Chim Mỹ Thuận

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Aug 2026

Đã 45 năm rồi mất nước, làm thân phận bèo dạt hoa trôi viễn xứ. Đêm đêm ngồi trầm trầm bên ly rượu đỏ, màu vang đỏ như màu nước mắt hồng quê hương (khóc đến mắt chảy máu). Cạn hết vài ly, lúc xỉn xỉn, lưng chừng say, tui lại thả hồn mình về quê cũ.

Người ta nói tuổi trẻ sống cho hiện tại rồi nghĩ về tương lai. Còn tuổi già sống cho hiện tại lại ‘U turn’, nghĩ về quá khứ. Tui cũng vậy! Già rồi, thân xa quê, tui nhớ nhà, tức cái quê của mình, thuở còn thanh xuân sao mà tha thiết?.

Vậy là tui lại dỡ những bài thơ cũ ra đọc:

“Đêm qua Bắc Mỹ Thuận.
Mối sầu như nước sông!”

***

Nhưng em yêu của tui, tức con vợ tui, lại có tâm hồn ăn uống chớ không thơ ca gì ráo trọi!

Từ Cần Thơ theo chồng, tức là tui, về Mỹ Tho làm đám giỗ Má của tui, gặp bữa kẹt Bắc Mỹ Thuận tới cả tiếng đồng hồ. Qua Bắc rồi mà xe lại chưa qua tới thì em yêu xề ngay vô mấy cái sạp bán nem Lai Vung, bánh phồng tôm Sa Đéc, mấy cái sạp bán ổi xá lị Mỹ Thuận, nhai dòn rụm hay xoài cát Hòa Lộc ôi thôi nó ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Em mua vài chục (chục tới 14) cho tui xách thấy Tía tui luôn!

Sở dĩ em yêu thích mua mấy thứ đó là để làm quà, hối lộ mấy đứa em chồng (Kẻo chị dâu, tụi nó ghét, len lén nó bỏ thêm muối vào nồi canh em mới nấu, (mặn chát ai mà ăn cho được?)… là có nước đem đi đổ chớ cúng kiến gì?

Còn tui không phải mua để hối lộ như em yêu mà tui mua thứ tui thích, tui ăn.

Tui thích ăn ‘chim’!

(Cái sở thích ăn chim Mỹ Thuận chẳng qua tui theo cái truyền thống của Tía tui đấy thôi! Ôi nhớ xưa trào Đệ nhứt Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, cái thuở VC chưa có dậy, chưa đồng khởi vùng lên mất tự do gì gì đó thì đất nước, quê mình thiệt là thanh bình hết biết.

Mấy người bạn văn chương làm báo chung với Tía tui, chiều sập tối rồi mà từ Sài Gòn còn chạy xe ‘Traction’ đen xuống ghé nhà tui ở Cua Đạo Ngạn Mỹ Tho để rù quến rủ rê Tía tui đi Mỹ Thuận ăn chim.

Tui xin theo nhưng mấy ồng hổng cho, còn phán rằng:

“Con còn nhỏ chưa biết ăn chim đâu. Trộng trộng thêm chút nữa, chim thiếu gì thì ăn đâu có muộn!”

Sau nầy lớn lên, tui mới biết là mấy ông thần văn nghệ văn gừng nầy hổng muốn con nít theo chộn rộn mất vui cả đám. Phần có con nít theo mấy em Mỹ Thuận lại nghĩ trùng ngay chóc là: “Anh có vợ con đùm đề rồi sao còn ve vãn, ‘dê’ em nữa mà chi?)

***

Mỹ Thuận cũng không xa miệt Đồng Tháp Mười lắm đâu, nơi chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Vào đầu mùa mưa, khoảng tháng Ba, tháng Tư Âm lịch, lúc ấy lúa đang ngậm sữa trổ đòng, đàn chim trời kéo đến kiếm ăn, nào le le, chằng nghịch, cúm núm, gà nước, quốc, trích, ốc cao, võ vẽ…

Dĩ nhiên thịt chim ngon hơn thịt gà. Vì nó bay lượn nhiều, tập thể tháo nhiều là thịt nó cứng hơn; ngon hơn hè.! Nên bà con mình lũ khủ kéo nhau đi bắt ‘chim’! Vừa có ‘chim’ ăn; vừa ngăn không cho phá lúa!

Còn anh nào dở ẹc như tui, chỉ biết ăn thôi hỏng biết gì; hỏng biết bắt chim trời, cá nước gì hết ráo thì đành phải bỏ tiền ra mua! Mua mấy con cúm núm, gà nước hay một chị le le, về ‘rô ti’ ăn với bánh mì như Tây là bá cháy.

Có người gọi là khìa, còn ai khoái tiếng Tây thì gọi là ‘rô ti’. Tên khác nhau như xét cho cùng cũng vậy!

Cách làm nhổ lông chim cũng như nhổ lông gà! Xong để ráo nước, rồi xát gừng, ngâm rượu trắng quanh mình. cho thơm thịt chim. Ướp tiêu, muối, bột ngọt, đường, hành, tỏi để thấm khoảng một giờ. Phi hành tỏi thật thơm, bỏ thịt vào chiên vàng đều, đổ nước dừa tươi rim thật vàng, nước còn sền sệt là được.

Xong dọn xuống ‘quất’. Thêm một xị rượu đậu nành! Rồi có chết cũng đành!

Một em bán chim, đẹp mặn mòi, hương đồng gió nội, thấy tui xà lại, bèn ăn nói gió đưa ngọt ngào như mận Trung Lương:

“Anh qua Bắc Mỹ Thuận.
Nhộn nhịp khách lữ hành.

Nên em mời đon đả:

“Ăn ‘chim’ em đi anh!”
“Chim em toàn những nạc.
Chim em chẳng có xương.
Anh sờ đi: toàn thịt!
Lại to hơn chim thường!”

Tui dáo dác dòm chừng; thấy em yêu đứng cách tui hỏng có bao xa, thủ trước cho chắc ăn, bèn xuống xề, hạ giọng nho nhỏ với em bán chim trên bờ Bắc Mỹ Thuận như vầy:

“Ừ! Chim em bự lắm!
Nhưng anh cũng… có rồi?”

***

Tui xa quê thiệt là lâu, đã ¼ thế kỷ, tức tới 25 năm, mà chưa có về khi còn mấy đứa răng hô, mang ‘sắc cốt’, chưn dép râu, đầu nón cối, ngồi kiểu nước lụt đang làm cha trên cái đất nước yêu thương đã từng bị thương vì đạn pháo 130 li của Nga Xô, Trung Cộng năm nào.

“Em như hoa tím lục bình.
Nhấp nhô trên sóng biết mình về đâu?
Chiều về óng ả ngàn dâu ?.
Hoàng hôn không khói biết đâu là nhà. ..”

Thôi thì chỉ biết đêm nay, đêm của những ngày sắp 30 tháng Tư oan khốc đó, tui xin đốt nén hương lòng để nhớ về:

“Những người muôn năm cũ!
Hồn ở đâu bây giờ?.

Cho dù bây giờ đất nước có tự do, tui có bò về thăm quê cũ thì tất cả đã muộn màng hết cả rồi!

Tui đã già rồi. Hết xí quách rồi!

Chim Mỹ Thuận, nếu thấy, tui chỉ còn biết ‘dòm’ thôi!

Răng cỏ đâu mà nhai rau ráu cả xương lẫn thịt như ngày xưa, thuở còn thanh xuân nữa?

Giờ qua sông Mỹ Thuận
Nhớ chiếc Bắc ngày mơ!
Thương cô em mười tám.
Biết tìm đâu bây giờ?…
Chim ơi!”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Chơi vơi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/08/2017 

Post by Sơn râu 27 Aug 2026

“Đời không Facebook, đời nghe chơi vơi!” Một cô gái trẻ đẹp đã viết thế. Đăng kèm bức ảnh chụp nửa người ngó mát mắt, thông thoáng. Cô có gần 500 người bạn, không rõ có bao nhiêu kẻ thù mà bên dưới hiển thị lắm lời bàn, theo đúng thuật ngữ phổ thông của tín đồ facebook: “Sự thặc là em thít lộ hàng, phại hông?” “Em đang ở đâu vại? Hăm mún gặp nhao sao?” “Kiếm chiện hen. Òi, thì thoy!”…

Tôi rất chơi vơi, lòng nghe hụt hơi, những muốn ra khơi, bơi vào facebook. Muốn thiền đạo tu tập cũng bị rớt mạng, mất sóng. Ngày qua rất chóng, dù thời tiết đang nóng, lắm chuyện để hóng. Chẳng giàu kinh nghiệm gì, nhưng tôi mang nhận xét là ở thế giới facebook, bạn chớ mất công theo dõi những gì mà các ông bà cụ tuổi trên 50 đưa lên, chán lắm, tẻ nhạt lắm, chả học hỏi được gì mới lạ cả! Từ 50 trở xuống, cách suy nghĩ, tầm nhìn, lối viết bộc trực của họ khiến mình “đã”, chưa kể họ biết lấy nguồn hình từ đâu đó về minh hoạ thêm. Vui đáo để! Một người nữ tuổi 35, có nghĩa là sanh sau 1975 đăng dòng tâm trạng, chữ trắng trên khung hình đen:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam nhớ bác nổi da gà!”

Cô ta chua thêm hàng chữ bên dưới: “Bổn cô nương không mang hậu ý gì to lớn đâu, chỉ nhắn gửi mấy em nên lưu tâm chớ viết sai chính tả. Nỗi nhớ nhà khác với nổi da gà”. Có 320 like. Qua hôm sau, đọc thấy đôi dòng vấn đáp cũng chính nhân vật ấy treo lên (triết lý đầy mình):

-Tại sao phụ nữ xem phim khiêu dâm thường theo dõi cho tới hồi kết thúc? – Bởi vì họ luôn muốn nhìn thấy một cái đám cưới sẽ diễn ra.

Thanh niên khác thanh nữ. Thanh niên ưa cập nhật thời sự hơn. Một cậu đăng tin: “Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ khẳng định: “Ngành sư phạm phải học tập kinh nghiệm từ ngành công an và quân đội…” Người mang nick name Sung Rụng ở Hà Nội trải tâm tư: “Không cứ là ở lãnh vực giáo dục, mọi ngành nghề khác nên nhập chung vào hai bộ phận không nhỏ ấy (Công An & Quân Đội). Có thế bọn bành trướng phương Bắc mới hãi sợ. Chết òi! Chúng làm éo gì mà tập trung nhân lực đông vãi. Hăm mún gặp nhao đâu! Kính nhi viễn chi thoy”.

Một cậu trẻ khác mang tên Thik Bia Ôm ngụ ở Sài gòn chụp lại hình ở báo Tiền Phong: “Phạm Trọng Luật- Cục trưởng cục chống tham nhũng tuyên bố: Nói đến tham nhũng là ta nghĩ tới những người có chức vụ và quyền hạn. Như thế, chống lại họ có khi chúng tôi phải chết trước!” Bạn Thích Bia Ôm viết: Một Like cho ông quan sáng suốt này. Chế độ ta không mấy ai có tầm hiểu biết sâu rộng và “sai qui trình” như thế cả!

Lại thêm anh bạn trẻ người Huế đăng đàn: “Nhắc tới Huế thì nghĩ ngay tới sông Hương núi Ngự, tới nón bài thơ và tà áo dài, tới bún bò và con đò, tới lăng tẩm đền đài miếu mạo chùa chiền… Như thế e còn thiếu sót lắm thứ, bởi thời bi chừ nói về Huế thì buộc phải nói tới nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân. Bà con xứ Thần Kinh sinh từ năm 1968 đều phải khắc dạ tên ôn. Sau 75, gia đình ôn ở bên Đập Đá đã xảy ra lắm chuyện cười ra nước mắt, vì có tính riêng tư nên tôn trọng chớ kể ra “làm gì cho tốn giấy”, chỉ nhắc lại chút gì dính dáng tới “Huế học”. Một người sinh viên nhảy núi năm 1966. Hai năm sau, về “ăn Tết” ở Huế xuân Mậu Thân, ôm AK-47 bắn vung vãi thay đốt pháo mừng giải phóng bà con ra khỏi sự kềm kẹp ác ôn của bọn Mỹ Nguỵ. Phải đợi tới 1975 mộng ước mới tựu thành. Một kẻ theo phong trào “đấu tranh đô thị”, nói theo phương ngữ người miền Nam: “Ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” đã sớm lộ rõ hành vi tráo trở bằng động thái vào nhà người thầy khả kính Phan Văn Dật để soán đoạt tủ sách quý của thầy. Nón tai bèo cùng đôi dép râu chưa cởi xong ôn đã chóng mang được chức vị: Nhà Huế học. Thủ lợi một tủ sách đồ sộ bên lưng vậy mà ôn tuồng như đã phụ rẫy văn hoá. Mới đây ôn viết trên facebook: “Từ năm 1945 tới 1954, ở Huế không thấy bóng dáng sách của Tự Lực văn đoàn đâu cả!”. Sông Hương học, núi Ngự học, Đồng Khánh học, chợ Đông Ba học e phải nên tìm gặp nhà Huế học một phen để giao lưu tình cảm xem thử ôn noái như rứa thì có phải ôn quen “nói vậy mà hổng phải vậy”? Ôn nớ năm nay nghe đâu đã 81 tuổi rồi, chưa đếm từng ngày như ôn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhưng xem chừng đã bị “ma đưa lối quỉ dẫn đường” để phải phát ngôn linh tinh. Một nhà Huế học, sao khi về già chẳng ngồi bình tâm viết hồi ký kể lại chiến dịch trận chiếm đóng 30 ngày đêm ở Phú Xuân? Như thế có phải hách xì xằng hơn không, để lưu danh thiên cổ”.

Tôi rất chơi vơi. Và thú thật tôi hơi bị cao huyết áp. Vì vậy trước sau tôi đành làm đứa lạc hậu không dám mở cho tôi một khoảnh đất Facebook. Tổn hại sức khoẻ và thời giờ đã đành, mở ra thì biết lấy gì mà treo lên? Trời sinh chân tôi thuộc loại thiếu thước tấc, không được dài miên man. Lẽ nào ăn gian lấy hình nữ giới làm ảnh đại diện, photoshop cho thành điện nước đầy đủ xong rồi câu like: Được tới 500 “em” sẽ cởi áo nịch dzú. Mún vại hông? Hehehe.

Hoặc có thể nghĩ ra trường hợp hai: Tôi sẽ bị chúng hack. Cho mày chết, thằng phổi bò. Sao mày đã thôi ăn cơm quốc gia mà còn ưa chửi con ma cộng sản thế? Đao thì lỡ bị đoạn lìa mà cứ đòi rút đao tương trợ. Bạn bè mày sinh hoạt vào ra chốn nọ vẫn tịnh khẩu như bình, tự xem đó là chốn vui chơi thoải mái tha hồ khoe ảnh dĩ hoà vi quý kính lão đắc thọ. Sao mày chứng nào tật nấy, cứ ưa lo bò trắng răng?

Nếu có facebook đời tôi chơi vơi, tôi sẽ bỏ bút. Bịt tai nhắm mắt, dại khờ như Bùi Giáng bảo, đời một giấc chiêm bao!

Hồ Đình Nghiêm

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Aug 2026

Khi mở mắt chào đời ta khóc oe oe trong khi mọi người chung quanh ta đều cười. Hãy sống làm sao mà khi ta chết, mọi người đều khóc và ta mỉm cười, mãn nguyện ra đi”.

(phương ngôn Tây Phương)

Một người Việt Nam ở hải ngoại đã đem lại sự vẻ vang cho dân tộc Việt Nam, trong và ngoài nước, trên khắp thế giới. Vẻ vang không có nghĩa là xênh xang áo mũ, bằng cấp đầy mình hay giàu có hơn người, cũng như tiếng tăm ông cũng không có gì là lừng lẫy như một danh ca hay một nhà tỷ phú. Ông đã đem lợi ích lại cho toàn thể chúng ta những người Việt Nam, không chỉ là những người liên quan tới báo chí, sách vở như ký giả, nhà văn mà cả những người độc giả của báo chí, sách vở hay trên internet, không phải chỉ trong thế hệ này mà vấn đề là để lại cho đời sau. Người đó là Kỹ sư Hồ Thành Việt, người cha đẻ của bộ chữ Việt VNI.

Chúng ta cũng biết là vào thời trước, chúng ta làm báo, in sách phải viết bằng tay, xong đưa cho nhà in, giao cho thợ sắp chữ (typo). Người thợ typo đứng trước một hộc chữ abc cùng các dấu chữ Việt, dùng chiếc gắp nhỏ gắp những con chữ và dấu tí xíu được đúc bằng chì, sắp ngược các chữ ấy từng hàng vào một chiếc khay cạn. Xong một trang, người thợ nêm chặt các con chữ yà các góc cho chặt để các con chữ khỏi rơi ra. Muốn đọc bản vỗ (morasse), phải dùng mực lăn lên các con chữ, xong dùng một tấm giấy trắng dày (như loại giấy bản) và tẩm nước đặt lên mặt chữ. Sau đó đặt một tấm gỗ lên tờ giấy bản, dùng một cái búa gỗ vỗ nhẹ lên tấm gỗ để mặt chữ ăn sâu vào tờ giấy bản. Bản chữ ấy gọi là “bản vỗ “được đưa tới cho một ông “thầy cò” (corrector) sửa lỗi. Muốn sửa những chữ sai, người thợ typo lại phải gắp ra từng con chữ sai và chêm những con chữ đúng vào lại trong bảng chữ. Vào khoảng 1970, kỹ thuật in tiếng Việt tiến bộ hơn bằng kỹ thật “monotype”, người thư ký đánh máy vào một chiếc máy “xuyên phiếu” với những cuộn giấy có bấm những lỗ nhỏ. Gài giấy xuyên phiếu này vào máy đúc, máy này sẽ đúc từ chì lỏng từng chữ một và tự động sắp lại từng hàng và đẩy ra ngoài, xếp lại từng trang như ý muốn của người đánh máy.

Tuy vậy, vẫn phải dùng bản vỗ như cách trên và khi sửa bài lại cũng phải gắp từng con chữ ra. Hồi đầu năm 1976, người Việt định cư tại hải ngoại phải làm báo bằng cách đánh máy chữ, xong bỏ dấu bằng tay (vì ít ai chạy loạn mà xách máy chữ có dấu tiếng Việt theo), rồi mới đem đi chụp lại theo kỹ thuật “offset”.

