Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Thời Xuân Thu bên Tàu, nước Việt bị nước Ngô đánh bại, vua nước Việt là Câu Tiễn bị vua nước Ngô là Ngô Phù Sai bắt làm tù binh, dẫn về Ngô, nhận đủ mọi sự nhục nhã.

Trong thời gian này Câu Tiễn nằm gai nếm mật không quên ý chí trả thù, chịu nhục để lấy lòng vua Ngô, nếm phân để chẩn bệnh khi vua Ngô lâm trọng bệnh. Sau ba năm “cải tạo”, Câu Tiễn được phóng thích cho về nước. Ông cùng với Phạm Lãi nuôi ý chí trả thù, dùng mỹ nhân kế dâng Tây Thi cho Ngô Phù Sai, giả vờ kêu mất mùa mượn thóc lúa của nước Ngô.

Năm sau, Phạm Lãi cho lệnh chọn mua thóc tốt để hoàn trả cho nước Ngô, nhưng trước khi trả, ngầm đem luộc tất cả mấy trăm nghìn hộc thóc này. Vua Ngô trúng kế, thấy thóc quá tốt đem cất vào kho. Năm ấy, lại chịu cảnh mất mùa, Ngô ra lệnh cho đem thóc tốt của nước Việt trả ra gieo. Kết quả là nước Ngô bị đói thê thảm, quân lính cũng như dân không có gạo mà ăn, trong khi Ngô Phù Sai đắm mê tửu sắc, nhờ đó, Câu Tiễn nước Việt, trả được mối thù xưa, đã đánh bại nước Ngô. Tất cả công lao này đều do Phạm Lãi, một mưu sĩ lừng danh lập kế cứu nước Việt. Vào thời Tề – Sở phân tranh thì có Tướng quốc Quản Trọng dùng mưu mà đánh bại nước Sở. Nguyên Tề Hoàn Công xưng bá Trung Nguyên, muốn chinh phục nước Sở. Quản Trọng hiến kế giúp vua Tề, sang Sở đi đâu cũng loan tin vua Tề rất quí hươu, đắt bao nhiêu cũng mua. Vua quan nước Sở lấy làm mừng vì cách đó mười năm, Vệ Ý Công vì yêu quý hạc cảnh mà mất nước, nay Tề Hoàn Công mê hươu tất phải đi theo vết xe đổ. Thương nhân nước Sở thấy lợi, nô nức đi buôn hươu, giá hươu từ ba đồng lên đến năm đồng một con, vài tháng sau lên đến bốn mươi đồng. Người nước Sở thấy giá hươu tương đương với nghìn cân thóc, vứt bỏ nông cụ, vào sâu trong rừng săn hươu.

Binh lính, sĩ quan nước Sở cũng bỏ huấn luyện, lén đổi vũ khí lấy dụng cụ để tìm săn hươu đem bán cho Tề. Năm ấy, Sở mất mùa nhưng tiền chất như núi. Quản Trọng phát lệnh cấm các nước chư hầu bán lương thực cho Sở. Quân dân nước Sở thiếu lương thực, người ngựa không còn đủ sức chiến đấu. Thấy thời cơ đã đến, Quản Trọng bèn cất quân đánh Sở. Đương nhiên Sở phải thua. Xem chuyện Tàu, thấy Tàu có rất nhiều mưu sĩ, có mưu thâm độc, nhiều khi không tốn một mũi tên mà phá được thành, thôn tính được cả một nước. Trong lịch sử, ngay cả sau khi thắng Tàu, Việt Nam cũng phải cầu hòa, thần phục để giữ yên bờ cõi.

Ngày nay, Việt Nam sống sát nách anh Tàu, một anh đàn anh dân đông, nước lớn, mưu kế thâm sâu, độc địa không bao giờ muốn cho em út ngẩng đầu lên hay tiến nhanh bằng mình và tìm mọi cách để chèn ép. Khi em út yếu thế, có thể đem quân cụ, lương thực và kể cả quan binh giúp đỡ, nhưng khi thấy đàn em xấc láo, trở mặt không ngần ngại mà cho nó một bài học như vụ CSVN tiến quân qua Kampuchia đánh Khờ Me đỏ. Sống với một anh Đại Hán, mưu sâu, gian ác, hiểm độc, theo như truyền thống của nước Tàu, Việt Nam vừa run mà vừa sợ, chưa bao giờ dám mạnh miệng lếu láo hoặc khoa trương thế lực.

Nông Đức Mạnh ngày nay muốn chơi với Mỹ, nhưng vẫn lấm lét sợ anh Tàu một mực. Còn anh Tàu thì luôn luôn tìm cách “chơi” em út sát ván, không chơi chuyện lớn được thì chơi chuyện nhỏ, rất tiểu nhân, không bao giờ có trò quân tử, nếu có thì nhân gian ta đã không gọi là “quân tử Tàu”. Trước hiệp định Genève và cả “đêm trước” trận Điện Biên Phủ, cố vấn, quân cụ, hàng hóa, thuốc men và cả hàng hóa tiêu dùng của Tàu đã đổ vào miền Bắc ồ ạt. Chuyên viên, công nhân, thương gia Tàu vào thời đó đã vào miền Bắc lên tới cả trăm nghìn người, vẫn được CSVN hô hào là độc lập tự do, trên đất nước không có bóng người ngoại bang. Rồi văn hóa, chữ nghĩa “các chú” tràn ngập, người Việt lệ thuộc vào Tàu một cách quái đản, như ngày nay còn rơi rớt lại với những danh từ trong thời đó, “rèn cán chỉnh cơ”, “tọa đàm”, “tự kiểm”, “phản tỉnh”, “nhất trí”, “nghiêm túc” …

Đau đớn nhất cho dân tộc Việt Nam là vụ đấu tố địa chủ do cố vấn Tàu chủ trương, phát động, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra đã giết chết hàng nghìn nông dân vô tội, trong khi hoàn cảnh của miền Bắc Việt Nam hoàn toàn khác xa với Tàu Cộng. Ngay Hồ Chí Minh cũng biết sai lầm mà không dám hé răng vì tình hình Bắc Việt lúc bấy giờ đã hoàn toàn lệ thuộc phương Bắc từ miếng cơm, manh áo đến súng đạn. Tàu Cộng với CSBV tuy gọi là huynh đệ nhưng vẫn “chơi cha”, ngay cả khi chiếm được miền Bắc, Bộ Chính Trị CS vẫn sang chầu Thiên Quốc mỗi năm, nhưng chẳng có ông lớn nào của Trung Quốc bước chân qua thăm đàn em. Ở Kampuchia, thời CSVN, chiếm đóng, cố vấn mưu sĩ Tàu lại chơi đòn ly gián cho “ta” và “bạn” giết nhau, để Hà Nội thịt rất nhiều người của Hunsen cho bõ ghét. Sau vụ này, Lê Đức Anh sang chầu, chỉ được tiếp kiến ở một tỉnh nhỏ mà không cho tới Bắc Kinh, làm cho đàn em bỉ mặt để trả thù …

Noi gương thời Xuân Thu, theo gương gian ác của ông cha trong vụ mua hươu và luộc lúa, mấy năm gần đây CSVN đã thôn tính miền Nam, Tàu Cộng cũng làm cho đàn em thất điên bát đảo, mắc mưu và chịu nhiều đòn khá đau. Trận chiến “ốc bưu vàng” là một thí dụ. Tàu tung tin ốc bưu vàng là thứ ốc quí, chẳng những nhậu ngon mà còn bổ dưỡng, nếu biết kinh doanh nuôi loại ốc này thì chẳng mấy chốc mà giàu có. Lẽ cố nhiên Tàu cũng chuồi qua đường biên giới loại ốc quí này cho nhân dân anh em làm vốn.

Cách đây khoảng mười năm quả nhiên ốc vàng sản xuất có lời, nhiều người trở nên giàu to và loại ốc này sinh sản quá nhanh, chẳng mấy chốc mà tràn lan khắp ruộng đồng, nhậu không làm sao hết, nhưng chính ốc vàng lại có khả năng “nhậu” lúa, làm tan hoang mùa màng. Những người có trách nhiệm về nông nghiệp không có đầu óc nhìn xa thấy rộng, bị đàn anh lừa mà không biết. Thấy đàn em còn khả năng xuất cảng gạo lúa (mặc dầu dân đang còn thiếu gạo ăn), nghe đâu đứng hạng nhì, hạng ba thế giới, Tàu Cộng mở chiến dịch ăn thịt mèo và thịt rắn nhập cảng từ Việt Nam qua với giá cao. Đây không phải là chiến dịch “mèo trắng, mèo đen mèo nào cũng là mèo” trong thời mở cửa thị trường của Đặng Tiểu Bình, mà là chiến dịch tiêu diệt mèo, diệt rắn để cho chuột lộng hành, phá hại mùa màng của Việt Nam.

Dân ta lại mắc mưu – kiểu bỏ tay cầy tay cấy đi bắt hươu thời Xuân Thu – đem mèo, đem rắn xuất cảng sang Trung Cộng để kiếm đồng tiền tốt, tưởng rằng các ông anh thích nhậu rắn, nhậu mèo, trong khi chuột lại hoành hành phá hại ruộng vườn của nông gia. Tàu Cộng một khi đã ra chiêu thì đàn em Việt Nam không làm sao đỡ nỗi, nói gì việc dùng mưu mà chọi lại.

Tàu Cộng trong mấy năm gần đây lại cho nhập cảng đủ loại hàng giả sang Việt Nam, từ các loại băng dĩa cho đến các thiết bị máy móc, hàng hóa tiêu dùng rẻ và tốt hơn hàng Việt Nam làm cho nền công nghiệp VN đi xuống thê thảm. Ở Việt Nam hiện nay mưa acid mỗi ngày một nhiều và nồng độ acid mỗi ngày một cao hơn, đến độ có thể làm chết cá ở ao hồ. Bà Nguyễn Kim Lan, Trung Tâm Khí Tượng Phía Nam VN đã nói rằng hiện tượng này phần lớn là do khí thải của các nhà máy lân bang (lân bang này có ai khác hơn là ông anh vĩ đại thân yêu ngày trước), và Việt Nam trở thành cái hố rác chứa chất thải, khí độc của Tàu. CSVN chưa bao giờ độc lập với đàn anh Trung Quốc, khi vui thì nói rằng thế đoàn kết keo sơn, núi liền núi, song liền sông, thế gắn bó như răng với miệng, nhưng lúc khác cũng coi nhau như thù địch là chuyện thường tình. Các nhà ly khai trong nước đã to cáo ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng ký thảo ước dâng hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng, đến nay nước Việt bị đoạt ít nhất là 11 nghìn cây số vuông đất biên giới, hải đảo.

Tình “huynh đệ như thủ túc” trong xã hội CS không ngang bằng mà lúc nào đàn anh cũng nắm phần hơn. Đàn anh Tàu Cộng hiếp đáp CSVN ra sao, thì CSVN đối với đàn em Kampuchia cũng như thế, đòi sang giải phóng con người ta rồi ở lại luôn nhà người suốt mười năm, với vai trò trịch thượng.

Anh Tàu vốn “đa mưu túc kế” hay tìm mưu mô làm hại, hay làm nhục người ta nhưng vừa rồi cũng bị cao thủ Nhật Bản chơi lại một vố đau khôn tả. Đó là một nhóm người Nhật lên đến vài trăm người sắp xếp một  chuyến du lịch sex với một công ty du lịch sang Trung Cộng, được cung cấp đầy đủ món hàng son phấn, mà cả chính quyền nước chủ nhà không hay biết gì cả, mồm vẫn bô bô là nước mình không có nạn mãi dâm. Trong khi Tàu chưa trả được mối nhục Nhật chiếm đóng và bắt gái Tàu phục vụ, thì con cháu thời nay của quân phiệt Nhật đã lanh chân trở lại làm nhục Tàu thêm lần nữa. Thôi thì “cao nhân tất hữu cao nhân trị”, quí vị Đại Hán tiên sinh chẳng đã nói như thế sao?

Với Bùi Giáng

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Thưa rằng xứ Huế bây giờ…

Cứ ngỡ đầu đường thương xó chợ…

Bùi Giáng (1926-1998)

1.

Thấm tê lạnh âm tiếng lời nhẹ hẫng 

Tận ruột gan lặng nghe khóc từ tim

Vẫn thấy đó giòng Sông Hương, Núi Ngự

Hở còn đâu xứ Huế (vẫn) bây giờ?

2.

Đừng có tưởng “đầu đường thương xó chợ”

Ai xót cho ai giữa vũng lửa đọa đày

“Ác đỏ” cào mòn từng tế bào bộ não

Buổi Sàigòn CHẾT ngặt một lần TÊN

3.

Tiến quân giải phóng Miền Nam

Nhai khoai lang thối thay và miếng cơm

Trường Gia Long, Đường Hiền Vương

Đổi tên mấy ả dạng hình khó thương  

4. 

Ông không điên (thật) mới hay

Mơ cô đóng kịch, sa đà mẫu thân (1)

Thật lòng nói nhỏ với nhau

Chỉ trò châu chấu, chuồn chuồn vậy chăng?

(1) Cách Bùi Giáng gọi Ni Sư Trí Hải/ Tôn Nữ Phùng Khánh (1938-2003)

5.

Chổi cùn, giẻ rách cưu mang

Đeo thêm khốn nhục thắt lòng Miền Nam

Tội thân ông trọn một đời

Tàn hơi gánh đủ Cõi Người trần gian (1)

(1) Cõi Người Ta bản dịch Terre des Hommes của Saint Exupéry (1900-1944) 

 6.

Cuộc tàn chẳng thiết làm chi

Quẩn quanh nhớ lão điên buồn ngày xưa

Muốn nhập cơn phải kiên tâm  

Tấm lòng sôi lửa kiệt cùng não nhân

 7.

Tới rồi! Đã tận cuộc thôi

Ông đi bước trước, tôi chờ buổi sau

Thế nầy ư… Như mây trôi

Nhìn lên chỉ thấy khoảng trời trống KHÔNG.

Phan Phi Danh

Cuối Tháng 8/2026

Bé

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Những lời viết trên đầu ngón tay

trong vũng tối hầm kiên giam…

Năm em tôi lên ba

 Đã chịu đời xa bố

 Mẹ tất tả héo mòn

 Nuôi con bao vất vả

 Đời thiếu nữ lớn lên

 Đắng cay thêm tủi hổ

 Áo vá bạc vai gầy

 Tuổi thơ sôi cuồng nộ

 Mẹ mất năm Mười Ba

 Thảm thiết sao kể xiết

 Gắng nuôi em từng ngày

 Khốn khó dài biền biệt

 Bạn học những tỵ hiềm

 Thầy, cô nặng trì siết

 Bé bỏng hiểu buồn phiền

 Buổi thanh xuân thua thiệt

  …

 Tôi gởi thân lính chiến

 Trôi nổi chốn trận tiền

  Em một mình côi cút

  Đâu được ngày đoàn viên?

  Mong phần sau lớn lên

  Tình duyên nên mãn nguyện

  Cầu em đời bình yên

  Quên khuất ngày uất nghẹn

  Nào đâu buổi sụp vỡ

  Cảnh nước mất tan nhà

  Lâm thân sơ, thất sở

  Vây quanh khổn mù sa

  Long Thành, chồng tập trung

  Anh tù gông lấm nhục

  Trên quê hương đọa đầy

  Hừng hực lửa địa ngục

  Bốn con thơ khốn cùng

  Sức người căng vượt sống

  Tư trang bán sạch dần

  Cây rừng khô lá rụng

 …         

  Tôi đi đày miền Bắc

  Nghiệt phần thân thậm ngặt

  Nhớ thương em dãi dầu

  Miền Nam xa bằng bặt

  Rừng núi trời vào Thu

 Tù vượt đồi đốn nứa

  Bên đường đèo nghỉ đỗ

  Nghe chuyện buồn thương tâm,

  “…Chồng cải tạo tập trung

   Vợ ở nhà chết thảm

   Bốn con nhỏ khốn cùng

   Quay quắt bên thây cứng.

   Những tưởng nghe nhầm tai

   Giật mình gào hỏi lại

   Ôi xiết bao kinh hãi

   Đúng tên chồng em gái!

   …

    Chuyện những “Đồi Hoa Sim” (1)

    Nay thêm lần lập lại

    Không chết người ngục tù

    Phận em nghiệt oan trái!

