nhân rỉ tai trong những lần thăm nuôi, ở Tống Lê Chân chúng tôi không có bất cứ một nguồn thông tin nào! (Tù cải tạo chỉ được nhận quà chứ không được viết và nhận thư từ)

Kể cả với công an, Tống Lê Chân cũng giống như một hòn đảo xa xôi. Cả tháng mới đôi lần nghe thấy tiếng xe vận tải chở lương thực tới trại. Còn lại thường ngày chỉ là tiếng máy điện, chạy từ giờ cơm tối cho tới 9 giờ đêm để công an xem truyền hình. Sau đó là đêm đen dài như vô tận…

Nhờ có nhóm “phản động”, tụ tập bàn luận chính chị chính em, kể chuyện trên trời dưới biển, chúng tôi mới có thể giết thì giờ những lúc rỗi rảnh, tạm quên đi tương lai mờ mịt.

Bên cạnh đó, tôi còn mở lớp… dạy nhạc!

Chuyện khá dài dòng. Nguyên vào một ngày nọ không phải đi lao động, xế chiều tôi đi tắm ở con suối phía sau khu nhà của ban giám thị trại, lúc về đi ngang khu nhà mái tôn vách ván của tù cải tạo cấp tá được đưa lên Tống Lê Chân vào đầu năm 1979, tôi nghe có tiếng người gọi tên cúng cơm của mình. Quay lại thì thấy anh PT Tùng, một ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng cùng đơn vị kỹ thuật trong phi trường Biên Hòa trước 1975.

Anh Tùng là người gốc Bắc, thư sinh trắng trẻo, tính tình hiền lành lại nhỏ thó nên có biệt hiệu Tùng “con”. Trước năm 1975, tôi khá thân với anh Tùng cho nên từ Phước Long về K3, Suối Máu, gặp lại nhau chúng tôi mừng lắm, tuy nhiên tôi vẫn giữ ý tứ, mỗi khi tình cờ gặp nhau ngoài sân, tôi chỉ nói chuyện qua loa, hỏi thăm ngắn gọn, vì vào thời gian Suối Máu còn nằm trong tay “bò xanh”, tù cấp tá được khuyến cáo không nên quan hệ với tù cấp úy, thường bị đánh giá là không chịu học tập tiến bộ!

Tới đầu năm 1979, sau khi ăn tết ta xong và đám cấp úy chúng tôi bị phân tán đi các K khác, toàn bộ cấp tá ở K3 bị đưa khỏi Suối Máu. Anh Tùng là một trong số những người may mắn được đưa lên Tống Lê Chân. Nói là may mắn vì so với những trại tù hắc ám như Xuân Phước (A20), Gia Trung ngoài miền Trung, Tống Lê Chân là… thiên đàng!

Bên cạnh đó, nhờ gia đình khá giả, anh Tùng thường xuyên nhận được những gói quà rất chất lượng!

* * *

Lúc đó anh Tùng đang ngồi “trà lá” với mấy ông thiếu tá khác quanh cái bàn gỗ bên hông nhà, trong đó có Thiếu tá Ph, một ông Trưởng Phòng cùng đơn vị với chúng tôi. Sau khi tay bắt mặt mừng, anh Tùng cho tôi biết chiều nào anh cũng ngồi trà lá ở đây và nói tôi ngày mai qua chơi (vì lúc đó tôi đi tắm suối về, người ngợm ướt nhẹp).

Chiều hôm sau, khi tôi tới nơi thì thấy anh Tùng đang ôm cây đàn ghi-ta để tập đệm. Chỉ cần nghe sơ, tôi biết anh mới chập chững bước đầu. Buổi kế tiếp, tôi mang theo cuốn “Cách bấm hợp âm trên cần đàn ghi-ta” mà tôi soạn ở Suối Máu, hy vọng sẽ giúp anh tự học bấm những hợp âm thông dụng nhất.

Không ngờ cuốn vở 50 trang ấy lại được khá nhiều quan tá chiếu cố, chuyền tay nhau sao chép. Sau khi các “học trò” của mình bấm các hợp âm tương đối đã nhuyễn, tôi đưa thêm cuốn “Hòa âm căn bản” để giúp họ tự ghi ra các hợp âm chính của một ca khúc.

Kết quả, công việc mà ngày còn trẻ theo thầy, tôi cho là nhàm chán, nhức đầu, giờ đây lại được ít nhất phân nửa “học trò” của tôi thích thú. Khỏi nói, anh Tùng phục tôi sát đất, và vô cùng hãnh diện vì có gã đàn em KQ tài hoa hết mực, ít nhất cũng là dưới mắt anh và các quan tá vào tù mới tập đàn và học nhạc!

Bù lại, anh Tùng, với sự đóng góp các quan tá nói trên, không bao giờ để tôi phải đói thuốc (thuốc rê, thuốc lào), lại còn san sẻ quà gia đình gửi vào, tôi mà từ chối là anh giận!

* * *

Cũng ở Tống Lê Chân, tôi còn được gặp một đàn em cùng ngành Chiến Tranh Chính Trị trong quân chủng Không Quân, Thiếu úy Th. Th thuộc lớp sĩ quan trẻ nhất của quân đội miền Nam, ngập ngũ sau Mùa hè đỏ lửa 1972, vừa mang lon thiếu úy được mấy tháng thì mất nước. Nghĩa là chưa kịp gây “tội ác với cách mạng” nhưng vẫn bị liệt vào thành phần nguy hiểm vì cái mác Chiến Tranh Chính Trị!

Thiếu úy Th phục vụ tại Sư Đoàn 5 Không Quân ở Tân Sơn Nhất, còn được gọi là “sư đoàn vận tải”, lại còn độc thân cho nên vào những ngày cuối tháng 4-1975, muốn di tản cũng không khó, nhưng vì sợ pháo kích của Việt Cộng nên không dám vào phi trường. Rốt cuộc bị kẹt lại.

* * *

Khoảng ba, bốn tháng sau khi đám tù cải tạo cấp úy chúng tôi từ K1 Suối Máu được đưa lên Tống Lê Chân, xảy ra một vụ trốn trại khá “đẹp mắt”. Qua quan sát hiện trường và suy diễn từ các biện pháp đối phó của công an trại sau đó, chúng tôi được viết sự việc xảy ra như sau:

Mấy anh em trốn trại này đã chuẩn bị từ trước bằng cách lén cắt đứt các dây buộc lớp hàng rào bằng tre ở phía trong để thoát ra, sau đó sử dụng kìm cắt kẽm gai để cắt lớp hàng rào bên ngoài.

Việc lén cắt đứt các dây buộc hàng rào tre không có gì khó khăn, miễn sao đừng lộ liễu, nhưng cắt hàng rào kẽm gai phía bên ngoài cả là một vấn đề.

Trước năm 1975, tôi thấy cái kìm cắt kẽm gai là loại kìm đặc biệt, dài ít nhất cũng 30 cm, trong trại cải tạo tìm đâu ra; còn tự chế thì kiếm đâu ra loại thép có thể cắt được kẽm gai?! Vậy mà họ thoát được mới tài!

Về thời điểm vượt thoát, có lẽ các anh em này đã lợi dụng lúc sắp sửa tắt điện để ra tay.

Khác với ở Suối Máu, nơi máy phát điện chạy suốt đêm, ở Tống Lê Chân, máy phát điện chỉ bắt đầu chạy vào trước giờ cơm tối để cung cấp ánh điện cho toàn trại và các đèn pha trên vọng gác, tới 9 giờ thì máy phát điện ngưng chạy. Sau khi điện tắt, tù cải tạo không ai được ra khỏi nhà.

Trên nguyên tắc, trên bốn vọng gác ở bốn góc trại có công an gác 24/24, nhưng về sau, ỷ y có ánh đèn pha sáng rực, đám công an có nhiệm vụ canh gác, sau khi ăn cơm tối đã nán lại để xem truyền hình, gần tới giờ tắt điện mới đi ra vọng gác.

Sau khi điều nghiên, biết được “lỗ hổng thời gian” này, các anh em trốn trại đã quyết định hành động vào khoảng 8 rưỡi tối, tức là họ có khoảng 15, 20 phút để chui ra ngoài hàng rào tre rồi cắt hàng rào kẽm gai và chạy vào khu rừng chồi.

Qua ngày hôm sau, đội của tôi bị phân công cột lại lớp hàng rào tre, khi ấy chúng tôi mới khám phá ra hàng rào tre ở hướng tây và hướng nam có nhiều chỗ bị cắt, suy ra một là những anh em nói trên đã cắt ở nhiều vị trí khác nhau để tùy cơ ứng biến, hai là còn có những anh khác cũng chuẩn bị trốn trại. Nếu đúng là còn những toán khác thì coi như dẹp luôn, bởi sau đó đám công an canh gác được lệnh có mặt trên các vọng gác 24/24 chứ không được lơ là như trước nữa.

Về phần những anh em trốn trại, tôi được biết cả đều là cấp úy thuộc các đơn vị tác chiến, tức là dư khả năng vượt qua mọi chướng ngại thiên nhiên, nhưng có thoát khỏi bàn tay con người hay không mới là điều đáng nói.

Lo ngại lớn nhất của chúng tôi là những anh em này đi về hướng bắc, liều mạng vượt biên giới Việt – Miên tìm đường đi sang Thái Lan với hai bàn tay không thì gần như nắm chắc cái chết nếu gặp Khmer Đỏ. Chỉ có cách băng rừng đi về hướng tây hoặc hướng nam thì mới hy vọng bằng cách này cách khác về được Sài Gòn.

Hướng tây là huyện Tân Châu của tỉnh Tây Ninh, hướng nam là hai huyện Dầu Tiếng và Chơn Thành của tỉnh Bình Dương. Theo suy đoán của tôi, nếu quyết định đi về Sài Gòn thì những anh em nói trên sẽ men theo quốc lộ 13 đi về Chơn Thành rồi tùy cơ ứng biến…

Khác với những gì thường xảy ra dưới thời “bò xanh” khi có người trốn trại, vụ mấy anh em tù cải tạo ở Tống Lê Chân vượt thoát đã không bị ban giám thị làm lớn chuyện. Theo tôi nhớ, trước sau chỉ có một buổi “lên lớp” của viên Thiếu tá công an thủ trưởng Tống Lê Chân, lên án những anh em trốn trại và tiên đoán trước sau cũng bị bắt lại. Nhưng rồi thấy im re, chúng tôi đoán có lẽ những anh em nói trên đã thoát.

[Sau này, qua lời thuật lại một anh em vượt thoát thành công, rồi vượt biển, định cư tại hải ngoại, chúng tôi được biết cho tới lúc chia tay nhau tại một địa danh nào đó thuộc tỉnh Bình Dương, toán trốn trại vẫn còn đầy đủ]

* * *

Khoảng một tháng sau vụ trốn trại, một buổi sáng nọ, sau khi toàn trại đã tập họp ngoài sân chờ nghe phân công lao động trong ngày, khóa cổng được mở, thay vì chỉ có hai ba tay giám thị cấp úy và đám công an bảo vệ tiến vào như thường lệ, hôm nay lại có cả một “phái đoàn” tiền hô hậu ủng, trong đó chúng tôi nhận ra Trung tá Đào Lưỡng, Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu, đi bên cạnh là viên Thiếu tá thủ trưởng Tống Lê Chân, cùng hai tay công an lạ mặt đeo xà-cột (sacoche), sau này được biết là người của Cục Trại Giam, Bộ Nội Vụ.

Việc viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu lần đầu tiên xuất hiện ở Tống Lê Chân quả là chuyện lạ cho nên không cần đám giám thị ra lệnh, cả ngàn người tù tự động giữ im lặng hướng lên phía cổng.

Thông thường, khi tập họp chờ nghe phân công lao động mỗi buổi sáng, các tổ chuyên môn (may, mộc, tăng gia, hậu cần…) ngồi phía trên vì họ sẽ được ra khỏi cổng trước tiên, kế tới là các đội cấp tá, dưới cùng là các đội cấp úy trở xuống.

Riêng tôi và đám bạn “phản động” cùng đội hay không cùng đội cũng luôn luôn quây quần ở góc sân xa nhất ngồi tán dóc, hút thuốc, chẳng thèm quan tâm tới việc hôm nay đội mình bị giao công tác gì, nhưng hôm nay trước sự xuất hiện của Đào Lưỡng và mấy tay công an lạ mặt, chúng tôi cũng ngưng tán dóc để theo dõi.

Trước hết, mấy tay công an bảo vệ vào trạm xá (nằm phía trong hàng rào) khiêng ra một cái bàn và hai cái ghế. Sau khi Đào Lưỡng lên lớp mấy câu theo đúng sách vở (học tập tốt, lao động tốt, nghiêm chỉ chấp hành nội quy…), ông ta ngồi xuống ghế. Một trong hai tay công an tháp tùng ông ta cũng ngồi xuống, lấy trong xà-cột ra một xấp hồ sơ và trao cho tay công an còn lại một tờ giấy.

Tay công an này đứng bên cạnh bàn, dõng dạc công bố “tiến trình làm việc” đại khái như sau: hắn ta sẽ lần lượt đọc tên từng người trong danh sách, người nào có tên thì đứng lên, rồi đọc to cấp bậc và số quân của mình, kế tiếp là đơn vị phục vụ, sau cùng tới địa chỉ cư trú. Trường hợp có nhiều người trùng tên, hắn chỉ ai thì người đó trả lời trước. Nếu không đúng với chi tiết trong danh sách, hắn sẽ nói người ấy ngồi xuống, rồi tới người kế tiếp…

Mặc dù chưa biết những người có tên trong danh sách sẽ bị chuyển trại hay được thả, đám tù cải tạo cũng xôn xao, khiến những người ngồi phía cuối sân không thể nghe rõ (vì không có megaphone), cho nên mỗi lần tay công an đọc xong một cái tên, những người ngồi gần đó lại quay xuống phía dưới lớn tiếng lập lại, rồi những người ngồi giữa sân lại lập lại cho cuối sân nghe.

Vì sự lập lại ấy, có những anh em tên gần giống tên được gọi cũng đứng dậy, để rồi vừa đọc xong cấp bậc và số quân đã bị tay công an khoát tay bảo “ngồi xuống!”

Cuối cùng, khoảng trên dưới 50 người có tên trong danh sách – tất cả là cấp úy – lần lượt tiến lên và được lệnh tập họp bên cạnh trạm xá, số tù cải tạo còn lại đi lao động như thường lệ.

Tới trưa khi mọi người trở về trại thì được biết số anh em được gọi tên buổi sáng sẽ được đưa về Suối Máu “để làm thủ tục trở về xum họp với gia đình” – nguyên văn lời Đào Lưỡng nói với họ.

Dĩ nhiên, kinh nghiệm bị cho ăn bánh vẽ trong hơn 5 năm cải tạo không cho phép chúng tôi tin ngay lời Đào Lưỡng, nhưng rồi so sánh danh sách này với danh sách bị đưa về Chí Hòa sau vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978, chúng tôi tin tới 90% những người có tên sáng nay sẽ được thả. Bởi vì đa số anh em đều có “thân nhân cách mạng”.

Hơn nữa, chính những anh em này cũng được gia đình cho biết trước, hay ít ra cũng tin rằng mình sắp được thả; bên cạnh đó, số người có tên trong danh sách mà không có “thân nhân cách mạng” thì đều có gia đình là “tư sản mại bản” (tức “nhà giàu” theo cách gọi của CSVN) mà chúng tôi đoán là đã “chạy vàng”.

Sáng hôm sau, hai chiếc molotova tới Tống Lê Chân chở số tù cải tạo nói trên rời trại.

* * *

Khoảng hai tháng sau, sự việc lại tái diễn. Số người được về lên tới gần 100, trong đó có “thân nhân cách mạng” chỉ chiếm khoảng một nửa, nửa còn lại vừa là “tư sản mại bản” vừa là “con bà phước” từ cấp thiếu tá xuống tới thiếu úy trước năm 1975 phục vụ tại các đơn vị không tác chiến, tuy nhiên không có một tay “giặc nói” (Chiến Tranh Chính Trị) nào!

Trước việc có nhiều “con bà phước” được thả về, chúng tôi suy luận một cách lạc quan như sau: có lẽ sau khi chiếm đóng Căm-bốt, tình hình trong nước được xem là đã ổn định, nhà cầm quyền CSVN lại cho thả tù cải tạo sau mỗi thời hạn 3 năm, như họ đã bắt đầu từ năm 1978 khi tôi còn ở Phước Long.

Và cũng giống như ở Phước Long trước đây, đám “con bà phước” được thả có thể mang bất cứ cấp bậc nào từ thiếu tá xuống thiếu úy, miễn không phải thành phần tác chiến thứ dữ (nhảy dù, biệt kích, TQLC, BĐQ), “giặc lái”, an ninh tình báo hay CTCT.

Nhưng tại sao họ lại không thả đám “con bà phước” theo ưu tiên cấp bậc lớn nhỏ: thiếu úy về trước rồi mới tới trung úy, đại úy, thiếu tá?

Như tôi đã viết trong một kỳ trước, trong đợt thả tù đầu tiên sau thời hạn 3 năm khi tôi còn ở Phước Long, cùng với đám trung úy, thiếu úy ở Bù Gia Phúc (L2) còn có các anh Tư (thiếu tá) ở Bù Gia Mập!

Sau này khi đã được thả, tôi nghe một ông trung tá CSBV ra vẻ hiểu biết đường lối chính sách “học tập cải tạo” của Đảng và Nhà nước, giải thích đại khái như sau:

Không kể các tướng tá giữ những chức vụ quan trọng, các thành phần “có nhiều nợ máu với nhân dân”, và các đối tượng khó cải tạo (CTCT), tất cả còn lại được xét cho về qua kết quả học tập cải tạo chứ không phải cấp bậc hay thời gian phục vụ chế độ dài hay ngắn. Bên cạnh đó, những người mang cấp bậc cao thường đã lớn tuổi, có con có cháu, được thả về sẽ sống an phận, khác với đám sĩ quan trẻ còn hăng máu, sẵn sàng chống phá cách mạng.

(Đó cũng là những gì chúng tôi đã được nghe Đào Lưỡng “lên lớp” sau khi tù cải tạo ở Suối Máu được bộ đội bàn giao cho công an vào năm 1978.)

Nhưng – chữ NHƯNG viết hoa – làm sao cách mạng biết được mức độ “tiến bộ” một khi tất cả mọi “bài thu hoạch” của cải tạo viên sau đợt học tập chính trị 10 bài đã được bộ đội sử dụng để nhóm bếp, hoặc tệ hại hơn, để làm giấy đi cầu, thay vì đưa về trung ương để “đánh giá” như quản giáo đã hù dọa, đồng thời sau mỗi lần chuyển trại lại có sự “xóa bàn làm lại” (về quá trình học tập cải tạo của mỗi cá nhân ở các trại cũ)!

Thành thử có thể viết trong đám “con bà phước” từ cấp tá xuống thiếu úy nếu không thuộc thành phần tác chiến thứ dữ, “giặc lái”, an ninh tình báo, CTCT… ai được thả sớm hơn ai là do hên xui may rủi!

Điều này đã được chính Đào Lưỡng xác nhận khi diễn ra đợt thả tù thứ ba ở Tống Lê Chân vào cuối năm 1980; trước khi tiến hành việc đọc danh sách, viên Trung tá công an Giám thị trưởng Chí – Hòa Suối Máu đã vui vẻ nói đùa “Các anh giữ im lặng để nghe kết quả xổ số nè!”

Giai thoại này (lời tuyên bố của Đào Lưỡng) ra vẻ khó tin nhưng có thật, mà anh em tù cải tạo ở Tống Lê Chân là những nhân chứng sống, được nghe tận tai!

* * *

Khoảng giữa tháng 1/1981, tức là trước tết Tân Dậu, diễn ra cuộc thả tù lần thứ tư ở Tống Lê Chân.

Cũng giống như những lần trước đó, sau khi tù cải tạo đã tụ họp ngoài sân đợi phân công lao động trong ngày, “phái đoàn” mới tiến vào. Tuy nhiên lần này chỉ có mấy tay công an của Cục trại giam đem danh sách lên chứ không có Đào Lưỡng; rất có thể vì danh sách được thả lần này chỉ vào khoảng ba chục người may mắn được về ăn tết với gia đình.

Và cũng giống như ba lần trước, nhóm “phản động” chúng tôi tụ tập ở một góc sân xa nhất vẫn tiếp tục trà lá tán dóc vì tự biết chẳng tới lượt mình được gọi tên.

Một hồi sau, bỗng có tiếng nhao nhao từ giữa sân vọng xuống:

– Ê Sáu Lèo, Sáu Lèo, có tên mày kìa!

Nhìn lên, tôi thấy không có ai đứng cả. Sau này tôi được biết đã có mấy người trùng tên với tôi đứng lên trả lời… cầu may nhưng đều bị tay công an của Cục trại giam khoát tay bảo ngồi xuống.

Tôi chậm rãi đứng lên, trong bụng vẫn nghĩ chắc có một sự lầm lẫn nào đó, hoặc anh em nghe không rõ. Thấy tôi lề mề, tay công an cầm danh sách quát lớn:

– Tên gì?

Trả lời xong, tôi quên mất rằng phải đọc tiếp cấp bậc và số quân của mình, phải đợi tay công an quát tháo, tôi mới giật mình đọc cấp bậc và số quân.

Đọc xong tôi ngưng lại, chờ tay công an khoát tay bảo ngồi xuống, nhưng không, hắn vẫn nhìn tôi chờ đợi… Một anh bạn phải nhắc tuồng “Đơn vị, địa chỉ” tôi mới làm theo như một cái máy. Và tới khi tay công an của Cục Trại Giam miệng quát lớn “Lên đây tập họp”, tay chỉ về phía những người đã có tên đang đứng riêng bên cạnh trạm xá, tôi bỗng như người mất hồn!

Sau này dù cố gắng hồi tưởng, tôi cũng không thể nhớ đích xác lúc đó tôi và nhóm anh em thân thiết phản ứng ra sao. Chỉ biết một điều chắc chắn là tôi lâm vào một trạng thái vô cảm, không hề mừng rỡ, xúc động…

Trước kia, mỗi đêm mơ tưởng tới ngày được thả, tôi nghĩ là mình sẽ sung sướng phát điên lên nhưng giờ đây cảm xúc ấy đã không đến, chẳng hiểu tại sao?!