Đến năm 1980, kỹ thuật PC, IBM và Macintosh ra đời nhưng bộ chữ Việt cũng còn là vấn đề nan giải, nếu không có tiếng Việt thì chúng ta lại phải đánh dấu Việt cho từng bài. Tuy bộ chữ Việt đầu tiên Việt Nam Labs là do kỹ sư Nguyễn Nam Việt tạo ra, nhưng năm 1984, ông Hồ Thành Việt đã thành công cấu tạo bộ chữ Việt VNI dùng cho DOS qua nhu liệu Ventura của Mỹ dễ dùng và được coi như hoàn chỉnh nhất … Sau đó, Ông Hồ Thành Việt lại cấu tạo được bộ VNI Word để dùng trong Ventura, Microsoft Word, Page Maker, Corel, Excel … và theo liền với Window 3.1, 95, 97, 98, 2000, ME, XP. Ngày nay ta có thể đổi từ kiểu chữ khác ra VNI, đọc và gởi tiếng Việt trong e-mail. Ông Hồ Thành Việt cũng là tác giả các nhu liệu cho trẻ em học tiếng Việt, Lịch Ông Đồ, Thầy Cò, Chính Tả Tự Điển, Tự Điển Anh-Việt, Việt-Anh. Sự nghiệp đang dở dang của ông là bộ Phonic VNI dành cho trẻ em học tiếng Việt. Ông Hồ Thành Việt sinh ngày 20 tháng 7-1955 tại thành phố Nha Trang. Ông định cư tại Mỹ năm 1975. Nhìn thấy nhu cầu ngôn ngữ Việt Nam trên toàn thế giới phải đi cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật computer với những nhu liệu càng ngày càng đa dạng, nên đã lập ra công ty VNI chuyên sản xuất software với nhiều font chữ tiếng Việt có dấu để cho hầu hết người Việt trên thế giới dùng. Là người Việt, chúng ta phải nhớ ơn ông. Học vấn của ông không phải dành để nuôi sống bản thân ông và gia đình, cũng không phải mơ ước cho chuyện làm giàu, nhưng ông có tâm nguyện làm một việc gì cho người Việt, cho đất nước trong nhu cầu thông tin, văn hóa. Ta sẽ coi Ông như là một chuyên viên kỹ thuật hay như một nhà văn hóa mà chúng ta và thế hệ sau này của Việt Nam phải mãi mãi mang ơn.

Ông Hồ Thành Việt đã qua đời tại tư gia vào tối thứ năm 28 tháng 8 năm 2003 vì bệnh ung thư phổi, hưởng thọ 48 tuổi. Ông ra đi, phải nói là đang lúc ông còn quá trẻ, quá trẻ vì hai con của ông còn nhỏ, quá trẻ vì ông là người đang làm việc, chưa được nghỉ ngơi, quá trẻ vì nếu còn sống ông sẽ có nhiều cống hiến nữa cho đời, cho con người, nói trong phạm vi nhỏ là con người Việt Nam. Nghe nói những ngày sau này, ông Hồ Thành Việt chú trọng nhiều về tâm linh và đã tìm cách giúp đỡ cho những bạn trẻ nghèo hiếu học ở Việt Nam. Trước khi chết, ông cũng đã nhắn gởi bạn bè thân thuộc đừng mua hoa để tiễn ông, mà số tiền đó để giúp cho những người nghèo khó, thiếu may mắn đang còn ở Việt Nam. Con người khiêm nhường và nhỏ nhoi đó đúng là một con người đã làm nên vẻ vang cho chúng ta, cho dân tộc Việt, không phải theo cách nói của “bộ tự điển khoa bảng Việt Nam”. Ông đã không “vẻ vang” theo kiểu của những nhà đại khoa bảng, có nhiều bằng cấp, tốt  nghiệp từ những đại học danh tiếng, nhưng chưa hề có một phát minh có ích cho con người, suốt cuộc đời chỉ lo kiếm tiền, phục vụ cho bản thân và gia đình, chưa hề giúp đỡ ai, chưa hề phải nghĩ làm một điều gì đó có ích cho quốc gia, dân tộc, nói riêng là những người xung quanh mình.

Đành rằng cha mẹ nuôi cho con ăn học, không những muốn cho con sau này có nghề nghiệp ổn định để nuôi thân, mà còn muốn con trở thành người, lẽ cố nhiên là một người có ích cho xã hội. Đương nhiên ông Hồ Thành Việt cũng làm thương mãi nhưng việc thương mãi do công ty của ông chủ trương là một việc làm cho văn hóa Việt Nam. Những nhu liệu của công ty ông bán ra vừa túi tiền của một người bình thường, đó là chưa nói đến tệ nạn sao chép mà công ty VNI không thể nào kiểm soát được. Các cơ quan truyền thông ở hải ngoại đã loan tin ông mất với hàng tựa lớn với tất cả niềm thương tiếc. Họ thật sự đã mang ơn ông và công ty của ông đã mở ra cho họ một phương tiện hoàn hảo cho công việc đưa đến tay người đọc những thông tin và kiến thức hàng ngày. Ở trong nước, nếu giới truyền thông lệ thuộc nhà nước, còn là những người tử tế, những người đàng hoàng, nếu không vì đường lối của Đảng và Nhà Nước là luôn luôn dị ứng với những công trình văn hóa của hải ngoại, sẽ phải nêu lên công việc của VNI mà sách báo phải mang ơn.

Ông Hồ Thành Việt đã sống giản dị và ít tiếng tăm, cho nên nhiều người hôm nay đang gõ key board, dùng bộ chữ VNI mà không hề biết tới ông. Những dòng chữ mà tôi viết cho các bạn đọc hôm nay là do công sức của một người vừa mới qua đời hôm qua. Đêm nay, trên thế giới bao nhiêu người Việt đang đọc sách báo, gởi thư qua e-mail, các nhà in đang ấn hành tờ báo cho ngày mai, các đài phát thanh truyền hình đang dịch tin ra tiếng Việt cho các xướng ngôn viên đọc trong giờ phát buổi sáng. Dòng đời vẫn lặng lẽ trôi, những công trình tim óc nào phục vụ cho nhân loại sẽ còn tồn tại mãi mãi với thời gian. Thứ bảy vừa qua, gia đình, bạn bè và anh em trong giới truyền thông đã đưa Ông về yên nghỉ trong nghĩa trang ở ngay trong vùng Little Saigon, nơi hiện nay có ít nhất là hai mươi tờ báo, mười chương trình phát thanh, năm đài truyền hình hằng ngày đang dùng bộ chữ VNI của ông. Nơi ông yên nghỉ rất gần với những văn nghệ sĩ của hải ngoại, những người như nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, lúc mất đã hơn sáu mươi tuổi, nhưng vẫn còn là trẻ vì ông còn những hoài bão lớn lao, những công việc chưa hoàn thành, hình như trong địa hạt âm nhạc với những sắc thái của riêng ông, chưa ai thay thế được. Ông Hồ Thành Việt có lẽ là một người còn muốn sự sống vì những công trình của ông cống hiến cho con người Việt Nam chưa hoàn tất, ông ra đi trong sự thương tiếc của mọi người. “Người hiền chết sớm”, người Việt Nam hay dùng thành ngữ này để tỏ lòng thương tiếc những người đức hạnh và sống hữu ích (vì sống không hữu ích thì người đời đâu có quan tâm). Hiện nay con đường Moran ở thành phố Westminster được mệnh danh là con đường Phạm Ngũ Lão xưa kia của Saigon, phải chi tôi có quyền tôi sẽ mang tên Hồ Thành Việt để đặt tên cho con đường đó.

Thương tiếc ông Hồ Thành Việt, tôi chỉ có khả năng viết vài dòng này của một kẻ biết ơn để tiễn đưa ông. Ông chính là người “đã mỉm cười thanh thản ra đi trong tiếng khóc của mọi người thương tiếc.”

9 Trung Tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại Tá năm 2020

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on November 22, 2020 by dongsongcu

Post by Sơn râu 27 Aug 2026

Theo nguồn tin trên các trang nhà của Quốc hội Hoa Kỳ (Congress.gov), bộ chỉ huy nhân viên quân sô không quân (Air Force’s Personnel Center), bộ chỉ huy nhân viên quân số hải quân (Navy Personnel Command) thông báo các bản danh sách sĩ quan cấp trung tá được đề cử thăng cấp đại tá trong năm 2020. Trong số sĩ quan đó, có 9 trung tá hải, lục và không quân Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp đại tá, hồ sơ đã được chuyển đến Quốc hội và được ủy ban quân vụ Thượng viện chấp thuận.

Trung tá Vinh Q. Tran, chỉ huy trưởng phi đoàn* 412 quân y không quân trao hiệu kỳ đơn vị cho đại tá Gwendolyn Foster, chỉ huy trưởng liên đoàn 412 quân y không quân trao quyền chỉ huy đơn vị cho cho trung tá Arthur Lawrance ngày 16 tháng 7 năm 2019. (Ảnh của Air Force Medical Service).

Danh sách 9 trung tá gốc Việt được đề cử thăng cấp đại tá:

Không quân:

Vinh Q. Tran

Lawrence Vu Nguyen

Lục quân:

Tony D. Nguyen

Duc D. Nguyen

Thang V Ly

Hải quân:

Josephine Cam Van Nguyen

Mark Minh Duy Nguyen

Vinh Q. Mai

Thủy quân lục chiến:

Jackson T. Doan.

Trung tá bác sĩ quân y hải quân Josephine Nguyễn Cẩm Vân (Ảnh của theusatwork.com).

Năm 2019, có 12 trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp đại tá. Riêng về người Việt mang cấp tướng trong quân đội Hoa Kỳ thì hiện nay có thiếu tướng Lương Xuân Việt, tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản; Thiếu tướng Lapthe C. Flora, tư lệnh lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp lục quân Hoa Kỳ tại Phi Châu; Thiếu tướng William H. Seely III (TQLC), chỉ huy trưởng trường đại học tham mưu liên quân, tại Norfolk, Virginia; Phó đề đốc Nguyễn Từ Huấn, chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải, hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA) và chuẩn tướng John Edwards (không quân), chỉ huy trưởng bộ chỉ huy điều hành nguyên tử Enterprise, cơ quan giảm thiểu đe dọa quốc phòng tại Fort Belvoir, Virginia.

Tính đến tháng 12 năm 2020, sĩ quan gốc Việt mang cấp bậc đại tá hải, lục, không quân, thủy quân lục chiến và đoàn tế công cộng khoảng 108 vị**, không tính 13 vị đã về hưu*** và 1 vị đã qua đời. Ngoài ra, còn có nhiều vị đại tá mang họ và tên giống người Việt, nhưng chưa xác định được họ là gốc Việt, Hoa, Đại Hàn hay Mỹ !

Theo tài liệu lưu trữ trên trang Congress.gov, thì trong thập niên 80 đã có 2 trung tá bác sĩ quân y lục quân gốc Việt được đề cử thăng cấp đại tá, đó là trung tá bác sĩ quân y lục quân Nghiêm X Quang được thăng cấp đại tá vào năm 1983, và trung tá bác sĩ quân y Lục quân Nguyễn H Tu được thăng cấp đại tá vào năm 1986. Sang thập niên 90, trung tá bác sĩ quân y lục quân Nguyễn Dương cũng được thăng cấp đại tá vào năm 1992. Ba vị trên là những sĩ quan kỳ cựu gốc Việt mang cấp bậc đại tá sớm nhất trong quân lực Hoa Kỳ.

Trung tá Jackson Đoàn và đại tướng Robert B. Neller, tư lệnh TQLC quan sát đại đội India, tiểu đoàn 3, trung đoàn 5 TQLC đang huấn luyện thao dượt Range 400. tại Marine Corps Air Ground Combat Center Twentynine Palms, Calif., ngày 7 tháng 11 năm 2016 (Ảnh của hạ sĩ Samantha K. Braun – alamy stock photo).

Dự đoán trong 108 đại tá Hoa Kỳ gốc Việt có thể sẽ có vị được thăng cấp tướng vào năm 2021. Có một số vị đại tá rất nổi bật đang giữ những vị trí quan trọng như: PNT, sĩ quan tình báo hải quân Hoa Kỳ; HNT, bác sĩ quân y hải quân; Michael T H Ngô, lục quân; TĐA, bác sĩ quân y không quân. Ngoài ra còn có một số vị đại tá khác đang giữ những cương vị chỉ huy không kém phần quan trọng trong các quân binh chủng trong quân đội Hoa Kỳ. Họ cũng là những ứng viên sáng giá để trở thành những vị tướng trong tương lai.

Cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới vô cùng hãnh diện về sự cống hiến của tất cả những quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong quân lực Hoa Kỳ, những hậu duệ ưu tú của Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa mang giòng máu Việt làm rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam nơi xứ người.

Nguyễn Quân

Chú thích: * Một phi đoàn quân y không quân tương đương một tiểu đoàn quân y lục quân; ** Có thể có một số đại tá trong 108 vị đã hồi hưu; *** Số đại tá hồi hưu có thể hơn 13.

Nguồn tài liệu: Congress.gov; usphs.gov; Navy Personnel Command; Air Force’s Personnel Center; Air Force Medical Service; theusatwork.com; bienxua-12 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá năm 2019; 16 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2018*

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Thời gian từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 5-1942, Phi đoàn Lae của chúng tôi không thiệt mất một chiếc Zéro nào trong những lần đụng độ với địch quân. Nhờ biết người biết ta, và nhờ vào đội hình chiến thuật hữu hiệu nhứt, chúng tôi đã tìm được lợi thế và thâu hoạch một loạt chiến thắng đơn phương.

Vào ngày 13 tháng 5, phi cơ của tôi bị hư hỏng máy móc nên bắt buộc phải ở lại. Việc này đã cho tôi dịp may nhận được mấy lá thơ vào buổi sáng, do tiềm thủy đĩnh mang đến mỗi tháng một lần. Má tôi viết rằng các anh tôi đã nhập ngũ. Một người tình nguyện vô trường phi công hải quân nhưng không được nhận, vì gặp phải những đòi hỏi quá nghiệt ngã. Thay vào đó, anh tôi đầu quân vào căn cứ hải quân Sasebo làm thủy thủ. Người anh khác của tôi xin vô Lục quân và đã lên đường sang Trung Hoa. Anh sẽ không bao giờ trở về nhà. Mãi lâu sau chúng tôi mới biết, là anh được thuyên chuyển sang Miến Ðiện và thiệt mạng ở đó trong lúc thi hành nhiệm vụ.

Nhưng dĩ nhiên, bức thơ mà tôi chờ đợi nôn nóng hơn hết là lá thơ của Fujiko. Nàng viết nhiều về sự đổi thay to tát ở quê hương, và tôi đã ngạc nhiên với cái tin hiện nàng đang làm việc trong một cơ sở biến cải thành cơ xưởng quân cụ của người chú. Nàng viết:

“Hiện tại, không ai được ăn không ngồi rồi cả. Thủ tướng đã tuyên bố như vậy. Ông ta nói rằng ngay cả phụ nữ nếu họ ở nhà mà không đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, họ sẽ bị gọi nhập ngũ và gởi vô bất kỳ phân xưởng nào xét thấy cần thiết. Do đó, để giữ em gần với gia đình, chú em đã mướn em làm việc cho ông.”

Cô em họ Hatsuyo xinh xắn của tôi có những tin tức còn đáng lo âu hơn nữa. Nàng viết rằng thân phụ của nàng đã được thuyên chuyển từ Shikoku về Ðông Kinh. Trở về thủ đô được vài ngày, nàng đã chứng kiến tận mắt các oanh tạc cơ B25 của Hoa Kỳ dội bom. Ðó là ngày 18 tháng 4.

“Em biết rằng anh đang đứng trước đầu sóng gió,” Hatsuyo viết, “và những thành quả mà anh đạt được trong việc chống quân thù khiến cho tất cả chúng em, những người sống ở hậu phương, cảm thấy vô cùng yên lòng. Nhưng Ðông Kinh và nhiều thành phố khác bị oanh tạc đã làm thay đổi thái độ của dân chúng hướng về cuộc chiến. Bây giờ mọi việc đã đều đổi khác, những trái bom đã rơi xuống đây, trên quê hương chúng ta. Bây giờ em phải cố gắng làm việc nhiều hơn để yểm trợ cho anh và những phi công khác, những người cách xa Nhựt Bản ngàn trùng.”

Hatsuyo vẫn đi học, nhưng trọn buổi chiều và vài giờ vào buổi tối nàng phải làm việc trong các phân xưởng sản xuất quân trang với các cô gái cùng trang lứa. Hai anh tôi đi lính, Fujiko và Hatsuyo làm việc trong các cơ xưởng chế thuốc đạn… tất cả đều lạ lùng.

Hatsuyo không mô tả chi tiết cuộc oanh tạc của đối phương, tuy nhiên cùng ngày đó chúng tôi đã nhận được tin tức. Ðương nhiên chính phủ đã phủ nhận những thiệt hại nặng nề. Nhưng tất cả các phi công ở Lae đều biết mức độ tàn phá của oanh tạc cơ địch. Họ đủ sức nghiền nát quê hương chúng tôi, cho dù có thể bị trả đũa sau đó. Lúc tôi đang còn đọc thơ, Chuẩn úy Wataru Handa bước vô yêu cầu tôi cho mượn Trung sĩ Honda, phi công bên cánh của tôi để thực hiện một phi vụ ở hải cảng Moresby. Chuẩn úy Handa mới đến Lae, mặc dù chưa chiến đấu ở Thái Bình Dương, nhưng là một trong những phi công nổi tiếng của Nhựt Bản ở chiến trường Trung Hoa, với 15 phi cơ địch bị hạ. Sau khi trở về từ Hoa Lục, hắn trở thành huấn luyện viên phi hành ở trường phi công Tsuchiura. Tôi không hề có một thắc mắc nào trong việc để cho Honda bay với hắn.

Tuy nhiên, Honda từ chối. Anh ta ấp úng: “Tôi không đi thì tốt hơn, Saburo. Từ trước đến nay tôi chỉ bay chung với anh, và bây giờ tôi không muốn thay đổi.”

Tôi chận ngay: “Ồ! Anh đừng có nói điên! Handa là một phi công tài giỏi hơn tôi nhiều, và cũng bay lâu hơn tôi, anh cứ đi!”