    Tôi bật khóc trên đồi

    Nhìn khoảng không vần vũ

    Có còn không… Đất Trời?!

    Mây mang mang kéo lũ

    Rừng chập chùng lá đổ

    Sương mù vây khói xanh

    Thật hay không đấy hở

    Tạo Hóa nghiệt cùng đành!

      Cháu tôi ai nuôi đây?

      Bé nhất chưa biết nói

      Chịu sao nổi đọa đày

      Chập trùng vây khổ đói 

      …    

      Năm năm ngày giỗ em

      Cấm phòng ngồi gục mặt

      Nhói đau trũng ngực nặng

      Em chết thật sao Khanh?

     (1) Đồi Hoa Sim: Chuyện Thơ của Hữu Loan (1916-2010),

     kể thân phận người nữ trong thời chiến.

    18-3-1983,

     Ngục tối Trại Lam Sơn

     Không biết ngày chết,

    Nhớ ngày Bé Khanh đã có trong đời (18/3/1947…?)

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Những tuần lễ sống ở Lae giúp tôi biết tôn kính giấc ngủ. Cuộc sống của chúng tôi trong căn cứ đơn điệu như một cuốn kinh: Ban ngày chúng tôi bay hay trực chiến bên cạnh phi cơ. Ban đêm, ước ao duy nhất là được chợp mắt. Khốn khổ làm sao là kẻ địch lại nghĩ khác. Vì gần như hàng đêm, máy bay địch lợi dụng bóng tối để thả từng chuỗi bom miểng và rưới từng tràn đạn lửa lên nóc doanh trại của chúng tôi.

Chúng tôi có thể nhịn ăn những món khoái khẩu hay sống chen chúc trong những túp lều ọp ẹp và ngay cả chấp nhận một phi đạo thô sơ, nhưng sẽ vượt quá sức chịu đựng nếu không cho chúng tôi ngủ. Các phi công Úc và Mỹ làm mọi thứ để bắt chúng tôi thức trắng đêm.

Tình trạng trở nên tệ hại đến mức nhiều phi công bỏ ra ngủ ngoài sân bay, trong những hố bom. Các cuộc không kích không ngừng nghỉ, những phi vụ liên tiếp và tiện nghi sa sút làm chúng tôi cáu kỉnh. Các sĩ quan đã phải làm gương sáng và khôn khéo tránh xảy ra va chạm giữa các phi công. Tôi tin rằng chính lề lối chỉ huy phi đoàn là yếu tố đáng phục nhất ở tiền đồn Lae, một ải địa đầu giữa rừng già.

Chỉ huy trưởng căn cứ, Ðại tá Masahisa Saito là một samurai đầy nhân phẩm và tiết chế. Một tư cách khác hẳn với những sĩ quan lục quân vây quanh Thủ tướng Hideki Tojo ở Ðông-Kinh. Ở bọn họ, niềm tự hào về đẳng cấp và sự tự phụ thể hiện với đầy tự mãn. Vừa trầm tĩnh, vừa có uy, Ðại tá Saito khiến cho tất cả các thuộc cấp đều muốn phụng sự. Mỗi khi máy bay địch không tập, đại tá luôn là người sau cùng vào hầm, sau khi các đồng đội của ông đã có nơi trú ẩn. Không cần nhấn mạnh là cung cách này đem đến cho ông một uy tín đáng kể! Với một phép màu khó giải thích, Ðại tá Saito đi qua hết chiến tranh không một vết trầy.

Nhưng vị sĩ quan nổi bật nhứt trong suốt binh nghiệp tôi đã gặp, chính là Ðại úy Junichi Sasai, là thượng cấp trực tiếp của tôi. Thời gian này Sasai chỉ huy phi đội khu trục sáng chói nhứt của Nhựt Bản. Dưới quyền Sasai là 4 cao thủ sát tinh lập chiến công nhiều nhứt: Nishizawa, Ota, Takatsuka và tôi. Tôi sẽ không nói quá khi quả quyết là tất cả những phi công thuộc quyền Sasai, đều sẵn sàng hy sinh để thế mạng cho phi đội trưởng trẻ tuổi của mình.

27 tuổi đời và còn độc thân, Sasai treo trên vách phòng của ông tấm chân dung vị anh hùng Yoshitsune, người chiến binh huyền thoại của tổ quốc. Không tuân thủ sự phân chia đẳng cấp bên trong Hải quân Hoàng gia, Sasai cũng không xem quân phục sĩ quan của mình là quan trọng hơn bất kỳ quần áo của binh sĩ nào. Chỉ là một tiểu tiết, nhưng nói lên rất nhiều đức tính của Sasai, đặc biệt trong khung cảnh của một truyền thống quân đội cứng rắn. Ngay khi vừa thuyên chuyển đến Lae, tôi đã vô cùng kinh ngạc chứng kiến những chăm sóc tận tâm và tỉ mỉ của Sasai cho sức khỏe và tình trạng của các phi công. Những quan tâm và hành động đó được ông thực hiện bất chấp giới luật của Bộ luật Ðẳng cấp Quân sự mà có lẽ là nghiêm ngặt nhứt trên thế giới. Theo giới luật này, mọi vi phạm, nếu thượng cấp cho rằng đã phạm lỗi, cấp dưới sẽ bị trừng trị thẳng tay, bằng đánh đập, thậm chí đánh chết. Ngay cả tại Lae, một căn cứ tiền tiêu giữa rừng rậm, quy định phân cấp vẫn còn hiệu lực. Không ai dám hình dung một chút vô lễ nào với sĩ quan.

Sasai, hiển nhiên nếu ông muốn, đã có thể tận dụng các đặc quyền của mình vì ông tốt nghiệp Hàn Lâm viện Hải quân danh tiếng Eta Jima, thánh đường của các học viện. Có thể các sĩ quan khác thầm trách thái độ khinh bạc của Sasai; tôi không bao giờ biết họ nghĩ gì, nhưng điều tôi kiểm chứng là Sasai thường xuyên khước từ tiện nghi của cư xá sĩ quan với vật dụng và giường chiếu tốt hơn, cũng không chật nêm cối, để xuống doanh trại của chúng tôi và chia sẻ thời gian của ông với chúng tôi trong nhiều giờ liền. Những hỏi han ân cần và chăm lo đó làm ấm lòng chúng tôi.

Từng tháng trôi qua, cường độ không chiến càng lúc càng gia tăng ác liệt trên không phận Lae. Cùng lúc việc tiếp tế sút giảm thảm hại. Và mặc dầu phi đoàn khu trục Zéro lập hết chiến tích này sang chiến tích khác, chúng tôi vẫn không thể chiếm lấy bầu trời của Ðồng Minh. Phi cơ đối phương càng lúc càng đông, phi công địch càng lúc càng xác quyết sự hung hăng của họ bằng cách nhào thẳng vào máy bay của chúng tôi, họ đang xây dựng một không lực tuyệt hảo. Khu trục cơ và oanh tạc cơ địch bay ngày đêm trên không trung, tấn kích không ngơi nghỉ các đoàn tàu của chúng tôi. Các tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ cũng đánh đắm nhiều thuyền Nhựt.

Kết quả của sự gia tăng hoạt động dồn dập của phía Ðồng Minh đã bắt buộc Bộ Chỉ Huy Nhựt Bản phải che giấu thuyền bè của mình vào ban ngày. Dĩ nhiên là các hải hành ban đêm không đủ cung ứng nhu vật liệu cùng phụ tùng cần thiết cho căn cứ Lae. Chúng tôi nhận tiếp tế càng lúc càng ít đi. Trong tình trạng bế tắc, Hải quân đành sử dụng tàu ngầm như một thứ dương vận hạm để tiếp vận. Chỉ là một phương cách tạm bợ, vì trọng tải của các tàu ngầm quá ít ỏi do chúng không được sáng chế cho công vụ chuyển vận quân lương này. Nhưng khi đói, đầu gối phải bò.

Sau cùng, chúng tôi nhận những gì tối cần thiết nhứt, đủ không chết đói và chiến đấu. Chút dư thừa được đong đếm kỹ càng cho đến hôm qua, cũng không còn nữa. Bia, Sakê và thuốc lá trở nên hiếm quý và rồi chỉ còn được ban phát như phần thưởng xứng đáng dành riêng cho những phi đội nào chiến thắng mà không hao hụt quân số!

Chúng tôi đặt cho Sasai biệt danh Ðại úy “Phi hổ”, chính vì ông luôn mang thắt lưng có khóa bạc mang hình một con hổ đang gầm. Cha của Sasai, một đại tá hải quân đã về hưu, đã cho đóng 3 dây thắt lưng với 3 mặt khóa giống nhau, một cho Sasai là con trai độc nhứt, và hai cho hai con rể là hai thiếu tá hải quân. Theo truyền thuyết xa xưa, hổ có thể rượt đuổi con mồi trên 1,800 cây số và luôn luôn trở về hang cũ. Là ý nghĩa mặt khóa bạc trên dây lưng của Sasai. Là phi công khu trục nhưng do thiếu kinh nghiệm trận mạc nên Sasai ghi ít bàn thắng trong suốt tháng 4 và đầu tháng 5. Vì vậy Nishizawa, Ota, Takatsuka và tôi quyết định giúp Sasai trở nên một sát tinh. Chúng tôi bỏ ra nhiều công khó truyền đạt cho Sasai những tinh diệu của chiến thuật không chiến. Trong doanh trại hạ sĩ quan, chúng tôi dành nhiều thời giờ giải thích cho Sasai những sai lầm nào nên tránh và cách thức khống chế đối phương.

Sasai gặp khó khăn tự định vị qua đồng hồ trắc-viễn-kế mỗi khi cho máy bay xoáy trôn ốc lúc không chiến. Nhiều bận chúng tôi cùng thực tập chung trên không để giúp Sasai khắc phục khuyết điểm này.

Ngày 12 tháng 5-1942, Sasai có cơ hội áp dụng những lời khuyên của chúng tôi trong giao chiến.

Chúng tôi bay gần pháo đài Moresby, trong một phi vụ tuần thám thông thường. Phi đội 15 chiếc Zéro, chia làm 5 toán hình tam giác, sáp đến gần 3 chiếc Airacobra đang cách chúng tôi 1 cây số rưỡi phía tay mặt và thấp hơn chúng tôi chừng 450 thước. Ðội hình hàng dọc cách nhau 200 thước của địch khá bất thường. Tôi lướt đến gần Sasai, ra dấu cho ông tấn công. Sasai gật đầu với nụ cười. Chúng tôi theo dõi máy bay của Sasai khi ông ngoặt gắt và đâm chúi. Cú đấm đầu của Sasai hoàn hảo. Ông lao xuống chiếc Airacobra sau chót vẫn không hay biết chi hết và bắn cháy nó với vài viên đại bác nhắm kỹ; chiếc P39 gẫy làm đôi. Sasai dựng thẳng chiếc Zéro sau cú đâm bổ ngoạn mục rồi lộn vòng vượt lên trên chiếc P39 thứ nhì từ bên trái. Khó tin là phi công địch vẫn cứ tiếp tục lối bay hàng dọc không thay đổi. Từ bên trên đối thủ 500 thước, Sasai nhào xuống lần nữa, lượn sang phải và tưới đại liên lên chiếc Airacobra từ đuôi đến đàng mũi. Chiếc P39 lắc lư dao động trước khi rơi vào một vòng xoáy rối loạn và nổ tung trên mặt đất. Viên phi công hẳn trúng đạn nên không thấy nhảy dù.

Sasai lập lại chiêu thức, nhưng lần này chiếc Airacobra thứ ba đã đề phòng cẩn mật. Ngay khi phi đội trưởng của chúng tôi đảo sang phải, mũi của chiếc P39 nhấc lên cấp thời, nhưng phi công địch đã chần chừ quá lâu. Hắn chỉ vừa khởi động là Sasai đã ghim ngập thân và cánh trái của chiếc P39 hàng tràng đạn. Cánh trái đứt lìa làm máy bay địch quay như bông vụ trong lúc rơi. Tôi khá ấn tượng với chiến thắng chớp nhoáng ấy. Bay bên cạnh, Nishizawa ném cho tôi một nụ cười thích thú rách đến mang tai.

Ba chiến thắng liên tiếp trong vài phút xác định Sasai là một sát tinh. Nhưng chưa là bài học duy nhứt trong ngày. Bài học tiếp theo mang tính chất khó khăn và dữ dội hơn rất nhiều. Trên đường về Lae, phi tuần của Sasai bay trước hợp đoàn của chúng tôi đến gần 3 cây số. Còn đang phấn kích với chiến tích huy hoàng vừa nãy của “Ðại úy Phi hổ” nên tôi không chú ý mấy đến khoảng cách này. Một sơ sót xém gây ra bi kịch khôn lường.

Trong lúc chúng tôi băng qua rặng núi Owen-Stanley thì một chiếc Airacobra đơn độc, từ trong một tảng mây dầy trên cao, bỗng vút ra như tên bắn và đâm thẳng xuống phi tuần dẫn đường của Sasai. Chưa bao giờ tôi thấy hối tiếc như hôm đó, là các máy bay của chúng tôi không được trang bị vô tuyến. Tôi không có cách nào báo động cho Sasai, và cho dù có xả hết tốc lực 550 cây số giờ, tôi cũng không bắt kịp chiếc P39. May mắn thay cho “Ðại úy Phi hổ”, thay vì tấn công trong lúc đâm bổ xuống trên đầu Sasai, viên phi công Mỹ lại lao xuống thấp hơn rồi mới quay ngược trở lên để bắn từ dưới bụng Sasai. Tôi chỉ còn cách 800 thước khi chiếc Airacobra hoàn tất thao tác cuối cùng. Tuyệt vọng vì bất lực, tôi nhấn cò đại bác, hy vọng tiếng nổ sẽ đánh động Sasai hoặc khiến phi công Mỹ nhận ra chúng tôi đông hơn mà bỏ cuộc. Phi công địch không đếm xỉa đến chúng tôi, nhưng Sasai nghe thấy tiếng súng của tôi, liền đảo vòng xoáy tức khắc với hai phi công bên cánh. Ðối phương hiểu ra tức thì chiếc bẫy đang ụp xuống. Ðến phiên hắn đánh vòng xoáy tìm cách bay lên cao. Nhưng tôi nắm thế thượng phong lúc này. Tôi đoán ngay khi chấm dứt vòng xoáy, kẻ địch sẽ phải chúi xuống vì tôi đã chặn đường lên của hắn. Tôi đánh vòng cung thật ngặt và lao dốc để vồ lấy khi hắn thoát ra. Nhưng hắn đã nhìn ra, hắn nhảy xổ ngay sang trái và đâm bổ hết tốc lực để tháo chạy. Nhưng rặng núi chắn ngang trước mặt làm hắn phải nhanh chóng vượt lên cao trở lại.

Một phi công thao lược tài tình, vì hắn bay sát rạt vách núi, không ngớt đảo lượn liên tục để tránh những mỏm đá vào phút cuối cùng. Tôi đuổi theo sát, thâu ngắn khoảng cách bằng cách cắt thẳng góc vào đường bay của hắn mỗi bận hắn đổi hướng. Hắn xoay chuyển liên tiếp tìm cách thoát, nhưng mỗi lần đều chạm trán một chiếc Zéro. Các đồng đội của tôi sắm vai phi công bên cánh tuyệt hảo. Chiếc Airacobra đã sập bẫy. Viên phi công Hoa Kỳ không còn cách nào khác hơn là tử chiến. Không chạy trốn, hắn nhắm bắn chúng tôi từng lúc. Tôi thu ngắn thêm khoảng cách, cho đến lúc chỉ còn cách 150 thước, tôi khai hỏa từng loạt đại liên ngắn nhưng chính xác. Cách 50 thước thì khói đen túa ra từ đầu máy và chiếc Airacobra đâm xuống vực. Ðám cháy đen nghịt.

Sau khi đáp xuống căn cứ Lae, Sasai tiến đến phi cơ của tôi, gương mặt ông biểu hiện ăn năn. Ông biết ông đã thiếu cẩn thận. Tôi giữ im lặng trong lúc các cơ khí viên trố mắt nhìn lỗ chỗ dấu đạn trên cánh máy bay của tôi. Thượng cấp của tôi ngập ngừng cám ơn. Bất thình lình ông chú ý đến các lỗ thủng chi chít như một bầy sao. Ngay lập tức, ông xem xét chúng, ông ngó đăm đăm rồi quay đi không thêm một lời.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Sáng Thứ Bảy ở Việt Nam tức chiều Thứ Sáu 21-10-2005 ở Santa Ana, tôi được điện thoại của người em dâu ở Mỹ báo tin: Phạm Huấn vừa “về với Chúa”.