Phải đợi tới chiều, khi anh em quen biết kéo hỏi han, chúc mừng, tôi mới lấy lại phần nào bình tĩnh. Chỉ tội nghiệp Th., chàng thiếu úy Chiến Tranh Chính Trị ở SĐ5KQ, đã tìm cách gặp riêng tôi để hỏi đi hỏi lại xem tôi có “thân nhân cách mạng”, hay có “chạy vàng” không; bởi vì cho dù chính viên Trung tá Giám thị trưởng đã gọi đây là những cuộc “xổ số”, Th. vẫn không thể tin một trung úy CTCT thâm niên như tôi lại được thả trước một đàn em mang lon thiếu úy mới được mấy tháng!… Tôi đã phải thề sống thề chết tôi là con bà phước thứ thiệt, nhà không đủ ăn để trấn an chàng thiếu úy trẻ.

Buổi tối hôm đó, tôi sang chào từ biệt Thiếu tá Tùng “con”, học thuộc lòng địa chỉ nhà bố anh ở Thủ Đức để tới thăm, rồi cùng vài anh em thân thiết nhất ra góc sân trà lá lần cuối cùng. Dù không nói ra, ai cũng có vẻ lên tinh thần trước việc một trung úy CTCT “con bà phước” nổi tiếng “phát ngôn linh tinh” như tôi lại được thả, cho thấy anh em cũng có thể có tên trong những kỳ “xổ số” kế tiếp!

* * *

Sáng hôm sau, nhóm tù sắp được thả được anh nuôi (tổ làm bếp) phát cho mỗi người một ổ bánh mì làm bằng bột bo bo (cao lương) dài hơn một gang tay, là khẩu phần cho một ngày ăn, vì theo dự trù, sau khi về Suối Máu ngủ qua đêm, sáng hôm sau chúng tôi sẽ nhận được Giấy Ra Trại để tung cánh chim tìm về tổ ấm!

Mấy chục người chúng tôi ngồi chờ hoặc đi tới đi lui trước trạm xá ở gần cổng, nhưng chờ mãi vẫn không thấy công an từ Ban giám thị xuống gọi mà cũng chẳng nghe tiếng xe molotova chạy tới nơi.

Gần tới giờ ăn trưa, chúng tôi bắt đầu băn khoăn, lo ngại mà dù không nói ra, ai cũng có cùng một câu hỏi trong đầu: có khi nào danh sách lần này bị hủy bỏ vào giờ phút chót không?!

Mãi tới hơn bốn giờ chiều mới nghe tiếng xe chạy vào trại. Công an Cục Trại Giam xuống ra lệnh cho chúng tôi xếp hàng, điểm danh một lần nữa rồi đi lên khu nhà của Ban giám thị. Tôi quay lại nhìn anh em lần cuối, khẽ đưa tay vẫy chào…

Lên tới nơi, thấy có hai chiếc molotova chờ sẵn, tôi thầm cám ơn Cục Trại Giam chơi đẹp, vì trong những lần chuyển trại trước đây, 30 tù cải tạo thì chỉ cần một xe cũng dư sức nhét vào. Như vậy, hôm nay chúng tôi sẽ được ngồi thoải mái trên đường trở về Suối Máu.

Leo lên xe rồi chúng tôi mới biết mình bị hố: dưới sàn xe đặc kín một lớp thân gỗ dài khoảng nửa mét, đường kính 30-40 cm, tức là gỗ để bổ ra làm củi, có lẽ đưa về Suối Máu để sử dụng trong nhà bếp của công an (còn bếp của tù sử dụng than nắm – tức bột than đá trộn với bùn rồi nắm thành từng nắm).

Ngửi mùi mạt cưa còn tươi, tôi suy ra nguyên nhân khiến hai chiếc molotova này vào Tống Lê Chân trễ hơn một buổi: vì trước đó đã phải ghé trại tù “tệ đoan xã hội” ở gần Quốc lộ 13 để lấy gỗ củi; nhưng vì không có sẵn, họ phải chờ tù cưa những khúc gỗ dài ra làm hai, làm ba khúc ngắn.

Vì có lớp thân gỗ dưới chân, chúng tôi không thể đứng thẳng người mà ngồi thì đau… bàn tọa (ở tù gần 6 năm, chúng tôi vẫn không thể tiếp thu kiểu ngồi nước lụt của dân Bắc kỳ 2 nút), đã vậy quốc lộ 13 lại đầy rẫy ổ gà, xe molotova “made in China” (Trung Cộng gọi là xe “Giải Phóng”) chạy ì à ì ạch cho nên đoạn đường từ Tống Lê Chân về Bình Dương không bao xa mà như bất tận!

Tới Bình Dương thì trời đã tối. Khoảng nửa tiếng sau, tới Lái Thiêu xe bỗng dừng lại. Nghe tiếng nói chuyện giữa tay công an của Cục Trại Giam ngồi trên xe với người đứng dưới đường, chúng tôi biết đây là một trạm kiểm soát của công an địa phương.

Một lát sau, xe tắt máy, tay công an Cục Trại Giam rời xe bước xuống đường, tiếp theo là tiếng đối thoại có vẻ gay gắt; rồi có mấy tay công an địa phương trong đó có một tay ra vẻ cấp chỉ huy tiến tới phía sau chiếc molotova tôi đang ngồi, kiễng chân soi đèn pin vào những khúc gỗ củi trên sàn xe.

Tới đây chúng tôi đã hiểu đại khái những gì đang diễn ra: công an địa phương chặn bắt công an Cục Trại Giam về tội chở gỗ bất hợp lệ. Như vậy, nếu quả thật đây là gỗ đưa về Suối Máu để làm củi thì chỉ cần một cú điện thoại xác nhận từ Suối Máu là xong, nhưng những gì diễn ra tiếp theo đó cho thấy đây là một cách “làm ăn” của đám công an cắc ké thuộc Cục Trại Giam!

Trước hết, mấy chục tù cải tạo chúng tôi được lệnh xuống xe, đi bộ tới một trường học gần đó, gồm mấy gian nhà mái tôn vách ván không có cửa nẻo gì cả, vào một lớp học để… nghỉ ngơi, cần tiểu tiện thì ra trước nhà, không được đi ra khỏi sân trường.

Chúng tôi chỉ biết than trời: cả đến lúc được thả về cũng còn gặp nạn, trong lòng thầm cầu mong trời phù hộ… đám công an chở gỗ lậu!

Tới quá nửa đêm, vẫn không thấy động tịnh gì, chúng tôi chán nản, nằm dưới nền đất cố dỗ giấc ngủ.

Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao, mới thấy hai chiếc molotova thân yêu trên có mấy tay công an của Cục Trại Giam chạy tới đậu ngoài đường lộ phía trước trường học, và chúng tôi được lệnh lên xe.

Thấy lớp gỗ củi còn nguyên vẹn dưới sàn xe, chúng tôi hiểu đã có một sự “dàn xếp” nào đó giữa công an Bình Dương và công an Cục Trại Giam!

Khi xe lăn bánh tiếp tục đi về hướng nam, tức là đi về Suối Máu, cho rằng mình đã an toàn, trong lòng tôi lại tội nghiệp đám công an cắc ké của Cục Trại Giam chẳng biết kiếm chác được bao nhiêu nhưng kỳ này về chắc chắn sẽ bị kiểm điểm!

* * *

Tới xa lộ Đại Hàn, hai chiếc xe quẹo trái để về Biên Hòa. Khi đi ngang phi trường trên con đường trước 1975 mang tên Phạm Phú Quốc, từ Cổng 2 (Dốc Sỏi) tới Cổng 1, tôi rất muốn nhìn xem cảnh vật đã thay đổi ra sao sau gần 6 năm bể dâu nhưng không đủ can đảm, vẫn cúi gầm mặt!

Gần tới trưa, xe chạy vào Suối Máu. Thấy trại giam cũ, tôi lại cảm thấy bần thần như khi nghe đọc tên mình trong danh sách được thả ở Tống Lê Chân sáng hôm qua.

Sau này nhớ lại, tôi cho rằng có lẽ vì được thả về quá bất ngờ nên tôi bị “shock”, đầu óc cứ mơ mơ màng màng, cho nên tôi cũng không để ý tới việc chúng tôi được đưa vào K nào, chỉ nhớ chắc chắn không phải K2 hay K1 mà tôi đã ở trước đây vì ở ngoài sân có trồng cây.

Về tới nơi, chúng tôi được cho biết đám công an của Cục Trại Giam làm thủ tục “ra trại” cho tù cải tạo, trong đó có tay tài vụ phát tiền xe (cho tù đi về nhà) đã về Sài Gòn, sáng hôm sau mới trở lại, vì thế chúng tôi phải ngủ lại một đêm tại hội trường; tuyệt đối cấm tiếp xúc với tù đang ở Suối Máu.

Thật đúng là cái số ăn mày, đã mất một đêm ngủ hoang ở Lái Thiêu bây giờ lại thêm một đêm màn trời chiếu đất ở Suối Máu!

Đêm hôm ấy, chúng tôi hầu như không ai ngủ được, vừa đói bụng vừa nôn nao chờ cho trời mau sáng!

Cuối cùng rồi trời cũng sáng. Dù mất ngủ hai đêm liên tiếp, chúng tôi ai nấy rạng rỡ nét mặt vì ngày hôm nay – ngày mà chúng tôi mỏi mòn chờ đợi từ 5 năm rưỡi qua – cuối cùng đã tới.

Khoảng 9 giờ sáng, cổng mở, mấy tay bảo vệ và một tay công an của Cục Trại Giam đi vào, tập họp điểm danh rồi đưa chúng tôi ra khu nhà của Ban giám thị.

Tại đây, một tay ra vẻ cao cấp nhất “lên lớp” lần cuối cùng. Từ ngày vào tù tới giờ, chưa bao giờ chúng tôi được nghe những lời lịch sự, tử tế đến như thế. Sau khi chúc mừng chúng tôi đã học tập cải tạo tiến bộ được cấp trên xét cho về xum họp với gia đình, tay công an nhắn nhủ đại khái như sau:

– Về tới nhà việc đầu tiên là trình diện công an phường, xã để đăng ký.

– Tuân theo các quyết định cho từng cá nhân ghi trong giấy ra trại.

– Nghiêm chỉ chấp hành luật pháp nước CHXHCNVN và luật lệ của chính quyền địa phương các cấp để sớm được phục hồi quyền công dân.

Sau cùng, ông ta chúc chúng tôi thượng lộ bình an và mong rằng sẽ không có người nào bị đưa vào nhà tù lần thứ hai!

Sau đó, mỗi người chúng tôi được cấp một tờ Giấy Ra Trại, tất cả được trở về địa chỉ cư trú khi trình học tập cải tạo, nhưng riêng tôi và một vài người khác ở Sài Gòn thuộc ngành chiến tranh chính trị, an ninh quân đội, quân báo, v.v…, bị ghi thêm hàng chữ:

Chú Thích:

Không được phép cư ngụ tại TP Hồ Chí Minh sau thời hạn 3 tháng (hoặc 6 tháng tùy người)

Nhưng chúng tôi không mấy quan tâm tới hàng chữ trên, chỉ cần được tự do, mọi việc tính sau!

Theo đúng quy định, sau khi được cấp Giấy Ra Trại, chúng tôi sẽ được phát tiền xe đi về nhà. Tôi còn nhớ mang máng ngày ấy người nào về Sài Gòn thì được phát 5, 7 đồng tiền Hồ, người nào về tận miền Trung thì được phát khoảng 20 đồng. (Theo thời giá, 1 đồng tiền Hồ lúc đó mua được một ly cà-phê đen hạng bét – toàn là hạt bắp rang cháy – ở các quán lề đường, hoặc trả một cuốc xích-lô đạp ngăn ngắn)

Nhưng một tay công an cho chúng tôi biết hôm nay tay tài vụ của Cục Trại Giam chưa tới, và nói chúng tôi ra bên ngoài chờ, khi nào anh ta tới họ sẽ gọi chúng tôi.

Đứng chờ mỏi cả chân, anh em bàn tán và tin rằng đám công an cố tình trì hoãn việc phát tiền xe với hy vọng một số tù nóng ruột không muốn chờ đợi sẽ bỏ ra về để họ đút túi số tiền xe. Một vài anh em nói “thí cô hồn, về cho rồi” nhưng cũng có những anh em không có tiền dằn túi, hoặc chỉ có năm bảy đồng, muốn tiếp tục chờ.

Bỗng một anh nói:

– Tôi ở ngay Sài Gòn, còn dư mấy chục, anh nào nhà ở miền Trung, tôi biếu!

Trước hạnh phúc sắp được đoàn tụ với những người thân yêu, lòng hào hiệp bỗng có tác động dây chuyền. Ít nhất có thêm hai anh nữa bắt chước nghĩa cử này.

Kết quả, hầu hết trong tổng số trên dưới 30 tù cải tạo được về đợt này đã quyết định “thí cô hồn” để rời xa nơi chốn hắc ám này càng sớm càng tốt. Chỉ có vài anh nán lại để chờ, nhưng không phải vì cần tiền mà vì không chấp nhận để công an chơi gác. Một anh nói:

– Mẹ chúng nó chứ, một đồng tôi cũng chờ, nhất định không cho chúng nó ăn!

Rồi mấy chục anh em chúng tôi, cầm tờ Giấy Ra Trại trên tay, lần lượt bước qua cái cổng ngoài cùng của trại tù Suối Máu. Ra tới quốc lộ 1, chúng tôi chờ xe lam đi tới Ngã Ba Sặt để đón xe đò về Sài Gòn.

Ngã Ba Sặt là nơi xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa chấm dứt tại quốc lộ 1, nơi có giáo xứ Kẻ Sặt của người Bắc di cư, được xem là trung tâm thương mại và ẩm thực của vùng Hố Nai.

Trước năm 1975, đoạn đường này tấp nập xe cộ, cứ vài phút lại có một chuyến xe lam chạy từ thành phố Biên Hòa, nhưng nay vắng tanh, thỉnh thoảng mới có một người dân đi xe đạp.

Thay vì đứng chờ xe lam không biết bao giờ mới tới, chúng tôi quyết định đi bộ về hướng Ngã Ba Sặt. Nửa tiếng đồng hồ sau, tôi ngoái cổ nhìn lại, trại tù Suối Máu đã khuất hẳn.

Chú Thích:

(1) Trong thời gian cuộc chiến tàn khốc diễn ra tại miền Nam VN, hình ảnh người S’tiêng đã được cả hai phe quốc cộng đề cập tới: phe quốc gia qua vụ thảm sát Dak Son, còn phe cộng sản với bài hát “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”.

Cuộc thảm sát Dak Son chúng tôi đã đề cập tới trong một kỳ trước, xảy ra vào cuối năm 1967 tại làng Dak Son gần thị xã Phước Long, vốn một làng “Cuộc Sống Mới” được chính phủ VNCH dựng lên cho khoảng 800 đồng bào Thượng, đa số là người S’tiêng, vượt thoát từ những vùng bị quân cộng sản kiểm soát.

Đêm mồng 5 rạng mồng 6 tháng 12, một lực lượng cộng quân thuộc Trung Đoàn 88 chính quy Bắc Việt đã bao vây làng, sử dụng súng phun lửa đốt cháy nhà cửa trong lúc mọi người đang an giấc, người nào chạy thoát được ra ngoài thì bị bắn bằng súng tiểu liên… Kết quả, 252 đồng bào Thượng phần lớn là phụ nữ và trẻ em đã bị tàn sát một cách dã man, đa số bị chết cháy.

Còn bài hát “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” là một “ca khúc cách mạng” của nhạc sĩ Xuân Hồng, mô tả cuộc sống “vừa tăng gia sản xuất vừa đánh giặc giữ đất” của người người S’tiêng.

Đây là một trong những ca khúc phổ biến nhất, không chỉ trong thời gian chiến tranh mà còn sau năm 1975, rất có thể còn phổ biến hơn bản “Cô gái vót chông” (là ca khúc mà Hoa hậu Đỗ Thị Hà đã trình diễn đàn T’rưng trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2022, và bị dư luận trong cũng như ngoài nước chỉ trích kịch liệt!)

Bom Bo là một địa danh có thật ở huyện Bù Đăng, tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước), nhưng nội dung ca khúc lại là một sự bịa đặt trắng trợn. Chỉ cần đọc các bài viết về Bom Bo của truyền thông nhà nước cũng đã đủ để thấy nội dung ca khúc này hoàn toàn do óc tưởng tượng của tác giả.

Bài viết “Tiếng chày trên sóc Bom Bo – Xuân Hồng” của tác giả Mỹ Hạnh có đoạn viết:

“Trong một dịp tham gia chiến dịch Đồng Xoài, Xuân Hồng được lệnh hành quân đến sóc Bom Bo (nay là ấp I của xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, Bình Phước) để nhận gạo. Sóc Bom Bo là một đơn vị hậu phương vững chắc, người dân nơi đây sẵn sàng ăn củ rừng để nhường gạo cho cách mạng, ăn tro để nhường muối cho bộ đội…”

Trong khi Cổng thông tin điện tử (website) của tỉnh Bình Phước hiện nay lại viết khác:

“Đến giữa năm 1963, khi địch vây bắt và khủng bố gắt gao thì già trẻ, gái trai của vài chục hộ dân sóc Bom Bo đã lặng lẽ băng rừng, vượt suối vào căn cứ “Nửa Lon” để theo cách mạng. Ở vùng đất mới, bà con bắt tay vào vừa xây dựng lán trại, tăng gia sản xuất và vừa tham gia đánh giặc. Thanh niên thì vào bộ đội, du kích, làm giao liên; còn phụ nữ và trẻ em thì đêm đêm giã gạo nuôi quân.”

Điều này có nghĩa là vào thời gian tác giả Xuân Hồng tham gia chiến dịch Đồng Xoài, không còn một bóng người ở Bom Bo thì làm gì có tiếng chày giã gạo?!

Suy ra, “nguồn cảm xúc cho nhạc sĩ Xuân Hồng sáng tác bài hát Tiếng chày trên Sóc Bom Bo” (theo bài viết của tác giả Mỹ Hạnh) hoàn toàn là sự bịa đặt!

Chưa hết, vì sự nổi tiếng của ca khúc Tiếng chày trên sóc Bom Bo, sau năm 1975 đã xảy ra việc tranh giành địa danh “Bom Bo”.

Trong bài đã dẫn, tác giả Mỹ Hạnh viết sóc Bom Bo nay là ấp I của xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, Bình Phước, nhưng theo website chính thức của UBND tỉnh Bình Phước thì sau năm 1975 sóc Bom Bo trở thành “thôn 1, xã Bình Minh” chứ không phải “ấp 1, xã Bom Bo”.

Nguyên sau năm 1975, có lẽ để thu hút du khách (?) người ta đã lấy tên “Bom Bo” đặt cho một vùng đất cách đó cả chục cây số, gọi là “xã Bom Bo”, còn sóc Bom Bo nguyên thủy (trong bài hát hát của Xuân Hồng) được gọi là thôn 1 thuộc xã Bình Minh.

Sau khi có sự kiện cáo của xã Bình Minh, nhà cầm quyền tỉnh Bình Phước đã quyết định đổi tên thôn 1 của xã Bình Minh thành thôn Bom Bo. Như vậy hiện nay ở huyện Bù Đăng, Bình Phước có tới hai đơn vị hành chánh mang tên “Bom Bo”: thôn Bom Bo (thuộc xã Bình Minh) và xã Bom Bo.

Nhưng tính cách khôi hài không chỉ ở việc tranh giành địa danh mà còn ở chỗ khi du khách tới thăm viếng “sóc Bom Bo lịch sử” và được thưởng thức các màn vũ của “người dân tộc”, họ chẳng thấy một cô gái S’tiêng nào mà chỉ thấy toàn là gái Kinh trắng trẻo tươi mát giả làm… sơn nữ!

Nguyễn Hữu Thiện

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 29 May 2025

Chương 11.

Bá Vạn ra khỏi cửa, muốn xuống ghe để về Vàm Rầy, thâu hồi lại mấy căn phố mà cậu Cẩu đã ra lịnh tịch thâu.

Mười Hấu mừng thầm vì thì giờ còn đủ để ông ta thi hành thủ đoạn. Lúc Tư Thiện trình bày về thực lực quân Lang Sa, Mười Hấu qui tụ bọn hộ vệ lại để nghe báo cáo về tổn thất ở núi Mo So. Bọn hộ vệ cho biết là Bá Vạn đánh thắng quá dễ dàng. Mười Hấu nghĩ thầm:

– Cuộc phản loạn do thằng Thừa, tay sai Bá Vạn gây ra. Nhứt định đó là do lịnh của Bá Vạn. Ông ta chiến thắng vì thằng Thừa rút lui, để gây uy tín cho chủ cũ. Quả thật Bá Vạn là tay nguy hiểm. Phải giết mới được!

Vì lo cho tương lai cho đứa cháu ngoaị, Mười Hấu đề phòng trường hợp Bá Vạn chiếm tất cả quyền hạn ở Hòn Chông. Bá Vạn có sống thì không ích lợi gì. Ông ta dẹp loạn chăng? Loạn là do ông ta gây ra. Ông ta chết thì không còn loạn. Điều quan trọng vẫn là giết khéo léo không cần bày ra những cuộc săn heo như trước. Nếu bàn mưu kế với cậu Cẩu hay cô Ngó thì ắt gặp nhiều trở ngại. Cậu Cẩu làm ầm lên, Bá Vạn sẽ trốn hay ra tay trước. Cô Ngó thì có tình riêng với Bá Vạn nhưng lại ghen tương với bà chánh thất.

Mười Hấu nhớ đến cái chết của ông Chúa Hòn ngày xưa. Bước đầu vẫn là phục rượu, trong rượu có thuốc độc. Hình ảnh cái dĩa màu xanh hiện ra trong tâm trí Mười Hấu. Người lão bộc bảo rằng cái dĩa ấy sẽ biến màu sắc khi có món ăn giết người để vào.

Thuốc độc pha vào rượu thì giết người quá dễ dàng. Mấy tháng trước chính Mười Hấu đã trao cho cô Huôi bầu rượu để làm cho ông Chúa Hòn mất trí, tại căn chòi ở Lung Tràm.

Không chút do dự, Mười Hấu ra đón đường:

– Thưa ông Bá! Ông thắng trận, may quá.

Bá Vạn tin vào Mười Hấu:

– Nhờ trời vậy thôi.

– Nhà cửa của tôi ở núi Mo So ra sao?

– Cháy hết. Còn mấy cây cột và một miếng vách tường.

– Nhờ ông mà tôi còn được thể diện với dân chúng. Hôm nay tôi mời ông qua, ăn cơm uống rượu cho vui.