Trưa hôm đó, Honda cất cánh với 5 chiến đấu cơ Zéro khác cho một phi vụ quan sát trên không phận Moresby.

Sự miễn cưỡng của Honda khiến tôi lo lắng và tôi đã tháo mồ hôi hột trong lúc chờ đợi anh ta trở về. Hai giờ sau, năm chiếc Zéro đáp xuống: phi cơ dẫn đầu của Chuẩn úy Handa và bốn người khác. Phi cơ của Honda không thấy!

Tôi chạy ùa ra phi đạo và leo lên cánh chiếc Zéro của Handa ngay trước khi cánh quạt ngừng quay. “Honda đâu?” Tôi hỏi lớn, “Anh ta đâu? Việc gì đã xảy ra cho anh ta?” Handa nhìn tôi, mặt mày khổ não. “Anh ta đâu?” tôi hét. “Việc gì xảy ra?”

Handa leo ra khỏi phòng lái. Ðứng trên mặt đất, hắn nắm lấy tay tôi, khom mình xuống, và cố gắng lắm mới nói được. Tiếng nói của hắn run run. “Tôi… tôi rất ân hận Saburo. Honda, anh ta… anh ta đã thiệt mạng. Việc này lỗi tại tôi.”

Tôi ngơ ngẩn! Tôi không tin được! Honda không thể chết! Anh ta là một phi công bên cánh tài ba hơn bất kỳ một phi công nào mà tôi đã từng bay chung.

Chuẩn úy Handa vừa đi vừa nhìn xuống mặt đất, rồi bước vô Bộ chỉ huy. Tôi đi theo hắn không thốt được lời nào.

“Chúng tôi ở trên phi trường Moresby” vừa đi Handa vừa nói, giọng nhỏ. “Chúng tôi bắt đầu lượn vòng ở cao độ 7,000 bộ. Không thấy phi cơ địch nào trên bầu trời, nên tôi nhìn những phi cơ đậu trên mặt đất. Ðó là lỗi của tôi, tất cả đều là lỗi của tôi. Chiến đấu cơ địch xuất hiện mà tôi không thấy. Ðó là những chiếc P39 Airacobra. Tôi không biết bao nhiêu. Chúng chúi xuống mau đến nỗi tôi không kịp trở tay. Chúng tôi chỉ biết sự hiện diện của phi cơ địch khi súng đã nổ. Tôi lộn ngay một vòng, phi công bên cánh khác của tôi cũng làm như tôi. Khi tôi đảo quành lại, tôi thấy phi cơ của Honda bao trùm trong lửa đỏ. Hắn bị hoả lực chéo của mấy chiếc P39 cùng một lúc.”

Tôi đứng lại nhìn hắn trừng trừng. Handa bước đi luôn. Hắn sẽ không bao giờ phục hồi sau cú đấm vừa nhận lãnh. Mặc dù hắn là một “Sát tinh” ở Trung Hoa nhưng hiển nhiên hiện thời hắn đã mất hẳn sự nhạy bén trên không trung.

Hắn chưa từng đối đầu với chiến đấu cơ Hoa Kỳ bao giờ. Dù sao đi nữa, Handa cũng cảm thấy hổ thẹn khi hắn để cho phi công bay bên cánh bị thiệt mạng. Những ngày ở Lae hắn xanh xao vàng vọt. Cuối cùng, hắn mắc bệnh lao và được gởi trả về xứ. Nhiều năm sau, tôi nhận được một bức thơ của bà vợ Handa. Bà ta viết: “Nhà tôi qua đời ngày hôm qua sau chứng bệnh dai dẳng. Tôi viết thơ này thể theo lời yêu cầu của nhà tôi, nói lên lời tạ tội thay cho anh ấy. Nhà tôi không bao giờ hồi phục phong độ sau sự mất mát ở Lae. Lời cuối cùng nhà tôi thốt lên khi chết: “Suốt đời tôi, tôi đã chiến đấu dũng cảm, nhưng không thể nào quên được khi tôi để mất người của Sakai.”

Khi chết, Trung sĩ Honda chỉ mới 20 tuổi. Anh ta là một con người dũng mãnh trên mặt đất cũng như trên không trung. Honda được thương mến nhứt trong phi đội của Sasai. Tôi rất hãnh diện có một phi công bên cánh kiêu hùng như anh ta. Suốt hôm Honda chết, tôi giống như sống trong sương mù. Tôi đi lang thang quanh căn cứ. Tôi không lưu tâm đến đòi hỏi phải phục thù cho phi công thiệt mạng của phi đoàn, theo như những người còn lại đề nghị. Nhưng đến ngày 17 tôi thay đổi ý kiến. Ðối với tôi, thành công lớn nhứt trong khi chiến đấu của tôi là không bao giờ để mất đồng ngũ bên cánh. Tôi đã làm trái ý muốn của Honda, để hắn bay với người khác, và hắn đã chết. Ngày hôm sau, 14 tháng 5, tôi nhận Hạ sĩ Hatori thay thế cho Honda. Vào ngày 15 tháng 5, mưa đổ như thác lũ, có nghĩa là một ngày nghỉ của tất cả các phi công. Nhưng trước bình minh ngày 16, nhiều oanh tạc cơ B25 Mitchell bay sà thấp trên ngọn cây lướt đến đào nát phi đạo và thổi bay nhiều cơ xưởng bảo trì.

Bước sang ngày thứ hai chúng tôi vẫn chôn chân trên mặt đất, bỏ cả một ngày để chỉ làm công việc dọn dẹp và lấp hố bom trên phi đạo. Sau đó, chúng tôi vô ngồi trong doanh trại, nhiều phi công ngủ gà ngủ gật, một số khác thảo luận về nhịp độ tấn công gia tăng của địch quân.

Ngày trôi qua chậm chạp, và đêm đó Nishizawa, Ota và tôi đi đến phòng truyền tin để nghe giờ âm nhạc do đài phát thanh Úc Ðại Lợi phát ra hàng đêm.

Nishizawa thình lình lên tiếng: “Hãy nghe điệu nhạc này. Nó có phải là Ðiệu Vũ của Tử Thần không?”

Chúng tôi gật đầu. Nishizawa bỗng nhiên lộ vẻ hào hứng. “Ðiệu nhạc này làm tôi nảy ra một ý kiến. Các bạn biết phi vụ không kích Moresby vào ngày mai? Tại sao chúng ta không biểu diễn “Ðiệu Vũ của Tử Thần” của chúng ta để đối phương xem chơi?”

Ota hỏi: “Anh nói cái quái gì vậy? Tôi thấy anh giống như thằng khùng!”

Nishizawa cãi: “Tôi nói thật. Sau khi không kích xong, trên đường bay về hãy quay lại Moresby, chỉ ba chúng ta thôi, để biểu diễn một màn nhào lộn ngay trên đường băng của đối phương để chọc giận họ chơi.”

“Có vẻ thú vị đó,” Ota nói, “nhưng còn chỉ huy trưởng? Ông thầy có cho chúng ta chơi suôn sẻ không?”

Nishizawa cười: “Ai dại đi xin phép? Khi đề nghị trò chơi này tôi phải biết cách chớ.”

Chúng tôi trở lại doanh trại, và cả ba to nhỏ bàn tán kế hoạch hành động ngày mai. Dù cho chỉ có ba chúng tôi xuất hiện trên không phận Moresby nhưng chúng tôi không sợ. Cả ba chúng tôi đã bắn rơi tổng cộng gần 70 phi cơ địch rồi: tôi 27 chiếc, Nishizawa 20 chiếc và Ota 18 chiếc.

Ngày hôm sau, chúng tôi quét Moresby với sức mạnh tối đa: 18 chiến đấu cơ Zéro, với Thiếu tá Tadashi Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, đích thân hướng dẫn. Nishizawa và tôi bay hai bên cánh của ông. Cuộc không kích là một thất bại. Trên phi trường địch không có bóng một phi cơ nào. Nhưng câu chuyện trên trời cao thì khác. Nhiều chiến đấu cơ địch, trong đội hình ba chiếc, ùa đến tấn công chúng tôi. Chúng tôi xoay lại và đánh dàn mặt với nhóm đầu tiên. Cuộc hỗn đấu xảy ra, sáu chiếc P39 trong đó có hai chiếc là nạn nhân của tôi rớt cháy rực như cây đuốc. Nhiều chiến đấu cơ Zéro tách rời khỏi trận không chiến chúi xuống bắn phá phi trường. Hai chiếc bị đạn phòng không, què quặt và đâm vô sườn núi Owen-Stanley trên đường trở về.

Ngay sau trận không chiến, chúng tôi trở lại đội hình, và trên đường về tôi ra dấu cho Thiếu tá Nakajima biết tôi phải truy đuổi một phi cơ địch. Ông vẫy tay, và tôi bổ nhào ngay xuống với hai phi công bên cánh: Ota và Nishizawa.

Sau một vài phút chúng tôi trở lại Moresby, bay vòng trên phi trường ở độ cao 12,000 bộ, khoảng 3,600 m. Súng phòng không im tiếng và không có chiến đấu cơ nào xuất hiện. Cả ba chúng tôi bay trong đội hình chỉ cách nhau vài thước. Chúng tôi lộn nhào ba vòng. Nhìn quanh để tìm kiếm phi cơ địch lần cuối cùng, tôi chúi mũi xuống để lấy tốc độ với Nishizawa và Ota đeo dính hai bên. Tôi kéo ngược cần điều khiển theo hình vòng cung và lộn ngược lại phía sau. Hai chiếc Zéro kia cũng làm y như tôi, rồi lấy thăng bằng và vừa lăn tròn vừa bay vòng quanh.

Hơn hai lần, chúng tôi vượt lên, bay vòng quanh, chúi xuống và lại lộn ngược trở lên bằng cách lăn tròn. Không một khẩu cao xạ nào bắn lên từ mặt đất, và bầu trời không có bóng dáng bất kỳ chiến đấu cơ nào của địch.

Sau khi biểu diễn lần thứ ba, Nishizawa khoái chí và muốn biểu diễn lại một lần nữa. Tôi xoay sang trái, thấy Ota cười và gật đầu đồng ý. Tôi không thể từ chối. Chúng tôi chúi xuống chỉ cách phi trường địch 6,000 bộ là chỉ còn 1,800 thước là chạm mặt đất và lăn tròn ba vòng xoáy ốc lên không trung rồi đảo quanh thật nhịp nhàng trong đội hình hẹp trước khi buông thả chơi vơi cho rơi xoắn xuống gần chạm đất rồi đột ngột dựng thẳng đứng lên trở lại. Cánh sát cánh. Vẫn không có tiếng súng nào bắn lên. Giống như chúng tôi đang bay bên trên chính phi trường của mình. Bên dưới, đông đúc khán giả đang ngó lên chiêm ngưỡng chúng tôi chăm chú.

Chúng tôi trở về Lae hai mươi phút sau khi các chiến đấu cơ khác đã đáp xuống. Chúng tôi im thin thít. Ngay sau đó chúng tôi ngồi chụm đầu lại bàn tán thì thầm, cười đùa thỏa thích. Tuy nhiên, sự bí mật của chúng tôi sớm bị khám phá. Quá chín giờ đêm đó, một liên lạc viên chạy vô phòng ngủ cho biết Ðại úy Sasai muốn được “diện kiến” các “vũ công” chúng tôi tức khắc. Chúng tôi nhìn nhau lo lắng. Hành vi của chúng tôi có thể nhận lãnh hình phạt nặng nề.

Ngay sau khi chúng tôi bước vô văn phòng, Ðại úy Sasai nói lớn: “Hãy coi đây, các anh là bọn hoang đàng!” Mặt ông đỏ gay, trong khi tay phất qua phất lại trước mắt chúng tôi một lá thơ viết bằng tiếng Anh… “Các anh có biết tôi nhận được cái này từ đâu không?” Ông hét lớn, “Không biết? Ðể tôi nói cho nghe, vì các anh là mấy tên ngu ngốc. Bức thơ này vừa được một chiếc phi cơ địch thả xuống sân bay cách đây vài phút!”

Ðại úy Sasai vốn trầm tĩnh nhưng mà lúc đó gương mặt ông đầy cáu bực. “Các anh là phi công hay phường tuồng sân khấu? Tôi chỉ huy phi công hay đào hát?”, rồi ông cất cao giọng, “để tôi đọc cho các anh nghe”.

“Thơ viết:

“Gởi Chỉ Huy trưởng Căn cứ Lae: chúng tôi sẽ nhớ mãi ba tên phi công đã thăm viếng chúng tôi ngày hôm nay. Tất cả chúng tôi đều khoái mấy cú lộn nhào của họ trên phi trường của chúng tôi. Ðó là một màn trình diễn rất tới. Chúng tôi sẽ lấy làm hân hạnh nếu ba tên phi công này trở lại thăm viếng chúng tôi một lần nữa, mỗi tên nên quấn một khăn quàng màu xanh quanh cổ để làm hiệu. Chúng tôi rất buồn đã không đón tiếp họ chu đáo, nhưng hy vọng lần sau họ sẽ được tất cả chúng tôi tiếp đón nồng nhiệt hơn.”

Cả ba chúng tôi cố giữ lắm mới khỏi cười nôn sặc sụa. Bức thơ được ký bởi một nhóm phi công chiến đấu cơ Úc. Sau đó Ðại úy Sasai bắt chúng tôi đứng như trời trồng để phạt hành vi ngu ngốc của chúng tôi. Ðặc biệt, chúng tôi được lịnh không bao giờ thực hiện màn trình diễn nhảy múa nào thêm nữa trên các phi trường địch.

Ðó là một sự đối đãi tốt của thượng cấp, vì Ðại úy Sasai đã bao che cho chúng tôi bằng cách giấu nhẹm lá thơ không trình lên Thiếu tá Nakajima và Ðại tá Saito. Riêng chúng tôi hả dạ với “Ðiệu vũ của tử thần” ở Moresby của mình.

Tuy nhiên, đêm hôm đó không ai trong bọn chúng tôi biết rằng ngày hôm sau chúng tôi sẽ được xem một “Ðiệu vũ của Tử thần” thực sự diễn ra, chưa từng thấy trong các vở kịch từng diễn trên không. Bảy chiến đấu cơ Zéro thuộc phi đoàn của chúng tôi hộ tống tám oanh tạc cơ Betty không tập Moresby. Chúng tôi chưa tiến đến phi trường địch thì đã bị 18 chiến đấu cơ địch nhào xuống từ mọi hướng. Ðây là một trận đánh phòng vệ mà tôi chưa gặp bao giờ. Chúng tôi bị áp lực đến nỗi khó xoay trở trong việc bảo vệ cho 8 oanh tạc cơ. Mặc dù tôi đã đẩy bật nhiều chiến đấu cơ địch ra khỏi các oanh tạc cơ, nhưng không thể bắn rơi một chiếc nào. Ba chiến đấu cơ địch bị đồng bạn tôi bắn hạ. Trong khi đó, các oanh tạc cơ thả bom không mấy chính xác rồi bay lảng nhanh ra để quay về.

Tôi nhìn thấy một chiếc P39 lướt thẳng đến nhóm oanh tạc cơ với một tốc độ khủng khiếp, nhưng tôi đành bó tay. Chiếc P39 nhả một loạt đạn vào chiếc oanh tạc cơ bay cuối cùng, rồi lộn nhào và chúi xuống, vượt hẳn tầm súng của chúng tôi. Chiếc oanh tạc cơ tuôn một vệt lửa, sau đó bốc cháy dữ dội, chúi mũi xuống thật mau. Nó mất độ cao nhanh chóng và hình như mất hẳn sự kiểm soát.

Thình lình, vẫn bốc cháy dữ dội, mũi chiếc oanh tạc cơ khẽ ngước lên và bắt đầu vượt lên cao. Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc phi cơ bắt đầu lăn tròn, cách “biểu diễn” này khó thực hiện đối với một chiếc Betty. Nó vẫn tiếp tục lướt lên và vẫn lăn tròn cho đến khi biến thành một trái cầu lửa.

Lửa rớt từng bựng. Ngay cả khi chiếc phi cơ sắp sửa chúi mũi xuống thì một tiếng nổ dữ dội làm rung rinh cả phi cơ của tôi, chiếc oanh tạc cơ biến thành những mảnh vụn rơi lả tả. Trong ba tháng Năm, Sáu và Bảy, hầu như các trận không chiến xảy ra liên miên. Cho đến sau chiến tranh, tôi mới biết Phi đoàn Lae của chúng tôi đã đạt được nhiều thành quả nhứt so với những hoạt động của các đơn vị không quân chiến đấu Nhựt Bản khác. Ngay cả Rabaul là một căn cứ lớn, cũng không sánh bằng Lae.

Vào ngày 23 tháng 5, bảy chiến đấu cơ Zéro chận đánh năm oanh tạc cơ B25 Mitchell trên không phận Lae và chôn một chiếc xuống biển, cách phía Nam Salamaua 30 dặm. Ngày hôm sau, 6 oanh tạc cơ địch quay trở lại Lae. Không may cho các oanh tạc cơ này, mạng lưới báo động từ xa của Lae phát hiện ra chúng, và 11 chiếc Zéro cất cánh đốt cháy và bắn rơi 5 chiếc, đồng thời gây què quặt cho chiếc thứ sáu. Tôi bay cả hai phi vụ nghinh chiến này và trong hồ sơ của Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đã ghi vô điểm thắng của tôi thêm ba oanh tạc cơ nữa vào hai ngày này.

Nhịp độ của các cuộc tấn công gia tăng vào những ngày cuối tháng Năm. Lần đầu tiên, vào ngày 25 tháng 5, bốn pháo đài bay B17 bay tới tấn công Lae với 20 chiến đấu cơ hộ tống. 16 chiếc Zéro nhào ra chận đầu lực lượng này trên đỉnh dãy núi Owen-Stanley. Năm chiến đấu cơ địch bị hạ, nhưng các pháo đài bay thoát thân an toàn. Ba ngày sau, năm oanh tạc cơ B26 Marauder quay trở lại Lae. Tôi ghi một điểm nữa. Và vào ngày 9 tháng 6-1942, tôi gởi thêm hai chiếc B26 xuống đại dương.