Từ mấy năm nay bạn bè đã cho tôi biết về bệnh tình Phạm Huấn. Anh nằm tại “nhà an dưỡng” ở San Jose trong tình trạng rất đáng buồn. Các bạn tôi không ai không mủi lòng. Trong thời gian đó tôi chỉ được coi một tấm hình anh ngồi ngơ ngẩn trên hàng ghế đầu khi trình làng tập thơ của Hoàng Anh Tuấn ngay trong căn phòng khách của “nhà an dưỡng”. Tôi không thể hình dung con người đẹp trai, hào hoa phong nhã ngày nào, bây giờ… “thảm” đến thế. Chứng bệnh mất trí nhớ hành hạ anh và cả các người thân của anh thường có mặt bên giường bệnh.

Phạm Huấn Chỉ Đóng Một Phim Duy Nhất

Hình ảnh hôm nay, khiến tôi càng nhớ tới khi anh đóng phim Ngàn Năm Mây Bay do Thái Lai sản xuất dựa trên một truyện dài của tôi xuất bản năm 1962. Anh chỉ đóng cuốn phim duy nhất này, giống như một cuộc vui chơi. Sau đó, có người mời đóng phim, anh đều từ chối.

Ngay trong phim Chân Trời Tím, tôi gợi ý anh vào vai một sĩ quan bảnh bao, học giỏi, con nhà giàu bên cạnh vai chính Hùng Cường và Kim Vui, nhưng anh lắc đầu: “Tao thấy nhân vật đó hơi… kỳ”. Rồi vai nào anh cũng chê, dù đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc đôi khi rủ rê anh “đóng một vai cho vui” – cũng như Hoàng Vĩnh Lộc từng rủ rê Duyên Anh đóng vai bệnh nhân tại một bệnh viện và Hà Huyền Chi vào vai “người vác quan tài” trong phim Người Tình Không Chân Dung. Gọi là đóng phim chơi cho vui, có tên tuổi của những nhà văn, nhà báo cho thêm xôm tụ.

Trong phạm vi đứng đắn của một tác phẩm, vẫn có những “trò nghịch ngầm”, vui chơi của anh chị em nghệ sĩ mà chắc khán giả cũng biết.

Nhưng nếu có ai gọi Phạm Huấn là tài tử, anh cho là người ta “chọc giận” mình.

Bởi theo tôi, anh thích là một phóng viên chiến trường, một nhà văn, hơn bất cứ thứ gì khác. Đời trai trẻ của Phạm Huấn sôi nổi nhưng không “giang hồ đến cả hoa kia cỏ này” như bạn già Phan Nghị. Một ngày của anh là công việc và lãng du, tình yêu và quân ngũ, những thứ gắn liền nhau như từ trong máu.

Tôi không nhớ rõ chúng tôi quen nhau từ năm nào, nhưng gặp nhau là thân ngay cũng gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng từ 30 năm nay, tôi không một lần gặp lại Phạm Huấn. Nhớ lại lần đầu gặp anh, khoảng đầu thập niên 60, khi anh về phục vụ Phòng Báo Chí, Cục Tâm Lý Chiến. Khi ấy anh vừa từ giã chức đại đội trưởng Ðại Ðội Văn Nghệ

Vùng 1, đồn trú ở Quảng Ngãi. Có lẽ vì yêu cuộc đời phóng viên nên anh xin về làm báo quân đội.

Anh nói với tôi: “Sẵn sàng đi bất cứ chiến trường nào, chứ không muốn ngồi bàn giấy làm biên tập viên”.


Nhà báo Phạm Huấn tại Hạ Lào năm 1971.

Cuộc Đời Phóng Viên Chiến Trường

Ngay thời gian đầu còn đang “học việc”, anh đã tỏ ra xông xáo và mộng ước là được đi học nhảy dù để khi cần có thể nhảy xuống những chiến trường sôi động trong lửa đạn, cũng như Dương Phục và một số những anh phóng viên trẻ khác đang muốn nâng cao tay nghề của mình. Trên hết vẫn phải nói đến ý chí của họ, là một người lính sống chết với chiến trường như các chiến binh ngoài trận tuyến. Một lần nữa Phạm Huấn hoàn thành được tâm nguyện. Từ đó anh thường đi cùng một ê-kíp phóng viên có mặt ở hầu hết chiến trường miền Nam. Một ê-kíp phóng viên Quân Ðội thường có đủ mặt: phóng viên nhiếp ảnh, phóng viên quay phim truyền hình, phóng viên báo chí, phóng viên phát thanh. Anh nào có cấp bậc lớn hơn làm trưởng toán, bất kể anh ở chuyên môn nào.

Những năm sau này, chiến trường trải rộng ở khắp các quân khu nên chúng tôi phải lập nhiều toán thường trực mà không thể đáp ứng hết nhu cầu. Thế nên có các phóng viên vừa ở Quảng Trị về đã phải khăn gói lên ngay Pleiku, Kontum, hoặc chui vào Bình Long… Hầu như họ không còn ngày nghỉ, nhất là mỗi lần đi công tác đều thiếu tiền. Theo nguyên tắc hồi đó, để tiết kiệm ngân sách và cũng để phòng ngừa sự lợi dụng có thể xảy ra, quân đội chỉ cho lãnh công tác phí tối đa 15 ngày trong một tháng, dù anh đi công tác cả tháng. Ðiều đó tất nhiên gây thiệt thòi cho những phóng viên suốt tháng lăn lộn khắp “bốn vùng chiến thuật”. Tôi nhắc lại điều này để thấy chúng ta đã phải tiết kiệm ra sao và sự ngăn ngừa tệ nạn “tiêu cực” ráo riết mức nào. Không phải cứ ở trong quân đội là đầy đủ như một số người đã tưởng tượng.

Mỗi lần đi công tác là một lần lo tiền, có các phóng viên phải vay cào vay cấu vài ba chục ngàn làm tiền lộ phí. Ngay cả cái xe ra phi trường, đôi khi cũng không có, nhờ bạn đèo xe gắn máy hoặc vẫy taxi đi cho kịp giờ. Ðến đơn vị nào rảnh rỗi thì có thể được ăn cùng ở cùng, nhưng nếu gặp khi đơn vị nằm ở bìa rừng trong vòng trận mạc thì… ráng tự xoay xở. Anh trưởng toán lại lo sốt vó. Điện thoại về cho “trung ương” cũng chưa chắc đã lo nổi, có khi còn bị móc ngay vào một việc khác: “Nhà hết phóng viên rồi, nhân tiện các anh ở Huế, đi luôn vào Quảng Ngãi làm phóng sự ở quận… vừa có tin nóng bỏng”. Thế là lại bay vào Quảng Ngãi và còn “tiện thể” đi những đâu nữa thì “hạ hồi phân giải”. Miễn là mỗi buổi tối có một bài tường thuật cho phòng tin tức.

Phải cố gắng lắm, chúng tôi mới kiếm ra một chút ngân quỹ “đền bù” cho thiệt thòi của các anh phóng viên trẻ “rách hơn cái mền rách”. Nói theo chữ nghĩa bây giờ ở đây là “bồi dưỡng” đúng nghĩa, chứ không phải “bồi dưỡng” theo kiểu hối lộ, chia chác hàng triệu đô-la. Tuy vậy số tiền bồi dưỡng chỉ có sau khi đi công tác về và với giới hạn nhất định, mỗi anh cầm tạm vài chục ngàn, chỉ bằng tiền vài bữa cơm ngoài quán “Bà Cả Ðọi”.

Anh Chàng Đào Hoa Quá Khiến Con Gái… Sợ

Sau những giây phút căng thẳng đó, Phạm Huấn lại trở về với Sài Gòn và “rũ áo phong trần, khoác áo hào hoa”. Nhìn anh lúc đó chẳng khác một thư sinh công tử, không ai nghĩ anh là phóng viên chiến trường vừa thoát chết trên Ðại Lộ Kinh Hoàng cùng với Vũ Thanh Thủy, Dương Phục.

Phạm Huấn và tôi có quá nhiều kỷ niệm những năm tháng này. Từ công việc tại mấy tờ báo Quân Ðội đến cuộc sống ngoài đời. Chiếc xe Taurus 15 như con trâu già của tôi đã được Phạm Huấn lái đi chơi cùng khá nhiều người đẹp.

Trẻ tuổi, đẹp trai, độc thân, đấu ngọt như mía lùi, chơi mạt chược xuất sắc, nên luôn vây quanh Huấn là những người đẹp. Tất nhiên đi chơi với Huấn thì phải chấp nhận phần thiệt vẫn về tôi.

Có vài ca sĩ loại “sao đang lên” của Sài Gòn lúc ấy đã từng là “bạn gái” của Huấn. Tôi xin phép không kể tên vì tôn trọng cuộc sống của từng người hiện còn đang ở đây hay ở nước ngoài. Tôi dùng chữ “bạn gái” vì thật ra đối với Huấn và ngay cả những người đẹp đó, dường như chỉ là một tình cảm đậm đà trên mức bình thường một chút. Câu mà Huấn thường đùa cợt với bạn bè là “vương vấn, vẩn vơ, vật vờ” cho lên hương cuộc đời. Cũng đẹp lắm chứ. Có thể hiểu được tâm trạng của những người đẹp khá nổi danh này.

Thích đấy, vui đấy nhưng lại sợ. Một anh chàng hào hoa và đào hoa quá thường làm các cô gái e dè, “phòng thủ cẩn mật” hơn là đối với những vị thương gia thường tỏ ra hiền lành, dễ thương và dễ bảo hơn. Phạm Huấn cũng thế, đối với người nổi tiếng, anh “chờn vờn” chứ không thể hay không dám “đặt cược cuộc đời lâu dài” mình vào đấy.

Một Ngoại Lệ

Nhưng có một người đẹp nữ sinh được mệnh danh là “hoa khôi Gia Long” thì khá nặng tình với anh chàng phóng viên hào hoa và đào hoa này. Không biết bao nhiêu lần, chiếc xe của tôi đã đưa hai người đi trên “xa lộ không đèn”. Và chẳng lần nào Huấn quên kể cho tôi nghe về những chuyện xảy ra. Chuyện của họ vẫn ở trong vòng lễ giáo và cho tôi cảm tưởng như họ có thiện chí muốn “xây dựng cùng nhau”.

Hoa khôi Gia Long cũng không hề giấu giếm tôi về những điều này. Bởi hoa khôi quen biết tôi từ trước khi Phạm Huấn về làm ở Cục Tâm Lý Chiến. Cô hay vào phòng báo chí như một độc giả, một “người em gái hậu phương” gửi tâm tình ra tiền tuyến. Cô cũng viết vài ba bài cho báo Quân Đội quanh các đề tài “thời thượng” đó.

Sau này, khi Phạm Huấn không còn ở bên cô nữa, cô thường có những bài thơ đăng rải rác trên vài tờ tuần báo ở Sài Gòn, nhất là ở tờ Văn Nghệ Tiền Phong. Không ngần ngại, cô gọi thẳng tên “H. ơi, còn nhớ ngày nào…”

Sau năm 75, tại Sài Gòn, tôi lại có dịp gặp lại hoa khôi Gia Long. Lúc này đã con cái đùm đề, song vẫn còn đẹp. Không nhắc tới chuyện cũ, nhưng qua ánh mắt, lại thấy đầy đủ hình ảnh người xưa. Dường như người em trai của cô sắp đặt buổi gặp gỡ này cũng chỉ vì điều ấy.

Tao Lấy Vợ!

Ðó là những ngày cậu trai trẻ Phạm Huấn khởi nghiệp làm phóng viên và cũng bắt đầu viết văn. Anh có nhiều phóng sự và truyện ngắn đăng trên các báo. Rồi đến khi có một khóa học về báo chí ở Mỹ, Huấn mải đi làm phóng sự không có tên theo học. Anh về đến phòng, biết được tin này, anh lao lên phòng cục trưởng Tâm Lý Chiến xin vào gặp. Hồi đó là thiếu tướng Trần Tử Oai, một vị tướng khét tiếng nghiêm khắc từ thời còn làm Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Chánh văn phòng không dám đường đột cho vào, Huấn đạp cửa vào và thản nhiên trình bày ý muốn được đi học lớp này. Không hiểu sao, tướng Trần Tử Oai lại “chịu đèn” anh chàng phóng viên ngang ngạnh này. Sau vài câu hỏi, ông ký giấy ngay cho Huấn đi học Mỹ. Việc đó khiến cả phòng báo chí chúng tôi ngạc nhiên.

Tôi không còn nhớ rõ khóa học sẽ kéo dài trong bao lâu, nhưng có một điều tôi nhớ rất rõ là sau khóa học về đến Sài Gòn, Huấn tuyên bố với anh em trong phòng “tao lấy vợ”. Và anh kể lại giai thoại anh gặp cô bé xinh xinh, đeo kính cận đang theo học ở Mỹ như thế nào. Giản dị đến không ngờ, họ chơi bài với nhau cho qua thì giờ rồi yêu nhau lúc nào không biết. Chàng về nước trước, nàng xin phép gia đình về sau. Ðám cưới của hai người, tôi không dự được vì theo học lớp tham mưu ở Ðà Lạt. Tôi gặp họ trong tuần trăng mật ở một ngôi biệt thự rất đẹp ở cuối con đường lối vào Trường Chỉ Huy Tham Mưu.

Kể từ đó, gia đình Phạm Huấn với tôi càng thân hơn. Những năm sau, không tuần nào chúng tôi không ngồi xoa với nhau cho đến những ngày cuối tháng 4-1975.

Nhà tôi chỉ có một bàn xoa mạt chược mà bạn bè thì quá đông, nên anh nào cũng phải nhanh chân đến đúng giờ. Ðiệp, Tuấn, Thủy, Phong, Tài, Hiến, Lệ Thu, Nguyễn Đình Toàn, Hồng Dương là những chân thường trực. Về khuya thì đôi khi các ông đi chơi chán mới kéo đến.

Hùng Sùi, Hoan Sứt… ngồi một đống, đấu láo tưng bừng. Các ông này quen chơi lớn, coi bàn chúng tôi là loại “còm”, ăn thua vài ba ngàn, nên chỉ đến “chầu rìa, hút thuốc vặt”, xem mấy tay mơ đánh loạng quạng cho đỡ buồn. Thỉnh thoảng Phạm Huấn cũng đến, nhưng chỉ với mục đích ngồi coi ké Ðiệp Đui vui chơi.

Một Phóng Sự Để Đời

Khi tôi chuyển sang phục vụ ở Ðài Quân Ðội, Huấn vẫn ở lại Phòng Báo Chí. Một thời anh làm tờ Diều Hâu cùng Nguyễn Ðạt Thịnh, chúng tôi quá bận rộn nên ít có thì giờ gặp nhau. Vài năm sau, Huấn sang làm ở Ủy Ban Quân Sự 4 Bên ở Tân Sơn Nhất. Thời gian đó, khoảng tháng 2-1973, Phạm Huấn cùng Phan Nhật Nam, Dương Phục đi theo phái đoàn ra Hà Nội làm phóng sự trao trả tù binh đợt 2 diễn ra tại phi trường Gia Lâm. Thời chiến tranh đó, Hà Nội đối với người miền Nam hoàn toàn xa lạ, nên được dịp ra Hà Nội là chuyện hầu như không thể xảy ra. Tất nhiên tôi phải đón sẵn Huấn để “vồ” về làm tường thuật trực tiếp trên Ðài Quân Ðội. Nhân tối đó có chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ đang thu thanh, Phạm Huấn tường thuật toàn bộ chuyến đi Hà Nội ngay trong chương trình này.

Một phóng sự rất đặc sắc được thính giả đón nhận nồng nhiệt khiến chúng tôi phải phát lại vài ba lần nữa. Ngay sau đó cuốn sách Một Ngày Tại Hà Nội (1973) của Phạm Huấn được xuất bản kèm theo các hình ảnh sống động mà trên làn sóng điện phát thanh không thể có được. Ðó là cuốn sách đầu tay của “nhà báo Phạm Huấn” và là cuốn sách duy nhất mà tôi được đọc. Sau này anh sang định cư ở Mỹ viết thêm những cuốn khác rất tiếc tôi không có để đọc như Triệt Thoái Cao Nguyên (1987), Những Trận Đánh Lớn Trước Khi Mất Miền Nam (1988), Ðiện Biên Phủ 54 – Ban Mê Thuột 75 (1988), Trận Hạ Lào (1990).

