Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 16 Oct 20265

Thanh Phong, đầu năm 1980 khi chúng tôi từ Tân Lập (Vĩnh Phú) chuyển đến thì trại mới làm xong; đây là trại tù thuộc loại dã chiến ở giữa rừng thuộc huyện Như Xuân Thanh Hóa, nơi giam giữ những loại “ác ôn, nợ máu” như Biệt kích, Phòng Nhì, An ninh, Chiến tranh Chính trị, v.v …Một trại K2 mà chứa hơn 1 ngàn tù cải tạo. Dần dần một số anh em trẻ (chắc được coi là ít nợ máu hơn) được dời về trại Thanh Lâm – Cuối năm 1980 lại có một số anh em được chuyển về Nam. Năm 1982 trại chỉ còn một nửa, chừng 500 tù cải tạo. Đây là thời điểm chuẩn úy Kh., đối tượng đảng, muốn đá đít thủ trưởng của y trung úy L. lên làm chính trị viên K2, tức là Trưởng ban Giáo dục trại.

Anh em tù cải tạo K2 lâm vào thế kẹt. Trước đây với số hơn 1 ngàn tù, đảng và nhà nước đã thực hiện tài tình và sáng tạo sách lược “nước sông công từ” nên ra sức phá rừng làm rẫy, trồng sắn, trồng khoai, trồng ngô, trồng trà, trồng rau. Bây giờ tù đi một nửa rồi, lại đi phần lớn các anh em trẻ, còn lại toàn là tù già mà lại phải cáng đáng toàn thể nương rẫy của anh em để lại. Năm ấy chủ trương của nhà nước là “hạch toán kinh tế”, đâu đâu cũng phải tự làm lấy mà ăn; trại tù cũng vậy, chính phủ không chu cấp nữa. Thành ra tù K2 sống theo một tỷ lệ nghịch: ăn ít đi mà làm việc nhiều lên. Ở đây lại nước độc rừng thiêng, thủy thổ bất phục nên anh em tù càng ngày càng gầy yếu, hom hem, nhiều người sốt rét vàng mắt, vàng da, chân phù bụng ỏng. Cả cái xã hội từ “tù trong” là tù ở trong trại, cho đến “tù ngoài” là dân chúng ở chung quanh đều xác xơ, lam lũ, tang thương, ốm đói. Đất ở đây như không còn sinh khí. Không phải “đất của người”.

Đất đá nứt tan thành bụi lửa,

Chẳng tìm đâu thấy một mầm tươi.

Gió Lào thổi cháy mùa khô rụm,

Đất ở đây không phải của người.

(Tô Thùy Yên)

Mình là phạm nhân, là tù khổ sai biệt xứ thì cái sự đớn đau khổ nhục là lẽ thường tình. Nhưng đáng buồn và đáng thương nhất ở đây là đàn bà và trẻ con. Những người đàn bà thiểu số người nhỏ chân to còng lưng trước những cái gùi nặng trĩu, bước đi chuệnh choạng leo lên núi đi thất thểu về một bản xa nào. Những thiếu phụ hai tay mang xách bộn bề nào bị cói, nào tay nải, trên lưng còn địu một đứa nhỏ khẳng khiu teo nhách như một cái giải khoai. Hai đứa trẻ mới chừng 8, 9 tuổi lùn như hai cái nấm mà mỗi đứa mỗi đầu, chung vai khiêng một cây tre từ đây ra chợ huyện Như Xuân đem bán. Ngay cả vợ con cán bộ trại ở đây cũng bủng beo vàng vọt. Nước suối Như Xuân xanh ngắt, lội qua còn rụng lông chân, đàn bà trẻ con chịu làm sao thấu. Ở đây, đàn bà không có tuổi xuân và trẻ con không có thời thơ ấu. Nhiều gia đình người Kinh bị “chỉ định cư trú” tại khu vực này, con trai không dám lấy vợ, con gái không dám lấy chồng vì một mình son rỗi mà còn không kiếm đủ ăn, lấy vợ lấy chồng rồi đẻ con ra lấy gì mà nuôi, khốn cùng một lũ.

Đớn đau là phận chúng mình,

Trai khôn để lỡ, gái trinh để già.