Trong lúc Bá Vạn do dự, ông Mười Hấu giới thiệu:

– Con gái tôi lo cơm nước. Nó nhắc ông hoài…

Hình ảnh duyên dáng cô Ngó hiện ra. Từ lâu, Bá Vạn chưa gần gũi với cô. So với bà chánh thất, cô còn trẻ hơn nhiều. Nhứt định là sau bữa ăn, Bá Vạn được dịp nói chuyện riêng với cô …

Bao nhiêu mệt nhọc đều tiêu tan khi Bá Vạn bắt đầu ngồi lên bộ ván cẩm lai. Mười Hấu nhớ đến gói thuốc độc đã từng có công hiệu ở Lung Tràm. Nhưng nếu bỏ thuốc độc vô rượu thì quá sớm. Cô Ngó đang ngồi trong phòng, gói thuốc để trong ngăn tủ. Cô sẽ phản đối việc làm ác độc ấy. Bá Vạn mà chết tại nhà này thì cô Huôi nổi giận ngay…

Bá Vạn nâng chén rượu, khen ngợi:

– Rượu ngon quá. Mời cô Ngó ra đây uống với tôi một chén.

Cô Ngó được dịp tốt để ra chào hỏi:

– Thưa ông! Lâu quá không gặp ông. Tôi thì hỏi thăm ông, ông chẳng bao giờ thăm tôi.

Bá Vạn biết rằng cô Ngó hờn ghen nên an ủi ngay:

– Tôi nghĩ đến cô nhưng tôi muốn tránh tai tiếng. Vả lại, tôi không rảnh rang. Nào là nhà cửa tài sản bị tịch thâu, nào là đánh Nam dẹp Bắc.

Cô Ngó đáp:

– Dường như ông thích nghỉ ngơi ở núi Đất! Bà chánh thất còn tu hành ở đó không?

Đôi mắt Bá Vạn liếc quanh, ngại ngùng vô cùng. Ông không muốn cãi vã những chuyện riêng tư trước mặt Mười Hấu. Mười Hấu lanh trí, nói ngay:

– Để tôi đi kiếm thêm vài con mực hoặc tôm khô.

Khi Mười Hấu vừa khuất nhà sau, cô Ngó lên giọng:

– Ba tôi vắng mặt rồi đó. Ông cứ trả lời đừng giấu diếm.

– Tôi …đi gặp ông đạo Đất để xem quẻ. Cô biết, tôi tin ổng, trước khi làm bất cứ chuyện gì.

– Bọn hộ vệ nói rõ rồi. Ông đừng chối. Ông ghé nhà ai?

Bá Vạn đáp:

– Thì ghé nhà bà chánh thất để thăm viếng. Bà đang tu…

– Tôi không tin. Ăn cơm rồi, ông đi đâu? Nơi ông ở laị một ngày một buổi…

Đột nhiên, cô Ngó nghe tiếng rít ken két phía trong buồng. Cô hỏi:

– Cái gì vậy?

Mười Hấu lính quính. Ông ta đang kéo cái ngăn tủ để lấy gói thuốc độc:

– Có gì đâu! Tao kiếm cái …hũ rượu!

Cô Ngó cằn nhằn:

– Rượu gì trong đó. Rượu thuốc trên nóc tủ. Để con đem ra cho ba. Phải bắc ghế lên cao.

Cô Ngó vào buồng, trong lúc Mười Hấu đang đẩy nhẹ cái ngăn tủ. Cô chụp tay cha:

– Ba! Làm gì vậy?

Mười Hấu khoát tay. Cô Ngó đã hiểu. Nếu nói lớn tiếng hoặc cãi vã phản đối thì còn gì tình cha con. Nếu hiểu được ác ý đó, chưa ắt Bá Vạn còn mến thương cô như trước.

Đời cô gặp cảnh không may là ông Chúa Hòn chết sớm, người duy nhứt mà cô có thể gần gũi là Bá Vạn. Hoàn cảnh không cho phép cô đi tìm hạnh phúc với người khác, vì dư luận bên ngoài.

Ngỡ rằng cô Ngó chịu nhượng bộ, ông Mười Hấu rút nhanh gói thuốc độc. Nhưng cô cúi mặt, cắn vào tay cha. Ông Mười Hấu bèn bỏ gói thuốc vào hộc tủ như trước rồi trở ra với gương mặt tươi tỉnh:

– Uống rượu như vầy, kém vui.         

Bá Vạn hỏi:

– Phải có ông tôi mới uống nhiều được! Ông làm gì mà cô Ngó phản đối?

– Có gì đâu! Tôi muốn đem ra một hũ rượu lớn. Nhưng con gái tôi ngăn cản, sợ rằng ông uống nhiều, say sưa. Muốn uống nhiều thì phải ăn cơm no dằn bụng. Con gái tôi xuống bếp thúc hối bọn nữ tỳ nấu cơm. Ông ở đây cho vui. Tôi qua nhà thằng cháu, kiếm vài miếng khô cá biển.

Nói xong, Mười Hấu đi xăm xăm qua nhà cậu Cẩu. Nhà đã khép cửa, ông cứ vô. Trong phòng, tiếng đờn tranh vang lên, từng âm thanh lảnh lót. Thấy ông ngoại của ông Chúa con nên bọn hộ vệ cứ chắp tay chào, không dám kiểm soát hành động của Mười Hấu.

Ông ta đến cái án thư, kiếm miếng giấy. Chưa hết, ông dòm dáo dác trong cái hộp nhỏ tìm chút ít son tàu. Ông cạo lớp mực khô dày trên cái nghiên bằng đá.

Dụng ý của ông là tìm một thứ bột đỏ để đánh tráo cô Ngó. Ông gói mớ son và mực ấy vào miếng giấy bản, bỏ vào túi.

Vừa sửa soạn bước ra, ông nghe cậu Cẩu quát mắng:

– Cô nầy tệ quá!

Xí Vĩnh trả lời:

– Xin cậu dạy em…

– Cô đẹp thiệt, nhưng ở gần cô, tôi không gặp chuyện gì may mắn hết! Nguời Lang Sa ở gần đây, tại sao tôi chưa đánh họ được? Xứ nầy là xứ của tôi mà! Tại sao thằng Tư Thiện bảo rằng chợ Hòn Chông không sung túc bằng chợ Sàigòn? Chắc là tụi Lang Sa …có nhiều vợ. Ừ! Con người có nhiều vợ, nhiều tì thiếp mới được. Ở mãi với một cô thì dễ u mê!

Mười Hấu nghe Xí Vĩnh trả lời:

– Thưa cậu, em đâu dám cản ngăn.

Cậu Cẩu đáp:

– Tao mời ông ngoại qua để hỏi việc nầy. Hộ vệ đâu?

Lập tức Mười Hấu lên tiếng:

– Ông đây! Cháu mời qua làm gì?

Cánh cửa hé mở. Xí Vĩnh cúi đầu chào ông Mười Hấu. Vì muốn nói chuyện riêng, cậu ra lịnh:

– Xí Vĩnh lo nấu nước cho ta tắm. Mấy ngày rày, sao ta bực bội quá.

Ông Mười Hấu ngồi xuống:

– Cháu mệt thì uống thuốc, sâm nhung thiếu gì?

Cậu Cẩu ngồi dậy, nắm tay Mười Hấu:

– Ông ngoại à! Mấy đêm rày cháu nằm chiêm bao thấy chuyện lạ quá. Đây là lần thứ chín, thứ mười rồi. Ba con hiện về đeo tòn ten trên nóc nhà, thòng đầu xuống, ổng le cái lưỡi dài thòng rồi hăm doạ: “Mầy chết! Mầy chết!”.

Mười Hấu gật đầu:

– Chắc là cháu mệt mỏi nên nằm chiêm bao. Từ rày về sau, ban đêm nhớ ngủ sớm…

– Nhưng mà ngủ không được. Hễ nằm gần con Xí Vĩnh thì ngủ không được! Không thay đổi thì tôi chết.

– Nói bậy đi!

– Nhưng ông ngoại phải dạy cháu điều gì? Bây giờ, sao mà nhiều bữa, gặp bất cứ ai cháu cũng thương. Nhưng mà nhiều bữa khác cháu muốn giết tất cả đàn bà con gái. Cháu là ông vua con. Cháu cưới năm mười con vợ…

Mười Hấu suy nghĩ thầm: “Xí Vĩnh là người của A Chúa và Bá Vạn. Nếu Xí Vĩnh cứ ở bên cạnh cậu Cẩu thì có ngày xảy ra chuyện lớn, trở tay không kịp”. Theo sự nhận xét của ông ta thì cuộc khởi loạn vừa rồi ở núi Mo So là cuộc dàn cảnh của Bá Vạn để trả thù cậu Cẩu. Bá Vạn sẽ tiếp tục trả thù, để chiếm đoạt tất cả quyền hạn, ngày nào mà ông ta còn sống.

– Nên tuyển chọn vài đứa tì thiếp. Ban đêm, nên ngủ một mình.

– Ông ngoại nói nghe được!

Mười Hấu hơi bực dọc vì lời khen vô lễ của đứa cháu ngoại. Nhớ đến Bá Vạn, ông Mười vội đứng dậy:

– Ông đi về. Cháu cứ ngủ cho khoẻ.

– Mấy thằng Lang Sa làm cháu phiền quá. Tại sao tụi nó giỏi hơn cháu…

Mười Hấu đi nhanh về nhà, thấy Bá Vạn nằm trên bộ ván gõ. Cô Ngó sai bọn tớ gái dọn cơm ra. Thừa lúc vắng bóng người, Mười Hấu vào phòng cô Ngó mở hộc tủ, lấy gói thuốc độc ra, đem cái gói có son và mực Tàu thay thế vào.

Bá Vạn chợt mở mắt:

– Ông Mười về đó hả? Nãy giờ tôi ngủ…

Mười Hấu nói:

– Ăn cơm chớ. Ông Bá rửa mặt cho tỉnh táo. Ngó đâu! Con đem rượu ra, ông Bá đòi uống rượu đó!

Phản ứng đầu tiên của cô Ngó là vào phòng, mở cái hộc tủ. Nhìn thoáng qua, cô tin rằng gói thuốc độc vẫn còn nằm ngay chỗ cũ.

Ngoài nầy, Mười Hấu sung sướng vô cùng:

– Ông Bá uống rượu!

Bá Vạn hơi nghi vì từ nãy giờ, Mười Hấu chỉ nói rượu. Nhưng Mười Hấu nhủ thầm:

– Mình ngu dại gì bỏ thuốc vào nước trà đậm. Uống rượu quá say, Bá Vạn không đủ tỉnh táo để phân biệt mùi vị nữa.

Bởi vậy Mười Hấu rót rượu ra chén, uống trước một hơi:

– Ngon quá. Bây giờ, mạnh ai nấy rót.

Bữa cơm kéo dài, Bá Vạn vui sướng vì cô Ngó ngồi bên cạnh, thúc hối bọn tớ gái đem thêm thức ăn. Để cho Bá Vạn khỏi nghi ngờ, ông Mười Hấu cứ đi tới đi lui, rót rượu thật nhiều, uống một cách tự nhiên.

Khi bữa cơm gần tàn, Mười Hấu nghĩ ra một thủ đoạn tinh vi:

– Từ lâu, tôi nghe danh ông đạo Đất. Phải chi ông đưa tôi tới đó, xem một quẻ.

Bá Vạn vẫn còn luyến tiếc, muốn được ở gần cô Ngó. Thỉnh thoảng, ông ở lại đây một đêm, thì chắc rằng không ai nghi ngờ gì cả:

– Ông đạo là người có tài. Nhưng bây giờ đi rồi trở về, e không kịp. Núi Đất là nơi sầm uất, có thể thằng Thừa tới khuấy rối. Chẳng lẽ ta đi xem quẻ mà đem theo quá nhiều quân hộ vệ. Cậu Cẩu sẽ than phiền.

Mười Hấu bèn bịa chuyện:

– Đêm rồi, tôi nằm chiêm bao thấy điềm kỳ lạ. Tôi bị rượt. Khi tôi vấp té thì phía sau lưng người rượt tôi lại biến mất. Nếu sợ nguy hiểm thì ta đi ngay, trời chạng vạng tối ta về, đừng ngủ tại đó. Hoặc là…

Bá Vạn hỏi:

– Ông Mười tính sao? Miễn là thuận lợi cho ông thôi. Hôm rày tôi hơi mệt, muốn tìm nơi nghỉ ngơi.

Mười Hấu hiểu ngầm rằng câu nói đó nhắm vào cô Ngó. Cô Ngó cúi mặt nói khéo:

– Vậy thì ông Bá cứ đi cho ba tôi vui.

Mười Hấu muốn thi hành thủ đoạn thật gấp. Ông sẽ bỏ thuốc độc vào rượu để Bá Vạn uống rồi chết trên đường đi núi Đất.

Trong khi đó, cậu Cẩu giết Xí Vĩnh.

Hai người nầy mà chết thì địa vị cô Huôi sẽ lung lay. Gia đình Mười Hấu nắm trọn quyền hạn những ngày sắp tới. Bá Vạn còn sống thì nhất định còn nhiều chuyện thay đổi đột ngột, vì ông ta làm quản gia quá nhiều năm, mua chuộc được bọn tay em và những người lớn tuổi trong vùng.

Mười Hấu nói:

– Theo ý tôi thì mình không nên quá rình rang. Hai bạn già xuống xuồng, đây qua có nước xuôi, chuyến về nếu cần thì mình kiếm vài đứa tiếp sức chèo chống. Đêm mười bốn có trăng, uống rượu vui biết chừng nào.

Cô Ngó nói thêm:

– Ông Bá Vạn cứ đi rồi khuya nay về.

Mười Hấu đến cái tủ ở góc nhà, tìm mấy bầu rượu ngon. Vì ao ước được gần gũi Bá Vạn, cô Ngó đến gần nói khẽ:

– Đêm nay tôi chờ ông. Nhớ về cho sớm và làm thế nào cho ba tôi uống rượu say. Nếu ông ở lân la tại nhà nầy, thiên hạ bàn tán bất lợi…Đi vắng mặt một buổi rồi trở về, êm ấm và kín đáo hơn.

Bá Vạn mừng thầm, nói nhanh:

– Đời tôi lúc nầy không màng công danh gì cả.

Mười Hấu mang bốn bầu rượu Ngũ gia bì. Việc đầu tiên mà ông ta làm để tránh mọi sự nghi ngờ là trao rượu cho Bá Vạn:

– Ông cầm lấy. Tôi xuống bếp kiếm vài con khô mực.

Hai người ngồi xuống chiếc xuồng nhỏ. Mười Hấu cầm dầm bơi sau lái, cố ý nói to cho hộ vệ đừng bàn tán, đòi đi theo:

– Đây là bơi xuồng trên rạch để uống rượu. Tụi bây theo làm gì? Khuya nay, tao về còn một tiệc khác để khao thưởng tụi bây.

Ra khỏi vùng đồi núi Hòn Chông, Bá Vạn hơi mệt mỏi vì nắng quá gắt. Thấy bóng hai cây me trước mặt, ông ta ngỏ ý:

– Mình ghé lại, uống thử một bầu cho mát.

Sau khi ra lịnh cho bọn tỳ gái dọn dẹp chén bát, cô Ngó vào phòng, cười tủm tỉm một mình. Cô muốn chải tóc rửa mặt, nhưng thấy trời còn sớm. Lâu rồi cô không được hưởng lạc thú yêu đương. Thuở ấy, ông Chúa Hòn chỉ gần gũi cô được mấy tháng rồi từ đó, ông cứ ôm lấy cô Huôi. Mười bảy năm rồi, đâu phải là khoảng thời gian ngắn!

Cô lấy cái thau bằng đồng, đổ nước vào để soi mặt. Dường như trán cô hơi nhăn. Nhưng cô tự an ủi:

– So với mình thì Bá Vạn lớn tuổi hơn nhiều. Bây giờ mình rửa mặt, chải tóc thì hơi sớm. Nên làm công chuyện khác, cần thiết hơn.

Hồi lúc mới về hầu hạ ông Chúa Hòn, cô được thưởng một gói trầm hương. Ông Chúa căn dặn cô nên đốt trầm, xông vào quần áo. Quả thật mùi trầm hương đầy quyến rũ.

Tiếc thay cô chỉ xông áo có ba bốn lần. Khi thằng Cẩu chào đời, cô bị xem như lỗi thời, ông Chúa cứ gần gũi cô Huôi vì cô là thần hộ mạng, đóa hoa còn tươi.

Cô đến gần tủ kéo mạnh cái hộc để tìm gói trầm hương. Trầm hương được chẻ ra từng que nhỏ cho dễ đốt, gói ấy khá to.

Đột nhiên, cô Ngó trố mắt. Cái gói thuốc độc dường như bị đổi chỗ. Hồi sáng, cô bắt gặp lúc cha cô toan lấy nó ra, để đầu độc Bá Vạn. Cô chụp gói giấy. Đúng là loại giấy bản còn mới trắng tinh. Mở gói ra, cô đưa lên mũi hửi.

Loại thuốc độc mà ông Chúa uống lúc đi săn heo rừng ở Lung Tràm có mùi thơm nồng, màu đỏ bầm. Nhờ vậy mà khi pha vào rượu, nạn nhân không bao giờ nghi ngờ, tưởng là rượu ngâm thuốc bổ. Mớ bụi đỏ đen trong gói giấy nầy còn quá tươi.

Cô đưa lên mũi, hửi nhẹ.

Không một mùi gì bốc lên cả!

Như vậy có nghĩa là cha cô đã đánh tráo, mang theo thuốc độc để giết Bá Vạn.

Nghi ngờ gì nữa! Cha cô bơi xuồng, không cần bọn hộ vệ, ra đi lúc trời còn nắng. Nếu Bá Vạn chết vì thuốc độc thì cô chịu trách nhiệm một phần lớn. Lúc nãy cô đã xúi giục Bá Vạn nên đi để trở về lúc nửa đêm. Ông chết vì quá yêu cô.

Nhưng nếu Bá Vạn không chết, tình thế càng rắc rối hơn. Ông tố giác với cô Huôi. Chừng ấy, những người cầm đầu ở Hòn Chông sẽ giết hại nhau, chia ra ba phe.

Lập tức, cô xuống xuồng gọi tên hộ vệ:

– Đưa tôi qua Hòn Đất!

Tên hộ vệ ngơ ngác hỏi:

– Thưa cô, đi ghe có mui, mát mẻ hơn.

Cô Ngó quát to:

– Đi xuồng lẹ hơn. Mấy chú cãi lời tôi sao chớ? Tôi có chuyện riêng…

Chiếc xuồng lướt nhanh. Lần đầu tiên bọn hộ vệ không hiểu tại sao ông Mười Hấu, Bá Vạn và cô Ngó lại trở về với nếp sống của dân nghèo, không có “tiền hô hậu ủng” như mọi khi. Dường như cô Ngó quá xúc động bối rối. Chiếc xuồng lủi vô bờ, cô vội cho mũi xuồng trở ra.

Bọn hộ vệ nói với theo:

– Cô để chúng tôi…

Cô Ngó không thèm trả lời.

Mặt trời xuống dần. Muỗi bay vo ve từ đám lau sậy bên bờ. Dân chúng cứ nhìn nhau mà chỉ chỏ bàn tán. Mặc kệ! Cô bơi mạnh không dám ngừng tay. Trời sắp tối. Cô hối tiếc vô cùng vì đã tính toán vụng về. Bá Vạn và ông Mười Hấu bơi xuồng đi trước, cả hai cầm dầm, xuồng của họ đi nhanh gấp đôi.

Cô đuổi theo quá chậm trễ, chắc giờ này ông Mười là cha cô đã đến Hòn Đất rồi, và Bá Vạn chỉ còn là cái xác không hồn.

Cô mừng thầm vì đã đến Doi Lửa, cách Hòn Đất không xa cho lắm. Gọi là Doi Lửa vì nơi đây khúc sông chảy quanh co. Nghe đâu, mấy trăm năm về trước, để đề phòng bọn cướp biển, quân sĩ đã bố trí nơi đây một chòi canh. Hễ thấy thuyền bè lạ vào bãi thì họ đốt lửa làm ám hiệu.

Cô Ngó gặp một chiếc ghe chở củi đi ngược chiều, nên vội hỏi:

– Thấy ai ở phía trước không?

Người trên ghe không nhận ra cô, nên trả lời vu vơ:

– Thiếu gì ghe xuồng…

Cô hỏi kỹ:

– Có chiếc xuồng hai người bơi…

Người trên ghe trả lời:

– Dường như có …ông Bá Vạn say rượu. Chẳng lẽ ông Bá lại ngồi trên xuồng?

Cô Ngó càng sợ sệt, hỏi thêm:

– Ông Bá ở đâu? Gần hay xa?

Người nọ đáp:

– Khó nói lắm. Dường như chiếc xuồng đậu gần đây. Cô là ai? Nếu tôi không lầm thì… Đời là vậy. Chắc là ông Bá Vạn buồn rầu, sau khi bị cách chức.

Cô Ngó không muốn phí thì giờ nên bơi nhanh hơn. Bên trái, sát đám cây, cô nhận ra chiếc xuồng không người. Mặt trời khuất hẳn. Cô chú ý một điều là chim cò bay bổng lên, đảo vòng quanh.

Tại sao có hiện tượng lạ? Chiều thì chim cò đáp xuống, để ngủ. Nhứt định là trong đám lau sậy có người nào đang làm náo động.

Phải chăng cha cô và Bá Vạn đang đánh đấm nhau? Bá Vạn chết rồi, cha cô đang đào huyệt để dấu xác?

Quá nóng nảy, cô la lớn:

– Ai đó? Ai làm gì trong đám sậy?

Đám sậy lại khua động xào xạc mặc dầu trời không nổi gió. Lập tức, cô cho xuồng lui vô bờ rồi chạy ngay vào đám sậy:

– Ai đó?

Cô la hoảng.

Từ trong đám sậy, một bóng người nhô ra:

– Ai?

Nhận ra ông Mười Hấu, cô Ngó kêu lên:

– Trời ơi! Cha giết ông Bá Vạn!

Mười Hấu hốt hoảng, nói khẽ:

– Con đừng nói lớn tiếng, gần đây có nhà cửa, thiên hạ nghe được thì sao?

Cô Ngó dậm chân.

– Trời ơi! Ổng ở đâu?

– Bá Vạn là cái gì mà con mến tiếc? À! Cha biết rồi. Bá Vạn tuổi tác đã cao, còn lớn hơn tuổi của cha.

Dụng ý của Mười Hấu tranh thủ thời giờ. Bá Vạn say mèm và bắt đầu mửa ra máu thì thuốc độc bắt đầu công phạt.