Ngày giờ hình như không còn phân chia rõ rệt nữa. Ðời sống trở thành một chuỗi bất tuyệt của những cuộc càn quét trên không, của những phi vụ hộ tống oanh tạc cơ đến Moresby, của những cuộc chạy đua cất cánh để tiếp đón kịp thời các đối thủ đến viếng thăm. Ðồng Minh hình như có một nguồn tiếp tế phi cơ với một nguồn nhân lực vô tận. Tuần nào họ cũng chịu đựng sự thiệt hại nặng nề hơn chúng tôi, tuy vậy phi cơ của họ vẫn đến ném bom đều đều.

Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh (gốc Việt), được đề cử thăng cấp Trung tá Không quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân.

Posted on August 23, 2026 by dongsongcu

23/08/2026

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh* được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân chọn đề cử thăng cấp Trung tá cho tài khoá năm 2026, theo thông báo từ afpc.af.mil ngày 30 tháng 4 năm 2026. Danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Uỷ ban quân vụ Thượng viên (Committee on Armed Services) nhận được ngày 18 tháng 6 năm 2026. Trong đợt đề cử thăng cấp Trung tá năm nay, ngoài Thiếu tá Linh Dan Trinh còn có 9 nam, nữ Thiếu tá gốc Việt khác được ghi nhân bao gồm: John M. Doan; Caroline H. Nguyen; Daniel M. Nguyen; Mathew N. Van Dam; Jessica T. Pham; Hoang H. Dang; Sarah E. Luong; Byron K. Doan; VinhRomeoI Q. Le.

Thiếu uý** Linh Dan Trịnh “thứ hai bên phải”và các bạn cùng khoá trong buổi Lễ tốt nghiệp khóa ABM 13014 (Quản lý tác chiến trên không), ngày 17 tháng 7 năm 2013 (hình của Lisa Norman Không quân Hoa Kỳ, tyndall.af.mil)

Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh theo học Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Không quân (Air Force ROTC) tại Đại học St. Thomas University in Minnesota. Sau khi tốt nghiệp, cô được tuyển chọn thụ huấn khoá học Quản lý không chiến (ABM) và tốt nghiệp năm 2013. Năm 2018, Đai uý** Linh Dan Trinh được bổ nhiệm làm Trưởng phi hành đoàn (Fight Commander), phi cơ E-3 Sentry báo đông sớm và kiểm soát trên không (AEW&C) thuộc Phi đoàn kiểm soát trên không 960, Không đoàn 552. Cô được thăng cấp Thiếu tá năm 2022. Năm 2025, cô được trao tặng Giải thưởng Sĩ quan tác chiến xuất sắc trong năm/Giải thưởng chiến dịch răn đe hạt nhân năm 2025 (2025 Nuclear Deterrence Operations Awards).

Linh Dan Trinh sinh ra tại St. Paul, Minnesota, cô là Sĩ quan Quân đội Hoa Kỳ gốc Việt thế hệ đầu tiên. Khi còn là học sinh Trung học, Linh Dan Trinh đã biết rất sớm, cô sẽ có sự nghiệp liên quan đến phi cơ và Hàng không Không gian. Cô đã đến một căn cứ Không quân ở Minnesota và được những Quân nhân Không quân tại đây hướng dẫn cho cô xem mọi thứ về Hàng không Không gian. Đối với cô, điều đó thật sự hấp dẫn và để lại ấn tượng sâu sắc, vì cô và các bạn trong nhóm được ra ngoài nhìn tất cả những chiếc phi cơ của Không quân, thật là tuyệt vời đối vời cô khi được đứng bên cạnh chiếc phi cơ không thám A-12 Blackbird.

Linh Dan Trinh gia nhập Không quân qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (Air Force ROTC) của Đại học University of St. Thomas in Minnesota, thật ra đây chỉ là kế hoạch dự bị của cô, vì cô không thành công để được tuyển chọn vào Học viện Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force Academy), do cô không đáp ứng được yêu cầu về chiều cao để được huấn luyện trở thành phi công, vì cô cao 5 feet 3 1/2 inch. Thay vào đó, cô phải chọn kế hoạch dự bị. “Tôi biết mình rất muốn gia nhập Không quân theo cách này hay cách khác”, cô cho biết. “Cô có một người bạn là Sĩ quan quản lý không chiến (ABM) và điều đó có vẻ thú vị với cô, và cô muốn ngành Sĩ quan không thám trong sự nghiệp của mình”.

Ông nội của Linh Dan Trinh nguyên là Sĩ quan Quân lực VNCH chiến đấu cho miền nam Việt Nam. Cha cô là Bác sĩ chỉnh xương, mẹ cô là nội trợ. Gia đình cô không một ai phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ. Họ không thật sự biết cô yêu thích Quân đội và họ không nghĩ ra rằng cô sẽ trở thành một Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ. Riêng mẹ cô thì lại muốn cô là một “người nội trợ hoàn hảo”. Cho đến khi họ nhìn thấy bức hình cô đứng trước chiếc phi cơ không thám Lockheed A-12, thì họ không còn nghi ngờ gì nữa về quyết định gia nhập Không quân của cô.

Thiếu tá Linh Dan Trinh, thứ ba trái, và các sĩ quan Phi hành đoàn phi cơ E-3 Sentry (hình khi còn mang cấp Đại uý, năm 2020 của Linh Dan Trinh-facebook.com/LinhT20).

Trung tá James Ord, Chỉ huy Trưởng Phi đoàn kiểm soát trên không 960, Không đoàn 552, gọi Đại uý Linh Dan Trinh là một Sĩ quan chỉ huy vị tha, thân thiện, một chuyên viên, cố vấn và là một Sĩ quan chính trực đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong vai trò hiện tại, và là thành viên phi hành đoàn hệ thống kiểm soát và cảnh báo trên không trên phi cơ E-3 Sentry. Đại úy Linh-Dan là một Sị quan huấn luyện, Trưởng phi hành đoàn và là sĩ quan vũ khí trên không. Linh-Dan Trinh “Trixx” xuất sắc ở những vị trí này, Trung tá James Ord cho biết: “Tôi đặt lòng tin và trách nhiệm vào các Trưởng phi hành đoàn chuyến bay của tôi, vì họ phải giúp tôi điều hành những gì tốt nhất cho Phi hành đoàn và Phi đoàn”. ông nói. “Trixx là một Trưởng phi hành đoàn chỉ huy chuyến bay xuất sắc nhất. Cô rất tận tụy và chu đáo trong các ý kiến ​​đóng góp của mình, cô luôn cân bằng cả mong muốn của thành viên và nhu cầu của Không quân”. Sự cân bằng là một đặc điểm mà cô ấy được học từ khi còn nhỏ.

Tân Trung tá Linh Dan Trinh là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Y sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Timothy Truong (gốc Việt), Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Trung Nguyen, Cố vấn phó chính trị khối NATO; Trung tá Duc Bui, Sĩ quan quản lý dự án ETHEREAL FORGE, Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn truyền tin tác chiến 149, Không đoàn tác chiến 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, Hoa Kỳ, và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.

Chúc tân Trung tá Linh Dan Trinh thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu, LinhDan H. Trinh; **Ghi theo thời gian còn mang cấp bậc Đại uý, Thiếu uý.

Kỳ tới: 13 Hải Quân Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá năm 2026.

Nguồn: afpc.af.mil; congress.gov; Linh Dan Trinh-facebook.com/LinhT20; Bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Sài Gòn! Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Tôi muốn nói rõ hơn, trong Vũ Ðức Vinh có hai con người phân định rất rõ. Một Huy Quang nhà văn và một Vũ Ðức Vinh người lính. Nhưng hai con người đó hòa nhập là một nhân cách lớn. Với tư cách nào cũng được, ông giao thiệp với mọi người hồn nhiên, chân thật bằng chính những gì từ tư cách đĩnh đạc của ông. Ai nhìn ông bằng con mắt nào cũng thế thôi. Ðiều mà mọi người nhận được sau khi giao thiệp với ông là sự tin tưởng cùng với lòng cảm mến đi thẳng vào cuộc sống của mình. Tôi cho đó là điều khó khăn nhất cho mỗi người trong cuộc sống đầy bất trắc này. Tạo được niềm tin cho người đối diện không phải dễ, tìm được sự quý trọng còn khó khăn hơn.

Ông Vinh không bao giờ muốn tạo ra điều đó mà do chính cách đối xử thẳng thắn, bình thản của ông làm nên tất cả. Từ ngày biết ông đến nay, hơn 50 năm, tôi chưa từng nghe ai phàn nàn điều gì về ông, kể cả những người khó tính nhất, dù là cấp trên hay cấp dưới của ông, dù bạn bè quen biết thân sơ. Cho nên có thể kết luận chính xác rằng ông “được lòng” mọi người quanh ông. Và “được lòng” cùng với sự quý trọng chân tình.

Cái tin sét đánh đến với bạn bè khi ông bất tỉnh nằm trong bệnh viện, ai cũng bàng hoàng cùng với nỗi thương xót ngơ ngẩn. Như một nỗi oan khiên, như một chuyện cực kỳ phi lý, như một tai họa mà tạo hóa không dành cho riêng ai, kể cả những người đáng được sống nhất. Bởi mới chỉ vài ngày trước, ông còn tỉnh táo, bình tĩnh viết cho bạn bè những dòng thản nhiên như đi chơi đâu xa: “Tạm thời ngưng thư từ vài ngày đến khi bình phục”. Lá thư cuối cùng ông viết cho tôi ngày 19-10-2005.

Nỗi Đau Khôn Cùng

Sau đó, ngày 22-10, khi được tin Phạm Huấn mất ở San Jose, ông còn ngồi viết bản Phân Ưu với gia đình Phạm Huấn gửi cho chúng tôi đọc. Ông cẩn thận ghi tên từng người bạn, yêu cầu tôi bổ túc hoặc thêm tên những ai ông không nhớ hết. Tính ông vẫn cẩn thận, chuẩn mực như từ bao lâu nay. Những bản Phân Ưu đăng trên nhiều báo kèm theo hoặc không kèm với bài viết của tôi chính do ông Vinh viết. Tôi rất tôn trọng ông, nên không thêm bớt từ một dấu phẩy. Bài viết vừa được gửi đi thì ông vào bệnh viện. Ông rất tin vào ngày bình phục trở lại với gia đình, với bạn bè. Nhưng rồi ông không bao giờ trở lại.

Vì ở xa, tôi không biết rõ hết chi tiết bệnh tình của ông, chỉ xin kết luận: đó là một trường hợp rất hy hữu, ít khi xảy ra. Trong một ngàn trường hợp chỉ xảy ra một lần. Những ngày gần đây, ông nằm đó, thở bình oxy, hôn mê… và không còn cách cứu vãn. Chúng tôi ở Việt Nam chỉ biết có thế. Rồi bất ngờ nhận được e mail của các con ông “Xin lỗi các bác, các cô chú, mẹ cháu phải chăm sóc cho bố cháu ở bệnh viện nên không nhận được điện thoại, xin gửi qua e-mail cho chúng cháu”.

Dưới ký tên 4 người con của ông: Vũ Thanh Tùng, Vũ Tế Thế, Vũ Thị Phương Thảo, Vũ Thị Phượng Tần.

Thế nên chúng tôi chỉ còn biết lặng lẽ theo dõi qua những bạn bè ở gần đó. Ba tuần trước, hai anh Vũ Quang Ninh và Thái Thủy từ Cali bay lên Seattle thăm ông cho biết rõ hơn tình trạng của ông lúc đó. Ông nhận biết hai người bạn thân, nhưng chỉ trả lời bằng những dòng nước mắt. Cơ thể ông chỉ còn đôi mắt và ngón chân chuyển động. Hình dung ra cảnh này, tôi thật đau xót. Gia đình quanh ông, nào vợ con, nào cháu nội, cháu ngoại… chầu chực, chăm sóc ông, ông có biết không? Những người thân của ông đau đớn như thế nào trong cảnh này? Rút bình dưỡng khí ra thì không nỡ, để lại thì không đành… Và những ngày đau đớn đó cứ phải kéo dài. Ôi, lấy gì diễn tả được tình cảnh ngập đầy thương xót đó?

Ông Vinh ơi, bạn bè ông ở gần hay ở xa, đã và đang nhớ thương ông vô cùng.

Tôi hy vọng, từ trong một cõi xa xăm, ông hiểu được tấm lòng của mọi người đối với ông như thế nào. Chúng tôi muốn nói lời chia buồn cùng gia đình ông, nhưng lời lẽ nào cũng là chưa đủ và có lẽ chính chúng tôi cũng cần được chia buồn. Ông đã là một phần trong cuộc sống của bạn bè rồi, thiếu vắng ông từ nay sẽ là một khoảng trống lớn lao, không gì bù đắp được. Tôi ngồi ở Sài Gòn, một nơi chúng ta đã từng để lại suốt một thời trai trẻ để ôn lại những kỷ niệm xưa.

Huy Quang Và “Lửa Lựu”

Khi mới từ vùng loạn lạc Thái Bình, “dinh tê” vào Hải Phòng, khoảng 1951-1952, lúc đó tôi mới vào tuổi 20. Khi ấy, bắt đầu võ vẽ viết văn làm thơ gửi bài lai cảo cho mấy tờ báo ở Hà Nội như Tia Sáng, Cải Tạo, Tiếng Dân. Hồi đó cả thành phố Hải Phòng không có nổi một tờ báo. Ðược đăng bài ở báo Hà Nội là sướng lắm rồi.

Bỗng một hôm ra cửa hàng sách, coi cọp được một tờ giai phẩm mùa hè có tên là Lửa Lựu của các đàn anh ở Hà Nội, trong đó tôi đọc bài của Huy Quang. Cái tên gần giống tên tôi làm tôi chú ý. Bài của Huy Quang được nhà văn Ngọc Giao giới thiệu rất nổi và quả tình bài viết khá hay. Tôi không nhớ đây có phải là sáng tác đầu tay của Huy Quang hay không. Từ đó, tôi và độc giả biết đến “danh” ông. Lúc đó cánh “văn nghệ mầm non” ở Hải Phòng như tôi, coi các nhà văn ở Hà Nội là những “tên tuổi lớn”. Huy Quang được chúng tôi xếp ở “chiếu trên” cùng những nhà văn, nhà thơ như Ðinh Hùng, Ngọc Giao, Thượng Sĩ, Nguyễn Minh Lang, Sao Mai… Và, giai phẩm Lửa Lựu vẫn là tác phẩm được chúng tôi trân trọng nhất. Bởi từ cách trình bày đến bài vở được chọn lọc khá kỹ, nhất là cái tên tượng trưng cho mùa hè, Lửa Lựu, quả là rất khéo và rất… văn chương.

Vài tháng sau, khi có những nhà văn nhà thơ ở Hà Nội, chắc cũng chỉ thuộc hàng “văn nghệ mầm non” như tôi, để mắt đến, xuống thành phố Cảng chơi ghé thăm, cứ tưởng như tôi đã đặt một “cẳng” vào làng văn nghệ. Nhưng tôi vẫn chưa được gặp nhà văn Huy Quang trong nhóm Lửa Lựu. Tôi hỏi thăm thì được biết, nhà văn này được động viên vào khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị vào tháng 10-1951, lúc đó học ở Nam Ðịnh. Tôi càng ngưỡng mộ ông hơn vì trong thời gian này ông đã có hai tác phẩm do nhà xuất bản Công Lực, Hà Nội ấn hành là Hai Mái Tóc Xanh và truyện dài Ðôi Ngả. Văn chương ông “lả lướt”, lãng mạn, tình tứ như khuynh hướng của những nhà văn Hà Nội thời ấy.

Sự Nghiệp Nổi Trội Của Một Nhà Văn Và Người Công Chức

Nghiệp chiến binh làm gián đoạn một thời gian khá lâu, vài năm sau ông viết rất ít. Năm 1956, khi tôi từ Nha Trang về Nha Chiến Tranh Tâm Lý, làm việc ở Phòng Báo Chí thì Huy Quang làm việc ở đài phát thanh Quân Ðội. Lúc đó Đài Quân Đội còn nằm “tênh hênh” ở đường Hồng Thập Tự. Cửa ngõ không cần lính gác, cứ ra vô tự nhiên. Tôi gặp trung úy Vũ Ðức Vinh trong một buổi họp. Ông đi cùng Vũ Quang Ninh, trưởng đài. Ông Vinh là phó trưởng phòng kiêm trưởng ban biên tập của đài này. Sau buổi họp tôi mới biết Vũ Ðức Vinh chính là nhà văn Huy Quang mà tôi ngưỡng mộ từ lâu. Chúng tôi đưa nhau xuống uống cà phê ở câu lạc bộ bé tí nằm phía sau trụ sở Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Thời ấy hầu như cả Sài Gòn đều nghe chương trình Tao Ðàn do Ðinh Hùng phụ trách cùng Thái Thủy, Thanh Nam… trong đó có cả nhà văn Huy Quang.

Huy Quang Vũ Đức Vinh 1930-2005.

Sau đó, tôi có nhiều dịp sang Đài Quân Đội liên hệ công việc. Lúc đó tôi mới biết bên cạnh Huy Quang còn có một loạt nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng khác nữa nằm trong ban Nhạc của Ðài: Canh Thân, Ngọc Bích, Ðan Thọ, Văn Phụng, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Anh Ngọc, Vũ Huân, Vũ Huyến… đều làm việc chung với Huy Quang. Những cái tên mà từ hồi mới lớn tôi đã nghe, đã bi bô tập hát những bài mà bây giờ ở Sài Gòn vẫn hát, và được coi là những sáng tác bất hủ. Bây giờ dòng nhạc đó vẫn được kể là “dòng nhạc sang trọng” của người yêu nhạc Việt Nam. Dù năm tháng và những biển dâu đã có khi muốn vùi lấp, bởi nó được kể là loại “nhạc vàng ủy mị” cần phải chôn như chôn “bọn tư sản lạc hậu…” Nhưng giá trị của tác phẩm đâu phải ở toan tính của con người. Tự nó sống mãi với thời gian. Không ai và không gì có thể vùi chôn được. Huy Quang chính là người đã góp phần rất lớn vào việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị ấy của dân tộc.