(Trần Huyền Trân)

***

Trước tình trạng thiếu “quân số” của trại lại thêm tù già càng ngày càng bệnh tật, lao động cầm hơi, chuẩn úy Kh, phó trưởng ban giáo dục mới của trại liền đề ra khẩu hiệu “đảm bảo hoàn tất chỉ tiêu lao động trong bất cứ tình huống nào”. Khẩu hiệu này đưa ra nhằm “khống chế quân số”. Tù dù ốm đau, dù già yếu đến đâu nhưng để hoàn tất chỉ tiêu lao động là phải đi làm hết. Chỉ bệnh thật nặng, nằm liệt đi không nổi thì mới được nghỉ mà thôi. Cụ thể sốt rét là vẫn phải đi làm. Ở bệnh xá, có một bác sĩ “ngụy” còn ở lại. Kỳ về Nam trước các bác sĩ “ngụy” đều được chuyển hết, riêng bác sĩ VN không được về. Người ta nói bác sĩ này hơi khùng. Học tập, kiểm điểm, liên hệ bản thân bác sĩ VN nói rằng “Tôi không có tội gì. Tôi là bác sĩ dân y được trưng tập vào quân đội. Tại bệnh xá, tôi chữa cho bất cứ người bệnh nào cả quân và dân, chữa cho tù binh tức là người của cách mạng nữa. Người thầy thuốc không có phân biệt ranh giới chính trị hay xã hội. Chỉ có việc chữa cho người đau, người bệnh mà thôi”. Vì phát biểu ngang xương như thế nên đồng nghiệp về Nam hết, riêng bác sĩ VN vẫn còn ở lại trại tù miền Bắc.

Tuy bác sĩ VN khùng khùng như vậy nhưng nghe nói anh lại là một nhà phẫu thuật tài danh. Con mắt quan sát của anh hết sức nhạy bén, cái tay mổ xẻ của anh vô cùng điêu luyện. Anh không phải là bác sĩ Nhãn khoa, nhưng trước đây anh có nghiên cứu về giải phẫu thẩm mỹ nên ở trong tù, anh có giải phẫu thành công cho một phạm nhân già hình sự (người Thái Bình, Bắc Việt) bị mù vì mắt kéo màng. Cả trại tù, từ tù chính trị đến tù hình sự đều theo dõi ngày cắt băng cho người vừa được mổ. Buổi chiều trước kẻng vô buồng, anh tù hình sự mới được cắt băng được đưa ra sân trại. Anh đang giơ tay đi những bước ngỡ ngàng sau mấy năm chìm trong bóng tối. Bước đi của anh còn chấp chới, còn loạng choạng nhưng anh đã biết tránh các gốc cây. Bác sĩ VN giơ tay và nói “Lại đây, lại đây nào!” Anh tù già hình sự lần lần bước tới. Anh đã nhìn thấy lờ mờ người vừa trả lại cho anh ánh sáng. Anh bước đi từ từ, chập chững nhưng đúng hướng, tới nơi anh hấp tấp ôm chầm lấy ân nhân của anh mà khóc lớn. Những giọt nước mắt già chảy trên khuôn mặt nhăn nheo. Hình như đôi mắt của bác sĩ VN cũng long lanh ngấn lệ.