Lúc ngồi xuống xuồng, Bá Vạn kêu rú như con chó điên rồi đưa tay vào miệng mà móc tận cổ họng. Mười Hấu thấy có vài người bơi xuồng đến gần nên cương quyết cầm cây dầm, đập vào đầu Bá Vạn. Bá Vạn té xuống rạch. Mười Hấu vất vả lắm mới kéo Bá Vạn lên tận đám sậy này.

Giờ đây Bá Vạn đang hấp hối. Mười Hấu nói qua vấn đề khác:

– Con đi thình lình như vầy nguy hiểm lắm. Con có cho thằng Cẩu biết không?

Cô Ngó hỏi:

– Sao ba hỏi quẩn quanh vậy? Ông Bá Vạn đâu? Chôn tại đâu? Nhờ ổng nên ba với con được lên địa vị cao sang. Sao ba không nói?

Mười Hấu nói:

– Bá Vạn chết rồi! Cha mướn người quăng xác ông ta ngoài biển.

Đột nhiên, trong đám sậy có tiếng ụa mửa, tiếng rú vang ra. Vài cây sậy nằm xuống, gãy rôm rốp. Và bầy chim cò cứ bay lượn, kêu oang oác.

Cô đã biết sự thật, cắm đầu chạy vào giữa đám sậy. Biết chuyện đã vỡ lở, ông Mười Hấu chửi đổng:

– Con gái bất hiếu! Tao giết nó chỉ vì nó muốn giết tao. Tao về. Mầy ở lại rồi chết theo thằng già đó cho trọn đạo. Mất nết!

Nhưng cô Ngó không còn nghe thấy gì nữa hết. Bá Vạn nằm úp mặt trên mấy cây sậy bị dẫm nát, tóc rối nùi che khuất mặt mày. Ông đập chân thở hồng hộc như con trâu bị chọc tiết.

Quỳ bên cạnh, cô Ngó hỏi:

– Ông! Có sao không? Em đây..

Bá Vạn không trả lời. Cô Ngó sờ vào ngực ông ta, thấy còn nóng. Lập tức cô đỡ cho ông đứng dậy, nhưng ông không đi được bước nào cả. Cô đành kéo lết ông ra khỏi đám sậy, đưa xuống xuồng.

Giọng Mười Hấu quát to từ xa:

– Đưa nó về phía Hòn Đất. Hễ mầy đưa nó về Hòn Chông thì tao giết mầy. Nghe chưa Ngó?

Cô Ngó không trả lời, cố ý bơi để tìm xóm nhà đốt lửa lên hơ cho Bá Vạn, hoặc là kêu cứu với mấy ông thầy thuốc.

Tiếng chuông vang lên, ngân nga rồi dứt hẳn. Tiếng mõ tụng kinh dường như phảng phất trong sương đêm. Cô Ngó nhận ra dãy nhà trước mặt.

Cô kêu lên:

– Bà con ơi! Cứu người chết!

Dường như có người chạy lao xao trên bờ sông. Cô Ngó bơi nhanh hơn, kêu từng chập:

– Họ giết người! Ai biết thuốc thang thì cứu giùm…

Trên bờ, một bó đuốc chiếu sáng, nhờ vậy cô Ngó nhận ra bóng dáng hai, ba vị sư nữ. Và cô trố mắt, kêu rú:

– Bà.. ở đây! Ông Bá Vạn chết kìa!

Bà chánh thất nhận ra:

– Cô Ngó sao lạc tới đây? Ông Bá đâu?

Cô Ngó chỉ nhắm vào việc cần kíp là cứu Bá Vạn. Giữa cô và bà chánh thất, tuy tình cảm không được êm đẹp nhưng chưa xảy ra gây gổ hoặc hiềm khích sâu sắc. Cô nói:

– Bá Vạn bị …bọn hộ vệ đầu độc, mình còn nóng, có thể cứu được.

Bà chánh thất hốt hoảng:

– Am này là nơi thờ phượng. Vậy cô với tôi đưa ông Bá Vạn qua nhà riêng của tôi, bên nầy.

Bá Vạn vẫn nhắm mắt. Người hàng xóm hiểu rằng đây là cuộc tranh giành quyền hạn từ khi ông Chúa Hòn mất. Họ không thắc mắc cho lắm khi thấy hai người vợ của ông Chúa đang khiêng Bá Vạn.

Đèn đốt thêm ngọn, chiếu sáng.

Bá Vạn nghiêng mình qua một bên, nằm xuôi trên bộ ván. Bà chánh thất hồ nghi rằng đây là âm mưu của cậu Cẩu. Hỏi cô Ngó thì khó tìm ra sự thật. Phải cứu Bá Vạn!

Bà nói:

– Bây giờ chỉ còn ông đạo Đất là biết thuốc men điều trị, nhưng ở quá xa…

Cô Ngó cứ bóp chân Bá Vạn:

– Thưa…hay là bà đốt lửa. Xin bà thương xót giùm tôi…

Bà chánh thất sực nhớ đến phương pháp cổ truyền để cứu bệnh nhân là nấu nước nóng, cho uống vài lát gừng sống:

– Uống rượu có thuốc độc, phải không? Nấu nước thêm ở dưới bếp. Chụm thêm bếp lửa, để dưới bộ ván…

Bá Vạn bỗng nhiên mở mắt. Cô Ngó mừng quýnh:

– Ông…

Nhưng Bá Vạn bị nấc lên, máu trào ra từ khoé miệng, đôi mắt lại nhắm, hai chân co lên. Bà chánh thất hỏi:

– Nhờ hơi nóng ở dưới bộ ván xông lên đó.

Cô Ngó đến cái tủ, kiếm gừng sống trong cái thố nhỏ.

Chén nước gừng bốc hơi nồng ấm khiến Bá Vạn đổ mồ hôi. Khi mở mắt ra, ông không cản ngăn được hai hàng nước mắt. Không cảm động sao được!

Bá Vạn sống đến tuổi già không lấy vợ, không có con, lúc nguy nan hấp hối, ông được diễm phúc là được nằm giữa hai bà goá phụ của ông Chúa Hòn, cả hai đều là người yêu.

Nhưng ông khóc, có lẽ vì chua xót, cô độc và hối hận. Ông cất tiếng:

– Hai cô đừng buồn.

Bà chánh thất nắm tay ông, van nài:

– Ai đã giết ông? Tôi hứa trả thù.

Bá Vạn day qua cô Ngó. Cô Ngó để rơi hai hàng nước mắt gần như xin lỗi, nhờ ông khoan hồng đừng nói ra danh tánh ông Mười Hấu.

Bá Vạn nói phều phào:

– Thù thì phải trả. Nhưng ta lớn tuổi rồi. Trả mà làm gì? Nói ra vô ích. Ta …tha thứ cho người đã hại ta.

Rồi ông khóc rống lên:

– Ta đã tham lam. Sống thêm vài năm nữa chẳng ích lợi gì. Những người tham lam giết ta để sống…chưa ắt họ sung sướng. Ngoài biển, mấy con cá kình nổi lên, có lá cờ tam sắc. Ông đạo Đất nói đúng.

Rồi Bá Vạn ho lên, mồ hôi tươm ra ướt trán, máu thắm đỏ môi.

Bà chánh thất nói:

– Để tôi đưa ông gặp ông đạo Đất. Đường không xa lắm đâu.

Bá Vạn trợn mắt rồi cau mày lại:

– Chết…Thế nào tôi cũng chết. Ông đạo Đất đoán rằng trước khi chết, tôi qua một giai đoạn sáng sủa. Đó là…tôi dẹp loạn ở núi Mo So. Đó là…hôm nay. Cám ơn hai cô.

Bà chánh thất đoán chừng căn bịnh không quá nguy ngập nên muốn có thái độ cứng rắn:

– Ai giết ông? Tôi chở ông về Hòn Chông cho dân chúng hay rằng ông bị kẻ hèn hạ giết hại.

– Thôi…

Rồi Bá Vạn nằm im, nhắm mắt. Ông trở nên tỉnh táo lạ thường. Dạo trước, ông Chúa Hòn đã chết vì loại rượu thuốc nầy, do ông sắp đặt kế hoạch đầu độc và ám sát. Hôm đó, ông không có mặt ở Lung Tràm nhưng chắc chắn là ông Chúa Hòn đã nhào lăn, hộc máu từng chập như ông.

Mắt ông như tối lại.

Kìa! Một người ngoài cửa bước vô. Đúng là ông Chúa Hòn. Cậu Hai Điền theo sau. Hai người nầy bước chập chờn, chân không dính đất.

Họ mặc quần áo tang, thân hình gầy guộc. Họ cười không ra tiếng. Gió nổi lên ào ào. Bỗng nhiên, ông Chúa Hòn rút ngọn đoản đao, chạy tới. Bá Vạn đưa tay đỡ, té xuống.

Ông ta kêu lên:

– Nó giết tôi!

Bà chánh thất hỏi:

– Nó là ai?

Bá Vạn phều phào:

– Là…cuộc đời tội lỗi của tôi. Thôi, ông đạo Đất nói đúng. Mọi người đều trở về Đất…

Cô Huôi ngồi trầm ngâm khi hay tin Bá Vạn chết. Mười Hấu cho rằng ông Bá chết vì bệnh cảm mạo, nhưng cô Huôi không tin.

Cô khéo che giấu sự lo âu, ra lịnh cho Mười Hấu:

– Nhớ chôn cất kỹ lưỡng, dựng mộ bia, làm tuần bảy ngày, mười bốn ngày. Dầu sao đi nữa, Bá Vạn cũng là người có công trong gia đình.

Mười Hấu hỏi thêm:

– Cô là người lớn nhứt. Vậy đem ai thay thế Bá Vạn?

Cô Huôi nói chậm rãi:

– Chẳng ai thay thế được cả. Bây giờ, ta chỉ cần một người ghi chép sổ sách. Bọn tá điền cứ vay nợ liên miên. Nợ cũ chưa dứt là vay thêm nợ mới. Tạm thời, nên cho Tư Thiện lãnh công việc ghi chép.

Mười Hấu hỏi khẽ:

– Người đó đáng tin không?

Cô Huôi muốn nâng đỡ Tư Thiện để có người sớm hôm đàm đạo:

– Đáng tin về việc ghi chép sổ sách, vậy thôi. Hay là ông nghi ngờ rằng Tư Thiện làm phản, đưa bọn Lang Sa tới đây? Ta kiểm soát việc làm của Tư Thiện mà. Anh ta đâu có làm dọ thám mà sợ! Bọn Lang Sa đến đây làm gì? Ta trọng dụng Tư Thiện tức là người Lang Sa hài lòng rồi. Nay mai, nếu người Lang Sa muốn mua bán, ta sẵn sàng. Và ta nhờ Tư Thiện mua súng đạn.

Lý luận ấy khiến Mười Hấu khá an tâm. Ông ta chẳng đủ thông minh để nhìn xa. Điều cần thiết vẫn là để cho cậu Cẩu nắm trọn quyền hạn, để lần lần lấn hiếp cô Huôi. Hiện giờ, cô Huôi chưa có tội tình gì cả. Khi nhìn cô, Mười Hấu đâm ra kính nể và sợ sệt. Nếu không có cô, ắt giờ nầy cậu Cẩu chỉ là chàng trai cờ bạc ở núi Mo So, ông Mười chỉ là một nông dân dư ăn dư xài.

Hơn nữa chưa bao giờ cô Huôi tranh giành quyền hạn. Trong lúc tiếp xúc với Mười Hấu, cô tỏ ra khiêm tốn lạ thường.

Mười Hấu hỏi thêm:

– Theo ý cô thì cậu Cẩu phải làm gì?

Cô Huôi đáp:

– Cậu là…ông Chúa Hòn rồi, nắm trọn quyền trong tay, nên làm thế nào cho người chung quanh kính nể.

Khi Mười Hấu vừa bước ra, cô nói thêm:

– Tôi thì muốn đi tu, về nhà sống với cha mẹ, sáng thì trồng bông hoa, chiều thì ra ngoài ruộng, xem cảnh chim bay về núi. Nhớ nhà quá.

Mười Hấu lo sợ, day lại:

– Thưa cô! Cô nên ở lại. Cậu Cẩu còn nhỏ dại. Cô là người lớn hơn mẹ ruột nó.

Cô Huôi nói rõ từng tiếng:

– Đó là lời mời của ông. Ông nhớ giùm. Tôi đã chán tất cả…

– Cậu Cẩu là cháu ngoại tôi, tôi nói, nó tin lời.

Khi Mười Hấu vừa đi khuất, cô Huôi đứng dậy, đến trước sân, lòng mừng khấp khởi. Cô gọi tên hộ vệ:

– Mở cửa ngục ra cho Tư Thiện tới đây. Bảo rằng ngồi mà chờ ta.

Rồi cô căn dặn tên hộ vệ thứ nhì:

– Qua nhà cậu Ba, mời cậu đến. Không có thì gọi cô Xí Vĩnh.

Ngồi trên sạp, cô Huôi nghĩ đến kế hoạch sắp tới. Sau khi Bá Vạn chết, quả thật địa vị của cô hơi lung lay, tuy còn vững. Mười Hấu kính nể cô nhưng tình thế đã khác trước.

Nếu không biết lo xa, một ngày nào đó cậu Cẩu và Mười Hấu sẽ hại cô. Lại còn tai họa khác lớn hơn đang bao trùm vùng Hòn Chông. Cô tin rằng quân Lang Sa sẽ kéo đến sau khi rảnh tay ở các tỉnh lỵ Rạch Giá, Hà Tiên.

Tên hộ vệ đến gần, chắp tay thưa:

– Tư Thiện tới kìa! Thưa cô…

– Cho vô đây!

Vừa thấy mặt cô Huôi, Tư Thiện chắp tay xá, ngỏ lời cám ơn. Hỗm rày, vì kính nể Tư Thiện, cô Huôi đã khuyên bọn hộ vệ đối xử tử tế. Tư Thiện được ăn uống no đủ, quá ngon.

Anh ta cúi đầu:

– Xin cô giúp tôi…được sống thảnh thơi hơn, có công ăn việc làm. Tôi là người ham thích mua bán.

– Ngồi đó!

Cô Huôi chỉ cái ghế vuông, cẩn đá cẩm thạch. Tư Thiện mừng thầm nghĩ rằng đã gây được cảm tình với người đẹp.

Anh ta nói:

– Cám ơn cô! Đây là ơn huệ. Nếu không có cô thì hỗm rày chắc là tôi bị chết chém vì cậu Cẩu rồi.

– Đừng nói vậy! Cậu Cẩu là người ưa giận hờn. Cậu muốn xem tất cả mọi người như bọn tay sai trung thành. Muốn lãnh việc ghi chép sổ sách không?

– Dạ, còn gì may mắn hơn. Nhờ cô…

Cô Huôi nói:

– Gặp người hoạn nạn, tôi giúp đỡ. Từ lúc nầy, tôi gọi chú…bằng chú. Lát nữa, cậu Cẩu tới… Cậu ham vui, ưa biểu diễn oai quyền… Chú muốn được trọng dụng thì nên bày những trò chơi để cậu tiêu khiển.

Một tên hộ vệ bước vào:

– Thưa cô!…Xí Vĩnh tới.

Cô Huôi nhìn Tư Thiện với đôi mắt trìu mến:

– Chú là người thông minh. Tôi mong được gặp chú để nói thêm nhiều chuyện. Sống như tôi buồn lắm. Phải chi tôi được rảnh rang, đi đó đi đây như người khác! Tôi không được quyền tái giá, trong lúc nầy.

Tư Thiện sung sướng vô cùng, đứng dậy chắp tay xá. Cô Huôi nói với tên hộ vệ:

– Dẫn chú nầy qua gặp ông Mười, nói rằng nên để chú ở tại nhà Bá Vạn lúc trước. Bá Vạn chết, chú nầy tiếp tục ghi chép sổ sách.

Tư Thiện theo tên hộ vệ. Và khi Xí Vĩnh vào phòng, cô Huôi vội đóng cửa lại:

– Xí Vĩnh! Biết tôi không? Trước khi Bá Vạn căn dặn những gì? Bây giờ ông chết rồi…

Xí Vĩnh cau mày. Đã đến lúc nó nói tất cả sự thật:

– Thưa cô…Bá Vạn khuyên tôi nên trả thù ngay khi còn sống. Hai ngày rày, cậu Cẩu thay đổi tánh ý bất thường, đòi đánh tôi.

– Hồi nãy, cậu Cẩu thức hay ngủ?

Xí Vĩnh đáp:

– Cậu nằm lim dim rồi sai tôi tới gặp bà.

– Được lắm. Bây giờ, ta nói chuyện thật mau. Xí Vĩnh có hai chuyện làm. Một là đi xứ khác mà ở, hai là ở lại đây để làm chuyện nguy hiểm. Đi xứ khác thì dễ nhưng quá hèn nhát. Con người sớm muộn gì cũng chết. Xí Vĩnh biết tại sao Bá Vạn chết không?

– Thưa bà, theo chỗ con hiểu thì ông Bá Vạn quá hiền lành chậm chạp. Trước kia, ông Bá khuyên con nên kiên nhẫn chờ cơ hội trả thù, có bà giúp đỡ.

Cô Huôi thấy rằng Xí Vĩnh là đứa khôn ngoan và khá can đảm, giữ được lòng trung thành đối với chủ.

– Ta buồn vì không cứu được Bá Vạn. Nhưng ta còn đủ thời giờ để trả thù.

– Thưa bà, bằng cách nào?

– Chỉ có một cách là dùng thuốc độc bỏ vào rượu hoặc thức ăn. Nếu thất bại, Xí Vĩnh có thể chối cãi.

– Chừng nào ra tay, thưa bà? Con hơi lo sợ vì hỗm rày cậu Cẩu ngủ mơ, chửi mắng con thậm tệ, lắm khi lại đánh đập. Nếu ra tay chậm thì chắc là con bị bắt hoặc không còn được trọng dụng, làm sao còn hoàn cảnh thuận lợi ở gần cậu Cẩu.

Rồi nó nói khẽ:

– Thuốc độc ở đâu? Bà có sẵn trong nhà?

– Có chút ít nhưng chưa nên đem dùng. Khi nào cần, ta đưa cho. Nên chờ dịp nào đông người, bày yến tiệc linh đình. Chừng đó, chẳng ai biết thủ phạm. Thôi về đi. Cậu Cẩu hỏi thì bảo rằng ta muốn bày ra cuộc vui chơi để ăn mừng ngày cậu nắm trọn quyền hành, không còn bị Bá Vạn chia sớt quyền hạn như trước.

Ra khỏi sân nhà cô Huôi, Xí Vĩnh gặp ngay ông Mười Hấu. Nãy giờ, ông Mười theo dõi Xí Vĩnh nhưng ông ta không dám vào nhà để nghe lén…

Gặp ông Mười Hấu, Xí Vĩnh chắp tay chào, gương mặt kém bình tĩnh:

– Thưa ông!

Mười Hấu muốn chận đường để điều tra, hạch hỏi nhưng làm quá sớm thì khó nắm bằng cớ. Trong thâm tâm, Mười Hấu biết rằng cô Huôi không quí trọng cậu Cẩu. Bề ngoài, cô tỏ ra hiền lành nhưng biết đâu cô ôm ấp nhiều tham vọng. Tư Thiện là người bị cầm tù, ấy thế mà cô Huôi muốn ưu ái, cho ăn uống tử tế.

Mười Hấu suy luận:

– Cô Huôi và Tư Thiện sẽ liên kết nhau để tạo thế lực, chờ khi thuận tiện là ra tay giết cậu Cẩu. Cuộc gặp gỡ lúc nãy nhất định là có nhiều ý nghĩa, vì Xí Vĩnh là người thân cận của Bá Vạn. Lũ ca nhi sống bừa bãi, nay làm tình với chủ, mai làm tình với bọn tôi tớ.

Xí Vĩnh vào nhà, đến phòng cậu Cẩu là thấy tên hộ vệ đến.

Cậu Cẩu vẫn ngủ lim dim. Xí Vĩnh nói:

– Đưa phong thơ cho ta.

Tên hộ vệ đáp:

– Đây là của bà.

“Bà” tức là cô Huôi. Trong khi Xí Vĩnh còn do dự chưa biết có nên đánh thức cậu Cẩu hay không, thì cửa phòng lại mở. Mười Hấu bước vào:

– Cái gì vậy?

Cậu Cẩu giựt mình, nhìn Xí Vĩnh rồi nhìn ông Mười Hấu.

– Lạ quá, tôi nằm chiêm bao. Hửi mùi gì kỳ cục quá. Cho tôi uống rượu. Tay chân nó sưng vù lên…

– Cháu ơi! Có lá thơ..

Rồi ông tự ý khoát tay, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài. Ông mừng thầm vì cậu Cẩu không có phản ứng gì cả.

– Ừ! Thơ của ai? Tôi biết chữ nghĩa gì đâu. Ông ngoại đọc giùm coi…Hôi thúi quá…

Rồi cậu nhăn mặt, nói tiếp:

– Tôi thấy Bá Vạn hiện về. Bá Vạn cầm cái chén liệng vô mặt tôi. Tôi chụp cái chén, liệng ngược lại trúng ngay đầu Bá Vạn. Ông ta xỉu, xương thịt rã tan, dưới đất chỉ còn một vũng nước tanh hôi.

Ông Mười Hấu giở lá thư ra xem. Đó là cô Huôi ngỏ ý với cậu Cẩu để cho Tư Thiện làm việc ghi chép sổ sách. Ngoài ra Tư Thiện không có quyền hạn gì cả. Nếu dư tiền Tư Thiện chỉ có thể mua bán với những nơi ở ngoài vùng Hòn Chông. Tư Thiện không được mua ruộng đất, nuôi nấng tá điền.

Ý kiến ấy được cậu Cẩu tán thành:

– Phải khác với Bá Vạn! Xứ nầy tôi là ông vua nho nhỏ, đừng có thằng nào đòi án bóng tôi. Ông ngoại à! cô Huôi còn nhắn điều gì không?

– Còn nữa. Cô khuyên nên bày ra cuộc lễ để ăn mừng ngày Bá Vạn không còn quyền hạn.

Cậu Cẩu vỗ tay như đứa bé:

– Phải lắm. Như vậy là cô Huôi muốn giết Bá Vạn từ lâu. Nhưng ông ngoại à, tại sao Bá Vạn trúng gió chết? Tôi nằm chiêm bao, thấy Bá Vạn hiện về mấy lần rồi. Chắc là ổng chết oan. Ổng liệng cái chén, tôi chụp được!