Vài năm sau, khi Nguyễn Xuân Vinh tức nhà văn Toàn Phong về làm tham mưu trưởng rồi lên chức Tư lệnh Không Quân, Vũ Ðức Vinh được điều động sang làm trưởng khối Chiến Tranh Chính Trị ở Bộ Tư Lệnh Không Quân. Thời gian này, ông cùng vài người bạn trong Bộ Tư Lệnh khai sinh tờ Lý Tưởng, một tờ nguyệt san rất đặc trưng của những “người lính hào hoa” Không Quân, song không quên tranh đấu cho lý tưởng công bằng xã hội. Lý tưởng của ông từng chứng tỏ trong những bài diễn văn, ông soạn cho cấp trên của mình đi tham dự những hội nghị lớn. Cụ thể như trong hội nghị thượng đỉnh ở Honolulu, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã ca ngợi bài diễn văn do ông viết.

Cũng thời kỳ này, trong trận Không Quân Việt Nam bay ra “hỏi thăm sức khỏe Ðồng Hới”, Vũ Ðức Vinh cũng leo lên máy bay oanh tạc ngồi bên cạnh chàng phi công Lưu Kim Cương — tự Cương khểnh — bay lượn trên bầu trời miền Bắc, xông pha giữa lưới lửa phòng không, bất chấp hiểm nguy.

Người Thầm Lặng Có Công Đầu Với Quốc Gia

Sau đó, ông làm việc ở Phủ Thủ Tướng rồi Phủ Tổng Thống. Ở đâu việc của ông cũng gắn liền với báo chí.

Phải nói rõ một sự thật là hồi đó, trong một thể chế dân chủ, giữa “cánh báo chí” và nhà cầm quyền thường xung đột, thậm chí chống đối rất gay gắt. Từ những đảng phái đối lập đến những tờ báo có khuynh hướng riêng, luôn xảy ra tranh chấp vì bất đồng về một chủ trương chính sách nào đó. Có những sự kiện khiến chính quyền lúng túng, tất nhiên đã làm thì phải có cái đúng, cái sai. Các “phủ bộ” lại phải nhờ người đứng ra dàn xếp tìm một tiếng nói chung. Huy Quang Vũ Ðức Vinh với cả hai tư cách, nhà văn và nhà “thương thuyết” đứng ra làm công việc hòa giải. Có tiếng nói của ông, có bàn tay xoa dịu của ông, có uy tín của ông, mọi công việc nhanh chóng được thu xếp ổn thỏa. Như thế có phải là một sự lợi dụng ông hay không, không phải là quan trọng, mà công việc ổn định xã hội, góp được sức mạnh chung mới là điều đáng kể. Và đó chính là mục đích của ông.

Vì đâu ông có được uy tín ấy? Phải nhìn vào cách sống, nhìn vào công việc, nhìn vào khả năng của ông mới thấy hết được giá trị con người đích thực của ông. Với ai ông cũng cư xử như một người bạn, ông biết nghe, thấu tình đạt lý, mềm mỏng đến với từng người bằng cả tấm lòng trung thực, nhân hậu của mình. Khi người ta biết chắc ông không mưu cầu lợi ích riêng tư, không phe phái, thiên vị thì người ta đã coi ông là bạn và người ta sẵn sàng nghe ông. Sự thành công của ông chính là ở cái tư cách chững chạc và tính cách thân thiện đó.

Có thời kỳ, ông làm tổng giám đốc Cục Vô Tuyến Truyền Thanh. Nói rõ hơn, ông điều hành cả guồng máy phát thanh quốc gia. Thời kỳ đó, ông đã làm thay đổi bộ mặt của làn sóng phát thanh, nâng tầm vóc nó lên cao hơn. Hệ thống phát thanh được cải tiến mạnh mẽ. Ðài Sài Gòn được chuyển thành hệ thống A và Ðài Quân Ðội thuộc hệ thống B. Mỗi đài đều có chương trình và hạ tầng cơ sở riêng, tuy nhiên Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre vẫn là nơi lên sóng của cả hai hệ thống A, B. Người từ quân đội biệt phái qua lo việc kỹ thuật nhưng quyền quản trị vẫn thuộc hệ thống phát thanh Quốc Gia.

Trong thời chiến tranh, người của quân đội thường được biệt phái hoặc tăng viện cho nhiều cơ quan, kể cả ở cảnh sát và các phủ bộ khác. Tuy nhiên điều hành hệ thống phát thanh quốc gia không giản dị. Đó là việc hành chánh với các nguyên tắc bất di bất dịch và cũng là việc của người làm văn hóa với vô số vấn đề không bao giờ có nguyên tắc và với những anh em từng viết lách, từng cơm bụi ngủ hè, từng gặp nhau tại hầu hết tòa soạn báo… Làm cấp dưới có lẽ còn dễ chịu hơn làm cấp trên. Huy Quang Vũ Ðức Vinh đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người, từ anh phóng viên trẻ đến các vị biên tập già, và cả các văn nghệ sĩ dân chính cộng tác với đài. Đến bây giờ, không ai là không yêu quý ông. Dù chỉ một thời gian ngắn, ông đã làm rạng rỡ cho ngành phát thanh quốc gia và đáng kể hơn là đã gây được lòng tin yêu của thính giả với tiếng nói của đài. Chính tôi cũng học được ở ông rất nhiều khi ngu ngơ bắt tay vào công việc này.

Phong Cách Mẫu Mực Trong Cuộc Sống

Suốt khoảng thời gian đó, tôi thường có nhiều dịp gặp ông trong công việc cũng như trong đời sống hàng ngày. Nhưng chưa hề gặp ông tại bất cứ chốn ăn chơi nào. Phòng trà, tiệm nhảy, sòng bài dường như không bao giờ ông đặt chân tới. Chỉ nghe phong thanh hồi còn rất trẻ ở chung trong con hẻm đường Bàn Cờ với Phan Nghị thì đôi khi, ông cũng bị ông bạn hàng xóm có máu giang hồ rủ rê đi ăn chơi, nhảy nhót tí đỉnh. Nhưng thật ra chẳng ai rủ rê được ông đâu, tôi nghĩ là ông nể bạn nên đi theo cho bạn vui thôi. Thỉnh thoảng ông cũng đánh mạt chược với chúng tôi và thường chơi ngay tại nhà ông ở cư xá Trần Quốc Toản. Chúng tôi mang tiếng là “đánh còm” rồi, ông còn chơi “còm” hơn. Năm thì mười họa tôi mới được ông triệu đến nhà chơi cho vui. Với ông có lẽ đó là cái thú duy nhất trong cuộc sống vô cùng mẫu mực của ông. Từ nhà đến sở, bao giờ ông cũng giữ đúng phong cách ấy. Và ông lại rất kín tiếng nên ít có ai hiểu gì về suy nghĩ riêng tư của ông.

Ngay trong gia đình, ông cũng ít nói, lúc nào cũng lo lắng đùm bọc vợ con, ngay cả lúc trước khi bị bệnh. Không bao giờ để các con lo chuyện gì và cả 4 người con của ông đều được thừa hưởng một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc cho đến khi thành đạt. Ông có một đặc điểm là dù ở cương vị khá cao trong chính quyền, những nơi mà các buổi lễ lạc, đại hội, người ta rất thích mời cả “phu nhân cùng đến dự cho thêm phần long trọng.” Nhưng ông không bao giờ đưa phu nhân cùng đi, có thể là chính bà Vinh cũng không thích đi dự “chuyện phiền toái” đó.

Suốt năm tháng ở Sài Gòn, ông sống như thế, mặc cho thời cuộc đổi dời, luôn là một quân nhân thuần túy gương mẫu, dù những người quanh ông, những cấp trên của ông, vì lý do này hay lý do khác vướng mắc vòng “quyền lực chính trị”. Trong bất cứ cương vị nào, dù làm việc với bất cứ ai, ông vẫn là Huy Quang Vũ Ðức Vinh, điềm đạm, thanh thản, tận tụy với mọi nhiệm vụ được giao. Tài của ông là sự vượt thoát ra ngoài các hệ lụy đó, hệ lụy rất dễ quyến rũ con người vì danh lợi, ở vào vị trí của ông. Tôi cho rằng đó là sự sáng suốt của một con người từ khi còn rất trẻ. Phải có một nhân cách đặc biệt mới làm được điều đó.

Ở Việt Nam Hay Ở Hoa Kỳ, Vinh Vẫn Là Vinh

Ngày 30-4-75, ông cùng gia đình sang định cư ở Mỹ.

Bẵng đi một thời gian rất lâu, tôi không biết tin gì về ông. Năm 1987, khi vừa về đến Sài Gòn, tôi đã được ông thăm hỏi. Nhưng cũng chỉ là qua thư từ. Hồi đó internet chưa có, chúng tôi phải viết thư tay. Một điều rất xúc động là năm nào cũng đúng ngày 30 Tết Nguyên Ðán, ông điện thoại về Việt Nam thăm tôi và Phan Nghị. Không bao giờ ông quên. Hai năm sau này thì nhiều người ở Mỹ gọi về Việt Nam thăm gia đình vào dịp đó nên ông gọi trước một hai ngày cho chắc ăn.

Một lần, cách đây khoảng 8-9 năm, ông trở lại Sài Gòn. Lúc bà xã ông ở lại hàn huyên với bà hàng xóm cũ Phan Nghị, ông sang nhà tôi ngồi tán dóc. Vẫn giọng cười ấy, vẫn lối nói thân tình ấy, ông kể sơ về thời gian ở Mỹ. Xưa kia, đã có thời chúng tôi gọi nhau “mày, tao” cho thân, nhưng sau này kêu nhau bằng “ông” cho đúng với tuổi tác, ngoại trừ với một số bạn thân gần nhau quá “không thể nào gọi nhau là ông được” vì nghe “kỳ kỳ” thế nào, thì cứ “mày tao cho tiện việc sổ sách”. Với ông Vinh thì khác, vẫn thân gần đấy, nhưng có thể thay đổi cách xưng hô được vì tính cách của ông. Không xuồng xã với bạn bè, lúc nào ở ông cũng thận trọng. Tôi chắc nhiều bạn tôi cũng gặp trường hợp này.

Theo những gì tôi biết do ông và bạn bè kể lại, cuộc sống ở Mỹ của ông chẳng có gì đổi khác. Gia đình và xã hội vẫn là hai mái nhà ông chung sống, dành hết tâm trí vào đó. Ông vẫn là Huy Quang Vũ Ðức Vinh. Là Huy Quang khi viết văn làm báo những năm 1975 đến 1982. Ông là chủ nhiệm bán nguyệt san Ðất Mới, một trong số rất ít báo tiếng Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ với ban biên tập khá hùng hậu như Thanh Nam, Túy Hồng, Mặc Ðỗ, Hà Huyền Chi, Linh Vang, Trần Văn Minh, Nhất Tuấn cùng các tên tuổi khác mà tôi không biết hết.

Có lẽ “kinh doanh báo chí” không phải nghề của ông nên 7 năm sau, ông nhường tờ báo cho người khác. Tuy nhiên, “đã mang lấy nghiệp vào thân” ông vẫn cộng tác với nhiều tờ báo như Ngày Nay của anh Nguyễn Ngọc Linh và Trương Trọng Trác ở Houston, cùng các đặc san, kỷ yếu Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh và Thủ Ðức… Ðôi khi ông viết vài bài cho báo Mỹ. Một bài ông viết tựa đề Refugees Need A Helping Hand đã được Thượng nghị sĩ Kennedy khen là “eloquent” và cho vào “congressional record”. Ðồng thời ông ta gởi tặng ông Vinh một tấm hình mà ông còn treo ở nhà.

Ngay từ 1982 ông đã làm việc tại Bộ An Sinh Xã Hội của tiểu bang Washington lo giúp đỡ người tị nạn trong quận hạt Bắc thủ đô Olympia, Pierce County, về định cư, nghề nghiệp. Ðồng thời, với uy tín trong cộng đồng, ông còn được yêu cầu đảm trách nhiều công tác khác. Ông đã làm quản trị viên các chương trình thuộc tiểu bang, đôi khi của cả liên bang, lo cho đời sống cả cộng đồng mọi sắc tộc về di dân, tị nạn, định cư.

Ông cũng là thành viên tiên khởi trong Hội Ðồng Quản Trị của Học Bổng Hùng Vương, một tổ chức vô vụ lợi, cùng chung sức với một số cựu quân nhân, góp tiền cấp học bổng hàng năm cho các học sinh Mỹ gốc Việt, cố gắng đưa họ vào học ở các đại học danh tiếng tại Hoa Kỳ và sau trở thành bác sĩ, luật sư để rồi xây dựng một truyền thống giúp đỡ lại những đàn em đi sau.

Ở đâu Vũ Ðức Vinh cũng là một người gương mẫu, tận tâm lo cho mọi người hơn là lo cho mình. Với những người ở Việt Nam cần được giúp đỡ, khi tôi báo tin, ông đều sốt sắng hưởng ứng và kêu gọi bạn bè chung sức. Chưa bao giờ ông vắng mặt trong bất cứ việc từ thiện nào. Ðó là những gì tôi nhận được ở ông khi không còn ở gần nhau. Chắc chắn sẽ còn rất nhiều việc nữa mà các bạn ở nước ngoài biết nhiều hơn tôi.

Với một người như thế, một nhân cách lớn như thế, tôi tự hào được là bạn ông, được ông thương mến. Những năm sau này, chúng tôi gồm một số bạn bè thân quen xưa cũ lập thành một club, thường xuyên gửi e-mail cho nhau hàng ngày. Bất cứ chuyện vui buồn nào cũng có thể chia xẻ cùng nhau. Tôi vẫn cứ tưởng như ông vẫn ở gần đâu đây. Khi cây lựu trước cửa nhà tôi ở Lộc Ninh nở những đóa hoa đầu tiên, tôi kể lại với ông và chụp tấm hình với cái tựa đề Lửa Lựu tặng ông, một nhà văn mà tôi đã “quen” từ khi chưa gặp. Ông thích lắm vì đó là “khởi nghiệp” vàng son trong cuộc đời viết văn mà ông không thể nào tìm lại được.

Khi Ðằng Giao mang tranh sang Mỹ triển lãm ở Santa Ana, ông cũng có mặt. Ông kể với tôi và nói rất thích bức tranh sơn mài có cái điếu cày và ấm nước trên bờ ruộng, nhưng chưa mua được. Ðó là bức tranh sơn mài Ðằng Giao đã cho tôi nên tôi hỏi ý Ðằng Giao rồi gửi tặng ông ngay. Ông mang đi đóng khung, khắc thêm tấm biển đồng, trịnh trọng treo trong nhà. Thế là nhà ông vẫn còn 2 kỷ niệm của tôi, ông để lại cho con cháu.

Khi tôi viết bài này gần xong thì Ðằng Giao ghé thăm. Anh nói tháng trước khi điện thoại cho ông Vinh, anh hứa tặng ông một bức tranh cây trúc mới vẽ xong.

Ông Vinh vui lắm và hẹn để đó rồi có ai về Seattle thì gửi cho ông. Vậy mà bây giờ ông Vinh đã vội ra đi.

Bức tranh còn đó, Ðằng Giao còn gửi ở nhà tôi.

Dù ông đã ra đi, nhưng tôi cũng sẽ tìm cách gửi đến cho ông. Trong lòng tôi, bao giờ ông cũng vẫn còn sống.

Nhân cách của ông còn rực rỡ mãi, còn là một tấm gương sáng cho bạn bè, cho con cháu và cho cả mọi người dù ở bên này hay bên kia.

Ông từ giã chúng ta vào lúc 10 giờ 46 phút, ngày 9 tháng 12 năm 2005 tại Seattle. Hưởng thọ 75 tuổi.

(Sài Gòn 10-12-2005)

Chiều nhớ đi nhậu nhe anh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Thưa các chiến hữu thích cầm chai! Trước khi vào bài, tui xin có đôi lời phi lộ! Dà hỏng dám hổng múa rìu qua mắt thợ! Kinh nghiệm chinh chiến trên bàn nhậu của tui so với quý anh mình, tui chỉ là thằng nhải ranh lại dám lanh chanh nói dóc.

Quý anh mình chỉ nếm rượu là biết giá tiền, biết năm sản xuất, biết của nước nào. Rồi sành sõi, biết luôn rượu nầy phải đi với món ăn nào mới hợp ‘rơ’; mới đúng ‘gu’ thượng lưu ăn và nhậu!

So với công phu cực kỳ thâm hậu như vậy, tui quả là một đứa lính mới tò te trên chiến trường bàn nhậu.

Tuy nhiên, ông bà mình đã từng dạy: “Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe!” Bên Úc nầy đây, nhà không có cột thì tui biết dựa vào đâu mà nghe?

Phần đất nước tự do ngôn luận mà! Thôi thì biết ít thưa thốt ít; biết nhiều thưa thốt nhiều.

Tại sao quý anh mình lại chìm trong men rượu đắng? Dà! Có nhiều nguyên nhân khác nhau lắm; nhưng tựu trung cũng bởi vì buồn đời đó thôi! Mà buồn đời cũng có nhiều loại buồn. Dưới đây là một trong những loại đó!

Có một ông vào quán rượu gọi một lượt tới 10 ly whiskey đầy ăm ắp.

Người hầu rượu ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì vậy hỡi bạn hiền?”

“À! Tui mới vừa khám phá ra là thằng em trai của tui là người đồng tính và nó vừa làm lễ cưới với thằng bạn thân nhất của tui.”

Ngày hôm sau, ông khách nầy quay lại, gọi tới 12 ly whiskey đầy ăm ắp!

“Người hầu rượu lại hỏi: “Lần nầy thì lại có chuyện gì nữa hỡi bạn hiền?”

“À! Tui vừa phát hiện ra thằng con trai của tui cũng là người đồng tính!”

Ngày kế cũng ông khách nầy quay lại; và gọi tới 15 ly whiskey đầy ăm ắp.

Người hầu rượu hỏi: “Bộ trong nhà của anh bạn không có người nào ‘thích’ phụ nữ hết hay sao?”

Ông thần nầy mắt đẫm lệ, ngước nhìn lên nói: “Có chớ! Con vợ của tui! Hu hu!” 

***

Kế tiếp, tui xin thưa về kinh nghiệm chiến trường trên bàn nhậu nếu có gì không phải xin các chiến hữu đàn anh bỏ ‘quá’ cho nha!

Nên nhậu với ai? Hay bạn nhậu! Anh là ai? Đó là một câu hỏi tưởng chừng dễ như thiệt ra là rất khó trả lời! Cái cốt lõi là nhớ đừng nhậu ‘lang chạ’! Nghĩa là đừng gặp ai cũng nhậu hết ráo! Rất không nên! Chơi ‘lang chạ’ là bị ‘si đa’; nhậu ‘lang chạ’ là bị ‘xi cà que’ có ngày!