Mình tự thương mình …

Trong một trại cải tạo giữa rừng sâu mà “tù trong” cũng như “tù ngoài” rách mướp bệnh tật rề rề như vậy, sự có mặt của bác sĩ “ngụy” VN thật là quý giá. Các đồng nghiệp của VN trong 2 lượt chuyển tù từ Bắc vô Nam đã đi hết, bác sĩ “khùng” VN còn ở lại. Nhưng sau 2 vụ đưa tù vô Nam về cuối năm 80 và đầu năm 81, trung úy L., cựu Trưởng ban giáo dục trại như đã nói, có thái độ hòa hoãn, dễ dãi hẳn ra đối với tù cải tạo. Phải chăng những điều mắt thấy tai nghe ở miền Nam đã có tác động thẳng đến tư duy và hành động của trung úy L .? Nội qui của tù cải tạo là không được tiếp xúc với dân. Một bữa tại đội rau của tôi, cách trại chừng 2 cây số, ông bạn tù cùng tổ và cùng đội với tôi là Thượng tọa Thích Thanh Long bắt gặp ở ven đường gần vườn rau một đứa nhỏ người thiểu số nằm ngất đi bên bụi rậm. Trời lạnh thấu xương, cái lạnh của sương muối, của sơn lam chướng khí chốn rừng sâu làm thằng nhỏ răng nghiến chặt, thân xác tím bầm vì giá rét. Nó mặc phong phanh một cái áo thun đã rách, quần gần như không có, hay đã bị xé rách đi vì ở chân, chỗ đùi non có một vết sâu quảng to gần bằng bàn tay, máu mủ bầy nhầy, mùi hôi tanh sặc sụa. Không biết nó đi đâu mà nằm ngất ở đây. Ông già buổi sáng ra suối múc nước tưới rau bắt gặp thằng nhỏ nằm phủ phục bên đường. Lay gọi mãi mà nó nín thinh, không tỉnh. Ông già liền cởi áo blouson đang mặc khoác lên người nó rồi để thùng tưới ở lại, ông ôm thằng nhỏ về bệnh xá. Công an bảo vệ ra ngăn cản không cho ông già đi, vì làm như vậy vi phạm nội qui và trái với nguyên tắc lao động. Ông già bảo rằng “không lẽ dể thằng nhỏ nó chết ở đây sao? Cán bộ cứ để cho tôi đi, sau rồi có kỷ luật gì tôi cũng chịu.” Rồi ông già vác thằng nhỏ mang đi. Vào bệnh xá, bác sĩ VN săn sóc ngay cho nó. Tim nó còn đập nhưng vấn đề trước tiên là đói và lạnh quá. Nhóm ngay một đống lửa sưởi. Nhưng còn vấn đề ăn thì kẹt. Ai cũng đều đói quá ở đây. Đội già yếu ở nhà, ngồi đan lát ở ngay gần bệnh xá. Một người vội chạy sang ông hoàng của tù là ông Hãn, nguyên đại tá an ninh, đang ngồi “ra nan” ở đó. Vừa nghe xong câu chuyện là ông hoàng của tù mở giỏ cần xé lấy ra một hộp sữa con chim “đem ngay sang cho nó uống”. Đây là người tù giàu có nhất và hào sảng nhất của trại K2. Ông có con ở Mỹ, ở Pháp gửi quà về đầy đủ; ông lại là người Công giáo toàn tòng nên ông được thăm nuôi rất đều đặn. Cứ 3 tháng một lần “đến hẹn lại lên”. Ông có một ông anh vợ, ông A., đi thăm ông và nhân tiện đem quà cho mấy vị linh mục thật là siêng năng. Mỗi lần, ông Hãn nhận chừng 60, 70 ký quà, thức ăn, vật dụng, thuốc men đủ thứ trên đời. Ở trong trại K2 này cũng có một số anh em khác dư dả lương thực, thuốc men nhưng ít ai có tấm lòng hào hiệp như ông Hãn. Thấy ai thiếu thốn, cần gạo, cần mì, cần sữa, cần thuốc lào … là thể nào ông cũng chu cấp, không nhiều thì ít. Ông sẵn lòng biếu tặng dù đối với anh em chưa quen, biếu tặng cả anh em tù hình sự. Cho nên ông được anh em xưng tụng là “Ông Hoàng của tù”. Xét ra, với tấm lòng độ lượng, đồng bệnh tương lân của ông, ông Hãn xứng đáng với lời xưng tụng ấy.

Đội rau của tôi và đội già yếu ở chung một lán nên tôi rất gần gũi với ông Hãn. Ông ta cho hay là “trăm sự cũng là nhờ ông A., ông anh vợ của tôi. Mấy chục năm nay, hai cụ nhạc tôi ở với chúng tôi ở trong Nam. Ông anh nhà tội thì ở lại ngoài Bắc. Bây giờ chắc ông nghĩ cái tình các cụ ở với vợ chồng tôi vui vẻ, đầm ấm nên ông anh vợ tôi thương tôi mà thăm nuôi đều đặn.” Bản thân kẻ viết bài này chắc cũng phải cảm ơn ông A. Vì ở đây tôi có lúc sốt rét rất nặng, tưởng đã đi rồi. Lúc bấy giờ tôi chưa quen ông Hãn; chỉ nghe tin tôi sốt rét, ông đã tặng ngay cho tôi 3 viên Fansidar. Uống xong là khỏi, là dứt sốt cách nhật, dứt vàng da, vàng mắt. Cho nên sau này được đổi về đội rau ở cùng với ông Hãn một nhà, tôi mới gần gũi với ông Hãn và càng ngày càng thân thiết với ông hơn.