Một Người Đáng Được Bạn Bè Tri Ân

Năm sau cùng trong quân ngũ, Phạm Huấn lại nổi máu giang hồ, lên Pleiku làm sĩ quan báo chí Quân Đoàn 2. Anh đi cùng tướng Phú đến giờ phút cuối cùng. Anh điện thoại cho tôi khi “rút” về Nha Trang, diễn tả cảnh “loạn lạc hoang tàn” của thành phố này khi mọi người rời bỏ nó ra đi. Vài ngày sau, anh mới về đến Sài Gòn, khi gia đình anh đã theo tàu ra Phú Quốc. Anh tất tả vào gặp tôi ở Ðài Quân Ðội rồi lắc đầu:

“Tao cuốn gói”.

Anh ra đi lúc nào và bằng cách gì, tôi không biết. Cuộc sống sau này bên xứ người ra sao tôi cũng chỉ biết rất lơ mơ. Ðiều làm tôi ngạc nhiên chính là sự tan vỡ của gia đình anh. Cho đến khi Phạm Hùng trở lại Việt Nam cùng Phạm Long đến thăm, tôi mới tin đó là sự thật. Nhưng mọi chuyện cũ qua rồi, những vết thương rồi sẽ lành. Khi biết tin anh nằm ở bệnh viện, bên anh có chị Hà chăm sóc tận tình, tôi thành thật mừng cho anh. Có lẽ người chịu đựng với anh nhiều nhất trong những ngày tháng vừa qua chính là chị. Ít có người phụ nữ nào chịu đựng giỏi như thế. Tôi chưa quen chị, nhưng là bạn bè của Huấn, tôi phải tri ân một người phụ nữ như chị. Nhiều người bạn Phạm Huấn cũng kể với tôi điều này và bây giờ chắc họ cũng muốn nói với chị Hà như vậy.

Từ hôm được tin Phạm Huấn ra đi (1937-2005) đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều thư từ, điện thoại của các bạn ở khắp nơi. Trong số đó, tôi nhận được e-mail của Ðiệp báo tin vừa sang San Jose và cậu trưởng nam Phạm Huy Phong cũng có mặt từ trước hôm anh ra đi.

Gia đình Phạm Hậu, người anh cả của anh, đã hai lần phải đổi vé máy bay vì cứ tưởng anh đi sớm hơn nữa. Cuộc chơi của người phóng viên quân đội đến bây giờ mới kết thúc trong nỗi nhớ thương của mọi người.

Nhưng với 5 tác phẩm của anh để lại, thế hệ sau này sẽ có dịp nhìn được rõ hơn những điều sống động, xác thật đã và đang xảy ra trong lịch sử dân tộc mình. Làm được điều này, cuộc sống của anh đã thật sự có ý nghĩa.

Không phải ai cũng làm được như thế.

Người phóng viên chiến trường năm xưa đã ra đi, nhưng những gì để lại vẫn còn sống mãi.

(Sài Gòn 24-10-2005)

Chiều cuối năm nhớ mắm

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Phú Tâm còn có tên là Phú Nổ hoặc Vũng Thơm là một xã đất giồng miệt Sóc Trăng trù phú, nơi ngườTiều, người Khmer, người Việt đã và đang sống chan hòa với nhau hằng cả trăm năm. Vũng Thơm nổi tiếng với lạp xưởng và mè bán không những chỉ trong nước mà còn bán qua tới tận Hương Cảng.

Độ ấy, đầu tháng Ba, năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ, xe đò hãng Phi Long chở đồng bào mình chạy giặc xuống tạm cư tại trường Trung Học xã Phú Tâm, cách ngã ba An Trạch trên quốc lộ 4 chừng 9, 10 cây số.

Cũng tại trại tạm cư nầy, tui được may mắn đứng từ xa nhưng vẫn thấy mặt được một người anh hùng của QLVNCH là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lịnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam mặc đồ trận, dây ba chạc, đội nón sắt, đeo súng Colt 45 được Đại Tá Liêu Quang Nghĩa, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Ba Xuyên tháp tùng, đi ủy lạo đồng bào tỵ nạn CS.

Khi Tướng Nam và Đại Tá Nghĩa rời trại tạm cư lên xe Jeep trở lại Sóc Trăng, tui lại bận túi bụi phụ tiếp các sư sải Khmer phát bánh mì, sữa hộp hiệu Kim Cương cho bà con mình xong thì tới phiên mình đói bụng.

Dẫu chỉ là một giáo làng làng nhàng nhưng tui cũng được ông Trung Úy Trưởng Ban 5 Chi Khu Kế Sách cho dựa hơi đi ăn ké thịt bò nhúng giấm chấm mắm bò hóc do một xì thẩu, thân hào, nhân sĩ ở chợ Phú Tâm thết đãi!

Prahok chow là mắm bò hóc sống làm bằng cá trê trắng, sền sệt màu đất sét với sả, ớt vắt thêm nước chanh để làm nước chấm, được người Khmer dùng đãi khách quý đến nhà. Cầm đũa nhúng miếng thịt bò vào cái nồi nhỏ đựng giấm đang sôi, tui tính đưa ngay vô miệng vì đói bụng quá Trời rồi; thì ông Trung Úy ngăn lại, kêu chấm vô cái nầy đã. Chưa thử lần nào, tui hơi ớn. 

Úy trời đất ơi! Nó ngon thấu trời đi. Ngon đến nỗi gần 48 năm rồi, đêm nay quê người, tui cũng còn thấy nó phau trong miệng!

Do đó có một bậc thức giả vin vào câu nói: “Đến nhà qua chơi, có mắm ăn mắm có muối ăn muối, em đừng ngại!” là một cách nói khiêm cung, chứng tỏ lòng hiếu khách của người dân Lục Tỉnh Nam Kỳ. Giờ thì tui lại hiểu rằng: Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối; một câu có hai vế đối nhau chan chát, tức là có món ngon cũng xin mời cầm đũa; mà chỉ muối hột cũng xin chớ có chối từ! Nghĩa là mời khách ăn mắm là quý lắm đó nhe. Mắm cũng chứng minh được miệt Lục Tỉnh Nam Kỳ, thiên nhiên giàu có hào phóng cho cá dưới sông hay trên đồng, trong lung, đìa, bào nhiều đến nỗi bà con cô bác mình ăn không hết mới làm mắm phải không nào?

Như vậy xin đừng võ đoán là nghèo mới ăn mắm nhe quý anh!

Úc nầy cũng vậy. Đến nhà ai, thấy nhà to chưa chắc họ đã giàu. Vì có thể nhà chưa trả xong. Chạy Mercedes, chưa chắc họ đã là giàu, vì tiền nợ xe có thể chưa trả hết. Muốn biết giàu hay nghèo chỉ cần mở cửa cái tủ lạnh ra… Nếu nó đầy nhóc; thì chắc chắn chủ nhà giàu rồi hè. Riêng nhà tui là độc nhứt vô nhị, là không giống ai. Tủ lạnh luôn đầy nhóc vì khi siêu thị giảm giá, em yêu ham rẻ, rinh kình kình về, chất đầy một tủ! Tiết kiệm được đồng nào hay đồng nấy mà.

Xin cám ơn em yêu, người phụ nữ Việt Nam quá xá đảm đang; đã ghi thêm tên anh vào danh sách của những người Úc sắp bị bịnh béo phì!

***

Muốn làm mắm, cá phải làm sạch, cho cá thật khô rồi mới muối, đựng trong mái vú hay khạp da bò! Xong gài bằng những tấm vỉ tre và dằn lên những cục đá xanh để ép con cá muối nằm sát lại. Muối từ hai đến ba tháng! Xong rang gạo lức cho chín vàng, xay nhuyễn ra làm thính, rắc vào cho mắm nó thơm. Cuối cùng là chao mắm. Đường chảy thắng kẹo lên, trộn đều vào làm cho vị mắm dịu lại. Sau vài tháng là mắm bắt đầu ăn được. Tùy theo loại cá, ta có mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá rô đồng, mắm cá trèn, mắm cá linh, mắm cá thác lác, mắm cá chốt…

Mắm kho chỉ cần nửa ký lô mắm sặc, cho vô nồi nấu với hai lít nước lã để thịt con mắm rã ra. Lấy cái rây lược bỏ hết xương cá, nêm thêm bột ngọt, muối, đường gốc sả đập hơi giập cột lại thành một nắm. Chờ nồi mắm sôi lên, cà tím cắt khúc dài chừng ba, bốn phân, chẻ đứng, thả vài khứa cá ba sa vào (cá ba sa là nhứt hạng), thêm vài lát thịt ba rọi xắt nhỏ. Nhắc nồi xuống rưới nước mỡ tỏi phi lên mặt. Nồi mắm thơm phức quyết liệt tấn công vào khứu giác ai mà không ứa nước miếng cho được chớ? Mùa gió chướng, sa mưa giông, người ơn ớn lạnh; khỏi cần aspirin, chỉ cần em yêu chơi cho một nồi mắm kho là giải cảm.

Ông bà mình đã dạy: “Đói ăn rau! Đau uống thuốc!”

Món mắm kho là tổng hợp các vị thuốc Trời cho như rau càng cua, rau đắng, cải trời, rau má, rau muống chẻ, rau diệu, rau mát, rau muống, rau ngổ, rau dền, cải trời; lá lốt, lá chùm ruột, lá vông nem, bông bí rợ, bông so đũa, bông lục bình, bông điên điển; đọt bầu, đọt bí rợ, đọt bí đao, đọt mướp, có đầy dẫy trong vườn hay ngoài ruộng. Nhưng có ba loại không thể nào thiếu cho được! Đó là rau ngổ, cọng bông súng và hẹ ruộng. Rau ngổ mọc dưới ao, ruộng, đìa, láng ngập xăm xắp nước ở Miền Tây mới có. Thân rỗng giống rau muống, lá nhỏ và dài giống lá rau răm nhưng có răng cưa xung quanh. Vị đắng nhẫn nhẫn, dai dai giòn giòn. Khi ăn chỉ lấy phần cọng rau, tuốt bỏ hết lá đi.

Ca dao cũng có câu: “Muốn ăn bông súng mắm kho/ Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm!”

Mắm kho không thể nào thiếu cọng bông súng cho được. Cọng bông súng khi tước vỏ rất giòn dễ gãy, dùng dao tước mỏng, rồi chỉ cần bẻ thành từng khúc. Cuối cùng là Hẹ. Hẹ có hai loại: Hẹ rẫy và hẹ ruộng. Hẹ rẫy lá dầy, bề ngang hẹp, màu xanh sẫm ăn với hủ tiếu hoặc mì hay hoành thánh của mấy chú Ba người Quảng. Còn hẹ ruộng lá mỏng, có gân trắng chính giữa mỏng, mềm, xanh nhàn nhạt như lá sả, xốp và giòn.

Mùa nắng ruộng khô ran, nứt nẻ, không có cây cỏ gì sống được. Vậy mà mưa xuống, ruộng đầy nước, không cần gieo, không cần trồng gì hết, như lúa ma trên đồng nước nổi tới đâu nó đua tới đó, thì hẹ ruộng nói có em đây! Lội xuống ruộng, trầm mình dưới nước, thò tay tìm cái gốc hẹ mà lắc lắc vài cái cho đất nhão ra rồi nhổ lên cả bụi lẫn gốc rễ.

Nhổ về, ngâm trong thau nước khoảng một giờ đồng hồ để rửa phèn và sình. Xong xếp ngay ngắn đầu theo đầu, đuôi theo đuôi trong cái rổ lớn cho ráo nước. Lấy kéo cắt bỏ phần rễ đi, cuộn nó lại cỡ ngón chưn cái, chấm với mắm kho, rồi bỏ vô miệng nhai rau ráu, vừa giòn tan, vừa mềm, vừa ngọt, vừa mát lạnh trong cổ họng, thiệt không có thứ rau nào có thể chiếm được ngôi bá chủ võ lâm trong các giống rau dùng ăn lẩu mắm.

Bưng chén đầy rau, gắp thêm miếng cá ba sa chấm muối ớt, ngon nhứt phần ức có mỡ hoặc thịt hai bên má của cái đầu cá, gắp vài miếng thịt ba rọi, miếng cà tím, múc mắm kho chan ngập vào, ớt sừng trâu chín đỏ xắt miếng xéo xéo (cho miếng ớt được lớn) vừa nhai rau ráu vừa húp rồn rột. Ăn no mà không bao giờ sợ cái vòng số hai, tức cái bụng phình lên như cái trống chầu bao giờ. Một cách “diet” hiệu nghiệm của phụ nữ Việt Nam mình. Chính vì vậy từ trẻ tới xồn xồn tới già, dù ăn như xáng xúc mà phụ nữ chúng ta ai cũng đẹp bóng lẫn hình mà không cần đi hút mỡ bụng.

Sau này, món lẩu mắm là mắm kho trong cái cù lao, đỏ rực than hồng! Món mắm kho luôn luôn sôi ục ục đã chễm chệ ngồi vào thực đơn nhà hàng ở cái đất Footscray nầy!
Cá, tôm, mực, nghêu ướp gia vị, gắp nhúng vào mắm nhưng tui lại thấy không ngon. Vì đồ biển nhúng vào mắm cá đồng là trật chìa, là trái bản họng hết trơn; như ca sĩ chuyên xuống xề nhạc muồi mà buộc phải chơi nhịp chỏi của “Rock and Roll”’!

***

Chiều cuối năm, gần Tết tới, lấy hai tuần lễ nghỉ thường niên vì cày suốt năm oải quá. Đi làm quen, ở nhà mà mấy thằng bạn nhậu, hình như tụi nó chết hết rồi sao mà không có ai kêu tui đó; nên cái mặt tui chảy xệ như cái bánh bao chiều; cứ trước sân anh thơ thẩn đăm đăm trông nhạn về! Em yêu thương quá; bèn chơi cho chàng một cái lẩu mắm để chàng nhậu với rượu đế, trong như mắt mèo của Nga, là rượu Vodka. 

Vậy mà thằng Úc sát bên nhà, hửi hửi mùi mắm thơm nức mũi như vậy lại hỏi xỏ tui là: “Bộ nhà có người chết hả?” “Ờ có! Ông nội mầy!”
Nghe nói vậy, nó bèn ôm mặt khóc hu hu… làm tui cũng hoảng. E mình xài xể nó quá nặng lời làm tan vỡ cái tình chòm xóm, ít khi có trên nước Úc nầy, với nó bấy nay. “Ờ! Anh nhắc, tui mới nhớ ông Nội tui chết trong niềm cô độc! Cả tháng mà hổng ai hay! Hu hu!”

Tui hối hận, bèn an ủi nó rằng: “Ôi cái xã hội bây giờ tệ như vậy đó chú em ơi! Buồn mà chi!” “Anh nghe nói chú em mầy đang rắp ranh, bắn sẻ, ve vãn một em Việt Nam bán cá ở chợ Footscray thì phải?Nhưng chú em mầy chỉ khoái ăn cheese, (hôi mùi xà bông tắm), và cá lăn bột với khoai tây chiên mỗi bữa, lại không ngửi được mùi thơm của nồi mắm kho trên bếp thì anh thành thật khuyên chú em mầy hãy từ bỏ niềm hy vọng bấy nay là chiếm được trái tim em! Vì đó chỉ là ảo vọng mà thôi!”

Thằng Úc nầy là thằng dại gái! Thấy con gái là mặt nó khờ căm thấy thương luôn. Nghe tui hù như vậy nó bèn xuống nước nhỏ: Bắt đầu từ ngày mai nó sẽ ráng tập. Hãy mua giùm nó trước hết là chai nước mắm hiệu ba con cá cơm cái đã. Từ từ nó sẽ ráng bịt lỗ mũi mà mần thêm cái món mắm kho!

Bằng không, em Việt Nam nầy sẽ tuyệt tình ca vì tui không ăn được mắm kho! Tim tan vỡ làm sao sống; chỉ còn cách đâm đầu xuống dòng sông Maribyrnong mà chết! Anh Hai ráng giúp em nhe! Thank you very much!