Vì nhậu với người mới quen lần đầu là khó khăn nhứt. Mình đâu biết tính ý thằng chả ra làm sao? Có phải hắn, dân chơi cầu ba cẳng, nhậu đã rồi về nằm thẳng cẳng, gáy ò ó o?! Chớ không  về nhà dằn mâm xáng chén, đánh đập em yêu… đến nỗi bị cảnh sát Úc đến còng đầu về tội bạo hành gia đình.

Nhậu với mấy tay có máu yên hùng nầy mang tiếng lắm. Nên một cũng lánh xa, hai cũng nên xa lánh trước… Cho nó lành!

Hai là nhậu với đứa có máu dân ‘Cầu Ông Lãnh’. Bất đồng ý kiến nhỏ như con thỏ trong bàn nhậu một chút là cà khịa: “Ê! Cởi áo đi! Ra ngoài đường giải quyết!”

Rượu là lễ mà! Nhậu với đứa không biết thế nào là lễ; có bữa mình sẽ bị bể đầu vì cái thói côn đồ của nó!

(Trong nước, giờ nghe nói: tiệc nhậu chưa tàn mà các hạ đã móc dao ra lụi tại hạ để làm thêm món tiết canh cho hả dạ?)

Tui vốn là thằng ăn tục nói phét; làm vài ly là quen mồm xài cả đống giấy năm trăm! Nên xui rủi lỡ gặp một tay nào ‘vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa’, hồi đó giờ chưa biết ‘đù’ lần nào; mình không ‘thủ cẳng’, cứ chửi thề bốp trời thiên là nó sẽ ưu tiên biến mình thành một kẻ thù vô duyên cớ!

Ba là nhậu với những con dê nhà họ ‘Sảng’. Tức là nhậu với mấy thằng có máu 35, dê thầy chạy; nhứt là hay dê sảng!

Chieu nho di nhau 02Chữ rằng: tửu sắc. Nhậu là khoái gái hè! Ai cũng vậy vì do ảnh hưởng của ‘ethanol’ lên não bộ; chỉ cần sương sương chừng vài cối là tối con mắt, nhìn em nào cũng đẹp nhứt đêm nay.

Xỉn rồi thì em nào cũng trở thành hoa hậu miệt vườn hấp dẫn; dù ngày thường chàng đã bỉu môi chê: “Cho tao còn hỏng thèm! Xấu như ma lem! He he!”

hang vo ngu co 02Khoái ăn bưởi hàng xóm hơn là chanh ở nhà cho dù hai thứ đều chua lè hết ráo.

Mạnh dạn liếc mắt đưa tình dẫu em là hoa đà có chủ!

Sáng dậy, tỉnh rượu mới hoảng hồn: “Ối giời ơi! Ta đã làm gì đời ta vào tối hôm qua?!”

Thế nên anh bạn nhậu đã từng khẩn thiết khuyên tui là có dắt bạn về nhà nhậu là tụi bây hãy chui ra đằng sau garage ngoài hè mà nhậu.

Chắc ăn hơn hết là nhậu lúc vợ vắng nhà! Kẻo nhậu cửng cửng, nó tửng lên, thò tay khòe móc, vỗ bậy, vỗ bạ… làm mất tình chiến hữu bấy lâu nay.

Bà con có lẽ cho rằng tui nói quá! Nhậu say chớ có bị điên đâu mà bốc hốt tùm lum vậy cà? Bởi câu rằng: cái gì cúng là cúng; cái gì ăn là ăn. Đâu thể nào đồ cúng mà đòi ăn cho được hè?

Nếu bà con không tin, tui xin kể cho nghe câu chuyện đã từng xảy ra cho thằng Johnny, bạn Úc của tui, xảy ra cách đây không lâu.

Chẳng qua hôm Tết Tây, Johnny dắt con Melissa, là bồ của nó, đi ra ‘pub’ nhậu. Nhậu tới khuya luôn.

Thì thằng bạn nó kề vô lỗ tai, bỏ nhỏ: “Tao thấy thằng Peter và con bồ của mầy làm cái gì ‘rọt rẹt, ọt ẹt’ ở băng sau chiếc xe mầy trong bãi kia kìa!”

Johnny nghe vậy bèn lảo đảo bước ra ngoài làm một cuộc điều tra. Một lúc sau bước trở vô quán rượu, cười hè hè, nói: “Thằng Peter bữa nay say quá! Say đến nỗi nó tưởng nó là tao!” He he.

Thế nên theo lời khuyên chí lý của anh bạn hiền từng trải: “Nhậu nên ra quán!” Quán mà người phục vụ là nam càng tốt. Cầm bằng hám gái, lựa quán nào có mấy em gốc Ý, đẹp cỡ Sophia Loren, phục vụ là coi chừng lỡ hôm nào hứng sảng, con lợn lòng nổi dậy làm bậy là nó lôi đầu mình ra Tòa về tội sách nhiễu tình dục thì phiền phức lắm!

Bài học của Harvey Weinstein, trùm điện ảnh Hollywood còn nóng hổi, còn sờ sờ ra đấy. Liệu mà giữ cái thân tàn ma dại!

***

Tết Tây qua rồi! Tết Việt mình đang lù lù tới! Tết là dịp may hiếm có, năm chỉ một lần, cho băng tầng nhậu chúng ta say sưa chè chén bí tỉ mà ít bị vợ rầy!

(Vì con vợ tin dị đoan đầu năm gây lộn với chồng là gây toàn thời, là gây suốt cả năm!)

Tuy nhiên, xin quý chiến hữu thương mến thương đừng nên lợi dụng thời cơ nầy mà say sưa quá chén nhé! Bởi chữ có câu: “thái quá bất cập”! Ngay cơm mình ăn mỗi ngày; nếu ăn quá no là bể bụng mà chết! Huống gì là rượu!

Hãy quên cái vụ chừng chục chai là đòi làm anh hùng rơm, trên đầu nào biết có ai, để tuyên bố vung vít với em yêu là: “Ðừng chờ, hôm nay anh hổng dìa! Anh dìa sẽ bị chúng nó chê anh là râu quặp, là thờ bà, là sợ vợ… Nhục lắm!”

Đừng có tự nhủ là: “Uống thêm thật say để về dễ ngủ, không phải nghe vợ càm ràm, nói xiên nói xỏ, nói móc họng hay chửi chó mắng mèo!”

Đừng uống say đến nỗi quán nó trục xuất mà chưa chịu về như câu chuyện dưới đây!

Một tay bợm nhậu đi lảo đảo vào quầy rượu! “Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Ông bạn say quá rồi! Về ngủ đi!”

Một lát sau, cũng ông thần nầy từ ‘toilet’ bước ra. “Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Ông bạn say quá xá rồi!”

Chừng 5 phút sau, cũng ông thần nầy từ cửa sau bước vào!“Nè! Rót cho tớ một ly!” “Không! Tui nói lần chót là: Ông bạn say quá rồi! Về ngủ đi!”
Nghe vậy, ông thần nẩy gải cái đầu đã rồi gải cả hai cái lỗ tai! “Ờ! Chắc mình say quá thiệt rồi! Hai cái quán rượu trước cũng đều nói với mình y như thế!”

Hoặc: “Tối qua tui uống nhiều rượu đến nỗi khi đi ngang qua sàn sân khấu của nhà hàng, sau khi cạn ly đầy để tìm thêm một đầy ly cạn whiskey nữa; thì tui đã đoạt giải nhứt người ‘khiêu vũ’ đẹp nhứt trong đêm!”

Như vậy thế nào là uống rượu có chừng có mực? Nó như vầy nè: Johnny bước vào quán rượu kêu một ly whiskey, cạn xong, móc cái mobile phone, hiệu Samsung Thiên hà 8, ra chăm chú nhìn miết vào cái màn hình! Xong kêu ly nữa. Và cứ thế…cứ thế!

Anh hầu rượu ngạc nhiên hỏi: “Uống rượu mà coi màn hình điện thoại di động chi vậy cha nội?” “À! Hình của con vợ tui! Chừng nào thấy em đẹp nhứt đêm nay là tui biết mình đã đủ ‘đô’ rồi… là tui về. “

***

Nói thiệt nào ngay, tui cũng có ba thằng bạn nhậu chí cốt! Vắng một tuần là nó réo rồi hè! “Sao tui nhớ cái mồm lải nhải của ông nhà báo quá ta?!”

Chẳng qua anh bạn nầy cách đây đã ba năm, mới gặp lần đầu, nhậu với nhau, xét tư pháp lý lịch, là tui biết ảnh là người vốn sanh đẻ ở ‘Trảng Bom’.

Thằng tui cũng là người khoái nổ. Nhưng nghe ‘giả’ nổ riết, lùng bùng điếc cả lỗ tai nên tui đành chịu thua, xin phép kiếu từ về trước! Đang hứng, mà bị bỏ ngang xương; ảnh hỏi tui sao về sớm vậy?

Tui bèn từ tốn trả lời: “Bữa nay được hân hạnh lần đầu đối ẩm với anh nhưng tiếc thay lúc đi vội quá nên tui bỏ quên ở nhà cái áo giáp chống văng miểng ở nhà rồi!”

Từ đó biết ý, anh bạn hiền nầy lâu lâu ngứa miệng, chỉ nổ ‘cắc cù’ như carbine M1 chớ không chơi ‘ra-phan’ một tràng như M16 hay đại liên M60 như trước nữa.

Ba năm làm bạn nhậu, một khoảng thời gian quá dài như ba thế kỷ! Nhậu với nhau, chọc cho vui nhưng chưa cự cãi lần nào quả là hiếm có trong giới giang hồ nhậu nhẹt đó nhe!

Tui đang lọ mọ viết cho xong bài nầy, kẻo ông Chủ bút hối quá Trời, thì chuông điện thoại lại reo inh ỏi:” Ra nhà hàng Hạ Long; đúng 6 giờ chiều nay nhe cha nội!”

bua-yeu-4Ra chớ! Nhân tiện, tui từ giã băng tầng nhậu Footscray mình để di dân qua xứ Ái Nhĩ Lan, làng Ringaskiddy, nơi sản xuất thuốc Viagra của hãng Pfizer.

Đi nhậu về ngang, chỉ cần ‘hít’ khói từ các xưởng Viagra cũng đủ… ‘sung’ suốt cả quanh năm.

Nhậu ở Footscray nầy em yêu rầy dữ lắm! Dọn qua bên ấy, chắc như đinh đóng cột là chiều nào em yêu cũng nhắc: “Chiều nhớ đi nhậu nhe anh!”

DXT

Chỗ nằm

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Tuổi thiếu niên, tôi từng nằm trên đồi Thiên An lặng ngắm những cây thông hình thù như gươm đao đâm thẳng vào khoảng trời đầy trăng sao, xanh thẩm màu huyền hoặc. Tôi là hướng đạo sinh, cậu Sói con nằm dưới triền cỏ ẩm trải nghiệm cảm giác choáng ngộp đầu đời về sự cô đơn, cái nhỏ bé và mong manh của phận người trước thiên nhiên.

Lớn hơn, bỏ hồn nhiên lại cho Huế niêm phong cùng thành quách trầm mặc, tôi lên Đà Lạt và đồi Cù là nơi thích hợp cho tôi trải thân nằm dài trên cỏ lạnh, ôm vào lòng chút hơi ấm của nỗi đau dịu dàng do cô bạn gái học chung lớp vừa tạo ra cơn chấn động. Nắng vàng, thông reo, da trời xanh, mây bay qua mặt hồ Xuân Hương và không chừng mặt đất đã thôi còn sức hút. Khi thất tình, loài người cố minh chứng trong vô vọng bằng hình vẽ một trái tim vỡ nát và tôi, tôi biết làm gì hơn ngoài việc nằm thiu người trên đồi cỏ cho tới hồi bầu trời thu bé lại, nhuộm tím lấy nó.

Cái hành động nằm đo đất để ngó lên khoảng không trống trải đến khó hiểu kia lại vui chân về vấn an tôi trên xứ lạ. Một bàn tay sắt bọc nhung vừa tung cú knock-out. Một bờ lề đóng băng được nguỵ trang lớp tuyết mịn phủ che ở bề mặt. Cao 1m73. Nặng 68 ki-lô. Võ sĩ hạng ruồi bị hạ đài ngay trong sát na 10 giây. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Nằm thẳng cẳng, nằm co quắp, nằm như tấm mền rách dưới một bầu trời hình như đang lần lượt sụp đổ xuống thân. Nhà toán học, những tên chuyên đếm tiền ở kho bạc, những đứa ưa phiêu lưu vào ra casino thử vận đỏ đen… hẳn chúng sẽ yêu mến rất mực con số: 911. Ambulance xịch đổ ngay bên thềm chẳng có hoa soan. Họ luôn đi có đôi, một thứ song thủ hổ bát, một loại âm dương bí kíp và một trong hai vị cao thủ mặc áo quần có thêu thùa chất phát quang kia phát ngôn: Xin lỗi bọn tớ đến có hơi muộn, hôm nay là một ngày kì dị, xe bọn tớ chạy vào khu emergency tất bật chỉ để chở những kẻ mang thương tích giống như đằng ấy. Để chấm câu, hắn nhún vai: Yup, chưa từng té lăn chiên đổ đèn thì chưa thể làm người Canadian nhỉ! Câu thoại này nghe “đương đại” với lại “hậu hiện đại” chả kém thành ngữ: Không ăn đậu không phải dân Mễ, không đi trễ không phải dân Việt Nam. Dễ nể đến thế cơ đấy! Anh đi đái mà chả thèm lựa nơi kín đáo. Anh lộ hàng những thứ rất bèo nhèo, rất nhược tiểu, rất mất mặt con rồng cháu tiên.

Với tấm chăn màu cam trùm kín quanh thân và được trói một cách cẩn thận với lắm dây nhợ vào chiếc ghế đặc biệt, tôi trông chẳng khác mấy một tội phạm cực kỳ nguy hiểm sắp thi hành bản án chẳng khoan nhượng: Ngồi vào ghế điện. Một tay Việt kiều yêu nước khi trở lại Mỹ đã hồ hởi chém gió: Về bên nớ được xe đưa rước tiền hô hậu ủng chỉ thiếu còi hụ! Đồ bà vật! Tôi yêu Canada vô vàn, tôi nằm nửa hồn thương đau trong chiếc xe sơn vàng phóng tới bệnh viện giữa đêm tuyết đổ mù trời mà chúng chả thèm hụ cho một tiếng còi khích lệ tinh thần. Bạc bẻo đến thế thì thôi!

Lột truồng tất tần tật, chỉ cho phép mang đôi vớ để khỏi lạnh cẳng. Khoác chiếc áo hở lưng chẳng đụng hàng và nằm cứng thây khi đưa vào phòng chụp quang tuyến X. Gãy xương, chúng tớ đi tới quyết định buộc phải phẫu thuật, có thể người cậu sẽ có đôi ba con vít nguyện ăn đời ở kiếp với tuỷ xương cậu, một lòng không đổi và như thế cái chân bên trái này sẽ bất khiển dụng trong vòng 6 tuần lễ. Chúng tớ sẽ chích một mũi thuốc tê sau lưng cậu để cuộc dao kéo được diễn ra trong êm thắm. Chúc may mắn. Họ đếm một, hai, ba khi nhấc tôi ra khỏi giường mang đặt lên bàn mổ. Tiếng hô giúp họ đều tay khi muốn di chuyển một “cổ vật” tránh khỏi những rạn nức khác. 4 giờ chiều cảnh sắc bên ngoài đã nhợt nhạt khi tôi đóng khép đôi đồng tử lại, chiếc giường nát nhàu chăn nệm được đẩy ra ngoài hành lang lúc 5 giờ. Một tiếng ngắn ngủi bạn làm được những gì nào? Dạo đó bạn điều khiển xe gắn máy với động cơ là 50 phân khối làm cuộc phiêu lưu ngắn ngày từ Huế vào Đà Nẵng đã mất ngoẻn 2 tiếng rưỡi đồng hồ. Bạn chạy bốc đồng với cái đầu óc thiếu thốn hoàn toàn về kinh nghiệm đường dài. Đèo Phú Gia, đèo Phước Tượng đèo Hải Vân với bao cơ man là những khúc quành tử thần, vô tình đã có sự nhiệm mầu nào can dự và bạn chưa hàm ơn số phần đã mang bạn vượt qua bao hiểm nghèo.

Cái sự việc “mang con bỏ chợ” nằm ghẻ lạnh ngoài hành lang có được lời giải thích: Chúng tớ sẽ chuyển cậu lên phòng đầy tiện nghi hồi nào cậu ngu ngoe co giãn được những ngón chân, nói cách khác là cậu bắt đầu có lại cảm giác ở thân dưới. Bốn tấm chăn mỏng như “bánh mì mới ra lò” lần lượt phủ chụp lên khúc bột vừa qua phần nhào nặn. Trời ạ! Người ta luôn bất lực khi muốn tán dương về hai chữ hạnh phúc. Đâu có gì ghê gớm lắm, đâu có gì cao xa viễn tưởng; nhìn kìa, 4 tấm chăn nghi ngút khói đang làm hồi sinh một tử thi đã qua hạng tuổi tri thiên mệnh và trông đi: Hắn đang sướng rên mé đìu hiu. Sướng dàng trời! Nghi hoặc gì nữa? Nếu ta đương nằm trong một cái bệnh viện khủng nào đó ở bên nhà, liệu tử thần Việt Nam có đi trễ? Lề mề bỏ mặc ta cho trần gian lắm thương đau hành xử hay một bộ phận không nhỏ sẽ chóng lôi đầu ta về ngay Chín suối?

Một y tá nam lực lưỡng người da màu đẩy tôi nằm trên giường có bánh xe trơn tru lọt thỏm vào thang máy. Tôi nghe tiếng nhắc nhở phát ra từ một cái loa dấu kín trên trần: Lầu tám. Cửa mở dạt ra, rộn ràng một cảnh quang trông ấm lòng chưa từng thấy dang tay vồ tiếp. Màu vôi vàng sẫm như nắng chiều làm tông chủ đạo để dẫn dắt bao vật thể từ nhạt đến đậm màu cà phê sữa, những bức tranh tĩnh vật dù là hàng nhái treo dọc hành lang tự nó biết lắt lay từng đốm sáng diệu tưởng. Xuống địa ngục hình như cũng có độ sâu tám tầng và khung cảnh nó sở hữu e bạn cũng chẳng cần tưởng tượng ra làm gì cho đuối sức. Tôi đang ở thiên đường, hãy tạm tin là vậy dù quanh tôi chẳng có bóng một vài thiếu nữ đồng trinh vây đón. Đơn giản chỉ vì tôi là dân Canadian thì buộc phải vấp ngã khi trượt băng (không nghệ thuật) chí ít năm bảy keo trong đời chẳng biết cách làm thăng bằng bổn mạng. Tôi không rậm râu tôi chẳng chơi khăn rằn tôi nào biết hô “Allahu akbar” đấng tối cao vĩ đại và trong bụng thì luôn chứa một bồ thuốc nổ. Nói chung tôi đơn giản và biết lánh xa các phe nhóm hắc bạch giang hồ.

Phòng kê hai giường song song được ngăn chia đồng đều bằng tấm màn chẳng mỏng chẳng dày, đủ để không trông mặt mà bắt hình dong nhân diện người bạn láng giềng đang bị tẩu hoả nhập ma rên la có bài bản. Trên thiên đàng không chắc thượng đế đã đầu tư chất xám để sáng tạo ra cái giường hoành tráng như cái tôi vừa dịu dàng đặt lưng xuống. Có một dãy nút gắn bên thành giường, chẳng tinh nghịch như con trẻ bạn cũng ngứa tay sờ vào. Giường chuyển động trong câm lặng, nó biết vặn mình, biết tạo ra lồi lõm, độ thấp cao cho đến hồi bạn hạnh phúc như đang co thân an toàn trong bụng mẹ. Sao nó lại trên cả tuyệt vời thế, hở thượng đế! Có hai sợi dây bằng cao su mềm mại nằm trong tầm tay, bọc nhựa cái nút bấm đằng đầu tựa như một dụng cụ để kích hoả từ đằng xa. Chỉ có mấy ông nội đặc công hoạt động nội thành mới ngứa tay mân mê sờ soạn nó, tuy vậy người y tá đã giải thích: Phía tay phải dùng để gia giảm độ sáng tối ngọn đèn trên trần, bấm tới ba lần thì bóng điện sẽ tự nhắm mắt tối hù. Nút phía tay trái dành cho bạn nhấn vào hồi nào bạn cần sự giúp đỡ, nhân viên trực ngoài hành lang sẽ chạy vào: Có gì sai bảo?

Tôi lim dim, cố hưởng thụ nhựa sống vừa toả lan ấm áp chảy qua mỗi một tĩnh mạch động mạch, bù đắp phần nào cả ngày trời nằm thoi thóp như con cá bị đánh trầy vi tróc vảy, chưa lại thần hồn thì tai nghe tiếng động lạch tạch lia tới. Ai bắn sẻ ngoài đồng không mông quạnh thế? Mồ mả gò đống yên hàn vô sự tự dưng thò ra khẩu súng Tiệp khắc cắc bụp đì đoàng. Mụ cô mi, chơi chi đoản hậu, nỏ biết giá trị của thời khắc dưỡng thương. Một vị bác sĩ, có lẽ vậy, đã đường đột hoá thân làm du kích vào thăm hỏi bà con. Ông vui vẻ gửi lời chào thắm thiết tới con bệnh nằm bên kia tấm màn luôn máy động bởi vô vàn lý do.

Chào ông Henry. Ông biết ông đang ở đâu không?

Ứ ừ. Hơi thở Henry nặng nhọc.

Hôm nay là thứ mấy rồi nhỉ?

Việc gì tôi phải nhớ tới tháng ngày?

Hôm nay là thứ năm. Giọng người bác sĩ thong thả, như chân đi thời gian khẽ nhịp nhắc nhớ.

Từ 1 tới 10, cơn đau của ông đang nằm ở lằn mức nào?

Ten.

Giọng Henry bẳn gắt và tôi nghĩ người đàn ông ấy phải già tuổi hơn tôi tới năm bảy niên. Hẳn ông đón nhận sự đớn đau hơn tôi và cũng có thể Henry nghĩ: Khi sống, người ta gặp phải nhiều nỗi buồn vây bủa quá!

Hiện diện ở đây có cả thảy bao nhân mạng?

Ba.

Wow, quả excellence! Ông biết do đâu ông phải vào đây nằm không?

Một thằng điên đã hại tôi, có phải?

Xuỵt, suỵt, honey, chớ nên nói thế.

Người thứ ba có mặt trong phòng, bên kia biên giới, là một phụ nữ, có lẽ bà đóng vai vợ của Henry. Bà hiện diện chỉ nhằm vỗ về chồng, khuyên lơn, dỗ dành và chăm sóc chồng. Trả lời thế những câu mà chồng mình đang giả bộ điếc tai. Không khác mấy một xô nước đá vụn mà y tá luôn đặt đầu giường, biểu bạn uống nhiều vào để hạ hoả. Cái vật thể quý báu biết làm dịu cơn nóng của Henry tạm thời phải dời gót ngọc trong phút giây, ông bác sĩ đang lôi bà ra khỏi giường để thì thầm trao đổi nhỏ to. Ở chỗ đứng ấy, đặt chân vào vùng phi quân sự kia, tấm màn thế giậu mồng tơi chẳng còn đủ sức án che “bưng bít sự thật”. Người gọi Henry là honey trạc tuổi mạ tôi khi bà đẻ tôi ra, có nghĩa là bạn khó đoán chính xác hạng tuổi của một người đàn bà vào thời gian hậu sản. Họ vừa vượt cạn hay chính họ phải mang thân chia sớt nỗi bất hạnh của kẻ mà họ lỡ gọi là honey thì cũng chừng đó nguyên cớ khiến họ như già đi, héo hon, hư hao, lạc thần.

Khi bà bị tấm màn nuốt hết một nhân dạng mang đầy cả sự chịu đựng, có thể bà lại ngồi xuống chiếc ghế kê sát giường và rồi giọng Henry bắt đầu trỗi lên: Luôn luôn là vậy, họ chỉ biết ngần ấy câu hỏi xuẩn ngốc. Nếu anh là bác sĩ, anh sẽ nói đúng hai câu: Một, anh sao rồi, cố ngủ một giấc đầy. Hai, chúng ta sẽ hỏi han nhau chừng nào anh nghe khoẻ lại. Chấm hết. Vỏn vẹn có thế thôi. Có phải là dễ thương hơn không? Thằng bác sĩ này cần đi học bổ túc một khoá về tâm lý học. Người vợ dịu dàng đáp trả: Em nghĩ đó là một phương cách tập cho mình làm quen với sự nhẫn nại. Và một khi anh đã nằm trên chiếc giường chẳng có lựa chọn nào khác, điều tốt nhất là anh chớ nóng giận. Hiểu anh chỉ có riêng em, nghe em nói không?

Mạ tôi không có khiếu ăn nói, bà chỉ biết câm lặng làm tròn bổn phận của một thứ gọi là tình mẹ. Nói bà là chuối mật, đường mía lau, là nước trong nguồn chảy ra hoặc là biển Thái Bình là cả một sự bịa đặt vô căn cớ. Bởi trước tiên bạn phải hiểu điều này, đã chẳng có một vật thể nào trên trái đất này có thể mang ra dùng so sánh với người mẹ. Mạ tôi từng ngồi bên giường bệnh để chia sẻ những hoạn nạn, những đớn đau, những thương tật của các thành viên trong gia đình gặp phải cho tới lúc chính bà là người xuôi tay sớm sủa mà chẳng cần một đáp trả nào cả. Từ phút giây đó trở về sau, tôi thực sự không còn chốn nương náu an toàn nào nữa cả. Những hình ảnh chắp vá khi tỏ khi mờ bị xua đuổi. Người đàn bà ló mặt ra sau tấm màn nhìn sang thăm dò, thấy “kẻ xa lạ” mắt còn trừng mở chưa théc giấc mùi nên bà từ tốn đến đứng dưới chân giường: Cho chúng tôi xin lỗi nếu lỡ bất cẩn gây ra lắm tiếng động làm phiền đến ông. Tay bà đang sửa hộ tôi một mép chăn đã nằm sai lệch vị trí. Tôi luôn tỉnh thức đằng sau tấm màn ngăn chia, nếu ông cần điều gì tôi sẽ cố giúp và xem đó là niềm vui không nhỏ. Đôi mắt đã thôi tinh anh nhìn xuống tôi khi nói, cả một lượng sóng từ tâm đổ trào theo ra. Hạnh phúc cho kẻ nào còn mẹ và thật khéo tu nếu có được một maman như bà đây. Tôi trông lên hình bóng một thiên thần đã bị vặt trụi đôi cánh, hào quang vây quanh thân bà khiến mắt tôi mờ lại. Có lẽ bà là tác giả, người viết nên câu: “Thượng đế bảo, vì ta không thể có mặt ở khắp nơi, bởi thế ta đã cố tình tạo ra các bà mẹ”.

Ông có muốn coi báo không? Giúp mỏi mắt chóng ngủ. Bà chìa ra tờ journal. Tôi mua nó sáng nay, tôi tin ông cũng sẽ đọc phải bản tin in ở trang 3. Chúc một ngày lành. Bà đặt tờ nhật báo trên ngực tôi và tôi không hiểu bà biến mất bằng cách gì. Sóng liếm vào bờ làm ướt những hạt cát mịn và rồi lặng lẽ rút đi trơ ra một bờ bãi khô cằn mãi ngóng đợi một vỗ về từ thẳm xa. Trang 3 là bài tường thuật một vụ tai nạn hi hữu. Bà Lucie, 46 tuổi, bị khiếm thị; những sinh hoạt di chuyển của bà đều trông nhờ vào sự dẫn dắt của Beck, một chú chó mà khi trông thấy ảnh bạn bị đôi mắt hiền dịu của nó quyến dụ cảm tình ngay. Buổi sáng định mệnh ấy, Beck ngồi xuống ở ngã tư đường đợi đèn giao thông chuyển màu. Beck đứng lên và Lucie hiểu đèn xanh đang thắp sáng. Họ băng ngang mặt lộ song hành với thứ nằm ngoài dự liệu. Một chiếc xe van thắng vội từ xa nhưng đường trơn đã khiến nó lao vụt tới và theo như người viết bài tường thuật, cả Beck cũng như Lucie bị đẩy văng tới gần 30 mét. Lucie bị chấn thương cột sống, gãy một tay, mặt trầy trụa, hồi tỉnh trong bệnh viện hoảng hốt gào lấy tên Beck rồi vật vã khóc than. Người ta cho hay Beck đang được ba ông bác sĩ thú y tận tình cứu chữa, tình trạng khả quan, chóng ổn định. Một trong hai chúng tôi sẽ chết nếu không được kề cận nhau, ôm ấp nhau, truyền nhau chút hơi ấm. Điều Lucie nói hoàn toàn là cả một sự thật. Hai bức ảnh chụp ghi lại thời điểm bị cách ly và đoàn tụ của họ chứng minh rõ về nỗi đớn đau cũng như sự mừng tủi quyến luyến. Lòng thương yêu của người và vật luôn giá trị hơn những liều thuốc trụ sinh. Thần dược vô đối.

Phóng viên ký tên Paul ấy có đi Việt Nam lần nào chăng? Có từng kéo ghế Cầy tơ ngồi nhậu sương sương thịt chó bảy món. Cái đặc sản mà mỗi bận nó vướng ở kẽ răng, bạn quên xỉa ba ngày nó vẫn còn thơm cho tới nhức nách điếc mũi. Nếu đã lỡ ngợi ca lời có cánh nhường ấy thì kẻ đó hẳn sẽ hùng hổ tuyên bố: Tớ thà chịu đui mù ngồi im một chỗ để xơi cho hết con cẩu này còn hơn là nhờ nó dắt đi xin ăn hoặc bán vé số (nghề có thu nhập cao). Không ăn nó đứa rỗi việc tới khoắm đi mất có phải tội giời không!

Tuyết rơi chăm chỉ trong suốt bốn hôm tôi náu thân trong bệnh viện. Vị bác sĩ người Do Thái phụ trách ca phẫu thuật đã tới bỏ công làm nhiều bài tập xét nghiệm và ông ta phán: You are the champion. Có thể về lại nhà thong thả nằm dưỡng thương. Tôi sẽ cấp cho ông một toa thuốc gồm 4 thứ khác nhau, một giấy chứng nhận thương tật, rằng kẻ đó không thể đi làm việc trong vòng 6 tháng. Chúng tôi cho ông mượn cái walker và đôi nạng bằng nhôm, trả chúng lại hồi nào ông tự đi được trên đôi chân mình. Tháng sau lui lại đây để y tá lấy đi hết những cái móc sắt bấu cứng bên ngoài vết mổ. OK? Chúc mọi việc tốt đẹp.

Tôi đứng bên ngoài thềm bệnh viện, run rẩy như một đứa bé chập chững tập đi mà khoảng trống đằng trước không có mẹ hiền ngồi rộng mở vòng tay khích lệ: Giỏi, gắng lên, mau đến cho mẹ ôm. Họ vừa gọi cho tôi chiếc taxi và nó đang tìm chỗ thích hợp, thuận tiện cho tôi nhọc thân chui vào lòng ghế đầy vướng víu. Tuyết vần vũ, tán loạn, rối bời. Montréal chưa đủ sức để tự tháo gỡ khuôn mặt của một mụ phù thuỷ đeo bám. Gió rít như gửi đi lời nguyền rủa độc ác: Nhà ngươi trót sinh ra ở vùng trời nhiệt đới, phạm vào điều răn nào để phải chịu oan ức vác mạng sang chốn đây? Ôi, phải chăng đó là bi kịch!

Xe thắng đứng. Người tài xế vặn khoá để con số gắn trên máy tính thôi nhấp nháy. 15 đồng 90 xu, xin vui lòng. Tôi trao cho gã tờ 20, bảo đừng thối bạc lẻ cho thêm nhọc thân di dời. Cám ơn nhiều. Chẳng rõ tôi và người lái taxi, đứa nào vọt miệng ra trước ba chữ đó? Để tôi phụ đỡ ông một đỗi, từ đây tới bậc cửa. Quý hoá quá. tôi rên. Đọc báo vụ xe cán chó, tôi quên dõi mắt tới bản án dành cho đứa gây lỗi lầm. Lái xe cẩn thận, tôi nói trước khi mở được cánh cửa.

Hồ Đình Nghiêm

Nha Trang – Chuyện cũ

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

January 19, 2013    

Post by Sơn râu 26 Aug 2026

Xa quê nhà đã lâu. Mỗi lần đi đến một địa danh xa lạ nào đó, nhất là những dịp lái xe chạy dọc theo một bờ biển đẹp, lòng tôi lại nôn nao cái cảm giác như đang trên đường ngược về quê cũ – Nha Trang. Thành phố đã chôn giấu giùm tôi bao hang động tuổi thơ, dấu tích của những mối tình học trò một thời vụng dại, mà sau cơn sóng tháng tư năm nào bất ngờ ập xuống, ngỡ tất cả đã biến mất, có còn chăng cũng chỉ là chút sương khói mơ hồ trong lòng một người lưu lạc.

Ngày xưa, khi còn là cậu bé học trò, tôi từng nghĩ trên thế gian này có lẽ không nơi nào thơ mộng, hiền hòa và dễ thương bằng Nha Trang của tôi. Với tôi, nơi ấy còn là xứ thần tiên nữa. Bởi khi buồn, chỉ cần đạp xe dọc theo con đường Duy Tân lộng gió, nhìn biển trời mênh mông, nghe tiếng sóng rì rào, là cảm thấy lòng mình như vừa được vuốt ve, âu yếm. Ngôi trường Võ Tánh trên đường Bá Đa Lộc cũng nằm gần biển, nên cả một thời đi học, nhờ mỗi ngày được vỗ về bằng âm thanh rạt rào của biển và tình mến yêu của thầy, của bạn, mà tôi đã quên đi nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh, ngước mặt hăm hở nhìn bầu trời xanh bao la với bao khát khao, ước vọng.

Như những thằng học trò đến tuổi biết mơ mộng khác, tôi cũng có vài mối tình ngây ngô vụng dại. Chỉ nghe mấy thằng bạn đùa nghịch gán ghép mình với cô bạn nào trong lớp, là về nhà vội vã tập tành ghép vần làm những bài thơ với lời lẽ si tình như một gã từng trải yêu đương. Sau này, mỗi lần nghe bài hát Phượng Hồng, phổ từ thơ của ông Đỗ Trung Quân nào đó, tôi lại thấy lòng lâng lâng cảm xúc, ngỡ như đang trở về tuổi 14,15, với những “bài thơ cứ còn hoài trong vở, giữa giờ chơi mang đến lại mang về”. Tôi nghĩ, có lẽ cũng như tôi, nhiều chàng học trò ngày xưa vẫn còn đang cất giữ những bài thơ đầu đời ấy trong ký ức. Bây giờ tuổi già, đem ra đọc lại chắc chắn sẽ nở nụ cười ngượng nghịu với một chút bâng khuâng man mác trong lòng.

Người ta cũng ca ngợi Nha Trang như là thành phố của tình yêu. Bởi Nha Trang không chỉ có đất trời thơ mộng mà còn sản sinh và đón nhận nâng niu bao nhiêu cô con gái đẹp từ các xứ Huế, Bắc Kỳ, trôi dạt đến đây. Đất lành chim đậu. Và có một thời, các cô nữ sinh Nha Trang đã làm khốn khổ trái tim của biêt bao SVSQ Hải Quân, Không Quân, những chàng trai say mộng hải hồ, lướt gió tung mây. Tiếc là Nha Trang đã không cho tôi mối tình lãng mạn say đắm nào để có tròn cảm xúc khi nghe ca khúc Nha Trang Ngày Về của ông nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng vài mối tình học trò ngây ngô ngày ấy cũng đã để lại trong tôi bao kỷ niệm khó quên.

trường trung học Võ Tánh

Năm 1963, tôi đang học năm cuối trung học thì bao nhiêu biến cố xảy ra, dồn dập: Những cuộc xuống đường, biểu tình, bãi khóa để chống chính phủ Ngô Đình Diệm. Trước cổng trường luôn có cảnh sát và lính gác. Nhiều học sinh bị bắt. Nghe nói có vài người nhảy núi. Một số giáo sư trẻ bị động viên, rời trường vào lính. Không khí ngột ngạt, căng thẳng.

Đúng vào thời điểm này, thành phố Nha Trang xuất hiện một người đàn bà điên. Trông bà trọng tuổi, lúc nào cũng ăn mặc sạch sẽ chỉnh tề với chiếc áo dài nhung đen. Trên cổ đeo nhiều vòng vàng. Có người bảo là vàng giả, nhưng có người lại bảo vàng thật, vì gia đình bà giàu có, con cái học hành tử tế. Gần như ngày nào người ta cũng thấy bà xuất hiện ngoài phố, chấp hai tay sau lưng đi bộ dọc theo con đường Phan Bội Châu – Độc Lập, vừa đi vừa nói những điều không ai hiểu được. Đặc biệt bà luôn ghé lại và ở khá lâu trong nhà sách Nguyễn Lê và Ty Thông Tin. Ở đây có treo tấm ảnh chân dung của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hai địa điểm này tôi thường có mặt. Lần nào cũng thấy bà đưa tay chỉ vào tấm ảnh mà chửi. Không ai biết là bà có ân oán gì với ông Diệm, vì khi chửi bà cũng không gọi tên và kể lể người trong tấm ảnh có tội tình gì. Có người biết chuyện, bảo là bà chẳng hề dính dáng gì tới chuyện chính trị hay cá nhân cụ Diệm, mà dường như bị ông chồng đào hoa phụ tình. Bà hận lắm. Thấy tấm ảnh cụ Diệm mà cứ tưởng là chồng bà. Oan và tội nghiệp cho cụ. Chắc chắn đến khi bị nhóm phản tướng sát hại, cụ cũng không hề biết đã từng bị một người đàn bà chửi oan mình như thế..

Có lẽ đã chứng kiến nhiều lần, nên dần dà chẳng còn mấy ai quan tâm đến bà. Ngoại trừ tôi. Không biết mặt mũi của tôi có được cái hồng phúc giống cụ Ngô hay ông chồng đào hoa của bà ít nhiều gì không, nhưng cứ mỗi lần nhìn thấy tôi, ngay cả những khi đi chung, lẫn lộn trong đám bạn bè, bà vẫn tìm đến chỉ mặt tôi mà chửi. Sau này, vừa thấy bà là tôi vội vàng bỏ chạy, nhưng bà vẫn rượt theo và cố la lớn mấy lời nguyền rủa từ phía sau lưng. Biết bà điên và nghĩ trước đây cũng là một người giàu có tử tế, nên tôi cũng thấy thương hại, tội nghiệp cho bà. Nhưng mỗi lần bị chửi bới vô cớ trước đám đông, nhất là khi có đám con gái, tôi ngượng ngùng, lại thấy sợ và oán bà. Có thể nói bà là nỗi ám ảnh của tôi lúc ấy. Đôi khi trong giấc mơ, thấy bà rượt theo mình, mặt mày hung dữ như mấy bà phù thủy trong tranh phiếm họa. Thức dậy, tôi thở phào nhẹ nhõm nhưng cũng toát mồ hôi. Tôi đâm ra “hận” bà vì sau đó, tôi đành phải bỏ cái thú vào nhà sách Nguyễn Lê vờ mua sách, nhưng chỉ cốt để ngắm cô con gái mới lớn của bà chủ, có đôi mắt to với đôi mội mọng đỏ, đẹp như thiên thần và mấy cô bán sách khá xinh, cũng như không dám bước vào Ty Thông Tin đọc mấy tập Thế Giới Tự Do mà ông thầy sử địa gốc biện lý, giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, thường ra những câu hỏi từ các đề tài trong đó, và cũng để được nghe giọng nói Bắc Kỳ rất dễ thương của bà chị quản thủ thư viện, ca sĩ Hoàng Yến (lúc ấy đang mặc áo bầu).

Sau đó, chỉ thỉnh thoảng tôi mới thấy bà, nhưng dường như cơn điên trong bà ngày một tệ hơn. Trông bà già và ốm đi nhiều lắm. Có lần chứng kiến một đám con nít đi theo trêu chọc để bà múa may la hét lung tung, tôi động lòng dừng xe lại la rầy và khuyên bảo các em không được quấy rầy bà. Thấy tôi, bà vội vàng chạy tới. Không biết lúc ấy bà có còn nhớ tôi không, và có thay đổi thái độ vì tôi vừa mới giúp bà, nhưng tôi vẫn ám ảnh những lần bị bà xỉ vã trước đây, nên vội vã đạp xe đi. Bất giác tôi nhớ đến mẹ tôi. Mẹ mất khi tôi mới ba tuổi. Tôi chưa hề biết cảm giác của một đứa con có mẹ. Nếu có một người mẹ điên như bà, để tôi lo lắng, chăm nom, biết đâu tuổi thơ của tôi sẽ hạnh phúc hơn. Ngẫm nghĩ, tôi càng thấy tội nghiệp và thương bà, ân hận vì trước đây từng nghĩ bởi vì bà mà thành phố Nha Trang đã mất đi một chút yên lành, đẹp đẽ đối với riêng tôi.

ngã ba Trần Quý Cáp (Ty Thông Tin)

Những năm đi học, tôi ở nhà ông chú, một tiệm buôn nằm ngay ngã ba Trần Quý Cáp – Quốc Lộ 1, gần Ty Thông Tin. Ông chú tôi làm nghề thầu khoán, nên những ngày cuối tuần nhà thường có khách. Để tránh bớt không khí ồn ào và bị sai vặt, tôi thường viện cớ đến nhà thằng bạn cùng lớp học bài, nhưng thực ra là chỉ để chơi đùa và đàn địch hát ca. Điều đặc biệt quyến rũ tôi hơn là cô em gái có răng khểnh rất dễ thương của nó, học sau bọn tôi hai lớp, bên trường Nữ Trung Học.  Hai đứa – cô bé và tôi – thường đóng vai Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, bắt chước giọng, hát mấy bài song ca cho thằng bạn tôi, anh cô bé, tập dạo đàn theo.

Nhà ở khu Rộc Rau Muống, phía dưới một con hẻm lớn từ đường Trần Quý Cáp. Ngôi nhà bề thế nằm kín đáo dưới mấy tàng cây bàng phủ bóng. Mẹ nó mất sớm, nên ba nó thường vắng nhà. Nghe nói ông sống với bà tình nhân trẻ ở đâu đó, vì không muốn đưa bà về đây để phải phiền muộn cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông cưng con, thuê một chị giúp việc từ trên Thành về ở đây luôn. Chị rất siêng năng, vui vẻ làm hết mọi việc trong nhà. Ngôi nhà rộng rãi trở nên thừa thải nên ba nó cho thuê nguyên cả dãy nhà sau gồm khá nhiều phòng ốc. Nhà trước và khu nhà sau được ngăn ra bằng một hàng rào song sắt. Điều đặc biệt là cái giếng nước nằm ngay giữa hàng rào, để hai nhà có thể dùng chung.

Một hôm, thằng bạn nháy mắt cho tôi biết một tin vui: Gia đình vừa mới dọn tới gồm mấy anh em mà có đến ba cô con gái, cô nào cũng xinh. Ban đầu, tôi tỏ ra thờ ơ trước cái tin với cái vẻ hí hửng đó của thằng bạn thân, để chứng tỏ ta đang “ăn cây nào rào cây nấy”. Khi ấy tôi còn ngu ngơ chưa biết cô em gái của nó đang là cánh “hoa biển” của một anh chàng SVSQ Hải Quân bô trai nào đó. Cho đến một hôm bất ngờ đụng đầu trên dốc con hẻm, khi thấy hai người ôm nhau từ giã, tôi mới hụt hẫng, biết canh bạc này chưa kịp bắt đầu mà mình đã trắng tay. May mà lúc ấy tôi chưa kịp tỏ tình và cũng chưa biết si tình, nên chưa “chết ở trong lòng một ít”, chỉ thấy ngượng ngùng bâng khuâng một chút. Không được làm người tình, tôi bèn quay sang làm anh cô bé, để lâu lâu còn được nghe nũng nịu và nhất là được vỗ về chút tự ái của người thua cuộc.

Sau khi “con tim đã vui trở lại”, tôi bắt đầu (và ra mặt) nhòm ngó khu nhà phía sau. Cái giếng mà trước đây gần như thứ bảy và chủ nhật nào, sau khi tắm biển về, tôi và thằng bạn đều ra tắm lại, thích thú đùa nghịch, đổ cho nhau những gầu nước trên đầu, bây giờ ngại người ta nhìn thấy hai “bộ xương cách trí”, nên đành tắm vội trong phòng tắm. Nhưng cái giếng ấy lại trở nên vô cùng quan trọng đối với bọn tôi. Là chỗ có thể nhìn thấy “mục tiêu” rõ ràng nhất, khi các cô nàng ra xách nước, giặt áo quần trên thềm giếng. Cô em thằng bạn, sợ bọn tôi phá đám mối tình đầu, nên bây giờ trở thành bà mai, con chim xanh đắc lực của hai ông anh. Bọn tôi dần dà biết được tên, tuổi, trường lớp của ba cô nàng. Đặc biệt hơn là hoa nào đang có chủ và hoa nào đang trong tình trạng đợi chờ. Cô chị thường đi vắng vào ngày cuối tuần bởi tình yêu đang thời kỳ mặn nồng, ở nhà thường chỉ còn lại hai cô em. Hai thằng tôi bò qua thành giếng sang nhà hàng xóm. Thằng bạn thì mang theo cây guitar đàn cho cô chị hát, còn tôi thì vờ hỏi cô em chuyện học hành, dịch hộ những bài Pháp văn, giải nghĩa vài điển tích trong Cung Oán Ngâm Khúc, lâu lâu tặng một bài thơ tình con cóc. Dần dà tôi lọt mắt xanh cô em út Quỳnh Chi(*), học đệ ngũ bên trường Nữ, rất hiền lành dễ thương. Cũng chỉ là tình yêu học trò, ngây thơ trong sáng. Thỉnh thoảng để giúp vui, tôi đem chuyên bị bà điên rượt kể cho hai chị em nghe. Có khi tôi còn nhại tướng đi và giọng hét của bà. Hai cô nhìn nhau sợ sệt.

Cuối năm đệ nhất, khi chuẩn bị kỳ thi Tú Tài 2 thì tôi bất ngờ lâm bệnh. Một buổi sáng chủ nhật, thức dậy, thấy người hơi sốt, khó chịu. Tưởng chỉ cảm cúm, uống vài viên thuốc aspirin là khỏi. Không ngờ đến trưa cơn sốt lên cao, người nóng như lửa đốt, đến nỗi không thể cử động, nói năng gì được. Ông chú vội vàng chở tôi đến bác sĩ. Bác sĩ trực hôm ấy là bà Chung Thị Luông, có phòng mạch ở đường Công Quán, gần rạp ciné Minh Châu. Bà là phu nhân của vị Thiếu Tá Y sĩ trưởng TTHL Không Quân. Nghe nói bà chích cho hai mũi thuốc thì tôi tỉnh lại. Tôi nhớ lúc vừa mở mắt ra, đang còn mơ màng, tôi đã thấy bà bác sĩ đẹp quá chừng. Biết danh bà từ lâu nhưng đó là lần đầu tiên tôi mới được chiêm ngưỡng dung nhan của bà. Và dường như sắc đẹp của bà bác sĩ đã giúp cho những thằng bệnh nhân trẻ con mới lớn như tôi mau tỉnh táo hơn là thuốc. Sau đó bà đề nghị chú tôi nên đưa tôi đến bệnh viện tư của bác sĩ Thạch nằm trên đường Trần Quý Cáp để điều trị. Tôi đã nằm ở đây hơn một tháng và đành phải bỏ thi kỳ ấy.

Một hôm, Quỳnh Chi đến thăm khi tôi đang lên cơn sốt, nằm mê man. Không biết cô bé đến từ lúc nào. Tỉnh dậy tôi thấy cô đã ngồi bên cạnh. Sau khi phụ cô ý tá dìu tôi ngồi dậy, cho uống một ly nước cam vắt, cô bé nắm lấy tay tôi, nhìn thật lâu vào mắt tôi, rồi buồn bã nói nhỏ lời từ giã. Tôi mệt quá chưa kịp nói lời gì thì nàng đã bước ra cửa. Tôi cố gắng đưa bàn tay lên vẫy, nhưng không thấy nàng quay nhìn lại. Chỉ còn nghe tiếng chân bước vội xuống những bậc tam cấp.

Và đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Quỳnh Chi..

Sau khi lành bệnh, tôi đến thăm anh em thằng bạn dưới Rộc Rau Muống. Vừa mở cửa, cô em  buồn bã cho biết là mấy chị em Quỳnh Chi đã dọn đi nơi khác, vì có bà mẹ điên, trên cổ mang đầy vòng vàng, không biết vì sao tìm được nơi mấy cô con gái ở, đến la hét, khóc than cả một buổi. Và đây cũng không phải là lần đầu các cô dọn nhà với lý do như thế!

Tôi giật mình, nhớ lại bà cụ điên thường rượt theo tôi ở nhà sách Nguyễn Lê và Ty Thông Tin. Bất ngờ và xúc động, nước mắt tôi trào ra. Tội nghiệp cho bà và cho cả mấy cô con gái xinh xắn, thùy mị và học hành chăm chỉ của bà, trong đó có cô con gái út Quỳnh Chi. Tôi cảm thấy ngượng ngùng như vừa phạm tội, vì đã mấy lần thản nhiên kể chuyện không mấy đẹp về bà trước chị em Quỳnh Chi. Và cũng có thể, vì mấy lần rượt đuổi theo tôi, mà bà đã khám phá ra căn nhà trọ của mấy cô con gái ở cuối con hẻm khá kín đáo này.

Sau đó, tôi vào Sài gòn học tiếp vài năm thì đi lính. Cuộc chiến ngày một khốc liệt, kéo tôi theo như cơn lốc xoáy. Thời gian trong lính, mỗi năm tôi chỉ về thăm Nha Trang một đôi lần bất chợt. Đầu tháng 4/75 Nha Trang đổi chủ sau cơn hồng thủy. Gia đình tan tác. Cha tôi và tôi vào tù. Chỉ một năm sau cha tôi chết, còn tôi thì bị lưu đày hơn tám năm từ nam ra bắc. Ngày trở về, Nha Trang nghèo nàn xơ xác và buồn thảm như còn phủ màu tang. Đi trên con đường Phan Bội Châu – Độc Lâp cũ , giờ đã đổi tên, bỗng dưng tôi nhớ tới người đàn bà điên ngày trước. Tôi tưởng tượng đang có rất nhiều người đàn bà điên khác, mất chồng, mất cha, mất con, mất nhà cửa sau cuộc đổi đời oan khiên bi thảm. Họ đã bị đuổi ra khỏi thành phố này hay gia đình không dám để họ chạy ra ngoài vì sợ phải rước thêm phiền lụy. Bất giác tôi rùng mình có cảm giác mọi thứ trở thành xa lạ. Thành phố này không còn là Nha Trang của tôi ngày trước nữa. Mấy tháng sau, tôi cùng vợ con xuống biển ra đi, lẵng lặng giã từ Nha Trang giữa một đêm mưa tầm tã . Dường như ông trời cũng đang sụt sùi trước cuôc chia ly.

Sau này, và cho mãi đến bây giờ, tôi không có cơ hội nào gặp lại bà cụ điên và mấy chị em Quỳnh Chi. Bà cụ thì chắc đã qua đời từ lâu rồi, còn mấy chị em Quỳnh Chi không biết trôi dạt về đâu, sau bao nhiêu thăng trầm dâu bể. Cầu mong cho tất cả đều may mắn vượt qua dông bão để có cuộc sống an bình. Riêng Quỳnh Chi, một cô gái xinh xắn, thùy mị, hiền lành, xứng đáng để có một gia đình hạnh phúc. Xin nguyện cầu bà cụ được an nghĩ nơi cõi thiên đường thênh thang nào đó, chẳng còn gì để phải bận lòng ở chốn trần thế đảo điên. Và xin tất cả, hãy cho tôi được nói một lời xin lỗi- dù rất muộn màng.

Hai anh em thằng bạn thân thiết của tôi cũng không còn ở trong ngôi nhà dưới Rộc Rau Muống. Thằng bạn vào lính sau tôi một năm và đã chết ở trận Pleime, chỉ sau bốn tháng rời khỏi quân trường Thủ Đức. Cô em gái xinh đẹp của nó, sau này không lấy chàng SVSQ Hải Quân ngày xưa, mà làm vợ một đồng nghiệp. Giáng Sinh năm 70, nhân theo đơn vị tham dự một chuyến hành quân bất ngờ tại Đà Lạt, giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường, tôi có dịp gặp hai vợ chồng. Cả hai đều dạy học tại thành phố sương mù này, đẹp đẽ hiền lành, sống rất hạnh phúc. Sau 75, vì anh chồng gốc sĩ quan biệt phái, nên cả hai đều không được “lưu dung”, phải về tá túc nhà cha mẹ chồng ở Sài gòn, buôn bán chợ trời kiếm sống. Năm 81, vợ chồng và hai đứa con mất tích trên đường vượt biển từ Rạch Giá. Tôi rất đau đớn khi biết tin này, lúc vừa mới ra tù. Nhiều lúc tôi trách ông trời, sao nỡ bất công với những con người quá hiền hậu dễ thương.

Nha Trang đã cho tôi nhiều niềm vui nhưng cũng đã để lại trong tôi bao nỗi buồn, những vết đau như vậy đó. Không biết Nha Trang bây giờ có còn đẹp và thơ mộng như ngày xưa? Vừa rồi tôi có đọc ở đâu đó, người ta xếp Nha Trang là một trong mười thành phố du lịch tồi tệ nhất thế giới. Tôi đau lòng lắm. Nhưng cho dù có đẹp đẽ, lộng lẫy hay “hoành tráng” đến đâu đi nữa, Nha Trang cũng chỉ còn trong tôi như cổ tích, một nơi chốn thần tiên cho tôi cùng đám bạn bè thơ dại, những thằng học trò của một thời quá đỗi dễ thương mà giờ đây phần đông đã chết trong chiến tranh, tù ngục, vài thằng sống sót thì cũng tản mác khắp muôn phương.

Phạm Tín An Ninh