Thằng nhỏ người thiểu số khi được sưởi ấm, được uống sữa nóng sau đó được bác sĩ VN rửa vết đau sâu quảng rồi lấy penicilline bột của “ông hoàng của tù” rắc vào thì nó khỏe ra. Đến trưa thì nó tập tễnh đi về được. Nó nói là buổi sáng sớm, tính đi vô rừng kiếm măng, kiếm nấm nhưng lạnh quá, chịu không nổi. “Ông hoàng của tù” tặng thêm cho nó gói mì cùng với hộp sữa uống dở và ông già đồng bạn làm rau của tôi, Thượng tọa Thích Thanh Long thì tặng luôn nồ chiếc áo blouson của ông đang mặc. Thằng nhỏ ra về mạnh ra, no lên. Thấy ông già gần 70 tuổi co ro vì lạnh, cái áo blouson đã tặng cho thằng nhỏ rồi, một vị linh mục liền lấy chiếc áo len dự trữ của mình ra tặng ông bạn tu hành. Ở ngoài đời, ít khi có chuyện một ông thượng tọa lại đi mặc áo của ông linh mục. Nhưng ở trại tù này chuyện đó đã xảy ra. Sau đó, theo lời bác sĩ VN, cứ hai ngày thằng nhỏ lại tới để bác sĩ chăm nom cho nó về cái vết thương sâu quảng. Từ nhỏ đến giờ nó, cũng như đồng bào ở đây, chưa bao giờ uống hay dùng thuốc Tây, bây giờ uống vô sao nó kiến hiệu như thần. Chừng 1 tháng sau thì thằng nhỏ khỏi vết thương chân và có da có thịt hẳn lên. Tụi tôi, ai cũng gần gũi, mến thương, bù trì cho thằng nhỏ. Tù đã 6, 7 năm, lũ chúng tôi ai mà không nhớ vợ thương con. Nhất là nhớ con. Nói ra xin các bà đừng giận, chúng tôi phần lớn là nhớ con hơn là nhớ vợ. Tụi nhỏ sinh ra đâu có tội tình gì mà chúng phải mang cái án của bố nó, là chúng tôi để lại. Học không được học, làm không được làm. “Con ngụy” thì sống không được rồi, nếu không bữa no bữa đói ở khu kinh tế mới thì cũng vất vưởng nơi đầu đường xó chợ ở đô thành. Theo xã hội mới chúng thuộc về giai cấp bị triệt tiêu, không có lý do tồn tại.

Ở đây giữa chốn rừng sâu núi thẳm, nghĩ lại lời anh trưởng trại Trung tá Công an Thùy “mồi”, còn rởn tóc gáy. Anh ta khi tới đây mới là thiếu tá, vì có công gây dựng trại tù dã chiến Thanh Phong, nơi giam giữ lũ ác ôn, nợ máu nên vừa thăng trung tá. Tụi tôi gọi anh ta là Thùy “mồi” vì anh ta tên là Thùy có cái cười “tiếp theo” rất là đặc biệt. Anh ta nói năng, chuyện trò “nhạt bỏ cha” nhưng lại muốn người ta cười tán thưởng, nên phải cười “mồi” trước. Anh ta phát ngôn thế này “Các anh ở đây, lao động vinh quang, biến nơi này thành nông trường, lâm trường, thành thị trấn. Rồi đây, đảng và nhà nước sẽ khoan hồng cho gia đình các anh lên đây đoàn tụ … Vui biết mấy.” Nói đến đây xong là anh ta cười “mồi”. Nhưng ai mà cười theo cho được. Có khi còn rụng rời muốn khóc …Giả thử kế hoạch của đảng và nhà nước được trưởng trại Thùy “mồi” thực hiện thành công, nói đổ xuống song xuống biển, thì con tôi, cháu tôi có lẽ cũng sẽ giống như thằng nhỏ thiểu số kia. Đói rét, ốm đau, bệnh tật rồi một ngày nào đó rũ xuống im lìm như cây cỏ bên đường mục rã. Không, con tôi không thế được, cháu tôi không thế được. Chúng nào có tội tình gì. Cho nên bây giờ chúng tôi gần gũi mến thương, bù trì cho thằng nhỏ thiểu số kia, chính là chúng tôi tự thương con, thương cháu mình trước hết.