Chiều cuối năm nhớ mắm!
Happy New Year!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Chó cán xe

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Thằng Bảy lấy con Năm, dân lối xóm kêu tóm gọn: Vợ chồng Bảy Lăm. Người ngoài phương Bắc tràn vào an cư lập nghiệp đông, phong tục tập quán dần dà bị hoán đổi. Đất đai vườn tược theo đó cũng tráo trở lẳng lặng vào tay chủ mới. Vợ chồng Bẩy Nhăm chịu đời hổng thấu, theo bà con tay xách nách mang khăn gói đi vùng kinh tế mới rắn rít cọp beo khai hoang khẩn đất chó ăn đá gà ăn muối người thì chưa biết ăn chi. Không cứ mang thân vào rừng ở là được tự do phát huy quyền làm người. Tập thể nào cũng có kẻ quyền thế đứng ra lãnh đạo, sếp sòng là anh bộ đội cụt một giò làm tài lanh khai sinh cho uyên ương thằng Bảy con Năm danh xưng mới: Giải Phóng. Con Năm nói chùng nói vụng với chồng: Mẹ rượt, tui hổng mặn tên này đâu nha tía sấp nhỏ. Thằng Bảy đầu tắt mặt tối ngó vợ mồ hôi mồ kê thỏ thẻ: Anh cũng dậy, đụng phải đứa xấu bụng ưa nói lái thành ra phỏng dái thì nghe kì thấy mẹ. Đâu còn nước nôi gì để mang lợi hạnh phúc cho em.
Vợ chồng thằng Bảy con Năm có hai mụn con. Do chịu cảnh sống bần hàn nên mãi đơm mộng ước “hy sinh đời bố củng cố đời con”, cụ thể bằng cách đặt tên thằng đầu là Sang thằng kế là Trọng. Bốn bàn tay lấm lem, bốn bàn chân bùn lầy, vợ chồng lao động tắt quạt vẫn không cải thiện được cuộc sống, nghèo lại hoàn nghèo, đói giáp vòng đói. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, ai có ngờ đâu một tối hoang vu trăng thanh gió mát giữa núi rừng cô quạnh, Bảy cày bừa kiểu gì thiệt ngộ khiến cho Năm phải lặt lè mang bầu tâm sự. Tuy vào chốn sơn cùng thuỷ tận nhưng lãnh đạo cũng mang theo bên mình kế sách của miền phồn hoa đô hội, ấy là bà con nên thể hiện nếp sống văn minh, cho phép mỗi hộ được quyền đẻ ra hai nhi đồng cứu quốc thôi. Lỡ cháy kế hoạnh, nhà nước sẽ hoan hỉ giáo dục cho một hồi, hồi sau thì mang đi trục cái cục nợ đời lầm lạc nọ, vén khéo mà mất chỉ có ba mươi giây. Đồ sát sanh! Sao lại hoan hỉ mừng vui? Ấy là bởi có đường dây chuyên đi săn lùng thu mua ba cái vật máu me nọ. Bỏ nó nằm thỏm lỏm trong lu hũ, dội rượu vào ngâm ngập thân. Dùng một bộ phận không nhỏ nơi cơ thể tím tái kia mà chiên xào mặn mòi củi lửa, a hèm, nói đáng tội, đã là đại gia thì ôn nào cũng khoái nhậu thứ hàng độc ấy. Sẽ đỏ da thắm thịt, sẽ cải lão hoàn đồng, sẽ thành công trong mọi thương vụ mần ăn, trong hoặc ngoài luồng. Bất đáo trường thành phi hảo hán, bất xực nhau thai nhi phi đại gia. Khí thế vãi!

Vợ chồng Bảy Lăm chủ trương trời sanh voi sanh cỏ, bất biết thể hiện nếp sống văn minh, đi trái với qui định lề luật ác đức bất nhơn kia, khư khư ôm ấp bảo vệ giọt máu chuyên chính vô sản. Thằng Bảy ngôn: Cùi hổng sợ hủi. Đù mẹ bất quá thì viết tờ kiểm điểm nhận sai trái lần sau con xin chừa chứ có gì đâu mà phải bức xúc cho ốm người thêm. Con Năm nói dặm vô: Tui làm tui chịu, mấy người vô can xin chớ chất thêm củi lửa làm chìm xuồng. Trời đãi kẻ khù khờ hay trời hành hai đứa điếc không sợ súng? Lần lót ổ trở dạ này con Năm tái mặt máu rặn ì ạch ra cùng lần những hai thằng cu mặt mày rất đỗi bặm trợn, ré khóc vang rân xao xác bầu trời kinh tế mới. Thằng Bảy lóng cóng xoè ngón tay làm phép toán cọng, vị chi là tui có được bốn quý tử. Bốn con cu mà thuỷ chung chẳng thèm lòi ra một con bướm. Bà con lối xóm ai cũng khen con Năm can trường lẫm liệt, sinh đôi mà phẻ re như đi ra suối ỉa vất, tuyệt không hao tổn nguyên khí. Hai cái vú căng mọng sữa chảy lai láng cùng lần, đứa trái đứa phải gục mặt vào nhắm trít con mắt đề huề lim dim thụ hưởng chút chít liên hồi kỳ trận. Bảy ngó vợ, ngó con, trong đầu tự động hiện lên hai cái danh xưng: Hùng, Dũng.

Công an dân phố, tổ trưởng khu vực khi ngó vào sổ hộ khẩu của tiểu gia đình Bẩy Nhăm đều há hốc miệng: Đéo mẹ nghèo rớt mồng tơi cơm không có ăn áo không có mặc mà đòi chơi cha thiên hạ. Tên bốn thằng cu này đọc lên nghe thậm hoành tráng. Sang Trọng Hùng Dũng. Mẹ kiếp, mày chảnh quá e bà con đâm ra tâm tư!

Ngày nọ có phái đoàn y tế dưới huyện đi xe ô tô con lên chích thuốc chủng ngừa tiêu chảy sốt rét cho bà con thân thương, tới phiên con Năm bồng ẳm cả Hùng cả Dũng vạch đít cho họ phóng ống tiêm thì cô y tá hưỡn đãi tay nghề vẻ mặt bán tín bán nghi: Phải mày không Bẹn? Lạ, bao năm rồi chính Năm cũng khuấy quên cái tên gọi âu yếm nọ, sao dạt trôi chốn này có kẻ lạ hoắc lạ hươ lại nắm được thứ sơ yếu lý lịch chết người kia? Nói quanh nói co vòng vo xà bần ba chừng bảy đỗi thì cả hai nhìn nhận là bà con với nhau. Bẹn kêu Le bằng chị. Má đẻ Le là chị của má ruột Bẹn. Đầu đuôi cớ sự có bấy nhiêu, đơn giản như một với một là hai, vậy mà cuộc đời đầy tao loạn đã khiến bài toán vỡ lòng ấy rối tung lên, hơn cả một phương trình đầy ẩn số. Tay bắt mặt mừng, hàn huyên rôm rả xong tới màn sụt sịt lệ đổ đầy vơi. Người tía chết kẻ má tiêu diêu miền cực lạc, gia đình thảy tan tác thất lạc núi này sông nọ. Thì vậy, giày dép còn có số huống chi… Le là tên gọi ở nhà hồi còn con nít ranh, giờ làm y tá bước ra xã hội lao động buộc phải mang tên Tiên cho xứng tầm thời đại. Tiên choáng khi nghe mười tám xuân thì của Bẹn đã sở hữu tới bốn mặt con. Tiên bức xúc nhìn quanh, vậy chứ thằng chồng mày có đó không, sao mày lại bó thân chịu sống cảnh đời tàn trong ngõ hẹp? Bốn con, nói ra chẳng ai tin bởi người mày còn ngon cơm chán. Đời dưới kia giờ đã đổi, rậm rật bao phương án mưu sinh, chịu khó ngủ một giấc đầy ác mộng, khi tỉnh thức đã thấy nhung lụa bên gối nằm. Dù gì thì tụi mình cũng bà con cật ruột, thấy mày hệt như cái quần rách lai tao đây cũng xót dạ, nói láo cho bà vật.

Quyến luyến cho tới chiều thì phải dùng dằng chia tay. Tỉ tê tâm sự thì cũng tới hồi cạn, Tiên đành thăng theo xe cơ quan xuôi về thị thành gọi là làm xong công tác. Cô y tá thôi đeo khẩu trang, dúi vào tay Năm vuông giấy nhỏ: Hãy cùng thằng chồng đấu tranh tư tưởng, muốn đổi đời thì chẳng thể ở chốn ao tù nước đọng này, ưa đi thực tế trước để nắm tình hình thì đây là địa chỉ của tao. Về dưới, chỉnh trang bộ vó rồi tao dắt mày đi kiếm việc mần. Đã là bông hoa thì chớ để nó phải tàn héo đi, mày ngộ ra điều tao nói hôn?

Năm canh chầy thức đủ vừa năm, Năm ngủ hổng xuống với bao ảnh hình chị Tiên tiêm nhiễm. Lòng lợn cợn bao mưu toan, dập dềnh những ý tưởng phải quấy. Chưa kiếm ra hoàn cảnh thuận tiện để trút đi tâm sự nặng tợ ngàn cân đeo bám trong dạ cùng chồng, sáng nắng chiều mưa đâu dăm bữa thì tin dữ ập tới sau tiếng nổ điếng hồn, Bảy cuốc đất đụng phải trái mìn ngủ quên trong cuộc chiến thần thánh, tứ chi rụng rời máu đổ tàn canh gió lạnh, nóng sốt chuyển xuống bệnh viện cấp cứu thì giữa đàng sớm đụng mặt Các-mác mí lị Lê-nin. Bảy ơi là Bảy, chớ tội tình chi mà anh phải sớm lìa bỏ thiên đường? Anh phủi chân leo lên ngồi trên bàn thờ bắt tui một mình nuôi nấng giáo dục cả bốn đứa Sang Trọng Hùng Dũng? Điệu này không giang hồ xuống miệt dưới sầm uất chơi canh bạc đỏ đen e không xong với đời thường hằng là bể khổ.

Lãnh đạo có cử người tới túp lều tranh uỷ lạo tinh thần, cho chút đỉnh tiền động viên làm ma chay cần kiệm. Mắt Năm ráo hoảnh khi khóc than vật vã: Mẹ rượt! Mất Bảy còn Năm, bây giờ thôi phỏng dái mà phỏng toàn bộ cơ thể người ơi! Ngày xưa ông bà tổ tiên chia con ra đề huề mà định vị kẻ ở rừng người ở biển, bi chừ tui đành ký gửi thân anh cho núi rừng bao che, chịu thiệt thòi mang nguyên con cái về đồng bằng thử làm cách mệnh đời mình một phen. Mả cha đời, thiệt vô hậu, anh có linh thiêng thì phù hộ cho Năm này được lao động vinh quang. Nó không hái ra tiền quyết không về chốn hiu hắt này thăm mộ bày hương hoa cúng kiến anh.

Giống những đứa âm mưu vượt biên phản bội tổ quốc, Năm lặng lẽ ngậm tăm trốn chạy bà con láng giềng đổ thân đi chui xuống đường nhựa liên tỉnh lộ một chiều tà quạnh quẽ. Đi mạng không chỉ bận bịu tay bồng tay bế bốn con cu chưa chịu mọc đủ lông cánh đón xe đò về chốn rậm rật đèn màu phồn vinh giả tạo. Con ơi là con, nếu có ai ì xèo mặc cả mua lấy thì tao bán mẹ mày đi cho nhẹ gánh hành trang. Đồ báo đời gì đâu không á!

Dặm dài rách cả tơi lẫn nón thì ơn Đảng, Năm tìm gặp được Tiên. Mày khùng hả Bẹn? Phải biết cưa đôi chứ té giếng hay sao mà đi lo chuyện bao đồng ôm giữ cả bốn đứa? Sức vóc đâu, tài chánh đâu mà mang ra trang trải? Nước mắt lại có cớ trào ra, sụt sùi cho trôi bụi đường xứ lạ: Chị à, thằng Bảy tía sấp nhỏ ngủm củ tỉ rồi, anh hùng lao động chết không toàn thây không ghi lại di chúc. Em đành ngậm đắng nuốt cay làm ba đầu sáu tay chứ biết cách nào hơn. Phận gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, tàu còn lênh đênh thì mong nhờ chị đoái lòng ngó xuống mở lượng hải hà cho em tấp vào lánh phong ba thời gian đầu lạ nước lạ cái. Ơn vĩ đại của chị Tiên em suốt đời khắc ghi. Thôi, đừng nói nhiều mà xa nhau, đến nước này rồi phải kíp tìm phương án mà hành động. Tao là cán bộ nhà nước phải giữ phẩm giá đạo đức cách mạng, chẳng thể một sớm một chiều đi bôi bẩn lý lịch bằng cách dung nạp oa trữ mày trong căn hộ này. Tao sẽ giới thiệu mày cho bà Tám bóng, nhà bả rộng rãi lại thêm đông đảo chị em bạn gái, tha hồ cho chúng nó nựng nịu bồng bế phụ đỡ mấy thằng cu lem luốt này. Đi, đi ngay, tao dẫn mày tới trình diện Tám bóng.

Tám bóng tuổi khoảng năm bó. Chữ bóng ăn liền với tên do bởi bà có tật mạnh tay khi trét phấn bôi son lên mặt mày tứ thời bát tiết. Ấn tượng bắt mắt hơn cả phường tuồng. Bả được mấy đứa con gái đồng thanh kêu bằng má. Má Tám bóng làm chủ tập đoàn kinh doanh nghề hớt tóc thư giãn, lại nắm giữ chức lãnh đạo quán cà phê đèn mờ. Khi Tiên mang Năm tới chào hàng, Tám bóng làm bình luận viên: Nhỏ này thân thể săn chắc cứng cáp chỉ tội cái hơi đen đúa hơi nhà quê một cục, nhưng theo kinh nghiệm của má, chỉ cần chút đỉnh thời gian người nó sẽ trôi hết phèn chua đất đỏ bấy chầy ám thân. Cái đít nó, cái vú nó, cái mông nó, cũng có thể cái cửa mình nó rồi đây sẽ làm khuynh đảo bá tánh. Tắm rửa kỳ cọ cho gắt gao, má sẵn lòng cho son phấn phụ kiện đặng nâng cấp nó. Thằng Tường lé sếp đồn công an mà không phiêu diêu tới bến cùng nó thì tao đi đầu xuống đất.

Tiên được thưởng nóng nửa triệu gọi là chút đỉnh tiền trà nước cho cò và Năm được Tám bóng khai sinh cho tên mới: Hoa Nhài. Nghe lời má đi cưng, hãy lau khô nước mắt, hãy chặt lìa cái đuôi quá khứ bị kềm kẹp, quên mẹ nó đi những Bẹn những Năm những ngày xưa thân ái, giờ cưng soi gương tập cười với cuộc đời rối beng này và đời sẽ bồi thường xứng đáng cho cưng khi bọn đàn ông xiêu lòng trước một cành hoa mới khoe sắc.

Đúng như tiên liệu của bà Tám bóng, y bon với con mắt biết nhìn thời cuộc, lượng định ra một khúc quành khuất tất, tiệm mát-xa thư giãn trở nên chộn rộn từ ngày có Hoa Nhài hoá thân về đầu quân dưới trướng. Hồn thiêng thằng Bảy có chu du ngang qua, được đối diện vợ cũ nó cũng chẳng có tài thánh để minh định ấy là người từng tay ôm tay ấp một thời xa vắng. Năm giờ đã thoát xác, lộng lẫy và chảnh của vẻ đẹp đĩ thoả mang hương sắc hoa nhài. Ở với Bảy, áo quần kín bưng bó thân nghiêm túc lễ giáo, nhưng goá phụ Năm tháng ngày này y phục luôn chểnh mãng luôn kiếm cớ bày hàng. Có hàm oan không nếu bảo rằng nhờ ơn cách mạng đày Năm lên vùng kinh tế mới lao động đầu tắt mặt tối tạo điều kiện cho Năm sở hữu được một cơ thể rắn chắc, khiến những đứa ưa hái hoa đã phải trố mắt ra: Mẹ kiếp con Nhài nó văm nó múp đáo để, ông chơi bở hơi tai gần cháy bu-di mà nghe nó ngôn kiểu khinh miệt: gãi chưa đã ngứa. Mẹ, nó có bí kíp gì không mà khiến tớ đường đường một nam tử hán lại chịu cảnh sớm khóc ngoài biên ải!