Trả lời câu hỏi ấy là vấn đề quá tế nhị. Hôm kia ông Mười chỉ thuật lại sơ qua trường hợp của Bá Vạn, nói láo là bịnh cảm mạo. Bá Vạn hiện về trong giấc ngủ của cậu Cẩu, phải chăng Bá Vạn khá linh thiêng và cậu Cẩu có linh tính?

Phải chăng Bá Vạn đang tìm cách trả thù? Bá Vạn chết rồi, người trả thù chính là Xí Vĩnh và cô Huôi, chớ còn ai xa lạ.

Xí Vĩnh đã từng hầu hạ Bá Vạn. Cô Huôi thì muốn mượn tay Bá Vạn để lấn hiếp cậu Cẩu.

Ông Mười Hấu nói:

– Cháu à! Nên đề phòng …con Xí Vĩnh.

– Thì ông ngoại nói nhiều lần rồi. Cháu muốn giết nó nhưng gẫm lại thì tội nghiệp.

Mười Hấu cau mày. Cậu Cẩu là người thay đổi tính tình bất ngờ. Lúc cao hứng cậu sẽ…đứng về phe cô Huôi. Mười Hấu suy nghĩ về cái chén của Bá Vạn ném cậu Cẩu trong giấc chiêm bao.

Ông nhớ cái chén màu xanh nước biển mà người lão bộc cho rằng kỳ diệu, đề phòng được những vụ đầu độc. Hay là cô Huôi và Xí Vĩnh bày ra chuyện đầu độc để trả thù cho Bá Vạn? Làm cách nào cho cậu Cẩu đuổi Xí Vĩnh ra khỏi nhà thì ông Mười Hấu mới yên tâm. Tuy còn vương vấn nhưng cậu Cẩu không còn quí mến và si mê Xí Vĩnh như lúc trước.

Ông Mười Hấu nói:

– Cháu à! Con Xí Vĩnh mới gặp cô Huôi lúc cháu ngủ say. Nãy giờ nó có thuật lại cho cháu nghe điều gì không?

Cậu Cẩu day lại:

– Đâu có.

Mười Hấu bèn chọc tức đứa cháu ngoại:

– Như vậy là hỗn hào, dám qua mặt cháu! Xưa nay chẳng ai được quyền thay mặt ông vua để làm bất cứ chuyện gì. Huống hồ con Xí Vĩnh là đứa ca nhi. Nó làm lộng rồi đó. Ông lo quá. Từ khi Bá Vạn chết đến giờ, cô Huôi với con Xí Vĩnh cứ bàn chuyện riêng.

Cậu Cẩu nhăn mặt, rót nước trà uống rồi cằn nhằn.

– Khó dữ đa! Khó dữ đa!

Rồi cậu đổi giọng:

– Ông ngoại thấy cháu xứng đáng làm ông vua không?

Mười Hấu trả lời:

– Vua ở ngoài Huế. Cháu là ông Chúa, làm vua ngay vùng đất…không nhỏ.

– Vậy thì cháu phải giết con Xí Vĩnh. À! Cháu nhớ rồi…Từ khi nắm bao nhiêu quyền hạn trong tay, cháu chưa giết người nào …để lấy máu thị oai…

– Khó lắm, đừng làm cho cô Huôi nổi giận.

Nghe nói đến cô Huôi, cậu Cẩu cứ vò trán suy nghĩ. Thật ra, cậu kính nể cô. Chưa bao giờ cô rầy rà hoặc khuyên dạy cậu với lời lẽ gay gắt. Chưa bao giờ cô đòi hỏi tiền bạc. Nếu muốn gây gổ thì chưa có lý do.

Cậu Cẩu nói:

– Cháu chém đầu con Xí Vĩnh thì biết cô Huôi hiền hay dữ.

– Nhưng lấy bằng cớ gì để chém đầu nó? Muốn chém phải cho cô Huôi biết trước…Muốn làm gì, cháu nhớ cho ông biết trước.

Cậu Cẩu đáp:

– Ngày nay hoặc ngày mai là có chuyện lớn.

Khi ông Mười Hấu ra về, cậu Cẩu ra sân, nhìn kỹ từng tên hộ vệ. Xí Vĩnh ngồi trên cái đôn sành ở góc sân. Nó nhảy mũi, rồi ho lên một chuỗi dài. Cậu Cẩu thích chí, nhủ thầm:

– Mình có bằng cớ!

Cậu ra đến cổng. Bọn hộ vệ theo sau. Có đứa nói:

– Thưa cậu, cậu muốn đi đâu? Tụi tôi chèo ghe cho cậu, bất cứ lúc nào.

Gió thổi mát rượi, cậu Cẩu chợt nhìn về bên phải. Ngôi nhà dành cho cô Huôi hiện ra sừng sững. Dường như Tư Thiện ngồi trước mé sông để gảy đàn tranh. Tư Thiện và cô Huôi đều là người khôn ngoan đáng sợ. Cậu Cẩu nghĩ tới mình, tới mẹ và ông ngoại. Tất cả đều dốt nát, không biết chữ nghĩa tính toán.

Muốn sống thì nên triệt hạ đám người khôn ngoan ấy. Nên giết con Xí Vĩnh trước để hăm dọa cô Huôi và Tư Thiện, thử xem họ đề phòng cách nào?

Vào sân cậu truyền lịnh:

– Xí Vĩnh! Đem cái ghế cho ta ngồi.

Xí Vĩnh lại nhảy mũi và ho. Cậu Cẩu day lại. Dạo nầy dường như Xí Vĩnh kém đẹp. Hốc hác quá chừng. Giết là phải. Xí Vĩnh đã bán rẻ trinh tiết cho Bá Vạn chăng?

Nghĩ tới đó, cậu Cẩu nói gắt:

– Đánh trống lên! Hộ vệ đâu?

Xí Vĩnh vào trong, đem cái ghế ra để bên cạnh cậu Cẩu. Lần nầy cậu giận xám mặt, dường như có thể Xí Vĩnh là cặn bã của Bá Vạn.

Cậu nói:

– Thằng nào mà đánh trống hoài vậy? Tao biểu đánh một hồi rồi dừng tay.

Tên hộ vệ chắp tay, cúi đầu:

– Thưa cậu, tôi chưa rành…

– Đánh trống để gom bọn hộ vệ lại đây cho ta dạy việc. Gom lại đủ chưa?

Tên hộ vệ đáp:

– Dạ, đủ rồi.

– Quỳ xuống! Đứa nào còn đứng đó? Tao chém bây giờ!

Bầu không khí trở nên khó thở. Chưa bao giờ cậu Cẩu ra lịnh đánh trống, hăm he chém giết như hôm nay. Phải chăng cậu nổi cơn điên. Ai nấy đều mong sự rắc rối nầy chỉ là tạm thời, vì hết cơn mưa thì trời lại nắng ráo.

– Đứa nào chưa quỳ? Thằng nào lại gần tao cho lịnh…

Đột nhiên, cậu Cẩu ưỡn ngực, đi tới đi lui.

– Ừ! Quỳ như vậy mới đúng phép tắc. Tao nói cho tụi bây biết: Hỗm ray, tao là người ham vui. Nhưng xung quanh đây, nhiều người phá tao. Thí dụ như ông Bá Vạn. Tao là người “chơn mạng đế vương”. Bởi vậy cho nên ông Bá Vạn chết…vì tay tao.

Xí Vĩnh giận sôi gan, vì chưa bao giờ cậu Cẩu hống hách đến mức ấy. Nó cúi mặt, đứng gần cái ghế.

Cậu Cẩu bèn chỉ vào mặt Xí Vĩnh:

– Sao chưa quỳ! Ai cho mày đứng?

Xí Vĩnh nén cơn giận, chờ dịp khác đến gặp cô Huôi để xin chút ít thuốc độc, đem về giết cậu Cẩu cho xong.

Xí Vĩnh quỳ chậm rãi rồi lấy tay che miệng mà ho rồi nhảy mũi.

Cậu Cẩu nói:

– Nín! Tao đang nói chuyện mà bày ra chuyện ho hen. Muốn kiêu ngạo tao sao chớ!

Xí Vĩnh chắp tay lại:

– Thưa Cậu, em lỡ dại.

– Mầy kêu tao bằng cái gì? Tao là ông. Nghe chưa?

Day qua bọn hộ vệ, cậu Cẩu nói:

– Tao là ông. Từ nầy về sau, đứa nào ho hen, nhảy mũi trong lúc tao nói chuyện thì tao chém đầu. Nghe cho rõ rồi đề phòng, kẻo chết oan như lão Bá Vạn.

Xí Vĩnh trợn mắt, từ trong lồng ngực dường như cơn ho sắp tuôn ra, cổ họng ngứa ngáy lạ thường. Làm sao ngăn cản trận ho nầy cho được?

Xí Vĩnh mím môi, đưa hai tay lên miệng. Nếu tiếng ho vang ra trong trường hợp nầy, ắt là cô mang tội phạm thượng, vì dường như cậu Cẩu bày ra luật lệ ấy để áp dụng riêng cho cô ta thôi.

Cậu Cẩu day lại khi nghe có tiếng gầm gừ phía sau.

Xí Vĩnh trợn mắt. Cơn ho muốn chui ra khỏi cổ họng, toàn thân cô run rẩy, mồ hôi tuôn ra trên trán. Đoán chừng khó đè nén được cô ta day mặt qua một bên, hy vọng rằng nếu ho ra tiếng phía sau cậu Cẩu thì tội vạ sẽ nhẹ hơn.

Vì nín ho nên cô nín thở. Cô cắm đầu, toan chạy trốn. Bên góc sân có cái lu nước. Cô đến đó, lấy một tay giở nắp lu ra.

 Nắp lu rơi bể trên nền gạch. Tiếp theo đó là một loạt tiếng ho.

Biết mình đã phạm tội nầy, Xí Vĩnh quỳ xuống nhắm mắt lại như ngất xỉu tại chỗ.

Bọn hộ vệ nhìn nhau. Gương mặt cậu Cẩu trở nên tái ngắt.

Trường hợp này quá tế nhị. Có thể là cậu Cẩu bỗng dưng cười dòn, ban lượng khoan hồng. Nhưng rất có thể là cậu ra lịnh xử tử Xí Vĩnh để thị oai.

Cậu bước tới quát to:

– Mày làm gì vậy?

Ông Mười Hấu đến kịp thời, nói nghiêm giọng:

– Nó ho lớn tiếng sau khi cháu ra lịnh nghiêm cấm. Như vậy còn gì là oai quyền.

Cậu Cẩu đến gần Xí Vĩnh:

– Con kia!

Vì quá sợ, Xí Vĩnh nín thinh. Cậu Cẩu day lại ông Mười Hấu:

– Làm sao?

Ông Mười Hấu không bỏ lỡ cơ hội để dò xét phản ứng của đối thủ lợi hại nhứt là cô Huôi:

– Nó không trả lời. Nó ho lớn tiếng. Nó làm ô uế cái lu nước. Như vậy là có tội.

Cậu Cẩu lại chống nạnh, nhìn bọn hộ vệ:

– Đem giam nó sau nhà cho tao. Ngày mai, tao giết nó. Giết nó tại sân này thêm ô uế. Phải đem xuống bếp.

Hai hộ vệ lại gần Xí Vĩnh, kéo lết cô ta đem ra phía sau nhà.

Khi cậu Cẩu vào trong thì bọn hộ vệ từ từ xuống bến, dụm ba mà bàn tán. Nhưng cậu Cẩu lại trở ra sân, cười dòn nghe ghê rợn:

– Bá Vạn giết cuộc đời con gái của Xí Vĩnh thì ta cũng không thua Bá Vạn. Tụi bây biết tại sao không?

Đôi mắt trợn trắng của cậu Cẩu khiến bọn hộ vệ hoảng sợ. Không khéo cậu sẽ ra lệnh xử tử thêm vài người nữa.

Thấy không ai trả lời, cậu đi thẳng xuống bến, nói vu vơ:

– Ủa! Tụi bây khi rẻ tao sao chớ? Tao không xứng đáng làm ông Chúa Hòn sao chớ? Hôm nay tao lên ngôi. Tao biết xung quanh đây có người coi tao như đứa con nít, thua tài thua trí Bá Vạn.

Rồi cậu nắm tay một đứa hộ vệ:

– Sao? Trả lời thử coi.

Đứa hộ vệ run rẩy:

– Dạ, cậu hỏi, con không nghe rõ…

– Ủa! Tao chém mầy bây giờ? Tao nói mà mầy không thèm nghe. Mầy có hai tội đáng chết. Một là kêu tao bằng “cậu”. Tao là “ông”. Nghe chưa? Còn tội thứ nhì là khinh thường lời nói của tao. Tao phạt sơ sơ cho mầy sợ. Ngày mai tao chém mầy. Trước khi chém, tao hành hạ tới mức. Tánh tao là vậy. Tao thấy người ta làm thịt gà thịt vịt không cần cắt cổ. Cứ đem nhúng nước sôi rồi nhổ lông lúc con vịt còn sống.

Đứa hộ vệ chắp tay:

– Xin ông tha cho.

– Ừ! Ghét mầy quá. Tao chém mầy bây giờ. Biết tại sao tao không thua tài ông Bá Vạn không? Bá Vạn giết con Xí Vĩnh, phá hại trinh tiết của nó. Tao thì giết…tất cả tánh mạng con Xí Vĩnh. Hộ vệ đâu? Chém thằng này.

Tên hộ vệ sợ quá sợ, nhìn ông Mười Hấu như kêu cứu. Lần nầy, ông Mười hơi lúng túng. Ông nắm tay cậu Cẩu:

– Cháu ơi!

Cậu Cẩu quơ chân, đá vào hông tên hộ vệ.

Đứa hộ vệ thối lui rồi nhảy xuống sông lặn mất dạng. Khi trồi lên, anh ta vuốt mặt, nghe tiếng cười sang sảng của cậu Cẩu:

– Cho nó tắm. Ngày mai nó chết.

Anh ta nín thở, lặn một hơi dưới nước. Khi trồi đầu lên, anh ta lội vô bờ…

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 May 2025

Tập I (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau ..

Nguyễn Đình Toàn.

Anh Việt

Nếu hai thập niên 40-50 được coi là phồn thịnh của tân nhạc Việt Nam, thì phần đóng góp của Anh Việt không phải là nhỏ.

Vào thời ấy, buổi sáng người ta có thể nghe thấy Ngọc Bảo và Tâm Vấn hát Bến Cũ của Anh Việt trên đài phát thanh Hà Nội, buổi chiều hay đêm khuya người ta lại có thể nghe tiếng Anh Ngọc / Minh Trang, Mạnh Phát / Minh Diệu, Trọng Nghĩa / Ngọc Hà hát Lỡ Chuyến Đò, Một Chuyến Đi, Chiều Trong Rừng Thẳm của ông trên sóng của các đài phát thanh Huế, Pháp Á hay Sài Gòn.

Ấy là chưa kể có đài còn dùng nhạc của ông để làm nhạc hiệu nữa. Hầu hết các ca khúc của Anh Việt đều là tình ca. Và, tình ca của chúng ta nói chung, trong thập niên 50, thường nói về những cuộc chia ly, nỗi nhớ nhung xa cách, ước mong một ngày yên bình được trở về chốn cũ, nối lại tình xưa …

Nhạc của Anh Việt cũng vậy. Nhưng với cái ngọt ngào của âm điệu, thơ mộng của lời ca, ông đã biến các ca khúc của mình trở thành những bài

hát điển hình của một thời đại.

Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương

Đây người sang với con đò xưa

Và chiều chiều thôn nữ vấn vương

Duyên tình xưa êm thấm còn đâu

Người của bốn phương

Người đã ra đi có nhớ bao giờ

Dù duyên thề ước đắm với giấc mơ

Đường tơ vấn vương

Đem gieo thắm tươi vào đau thương

Và cố quên tình người bơ vơ

(Lỡ Chuyến Đò)

Anh Việt cho biết về tiểu sử của mình như sau:

“Sinh trưởng trong vùng đồng bằng sông Cửu Long giữa lúc cao trào kháng Pháp dành độc lập đang bùng lên. Buổi niên thiếu sống trong khung cảnh ruộng lúa phì nhiêu với sóng triều biển cả của những chiều gió lộng với giòng Kiên Giang in bóng trăng vàng và cũng là nơi còn ghi chiến tích

oanh liệt của anh hùng Nguyễn Trung Trực chống giặc Pháp, nêu gương tiết liệt với ngàn thu”. Chính ở đây Anh Việt đã viết các ca khúc Bến Kiên

Giang, Chiều Trong Rừng Thẳm, Một Chuyến Đi, Lỡ Chuyến Đò …

Có điều hơi lạ Anh Việt là người Nam, tình yêu của ông đối với sông nước, ruộng đồng nơi mình sinh trưởng thật đằm thắm, nhưng nhạc của ông không có vẻ gì là sản phẩm của một người gốc gác miền Nam cả.

Nhà văn Nguyễn Trọng Trác bày tỏ cảm tưởng khi nghe lại các ca khúc của Anh Việt như sau:

“Những bài hát cũ gợi lại cả trời xưa cũ, thời xưa cũ, những rung động xa xưa, cũng nhắc đến cả một chiều dài phức tạp của lịch sử đất nước Việt Nam cận đại. Anh đã khởi đi trong những ngày quật cường của quần chúng, đã sống cuộc sống giang hồ của một nghệ sĩ, đã góp tiếng lòng với quê hương, và cũng đã có tâm trạng của một kẻ bị lưu đầy”.

Còn nhà văn Thanh Nam đã mượn thơ Quang Dũng để viết về Anh Việt:

Chưa chắc cây cao hồ dễ yên

Sông sâu hồ dễ đã êm đềm

Cây cao chừng đợi giờ giông tố

Sông đợi mùa dâng sóng nước lên

Có vẻ như Anh Việt muốn viết anh hùng ca, nhưng chất lãng mạn đã lấn át mọi cái khác, nên cuối cùng ông chỉ còn lại những bài tình ca.

Ngoài ngàn dậm đoàn người ra đi

Trong sương lạnh lòng trai bền chí

Ra biên quan xa xăm ngàn phương

Và còn vọng tiếng hát trong sương

Người theo ngàn gió

Biệt ly buồn nhớ

Chờ đợi bao năm

Sống với âm thầm

Chốn ấy xa xăm người đi

Chiếc bóng bên song chờ chi

Tha phương ngoài ngàn quan san

Từ bao lần lá thu tàn …

(Một Chuyến Đi)

Bài hát hùng tráng nhất của Anh Việt là bài Chiều Trong Rừng Thẳm. Bài hát này có thể coi như tiếng vang của tâm hồn ông đối với các nhân vật lịch sử và quê hương riêng, ông ấp ủ trong hồn. Chính nỗi bi tráng của bài hát trở thành hùng tráng:

Trong rừng xa vắng âm u nhuộm ánh dương mờ

Tiếng gió rít lên ngàn cây xác xơ

Chuông chùa vang nhắc ngân lên như những oan hồn

Rừng còn mang hận mãi trong hoàng hôn

Mây nặng u hoài

Thây ngập bên rừng

Tiếng gió hòa bi ai

Đây là nấm mồ

Bao nhiêu quân Nam hy sinh vì quốc dân

(Chiều Trong Rừng Thẳm)

Bài tình ca ngọt ngào và trọn nghĩa nhất của Anh Việt có lẽ là bài Thơ ngây. Đây cũng là bài hát được nhiều ca sĩ chọn để trình bầy nhiều hơn cả trong số các nhạc phẩm của ông.

Từ âm điệu đến lời ca có một vẻ gì đó nũng nịu, làm dáng, nhưng vẫn giữ được vẻ nghiêm trang, trong sáng, không quá trớn để trở thành bỡn cợt hay giả dối:

Khi ấy em còn thơ ngây

Đôi mắt chưa vương lệ sầu

Cười đùa trong muôn ánh trăng

Đắm xinh đôi môi hồng thắm

Em ngắm mây hồng hay dòng nước trong

Thấy lòng ngẩn ngơ như tìm một bóng ai.

Rồi một hôm

Có chàng trai trẻ đến nơi này

Đời em có một lần

Là lần tim em thấy yêu chàng …

(Thơ Ngây)

Anh Việt có vẻ là một người sống kín đáo. Ông ít xuất hiện ở nhưng nơi công cộng, dù cho đó có là nơi người ta mang nhạc của ông ra trình diễn. Hoặc giả ông cũng có tới dự nhưng tự lẫn vào đám đông, như những khán giả vô danh khác.

Ông từng giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ cũ của chúng ta ở Sài Gòn xưa, nhưng cũng ít người biết ông. Từ sau biến cố 75, sống ở hải ngoại, người ta cũng không thấy ông tuyên bố điều này điều khác, ở chỗ nọ chỗ

kia. Chắc ông chọn sự im lặng.

Những người yêu nhạc ông hoàn toàn kính trọng sư im lặng của ông, và xin gửi tới ông một bông hồng tạ ơn về nhưng gì ông đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam.

Bến Cũ

Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly

Gió cuốn mây trôi về đây

Thấy bóng người về hay chăng?

Xa nhau bến xưa ngày ấy

Anh đi thế thôi từ đây

Sầu chết bên lòng

Hồn nặng nhớ mong

Biết đi sầu em mong

Nhưng ngàn dân đang ngóng

Dưới trời gió mưa

Làn gió chiều đưa

Xa nhau bến xưa ngày ấy

Anh như bóng mây hồng trôi

Về chốn xa vời

Lòng nặng nhớ mong

Chớ buồn khóc chi

Càng khổ người đi

Bến ấy chiều sương chờ mong

Vấn vương lòng ta

Gió cuốn mây trôi về đâu

Cố nén sầu lòng bao năm

Cố quên sầu thương đi

Anh nguyền đi theo gió

Chớ buồn khóc chi

Càng khổ người đi

Bến ấy chiều sương chờ mong

Vấn vương lòng ta

Gió cuốn mây trôi về đâu

Cố nén sầu lòng bao năm

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 28 May 2025

Tập I – (Phần 1 và 2)

Phần 1 – Các nhạc sĩ

Thưa,

Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật. Mục đích của người viết chỉ nhắm chia sẻ chút ít hiểu biết, những gì còn nhớ được về các tác phẩm, tác giả mình yêu thích, với những người có cùng cảm nghĩ, như một cách bầy tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn, đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm ra được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.

Phần khác, để các bạn trẻ sinh trưởng ở trong và ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.