Ánh đuốc

Cái chuyện ông bạn tù già của tôi, Thượng tọa Thích Thanh Long đang buổi lao động mà bỏ ngang, ôm thằng nhỏ người thiểu số ngất đi bên suối về bệnh xá rồi săn sóc cho nó tỉnh lại được chuẩn úy Kh. phó ban giáo dục trại hăm he ghê gớm – bắt làm kiểm điểm, đích thân ông già phải lên ban giáo dục để cho “cán bộ” hỏi tra. Ông già bị kết vào 2 tội: vi phạm nội qui (liên lạc với dân) và khinh thường lao động (bỏ ngang buổi làm). Ông đang bị chuẩn úy Kh. đề nghị kiên giam. Nhưng đề nghị của chuẩn úy Kh. chưa được thi hành vì trung úy L. trưởng ban giáo dục trại còn lờ lững “để đấy đã”. Từ khi đưa tù vô Nam và ở trong đó một thời gian, trung úy L. hình như trở nên một con người khác. Thái độ đối với tù nhân cởi mở, dễ dãi hẳn ra. Không biết y ta đã mục kích những gì ở Sài Gòn nhưng cái câu đầu lưỡi của y ta bây giờ là “ở trong Nam người ta thế này, trong Nam người ta thế khác”. Trước đây y ghét thậm tệ các ca khúc miền Nam, mà y ta gọi là “nhạc vàng bệnh hoạn”. Nhưng từ khi ở miền Nam về, thỉnh thoảng lại thấy y ta huýt sáo miệng nho nhỏ bài “Em ơi, nếu mộng không thành thì sao”. Một bữa vừa kẻng nghỉ giữa buổi, y ta lững thững đi vào đội rau của tôi. Ở đội này có mấy tay văn nghệ, ca hát “ra gì” lắm. Một anh là đại úy phi công, giọng thật ấm, thật trầm hát cứ như Nat King Cole vì anh ta học ở Mỹ trên 3 năm. Một anh khác, nguyên là tỉnh đoàn phó xây dựng nông thôn, nên ngoài việc ca hát tân nhạc, anh ta còn ca vọng cổ rất mùi. Ở trường huấn luyện xây dựng nông thôn, cổ nhạc là một môn bắt buộc trong chương trình, vì về miền quê trong Nam mà không biết cổ nhạc là kể như “trớt quớt” làm sao mà đi vào quần chúng. Lại có một tay nữa, dân trung ương tình báo nhưng ngày xưa có được đi huấn luyện ở Pháp, hát những bài Tây ban nha rất độc, đặc biệt là bài Guantanamera của Cuba.