Năm lu bu với cảnh sống mới nên nhạt phai dần tình mẫu tử. Nói nào ngay Năm cũng ít khi đụng mặt bốn đứa, chúng dắt díu nhau đi từ sáng sớm, đứa bán vé số đứa đi bới móc đống rác ruồi nhặng phế thải kiếm ve chai, đứa kiên trì bám trụ trước cửa mấy quán ăn xin bạc lẻ hoặc nhanh tay húp sạch chút cơm thừa canh cặn của đám thực khách, đứa lòn lách vào chợ móc túi hoặc giật ví hoặc tư trang dây chuyền đồng hồ các thứ. Chúng ăn bờ ngủ bụi và sinh hoạt của thứ xã hội ấy khiến chúng chai lỳ ra, một thứ bản năng phù hợp với quy luật cuộc sống. Chúng trổ giò và thằng Sang hiện cầm đầu một đám anh chị trấn nhậm đi bảo kê quanh địa bàn không nhỏ ở vòng đai thành phố. Cái tên Sang máu lạnh có thể khiến một đứa ngày đầu hăm he bước chân vào giang hồ phải xanh mặt máu khi nghe tiếng ong ve. Danh bất hư truyền, tiếng đồn rậm rật lọt tới tai bà Tám bóng, má cho người bắt xe ôm truy tầm đúng anh đại ca nhí đưa lời đường mật phủ dụ. Đã là người của giang hồ thì mày phải biết tôn trọng đạo nghĩa, lẽ nào mày quên công ơn của má ngày nào sao Sang? Tao không hối mày buông đao để thành Phật, tao chỉ khuyên mày nên về làm bảo vệ cho quán cà phê đèn mờ của tao. Má ruột mày, con Hoa Nhài lỡ có thằng dở hơi phá phách quá đáng thì khi trông thấy mặt mày e nó phải nhũn như con chi chi. Đôi lời tâm huyết, mày nghe có hợp lý hợp tình chăng? Sang nhổ nước dãi trước mới nhếch môi phán: Đéo mẹ bà chẳng nghe câu bụt nhà không thiêng sao? Sang này đời nào lại hạ mình đi chăm sóc đám hạ lưu đĩ điếm. Nôm na rằng thì là đờn ông này quyết không dây dưa với bọn đờn bà kia cho rách việc. Nếu đã là đờn bà thì bà nên xéo đi.

Suốt cả cuộc đời trường tồn bám trụ ở chốn này, lần đầu má mì Tám bóng nghe được một câu chẳng lọt vào lỗ tai như vậy. Xấc láo, mất dạy, du côn, đồ đầu đường xó chợ, đồ du thủ du thực, đồ ăn cháo đá bát. Bụng bà Tám bóng sôi lên, nhất là khi khổng khi không bị nó dội nước lạnh vào người làm trôi đi son phấn làm mất thể diện, làm mất mặt bầu cua. Thù này phải trả, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Mẹ mày chớ, dám cạnh khoé với Tám bóng thì con ắt sẽ học được phép xử thế, bài lễ độ của công dân giáo dục. Sách bà Tám bóng soạn ra: Bỏ hai triệu trong bao thơ, giao vào tay sát thủ biểu triệt cho được thằng Sang chưa ráo máu đầu nọ. Sát thủ cầm tiền đi sắm hung khí, đồ hàng ngoại, nhãn Trung quốc in tuồng ở Hoa Sơn luận kiếm. Người ta rêu rao ở trang mạng, bạn thổi một sợi tóc ngang qua lưỡi bén, tóc sẽ êm thắm đoạn lìa làm hai. Nếu muốn, có thể chẻ sợi tóc làm bốn. Cháy túi, sát thủ phải xin thêm tiền ở má Tám bóng để làm cuộc nhậu cùng chiến hữu cho thêm hưng phấn trước cuộc binh đao. Rề rà đợi giao hàng nóng, lại hú gọi nhau tợp rượu lấy dũng khí sơ sịa cũng mất ngoẻn non tuần, đến khi đèo nhau đi hành quân sang địa bàn bên kia thì hú hồn: Công an đã vừa vây bắt được Sang cùng đàn em với tội danh trấn lột tài sản và có nguy cơ cướp đi sanh mạng kẻ khác.

Bà Tám nghe báo cáo lộ vẻ không vui. Hai triệu là hợp đồng hồi nào mầy chém nó. Mày không xung trận thì tiền đâu, hoàn trả lại tao. Sát thủ nghe tỉnh rượu, nực cười thay, hai triệu hả, đó bà giữ cây bảo kiếm ấy đi đặng lần khác có mà xài. Con mẹ mày, tao lấy kiếm mà đào mả ông già mày à. Thiệt nực gà, sao lóng rày cứ gặp phải chuyện gì đâu không, ngó chẳng êm bụng một mảy may. Chộn rộn chui lọt vào màn nhĩ Năm, đi điều tra mới hay ra bà Tám tính xin thằng Sang tí huyết. Tình mẫu tử ngỡ vùi quên khi không lại chạy xô về làm thót tim. Năm thay đổi xiêm y lận chút bổi cụ Hồ vào thắt lưng quần lật đật đi tới khám bên quận Tư thăm Sang. Mày đi đâu đó Hoa Nhài? Vui Xuân không được quên nhiệm vụ nghe cưng. Con Bạch Tuyết án ngay cửa chêm cục gạch cản đường. Bả có hỏi nói hôm nay tao có tháng, tao không đi khách được. Tao chạy u ra nhà thuốc mua thuốc trị đau bụng rồi sẽ giỏi chân về. Năm rất ngán đặt chân vào trụ sở công an, nói chung là bất cứ cơ quan nào khác. Đã là đầy tớ của nhân dân thì thằng nào con nào cũng hoạnh hoẹ ưa làm đày làm láo cả. Mặt mày chúng giống nhau đã đành, ngôn ngữ chúng dùng cũng một dạng không đổi, rất thuộc bài. Có một thứ chúng chẳng chịu sáng mắt sáng lòng, ấy là hiện kim, là tiền bạc, là giấy cứng. Chúng giả đui giả mù để tạo điều kiện thuận lợi cho mình mua chuộc tình cảm. Năm chìa tiền ra và xấp giấy thông hành kia giúp Năm giáp mặt được đứa con đầu. Thằng Sang với tuồng chữ gà bới vừa viết xong bản tự khai dài tới ba trang giấy vở học trò. Mồ tổ mày, coi bộ giỏi môn luận văn hén? Thằng tội phạm mặt trơ lỳ chẳng lộ buồn vui khi gặp má nó, hèn gì mà dân anh chị kêu nó bằng hỗn danh Sang máu lạnh. Đẻ ra nó lành lặn là thế, không tì vết, mà giờ đây da thịt nát nhừ cả hình xăm trổ rồng phượng cọp rắn đi kèm với bao đòn roi đánh dằn mặt vằn vện tươm máu. “Nếu biết rằng tôi đã ngồi tù, trời ơi người ấy có buồn không?”

. Con xăm làm gì hai câu than thở nghe mềm lòng ấy? Nghe như cạo sửa thơ ai. Con cần chi thì nói má, má liệu cơm gắp mắm chạy đôn chạy đáo đặng cứu chuộc con. Sang này đéo cần gì cả. Nó nói nhát gừng, nó giả nhời cộc lốc. Nó ngồi sau chấn song mà chảnh như chuột sa hủ nếp. Ba mày có sống lại, ổng cũng chào thua tính cương cường mày có. Ổng bị người ta liệt vào thành phần cứng đầu khó cải tạo nhưng xem ra ổng phải gọi mày là đại ca. Hổng anh hai thì kêu bằng chú, chú hổng ưa thì đành lạy bác ạ. Bác khoẻ không? Đau khổ chi bằng mất tự do. Sao, con không có lời gì để nhắn nhe cùng má sao Sang? Bà dìa đi, giữ thân mà lo cho thằng Trọng thằng Hùng thằng Dũng. Tui biết có nhiều bà mẹ anh hùng đẻ con trong nghèo khó nhưng sau này con chăn trâu con ở đợ vẫn làm nên đại sự. Tui ưa nổi loạn làm anh hùng mà thời cơ chưa tới, nay chịu thúc thủ thì ý trời đã định. Tui làm tui chịu, bà đừng dại má con um sùm trời đất để can tội đồng loã bao che.

Mặt Năm khờ câm. Đời thuở, mình gian khổ đi thăm nuôi nó lại bị nó khi rẻ đuổi khéo đi. Con với cái, thiệt đắng cuống họng, biết vậy tao đẻ ra cái hột vịt lộn mà nhai với rau răm cho mát cái lỗ miệng! Ngọt lừ!

Chị Năm. Ai đó gọi giật giọng. Tôi đã xem lý lịch với bản tự khai của nó, toàn bộ lời lẽ tuy có biểu hiện thành khẩn nhưng lắm chỗ vấp phải đôi ba sạn sỏi làm lấn cấn, ấy là cách chị đặt tên cho bốn anh em chúng, như ngầm dự mưu phỉ báng và mang tội chống đối nhà nước. Có đúng thế không? Í qui thần tía má ơi, sao chưa gì cán bộ lại đánh phủ đầu tui kiểu đó. Tui hạng dân dã quê mùa, xin cán bộ cứ thẳng ruột ngựa nói ra hoạ may tui mới được tường tận. Này, chị giả vờ ma mãnh hay tình thật một chữ không biết cắn cho vỡ đôi? Nghe đây, đặt tên con như vậy là huý kị là phạm thượng, bởi bốn vị lãnh đạo rường cột nước nhà thảy đều mang tên y như bọn tội phạm móc bọc xì ke ma tuý giống con chị cả. Í, quỉ thần thiên địa ơi, đây đúng là chuyện giả tưởng, nếu có trùng hợp thì ngoài ý muốn của tác giả. Sao, ưa vòng vo lấp liếm chạy tội à? Dạ đâu có, tui nghe người ta lạm bàn là học sinh thời nay đều dốt đặc môn sử, huống hồ phận tui nghèo hèn đâu được vinh dự cắp sách đến trường để biết mặt ngang mặt dọc của các ngài đỉnh cao. Giá mà tui biết tên của các vị ấy thì đời nào dám xúc phạm, thà đặt tên chúng là Cầu Dừa Đủ Xoài chắc đã êm ả cuộc đời, im re đứng ngoài vòng tử sinh. Chớ dông dài nữa, vắn tắc là sẵn đây chị nên tranh thủ đi làm lại giấy khai sinh cho chúng, thằng Sang thì cho nó cái dấu hỏi, giả dụ thế, thằng Trọng thì tẩy mẹ nó đi cái dấu nặng, thằng Hùng thì đoạt cái dấu huyền, thằng Dũng thì chôm của nó cái dấu ngã. Thử đọc lên xem nào, Sảng Trong Hung Dung, nghe có phải dịu dàng hơn trước không? Nghe như tên của mấy người nước lạ. Đòi gì khác?

Năm cúi mặt dùng tay khều đất đen bám trong móng, ra tuồng bận vận dụng chất xám. Cha mẹ sanh con trời sanh tánh, sanh xong thì giao mạng cho nhà nước giáo dục chỉ đạo. Cán bộ đã nói thế thì tui nghe thế, quyết chẳng lấy đó làm điều, ngượng miệng kêu ban đầu nhưng riết rồi phải quen tai thích nghi. Quê tui thiếu khối gì bọn người phụ rẫy ơn sinh thành, đi mần cách mạng rồi tròng vào thân cái bí danh do lãnh đạo đặt để, khai tử Cu Đen Cu Vàng ngày còn thơ ngây để ưỡn ngực ra bằng tên gọi lão làng đầy thành tích anh Chín Hầm anh Sáu Tám Mậu Thân anh Tư Bãi Dâu anh Hai Khe Đá Mài… Ôi biết kể sao cho xiết!

Năm le te đi ra khỏi trụ sở có chấn song nhốt gọn thằng con tên Sang nay vướng vào lao lý tên gọi là Sảng. Ông sếp ngôi nhà đường bệ ấy nói với đám thuộc hạ: Đéo mẹ thật là con nào mẹ nấy, con Năm này mà hành nghề trong khu vực ta thì ngày một ngày hai tao còng đầu nó cho khỏi chướng tai gai mắt. Đồ thành phần ăn bám xã hội. Dạ anh Ba nói vậy là thiếu cơ sở, nó đâu có ăn bám xã hội, đồng chí Tường sếp công an quận nọ sẵn lòng làm ô dù cho nó bởi ổng lậm bùa Năm, bí danh Hoa Nhài. Xem vậy chứ nó có giá lắm, cỡ mình e không đủ sở hụi nếu muốn đi tàu nhanh cùng nó đâu. Mẹ, đời luôn là bài toán tréo cẳng ngỗng. Ông thầy thắp thuốc có cán thở khói vào mặt thằng đệ tử: Đù mẹ sao mày chẳng nói sớm, bận sau đi họp lỡ gặp anh Tường cũng khó nhìn mặt nhau. Mày nghĩ là nó có tâu lại cớ sự hôm nay với anh Tường không? Bắt buộc rồi, em để ý thấy nó bức xúc khi nghe mấy thằng con Sang Trọng Hùng Dũng bị đề nghị đổi tên. Kệ mẹ nó đi mà, chiếc áo đâu làm nên thầy tu, tên gọi muôn đời không ảnh hưởng tới số phận đứa lỡ mang, chăn trâu vẫn hoàn chăn trâu, móc túi vẫn hoàn móc túi, thất học vẫn hoàn thất học… Sang trọng mà làm gì cho má nó khinh…

Vách có mọc lỗ tai. Mày câm mồm đi. Mày đừng nói nữa, có được không? Sếp nạt thằng đàn em, nó đứng nín khe, tay mân mê chiếc nón có đính ngôi sao vàng cực hoang mang nhìn xuống đôi dép râu nhuộm đen những ngón.

Hồ Đình Nghiêm

Rừng khóc giữa mùa Xuân

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

August 14, 2010    

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư ở Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào những ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong”Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm cho tôi đau đớn, khốn khổ cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo tôi sau những buổi tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh  là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp từ thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính biệt động quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa mới trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ những khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.

Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên, Lê Cao Nguyên. Anh về phép thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, và đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một “lỗ tai nhỏ” như ba nó.

Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần VC pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau, khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau.

Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là ” may còn có anh đời còn dễ thương”. Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ!

Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, chồng tôi hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ, chỉ mang theo những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.

Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng giã từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạch, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chũng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là một số đơn vị Biệt Động Quân được chỉ định đi sau, ngăn chận địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.

Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông và bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đền gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và rất nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn. Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con sông nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt quá, tôi ngủ vùi một giấc, thức dậy thì trời vừa sáng. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp. Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch. Vừa rời đoàn người vài phút thì đạn pháo thi nhau rót xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng đã có một số người chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính biệt động một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: “Đạp lên mà đi!” Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa!

Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi. Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trân mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp. Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung đến cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tội nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh đang tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và không ngờ đó lại là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối cùng tôi chứng kiến những người lính biệt động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét “Biệt Động Quân Sát” vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác.Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.

Tiếp tục di chuyển chừng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo tât cả chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi bàng hoàng nhìn thấy mấy người lính biệt động quân nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc. Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nữa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẳn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo với cái giọng rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).

Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn. Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc.

Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà săn sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.

Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người con vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản, mới được cho vào trại. Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ một sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi được gặp anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người Thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số ngôi mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi , mà cho cả nhà chồng.

Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.

Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyên vào thân cây.Và lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành một thứ âm thanh não nùng, xé ruột.

Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương và một đứa em trai của tôi được đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước ( chị đã về quê trên vùng Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.

Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây đúng vào giữa mùa Xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.

Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25. Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương, còn có cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình  trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn “cải biên” thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn được mang tên “thị xã”. Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban quân nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thooại.

(núi Hàm Rồng)

Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi  hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:

Từ phen chiếc lá lìa rừng

Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây

Rõ ràng hoa rụng hương bay

Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi

Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hơp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với giá rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M’dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới hơn 20 cây số.

Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.

Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc của người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là một anh đàn ông Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi.. Khi anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi , bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sóng mũi cao, nhưng  khuôn mặt cháy nắng, mái tóc màu nâu sậm như màu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi kịp nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba nó, tôi cúi xuống để nhìn  kỹ vào tai anh người Thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra rồi nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi bảo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước. Tôi kéo chị ra xa, nói vào tai chị:

–  Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?

Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:

– Thằng Nguyên? Chẳng lẽ là thằng cu Nguyên?

Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:

– Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?

Anh người Thượng lắc đầu:

– Tao là thằng Ksor Tlang,

Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nữa, rồi buột miệng:

   – Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!

Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người tai mắt ở đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút, hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ.

Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi với anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.

– Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?

– Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H’lum, mẹ tôi tên H’Nu.

– Có anh em không?

– Không.

– Anh có nhớ ngày sinh không?

– Không

(Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ tìm khai sinh sau)

– Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?

– Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.

– Cái sẹo trên cánh tay trái , anh biết vì sao mà có cái sẹo này không?

(Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)

– Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.

Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi :

– Cha mẹ anh đang ở đâu?

– Buôn Ban Ma Dek.

(Gã công an nhìn tôi, bảo Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)

– Anh ở chung với cha mẹ anh?

– Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.

– Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.

Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo là chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi hộ chúng tôi bảy cái xe ôm.

Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.

Ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực:

– Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lếch vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.

     – Rồi xác người lính ấy ở đâu? Tôi hỏi.

Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:  

    – Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.

Chúng tôi theo hai người công an dìu ông già đi về phía khu rừng.

Tôi khóc ngất khi nhìn thấy nấm mồ thấp lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng quỳ xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.

Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp tiền bạc cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông già một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể sống xa rừng cũng như loài cá không thể sống mà không có nước.

Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi dự định xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng trong nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao nhiêu đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất ở quanh đây.Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi cùng hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.

Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền  200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi đã trả công cho hai gã công an!

Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều , tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó quỳ bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe.  Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình.Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày chỉ vừa lên bốn tuổi.

Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theoTỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?

phạm tín an ninh

(phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 Aug 2026

Gần đây “nhà nước ta” đã có sáng kiến và nhã ý xây những khu nhà sang trọng và đặc biệt đề dành cho các Việt Kiều đang sống ở nước ngoài về mua để ở cũng như để dưỡng già. Những ngôi nhà này rất khang trang, xây dựng theo tiêu chuẩn ngoại quốc, bao nhiêu phòng ngủ thì bao nhiêu phòng tắm, bồn tắm nhập từ Nhật, gạch men Italy, thảm từ Mỹ.

Khu nhà Việt kiều có hàng rào sắt bao bọc kiên cố, có “view” nhìn ra bờ sông Saigon hay những khu nhà tôn bình dân, hoặc những con rạch đầy “cầu cá”. Những cảnh vật chung quanh này càng làm nổi bật lên dáng vẻ sang trọng, quí phái của khu nhà Việt kiều. Trong khu nhà xây dựng sẽ có vườn hoa, hồ nước, sân quần vợt, chỗ đậu xe hơi và sẽ có bảo vệ (security) canh gác 24 tiếng đêm ngày, xuất nhập đều có kiểm soát kỹ càng, bảo bệ cho sự an toàn của các gia đình Việt kiều cư ngụ tại đây, kẻo những “kẻ xấu” xâm nhập trộm cắp tài sản của các “khúc ruột ngàn dặm” than thương quí mến, nay trở về trong vòng tay âu yếm của dân tộc.

Bà Tư góa chồng xách đứa con gái mười tám tuổi cùng với ông Ba đạp xích lô ở Khánh Hội chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, trong cơn hỗn loạn, đã nhảy lên tàu đậu ở kho sáu. Tàu không “xúp lê ba” cũng từ từ rời sông Saigon ra Vũng Tàu rồi đi thẳng tới đảo Guam. Cuộc đời đem hai ông bà lại với nhau và sau bao nhiêu khó khăn, đôi vợ chồng này đã thành Việt kiều thứ thiệt. Lúc đầu nghe nói chính phủ “ta” chửi rủa dữ lắm, lúc này nước nhà thống nhất, sạch bóng quân thù, mà còn bỏ nước ra đi làm đầy tớ cho ngoại bang. Tổ sinh hoạt lên án con mẻ thì gánh nước thuê cho mấy cái ba Mỹ, thằng chả thì đón khách thủy thủ ngoại bang ở kho 5, cũng là có tội, lại phản bội đất nước, ra đi tiếp tục làm tay sai cho đế quốc.

Nghe nói tới lúc nước nhà vì thiếu đô la trầm trọng đã mở cửa, thì cái bà Tư với ông Ba kết hợp thành ông bà Bảy Khánh Hội này có về thăm Việt Nam mấy lần. Nhớ cảnh cũ người xưa, ông bà có về thăm Khánh Hội được tổ dân phố và mấy công an phường đón tiếp dữ dần lắm, chỉ thiếu mấy cái vòng hoa xanh đỏ “aloha” như mấy cô gái ở đảo Hawaii choàng lên cổ nữa mà thôi. Ông bà Bảy Khánh Hội cũng dành dụm tiền về xây cho Má bà một cái nhà khang trang có lầu trong con hẻm ngày trước, và vì tiếng Tây tiếng U không rành bao nhiêu nên ông bà không đi du lịch đâu cả, ngoài việc tích trữ, còn chỗ lẻ chút đỉnh là ông bà tính chuyện về Việt nam, vừa thăm bà con, vừa ăn uống rẻ, lại được người ta đón tiếp trọng vọng.

Nghe tin nhà nước mới xây nhà cho Việt kiều chỉ ở cách Khánh Hội xưa có hai cây số, lại nghe giá nhà ba phòng mà chỉ có từ 100.000 cho tới 150.000 đô la, ở trong khu riêng biệt dành cho quí vị Việt Kiều hách xì xằng biết bao nhiêu. Bà Bảy nhẩm tính tiền mặt mà để chỗ này chỗ kia cũng được gần 200.000, bán cái mobile home này cũng được 90.000, về mua một cái nhà trong khu sang trọng này cũng nở mày nở mặt với lối xóm. Tiền dư hùn hạp mua bán sống qua tuổi già cũng sung sướng chán. Hồi còn đi gánh nước mướn nuôi con, bà đâu có dám nghĩ tới được như ngày nay, ở trong một khu nhà lầu sang trọng, lại có “bảo vệ” canh gác ngày đêm, đi ra đi vô cũng mát mặt với mấy con mẻ hàng xóm ngày trước.

Nhưng bà bị Ông Bảy chận họng, ông này thuộc loại “quá khích” lại hay nói ngược với ý vợ, lâu lâu ở Mỹ ông Bảy cũng tống cho bà Bảy mấy cái cù loi, kiểu gia trưởng.

Vì con gái lấy chồng xa, bà lại không biết tiếng Mỹ nên cũng không biết kêu 911 làm sao, vả lại có kêu tới thì bà cũng vì thương ông Bảy, chắc chắn là không bao giờ để cho ông Bảy phải bị còng tay đem đi như bà đã thấy ông chồng Mễ oánh vợ bên hàng xóm. Ông Bảy ra mặt lên lớp, ông nói cho bà Bảy biết cái vụ Việt kiều ở trong khu vực riêng, có bảo vệ, không khác chi là một khu tập trung, vào ra, có khách vãng lai, công an đều ghi sổ sách để báo cáo lên cấp trên. Nếu tất cả Việt Kiều hồi hương đều ở trong những khu riêng biệt như vậy thì đỡ cho nhà nước biết mấy. Thứ đến, mình ở cái lỗ nào ra, mà bây giờ bày đặt vào ở riêng trong khu dành riêng cho giai cấp “hồi hương”, sang trọng bên mấy cái hố rác, mỗi ngày sắp nhỏ đào bới kiếm ăn, nhìn sao cho được. Ông Bảy nói nếu bà Bảy có muốn về thì ở chung với bà già và đứa cháu, bả cũng sắp xuống lỗ rồi, mẹ con khuya sớm có nhau mới phải đạo làm con, lẽ đâu lại chui vào cái rọ Việt kiều đó, để mỗi lúc bà già tới thăm, phải trình giấy tờ hay lục lọi cái giỏ đệm coi có tài liệu hay chất nổ như bọn khủng bố chi không?

Rồi ông Bảy phán một câu kết luận: “Nếu muốn về mua nhà Việt kiều thì bà cứ về cho nở mày nở mặt, còn tôi về là về chơi, chứ tính chuyện về luôn thì khi nào hết mấy thằng chả thì tôi mới tính chuyện sau!”

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 24 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ðồng Minh rót người và vật liệu vào pháo đài của họ ở hải cảng Moresby không ngừng nghỉ. Và Bộ Tư Lệnh Tối Cao Nhựt thúc giục chúng tôi đánh mạnh hơn, đánh nhiều hơn vào các phi trường, các chỗ trú quân, và các cơ sở trên hải cảng càng lúc càng mọc lên như nấm của địch quân.

Vào ngày 17 tháng 4-1942, tôi thực hiện một phi vụ hộ tống đầu tiên của mình trên đất địch. 13 chiến đấu cơ Zéro, thay vì 6 hoặc 7 chiếc như trước đây, bao che cho các oanh tạc cơ Betty. Chính vì các báo cáo thám thính cho biết địch đang tăng cường ngày một nhiều, nên chúng tôi chờ đợi một chống trả quyết liệt.

Một phi công trong bán phi đội của tôi gây lo lắng. Yoshio Miyazaki tiêu chảy nhiều ngày liền và gầy đi nhiều. Tôi thấy hắn không đủ sức phi hành nhưng mặc tôi can ngăn, hắn nhất quyết rời mặt đất. Tôi lo lắng là với cơn sốt, Miyazaki sẽ không thể giữ đội hình mà nhiệm vụ hộ tống bắt buộc bay zích-zắc hình chữ chi chung quanh hợp đoàn Betty. Lúc đến gần Moresby, những e ngại của tôi biến mất. Miyazaki giữ vị trí hoàn hảo.

Với 7 chiến đấu cơ được cắt đặt bay sát cánh các oanh tạc cơ ở cao độ 16,000 bộ (4,900m), và với nhóm 6 chiến đấu cơ của tôi bay thấp hơn 1,500 bộ (450m), chúng tôi vượt qua dãy núi Owen-Stanley. Moresby hiện ra trong tầm mắt. Thình lình 7 chiến đấu cơ bay chung nhóm các oanh tạc cơ phía trên túa ra, lập thành màn lưới bao che, xoay tròn phía trên các oanh tạc cơ Betty. Nhiều chiến đấu cơ P40 của địch chúi xuống từ một độ cao hơn để tấn công các oanh tạc cơ của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng bị phát hiện quá sớm, và vòng xoay của 7 chiếc Zéro nứt ra, đánh bật cú đấm của địch quân đang giáng xuống. 7 chiếc Zéro trở về vị trí cũ.

Ngay lập tức, súng cao xạ từ mặt đất bắn lên, tạo ra những đốm đỏ và đen như nở hoa. May mắn là quá thấp. Bán phi đội của tôi lập tức phân tán và lộn nhào thật mau để tránh né một vòng rào hoả lực cao xạ thứ hai nổ phía trên. Ngay khi chúng tôi trở lại đội hình, các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ hộ tống gia tăng tốc lực tối đa để vượt lên cao nữa. Nếu vẫn duy trì đường bay cũ thì loạt cao xạ thứ ba sẽ bắn trúng. Các oanh tạc cơ của chúng tôi đang bên trên phi trường Moresby và đảo chầm chậm để thả bom. Bây giờ mặt trời chiếu từ phía sau chúng tôi, và các chiến đấu cơ địch lại đang lướt đến.

Tôi đảo lại, kéo cần lái gần như thẳng đứng, chĩa thẳng vào mũi dùi tấn công của đối phương. Năm đồng đội thuộc nhóm của tôi cũng đeo dính một bên. Nhưng chúng tôi không có cơ hội để khai hoả, các chiến đấu cơ địch lảng ra và phân tán. Chúng tôi quay trở lại vị trí hộ tống, nhưng chỉ có 2 chiếc Zéro theo tôi. Chiếc của Miyazaki và hai chiếc khác đã chui xuống phía dưới các oanh tạc cơ.

Tôi không có thời giờ để lo lắng cho 3 chiếc phi cơ đó. Cao xạ địch đang cố gắng điều chỉnh tầm bắn, và một loạt đạn nữa đã nổ cách phía dưới các oanh tạc cơ đang dội bom 1,500 bộ. Tuy nhiên, tất cả đều đã vượt qua, bụng đã trống rỗng, các oanh tạc cơ gia tăng tốc lực, giữa những tiếng nổ rền vang liên tục của súng cao xạ, và đảo về phía trái. Miyazaki đang bay cách phía dưới các oanh tạc cơ 1,500 bộ. Không có vô tuyến, tôi không thể nào gọi hắn trở lại vị trí, và chúng tôi không dám rời các oanh tạc cơ.

Chúng tôi bỏ Moresby và súng phòng không địch lại phía sau. Tôi thở ra nhẹ nhõm. Quá sớm! Khoảng một dặm phía trên chúng tôi, một chiếc P40 chúi xuống với tốc lực khủng khiếp. Nó xuống nhanh đến nỗi tôi không kịp nháy mắt. Giống như một tia chớp soi thẳng vào các oanh tạc cơ, cách tôi sáu trăm thước.

Tôi không hiểu làm cách nào mà chiếc P40 này lọt qua khỏi khoảng trống chỉ một vài thước giữa hai oanh tạc cơ thứ ba và thứ tư. Chuyện khó thể tin nổi, nhưng đã xảy ra. Với những họng súng rực lửa, sau khi lọt qua nhóm oanh tạc cơ xong, chiếc P40 rót tất cả đạn vào chiếc phi cơ của Miyazaki. Tức khắc, chiếc Zéro biến thành ngọn đuốc. Và vẫn với tốc lực khủng khiếp, chiếc P40 biến mất phía dưới chúng tôi. Phi cơ của Miyazaki rơi xuống chầm chậm, rồi lửa loé sáng và một tiếng nổ xé nát ra. Chúng tôi không nhìn thấy một mảnh kim khí nào rơi xuống. Mọi việc xảy ra trong vòng ba bốn giây. Chúng tôi vẫn tiếp tục bay. Ðến Buna, các chiến đấu cơ chúng tôi tách ra, chấm dứt vai trò hộ tống và quay về Lae.

Cái chết của Miyazaki là một bài học đau đớn cho tất cả chúng tôi. Trong những ngày đầu của cuộc chiến tôi vẫn khăng khăng cho rằng sự khéo léo cá nhân của các phi công Nhựt là ưu thế có tánh cách quyết định trước phi công đối phương. Công cuộc huấn luyện của chúng tôi, dĩ nhiên là trước chiến tranh, tỉ mỉ hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Ðối với chúng tôi, bay có nghĩa là mọi thứ, chúng tôi không tiếc bất kỳ nỗ lực nào nhằm học hỏi thấu đáo mọi phương diện về không chiến. Tuy nhiên, qua nhiều cuộc không chiến của Ðệ Nhị Thế Chiến, khéo léo cá nhân chưa đủ bảo đảm sự tồn tại mãi mãi, ngoại trừ các cuộc không chiến tay đôi. Thất bại to tát nhứt trong các cuộc không chiến của chúng tôi là do chúng tôi thiếu tinh thần đồng đội. Một tinh thần mà người Mỹ đã phát triển không ngừng trong suốt cuộc chiến.

Sau cái chết của Miyazaki, bảy oanh tạc cơ B26 Marauder tấn công Lae. May mắn thay, chúng tôi được báo trước và 9 chiến đấu cơ Zéro được tung lên không, đón các oanh tạc cơ địch chỉ ở cao độ 1,500 bộ. Trận quần thảo giữa phi công chúng tôi với bảy chiếc Marauder kéo dài một tiếng đồng hồ đầy gian nan vất vả. Cuối cùng chỉ một oanh tạc cơ địch bị bắn rơi và một chiếc bỏ chạy với thương tích. Ðó là trận không chiến vụng về nhứt, chưa từng thấy trong đời tôi. Chín chiếc Zéro thiếu tổ chức. Thay vì liền tay tấn công một hoặc hai phi cơ địch, và sử dụng hoả lực của số đông để cắt bảy chiếc B26 ra từng phần, các phi công của chúng tôi áp hết vào để đánh. Không có chiếc phi cơ nào của chúng tôi đụng chạm hoặc bắn hạ lẫn nhau cũng là một điều đáng lấy làm lạ.