Bởi vì, với những cuộc chiến tranh, chia cắt, kéo dài và liên tiếp trên đất nước, ngay cả những người quen biết, đồng thời với nhau, có nhiều khi cũng hoàn toàn thất lạc, không biết gì về nhau .. Nguyễn Đình Toàn.

Anh Bằng

Ông tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1925. Như thế, có lẽ ông là một trong vài nhạc sĩ cao tuổi nhất lác đác còn lại của chúng ta hiện nay.

Một điều đáng vui hơn nữa là, dù đã qua cái tuổi “cổ lai hy” từ lâu, nhưng

người ta vẫn được nghe những sáng tác mới của ông, nếu coi tất cả những

gì Anh Bằng viết sau 1975, sau ngày ông ra khỏi nước, là sáng tác mới.

Nghe nói, trước 1975, ở Sài Gòn, Anh Bằng được coi là tác giả “ăn khách”, được các nhà xuất bản “đặt hàng”, dành trước quyền xuất bản các ca khúc của ông, kể cả những bài ông chưa viết xong. Anh Bằng có sức sáng tác phong phú. Ngoài cả trăm ca khúc của riêng ông, Anh Bằng còn một số bài cùng viết với các nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ, được ký dưới cái tên chung

là Lê Minh Bằng.

Ca khúc nổi tiếng nhất của ba người có lẽ là bài Nguyện Cầu. Bài hát được viết vào những năm cuộc chiến tranh trên đất nước ngày càng trở nên thảm khốc, đã trở thành một cái gì đó, giống như dấu vết của một thời đen tối, hằn sâu trong ký ức của rất nhiều người.

Ca sĩ trình bầy bài Đêm Nguyện Cầu gây ấn tượng nhất có lẽ là Hùng Cường:

Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình người ơi

Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối

Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài

Và hồn tôi mang vết thương, vết thương trần ai

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu

Rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rướm máu

Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù buồn gục đầu

Nghẹn ngào cho non nước tôi trăm ngàn u sầu

Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này

Nhiều sóng gió trôi giạt lâu dài

Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn

Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền

Vì đất nước đang còn ưu phiền

Còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu

Rưng rưng tôi chắp tay nghe hồn khóc đến rướm máu

Quê hương non nước tôi ai gây hận sầu tội tình

Mẹ Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình

Nhà văn Nguyễn Thụy Long có kể lại trường hợp một người tử tù, đã hát bài hát này trong trại giam Chí Hòa, đêm trước ngày bị đưa ra pháp trường.

Sau biến cố 1975, ở miền Nam, các nhà tù lúc nào cũng chật ních người.

Nhiều người khác cũng nói rằng, họ từng được nghe các tù nhân hát cùng bài hát đó trong những đêm chờ chuyển trại.

Một bài hát được người ta chọn để hát vào những lúc như thế, chắc không phải chỉ là sự tình cờ. Không biết người hát nghĩ gì khi hát. Nhưng người nghe nói rằng, họ cảm nhận một nỗi ray rứt, bi thương, mãi sau này, vẫn còn xúc động tâm trí mỗi khi tưởng nhớ lại.

Các ca khúc thịnh hành của Anh Bằng có thể kể:

Hẹn Anh Đêm Nay

Nỗi Lòng Người Đi

Tango Dĩ Vãng

Tình Tuyệt Vời

Lời Tình Băng Giá

Dù Nắng Có Mong Manh

Nhớ Sài Gòn

Tâm Hồn Cô Đơn

Anh Bằng cũng phổ nhạc rất nhiều thơ: thơ Nguyên Sa [Nếu Vắng Anh] thơ Nguyễn Bính [Bướm Trắng], thơ Yên Thao [Chuyện Giàn Thiên Lý] thơ Thái Can [Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về] thơ Du Tử Lê [Khúc Thụy Du]

Khúc Thụy Du của Du Tử Lê do Anh Bằng phổ nhạc, có thể coi là một thành công và là một trong những tình khúc hay nhất chúng ta có được vậy:

Hãy nói về cuộc đời

Khi tôi không còn nữa

Sẽ lấy được những gì

Về bên kia thế giới

Ngoài trống vắng mà thôi

Thụy ơi và tình ơi

Như loài chim bói cá

Trên cọc nhọn trăm năm

Tôi tìm đời đánh mất

Trong vũng nước cuộc đời

Thụy ơi và tình ơi

Đừng bao giờ em hỏi

Vì sao ta yêu nhau

Vì sao môi anh nóng

Vì sao tay anh lạnh

Vì sao thân anh run

Vì sao chân không vững

Vì sao và vì sao

Hãy nói về cuộc đời

Tình yêu như lưỡi dao

Tình yêu như mũi nhọn

Êm ái và ngọt ngào

Cắt đứt cuộc tình đầu

Thụy bây giờ về đâu

Đại uý Andrew Dang (gốc Việt), Phi công Oanh tạc cơ chiến lược B-2 Spirit Không quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Thiếu tá.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 22, 2025

Post by Sơn râu 28 May 2025

Đại uý Andrew Dang và chị, Vivian Dang trong buổi lễ tốt nghiệp mang cánh bay phi công ngày 30 tháng 9 năm 2017 (Ảnh khi còn mang cấp Trung uý* của David Poe, Không quân Hoa Kỳ)

Đại uý Andrew Dang vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2026, danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Quốc Hội và Uỷ ban quân vụ Thượng viện nhận được ngày 19 tháng 5 năm 2025. Cùng đợt đề cử thăng cấp Thiếu tá năm nay còn có 17 Đại uý Không quân gốc Việt khác được ghi nhận**: MINH K. QUAN; ALEC L. DINH; PHILLIP Q. NGUYEN; THINH Q. TRAN; HIEP M. DU; ANH T. LE; ANDY NGUYEN; HIEU A. PHAM; NATHANIEL V. LE; TONEY DOAN; VI N. DOAN; TIFFANY M. PHAN; VIET A. TRAN; JEREMY T. DAO; PETER S. VO; AI MI O. NGUYEN; DANIEL D. NGUYEN. Sau khi được Uỷ ban quân vụ xác nhận bầu chọn, 18 Đại uý gốc Việt được đề cử sẽ chính thức thăng cấp Thiếu tá.

Minh hoạ các nguồn tin: Đại uý Andrew Dang, Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit. các nguồn tin.

Đại uý Andrew Dang gia nhập Không quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Không quân trừ bị tại Trường Đại học UCLAUCLA và tốt nghiệp với Văn bằng Cử nhân nghệ thuật Triết học năm 2015 mang cấp bậc Thiếu uý. Ông được chọn thụ huấn khoá Phi công 15-17 và tốt nhiệp mang cánh bay vào tháng 9 năm 2017.

Đại uý Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit, hiện đang phục vụ tại Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 (393rd Expeditionary Bomb Squadron) thuộc Không đoàn phi cơ oanh tạc 509 (509th Bomb Wing) tại căn cứ Không quân Whiteman Air Force Base. Ông nguyên là Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress của Phi đoàn oanh tạc cơ 23 (23rd Bomb Squadron) trước khi chuyển sang Phi đoàn 393 bay phi cơ B-2 Spirit.

Phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit của Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 tiếp nhận nhiện tại căn cứ Không quân Offutt (ảnh của Thượng sĩ Kenneth W. Norman).

Phi đoàn 393 hiện là Phi đoàn phi cơ oanh tạc tầm xa B-2 Spirit hàng đầu của Không quân Hoa Kỳ. Phi đoàn cung cấp khả năng chiến đấu trên toàn thế giới với lực lượng gồm 20 phi cơ B-2, Phi công và Quân nhân tác chiến để yễm trợ các nhiệm vụ hạt nhân và quy ước của Bộ tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Phi đoàn 393 hoạt động bao gồm các lãnh vực như tình báo, thời tiết, truyền tin và nhiều lãnh vực khác. Các lãnh vực này phối hợp chặt chẽ với nhau để bảo đảm các nhu cầu về giao tiếp, chiến lược và tác chiến đáp ứng cho Phi đoàn 393 khi hoạt động với các Đồng minh Khối NATO khắp Châu Âu. Sau ba mươi năm lần đầu tiên phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit xuất hiện tại căn cứ Không quân Whiteman, các phi công đã duy trì hoạt động của phi cơ B-2 tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động toàn cầu, chứng minh phi cơ oanh tạc chiến lược này thật sự Lực lượng viễn chinh hoàn thành khả năng răn đe chiến lược, bất cứ thời gian nào và bất cứ nơi đâu!

Đại uý Andrew Dang được thăng cấp Thiếu uý năm 2015, Trung uý năm 2017, Đại uý năm 2020, đề cử thăng cấp Thiếu tá tháng 5 năm 2025.

Minh hoạ của Air Force global Strike Command năm 2020: Đại uý Andrew Dang, Phi công pháo đài bay chiến lược B-52H, thuộc Phi đoàn oanh tạc 23.

Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt bay các loại phi cơ oanh tạc chiến lược ngoài Đại uý Andrew Dang bay loại phi cơ B-2 Spirit và B-52 Stratofortress còn có Đại uý Bui Duc Phuong, Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress thuộc Phi đoàn oanh tạc cơ 11 (11th Bomb Squadron); Thiếu tướng John R. Edwards, đã bay loại phi cơ oanh tạc chiến lược B-1 lancer và pháo đài bay B-52 Stratofortress; Đại uý Nguyen Anh Vu, Phi công bay loại oanh tạc cơ chiến lược B-1 lancer thuộc Phi đoàn 9 phi cơ oanh tạc viễn chinh (9th Expeditionary Bomb Squadron) đã giải ngũ, nay là Phi công chính của Hảng hàng không Delta Airline.

Nam, Nữ Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc Thiếu tá phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân có thể hơn 120 vị, không tính những vị đã hồi hưu.

Chúc Tân Thiếu tá Andrew Dang thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo thời gian mang mang cấp Trung uý; **Có một số Đại uý mang họ giống họ Việt Nam, nhưng chưa xác nhân được họ gốc Việt, Hoa, Hàn hay các các nguồn gốc Á châu khác.

Nguồn: congress.gov; afgsc.af.mil; airforcetimes.com; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Hồi ký

NGUYỄN HỮU THIỆN

Post by Sơn râu 28 May 2025

Phần 13

Chương 6 – Suối Máu & Tống Lê Chân

Không biết tù cải tạo ở các nơi khác thì sao, riêng ở Suối Máu, chúng tôi được nghe tin tức hàng ngày trên đài phát thanh (và đôi khi cả đài truyền hình) Sài Gòn Giải Phóng, nhờ đó được biết diễn tiến tổng quát của cuộc xâm lược của Trung Cộng vào sáu tỉnh biên giới phía bắc của Việt Nam.

Mỗi đêm sau giờ cơm tối, nhóm chúng tôi – gồm tôi, Hưng (đại úy) và vài anh em khác – lại tụ tập bên hông Nhà 13 để to nhỏ bàn luận về tình hình chiến sự và tiên đoán những gì sắp xảy ra.

Về tình hình chiến sự, chúng tôi khá ngạc nhiên và thất vọng trước sự tiến quân ồ ạt của lính Trung Cộng vào lãnh thổ Việt Nam mà không gặp sức kháng cự đáng kể ở tuyến đầu. Mặc dù đài phát thanh không loan báo diễn tiến cuộc chiến một cách chi tiết mà chỉ chú trọng việc lên án sự dã man tàn bạo của của lính Trung Cộng đồng thời ra sức ca tụng “tinh thần chiến dấu dũng cảm của quân dân ta”, chúng tôi cũng có thể đoán biết khi 120,000 quân Trung Cộng (trong tổng 300,000 tham gia chiến dịch) đồng loạt vượt biên giới tiến vào lãnh thổ sáu tỉnh phía bắc VN – Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Móng Cái – vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, chúng đã không đụng độ với các lực lượng chính quy thiện chiến của CSVN, bởi phần lớn lực lượng này đã được đưa vào Nam để tiến hành cuộc xâm lược và chiếm đóng Căm-bốt.

Gần hai tuần sau, khi đài phát thanh loan tin và tường thuật về chiến sự ở thị trấn Lạng Sơn, chúng tôi tin rằng thị trấn này sẽ thất thủ và đại quân Trung Cộng sẽ tiến về vùng châu thổ sông Hồng để uy hiếp Hà Nội, Hải Phòng. Và nếu việc này xảy ra, tù cải tạo sẽ tiếp tục ở tù dài dài, bởi như lời viên trung tá công an Đào Lưỡng, Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu đã tuyên bố trước đây, chúng tôi chỉ được thả một khi tình hình ổn định!

Mấy ngày sau, 5 tháng 3 năm 1979, Cộng Sản Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc (trong Nam gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”). Trưa cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã “hoàn thành mục tiêu” (dạy cho Hà Nội một bài học), “chiến thắng” và bắt đầu rút quân.

Dĩ nhiên, tuyên bố của Trung Cộng sau này chúng tôi mới được biết, còn ngày ấy chỉ được nghe tin trên đài phát thanh Sài Gòn Giải Phóng, qua đó phía CSVN cũng tuyên bố “đã chiến thắng…, chấp nhận cho địch rút quân…, và dừng chiến dịch phản công”.

Việc Trung Cộng sau khi xua 300,000 quân xâm lược VN, chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên giới sau đó lại cho rút quân đã khiến “các nhà bình luận thời sự ở Suối Máu” phải ngạc nhiên, bởi trước đó, như đã viết ở trên, chúng tôi tin rằng sau khi đánh chiếm sáu tỉnh biên giới, đại quân Trung Cộng sẽ tiến về vùng châu thổ sông Hồng, và Liên Xô sẽ có cớ nhảy vào vòng chiến để tiếp sức cho đàn em “tiểu bá quyền phương Nam”, cuộc chiến sẽ trở nên dai dẳng và chúng tôi sẽ tiếp tục ở tù cho tới khi “tình hình ổn định”, nghĩa là còn lâu, lâu lắm!

Vì thế, nay trước việc Bắc Kinh cho rút quân, chúng tôi chỉ biết đoán mò: có lẽ Trung Cộng sợ Liên Xô can thiệp mạnh, cho các quân đoàn đang trú đóng trên lãnh thổ Mông Cổ (một “đồng minh không cộng sản” của Mạc-tư-khoa) tấn công Trung Cộng từ phía bắc, khi ấy Bắc Kinh sẽ bị lưỡng đầu thọ địch, cho nên “bài học” mà Đặng Tiểu Bình dạy cho CSVN chỉ có bấy nhiêu thôi. (Chú thích 1)

Tuy nhiên, trước việc CSVN ngày càng hung hăng chửi bới “tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh” trên các phương tiện truyền thông và ra sức hốt thanh thiếu niên miền Nam đi “nghĩa vụ quân sự”, đưa sang Căm-bốt để thay thế (một phần) bộ đội chính quy bị đưa về bảo vệ miền Bắc, cho thấy Hà Nội có ý định chiếm đóng xứ chùa Tháp lâu dài, chúng tôi càng thêm hoang mang, lo ngại khi nghĩ tới những năm tháng tù tội trước mặt.

Rảnh rỗi vì không bị bắt đi lao động, chúng tôi cố gắng tìm quên qua nhiều hình thức giải trí: chơi cờ tướng, xoa mạt chược (những anh em “thâm niên” ở K1 thực hiện được hai bộ mạt chược khá chuẩn), đàn địch ca hát, chơi bóng chuyền, đá banh… Thỉnh thoảng tôi cũng ra sân banh nhưng không phải để đá mà để bắt gôn, sở trường của tôi từ những năm trung học.

Trong một trại tù chật hẹp như Suối Máu mà có được một cái sân đá banh là chuyện khó tin nhưng có thật!

Nguyên K1 là một khu đất vuông vức, khác với các K còn lại hình chữ nhật chạy dài từ ngoài vào trong. Từ cổng K1 đi vào, một bên là hội trường, lò bánh mì, dãy nhà bếp, một bên là một giếng nước, và sân bóng chuyền, nơi đã diễn ra cuộc “biểu tình ngồi” trong đêm Giáng Sinh 1978.

Vào sâu hơn là ba dãy nhà nhốt tù, mỗi dãy 6 nhà, tổng cộng 18 nhà, mỗi nhà giam giữ khoảng trên dưới 50 anh em. Khác với ở K3, nơi các nhà còn nguyên mái tôn vách tôn, các nhà ở K1 cũng mái tôn nhưng vách ván. Nguyên nhân là vì, cũng giống như ở trại tù Phú Quốc, khi xảy ra biến cố 30-4-1975, dân chúng tràn vào gỡ vách tôn cho nên sau đó đã được vây lại bằng ván (ở Phú Quốc vây bằng tranh); nhờ đó người tù cải tạo cũng có cảm giác dễ chịu hơn, có thể biến vách ván chỗ nằm của mình thành một cái kệ nho nhỏ, hoặc trang trí vách theo ý riêng: một bức tranh tự vẽ, tấm hình gia đình…

Phía bên trong ba dãy nhà là một cái sân hẹp chạy dài suốt từ nhà 13 đến nhà 18, được anh em biến thành sân banh, một sân banh có một không hai với chiều dài gấp ba bốn lần chiều rộng. Thành thử nhiệm vụ thủ thành của tôi khá nhàn rỗi, nhiều khi đợi cả chục phút mới thấy banh xuống vùng cấm địa!

Trong số sĩ quan tù cải tạo lại có một anh chàng trước kia đá cho đội tuyển Quan Thuế tự nguyện làm huấn luyện viên cho nên các trận đấu giữa các dãy nhà khá hào hứng. Nhưng riêng tôi, sau một thời gian bắt gôn đã không còn hứng thú nữa, quay sang viết sách dạy nhạc – một cách chính xác là hòa âm căn bản cho những người tập chơi đàn ghi-ta.

Ý tưởng “tốt đẹp” này (cứ tạm gọi như thế) đến với tôi sau khi thấy một bạn tù cựu giáo sư ở Trường Sinh Ngữ Quân Đội biên soạn các bài học tiếng Anh để các bạn tù muốn học chuyền tay nhau sao chép.

Với những người có trình độ hòa âm trung cấp trở lên, “công trình biên soạn” của tôi gồm Hòa âm căn bản và Cách bấm hợp âm trên cần đàn ghi-ta – chỉ là trò trẻ con, nhưng với những bạn tù chưa biết gì về hòa âm hoặc đang tập tễnh đệm ghi-ta thì những gì trình bày trong hai cuốn vở 50 trang ấy của tôi khá đắc dụng.

* Bông hồng Suối Máu

“Bông hồng Suối Máu” là một nhân vật có thật 100%, đối tượng của thiếu tá Y, một trong ba ông thiếu tá Không Quân khá đặc biệt ở Suối Máu. Người thứ nhất đã được tôi nhắc tới ở một phần trên là cựu Thiếu tá phi công khu trục Lê Thanh Hồng Vân, nguyên Phi đoàn phó Phi Đoàn 530 ở Pleiku với tôi năm xưa, Trưởng Ban Hành Động K3, đã bị đưa về Chí Hòa.

Người thứ hai là thiếu tá X, trước kia là một ông Trưởng Phòng hét ra lửa ở cùng đơn vị Không Quân ở Biên Hòa mà tôi không muốn nhắc tên. Ông X không làm ăng-ten mà chỉ đem khả năng mánh mung, sở trường lấy điểm của ông trước 1975 để trở thành “đại diện” của trại Suối Máu, bày mưu túc kế, toa rập với đám cán bộ hậu cần (thời bò xanh) trong việc bớt xén tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm của tù cải tạo để đem đi bán.

Cũng là tù cải tạo mà sáng sáng ông X mặc bộ pyjamas lụa, đeo kiếng mát, mặt vênh váo đi lên Ban hậu cần “công tác”. Các sĩ quan cùng đơn vị trước 1975 nay ở tù chung không ai chơi với ông đã đành mà khi vô tình đụng đầu cũng không ai thèm dòm mặt. Rất có thể ông X cho rằng người ta ghen ghét vì những đặc quyền đặc lợi ông được hưởng, chẳng hạn vợ được lên thăm nuôi thường xuyên, có khi “qua đêm” – một việc không hề có ở trại Suối Máu – nhưng thực ra mọi người xa lánh ông chỉ vì khinh bỉ!

Người thứ ba là thiếu tá Y tôi cũng không nhắc tên ra đây, tuy nhiên không phải vì ông là một người tệ hại như thiếu tá X mà chỉ vì tôi muốn giữ kín lý lịch của ông – nhân vật chính trong chuyện tình với “bông hồng Suối Máu” – để bạn bè cùng quân chủng Không Quân nếu không ở tù chung hoặc không được nghe người khác kể lại sẽ không biết ông là ai.

Về phần tôi vì ở khác K với thiếu tá Y nên lúc đó chỉ biết đại khái trước năm 1975 ông là phi công trong Không Quân VNCH, vợ con đã di tản sang Mỹ ngày 30-4-1975, thường được người em gái của vợ lên thăm nuôi. Còn chuyện tình của ông với bông hồng Suối Máu tôi chỉ biết qua nghe người khác kể lại với những tình tiết mà tôi tin rằng đã ít nhiều được thêu dệt cho thêm phần… ly kỳ rùng rợn. Nhưng đoạn kết buồn nhiều hơn vui thì tôi biết rõ.

Bông hồng Suối Máu nói tới ở đây là H, con gái của trung tá công an Đào Lưỡng, ra chào đời trước khi tía tập kết ra Bắc, tuổi khoảng trên 25. Sau khi trại Suối Máu được bộ đội bàn giao cho công an thì H được tía cho làm việc tại ban giám thị trại và K30 (bệnh xá). Có lẽ công việc của H là về giấy tờ chứ không liên quan tới ngành y vì cô không tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân (như sau này tôi được biết).

Về phần thiếu tá Y, không hiểu do đâu mà được trông coi nhà máy điện của trại Suối Máu. Có người nói ông có bằng kỹ sư điện nhưng tôi không tin, bởi vào thời VNCH chẳng có ông kỹ sư điện nào dại dột (hoặc lý tưởng) tới mức xin vào Không Quân để làm phi công thời chiến!

Nhưng ít ra thiếu tá Y cũng là một tay tháo vát hơn người (handyman) cho nên mới được trung tá Đào Lưỡng trao công việc chăm sóc chiếc xe Jeep Willys của ông ta do Cảnh Sát Quốc Gia (VNCH) để lại.