Trung úy L. tới thăm anh em đội rau, rồi y ta đưa ra bao thuốc lá mà xởi lởi “các anh cứ hút thoải mái”. Tù mà vớ được thuốc lào hay thuốc lá thì cũng như “lân thấy pháo”. Ông già Thượng tọa đội rau của chúng tôi tới hôm nay chưa phải kiên giam cũng là nhờ trung úy L. này. Y ta đề nghị anh em hát một vài bài giải lao. Được giới thiệu, tay phi công liền hát bài “Hải Phòng, thành phố hoa phượng đở”. Anh công an bảo vệ nghe xong vỗ tay đôm đốp “Chất giọng anh này tốt. Hát bài “bác đang cùng chúng cháu hành quân xem nào.” Trung úy L. nghe vậy liền giơ tay “thôi, hát bài ấy ở đây không hợp”. Y ta cười cười mà hỏi tay phi công vừa hát: “Có bài nào rậm rịch không?”. Những điệu Swing, Bebop, Cha Cha Cha ở ngoài Bắc trước đây là cấm chỉ, nhạc tư bản đồi trụy, không được chơi, không được hát. Nhưng bây giờ thể loại đó đang được thịnh hành, nhất là giới trẻ. Núp dưới niêm hiệu “ca khúc chính trị” những bài hát nhạc điệu rộn rã, vui tươi, thúc giục những cái thân hình uốn éo, kêu gọi những bước chân nhảy nhót đang là thời thượng. Những bài ca “khẩu hiệu”, thuộc loại “ơn đảng, ơn người” đang lùi vào lãng quên. Tất cả những bài hát rộn rã, vui tươi theo lối mới được quần chúng miền Bắc gọi chung là “nhạc rậm rịch”. Cái gì chứ hát “rậm rịch” là nghề của chàng, tay đại úy phi công này ở Mỹ lâu năm, hát tiếng Mỹ hay hơn tiếng Việt. “Nhưng mà hát rậm rịch thì chúng tôi chỉ biết hát bài nước ngoài không có bài hát trong nước.” “Bài ngoại cũng được nhưng là bài gì?”

“Bài này gọi là Beautiful Sunday”. Nói xong, tay đại úy phi công nhìn tôi, như ngỏ ý một sự tiếp tay. Tôi liền trình bày “Bài này đã trở thành bài hát quốc tế, đài Hà Nội thỉnh thoảng vẫn chơi” (cái này phịa, không dám bảo đảm à). Bài này gọi là bài “Chủ nhật hồng” ca ngợi phút nghỉ ngơi của người lao động”. “Chủ nhật hồng là được rồi, ca ngợi người lao động là được rồi”. Trung úy L. phất tay ra hiệu “cứ hát”. Ở xã hội ngoài Bắc, có những từ như đỏ, như hồng, như lao động có sức công hiệu như một thứ dầu bôi trơn, đi qua được mọi ngõ ngách khó khăn, phức tạp nhất.