Khi đáp xuống, cơn giận của tôi bùng nổ. Tôi nhảy ra khỏi phòng lái, hấp tấp bước đến các phi công đã tụ hợp trên mặt đất. Tôi chửi sự ngu ngốc của họ, vạch ra từng điểm sai lầm của mọi người và nhấn mạnh rằng chỉ có phép lạ mới khiến họ sống sót được. Từ đó trở về sau, mỗi đêm chúng tôi đều hội họp để chỉnh đốn lại tinh thần đồng đội của chúng tôi. Vào ngày 23 tháng 4, Nishizawa, Ota và tôi thực hiện một phi vụ thám sát Kairuku, một căn cứ mới của đối phương ở phía Bắc Moresby. Mặc dù chỉ được lịnh thám thính, chúng tôi cũng đã bắn cháy nhiều vận tải cơ địch trên phi đạo.

Báo cáo của chúng tôi đưa đến một cuộc tấn công với 15 phi cơ vào ngày hôm sau. Chúng tôi sà xuống 6 chiếc oanh tạc cơ B26, 15 chiến đấu cơ P40 và 1 chiếc P39. Con số hủy diệt chính xác của chúng tôi là hai oanh tạc cơ và sáu chiếc P40. Sau trận không chiến đơn phương, chúng tôi thẳng đường đến Moresby, bắn phá và đốt cháy một thủy phi cơ Catalina đang buông neo. Ngày hôm sau, chúng tôi trở lại Moresby. Mặc dù thiệt hại nặng nề vào ngày hôm trước, địch quân vẫn đề kháng dữ dội. 7 chiến đấu cơ P40 thách thức 15 chiến đấu cơ của chúng tôi. Trước khi cuộc không chiến dữ dội thực sự kết thúc, 6 chiến đấu cơ địch đã chúi về phía Ðông trong lửa đỏ. Chúng tôi bảo toàn lực lượng, và sau khi bầu trời được dọn sạch, chúng tôi bắt đầu xạ kích Moresby và Kairuku, đốt cháy 5 chiếc B26 và 2 chiếc P40 nữa.

Hiển nhiên cố gắng của tôi trong việc cải thiện tinh thần đồng đội khi chiến đấu đã đạt được hiệu quả. Tuy nhiên, tôi phải chịu thiệt thòi, vì sau hai trận đánh liên tiếp, các phi công khác đều ghi nhiều điểm trong khi tôi trở về với hai tay trắng. Và trận không chiến kế tiếp vào ngày 26 cũng vậy, tôi không hạ được một phi cơ nào, mặc dù có ba trong số bảy chiếc P40 bị bắn rơi. Ngày 29 tháng 4 là sinh nhật của Thiên hoàng Hirohito. Vị chỉ huy trưởng của chúng tôi tổ chức một buổi lễ khiêm tốn để mừng ngày đặc biệt này. Mấy anh lính biết nấu nướng đều tiếp tay làm bếp và tận dụng tất cả đồ tiếp tế để chuẩn bị một bữa ăn sáng ngon lành. Vài ngày trước đó, Ðồng Minh không hề đưa ra bất kỳ nỗ lực nào nhằm tấn công Lae. Sự yên tĩnh này, cộng thêm với cảm giác thoải mái của chúng tôi hiện tại, làm chúng tôi lơ là nhiệm vụ.

Khi chúng tôi chấm dứt ăn sáng vào lúc 7 giờ sáng, tiếng thét của lính canh gác vang lên: “Phi cơ địch!” Lập tức, một âm thanh hỗn loạn bùng vỡ, phá tan sự yên tĩnh của buổi sáng. Thùng, trống, mõ và tù và nổi lên inh ỏi, hệ thống báo hiệu không kích của chúng tôi.

Chúng tôi chạy ra phi đạo quá muộn. Những trái bom đã rơi xuống và đang nổ. Chúng tôi ngước mắt lên nhìn thấy mấy ông bạn cũ của chúng tôi, những chiếc oanh tạc cơ B17. Ba chiếc tất cả, bay ở độ cao 20,000 bộ (6,000m). Chỉ một vài trái bom được thả xuống, nhưng với sự chính xác tôi chưa từng mục kích bao giờ. Năm chiến đấu cơ Zéro nằm trên sân bay đang bao trùm trong lửa đỏ. Bốn chiếc khác hư hại nặng nề do mảnh bom gây ra. Riêng sáu chiếc ứng chiến chỉ còn năm chiếc bay được.

Ota và một phi công khác là hai người đầu tiên chạy ra phi cơ. Trong hai giây, họ cho phi cơ hoạt động và chạy ra phi đạo. Nhóm còn lại của chúng tôi bây giờ mới băng ra phi cơ, nhưng có cất cánh cũng đã trễ. Ba pháo đài bay B17 và hai chiến đấu cơ Zéro đã biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi. Thời gian trôi qua chậm chạp, chúng tôi chửi rủa mấy chiếc oanh tạc cơ không tiếc lời và nôn nóng chờ đợi Ota trở về. Một giờ sau, một chiếc Zéro đáp xuống. Ðó là Endo. Hắn giải thích: “Chúng tôi đánh ngay khi vượt lên. Tôi quần thảo dữ dội với một chiếc oanh tạc cơ. Ota vồ một chiếc và vẫn còn khai hoả khi tôi hết đạn. Do đó, tôi phải trở về.”

Một giờ nữa trôi qua, Ota vẫn chưa thấy về. Chúng tôi lo âu. Ota, bạn của tất cả chúng tôi, hiện thời đơn độc quần thảo với ít nhất hai chiếc oanh tạc cơ có võ trang mạnh mẽ. Endo trở nên bồn chồn, và càu nhàu về việc phải rời bỏ Ota vì hết đạn.

Mười lăm phút nữa trôi qua, thế rồi Ðại tá Saito thò đầu vô bộ chỉ huy và vui vẻ nói lớn: “Ê! Hắn an toàn! Ota vừa gọi từ Salamaua. Hắn hạ được một pháo đài bay. Hắn phải đáp xuống để lấy xăng và sẽ trở về ngay.”

Tin tức phấn chấn! Nhưng công việc vẫn chưa xong. Sáu phi công, bao gồm Nishizawa và tôi, được chọn để trở lại Moresby “mừng ngày sinh nhật của Thiên Hoàng”. Chúng tôi cảm thấy phi vụ với 16 chiếc Zéro có lẽ tốt hơn, nhưng hiện thời chỉ có 6 chiếc của chúng tôi còn trong tình trạng khiển dụng. Chắc chắn đối phương đã đoán được một trận phục thù cuộc oanh tạc vừa qua của chúng tôi. Ðể tránh chui đầu vô hoả lực phòng không đang chờ đợi, chúng tôi vượt qua đỉnh rặng núi Owen-Stanley ở cao độ 16,000 bộ (4,900m). Và rồi thay vì tiếp tục hướng đến Moresby ở cao độ này, chúng tôi chúi xuống thật thấp, bay theo đội hình tam giác căng rộng. Sau đó chúng tôi vượt lên thật cao rồi chúi thẳng xuống căn cứ địch. Không một ai đoán nổi chúng tôi tấn công theo lối mới này.

Hàng chục nhân viên bảo trì địch đang quay quần bên những chiếc oanh tạc cơ và khu trục cơ, hình như đều sẵn sàng cất cánh. Chúng giống như những con vịt nằm phơi lưng. Chúng tôi quét đại liên và nện đại bác xuống sân bay. Tôi có thể nhìn thấy nhiều người ngước nhìn lên với dáng vẻ đầy kinh ngạc, như không tin nổi vào đôi mắt của họ.

Nhát chổi đầu tiên có hiệu quả. Không một họng súng nào kịp khai hoả. Ở cuối đường bay, với các pháo đội phòng không vẫn im lặng trong sự sửng sốt, chúng tôi quay lại thật gấp và tức khắc bổ nhào xuống làm ăn nữa. Quang cảnh dưới mắt thật tuyệt diệu. Ba chiến đấu cơ và một oanh tạc cơ đang bốc cháy dữ dội. Lần này chúng tôi quét đạn lên một dãy phi cơ khác, xếp thành một hàng dài gọn ghẽ ngay ngắn. Bốn oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch trúng đạn, tuy nhiên không cháy. Người trên sân bay bây giờ chạy hỗn loạn, và có hơn một chục xác nằm bất động vì lãnh đạn của chúng tôi. Chúng tôi “làm ăn” ba lần tất cả và sau đó dông tuốt. Khi đã bay xa rồi, chúng tôi mới nghe khẩu cao xạ đầu tiên lên tiếng.

Nhưng vào lúc 5 giờ 30 sáng hôm sau, đối phương trả lễ chúng tôi bằng một cuộc viếng thăm của ba chiếc B26 Marauder, bay đến mau và thấp, không cao hơn 600 bộ. Mặt đất như vỡ tung khi ba oanh tạc cơ B26 trút bom xuống ngay phi đạo. Lúc khói đã tan, chúng tôi nhìn thấy năm trong số các chiến đấu cơ ứng chiến của chúng tôi lướt lên không trung. Tuy nhiên, khi năm chiến đấu cơ này vừa cất cánh được, các oanh tạc cơ đã quay lại và trút bom một lần nữa. Tiếng nổ vang dội trước khi các chiến đấu cơ Nhựt có thể tiến sát đến các oanh tạc cơ. Nhưng đối phương đã kịp thời kiếu từ, biến mất vào ánh bình minh đang lên. Chuyến kiếm ăn khá khiển: một chiếc Zéro bốc cháy và một chiếc khác vỡ tan. Bốn chiến đấu cơ Zéro và một oanh tạc cơ Betty khác lỗ chỗ dấu đạn và miểng bom.

Trong nhiều ngày kế tiếp, nhịp độ của trận chiến trên không gia tăng dữ dội. Mười hai chiếc P39 Airacobra thực hiện một cuộc viếng thăm Lae thật đẹp mắt, với chín oanh tạc cơ Betty của chúng tôi hư hại nặng nề. Chúng tôi nhảy lên vồ khi đối thủ rút lui, và kéo 2 chiếc P39 xuống đất mà không thiệt mất một chiếc Zéro nào. Nhưng một lần nữa cả tôi lẫn Nishizawa đều đáp xuống với hai tay không. Nỗi rầu rĩ của tôi được khuây khoả vào ngày hôm sau, khi chín phi công chúng tôi trở lại Moresby. Chín chiếc P39 chờ sẵn chúng tôi trên không phận phi trường địch. Một mình tôi hạ cả ba chiếc trong vòng 15 giây. Sáu chiếc khác bỏ chạy mau đến nỗi các chiến đấu cơ khác của chúng tôi không sao chụp kịp.

Trở về phi trường Lae, các chuyên viên cơ khí của tôi đã kinh ngạc khi nhận thấy tôi chỉ bắn có 610 viên đạn trong trận không chiến ngày hôm đó. Trung bình mỗi phi cơ địch nhận hơn hai trăm viên.

Ngày hôm sau, 2 tháng 5, chúng tôi quày trở lại Moresby nữa, với một lực lượng gồm tám chiếc Zéro. Lần này, mười ba chiến đấu cơ P39 và P40 bay chầm chậm ở cao độ 18,000 bộ (5,500m) chờ đón chúng tôi. Nishizawa phát hiện địch đầu tiên và khai hoả. Trước khi phi cơ địch nhìn thấy chúng tôi và lộn nhào để tránh né, bảy chiếc đã rơi xuống như cây đuốc. Trong ngày này, chúng tôi “bỏ túi” đến tám chiếc P39 và P40. Riêng tôi hạ được hai chiếc và Nishizawa được ba chiếc.

Vào ngày 7 tháng 5, sau nhiều ngày ngơi nghỉ, bốn phi công được lịnh thực hiện phi vụ thám thính ở Moresby. Mỗi người chúng tôi đều la lớn một cách vui vẻ khi nhận ra đồng đội của mình trong phi vụ này. Cả bốn chúng tôi đều là các phi công có cơ điểm cao nhứt phi đoàn. Tôi đã hạ được 22 phi cơ địch, Nishizawa 13, Ota 11 và Takatsuka 9. Tôi hy vọng hôm nay làm ăn lớn. Khi chúng tôi lượn vòng trên không phận Moresby, Nishizawa lắc cánh báo hiệu và chỉ hướng mười chiến đấu cơ địch trong đội hình hàng dọc, từ ngoài biển đang lướt đến chúng tôi, cao hơn nhóm phi cơ chúng tôi khoảng 2,000 bộ (600m). Nishizawa và Ota lập thành mũi dùi, với Takatsuka và tôi bay ngay phía sau, thấp hơn chút ít. Bốn chiếc P40 địch liền tách rời khỏi đội hình và bổ nhào xuống. Tức khắc, bốn chiến đấu cơ Zéro bật mũi lên gần như thẳng góc thay vì lộn nhào để né tránh và phân tán như phi công địch hy vọng. Chiếc P40 đầu tiên vội vã vượt lên trong một vòng xoáy trôn ốc, cố thoát khỏi cái bẫy do chính nó giăng ra. Bụng phi cơ địch sáng loáng trước mắt tôi.

Nhanh như chớp, tôi thảy ngay một dây đại bác. Cánh chiếc P40 đứt lìa. Tôi lấy lại thăng bằng và nhìn thấy mỗi chiếc Zéro đánh bật một chiếc P40 ra. Tất cả đều biến thành cây đuốc. Sáu chiến đấu cơ địch còn lại đang ở trên chúng tôi. Chúng tôi phân tán qua phải và trái, vượt lên bằng những vòng xoáy trôn ốc, và lấy thăng bằng theo hình vòng cung, đồng thời các khẩu đại bác đều hoạt động.

Thân ba chiếc P40 tan rã bốc cháy. Ba chiếc còn lại cắm mũi chạy luôn.

Vào ngày 8 và 9 tháng 5-1942, tôi tiêu diệt thêm hai chiến đấu cơ địch nữa, một chiếc P39 và một chiếc P40 qua những nhát chổi liên tiếp trên không phận Moresby. Vào ngày 10, tôi lại bắn rơi một chiếc P39 với thành tích tiêu thụ đạn ít nhất, chỉ bốn quả đại bác 20 ly, trong một phi vụ trên biển San Hô với Honda và Yonekawa.

Hôm ấy, sau 15 phút tuần thám, chúng tôi bắt gặp một chiếc Airacobra độc hành, bay chậm, cách 1,000 thước phía trên chúng tôi. Viên phi công có vẻ như đang ngủ mơ; cứ tiếp tục phi trình thẳng tắp không đếm xỉa gì đến chúng tôi đang tiến đến gần. Tôi vượt lên từ bên dưới bụng hắn, ở vị trí không cho phép hắn nhìn thấy. Honda và Yonekawa bọc thấp hơn nữa, phía bên dưới tôi 200 thước.

Khó tin vô cùng là chiếc P39 cứ tà tà cho chúng tôi áp gần. Viên phi công địch không chút nghi hoặc chung quanh. Tôi chỉ còn cách 20 thước, cơ hội quá tuyệt, tôi chụp lấy chiếc máy ảnh Leica mua trong kỳ nghỉ phép và bấm nhiều tấm. Rồi tôi nhìn đồng hồ: 242 cây số giờ. Tôi ghi nhanh con số như vận tốc phi hành của chiếc P39. Ðội hình kỳ quặc của ba chiếc Zéro với một chiếc Airacobra kéo dài một lúc. Honda và Yonekawa sẵn sàng khai hỏa ngay khi viên phi công Mỹ nhận ra sự có mặt của tôi và tìm cách thoát thân bằng cách đâm bổ. Vươn lên khẽ khàng, tôi lạng nhẹ sang phải. Tôi có thể trông thấy rõ ràng gương mặt viên phi công Mỹ. Không bao giờ tôi hiểu vì sao hắn đã không quan sát chung quanh. Tôi ngắm nghía gã to con đội mũ lưỡi trai trắng nhiều giây, rồi định vị mình phía sau hắn, hơi cao hơn chút ít. Tôi nhắm kỹ lưỡng và ấn nhẹ lên cò súng. Hai khẩu đại bác ho khan, hộc ra bốn viên 20 ly. Hai viên phá nát cánh phải của chiếc P39 và hai viên trúng chính giữa thân. Chiếc Airacobra gẫy đôi, rơi tòm như chong chóng xoay trong một điệu múa điên trước khi rã ra từng mảnh. Không thấy viên phi công nhảy dù.