[Jeep Willys, hoặc Kaiser Jeep, ngày ấy trong Không Quân VNCH thường gọi là “jeep ca-pô bầu”, được cải biến từ một kiểu jeep dân sự để sử dụng trong quân đội, thường là các bộ chỉ huy, các hậu cứ, những nơi không cần tới loại jeep tác chiến có khả năng băng rừng (off-road) vốn có giá thành cao hơn, chẳng hạn jeep lùn A1, A2. Tất cả xe jeep của Không Quân Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam đều là Jeep Willys, khi họ rút quân được bàn giao cho KQVN. Cảnh Sát Quốc Gia cũng được viện trợ kiểu jeep này]

Về sau, thiếu tá Y còn được Đào Lưỡng sử dụng làm tài xế riêng đi đi về về Sài Gòn – Biên Hòa. Thường thường, cùng đi trên xe còn có cô con gái của viên trung tá công an.

Một thời gian sau, H mang bầu tâm sự, còn thiếu tá Y được xuất trại, được phục hồi quyền công dân để trở thành con rể của viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu. Trong số anh em tù cải tạo có người còn quả quyết đã đọc được mục Chúc Mừng trên báo Sai Gòn Giải Phóng, nhưng không mấy người tin!

Trước cuộc tình quốc – cộng nói trên, dư luận tù cải tạo Suối Máu chia ra hai phe: một phe chê trách thiếu tá Y phản bội vợ con (hiện đang sống ở Hoa Kỳ), một phe tuy không khen nhưng rất thích thú (hả dạ) trước việc một tù cải tạo “dớt” được cô con gái của viên trung tá công an giám thị trưởng – một bóng hồng nghe đồn khá xinh đẹp và sexy!

Tôi may mắn là một trong những tù cải tạo có cơ hội kiểm chứng những lời đồn trên, và sau này được biết đoạn kết của cuộc nhân duyên quốc – cộng ấy.

Nguyên tôi được sang K30 (bệnh xá) ở khoảng hai tuần vì bị bạn tù… đả thương!

Đầu đuôi là trong Nhà 13 của tôi có T, một tay trung úy lầm lì, không chơi với ai, có ít nhiều… máu điên, mà một số anh em cho là hậu quả tâm lý của những năm tháng dài bị nhốt ở Suối Máu.

Một ngày nọ, vào khoảng giữa năm 1979, tôi và T xích mích nặng, được anh em cùng nhà can gián. Thế rồi trong giờ nghỉ trưa, khi tôi đang ngồi quay mặt vào vách với cuốn vở nhạc lý đang soạn dở dang thì T đứng phía sau lấy cái ghế đẩu thấp bằng gỗ (giống ghế của các bà bán hàng rong) sử dụng 24 thành công lực giáng lên đầu, khiến tôi ngã lăn quay, bất tỉnh! Sau này hồi tưởng lại, tôi cũng không biết đích xác mình bất tỉnh trong bao lâu, nhưng có lẽ chỉ trong vài giây đồng hồ, bởi khi tỉnh lại tôi còn nghe tiếng anh Thiết đang hốt hoảng kêu cứu.

Chỉ bị choáng váng chứ không cảm thấy đau đớn lắm, tôi đoán mình không bị bể đầu, có nghĩa là không nguy hiểm cho nên tôi chợt nảy sinh ý tưởng đùa nghịch là cứ giả bộ tiếp tục bị bất tỉnh xem mọi việc sẽ diễn tiến ra sao!

Mặc dù đầu của tôi không có vết thương chảy máu, anh Phố (Nhà trưởng) vẫn chạy ra cổng nhờ lính gác báo cáo với giám thị K1. Trong lúc chờ đợi tay công an phụ trách Nhà 13 vào, thấy anh em xôn xao lo lắng, người thì đắp nước lạnh trên trán, người lo quạt…, tôi đành phải hé mắt chớp chớp cho anh em biết tôi đã tỉnh, nhưng sau đó vừa làm bộ nhăn nhó ra vẻ đau đớn lắm vừa nhắm mắt lại, ai hỏi gì cũng lắc đầu nhè nhẹ như không có sức mở miệng trả lời!

Khoảng 15 phút sau, tay công an phụ trách Nhà 13 vào, hỏi qua loa đầu đuôi sự việc rồi, có lẽ vì sợ trách nhiệm, cho lấy võng khiêng tôi qua K30 (bệnh xá), cách K1 khoảng 500 mét.

Bên trong cổng gác của K30, phía tay mặt có bốn căn nhà tôn vách ván, nhỏ hơn nhà nhốt tù ở các K; ba căn được sử dụng làm chỗ ở cho bệnh nhân, một căn làm phòng khám bệnh và chỗ ở của hai vị bác sĩ quân y VNCH được đưa sang làm việc ở bệnh xá, phía đối diện là mấy căn nhà nhỏ hơn dành cho bệnh nhân công an, nhân viên bệnh xá, công an gác cổng, hậu cần, nhà bếp…

Không khí và sinh hoạt ở bệnh xá Suối Máu khác hẳn với bệnh xá Thành Ông Năm mà tôi đã từng ở qua vào cuối năm 1975; có thể mô tả một cách ngắn gọn là bệnh xá Suối Máu khá lặng lẽ, buồn tẻ.

Bệnh nhân tù cải tạo ở đây cũng thuộc đủ lứa tuổi, cấp bậc như ở bệnh xá Thành Ông Năm trước kia nhưng đa số suốt ngày nằm một chỗ, nhà nào biết nhà nấy nên không có sự thân mật cởi mở, tụ tập trò truyện, đấu láo như ở Thành Ông Năm.

Có hai nguyên nhân. Thứ nhất là về mặt tinh thần, trước kia ở Thành Ông Năm, mới bắt đầu đời tù tội nên anh em chưa kịp thấm, chưa nếm mùi lao động khổ sai, nay thì ai cũng chán chường, ê chề, tuyệt vọng.

Thứ đến là về thể xác, sau ba bốn năm ăn uống thiếu dinh dưỡng, sức đề kháng trong cơ thể không còn, cho nên người nào quỵ là quỵ luôn, và đó cũng là tình trạng của đa số bệnh nhân tù cải tạo lớn tuổi ở K30, trong số đó có cựu đại tá (nhạc sĩ) Nguyễn Văn Đông.

[Về sau, năm 1980, Đại tá Nguyễn Văn Đông được đưa về Chí Hòa, tới 1985 được thả để về nhà… chờ chết. Tuy nhiên, như một phép lạ, có những người thân yêu bên cạnh, ông đã dần dần hồi phục và sống thêm được 23 năm nữa]

* * *

Hai ông bác sĩ quân y VNCH ở K30 khá rảnh rỗi, một ông hơi lớn tuổi suốt ngày nằm trong phòng cho nên giờ này tôi cũng không còn nhớ tên, một ông còn trẻ mang cấp bậc trung úy, gốc Bắc, tên N.

Vì không khí buồn tẻ ở K30, trừ những người nằm liệt giường và “tù xì thẩu”, đa số bệnh nhân tù cải tạo đều muốn trở về sống ở các K có người này người kia vui hơn, bởi nếu ở lại K30 cũng chẳng có thuốc men, chỉ được một ưu đãi duy nhất là ngày nào cũng được ăn bo bo, không phải độn khoai mì phơi khô!

Tù xì thẩu nói tới ở đây là một số nhỏ tù cải tạo có gia đình giàu có, qua ba đợt đánh tư sản của nhà nước CSVN vẫn bằng cách này cách khác giữ được một ít của chìm của nổi, đã sử dụng tiền bạc, quà cáp đắt tiền để mua chuộc đám giám thị ở Suối Máu đưa họ sang K30 để được thăm nuôi thường xuyên, vì thế, ít nhất cũng về mặt ẩm thực, những người tù này sống như những ông hoàng trong khi các bệnh nhân khác quanh năm chỉ có bo bo với cá khô.

Ngoài ra, mấy ông tù xì thẩu còn liên hệ với đám hậu cần nhờ mua dùm món này món khác ngoài chợ (dĩ nhiên phải trả công), và qua tiếp xúc đã được nghe những tay công an này bật mí tin này tin khác. Vì thế, ngoài việc trở thành “ân nhân” của những bạn tù đói thuốc (thuốc rê), mấy ông tù xì thẩu còn trở thành nguồn tin hấp dẫn, tương đối đáng tin cậy ở K30.

* * *

Sau mấy ngày tới K30, tôi được bác sĩ N cho biết dù không cảm thấy bất cứ triệu chứng khác thường nào trong đầu, tôi cũng nên ở lại K30 thêm một tuần lễ nữa để ông theo dõi cho chắc ăn.

Phía sau phòng khám bệnh, kế căn nhà tôi ở có một bóng cây khá lớn, dưới gốc có hai băng ghế, nơi tôi một vài anh em còn trẻ hay ra ngồi tán dóc, thỉnh thoảng có bác sĩ N tham gia. Càng về sau tôi và vị bác sĩ trẻ càng trở nên thân nhau hơn, lúc đó tôi mới biết ông không phải là một người kín đáo, ít nói như tôi đã nhận xét lúc ban đầu, trái lại ông thích trò truyện và đặc biệt có óc khôi hài, châm biếm.

Qua trò truyện với nhau, tôi được biết trên nguyên tắc hai ông bác sĩ “ngụy” nằm dưới quyền một nữ y tá công an còn rất trẻ tên X, mà mọi người gọi là “y sĩ”.

Tôi có dịp quan sát X vài lần khi cô vào phòng khám bệnh gặp bác sĩ N. Cô nói giọng Nam, có nhan sắc dưới trung bình khá xa, thân hình nhỏ thó, đã vậy còn có làn da đậm giống như lai Miên (Căm-bốt), nghĩa là không có một nét thu hút nào, hoàn toàn tương phản với “bông hồng Suối Máu”, tức H, cô con gái của viên Trung tá Giám thị trưởng trại giam Chí Hòa – Suối Máu.

Ngay lần đầu tiên được chiêm ngưỡng dung nhan và ngoại hình của H, tôi đã thông cảm với sự ghen tức của đám công an trước việc người đẹp lại trao thân cho một tay tù cải tạo!

Sáng hôm đó, tôi đang ngồi trò truyện với mấy anh em bệnh nhân dưới gốc cây sau phòng khám bệnh thì H từ khu nhà của ban giám thị trại đi xuống K30. Từ lúc cô đi gần tới cổng cho tới lúc bước vào khu nhà của nhân viên bệnh xá, tôi có được vài phút để quan sát từ khoảng cách mấy chục mét.

H là một người có nhan sắc và một thân hình khá hấp dẫn. Để độc giả có một ý niệm về nhan sắc và sức hấp dẫn của H, tôi xin so sánh với “chị Thùy”, cô y sĩ Nam kỳ ở bệnh xá Thành Ông Năm mà tôi đã mô tả trong Chương 1:

“Cô không bao giờ mặc đồ bộ đội mà cũng chẳng cuốn khăn rằn, chỉ mặc quần đen áo bà ba… Cô khoảng độ trên dưới 25, thân hình cao ráo, có nhan sắc, với mái tóc thề dài gần tới eo”.

Về nhan sắc, H có đẹp hơn “chị Thùy” hay không là tùy người đối diện (hơn nữa, tôi cũng chỉ được chiêm ngưỡng dung nhan H từ một khoảng cách) nhưng về sức hấp dẫn thì H ăn đứt. Lúc đó H đã có bầu mấy tháng, và hình như nhờ vậy mà hai vòng số 1, số 3 của cô phát triển tới mức tối đa.

H không mặc quần đen áo bà ba như “chị Thùy” mà mặc đồng phục của công an, nhưng với tôi khi ấy màu vàng không còn đáng ghét nữa bởi cái quần may bó sát không chỉ tăng sức hấp dẫn của cặp mông mà còn có tác dụng khiến cặp trường túc của H như dài thêm, cùng với mái tóc uốn quăn và dáng đi như người mẫu đã tạo ra một sức thu hút chết người!

Khi H bước gần tới cổng, một trong hai gã công an trẻ đang ngồi chồm hổm bên cạnh phòng khám bệnh buột miệng:

– Con đĩ!

Nghe chửi, tôi biết những tình tiết về chuyện tình giữa bông hồng Suối Máu và thiếu tá Y tôi đã viết ở một đoạn trên, trong đó có việc hai người được “chúc mừng” trên báo Sài Gòn Giải Phóng theo lời kể của một vài bệnh nhân tù cải tạo ở K30, không biết có được thêu dệt thêm hay không, nhưng việc đám công an cay cú trước việc người đẹp trao thân cho một tay tù cải tạo là có thật! (Chú thích 2)

Nhưng ở Suối Máu không chỉ có cô con gái viên giám thị trưởng mà cả cô y sĩ X của K30 cũng mê “sĩ quan ngụy”!

Vị sĩ quan ngụy tốt số (?) ấy không ai khác hơn là bác sĩ N.

Một buổi sáng nọ, khi H tới K30 thì chỉ có tôi và bác sĩ N ngồi trò truyện với dưới gốc cây. Thời gian này tôi đã khá thân với bác sĩ N cho nên vừa chiêm ngưỡng người đẹp, chúng tôi vừa trao đổi những lời bình phẩm không được… lành mạnh cho lắm!

Bỗng bác sĩ N nói nửa đùa nửa thật:

– Em X chỉ cần được một nửa em H tôi cũng chịu!

Rồi ông kể cho tôi nghe một cách khá chi tiết về việc ông được (bị) X ra mặt “chào mời”.

Theo lời ông, vào thời gian chưa xảy ra vụ bông hồng Suối Máu lấy thiếu tá Y, cô y sĩ công an của K30 cũng ra vẻ ta đây cấp trên lắm, nhưng sau đó đã thay đổi thái độ một cách mau chóng, không chỉ dễ chịu hơn trước mà còn tỏ ra tôn trọng chuyên môn nghề nghiệp của hai vị bác sĩ quân y VNCH.

Vào một buổi trưa thanh vắng, khi chỉ có hai người với nhau trong phòng khám bệnh, X than thở với bác sĩ N rằng trong thời gian gần đây cô cảm thấy đau ở ngực và xin ông… khám. Bác sĩ N chưa kịp hỏi han triệu chứng thì X đã cởi ngay mấy nút áo trên ngực, sẵn sàng để ông đặt ống nghe. Bác sĩ N hơi bối rối nhưng lấy lại bình tĩnh ngay, và trong khi thi hành chức năng “lương y như từ mẫu” ông đã không bỏ lỡ cơ hội quan sát, đánh giá vòng số 1 thật khiêm nhượng của cô y sĩ.

Nghe trước ngực xong, tới nghe sau lưng, chẳng thấy gì khác thường ngoài tiếng tim đập thình thịch, bác sĩ N cho X biết kết quả và nói cô yên tâm!… Nhưng mấy ngày sau, X lại xin bác sĩ N khám nữa; và tới lần thứ ba, khi X kéo bàn tay vị bác sĩ xuống thật sâu giữa hai trái tuyết lê của cô, miệng nói “em đau ở chỗ này”, thì dù vô tình tới đâu ông bác sĩ “ngụy” cũng phải hiểu được tim đen của cô y tá công an… khát tình!

Từ đó tới nay, hai ba tháng đã trôi qua, bệnh đau ngực của X vẫn không thuyên giảm, và bác sĩ N vẫn phải tiếp tục… khám!

Tuy đã khá thân với bác sĩ N, tôi cũng tế nhị không hỏi ông một câu nào về tình cảm, hay viết cho chính xác hơn, cảm tưởng (và cảm giác) của ông khi khám ngực cho cô y tá công an. Cho nên sau này tôi cứ thắc mắc mãi về đoạn kết chuyện tình đơn phương của cô y tá công an trời bắt xấu với chàng bác sĩ ngụy đẹp trai nho nhã.

* * *

Sau hơn hai tuần ở K30 tôi trở về K1, được anh em đón tiếp khá nồng hậu bởi theo thói thường, kẻ đi xa về luôn luôn có nhiều câu chuyện hấp dẫn, chưa kể tôi còn có tài… phét lác, phóng đại!

Tuy nhiên trong khi kể đủ mọi thứ chuyện, tôi đã không đề cập tới tin đồn về việc sắp có chuyển trại quy mô, để anh em khỏi xôn xao lo lắng.Nguyên trong thời gian ở K30, tôi được một số anh em bệnh nhân “thâm niên” và mấy ông tù xì thẩu có dịp tiếp xúc, trò truyện với đám công an kể lại rằng sắp tới, Cục Trại Giam sẽ đưa tù hình sự từ các nơi về Suối Máu, còn tù cải tạo ở Suối Máu sẽ được đưa đi các nơi khác. Đưa đi đâu không biết nhưng chắc chắn sẽ xa Sài Gòn hơn, và đây là nguyên nhân chính khiến tôi không kể lại cho anh em những gì mình được nghe ở K30.

Riêng tôi tự trấn an: đi đâu thì đi, miễn không bị đưa ra miền Bắc là được rồi. (Thời gian này, tù cải tạo ngoài Bắc ở các trại gần biên giới Hoa-Việt đã được đưa về vùng đồng bằng cho nên ngoài đó thiếu chỗ).

* * *

Khoảng gần cuối năm 1979, việc chuyển trại xảy ra thật. Trong số mấy trăm tù cải tạo cấp úy ở K1 bị gọi tên có tôi nhưng không có hai người ăn chung với tôi là đại úy Thiết và thiếu úy Thi. Đúng là “đời tôi cô đơn” nên đi đâu cũng đi một mình!

Rời Suối Máu vào buổi sáng, đoàn molotova đưa chúng tôi trở lại Quốc lộ 13, qua Bình Dương tới ngã ba Chơn Thành thì chạy thẳng (nếu quẹo mặt là Quốc lộ 14, đường đi Quảng Đức cũng là đường đưa tôi lên Phước Long trước đó hơn hai năm).

Từ Chơn Thành, theo Quốc lộ 13 đi lên hướng bắc sẽ tới thị xã An Lộc, trước năm 1975 là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Long, nay thuộc tỉnh Sông Bé.

[Sau này, tới năm 1988 Sông Bé tách ra làm hai tỉnh: Bình Dương và Bình Phước – gồm lãnh thổ hai tỉnh Bình Long, Phước Long trước năm 1975, tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài]

Nhưng trước khi tới An Lộc, đoàn xe đã quẹo trái đi về hướng tây mà không anh em nào trên xe của tôi biết là đi về đâu. Xe chạy trên một con đường đất ghồ ghề lồi lõm, hai bên là rừng rậm, đi một hồi thì tới một khoảng đất trống có một cái quán mái tranh vách đất, gần đó là mấy căn nhà cũng mái tranh vách đất bỏ hoang, mà sau mày chúng tôi được biết đó là tất cả những gì còn sót lại của một làng kinh tế mới.

Từ cái quán, đoàn xe tiếp tục đi về hướng tây vài cây số, tới một cái cổng có công an gác, bên trong cổng, hai bên đường là nương rẫy xanh tốt, rồi tới một khu nhà mái tôn vách ván, thấp thoáng bóng công an, và đoàn xe dừng lại. Chúng tôi được lệnh xuống xe.

Theo lời “chào mừng” của một tay công an trong Ban giám thị, chúng tôi được biết đây là trại tù Tống Lê Chân.

Vừa nghe ba chữ “Tống Lê Chân”, lòng tôi bỗng nổi lên một cảm xúc buồn vui lẫn lộn, bởi đây là một địa danh nổi tiếng trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến, nơi đã chứng kiến cuộc tử thủ bi hùng của Tiểu Ðoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng trước cuộc bao vây tấn công kéo dài nhất trong chiến tranh Việt Nam, và theo nhà văn Phan Nhật Nam, cũng là dài nhất trong lịch thế giới: 510 ngày, mà giờ đây tôi được vinh dự đặt chân tới, dẫu chỉ với tư cách một tên tù cải tạo!

Tiền đồn Tống Lê Chân

Cũng xin có đôi dòng về Tống Lê Chân để độc giả nào chưa đọc các bài viết liên quan có chút ý niệm về địa danh oai hùng này.

Tống Lê Chân là phiên âm sang tiếng Việt của “Tonlé Tchombe”, nguyên là tên tiếng Miên của vùng này (trước kia thuộc Căm-bốt).

Theo lời kể của một số cụ già thì tên “Tống Lê Chân” có từ năm 1956, khi Tổng thốngNgô Đình Diệm thực hiện chính sách dân tộc chủ nghĩa, đã cho thay đổi và Việt hóa nhiều địa danh trên lãnh thổ VNCH, như Bù Đốp thành Bố Đức, B’lao thành Bảo Lộc… và Tonlé Tchombe đã trở thành Tống Lê Chân.

Tống Lê Chân là một ngọn đồi thấp, thoai thoải về hướng bắc, ngày nay nằm giữa hai xã Minh Tâm, Minh Đức thuộc huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Phía bắc là biên giới Việt – Miên, phía đông là thị xã An lộc, phía nam là hai huyện DầuTiếng và Chơn Thành của tình Bình Dương, phía tây là huyện Tân Châu của tỉnh Tây Ninh.

Như vậy Tống Lê Chân chỉ cách trại cải tạo Đồng Ban ở huyện Tân Biên, nơi chúng tôi ở trước khi đi lên Phước Long, khoảng 20-25 cây số đường chim bay.

Về mặt chiến thuật, Tống Lê Chân là một vị trí rất quan trọng, chỉ cách vùng Mỏ Vẹt của Căm-bốt 13 cây số về hướng Tây Bắc, và nhìn xuống con đường huyết mạch nối liền Cục R (Trung ương Cục miền Nam của Đảng CSVN) với vùng Tam giác sắt của Việt Cộng.

Năm 1967, nằm trong chương trình CIDG (viết tắt từ Civilian Irregular Defense Group), tiếng Việt gọi là Dân Sự Chiến Đấu, người Mỹ đã xây dựng một trại Biệt kích vừa có mục đích phòng thủ vừa để huấn luyện tại Tống Lê Chân.

Năm 1970, trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, Hoa Kỳ đã bàn giao các trại biên phòng cho QLVNCH, Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu được cải danh thành Biệt Động Quân Biên Phòng.

Trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Việt Cộng đồng loạt tấn công vào Lộc Ninh, Chơn Thành và An Lộc. Các căn cứ tiền đồn biên phòng như Thiện Ngôn, Cà Tum, Bổ Túc, Bù Gia Mập lần lượt rút lui trước áp lực của quân cộng sản. Chỉ duy nhất căn cứ Tống Lê Chân của Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng, do Thiếu tá (sau lên Trung tá)Lê Văn Ngôn làm tiểu đoàn trưởng, với quân số trên dưới 300 người, không rút lui mà vẫn tiếp phòng ngự trước sự phong tỏa, tấn công của 10,000 quân thuộc bốn sư đoàn địch (sau khi Lộc Ninh bị thất thủ và thị xã An Lộc đã bị bao vây).

Sau 510 ngày cầm cự, tới ngày 11-4-1974 Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng mới mở đường máu rút khỏi căn cứ này, lực lượng hầu như còn nguyên vẹn, trong đó có 50 thương binh.

Cố Trung tá Lê Văn Ngôn, xuất thân Khóa 21 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Sau năm 1975, ông bị chế độ CSVN bắt đi “học tập cải tạo” và bỏ mình tại miền Bắc vì kiệt sức. Nhìn khu nhà tương đối khang trang so với ở Đồng Ban hay Phước Long, với những cái sân sạch sẽ có bóng cây tôi đã lạc quan tếu, chỉ sau khi bị đưa sang phía sườn đồi cách đó khoảng 100 mét, tôi mới biết mình mừng hụt: khu nhà mái tôn vách ván trên đồi là nhà của ban giám thị và công an coi tù, còn chỗ ở của tù cải tạo là những dãy nhà tranh tối tăm lụp xụp, vách làm bằng những thanh tre không đủ che mưa gió!

Khu vực chính để nhốt tù cải tạo ở Tống Lê Chân là một mảnh đất vuông vức, mỗi bề khoảng ba, bốn trăm mét. Từ cổng đi vào là một cái sân rất rộng để tù cải tạo ngồi nghe cán bộ “lên lớp”, cũng là nơi tập họp mỗi buổi sáng để nghe phân công lao động trong ngày.

Ba mặt sân là những dãy nhà dành cho tù cải tạo, phía sau các dãy nhà đối diện với cổng ra vào là hai giếng nước rồi tới một cái ao nhân tạo khá lớn, không biết có từ bao giờ, chỉ biết nay không còn sử dụng vào việc gì được nữa vì nước quá dơ bẩn. Sau cùng là dãy nhà cầu.

Chung quanh trại có hai lớp hàng rào. Lớp bên trong làm bằng tre che kín mít, không nhìn thấy phía bên ngoài. Lớp thứ hai là hàng rào kẽm gai kiên cố không thua gì ở Thành ông Năm. Ở bốn góc trại là bốn vọng gác có đặt súng máy.

Bên cạnh khu vực nhốt tù chính nói trên còn có một khu phụ nhỏ hơn, có lối đi thông với khu vực chính. Khu phụ này nằm sát với khu nhà của ban giám thị trại, gần một con suối khá lớn, cũng giống như con suối ở Phước Long, nằm trong số hàng trăm con suối tạo thành thượng nguồn sông Sài Gòn.

Khu phụ này chỉ có hai dãy nhà, cũng mái tôn vách ván như nhà của ban giám thị nhưng cũ kỹ, vá víu, được dành cho tù cải tạo cấp tá được đưa đến vào đầu năm 1979.

Khi đám tù K1 Suối Máu chúng tôi được đưa tới Tống Lê Chân, tại khu nhà chính – tức những dãy nhà tranh tối tăm lụp xụp – đã có sẵn một số tù cải tạo từ cấp đại úy trở xuống được đưa tới bằng nhiều đợt từ nhiều nơi khác nhau, trong đó có những người từng ở Trảng Lớn, Phước Long với tôi. Gặp lại nhau tay bắt mắt mừng, họ lại tiếp tục gọi tôi bằng biệt danh “Sáu Lèo”.

Theo những tù cải tạo ở Tống Lê Chân thâm niên nhất, ở đây không có nhà thăm nuôi, bởi chưa bao giờ có thăm nuôi!

Chú Thích:

(1) Sau này người ta được biết ngay từ đầu, mục đích của Đặng Tiểu Bình khi xua quân xâm lược sáu tỉnh phía bắc của VN chỉ là để cho CSVN “một bài học” rồi rút quân về.

Có hai nguyên nhân khiến Trung Cộng không tiến xa hơn. Thứ nhất là lo ngại Liên Xô can thiệp.

Sau khi Hoa Kỳ và Trung Cộng bắt tay nhau năm 1972, một việc mà CSBV xem là một sự phản bội của Bắc Kinh, Hà Nội đã nghiêng hẳn về phía Mạc-tư-khoa.

Sau khi thống nhất hai miền nam bắc, năm 1977, Tổng Bí thư Đảng Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhau sang chầu Mạc-tư-khoa, trong khi trước đó chỉ có một mình Lê Duẩn đi Bắc Kinh một chuyến ngắn vào năm 1975 sau khi chiếm được miền Nam, và sau chuyến viếng thăm ấy đã không hề có một thông cáo hoặc tuyên bố chính thức nào của phía CSVN!

Vào thời gian này trong số các quốc gia cộng sản chỉ có một mình Căm-bốt (Campuchia) của Khmer Đỏ theo Trung Cộng, còn tất cả các quốc gia ở Đông Âu, Cuba, Mông Cổ đều theo phe Liên Xô; riêng Mông Cổ còn để Liên Xô đem quân vào đóng dọc theo biên giới Mông Cổ – Trung Cộng. Về phần Bắc Hàn tuy không chính thức theo phe nào nhưng ngay từ đầu quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Mạc-tư-khoa luôn luôn tốt đẹp hơn nhiều so với Bắc Kinh. Còn Cộng sản Lào thì coi như không đáng kể!

Viết Thêm:

Kim Nhật Thành, lãnh tụ sáng lập chế độ cộng sản Bắc Hàn, lúc đầu theo cộng sản và tham gia kháng chiến chống Nhật ở Trung Hoa, nhưng vào thời gian Đệ nhị Thế chiến kết thúc, ông ta là một Đại úy trong Hồng Quân Liên Xô, chỉ huy lực lượng du kích kháng chiến gốc Triều Tiên được các sĩ quan Liên Xô huấn luyện, gọi là Lữ đoàn bộ binh độc lập 88 thuộc Quân Khu Viễn Đông của Liên Xô.

* * *

Ngày 29 tháng 6 năm 1978, Việt Nam gia nhập Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế (tiếng Anh viết tắt là COMECON) gồm các quốc gia theo phe Liên Xô. Mấy ngày sau, Trung Cộng tuyên bố cắt hết viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước.

Ngày 12 tháng 7 năm 1978, lần đầu tiên, tờ Nhân Dân Nhật Báo của Đảng Cộng sản Trung Hoa công khai cáo buộc CSVN “đang tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam”.

Ngày 3 tháng 11 năm 1978, CSVN và Liên Xô ký “Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác”. Ngoài các điều khoản về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước này còn có những thỏa thuận về quốc phòng, giống như một hiệp ước phòng thủ chung.

Hiệp ước này được giới quan sát đương thời xem như một sự bảo đảm Liên Xô sẽ can thiệp nếu Việt Nam bị Trung Cộng tấn công!

Vì thế, mặc dù CSVN đem quân xâm lược Căm-bốt trước (7-1-1979), khi trả đũa bằng cách tiến đánh các tỉnh phía bắc của Việt Nam hơn một tháng sau đó (17-2-1979), Trung Cộng cũng rất lo ngại Liên Xô sẽ nhảy vào vòng chiến – phía bắc từ biên giới Mông Cổ, phía nam từ biển Đông – cho nên họ vừa đánh vừa thăm dò phản của Mạc-tư-khoa.

Nhưng những gì diễn ra sau đó cho thấy Liên Xô đã chẳng dại dột chạm nọc Đặng Tiểu Bình bằng cách trực tiếp tham chiến để bảo vệ một đàn em ở xa lắc xa lơ, hơn nữa thời gian này Mạc-tư-khoa đang dồn mọi nỗ lực vào việc đem quân xâm lược A-phú-hãn.

Thành thử tất cả những hỗ trợ của Liên Xô cho CSVN sau khi Trung Cộng xua quân đánh chiếm các tỉnh phía bắc của Việt Nam chỉ là đưa một số vận tải cơ An-12 (tương đương C-130 của Mỹ) tới giúp vận chuyển bộ đội trong Nam về bảo vệ miền Bắc, và đem mấy chiến hạm thuộc Hạm đội Thái bình dương từ Vladivostok (Hải Sâm Uy) xuống vịnh Bắc Việt để “đảm bảo hành trình an toàn cho các tàu vận tải từ Vladivostok, Nakhodka và Odessa chở hàng tiếp tế cho Việt Nam. Trong thời gian chiến sự, 6 tàu thủy Liên Xô đã tới cảng Hải Phòng vận chuyển kỹ thuật quân sự, kể cả tên lửa và thiết bị radar dành cho Việt Nam” (trích nhật ký của trung tá hải quân Nga Vladimir Glukhov).

* * *

Nguyên nhân thứ hai khiến Trung Cộng chỉ xua quân đánh phá các tỉnh biên giới bắc của VN rồi rút quân về là vì họ không muốn bị mang tiếng “ăn hiếp nước nhỏ”, mà cứ để cho thế giới trừng phạt CSVN về tội xâm lược Căm-bốt theo các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc.

Sau này, đa số sử gia quân sự cũng như các nhà bình luận thời cuộc còn tin rằng khi Trung Cộng ra lệnh cho đàn em Khmer Đỏ gây hấn, đánh phá biên giới phía tây nam (của VN) chính là để “dụ” CSVN đem quân xâm lược Căm-bốt, để rồi bị sa lầy, bị cả thế giới lên án!

Hậu quả, ngày 11-1-1979, việc Việt Nam đưa quân xâm lược Căm-bốt được đưa ra Đại hội đồng LHQ, và trong số 154 quốc gia hội viên chỉ có 3 nước bênh vực VN là Liên Xô, Tiệp Khắc và Cuba.

Việc CSVN bị cả thế giới cô lập trong những năm kế tiếp đã cho thấy tập đoàn Trung Nam Hải nói chung, cá nhân Đặng Tiểu Bình nói riêng, cao tay ấn hơn đám lãnh đạo hiếu chiến và đầy tham vọng ở Bắc Bộ Phủ rất nhiều!

* * *

Tới đây, chúng tôi xin được trở lại với câu hỏi ở đầu:

Tại sao vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi lực lượng hùng hậu gồm 120.000 quân Trung Cộng tiến vào lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, tướng Võ Nguyên Giáp vẫn không tăng cường các đơn vị chủ lực tới biên giới, nơi chỉ có bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, và các trung đoàn độc lập trấn giữ?

Việc Trung Cộng xua quân xâm lược Việt Nam vào tháng 2-1979, giới quan sát tình hình đều đoán trước.

Riêng tướng Võ Nguyên Giáp, trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng phải thấy rõ và thấy trước hơn ai hết. Lẽ ra, ngay sau khi cho quân xâm lược Căm-bốt vào tháng đầu tháng 1-1979 để lật đổ đàn em của Trung Cộng là Pol Pot, họ Võ đã phải chuẩn bị; hoặc muộn lắm là tới cuối tháng, khi Đặng Tiểu Bình trong chuyến thăm Mỹ đã không tiếc lời án Việt Nam xâm lược Căm-bốt và nói rằng “Trung quốc không thể tiếp tục khoanh tay nhìn Việt Nam gây rối loạn khắp nơi”, báo chí Mỹ tiên đoán sớm muộn cũng sẽ xảy ra một cuộc chiến giữa hai “anh em cộng sản”, ông ta đã phải lo dàn quân ở biên giới phía bắc.

Thế nhưng tờ mờ sáng 17-2-1979, khi 120.000 lính Trung Cộng tràn qua biên giới dài hơn 1.400 km của sáu tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng loạt tấn công 26 địa điểm, quân dân VN tại đây không hề biết trước. Dân chúng hoàn toàn không nhận được bất cứ thông báo nào để lo di tản; hậu quả là ông già bà lão, trẻ em, phụ nữ kể cả những người đang mang thai, đều bị bọn Tàu cộng man rợ phanh thây!

Những sự thật được phơi bày sau này cho thấy ngày ấy tình báo của Quân Đội Nhân Dân VN biết rất rõ, tuy nhiên Võ Nguyên Giáp đã quyết định… nướng dân!

Chúng tôi xin trình bày một cách chi tiết như sau:

Để cho đàn em CSVN “bài học thứ nhất”, Trung Cộng đã huy động một lực lượng gồm 300.000 quân, 550 chiến xa, 480 khẩu trọng pháo, 1.260 súng cối, súng phóng hỏa tiễn…, mà theo các giới quan sát tây phương, ít nhất Trung Cộng cũng phải mất từ 60 tới 90 ngày để đưa quân vào vị trí xuất phát các cuộc tấn công, thì chắc chắn tình báo Quân Đội Nhân Dân VN và Võ Nguyên Giáp phải biết.

Nhưng ngay từ đầu, họ Võ cứ đinh ninh (sai lầm một cách tại hại) sau khi vượt biên giới phía Bắc, Trung Cộng sẽ tiến đánh Hà Nội để trả đũa việc CSVN đánh chiếm Phnom Penh (Nam Vang) cho nên viên tướng này đã giữ lại năm sư đoàn chủ lực để lập “Phòng Tuyến Sông Cầu” (Bắc Ninh – Bắc Giang) với mục đích bảo vệ Hà Nội.

Vì thế 6 tỉnh biên giới phía Bắc bị bỏ ngỏ một cách tàn nhẫn, phải tự lực chiến đấu trong tuyệt vọng.

Thị trấn Cao Bằng sau cuộc chiến

Tới đây, chúng tôi xin độc giả tạm quên đi ý thức hệ, chính kiến, chiến tuyến, màu cờ, để có một cái nhìn thật khách quan về cuộc chiến chống quân Trung Cộng xâm lược ở 6 tỉnh phía Bắc năm 1979, từ đó phải cảm phục tinh thần chiến đấu của quân dân miền địa đầu, tương tự hiện nay không ít người cộng sản đã và đang ca tụng tinh thần chiến đấu dũng cảm và sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong trận Hoàng Sa (1974).

Lấy trận Đồng Đăng làm thí dụ điển hình:

Trọng điểm bảo vệ thị xã là pháo đài Đồng Đăng rất kiên cố xây từ thời Pháp, do 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Tây Sơn, Sư đoàn Sao Vàng, trấn giữ, vào sáng ngày 17-2-1979 đã bị một lực lượng Trung Cộng đông gấp 10 lần tấn công, gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn chiến xa, với sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh.

Dù không hề được chi viện, lực lượng phòng thủ cũng đã giữ vững pháo đài được 22 ngày đêm, trước khi hy sinh tới người lính cuối cùng. Sau này, người dân thị xã kể lại rằng: sau khi đã chiếm được khu vực bên ngoài pháo đài, quân Trung Cộng phát loa kêu gọi đối phương cố thủ bên trong ra đầu hàng, nhưng không có hiệu quả. Sau đó chúng cho chở chất nổ tới phá sập cửa chính, rồi dùng súng phun lửa, phun hơi độc, và quăng lưu đạn vào các lỗ thông hơi, giết tất cả mọi người ở bên trong pháo đài, trong số đó có các thương binh và dân chúng chạy vào lánh nạn, và cuối cùng sử dụng 10 tấn chất nổ biến pháo đài thành đống đá vụn.

Tàn tích của pháo đài Đồng Đăng

CSVN lúc đó có ít nhất 5 sư đoàn đang đóng quân ở miền Bắc, nếu Võ Nguyên Giáp cho lực lượng này tham chiến ngay từ đầu, chắc chắn tình thế, và thiệt hại của phía Việt Nam đã khác hẳn.

Điều mỉa mai khôi hài là tới ngày 5 tháng 3, khi CSVN ra lệnh tổng động viên, “nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại” đưa những sư đoàn chủ lực, chiến xa, pháo binh từ Căm-bốt trở về để chống quân Trung Quốc xâm lược, thì cũng là ngày Trung Cộng tuyên bố “đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang”, và ra lệnh rút quân!

“Phòng Tuyến Sông Cầu” để bảo vệ thủ đô Hà Nội trở nên trơ trẽn, chìm vào lãng quên. Nhưng vết thương chiến tranh ở sáu tỉnh biên giới phía Bắc sẽ không bao giờ lành: hai thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng bị hoàn toàn bình địa, 320/320 xã, 735/904 trường học, 428/430 bệnh viện, bệnh xá, 41/41 nông trường, 38/42 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80.000 mẫu tây hoa màu bị phá hủy, 400.000 gia súc bị giết hoặc bị cướp mang đi; khoảng phân nửa trong số 3.5 triệu dân bị mất toàn bộ nhà cửa, tài sản…, chưa kể một phần giang sơn gấm vóc đã bị Trung Cộng chiếm đoạt vĩnh viễn!

Cho nên cũng là điều dễ hiểu khi trong tất cả các bài ca tụng chiến công của “Napoléon Đỏ” Võ Nguyên Giáp, các tay bồi bút của chế độ CSVN đã không hề nhắc tới “chiến thắng Trung Quốc ở sáu tỉnh miền Bắc”, đồng thời trong danh sách “10 danh tướng bị đại bại dưới tay Võ đại tướng” cũng không thấy nêu tên Thượng tướng Dương Đắc Chí, viên tướng chỉ huy cuộc xâm lược này, về sau trở thanh Tham mưu trưởng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc!

(2) Sau khi bị đưa lên trại cải tạo Tống Lê Chân, tôi không còn nghe tin tức gì về thiếu tá Y và “bông hồng Suối Máu” nữa. Sau khi được thả về, vì không gặp lại một bạn tù Suối Máu nào, tôi cũng không có dịp khơi lại chuyện tình quốc – cộng ấy trong những buổi gặp gỡ bạn tù cũ.

Cho tới gần 30 năm sau…

Trong một buổi trà dư tửu hậu giữa anh em cựu quân nhân Không Quân VNCH định cư tại Úc, kể chuyện về thời gian tù cải tạo ở Suối Máu, khi tôi nhắc tới tên thiếu tá Y và cô con gái của trung tá công an Đào Lưỡng, một anh bạn cùng phi đoàn với thiếu tá Y đã kể lại đoạn kết như sau:

Ra khỏi trại Suối Máu, ông Y chung sống với H và H sinh một đứa con trai. Tới khi có chương trình HO, ông Y không làm đơn xin đi Mỹ mà ở lại với H.

Theo lời anh bạn phi công nói trên, trong anh em cùng phi đoàn có dư luận nói rằng đứa con trai H sanh ra không phải là con của ông Y, mà “tác giả” là một tay thiếu tá công an ở Suối Máu (tôi đoán có lẽ là Giám thị Bằng, người thay mặt Đào Lưỡng tại Suối Máu mà tôi đã nhắc tới trong phần viết về cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978).

Cũng theo dư luận trên, sau khi con gái có bầu với viên thiếu tá, trung tá Đào Lưỡng đã dụ thiếu tá Y nếu chịu “đổ vỏ” thì sẽ được thả sớm, và ông Y nhận lời.

Tuy nhiên, nếu quả thật đứa con trong bụng H không phải của thiếu tá Y, một câu hỏi phải được đặt ra: tại sao khi có chương trình HO ông không sang Hoa Kỳ đoàn tụ với vợ con (đã di tản vào tháng 4-1975)?

Vì ông thật lòng yêu (hoặc say mê) H nên chấp nhận làm kẻ “đổ vỏ”? Vì ông bị vợ con bên Mỹ “từ” sau khi ông lấy H? Vì ông đã “đăng ký kết hôn” với H nên nếu đi Mỹ phải mang H theo? Vì bị Đào Lưỡng tìm cách ngăn cản?…

Không ai có câu trả lời. Chỉ biết sau này ông Y làm công nhân cho một hãng xưởng hay xí nghiệp nào đó. Với anh em cùng phi đoàn còn ở Việt Nam, ông hạn chế liên lạc, gặp gỡ.

Cách đây hơn 10 năm, ông Y bị suy yếu sức khỏe trầm trọng, phải nghỉ việc, gia cảnh rất túng thiếu. Anh em cùng phi đoàn ở hải ngoại gom tiền, cử người đại diện trao tận tay ông. Người anh em này kể lại khi tới nhà có thấy thấp thoáng bóng một phụ nữ còn khá trẻ, có lẽ là “bông hồng Suối Máu” năm nào.

Mấy năm sau, thiếu tá Y qua đời. Gần đây, tôi đọc được ở đâu đó thấy có người viết rằng sau này trung tá công an Đào Lưỡng bị lột lon và bị ngồi tù về tội gì đó, không biết thực hư ra sao.

Nguyễn Hữu Thiện

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 28 May 2025

Có Một Ngày
Chu Tất Tiến

Có một ngày, tôi sẽ về
Thăm lại Cà Tum, Suối Máu
Thăm những con đường chúng tôi đã đắp năm xưa
Tôi muốn nâng niu
Những dấu chân đất sét hoang sơ
Sau cơn mưa rừng, tưởng rút lên không nổi

Tôi muốn xem lại
Những hố bom lầy lội
Nước đục ngầu như sữa, rong rêu
Đã là nơi anh em ngụp lặn mỗi chiều
Lao động vinh quang về, hú nhau xuống tắm .

Và những bụi măng
ta cám ơn ngươi nhiều lắm!
Đã cùng rau dền, quả bứa, trái cơm
Rau tầu bay, hay lá dang thơm
Cưu mang anh em ta, chờ ngày phục hận

Tôi sẽ đi thăm những gốc le đầy rận
Vắt tung bay, tanh tách, bám hơi người
Chỗ năm xưa, trải lá ngồi chơi
Ôm đầu gối tưởng như ôm em quằn quại
Mặc bên tai, bọn chăn trâu lải nhải
Hồn vẫn quay về một chốn xa xôi
Nơi em và con đang đổ mồ hôi
Những cặp mông mũm mĩm
những tiếng cười như ngọc.

Lá trên rừng – có đôi lần
Nhìn tôi bật khóc
Nước mắt căm hờn,lã chã
Rơi
Rơi

Tôi sẽ về thăm một chốn – rất vắng người
Chỗ gò mả – những Anh Hùng yên nghỉ
Những miếng ván, những tấm bia kỳ dị
Khắc bằng dao, chỉ mỗi một tên người
Họ nằm đây, thân lổ chổ tơi bời
Đầy vết đạn, vết xương rời gãy .

Tôi sẽ không cắm hoa
Bởi không vinh quang nào, họ thèm lấy
Tôi cũng không thắp nhang
Bởi khí phách đã huy hoàng
Tôi cũng chẳng cầu trời
Bởi họ là Thần lẫm liệt
Đất mẹ đón họ về, ngời ngời khí tiết

Và một điều, cần làm hơn hết
Là thăm quê hương tôi
Dãi chữ S nghèo nàn
Bốn ngàn năm từng vùng vẫy, ngang tàng
Sẽ còn trăm, ngàn, triệu năm
vùng vẫy, ngang tàng…

Chu Tất Tiến