Sau đó cứ vài ba ngày trung úy L., trưởng ban giáo dục trại K2 lại đến đội rau của chúng tôi để thưởng thức nhạc rậm rịch, và nghe vọng cổ … Ông già Thượng tọa của chúng tôi tất nhiên là được yên thân, cái đề nghị “kiên giam” của chuẩn úy Kh. vẫn còn nằm trong ngăn kéo, chưa được thi hành. Trong một dịp trung úy L. đến đội rau, ông già Thượng tọa còn đề nghị là đồng bào ở đây tật bệnh còn nhiều quá, người thiểu số sống theo quán tính từ xưa để lại, chưa biết phép vệ sinh, chưa biết đến y khoa. Có những tật bệnh chữa được mà không chịu chữa, hay là không có người chữa, không có thuốc chữa. Như sốt rét uống nước măng chua, sâu quảng chỉ rửa nước suối và đắp lá làm sao mà khỏi. Nay Bác sĩ VN, sau giờ khám bệnh buổi sáng gần như hết việc nên Bác sĩ VN tình nguyện đi theo anh em “diện rộng”, những anh em khỏe mạnh lên rừng lấy nứa, lấy tre, lấy gỗ … để nhân đó đi tới các bản làng xung quanh khám bệnh cho đồng bào. Bác sĩ “khùng” muốn đi ra ngoài cho đỡ tù chân, vướng cẳng và cũng muốn nhân dịp này giúp đỡ đôi chút cho đồng bào. Hai bệnh phổ biến nhất ở đây là sốt rét và sâu quảng. Trước khi đề nghị của ông già Thượng tọa và Bác sĩ VN được chấp thuận, “ông hoàng của tù” cựu đại tá an ninh Nguyễn Văn Hãn đã phải thưa với mấy vị linh mục vốn sẵn thuốc và gửi cấp tốc thư về nhà để xin tiếp tế ngay thuốc Penicilline bột và thuốc chống sốt rét cùng với thuốc tím, bông băng. Khi bác sĩ VN được chấp thuận mỗi tuần 2 lần đi theo anh em diện rộng lên rừng thì chiều chiều trước khi vô buồng ở lán già yếu và đội rau chúng tôi lại có cuộc họp. Bác sĩ VN ra đơn thuốc, ông hoàng của tù sửa soạn thuốc từng trường hợp. Bác sĩ VN dặn dò mấy anh em diện rộng cầm những phong thuốc ấy trao cho từng người bệnh ở làng bản xung quanh. Bác sĩ VN kể lại rằng: làm cho đồng bào thiểu số ở đây uống thuốc chống sốt rét không phải là dễ. Đưa thuốc cho đồng bào thì đồng bào không uống. Một phần vì không tin tưởng, phần khác vì tuyên truyền của chính quyền Cộng sản cho rằng tù nhân ở đây là tụi uống máu người không tanh, chuyên hãm hiếp đàn bà, cắn cổ trẻ con nên phải tránh cho xa. Kẹo, bánh, thuốc men của chúng là thuốc độc cho nên có cho thuốc đồng bào cũng không dám uống. Thằng nhỏ ngất đi bên bờ suối được anh em tù chữa chạy, rồi tặng thuốc men, quần áo, cái chân sâu quảng đã lành rồi nhưng dân thiểu số ở tản mác trên rừng núi, chưa gây được tiếng vang sâu rộng. Họ bớt e ngại đi, điều đó rõ ràng, nhưng vẫn chưa tin. Muốn cho đồng bào uống thuốc Bác sĩ “khùng” phải trình bày thật cặn kẽ cho đồng bào rõ: “Tôi và anh em tôi đi rừng đều không sốt rét vì chúng tôi uống thuốc này.” Bác sĩ VN đưa ra 2 viên thuốc giống nhau. “Bạn chỉ cho tôi một viên thuốc đi, viên nào cũng được, rồi tôi uống trước mắt cho bạn coi. Thuốc này ngừa sốt rét, ngã nước.” Đồng bào thiểu số chỉ một viên thuốc. Bác sĩ VN cầm viên thuốc đó uống liền. Uống xong vẫn thấy khỏe như thường. Không sao. Không phải là thuốc độc. Một lúc sau, đồng bào thiểu số mới chịu uống viên thuốc còn lại. Người thiểu số không uống thuốc Tây bao giờ nên khi uống vô, nó công hiệu liền liền, cứ như thần dược. Ai uống thuốc của Bác sĩ “ngụy” cho đều dứt sốt rét, mắt bớt vàng, chân phù, bụng chướng đều thuyên giảm. Cái bệnh sâu quảng còn dễ nữa. Cứ rửa nước sôi để nguội pha thuốc tím, hết thuốc tím thì pha nước muối cũng được, rồi rắc penicilline bột, băng bó lại cho khỏi ruồi bu muỗi đốt là vài tuần sau, vết thương sâu quảng “kín miệng” liền. Không những chữa cho đồng bào ở xung quanh, vợ con cán bộ ở trại có đau cái gì cũng là một tay Bác sĩ VN. Ông bao hết chữa hết. Gọi là “cán bộ” nhưng họ có gì đâu. Một gian nhà trống trải trên đồi, vợ chồng con cái sống lây lất chỉ hơn tù 1 chút. Tù ăn 13 kí gạo, cán bộ ăn 15 kí. Tù phải ăn độn sắn khô, cán bộ ăn độn sắn tươi hay khoai lang, khoai sọ. Trường học, bệnh xá thì ở ngoài huyện Như Xuân cách đây hàng 7, 8 cây số. Mấy đứa trẻ học trò người địa phương, cùng con cán bộ, mùa lạnh mà đi học buổi sớm, quần áo phong phanh, mặt mũi tím bầm vừa đi vừa xuýt xoa. Chúng phải đi từ sớm mới kịp giờ học Trời mùa đông, 6, 7 giờ sương chưa tan. Những đứa trẻ đi học, mỗi đứa cầm một ngọn đuốc bằng nứa trên có miếng giẻ tẩm dầu trám. Đuốc cháy leo lét, những cái đuốc này không phải chỉ để soi đường mà có lẽ để cho chúng đỡ tê đỡ cóng trên con đường rừng buổi sớm. Những ánh đuốc đã xa, chập chờn trong sương sớm. Ông bạn tù già của tôi, Thượng tọa Thích Thanh Long, nhìn theo khe khẽ thở dài …

(1993)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply